|  |
|  | 
| | | ========================== ================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dich Vu Tai Chanh Chuyen Nghiep Vietnamese Political Forum PROFESSIONAL FINANCIAL SERVICES Tribune Politique Vietnamienne Services Financiers Professionnels
========================== ================================ |
| | | =============================================================== MOI NGAY/ DAILY: pho bien--lien lac/ publication--correspondence ===============================================================
|
| VietTUDAN
****************************************** TÀI LIỆU ********************************************** BÀI TRỪ HÀNG TẦU (CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TQ)
********************************** GENEVA, 06.10.2009 ***************************************
NỘI DUNG TẬP TÀI LIỆU:
(01) HT.THÍCH QUẢNG ĐỘ KÊU GỌI KHÔNG DÙNG HÀNG TQ – tr.3 (02) CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC – trang 6 (03) WHO: HÀNG TQ & NƯỚC NGÒAI DIỆT KINH TẾ VN TẠI NHÀ – tr.8 (04) KHỦNG HỎANG TC/ KT VÀ SỰ LỚN MẠNH CHE CHỞ MẬU DỊCH – tr.17 (05) TA VỀ TA TẮM AO TA:G17 Á-CHÂU: HỌP THƯỢNG ĐỈNH – trang 34 (06) KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TQ: TỪNG NGÀN XÍ NGHIỆP DẸP TIỆM – tr.38 (07) TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM: KINH TẾ TỤT DỐC RÕ RỆT – tr.47 (08) TRUNG QUỐC: Ý ĐỒ THỐNG TRỊ KINH TẾ Á CHÂU – tr.54 (09) CSVN CÚI ĐẦU RƯỚC LẤY NHỮNG PHẾ THẢI KINH TẾ TỪ TQ – tr.57 (10) CHUYÊN GIA KT QUỐC NỘI TUYÊN CHIẾN VỚI HÀNG TQ – tr.63 (11) HÀNG TRUNG QUỐC GIẾT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM –tr.68 (12) QUỐC NỘI ĐƯƠNG ĐẦU VỚI TỔNG TẤN CÔNG HÀNG TQ – tr.73 (13) WTO & HÀNG TRUNG QUỐC: MỒ CHÔN KINH TẾ VIỆT NAM ? – tr.77 (14) TỪ CÔNG NGHỆ HÓA ĐẾN PHÂN PHỐI HÀNG TRUNG QUỐC – tr.88 (15) TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT-TRUNG ĐỂ XÂM LĂNG -- 90 (16) THEO LỆNH TQ CSVN KIỂM SÓAT CHẶT CHẼ PHÍA VN – tr.96 (17) CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TQ (GỒM 5 BÀI QUAN ĐIỂM) – tr.98 (18) VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN IDS ĐÓNG CỬA – tr.111 (19) TUYÊN BỐ CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN IDS – tr.114 (20) BÁN HÀNG VÀ MUA HÀNG VÌ YÊU NƯỚC – tr.119 (21) TƯ DOANH BẮT ĐẦU NGHĨ ĐẾN TIỀN ĐỒ ĐẤT NƯỚC – tr.120 (22) THÁI ĐỘ YẾU ĐUỐI CỦA CSVN LÀM TQ HỐNG HÁCH XÂM LĂNG –tr.122 (23) CSVN BỊT MIỆNG NHỮNG AI CHỈ TRÍCH TRUNG QUỐC – tr.129 (24) GIỚI ĐẠI HỌC QUỐC NỘI: MUÔN CẠNH TRANH, PHẢI PHÁT TRIỂN – tr.132 (25) MUỐN PHÁT TRIỂN: DỨT BỎ CƠ CHẾ NUÔI DƯỠNG THAM NHŨNG –tr.135
Geneva, 06.10.2009
| | |
| (01)
HT.THÍCH QUẢNG ĐỘ KÊU GỌI KHÔNG DÙNG HÀNG TQ
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT VIỆN HÓA ĐẠO
Thanh Minh Thiền Viện, 90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Saigon ------------ --------- --------- --------- --------- --------- --------- --------- Phật lịch 2553 Số 07 /VHĐ/VT
LỜI KÊU GỌI KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC
Kính gửi Đồng bào trong và ngoài nước,
Ngày 4.9 vừa qua, trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đăng bài “Hải quân Trung quốc diễn tập tại Biển Đông” trích từ báo Hoàn Cầu, Phượng hoàng của Trung quốc, có những dòng như sau :
“… Ngày 18.8.2009, đội tàu hộ tống gồm hơn 100 sĩ quan và binh lính đã cập bến bãi đá Vĩnh Thử (đảo Chữ Thập) thuộc quần đảo Trường Sa để tiến hành tiếp tế, hậu cần, tham quan cơ sở công tác và sinh hoạt của binh lính trên đảo, đồng thời đưa 2 tàu chở trực thăng là “Thâm Quyến” và “Hoàng Sơn” cập đảo, tiến hành diễn tập cho trực thăng lên xuống và lực lượng đặc nhiệm đổ bộ đường không.
“Phát biểu với binh lính trên đảo, chỉ huy đội tàu hộ tống Phó Tư lệnh hạm đội Nam Hải nhấn mạnh : “Bất kể là binh sĩ hộ tống hàng hay binh sĩ bảo vệ đảo, đều có chung một sứ mệnh đó là bảo vệ lợi ích quốc gia, hy vọng các binh sĩ tập luyện để bảo vệ tốt biên cương trên biển phía Nam Tổ quốc”. Đến 9 giờ 30 ngày 18.8.2009, đội tàu đã rời đảo, tiếp tục hành trình quay về căn cứ.
“Ngày 24.8.2009, lực lượng Hải quân Trung quốc bắt đầu giai đoạn huấn luyện nhảy dù kéo dài 2 tháng, các hoạt động huấn luyện này được bắt đầu từ một sân bay ở quần đảo Hoàng Sa. Đây được coi là một hoạt động tập dượt kịch bản đổ bộ bằng đường không của Hải quân Trung quốc. Một trong những nội dung mới đáng lưu ý trong các hoạt động huấn luyên quân sự năm 2009 là hoạt động huấn luyện nhảy dù từ máy bay trực thăng và từ một sân bay ở quần đảo Hoàng Sa”.
Bản tin trên báo của Đảng lãnh đạo qua các trích đoạn dẫn thượng cho thấy Đảng Cộng sản “bảo vệ lợi ích quốc gia và biên cương” ở đây là Trung quốc chứ không phải Việt Nam. Đồng thời thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Bắc Kinh.
Một sự việc khác là cuộc tọa đàm trực tuyến Tuần Việt Nam trên VietnamNet, dưới đề mục “Giải pháp với hàng Trung Quốc chất lượng thấp / Doanh nghiệp thua đau bởi hàng Trung quốc giá rẻ” ngày 16.6.2009, và “Tuyên chiến với cuộc tấn công của hàng ngoại chất lượng thấp” ngày 18.6.09, do ký giả Nguyễn Quang Thiều phụ trách với hai nhà Trung quốc học về kinh tế, bà Phạm Chi Lan, thành viên Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) và ông Nguyễn Minh Phong cho thấy hàng hóa Trung quốc chất lượng xấu đang tràn ngập thị trường Việt Nam. Bà Phạm Chi Lan báo động hàng Trung quốc là “lũ quét” tai hại cho người chi dùng : “Trung quốc làm cái gì là làm tới cùng cho được. Có khi họ không cần quan tâm nhiều hoặc bất chấp những cái thuộc về đạo lý kinh doanh hay lương tâm kinh doanh, làm hàng xấu, hàng độc... Ngay cả đối với người dân của họ, họ còn không quan tâm. Trẻ em của họ phải uống sữa độc hại mà họ còn không quan tâm…”. Ông Nguyễn Minh Phong thì báo động “Trung quốc đã hi sinh 750 triệu người nông dân của họ để có giá thành lao động cực thấp”.
Liền đó, ông Hồ Tỏa Cẩm được sự ủy quyền của ông Đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội phản đối buổi tọa đàm bàn tròn trên VietNamNet đã phát biểu những ngôn luận không hữu nghị với Trung Quốc. Ông Cẩm bênh vực cho hàng Trung quốc và yêu sách Việt Nam “kiểm điểm công việc này. Không để việc này tổn hại, thương hại cho dân chúng Trung quốc, thương nhân Trung quốc, chính phủ Trung quốc. Với những bài có liên quan tới quan hệ đối ngoại, chính trị, bộ phận nội bộ, không nên tung ra bên ngoài mà không có quản lý”.
Phải chăng Quyết định 97 do Thủ tướng ký và ban hành ngày 24.7.2009 nhằm cấm các tổ chức Khoa học và Công nghệ không được có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, là sự đáp ứng yêu sách của Bắc Kinh cấm nhân dân Việt Nam phản biện Trung quốc ?
Kính thưa Đồng bào trong và ngoài nước,
Chẳng nghi ngờ gì nữa, qua hai sự việc nêu trên, từ việc bảo vệ lãnh hải, lãnh thổ dân tộc cho đến bảo vệ quyền lợi kinh tế quốc gia, Đảng và Nhà nước Cộng sản Việt Nam đã phó mặc cho ngoại bang. Nguy cơ mất nước vào tay Trung quốc là nguy cơ cụ thể và hiện tiền.
Ngày 29.3 đầu năm nay, nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tôi đã cất “Lời Kêu gọi Tháng 5 Bất tuân Dân sự - Biểu tình Tại Gia”, mở đầu cuộc đấu tranh bất bạo động để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, lãnh hải mà hai nghìn năm tiền nhân ta không ngừng đem ý chí bất khuất và máu xương gìn giữ non sông.
Hôm nay, nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tôi xin cất lời kêu gọi Đồng bào trong và ngoài nước hãy có thái độ trước hai hiện trạng Trung quốc xâm lấn và Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam bó tay đầu hàng.
Người dân Việt không có các tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, cũng không có chính quyền hay quân đội để trực tiếp và mạnh mẽ phản chống nạn xâm lăng quân sự, xâm lăng tư tưởng và xâm lăng kinh tế. Vũ khí của người dân bị trị ngày nay là THÁI ĐỘ. Chúng ta cần biểu tỏ qua THÁI ĐỘ để chống hai quốc nạn Nội xâm và Ngoại xâm.
Thái độ cần biểu tỏ hôm nay để Nhà cầm quyền Bắc Kinh thấy rõ ý chí kiên cường của người dân Việt là phát động phong trào không dùng hàng Trung quốc. Không dùng hàng Trung quốc không phải là biểu tỏ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi chống nhân dân Trung quốc, chống công nhân Trung quốc. Vì nhân dân Trung quốc, công nhân Trung quốc cũng là nạn nhân của Đảng Cộng sản như nhân dân, công nhân và nông dân Việt Nam. Tẩy chay hàng Trung quốc là tẩy chay chủ nghĩa bá quyền xâm lược của Nhà cầm quyền Cộng sản Bắc Kinh. Ngoài lý do chính trị mà tẩy chay, còn lý do hàng xấu và hàng độc Trung quốc đang gây nguy hại cho cơ thể và môi sinh người tiêu dùng Việt Nam.
Và thái độ biểu tỏ đối với Nhà cầm quyền Hà Nội là Bất tuân Dân sự như tôi đã gợi ý trước đây qua “Lời Kêu gọi Tháng 5 Bất tuân Dân sự - Biểu tình Tại Gia”.
Kính mong được đồng bào trong và ngoài nước hưởng ứng kể từ khi đọc Lời Kêu Gọi Không Dùng Hàng Trung quốc công bố hôm nay.
Thanh Minh Thiền Viện, Saigon ngày 3.10.2009 Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN
(ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ | | |
| (02)
CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 06.10.2009
Nhân LỜI KÊU GỌI KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC của HT. THÍCH QUẢNG ĐỘ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, chúng tôi chuyển đến qúy vị Tập Tài Liệu gồm một số bài mà chúng tôi đã viết về vấn đề này từ năm 2006 cho đến nay.
Lời Kêu gọi của HT.THÍCH QUẢNG ĐỘ
Chúng tôi nhiệt liệt ủng hộ Lời kêu gọi của HT. THÍCH QUẢNG ĐỘ. Đây không phải là Lãnh vực tranh chấp Kinh tế, mà là Bổn phận phải lên tiếng thuộc Lãnh vực cứu nguy Dân tộc khỏi cuộc Xâm lăng Kinh tế của Trung quốc do Nhà Nước CSVN tiếp tay. Lời kêu gọi không dùng hàng hóa Trung quốc nhằm vào cái ngọn và mang tính cách tức thời. Lời kêu gọi nhằm vào khơi động tinh thần Dân tộc của quần chúng.
Cuộc Xâm Lăng Kinh tế TQ đã mọc rễ
Việc chiếm Hòang Sa và Trường Sa không phải chỉ nguyên việc xâm chiếm mấy hòn đảo, mà chính yếu là việc cưỡng chiếm những tài nguyên như Dầu lửa tại ngòai khơi Việt Nam, đồng thời chiếm giữ nguồn Thủy sản, mạch sống của những Tỉnh ven Biển Đông. Chương trình mà Trung quốc đang nhằm vào đất liền VN, đó là những tài nguyên khóang sản, tỉ dụ Bôxit Tây Nguyên.
Từ cạnh tranh hàng hóa đến diệt Công nghệ sản xuất
Khi nhập WTO/OMC, CSVN mơ mộng đi hốt bạc, mà không nghĩ rằng những nước ngòai, nhất là Trung quốc, vào chính nhà mình để hốt bạc và giết chết Công nghệ. Thực vậy CSVN đã không biết người, biết mình. Vào WTO, tức là vào đấu trường. Khi nhập đấu trường mà mình còn yếu ớt thì chỉ để cho người ta đánh rục xuống không thương tiếc. Năm 2006, chúng tôi đã viết những bài về đấu trường WTO/OMC để cảnh cáo cho CSVN về sự yếu ớt.
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới bùng nổ
Việt Nam đã yếu nghèo, một mặt không hốt được bạc trên đấu trường WTO, một mặt tại sân nhà bị nước ngòai, nhất là Trung quốc hốt bạc đem ra, lại còn mắc thêm cái eo nữa, đó là cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới. Cuộc Khủng hỏang khiến vốn đầu tư nước ngòai giảm xuống tới 82% và việc đặt mua hàng Việt Nam giảm xuống 60%. Cán cân Mậu dịch hòan tòan thất lợi, nhất là đối với Trung quốc.
Những tồn đọng Trung quốc tràn sang Việt Nam.
Kinh tế Trung quốc làm việc chính yếu cho xuất cảng. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới cũng mang đến những tai hại cho Trung quốc giống như Việt Nam. Hàng hóa sản xuất bị tồn đọng, những cơ sở sản xuất lạc hậu thêm. Khi không xuất cảng sang Hoa-kỳ và Liên Aâu được, thì những hàng hóa tồn đọng của Trung quốc hướng về những nước nghèo Á-châu. Trung quốc đã dành ra ngân qũy USD.25 tỉ để lo liệu việc đẩy những hàng tồn đọng sang các nước nghèo Á châu. Việt Nam là nước mà Trung quốc nhằm hơn cả vì là đầy tớ chính trị cho TQ.
Việt Nam trở thành con nợ hèn hạ của Trung quốc
Trong tình cảnh thiếu thốn, nghèo khổ, lại thêm bụng tham nhũng cá nhân được Cơ Chế che chở, CSVN sẵn sàng nhận làm con nợ đê hèn cho Trung quốc. Dân tộc Việt Nam sẽ phải è lưng làm việc để trả trường kỳ những món nợ mà CSVN nhận với Trung quốc lúc này. Trung quốc cho Việt Nam vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bằng hàng hóa, thiết bị phế thải từ những nhà máy cũ, nhân công thất nghiệp đầy tràn tại Trung quốc. Qua những Dự án, Trung quốc đẩy vật dụng tồn đọng, những nhà máy cũ, những nhân công Trung quốc sang Việt Nam. Tất cả những vật dụng, nhà máy cũ và nhân công ấy được tính ra bằng tiền để Việt Nam nhận nợ mà Dân tộc phải hòan trả dài hạn sau này.
Chuyên gia Kinh tế VN lên tiếng và bị khóa miệng
Trước cảnh xâm lăng Kinh tế có hệ thống như trên, những Chuyên gia Kinh tế Việt Nam đã lên tiếng qua cuộc Họp Trực Tuyến của Vietnamnet và qua Tổ chức IDS. Nhưng CSVN đã do Tầu ra lệnh (Hồ Sở Câm) khóa miệng những tiếng nói chính đáng cho quyền lợi Kinh tế của Dân tộc Việt Nam. Nhà Nước CSVN đã quá yếu hèn không những chấp nhận cuộc xâm lăng Kinh tế, mà còn bắt bớ, đe dọa tất cả những ai nói đụng đến Tầu.
Cuộc xâm lăng Kinh tế của Trung quốc đã mọc rễ sâu. Không những tức thời chúng ta bài trừ hàng hóa Trung quốc như Lời Kêu Gọi của Hòa Thượng THÍCH QUẢNG ĐỘ, mà còn phải nỗ lực đào những cái rễ xâm lăng đã ăn sâu trên Đất nước Việt Nam.
Về vấn đề này, chúng tôi đã trình bầy tỉ mỉ trong ba cuốn sách mới xuất bản:
=> Nguyễn Phúc Liên:
DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN (216 trang)
=> Nguyễn Phúc Liên:
TÀI CHÁNH/KINH TẾ THẾ GIỚI: KHỦNG HỎANG 2007/08 & HẬU QUẢ CHO VN (425 trang)
=> Nguyễn Phúc Liên:
VIỆT NAM HỘI NHẬP WTO: ĐIỀU KIỆN TẠO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH (300 trang)
Cả ba cuốn do Nhà Xuất Bản DAY&NIGHT, Ventura, California, USA 2009
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 06.10.2009
| | |
(03) QUA WHO/OMC, HÀNG TRUNG QUỐC & NƯỚC NGÒAI DIỆT KINH TẾ VN TRÊN SÂN NHÀ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 2006
CHÚ THÍCH: Bài này đã được viết từ lâu nhân dịp Việt Nam vào WTO/OMC và nhân Phỏng vấn của Đài RFI (Radio France Internationale) về việc Hội nhập WTO/OMC này của Việt Nam. Chúng tôi đã cảnh cáo ngay thời đó rằng có những cái hại cạnh tranh mà Việt Nam chưa sửa sọan và khó chống lại việc tràn vào của những hàng nước ngòai, nhất là hàng Trung quốc. Chúng tôi cho đăng lại Bài này vì đúng ngày nay, hàng hóa Trung quốc đang lan tràn vào Việt Nam và diệt Kinh tế nước mình. Đây là một trong lọat Bài viết về Hội nhập WTO/OMC của Việt Nam. Qúy độc giả có thể đọc những bài khác trong Web sau đây: APEC & WTO : http://VietTUDAN. net/176201. html
Bài này viết về những cái hại tổng quát. Khi viết loạt bài này và có thể những loạt bài kết tiếp để khai triển thêm những chi tiết, tôi muốn cho thấy rằng chính những đòi hỏi Phát triển Kinh tế tương lai bắt buộc phải phế bỏ chế độ độc tài CSVN hiện nay. Khi tôi nói là phải phế bỏ chế độ CSVN hiện hành, đó không phải là việc tôi đòi hỏi hoặc “làm chính trị“. Đó chỉ là đòi hỏi của những điều kiện phát triển thuần túy Kinh tế mà thôi.
Bài thứ Nhất nói về khi nhậpWTO, cơ hội phát triển Kinh tế, trước hết có NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI. Bài này sẽ đề cập đến hai phần như sau:
=> Những cái hại gặp phải khi vào WTO/OMC => Những biện pháp chống lại những cái hại.
NHỮNG CÁI HẠI GẶP PHẢI KHI VÀO WTO/OMC
Vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC), nghĩa là Việt Nam nhập vào Cạnh tranh của Thị trường tự do. Nói đến Cạnh tranh, việc trước hết là phải biết mình có khả năng có thể cạnh tranh với người khác hay không, nếu không người khác sẽ đánh cho mình chết trong trứng nước hoặc lụn bại luôn. Việc cạnh tranh là ở chính trên nước mình, chứ không phải là Thị trường quốc tế tại những nưỡng nước khác. Dường như CSVN sống trong mơ mộng rằng vào WTO/OMC là đi hốt bạc tại những nước khác, mà quên đi rằng những nước khác có quyền vào chính nước mình để thu bạc đem ra.
Khả năng cạnh tranh của Việt Nam
Yêu cầu chế độ đừng ngông nghênh kiêu ngạo tự khen mình, coi mình như nhất nhì thiên hạ. Tôi còn nhớ câu chuyện một Tùy viên Quân sự của Sứ quán Việt Cộng bên cạnh Liên Hiệp Quốc nói với tôi rằng: “Thế Giới có 5 Tướng tài, Việt Nam chiếm 3“. Tôi nhịn cười không được bởi vì thấy ông ấy nói thành thực và ngây ngô chứ không phải là nói diễu chơi cho vui. Vấn đề vào WTO/OMC không còn phải là tự khoe mình ngông nghênh, tuyên truyền cho chế độ nữa. Vào WTO/OMC là vấn đề tiền bạc thực tiễn: cạnh tranh không nổi thì mất tiền, cạnh tranh thắng thì có tiền. Còn nếu chỉ nhằm khoe khoang, mơ mộng, thì chết đói. Đó là thực tiễn, chứ không dỡn chơi.
Nếu xét về việc tiến triển phần nào Kinh tế hiện hành, đó là nhờ sự đấu tranh Kinh tế của khối tư doanh và nhờ chính yếu nguồn ngoại tệ từ phía Việt kiều. Một số người nhìn sự tiến triển ấy, đã lầm lẫn hoặc cố ý nịnh đầm, đã cho rằng đó là công của CSVN. Nói như vậy là không hiểu gì về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Dân làm Kinh tế và phát triển Kinh tế, chứ không phải quyền lực Chính trị. Khối Cộng sản đã chủ trương làm Kinh tế để bao cấp Dân và họ đã hoàn toàn thất bại đến chỗ Dân đòi lại quyền làm chủ Đất Nước để nắm trong tay quyền làm ăn phát triển Kinh tế.
Tại Việt Nam, Dân nghèo phải làm ăn để có đủ sống. Họ nhờ nguồn tài trợ từ khối người Tỵ nạn thương gia đình còn ở lại. Khi phải tự mình kiếm sống, họ phải tìm đủ mọi cách tránh né sự áp chế, dành quyền kinh tế từ những Công ty quốc doanh. Khi phải tự mình kiếm sống, họ đã phải cay đắng cho CSVN ăn bẩn, ăn thỉu để có thể có việc làm, có cơ hội doanh thương tự họ. Khi phải tự mình kiếm sống, người Dân đã phải cay đắng nhận những đồng lương bóc lột mà CSVN bán họ cho nước ngoài và ăn hớt tiền trên sức lao động của họ. Nhìn như vậy, xin hãy nói cho đúng rằng nếu có những tiến triển kinh tế hiện nay, thì đó là từ sự cố gắng vượt mực của Dân. Chính CSVN đã cản mũi kỳ đà sức cố gắng phát triển này của người Dân. Những ai há mõm khen CSVN làm cho Kinh tế phát triển một phần hiện nay, đó là những người nói ngu xuẩn, thiếu học về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Tôi thẳng thắn nói vậy và sẵn sàng trả lời những ai ngu xuẩn khen tặng CSVN một cách nịnh đầm vô lương tâm và hèn hạ.
Sự phát triển kinh tế một phần hiện nay chưa cho phép Việt Nam tự hào rằng mình đã có đủ lực cạnh tranh trên Thị trường quốc tế. Vào WTO/OMC phải cấp tốc đẩy mạnh những gì đã có một phần phát triển. Việc đẩy mạnh này thiết yếu đòi phải dành quyền cho Dân bởi những phát triển kia là từ sức cố gắng của Dân, chứ không phải từ quyền lực CSVN, một quyền lực cản mũi kỳ đà cho phát triển.
Hàng hóa quốc tế diệt hàng hóa Việt Nam tại chính nước mình
Trên đây, chúng tôi nói tổng quát đến khả năng cạnh tranh của Việt Nam. Trong đoạn này, chúng tôi nhìn xem những hàng hóa nước ngoài diệt chính hàng hóa Việt Nam tại quốc nội như thế nào. Trong đoạn tiếp theo, chúng tôi quan sát khả năng cạnh tranh của những hàng hóa Việt Nam bên cạnh những hàng hóa nước ngoài trên Thị trường quốc tế.
=> HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP
Chúng tôi đã nhiều lần nói đến sự cạnh tranh chính yếu đến từ Thái Lan. Nguồn sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp (Conditions géographiques—Ressources naturelles) giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam. Nhân lực làm việc (Conditions démographiques) về những ngành này cũng không khác gì nhau. Nhưng có sự khác biệt rất rõ rệt về điều kiện Chính trị—Pháp lý (Conditions Politico-Juridiques): một đàng (Thái Lan) dành phần khai thác cho Tư nhân, một đàng (Việt Nam) dành cho quốc doanh (người của độc đảng) những quyền khai thác, bóc lột ưu tiên. Ai cũngt biết rằng khi việc khai thác nằm trong tay quyền lực Chính trị, thì không thể không có lãng phí và tham nhũng được bao che, và do đó năng xuất khai thác không thể nào được phát triển như trong Điều kiên Chính trị—Pháp lý Dân chủ.
Trong việc khai thác, hai yếu tố chính sản xuất là Vốn và Nhân lực (K: Capital, L:Labour). Nếu nhân lực sản xuất giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam, thì có sự chênh lệch rất rõ rệt việc đầu tư Vốn vào hai ngành nông nghiệp va ngư nghiệp giữa hai nước: Thái Lan đầu tư vốn 8 lần hơn Việt Nam vào hai ngành này.
Hiện nay, mặc dầu chưa vào WTO, mà hàng nông nghiệp và ngư nghiệp của Thái Lan đã cạnh rất ưu thế tại chính Việt Nam. Những hàng nông nghiệp của Thái Lan như gạo, trái cây... được coi là hàng sang và đã lan tràn ở Việt Nam. Dân Việt mua gạo Thái để ăn, mua trái cây của Thái để cúng vái, để ăn những dịp lễ. Những hàng gia vị của Thái cũng đang lan tràn tại chính quốc nội.
=> HÀNG KỸ NGHỆ BIẾN CHẾ NÔNG PHẨM VÀ NGƯ PHẨM
Việc phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp phải có Kỹ nghệ biến chế những sản phẩm này tại chỗ. Không có Kỹ nghệ này tại chỗ, thì rất khó phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp. Những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm nhằm nối dài thời gian xử dụng trong tương lai (thời gian) và mở rộng địa vực xử dụng đến những nơi không có những hàng nông nghiệp và ngư nghiệp (không gian). Tỉ dụ, nước Ý có kỹ nghệ làm Cà Chua Hộp để nâng đỡ việc trồng Cà Chua, nếu không Cà Chua dễ thối.
Kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tại Việt Nam, xứ có nguồn dồi dào về ngư nghiệp và nông nghiệp, lại thua kém hẳn Thái Lan, Tân Gia Ba và Đài Loan. Như vậy, những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tràn vào Việt Nam và cạnh tranh trong phần thắng.
=> HÀNG CÔNG NGHỆ THÔNG DỤNG HÀNG NGÀY
Đây là những hàng công nghệ thường dùng hàng ngày. Những hàng này không thuộc loại hàng hóa phức tạp (Produits sophistiqués) cần phải có một trình độ kỹ thuật cao. Tỉ dụ như bát đĩa, xoong chảo, nồi cơm điện, xe hai bánh, quạt máy, phích nước..., đó là những đồ công nghệ thông dụng hàng ngày.
Hiện nay, ngay chưa nhập WTO, những hàng này đang diệt những hàng tương tự sản xuất tại Việt Nam. Nhà Nước Việt Nam mới tuyên bố rằng khi vào WTO, những hàng này của Trung Cộng còn được giảm xuống 16% nữa cho thuế nhập cảng. Như vậy khả năng những hàng này cũa Tầu diệt hàng Việt Nam càng tăng lên hơn nữa.
Tại sao Trung Cộng có khả năng cạnh tranh cao về những hàng công nghệ này ? Trong sản xuất, việc cạnh tranh là giá thành của hàng hóa. Muốn hạ giá thành, thì phải tăng số lượng sản xuất. Trung Cộng có khả năng tăng lượng sản xuất vì họ có khối lượng dân số 1 tỉ rưỡi. Hàng sản xuất không sợ ứ đọng vì đã có khối dân không lồ bảo đảm việc tiêu thụ hết hàng hóa.
=> HÀNG KỸ NGHỆ MÁY MÓC CAO & PHỨC TẠP
Những hàng Kỹ nghệ Máy móc cao và phức tạp (Produits sophistiqués) hầu như chưa phát sinh tại Việt Nam, nên chưa nói đến việc cạnh tranh được. Việt Nam mới bắt đầu sản xuất thuê những linh kiện (pìeces détachées) cho những Công ty nước ngoài, chứ chưa ở mức độ sản xuất những máy móc phức tạp (Produits sophistiqués) như sản phẩm cuối cùng sẵn sàng cho tiêu thụ (Produits finis prêts à la consommation).
Việc cạnh tranh những hàng hóa này là việc cạnh tranh xử dụng Kỹ thuật tân tiến và cao (Haute Technologie moderne). Muốn có những Kỹ thuật tân tiến và cao, thì phải đầu tư những số Vốn lớn. Việt Nam chưa có khả năng Vốn lớn đầu tư, vì vậy hàng hóa trong phạm vi này không thể có khả năng cạnh tranh, thậm chí chưa sinh ra.
Những máy móc cao và phức tạp của những nước chung quanh sẽ tràn vào và diệt hàng Việt Nam trong trứng (chưa sinh ra). Những nước này là: Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba, ngay cả Thái Lan và Mã Lai.
=> NHỮNG DỊCH VỤ (SERVICES)
Dịch vụ đầu tiên là Dịch vụ Phân phối hàng hóa (Thương mại). Khi vào WTO, những Tổ chức phân phối đa quốc gia (Chaines de Distribution Multinationales) có quyền mở rộng Thị trường phân phối tại Việt Nam. Nếu không vào WTO, những Tiểu thương hoặc những Nhà phân phối quốc nội được che chở phần nào trước sức mạnh của những Tổ chức phân phối đa quốc gia. Khi vào WTO, những Tổ chức này dễ dàng bóp chết hệ thống phân phối quốc nội vì những Tổ chức đa quốc gia này có số vốn khổng lồ để che chở việc cạnh tranh bán hàng hóa.
Ngoài Dịch vụ Phân phối hàng hóa, còn nhưng Dịch vụ độc lập khác như Kiểm Toán, Bảo Hiểm, Nha sĩ, Bác sĩ... Nếu những Dịch vụ này hiện diện ở Việt Nam vì phải tôn trọng Tự do lưu thông hàng hóa và dịch vụ khi vào WTO, thì sự cạnh tranh rất là gay gắt cho những dịch vụ từ người Việt tại quốc nội. Dân Việt chọn lựa những Dịch vụ từ người nước ngoài vì có nhiều những tin tưởng hơn (!). Tỉ dụ chọn Kiểm toán nước ngoài hơn là Kiểm toán quốc nội; chọn Bảo Hiểm ngoại quốc có nhiều tin tưởng hơn...
Hàng hoá Việt Nam thua kém cạnh tranh trên Thị trường quốc tế
Ở đoạn trên, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh quan trọng nhất, đó là những hàng hóa nước ngoài cạnh tranh với những hàng hoá Việt Nam hoặc diệt chính những hàng hóa Việt Nam trên lãnh thổ của Quê Hương mình.
Trong đoạn này, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam khi đứng bên cạnh hàng hóa các nước khác trên Thị trướng quốc tế:
=> Hàng nông nghiệp và ngư nghiệp
Nói ngay đến khối người Việt tỵ nạn, họ đã phải tiêu thụ hàng nông nghiệp và ngư nghiệp Thái Lan trong 30 năm rồi. Trong thị trường quốc tế về hàng nông nghiệp và ngư nghiệp, còn phải kể đến những nước cạnh tranh khác: Nam Mỹ, các nước Đông Aâu, Aân độ, Nam Dương.
=> Hàng kỹ nghệ chế biến nông phẩm và ngư phẩm
Việt Nam chưa sánh được ngay cả với những nước trong vùng như Đài Loan, Tân Gia Ba, Thái Lan, Mã Lai..., huống chi nói đến những nước đã mở mang trên Thế Giới. Những nước nông nghiệp, chăn nuôi như Nam Mỹ, đang mở mang mạnh kỹ nghệ chế biến thực phẩm. Đông Aâu đang mở mang mạnh về những kỹ nghệ biến chế thực phẩm này. Những nước tân tiến như Mỹ, Pháp, Ý, Tây Ban Nha...cần mở mang những kỹ nghệ biến chế nông phẩm này để nâng đỡ phát triển nông nghiệp của họ.
=> Hàng công nghệ thường dùng
Hàng Trung Cộng đang tràn lan. Việt Nam khó cạnh tranh với Trung Cộng về những hàng hóa thông dụng hàng ngày này.
=> Những máy móc cao và phức tạp
Không thể có, lúc này, sự cạnh tranh của Việt Nam ở Thị trường quốc tế về những máy móc. Tôi chưa thấy có chiếc Ti-Vi “made in Vietnam“ bán ở Thị trường Thụy sĩ.
=> Những Dịch vụ (Services)
Đến bao giờ mới có Dịch vụ Kiểm toán Việt Cộng ở Thị trường Pháp, Đức... ?
NHỮNG BIỆN PHÁP CHỐNG LẠI NHỮNG CÁI HẠI
Phần trên đây phân tích về những điểm yếu, những cái nguy hại cho Việt Nam khi gia nhập WTO/OMC. Phần này nói đến những biện pháp nào để mong tránh hoặc ngăn chặn những cái nguy hại có thể xẩy ra.
Mặc dầu vào WTO rồi, nghĩa là phải thi hành Tự do Giao thương, nhưng có biện pháp nào tránh né cái Tự do đó hay không trong việc cạnh tranh? Đó là biện pháp tiêu cực.
Nhưng chúng ta phải nghĩ đến những biện pháp tích cực nhằm tăng cường cho chính khả năng cạnh tranh của mình.
Quyền che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh
Mặc dầu vào WTO, một Tổ chức luôn cổ võ Tự do Mậu dịch, cổ võ việc dành cho nhau Điều khoản “Quốc gia tối ưu đãi“ (Clause de la nation la plus favorisée), nghĩa là tuyên bố tình yêu với nhau, quyền Che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh vẫn được tôn trọng.
Đứng về mặt nguyên tắc và lý thuyết, Tự do Mậu dịch (Le Libre Echange) vẫn không khai trừ nguyên tắc Che Chở cho Kỹ nghệ đang phát sinh (Le Protectionnisme des Industries naissantes). Về nguyên tắc này, chúng tôi đã mới nói trong cuộc Phỏng vấn của Đài RFI (Radio France Internationale).
Nhân sự va chạm giữa CNUCED và WORLD BANK trong khuôn khổ Liên Hiệp Quốc qua cuộc Hội Nghị nhận định về sự phát triển của những nước nghèo hoặc đang mở mang, ngày 13.09.2006, Đài RADIO FRANCE INTERNATIONALE (RFI) phỏng vấn tôi về 4 câu hỏi:
1) Tại sao Trung Cộng có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Quốc tế ? CNUCED coi đây là một sự thành công mà các nước kém mở mang có thể học đòi theo, đồng thời công kích Ngân Hàng Thế Giới đã trợ lực tài chánh cho các nước nghèo mà hiệu quả không gặt hái được cụ thể.
2) Vậy các nước nghèo có thể áp dụng được chính sách xuất cảng hàng hóa mà Trung Cộng đã áp dụng hay không ?
3) Tại sao chính sách hỗ trợ tài chánh cho những nước nghèo mà Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) chủ trương trong nhiều năm nay lại không đưa đến những kết quả tốt cụ thể?
4) Nhận xét về hậu quả như thế nào khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC) ?
Tôi đã trả lời về 4 vấn đề này và Đài RFI đã phát thanh về Việt Nam ngày Thứ Năm 14.09.2006, trong chương trình từ 15g-16g (giờ Paris). Xin vào RFI để nghe:
http://www.rfi.fr/langues/statiques/rfi_vietnamien.asp
Tôi đã trả lời về 4 vấn đề nêu ra trên đây. Câu hỏi thứ tư liên hệ đến Việt Nam khi vào WTO. Chúng tôi đã khai triển câu hỏi này trong phần trên đây, vì vậy chúng tôi không nhắc lại trong phần này nữa mà chỉ nhấn mạnh đến cái Quyền Che chở Kỹ nghệ đang phát sinh mặc dầu Việt Nam vào WTO với Tự do Mậu dịch (Libre Echange) để chúng ta tìm cách che chở những cái thiệt hại cho nước mình khi mình thiếu khả năng cạnh tranh.
=> Trả lời cho câu hỏi 1
Nếu CNUCED coi đây là một Mô hình Kinh tế sáng kiến bởi Trung Cộng, thì đó là không đúng. Đây chỉ là một Chính sách Thương mại quốc tế mà những nước kém mở mang có quyền Bảo vệ những ngành Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Chủ trương này không phải là sự phát minh của Trung Cô.ng. Việc chủ trương bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này đã có trong Lịch sử Thương mại của những nước tư bản. Sau Cách mạng Kỹ nghệ của Anh quốc, nước này trở thành mạnh nhất Thế giới (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20) và muốn chiếm Thị trường quốc tế, đã kêu gọi và cực lực thuyết minh cho Chính sách Tự do Mậu dịch (Libre Echange) dựa trên những Thuyết lý Kinh tế của Adam SMITH, David RICARDO và Stuart MILL. Chính thời này, Hoa kỳ và Đức, còn trong thời kỳ gây dựng cho những Kỹ nghệ đang phát sinh, đã chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này (Protectionnisme des Industries naissantes) chống lại hàng hóa của Anh quốc. Lý thuyết gia Frederic LIST đã hùng hồn thuyết minh cho chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ mới phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Ngày nay, Hoa kỳ và Đức đã trưởng thành về những Kỹ nghệ này, nên lại cực lực thuyết minh cho Tự do Mậu dịch (Libre Echange), thậm chỉ kêu gào cho Toàn cầu hóa (Globalisation). Vậy thì Tự do Mậu dịch (Libre Echange) hay Bảo vệ Mậu dịch (Protectionnisme) chỉ là tương đối tùy theo sức mạnh Kinh tế của nước đứng ra kêu gọị
Việc Trung Cộng bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh của mình là việc có quyền của những nước đang phát triển. Tự do Mậu dịch là một điều lý tưởng, những phải giả thiết rằng mọi Nước tham dự phải có sức mạnh Kinh tế đồng đềụ Điều này rất khó thực hiện trên Thế giới và luôn luôn là nguồn tranh cãi không lối thoát giữa đa số những nước nghèo và thiểu số những nước giầu qua những Vòng Thương Nghị (Tokyo Round, Kennedy Roung, Uruguay Round...) trong khuôn khổ GATT (tiền thân của WTO/OMC).
Việc Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh khác với việc xử dụng quyền lực độc đoán bóc lột nhân công để có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Thế giớị Chấp nhận trên nguyên tắc rằng những nước đang mở mang có quyền bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh, nhưng không thể chấp nhận việc hai nước Trung Cộng và Việt Cộng xử dụng quyền độc tài để bóc lột lương nhân công và để hạ giá thành hàng hóa, từ đó bán phá giá trên Thị trường quốc tế.
=> Trả lời cho câu hỏi 2 Các Nước nghèo hoặc đang trên đà phát triển có quyền BẢO VỆ NHỮNG KỸ NGHỆ ĐANG PHÁT SINH, nhưng CNUCED không thể khuyên họ hãy trở tha `nh một nước Cộng sản chủ trương chế độ độc tài để bóc lột sức lao động của nhân công như Trung Cộng và Việt Cộng đang làm. CNUCED muốn lấy khôn lỏi của Kinh tế để đè bẹp Nhân quyền hay sao?
=> Trả lời cho câu hỏi 3
Chủ trương của Ngân Hàng Thế Giới muốn trợ lực tài chánh cho những Nước nghèo là rất đúng bởi vì với chủ trương Toàn cầu hóa việc bán hàng hóa từ G8 hiện nay đồng thời cũng là việc Tập trung hóa Tài chánh về những nước giầu, thì hố sâu giầu nghèo giữa các nước sẽ khơi rô.ng.
Globalisation des Marchandises == Centralisation Financiere
Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) đã chủ trương việc tái phân phối tài chánh đến những nước nghèọ Đây là chủ trương rất nhân đạọ Nhưng tại sao chủ trương này không mang đến những hiệu quả tốt cụ thể. Tôi đã trả lời rất rõ rệt rằng sở dĩ không đạt được những hiệu quả tốt cụ thể là vì hai điều:
=> Việc tài trợ này qua các Chính phủ tại những nước kém mở mang. Những Chính phủ này có đầy tham nhũng lãng phí tài chánh làm thất toát số vốn tài trơ..
=> Ngân Hàng Thế Giới, một là thiếu phương tiện kiểm soát, hai là không đủ khả năng kiểm soát chặt chẽ về tài chánh đối với quyền lực chính trị của những nước ấỵ
Những Biện pháp không giá biểu
Tất cả những Đàm phán về Thương mại Song phương (Bilatéral: tỉ dụ Hoa kỳ—Việt Nam), từng Vùng (Régional: tỉ dụ Union Eropéenne) hay Thế Giới (Mondial: tỉ dụ WTO/OMC) đều mong đưa đến một Hợp Đồng về giá biểu. Những giá biểu này gọi là Giá Biểu Hợp Đồng cho Quan Thuế (Tarifs douaniers contractuels).
Khi nói đến Giá Biểu Hợp Đồng, thì hai nước, hoặc những nước cùng Vùng hoặc tất cả mọi nước trên Thế Giới coi nhau đồng đều và phải áp dụng những Giá Biểu đã kỳ kết.
Nhưng trên thực tế, có nước mạnh, nước yếu không đồng đều. Chính vì vậy, mặc dầu những Giá Biểu Hợp Đồng được ký kết mà mỗi nước tùy theo sức lực riêng, điều kiện cạnh tranh riêng, có thể áp dụng những Biện Pháp không Giá Biểu. Ngay cả trong phần Lý thuyết về Tự do Mậu dịch, những lý thuyết gia cũng biện minh cho những Biện Pháp không Giá Biểu gọi là “Les Mesures non-tarifaires“, như:
=> Biện Pháp Hạn chế Lượng (Contingentement/ Quotas) => Biện Pháp Kiểm soát Hối đoái (Controle de Change) => Biện Pháp Kỹ thuật (Mesure Technique) => Biện Pháp Hành chánh (Mesure Administrative)
Tất cả những Biện Pháp này là những “hiểu ngầm thông cảm hữu lý“ cho những nước quá bị thiệt thòi khi áp dụng đúng theo nhữn Giá Biểu Quan Thuế theo Hợp Đồng (Tarifs Douaniers Contractuels)
Đường lối nâng cao khả năng cạnh tranh
Hai Cách thế trình bầy trên đây: (1) Che Chở cho những Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes); và (2) Những biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires) là hai Cách thế mang tính cách tiêu cực trong những quan hệ Thương mại quốc tế khi mà những nước ký với nhau trong Hợp Đồng không có sức mạnh cạnh tranh đồng đều như nhau.
Đường lối nỗ lực tự mình nâng cao khả năng cạnh tranh là Chính sách luôn luôn được khuyến khích. Đường lối này phải đến từ sức mạnh Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực mà người Dân làm chủ Kinh tế, Nhà Nước không can thiệp trực tiếp vào đời sống Kinh tế bằng quyền lực. Chúng tôi sẽ bàn về điểm này trong Bài thứ Ba để đòi buộc phải phế bỏ chế độc CSVN hiện hành.
Trả lời Phỏng vấn của RFI, tôi đã lưu ý đến việc nâng cao cạnh tranh của Trung Cộng và Việt Cộng một cách bất chính và vi phạm Nhân quyền. Thực vậy, đây không phải là việc nâng cao cạnh tranh một cách lành mạnh trong ý nghĩa chính đáng Kinh tế. Trung Cộng và Việt Cộng đã dùng bạo quyền bóc lột sức lao động của công nhân, ép buộc công nhân phải chấp nhận đồng lương rẻ mạt, như vậy Nhà Nước mới hạ được giá thành của hàng hóa và có khả năng bất chính cạnh tranh. Không những bất chính trên Thị trường quốc tế, mà Trung Cộng và Việt Cộng còn dùng bạo quyền đàn áp Nhân quyền, bóc lột sứ lao động của Dân cho quyền lợi của cá nhân mình qua việc tham nhũng, lấy tiền thưởng của nước ngoài khi họ vào Việt mua sức lao động rẻ mạt mà Công nhân “không dám than vãn“ lên nghiệp đoàn Công nhân do chính đảng CSVN nắm giữ.
Quốc tế công kích và tăng thuế nhập cảng về hàng da từ Trung Cộng và Việt Cộng là vì tính cách bóc lột công nhân của hai nước này vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 2006
| | | |
(04) KHỦNG HỎANG TÀI CHÁNH/ KINH TẾ VÀ SỰ LỚN MẠNH CỦA CHE CHỞ MẬU DỊCH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 12.02.2009
CHE CHỞ KINH TẾ, MỘT SÁCH LƯỢC MẬU DỊCH QUỐC TẾ
Viễn tượng của CHE CHỞ KINH TẾ (Protectionnisme/Protectionism) đã được nhắc nhiều đến trong WORLD ECONOMIC FORUM Davos 2009 mà chúng tôi cho đăng lại dưới đây vì nó là điều hệ trọng trong việc khởi động Kinh tế tòan cầu. Hai điểm chúng tôi muốn đề cập trong bài viết này là: => Những triệu chứng hiện nay của Chủ trương Che Chở Kinh tế => Thế nào là Che chở Kinh tế (Protectionnisme Economique/ Economic Protectionism)
Những triệu chứng hiện nay của Chủ trương Che Chở Kinh tế
Chính ngày hôm nay, 12.02.2009, nhật báo LE TEMPS, Thụy sĩ, đăng bài của Eric ALBERT, Luân Lôn, thuật lại cuộc họp báo của Alistair DARLING, Bộ trưởng Kinh tế Anh quốc, dưới đầu đề LE PROTECTIONNISME SERAIT DESASTREUX (Che Chở Kinh tế có thể tàn phá). Eric ALBERT đăng nguyên văn của Alistair DARLING như sau:
“Il faut être très dur contre le protectionnisme. Gordon BROWN le répète à longueur de discours depuis plusieurs mois et Alistair DARLING, son Ministre d’Economie, va porter à nouveau le message à Rome lors du G7 des Ministres des Finances ce weekend. Dans une interview à plusieurs journeaux européens, dont LE TEMPS, il avertit des dangers d’un repli sur soi: “Dans les années 30, cela avait eu un effet désastreux. Cela serait désatreux à nouveau aujourd’hui“. (page 23) (Phải cứng rắn chống lại việc Che Chở Kinh tế. Gordon BROWN nhắc lại trong suốt bài diễn văn dài từ nhiều tháng nay và Alistair DARLING, Bộ trưởng Kinh tế của Oâng, sẽ mang lời nhắn gửi này sang Rome trong dịp họp G7 các Bộ trưởng Tài chánh cuối tuần này. Trong một cuộc phỏng vấn của nhiều báo Aâu châu, trong đó có báo LE TEMPS, Oâng cảnh cáo về những nguy hiểm của việc tự khép mình lại: “Vào những năm 30, việc này đã mang lại hậu quả tàn phá. Việc này cũng lại là tàn phá ngày nay.“
Ngày 11.02.2009, tờ THE WALL STREET JOURNAL đăng bài của Leila ABBOUD với tựa đề FRANCE’S CAR-BAILOUT PLAN IS CRITICIZED AS PROTECTIONIST. Thực vậy: “France unveiled a plan on Monday to give Euro.6 billion in low-interest loans to RENAULT SA. and PSA PEUGEOT-CITROEN in exchange for promises that they won’t close factories in France or lay off workers for duration of the loan.“ (page 4) (Nước Pháp tiết lộ cho biết hôm thứ Hai Chương trình Euro 6 tỉ cho RENAULT và PEUGEOT-CITROEN vay với lãi suất hạ với điều kiện là những Hãng này hứa sẽ không đóng cữa các cơ sở sản xuất trên đất Pháp hay không thải nhân công trong suốt thời gian vay vốn.).
Cũng vậy Chương trình Khởi động Kinh tế USD.738 tỉ của Hoa kỳ đi kèm theo khẩu hiệu từ Quốc Hội đến OBAMA rằng “BUY AMERICA“ mang tính cách CHE CHỞ KINH TẾ.
Bộ trưởng Kinh tế Anh quốc, Alistair DARLING, đã thực sự lên tiếng cảnh cáo hai chủ trương mang khía cạnh Che chở Kinh tế này: “Il attaque Barack OBAMA et sa campagne “Achetez américain“. Il tacle aussi Nicolas SARKOZY qui a déclaré que “si on donne de l’argent aux industries automobiles, ce n’est pas pour apprendre qu’une nouvelle usine va partir en République Tchèque“ (page 23) (Oâng tấn công Barack OBAMA và việc phổ biến câu “Hãy mua tại Hoa kỳ“. Oâng cũng chỉ trích Nicolas SARKOZY đã tuyên bố rằng nếu người ta cho tiền cho những Kỹ nghệ Xe hơi, thì không phải là sẽ nhận được tin rằng một Nhà máy mới sẽ được chuyển sang Cộng hòa Tcheque).
Khi những Chương trình Cứu Vớt Kinh tế, mà Dân chúng một Quốc gia phải đóng góp chịu đựng, thì việc Che Chở Kinh tế cho người Dân của Quốc gia ấy không còn phải là chủ trương của những vị Tổng thống nữa, mà là việc đòi hỏi của chính Dân chúng Quốc gia ấy.
Thế nào là Che chở Kinh tế (Protectionnisme Economique/ Economic Protectionism)
Ba khía cạnh sau đây được đề cập để hiểu thế nào là Che Chở Kinh tế, một trong 3 sách lược của Mậu Dịch Quốc tế:
* Những chủ trương quan điểm cho Mậu Dịch Quốc tế * Thực hành những Giá biểu Quan thuế * Những Biện pháp Không gía biểu được đưa ra
Những chủ trương quan điểm cho Mậu Dịch Quốc tế
Có ba Chủ trương như sau:
=> Chủ trương TỰ TÚC KINH TẾ (Autarcie Economique)
Khuynh hương này muốn đóng cửa Khẩu. Biện minh cho việc đóng cửa này là muốn cho Quốc gia tự cung cấp cho mình những sản phẩm thỏa mãn những đòi hỏi. Thường quan điểm này dược áp dụng vì lý do lý do Chính trị, nhằm ngăn cản ảnh hưởng mang lại từ việc tiêu dùng những sản phẩm từ bên ngòai có thể làm xáo trộn xã hội mà nhà nước có khuynh hướng độc tài đang cai trị. Thí dụ về chủ trương này là những bức màn Tre, màn Sắt gói trọn các Xã hội Cộng sản trong nước mình.
=> Chủ trương TỰ DO MẬU DỊCH (Libre Echange)
Chủ trương này biện minh rằng chính Tự do Mậu dịch mang lại Lợi ích chung cho mọi người. Chủ trương bắt nguồn từ những Nhà Kinh tế Cổ điển Anh quốc như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL. Những Nhà Kinh tế này đưa ra nguyên tắc Phân công Họat động Kinh tế quốc tế nhằm gặt hái những hữu hiệu của từng nước. Việc trao đổi hàng hóa giữa các nước là một sự tự nhiên khi chấp nhận việc phân công quốc tế. Khi mỗi quốc gia được phân công là việc theo khả năng tốt nhất của mình, thì việc TỰ DO MẬU DỊCH có nghĩa là trao đổi cho nhau những gì hữu hiệu nhất của mình và mọi người đồng được hưởng.
Từ chủ trương này mới có GATT, rồi WTO/OMC, một Tổ chứ Quốc tế nhằm thúc đẩy việc hạ Giá cả Quan thuế giữa các nước, lo tổ chức những Thương lượng Quốc tế để thỏa thuận việc mở rộng biên giới thương mại và hạ giá biểu quan thuế.
=> Chủ trương CHE CHỞ KINH TẾ (Protectionnisme Economique)
Chủ trương này biện minh rằng mỗi người, mỗi nước có quyền tự vệ cho mình khi đứng trước những đe dọa đến từ những người khác hay những nước khác. Mỗi người, mỗi nước có quyền lo lắng cho quyền lợi của cá nhân mình, của quốc gia mình trước khi săn sóc đến quyền lợi của người khác hay nước khác. Chủ trương này thường được nhắc tới dưới phương diện Che chở cho những Kỹ nghệ mới phát sinh: Protectionnnisme des Industries naissantes.
Trong Lịch sử Thương mại đã xẩy ra tranh biện giữa những Quốc gia lớn. Kinh tế Anh quốc đã phát triển trước với cuộc Cách Mạng Kỹ nghệ (Révolution Industrielle) của mình, trong khi ấy Kỹ nghệ của Hoa kỳ và của Đức quốc mới chập chững đứng lên. Nước Anh chủ trương Tự do Mậu dịch để chiếm Thị trường và hai nước Hoa kỳ, Đức chủ trương Che Chở Kinh tế để bảo vệ cho nền Kỹ nghệ mới phát sinh của họ.
Những người chủ trương Che Chở Kinh tế không phủ nhận chủ trương TỰ DO MẬU DỊCH. Tự do Mậu dịch là một lý tưởng, nhưng Lý tưởng này chỉ có thể tiến tới thực hiện khi mà hai nước hay nhiều nước có sức mạnh Kinh tế đồng đều, nếu không, những nước còn yếu sẽ bị ăn hiếp.
Dù ký kết với nhau chấp nhận TỰ DO MẬU DỊCH, nhưng khi một nước gặp họan nạn yếu sức đi, như Khủng hỏang Kinh tế chẳng hạn, thì nước này tìm cách Che chở Kinh tế để mình khỏi bị kẻ mạnh trấn át làm thiệt hại thêm cho mình.
Thực hành những Giá biểu Quan thuế (Tarifs Douaniers)
Luật lệ thực hiện Tự do Mậu dịch là những Giá biểu Quan thuế được ký kết. Những Giá biểu Quan thuế được phân biệt như sau:
=> Những Giá biểu Độc lập (Tarifs douaniers autonomes)
Mỗi quốc gia có thể đưa ra những lý do riêng của mình để tự quyết định một số giá biểu độc lập. Chẳng hạn như một số Giá biểu nhằm nâng đỡ Nông nghiệp khi mà một nước không có những điều kiện thiên nhiên phát triển Nông nghiệp.
=> Những Giá biểu Giao kèo (Tarifs douaniers contractuels)
Đây là những Giá biểu ký kết: (i) giữa hai Quốc gia (Tarifs douaniers contractuels bilateraux) như giữa Thụy sĩ và Liên Aâu, Liên Aâu và Bắc My...õ, (ii) giữa những Quốc gia đứng chung trong một vùng Kinh tế (Tarifs douaniers contractuels régionaux), như ASEAN, APEC, Liên Aâu..., (iii) hay giữa những Quốc gia đứng chung trong một Tổ chức Kinh tế mang tính cách tòan cầu (Tarifs douaniers contractuels mondiaux), như trong khuôn khổ GATT trước đây hay WTO/OMC hiện nay.
Những Biện pháp Không gía biểu được đưa ra (Mesures non-tarifaires)
Cho dù đã ký kết những Giao kèo ràng buộc vào những Giá biểu Quan thuế, nhưng những Quốc gia có thể đưa ra những Biện pháp nhằm ngăn chặn việc thi hành những Giá biểu Quan thuế đã ký kết. Người ta gọi đây là những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires), như: => Biện pháp hạn chế Lượng nhập cảng (Mesure de Contingentement/ Quotas) => Biện pháp Hối đóai (Mesure de Change) => Biện pháp Hành chánh (Mesure Administrative) => Biện pháp Kỹ thuật (Mesure Technique)
Đây là những Biện pháp mà một Quốc gia có thể áp dụng để tránh TỰ DO MẬU DỊCH theo Giao kèo đã ký kết. Đó chính là CHE CHỞ KINH TẾ trá hình (Protectionnisme déguisé) vậy. | | | |
CHE CHỞ KINH TẾ TRÁ HÌNH (DISGUISED PROTECTIONISM/ PROTECTIONNISME DEGUISE)
Chúng tôi đề cập trong này về những khía cạnh sau đây:
=> Những khẳng định và lo âu mới nhất về Che chở Kinh tế => Sự thực về những Sách lược Mâu dịch => Trường hợp Hoa kỳ và Pháp => Tình trạng Mậu dịch Quốc tế trong những năm tới
Những khẳng định và lo âu mới nhất về Che chở Kinh tế
Trong những ngày gần đây nhất, mối lo lắng của Trung quốc và của Cộng Hòa Tchèque mỗi ngày mỗi hiện ra công khai. Trung quốc và Nga rất sợ tình trạng Che Chở Kinh tế nên đã la lên trong chính ngày Khai mạc WORLD ECONOMIC FORUM Davos 2009. Trung quốc càng lo âu hơn Nga ở chỗ Kinh tế Trung quốc tùy thuộc vào việc đặt mua hàng từ Hoa kỳ và Liên Aâu. Cộng Hòa Tcheque đang sống với Kỹ nghệ Xe hơi từ Pháp với 14% của thu nhập PIB.
Trong những tuần liền trước đây, TT.OBAMA xin Quốc Hội chấp thuận Stimulus Plan USD.787 tỉ với lời hứa “BUY AMERICA“. Hạ viện muốn đặt lời hứa ấy thành Luật. Tại Aâu châu, TT.Nicolas SARKOZY chấp thuận cho Renault và Peugeot-Citroen vay theo Chương trình Euro.6 tỉ với đe dọa liên hệ đến Cộng Hòa Tcheque. Hai biến cố này thực sự đã tạo ra lo âu về tình trạng sẽ có thực CHE CHỞ KINH TẾ (Economic Protectionism).
Trước hai sự kiện này, không những chỉ có phản ứng mạnh của Trung quốc, của Cộng Hòa Tcheque, mà còn cả Anh quốc, qua lời tuyên bố rất mạnh của Alistair DARLING, Bộ trưởng Kinh tế trong cuộc Họp Báo tại Luân Đông trong tuần vừa rồi rằng: “Il faut être très dur contre le protectionnisme“ (Phải hết sức cứng rắn chống lại Che chở Kinh tế).
Trong buổi họp báo sáng nay 17.02.2009, người phát ngôn Bộ Thương Mại Trung Quốc không nêu đích danh quốc gia nào trong khi đó, báo China Daily đã đăng trên trang nhất bài viết của một viên chức khác cũng thuộc bộ Thương Mại, chỉ trích điều khỏan « Mua hàng của Mỹ »’ trong gói kích cầu 787 tỷ đô la khuyến khích dân Mỹ mua sắt, thép và sản phẩm của các xí nghiệp công ty được kế hoạch kích cầu giúp đỡ.
TT. Cộng Hòa Tcheque, hiện nay là Chủ tịch luân phiên của Liên Aâu, đã thẳng thắn công kích thái độ của TT.Pháp Nicolas SARKOZY.
Trước những lo âu và phản ứng mạnh mẽ ấy cả Mỹ và Pháp tìm cách hạ nhiệt cho Trung quốc và Công Hòa Tchèque.
Nhật báo LE MONDE, ngày hôm qua 18.02.2009 (page 15) đã tường thuật về cuộc viếng thăm Ý quốc của Chủ tịch Hạ viện Hoa kỳ, Bà Nancy PELOSI. Bà Chủ tịch Hạ viện Mỹ tuyên bố:“Quelqu’un qui a dit quelque part que les Etats-Unis sont devenus plus protectionnistes. Ce n’est pas vrai. Nous voulons aller de l’avant d’une manìere qui soit plus satifaisante pour les travailleurs à l’échelle globale. Le président Barack Obama n’est pas un président protectionniste.“ (Người nào đó đã nói rằng nước Mỹ đã trở thành che chở kinh tế hơn. Đó là không đúng. Chúng tôi muốn đi về hướng trước một cách thỏa mãn cho những nhân công ở mức thang tổng quát. Tổng thống Barack Obam không phải là người chủ trương che chở kinh tế“.
Câu nói của một Bà Chủ tịch Hạ viện My trật lấc. Không phải là Quốc Hội Mỹ quyết định quyền lợi của Dân chúng, cũng càng không phải là Tổng thống Mỹ quyết định là che chở Kinh tế hay không. Chính là những người dân bỏ tiền ra cho khối tiền USD.787 tỉ mới có quyền quyết định tiêu những gì, tiêu cho ai. Dân Mỹ bỏ tiền ra để chi tiêu, thì họ có quyền quyết định mua hàng của Mỹ hay mua hàng của Trung quốc. Ai bỏ tiền ra thì có quyền nói và quyết định. Tại sao Nhà Nước giúp đỡ một số Công ty mà Obama đã dành quyền độc tài định lương tối đa cho người Lãnh đạo ? Khi những Công ty ấy hết nhờ tiền giúp của Nhà Nước, nếu khi Obama nói vậy, thì những Oâng chủ Công ty sẽ tát cái bốp một cái vào mặt Obama.
Đối với liên hệ giữa Pháp và Cộng Hòa Tcheque, Nhật báo LE FIGARO, hôm qua 18.02.2009, đăng bài của Alexandrine BOUILHET, với đầu đề là PLAN AUTO: PARIS PEINE A CALMER PRAGUE, cho biết là Pháp đã phải gửi Patrick DEVEDJIAN, Bộ trưởng Khởi động Kinh tế, và Bruno LEMAIRE, Bộ trưởng Aâu-châu sự vụ, sang Prague để giải thích. Bài báo viết: “La relation entre Paris et Prague n’est pas toujours apaisée. En République tchèque, òu l’industrie automobile représente 14% du PIB, les menaces de “relocalisation” des usines francaises ont fait l’effet d’une bombe. En échange des 6 milliards d’euro de prêts de l’Etat, Renault et Peugeot se sont engagés à “ne pas fermer de site en France”. En revanche, rien ne leur interdit “la fermeture, l’installation ou le développement d’usine hors de France” (page 20) (Mối quan hệ căng thẳng giữa Paris và Prague vẫn chưa giảm xuống. Ơû Cộng Hòa Tchèque, Kỹ nghệ xe hơi cho 14% sản lượng PIB, những đe dọa “tái định chỗ” của những nhà máy Pháp đã gieo hiệu quả như một quả bom. Để trao đổi với Euro. 6 tỉ của Nhà Nước, Renault và Peugeot đã cam đoan “không đóng cửa nhà máy ở Pháp”. Nhưng ngược lại, không có gì ngăn cản họ “đóng cửa, định chỗ hoặc phát triển nhà máy ngòai nước Pháp”.
Cách đây hơn một tuần, Bộ trưởng Ngân Khố Mỹ, Oâng Timothy GEITHNER, đã rất gay gắt đối với chủ trương Tiền tệ của Trung quốc. Nhưng trong cuộc Họp G7 các Bộ trưởng Tài chánh tại Roma trong cuối tuần vừa rồi, thái độ đã hạ hẳn xuống. Báo THE WALL STREET JOURNAL viết: “The US and its major allies softened their criticism of China’s controversial currency“ (Hoa kỳ và những đồng minh đã giảm nhẹ đi những công kích Trung quốc về vấn đề tranh cãi Tiền tệ.). Tuy nhiên Hoa kỳ cũng như những đồng minh vẫn còn yêu cầu Trung quốc có những chương trình làm cho Hối suất đồng Yuan co giãn hơn (Plans for more flexible yan).
Về sự lo ngại chung trước vấn đề Che Chở Kinh tế (Protectionism), THE WALL STREET JOURNAL viết: “The G7 remains committed to avoiding protectionist measures, which would only exacerbate the downturn, to refraining from raising new barriers, and to working towards a quick and ambitious conclusion of the Daho Round“ (Nhóm G7 khẳng định tránh những biện pháp che chở Kinh tế, những biện pháp này sẽ làm khủng hỏang trầm trọng hơn, hãm lại những việc làm tăng những cản trở quan thuế mới và hứa làm việc cho kết thúc mau chóng cuộc Thương Thảo Daho (về Tự do Mậu dịch)). Nhìn những lo âu đang lớn lên về Che Chở Kinh tế hiện nay và về những quyết định mang tính cách hình thức, chứ không cụ thể của cuộc Họp G7 các Bộ trưởng Tài chánh, Báo LE TEMPS (Thụy sĩ), ngày 16.02.2009, viết (page 23):
“Selon Marco ANNUNZIATA, chef économiste de la banque UniCredit, “cela va laisser les marchés indifférents“, le communiqué final de la rencontre étant, selon lui, un catalogue de principes généraux.“ “Je suis un peu décu, la réference au protectionnisme est très générique alors que certains de ces pays comme les Etats-Unis et la France ont des tentations protectionnistes. J’aurais préféré une déclaration plus concrète“ “Il n’y a pas eu de détails sur les mesures qui pourraient relancer l’économie.“ “Malgré la promesse des pays du G7 d’ “agir ensemble“, ce que nous avons vu ces derniers mois, ce sont des pays qui font ce qu’ils peuvent pour relancer l’économie mais chacun de leur côté“.
(“Theo Marco ANNUNZIATA, Kinh tế trưởng của Ngân Hàng UniCredit, “điều này sẽ làm cho những thị trường dửng dưng”, một bản thông cáo kết thúc của cuộc họp chỉ gồm liệt kê danh sách những nguyên tắc tổng quát.”
“Tôi thấy một phần thất vọng, việc đối chiếu về Che Chở Kinh tế mang tính cách rất là lọai tính trong khi ấy một số trong những nước như Hoa kỳ và Pháp có những hướng rõ về Che chở Kinh tế. Tôi mong muốn một tuyên ngôn cụ thể hơn.”
“Không có những chi tiết về những biện pháp có thể khởi động Kinh tế.”
“Mặc dầu lời hứa hẹn của những nước G7 “hành động chung”, điều mà chúng ta đã nghe thấy trong những tháng vừa qua, chỉ thấy những quốc gia làm những gì họ có thể để khởi dộng Kinh tế nhưng mỗi quốc gia làm riêng phía họ”.).
Theo nhận xét này của Kinh tế gia Marco ANNUNZIATA, thì việc khẳng định sẽ không có Che Chở Kinh Tế (Economic Protectionism) mang tính cách nguyên tắc như giả hình, nghĩa là sự thực việc Che Chở Kinh tế đang dần dần lớn lên.
Sự thực về những Sách lược Mâu dịch
Có ba Sách lược Mậu dịch Quốc tế (Politiques Commerciales Internationales: (i) TỰ TÚC KINH TẾ (Autarcie Economique); (ii) TỰ DO MẬU DỊCH (Libre Echange); và (iii) CHE CHỞ KINH TẾ (Prtotectionnisme Economique).
Tự túc Kinh tế thì thường vì lý do Chính trị, nhiều người không muốn nói tới. TỰ DO MẬU DỊCH là một Lý tưởng mà Tổ chức Mậu Dịch Hòan cầu WTO/ OMC có Trụ sở nằm tại Geneva luôn luôn cố gắng cổ võ các Nuớc phải tiến tới. Một điều mà WTO/OMC nhắc nhở các Quốc gia nên ký với nhau trong các Hợp Đồng Thương Mại Song phương (Contrat Commercial Bilatéral nên dành cho nhau Điều Khỏan QUỐC GIA ƯU ĐÃI NHẤT (Article de la CLAUSE DE LA NATION LA PLUS FAVORISEE). Đây là Điều khỏan tuyên bố tình yêu độc quyền giữa hai Quốc gia với những ràng buộc Thương mại đã tuyên bố như vậy trong Hợp đồng.
Đó là cố gắng của WTO/OMC tìm mọi cách để tiến tới Lý tưởng Tự do Mâu Dịch. GATT rồi WTO/OMC trong bao chục năm đã tổ chức những Thảo Luận Quốc tế về Thương Mại để tháo gỡ những ngăn cản biên giới quan thuế. Những Thảo Luận này được gọi là những ROUNDS, nào là Tokyo Round, Kennedy Round..., rồi Daho Round hiện nay vẫn còn dở dang.
Cái ngáng trở nhất cho những Rounds này là sự đối chọi Bắc—Nam (Nord—Sud). Các nước phía Bắc bán cầu phần lớn được Kỹ nghệ hóa và giầu có. Các nước thuộc phía Nam bán cầu hầu hết chưa được mở mang Kinh tế. Vì vậy vấn đề Bắc—Nam tượng trưng cho Giầu—Nghèo.
Như vậy bế tắc Lịch sử của Tự do Mậu dịch là vấn đề Giầu—Nghèo. Những nước Giầu đã Kỹ nghệ hóa hòan tòan ủng hộ chủ trương TỰ DO MẬU DỊCH, rồi đến thời Clinton, lại còn chủ trương Tòan Cầu Hóa (Mondialisation/ Globalisation).
Những nước Giầu đã mở mang thì muốn Tự do Mậu dịch để tha hồ chiếm Thị trường phát tán Hàng hóa. Trong khi những nước Nghèo chưa mở mang Kinh tế, thì dè dặt và muốn Che Chở Kinh tế, nhất là Che Chở những Kỹ nghệ mới phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes).
Như vậy chủ trương CHE CHỞ KINH TẾ (Protectionnisme Economique/ Economic Protectionism) có những lý do chính đáng để biện minh.
Chúng tôi đã có thời gian suy nghĩ về những Sách lược này và có những dịp thực tiễn về những Giao dịch Quốc tế, nên xin chân nhận những điểm sau đây:
=> Tự do Mậu dịch là một Lý tưởng. Mà Lý tưởng thì đòi nhiều điều kiện rất khó thực hiện mới có thể tiến gần đến Lý tưởng được.
=> Những nước đã Kỹ nghệ hóa, đã giầu mạnh, tỉ dụ G7, hô hào cổ võ cho Tự do Mậu dịch vì họ được thả cửa chiếm Thị trường và chắc chắn thắng lợi về sức mạnh hàng hóa của họ.
=> Một số những nước chưa đủ hẳn những điều kiện, nhưng sẵn sàng hô hào Tự do Mậu dịch, trong khi ấy họ toan tính dùng Tự do Mậu dịch như một lá chắn che dấu một số thủ đọan để làm Che chở Kinh tế cho một số sản phẩm của mình.
=> Ngay cả những nước giầu mạnh, một mặt tuyên bố Tự do Mậu dịch, nhưng trong thực tế họ sẵn sàng làm công việc Che Chở Kinh tế mỗi dịp cần đến.
CHE CHỞ KINH TẾ (Protectionnisme Economique/ Economic Protectionism)
Đây là một cái quyền TỰ VỆ của mỗi cá nhân, của mỗi quốc gia, khi mà quyền lợi của họ bị đe dọa. Nếu Tự do Mậu dịch là một điều lợi mà mỗi người, mỗi quốc gia, nếu muốn có cái lợi ấy, thì tham dự. Nhưng cá nhân hay quốc gia, nếu không thích có cái lợi của Tự do Mậu dịch, thì có quyền từ chối không tham dự. Nhưng khi cá nhân hoặc quốc gia đứng trước nguy hiểm đe dọa đến mình, thì hòan tòan có quyền và phải bảo vệ sự sống mình đang bị đe dọa. Mời một người ăn cơm, nếu người đó không muốn, thì mình không có quyền gì bắt buộc họ phải ăn. Nhưng nếu một người có bát cơm trong lúc đói mà họ muốn bảo vệ riêng cho bụng đoiù của họ, thì họ có quyền bảo vệ bát cơm ấy mà không ai có quyền tước đọat.
Trường hợp Hoa kỳ và Pháp
Ở đọan liền trên đây, chúng tôi đã khẳng định rằng quyền tự vệ là quyền chính đáng của cá nhân và của một quốc gia, nhất nữa khi cá nhân hay quốc gia ấy có chứng cớ rằng mình đang bị đe dọa. Cái quyền CHE CHỞ KINH TẾ (Protectionnisme Economique/ Economic Protectionism) đến từ quyền TỰ VỆ.
Về trường hợp của Hoa kỳ và Pháp đang làm đầu đề gây lo âu về CHE CHỞ KINH TẾ hiện nay của rất nhiều nước, Hoa kỳ và Pháp có tòan quyền bảo vệ Kinh tế nước họ trong trường hợp bị đe dọa do Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế bây giờ.
Thêm vào cái quyền TỰ VỆ này, hai nước còn cái quyền KINH TẾ. Thực vậy quyền lực Kinh tế đến từ ĐỒNG TIỀN. Trong một Công ty, không phải là sự thông minh nắm quyền quản trị, mà chính là người bỏ đa số vốn của mình vào Công ty ấy. Nắm quyền làm chủ Công ty rồi, nếu người chủ ấy kém thông minh điều hành, thì họ có thể thuê người thông minh hơn để điều hành công việc của Công ty.
Số tiền USD.787 tỉ của Plan Stimulus Mỹ
Số tiền này không phải là của Obama bỏ ra, cũng không phải của Lưỡng viện Hoa kỳ đóng góp vào. Số tiền này là do người Dân Mỹ, từ người quyết đường cho đến ông chủ Ngân Hàng, khi đóng thuế, là đóng góp vào để tạo nên số vốn USD.787 tỉ. Thường xây dựng những công trình lâu dài cho quốc gia, Chính quyền dùng phương pháp DEFICIT BUDGETAIRE, nghĩa là đứng ra nhận nợ vay tiền từ thế hệ hiện nay và thế hệ tương lai, khi được thụ hưởng hiệu quả của công trình xây dựng, thì phải hòan trả lại món nợ ấy. Chúng ta có thể nói rằng vay tiền của cha mẹ để làm lợi ích cho con cái, thì con cái phải hòan lại cha mẹ số tiền ấy.
Tóm lại, số tiền USD.787 tỉ là hòan tòan thuộc sở hữu của DÂN CHÚNG Hoa kỳ. Chính vì vậy việc Che Chở Kinh tế chi tiêu món tiền ấy là thuộc quyền Dân chúng Hoa kỳ quyết định. Chính vì vậy mà chúng tôi thẳng thắn nói trên đây rằng Bà Nancy PELOSI, Chủ tịch Hạ viện Mỹ, nói: “Le président Barack Obama n’est pas un président protectionniste“ (Tổng thống Barack Obama không phải là một tổng thống chủ trương che chở kinh tế), là câu nói thừa và vô nghĩa. Cho dù Tổng thống Obama chủ trương tự do mậu dịch đi nữa, mà Dân Mỹ nói phải Che chở Kinh tế, thì Obama cũng phải làm theo quyết định của Dân. Câu “Buy America“ với số tiền của Dân là mệnh lệnh của Dân mà Obama lập lại mà thôi. Quốc Hội cũng phải lập lại câu ấy. Không thể dùng Tiền của Dân chúng Hoa kỳ để đi mua hàng hóa, sắt thép của Trung quốc để thất thóat tiền của Dân Mỹ sang Tầu.
Số tiền Euro. 6 tỉ của Pháp dành cho Renault và Peugeot-Citroen
Đó là số tiền từ Dân chúng Pháp, nên TT.Nicolas SARKOZY đại diện cho Dân chúng đặt điều kiện cho hai Hãng Xe hơi này phải chi dùng ở Pháp để tạo công việc làm cho Dân chúng Pháp, chứ không có quyền đóng cửa nhà máy ở Pháp để xây nhà máy ở Tầu, trả lương cho dân Tầu. Nếu số tiền Euro. 6 tỉ thuộc riêng của Sarkozy, thì ông được tòan quyền ký tặng Oân Gia Bảo, không ai nói gì.
Tình trạng Mậu dịch Quốc tế trong những năm tới
Đọan này chỉ nói vắn gọn để xem một số dự đóan tương lai về Mậu dịch Quốc tế ra sao. Viết như ở phần trên, có thể có độc giả nghĩ rằng nhất thiết phải Che Chở Kinh tế hay sao? Chúng tôi xin trả lời ngay rằng không tất nhiên phải nhất thiết như vậy. Những quyết định Kinh tế, nhất là cho quyền lợi của Dân, không được theo tiêu chuẩn Chính trị, nhất là Tình cảm. Việc quyết định Kinh tế là theo tiêu chuẩn LỢI NHUẬN TỐI ĐA. Một đồng tiêu ra, thì tối thiểu phải có hơn một đồng thu vào.
Khi mà những Chương trình Khích động Kinh tế đã đạt hiệu quả do đúng số tiền mà dân trao phó, nghĩa là bảo tòan an tòan Kinh tế, đời sống Kinh tế không còn bị đe dọa, thì chính Dân có thể nghĩ đến việc đi chính phục, kiếm lấy những Lợi nhuận mà Tự Do Mâu Dịch có thể đem tới.
Việc TỰ DO MẬU DỊCH trong những năm tới không thể được mọi người hồ hởi quyết định dễ dàng như trước, thời gian mà mỗi quốc gia chưa bị Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế đe dọa. Mậu Dịch Quốc tế, trong thời gian khó khăn Kinh tế, gồm những Thương Thảo Song Phương (Négociations Commerciales Bilatérales) trong đó mỗi phía rút ra được những lợi nhuận có thể chấp thuận được. Từ Sách Lược Che chở Kinh tế, có thể có những biện pháp trả đũa (Mesure de représaille). Từ đó có những thương thảo song phương một mặt để tránh việc trả đũa và mặt khác để chia nhau quyền lợi hỗ tương.
TÌM GIẢI PHÁP THƯƠNG LƯỢNG RIÊNG
Đây là Bài thứ 4 chúng tôi viết về cùng vấn đề CHE CHỞ KINH TẾ (Economic Protectionism/ Protectionnisme Economique). Đây là vấn đề quan trọng cần phải theo rõi. Thực sự nó là vấn đề thời sự. Những hội họp, những giao tế hiện nay đặt trên những quyền lợi Kinh tế, Thương mại hơn là ở quan điểm Chính trị. Trong chuyến thăm Trung quốc mới đây, Ngọai trưởng Hilary CLINTON nhấn mạnh trên vấn đề Kinh tế và dường như quên đi vấn đề Nhân quyền.
Như chúng tôi đã viết ở cuối Bài 03 rằng dầu cho những lời Ngọai giao trao đổ nhấn mạnh đến Lý tưởng Hợp tác Kinh tế, Thương mại, nhưng thực tế mỗi nước vẫn nhìn thấy con ma PROTECTIONISM đang dần dần hiện ra cụ thể. Con đường Liên hệ Thương mại trong thời gian tới là bằng Thương lượng tay đôi hay bằng những Biện pháp trả đũa (Négociations Bilatérales ou Mesures de Représailles).
Con ma CHE CHỞ KINH TẾ (Economic Protectionism? Prectionnisme Economique): việc đến sẽ đến mặc dầu những kêu gọi Hợp Tác, Tự do Mậu dịch nêu lên như lý tưởng cho quyền lợi chung hoặc riêng. Đó là những cái lợi mới được hứa hẹn, nhưng THỦ trước đã, khi mình bị đe dọa, để mình sống trước khi kiếm thêm được quyền lợi hứa hẹn.
Chúng tôi ghi nhận Thời sự với những biến cố sau đây cho thấy hòan cảnh Che Chở Kinh tế đang hiện hình:
1) Báo THE WALL STREET JOURNAL ngày 23.02.2009 đăng tin một Phái đòan Thương Mại, dẫn đầu bởi Bộ trưởng Thương Mại Trung quốc, đi một vòng Aâu châu với chủ đích đặt mua hàng hóa từ Anh quốc, Đức quốc, Thụy sĩ và Tây Ban Nha. Trung quốc đặt mua những thiết bị Hàng Không, mua cả xe Jaguar và Land Rover... Một Phái đòan nữa cũng sang Hoa kỳ trước đây về những vấn đề Liên hệ Kinh tế, Thương mại.
Bình luận về những Phái đòan này, Ký giả Mei FONG trích chính lời nói của Bộ trưởng ngọai giao Trung quốc:”In the commentary published Friday on The Wall Street Journal, titled:”Protectionism doesn’t pay”, Mr.CHEN, Commerce Minister, wrote:”In the heat of the crisis, it’s critical that all countries refrain from pointing the fingers at each other or pursuing their own interests at the expense of others” (Trong bài bình luận dưới đầu đề “Che Chở Kinh tế không có lợi”, Oâng CHEN, Bộ trưởng Thương mại, đã viết: “Trong sự nóng bực của Khủng hỏang, thật đáng công kích là tất cả các nước ngưng lại, chỉ ngón tay vào nhau hoặc làm theo những quyền lợi riêng mình mặc cho thiệt thòi người khác”. Lời nói thực lý tưởng đẹp đẽ. Trung quốc rất sợ hãi việc Che chở Kinh tế và đã muốn đi trước việc thương lượng song phương bằng thả con tép để bắt con tôm.
2) Nhật, một quốc gia sản xuất để xuất cảng và là quốc gia được Mỹ hỗ trợ che chở từ Thế Chiến Thứ II đến nay, cũng muốn nhắc lại mối liên hệ này. Thủ tướng Nhật đã sang thăm Tổng Thống Hoa kỳ, thăm hỏi và nhắc lại mối liên hệ Kinh tế và Thương mại. Đây cũng do sự lo ngại một tình trạng Che Chở Kinh tế mà đi trước vấn đề.
3) Một mặt khác, dự phòng trước tình trạng Che Chở Kinh tế của Mỹ và Liên Aâu, Khối ASEAN và thêm 3 nước Nhật, Nam Hàn, Trung quốc mới nhóm họp quyết định hai điều quan trọng: * Đầu tư tăng cường Thị trường Tiêu thụ Á châu và vùng Đông Nam Á châu để có Thị trường xuất cảng khỏi lệ thuộc hòan tòan vào Liên Aâu và Hoa kỳ * Thành lập Qũy Dự Trử Ngọai Tệ cho Á châu gồm USD.120 tỉ. Đây cũng là điểm dự đón một tình trạng Che Chở Kinh tế nào đó trong tương lai.
4) Nhật báo LE MONDE ngày 26.02.2009 trích một câu rong bài diễn văn của OBAMA đọc trước Lương Viện hôm qua: “Je n’accepte pas un monde òu les emplois et les industries de demain se créent au-delà de nos frontìeres” (page 5) (Tôi không chấp nhận một thế giới mà những việc làm và những kỹ nghệ của ngày mai được tạo ra bên ngòai những biên giới của chúng ta). Câu nói hàm chứa một khía cạnh Che chở Kinh tế.
WORLD BANK XÁC NHẬN: CON MA CHE CHỞ KINH TẾ HIỆN RA THỰC
Bài thứ 5 này được viết sau khi nghe tuyên bố trịnh trọng của Oâng Robert ZOELLICK, Chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) về tình trạng có thực tại các Quốc gia về Che Chở Kinh tế, đúng trước dịp Hopï thượng đỉnh G20 tại Luận Đôn đầu tháng Tư này. Chúng tôi đề cập đến những khía cạnh sau đây: => World Bank xác nhận Che Chở Kinh tế => Căng thẳng Chính trị và Quân sự vì Che Chở Kinh tế => Căn bản biện minh cho Che Chở Kinh tế
World Bank xác nhận Che Chở Kinh tế
G20 : la Banque mondiale dénonce la montée du protectionnisme LEMONDE.FR avec AFP | 18.03.09 | 10h55 La quasi-totalité des pays appartenant au G20 ont pris des mesures protectionnistes depuis leur réunion, à Washington, en novembre. Dans la capitale américaine, les membres du G20 s'étaient engagés à maintenir leurs frontières ouvertes malgré la crise. La Banque mondiale note que 17 des 20 membres de ce forum ont pris des mesures protectionnistes, tout en relevant que ces mesures sont généralement d'une portée limitée. "L'isolationnisme économique peut conduire à un enchaỵnement négatif d'événements comme nous l'avons vu dans les années 1930, qui a rendu pire une situation déjà mauvaise", commente le président de la Banque mondiale Robert Zoellick. Selon un responsable de l'institution, l'Afrique du Sud, l'Arabie saoudite et le Japon sont les seuls pays du G20 à ne pas avoir pris de mesures protectionnistes au cours des derniers mois. Au niveau mondial, la Banque mondiale a répertorié 66 mesures susceptibles d'affecter négativement les échanges, dont 47 ont déjà été mises en œuvre. Dans cette étude, l'institution considère l'Union européenne comme un pays. La Banque mondiale y voit un argument de plus pour relancer les négociations engagées sous l'égide de l'Organisation mondiale du commerce. Elle relève notamment la prolifération des aides en faveur de l'automobile, qui atteignent désormais 48 milliards de dollars en cumulé (37 milliards d'euros), dont 42,7 milliards pour les seuls pays développés (33 milliards d'euros). Elle égratigne aussi l'arrêt des importations chinoises de porc irlandais, l'exclusion des jouets chinois en Inde ou l'augmentation des droits de douane russes sur les voitures d'occasion… Dans un discours tenu à Washington, le ministre allemand de l'économie Karl-Theodor zu Guttenberg a de son côté dénoncé les tendances protectionnistes de l'administration américaine, en critiquant les mesures favorisant les entreprises locales dans son dernier plan de relance. Le G20 regroupe les pays industrialisés du G7 (Allemagne, Canada, Etats-Unis, France, Grande-Bretagne, Italie et Japon), les grands pays en développement que sont l'Afrique du Sud, l'Arabie saoudite, l'Argentine, l'Australie, le Brésil, la Chine, la Corée du Sud, l'Inde, l'Indonésie, le Mexique, la Russie et la Turquie, ainsi que l'Union européenne.
La quasi-totalité des pays du G20 ont pris des mesures protectionnistes mercredi 18 mars 2009 | Publié 09:54 | Actualisé 09:57 Les 27 rejettent tout recours au protectionnisme La Chine s'inquiète du protectionnisme américain La théorie protectionniste Email Print
La quasi-totalité des pays appartenant au G20 ont pris des mesures protectionnistes depuis leur sommet de novembre, à Washington, au cours duquel ils s'étaient engagés à maintenir leurs frontières ouvertes malgré la crise, a dénoncé la Banque mondiale. Dix-sept des vingt pays de ce forum se sont rendus coupables de telles infractions, a noté l'institution multilatérale basée dans la capitale américaine, tout en relevant que ces mesures sont généralement d'une portée limitée. "Les responsables politiques ne doivent pas céder aux chants des sirènes des solutions protectionnistes, que ce soit pour le commerce, les plans de relance ou les sauvetages de banques", a commenté le président de la Banque mondiale Robert Zoellick. "L'isolationnisme économique peut conduire à un enchaỵnement négatif d'évènements comme nous l'avons vu dans les années 30, qui a rendu pire une situation déjà mauvaise", a-t-il commenté. Le G20 regroupe les pays industrialisés du G7 (Allemagne, Canada, Etats-Unis, France, Grande-Bretagne, Italie et Japon), plus les grands pays en développement que sont l'Afrique du sud, l'Arabie saoudite, l'Argentine, l'Australie, le Brésil, la Chine, la Corée du sud, l'Inde, l'Indonésie, le Mexique, la Russie et la Turquie, ainsi que l'Union européenne. Il se réunira de nouveau le 2 avril prochain à Londres. Selon un responsable de l'institution, qui s'exprimait sous couvert d'anonymat, l'Afrique du sud, l'Arabie saoudite et le Japon sont les seuls pays du G20 à ne pas avoir pris de mesures protectionnistes au cours des derniers mois. Dans cette étude, la Banque mondiale considère l'Union européenne comme un pays. Au niveau mondial, la Banque mondiale a répertorié 66 mesures susceptibles d'affecter négativement les échanges, dont 47 ont déjà été mises en oeuvre. La Banque mondiale y voit un argument de plus pour relancer les négociations engagées sous l'égide de l'Organisation mondiale du commerce. Elle relève notamment la prolifération des aides en faveur de l'automobile, qui atteignent désormais 48 milliards de dollars en cumulé (42,7 milliards pour les seuls pays développés). Mais elle égratigne aussi l'arrêt des importations chinoises de porc irlandais, l'exclusion des jouets chinois en Inde ou l'augmentation des droits de douane russe sur les voitures d'occasion.... Dans un discours tenu à Washington, le ministre allemand de l'Economie Kark-Theodor zu Guttenberg a de son côté dénoncé les tendances protectionnistes de l'administration américaine, en critiquant les mesures favorisant les entreprises locales dans son dernier plan de relance. Il faut défendre les principes du libre-échange et, "je crois, a clause "Buy American" ne remplit pas ces clauses", a déclaré Guttenberg, lors d'une intervention devant l'institut de réflexion économique Peterson. "Il n'est que normal que le gouvernement américain remplisse ses engagements", a ajouté le ministre allemand dans son intervention. C.V. avec AFP
Căng thẳng Chính trị và Quân sự vì Che Chở Kinh tế
Ít nhất 17 trong số 20 quốc gia lớn đã cam kết tại hội nghị thượng đỉnh vào tháng 11 để tránh các bước bảo hộ mà có thể gây ra cuộc chiến thương mại toàn cầu đã vi phạm lời hứa đó, với những quốc gia từ Nga, Hoa Kỳ tới Trung Quốc đang ban hành các biện pháp nhằm giới hạn hàng hóa nhập cảng, theo phúc trình của Ngân Hàng Thế Giới được công bố hôm Thứ Năm cho biết.
Bản phúc trình nhấn mạnh khuynh hướng "lo ngại" về chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch khi nhiều quốc gia vội vàng đóng kín các kỹ nghệ nội địa đang khó khăn trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Điều này xảy ra một ngày sau khi Mễ Tây Cơ cam kết áp đặt các hạn chế mới trên 90 sản phẩm Hoa Kỳ. Hành động đó được thực hiện để chống lại Hoa Thịnh Đốn vì bãi bỏ một kế hoạch cho phép các tài xế xe chở hàng Mễ quyền chuyên chở hàng hóa đi khắp Hoa Kỳ, minh hoạ những phản ứng trả đũa mà các chuyên gia sợ là có thể gia tăng trong những tháng sắp tới.
Bản phúc trình đến trước cuộc họp thượng đỉnh ngày 2 tháng 4 tại thủ đô London, Anh Quốc, quy tụ các nhà lãnh đạo của 20 nền kinh tế kỹ nghệ hóa và đang phát triển sẽ tìm kiếm giải pháp hợp tác cho cuộc khủng hoảng kinh tế.
Các biện pháp bảo hộ cũng làm tồi tệ hơn sự suy sụp của thương mại toàn cầu, điều mà Ngân Hàng Thế Giới nói là đang đối diện với cơn sút giảm sâu nhất trong vòng 80 năm vì mức cầu toàn thế giới cạn kiệt.
Ngân Hàng Thế Giới nói rằng, kể từ tháng 11 năm ngoái, nhiều quốc gia đã đưa ra tất cả 47 biện pháp hạn chế mậu dịch vào chi tiêu đối với các quốc gia khác. Những giới hạn mậu dịch rõ ràng nhất - tăng thuế nhập cảng - tượng trưng cho khoảng 1/3 tất cả các biện pháp. Một số nước đang tiến đến chiều hướng này. Chẳng hạn, Ecuador đã tăng thuế nhập khẩu đối với hơn 600 mặt hàng.
Agentina đã đặt ra những đòi hỏi giấy phép mới đối với các bộ phận xe hơi, vải, truyền hình, đồ chơi, giày và đồ da khiến tạo ra một lớp quan liêu mới đối với những nhà xuất cảng ngoại quốc. Liên Âu tuyên bố những tài trợ xuất cảng mới trên bơ, phô mát và sữa bột. Trung Quốc và Ấn Độ gia tăng hoàn trả thuế cho những nhà xuất cảng nội địa, nhiều nhà phân tích thấy đó như là cung cấp tài trợ lén lút khiến cho các sản phẩm của họ ở hải ngoại rẻ không công bằng.
Phúc trình kết luận rằng một số biện pháp có thể làm lệch hướng sự sản xuất toàn cầu đối với những sản phẩm như xe hơi và xe truck. Ngân Hàng Thế Giới nói rằng những khoảng cứu nguy hay tài trợ của các quốc gia được đề ra rộng rãi trên thế giới đối với kỹ nghệ xe hơi hiện nay lên tới 48 tỉ toàn cầu, với việc đổ tài trợ từ các chính quyền gồm Hoa Kỳ, Pháp, Gia Nã Đại, Đức, Anh, Trung Quốc, Á Căn Đình và Ba Tây.
Các nhà phân tích cho rằng nỗi lo ngại là những hành động như vậy có thể gây ra những biện pháp đối phó mà có thể dẫn đến các cuộc chiến tranh mậu dịch rộng khắp.
Căn bản biện minh cho Che Chở Kinh tế
Quyền Che Chở Chở phương tiện sống, đó là quyền tự vệ cá nhân, quyền yêu thương mình trước khi thương người khác, quyền bảo vệ sự sống mình trước khi hỗ trợ sự sống người khác. Cái quyền này càng có lý do để nhất thiết được thi hành khi mà cá nhân cảm thấy ở trong tình trạng đe dọa, cần phải được che chở trước những hiểm nguy có thể xẩy ra đến tình trạng suy yếu của mình.
Nhiều cá nhân họp thành xã hội, chiếm cứ một vùng, thành một Quốc gia với lãnh thổ riêng. Khi phương tiện sống (Kinh tế) của Cộng đồng xã hội gặp đe dọa, thì Cộng đồng ấy có quyền Che Chở nền Kinh tế của họ
Ngòai cái quyền căn bản ấy, Che Chở Kinh tế còn là một chiến thuật ở Thế giới Cạnh tranh Kinh tế không thương tiếc, không tình cảm. Trong cuộc cạnh tranh, nếu mình cảm thấy yếu hơn đối phương, thì đừng liều thân vào so tài để chết như con thiêu thân. Khi thấy mình yếu, thì chịu nhịn nhục, bảo vệ sự yên thân của mình, rồi tạo cho mình sức mạnh khả dĩ đối đầu, thì lúc đó mới nhập cuộc cạnh tranh, chiến đấu.
Tự do Mậu dịch là một Lý thưởng, nhưng phải giả thiết rằng trong Tự do Mậu dịch, sức mạnh của những người tham dự phải tương đối đồng đều.
Lý thuyết của những Oâng Tổ Tự do Mậu dịch như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL đều ca tụng rằng Tự do Mậu dịch mang lại điều lợi cho mọi người tham dự. Đó là điều cổ võ cho Tự do Mậu dịch. Nhập Tự do Mậu dịch để chia cái lợi. Nhưng khi nhập, mình phải có sức mạnh khả dĩ cùng dành dựt cái lợi với người khác. Còn nếu mình còn yếu, thì khi nhập cuộc chia lợi của Tự do Mậu dịch, mình dễ bị thiệt thòi. Lợi chưa chia được, thì sức mình yếu, bị chết trước.
Xin nhắc lại rằng trong cuộc cạnh tranh Kinh tế Tự do Mậu dịch, đối phương còn tìm cách giết hại mình nữa, chứ không có lòng thương hại mà chia lợi cho mình khi thấy mình yếu xìu. Vậy trước khi nhập cuộc cạnh tranh Tự do Mậu dịch, phải bảo trọng lấy thân mình, làm cho mình tối thiểu ngang cơ sức lực với đối phương.
Trong dịp đặc biệt của Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế, mỗi nước bỏ tiền bạc ra để Kích cầu, để Khơi động Kinh tế. Tiền bỏ ra này là mồ hôi nước mắt của những người sống trong một Cộng đồng Kinh tế, một Quốc gia, nghĩa là những người Dân đóng thuế để chi tiêu số tiền ấy mong khôi phục lại Kinh tế đang bị Khủng hỏang làm yếu đi. Số tiền Kích cầu, Khơi động Kinh tế không phải là tiền tặng từ Obama, Sarkozy, Brown, Merkel... Tiền này là từ dân chúng đóng thuế của một nước. Vì vậy việc quyết định chi tiêu số tiền này phải cho Dân chúng nước đó. Obama, Sarkozy, Brown, Merkel...không được mang tiền của dân mình đi chi Kích cầu, Khơi động Kinh tế cho nước khác. Lời tuyên bố “Buy America“ với Chương Trình Simulus USD.787 tỉ là rất đúng, là tôn trọng sự đóng thuế của Dân Hoa kỳ nhằm khơi động Kinh tế cho Hoa kỳ. Obama không thể xử dụng Stimulus Plan USD.787 tỉ để “Buy China“. Nếu “Buy China“ thì có nghĩa là dân Mỹ đóng thuế để khơi động Kinh tế dùm choTầu. Tiền Khơi động Kinh tế Mỹ nếu xử dụng để ăn Bánh Bao Tầu thì không đúng với lòng dân, mà phải ăn McDonald hay Kentucky Fried Chicken mới đúng lý.
Tóm lại, trong thời Khủng hỏang, với những Chương trình Khích cầu, Khơi động Kinh tế do tiền thuế của dân, thì việc Che Chở Kinh tế cho dân là đúng lý vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
(05) TA VỀ TA TẮM AO TA: G17 Á-CHÂU: HỌP THƯỢNG ĐỈNH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 10.04.2009
Họp Thượng đỉnh G17 tại Thái Lan (Pattaya)
=> Tham dự : Những nước trong G17 Á châu : 10 Hội viên của Tổ Chức Đông Nam Á (ASEAN), Trung quốc, Nhật, Nam Hàn, Aán độ, Uùc, Tân Tây Lan.
=> Thời gian và Địa điểm : Bắt đầu ngày thứ Sáu 10.04.2009 tại Thái Lan. Chúa nhật 12.04.2009, có sự tham dự của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-Moon và những người đứng đầu Qũy Tiền Tệ Quốc tế, Ngân Hàng Thế Giới và Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới.
=> Mục đích gần và cấp bách:
1) Giải quyết nạn thất nghiệp tập thể và những đe dọa quần chúng nổi dậy là việc cấp bách . Đây là vấn đề rất lớn đối với Trung quốc và Việt Nam.
2) Tìm một chiến thuật cho việc cứu tụt dốc xuất cảng. Hầu hết các nước Á châu làm việc cho xuất cảng, trừ Aán độ, Tân Tây Lan và Uùc. Xuất cảng bị giảm nặng do Khủng hỏang Kinh tế tại những khối tiêu thụ lớn như Hoa kỳ và Liên Aâu.
3) Những nước Á châu như Nhật, Nam Hàn và Trung quốc, Tân Gia Ba là những Chủ nợ đối với Tây phương. Phải lấy một lập trường trong Chương trình Điều chỉnh Tài chánh mà cuộc Họp G20 Luân Đôn đã tuyên bố.
=> Mục đích xa :
1) Nâng tiếng nói của mình lên : Nếu trước đây, Tổ chức những nước Đông Nam Á (ASEAN) đứng chung lại để có tiếng nói đối với những nước mạnh tại Á châu như Nhật, Trung quốc và Aán độ, thì lúc này, khối Kinh tế Thái Bình Dương cũng đứng chung lại để có tiếng nói đối với các khối Kinh tế khác : Hoa kỳ và Liên Aâu.
2) Trả giá Tự do Mậu dịch : Từ trước đến nay, khi nói đến đóng tiền cho IMF, Trung quốc lặng thinh. Trong cuộc Khủng hỏang hiện nay, những nước như Nam Hàn, Tân Gia Ba, nhất là Trung quốc và Nhật, rất sợ hãi con ma Che Chở Kinh tế (Protectionnisme/ Protectionism) đang hiện hình ra. Trung quốc không yên lặng nữa, mà đã hứa đóng USD.40 tỉ cho IMF để có quyền bầu phiếu và trả giá cho những thương lượng song phương sau này về Tự do Mậu dịch. Trung quốc tăng cường ngọai giao và thân thiện với Tây phương hơn trước cũng trong mục đích mâu dịch. Việc đóng góp này được Tây phương coi là sự cố gắng hội nhập Kinh tế tòan cầu.
2) Kinh tế tiên chiếm giả đắc : Kinh tế Thế giới trong cơn bệnh họan lúc này. Trong lúc người khác đang bệnh họan mà mình lấy lại sức sớm hơn, đó là tiên chiếm giả đắc trong cạnh tranh thị trường. Á châu là trung tâm sản xuất. Khôi phục lại trung tâm sản xuất ấy trước người khác, đó là điều phải làm. Hãy lợi dụng lúc người khác đang bị bệnh.
Những tính tóan của những nước lớn trong khối G17 Á châu
Theo ý kiến của một số nhà Kinh tế, cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế hiện nay không phải chỉ vì lý do Mortgage Sub-prime Credits từ Hoa kỳ, mà đó là sự thổi phồng tích lũy Tài chánh cũng như sản xuất Kinh tế đã từ 10 năm nay. Khi mà trái bong bóng thổi phồng lên quá sức chịu đựng, thì nó nổ. Những lý do sau đây được kể ra:
=> Từ thế giới thực của Tài chánh, các Ngân Hàng đã làm Tài chánh trở thành ảo bằng phát hành Tài chánh dựa trên giá trị bảo đảm không chắc chắn của tương lai. Chi tiêu, Đầu tư bằng ngưỡng vọng thu nhập tương lai. Người ta chi tiêu bằng Credit Cards, đầu tư bằng Bảo Lãnh Ngân Hàng.
=> Cường độ sản xuất Kỹ nghệ và Công nghiệp tăng lên cấp số nhân và hướng về những hàng hóa cao cấp, xa xỉ phẩm tách rời với tiêu thụ căn bản nhu yếu phẩm của đại đa số quần chúng. Sản xuất cấp số nhân để làm giầu mau chóng. Người tiêu thụ không còn là vì nhu cầu thực nữa. Chính giới sản xuất đã không còn nhân đạo khi theo sát câu định nghĩa Marketing của KOTLER : “Pour l’entreprise, le Marketing, c’est l’atelier de fabrication des clients” (Đối với Xí nghiệp, môn Marketing, chính là cơ xưởng sản xuất những khách hàng tiêu thụ). Sản xuất hàng hóa và bắt ép tiêu thu bằng quảng cáo nhồi sọï. Nó ngược với tinh thần của Henry FORD trước đây: ”Tôi trả lương thợ cao để họ có tiền mua xe mà tôi sản xuất”.
=> Việc lan tràn và bắt ép tiêu thụ này lại được hỗ trợ bởi chủ trương Tòan Cầu Hóa. Tòan cầu hóa hàng hóa, nghĩa là chiếm thị trường tận những nước nghèo. Nhưng người ta lại thấy tình trạng Tập trung hóa Tài chánh. Bán hàng đến tận cùng Thế giới, thu từng đồng tiền cắc của những người nghèo, rồi tập trung tiền về những nước lớn đầu tư vào sản xuất nữa.
Cái chu trình thổi phồng như vậy tăng lên cấp số nhân đến một độ người tiêu thụ chỉ còn răng với …, thì họ hết tiêu thụ nổi. Phía sản xuất cũng hết chỗ bán. Khủng hỏang Kinh tế xẩy ra.
Cuộc Họp G20 tại Luân Đôn cho thấy rằng những nước sản xuất chính yếu trong khối, Nhóm G8, đang đi tìm, kéo vây cánh để có Thị trường tiêu thụ để họ có thể tái sản xuất như cũ. Khôi phục Kinh tế ở đây có nghĩa là khắp nơi hãy tiêu thụ xả láng như trước để chúng tôi G8 sản xuất và tiếp tục làm giầu. Những người biểu tình phản đối tại Luân Đôn muốn chống lại thái độ làm giầu ấy.
Trở về trường hợp G17 Á châu. Trong khối này, một số nước áp dụng kiểu sản xuất như trên đã nói và hiện đang bị khủng hỏang nặng, đó là Nhật, Trung quốc, Nam Hàn và Tân Gia Ba. Trước việc bị cắt giảm nặng nề về xuất cảng sang Hoa kỳ và Liên Âu, những nước sản xuất Á châu này tìm về khối anh em Á châu của mình để bành trướng xuất cảng trong vùng và để cứu Kinh tế sản xuất của chính họ. Cuộc Hopï Thượng Đỉnh G17 mang thâm ý tính tóan đó của Nhật, Trung quốc, Nam Hàn và Tân Gia Ba. Một số những việc sau đây cho thấy sự tính tóan:
* Trong tháng Hai vừa rồi, Á châu quyết định thành lập Qũy Dự Trự Ngọai tệ chung USD.120 tỉ. Trung quốc và Nhật đóng góp 2/3 tổng số đó. Việc đóng góp này cho thấy cái thế của Trung quốc và Nhật trong khối.
* Trung quốc tăng cường đầu tư và xuất cảng Xí nghiệp lan ra những nước trong vùng. Trung quốc đấu thầu những dự án và xuất khẩu nhân công của họ. Tỉ dụ cụ thể là Trung quốc đã trúng rất nhiều Dự án tại Việt Nam và xuất khẩu nhân công cũng như thiết bị của họ sang Việt Nam. Dự án khai thác Bô xít tại Tây Nguyên là một trong những ý đồ lan tràn của Trung quốc.
* Nhật bản tái nối lại Chương trình ODA với Việt Nam. Đó cũng nằm trong ý đồ xuất cảng hàng hóa của Nhật trong vùng.
* Có thể trong cuộc Họp Thượng Đỉnh G17 Á châu sắp tới, một hình thức Qũy Tiền Tệ Á châu sẽ được nói tới, giống như Qũy Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) được lập ra tại Hội Nghị Bretton Woods năm 1944. Qũy Tiền Tệ Á châu AMF (Asian Monetary Funds) nhằm mục đích hỗ trợ những nước nghèo trong vùng Á châu. Những nước giầu và sản xuất mạnh như Nhật, Trung quốc, Nam Hàn, Tân Gia Ba sẽ đóng góp vào Qũy AMF này. Nói là giúp đỡ những nước nghèo, nhưng thực ra là để xuất cảng những hàng hóa của mình. Không ai là mạnh thường quân giúp tiền khơi khơi, mà phải có hậu ý tính tóan lợi cho mình. Nói là Qũy giúp những nước nghèo, nhưng rất khó lòng những những nước nghèo nhận được TIỀN MẶT, mà chỉ nhận được hàng hóa, thiết bị, máy móc… trị giá theo tiền mặt của Kế tóan. Xin đưa ra một ít tỉ dụ sau đây:
@ Chương trình Marshall tái thiết Âu châu sau Thế Chiến II là dịp xuất cảng hàng hóa, máy móc của Mỹ qua Âu châu. Mỹ không trao tất cả USD.173 tỉ tiền mặt của Chương trình, mà giao hàng hóa trị giá USD.173 tỉ.
@ Khi Bức Tường Bá Linh sụp đổ, dân Moscow nghèo đói. Thụy sĩ đã giúp cho Moscow USD.5’000’000.- . Nhưng đó không phải là tiền mặt 5 triệu đo la, mà là những đồ ăn đóng hộp trị giá tổng công là 5 triệu. Phần lớn những hộp đồ ăn này lại lấy từ trong hàng dự trữ quân đội gần đến ngày hết hạn.
@ Cách đây 15 năm, Việt Nam kêu gọi cứu đói. Nước Ý quyết định trợ giúp 30 tiệu Mỹ kim. Tôi tìm hiểu sự trợ giúp này qua Ngân Hàng Credit Lyonais mà nước Ýù nhờ. Ngân Hàng này cho tôi biết điều kiện là: (i) Phải qua một Công ty gốc Ý; (ii) Nếu lấy hàng hóa của Ý thì dễ dàng, tỉ dụ dân Việt Nam đói, thì lấy Spaghetti của Ý mà ăn, chứ không được ăn bún gạo.
Tóm lại, những nước lớn thuộc Khối G17 Á châu nhằm cứu vớt Kinh tế tại những nước nghèo về mặt tiêu thụ hàng hóa để họ có thể xuất cảng những hàng hóa tồn đọng. Họ là những nước sản xuất, thì khó lòng cứu vớt những nước nghèo trong vùng về sản xuất Kinh tế để trở thành cạnh tranh với chính họ.
Trung quốc và Việt Nam
Nếu Nhật, Nam Hàn và Tân Gia Ba tính tóan xuất cảng hàng hóa ra trong vùng, thì những hàng hóa này thuộc hạng cao cấp kỹ thuật.
Riêng về Trung quốc, việc chiếm thị trường trong vùng để xuất cảng, thì đây là một đại nạn. Thực vậy:
=> Hàng hóa Trung quốc thuộc về những hàng tiêu thụ hàng ngày. Những nước nghèo trong vùng muốn gây dựng Kinh tế bắt đầu bằng những sản phẩm xử dụng hàng ngày cho dân chúng, nếu nhập hàng Trung quốc vào, thì đây là những sản phẩm cạnh tranh và giết chết Công nghệ đang nhen nhún lên của mình.
=> Một số những nước nghèo trong vùng làm việc để xuất cảng sang các Thị trường Liên Âu và Hoa kỳ. Trung quốc dùng tiền trả giá để nâng đỡ xuất cảng sản phẩm sang Hoa kỳ và Liên Âu. Hàng của Trung quốc, cùng lọai, rẻ hơn, nghĩa là Trung quốc giết cạnh tranh của những nước nghèo Á châu không những về mặt giá cả, mà còn về việc Trung quốc dùng tiền để lấy thế Quốc tế.
Việt Nam thuộc một trong những nước nghèo khối Á châu G17. Cùng chung số phận của những nước nghèo trước tính tóan xuất cảng tràn lan của Trung quốc, Việt Nam còn phải chịu đựng thảm cảnh hơn nữa vì đảng CSVN cúi đầu vâng phục Chính trị của Trung quốc, thậm chí qùy gối dâng đất đai và biển khơi cho Trung quốc.
Bô-xit Tây Nguyên là nỗi nhục cho đảng CSVN về Chính trị cũng như về Kinh tế trước toan tính của Trung quốc. Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế | | | |
(06) KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRUNG QUỐC: TỪNG NGÀN XÍ NGHIỆP DẸP TIỆM
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 19.04.2009
TÌNH HÌNH CHUNG KHỦNG HỎANG
Khuynh hướng trở về Đông Âu
Trước khi xẩy ra Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế làm cho việc sản xuất hàng hóa từ Trung quốc, Việt Nam, Nam Dương... cung cấp cho Liên Aâu giảm xuống, thì đã có ba lý do khiến Liên Aâu nghĩ đến việc sản xuất hàng hóa tại các nước Đông Aâu
=> Lý do thứ nhất là vì giá dầu tăng vọt khiến giá chuyên chở hàng hóa từ Á châu về Liên Aâu tăng lên;
=> Lý do thứ hai là Thương hiệu Made in China, Made in Viet Nam... giảm giá trị đối với người tiêu thu;
=> Lý do thứ ba là các nước giầu Tây Aâu phải hỗ trợ các nước nghèo Đông Aâu khiến Liên Aâu nghĩ đến việc sản xuất tại Đông Aâu cũng có nguồn nhân lực hạ giá. Đức quốc là nước đi tiên phong trong việc chuyển hướng sản xuất những hàng hóa thông dụng này với giá rẻ tại Đông Aâu. Như vậy việc giảm sút Kinh tế tại Trung quốc, Việt Nam, Nam Dương... đã khởi đầu trước khi có cuộc đại Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế hiện nay.
Về phương diện Tài chánh, nếu Qũy Tiền tệ Quốc tế IMF/FMI đã đặt trọng tâm hỗ trợ tại Á đông trong cuộc Khủng hỏang Tài chánh Á châu 1997, thì ngày nay, IMF/FMI cũng lại quay về các nước nghèo Đông Aâu và như vậy làm suy giảm việc giúp Tài chánh cho Á châu. Trong THE WALL STREET JOURNAL ngày 28.12.2008, Bob DAVIS và Marcus WALKER đã viết một bài phân tích việc chuyển hướng này của IMF/FMI. Qủy Tiền Tệ IMF/FMI đã cho các nước khó khăn phần lớn tại Liên âu vay USD.70 tỉ, được phân phối như sau: (i) Ukraine USD.16.5 ti; (ii) Hungary USD.15.7 tỉ; (iii) Pakistan USD.7.6 tỉ; (iv) Belarus USD.2.5 tỉ; (v) Latvia USD.2.4 tỉ; (vi) Iceland USD.2.1 tỉ; (vii) Serbia USD.0.5 tỉ.
Trung quốc: những Công ty nhỏ vá víu để sống còn
Trong THE WALL STREET JOURNAL, ngày 02.02.2009, hai tác giả Loretta CHAO và Andrew BATSON đã viết dưới tựa đề A BIG TEST FOR SMALL FACTORIES :”Chinese businesses struggle to survive the global downturn!” (Doanh nghiệp Trung quốc đấu tranh để sống còn trong cảnh tụt dốc tổng quát !” (page 11).
Hai tác giả dựa trên tài liệu của Nhà nước, cho biết rằng tại Quảng Đông: “62’400 companies shut down in 2008, according to the government records” (62’400 công ty bị đóng cửa, theo tài liệu của nhà nước). Nhưng một số công ty nhỏ sống còn : “But many small companies survive on the business with a few clients, or sell very low-margin products; they could be forced to close if a big client suddenly delays orders (page 11) (Nhưng nhiều công ty nhỏ sống còn với một số ít khách hàng, hoặc bán một mức độ rất thấp sản phẩm; những công ty này buộc lòng phải đóng cửa nếu một khách hàng lớn bất thần chậm trễ đặt mua hàng).
Hai tác giả trích lại lời của Oâng Eric WU, một chủ xí nghiệp: “In Chinese we have a saying that it’s easier for small boats to turn around” (Tiếng Tầu có câu nói rằng đối với những xuồng nhỏ, dễ dàng chèo lái xoay chiều hơn).
Thời kỳ vàng son, nhẩy vọt Kinh tế của Trung cộng đã tụt xuống thảm hại. Thời kỳ quảng cáo Kinh tế như Thế Vận Hội Bắc Kinh cho vẻ vang chế độ không còn nữa. Bài báo cũng cho thấy tình trạng sản xuất tại Trung quốc thật là bấp bênh trong lúc này.
Trung quốc: Những Công ty lớn tụt dốc Lợi nhuận 50%
Trong một bài khác cũng đăng trong THE WALL STREET JOURNAL, ngày 04.02.2009, dưới đầu đề PROFIT WARNINGS SOUND THE ALARM IN CHINA (Những cảnh cáo về lợi nhuận gióng lên lời báo động tại Trung quốc), tác giả Andrew BATSON trích lại lời của Oâng Wang QING, chuyên viên Kinh tế làm việc cho Morgan Stanley: “Profits and Profitability in 2009 will be very poor, and this is the key reason why I do not expect much private investment – especially in the manufacturing sector where China suffers from an overcapacity problem.” (page 32) (Tiền lời và khả năng lợi nhuận trong năm 2009 sẽ rất là nghèo nàn, và đây là lý do chính yếu tại sao tôi không hy vọng nhiều đầu tư tư nhân – đặc biệt vào lãnh vực xí nghiệp sản xuất mà Trung quốc đang phải chịu đựng vì vấn đề đầu tư quá khả năng làm việc.). Tác giả nêu ra tỉ dụ: * Tập đòan CHINA SHIPPING CONTAINER LINES Co.Ltd. giảm lợi nhuận tới 50% * Tập đòan CHINA INTERNATIONAL MARINE CONTAINER giảm lợi nhuận tới 53% * Tập đòan SAIC Motor Corporation Ltd. giảm lợi nhuận tới 50% * Tập đòan CHINA LIFE INSURANCE Co. giảm lợi nhuận tới 50%
Việc đầu tư tư nhân tùy thuộc khả năng Lợi nhuận. Vì vậy mà những Tập đòan lớn đã phải lấy lới nhuận tích trữ của mình ra để đầu tư vào vốn họat động nếu muốn tiếp tục sống.
Trung quốc: Tiền bạc tìm cách tị nạn ra nước ngòai
Ở đọan trên, chúng ta đã thấy rằng vì tình trạng tụt dốc Lợi nhuận mà các Tập đòan Kinh tế lớn của Trung quốc thiếu đầu tư tư nhân. Trong khi ấy thì vốn nước ngòai rút ra. Thêm vào đó, một cái nạn nữa cho Trung quốc là chính vốn Trung quốc cũng tìm cách tị nạn ra nước ngòai.
Tác giả Keith BRADSHER, viết ở trang nhất của tờ INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE, ngày 03.02.2009, như sau:
“In Shanghai, cash-rich Chinese companies are bringing home fewer of the dollars they earn abroad from exports. Instead, they are buying high yield bonds of US companies in detress. And in Hong Kong, wealthy Chinese from the mainland are turning up in growing numbers of at jewelry stores seeking one thing: diamonds, big ones. Chinese citizens are starting to send more more money out of the country. People take their money out because they worried about the stability of a country that announced on Monday that 20 millions migrant workers had lost their jobs and returned home to their villages.”
(Ở Thượng Hải, những công ty giầu tiền mặt mang ít tiền đo-la về Trung quốc mà họ kiếm được qua xuất cảng. Thay vào đó, những công ty này mua cổ phiếu của nhũng công ty Hoa kỳ đang gặp họan nạn. Và tại Hong Kong, những người Tầu giầu có trong lục địa đang tìm cách mua một điều: những hột xòan, hột thiệt lớn. Công dân Tầu đang bắt đầu gửi tiền ra khỏi nước họ. Người ta rút tiền ra và gửi đi vì họ bất bình và nản lòng về tình trạng bền vững của một quốc gia vừa tuyên bố rằng 20 triệu nhân công du mục đã mất việc làm và phải trở về nhà nơi làng mạc của họ.”)
PHÂN TÍCH CHI TIẾT VÀO NHỮNG LÃNH VỰC
Tờ THE WALL STREET JOURNAL Europe, hôm qua Thư Tư 12.11.2008, dưới đầu đề SIGNS OF AN ECONOMIC SLOWDOWN ARE ALSO SPREADING IN CHINA, viết như sau: “Signs of a slowdown in China are spreading, with weak economic data for October illustrating why the government hurried to announce its massive stimulus plan. New data announced Tuesday shows slowing imports, weakening home prices and a drop in export orders, all pointing to a sharp decline in activity that will take time to reverse” (By Andrew BATSON in Beijing and Norihiko SHIROUZU in Guangzhou, China, page 16) (Những dấu chỉ của một cuộc xuống dốc tại Trung quốc đang lan tràn, với những dữ kiện của kinh tế yếu kém cho tháng 10 chứng tỏ lý do tại sao Nhà Nước đã phải vội vã tuyên bố một chương trình kích thích khổng lồ. Những dữ kiện mới được tuyên bố hôm Thứ Ba chứng tỏ những nhập cảng đang tuột dốc, những giá cả tiêu thụ nội địa đang yếu nhược đi và một sự rơi giảm hẳn những đặt mua hàng cho xuất cảng, tất cả đang chứng tỏ rõ rệt một sự giảm sút sâu đậm trong hoạt động mà phải có thời gian mới có thể lấy lại.) Câu nhận định trên đây của hai Tác giả sống tại Trung quốc tóm tắt tổng quát tình trạng tụt dốc Kinh tế của Trung quốc. Chúng tôi muốn đi vào chi tiết của những Lãnh vực hoạt động rõ rệt sau đây: => Thương hiệu “Made in China” mất hẳn giá trị => Tụt hẳn giá Địa ốc => Đóng cửa các Xí nghiệp => Chương trình kích thích nội địa => Thất nghiệp và lo sợ xáo trộn xã hội
Thương hiệu “Made in China” mất hẳn giá trị
Thương hiệu của một Quốc gia là sự thẩm định đầu tiên và TỔNG QUÁT của người tiêu thụ về phương diện giá cả và về phẩm chất của hàng hóa. Từ đó, người tiêu thụ mới đi thẩm định từng món hàng trước khi quyết định số lượng mua. Khi nhìn Thương hiệu: Made in USA, Made in France, Made in Germany, Made in Switzerland, Made in Japan, Made in Singapore, Made in China..., mỗi người tiêu thụ nghĩ về giá cả và phẩm chất của hàng hóa do tên một nước tạo ra trong đầu óc của khách hàng.
Khi hàng Trung quốc bắt đầu tràn lan trên Thế giới, nhất là sau khi nhập WTO, Thương hiệu Made in China làm cho người tiêu thụ nghĩ liền đến giá cả hạ. Trong thời gian đầu cách đây chừng 50 năm, Thương hiệu Made in Japan cũng cho khách hàng nghĩ ngay đến giá hạ. Nhưng ngày nay, Thương hiệu Made in Japan tạo trước tiên cho khách hàng không phải là giá hạ nữa mà là có kỹ thuật cao, đáng được tin tưởng. Từ Thương hiệu Made in China cho ý tưởng đầu tiên là giá thấp, Trung quốc phải tiến dần đến kiện toàn kỹ thuật để khách hàng tin tưởng và phẩm chất như Nhật đã đạt được. Nhưng ngược lại, Thương hiệu Made in China hiện nay đã mất hẳn giá trị vì những việc làm sau đây của chính Trung quốc: => Đồ ăn cho súc vật: chó ăn té đùng ra chết tại Hoa kỳ => Đồ chơi cho trẻ con có những chất sơn mang chất độc tạo bệnh tật => Chất Mélanine trong sữa bột tạo bệnh thận cho chính trẻ em tại Trung quốc => Những kẹo bánh cũng có pha quá mức của chất Mélanine => Chất Mélanine này cũng được xử dụng trong việc chế những đồ dùng bằng nhựa như chén bát, đũa nhựa, đồ dùng nhà bếp => Một số những quần áo, chăn mền từ Trung quốc cũng bị khám phá ra là có chất làm hại da của người xử dụng => Siêu thị CARREFOUR của Pháp đã phải thường tiền chữa bệnh cho những khách hàng mua ghế xa-long từ Trung quốc. Ngồi, nằm nhiều trên những xa-long ấy, sẽ bị bệnh ngứa, nổi sần lằn da. => Ý quốc mới tịch thu một số lượng lớn dầy dép bằng da được sản xuất từ Trung quốc. Da có chất nhuộm làm ung thư chân. => Một điều rất quan trọng là Trung quốc giữ quán quân về việc làm đồ giả mà vẫn đề là sản xuất tại những nước nguồn gốc của hàng hóa đó: tỉ dụ Đồng hồ giả sản xuất từ Trung quốc, nhưng vẫn đề là Made in Switzerland; những ví da của phụ nữ sản xuất từ Trung quốc, nhưng vẫn đề là Mande in Italy... Thuốc men chữa bệnh sản xuất từ Trung quốc, đã lan tràn sang các nước nghèo, nhất là Phi châu. Điểm này đã tạo cho khách hàng hiểu những đồ Trung quốc là giả mạo và không thể tin tưởng.
Thương hiệu Made in China đã tuột dốc đến nỗi có nhiều những tiệm phân phối phải dấu cất hàng hóa hay tìm cách đề trại đi. Thương hiệu Made in China đã trở thành một sự xấu hổ vậy. Một số Công ty Đức, trước đây sản xuất tại Trung quốc, nay đưa việc sản xuất về Đức để nhờ Thương hiệu Made in Germany. Họ xử dụng nhân công từ những nước Đông Aâu để có giá rẻ. Như vậy một đàng lợi dụng được Thương hiệu Made in Germany, một đàng tránh hẳn Thương hiệu Made in China đã mất hẳn giá trị.
Tụt hẳn giá Địa ốc
Trong suốt 8 năm vừa rồi, người ta ca ngợi “boom housing construction” tại Trung quốc. Những cao ốc được mọc lên như nấm tại các thành phố ven biển, nhất là tại Thượng Hải. Thời gian này cũng trùng với thời gian xây cất các cơ sở, khách sạn cho Thế Vận Hội Bắc Kinh. Tất cả những xây cất nhà cửa này mang khía cạnh phô trương sự thành công của đảng Cộng sản Trung quốc.
Dân chúng từ các vùng quê trong nội địa kéo về các thành phố ven biển. “Anywhere from 15 million to 20 million people move to Chinese cities each year” (Từ mọi nơi, từ 15 tới 20 triệu người kéo về các thành thị Trung quốc mỗi năm) (Andrew BATSON, Beijing, THE WALL STREET JOURNAL, 24.10.2008, page 9). Nhưng theo Andrew BATSON, thì việc xây cao ốc không phải là cho dân chúng từ các vùng quê kéo về vì những người này chưa đủ khả năng mua nhà.
Nếu cuộc Khủng hoảng Tài chánh tại Hoa kỳ bắt đầu bằng vỡ lở Tín dụng (Mortgage Subprime Credits), thì cuộc Khủng hoảng địa ốc hiện nay tại Trung quốc đến từ sự chi tiêu quá đáng để phục vụ cho Chính trị. Việc chi tiêu quá đáng này, sau những xây cất cơ sở Thế Vận Hội, gặp đúng lúc bùng nổ Khủng hoảng Tài chánh Thế giới, khiến tình trạng ứ đọng Địa ốc trở thành trầm trọng.
Dưới đầu đề BEIJING MOVES TO STIMULATE HOME-BUYING đăng trong THE WALL STREET JOURNAL Europe, 24.10.2008, Andreww WATSON đã viết:
“Sales of new housing in China have plummeted in recent months as buyers get spooked by deteriorating economy and weakening prices. With economic growth also slowing more than expected, officials have moved from truying to rein in prices to encouraging buyers. This week, they announced tax breaks, smaller down-payment requirements and lower loan rates for first time home buyers.”
“More than 80 million people are employed directly in the construction industry, so a prolonged downturn also threatens to lead to more unemployment and social unrest.”
(Việc bán những nhà mới tại Trung quốc đã tụt xuống trong những tháng gần đây khi những người mua hoảng sợ vì kinh tế giảm hẳn xuống và giá cả yếu hẳn đi. Với độ tăng trưởng kinh tế yếu kém hơn như mong đợi, phía nhà nước can thiệu vào bằng cách giữ giá cả để cổ võ những người mua. Tuần này, phía nhà nước đã tuyên bố những việc giảm thuế, đòi tiền cọc nhỏ hơn và cho tín dụng với lãi suất hạ cho những người mua nhà đầu tiên.
(Hơn 80 triệu người được xử dụng trực tiếp trong kỹ nghệ xây cất, vì vậy một sự yếu kém kinh tế kéo dài đe dọa dẫn đến thất nghiệp nhiều hơn và xáo động xã hội.”
Oâng William XIN, Tài chánh trưởng của China Housing & Land Development Inc., đã tuyên bố:”Now everybody believes the price will go down. And the developpers don’t want to sell at a lower price. Nobody wants to sell, and nobody wants to buy” (The Wall Steet Journal, 24.10.2008, page 9) (Bây giờ mọi người tin là giá sẽ xuống. Va những người xây cất không muốn bán với giá hạ. Không ai muốn bán, và không ai muốn mua.”
Cũng theo Andrew BATSON, kỹ nghệ xây cất liên hệ đến những sản xuất khác: “Housing sales have plummeted. That, in turn, is affecting imports of pivotal raw materials like iron ore, used to make steel.” (Norihiko SHIROUZOU, The Wall Street Journal, 12.11.2008, page 16) (Việc bán nhà cửa chìm sâu xuống. Điều này đang ảnh hưởng tới việc nhập cảng những vật dụng thô như quạng sắt để chế thép). Những tỉ dụ đình trệ về những sản xuất liên hệ đến Địa ốc: giá xi măng, giá sắt thép hạ tới gần 50%; những đồ trang bị nhà cửa cũng đình trệ như máy lạnh giảm mua tới 21%.
Đóng cửa các Xí nghiệp
Trong đoạn đầu chúng tôi đã viết về Thương hiệu Made in China và những lý do đang tàn phá những hàng Trung quốc, nhất là về vải vóc, chăn màn, đồ chơi trẻ con, giầy dép... nghĩa là những hàng nhẹ nhằm xuất cảng. Gặp thời Khủng hoảng Tài chánh, Kinh tế tại những Quốc gia tiêu thụ lớn như Hoa kỳ và Liên Aâu, những đặt hàng từ những Quốc gia này giảm hẳn xuống, tất nhiên những Công ty nhỏ và trung bình của Trung quốc quy tụ chung quanh vùng Quảng Đông làm việc cho Lãnh vực này đang đi đến phá sản.
Nhật báo LE MONDE số 19844 ngày Thứ Năm hôm nay 13.11.2008, dưới đầu đề EN CHINE, DES MILLIERS D’ENTREPRISES FERMENT DANS LA REGION DE CANTON (Tại Trung quốc, hàng ngàn xí nghiệp đóng cửa trong vùng Quảng Đông), đã viết như sau:
“Le vaisseau amiral de l’économie chinoise navigue par gros temps, secoue par la tempete de la crise financiere: la province de Guangdong qui, voici trente ans, fut la figure de proue de l’extraordinaire décollage de la Chine et y symbolisa plus tard la réussite, est aujourd’hui l’une des régions les plus touchées de la République populaire. “On pourrait dire que c’est ici que tout a commencé et que c’est ici que tout pourrait finir”” (page 15) (Đô đốc kỳ hạm đang thảnh thơi lướt sóng, bị chao động bời cơn bão khủng hoảng tài chánh: tỉnh Quảng Đông, ba mươi năm trước đây, đã là bộ mặt dẫn đầu của cuộc cất cánh lạ lùng của Trung quốc và đã là biểu tương của sự thành công sau đó, ngày nay trở thành một trong những vùng bị thiệt hại nhất của nước Cộng hòa Nhân dân. “Người ta có thể nói rằng chính từ nơi này mà mọi sự đã bắt đầu và rằng cũng chính từ nơi này mà mọi sự sẽ chấm dứt.””).
Vùng Quảng Đông chiếm 1/3 những xuất cảng của Trung quốc, đứng hàng thứ 8 cho thu nhập thuế và chiếm 25% những đầu tư nước ngoài. Sự sụp đổ Kinh tế của Quảng Đông trở thành trầm trọng cho Kinh tế Trung quốc.
Bruno PHILIP, tác giả bài báo trên đây, viết tiếp: “Depuis fin 2007, la machine à produire du miracle s’est grippée et le krach de septembre a amplifíe la tendance. Entre Janvier et Juillet, plus de 3’000 PME de l’industrie de jouet, la plupart des sous-traitants, ont fermé boutique... Les experts remarquent que 95% d’entre elles ne reviendront pas en Chine continentale.” (Từ cuối năm 2007, bộ máy sản xuất phép lạ kinh tế bị bệnh rút co lại và cuộc khủng hoảng tháng Chín đã làm tăng thêm hướng xuống ấy. Trong giữa tháng Giêng và tháng Bẩy, hơn 3’000 Xí nghiệp nhỏ và trung bình về kỹ nghệ đồ chơi, phần lớn làm cho những Công ty khác, đã dẹp tiệm... “Những chuyên viên cho biết rắng 95% trong số những Xí nghiệp này sẽ không trở lại Trung quốc lục địa nữa”.) Chính việc đóng cửa nhiều ngàn Xí nghiệp như vậy mà Chính phủ Trung quốc mới họp tuần này để tìm giải pháp nâng đỡ các Xí nghiệp khác đang hấp hối.
Tờ FINANCIAL TIMES Thứ Năm 13.11.2008 viết :”China, worried by slowing growth and widespread reports of FACTORY CLOSURES, is to step up support for manufacturers”. Chính phủ không thể không có biện pháp năng đỡ xuất cảng nhằm cứu những xí nghiệp còn đang bị đe dọa đóng cử này.
Chương trình kích thích nội địa
Nền Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng, nghĩa là lệ thuộc vào mức tiêu thụ nước ngoài, nhất là Hoa kỳ, Liên Aâu... Cuộc khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế làm giảm khả năng tiêu thụ của những Quốc gia này, nghĩa những nước này giảm mua hàng Trung quốc.
Trung quốc buộc lòng phải kích thích tiêu thụ nội địa nếu muốn đà phá triển sản xuất giữ được mức độ cân bằng bù trừ nào đó. Hai tác giả Aaron BACK và J.R.WU, trong The Wall Street Journal, ngày 13.11.2008, trang 24, còn nhận xét một điều đáng lo ngại cho Trung quốc là chính việc tiêu thụ nội địa đang giảm xuống:”China’s retail sales growth SLOWED in October.” (Độ tăng bán lẻ của Trung quốc đã hạ xuống trong tháng 10). Cùng nhận xét như vậy, Tác giả Andrew BATSON, trong The Wall Street Journal ngày 12.11.2008, trang 17, đã trích dẫn Thống kê của Nhà Nước: “The consumer index rose 4% in October from a year earlier, compared with 4.6% in September and well down from February’s peak of 8.7%” (Chỉ số tiêu dùng đã tăng 4% trong tháng 10 tính từ đầu năm trước, sánh với 4.6% trong tháng 9 và giảm xuống nhiều sánh với độ cao nhất của tháng 2.). Như vậy việc nâng đỡ tiêu thụ nội địa không phải chỉ là bù trừ việc giàm mua hàng từ nước ngoài, mà còn chống lại chính việc đang giảm việc tiêu thụ từ chính trong nội địa Trung quốc.
Đảng và Nhà Nước Trung quốc vừa quyết định dành ra USD.586 tỉ. Đây là Chương trình mang tính cách dài hạn, trong khi ấy vấn đề xuống dốc Kinh tế nằm trong cấp thời và ngắn hạn phải giải quyết. Thực vậy, chương trình USD 586 tỉ đặt trọng tâm vào xây dựng hạ tầng cơ sở Kinh tế như đường sá, cầu cống, ống dẫn dầu...
Nhận định về hiệu lực của Chương trình này, dưới hàng chữ lớn CRITICS OF GOVERNMENT’S INFRASTRUCTURE SPREE WORRY EFFORT WILL END UP BEING WASTE OF MONEY, Oâng Andrew BATSON viết ngày hôm qua 12.11.2008 trong THE WALL STREET JOURNAL như sau:
“This road boom is taking place in a poor, largely rural country where only about 10% of the population have their driver’s licenses... New roads and buildings are going unused and will end up being waste of money. In the poorest areas, some highways are often empty but for crops farmers spread out on them to dry in the sun.” ( Cuộc bùng dậy xây đường sá này xẩy ra ở một xứ nghèo nàn, chính yếu là dồng quê nơi mà chỉ vào khoảng 10% dân số có bằng lái xe... Những con đường mới và cao ốc sẽ không được xử dụng và sẽ kết thúc bằng tiêu phí tiền bạc. Ở những vùng nghèo khổ nhất, nhiều xa lộ thường vắng xe trống rỗng trừ trường hợp những người dân quê xử dụng để phơi nắng cho khô sản phẩm nông nghiệp dưới ánh mặt trời.)
Thực sự thì việc xây dựng hệ thống đường sá đã được hoạch định từ những chục năm trước và chương trình muốn chấm dứt mãi tới năm 2020. Đây là việc chi tiêu mang tính dài hạn, trong khi ấy Trung quốc cần phải có biện pháp cấp thời để khả năng tiêu thụ nội địa bù trừ cho việc cắt giảm đặt mua hàng hiện nay từ nước ngoài. Số tiền USD.586 tỉ là dự chi cho toàn Chương trình bao trùm một thời gian dài. Người ta dự đoán rằng nếu chương trình được khởi công lại, thì Trung quốc cũng chỉ tiêu cho hạ tầng cơ sở khoảng 1/5 tổng số tiền đã tuyên bố.
Thất nghiệp và lo sợ xáo trộn xã hội
Chỉ tính cụ thể 80 triệu người được xử dụng trong ngành Xây cất Nhà cửa đang trong tình trạng bị đe dọa sa thải, cộng với số nhân công dùng trong 3’000 xí nghiệp đã bị đóng cửa tại vùng Quảng Đông, Nhà nước Trung quốc phải đứng trước nạn thất nghiệp mới nhất lên tới con số chứng 100 triêu người. Những người này phần lớn đến từ những vùng quê thuộc nội địa. Việc đẩy họ về nguyên quán có thể gây những xáo trộn xã hội.
Trong LE MONDE số ra ngày 13.11.2008, trang 15, Ký giả Bruno PHILIP đã viết như sau: “Les conséquences de la crise se font déjà sentir sur l’emploi. Selon le site www.Sina.com, des miliers d’ouvriers migrants sont en train de quitter le delta de la rivìere des Perles et rentrent dans leurs campagnes, faute de travail. Des responsables de la gare de Canton ont indiqué que 130’000 voyageurs quittent chaque jour la métropole en train.” (Những hậu quả của khủng hoảng đã cảm thấy đối với việc làm. Theo diễn đàn www.Sina.com , từng ngàn thợ di dân đang bỏ châu thổ của con sông Ngọc và trở về thôn quê của họ vì thiếu việc làm. Những người trách nhiệm của nhà ga xe lửa Quảng Đông cho biết rằng mỗi ngày có 130’000 người bỏ nơi thành thị này bằng xe lửa.) Tác giả Alain FAUJAS, trong LE MONDE ngày 11.11.2008, trang 13, đã nhận định về tình trạng xáo động xã hội liên quan đến Chính trị như sau: “MANIFESTATIONS POPULAIRES—Le taux de croissance inquìete Pékin qui voit se multiplier les manifestations populaires contre l’inflation et les fermetures d’entreprises dans le sud de la Chine. On prête au gouvernement l’intention de maintenir coute que coute la croissance au-dessus de 7%, niveau jugé indispensable pour la stabilité politique du pays. (NHỮNG BIỂU TÌNH DÂN CHÚNG—Độ tăng trưởng kinh tế làm cho Bắc Kinh lo lắng vì nhìn thấy những cuộc biểu tình dân chúng đang được nhân lên chống lại lạm phát và việc đóng cửa những xí nghiệp thuộc miền Nam Trung quốc. Người ta nói rằng Nhà nước phải cố thủ giữ bằng bất cứ giá nào độ tăng trưởng bên trên 7%, mức độ được coi là cần thiết để giữ yên ổn Chính trị cho đất nước.)
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
(07) TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM: KINH TẾ TỤT DỐC RÕ RỆT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 07.05.2009
Mục đích của chúng tôi khi viết về cuộc Khủng hoảng Tài chánh 1997 của Á châu và nhất là theo rõi cuộc Khủng hoảng Tài chánh hiện nay của Thế giới là để: (i) phân tích tình trạng bấp bênh phát triển Kinh tế tại Việt Nam theo mẫu Trung quốc; (ii) xem hậu quả của của cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay 2007/08 lên hai nước Cộng sản này như thế nào.
Bối cảnh hệ thống Ngân Hàng Tại Trung quốc và Việt Nam
Vào những năm 1997, những nước bắt đầu phát triển tại Á châu có một hệ thống Ngân Hàng luộm thuộm, quyết định tài chánh mang tính gia đình hay quyền lực Chính trị. Khi Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF/FMI) lập Plan Bailout cho những nước bị Khung hoảng 1997, IMF đòi buộc những nước này trước tiên là phải chỉnh đốn lại hệ thống Ngân Hàng, đặt Cơ quan kiểm soát độc lập đối với các Ngân Hàng.
Đối với Trung quốc và Việt Nam ngày nay, trong lúc hai nước này ca ngợi độ phát triển Kinh tế cao của họ, thì người ta cũng quan sát thấy tính cách luộm thuộm của hệ thống Ngân Hàng hai nước và những quyết định Tín dụng Ngân Hàng bị ảnh hưởng trầm trọng bởi liên hệ gia đình, phe nhóm băng đảng chính trị.
Tại Trung quốc, Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “... un système bancaire national perchus de mauvais crédits... “(LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (... một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15).
Tại Việt Nam, chính Nguyễn Tấn Dũng đã phải than lên rằng có những Ngân Hàng đã lấy vốn ngắn hạn để đầu tư cho những dụ án dài hạn. Ký giả Gia Huy đã viết đãng trong VietNamNet ngày 09.10.2008 như sau:”Bức tranh kinh tế xã hội 2008 có nhiều biến động đã bộc lộ thực tại đời sống ngân hàng từ quản lý vĩ mô đến việc quản trị điều hành, việc thực thi chiến lược quản lý tiền tệ cũng như các kế hoạch kinh doanh và hàng loạt các vấn đề liên quan khác. Chính sách tiền tệ quốc gia và kinh doanh tài chính ngân hàng còn nhiều bất cập. Khi có biến cố thị trường tất cả đều bị động chạy theo. Công cụ và kiểm soát quản trị rủi ro có không ít vấn đề.”
Cái bối cảnh của hệ thống Ngân Hàng tại Việt Nam và Trung quốc cũng có những điểm giống năm 1997 tại những quốc gia bị Khủng hoảng Tài chánh trong vùng như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn mà chính IMF/FMI đòi đỏi phãi cải tổ như một điều kiện được hưởng Plan Bailout của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế.
Một bối cảnh của hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh như vậy tự nó là nguồn Khủng hoảng cho Tài chánh/ Kinh tế cho một nước theo như phân tích của Bà Francoise NICOLAS về cuộc Khủng hoảng Á châu năm 1997.
Và trước cuộc Khủng hoảng Thế giới hiện nay về Ngân Hàng/Tái chánh, hai nước Trung quốc, Việt Nam, với bối cảnh Ngân Hàng/Tài chánh luộm thuộm lúc này, không thể chống đỡ lại tầm ảnh hưởng Tài chánh đang diễn ra trên Thế giới.
Chúng tôi nhìn tầm ảnh hưởng Tài chánh Thế giới dưới ba góc cạnh: (i) về Vốn nước ngoài; (ii) về Giảm sút độ tăng trưởng Kinh tế; (iii) về Xáo trộn xã hội ảnh hưởng lên Chính trị.
Với hạn hẹp của bài viết và với những dữ kiện chưa dồi dào ở bước đầu của tầm ảnh hưởng, chúng tôi chỉ phác họa tổng quát hướng đi của tầm ảnh hưởng. Chúng tôi sẽ viết tiếp tục để khai triển thêm theo với thời gian và theo những dữ kiện từ từ thu lượm.
Aûnh hưởng trực tiếp Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08 Lên Trung Cộng và Việt Nam về Vốn nước ngoài
Trung Cộng và Việt Nam chủ trương Chính trị độc tài độc đảng và chế độ Chính trị ấy nắm độc quyền Kinh tế. Ở hai nước, Lao động bị kềm chế ở mức lương thấp. Nhiều những bài báo cáo Quốc tế đã viết về Lao động tại hai nước như một sự khai thác Nhân lực bất chấp Nhân quyền. Tại Trung quốc, nhân công từ những vùng nghèo khổ nội địa kéo về các tỉnh công nghệ ven biển và làm việc cực nhọc như những đàn súc vật. Tại Việt Nam, đồng quê bị bỏ rơi, nông dân về những khu chế xuất công nghệ làm việc trong những điều kiện tồi tệ.
Các Công ty Liên quốc nước ngoài (Le Multinationales Etrangeres), trong chủ trương quản trị Chi tiêu cho xí nghiệp (Gestion des Charges de l’Entreprise) đã tìm đến hai nước này để khai thác nhân công rẻ với sự đồng ý và phụ lực khai thác của một chính thể độc tài độc đảng khóa miệng nhân công. Vốn nước ngoài đổ vào hai nước này để mở xưởng chế xuất hàng hóa không phải là Vốn Đầu tư lâu dài cho hai nước, mà là Vốn ngắn hạn khai thác nhân lực nhằm sản xuất hàng hóa rẻ mạt xuất khẩu sang những nước đã Kỹ nghệ hóa để bán với giá cao. Với cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay, hệ thống Ngân Hàng/Tài chánh tại những nước đã Kỷ nghệ hóa như Mỹ và Liên Aâu rơi vào tình trạng thiếu Vốn. Trong tình trạng này, họ có thể cắt xuống hoạc rút Vốn ra từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam. Có những Dự án đã ký kết, nhưng có thể không được giải ngân vì tình trạng thiếu Vốn. Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho vấn đề Vốn ở Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence...”. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề...”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15) Oâng Jonathan MANTHORPE, Vancouver Sun 13/10/08, đã nhận xét: “Nhưng các vấn đề của các quốc gia đang phát triển còn tuỳ thuộc vào sự phát triển đầu tư và các thị trường trong quỹ đạo kinh tế toàn cầu chuyển động chung quanh Hoa Ky.“ø
Trong THE WALL STREET JOURNAL Europe, ngày 15.10.2008, dưới đầu đề CHINA DRAWS LESS CAPITAL, Ký giả Andrew BATSON đã viết: ”Capital flows into China have slowed sharply and even reversed in recent months, according to official data that show how the financial crisis has disheartened investors and disrupted banks in this fast-growing nation” (page 4) (“Trào lưu Vốn chảy vào Trung quốc đã chậm lại mạnh and ngay cả chảy ngược lại trong những tháng gần đây, theo những dữ kiện cho thấy, cuộc khủng hoảng tài chánh đã làm mất can đảm những nhà đầu tư và đã làm ngưng trệ các ngân hàng trong cái nước đang phát triển mau lẹ này.”(trang 4) Đối với Trung quốc, tình trạng Vốn nước ngoài đã như vậy, huống chi đối với Việt Nam. Việt Nam còn bị thiếu vốn trầm trọng hơn Trung quốc vì nguồn Vốn nọi địa yếu kém hơn Trung quốc.
Aûnh hưởng trực tiếp Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08 Lên Trung Cộng và Việt Nam về Độ Tăng trưởng Kinh tế.
Tại những nước đã Kỹ nghệ hóa, các Chính phủ đang lo ngại tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh lan sang Lãnh vực Kinh tế thực làm cho đà Tăng trưởng giảm xuống trong những năm tới. Ba lý do chính cát nghĩa tầm ảnh hưởng của cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới đối với Lãnh vực Kinh tế thực tại Trung quốc và Việt Nam, nghĩa là làm giảm Độ tăng trưởng Kinh tế tại hai nước này:
=> Lý do thứ nhất: Khi nguồn Vốn nước ngoài giảm thiểu và nguồn Vốn nội địa không đủ, thì tất nhiên một số Công ty không trường vốn sẽ bị phá sản. Tại Liên Aâu và Hoa kỳ, những Công ty có nguồn vốn nội địa và những Công ty này đã tạo trong nhiều năm rồi số vốn riêng của họ tích lũy (Cumulation des Fonds propres) để có độc lập về Tài chánh (Autonomie Financìere), nhưng tại những nước mới bắt đầu phát triển, những Công ty lệ thuộc vào Thị trường Tài chánh mang tính cách bấp bênh.
=> Lý do thứ hai: Cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới làm cho các nước Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước trong vùng Á châu giảm thiểu việc mua hàng mà trước đây Trung quốc và Việt Nam vẫn cung cấp cho họ: những linh kiện cho Kỹ nghệ hay những hàng thường dùng cho dân chúng. Nên lưu ý rằng việc chế xuất hàng hóa từ Trung quốc hay Việt Nam là để cung cấp cho nước ngoài tới 70%. Việc giảm thiểu mua hàng này từ những nước đã Kỹ nghệ hóa tất nhiên làm ngưng trệ Kinh tế Trung quốc và Việt Nam, nghĩa là làm giảm độ Tăng trưởng Kinh tế. => Lý do thứ ba: Sau những cuộc Khủng hoảng, những Quốc gia dù có chủ trương Tự do Mậu dịch mấy đi nữa, cũng dễ có khuynh hướng Che chở (Protectionnisme) cho những Công ty quốc gia mình tại nội địa. Tại cuộc họp thượng đỉnh giữa Liên Aâu và Canada, dưới đầu đề A QUEBEC, MR.SARKOZY MET EN GARDE CONTRE LE PROTECTONNISME, Báo LE MONDE ngày Thứ Hai 20.10.2008 đã viết như sau: “Derrìere la crise bancaire, le spectre du protectionnisme qui hanta les années 1930. Avant de rencontrer, Samedi 18 Octobre, le président américain George BUSH dans sa résidence de Camp David, Nicolas SARKOZY, président en exercice de l’Union Européenne (UE), et le président de la Commission, José Manuel BARROSO, ont lancé vendredi, depuis Québec, un appel contre la fermeture des frontìeres.” (Đàng sau cuộc khủng hoảng tài chánh, con quỉ Che Chở (Protectionnisme) đã hiện về trong những năm 1930. Trước khi gặp, Thứ Bảy 18.10, Tổng thống Mỹ George BUSH ở Camp David, Nicolas SARKOZY, Chủ tịch đương nhiệm của Liên Aâu, và Oâng Chủ tịch Uûy Ban Liên Aâu, đồng kêu gọi hôm Thứ Sáu, từ Québec, chống lại việc đóng các biên giới.).
Dù không công khai tuyên bố Che Chở, nhưng các nước áp dụng những Biện Pháp Không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để hạn chế nhập khẩu. Trong trường hợp Che Chở, hay những Biện pháp không giá biểu, thì Trung quốc và Việt Nam điều bị thiệt hại vì hai nước này làm việc cho xuất cảng.
Thứ Hai 20.10.2008, Trung quốc công khai cho biết rằng độ tăng trưởng Kinh tế của họ từ 11% xuống tới 9% trong Tam Cá Nguyệt thứ ba của năm nay.
Trong Tờ FINANCIAL TIMES, thứ Hai 20.10.2008, Ký giả Geoff DYER tại Bắc Kinh còn trích lời Oâng HA Jiming, Kinh tế trưởng của China International Capital Corporation ỡ Bắc Kinh, tiên đoán rằng độ tăng trưởng Kinh tế Trung công có thể thụt xuống 7.3% (Ha Jiming, Chief Economist at China International Capital Corporation in Beijing, predicts that growth will fall to 7.3 per cent.)
Tờ THE WALL STREET JOURNAL Europe Thứ Hai 20.10.2008 loan tin về tình trạng một số khá nhiều Công ty tại Trung quốc sẽ phá sản. Đặc biệt tờ báo còn loan tin sự phá sản của Công ty sản xuất đồ chơi với 6’500 nhân công làm việc.
Tờ FINANCIAL TIMES hôm nay Thứ Ba 21.10.2008 cho chạy tít lớn ở trang nhất: CHINA GROWTH SLOWS SHARPLY. Cũng vậy, Tờ THE WALL STREET JOURNAL hôm nay thứ Ba cũng đăng bài dài về sự xuống dốc của Kinh tế Trung Cộng với đầu đề THE WORLD FEELS CHINA’S DECLINING GROWTH.
Việt Nam, cùng một thể chế Chính trị với Trung Cộng, cùng một hệ thống Kinh tế làm việc cho xuất cảng, tất nhiên chịu cùng những hậu quả của cuộc Khủng hoảng Tài chánh như tại Trung quốc. Chính Báo Việt Nam đã loan tin tình trạng phá sản tới 20% các Công ty.
Jonathan Manthorpe, Vancouver Sun 13/10/08, đã viết: “Ông Dũng đã giảm bớt sự ước lượng mức tăng trưởng của tổng sản lượng nội địa trong năm nay xuống còn 7% từ mục tiêu ban đầu là 9%. Nhưng ít nhà kinh tế tin rằng mục tiêu đó thực tế vì mức tăng trưởng chỉ có 6.5% trong 9 tháng đầu năm và triển vọng cho những tháng còn lại thì thậm chí còn tối tăm ảm đạm hơn“.
Aûnh hưởng gián tiếp Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08 Lên Trung Cộng và Việt Nam về Xã Hội và Chính trị.
Tình trạng Kinh tế xuống dốc tất nhiên ảnh hưởng tới những vấn đề Xã hội và Chính trị mà hai đảng Cộng sản Trung quốc và Việt Nam phải lo lắng.
Giáo sư TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence. Si les exportations chinoises reviennent à une croissance à un chiffre, le produit intérieur brut pourrait perdre deux points de croissance... Les autorités craignent des troubles sociaux. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề... Nếu những xuất cảng của Trung quốc trở về độ tăng có một con số, thì sản xuất nội địa sẽ mất độ tăng... Chính quyền đang lo sợ những xáo trộn xã hội”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)
Oâng còn nói thêm rằng những xáo trộn xã hội này gồm việc phải thải nhân công đã bỏ nội địa xa xôi về các thành phố ven biển làm việc. Bây giờ đẩy họ về nội địa nghèo khó không phải là dễ dàng. Tại Việt Nam, nhân công cũng từ thôn quê miền Nam, từ những tỉnh miền Trung nghèo khổ và từ những tỉnh miền Bắc kéo về Thủ đô. Khi họ bị sa thải, làm thế nào đẩy họ tở về nguyên quán.
Để giải quyết vấn đề này, Trung ương đảng CS Trung quốc đã họp kín 4 ngày trong tuần vừa rồi. Ký giả GILLIAN WONG, Associated Press Writer Gillian Wong, Associated Press Writer – Sun Oct 12, 11:20 am ET AP, đã viết: “BEIJING – China's ruling Communist Party on Sunday said it would seek to expand its massive internal market to counter the global economic slowdown that has reduced international demand for Chinese goods. The party, led by President Hu Jintao, released a statement at the end of a four-day meeting of its Central Committee where it also approved a plan aimed at doubling rural incomes by 2020.”(Bắc Kinh—Ban Điều hành đảng Cộng sản Trung quốc nói là Trung quốc tìm cách khai triển thị trường nội địa kếch xù của họ để bù trừ vào việc đình trệ của kinh tế tổng quát đã giảm thiểu việc đặt mua hàng của quốc tế đối với hàng hóa Trung quốc. Đảng, lãnh đạo bởi Chủ tịch HU JINTAO, tuyên bố sau 4 ngày họp của Trung ương đảng rằng đảng đã chấp nhận một chương trình nhằm tăng gấp đôi thu hoạch nông thôn vào khoảng năm 2020.”
Đây là chương trình không dễ thực hiện và rất tốn kém bởi vì trong nội địa Trung quốc, phải mất tối thiểu 20 năm nữa mới có thể có một hệ thống đường sá khả dĩ hỗ trợ cho phát triển kinh tế nông thôn.
Tại Việt Nam, vì quá hồ hởi với việc công nghệ hóa, nên đảng CSVN đã hầu như bỏ quên nông thôn. Đây là điều vô cùng đáng tiếc bởi vì Việt Nam có căn bản địa lý đồng bằng để phát triển mau chóng nông nghiệp.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
(08) TRUNG QUỐC: Ý ĐỒ THỐNG TRỊ KINH TẾ Á CHÂU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 09.04.2009
Lo sợ tốc độ tăng nhanh của những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes) mà World Bank đã báo động, nhất là từ các nước Tây phương, Trung Cộng tìm về Á châu. Họ xử dụng tiền để mua Thị trường Á châu nhằm giải quyết xuất cảng. Tình trạng ứ đọng hàng hóa tại Trung quốc và nhất là tình trạng thất nghiệp tập thể khiến Trung cộng phải mở cuộc xâm lăng Kinh tế tại Á châu.
Cuộc Họp Thượng Đỉnh G17 Á châu, vì tình hình cuối tuần vừa rồi tại Bangkok, nên đình hõan. Tuy nhiên thâm ý của Trung cộng vẫn được thực hiện.
Bản tin sau đây từ Tân Hoa Xã cho thấy Trung công bắt đầu thực hiện cuộc xâm lăng Kinh tế: xuất cảng hàng chế biến, xuất càng thiết bị và xuất cảng nhân công sang các nước nghèo Á châu, đặc biệt là Việt Nam.
Trung Quốc xử dụng USD.25 tỉ để xâm lăng Kinh tế các nước nghèo Á châu
Bản Tin: Theo Tân Hoa xã, Trung Quốc đang chuẩn bị thành lập quỹ hợp tác đầu tư 10 tỷ USD với ASEAN và cho các nước khu vực này vay 15 tỷ USD, trong bối cảnh khu vực đang nỗ lực đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì ngày 14-4 cho biết, quỹ đầu tư trên sẽ thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng nối Trung Quốc với 10 nước thành viên ASEAN, trong khi các khoản cho vay sẽ có thời hạn từ 3 đến 5 năm.
Tuyên bố cũng cho biết Trung Quốc dự định viện trợ cho Campuchia, Lào và Myanmar 39,5 triệu USD và tặng 300.000 tấn gạo cho quỹ dự trữ gạo khẩn cấp Đông Á để tăng cường an ninh lương thực.
Theo ông Dương Khiết Trì, những đề nghị này nhằm phản ánh quyết tâm và trách nhiệm của Chính phủ Trung Quốc trong việc thúc đẩy sự hợp tác với ASEAN.
Khủng hỏang Kinh tế tòan cầu Vì quá thổi phồng sản xuất, bắt ép tiêu thụ
Nền Kinh tế Trung Cộng cho đến nay chính yếu là sản xuất những hàng tiêu thụ thông dụng và những linh kiện xuất cảng sang Tây phương Hoa kỳ và Liên Aâu để thu tiền về mau chóng. Kinh tế lệ thuộc vào xuất cảng.
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế tòan cầu hiện nay bắt nguồn từ Tây phương. Nó không hẳn là chỉ vì sự ung thối của Mortgage Subprime Credits của Hoa kỳ, mà nguyên do tổng quát là những quốc gia giầu G8 đã xử dụng Tài chánh ảo của tương lai để tăng sản xuất những hàng cao cấp, xa xỉ phẩm theo cấp số nhân đã từ 10 năm nay. Những linh kiện cho những hàng cao cấp này và những hàng tiêu thụ hàng ngày lại được tổ chức chính yếu ở Trung quốc do nhân công rẻ, để hạ giá thành mà kiếm lợi nhuận cho mau. Rồi mở rộng phong trào Tòan cầu hóa để chiếm Thị trường bán những sản ấy đến tận cùng Thế giới. Họ xử dụng Marketing theo định nghĩa của KOTLER “Marketing, c’est l’atelier de fabrication des clients“(Marketing, chính là cơ xường sản xuất khách mua hàng) để người tiêu thụ nhắm mắt chi tiêu như robots.
Bộ máy Kinh tế sản xuất cấp số nhân, tòan cầu hóa để chiếm thị trường, bắt ép người tiêu thụ chi tiêu không theo nhu cầu thực mà theo quảng cáo Marketing. Thổi chi tiêu phồng lên như quả bóng, thì sức chịu đựng thổi phồng đến lúc nổ toanh ra tạo cuộc Khủng hỏang hiện nay. Những con robots tiêu thụ trở lại làm người với suy nghĩ về sức hạn hẹp tài chánh tiêu thụ của mình.
Tây phương giảm tiêu thụ, tức là giảm phía CẦU. Cái hậu quả là cắt đi những đặt mua hàng tại những nước sản xuất.
Trung quốc là nạn nhân trực tiếp của Khủng hỏang giảm phía CÂU của Tây phương. Muốn cứu vớt Kinh tế Trung quốc, chính yếu sản xuất cho tiêu thụ, thì phải làm thế nào để tái lập mức độ tiêu thụ của Tây phương. Sau thời gian dài tiêu thụ xả láng, người dân Tây phương bỏ thái độ nhắm mắt tiêu thụ như robots, mà trở lại thành người suy nghĩ tiêu thụ đúng theo nhu cầu (besoins nécessaires). Dân chúng Hoa kỳ và Liên Aâu bắt đầu tăng tiết kiệm. Các xí nghiệp Tây phương giảm đầu tư với Tài chánh ảo, tăng cường thủ thế Tài chánh thực cho tương lai mà cuộc Khủng hỏang hiện nay không cho biết bao giờ Kinh tế mới được vực lại.
Trung quốc sợ hãi nhất là khuynh hướng Che Chở Kinh tế (Protectionism) đang lớn mạnh để cắt giảm hơn nữa việc xuất cảng của họ.
Từ bế tắc xuất cảng sang Tây phương, Trung Cộng quay về ăn hiếp Á châu
Trong tình trạng bế tắc này đối với Tây phương, Trung quốc nghĩ đến việc Kích Cầu Kinh tế Á châu. Cuộc Họp Thượng Đỉnh 17 quốc gia Á châu (G17 Á châu) dịp cuối tuần này có mục đích vực lại Kinh tế Á châu gồm gần 3 tỉ dân tiêu thụ. Trung cộng cũng như Nhật sẵn sàng giúp đỡ các nước nghèo Á châu khôi phục tiêu thụ.
Nhiều người có thể nghĩ đây là một thiện chí của Trung quốc cũng như Nhật. Nhưng qua cái “thiện chí“ này, người ta nhìn thấy cái mặt trái tính tóan gồm:
=> Trung quốc có một kho hàng đã sản xuất nhằm bán cho Thị trường Tây phương, nhưng nay bị ứ đọng.
=> Các Xí nghiệp sản xuất Trung quốc hoặc là bị đóng cửa ngưng họat động, hoặc là chỉ họat động 1/3 khả năng.
=> Số thất nghiệp trở thành tập thể và dễ trở thành cuộc nổi dậy bạo động chống đối nhà cầm quyền.
Vực lại tiêu thụ cho những nước nghéo Á châu có nghĩa là tìm cách bán kho hàng ứ đọng và làm cho các Xí nghiệp Trung quốc tăng họat động. Trung quốc cũng nhằm xuất cảng ngay những Xí nghiệp sang các nước nghèo bằng xuất cảng vốn, thiết bị và ngay cả nhân công thất nghiệp.
Các nước nghèo đang cố gắng tạo nền Kinh tế sản xuất những hàng tiêu dùng hàng ngày cho dân chúng nội địa, thì nếu chấp nhận sự tràn lan xuất cảng hàng hóa cùng lọai của Trung quốc với những xí nghiệp và nhân công Trung quốc đi kèm, thì nền Kỹ nghệ bản xứ của những nước nghèo sẽ bị Trung quốc giết chết.
Việt Nam hiện nay đang chịu cái thảm cảnh này trước các nước nghèo khác. Thực vậy, vì muốn lệ thuộc vào Chính trị của Trung cộng để giữ lấy quyền hành cai trị, nên đảng CSVN đã chấp nhận những điều kiện tính tóan Kinh tế của Trung cộng. Những Dự án Việt Nam bị Trung cộng mua bằng cách chi tiền tham nhũng cho quan chức. Dự án nằm trong tay rồi, Trung quốc xuất cảng thiết bị và nhân công sang Việt Nam. Hàng hóa Trung quốc ứ đọng tràn vào Việt Nam. Những Xí nghiệp Việt Nam không thể sống sót cạnh tranh lại được. Công nhân Trung quốc tràn vào, dân Việt Nam thất nghiệp càng tăng.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
(09) CSVN CÚI ĐẦU RƯỚC LẤY NHỮNG PHẾ THẢI KINH TẾ TỪ TRUNG QUỐC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 30.04.2009
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế 2008 có sức tràn lan nhanh chóng như Tsumani, nhưng hậu quả của Khủng hỏang phải có thời gian lâu mới phục hồi. Tại sao hậu quả lại tràn lan mau chóng và sự phục hồi lại cần thời gian lâu mới có thể làm được ? Câu trả lời của chúng tôi sẽ được trình bầy trong những Đọan phân tích dưới đây.
Nếu một số dấu chỉ gần đây của Kinh tế Mỹ, cường quốc Kinh tế đã châm ngòi cho Khủng hỏang, cho thấy ít điểm lạc quan, thì những nước chịu ảnh hưởng như Liên Aâu, nhất là Nhật và Trung quốc vẫn ở trong tình trạng lo lắng đường hầm khá đen tối. Nhật và Trung quốc ít tin ở phía Tây phương có thể cứu mình nhanh chóng vì chính Tây phương còn lớn tiếng kêu gọi Trung quốc và Nhật hỗ trợ trấn an Khủng hỏang và vì thấy rằng những Biện Pháp Che Chở Kinh tế (Mesures Protectionnistes) mỗi ngày mỗi lớn mạnh từ Tây phương theo lời cảnh cáo đồng lọat của World Bank, IMF/FMI và WTO/OMC.
Trong cái thế bí Kinh tế ở đường hầm như vậy, Trung quốc và Nhật đang tìm giải pháp tại Á chấu với khối người trên 3 tỉ. Người ta đã quan sát thấy cái thế đi này của Trung quốc và Nhật. Hai nước này là chính yếu trong việc cho ra đời Qũy Dự Trữ Ngọai Hối Á Châu USD.120 tỉ. Cuộc Họp Thượng Đỉnh G17 Á-châu đã được chính thức triệu tập vào cuối tuần 10-12.04.2009 tại Thái Lan. Nhưng chẳng may, những cuộc Biểu tình tại Bangkok đã làm cuộc Họp không thành. Chắc chắn trong cuộc Họp thượng đỉnh này, Nhật và Trung quốc sẽ nhấn mạnh vào “Hội nhập Kính tế Á châu“ mà mặt trái của nó đã được phân tích. Gần đây nhất, tin cho biết rằng Thủ tướng Nhật sẽ sang thăm viếng Bắc Kinh. Có lẽ hai nước sẽ bàn và chia phần việc xâm lăng Kinh tế Á châu.
Chúng tôi phân tích điều tóm tắt trên đây dưới những khía cạnh:
=> Liên đới Kỹ thuật sản xuất hiện đại
=> Cái không may của Trung quốc
=> Bí quá thì phải xì
=> Việt Nam nhục nhã hứng cái xì rác rưởi của Trung quốc
Liên đới Kỹ thuật sản xuất hiện đại
Tôi nói khía cạnh này là để trả lời cho câu hỏi đầu tiên trong phần nhập đề, đó là Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế lan rộng mau chóng như Tsumani, trong khi đó hậu quả Khủng hỏang phải có thời gian dài để phục hồi.
Việc tổ chức sản xuất Kinh tế hiện đại không mang tính cách liên hệ Chính trị, Xã hội, mà dựa trên Kỹ thuật để tìm mối lợi tối đa. Dù có bất đồng quan điểm Chính trị hay Nhân quyền đối với Trung quốc đi nữa, nhưng những Công ty Mỹ, Pháp, Đức... vẫn tổ chức sản xuất tại Trung quốc vì thu được mối lợi tối đa cho họ. Trung quốc có thù Nhật theo câu nói của Bruce LEE về việc cho chó Nhật vào Sở Thú, nhưng không phải Tầu, thì Trung quốc vẫn nhận sản xuất linh kiện rẻ cho các hãng Điện tử của Nhật.
Thời trước đây vào những năm 1930 chẳng hạn, mỗi Công ty sản xuất tối đa những linh kiện cấu thành món hàng cuối cùng của mình. Nhưng ngày nay, các Công ty sản xuất làm việc trong hệ thống Liên đới Sản xuất Linh kiện. Linh kiện là những bộ phận riêng lẻ để cấu tạo thành món hàng cuối cùng mang nhãn hiệu của Công ty. Tỉ dụ chiếc máy điện tử Toshiba của Nhật, nhưng một số những bộ phận cấu thành (linh kiện) lại được sản xuất tại Trung quốc, Việt Nam hay Mã Lai. Hệ thống Liên Đới Sản xuất Linh kiện được gọi theo tiếng Tây là “Système de Sous-Traitance des Pìeces détachées“. Một món hàng cuối cùng để bán cho người tiêu thụ được chia thành những bộ phận nhỏ (linh kiện). Những bộ phận này giao cho một Công ty chuyên môn sản xuất. Hệ thống Liên đới Sản xuất Linh kiện như vậy cho phép nền Kinh tế hai cái lợi rõ rệt:
* Công ty chuyên môn sản xuất một Linh kiện có thời giờ kiện tòan Linh kiện (Spécialisation et Perfectionnement de la Pìece détachée).
* Khi chuyên môn sản xuất một Linh kiện, thì Công ty trước hết đỡ tốn kém trang bị máy móc sản xuất (Installation des équipements), sau đó họ có thể tăng lượng sản xuất để làm giảm chi tiêu ban đầu cho những máy móc trang bị (Minimisation des Couts fixes d’Installation initiale).
Nếu lợi dụng được giá nhân công rẻ, thì giá thành linh kiện lại còn giảm xuống hơn nữa.
Mặc dầu vẫn biết rằng Trung cộng đàn áp Nhân quyền và không thích gì thể chế Chính trị của Trung quốc, nhưng những Công ty vẫn giao cho Trung cộng sản xuất trong hệ thống Liên Đới Sản Xuất Linh kiện nhằm giảm giá thành và bán món hàng cuối cùng tại Tây phương với giá cao để thu lợi tối đa. Nhật là một nước sản xuất High Tech, nhưng linh kiện lại giao cho Trung quốc.
Tổng thể trên Thế giới, nhất là cho các nước Tây phương tiêu thụ, Nhật và Trung quốc là hai trung tâm sản xuất Á châu rất quan trọng trong một hệ thống Liên Đới Sản xuất (Système de Sous-Traitance de Production).
Chính cái hệ thống Liên Đới Sản xuất này mà khi Thế giới, nhất là Tây phương, giảm phía CẦU hàng hóa tiêu thụ, thì hậu quả Khủng hỏang Kinh tế lan sang Trung quốc và Nhật ngay tức khắc. Việc lan tràn Khủng hỏang như Tsumani là do sự Liên Đới Sản xuất này. Việc phục hồi Kinh tế của hai trung tâm sản xuất Nhật và Trung quốc phải có thời gian dài vì nó tùy thuộc vào việc tăng phía CẦU của Thế giới, nhất là của Tây phương, vềï hàng hóa cuối cùng sẵng sàng để tiêu thụ (Produits finis prêts à la consommation).
Cái không may của Trung quốc
Trong phần phân tích trên đây về hệ thống Liên Đới Sản xuất, chúng tôi nói đến Nhật và Trung quốc. Nhưng từ phần này, với sự hạn hẹp của bài báo và với sự quan hệ thời điểm với Việt Nam, nên chúng tôi tạm để một bên phần phân tích về Nhật, mà chỉ nói đến trường hợp Trung quốc. Ở phần mở bài, chúng tôi nói rằng có một số dấu chỉ cho thấy phần lạc quan về phía Cầu từ Hoa kỳ. Đây là niềm hớn hở cho Trung quốc hơn ai khác. Nhưng sự hớn hở ấy không lâu bởi vì báo THE WALL STREET JOURNAL ngày hôm nay, thứ Năm 30.04.2009, đăng ở trang nhất một bài với đầu đề là US ECONOMY SINKS AGAIN (Kinh tế Hoa kỳ lại chìm xuống). Báo giới Aâu châu mang hy vọng, nhưng đã phải đăng tải :“Le déclin de 6.1% de l’économie américaine !“(Sự xuống giốc 6.1% của Kinh tế Mỹ“ (Nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ), thứ Năm, ngày 30.04.2009, trang 17).
Hàng hóa của Nhật thuộc High Tech và có tính cách cạnh tranh với chính hàng hóa sản xuất tại Tây phương khi có phục hồi Kinh tế. Nhưng hàng hóa Trung quốc thuộc lọai Low Tech, việc phục hồi Kinh tế Trung quốc không dễ dàng.
Thực vậy, Trung quốc là một trung tâm sản xuất, nhưng việc sản xuất qui tụ vào những hàng hóa sau đây:
=> Linh kiện phục vụ cho những hàng tiêu thụ giữ bản quyền tại Tây phương hoặc Nhật. Khi hàng chính Tây phương và Nhật giảm phía cầu tiêu thụ, thì những Công ty Liên quốc gia (Multinationales) giảm hẳn việc đặt mua hoặc sản xuất linh kiện từ Trung quốc.
=> Những hàng hóa Low Tech phục vụ tiêu thụ thông dụng hàng ngày như chổi quét nhà, rổ rá để bánh mì, dù che tắm biển vân vân... Những hàng hóa này bị cắt đi dễ dàng.
=> Hàng may dệt: vải vóc, chăn mền, quần áo rẻ tiền, dầy dép thường nhật vân vân. Khi bị khủng hỏang, người ta có thể dùng lại đồ cũ
=> Đồ chơi cho trẻ em. Khi khủng hỏang khó khăn, người ta có thể bắt trẻ em chơi lại đồ cũ chất đầy ắp trong kho.
=> Thuốc men và đồ ăn động chạm đến sức khỏe. Những chế biến mang chất độc của Trung quốc đã làm Thương Hiệu của Trung quốc về những hàng này giảm hẳn xuống. Khi heo ở Việt Nam bị chết, người ta hỏi tại sao không chích thuốc đề phòng? Câu trả lời của nông dân rằng đã chích thuốc, mà heo vẫn chết. Hỏi thuốc nào và từ đâu. Họ trả lời đó là thuốc từ Trung quốc. Vậy thì heo càng chết mau hơn ! Một số nước nghèo Phi châu đã bắt đầu sợ thuốc Trung quốc !
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế của Tây phương thực sự đã cắt việc mua hàng thường dùng hoặc linh kiện từ Trung quốc xuống 70%.
Họat động Kinh tế tập trung vào một chế độ độc tài với tất cả những quy họach bền vững của đảng, nhưng Kinh tế tùy thuộc vào phía CẦU theo hướng phân tích của KEYNES, một yếu tố tùy thuộc người khác nhất là những người có tự do quyết định tiêu thụ. Nếu ở thời kỳ hòan tòan Cộng sản mà Nhà Nước có tòan quyền quy họach cả TIÊU THỤ, thì Trung cộng có thể không bị nạn như ngày nay. Nhưng quy họach sản xuất tập trung của Trung cộng đã gặp phải quyền TỰ DO TIÊU THỤ của Tây phương. Cái không may hay cái không ngờ ngu dốt của độc tài sản xuất Trung cộng là ở chỗ đó.
Bí quá thì phải xì
Trong phần này, chúng tôi phân tích CÁI BÍ Kinh tế Trung cộng ở chỗ nào và CÁI XÌ của Trung cộng ra đâu.
Tình trạng CÁI BÍ của Kinh tế Trung cộng như sau:
=> Ngay từ World Economic Forum Davos 2009 (WEF Davos), Trung quốc đã bầy tỏ sự lo lắng về Che Chở Kinh tế (Protectionnisme/Protectionism) và kêu gọi hãy chống lại việc Che Chở Kinh tế này. Khi Obama tuyên bố “Buy America) và Sarkozy không muốn hãng Renault chuyển nhà máy sang Cộng Hòa Tcheque, thì Trung quốc thấy cái mầm Che Chở Kinh tế sắp mọc thành cây.
=> Sự lo lắng từ thời WEF 2009 đã trở thành sự thật. World Bank, rồi IMF/FMI và WTO/OMC xác nhận một sự thật phũ phàng về Che Chở Kinh tế hiện ra: 66 Biện Pháp Che Chở Kinh tế (Mesures Protectionnistes) đã có thực từ những nước Tây phương. Con ma Che Chở Kinh tế hiện ra nguyên hình và trở thành ông Ngáo ộp hù dọa cho xuất cảng của Trung cộng. Ngay cả Aán Độ, với 1,1 tỉ dân, đã công khai cấm nhập cảng đồ chơi từ Trung quốc.
=> Trong cuộc Họp ASEM Bắc Kinh và trong cuộc Họp G20 Luân Đôn, Trung quốc nhận thấy phía Tây Phương yếu kém về Kích cầu Kinh tế bởi vì mỗi nước lo riêng cho số phận của mình mà nước nào cũng có Ngân Sách thiếu hụt. Cuộc Họp G20 tại Luân Đôn như là cứu tinh, nhưng nói đến sự đóng góp cho IMF số tiền USD.1000 tỉ để giài quyết Kinh tế, thì nước nào cũng hứa suông. Obama thì tuyên bố đầy những chương trình lớn chuyện giống như một sinh viên mới xuất thân Đại học, bầy đủ thứ Flow Charts vẽ vời rất đẹp. Sarkozy thì choi choi khoa tay múa chân như anh hùng Thế giới, nhưng không dám quay về nước Pháp để giải quyết những vấn đề căn bản của nước mình mà ông là Tổng thống.
=> Trên đây là những cái bí cho Trung quốc từ những nước ngòai. Tại Lục địa Trung quốc, không thể phủ nhận những cái bí sau đây mà báo chí nước ngòai nói ra, dù Trung cộng bưng bít:
* Những phản kháng của dân nghèo lên tới 80'000 lần mỗi năm
* Nhân công du mục thất nghiệp tập thể phải về đồng quê. Ngành xây cất hầu như thải nhân công đến 90%.
* Điều quan trọng là sinh viên ra trường thất nghiệp. Quan trọng vì việc nổi dậy từ phía sinh viên, thì tình trạng căng thẳng xã hội trở thành nguy hiểm cho chế độ. Tờ THE WALL STREET JOURNAL hôm qua, thứ Tư 29.04.2009, đăng bài của Ian JOHNSON, từ Nanjing, dài trên hai trang đẫy (pp.20-21), với đầu đề CHINA FACES GLUT OF GRADUATES (Trung quốc đối diện với sự tràn đầy những người có bằng cấp). Tờ báo nói mỗi năm có 6.1 triệu sinh viên ra trường mà gặp cảnh thất nghiệp lan tràn tập thể. Tờ báo viết “Up to one-third of last year’s 5.6 million university graduates are still looking for work, and this year will see another 6.1 million hit the labor market.“ (p.20) (Đến một phần ba của 5.6 triệu sinh viên ra trường vẫn còn phải đi kiếm việc, và năm nay sẽ còn thấy 6.1 triệu nữa đang phải vật lộn với thị trường nhận lực.)
* Về tình trạng đầu tư trực tiếp từ nước ngòai, đà xuống dốc vẫn tiếp tục. Trong báo THE WALL STREET JOURNAL, ngày 16.04.2009, Aaron BACK và Victoria RUAN, dưới đầu đề INVESTMENT IN CHINA SLOWS (Đầu tư vào Trung quốc chậm lại), viết như sau:“BEIJING—Foreign investments in China continued to fall in March, new figures indicate, as many companies cut back expansion plans during the global downturn. Foreign direct investment in China dropped 9.5% in March from year earlier“ (p.25) (BẮC KINH—Những đầu tư nước ngòai vào Trung quốc tiếp tục tụt xuống vào tháng Ba như những con số cho thấy, vì nhiều Công ty cắt bỏ những chương trình mở rộng trong thời đi xuống tổng quát. Đầu tư trực tiếp nước ngòai vào Trung quốc tụt xuống 9.5% vào tháng Ba sánh với năm trước.).
* Không có đầu tư mới, và không họat động vì xuất cảng giảm mạnh, các Công ty gặp tình trạng tự động thua lỗ và máy móc thiết bị mỗi ngày mỗi mất hiệu lực hiện đại. Thực vậy, trước đây, Trung quốc đã trang bị nhà máy bằng những thiết bị “second hand“ mua và sửa lại từ Aâu châu. Bây giờ thiếu đầu tư đổi mới, những nhà máy càng ngày càng trở thành cũ kỹ, mất hiệu lực cạnh tranh hiện đại. Cách đây chừng hai chục năm, chính chúng tôi đã biết một cơ xưởng lớn tại Zurich Thụy sĩ chỉ chuyên sửa chữa lại máy second hand để bán cho Trung quốc. Một tỉ dụ điển hình là máy móc và phương pháp khai thác Bauxite tại Tây Nguyên là phương pháp ướt đã lỗi thời.
Với những CÁI BÍ trên đây, Trung cộng buộc lòng phải tìm cách làm những CÁI XÌ điều bí ra ngòai. Trước hết, tại nội địa, các Công ty không thể tiêu thụ hết những hàng hóa ứ đọng vì tụt dốc xuất cảng và vì khối dân khổng lồ của Trung quốc thiếu khả năng mua hàng (pouvoir d’achat). Các Công ty không thể phát không hàng hóa cho dân chúng vì họ bị thua lỗ, nhất là không bao giờ họ có thể làm cho giá hàng tăng lên, yếu tố kích thích sản xuất. Trong khi ấy, vì tình trạng giảm CẦU của Tây phương, họ không thể nào XÌ kho hàng ứ đọng sang Mỹ hay Liên Aâu.
Việc giải quyết những CÁI BÍ của Trung quốc là tìm cách XÌ những CÁI BÍ ấy sang các nước nghèo Á châu, nhất là các nước thuộc khối ASEAN. Người ta gọi đây là tham vọng bành trướng Kinh tế Trung quốc ra các nước Á châu, hay đúng hơn phải gọi đây là Trung quốc tìm cách XÌ những rác rưởi trên đầu các nước nghèo Á châu khi mà Trung quốc chứa đầy dẫy những CÁI BÍ của mình.
Trung quốc đã phải bỏ ra USD.25 tỉ, USD.10 tỉ dưới dạng giúp đỡ kích cầu Kinh tế và USD.15 tỉ dưới dạng cho vay để có thể mua chuộc những nước nghèo Á châu chấp nhận những CÁI BÍ mà Trung quốc XÌ ra. Thực vậy, Trung quốc có thể dùng tiền hối lộ để những lãnh đạo các quốc gia nghèo chấp nhận những gì sa thải ra từ Trung quốc:
* Việc trước hết, Trung quốc xuất cảng những hàng hóa ứ đọng sang các nước nghèo lân cận. Những lãnh đạo tham nhũng chấp nhận cho những hàng hóa này vào nước mình, mặc dầu biết đây là phạm vào cái tội giết chết nền Kinh tế của chính nước mình. Trung quốc được phép mở thêm những khu thương mại China Towns tại những nước nghèo. * Việc thứ hai là Trung quốc đấu thầu để dành lấy những Dự án tại các nước nghèo. Những Dự án này giúp Trung quốc thải những nhà máy cũ, bán thêm thiết bị cho những nước đã cho Trung quốc trúng thầu. * Việc thứ ba là giải quyết nạn thất nghiệp tập thể tại Trung quốc. Giống như Dự án khai thác Bauxite Tây Nguyên, Trung quốc sẽ xuất cảng lao công sang các nước nghèo với những Dự án đã trúng thầu vì đút lót hối lộ. Nhân công tại những nước nghèo đang cần việc làm, nhưng những lãnh đạo đã ăn hối lộ không cần biết đến dân chúng của mình, mà chấp nhận cho công nhân Trung quốc tự do vào chiếm việc. * Việc thứ tư là giải quyết lớp sinh viên thất nghiệp mỗi năm tăng lên trung bình 6 triệu. Ngày nay, Trung quốc nói là xuất cảng lao công, nhưng trong tương lai, họ phải xuất cảng chuyên viên, trí thức từ những Đại học. Họ cho ra ngòai làm việc để giải quyết căng thẳng xã hội từ giới trẻ trí thức thất nghiệp có thể nguy hiểm cho chính chế độ.
Việt Nam nhục nhã hứng cái xì rác rưởi của Trung quốc
Có bốn cái lý do để cắt nghĩa những Lãnh đạo Việt Nam nhục nhã cúi đầu hứng chịu những rác rưởi mà Trung quốc XÌ xuống:
1) Lãnh đạo đảng CSVN, vì quá cố thủ bám lấy quyền hành độc tài Chính trị, mà phải cúi đầu chấp nhận sự sai bảo của Trung quốc để nước này bảo trợ cho quyền hành Chính trị của mình. Tỉ dụ điển hình: cúi đầu chấp nhận mất Biên giới, Hòang Sa, Trường Sa, Biển Đông mà không dám hé họng nói điều gì. Thậm chí còn theo lệnh của Tầu đàn áp lòng yêu nước của người Việt Nam. 2) Trung quốc không những bao che cho quyền lực mà còn dùng tiền để thỏa mãn tham nhũng để có được tất cả những dễ dàng việc tràn lan hàng ứ đọng của Trung quốc xuống Việt Nam. Việt Nam trở thành một tỉnh tiêu thụ hàng hóa của Tầu. Nghĩ đến việc người Việt tỵ nạn gửi tiền về cho thân nhân để tiêu thụ những rác rưởi mà Tầu thải xuống, thật là đau lòng. 3) Mỗi dự án của Việt Nam đều có “gói quà Đo-la“ kèm theo. Trung quốc bỏ ra USD.10 tỉ để trích ra làm quà. Nhận quà và cúi đầu dâng Dự án, đó là nối giáo cho giặc để giặc xuất cảng nhân công và thiết bị sang Việt Nam. Những nhà máy cũ của Tầu sẽ được chuyển sang Việt Nam. 4) Liên hệ với các Lãnh đạo đảng là những con cháu hay bạn bè trước đây du học tại Trung quốc. Du học tại Bắc Kinh, có những người đã lập gia đình với người Tầu, hoặc vợ hoặc chồng. Chính những người này làm môi giới, hoặc liên doanh buôn bán hàng hóa Tầu hoặc lấy Dự án cho Trung quốc.
Thâm ý xa thải rác rưởi Kinh tế Trung quốc cho những nước nghèo Á châu, nếu có những trở ngại tại Phi-luật-tân, Nam Dương... chẳng hạn, thì nó rất dễ dàng thực hiện cho Việt Nam bởi vì Lãnh đạo đảng CSVN đã trở thành đầy tờ bán ngay Lãnh Thổ và Lãnh Hải của Tổ Tiên cho Trung quốc rồi.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
(10) CHUYÊN GIA KT QUỐC NỘI TUYÊN CHIẾN VỚI HÀNG TRUNG QUỐC XÂM LĂNG
Tuyên chiến với cuộc tấn công của hàng ngoại chất lượng thấp 18/06/2009 09:37 (GMT + 7)
(TuanVietNam)- "Dù tất cả đã có nhưng lực lượng hải quan, lực lượng kiểm tra thị trường, nói chính xác hơn là con người mà bị thủng thì phòng tuyến ngăn chặn hàng giá rẻ, chất lượng thấp vào thị trường Việt Nam cũng sẽ bị thủng..."- TS. Nguyễn Minh Phong nói.
Chất lượng công quyền
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Không rõ có chính xác hay không, nhưng tôi cảm giác Nhà nước mình như một ông chủ đội bóng, bỏ tiền ra mua đội bóng đó, đầu tư cho đội bóng nhưng lại giữ chân huấn luyện viên. Theo tôi hiểu, huấn luyện viên là một chuyên môn khác, đẳng cấp khác, còn việc của người quản lý đương nhiên là một công việc khác hoàn toàn.
TS. Nguyễn Minh Phong: Xin được quay trở lại câu chuyện còn đang dở, chúng ta vừa nói đến hàng may mặc Trung Quốc, nhưng giờ chúng ta phải nói đến tất cả các hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc, bởi có những thứ kém chất lượng, độc hại mà cơ quan kiểm định đã công bố, và thế giới cũng đều biết, đang có mặt nhan nhản ở thị trường Việt Nam.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Rõ ràng, chúng ta có những phòng tuyến chặn cửa như hải quan, các cơ quan kiểm thị trường, kiểm dịch, công an, quân đội và cả thuế vụ nữa… nhưng tại sao hàng ngoại chất lượng thấp lưu hành trên thị trường tiêu dùng vẫn không hề giảm đi, thậm chí có phần ồ ạt tiến vào vào thị trường Việt Nam. Liệu có hay không phòng tuyến nào bị hổng, hay tất cả đều bị hổng, thưa TS. Nguyễn Minh Phong?
TS. Nguyễn Minh Phong: Tôi cho rằng có 3 điểm cần lưu ý. Thứ nhất, chúng ta phải học tập Nhật và Trung Quốc, nghĩa là hàng tốt của Việt Nam phải bán cho người Việt Nam, chứ không phải hàng tốt thì mang hết ra nước ngoài, còn hàng bán ở Việt Nam toàn hàng xấu, tự nhiên người tiêu dùng trong nước bị ấn tượng hàng Việt Nam là hàng xấu.
Thứ hai, những chế tài và những quy định pháp lý, đặc biệt là những chế tài quy định liên quan đến hàng rào kỹ thuật cần phải được tăng cường hơn. Lâu nay, chúng ta sử dụng nặng công cụ thuế, còn công cụ hàng rào kỹ thuật lại xem rất nhẹ, thậm chí còn không biết làm như thế nào vì tiêu chuẩn chưa định hình, cái đã định hình thường thấp hơn rất nhiều so với thế giới. Do vậy, những hàng rào kỹ thuật, những tiêu chuẩn hoá về kỹ thuật cần sớm được quốc tế hoá, được xác lập và triển khai trên thực tế một cách hiệu quả.
Thứ ba, rất quan trọng. Dù tất cả những tiêu chuẩn đó đã có nhưng nếu lực lượng hải quan, lực lượng kiểm tra, hay nói gọn hơn là con người mà bị thủng thì phòng tuyến đương nhiên sẽ bị thủng... Cái thủng của con người là cái thủng lớn nhất. Chúng ta đã có rất nhiều bài học như vụ án hàng lậu Tân Thanh. Một khi quan chức liên tỉnh bắt tay dằng dây sẽ vô hiệu hóa tất cả những hàng rào kĩ thuật khác.
Bà Phạm Chi Lan: Về lỗ thủng chất lượng đội ngũ tôi đồng ý với anh Phong. Nhưng chúng ta nhìn nó rộng ra hơn một chút là cơ chế có thể tạo nên những con người như vậy, muốn có đội ngũ công chức thật tốt như chúng ta mong muốn thì phải có hệ thống cơ chế trong đó bao gồm cả thể chế cả chính sách, cả tiêu chuẩn cán bộ như thế nào, cách để chọn vào ra như thế nào, tất cả đều phải nghiêm chứ đừng chỉ đứng hô hào chung chung.
Bản thân Nhà nước phải rất nghiêm với chính mình về hàng rào kĩ thuật này, đã đặt ra phải xử lí, chỗ nào chưa có phải làm. Không phải bây giờ khi cả xã hội kêu lên là hàng chất lượng thấp thì bộ nọ, bộ kia lại chưa có căn cứ, chưa có tiêu chuẩn để kết luận đó là xấu, ngăn chặn không cho họ vào hoặc phản ứng lại với họ. Đó là cách trả lời vô cùng thiếu trách nhiệm. Lỗ thủng về trách nhiệm ở đây cũng là rất lớn, chứ không phải chỉ là vấn đề về tư cách con người hay về tham nhũng không thôi.
Chiến lược thực tế
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa bà Phạm Chi Lan, tôi đã từng nghe một số nhà nghiên cứu nói rằng Trung Quốc đã có một hồ sơ kĩ lưỡng về chiến lược hàng Trung Quốc đối với Việt Nam. Nghĩa là Trung Quốc có những chiến lược cụ thể, có đường lối rõ ràng cho từng khu vực, từng nước, từng mọi mặt hàng, từng mọi vấn đề của họ. Chính vì thế họ tạo sự đồng nhất trên toàn cầu. Vậy thưa bà chúng ta đã có một bộ hồ sơ cho nền kinh tế chúng ta, cho ngành nghề nào đó chưa với một khu vực hay với từng giai đoạn như vậy của chúng ta chưa hay ta vẫn chỉ là một sự ngẫu hứng, một sự chuyển động rời rã của chân con rết?
Bà Phạm Chi Lan: Đó là điều rất đáng tiếc về phía chúng ta. Việc làm sao chống được sự xâm lấn của hàng bên ngoài thì yếu tố quan trọng hàng đầu vẫn là sức mạnh của chính mình.
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung cho giai đoạn từ 2001 đến 2010, có đưa ra một số ý tưởng đối với một số ngành mà Nhà nước coi là có tầm quan trọng, chiến lược phải được đặt vào trong chiến lược chung đó để phát triển. Nhưng còn cụ thể đối với các ngành thông thường chúng ta vẫn thiếu các chiến lược và ngay cả khi có chiến lược thì vẫn rất thiếu tính cụ thể cần thiết, thiếu những công cụ, biện pháp đi cùng để có thể thực hiện được.
Theo tôi, đã là chiến lược phát triển phải rất cụ thể và rất tường tận. Đi cùng hàng loạt các công cụ về chính sách, những nhân tố vật chất về nguồn lực về con người để thực hiện, chứ không phải cứ vẽ ra cho vui, lấy oai cho ngành này ngành khác.
Bệnh thành tích
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Những điều mà bà Phạm Chi Lan nói về chiến lược xuất khẩu ô tô, hoặc chúng ta sản xuất máy bay đã được thực tế chứng minh về tính khả thi. Dự án ô tô Mê kông là một sự thất bại to lớn. Lịch sử đã chứng minh người Việt rất cần cù, rất chịu khó, sáng tạo, khéo tay, quả cảm…, nhưng đôi khi chúng ta cũng rất ảo tưởng.. Với chúng ta, tôi nghĩ rằng chúng ta đang hão huyền sinh ra bệnh thành tích. Ngày xưa ông cha ta căn cơ, chính xác, gọn ghẽ đâu ra đấy. Nhưng chủ nghĩa thành tích đã sinh ra sự hão huyền, chạy theo thành tích sẽ thế này thế kia… chúng ta phải rời bỏ điều đó, phải trở lại hiện thực và làm một bát phở thật ngon, hãy may một cái áo thật đẹp… Tôi những tưởng mây tre Việt Nam sẽ nhất thế giới, nhưng sau này đi ra thế giới tôi thấy chúng ta bại trận hoàn toàn. Chúng tôi đau đớn khi mua những đồ thủ công mỹ nghệ bằng cói, tre từ Nhật, Hàn Quốc trở về. Thưa Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, ông suy nghĩ gì về điều đó, về chủ nghĩa thành tích vẫn đeo bám chúng ta, ăn sâu vào ta, khiến ta sẽ còn gặp nhiều khó khăn?
TS. Nguyễn Minh Phong: Nói một cách chính xác đến nay không phải chỉ là dư âm thành tích. Thành tích chỉ là bề nổi của cơ chế chúng ta đang sử dụng, đó là cơ chế điều hành quản lý mang tính chất quân sự, trận đánh. Cả một chuỗi quá trình như vậy cho đến nay vẫn quán tính như vậy. Quán tính này đi vào kinh tế thể hiện ở chỗ những phong trào thi đua, chiến dịch thành tích báo cáo. Rõ ràng chúng ta đang tự mình làm con tin, tự mình là nạn nhân của chính mình trong vấn đề cơ chế như vậy.
Đã đến lúc chúng ta phải bỏ qua tất cả những hình thức phù phiếm, tất cả những khẩu hiệu sáo rỗng, bánh vẽ giá trị ảo để trở về cuộc sống thực tế, giá trị thực để đáp ứng nhu cầu.
Giải pháp khả thi
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa bà Phạm Chi Lan cơn lũ hàng nhập ngoại xấu, kém chất lượng, độc hại đang tràn vào Việt Nam đã lên đỉnh điểm chưa, hay sẽ tiếp tục, hoặc giảm xuống? Bà Phạm Chi Lan: Nó như thế nào phụ thuộc vào thái độ của chính chúng ta. Nếu chúng ta bỏ lơ, coi thường chuyện đó, các cơ quan Nhà nước vẫn cảm thấy dửng dưng không ý thức ngăn chặn, bảo vệ cho đồng bào mình thì làm sao cơn lũ này chấm dứt được.
Hoặc truyền thông của chúng ta không dấy lên được tiếng nói mạnh mẽ để cổ động cho hàng Việt Nam, biểu dương cho những doanh nghiệp hàng tốt như May 10, và rất nhiều những doanh nghiệp khác, trân trọng người tiêu dùng trong nước thì làm sao ngăn nổi cơn lũ này.
Nếu không cùng nhau làm việc đó như một tính chất cả hệ thống thì cơn lũ đó chưa tới đỉnh điểm đâu, sẽ tiếp tục đổ vào, tiếp tục tràn vào dữ dội hơn. Người ta đã có hẳn một kế hoạch lớn, chiến lược lớn để làm điều đó, họ sẽ không dừng lại trừ khi chúng ta biết tự vạch hướng đi cho mình, tự bảo vệ cho mình, đẩy làn sóng đó ngược trở lại trả về phía bên họ.
Quả thực tôi lo lắng cơn lũ này chưa đến đỉnh điểm, mà còn có thể tệ hại hơn nữa bởi vì chúng ta vẫn chưa làm được gì nhiều để ngăn chặn.
Tôi nói vui với các doanh nghiệp là bây giờ biên mậu đã diễn ra ở tận thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải biên mậu ở Lào Cai, Lạng Sơn nữa.
Thực tế, người ta đã vào tận thành phố Hồ Chí Minh để làm rồi, gần như tất cả các giao dịch diễn ra ngay tại đó. Chỉ cần nhấc một cú điện thoại lên thôi là hàng hóa đâu vào đó. Không khó để bắt gặp từng đoàn xe mang biển số của một quốc gia láng giềng có thể vào đất Việt Nam đàng hoàng, thậm chí người nước họ cũng ra vào làm việc ở đây tự do. Nếu chúng ta vẫn dễ dãi như vậy thì cơn lũ hàng giá rẻ, chất lượng thấp còn tiếp tục dấn tới.
Tôi vừa từ Lục Ngạn (Bắc Giang) về. Tôi đã chứng kiến một đoàn 65 thương gia Trung Quốc đang ở đó, tại những cứ điểm để thu mua vải quả, và họ là người quyết định giá cả.
Chúng ta đã để đến mức như vậy thì việc không tự bảo vệ được mình là do chính mình, mình vừa là nạn nhân, vừa là tội nhân của việc đó, chứ không thể đổ hoàn toàn cho chính sách của nước khác được. Mình không biết tự mình bảo vệ mình thì nói được gì nữa. Nếu ta không có hành động từ cao nhất, làm quyết liệt thì các doanh nghiệp phần nào phải bó tay.
TS Nguyễn Minh Phong: Tôi cho rằng, hàng may mặc, hàng điện tử là một ví du, tất cả những hàng đơn lẻ đó là một ví dụ và trong tương lai nó sẽ thành dòng thác lũ.
Tôi đồng ý với chị Chi Lan nếu như chúng ta vẫn bình chân như vại, cơ chế trách nhiệm vẫn như hiện nay, các bộ phận doanh nghiệp rời rạc thiếu gắn kết quyện hòa, cơ chế bảo vệ không rõ ràng sẽ tiếp tục tạo ra lỗ hổng để cho hàng ngoài vào tự do, gây thiệt hại cho chính những người trong nước, cho nền kinh tế quốc gia.
Đã đến lúc Nhà nước phải suy nghĩ nghiêm túc hơn về bàn tay của nhà nước để tạo ra chất kết dính. Mỗi doanh nghiệp có sức mạnh của riêng họ, có trách nhiệm, yếu điểm và cái lí của mình. Để bảo vệ một cộng đồng dân tộc nói chung thì phải bằng bàn tay Nhà nước, chứ một May 10 cũng không làm được, một cá nhân không làm được. Bàn tay Nhà nước ở đây rất cụ thể, của Chính phủ, của bộ, ngành và của từng vị trí công quyền.
Phải tạo ra sức mạnh cộng hưởng như vậy, chúng ta mới có hy vọng đẩy lùi được cơn lũ hàng ngoại giá rẻ kém chất lượng.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Các doanh nghiệp ta đang trong tình trạng số phận là tự bơi lấy một mình. Chúng ta không thiếu trí tuệ, không thiếu chuyên gia kinh tế, giáo dục, khoa học. Chúng ta đang sở hữu họ, nhưng không sử dụng họ điều này rất nguy hiểm.
Và chúng ta cũng đang thiếu một điều là tính hệ thống để tập hợp tất cả tạo thành một nguồn lực sức mạnh lớn nhất.
Trong cuộc bàn tròn hôm nay, tôi xác định rõ kẻ thù đối với thị trường của chúng ta, nhưng ngày mai bước ra đường đến một cửa hiệu, tôi lại dày vò chọn lựa hàng này của Việt Nam hay hàng kia của nước ngoài.
Những gì được đặt ra tại bàn tròn hôm nay đã phần nào động chạm tới những điều cơ bản và chi tiết, chúng ta cũng đã nói ra tất cả những điều mang tính hệ thống, chiến lược. Nếu biết lắng nghe, biết sửa mình thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn, còn nếu vẫn chỉ là trách nhiệm, là lợi ích cá nhân thì e rằng 50 năm nữa chúng ta lại ngồi lại đây, nói lại những điều phiền muộn này.
Xin cám ơn chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, anh Thân Đức Việt, và cám ơn tất cả các quí vị độc giả của Tuần Việt Nam/Vietnamnet.
Chúng ta hi vọng rằng có thể trong lúc trước mặt chúng ta còn quá nhiều chân trời mờ mịt, nhưng chúng ta phải đi tìm, không cách nào khác là phải lên tiếng. Nói một lần, hai lần, nói ngày lẫn đêm và cả trong giấc ngủ để một ngày nào đó chúng ta nhận ra rằng lòng tự trọng dân tộc thật lớn.
Một lần nữa, xin cảm ơn các quý khách đến dự hôm nay, và tôi tin rằng bạn đọc sẽ gửi những phản hồi nhiều chia sẻ, đồng tình lên tiếng cùng chúng ta về một vấn đề đang nhức nhối để từng bước tiến đến một dân tộc hùng mạnh.
Tôi nhớ lại cách đây 5 năm, khi cùng một Giáo sư Mỹ đến siêu thị ở Boston và ông ta kêu lên trong siêu thị khiến tất cả mọi người kinh ngạc: “Thiều quay lại đây” và chỉ cho tôi một chiếc quần kaki Made in VietNam. Một lần nữa, xin cảm ơn tất cả quý vị!
Tuần Việt Nam
| | | |
(11) HÀNG TRUNG QUỐC GIẾT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Doanh nghiệp thua đau bởi hàng Trung Quốc giá rẻ 16/06/2009 05:34 (GMT + 7)
(TuanVietNam) - “Tôi rất lo sợ do chúng ta thiếu sự chuẩn bị thì có thể trong cuộc chơi mới, chúng ta háo hức hòa nhập với mong muốn chiến thắng, nhưng lại thua trong quá trình hội nhập ở mặt này hay mặt khác, kể cả trên sân nhà”, bà Phạm Chi Lan.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Kính thưa bạn đọc Tuần Việt Nam/VietNamNet, kính thưa các vị khách mời, chủ đề của bàn tròn trực tuyến hôm nay là: Giải pháp với hàng TQ chất lượng thấp.
Câu hỏi đầu tiên xin được dành cho bà Phạm Chi Lan: Khi nhận được lời mời tham dự bàn tròn trực tuyến với chủ đề “Giải pháp với hàng TQ chất lượng thấp”, cảm giác của bà như thế nào?
Bà Phạm Chi Lan: Những ngày gần đây, tôi thực sự thấy rất bứt rứt, sốt ruột và đau lòng vô cùng về hàng chất lượng thấp của nước ngoài, đặc biệt là của TQ tràn vào VN. Không những nó làm hại cho người tiêu dùng mà còn làm hại cho nền sản xuất VN ở mức độ rất to lớn.
Do vậy, khi được Tuần Việt Nam/Vietnamnet mời tham dự cuộc trò chuyện hôm nay tôi đã nhận lời ngay lập tức vì cũng muốn chia sẻ một số những điều mà mình đang bức xúc trong lòng với bạn đọc.
Tôi cũng muốn thông qua đây có một thông điệp nho nhỏ đến bạn đọc, đến những người tiêu dùng, các nhà sản xuất và cả với Nhà nước để chúng ta có thể cùng nhau chặn được cơn lũ quét này, bảo vệ cho sự an toàn của đất nước, của người dân VN và đấy cũng là điều tôi mong muốn.
Chưa chuẩn bị chu đáo
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Trong tư duy và phân tích của bà, bà đã biết được nguy cơ hàng nhập ngoại kém chất lượng ồ ạt vào VN, nhất là hàng hóa chất lượng thấp có xuất xứ từ TQ đối với nền kinh tế VN từ lúc nào? Ngay cả bây giờ, một bộ phận người tiêu dùng vẫn tiếp tục bị hàng hóa giá rẻ của TQ quyến rũ, 1 năm? 5 năm? hay 10 năm? Theo bà, vì sao người ta vẫn không ý thức được điều đó để đến nay, chúng ta phải đối mặt với cấp báo động cao nhất về tình trạng này?
Bà Phạm Chi Lan: Mối lo của tôi có lẽ xuất hiện rõ rệt nhất là vào khoảng cách đây 10 năm, năm 1999.
Khi đó tôi được Chính phủ chỉ định là một trong hai người Việt Nam cùng với ông Nguyễn Quang Thái bây giờ là Tổng Thư ký của Hiệp hội Kinh tế VN tham gia vào nhóm gọi là Tầm nhìn Đông Á. Theo đó, mỗi nước cử hai người trong 10 nước Asian, cộng với 3 nước là Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản để bàn về một cơ chế hợp tác mở rộng thị trường trong khu vực và hợp tác giữa khối Asian với 3 nước đó theo hướng sẽ mở cửa dần thị trường.
10 nước này sẽ trao đổi với nhau trên nguyên tắc tương tự như với Asian, nghĩa là thuế sẽ giảm từ 0-5%, tiến dần đến 0%, tất cả các hàng rào khác phi thuế sẽ dần được gỡ bỏ. Tuy nhiên, cái còn lại mà các nước có thể giữ lại là hàng rào kỹ thuật, để bảo vệ chính đáng cho hàng hóa của mình, người tiêu dùng của mình.
Điều mà tôi lo lắng khi ấy là trong không khí thảo luận như vậy, khi VN đang chuẩn bị tham gia WTO, dấy lên mọi nỗ lực, hào hứng để gia nhập công cuộc mở rộng hợp tác đó nhưng không có sự chuẩn bị đầy đủ để tạo nên thế lực, hàng rào chắn cho mình để tránh khỏi những áp lực xấu.
Khi ta mở cửa ra, sẽ có những làn gió tốt lành thổi vào nhưng phải biết là cũng sẽ có ruồi muỗi bay vào và phải có cách để phòng chống. Nhưng chúng ta dường như rất ít để ý đến sự phòng chống đó.
Trong toàn bộ công cuộc đàm phán với nước ngoài, ta đã đưa ra rất nhiều những cam kết khác nhau để mở cửa thị trường, nhưng chúng ta lại rất ít tham vấn DN, ít thông báo cho người dân là những người sẽ chịu tác động những yếu tố này, để họ có tinh thần chuẩn bị đối phó.
Điều này rất khác với TQ trong toàn bộ quá trình chuẩn bị mở cửa, họ thông báo tối đa đến người dân và DN, giúp người ta chuẩn bị sẵn sàng lực lượng để đối phó với sự cạnh tranh mới.
Còn ở VN, tôi rất lo sợ do chúng ta thiếu sự chuẩn bị thì có thể trong cuộc chơi mới, chúng ta háo hức hòa nhập với mong muốn chiến thắng, nhưng lại thua trong quá trình hội nhập ở mặt này hay mặt khác, kể cả trên sân nhà.
Tấn công có chủ định
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa TS. Nguyễn Minh Phong, ông là một nhà nghiên cứu kinh tế-xã hội, chắc chắn ông đã có một phác thảo về tiến trình xâm nhập của hàng ngoại vào VN, đặc biệt là hàng TQ, đặc biệt hơn nữa là hàng TQ chất lượng thấp. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, thẩm mĩ, kinh tế của người dân VN. Vậy ông có thể đưa ra một cách nhìn, hay phác thảo về một lộ trình của hàng hóa TQ vào VN trong 5 năm trở lại đây như thế nào? Nó đang tiến lên, nguy cơ hơn, thống trị hơn? hay là sự hợp tác thương mại tốt đẹp?
TS. Nguyễn Minh Phong: Tôi xin đẩy thời gian lùi xa một chút, cách đây 20 năm. Năm 1996, tôi làm nghiên cứu sinh ở Nga và đó là thời kỳ hậu Xô Viết, tiền tư bản, thời kỳ mà hàng TQ bắt đầu có mặt ở nước Nga.
Lúc đó, hàng VN cũng cùng sang Nga với hàng TQ. Chúng tôi đã chứng kiến thời kỳ "cơn lốc áo gió" của VN sang Liên Xô và áp đảo hàng TQ, mang lại rất nhiều lợi nhuận và công ăn việc làm cho người VN. Đó là thời điểm huy hoàng của người Việt. Nhưng thời kỳ đó kết thúc rất nhanh, chỉ trên dưới 1 năm và hàng TQ tăng dần mặt trận và trở nên thống trị.
Tại sao cùng một thời điểm, cùng một điều kiện như nhau, mà TQ lại thắng được VN ở Liên Xô, sau đó là thắng ở những nước khác nữa, và sau đó là thắng ở cả trên sân của VN?
Năm năm trở lại đây, hàng nhập của TQ vào VN ngày càng tăng, riêng năm ngoái chúng ta đã nhập siêu 11 tỷ USD, và sẽ còn tăng nữa trong thời gian tới.
Nếu với tình hình hiện nay, với sự phòng ngự bị động, thậm chí là không phòng ngự gì cả, và với tính chất tấn công có chủ định rất nhịp nhàng, bài bản, có chủ đích của TQ thì xu hướng này sẽ còn gia tăng.
Rẻ nhờ 4 lý do
Hàng TQ vào VN ngày càng tăng, riêng năm ngoái chúng ta đã nhập siêu 11 tỷ USD, và sẽ còn tăng nữa trong thời gian tới.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Có một hiện thực mà tôi quan sát được là nhiều khi có những mặt hàng TQ rẻ đến mức bất ngờ, mà tôi nghĩ rằng đó là trò ảo thuật hay pháp thuật vì tôi không lý giải được vì sao lại rẻ như thế.
Cứ mỗi dịp tết về, cuồn cuộn từng đợt người, kể cả công chức, trí thức cũng ùn lên phía bắc để mua hàng TQ vì nó quá rẻ. Vậy trong cách nhìn của các vị khách mời, tại sao TQ lại có thể làm hàng rẻ được đến thế? Không phải chỉ một lần, một đợt, mà ở nhiều mặt hàng và bền bỉ trong rất nhiều năm nay?
Bà Phạm Chi Lan: Theo tôi, người TQ có thể làm được hàng rẻ có mấy lý do:
Thứ nhất, họ có quy mô thị trường rất lớn, và họ đã tận dụng được lợi thế quy mô. Trong quy luật phát triển ngành hàng của các nước trên thế giới thì quy luật về quy mô cũng rất quan trọng.
Chính Paul Krugman người đoạt giải thưởng Nobel Kinh tế năm ngoái cũng là một trong những người đưa ra rất sớm về chiến lược phát triển theo quy mô như vậy.
Với lợi thế về qui mô, mỗi đơn hàng của TQ có thể có hàng triệu sản phẩm, và họ có thể tiêu thụ sản phẩm cho một tỷ người, thậm chí trong một triệu sản phẩm thử nghiệm đầu tiên có bị lỗi, hỏng thì vẫn có đủ người chấp nhận sử dụng thành phẩm đó với giá rẻ hơn.
Đến triệu sản phẩm thứ hai, nếu vẫn tiếp tục còn lỗi thì vẫn còn những người tiêu dùng ở nông thôn chấp nhận sử dụng, tiêu dùng được... Cho đến khi sản phẩm đủ hoàn thiện, thì họ có thể tung hàng triệu sản phẩm như vậy ra thị trường và được tiêu thụ nhanh chóng, trong khi số sản phẩm hàng lỗi cũng vẫn được tiêu thụ ở thị trường thấp hơn.
Thứ hai, vì qui mô kinh tế lớn nên họ xây dựng được cả một hệ thống ngành hàng hoàn chỉnh. Họ có đủ các nguyên phụ liệu từ A - Z để sản xuất hoàn chỉnh một sản phẩm, do đó giá thành sản phẩm cũng rẻ hơn so với những nước phải đi nhập khẩu nguyên phụ liệu.
Chưa kể họ có được sự liên kết giữa các ngành với nhau, tạo ra một lợi thế giá rẻ hơn cho sản phẩm của TQ.
Thứ ba, sự hỗ trợ của Chính phủ. Phải nói rằng CP TQ đã hỗ trợ được rất nhiều cho các ngành nghề sản xuất của TQ. Họ hỗ trợ về luật, về chính sách đã đành, nhưng một trong những điều rất cụ thể là: Chi phí hạ tầng. Chi phí hạ tầng của TQ rẻ hơn rất nhiều so với VN.
Cách đây mấy năm, Ngân hàng thế giới đã đưa ra số liệu chứng minh DN VN phải chịu chi phí hạ tầng đắt đỏ hơn 1,5 lần so với TQ trong vận chuyển đường bộ. Lợi thế này giúp DN TQ giảm được giá thành của sản phẩm rất đáng kể.
Đối với DN VN, vận chuyển đường bộ hay đường biển trong nước và ra ngoài quốc tế đều đắt đỏ hơn so với DN TQ. Khi CP TQ hỗ trợ chi phí hạ tầng cho các DN TQ thì các nước phương Tây cũng khó có thể tố cáo TQ bán phá giá bởi vì đây là việc làm mang tính phúc lợi cho cả xã hội, chứ không phải cho mỗi DN.
Ví dụ: Một container của TQ chở hàng sang châu Âu rẻ bằng một nửa so với chi phí phải dùng ở VN.
Thứ tư, TQ theo đuổi chính sách làm cái gì thì làm tới cùng cho được. Có khi họ không cần quan tâm nhiều hoặc bất chấp những cái thuộc về đạo lý kinh doanh hay lương tâm kinh doanh: hàng xấu, hàng độc... Ngay cả đối với người dân của họ, họ còn không quan tâm (như trẻ em của họ phải uống sữa độc hại họ còn không quan tâm) cho nên đối với người tiêu dùng nước khác dại dột mua hàng kém chất lượng và bị hại thì họ càng không coi đó là vấn đề của mình.
Điều này cũng góp phần rất lớn trong việc khiến hàng hoá TQ rẻ hơn so với các nước khác.
Chơi vơi trên sân nhà
"Ngân hàng thế giới đã đưa ra số liệu chứng minh DN VN phải chịu chi phí hạ tầng đắt đỏ hơn 1,5 lần so với TQ trong vận chuyển đường bộ. Lợi thế này giúp DN TQ giảm được giá thành của sản phẩm rất đáng kể." Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Vừa rồi, bà Phạm Chi Lan và TS. Nguyễn Minh Phong đã nói đến một hiện thực đang xảy ra trên thị trường của chúng ta. Tôi mong muốn một câu trả lời cụ thể hơn cho câu hỏi: Tại sao người TQ có thể làm vậy mà người VN thì không? Tôi rất mơ hồ vì cảm thấy rất nhiều DN VN đơn độc, mơ hồ, không biết dựa vào đâu. Tôi muốn hỏi ông Thân Đức Việt, là có bao giờ những người quan trọng nhất trong DN của ông ngồi lại để báo động rằng hàng TQ đang tràn vào, đè bẹp hàng hóa của ta? Các ông đánh giá hàng may mặc của TQ đối với thị trường may mặc VN nói chung, và May 10 nói riêng như thế nào? Dù rằng thương hiệu May 10 vẫn đang tiến lên, nhưng đó là những bước nhích rất khó khăn, nặng nhọc và tương lai xán lạn chưa thực sự mở ra. Vậy ông đánh giá thế nào về cuộc "xâm lăng" của hàng TQ kém chất lượng, nhưng vẫn thắng thế trên thị trường VN?
Ông Thân Đức Việt: Xuất khẩu hàng hóa sang 3 thị trường lớn trên thế giới là Mỹ, EU và Nhật Bản, chúng tôi đều vấp phải sự cạnh tranh rất lớn từ hàng hóa của TQ với tư cách là đối thủ cạnh tranh.
Xét trên góc độ hàng xuất khẩu của TQ vào VN thì chúng ta thường đánh giá là hàng hóa chất lượng thấp, nhưng khi xuất khẩu sang các nước khác thì phải đánh giá lại. Ở TQ có một lợi thế mà DN VN không có, đó là tính chuyên môn hóa rất cao, tính hiệp hội cũng rất cao.
Tôi từng sang Hàng Châu TQ, tại đó, có tới 4.000 DN dệt, mỗi DN chỉ chuyên môn vào một chủng loại vải nào đó. Với cách làm như vậy, tập đoàn dệt may ở VN chúng tôi có muốn đầu tư cũng không thể nào cạnh tranh nổi về giá cũng như về chất lượng.
Tính hợp tác giữa các DN dệt của TQ cũng rất mạnh. Tất cả các công ty thương mại của TQ tập trung vào một chỗ, và khi chúng tôi mua thì họ có thể đáp ứng với mức giá rất rẻ. Đó là lý do mà chúng ta rất khó cạnh tranh được với hàng TQ về mặt xuất khẩu.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Đứng riêng về lĩnh vực may mặc, nếu bây giờ tất cả các mặt hàng may mặc Trung Quốc vẫn tăng lên thì làm cách nào để may mặc nói riêng và các doanh nghiệp khác nói chung thoát khỏi sự thống trị này. Và nếu tiếp tục như vậy thì tương lai của hàng may mặc Việt Nam đứng trước hàng may mặc Trung Quốc sẽ như thế nào?
Ông Thân Đức Việt: Thực ra không chỉ riêng ngành may mặc đâu, mà chúng tôi còn lo cho các ngành khác nữa.
Trong bối cảnh hiện nay, chúng tôi rất muốn tham gia vào những chuỗi bán lẻ, cũng rất muốn những nhà phân phối mạnh giúp chúng tôi. Nhưng chúng tôi có cảm giác gì đó rất không yên lòng. Một khi chính sách của Nhà nước chưa đến nơi thì làm sao bán lẻ phát triển được. Mà bán lẻ không phát triển được thì những nhà sản xuất cung cấp cho bán lẻ cũng làm sao phát triển được. Làm gì cũng phải có thị trường, và thị trường phải có nơi có chốn, có hiệp hội này nọ.
Chúng tôi rất mong Nhà nước không chỉ ủng hộ những doanh nghiệp sản xuất mà còn nên ủng hộ những chuỗi cung ứng để cung cấp và đưa những sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất đưa ra thị trường. Đó là cái mà thực sự doanh nghiệp chúng tôi mong muốn.
Trong trường hợp chưa nhận được sự hỗ trợ từ các hiệp hội, từ các các cơ quan ban ngành thì chúng tôi vẫn phải tự cứu lấy chúng tôi, loay hoay làm thế nào để chiếm lĩnh thị phần càng lớn càng tốt. Nhưng rõ ràng nếu không có sự ra tay hỗ trợ kịp thời, doanh nghiệp chúng tôi sẽ khó khăn vô cùng trước cơn lốc hàng ngoại giá rẻ.
Tuần Việt Nam
| | | |
(12) QUỐC NỘI ĐƯƠNG ĐẦU VỚI TỔNG TẤN CÔNG HÀNG TQ
Đương đầu với cuộc “tổng tấn công” của hàng Trung Quốc 09/06/2009 15:31 (GMT + 7)
(TuanVietNam)- Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, “quét” sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các DN ta đang “thua trắng bụng”. Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới DN và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc.
Từ góc nhìn của một doanh nghiệp Việt…
Anh Đào Xuân Anh là giám đốc một công ty kinh doanh hóa mỹ phẩm ở Hà Nội. Đăng ký chức năng hoạt động là sản xuất và phân phối (bán lẻ) các loại hóa mỹ phẩm chăm sóc tóc, nhưng 4-5 năm nay, công ty của anh chỉ tập trung nguồn lực vào nhập hàng từ Trung Quốc về bán. Lý do rất đơn giản: Nhập hàng Trung Quốc có lợi hơn.
Cái lợi ở đây, anh giải thích, gồm nhiều mặt: Chi phí nhập khẩu (tính cả mua hàng lẫn vận chuyển) rẻ hơn là tự sản xuất, quy trình làm việc đơn giản và ít phải suy nghĩ hơn. “Nếu tôi mở xưởng chẳng hạn, sẽ có muôn vàn thứ phải tính: địa điểm, nhân lực, thuế má, và vô số loại chi phí không tiện nêu tên nữa.
Với tất cả những “lợi thế” đã chỉ ra đó, Việt Nam vẫn phải gánh chịu thâm hụt thương mại khổng lồ trước Trung Quốc
Trong các ngành khác thì không biết thế nào, chứ trong ngành này, tất cả các sản phẩm - từ thuốc nhuộm, tới dầu xả, dầu dưỡng v.v. - nhập từ Trung Quốc về đều rẻ hơn và giản tiện hơn tự sản xuất. Danh mục này chỉ trừ dầu gội đầu, nhưng ngay cả sản xuất dầu gội thì cũng có một số nguyên liệu phải nhập từ Trung Quốc”.
Anh nói thêm: “Đấy là tôi còn chưa kể, làm việc với phía Trung Quốc cũng khá thoải mái. Sản phẩm của họ chất lượng tốt, giá lại rẻ, mua càng nhiều càng rẻ. Họ giữ chữ tín và chiều chuộng đối tác - ít ra cho đến lúc này tôi vẫn thấy như vậy. Ở ta thì làm giám đốc doanh nghiệp nhỏ, như tôi, phải đương đầu với quá nhiều chuyện: thuế vụ, đại lý o ép, đối tác không đáng tin cậy v.v.”.
Chiến lược kinh doanh của anh Đào Xuân Anh tỏ ra hoàn toàn đúng đắn, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, chi phí sản xuất tiếp tục tăng cao. Trong khi đó, giá hàng Trung Quốc vẫn được duy trì ở mức thấp, chất lượng vẫn đảm bảo (hoặc nếu không đảm bảo thì cũng chẳng ai biết).
Và như vậy, với một công ty quy mô nhỏ, không đầy một chục người, giải pháp khôn ngoan nhất là: Cả sếp và nhân viên cùng kéo nhau sang Trung Quốc xách hàng về bán.
… tới con số nhập siêu kỷ lục của nền kinh tế
10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng 23,25 lần, đạt tới con số 15.652 tỷ USD vào năm ngoái. Cùng trong thời gian đó, kim ngạch xuất khẩu của ta theo chiều ngược lại tăng vỏn vẹn 6,08 lần, chỉ đạt 4.536 tỷ USD năm 2008.
Kết quả là con số thâm hụt thương mại kỷ lục của Việt Nam trước Trung Quốc: hơn 11 tỷ đô-la. Điều đáng sợ là không có dấu hiệu nào cho thấy con số này sẽ giảm đi.
Trong khi đó, theo đánh giá của Bộ Thương mại, Trung Quốc là thị trường trọng điểm của Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội vô cùng to lớn tại đất nước hơn 1 tỷ dân này.
Từ năm 2004, lãnh đạo hai nước đã xác định: Với lợi thế địa lý số 1 - có chung đường biên giới trên bộ dài đến hàng trăm km - với hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, đường thủy tương đối thuận tiện cho vận chuyển hàng hóa, hoạt động buôn bán qua biên giới giữa hai nước là một bộ phận cấu thành của quan hệ kinh tế.
Trên thực tế, có cơ sở để tin rằng thị trường hơn 1 tỷ dân của Trung Quốc là một mảnh đất màu mỡ, luôn “khát hàng”; và trên thực tế, Trung Quốc đã “qua mặt Mỹ để trở thành người tiêu dùng lớn nhất thế giới ở một số mặt hàng then chốt”. (*)
Riêng trong quan hệ thương mại với Việt Nam, Trung Quốc có nhu cầu cao đối với nhiều mặt hàng mà chúng ta có thế mạnh như: rau quả, thủy sản, cao su, đồ gỗ, than đá…
Với tất cả những “lợi thế” đã chỉ ra đó, Việt Nam vẫn phải gánh chịu thâm hụt thương mại khổng lồ trước Trung Quốc, doanh nghiệp ta vẫn lép vế thảm hại ngay trên sân nhà, và khủng hoảng kinh tế càng kéo dài thì ta càng “thua trắng bụng”. Vì đâu?
Tầm nhìn chiến lược của người Trung Quốc
Nhìn vào những chính sách và quy định pháp luật của Trung Quốc về mậu dịch với các nước có chung đường biên giới, trong đó có Việt Nam, mới thấy không khỏi giật mình.
Theo TS Phạm Trí Hùng (Viện Marketing và Quản trị Việt Nam), từ năm 1978, Trung Quốc bắt đầu cải cách mở cửa nền kinh tế, đã xác định “mở cửa toàn diện, nhiều hình thức, nhiều tầng”, trong đó có mở cửa ven biên giới đất liền.
“Phương châm của chiến lược mở cửa ven biên giới là: lấy mậu dịch biên giới dẫn đường, coi hợp tác kinh tế - kỹ thuật là trọng điểm, lấy khu vực lục địa làm chỗ dựa, coi việc khai thác thị trường các nước xung quanh là mục tiêu”.
TS Hùng cho biết, riêng trong cơ cấu thị trường, ngay từ cuối những năm 80, Trung Quốc đã coi mậu dịch biên giới là “đột phá khẩu” và có những chính sách quản lý rất rõ ràng, thống nhất, hướng vào việc đẩy mạnh mậu dịch biên giới, nhằm cải thiện đời sống của cư dân vùng biên giới, phát triển kinh tế vùng biên.
Chẳng hạn, Trung Quốc thực hiện những chính sách ưu đãi như: xóa bỏ mọi sự hạn chế về hình thức sở hữu đối với các thành phần tham gia mậu dịch biên giới; xóa bỏ mọi sự hạn chế, ràng buộc của chính quyền địa phương sở tại đối với mậu dịch biên giới; xóa bỏ sự hạn chế về kim ngạch, đảm bảo các giao dịch của mậu dịch biên giới qua một cửa; thực hiện việc miễn thuế, giấy phép xuất nhập khẩu đối với những hàng hóa bình thường....
Bắc Kinh còn giao quyền cho chính quyền địa phương tự định ra các mức thuế suất phải thu theo nguyên tắc: mức thuế mặt hàng cùng chủng loại cấp tỉnh quy định phải thấp hơn mức thuế của Trung ương; cấp huyện, thị quy định phải thấp hơn mức thuế của cấp tỉnh và chỉ được thu ở các cửa khẩu địa phương, còn các cửa khẩu quốc tế do hải quan thu và nộp về ngân sách trung ương.
Trung Quốc cũng đầu tư làm tốt công tác kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng hóa nhập khẩu vào nước mình, bởi họ xác định đó là “vấn đề quan trọng, đảm bảo lợi ích của Nhà nước và nhân dân, trực tiếp liên quan đến khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước”.
Những gì Bắc Kinh thực hiện cho thấy một chiến lược lâu dài, bài bản của chính phủ nhằm hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp lớn nhỏ, thuộc mọi thành phần kinh tế, cùng tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, trong đó đặc biệt ưu tiên mậu dịch biên giới. Nó cũng chứng tỏ rằng, trong việc xuất khẩu hàng hóa, chiếm lĩnh thị trường nước khác, doanh nghiệp không thể đơn lẻ.
Đừng để doanh nghiệp Việt Nam đơn độc
Ở đây phải nhấn mạnh, Nhà nước không thể đứng ngoài công cuộc hỗ trợ cho doanh nghiệp (“hỗ trợ” chứ không phải “quản lý”).
Một khi Việt Nam đã gia nhập WTO, những hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp quá trực tiếp, “lộ liễu” không còn được chấp nhận nữa vì có thể vi phạm điều lệ. Nhưng vẫn có những việc Chính phủ có thể làm – và làm tốt – để giúp doanh nghiệp nội đương đầu với hàng ngoại.
Ví dụ như cung cấp thông tin về thị trường Trung Quốc và các chính sách của Bắc Kinh đối với các thị trường láng giềng, đặc biệt là với Việt Nam. Sao cho không còn những vụ như vụ dưa hấu Việt Nam bị ách ở cửa khẩu Tân Thanh vì doanh nghiệp không cập nhật được những thay đổi trong luật kiểm dịch của Trung Quốc.
Bên cạnh đó là việc thực thi pháp luật để tiêu diệt vấn nạn hàng lậu. Chuyên gia kinh tế Bùi Trinh “than” hộ doanh nghiệp: “Đã đành là tự do cạnh tranh, doanh nghiệp làm ăn yếu kém, không hiệu quả, thì phải chịu, Chính phủ không cứu được. Nhưng buôn lậu là cái có thể ngăn chặn được chứ đâu phải vô phương chống đỡ? Vấn đề là hình như chúng ta không làm gì cả”.
Về ý kiến cho rằng vì cơ cấu xuất khẩu của ta có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc nên khó xác định được những ngành có lợi thế cạnh tranh, ông Bùi Trinh nhận xét: “Thực ra từ trước đến giờ Việt Nam chưa có chính sách xác định cụ thể một ngành nào là cần ưu tiên. Đúng hơn là ta có xác định, nhưng đều chỉ một thời gian lại thay đổi: nào dệt may, nào mía đường, nào thép… Tôi thấy cứ như thể chúng ta chưa thực sự quan tâm tới ngành nào cả”.
Doanh nghiệp VN: Phải tự cứu mình
Trước làn sóng hàng Trung Quốc, không còn thời gian để mỗi doanh nghiệp Việt Nam trong ngành có liên quan bình tâm chờ đợi một chiến lược hay vài chính sách “hỗ trợ” từ phía Nhà nước. Cải tiến thiết kế, đẩy mạnh hoạt động marketing, chủ động tìm kiếm khách hàng, là những việc doanh nghiệp ta có thể thực hiện ngay trên thị trường nội địa.
“Rõ ràng là thị trường trong nước không cung cấp đủ hàng hóa, dân có nhu cầu thì họ mua của Trung Quốc là phải” – chuyên gia kinh tế Bùi Trinh nói.
Sự chủ động, xông pha thị trường với tinh thần sáng tạo, “sẵn sàng tự do cạnh tranh”, xem ra không phải tố chất có thừa ở các doanh nghiệp Việt Nam. Cũng ông Bùi Trinh cho biết, từ ngày có chủ trương kích cầu, “nhiều công ty đang dồn nỗ lực vào việc kiếm được một khoản tiền hỗ trợ Nhà nước rót. Có công ty còn đem tiền ấy cho vay lại, kiếm lãi, thay vì tập trung vào đầu tư, sản xuất”.
Còn trong việc xuất khẩu hàng theo hướng… ngược lại, sang Trung Quốc, hơn ai hết, doanh nghiệp phải cập nhật thường xuyên thông tin về thị trường nhập khẩu, chủ động xúc tiến thương mại, nâng cao khả năng cạnh tranh. Một số chuyên gia khuyến cáo: Rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn coi nhẹ vấn đề kiểm dịch, nên hay bị phía đối tác Trung Quốc lợi dụng ép giá. Đây cũng là điều các nhà xuất khẩu phải lưu tâm.
Trong sự thảm bại của hàng Việt Nam trên sân nhà, có lẽ người tiêu dùng là ít đáng trách nhất. Bởi ở Việt Nam, thu nhập đầu người thấp, hàng hóa nội địa yếu cả về số lượng và chất lượng, người tiêu dùng quay sang hàng Trung Quốc là điều dễ hiểu. Chúng ta có thể hô hào kêu gọi tinh thần dân tộc và lòng yêu nước ở mỗi con người. Tuy nhiên, điều đó lại thuộc về một câu chuyện khác rồi
Đoan Trang
| | | |
| (13) WTO & HÀNG TRUNG QUỐC: MỒ CHÔN KINH TẾ VIỆT NAM ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 08.07.2009
Từ đầu đến giờ, trong suốt 29 Bài đã viết, chúng tôi đưa ra những lý chứng, những quan sát thực tế để cho thấy rằng tình hình Kinh tế Việt Nam đã đến hồi nguy ngập. Tuy nhiên CSVN, vì ngu muội ngồi đáy giếng hay cố tình chai lỳ bám víu lấy quyền hành, có thể cắt nghĩa rằng đó là những quan sát và nhận định mang tính cách chủ quan của tôi, thậm chí có thể xử dụng công thức thuộc lòng nói rằng đó là do “thế lức thù địch hoặc ngọai lai“ thúc đẩy và phạm vào Điều 88 Bộ Hình Luật của chính độc đảng CSVN đặt ra và cắt nghĩa theo ý muốn.
Trong Bài cuối này, chúng tôi muốn đưa ra những nhận định về tình hình nguy ngập của Kinh tế Việt Nam từ những Chuyên gia Quốc tế, nhất là trưng dẫn nguyên văn nhận định của những Chuyên gia Kinh tế tại Quốc nội đã được tăng tải tại chính Báo phát hành tại Quốc nội về sự lâm nguy xâm lăng Kinh tế của Trung quốc. Chúng tôi cũng đăng luôn nguyên văn những lời đe dọa của Trung Cộng, cấm Báo Chí Việt Nam không được nói về chủ trương xâm lăng của Trung quốc. Trước những lời cấm đóan trịch thượng này, Nhà Nước Việt Nam cúi đầu chịu nhục thê thảm.
NHỮNG CHUYÊN GIA KINH TẾ QUỐC NỘI CHO THẤY VIỆC TRÀN LAN HÀNG HÓA TRUNG QUỐC
Chúng Tôi trích lại dưới đây Bài đăng trong VietNamNet (TuanVietNam):
“Đương đầu với cuộc “tổng tấn công” của hàng Trung Quốc 09/06/2009 15:31 (GMT + 7)
(TuanVietNam)- Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, “quét” sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các DN ta đang “thua trắng bụng”. Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới DN và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc.
Từ góc nhìn của một doanh nghiệp Việt…
Anh Đào Xuân Anh là giám đốc một công ty kinh doanh hóa mỹ phẩm ở Hà Nội. Đăng ký chức năng hoạt động là sản xuất và phân phối (bán lẻ) các loại hóa mỹ phẩm chăm sóc tóc, nhưng 4-5 năm nay, công ty của anh chỉ tập trung nguồn lực vào nhập hàng từ Trung Quốc về bán. Lý do rất đơn giản: Nhập hàng Trung Quốc có lợi hơn.
Cái lợi ở đây, anh giải thích, gồm nhiều mặt: Chi phí nhập khẩu (tính cả mua hàng lẫn vận chuyển) rẻ hơn là tự sản xuất, quy trình làm việc đơn giản và ít phải suy nghĩ hơn. “Nếu tôi mở xưởng chẳng hạn, sẽ có muôn vàn thứ phải tính: địa điểm, nhân lực, thuế má, và vô số loại chi phí không tiện nêu tên nữa.
Với tất cả những “lợi thế” đã chỉ ra đó, Việt Nam vẫn phải gánh chịu thâm hụt thương mại khổng lồ trước Trung Quốc
Trong các ngành khác thì không biết thế nào, chứ trong ngành này, tất cả các sản phẩm - từ thuốc nhuộm, tới dầu xả, dầu dưỡng v.v. - nhập từ Trung Quốc về đều rẻ hơn và giản tiện hơn tự sản xuất. Danh mục này chỉ trừ dầu gội đầu, nhưng ngay cả sản xuất dầu gội thì cũng có một số nguyên liệu phải nhập từ Trung Quốc”.
Anh nói thêm: “Đấy là tôi còn chưa kể, làm việc với phía Trung Quốc cũng khá thoải mái. Sản phẩm của họ chất lượng tốt, giá lại rẻ, mua càng nhiều càng rẻ. Họ giữ chữ tín và chiều chuộng đối tác - ít ra cho đến lúc này tôi vẫn thấy như vậy. Ở ta thì làm giám đốc doanh nghiệp nhỏ, như tôi, phải đương đầu với quá nhiều chuyện: thuế vụ, đại lý o ép, đối tác không đáng tin cậy v.v.”.
Chiến lược kinh doanh của anh Đào Xuân Anh tỏ ra hoàn toàn đúng đắn, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, chi phí sản xuất tiếp tục tăng cao. Trong khi đó, giá hàng Trung Quốc vẫn được duy trì ở mức thấp, chất lượng vẫn đảm bảo (hoặc nếu không đảm bảo thì cũng chẳng ai biết).
Và như vậy, với một công ty quy mô nhỏ, không đầy một chục người, giải pháp khôn ngoan nhất là: Cả sếp và nhân viên cùng kéo nhau sang Trung Quốc xách hàng về bán.
… tới con số nhập siêu kỷ lục của nền kinh tế
10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng 23,25 lần, đạt tới con số 15.652 tỷ USD vào năm ngoái. Cùng trong thời gian đó, kim ngạch xuất khẩu của ta theo chiều ngược lại tăng vỏn vẹn 6,08 lần, chỉ đạt 4.536 tỷ USD năm 2008.
Kết quả là con số thâm hụt thương mại kỷ lục của Việt Nam trước Trung Quốc: hơn 11 tỷ đô-la. Điều đáng sợ là không có dấu hiệu nào cho thấy con số này sẽ giảm đi.
Trong khi đó, theo đánh giá của Bộ Thương mại, Trung Quốc là thị trường trọng điểm của Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội vô cùng to lớn tại đất nước hơn 1 tỷ dân này.
Từ năm 2004, lãnh đạo hai nước đã xác định: Với lợi thế địa lý số 1 - có chung đường biên giới trên bộ dài đến hàng trăm km - với hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, đường thủy tương đối thuận tiện cho vận chuyển hàng hóa, hoạt động buôn bán qua biên giới giữa hai nước là một bộ phận cấu thành của quan hệ kinh tế.
Trên thực tế, có cơ sở để tin rằng thị trường hơn 1 tỷ dân của Trung Quốc là một mảnh đất màu mỡ, luôn “khát hàng”; và trên thực tế, Trung Quốc đã “qua mặt Mỹ để trở thành người tiêu dùng lớn nhất thế giới ở một số mặt hàng then chốt”. (*)
Riêng trong quan hệ thương mại với Việt Nam, Trung Quốc có nhu cầu cao đối với nhiều mặt hàng mà chúng ta có thế mạnh như: rau quả, thủy sản, cao su, đồ gỗ, than đá…
Với tất cả những “lợi thế” đã chỉ ra đó, Việt Nam vẫn phải gánh chịu thâm hụt thương mại khổng lồ trước Trung Quốc, doanh nghiệp ta vẫn lép vế thảm hại ngay trên sân nhà, và khủng hoảng kinh tế càng kéo dài thì ta càng “thua trắng bụng”. Vì đâu?“
KHÔNG CÓ THIỆN CHÍ CHẤP NHẬN NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẠNH TRANH
Ở Bài 5 trên đây, húng tôi đã phân tích tỉ mỉ, khi vào WTO, những CÁI NGUY HẠI PHẢI CHỐNG ĐỠ. Qua những phân tích hoàn toàn trong phạm vi Kinh tế, Thương mại, chúng tôi muốn rút ra những KẾT LUẬN cho bài này về khía cạnh Chính trị làm môi trường cho việc CHỐNG ĐỠ NHỮNG CÁI NGUY HẠI hay làm điều kiện cho việc THU VÀO NHỮNG CÁI LỢI. Chúng tôi đề cập đến những điểm sau đây:
=> Tóm tắt những cái nguy hại đưa đến Thuộc địa Kinh tế => Vào WTO, những Điều kiện tăng Cạnh tranh hữu hiệu
Tóm tắt những cái nguy hại đưa đến Thuộc địa Kinh tế
Không phải chỉ riêng những phân tích của chúng tôi về những cái nguy hại, mà chính những nhà Kinh tế quốc tế hoặc thuộc chế độ CSVN đã xác nhận.
Những nguy hại từ hai bài phân tích của chúng tôi.
Đó là những nguy hại mà chính chúng tôi liệt kê tóm tắt như sau:
=> Hàng hóa nước ngoài, nhất là từ những nước chung quanh đã tiến trước, cạnh tranh và tiêu diệt, ở chính trên lãnh thổ mình, những hàng hóa thuộc công nghệ Việt Nam mới ở giai đoạn phát sinh (les Industries naissantes). Việt Nam dễ trở thành thuộc địa Kinh tế của Trung cộng về hàng công nghệ chẳng hạn.
=> Trong chế độ độc tài độc đảng hiện nay, tham nhũng cấu kết với tài phiệt ngoại lai để bóc lột lao động.
=> Thiệt hại nặng hơn cả là việc giết chế nông nghiệp và ngư nghiệp, nguồn phát triển sống còn của nước mình.
=> CSVN hồ hởi vào WTO nhằm mục đích chính yếu là cũng cố quyền lực Chính trị độc tài hơn là những đắn đo về Kinh tế.
Xác nhận những nguy hại từ những nhà Kinh tế
Những nhà Kinh tế quốc tế cũng như quốc nội (CSVN) đều nhìn thấy những nguy hại của việc vào WTO với tình trạng Kinh tế cũng như Chính trị hiện hành:
=> Tiến sĩ Carl THAYER, Giám đốc Diễn đàn Nghiên cứu Quốc phòng của Đại học New South Wales, đã nêu ra 6 cái nguy hại cho Việt Nam khi gia nhập WTO.
=> Ngày 7/11/06, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tổ chức một cuộc hội thảo với chủ đề "Xây dựng văn hoá doanh nghiệp, văn hoá doanh nhân trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế". Theo đó cho biết, 92% doanh nghiệp kinh doanh bình thường và kém. Chính CSVN xác nhận sự yếu kém của mình về cả sản xuất cụ thể lẫn kiến thức về doanh nghiệp. WTO không phải là nơi đại hội tưng bừng đến đó để chia phần bánh, mà là một đấu trường kẻ mạnh diệt kẻ yếu không thương tiếc. Đây là nơi đấu tranh về tiền bạc.
Vào WTO mà thiếu thiện chí tạo những Điều kiện tăng Cạnh tranh hữu hiệu
WTO là Tổ chức Thương mại Thị trường Tự do mà Tư hữu và Cá nhân là chủ động, không có sự can thiệp trắng trợn của quyền lực Chính trị. Vào Tổ chức, không thể quen thói gian lận, bịp bợm của một thể chế Chính trị độc tài độc đảng với hệ thống Công ty quốc doanh, hệ thống làm ăn Mafia gia đình, Mafia đảng.
Vào WTO, phải phế bỏ Cơ Chế VN hiện hành
Đây không phải là sự đòi buộc mang tính cách đấu tranh Chính trị để chiếm quyền lực mà là sự đòi buộc cho tương lai phát triển Kinh tế Việt Nam. Cái Cơ chế hiện hành đã đưa Việt Nam đến tình trạng Kinh tế lúc này trước khi vào WTO với những nguy hại mà chúng tôi đã phân tích trên đây và được xác nhận bởi những nhà Kinh tế quốc tế và quốc nội. Nếu chúng ta vẫn duy trì cơ chế độc tài độc đảng hiện hành, thì về mặt cụ thể, Việt Nam dễ trở thành một thuộc địa Kinh tế, và về mặt lý thuyết, không có sự phù hợp giữa Kinh tế / Thương mại Tự do Thị trường và cơ chế độc tài độc đảng luôn áp chế Chính trị độc đoán vào sinh hoạt Kinh tế Tư nhân tự do.
Vào WTO, phải tôn trọng Tư Hữu và quyền Tự do Sinh hoạt Kinh tế Tư doanh Không thể dùng lời khuyên, khích lệ, cổ võ tinh thần mà diệt được Tham nhũng, kẻ thù của phát triển Kinh tế Tự do Thị trường. Đối lập quyền lực và Chính trị là biện pháp chính để ngăn chặn Tham nhũng. Những quy luật của Tổ chức Mậu dịch Quốc tế được thiết lập trên căn bản của nền Kinh tế Tự do Thị trường của những sinh hoạt Kinh tế tư nhân, phạm vi có Năng Suất tối đa và do đó có khả năng Cạnh tranh hữu hiệu trên Thị trường Tự do. Cần diệt Tham nhũng từ một Cơ Chế làm phát sinh và nuôi dưỡng và cần theo quy luật WTO đặt căn bản trên Tự do Cạnh tranh, thì phải có một Thể Chế lấy giải quyết những tranh chấp Kinh tế/ Thương mại theo nguyên tắc DÂN CHỦ giữa những tác nhân Kinh tế/ Thương mại.
Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp phải do chính những Tác nhân Kinh tế lập nên
Một nền Kinh tế Tự do và Thi trường không được đặt trong một Môi trường Chính trị-Luật pháp cho phép tập trung những quyết định Kinh tế vào một quyền lực Chính trị độc tài. Đó là Môi trường tréo cẳng ngỗng. Phải có một Môi trường Chính trị-Luật pháp tôn trọng nguyên tắc DÂN CHỦtrong những quyết định liên hệ đến Kinh tế/ Thương mại. Khi những điều kiện trên đây được tôn trọng, thì những Tác nhân Kinh tế/ Thương mại tự động thiết lập lên Môi trường Chính trị-Luật pháp cho phù hợp. Chúng tôi ít khi nói đến một nền Chính trị Dân Chủ đa nguyên như một sự họp lại của giới làm Chính trị (đa Đảng) để định đoạt cho giới Tư doanh. Chúng tôi càng không nói tới một thứ Dân Chủ do một đảng độc tài ban phát ra cho Dân.
Chúng tôi quan niệm rằng một Môi trường Chính trị-Luật pháp phù hợp cho nền Kinh tế Tự do và Thị trường là kết quả của một Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế đem đến Dân chủ hóa Chính trị.
NHỤC NHÃ KHIẾP SỢ CHÍNH KẺ CHỦ TRƯƠNG XÂM LĂNG KINH TẾ VN
Trong Bài 5 trên đây, chúng tôi đã trình bầy những biện pháp chống đỡ cạnh tranh trên sân nhà, rồi trong Bài này, chúng tôi vừa đề nghị những biện pháp phải có thiện chí chấp nhận để làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Nhà Nước không những không làm hai phương diện ấy, mà còn hèn hạ cúi đầu chấp nhận những chỉ dậy của chính Trung quốc chủ trương xâm lăng Kinh tế Việt Nam.
Chứng cớ là Hồ Tỏa Cẩm, một Tham Tán Kinh tế-Thương mại của Sứ quán Trung quốc tại Hà Nội đã lên tiếng chỉ dậy những Chuyên gia Kinh tế Việt Nam và ra lệnh cho Báo Chí Việt Nam mà Nhà Nước vẫn cúi đầu nhịn nhục vâng dạ.
Chúng tôi đọc những lời khuyên cáo của Hồ Tỏa Cẩm, Tham tán Kinh tế - Thương Mại tại Sứ quán Trung Quốc Hà Nội, nhằm công kích những Chuyên gia Kinh tế Việt Nam nhận định về sự lan tràn hàng hóa Trung quốc tại Việt Nam. Những Chuyên gia này noi len một thực trạng hòan tòan trong lãnh vực Kinh tế, Thương mại. Trong khi đó, những lời công kích, khuyến cáo của Hồ Tỏa Cẩm chỉ nói đến những gì ngòai lãnh vực Kinh tế, Thương mại như Tình Hữu Nghị Việt-Trung, Tình anh em gắn bó lâu năm trong Xã Hội Chủ nghĩa, Việt Nam phải quản lý Báo chí, cụ thể Việt Nam để VietNamNet đụng chạm đến Chủ trương Kinh tế, Thương mại của Chính phủ Trung quốc.
Những lới công kích ngòai phạm vi Kinh tế, Thương mại này của Hồ Tỏa Cẩm chứng tỏ ông không phải là một Tham Tán Kinh tế-Thương mại, mà chỉ là một Tham tán Chính trị Thiên Triều muốn Nhà Nước Thái thú Việt Nam trừng phạt những Chuyên gia Kinh tế-Thương mại, thậm chí phải khóa miệng những Báo chí dám đụng đến Thiên Triều.
Chúng tôi trích đăng lại đây Bài của Linh Thủy viết từ Quốc nội
“Sứ Quán Trung Quốc Đòi “Khuyến Cáo, Nhắc Nhở VietNamNet” Linh Thủy
Sau khi Tuần Việt Nam thực hiện bàn tròn trực tuyến "Giải pháp với hàng Trung Quốc chất lượng thấp" theo yêu cầu của đông đảo độc giả, Đại sứ quán Trung Quốc đã có một số phản hồi về cuộc thảo luận này.
Công kích các Chuyên gia Kinh tế VN không tôn trọng tình hữu nghị.
Tham tán Kinh tế - Thương Mại Hồ Tỏa Cẩm đã có buổi trao đổi với Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ Thông tin & Truyền Thông, Quản Duy Ngân Hà.
Ông Hồ Tỏa Cẩm nói mình đã có 12 năm gắn bó với VN.
Bắt đầu phần trình bày, ông Cẩm nói bằng tiếng Hoa, để một người phiên dịch dịch lại qua tiếng Việt. Nhưng sau đó ít phút, ông đã trực tiếp nói bằng tiếng Việt.
Tham tán Kinh tế - Thương Mại Hồ Tỏa Cẩm: "Tuần Việt Nam – VietNamNet đã có những ngôn luận không hữu nghị với Trung Quốc"
Ông Hồ Tỏa Cẩm nói được sự ủy quyền của ngài Đại sứ, thay mặt Đại sứ quán Trung Quốc, nói về buổi tọa đàm bàn tròn trên VietNamNet:
Trong ngày 16/6, Tuần Việt Nam – báo VietNamNet đã phát biểu những ngôn luận không hữu nghị với Trung Quốc trong bài: "Giải pháp với hàng Trung Quốc chất lượng thấp".
Trong bài này có chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan. Bà ấy tôi cũng biết, trước là phó chủ tịch VCCI. Có Nguyễn Minh Phong – học giả về kinh tế. Hai ông bà này là có tên tuổi, nhất là bà Phạm Chi Lan, chúng tôi cũng có tiếp xúc nhiều lần. Lần này, bà ấy phát biểu những lời không hữu nghị.
Bào chữa cho chủ trương xâm lấn Kinh tế của Trung quốc
Chúng tôi chấp nhận là hàng hóa Trung Quốc bây giờ vào VN rất nhiều, thông qua hai con đường chính ngạch và tiểu ngạch. Có hàng giả hàng nhái.
Do chủ yếu không phải chính phủ Trung Quốc làm thế nào, mà theo cơ chế thị trường. Bên này có người mua, có người nhận, bên kia có người giúp.
Nhưng trong đó, trong buổi tọa đàm này, bà Phạm Chi Lan gọi hàng Trung Quốc là “lũ quét”. Chúng tôi không thể chấp nhận được. "Lũ quét" là gì, là một cái gì rất có hại, tai hại. Mạnh hơn lũ lụt. Không phải.
Thực ra, chính phủ VN vẫn luôn hoan nghênh hàng TQ vào VN.
Tôi chỉ ra là nêu hàng TQ là lũ quét là không đúng. Không phù hợp. Không nên như vậy. Lần này, trọng tâm là tôi nói về bà Phạm Chi Lan nói sâu vào chính phủ Trung Quốc.
Nếu mà chúng tôi, chính phủ TQ là như vậy, thế thì thôi, thì chúng tôi chấp nhận. Nhưng thật ra là mà không phải vậy. Không phải là chính phủ Trung Quốc là chính phủ không có lương tâm.
Còn chuyên gia Nguyễn Minh Phong cũng có lời nói TQ đã hi sinh 750 triệu người nông dân của họ để có giá thành lao động cực thấp. Thực ra là không phải.
Cơ quan báo chí coi người Phạm Chi Lan, Nguyễn Minh Phong này là chuyên gia – coi là chuyên gia rất là hiểu Trung Quốc. Thực ra tôi không biết bà ấy đi Trung Quốc mấy lần. Tôi đoán là bà ấy không hiểu Trung Quốc.
Lại khẳng định "tình anh em" Sau khi nêu các ý không tán đồng các ý kiến của chuyên gia VN đưa ra, ông Hồ Tỏa Cẩm khẳng định:
"Hiện giờ chúng ta có quan hệ gọi là đối tác hợp tác chiến lược toàn diện. Trung Quốc với các nước khác là không có quan hệ này. Việt Nam cũng như vậy. Hai nước ta là Xã hội Chủ nghĩa. Đều coi trong đời sống dân sinh, không phải coi thường dân sinh. Cho nên giới báo chí phải làm theo lời, thỏa thuận của 2 chính phủ, 2 nhà nước."
"Xuất phát từ quan điểm này, tôi thấy VietNamNet chưa làm đúng thỏa thuận của hai nước." – Ông Cẩm nhắc lại.
“Đối với những người ấy, phát biểu không đúng sự thực. Tôi sẵn sàng trao đổi với ông bà ấy về Trung Quốc. Hai người này được coi là chuyên gia Trung Quốc. Nhưng cũng có cả phóng viên Nguyễn Quang Thiều. Mấy ông này là theo dõi Trung Quốc từ nhiều năm, ở Đông Âu hay là Liên Xô cũ. Trung Quốc không phải cửa quan như vậy đâu.”
“Mong muốn khuyến cáo, nhắc nhở, cảnh thị" VietNamNet Ông Hồ Tỏa Cẩm đã nhắc lại không dưới 3 lần, mong muốn các cơ quan VN phải "khuyến cáo, nhắc nhở, cảnh thị" báo VietNamNet.
"Bài này đăng trên mạng VietNamNet, có nhiều nơi kể cả ở Trung Quốc cũng biết. Bây giờ, về internet truyền bá rất nhanh, kể cả nước ngoài. Chính phủ VN cho phép đăng những bài này, làm cho chúng tôi thấy là ngạc nhiên." - Người từng có "12 năm gắn bó với VN" nói.
“Lần này chúng tôi chỉ mong muốn là Bộ TT&TT nhắc nhở, đề xuất, cảnh thị với những người có liên quan, những cơ quan thông tấn báo chí, cụ thể là VietNamNet, nếu làm về hàng Trung Quốc, cứ làm thôi, không có vấn đề gì, nhưng làm trước hết phải đúng sự thực.
Thứ hai là đăng những bài vừa phải, TQ cũng như VN, mình phải nghĩ đến chính sách báo chí của nhà nước.
Tôi làm báo chí lâu năm tại Tân Hoa Xã, trong đó có 2 năm thường trú tại VN. Tôi rất là biết báo chí VN. Bây giờ giới báo chí 2 nước rất hay trao đổi với nhau. Hai nước có quan hệ rất là tốt. Tại sao lại có vấn đề như vậy?
Sứ quán chúng tôi mong là những cơ quan có liên quan kiểm điểm công việc này. Không để việc này tổn hại, thương hại cho dân chúng TQ, thương nhân TQ, chính phủ TQ.”
"Nhắc nhở quản lý" Báo chí và "khẳng định tình thân" Việt-Trung
Ngay sau những lời khẳng định của bà Quản Duy Ngân Hà: “việc đăng những bài ấy là chuyện của tòa soạn.”, ông Cẩm nói lại: "Với những bài có liên quan tới quan hệ đối ngoại, chính trị, bộ phận nội bộ, không nên tung ra bên ngoài mà không có quản lý. Lần này tôi muốn nghe khẳng định lại, mong cơ quan quản lý báo chí VN, nếu báo chí nào đăng những bài có liên quan tới quan hệ đối ngoại, có liên quan đến vấn đề nhạy cảm, thì theo tôi cũng quản lý được. Nếu trước kia quản lý chưa kĩ, thì sau này – tôi gọi là có thể quản lý được, can thiệp được."
Sau đó, ông Cẩm lại tiếp tục nói về tình thân của mình đối với Việt Nam và tình cảm hai nước Việt - Trung:
"Chúng tôi rất vui mừng chừng kiến sự phát triển của VN. Rất vui là VN cùng TQ là 2 nước anh em cùng phát triển. Tôi rất là mong muốn sau này chúng ta gặp nhau, chúc mừng những thành quả mà 2 nước đã đạt được."
Không thể nhân danh Tình thương mà ăn cướp tiền bạc của nhau
Tình yêu thương, tình Hữu nghị là trừu tượng và người ta có thể nhân danh những tiếng đó để cướp dựt tiền bạc của nhau. Tiêu chuẩn để nói về Kinh tế-Thương mại là sự công bằng quyền lợi vật chất, tiền bạc. Nhưng Chuyên gia Kinh tế Việt Nam đã nhận định theo đúng tiêu chuẩn Kinh tế-Thương mại. Còn Hồ Tỏa Cẩm lấy tiêu chuẩn tình thương, tình hữu nghị mà nói về Kinh tế-Thương mại. Điều đó chứng tỏ rằng : một là ông ngu dốt không xứng đáng mang danh Tham Tán Kinh tế-Thương mại, hai là ông giả hình lấy điều nhân nghĩa để che đậy một sự cướp dựt trắng trợn.
Chúng tôi đưa ra đây ba tỉ dụ để cho Hồ Tỏa Câm thấy rằng về lãnh vực Kinh tế-Thương mại, phải lấy tiêu chuẩn công bằng quyền lợi vật chất, tiền bạc mà thảo luận và quyết định.
Tỉ dụ thứ nhất : Vợ chồng ký giấy tách rời tài sản, tiền bạc
Tình thương yêu Vợ Chồng còn cao hơn gấp bội tình Hữu Nghị. Hai người thanh niên nam nữ yêu nhau thắm thiết, thậm chí chàng thanh niên còn tuyên bố sẵn sàng chết vì nàng. Thế rồi hai người xỏ nhẫn cho nhau thề sống suốt đời với nhau trong tình nghĩa Vợ Chồng. Không tình cảm nào, như tình Hữu nghị chẳng hạn, có thể cao hơn tình yêu Vợ Chồng. Thế mà liền sau khi ký Giấy Cưới nhau, hai người ký Bản Giao Kèo Tách rời Tài sản (Séparation des Biens). Tài sản thuộc lãnh vực vật chất, Kinh tế, Tiền bạc, không thể lấy Tình yêu, hoặc tình Hữu nghị, mà giải quyết.
Tỉ dụ thứ hai : Thỏa thuận Đền bù Thương mại giữa hai nước (Effets compensatoires bilatéraux)
Stuart MILL, một trong những ông tổ của giao dịch thương mại quốc tế cùng với Adam SMITH, David RICARDO, đã nêu ra vấn đề Thỏa thuận Đền bù trong những Hợp Đồng Thương mại tay đôi giữa hai Quốc gia. Thực vậy, khi hai Quốc gia thảo luận và ký kết tay đôi thương mại về một mặt hàng trao đổi, nếu vì những điều kiện thực tế bất khả kháng mà một nước mất chút quyền lợi về mặt hàng đó, thì nước mất chút quyền lợi này có quyền đòi hỏi nước kia phải dành quyền lợi lớn hơn trong Hợp Đồng về mặt hàng khác để đền bù. Đó là sự công bằng trong giao dịch thương mại, chứ không phải vì tình thương yêu hay hữu nghị. Kinh tế, Thương mại lấy sự đền bù quyền lợi vật chất cho công bằng.
Tỉ dụ thứ ba : WTO/OMC và Điều khỏan Quốc gia Ưu đãi.
WTO/OMC luôn luôn khuyên hai Quốc gia khi ký những Hợp Đồng Thương mại tay đôi (Contrat Commercial Bilatéral), nên cho vào Hợp Đồng Điều khỏan tuyên bố nước kia là Quốc gia ưu đãi (Clause de la Nation la plus favorisée). Đây là câu tuyên bố Tình yêu giữa hai nước. Câu tuyên bố này khiến hai Quốc gia ký kết có quyền tự động áp dụng những quyền lợi nếu Quốc gia ký kết dành cho một nước thứ ba trong tương lai. Không phải Tổng thống, Thủ tướng một Quốc gia có thể ký kết Điều khỏan này một cách dễ dàng bởi vì đây là quyền lợi Kinh tế, Thương mại của một Quốc gia. Hồ Tỏa Cẩm không thể chỉ nói suông tình hữu nghị, tình am em, mà lấy quyền lợi Kinh tế, Thương mại cho Trung quốc. Những chuyên gia Kinh tế, Thương mại Việt Nam nhìn trước hết vấn đề công bằng quyền lợi trong lãnh vực này. Những Chuyên gia KT/TM Việt Nam không thể vì tình hữu nghị, tình am em XHCN mà yên tiếng khi thấy cán cân Thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam hòan tòan thất lợi cho Việt Nam : «10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng 23,25 lần, đạt tới con số 15.652 tỷ USD vào năm ngoái. Cùng trong thời gian đó, kim ngạch xuất khẩu của ta theo chiều ngược lại tăng vỏn vẹn 6,08 lần, chỉ đạt 4.536 tỷ USD năm 2008»
Chủ trương Trung quốc xâm chiếm Kinh tế Á châu đã được Quốc tế nhìn rõ
Hồ Tỏa Cẩm muốn nêu cao sự đứng đắn của Trung quốc trong lãnh vực Kinh tế/Thương mại để công kích các Chuyên gia Việt Nam nói sai sự thật về Trung quốc. Ý đồ xâm lăng Kinh tế Trung quốc sang các nước nghèo Á châu, trong đó có Việt Nam mà Trung quốc coi như chư hầu, đã được quốc tế phân tích và nhìn rõ.
Hồ Tỏa Cẩm hay đọc lại Bản tin sau đây của Tân Hoa Xã tháng tư vừa rồi :
Bản Tin: «Theo Tân Hoa xã, Trung Quốc đang chuẩn bị thành lập quỹ hợp tác đầu tư 10 tỷ USD với ASEAN và cho các nước khu vực này vay 15 tỷ USD, trong bối cảnh khu vực đang nỗ lực đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì ngày 14-4 cho biết, quỹ đầu tư trên sẽ thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng nối Trung Quốc với 10 nước thành viên ASEAN, trong khi các khoản cho vay sẽ có thời hạn từ 3 đến 5 năm.
Tuyên bố cũng cho biết Trung Quốc dự định viện trợ cho Campuchia, Lào và Myanmar 39,5 triệu USD và tặng 300.000 tấn gạo cho quỹ dự trữ gạo khẩn cấp Đông Á để tăng cường an ninh lương thực.
Theo ông Dương Khiết Trì, những đề nghị này nhằm phản ánh quyết tâm và trách nhiệm của Chính phủ Trung Quốc trong việc thúc đẩy sự hợp tác với ASEAN ».
Cũng trong tháng tư, chúng tôi đã viết hai bài về ý đồ này của Trung Quốc. Chúng tôi đăng kèm dưới đây. Trung quốc không bỏ ra USD.25 tỉ để cứu nhân độ thế đâu như lời ca tụng của Hồ Tỏa Cẩm.“
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | |
(14) TỪ CÔNG NGHỆ HÓA ĐẾN PHÂN PHỐI HÀNG TRUNG QUỐC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 02.07.2009 & 03.09.2009
Nhà Nước CSVN vẫn huênh hoang chương trình vĩ mô Công Nghệ hóa Kinh tế Việt Nam. Dưới chiêu bài này, những Dự án, những Khu chế xuất có quyền ưu tiên tịch thu đất trồng cấy khiến Nông nghiệp thiệt hại. Nhà Nước hy sinh Nông nghiệp, một căn bản sẵn có và truyền thống của đại đa số Dân Việt sinh sống.
Vì quá lệ thuộc vào Trung quốc để bảo đảm quyền lực Chính trị, đảng CSVN đang biến cái gọi là Công nghệ hóa thành thảm cảnh tổ chức phân phối cho hàng hóa Trung quốc.
Thực vậy, CSVN để tự do nhập nội hàng hóa Trung quốc. Tại Thị trường hàng hóa, hai yêu tố cạnh tranh chủ yếu là GIÁ CẢ và PHẨM CHẤT (Prix et Qualité) của món hàng.
Giá cả hàng Trung quốc rẻ hơn
Giá bán tùy thuộc vào giá thành sản xuất. Hệ thống sản xuất công/ kỹ nghệ ngày nay là hệ thống những linh kiện cấu thành món hàng cuối cùng. Đó là hệ thống liên đới sản xuất những bộ phận cấu thành (système de sous-traitance des pìeces détachées). Món hàng cuối củng sẵn sàng cho tiêu thụ chỉ là việc ráp nối (assemblage) những bộ phận. Không một Công ty nào sản xuất tòan bộ những bộ phận cấu thành món hàng cuối cùng. Đây không phải là việc bất lực về khả năng, mà là vì giá thành của món hàng cuối cùng sẽ tăng lên gấp bội.
Khi món hàng cuối củng được chia ra thành những bộ phân riêng rẽ, thì những bộ phận này sẽ do những xí nghiệp chuyên môn sản xuất trong hệ thống liên đới. Vì chỉ sản xuất những bộ phận chuyên môn, nên những Xí nghiệp này có thể tăng lượng sản xuất để triệt tiêu phí tổn trang bị máy móc sản xuất (Installation des équipements).
Yếu tố khách quan làm cho những món hàng Trung quốc rẻ hơn hàng Việt Nam, đó là Trung quốc có thể tăng rất lớn lượng sản xuất những linh kiện. Trung quốc sản xuất từ A tới Z của một mặt hàng là như vậy.
Cùng sản xuất một mặt hàng như Trung quốc, nhưng Việt Nam phải mua lại từ Trung quốc những bộ phận cấu thành mặt hàng cuối cùng. Vì vậy mà mặt hàng Việt Nam bán ở Thị trường không thể nào rẻ hơn mặt hàng của Trung quốc.
Cũng chính vì điểm này, mà những Công ty Tây phương đặt mua linh kiện tại Trung quốc.
Phẩm chất của món hàng
Hệ thống sản xuất liên đới những linh kiện (système de sous-traitance des pìeces détachées) không phải chỉ làm giảm giá thành sản xuất, mà còn cho phép những Công ty chuyên nghiệp có thời giờ và cô đọng khả năng vào việc kiện tòan phẩm chất của từng bộ phận, từng linh kiện. Thực vậy, những Công ty chuyên nghiệp này dành trọn thời giờ cho Nhóm Nghiên cứu (Equipe de recherche) chuyên tâm vào một linh kiện, một bộ phận. Đây là việc làm tăng phẩm chất chuyên môn cho sản phẩm. Vấn đề cạnh tranh trên Thị trường không phải chỉ nguyên giá cả mà trở thành cạnh tranh về phẩm chất chuyên môn, kiện tòan của từng linh kiện cấu thành. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh được áp dụng triệt để ở hệ thống sản xuất linh kiện công nghệ và kỹ nghệ hiện nay.
Trung quốc có điều kiện phát triển hệ thống liên đới sản xuất từ A tới Z và tất nhiên họ có điều kiện kiện tòan phẩm chất mặt hàng cuối cùng hơn Việt Nam
Công nghệ hóa Việt Nam hay Việt Nam phân phối hàng công nghệ Trung quốc
Chúng tôi rất đau lòng đọc tin sau đây từ Quốc nội: “(TuanVietNam)- Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, “quét” sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các DN ta đang “thua trắng bụng”. Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới DN và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc.“ Cán cân Thương Mại giữa Trung quốc và Việt Nam cho thấy cuộc xâm lăng Kinh tế tại Việt Nam mỗi ngày một tăng mạnh: “10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng 23,25 lần, đạt tới con số 15.652 tỷ USD vào năm ngoái. Cùng trong thời gian đó, kim ngạch xuất khẩu của ta theo chiều ngược lại tăng vỏn vẹn 6,08 lần, chỉ đạt 4.536 tỷ USD năm 2008.“
Oâng ĐÀO XUÂN ANH, chủ một Công ty sản xuất, đã kết luận:”Chi phí nhập khẩu (tính cả mua hàng lẫn vận chuyển) rẻ hơn là tự sản xuất, quy trình làm việc đơn giản và ít phải suy nghĩ hơn.“ Từ là Doanh nhân sản xuất công nghệ, Oâng trở thành một Thương gia phân phối hàng Trung quốc !
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
(15) TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT-TRUNG ĐỂ XÂM LĂNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 05.07.2009
Chúng tôi đọc những lời khuyên cáo của Hồ Tỏa Cẩm, Tham tán Kinh tế - Thương Mại tại Sứ quán Trung Quốc Hà Nội, nhằm công kích những Chuyên gia Kinh tế Việt Nam nhận định về sự lan tràn hàng hóa Trung quốc tại Việt Nam. Những Chuyên gia này noi len một thực trạng hòan tòan trong lãnh vực Kinh tế, Thương mại. Trong khi đó, những lời công kích, khuyến cáo của Hồ Tỏa Cẩm chỉ nói đến những gì ngòai lãnh vực Kinh tế, Thương mại như Tình Hữu Nghị Việt-Trung, Tình anh em gắn bó lâu năm trong Xã Hội Chủ nghĩa, Việt Nam phải quản lý Báo chí, cụ thể Việt Nam để VietNamNet đụng chạm đến Chủ trương Kinh tế, Thương mại của Chính phủ Trung quốc.
Những lới công kích ngòai phạm vi Kinh tế, Thương mại này của Hồ Tỏa Cẩm chứng tỏ ông không phải là một Tham Tán Kinh tế-Thương mại, mà chỉ là một Tham tán Chính trị Thiên Triều muốn Nhà Nước Thái thú Việt Nam trừng phạt những Chuyên gia Kinh tế-Thương mại, thậm chí phải khóa miệng những Báo chí dám đụng đến Thiên Triều.
Sứ Quán Trung Quốc Đòi “Khuyến Cáo, Nhắc Nhở VietNamNet” Linh Thủy
Sau khi Tuần Việt Nam thực hiện bàn tròn trực tuyến "Giải pháp với hàng Trung Quốc chất lượng thấp" theo yêu cầu của đông đảo độc giả, Đại sứ quán Trung Quốc đã có một số phản hồi về cuộc thảo luận này.
Công kích các Chuyên gia Kinh tế VN không tôn trọng tình hữu nghị. Tham tán Kinh tế - Thương Mại Hồ Tỏa Cẩm đã có buổi trao đổi với Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ Thông tin & Truyền Thông, Quản Duy Ngân Hà.
Ông Hồ Tỏa Cẩm nói mình đã có 12 năm gắn bó với VN.
Bắt đầu phần trình bày, ông Cẩm nói bằng tiếng Hoa, để một người phiên dịch dịch lại qua tiếng Việt. Nhưng sau đó ít phút, ông đã trực tiếp nói bằng tiếng Việt.
Tham tán Kinh tế - Thương Mại Hồ Tỏa Cẩm: "Tuần Việt Nam – VietNamNet đã có những ngôn luận không hữu nghị với Trung Quốc"
Ông Hồ Tỏa Cẩm nói được sự ủy quyền của ngài Đại sứ, thay mặt Đại sứ quán Trung Quốc, nói về buổi tọa đàm bàn tròn trên VietNamNet:
Trong ngày 16/6, Tuần Việt Nam – báo VietNamNet đã phát biểu những ngôn luận không hữu nghị với Trung Quốc trong bài: "Giải pháp với hàng Trung Quốc chất lượng thấp".
Trong bài này có chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan. Bà ấy tôi cũng biết, trước là phó chủ tịch VCCI. Có Nguyễn Minh Phong – học giả về kinh tế. Hai ông bà này là có tên tuổi, nhất là bà Phạm Chi Lan, chúng tôi cũng có tiếp xúc nhiều lần. Lần này, bà ấy phát biểu những lời không hữu nghị.
Bào chữa cho chủ trương xâm lấn Kinh tế của Trung quốc
Chúng tôi chấp nhận là hàng hóa Trung Quốc bây giờ vào VN rất nhiều, thông qua hai con đường chính ngạch và tiểu ngạch. Có hàng giả hàng nhái.
Do chủ yếu không phải chính phủ Trung Quốc làm thế nào, mà theo cơ chế thị trường. Bên này có người mua, có người nhận, bên kia có người giúp.
Nhưng trong đó, trong buổi tọa đàm này, bà Phạm Chi Lan gọi hàng Trung Quốc là “lũ quét”. Chúng tôi không thể chấp nhận được. "Lũ quét" là gì, là một cái gì rất có hại, tai hại. Mạnh hơn lũ lụt. Không phải.
Thực ra, chính phủ VN vẫn luôn hoan nghênh hàng TQ vào VN.
Tôi chỉ ra là nêu hàng TQ là lũ quét là không đúng. Không phù hợp. Không nên như vậy. Lần này, trọng tâm là tôi nói về bà Phạm Chi Lan nói sâu vào chính phủ Trung Quốc.
Nếu mà chúng tôi, chính phủ TQ là như vậy, thế thì thôi, thì chúng tôi chấp nhận. Nhưng thật ra là mà không phải vậy. Không phải là chính phủ Trung Quốc là chính phủ không có lương tâm.
Còn chuyên gia Nguyễn Minh Phong cũng có lời nói TQ đã hi sinh 750 triệu người nông dân của họ để có giá thành lao động cực thấp. Thực ra là không phải.
Cơ quan báo chí coi người Phạm Chi Lan, Nguyễn Minh Phong này là chuyên gia – coi là chuyên gia rất là hiểu Trung Quốc. Thực ra tôi không biết bà ấy đi Trung Quốc mấy lần. Tôi đoán là bà ấy không hiểu Trung Quốc.
Lại khẳng định "tình anh em"
Sau khi nêu các ý không tán đồng các ý kiến của chuyên gia VN đưa ra, ông Hồ Tỏa Cẩm khẳng định:
"Hiện giờ chúng ta có quan hệ gọi là đối tác hợp tác chiến lược toàn diện. Trung Quốc với các nước khác là không có quan hệ này. Việt Nam cũng như vậy. Hai nước ta là Xã hội Chủ nghĩa. Đều coi trong đời sống dân sinh, không phải coi thường dân sinh. Cho nên giới báo chí phải làm theo lời, thỏa thuận của 2 chính phủ, 2 nhà nước."
"Xuất phát từ quan điểm này, tôi thấy VietNamNet chưa làm đúng thỏa thuận của hai nước." – Ông Cẩm nhắc lại.
“Đối với những người ấy, phát biểu không đúng sự thực. Tôi sẵn sàng trao đổi với ông bà ấy về Trung Quốc. Hai người này được coi là chuyên gia Trung Quốc. Nhưng cũng có cả phóng viên Nguyễn Quang Thiều. Mấy ông này là theo dõi Trung Quốc từ nhiều năm, ở Đông Âu hay là Liên Xô cũ. Trung Quốc không phải cửa quan như vậy đâu.”
“Mong muốn khuyến cáo, nhắc nhở, cảnh thị" VietNamNet
Ông Hồ Tỏa Cẩm đã nhắc lại không dưới 3 lần, mong muốn các cơ quan VN phải "khuyến cáo, nhắc nhở, cảnh thị" báo VietNamNet.
"Bài này đăng trên mạng VietNamNet, có nhiều nơi kể cả ở Trung Quốc cũng biết. Bây giờ, về internet truyền bá rất nhanh, kể cả nước ngoài. Chính phủ VN cho phép đăng những bài này, làm cho chúng tôi thấy là ngạc nhiên." - Người từng có "12 năm gắn bó với VN" nói.
“Lần này chúng tôi chỉ mong muốn là Bộ TT&TT nhắc nhở, đề xuất, cảnh thị với những người có liên quan, những cơ quan thông tấn báo chí, cụ thể là VietNamNet, nếu làm về hàng Trung Quốc, cứ làm thôi, không có vấn đề gì, nhưng làm trước hết phải đúng sự thực.
Thứ hai là đăng những bài vừa phải, TQ cũng như VN, mình phải nghĩ đến chính sách báo chí của nhà nước.
Tôi làm báo chí lâu năm tại Tân Hoa Xã, trong đó có 2 năm thường trú tại VN. Tôi rất là biết báo chí VN. Bây giờ giới báo chí 2 nước rất hay trao đổi với nhau. Hai nước có quan hệ rất là tốt. Tại sao lại có vấn đề như vậy?
Sứ quán chúng tôi mong là những cơ quan có liên quan kiểm điểm công việc này. Không để việc này tổn hại, thương hại cho dân chúng TQ, thương nhân TQ, chính phủ TQ.”
"Nhắc nhở quản lý" Báo chí và "khẳng định tình thân" Việt-Trung
Ngay sau những lời khẳng định của bà Quản Duy Ngân Hà: “việc đăng những bài ấy là chuyện của tòa soạn.”, ông Cẩm nói lại: "Với những bài có liên quan tới quan hệ đối ngoại, chính trị, bộ phận nội bộ, không nên tung ra bên ngoài mà không có quản lý. Lần này tôi muốn nghe khẳng định lại, mong cơ quan quản lý báo chí VN, nếu báo chí nào đăng những bài có liên quan tới quan hệ đối ngoại, có liên quan đến vấn đề nhạy cảm, thì theo tôi cũng quản lý được. Nếu trước kia quản lý chưa kĩ, thì sau này – tôi gọi là có thể quản lý được, can thiệp được."
Sau đó, ông Cẩm lại tiếp tục nói về tình thân của mình đối với Việt Nam và tình cảm hai nước Việt - Trung:
"Chúng tôi rất vui mừng chừng kiến sự phát triển của VN. Rất vui là VN cùng TQ là 2 nước anh em cùng phát triển. Tôi rất là mong muốn sau này chúng ta gặp nhau, chúc mừng những thành quả mà 2 nước đã đạt được."
Không thể nhân danh Tình thương mà ăn cướp tiền bạc của nhau
Tình yêu thương, tình Hữu nghị là trừu tượng và người ta có thể nhân danh những tiếng đó để cướp dựt tiền bạc của nhau. Tiêu chuẩn để nói về Kinh tế-Thương mại là sự công bằng quyền lợi vật chất, tiền bạc. Nhưng Chuyên gia Kinh tế Việt Nam đã nhận định theo đúng tiêu chuẩn Kinh tế-Thương mại. Còn Hồ Tỏa Cẩm lấy tiêu chuẩn tình thương, tình hữu nghị mà nói về Kinh tế-Thương mại. Điều đó chứng tỏ rằng : một là ông ngu dốt không xứng đáng mang danh Tham Tán Kinh tế-Thương mại, hai là ông giả hình lấy điều nhân nghĩa để che đậy một sự cướp dựt trắng trợn.
Chúng tôi đưa ra đây ba tỉ dụ để cho Hồ Tỏa Câm thấy rằng về lãnh vực Kinh tế-Thương mại, phải lấy tiêu chuẩn công bằng quyền lợi vật chất, tiền bạc mà thảo luận và quyết định.
Tỉ dụ thứ nhất : Vợ chồng ký giấy tách rời tài sản, tiền bạc
Tình thương yêu Vợ Chồng còn cao hơn gấp bội tình Hữu Nghị. Hai người thanh niên nam nữ yêu nhau thắm thiết, thậm chí chàng thanh niên còn tuyên bố sẵn sàng chết vì nàng. Thế rồi hai người xỏ nhẫn cho nhau thề sống suốt đời với nhau trong tình nghĩa Vợ Chồng. Không tình cảm nào, như tình Hữu nghị chẳng hạn, có thể cao hơn tình yêu Vợ Chồng. Thế mà liền sau khi ký Giấy Cưới nhau, hai người ký Bản Giao Kèo Tách rời Tài sản (Séparation des Biens). Tài sản thuộc lãnh vực vật chất, Kinh tế, Tiền bạc, không thể lấy Tình yêu, hoặc tình Hữu nghị, mà giải quyết.
Tỉ dụ thứ hai : Thỏa thuận Đền bù Thương mại giữa hai nước (Effets compensatoires bilatéraux)
Stuart MILL, một trong những ông tổ của giao dịch thương mại quốc tế cùng với Adam SMITH, David RICARDO, đã nêu ra vấn đề Thỏa thuận Đền bù trong những Hợp Đồng Thương mại tay đôi giữa hai Quốc gia. Thực vậy, khi hai Quốc gia thảo luận và ký kết tay đôi thương mại về một mặt hàng trao đổi, nếu vì những điều kiện thực tế bất khả kháng mà một nước mất chút quyền lợi về mặt hàng đó, thì nước mất chút quyền lợi này có quyền đòi hỏi nước kia phải dành quyền lợi lớn hơn trong Hợp Đồng về mặt hàng khác để đền bù. Đó là sự công bằng trong giao dịch thương mại, chứ không phải vì tình thương yêu hay hữu nghị. Kinh tế, Thương mại lấy sự đền bù quyền lợi vật chất cho công bằng.
Tỉ dụ thứ ba : WTO/OMC và Điều khỏan Quốc gia Ưu đãi.
WTO/OMC luôn luôn khuyên hai Quốc gia khi ký những Hợp Đồng Thương mại tay đôi (Contrat Commercial Bilatéral), nên cho vào Hợp Đồng Điều khỏan tuyên bố nước kia là Quốc gia ưu đãi (Clause de la Nation la plus favorisée). Đây là câu tuyên bố Tình yêu giữa hai nước. Câu tuyên bố này khiến hai Quốc gia ký kết có quyền tự động áp dụng những quyền lợi nếu Quốc gia ký kết dành cho một nước thứ ba trong tương lai. Không phải Tổng thống, Thủ tướng một Quốc gia có thể ký kết Điều khỏan này một cách dễ dàng bởi vì đây là quyền lợi Kinh tế, Thương mại của một Quốc gia. Hồ Tỏa Cẩm không thể chỉ nói suông tình hữu nghị, tình am em, mà lấy quyền lợi Kinh tế, Thương mại cho Trung quốc. Những chuyên gia Kinh tế, Thương mại Việt Nam nhìn trước hết vấn đề công bằng quyền lợi trong lãnh vực này. Những Chuyên gia KT/TM Việt Nam không thể vì tình hữu nghị, tình am em XHCN mà yên tiếng khi thấy cán cân Thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam hòan tòan thất lợi cho Việt Nam : «10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng 23,25 lần, đạt tới con số 15.652 tỷ USD vào năm ngoái. Cùng trong thời gian đó, kim ngạch xuất khẩu của ta theo chiều ngược lại tăng vỏn vẹn 6,08 lần, chỉ đạt 4.536 tỷ USD năm 2008»
Chủ trương Trung quốc xâm chiếm Kinh tế Á châu đã được Quốc tế nhìn rõ
Hồ Tỏa Cẩm muốn nêu cao sự đứng đắn của Trung quốc trong lãnh vực Kinh tế/Thương mại để công kích các Chuyên gia Việt Nam nói sai sự thật về Trung quốc. Ý đồ xâm lăng Kinh tế Trung quốc sang các nước nghèo Á châu, trong đó có Việt Nam mà Trung quốc coi như chư hầu, đã được quốc tế phân tích và nhìn rõ.
Hồ Tỏa Cẩm hay đọc lại Bản tin sau đây của Tân Hoa Xã tháng tư vừa rồi :
Bản Tin: «Theo Tân Hoa xã, Trung Quốc đang chuẩn bị thành lập quỹ hợp tác đầu tư 10 tỷ USD với ASEAN và cho các nước khu vực này vay 15 tỷ USD, trong bối cảnh khu vực đang nỗ lực đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì ngày 14-4 cho biết, quỹ đầu tư trên sẽ thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng nối Trung Quốc với 10 nước thành viên ASEAN, trong khi các khoản cho vay sẽ có thời hạn từ 3 đến 5 năm. Tuyên bố cũng cho biết Trung Quốc dự định viện trợ cho Campuchia, Lào và Myanmar 39,5 triệu USD và tặng 300.000 tấn gạo cho quỹ dự trữ gạo khẩn cấp Đông Á để tăng cường an ninh lương thực. Theo ông Dương Khiết Trì, những đề nghị này nhằm phản ánh quyết tâm và trách nhiệm của Chính phủ Trung Quốc trong việc thúc đẩy sự hợp tác với ASEAN ». Cũng trong tháng tư, chúng tôi đã viết hai bài về ý đồ này của Trung Quốc. Chúng tôi đăng kèm dưới đây. Trung quốc không bỏ ra USD.25 tỉ để cứu nhân độ thế đâu như lời ca tụng của Hồ Tỏa Cẩm.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 08.07.2009
| | | |
(16) THEO LỆNH TRUNG QUỐC CSVN KIỂM SÓAT CHẶT CHẼ PHÍA VIỆT NAM
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 01.08.2009
Tình hình Kinh tế Việt Nam lâm nguy không phải chỉ nguyên hậu quả của Khủng Hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới như chúng tôi phân tích trong suốt những bài từ 2006 đến nay, mà hậu quả của Khủng hỏang ấy còn trở nên trầm trọng do chủ trương bành trướng Kinh tế Trung quốc. Đối với Việt Nam, Nhà Nước chấp nhận làm tôi đòi cho Trung quốc để cố thủ giữ lấy quyền hành, thì việc bành trướng Kinh tế Trung quốc tất nhiên trở thành một cuộc Xâm Lăng Kinh tế mà đảng CSVN là kẻ tiếp tay nhục nhã.
Khi viết những hàng này, chúng tôi vào Diễn Đàn Internet để đọc Tin tức. Tin của Đài BBC ngày hôm nay 1.08.2009 về Lao động Trung quốc tràn vào Việt Nam đã đập vào mắt chúng tôi. Tôi xin đăng lại đây như lời Kết Luận sống động về mối nguy ngập của Kinh tế Việt Nam:
“BBC: Trên ba vạn rưởi lao động TQ ở VN http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2009/07/090731_ chinese_labourer s.shtml
35.000 người là số thống kê chưa đầy đủ
Báo trong nước trích nguồn từ Bộ Công an cho hay hiện có trên 35.000 lao động người Trung Quốc làm việc tại Việt Nam.
Báo Tuổi Trẻ dẫn lời thiếu tướng Đặng Thái Giáp, cục trưởng Cục Công tác chính trị, Tổng cục Xây dựng lực lượng thuộc Bộ Công an nói số lao động này tập trung ở "ở một số địa bàn trọng điểm như TP Hồ Chí Minh, Tây Nguyên và miền Trung".
Gần đây dư luận và báo chí trong nước bắt đầu nói nhiều tới hiện tượng lao động phổ thông ồ ạt vào Việt Nam, với con số được ước tính có thể lên tới hàng vạn.
Tuy nhiên đây là lần đầu tiên cơ quan an ninh chính thức xác nhận con số lớn lao động Trung Quốc.
Một lý do đông lao động Trung Quốc được nói là nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất... về tay nhà thầu Trung Quốc. Các công ty này thường mang công nhân của họ vào Việt Nam, mỗi công trình có thể lên tới hàng nghìn người.
Thiếu tướng Đặng Thái Giáp cũng được trích lời nói "tình hình lao động TQ, nhất là số lao động phổ thông, tự phát nhập cảnh vào VN với nhiều lý do khác nhau như du lịch, thăm thân... rồi tìm cách gia hạn để cư trú trái phép, làm ăn lâu dài tại VN có xu hướng ngày càng gia tăng và khá phức tạp'.
Ông Giáp cũng thừa nhận con số trên chỉ là thống kê chính thức từ các doanh nghiệp được quản lý theo dõi "còn trên thực tế vẫn có một số lao động chui chưa thể thống kê hết".
Công tác quản lý lao động nước ngoài tại các địa phương bị nhận xét là còn "buông lỏng và thiếu hiệu quả".
Đã có nhiều trường hợp lao động TQ xô xát, ẩu đả với người Việt ở địa phương.
Chủ trương đưa người lao động ra các nước ngoài đã được Trung Quốc thực hiện một vài năm nay như một biện pháp giúp giải quyết công ăn việc làm và kích cầu kinh tế.
Trong riêng năm 2007, có tới 750.000 công nhân Trung Quốc đã theo các dự án của Trung Quốc sang châu Phi, hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp và khai khoáng, vốn cần nhân công.
Tình trạng thất nghiệp đang đe dọa xã hội Trung Quốc, với ước tính mười triệu người mất việc vì kinh tế khó khăn.
Tuy nhiên Việt Nam cũng đang đối diện nạn thất nghiệp gia tăng, một báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội ước tính có tới 400.000 người mất việc trong năm nay.”
Hòang Sa, Trường Sa, Aûi Nam Quan đã bị Trung quốc xâm chiếm. Bô-xit Tây Tây Nguyên trao cho Trung quốc khai thác. Những Dự án rơi vào tay Trung quốc. Vùng Biển Đông của Việt Nam bị Trung quốc chiếm và cấm Ngư dân Việt Nam đánh cá sinh sống.
Hàng hóa Trung quốc tràn vào Việt Nam tự do từ mọi phía để giết chết các Xí nghiệp Việt Nam. Lao động Việt Nam thất nghiệp tăng lên trầm trọng. Trọng khi đó Nhân công Trung quốc tràn vào như bản Tin BBC đăng hôm nay.
Với tình trạng nguy ngập như trên vừa tóm tắt, tình hình Việt Nam đã chín mùi, trở thành một lò thuốc súng sẵn sàng bùng nổ bất cứ lúc nào.
CSVN ý thức rõ rệt sự nguy hiểm sẵn sàng nổ tung ra này đến từ sự uất ức của Dân chúng.
Nhưng cần một cái ngòi nổ thì lò thuốc súng đó mới nổ tung ra được. Chính vì ý thức rõ rệt suy nguy hiểm ấy, nên đảng CSVN đã xử dụng cả một lực lượng Công an hùng hậu để kiểm sóat chặt chẽ và và dập tắt tất cả những ngòi nổ dù nhỏ bé hay mới trong tưởng tượng.
Họ kiểm sóat tinh vi những ai có thể chống đối và coi như những ngòi nổ, nhưng bộ máy kiểm sóat ấy đã thả lỏng cho Hàng hóa và Lao động Trung quốc tràn vào Việt Nam như không có sự kiểm sóat nào.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 01.08.2009
| | | |
(17) CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC
Bài MỞ ĐẦU: TIẾNG KÊU CẤP BÁCH CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 03.09.2009
Chúng tôi đã phổ biến rộng rãi trên Diễn Đàn về cuộc xâm lăng Kinh tế của Trung quốc đối với Việt Nam. Trong số báo này, chúng tôi cũng đăng lại rất nhiều bài nói lên sự thật về cuộc xâm lăng Kinh tế. Tương lai Kinh tế Việt Nam thực đen tối. Đây không phải là nhận xét của riêng chúng tôi, mà chính la LỜI KÊU CỨU CẤP BÁCH của một số Chuyên gia Kinh tế tại Quốc nội họp Trực tuyến do TUANVIETNAM tổ chức.
TUÂN VIỆT NAM từ Quốc Nội đễ viết như sau : (TUANVIETNAM)-“Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, “quét” sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các DN ta đang “thua trắng bụng”. Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới DN và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc.”
Tin của Đài BBC ngày 1.08.2009 về Lao động Trung quốc tràn vào Việt Nam đã đập vào mắt chúng tôi mà chúng tôi coi như TIẾNG CÒI BÁO ĐỘNG đến từ chính phía Nhà Nước VN. Tôi xin đăng lại đây như lời Kết Luận sống động về mối nguy ngập của Kinh tế Việt Nam:
“BBC: Trên ba vạn rưởi lao động TQ ở VN http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2009/07/090731_ chinese_labourer s.shtml
“35.000 người là số thống kê chưa đầy đủ. Báo trong nước trích nguồn từ Bộ Công an cho hay hiện có trên 35.000 lao động người Trung Quốc làm việc tại Việt Nam.
Báo Tuổi Trẻ dẫn lời thiếu tướng Đặng Thái Giáp, cục trưởng Cục Công tác chính trị, Tổng cục Xây dựng lực lượng thuộc Bộ Công an nói số lao động này tập trung ở "ở một số địa bàn trọng điểm như TP Hồ Chí Minh, Tây Nguyên và miền Trung".
Gần đây dư luận và báo chí trong nước bắt đầu nói nhiều tới hiện tượng lao động phổ thông ồ ạt vào Việt Nam, với con số được ước tính có thể lên tới hàng vạn.
Tuy nhiên đây là lần đầu tiên cơ quan an ninh chính thức xác nhận con số lớn lao động Trung Quốc.
Một lý do đông lao động Trung Quốc được nói là nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất... về tay nhà thầu Trung Quốc. Các công ty này mang công nhân của họ vào Việt Nam, mỗi công trình có thể lên tới hàng nghìn người.
Thiếu tướng Đặng Thái Giáp cũng được trích lời nói "tình hình lao động TQ, nhất là số lao động phổ thông, tự phát nhập cảnh vào VN với nhiều lý do khác nhau như du lịch, thăm thân... rồi tìm cách gia hạn để cư trú trái phép, làm ăn lâu dài tại VN có xu hướng ngày càng gia tăng và khá phức tạp'.
Ông Giáp cũng thừa nhận con số trên chỉ là thống kê chính thức từ các doanh nghiệp được quản lý theo dõi "còn trên thực tế vẫn có một số lao động chui chưa thể thống kê hết".
Công tác quản lý lao động nước ngoài tại các địa phương bị nhận xét là còn "buông lỏng và thiếu hiệu quả".
Đã có nhiều trường hợp lao động TQ xô xát, ẩu đả với người Việt ở địa phương.
Chủ trương đưa người lao động ra các nước ngoài đã được Trung Quốc thực hiện một vài năm nay như một biện pháp giúp giải quyết công ăn việc làm và kích cầu kinh tế.
Trong riêng năm 2007, có tới 750.000 công nhân Trung Quốc đã theo các dự án của Trung Quốc.
Tình trạng thất nghiệp đang đe dọa xã hội Trung Quốc, với ước tính mười triệu người mất việc vì kinh tế khó khăn.
Tuy nhiên Việt Nam cũng đang đối diện nạn thất nghiệp gia tăng, một báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội ước tính có tới 400.000 người mất việc trong năm nay.”
Xâm lăng Kinh tế từ Trung quốc là một là việc cấp bách. Nhà Nước chỉ than lên, nhưng không dám có những biện pháp vì quá lệ thuộc vào quyền hành mà Trung quốc là quan thầy che chở.
Nhưng tiếng kêu cứu của những Chuyên gia Kinh tế qua cuộc Họp trực tuyến TUANVIETNAM đáng cho chúng ta lưu ý nhập cuộc: “Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới DN và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc.” Chúng tôi quyết định nhập cuộc với các Chuyên gia Kinh tế Việt Nam qua ĐỐI THỌAI để tìm những biện pháp cấp bách chống lại cuộc xâm lăng Kinh tế Trung quốc. ĐỐI THỌAI không có nghĩa Hòa Hợp bởi vì chúng tôi chưa tin ở sự độc lập của những Chuyên gia Kinh tế làm việc dưới một CƠ CHẾ độc tài Chính trị tìm mọi cách để hù dọa. Tuy vậy, có những nguyên tắc khách quan Kinh tế làm mẫu số chung ĐỐI THỌAI.
Chúng tôi không đứng ngòai cuộc, mà là NHẬP CUỘC vì tương lai Kinh tế Việt Nam. Nhập cuộc đầu tiên của chúng tôi là ĐỐI THỌAI về tương lai Kinh tế Việt Nam dưới CƠ CHẾ CSVN hiện hành đầy Tham Nhũng. Mà việc lan tràn Tham Những này là do chính CƠ CHẾ ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ NĂM ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Đã từ lâu, khi viết những bài QUAN ĐIỂM cho Tuần Báo VietTUDAN để phân tích tại sao phải DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN Kinh tế bền vững và từ đó mới có sức mạnh khả dĩ chống lại ngọai xâm Kinh tế, đồng thời mới đủ khả năng Hội nhập Kinh tế Thế giới giữa những cạnh tranh gay gắt. Cũng đã từ lâu, chúng tôi lên tiếng đề nghi cuộc ĐỐI THỌAI VỀ KINH TẾ VỚI PHÍA CHUYÊN GIA CSVN. Chúng tôi không muốn đối thọai về Chính Trị vì đám bán nước Bộ Chính Trị đảng CSVN lì lợm, cối chầy, mặt dầy mày dạn, không xứng đáng cho chúng tôi ĐỐI THỌAI.
Ước mong cuộc ĐỐI THỌAI sẽ vạch trần sự thật về một CƠ CHẾ làm phát sinh và chủ trương bao che THAM NHŨNG khiến Kinh tế Việt Nam biến thành Kinh tế Mafia làm giầu cho một số người và khiến đại đa số dân chúng (75%) phải đói nghèo. Chính cái CƠ CHẾ Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế này đã và đang tăng cường rước Kinh tế Trung quốc vào thống trị Kinh tế Việt Nam dài hạn.
Sách của chúng tôi làm căn bản để đối thoại:
1) NGUYỄN PHÚC LIÊN: “DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN“ (216 trang) Nhà Xuất Bản DAY & NIGHT, Ventura, California, USA, 2009
2) NGUYỄN PHÚC LIÊN: “TÀI CHÁNH/KINH TẾ THẾ GIỚI:” “KHỦNG HOẢNG 2007/2008 & HẬU QUẢ CHO VIỆT NAM“ (425 trang) Nhà Xuất Bản DAY & NIGHT, Ventura, California, USA, 2009
3) NGUYỄN PHÚC LIÊN: “VIỆT NAM HỘI NHẬP WTO:” “ĐIỀU KIỆN TẠO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH“ (300 trang) Nhà Xuất Bản DAY & NIGHT, Ventura, California, USA, 2009
Bài 01: TRUNG QUỐC BUỘC PHẢI LÀM CUỘC XÂM LĂNG KINH TẾ TẠI Á-CHÂU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 10.09.2009
Lo sợ tốc độ tăng nhanh của những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes) mà World Bank đã báo động, nhất là từ các nước Tây phương, Trung Cộng tìm về Á châu. Họ xử dụng tiền để mua Thị trường Á châu nhằm giải quyết xuất cảng. Tình trạng ứ đọng hàng hóa tại Trung quốc và nhất là tình trạng thất nghiệp tập thể khiến Trung cộng phải mở cuộc xâm lăng Kinh tế tại Á châu.
Cuộc Họp Thượng Đỉnh G17 Á châu, vì tình hình cuối tuần vừa rồi tại Bangkok, nên đình hõan. Tuy nhiên thâm ý của Trung cộng vẫn được thực hiện.
Bản tin sau đây từ Tân Hoa Xã cho thấy Trung công bắt đầu thực hiện cuộc xâm lăng Kinh tế: xuất cảng hàng chế biến, xuất càng thiết bị và xuất cảng nhân công sang các nước nghèo Á châu, đặc biệt là Việt Nam.
Trung Quốc xử dụng USD.25 tỉ để xâm lăng Kinh tế các nước nghèo Á châu
Bản Tin: Theo Tân Hoa xã, Trung Quốc đang chuẩn bị thành lập quỹ hợp tác đầu tư 10 tỷ USD với ASEAN và cho các nước khu vực này vay 15 tỷ USD, trong bối cảnh khu vực đang nỗ lực đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì ngày 14-4 cho biết, quỹ đầu tư trên sẽ thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng nối Trung Quốc với 10 nước thành viên ASEAN, trong khi các khoản cho vay sẽ có thời hạn từ 3 đến 5 năm.
Tuyên bố cũng cho biết Trung Quốc dự định viện trợ cho Campuchia, Lào và Myanmar 39,5 triệu USD và tặng 300.000 tấn gạo cho quỹ dự trữ gạo khẩn cấp Đông Á để tăng cường an ninh lương thực.
Theo ông Dương Khiết Trì, những đề nghị này nhằm phản ánh quyết tâm và trách nhiệm của Chính phủ Trung Quốc trong việc thúc đẩy sự hợp tác với ASEAN.
Khủng hỏang Kinh tế tòan cầu Vì quá thổi phồng sản xuất, bắt ép tiêu thụ
Nền Kinh tế Trung Cộng cho đến nay chính yếu là sản xuất những hàng tiêu thụ thông dụng và những linh kiện xuất cảng sang Tây phương Hoa kỳ và Liên Aâu để thu tiền về mau chóng. Kinh tế lệ thuộc vào xuất cảng.
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế tòan cầu hiện nay bắt nguồn từ Tây phương. Nó không hẳn là chỉ vì sự ung thối của Mortgage Subprime Credits của Hoa kỳ, mà nguyên do tổng quát là những quốc gia giầu G8 đã xử dụng Tài chánh ảo của tương lai để tăng sản xuất những hàng cao cấp, xa xỉ phẩm theo cấp số nhân đã từ 10 năm nay. Những linh kiện cho những hàng cao cấp này và những hàng tiêu thụ hàng ngày lại được tổ chức chính yếu ở Trung quốc do nhân công rẻ, để hạ giá thành mà kiếm lợi nhuận cho mau. Rồi mở rộng phong trào Tòan cầu hóa để chiếm Thị trường bán những sản ấy đến tận cùng Thế giới. Họ xử dụng Marketing theo định nghĩa của KOTLER “Marketing, c’est l’atelier de fabrication des clients“(Marketing, chính là cơ xường sản xuất khách mua hàng) để người tiêu thụ nhắm mắt chi tiêu như robots.
Bộ máy Kinh tế sản xuất cấp số nhân, tòan cầu hóa để chiếm thị trường, bắt ép người tiêu thụ chi tiêu không theo nhu cầu thực mà theo quảng cáo Marketing. Thổi chi tiêu phồng lên như quả bóng, thì sức chịu đựng thổi phồng đến lúc nổ toanh ra tạo cuộc Khủng hỏang hiện nay. Những con robots tiêu thụ trở lại làm người với suy nghĩ về sức hạn hẹp tài chánh tiêu thụ của mình.
Tây phương giảm tiêu thụ, tức là giảm phía CẦU. Cái hậu quả là cắt đi những đặt mua hàng tại những nước sản xuất.
Trung quốc là nạn nhân trực tiếp của Khủng hỏang giảm phía CÂU của Tây phương. Muốn cứu vớt Kinh tế Trung quốc, chính yếu sản xuất cho tiêu thụ, thì phải làm thế nào để tái lập mức độ tiêu thụ của Tây phương. Sau thời gian dài tiêu thụ xả láng, người dân Tây phương bỏ thái độ nhắm mắt tiêu thụ như robots, mà trở lại thành người suy nghĩ tiêu thụ đúng theo nhu cầu (besoins nécessaires). Dân chúng Hoa kỳ và Liên Aâu bắt đầu tăng tiết kiệm. Các xí nghiệp Tây phương giảm đầu tư với Tài chánh ảo, tăng cường thủ thế Tài chánh thực cho tương lai mà cuộc Khủng hỏang hiện nay không cho biết bao giờ Kinh tế mới được vực lại.
Trung quốc sợ hãi nhất là khuynh hướng Che Chở Kinh tế (Protectionism) đang lớn mạnh để cắt giảm hơn nữa việc xuất cảng của họ.
Từ bế tắc xuất cảng sang Tây phương, Trung Cộng quay về ăn hiếp Á châu
Trong tình trạng bế tắc này đối với Tây phương, Trung quốc nghĩ đến việc Kích Cầu Kinh tế Á châu. Cuộc Họp Thượng Đỉnh 17 quốc gia Á châu (G17 Á châu) dịp cuối tuần này có mục đích vực lại Kinh tế Á châu gồm gần 3 tỉ dân tiêu thụ. Trung cộng cũng như Nhật sẵn sàng giúp đỡ các nước nghèo Á châu khôi phục tiêu thụ.
Nhiều người có thể nghĩ đây là một thiện chí của Trung quốc cũng như Nhật. Nhưng qua cái “thiện chí“ này, người ta nhìn thấy cái mặt trái tính tóan gồm:
=> Trung quốc có một kho hàng đã sản xuất nhằm bán cho Thị trường Tây phương, nhưng nay bị ứ đọng. => Các Xí nghiệp sản xuất Trung quốc hoặc là bị đóng cửa ngưng họat động, hoặc là chỉ họat động 1/3 khả năng. => Số thất nghiệp trở thành tập thể và dễ trở thành cuộc nổi dậy bạo động chống đối nhà cầm quyền.
Vực lại tiêu thụ cho những nước nghéo Á châu có nghĩa là tìm cách bán kho hàng ứ đọng và làm cho các Xí nghiệp Trung quốc tăng họat động. Trung quốc cũng nhằm xuất cảng ngay những Xí nghiệp sang các nước nghèo bằng xuất cảng vốn, thiết bị và ngay cả nhân công thất nghiệp.
Các nước nghèo đang cố gắng tạo nền Kinh tế sản xuất những hàng tiêu dùng hàng ngày cho dân chúng nội địa, thì nếu chấp nhận sự tràn lan xuất cảng hàng hóa cùng lọai của Trung quốc với những xí nghiệp và nhân công Trung quốc đi kèm, thì nền Kỹ nghệ bản xứ của những nước nghèo sẽ bị Trung quốc giết chết.
Việt Nam hiện nay đang chịu cái thảm cảnh này trước các nước nghèo khác. Thực vậy, vì muốn lệ thuộc vào Chính trị của Trung cộng để giữ lấy quyền hành cai trị, nên đảng CSVN đã chấp nhận những điều kiện tính tóan Kinh tế của Trung cộng. Những Dự án Việt Nam bị Trung cộng mua bằng cách chi tiền tham nhũng cho quan chức. Dự án nằm trong tay rồi, Trung quốc xuất cảng thiết bị và nhân công sang Việt Nam. Hàng hóa Trung quốc ứ đọng tràn vào Việt Nam. Những Xí nghiệp Việt Nam không thể sống sót cạnh tranh lại được. Công nhân Trung quốc tràn vào, dân Việt Nam thất nghiệp càng tăng.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài 02: G20 HỌP TUẦN TỚI: CĂNG THẲNG MẬU DỊCH LÀM TQ CÀNG XÌ XÂM LĂNG SANG VIỆT NAM
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 17.09.2009
Dưới Chủ đề xâm lăng Kinh tế Trung quốc, chúng tôi đã viết Bài 01 cho thấy rằng cuộc xâm lăng Kinh tế của Trung quốc sang các nước nghèo Á-châu và nhất là Việt Nam là một chủ trương bó buộc cho Trung quốc. Thực vậy, sau thất bại của cuộc Họp G20 tại Luân Đôn, Trung quốc trở về Á-châu họp G17 để đề nghị những Chương trình nhằm bành trướng xâm lăng Kinh tế tại những nước nghèo trong vùng. Kinh tế Trung quốc làm việc cho xuất cảng. Khi Tây phương gỉam mua hàng từ Trung quốc xuống 60%, thì buộc lòng Trung quốc phải tìm cách cho hàng dư thừa tràn sang các nước nghèo Á-châu.
Từ Hội Nghị DAVOS, rồi qua Hại cuộc Họp G20 tại Washington và Luân Đôn, Trung quốc luôn xoay quanh Chủ đề phải tránh việc Che Chở Mậu Dịch Quốc tế (Protectionism/ Protectionnisme), mặc dầu mục đích của những cuộc Họp G20 này đã được nêu ra trước là nhằm hợp tác giải quyết cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới.
Trước đây, khi OBAMA tuyên bố “Buy America”, thì Trung quốc đã la hỏang. Tiếp theo đó, khi SARKOZY nói về hãng Renault và chi nhánh nhà máy tại Tiệp, thì Tiệp đã công kích ý nghĩ Che chở Kinh tế của SARKOZY.
Tuần vừa rồi, đêm thứ Sáu ngày 11.09.2009, nghĩa là trước cuộc Họp G20 tại Pittsburgh tuần tới ngày 24-25.09.2009, Hoa kỳ tuyên bố Giá biểu quan thuế nhập cảng Lốp Xe từ Trung quốc tăng lên 35%. Tất nhiên quyết định này của Hoa kỳ là một tiếng sét về Che Chở Mậu dịch và tất nhiên càng đẩy Trung quốc vào chủ trương bó buộc xâm lăng mậu dịch sang các nước mà Trung quốc có thể.
Hai cuộc Họp G20 trước đây
Như chúng tôi đã nói ở trên, những cuộc Họp G20 trước đây tại Washington và Luân Đôn có mục đích là sự hợp tác Quốc tế để tìm cách giải quyết Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới.
G20 tại Washington ngày 15.11.2008
SARKOZY là người chạy ngược xuôi từ Á-châu sang Nam Mỹ để vận động những nước lớn bắt đầu phát triển Kinh tế làm áp lực để Hoa kỳ chấp nhận chủ trương của Oâng là can thiệp cứng rắn của Nhà Nước vào lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh. Nhưng Oâng đã gặp thái độ hững hờ của một số nước chính yếu trong G8. BUSH cứng rắn chủ trương Kinh tế Tự do và Thị trường mà Tư nhân là chủ động. MERKEL và BROWN cũng hững hờ đối với những kêu gọi hăng hái của SARKOZY. Trong khi ấy điều quan trọng hơn cả đối với Trung quốc là việc Che Chở Mậu Dịch đang tăng lên mạnh. Nhất nữa, Trung quốc không muốn ai đặt luật lệ nhòm ngó vào Ngân Hàng của mình. Cuộc Họp gặp nhau, uống cà-phê của Mỹ rồi mỗi nước về nhà mình lo những chuyện riêng rối bời của nước mình.
Báo giới quốc tế phê bình SARKOZY. Họ gọi đây là mộ sự "tham vọng " riêng tư muốn làm lãnh tụ của SARKOZY. Ký giả George PARKER từ Luân Đôn viết dưới đầu đề EUROPE TO PRESS US ON REFORMS, viết :"Sarkozy in call for "AMBITIOUS" action. Nicolas Sarkozy, French President, wants the meeting in Washington to agree "ambitious, operational decisions". (FINANCIAL TIMES, Monday November 10, 2008, page 3).
G20 tại Luân Đôn ngày 02.04.2009
G20 họp tại Luân Đôn ngày 02.04.2009, thay vì ngày 01.04, Cá Tháng Tư, để tránh việc người ta phê bình là nói xạo. Cuộc họp muốn xây dựng một “International Fiancial Structure“. SARKOZY và ÔN GIA BẢO còn muốn đặt lại vị trí của đồng Đo-la. Hai nước này hô hào tăng cường vai trò của IMF/FMI (Qũy Tiền Tệ Quốc Tế) cho Tổ chức này có thế lực tạo một thứ Tiền tệ chung.
Các nước tham dự hăng hái hứa đóng góp cho IMF/FMI con số USD.1'100 tỉ và đi tới con số USD.5'000 tỉ. Nhưng đó chỉ là gật đầu nguyên tắc cho một tương lai, nhưng thực tế đóng góp chưa có. Mỗi nước còn đang phải tìm những món tiền chắt bóp cho chính nước mình.
Báo chí phân tích về những con số hứa hẹn này như sau.
Ngày 03.04.2009, liền buổi sáng hôm sau bế mạc cuộc Họp, Tờ THE WALL STREET JOURNAL, trên trang nhất, viết lời bình luận tóm tắt như sau:“LONDON—Leaders of the Group of 20 nations Thursday announced a host of measures they said should help lift the global economy but deferred many of trickiest decisions or forwarded them to international institutions.“ (LUÂN ĐÔN – Những Lãnh tụ của Nhóm gồm 20 quốc gia đã tuyên bố hôm thứ Năm một mớ những biện pháp mà họ nói là có thể giúp đỡ nâng đỡ Kinh tế tòan cầu nhưng họ đã hõan lại nhiều những quyết định cụ thể gai góc nhất hoặc nhường việc ấy cho những tổ chức quốc tế.)
Tờ FINANCIAL TIMES, sáng sớm 03.04.2009, đăng tít lớn trên trang nhất G20 LEADERS HAIL SUMMIT SUCCESS viết bởi ba ký giả George PARKER, Chis GILES và Edward LUCE từ Luân đôn, nhưng trong nội dung, ba Ký giả đã nhận xét về con số USD.1'100 tỉ được coi là đại chiến thắng của cuộc Họp như sau: “Close inspection showed that much of the $1,100bn pledged included reannouncements and half-done deals.“ (Quan sát kỹ và gần vào cho thấy rằng USD.1'100 tỉ được hứa hẹn bao gồm những tuyên bố lập lại và những chương trình đã qua mới xong nửa vời). Con số USD.5'000 tỉ chỉ là sự ước lượng tương lai về Khích dộng Thuế khóa (Fiscal Stimulus) xa xôi với thực tế mà Hoa kỳ và IMF tìm kiếm . Nó là con số ảo hiện nay. Chris GILES cắt nghĩa: “FISCAL STIMULUS (New commitments : $.0 ): Gordon Brown claimed the largest fiscal stimulus in history, but there no new announcements. The $5,000bn figure is simply the IMF’s estimate of the rise in the G20’s government deficit as a share of national income between 2007 and 2010.“ (page 4) (FISCAL STIMULUS (Những cam kết mới: USD.0) : Gordon Brown đã yêu cầu một chương trình Fiscal Stimulus lớn nhất lịch sử, nhưng đã không có những cam kết mới nào của một ai. Con số USD.5'000 tỉ chỉ là con số ước lượng của IMF về việc tăng thâm thủng Ngân Sách các quốc gia trong G20 như một phần chia từ thu nhập quốc gia giữa những năm 2007 và 2010.)
Cười nói gật đầu hứa hẹn cho vui, nhưng trong lòng mỗi nước đến, nhằm xuất cảng hàng sang Mỹ và Liên Aâu, luôn luôn lo lắng trong suốt cuộc họp về chính lời tuyên bố của IMF/FMI và World Bank về tình trạng tăng cường hiện hành của 66 biện pháp Che Chở Mậu Dịch. Chính những quốc gia thuộc G20 đã tự động lấy những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes). Tổng cộng đã đếm được 66 Biện Pháp. Đó là lời la hỏang của Oâng ZOELLICK, Chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), của Oâng STRAUSS, Tổng Giám đốc Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF/FMI), của Oâng LAMY, Tổng Giám đốc Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC). Con Ma CHE CHỞ KINH TẾ (Spectre Protectionnisme/Spectre Protectionism) hiện ra nguyên hình, chứ không phải là bóng ma chập chờn. Đó là vấn đề mà G20 phải giải quyết thực sự. Nhưng vấn đề này không thể giải quyết được.
G20 họp lần thứ ba tại Pittsburgh ngày 24-25.09.2009 Chủ đề: Căn Thẳng Hoa-kỳ và Trung-quốc
Như chúng tôi đã nêu ra ở đầu bài này, đêm 11.09.2009, Hoa kỳ tuyên bố rõ rệt tăng thuế nhập cảng Lốp Xe từ Trung quốc lên 35%. Biện pháp tăng thuế nhập cảng này tất nhiên làm cho Trung quốc mất hồn vía, không thể nghĩ đến những hợp tác thảo luận trong cuộc Họp G20 tuần tới.
Tờ THE WALL STREET JOURNAL ngày hôm qua 16.09.2009 đăng hai bài lớn về biện pháp Che Chở Mâu Dịch này và tiên đóan những căng thẳng trong cuộc Họp G20 tuần tới.
Bài thứ nhất viết bởi Ký giả Andrew BATSON từ Bắc Kinh với đầu để: “TIRE SQUABBLE CLOUDS G20 MEETING—US, China Tensions to dominate talks in Pittburgh“ (TRANH CÃI LỐP XE CHE MỜ CUỘC HỌP G2 – Căng thẳng Hoa-kỳ, Trung quốc chiếm chính yếu thảo luận tại Pittsburg.) Theo Ký giả Andrew BATSON, Hoa kỳ đưa ra vấn đề Lốp Xe từ Trung quốc, thì Trung quốc sẽ thảo luận về Phụ tùng Xe Hơi và Thịt gà nhập cảng từ Hoa kỳ. Oâng HE YA FEI, Thứ trưởng Ngọai giao Trung quốc, nói sẽ nhắc lại cho Hoa kỳ rằng trong hai cuộc Họp G20 trước đây, các nước đã hứa không đưa ra những biện pháp Che Chở Kinh tế mới (“The G20 leaders should affirm their commitment to impose no new protectionist measures“, p.24). Bộ Trưởng Thương Mại Trung quốc cũng báo trước rằng vấn đề tranh cãi về Lốp Xe sẽ được đưa ra trong khuôn khổ Luật pháp quốc tế của WTO.
Cùng ngày hôm qua 16.09.2009, Tờ THE WALL STREET JOURNAL còn đăng một bài nữa với đầu đề “A PROTECTIONIST PRESIDENT“. Theo bài báo, thì từ Herbert HOOVER, OBAMA là First protectionist President. Bài báo cũng cho thấy rằng, theo chân Hoa kỳ, SARKOZY cũng vừa tuyên bố những biện pháp Che Chở Mậu dịch mới.
Khi viết về Lý thuyết Che Chở Mậu Dịch, chúng tôi đã nói rằng việc Tự vệ là quyền của mỗi cá nhân và của mỗi nước khi mà cá nhân hay nước đó có những đe dọa. Khi một quốc gia đang Chi tiêu Tiền từ Dân chúng để Kích thích Kinh tế Quốc gia, thì không thể lấy Tiền đóng góp của Dân để kích thích Kinh tế cho nước khác. Dầu sao, ngòai những Giá biểu Quan thuế ký kết trong phạm vi WTO, các nước cũng có thể dùng những biện pháp Không Giá Biểu (Mesures Non-Tarifaires).
Bí Quốc Tế, Trung quốc càng xì xâm lăng sang Việt Nam
Đây là điều quan tâm chính yếu của chúng tôi. Khi viết về Tài chánh/Kinh tế Hoa kỳ và Liên Aâu là chúng tôi muốn nhìn xem tầm ảnh hưởng của nó như thế nào trên Kinh tế Trung quốc, để từ đó nhìn tầm xâm lăng của Kinh tế Trung quốc sang Việt Nam. Về điểm này, chúng tôi đã viết dài trong Bài 01 tuần trước để thấy rằng Chủ trương xâm lăng Kinh tế Trung quốc sang các nước nghèo Á-châu, nhất là Việt Nam, là một bó buộc của Tầu.
Nếu càng ngày, những biện pháp Che Chở Mậu Dịch từ Hoa kỳ và Liên Aâu càng tăng, thì Kinh tế Tầu phục vụ cho xuất cảng càng đi vào chỗ bí buộc phải tìm mọi cách xì ra. CSVN cúi đầu hứng chịu những phế thải xì ra từ quan thầy Trung quốc, thì Tầu Chệt dại gì mà không bừa bãi xì ra bất cứ cái gì.
Bài 03: THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 24.09.2009
Cách đây chừng trên 20 năm, có phong trào các nước đã Kỹ nghệ hóa MUA NỢ lại các nước nghèo chưa mở mang ở Phi Châu và Nam Mỹ. Khi Chính quyền những nước nghèo có những món nợ chồng chất, họ tìm cách bán những món nợ ấy. Phải chăng việc các nước giầu mua nợ (nhận nợ dùm) là một hành động bác ái, thương người ?
Về tiền bạc, rất hiếm người hoặc không có ai dễ dàng trở thành mạnh thường quân mà không có hậu ý. Cái hậu ý ở đây là bắt con nợ phải nhường những nguồn lợi Kinh tế lớn gấp mấy lần giá trị của món nọ mà họ mua dùm.
Tôi xin kể ra đây một tỉ dụ cụ thể để dễ hiểu. Cách đây 20 năm, tôi làm Cố vấn Tài chánh cho Group BONGO tại Congo. Sang Brazaville, tôi chứng kiến một Hợp đồng Mua Nợ giữa Nhật và Congo. Chính phủ Congo không có tiền để trả nợ. Một Công ty lớn của Nhật mua lại món nợ ấy với điều kiện là Chính phủ Congo nhường cho Công ty Nhật cả một vùng rừng phía Bắc nước Congo để Nhật khai thác gỗ qúy. Đối với Chính phủ Congo, thì đây là việc họ làm với Nhật mà Dân chúng không biết gì cả. Có thể Chính phủ còn nói với Dân rằng đây là việc khai thác tài nguyên rừng mà người Nhật làm ích lợi cho xứ sở.
Việt Nam con nợ của Tầu
Tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe trong dân gian có những chuyện con nợ nghèo quá, phải gả chính con gái nhỏ để làm vợ cho chủ nợ.
CSVN, trong những năm gần đây, thiếu hụt Ngân sách trầm trọng. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới làm cho đầu tư nước ngòai thụt xuống 82%(Tài liệu:Bài viết của phóng viên Asia Sentinel Consulting). Xuất cảng hàng hóa giảm 60%. Ngay cả giữa Trung quốc và Việt Nam, cán cân thương mại cũng thua lỗ: Năm 2008, Việt Nam xuất cảng sang Trung quốc trị giá USD.4 tỉ, trong khi đó nhập cảng từ Trung quốc tới USD.15 tỉ.
Việt Nam muốn đi vay nợ từ những nước khác, nhưng trong hòan cảnh Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, các nước khác cũng gặp khó khăn, làm sao cho vay được. Trong hòan cảnh như vậy, chỉ còn đi làm đầy tớ cho Tầu, bán cả vợ con cho Tầu để nhận làm con nợ.
Tầu là chủ nợ cho Việt Nam
Chủ nợ thường có những lo lắng về trường hợp con nợ ăn qụyt. Ơû đọan trên, chúng tôi nói rằng nhiều nước, nhất là Tây phương, rất ngại ngùng cho Việt Nam vay nợ, một phần là vì cuộc Khủng hỏang hiện nay, nhưng một phần quan trọng nữa là sợ CSVN qụyt nợ. Làm trong lãnh vực Tài chánh, chúng tôi đã nghe một số Ngân hàng gia nói rằng họ có thể cho Phi châu vay, nhưng nói đến cho Việt Nam vay, thì họ rất lo ngại. Cái lý do là nếu Việt Nam ăn qụyt, thì họ khó kiện cáo về luật lệ đối với Việt Nam.
Ngược lại, Trung quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay nợ vì họ có những thuận lợi chắc chắn sau đây: => Trung quốc cho Việt Nam vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bàng hàng hóa và nhân công. Trung quốc đang cần xuất cảng hàng hóa, nhân công và thiết bị dư thừa. => Trung quốc bắt Việt Nam phải cho những nhượng địa để khái thác tài nguyên làm bảo chứng cho những món nợ mà họ cho vay. Trung quốc nắm phần chắc Việt Nam trả nợ trước bàng tài nguyên khi cho vay bằng hàng hóa mà họ muốn xuất cảng. => Trong trường hợp Việt Nam lật lọng muốn ăn qụyt nợ, thì Trung quốc có quân đội mạnh đã bao vây Biển và sát trên đất liền để tràn sang bắt phải trả nợ. Trung quốc không cần phải kiện cáo luật lệ gì với Việt Nam, mà dùng sức mạnh quân sự giải quyết.
Tương quan Chủ nợ—Con nợ
Không phải chỉ có tương quan hai CƠ CHẾ mà CSVN cần Tầu che chở, mà cái tương quan tệ hại nhất là giữa Con nợ mất hết độc lập và Chủ nợ hống hách chủ trương xâm lăng Việt Nam. Tương quan này cắt nghĩa: (i) Tại sao Việt Nam dành cho Tầu khai thác tài nguyên; (ii)Tại sao mất Biển Đông, Hòang Sa/Trường Sa mà không dám than; (iii)Tại sao dành những Dự án cho Tầu; (iv)Tại sao Ngư dân Việt Nam bị Tầu bắt mà không dám nói; (v)Tại sao biết khai thác Bôxit Tây nguyên có hại mà vẫn cúi đầu để cho Tâu làm; (vi)Tại nhân công Tầu tràn vào Việt Nam trong khi đó dân nghèo VN thất nghiệp; (vii)Tại sao cấm giới trẻ VN không được tỏ lòng yêu nước; (viii) Tại sao bắt những Blogers nói đụng đến Tầu; (ix) Tại sao cấm những Trí thức Việt Nam như IDS phải câm miệng ?
Bài 04: TQ XỬ DỤNG VŨ KHÍ MẠNH NHẤT ĐỂ XÂM LĂNG VIỆT NAM
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 01.10.2009
Trong cuộc tranh đấu người với người, VŨ KHÍ là phương tiện được xử dụng để thắng địch, để giết đối phương. Câu tục ngữ Việt Nam sau đây cho thấy việc xử dụng vũ khí :”Lấy lửa thử vàng; lấy vàng thử đàn bà; lấy đàn bà thử đàn ông !”
Con người có hai phần: THÂN XÁC và TÂM LINH. Có những vũ khí chỉ giết được thân xác, nhưng không giết được tâm linh. Có những vũ khí nhằm giết tâm linh và bắt thân xác phải phục tùng.
Câu tục ngữ trên đây cũng nói về hai bình diện. Khi nói lấy lửa thử vàng, đó là nói hòan tòan về thể chất (Physique). Nhưng khi nói lấy vàng thử đàn bà và lấy đàn bà thử đàn ông là nói về bình diện tâm linh (Esprit). Nếu đọc thêm câu tục ngữ nữa:”Có tiền mua tiên cũng được”, thì đối với đàn ông ham đàn bà đẹp (tiên), thì vàng trở thành khí giới chính để thử họ bởi vì họ dùng vàng mua đàn bà mà họ ham. Vì vậy câu tục ngữ ở đầu bài có thể thu gọn lại: “Lấy lửa thử vàng; Lấy vàng thử cả đàn bà và đàn ông !”
Chạy đua vũ khí giết thân xác
Lịch sử Chiến tranh là Lịch sử sáng chế Vũ khí nhằm chính yếu giết thân xác. Từ thanh kiếm đến cái chùy, đó là vũ khí giết thân xác. Súng ống bắn từ xa. Trái nổ ra từng mảnh. Bom cháy. Bom nguyên tử. Thậm chí bom vi trùng, bom hóa chất.
Thế giới chạy đua sản xuất những vũ khí đó là nhằm giết thân xác con người chứ không nhằm giết tâm linh con người.
Vũ khí giết tâm linh
Thứ vũ khí giết tâm linh con người chưa hẳn là gươm giáo, súng ống, bom nguyên tử hay chất hóa học. Vũ khí ấy được câu tục ngữ Việt Nam nói tới: “Lấy lửa thử vàng; LẤY VÀNG THỬ CẢ ĐÀN BÀ VÀ ĐÀN ÔNG !”. Vàng có nghĩa là Tiền bạc. Lấy tiền bạc làm vũ khí thì có thể giết được TÂM LINH và từ đó khắc phục luôn cả THÂN XÁC.
Trong Lịch sử Thiên Chúa Giáo, ngay lúc sinh thời, Chúa Giêsu, Vị sáng lập, đã cho thấy cái vũ khí nguy hại nhất này có khả năng giết TÂM LINH. Thực vậy, Giuda, một Môn đệ của Chúa Giêsu, chỉ vì 30 đồng bạc, mà Tâm Linh của ông bị giết để trở thành kẻ phản bội lại Thầy mình, đưa đối phương đến bắt chính Chúa Giêsu nộp cho đối phương kết án chết trên Thập tự giá. Vũ khí Tiền bạc được xử dụng để giết Tâm Linh vậy.
Trong Thế giới hiện đại, người ta thường nói đến Mafia xử dụng vũ khí Tiền bạc. Người ta cũng nói tới những nhóm Tài phiệt Do Thái xử dụng Tiền bạc để ảnh hưởng lên những quyết định của những Chính quyền đầy quyền lực.
Người Tầu thiện nghệ về Vũ khí Tiền bạc
Người Việt Nam đều biết trước đây, những gian thương Chợ Lớn đã dùng vũ khí tiền bạc để khuynh đảo Chính quyền. Chúng ta biết Pháp Trường Cát của Nguyễn Cao Kỳ. Gian thương Tạ-Vinh bị kết án tử hình và bị đưa ra xử tại Pháp Trường Cát, nhưng vũ khí Tiền bạc đã giết Tâm Linh kẻ kết án hắn. Người ta xử tử một người khác để tên Tạ-Vinh trốn ra khỏi Việt Nam và sống phây phây.
Trung quốc hiện nay bỏ ra 25 tỉ đo-la làm vũ khí giết tâm linh để xâm lăng Kinh tế những nước nghèo Á-châu.
Tại Việt Nam, vũ khí Tiền bạc đã và đang giết Tâm linh những Lãnh đạo CSVN cho tận đến Tỉnh, Quận. Khi Tâm linh Lãnh đạo đảng CSVN bị vũ khí Tiền bạc giết rồi, thì thân xác họ chỉ còn là cái xác không hồn, cắm đầu làm theo những mệnh lệnh của Tầu chủ trương xâm lăng Việt Nam.
Tội bán nước, Trời không tha và Đất không dung. Nhưng khi Tâm linh của đám CSVN đã bị vũ khí Tiền bạc giết chết, thì chúng còn biết đâu là cái tội tầy đình ấy. Chúng chỉ còn cắm đầu mang thân xác làm bồi Tầu để phản bội lại Dân Tộc.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
(18) VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN IDS ĐÓNG CỬA
Mặc Lâm, phóng viên RFA 2009-09-15
Vào ngày 24-7-2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết Định số 97 ban hành danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ có hiệu lực từ ngày 15-09-2009. Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS ở Hà Nội:
Tại Khoản 2, điều 2 trong quyết định này ghi: cá nhân thành lập tổ chức khoa học công nghệ “chỉ hoạt động trong lĩnh vưc thuộc Danh Mục ban hành kèm theo Quyết Định này.
Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ.”
Không đồng ý với những điều lệ trên, Viện Nghiên Cứu Phát Triển, gọi tắt là IDS, đã chính thức tuyên bố ngưng hoạt động vào chiều ngày 14 tháng 9. Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn với Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Viện Trưởng Viện IDS để tìm hiểu thêm về vấn đề này sau đây:
Vai trò phản biện
Mặc Lâm : Kính thưa Tiến Sĩ, chúng tôi vừa nhận được tin Viện IDS mà ông là Viện Trưởng đã chính thức tuyên bố ngưng hoạt động. Tiến Sĩ có thể xác nhận tin này được hay không? TS Nguyễn Quang A: Viện của chúng tôi có một Hội Đồng gồm có 16 thành viên. Ngày hôm nay chúng tôi đã họp suốt một ngày với sự hiện diện của 14 trong số 16 thành viên, và 2 thành viên ở xa không thể dự được thì cũng đồng ý với quyết định của Hội Đồng. Quyết Định 97 của Thủ Tướng Chính Phủ quy định là các tổ chức khoa học và công nghệ do các cá nhân thành lập không được quyền công khai nêu các ý kiến phản biện mà chỉ được gửi cho các cơ quan nhà nước. Quyết định đó cũng còn có điều sai phạm pháp luật khác mà chúng tôi nghĩ rằng những sai phạm đấy là rất nghiêm trọng.
Mặc Lâm: Thưa, Tiến Sĩ có thể cho biết những hoạt động mà ông cho là đáng nói trong 2 năm vừa qua hay không? TS Nguyễn Quang A: Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi đã đưa ra những cái phản biện về chính sách kinh tế liên tục trong suốt hai năm vừa qua. Chúng tôi đã có những nghiên cứu và đưa ra kiến nghị về cải cách giáo dục. Chúng tôi cũng đã nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn.
Chúng tôi cũng có nhiều các nghiên cứu khác về ổn định kinh tế vĩ mô, vấn đề lạm phát. Chúng tôi đã thường xuyên có toạ đàm khoa học, có sự tham gia khá đông đảo các học giả, giới trẻ và nhiều người quan tâm. Chúng tôi cũng đã mời nhiều học giả quốc tế trình bày trong những hội thảo, trong những toạ đàm khoa học của chúng tôi.
Quyết định 97
Mặc Lâm : Sau khi nhận được văn bản về Quyết Định 97 của Thủ Tướng Chính Phủ thì IDS đã có những kiến nghị gì cho các cấp thẩm quyền hay không, thưa ông? TS Nguyễn Quang A: Trong cái tuyên bố 5 giờ trước khi quyết định của Thủ Tướng có hiệu lực thì chúng tôi có kèm theo Kiến Nghị của chúng tôi gửi Thủ Tướng Chính Phủ và gửi các vị lãnh đạo Việt Nam.
Bạn nghĩ gì về sự kiện này? Hãy gửi đến Ban Việt Ngữ ý kiến của Bạn, hoặc tham gia thảo luận tại Trang blog Ban Việt ngữ RFA
Chúng tôi cũng gửi theo cả trả lời của Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp thừa uỷ quyền của Thủ Tướng trả lời những kiến nghị của chúng tôi, và những tài liệu liên quan. Trong cái Tuyên Bố của chúng tôi ra cách đây vài ba tiếng đồng hồ đã được công bố công khai trên các phương tiện truyền thông những lý do vì sao chúng tôi đi đến quyết định này. Mặc Lâm : Theo Tiến Sĩ thì điều khoản nào trong Quyết Định 97 đã làm cho IDS đi đến quyết định ngưng hoạt động? TS Nguyễn Quang A: Quyết Định 97 của Thủ Tướng Chính Phủ quy định là các tổ chức khoa học và công nghệ do các cá nhân thành lập không được quyền công khai nêu các ý kiến phản biện mà chỉ được gửi cho các cơ quan nhà nước. Quyết định đó cũng còn có điều sai phạm pháp luật khác mà chúng tôi nghĩ rằng những sai phạm đấy là rất nghiêm trọng. Mặc Lâm : Theo chúng tôi được biết thì Viện IDS cũng có gừi văn bản lên Bộ Tư Pháp để đòi làm rõ việc này, vậy họ đã trả lời như thế nào thưa ông? TS Nguyễn Quang A: Trả lời của Bộ Tư Pháp cho chúng tôi thì họ nói rằng họ đã tiến hành hoàn toàn đúng pháp luật. Chúng tôi có những ý kiến khác với trả lời đó của các nhà hữu trách. Và chúng tôi thấy rằng từ ngày mai trở đi nếu chúng tôi hoạt động như vừa qua sẽ gặp rất nhiều rắc rối. Nếu đọc kỹ cái Tuyên Bố của chúng tôi đã được công bố thì các vị sẽ hiểu rõ hơn.
Chống phá Nhà nước?
Mặc Lâm : Thưa, cũng có tin nói rằng bên an ninh đã nghi ngờ sự minh bạch của IDS và cho rằng Viện đã nhận tiền của nuuớc ngoài để hoạt động và cũng có dấu hiệu chống phá nhà nước. Có phải điều này cũng là một nguyên nhân đưa đến quyết định ngưng hoạt động của Viện IDS hay không? Với tư cách các nhà nghiên cứu độc lập, tất cả các thành viên của IDS vẫn hoạt động như những người nghiên cứu độc lập một cách bình thường. Còn dự kiến trong tương lai như thế nào thì chúng tôi còn chờ xem nhà nước có thay đổi gì về chính sách hay không.
TS Nguyễn Quang A: Không! Dứt khoát không! Những ý kiến đó của họ là những sự vu cáo và chúng tôi nói thẳng với họ rằng chúng tôi không làm như vậy. Đấy không phải là nguyên nhân. Mặc Lâm : Nếu họ vu cáo như vậy thì Viện IDS đã có những câu trả lời nào hay không, thưa Tiến Sĩ? TS Nguyễn Quang A: Chúng tôi đã đích thân gửi cho thủ trưởng cơ quan an ninh từ ngày 16 tháng 1 năm 2009 và đồng gửi cho tất cả các uỷ viên Bộ Chính Trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng như các uỷ viên Ban Chấp Hành của Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn đề này, và cho đến nay chúng tôi chưa hề nhận được một trả lời nào. Mặc Lâm: Xin được hỏi Tiến Sĩ câu cuối, đó là thành viên của Viện IDS sẽ có hoạt động như thế nào sau khi Viện chính thức đóng cửa? TS Nguyễn Quang A: Với tư cách các nhà nghiên cứu độc lập, tất cả các thành viên của IDS vẫn hoạt động như những người nghiên cứu độc lập một cách bình thường. Còn dự kiến trong tương lai như thế nào thì chúng tôi còn chờ xem nhà nước có thay đổi gì về chính sách hay không. Mặc Lâm: Xin cám ơn TS Nguyễn Quang A dã dành thời gian cho chúng tôi trong buổi phỏng vấn ngày hônm nay. TS Nguyễn Quang A: Vâng. Cảm ơn ông. Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.
(19) TUYÊN BỐ CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN IDS
Ngày 24-7-2009 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ban hành danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ (sau đây gọi là Quyết định 97), có hiệu lực từ ngày 15-09-2009.
Viện Nghiên cứu phát triển IDS nhận thấy Quyết định 97 có những sai phạm nghiêm trọng sau đây:
Một là: Điều 2 của Quyết định 97 không phù hợp với thực tế khách quan của cuộc sống.
Khoản 2, điều 2 trong quyết định này ghi: cá nhân thành lập tổ chức khoa học công nghệ “chỉ hoạt động trong lĩnh vực thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này. Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, cần gửi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ.”
Như vậy khoản 2 của điều 2 bao gồm 2 điểm chính là:
(1) các lĩnh vực được phép nghiên cứu quy định trong danh mục kèm theo Quyết định, và (2) không được công bố công khai ý kiến phản biện với danh nghĩa của một tổ chức khoa học và công nghệ.
Về vấn đề danh mục các lĩnh vực được phép tổ chức nghiên cứu: Cuộc sống vô cùng phong phú, có nhiều vấn đề chưa biết đến, luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển, luôn luôn đặt ra những đòi hỏi mới, cần có các quyết sách mới và các giải pháp thích hợp. Vì vậy không thể bó khuôn mọi vấn đề được phép nghiên cứu trong cuộc sống vào một danh mục dù danh mục ấy có rộng đến đâu. Quy định như vậy sẽ bó tay các nhà khoa học, những người nghiên cứu độc lập, hạn chế sự đóng góp của họ vào việc xây dựng chính sách đổi mới và phát triển đất nước. Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo nhằm khám phá các quy luật vận động trong tự nhiên và xã hội; từ đó tạo ra công nghệ mới, hoạch định chính sách phát triển và nâng cao dân trí để thúc đẩy xã hội tiến lên. Trong cuộc sống còn có những lĩnh vực, những vấn đề đã trở nên lỗi thời hoặc đã bị vượt qua. Thực tế này cũng là một đối tượng quan trọng của công việc nghiên cứu, nhất là trong tình hình một quốc gia phải ra sức phấn đấu khắc phục tình trạng nghèo nàn và lạc hậu. Trong một xã hội tiến bộ, công việc nghiên cứu với tính cách như vậy không thể đóng khung trong một danh mục gồm các lĩnh vực được quy định như đã nêu trong Quyết định 97.
Trong khi đó, công văn ngày 8-9-2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp (thừa ủy quyền của Thủ tướng trả lời thư ngày 6-8-2009 của Viện IDS gửi Thủ tướng) cho rằng cách quy định một danh mục các lĩnh vực cho phép cá nhân được thành lập tổ chức nghiên cứu là thông lệ ở nhiều nước trên thế giới, có nước quy định một danh mục cho phép, có nước quy định một danh mục cấm, hoặc cả hai. Chúng tôi đã tìm hiểu kỹ thì chưa thấy nước nào có quy định danh mục các lĩnh vực được phép nghiên cứu khoa học. Vì vậy cách trả lời trong công văn của Bộ Tư pháp là không trung thực, thiếu trách nhiệm. Cho đến nay, trên thế giới, việc phân loại các lĩnh vực khoa học là để thống kê, so sánh, không thể lấy đó làm căn cứ để quy định các lĩnh vực được phép nghiên cứu. Cách làm như Quyết định 97 sẽ bị dư luận chê cười, làm hại uy tín của lãnh đạo và của đất nước. Ý kiến trong công văn của Bộ Tư pháp cho rằng Quyết định vẫn để mở, sẽ tiếp tục nghiên cứu bổ sung dần các lĩnh vực cho phép, là một cách biện bạch gượng gạo, bởi vì “cho phép” thì không bao giờ đủ. Không ai có thể “cho phép” đời sống sẽ được phát triển đến đâu. Thực chất với Quyết định này, “cho phép” tức là cấm, và vùng cấm rộng gấp ngàn lần vùng được phép.
Về vấn đề phản biện:
Quá trình đi lên của đất nước chưa có con đường vạch sẵn, cuộc sống có vô vàn vấn đề thuộc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cần được phản biện để có thể xử lý đúng đắn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có rất nhiều ý kiến phản biện về đường lối chính sách bị cất hầu như không có thời hạn trong các “ngăn kéo” của các cơ quan chức năng hoặc của những người có thẩm quyền có liên quan. Có quá nhiều phản biện dưới mọi dạng như kiến nghị, đề nghị, thư, tài liệu nghiên cứu… không bao giờ được hồi âm.
Ví dụ nổi bật nhất là cải cách giáo dục – một vấn đề sống còn của sự phát triển đất nước, một yêu cầu bức xúc của xã hội đang được dư luận và giới nghiên cứu trong và ngoài nước rất quan tâm, phản biện công khai sôi nổi từ nhiều năm nay nhằm thực hiện những nghị quyết của Đại hội Đảng và các Hội nghị Trung ương Đảng về cải cách giáo dục. Tuy vậy, sự phản biện này chưa được đánh giá và tiếp thu nghiêm túc.
Một ví dụ khác gần đây là vấn đề bô-xít, được coi là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Sự phản biện công khai, quyết liệt vừa qua của rất nhiều nhà khoa học và các hiệp hội thuộc các lĩnh vực khác nhau đã góp phần thúc đẩy việc ban hành quyết định ngày 24-04-2009 của Bộ Chính trị lưu ý những vấn đề phải quan tâm trong khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Tuy vậy, còn biết bao nhiêu phản biện quan trọng khác trong vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên vẫn còn bị bỏ ngỏ.
Trong tình hình nêu trên, cấm các tổ chức khoa học công nghệ do các cá nhân thành lập phản biện công khai như nêu trong Quyết định 97 thực chất là cấm phản biện xã hội, hệ quả sẽ khôn lường.
Khoản 2 trong điều 2 của Quyết định 97 không viết thành văn nhưng hàm ý để ngỏ khả năng: cá nhân được phép phản biện công khai với tư cách riêng của mình. Như vậy, sẽ không thể giải thích:
(a) Tại sao cá nhân thì được phản biện công khai, còn tổ chức, tức trí tuệ tập thể và liên ngành được tập họp để có thể có chất lượng cao hơn, thì lại không? Quy định chỉ cho phép cá nhân phản biện công khai tạo thuận tiện cho việc vô hiệu hóa hay hình sự hóa việc phản biện của cá nhân? Phải chăng quy định như vậy ngay từ đầu đã mang tính chất không khuyến khích phản biện, mà có hàm ý làm nản lòng, thậm chí hăm dọa sự phản biện của cá nhân.
(b) Tại sao trong nhà nước pháp quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa, một văn bản pháp quy có tầm quan trọng như vậy lại có thể được thiết kế như một cái bẫy và để ngỏ khả năng cho việc vận dụng cái bẫy đó?
Hai là: Việc cấm phản biện công khai là phản khoa học, phản tiến bộ, phản dân chủ.
Cấm như vậy là phản khoa học, bởi lẽ: Bất kể một phản biện nào nếu không chịu sự “sát hạch” công khai, minh bạch trong công luận, sẽ khó xác định phản biện ấy là đúng hay sai, độ tin cậy của nó, sự đóng góp hay tác hại nó có thể gây ra, khó lường được các khả năng sử dụng hoặc lợi dụng việc phản biện này.
Cấm như vậy là phản tiến bộ, bởi lẽ: Người dân sẽ không biết đến các phản biện đã được đề xuất hay các vấn đề đang cần phải phản biện, càng không thể biết chất lượng và tác dụng của những phản biện ấy, không biết nó sẽ được cơ quan có thẩm quyền đánh giá, tiếp thu hay xử lý như thế nào. Phản biện và tiếp thu phản biện không công khai sẽ không thể tranh thủ được sự đóng góp xây dựng từ trí tuệ trong và ngoài nước, hạn chế khả năng sáng tạo tìm ra con đường tối ưu cho sự phát triển đất nước và vứt bỏ lợi thế của nước đi sau. Trên hết cả, cấm như vậy là cản trở việc nâng cao trí tuệ và bản lĩnh của người dân, cản trở vai trò làm chủ đất nước của nhân dân. Cấm như vậy chẳng khác nào biểu hiện chính sách ngu dân.
Cấm như vậy là phản dân chủ, bởi lẽ: Nhân dân – người chủ của đất nước – sẽ thiếu những thông tin để tự mình tìm hiểu, đánh giá mọi vấn đề có liên quan của đất nước mà họ không thể không quan tâm. Cấm như vậy là tước bỏ hay làm giảm sút khả năng của nhân dân giám sát, kiểm tra, đánh giá hay đóng góp xây dựng, hình thành và nói lên các ý kiến của họ, tán thành hay bác bỏ một chủ trương nào đó; trên thực tế là cấm hay ngăn cản quyền của nhân dân tham gia vào công việc của đất nước. Cấm như vậy là ngược với tiêu chí Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Ba là: Quyết định 97 có nhiều điểm trái với đường lối của Đảng và vi phạm pháp luật của Nhà nước.
Trước hết, đối với Hiến pháp, điều 2 trong Quyết định 97 vi phạm Điều 53 quy định công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương; Điều 60 quy định công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng tác; Điều 69 quy định công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.
Đối với Luật Khoa học và công nghệ, điều 2 Quyết định 97 không phù hợp với tinh thần của Luật này coi khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, khuyến khích sự tham gia nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân, Nhà nước đảm bảo và hỗ trợ sự thực hiện những kết quả nghiên cứu, khuyến khích các hội khoa học và công nghệ có trách nhiệm tổ chức, động viên các thành viên tham gia tư vấn, phản biện, giám định xã hội và tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ… v.v.
Đặc biệt quan trọng là Quyết định 97 có nhiều điểm trái với tinh thần và nội dung Nghị quyết số 27 – NQ/T.Ư “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” mới được ban hành tháng 10-2008. Nghị quyết này nhấn mạnh thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Việc ban hành Quyết định 97 còn vi phạm khoản 2 và khoản 4 Điều 67 trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể là đã bỏ qua trình tự bắt buộc phải công bố dự thảo quyết định trước ít nhất 60 ngày trước khi kí để bảo đảm sự tham gia ý kiến của dân. Trong công văn trả lời Viện IDS, Bộ trưởng Bộ Tư pháp lập luận rằng: quyết định 97 được xây dựng và ban hành đúng luật vì toàn bộ các bước soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định dự thảo quyết định đã được hoàn tất trong năm 2008 khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi năm 2008) phải đến 1-1-2009 mới có hiệu lực. Sự biện bạch này không thể chấp nhận được. Quá trình soạn thảo, thẩm định bắt đầu từ bao giờ, kéo dài bao lâu, là việc nội bộ của các cơ quan hữu trách. Nhân dân, là những người chịu tác động của Quyết định, chỉ có thể biết ngày ban hành chính thức của Quyết định 97 là ngày 24-7-2009, hơn 7 tháng sau khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực. Như vậy rõ ràng là việc ban hành Quyết định 97 vi phạm luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Vì sao một quyết định quan trọng liên quan đến một lĩnh vực lớn được coi là quốc sách hàng đầu, lại được thực hiện môt cách vội vã và tùy tiện như vậy.
Có thể kết luận, Quyết định 97 nếu được thực hiện sẽ làm nặng nề thêm thực trạng thiếu công khai minh bạch rất nguy hại cho việc xây dựng và thực thi pháp luật, làm trầm trọng thêm tình trạng tụt hậu hiện nay của đất nước.
* * * Trong gần 2 năm hoạt động, Viện Nghiên cứu phát triển IDS đã làm được một số việc có ích cho đất nước, đóng góp ý kiến xây dựng đối với một số vấn đề hay chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, được dư luận xã hội, đặc biệt là giới nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Mọi hoạt động của Viện IDS từ ngày thành lập cho đến nay đều tiến hành đúng pháp luật, công khai, minh bạch.
Tuy nhiên trong thời gian qua, tồn tại dai dẳng một số nhận xét sai lệch của cơ quan an ninh về Viện IDS, thậm chí cho rằng Viện nhận tiền của nước ngoài và có hoạt động chống đối Nhà nước… Ngày 16-01-2009 Viện IDS đã có thư gửi các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước nêu rõ quan điểm của Viện về những nhận định sai trái này, song tiếc rằng cho đến nay bức thư này của Viện chưa nhận được bất kể một hồi âm nào. Ngay sau khi có Quyết định 97, Hội đồng Viện IDS đã thảo luận, phân tích những chỗ sai cả về thủ tục và nội dung của quyết định này. Với ý thức tôn trọng Chính phủ và Thủ tướng, và để biểu thị thiện chí của mình, Hội đồng Viện chúng tôi nhất trí chưa bày tỏ ý kiến công khai mà trước hết gửi thư ngày 6-8-2009 nêu rõ với Thủ tướng những chỗ sai của Quyết định 97 và kiến nghị cách giải quyết nhằm tránh các hệ quả bất lợi về nhiều mặt.
Sau khi gửi thư, đại diện của Hội đồng Viện được mấy vị lãnh đạo mời gặp, riêng Thủ tướng mời gặp hai lần; nhân dịp đó chúng tôi trình bày rõ thêm và trao đổi ý kiến thẳng thắn về những nhận xét và kiến nghị đã nêu trong thư.
Viện IDS đã kiên tâm chờ đợi. Ngày 11-9-2009, Chủ tịch Hội đồng Viện IDS được Bộ trưởng, chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ thừa ủy quyền của Thủ tướng mời đến VPCP và trao cho hai văn bản. Một là công văn số 3182/BTP-PLDSKT ngày 8-9-2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền của Thủ tướng trả lời Hội đồng Viện Nghiên cứu phát triển IDS về những điều nêu trong thư của Viện gửi Thủ tướng ngày 6-8-2009. Hai là công văn số 1618/TTg-PL ngày 10-9-2009 của Bộ trưởng Chủ nhiệm VPCP thừa ủy quyền của Thủ tướng yêu cầu Bộ Khoa học và công nghệ ra văn bản hướng dẫn thi hành Quyết định 97 và thu thập ý kiến để kiến nghị bổ sung danh mục ban hành theo quyết định này.
Hai công văn này cho thấy tất cả các kiến nghị của Viện IDS về Quyết định 97 đều không được chấp nhận.
Toàn viện IDS và từng thành viên đã hết sức đề cao tinh thần trách nhiệm công dân, ý thức kỷ luật và thiện chí, nhưng những cố gắng đó đã không được đáp ứng.
Trước tình hình như vậy, với một quyết định hạn chế đến mức vô lý quyền nghiên cứu của một tổ chức khoa học, Viện nghiên cứu phát triển IDS không thể tiếp tục hoạt động theo sứ mệnh đã xác định trong mục tiêu ghi vào Điều lệ của mình. Chấp nhận hoạt động theo Quyết định 97, viện IDS và các thành viên sẽ không thể làm đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương Đảng về trí thức mới ban hành, đồng thời không thể làm tròn trách nhiệm công dân và nghĩa vụ người trí thức của mình.
Ngày 14-09-2009, Hội đồng Viện IDS đã họp phiên toàn thể, quyết định tự giải thể để biểu thị thái độ dứt khoát của Viện đối với Quyết định 97. Quan điểm của Viện chúng tôi được trình bày trong tuyên bố này và được công bố kèm theo các tài liệu liên quan [1]. Chúng tôi cũng giữ quyền sử dụng tiếp các công cụ pháp lý để bảo vệ sự trong sáng của luật pháp.
Làm tại Hà Nội ngày 14-09-2009 Các thành viên Hội đồng IDS đã ký Số thứ tự và Tên thành viên:
1/ Hoàng Tụy, Chủ tịch Hội đồng IDS. 2/ Nguyễn Quang A, Viện trưởng. 3/ Phạm Chi Lan, Phó Viện trưởng. 4/ Phan Đình Diệu. 5/ Lê Đăng Doanh. 6/ Vũ Kim Hạnh. 7/ Chu Hảo. 8/ Phạm Duy Hiển. 9/ Vũ Quốc Huy. 10/ Tương Lai. 11/ Phan Huy Lê. 12/ Nguyên Ngọc. 13/ Trần Đức Nguyên. 14/ Huỳnh Sơn Phước. 15/ Trần Việt Phương. 16/ Nguyễn Trung
| | | |
(20) BÁN HÀNG VÀ MUA HÀNG VÌ YÊU NƯỚC
http://www.thanhnie n.com.vn/ News/Pages/ 200938/200909180 05045.aspx 18/09/2009 0:50
Một chương trình lớn nhằm bán hàng và mua hàng vì tình yêu Tổ quốc và đồng bào vùng biển đảo đã được phát động bởi Hiệp hội Dệt may VN (Vitas), Tập đoàn Dệt may VN (Vinatex), Báo Nhân Dân, Quân chủng Hải quân VN và một số đơn vị khác mang tên "Đồng hành cùng doanh nghiệp Dệt may Việt Nam vì đồng bào biển đảo của Tổ quốc" đã chính thức khởi hành từ hôm nay tới hết năm 2010.
Cứ trong mỗi 1.000.000 đồng doanh số hàng dệt may được bán, sẽ có 2.500 đồng được đưa vào quỹ "Vì đồng bào biển đảo của Tổ quốc". Dự kiến, trong năm 2009 có thể thu được 25 tỉ đồng cho quỹ này để trợ giúp đồng bào trong đời sống cũng như hỗ trợ phát triển kinh tế và văn hóa những vùng biển đảo.
Đây có thể coi là một chương trình bán hàng dệt may đặc biệt, vì các doanh nghiệp dệt may tham gia chương trình này ngoài mục tiêu quảng bá thương hiệu, tiêu thụ được hàng dệt may tại thị trường nội địa, còn kết nối được với khách hàng là đồng bào Việt Nam mình trong một tình yêu cháy bỏng vì biển đảo quê hương. Mục đích đẹp ấy đòi hỏi một kế hoạch thực hiện mang tính khả thi cao và một tình yêu Tổ quốc thực sự. Bởi muốn đưa được hàng dệt may nội địa tới với tất cả khách hàng nội địa Việt Nam thì việc đầu tiên là phải nâng cao được chất lượng hàng hóa, giảm giá thành tới mức có thể cạnh tranh ngang ngửa với hàng dệt may ngoại nhập.
Lâu nay, do mải mê chinh phục những thị trường tiêu thụ hàng dệt may trên thế giới, mà nhiều lúc, ngành dệt may VN như xao lãng thị trường nội địa - một thị trường rộng lớn không chỉ đầy tiềm năng mà còn đầy khả năng tiêu thụ. Sự xao lãng ấy đã phải trả giá đắt một khi có khủng hoảng kinh tế thế giới, và nhất là khi thị trường nội địa bị tràn ngập bởi hàng dệt may ngoại nhập từ giá cao tới giá rẻ và "siêu rẻ".
Nay thì tình yêu Tổ quốc, yêu đồng bào mình nơi những vùng biển đảo đầy sóng gió nguy tai đã thức tỉnh chính những doanh nghiệp dệt may Việt Nam hướng thẳng vào thị trường nội địa, quyết bán hàng không chỉ với mục đích lợi nhuận mà còn với mục đích chia sẻ, đồng hành cùng đồng bào biển đảo. Và tôi nghĩ, tại sao lại không, thị trường tiêu thụ hàng dệt may trên toàn cõi Việt Nam trong một ngày gần đây sẽ xuất hiện những chiếc áo in bản đồ VN có đầy đủ những vùng biển đảo, những địa danh "Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam" được in trên áo phông sẽ khiến hàng triệu khách hàng Việt Nam náo nức đón mua. Khi người bán hàng bán sản phẩm của mình với lòng yêu nước, thì người mua hàng cũng sẽ mua những sản phẩm ấy với lòng yêu nước. Chỉ như thế, thì chương trình tuyệt vời này mới có những cơ hội thực tế để thành công!
Thanh Thảo
(21) TƯ DOANH BẮT ĐẦU NGHĨ ĐẾN TIỀN ĐỒ ĐẤT NƯỚC
Vài dòng của một doanh nhân Kính gởi Ban Biên Tập Bauxitevietnam,
Tôi cũng là một trong số những độc giả hàng ngày vào thăm trang mạng của Quý vị, ngày nào tôi vì lý do nào đó bận công việc mà không đọc Bauxitevietnam thì ngày đó tôi cảm thấy như thiếu thiếu cái gì đó. Thật ra tôi là một doanh nhân bình thường như các doanh nhân khác, chỉ làm kinh tế mà ít quan tâm đến chính trị. Nhưng từ khi có trang Bauxite này tôi lại theo dõi hàng ngày, xem tất cả các tin tức và ý kiến của mọi người, và ngày càng thật sự xấu hổ cho bản thân.
Nhân đọc bài Tiếng nói của tuổi trẻ: thư ngỏ gởi Mẹ Nấm, chị Đoan Trang và anh Thanh Hiếu của bạn trẻ Duy Hải, tôi thấy mình như quá ích kỷ khi là một người dân Việt nam. Có thể BBT sẽ không đăng những dòng suy nghĩ này, nói thật ra tôi thì không biết văn chương mấy, chỉ lo tính toán làm kinh tế, chỉ biết làm sao kiếm lãi, bây giờ tôi mới biết mình đã quá ích kỷ khi mà hiểu được mối quan tâm của mọi người đến vấn đề môi sinh, đến an ninh của đất nước. Các bạn trẻ đã dám nói thật tiếng nói của lòng mình, và các bạn như: Mẹ Nấm, Đoan Trang, Thanh Hiếu… đã dám công khai bộc lộ những suy nghĩ chính đáng của mình, dám nói lên sự thật, dù biết rằng những gì mình nói sẽ đem lại hậu quả cho chính mình, nhưng họ vẫn cứ nói. Điều đó thật là hành động dũng cảm, tôi thật sự khâm phục họ.
Về phía tôi là doanh nhân, tuy biết nhưng không dám thổ lộ vì tôi nói riêng và các doanh nhân khác nói chung vẫn sợ ảnh hưởng đến việc kinh doanh cũa mình, nên không dám lên tiếng công khai, chỉ biết ngồi với nhau phù phiếm thôi. Nhưng nói thật là tự trong đáy lòng tôi vẫn có lòng yêu nước dâng trào đấy, khi đọc một sự kiện gì ví dụ như vấn đề khai thác Bauxite hiện nay, tôi luôn ủng hộ quý vị chống dự án khai thác thứ quặng có thể gây hiểm họa khôn lường cho đất nước về nhiều mặt ấy, hoặc vấn đề Biển Đông, hay những ý kiến phản biện các chính sách bất ổn của chế độ… thì máu trong người tôi sôi sục.
Cho nên không phải tất cả giới doanh nhân trên đất nước này đều thờ ơ trước hiện tình đất nước. Vì miếng cơm manh áo của họ và những người lao động cho họ nên họ không dám nói, nhưng tôi biết được trong họ cũng sôi sục máu yêu nước như tôi. Có đôi khi đọc các bài viết trên mạng Bauxitevietnam tôi cũng muốn có ý kiến lắm nhưng tôi đắn đo mãi không biết nên nói hay không và phải viết như thế nào, rồi cũng sợ liên lụy nữa, nhưng bây giờ tôi đã dám viết vài dòng này thổ lộ tâm tư cho vơi đi ức chế trong lòng.
Tôi biết rằng đất nước mình có rất nhiều nhân tài, sẵn sàng cống hiến cho Tổ quốc , nhung vì sống trong bối cảnh của chế độ hiện nay, nên không ai dám cống hiến gì cả, mà chỉ lo toan tính miếng cơm hàng ngày. Tôi cũng không ngạc nhiên khi các nhà trí thức của IDS tự giải thể, nó cũng không ngoài dự đoán của tôi. Trong một thể chế như hiện nay, anh không thể nào chống lại các chủ trương chính sách [sai trái] của Đảng và Nhà nước được trừ phi tất cả trí thức cùng đồng lòng, đoàn kết chống lại thì may ra, hoặc trừ phi… , đó là câu chuyện nhạy cảm và cũng là hy hữu. Có những vấn đề cũng có thể tích cực theo đuổi, chẳng hạn dùng luật của Nhà nước phản biện lại Nhà nước, tuy không đem lại kết quả như ý nhưng ảnh hưởng rất lớn và có ý nghĩa, tôi ví dụ như việc Tiến sỹ Luật Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Hiện nay đối với nhiều người, ông Cù Huy Hà Vũ là một người dũng cảm dám đi một bước táo bạo, tạo được một nét điển hình mới trong công tác phản biện bằng hành động đúng Luật.
Theo tôi nghĩ, một hành động gây tiếng vang trong dân chúng bình thường, đến tai được quần chúng rộng rãi thì sẽ có tác động lớn, chứ thật tình, chỉ phản biện bằng ngôn từ không thôi thì chỉ mới ảnhh hưởng ở một tầng lớp nào đấy, có khi rất mạnh mẽ sâu sắc, nhưng chưa thấu đến tai người dân thường được, vì tất cả mọi người dân không thể ai cũng tiếp cận được thông tin. Tôi tin Ông Hà Vũ sẽ thắng kiện. Không biết suy nghĩ của tôi có đụng chạm ai không, nếu có mong thứ lỗi vì đó chỉ là suy nghĩ của tôi
Kết thúc lá thư, tôi mong rằng trang Bauxitevietnam luôn sống mãi để còn có những ý kiến, tin tức thật sự bổ ích cho người xem. Tôi mong rằng trang này đừng bị xóa bỏ như các trang báo hay blog khác khi dám nói tiếng nói thật của mình, và thật buồn khi không còn cách gì tiếp cận với SỰ THẬT, khi cứ phải đọc những tờ báo “lề phải” chán ngắt của Bộ 4T.
NTQ HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập. http://bauxitevietn am.info/c/ 10475.html
| | | |
(22) THÁI ĐỘ YẾU ĐUỐI CỦA CSVN CÀNG LÀM TQ HỐNG HÁCH XÂM LĂNG
Lê Minh Nguyên 21.09.2009
VN-Tàu núi liền núi sông liền sông...TQ đã coi VN là chư hầu và đang đưa VN vào tình trạng nô lệ, chủ tâm làm hao mòn để tiểu nhược dân tộc VN. Khi cư xử với các quốc gia ĐNÁ khác, TQ tôn trọng ho.. Với VN, TQ hoàn toàn thiếu sự khoan nhượng và có tính cách thống tri.. Từ tháng 2.1999 đến 12.2000, TQ ký với tất cả 10 quốc gia ĐNÁ các thỏa ước khung sườn cộng tác song phương, qua hình thức tuyên bố chung giữa các bộ trưởng ngoại giao hay phó thủ tướng, chỉ trừ VN là phải có thêm thỏa ước ký bởi 2 tổng bí thự Khi ký với các quốc gia khác, TQ đều cho dựa vào các điều khoản luật quốc tế như Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và những hiệp ước quốc tế. Riêng VN, thỏa ước 1999 không dựa vào điều khoản luật quốc tế nào cả, thỏa ước năm 2000 thì chỉ dựa vào Hiến Chương LHQ và 5 nguyên tắc sống chung hòa bình. Trong việc thực hiện sự cộng tác giữa TQ và các quốc gia khác, TQ chỉ đòi hỏi tổng quát là trao đổi cấp caọ Riêng VN, thỏa ước 1999 đòi hỏi toàn diện cộng tác từ đảng, chính quyền, các tổ chức quần chúng, các địa phương. Đối với các quốc gia khác, TQ đòi hỏi họ hổ trợ TQ một cách chung chung mà thôị Riêng VN thì hết sức là chi tiết và đòi hỏi VN tuyệt đối không bao giờ được phát triển quan hệ chính thức với Đài Loan. TQ cam kết tôn trọng sự độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ với 8 trong 10 quốc gia ĐNÁ, trừ VN và Bruneị TQ hứa tham khảo và cộng tác với các quốc gia ĐNÁ ở các diễn đàn quốc tế như LHQ, ASEAN, ASEAN+3, trừ VN. Về sông Cửu Long, TQ hứa với Lào, Miến Điện, Thái Lan, Cam Bốt là giúp họ phát triển vùng hạ lưu, trừ VN (Thayer 25.3.06). Trong khi CSVN bị TQ bức hiếp thì các quốc gia khác, dù nhỏ yếu hơn VN như Phi Luật Tân, đã can đảm chống lại TQ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của mình. Có thể nói vấn đề tranh chấp Trường Sa (TS) trong hai năm qua là vấn đề giữa TQ và Phi, chứ không phải giữa TQ với VN, bởi vì VN chấp nhận thua thiệt và im lă.ng. Ngày 9.7.07 TQ bắn chết ngư dân VN trong vùng TS, tàu hải quân BPS-500 của CSVN có mặt ở đó, nhưng chỉ đứng nhìn (BBC 20.7.07). Quy Ước Ứng Xử năm 2002 giữa TQ và các quốc gia Đông Nam Á chỉ là một văn bản có tính cách hứa hẹn không làm phức tạp vấn đề, nó không có tính cách ràng buộc, không có chế tài, không có hải hình rõ rệt vì TQ không chịu để Hoàng Sa (HS) vào, và không bao gồm tất cả các quốc gia tranh chấp vì không có Đài Loan tham dư.. TQ đã coi nó như một tờ giấy lộn. Thỏa hiệp hợp tác địa chấn biển và thăm dò dầu khí chung trong vùng tranh chấp giữa TQ, Phi và VN năm 2005 có hiệu lực 3 năm, đã mãn hạn ngày 30.6.08 và không được gia hạn. Phi đã hủy bỏ năm 2007-08 vì cho rằng TQ bắt nạt, áp lực Quốc Hội Phi đòi thay đổi đường bờ biển căn bản. Đối lập Phi cho là vi hiến và tham nhũng. Phi còn thông qua luật ngày 17.2.09 coi các đảo là “regime islands" thuộc chủ quyền của Phi, mặc cho TQ phẫn nô.. Bà Tổng Thống Gloria Arroyo còn cố ý ký thành luật vào ngày tân đại sứ TQ trình ủy nhiệm thư 10.3.09, chỉ hai ngày sau biến cố tàu Impeccable bị TQ xách nhiễu ở 75 dặm cách đảo Hải Nam. Cố Vấn Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và Bộ Trưởng Quốc Phòng Phi đã phản ứng dữ dội về việc TQ đưa tàu Ngư Chính 311 vào vùng TS. TQ phải dịu giọng giải thích đó chỉ là những hoạt động thường lệ và ngày 24.3.09 hứa giải quyết ôn hòạ Với Mỹ và Phi, TQ chưa dám phản ứng bằng cách gởi tàu chiến hạng nă.ng. Mỹ tuy có ráo riết theo dõi căn cứ hải quân Tam Á của TQ ở Hải Nam (qua vụ máy bay thám thính EP-3 bị chiến đấu cơ TQ đụng tháng 4.2001 và vụ tàu Impeccable) nhưng cho đến nay lập trường của Mỹ giới hạn vào sự thông thương tự do ở hải phận quốc tế, cách bờ 12 hải lý, và các công ty Mỹ không bị đe dọa khi khai thác hợp pháp trong các vùng đặc quyền kinh tế của phạm vi 200 hải lý hay xa hơn (Jamestown 30.4.09). Nhật Bản còn mãnh liệt hơn Phi trong việc tranh chấp biển đảo với TQ. Nhật đơn phương tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế từ lằn chính giữa của đảo Ryukyu và bờ biển TQ, chỉ có Nhật độc quyền khai thác và Nhật sẽ có hành động trừng phạt nếu TQ vi phạm. Nhật còn đe dọa TQ không được khai thác gần đường ranh vì có thể rút dầu từ bên phía Nhật ở dưới mặt đất. TQ tuy viện dẫn thềm lục địa của họ kéo dài tới trũng Okinawa, nằm sâu bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Nhật, nhưng TQ không dám có hành động gì. Luật biển Liên Hiệp Quốc UNCLOS 1982 về vùng đặc quyền kinh tế thì mơ hồ, trước kia theo thềm lục địa nhưng sau này thì thiên về đường chính giữa, như phán quyết trong vụ tranh chấp Libya-Malta, ngoài ra còn đi theo tỷ lệ của bờ biển. Trong vụ tranh chấp Úc-Nam Dương (East Timor) thì thềm lục địa của Úc chạy đến trũng Timor, có lợi cho Úc. Nhưng sau khi Timor độc lập năm 2002, Timor đòi đường chính giữa và Úc đã tương nhượng, đồng ý là phần giữa trũng và đường chính giữa Timor được chia lợi nhuận trong sự khai thác. Trong việc tranh chấp giữa Nhâ.t-Nam Hàn, hai bên đồng ý là có sự bất đồng và đợi đến năm 2028 giải quyết, trong hiện tại hai bên khai thác chung phần nằm giữa trũng và đường chính giữạ Cũng như TQ, thềm lục địa Nam Hàn chạy đến trũng Okinawạ Hiện giờ lằn ở giữa được LHQ chiếu cố và phương pháp giải quyết tranh chấp thường dùng là “thỏa thuận tạm thời và thực tiển”. TQ muốn như vậy đối với Nhật nhưng Nhật cương quyết từ chối và TQ không làm gì được. Ngay cả vùng đảo Senkaku (TQ gọi là Diaoyu), TQ và Đài Loan có thế mạnh về lịch sử và thềm lục địa, nhưng Nhật đòi cả 220 hải lý vùng đặc quyền kinh tế tính từ hòn đá phía Đông của Nhật mà họ gọi là đảo Okinotori, vi phạm Điều 212(3) của UNCLOS (Asia Times 1.2.06). Nhật làmột quốc gia đã từng chiếm đóng TQ và là một cường quốc cho nên TQ không dám hiếp đáp. Do đó TQ dòm ngó ĐNÁ, nhất là VN là nơi mà TQ dễ bắt nạt. TQ với bản đồ chữ U nộp Liên Hiệp quốc (LHQ) chiếm 80% biển Đông, đòi 350 hải lý thay vì 200 như quy ước, diện tích đòi là 3 triệu km2, trong khi theo quy ước chỉ là 270 ngàn km2 (Strait Times 19.5.09). TQ dùng vũ lực chiếm 7 đảo ở TS và khoảng 100 giếng khoan dầu mà TQ nói là nằm trong vùng biển của họ với trử lượng 22.5 tỷ tấn dầu trong tổng số khoảng 35 tỷ tấn. TS còn là một vị trí chiến lược quan trọng, TQ có 21 trong tổng số 39 đường hàng hải đi qua vùng TS. TS nằm ngay trung điểm của chữ S để tiến Đông qua Thái Bình Dương và tiến Tây qua Ấn Độ Dương và TQ coi TS là lưỡi gươm bén của họ (John Chan, WSWS.org). Vì đặt quyền lợi đảng và quyền lợi cá nhân lên trên quyền lợi dân tộc, CSVN đã hoàn toàn lệ thuộc TQ để duy trì độc quyền lãnh đạọ Biết được nhược điểm này, TQ đã biến họ thành những quan thái thú dễ sai của thời kỳ đô hộ mớị Do đó trong sự liên hệ giữa VN và TQ, CSVN đi từ quỵ lụy này đến quỵ lụy khác. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, khi các quốc gia Âu Châu theo chính sách quỵ lụy Phát Xít thì chỉ giúp cho Phát Xít bành trướng thêm lên và kết quả chỉ là thảm họạ Với chủ trương 16 vàng 4 tốt “Láng giềng hữu nghị - Hợp tác toàn diện - Ổn định lâu dài - Hướng tới tương lai” và “Láng giềng tốt - Bạn bè tốt - Đồng chí tốt - Đối tác tốt”, con thuyền VN đã bị CSVN buột chặc vào con thuyền khổng lồ của TQ. Các câu này rõ ràng là để áp dụng cho VN chứ không phải TQ, nói một cách giản dị nó là “vì ở cạnh TQ nên phải cư xử thân thiện với TQ, hoàn toàn vâng theo lời TQ, có như vậy TQ mới cho được yên ổn cầm quyền lâu dài, và TQ đi hướng nào thì VN phải đi theo hướng đó”, và “đã ở bên cạnh TQ thì phải làm đàn em ngoan ngoãn, làm đảng viên trung thành, làm nơi cho TQ bán hàng và khai thác tài nguyên”, luôn làm “tốt” để phục vụ quyền lợi TQ. Láng giềng tốt : TQ dọn mìn ở vùng biên giới và vùng đèo Hữu Nghị 3 lần, lần I từ 1992-94, lần II từ 1997-99 được coi là lần dọn mìn lớn nhất lịch sử thế giới, và lần III từ 2005. TQ cho biết hàng ngàn mẫu trà đã được trồng năm 1999. Câu hỏi được đặt ra là mìn đó do ai đặt? và đặt trên đất của aỉ Bây giờ có hàng ngàn mẫu trà là đất của TQ (VOA 31.12.08). TQ mang 200,000 quân đánh VN năm 1979, họ chiếm vùng biên giới nước ta và VN ở thế tự vệ thì làm sao mà VN có thể đặt mìn trên đất TQ được? Chỉ có thể là TQ trước khi rút quân họ đã đặt mìn trên đất VN để phục vụ 2 mục đích: VN không thể đánh bọc hậu, và vùng đất này khổng ai có thể sử dụng được cho đến khi mìn được tháo gỡ. Có lẽ chính vì bị mất đất quá nhiều cho nên CSVN qua ông TS Nguyễn Hồng Thao của Ban Biên Giới Chính phủ VN, tìm cách thối thoát không đưa ra bản đồ, viện dẫn rằng có hơn 2000 cột móc (theo DPA của Đức, tất cả là 2,333 cột móc) cũng là hơn 2000 biên bản nên cần có thời gian và phải mất ít nhất 1 năm nữa (BBC 2.1.09). Chúng ta ai cũng biết rằng với kỹ thuật vệ tinh và GPS ngày nay, chỉ cần mang cell phone có GPS đến cột móc là vị trí này chính xác xuất hiện trên bản đồ. CSVN dối gạt dân để mua thời gian và tạo quên lãng trong việc nhượng lãnh thổ. Trong hơn 3 năm vừa qua, vào mùa đánh cá của ngư dân VN, TQ ra lệnh cấm 2 tháng và năm nay tăng lên 2 tháng rưỡi từ 16.5.09 đến 1.8.09 lấy lý do là để bảo vệ môi trường, mà theo GS Nguyễn Mạnh Hùng nhận xét, là TQ chiếm từ từ bằng cách tạo tiền lệ, sau một thời gian tiền lệ sẽ trở thành tập tục quốc tế, và sau đó nữa là hoàn toàn của họ, lấy một cách êm thắm, chính quyền CSVN thì lặng thinh và thế giới không ai phản đốị Theo GS Hùng, nếu VN không giữ chặt, kể cả tử chiến, những gì mình còn chưa mất, thì TQ sẽ tiếp tục lấy nữa, và điều kiện tiên quyết là lãnh đạo VN phải nhất trí coi nguy cơ bá quyền của TQ là nguy cơ lớn nhất, trên cả 4 đại nguy cơ mà CSVN nêu trong đại hội của họ là tục hậu, chệch hướng, tham nhũng, và diễn tiến hòa bình (RFA 1.6.09). Nhưng điều này khó thể xảy ra với thành phần lãnh đạo hiện tạị Lệnh cấm của TQ từ Cam Ranh trở lên bao phủ một vùng rộng lớn 128,000km2 vào mùa biển lặng gió yên đã làm thiệt hại 60% tổng số cá sản xuất hàng năm của ngư dân (BBC 9.6.09). Trả lời yêu cầu của ông Thứ Trưởng Ngoại Giao VN Hồ Xuân Sơn đến ông Đại Sứ TQ Tôn Quốc Tường, ông phát ngôn nhân Tần Cương của TQ cho biết lệnh cấm đánh cá là cần thiết, là biện pháp thông thường và đứng đắn trong vùng lãnh thổ của ho.. Báo chí và dư luận ở TQ còn cho là họ làm như vậy và tăng lệnh cấm từ 2 tháng lên 2 tháng rưỡi là để thăm dò ý chí của VN, vì VN đã có hành động khiêu khích như lập quận HS, họ cần cảnh báo để VN không đi quá xa, nếu VN có hành động gì thì TQ sẽ ra tay mà không bị mang tiếng là bắt nạt, và “vũ lực đằng sau lời lẽ là điều cần thiết”. Bạn bè tốt: Tháng 12.2005 TQ đe dọa công ty dầu Ấn Độ ONGC trong việc hợp tác khai thác với VN ở biển Đông. TQ cũng đe dọa như vậy với công ty BP của Anh tháng 4.07 khiến BP phải bỏ, và Exxon-Mobil của Mỹ tháng 7.2008. TQ thao diễn quân sự ở TS một tuần từ 16.11.07 và mở tour du lịch cho dân TQ. Ngày 2.12.07 Quốc Vụ Viện TQ phê chuẩn thành lập huyện Tam Sa để bao gồm HS và TS. Khi VN tổ chức hội nghị APEC tháng 11.06, TQ cảnh cáo là không được mời Đài Loan tham dư.. Trong công tác nhân đạo, tàu bệnh viện USS Peleliu của HK đến cảng Đà Nẵng giữa tháng 7.07 nhưng CSVN không cho lên bờ và không cho dùng trực thăng để di chuyển bệnh nhân vì sợ TQ phật lòng. Cuối tháng 7.07 ông Du Tích Khôn, chủ tịch đảng Dân Tiến Đài Loan (DPP) đã được CSVN cấp visa để viếng thăm VN đầu tháng 8.07 nhưng TQ áp lực và CSVN hủy bỏ. DPP coi đó là "một hành động lăng mạ phỉ báng" và "hết sức bất nhã" của CSVN. Đại sứ CSVN ở TQ, ông Trần Văn Luật, cuối tháng 8.07 đã bị TQ gọi đến để huấn thị là báo chí VN phải ngưng đăng những tin tức về sản phẩm TQ thiếu chất lượng mà báo chí trên thế giới đang ồn ào loan tin, nếu không thì hàng hóa VN gặp vấn đề tại biên giớị TQ không làm như vậy với đại sứ của các quốc gia Tây Phương trong khi báo chí tây phương ồn ào nhất về việc nàỵ CSVN đã đồng ý cho ông Thứ Trưởng Ngoại Giao HK John Negroponte công du VN trong chuyến đi giữa tháng 9.08 nhưng lại hủy bỏ vào giờ phút chót với lý do là thời tiết xấụ Ông Carlyle Thayer tiết lộ là các quan chức VN cho ông biết do TQ áp lực, đe dọa sẽ hủy bỏ chuyến đi TQ của ông Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm (BBC 16.8.07 và 29.9.08). Qua các sự kiện này thì ta thấy ai tốt với aỉ Bộ Chỉ Huy Giám Sát Hàng Hải của TQ nói rằng đối với các hải đảo và biển, TQ phải kiểm soát và quản lý thay vì cứ nói chứng cớ lịch sử. Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Đại Học Quốc Phòng TQ cho rằng TQ phải kiểm soát thường xuyên và lâu dài vì ngoài nguồn cá còn phải chứng tỏ chủ quyền tối caọ Trong khi đó CSVN cứ nhai đi lập lại một cách sáo rỗng về chứng cớ lịch sử và cơ sở pháp lý mà không có một hành động cụ thể nào cả, kể cả vấn đề tương đối dễ dàng như đưa ra Liên Hiệp Quốc để đánh động dư luận quốc tế (South China Morning Post 16.4.09). Con sông là bộ phận cốt lõi trong chu kỳ sinh động của quả địa cầu, sứ mệnh thiêng liêng của nó là bào mòn, chuyển tải và bồi đắp, mang vật chất từ nơi cao để đem về nơi thấp. Tất cả những công trình thủy đập, dù có cao kiến cách mấy cũng làm cho nó mất thăng bằng, làm xáo trộn sự tuần hoàn của quả đất, đóng góp vào sự tuyệt chủng của các sinh vật. Trong lịch sử của quả địa cầu, đã có ít nhất 5 lần đại tuyệt chủng do môi trường biến đổi và hiện nay có khoảng 400 sinh vật bị tuyệt chủng mỗi ngày (Inquiry into Life, Mader, 12th Ed.). Sự mất thăng bằng trầm trọng của sông Cửu Long sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại của các sinh vật sống ở vùng hạ lưu sông này, nhất là cư dân. Chỉ riêng ở Vân Nam, TQ đã xây 14 đập lớn, dung lượng của 1 đập Tiểu Loan đã bằng tất cả các hồ chứa ở ĐNÁ cộng lạị GS Ngô Đình Tuấn, Chủ Tịch |
|
|
|