|  |
|  | 
| | | ========================== =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| | | =============================================================== VietTUDAN ----------------------------------------------------------NHAN QUYEN/DAN CHU ===============================================================x |
**************************************************************************************************** BẢN TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN
*****************************************************************************************************
Xét rằng: Sự công nhận nhân phẩm của tất cả con người trong đại gia đình nhân loại và những quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.
Xét rằng: Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng sự tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.
Xét rằng: Nhân Quyền cần phải được bảo vệ bằng luật pháp, để con người không bị bắt buộc phải sử dụng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức.
Xét rằng: Mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia cần được khuyến khích và mở rộng.
Xét rằng: Trong Hiến Chương, các dân tộc của cộng đồng Liên Hiệp Quốc đã lại một lần nữa xác định niềm tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị con người, vào quyền bình đẳng nam nữ và cũng đã quyết định cổ vũ cho các tiến bộ xã hội và cải tiến mức nhân sinh trong bối cảnh ngày càng tự do hơn.
Xét rằng: Các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc, nhằm cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản.
Xét rằng: Sự hiểu biết chung về nhân quyền và tự do là điều tối quan trọng để có thể thực hiện đầy đủ sự cam kết trên.
Do đó, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc long trọng công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản Tuyên Ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.
Mặt khác, bằng những phương thức tiến bộ trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, phải bảo đảm sự thừa nhận và tuân hành Bản Tuyên Ngôn một cách có hiệu lực, trong các dân tộc của các nước thành viên, và ngay cả trong những người dân sống trên các phần đất thuộc quyền cai quản của các nước đó.
Điều 1: Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái.
Điều 2: Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được công bố trong Bản Tuyên Ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác. Hơn nữa, cũng không được có sự phân biệt nào đối với con người sống trên một quốc gia hay trên một lãnh thổ, căn cứ trên cơ chế chính trị, nền tảng luật pháp hay quy chế quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ đó. Cho dù quốc gia hay lãnh thổ này độc lập hay dưới sự bảo hộ, không được tự trị hay ở trong tình trạng bị hạn chế về chủ quyền.
Điều 3: Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân.
Điều 4: Không ai bị cưỡng bức làm nô lệ hay tôi đòi. Chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm.
Điều 5: Không một người nào phải chịu cực hình, tra tấn, hay bất kỳ hình thức đối xử, hoặc trừng phạt bất nhân, hay có tính cách lăng nhục.
Điều 6: Ở bất cứ nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật.
Điều 7: Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng, không kỳ thị phân biệt. Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị vi phạm Bản Tuyên Ngôn này, cũng như chống lại mọi kích động dẫn đến kỳ thị như vậy.
Điều 8: Mọi người đều có quyền được bảo vệ và bênh vực bởi các cơ quan tư pháp quốc gia có thẩm quyền về các hành vi vi phạm các quyền căn bản, do Hiến Pháp và Luật Pháp quy định.
Điều 9: Không một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán.
Điều 10: Mọi người đều có bằng nhau quyền được phân xử công khai và công bằng, trước một tòa án độc lập và vô tư, để được phán quyết về các quyền lợi và nhiệm vụ của mình, hay về những tội phạm mà mình bị cáo buộc.
Điều 11: khi truy tố trước pháp luật, mọi người được xem là vô tội, cho đến khi pháp luật chứng minh là có tội, trong một phiên tòa công khai và tòa án này phải cung ứng tất cả mọi bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ của đương sự. Không ai có thể bị kết án khi có những hành động hay sơ suất xảy ra vào lúc mà luật pháp của quốc gia hay quốc tế không qui định đó là một hành vi phạm pháp. Tương tự như vậy, không được áp đặt một hình phạt nào nặng hơn hình phạt được ấn định vào lúc hành vi phạm pháp xảy ra.
Điều 12: Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ, trước những xâm phạm và xúc phạm như vậy.
Điều 13: Mọi người có quyền tự do di chuyển và cư trú, trong phạm vi biên giới của quốc gia. Mọi người đều có quyền rời khỏi lãnh thổ bất kỳ nước nào, kể cả nước của mình, và quyền trở về xứ sở.
Điều 14: Trước sự ngược đãi, mọi người đều có quyền tị nạn và tìm sự dung thân tại các quốc gia khác. Quyền này không được kể đến, trong trường hợp bị truy nã thật sự vì các tội phạm không có tính chính trị, hay do những hành vi trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.
Điều 15: Mọi người đều có quyền có quốc tịch. Không một ai bị tước bỏ quốc tịch, hay bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch, một cách độc đoán.
Điều 16: Nam và nữ trong tuổi trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không bị hạn chế về lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam nữ đều có quyền bình đẳng lúc kết hôn, trong đời sống vợ chồng và lúc ly hôn. Hôn nhân chỉ có thể tiến hành khi cả hai đều được tự do quyết định và đồng ý thật sự. Gia đình phải được xem là một đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và được quyền bảo vệ của xã hội và quốc gia.
Điều 17: Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tập thể. Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.
Điều 18: Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay nơi chốn riêng, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phượng và áp dụng các nghi thức đạo giáo.
Điều 19: Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới.
Điều 20: Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa. Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể.
Điều 21: Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách tự do. Mọi người đều có quyền đón nhận những dịch vụ công cộng của quốc gia một cách bình đẳng. Ý muốn của người dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự, bằng phiếu kín, qua phương thức phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương của bầu cử tự do.
Điều 22: Vì là thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền an ninh xã hội, qua các cố gắng của quốc gia và hợp tác quốc tế, dựa theo phương cách tổ chức và tài nguyên của mỗi nước. Quyền này được đặt trên căn bản của sự thụ hưởng những quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, cần thiết cho nhân phẩm và sự phát triển tự do của mỗi cá nhân.
Điều 23: Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc chính đáng và thuận lợi đối với công việc, và quyền được bảo vệ chống thất nghiệp. Mọi người, không vì lý do kỳ thị nào, đều có quyền được hưởng lương bổng như nhau cho cùng một công việc. Mọi người làm việc đều được quyền hưởng thù lao một cách công bằng và thích hợp, khả dĩ bảo đảm cho bản thân và gia đình mình một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm, cũng như được trợ giúp nếu cần, qua các phương thức bảo vệ xã hội khác. Mọi người đều có quyền thành lập và tham gia vào các nghiệp đoàn, để bảo vệ quyền lợi của mình.
Điều 24: Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả việc hạn chế hợp lý số giờ làm việc, và các ngày nghỉ định kỳ có trả lương.
Điều 25: Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình. Các bà mẹ và trẻ con phải được hưởng sự chăm sóc và trợ giúp đặc biệt. Tất cả mọi trẻ con, sinh có hôn thú hay không, đều được xã hội bảo vệ một cách bình đẳng.
Điều 26: Mọi người đều có quyền được giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và căn bản. Giáo dục tiểu học phải bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được mở rộng và giáo dục đại học phải được mở rộng bình đẳng cho mọi người, trên căn bản tài năng xứng đáng. Giáo dục phải được điều hướng để phát triển đầy đủ nhân cách, và củng cố sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản. Giáo dục phải nhằm cổ vũ sự cảm thông, lòng khoan dung, và tình hữu nghị giữa mọi quốc gia, mọi nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, và hỗ trợ việc phát triển các sinh hoạt của Liên Hiệp Quốc nhằm duy trì hòa bình. Cha mẹ có quyền ưu tiên chọn lựa phương cách giáo dục dành cho con cái mình.
Điều 27: Mọi người đều có quyền tự do tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thưởng thức các bộ môn nghệ thuật, và cùng chia xẻ các tiến bộ khoa học cũng như các lợi ích của khoa học. Mọi người đều có quyền được bảo vệ về tác quyền, trên bình diện tinh thần cũng như quyền lợi vật chất, đối với các tác phẩm khoa học, văn chương, hay nghệ thuật.
Điều 28: Mọi người đều có quyền đòi hỏi được sống trong một trật tự xã hội và trật tự quốc tế, trong đó các quyền và các tự do được đề cập trong Bản Tuyên Ngôn này có thể được thể hiện đầy đủ.
Điều 29: Mọi người đều có bổn phận đối với cộng đồng nào mà chỉ trong đó mới có thể phát triển toàn vẹn và tự do nhân cách của mình. Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ. Trong bất cứ trường hợp nào, nhân quyền và những quyền tự do này cũng không được hành xử trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.
Điều 30: Không một điều nào trong Bản Tuyên Ngôn này được hiểu và hàm ý cho phép một nước, một nhóm hay một cá nhân nào được quyền có những việc làm hay hành động nhằm hủy diệt nhân quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên Ngôn này.
Liên Hiệp Quốc - 10/12/1948
| | | |
DI CHUC SO 1 CUA LM NGUYEN VAN LY
DI CHÚC Số 1 của Linh mục Nguyễn Văn Lý Lm. Nguyễn Văn Lý Nhà Chung Tổng Giáo phận Huế, ngày 02-02-2011
Ngày 15-3-2011 Nhà cầm quyền (NCQ) Cộng sản Việt Nam (CSVN) sẽ đưa tôi vào lại trại giam, tiếp tục áp bức tôi chịu bản án ngày 30-3-2007 tù giam 8 năm và 5 năm quản chế mà tôi luôn phủ nhận, vì nó hoàn toàn bất công và trái Công pháp Quốc tế. Để quyết liệt phản đối, tôi sẽ tuyệt thực vô thời hạn liên tục nhiều đợt nối tiếp nhau và khước từ mọi điều trị của bạo quyền CS (bệnh tai biến mạch máu não 3 lần gây liệt tay-chân phải từ tháng 5-2009, hiện đã khỏi khoảng 60% và thi thoảng bị xuất huyết chi dưới đến nay đã 6 lần). Vì không biết chắc những gì sẽ xảy ra, tôi xin gửi lại vài điều cần thiết cho Giáo hội, thân nhân và toàn thể Đồng bào Việt Nam (VN) thân yêu trong và ngoài Nước, thay cho các Di chúc tôi đã viết hàng năm mỗi khi có điều kiện (Giáo luật), như là nỗ lực cuối cùng để hoàn thành trách nhiệm với Đồng bào, Dân tộc, Tổ quốc, Giáo hội và Thiên Chúa theo lương tâm thôi thúc đòi buộc.
I. Vài chuyện riêng.
1. Tạ ơn và tạ tội : Con tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho con muôn hồng ân trong gần 65 năm làm người và gần 64 năm được sinh ra làm con dân Nước Việt, được làm con Chúa và Hội Thánh Công giáo, được ăn học làm Linh mục gần 37 năm, được chia sẻ kiếp tù đày của hàng triệu người Việt 5 lần gần 17 năm (còn thêm 5 năm nữa) và bị quản chế 8 lần 15 năm (còn thêm 5 năm và vô thời hạn). Xin Chúa và mọi người tha thứ tất cả lỗi lầm của con do chưa sống xứng đáng đời một Tín hữu Công giáo, và chưa biết đấu tranh hiệu quả giúp Dân tộc VN thoát khỏi chế độ CS gian manh bạo tàn.
2. Về thân xác : Sau khi con qua đời, kính xin Tòa Tổng Giám mục Huế cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn cầu nguyện cho con không có xác cũng được. Xin trao xác con cho bệnh viện nào gần nhất có thể lấy được một số nội tạng cấy ghép được cho những ai cần: giác mạc, tim, gan, thận, gân, mạch,… Sau đó xin trao cho Đại học Y Huế giúp sinh viên học giải phẩu. Khi không còn sử dụng nghiên cứu nữa, nếu Đại học Y gửi lại thi thể, kính xin Tòa TGM Huế chôn táng con với một hòm gỗ rẻ tiền nhất của Dân nghèo. Xin ghi 2 bên quan tài: Chúa Là Sự Sống Lại, Tự Do Tôn Giáo Hay Là Chết. Xin miễn mọi hoa đèn phúng điếu/tiệc chia ly tốn kém. Sau Thánh Lễ Tạ Ơn, xin hết lòng ghi ơn mọi người, kính xin mọi người yên lặng chia tay nhanh, tiết kiệm thời giờ tối đa.
Trên mộ, dưới chân Thánh giá, xin ghi: Con chỉ là hạt sương long lanh ngọn lá,
Phút chốc bốc hơi không dấu vết Chúa ơi, Con chỉ là hạt bụi cuộc đời, Một làn gió thoảng cuốn mất thôi !
Dưới chân mộ, xin ghi: Đời con là một chuỗi ngày thiếu sót với Chúa và với mọi người. Xin tha thứ.
Nếu Đại học Y Huế đã tiêu hủy, xin Gia tộc và mọi người thay vì đau lòng, phải vui mừng đợi ngày gặp lại nhau trong Nước Chúa với thân xác phục sinh hiển vinh.
3. Tôi không nợ/hứa gì ai, chỉ để lại ít sách vở/đồ dùng, xin Sở Quản lý Nhà Chung và Gia tộc chia cho các Linh mục, Nữ tu con đi tu của tôi, các cháu, Bạn hữu và các sinh viên/học sinh sử dụng hữu ích.
II. Phải làm gì trước hiện trạng của Giáo hội Công giáo, các Tôn giáo và Tổ quốc VN ?
1. VN chưa có Tự do Tôn giáo (TDTG) thực sự và đầy đủ cho 6 TG hiện diện (Cao Đài, Công Giáo, Hồi Giáo, Phật Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, Tin Lành). TDTG gồm 4 điều chính yếu liên quan chặt chẽ với nhau mọi TG đều phải được quyền có, nhưng chưa có:
1.1. Các Tôn giáo (TG) phải được thừa nhận tư cách pháp nhân và được đối xử công bằng : Tại VN, chưa có TG nào được thừa nhận tư cách pháp nhân cả, chỉ mới được phép đăng ký có mặt. Một số Giáo hội Tin Lành tư gia chưa được phép đăng ký và chưa được đối xử công bằng hợp lý.
1.2. Các TG phải được tự do phát triển theo khả năng mình có, chỉ bị pháp luật ràng buộc như mọi công dân/tổ chức khác, để không xâm phạm tự do của cá nhân/tổ chức khác: Tại VN, điều này chưa TG nào có được. Chỉ TG nào hoàn toàn tùng phục NCQ CSVN mọi mặt, mới được tự do làm nô lệ cho bạo quyền CS mà thôi. Sau đây chỉ là vài thí dụ minh chứng:
+ Suốt 260 năm Đạo Công giáo bị bắt bớ từ thời vua Lê chúa Trịnh chúa Nguyễn đến thời Văn Thân (1617-1877), tuy nhiều lúc Giáo hội Công giáo (GHCG) phải sinh hoạt lén lút, bị triệt hạ, tàn sát…nhưng các quyền thiêng liêng cơ bản nhất như tuyển chọn chủng sinh, đào tạo/phong chức/bổ nhiệm linh mục/giám mục GHCG đều chủ động, không bị mất. Còn trong chế độ CS, luôn được rêu rao là tự do ưu việt gấp ngàn lần các Nước khác, tất cả các quyền cơ bản này GHCG đã bị mất vào tay bạo quyền CSVN ! Các TG chỉ được sinh hoạt trong vòng chiếc thòng lọng siết cổ các TG mà thôi. Điều này chính xác 100%.
+ GHCG VN có duy nhất một Học viện Giáo hoàng Piô X tại Đà Lạt để đào tạo các Linh mục tốt nghiệp cử nhân thần học, thì đã bị "được phép trao nhượng" hoàn toàn không thỏa đáng ngay sau năm 1975 để làm trường đảng. Tiểu chủng viện Hoan Thiện nơi đào tạo Linh mục, số 11 đường Đống Đa, Huế bị Công an CS dùng bạo lực cưỡng chiếm rất tàn nhẫn tháng 12-1979 để bị làm Festival Hotel,… NCQ CSVN đang nỗ lực để đạt tiêu chuẩn 1 giáo viên dạy 25-50 học sinh/sinh viên mà tình trạng giáo dục hiện nay suy đồi đến thế, trong khi tỷ lệ của GHCG VN hiện là 1 Linh mục phải phục vụ trên 20.000 Giáo dân, chưa kể số Lương dân trong vùng và nhu cầu thiếu Linh mục rất trầm trọng ở Trung Quốc, Lào, Campuchia, Châu Phi, Châu Âu,… nhất là 26 Giáo phận không có Giáo phận nào có Tiểu chủng viện (bị tịch thu/đóng cửa), chỉ có 6 Đại chủng viện, khiến chất lượng đào tạo linh mục yếu kém hoặc rất yếu kém do thiếu nền tảng nhân bản từ đầu.
+ Mọi Tín đồ và Tu sĩ, Giáo sĩ đều bị buộc phải học và tin yêu Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ nghĩa Xã hội (CNXH), Con người và Tư tưởng Hồ Chí Minh (HCM) từ Mẫu giáo, Tiểu học, Trung học, Đại học, Chủng viện, Thiền viện, Tu viện, Học viện. Tín đồ, Tu sĩ, Giáo sĩ nào không muốn, thì cũng phải ép lương tâm tự dối lòng, học và làm bài sao cho qua được các kỳ thi. Đặt bút xuống viết bất cứ một loại giấy hành chính… "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" là đã nói dối viết dối. Cầm tiền giấy in hình ông HCM rất nhiều người chỉ muốn xé ngay, nhưng mọi người đều vẫn phải cất giữ để sinh sống là đã tự dối. Tôi đã công khai khẳng định rất nhiều lần: VN đang là một trường dạy buộc nói dối tinh vi và khổng lồ. Văn hóa Dân tộc bế tắc tận nền tảng.
1.3. Các TG hoặc các Tín đồ được tham gia đời sống xã hội, chính trị… theo đúng niềm tin TG của mình: Tại VN, điều này chưa TG nào có được. Chưa TG nào có riêng một tờ báo, nhà in, nhà xuất bản, giờ phát thanh/truyền hình, nói gì đến đài phát thanh/truyền hình, trường tiểu/trung/đại học, viện nghiên cứu, hội đoàn chính trị… lại càng xa vời. Chỉ vài năm gần đây, viện mồ côi, nhà khuyết tật, dưỡng đường bệnh nhân AIDS… NCQ CSVN không thể lo xuể, mới hé ra cho vài TG "được phép làm từ thiện, được quyền thương người" với bao nhiêu khó khăn về thủ tục, cơ sở, nhân sự,…
1.4. Muốn có TDTG thực sự đầy đủ, các TG phải có Tự do Ngôn luận (TDNL) để rao truyền niềm tin TG của mình theo đúng tiêu chuẩn Liên Hiệp Quốc (LHQ), căn cứ trên các Văn bản Công pháp Quốc tế:
+ Công Ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị”, của LHQ ngày 16-12-1966, VN xin tham gia ngày 24-09-1982: Mọi người có quyền TDNL. Quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ (điều 19,2).
+ Tuyên ngôn QT Bảo vệ những người đấu tranh cho Nhân quyền” ngày 9.12.1998 : Mọi người đều có quyền: Lưu giữ, tìm kiếm, thu đạt, nhận và bảo quản những thông tin về tất cả các quyền con người và tất cả các tự do căn bản, nhất là được toàn quyền tiếp cận với những thông tin liên quan đến cách ứng dụng các quyền và các tự do qua những hệ thống lập pháp, tư pháp hay hành chánh quốc gia (điều 6.a) ; Xuất bản, thông báo cho người hay phổ biến tự do mọi ý kiến, mọi thông tin và mọi kiến thức về các quyền con người và các tự do căn bản, y theo sự qui định của những văn bản QT liên quan đến các quyền con người và những văn bản QT khác có thể áp dụng (điều 6.b) ; Nghiên cứu, thảo luận, đánh giá và lượng định sự tôn trọng, trên pháp lý cũng như trong thực hành, tất cả các quyền con người và tất cả các tự do căn bản, và làm cho công chúng chú ý đến vấn đề này bằng cách này hay mọi cách thích hợp khác (điều 6.c).
+ Luật Ký kết, Tham gia và Thực hiện Điều ước Quốc tế do NCQ CSVN ban hành ngày 24.6.2005, hiệu lực ngày 01.01.2006: Trong trường hợp văn bản qui phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có qui định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng qui định của điều ước quốc tế (điều 6,1). Việc ban hành văn bản qui phạm pháp luật phải bảo đảm không làm cản trở việc thi hành điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có qui định về cùng một vấn đề (điều 6,2). Nghĩa là khi có điều nào trong Luật pháp của một Nước thành viên LHQ khác với hoặc mâu thuẫn với Luật Quốc tế, thì phải áp dụng Luật Quốc tế là Văn bản pháp lý có giá trị ràng buộc cao hơn.
Nhưng trong thực tế, quyền TDNL tại VN hiện nay thua xa tại nước Anh thời Karl Marx (1840-50), tại nước Pháp thời Nhóm Người Việt Yêu Nước hoạt động (1910-30), và ngay tại VN thời Pháp thuộc khi cụ Huỳnh Thúc Kháng xuất bản báo Tiếng Dân tại Huế năm 1927 và Ông Nguyễn An Ninh xuất bản báo La cloche fêlée (Tiếng chuông rè/rạn) ở Sài Gòn năm 1923 chống lại Thực dân Pháp. Thời đó, riêng tại Nam Kỳ, Việt Nam, các đảng viên cộng sản, nếu đấu tranh bất bạo động, dù công khai, vẫn không bị bắt.
+ Nhìn vào các sinh hoạt TG có tính lễ hội, những ai nói ở VN hiện nay họ vẫn đang sinh hoạt TG bình thường hoặc là do mù nhận thức, hoặc cố tình ép lương tâm nói dối. Dù tất cả mọi người tại VN nói VN đang có TDTG, thì riêng tôi vẫn xác quyết VN chưa có TDTG thực sự, đang bị mất những điều cơ bản nhất.
+ Muốn có TDTG, TDNL trước tiên phải thoát Họa Mất Nước do "diễn biến hòa bình từ từ nô lệ" Trung Cộng (TC) tham lam và tàn bạo, đồng thời phải thoát khỏi chế độ CS độc tài gian trá.
2. Tại sao phải chống Giặc Tàu và phải cấp bách giải thể chế độ CSVN ?
Tổ quốc VN đang phải gánh chịu các tổn hại cực kỳ to lớn:
2.1. Tổn hại toàn diện trong thân phận kiếp người : Khi đẩy Dân tộc và Tổ quốc VN ngày càng nô lệ TC, Đảng CSVN đã và đang làm tổn thương tình yêu Nước thiêng liêng và danh dự của người VN khắp nơi trên thế giới, quốc nội lẫn hải ngoại, nghiêm trọng nhất là đang biến gần 87 triệu người Việt quốc nội và con cháu ngàn đời sau, trở thành những nô lệ của các tộc người Trung Hoa, vì TC vừa đông hơn, vừa mạnh hơn, tham lam hơn và nhất là tàn ác hơn. Kể cả sau này khi Trung Hoa đã thoát khỏi Chế độ CS, kiếp nô lệ ấy vẫn tiếp tục đè nặng trên Dân tộc Việt.
2.2. Tổn hại lãnh thổ - lãnh hải của Tổ quốc ngàn đời :
Đảng CSVN đã và đang tiến hành biến Tổ quốc VN thành thuộc địa của TC, biến Dân tộc VN thành nô lệ của TC. Dưới chế độ CS, Tổ quốc VN chúng ta đã: - mất từ 760 km2 đến 1.000 km2 ở vùng biên giới lãnh thổ phía Bắc. - mất từ 11.000 km2 đến 20.000 km2 ở vùng biên giới lãnh hải Vịnh Bắc Việt. - mất nhiều địa điểm mang tính lịch sử như Ải Nam Quan, Bãi Tục Lãm, phân nửa thác Bản Giốc... và nhiều cao điểm chiến lược quan trọng về an ninh quốc phòng. - mất Quần đảo Hoàng Sa và phần lớn quần đảo Trường Sa, là tài nguyên về khoáng sản, hải sản và là tiền đồn phía Đông Tổ quốc. - mất quyền kiểm soát vùng Tây Nguyên do việc để cho TC khai thác bôxit, mất quyền kiểm soát hơn 300 ngàn hecta rừng đầu nguồn và hàng chục ngàn hecta duyên hải do việc để cho TC thuê mướn lâu dài.
+ Do đâu và bởi ai mà một phần lãnh thổ và lãnh hải trọng yếu của Tổ quốc Việt Nam, vốn vẫn nguyên vẹn qua hàng ngàn năm dựng Nước và giữ Nước, tự dưng lại bị mất vào tay Trung Cộng cách quá dễ dàng từ khi Đảng CSVN cướp Chính quyền năm 1954? Các tội đồ này và các đồng lõa không được phép và không xứng đáng tiếp tục khiên cưỡng độc đoán lãnh đạo Đất nước này, ngoài ý chí của toàn Dân nữa.
+ Nếu VN là đệ tử, nô lệ của TC, thì làm sao chống lại TC được? Vì thế, "phải tiến hành thiết lập Chế độ Dân chủ Đa nguyên Đa đảng VN Thăng tiến Hòa bình, văn minh thân thiện giữa Cộng đồng Quốc tế, để đủ sức vừa ngăn chặn hiệu quả TC bành trướng tham lam, vừa dựa vào Công pháp Quốc tế giúp thu hồi lại phần lãnh thổ và lãnh hải trọng yếu của Tổ quốc VN đã bị mất vào tay TC, chấm dứt tình trạng nô lệ TC ngày càng lộ rõ không thể biện minh trước Quốc Dân và Quốc tế."
(Trích Thư yêu cầu trả lời dứt khoát với Quốc Dân về lãnh thổ và lãnh hải của Tổ quốc đã bị CSVN trao nhượng cho Trung Cộng tôi gửi ông Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao Trương Hòa Bình ngày 30-1-2011).
+ Hơn nữa, "Chế độ Cộng sản độc tài vô thần duy vật đã trở thành một đại họa vô cùng cay đắng cho Nhân loại, một thử nghiệm đã hoàn toàn thất bại trên toàn cầu về một ước mơ công bằng, hòa bình, văn minh, thịnh vượng không bao giờ đạt. Mọi người có chút lương tri và tâm trí đều không muốn chế độ vô luân này tồn tại thêm giây phút nào trên hành tinh này nữa. Riêng tại Việt Nam, suốt 80 năm qua, kể từ năm 1930 khi Đảng CS Đông Dương, tức là Đảng CSVN, có mặt trên Quê hương chúng ta, thì hận thù, gian trá, áp bức, cướp đoạt, bất công, bạo lực, đấu tố, khủng bố, chiến tranh… triền miên xâu xé Tổ quốc và Đồng bào chúng ta, dưới đủ mọi hình thức, vừa thô bạo vừa tinh vi, khiến không một người Dân Việt nào được an tâm vui sống trọn vẹn dù chỉ một ngày. Trãi nghiệm quá khổ đau chán ngấy này trong mỗi người chúng ta không nên kéo dài thêm ngày nào trên Dân tộc và trong tâm hồn con cháu thơ ngây vô tội của chúng ta nữa."
(Trích Lời Kêu Gọi Tiến Hành Giải Thể Chế Độ CS Để Thiết Lập Chế Độ Dân Chủ Đa Nguyên Đa Đảng VN Thăng Tiến Hòa Bình của tôi ngày 01-01-2011, viết tắt LKG THGTCDCS).
3. Làm thế nào để giải thể chế độ CS tại VN ?
3.1. Dân tộc Việt Nam có truyền thống anh hùng hàng ngàn năm qua, nhưng sau hơn 60 độc tài toàn trị, CS đã phạm một tội ác cực kỳ to lớn là đã lấy đe dọa, khủng bố, đàn áp và dối gạt làm cho phần lớn Đồng bào VN hiện nay bị biến chất và thoái hóa, trở nên bạc nhược và rất bạc nhược. CS đã ranh ma thiết lập độc tài toàn trị dựa trên 2 vũ khí truyền đời: lừa dối và đe dọa, biến Toàn Dân VN thành nạn nhân nô lệ.
3.1.1. Phải lấy Sự Thật để thắng dối trá. Phải sưu tập và chuyển tải Sự Thật thật sâu rộng trong mọi giới Đồng bào trong và ngoài Nước. Nhưng Sự Thật phải được chuyển đến mọi người bằng nhân ái, cảm thông, ôn hòa, văn minh, lịch sự mới tác dụng tốt. Sự Thật được chuyển bằng hận thù cay độc thì không thể hữu hiệu.
3.1.2. Phải lấy Nhận Thức, Trí Tuệ và Giác Ngộ để thắng sợ hãi. Giới Bình dân sợ mất hộ khẩu, bị đuổi học, mất việc làm… an nguy của cả gia đình. Họ trông đợi giới Lãnh đạo, Nhân sĩ, Trí thức xông ra gánh vác để họ nương theo. Đáng tiếc là các giới Nhân sĩ này lại đang có địa vị, nhiều quyền lợi, càng sợ mất nhiều thứ hơn: sợ mất nhiệm sở ngon, sợ con cái mất đại học, mất du học, mất việc làm lương cao, mất tương lai hoành tráng… nhưng luôn "khôn khéo" che đậy lòng ích kỷ và nhu nhược của mình bằng các lập luận ngụy trang với những kiểu nói "mưu sĩ dạy đời, uyên bác thâm trầm, nhạy bén sâu sắc, làm ra vẻ ẩn sĩ nhẫn nại chờ thời" (đại loại: Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống; Tôi còn trách nhiệm với bao người, tôi tham gia thì nhiệm vụ cao cả ai gánh vác thay? Giả như con cái tôi trưởng thành rồi, thì tôi…; Lúc này chưa đến lúc, liều lĩnh chỉ có chết; Làm sao trứng chọi được đá? Để những người chuyên môn, còn mình chỉ cần theo dõi là đủ; Làm không đúng thời điểm, lẽ ra đến lúc dân có thể đứng lên thì nay dân không thể đứng lên được…)
+ 90 triệu Dân VN cần cùng nhau nhận thức cho thật chuẩn xác: Chế độ CSVN thực sự cần đào thải thay thế không? a) Nếu ai cho rằng không cần, thì cứ an tâm cúi đầu cho nó tiếp tục lừa dối và đe dọa, kéo lê kiếp nô lệ truyền qua đời con cháu chắt chít…cho đến khi nào nó tự mục ruỗng đến mức tự hũy, mất hàng trăm năm nữa. b) Nếu ai cho rằng, dù CS kéo dài thêm một ngày cũng không thể để nó tồn tại, cũng "không thể sửa chữa nó, mà phải thay thế nó"(TT Nga Boris Yeltsin), vì nó là "dối trá, và chỉ là dối trá" (ĐGH Gioan-Phaolô II) thì phải hiệp lực quyết tâm thay thế nó. "Dù một hệ thống quyền lực mục ruỗng đến đâu, nó cũng tự đề kháng để tồn tại, cho đến khi có một lực mạnh hơn xô nó ngã" (Lê-nin). c) Còn những ai vừa thấy cần phải thay thế nó, nhưng không dám làm gì, chỉ ngồi đợi người khác làm cho mình hưởng thì… Chúng ta kêu gọi CS từ bỏ độc quyền mà giới Nhân sĩ chúng ta còn bám níu quyền lợi hơn CS nữa, thì có tự mâu thuẫn không? Giới Nhân sĩ mà ngồi đợi cho giới Bình dân đấu tranh và thiết lập đời tự do cho mình hưởng thì quá phi lý, phải tự hổ thẹn mà xông ra gánh vác, mới là đáng mặt sĩ phu quân tử.
+ Lẽ ra trong chế độ CS, thanh niên nam nữ không nên sinh con buộc con cái phải làm nô lệ. Nay đã sinh các em rồi, thì phải nỗ lực giải thoát con cái. Lo cho con em học bổng, thành đạt… vẫn không quan trọng bằng giúp giải thoát các em khỏi bệnh dối trá và sợ hãi của kiếp nô lệ đúng nghĩa. Hơn 60 năm qua, nhất là từ 1975 đến nay, chúng ta đã quá lo toan chuyện phụ tùy mà cố tình dối lòng lờ đi chuyện chính yếu.
+ Làm điều chính đáng, dù một người cũng luôn kiên vững không sợ. Nay một tập thể đông, không lẽ CS dám đuổi học cả trăm/ngàn/vạn sinh viên/học sinh? Và cho dù bị đuổi học thì cũng chưa là gì, so với việc bị kéo lê kiếp nô lệ của dối trá và sợ hãi. Toàn Dân phải rủ bỏ sợ hãi, cùng đồng loạt đứng lên, lấy lại khí phách uy dũng của giòng máu Lạc Hồng. Giới Nhân sĩ phải tiên phong, giới Bình dân phải hỗ trợ. Đôi bên bổ sung nhau, cùng giúp nhau đứng lên tự làm cuộc trưng cầu ý dân tự phát, bằng các cuộc đấu tranh/biểu tình ôn hòa bất bạo động toàn diện tự phát (ĐT/BTÔHBBĐTDTP) hàng loạt.
3.2. Đấu Tranh/Biểu Tình Ôn Hòa Bất Bạo Động Toàn Diện Tự Phát : Trong 2 Bản Hướng dẫn ĐT/BTÔHBBĐTDTP ngày 01 & 20-01-2011, tôi đã trình bày khá đầy đủ về lý do, thời gian, địa điểm, hình thức, phương cách. Nay xin nhắc lại các điểm chính yếu và nói rõ hơn các điểm cần.
3.2.1. Trong một chế độ độc tài toàn trị, NCQ CS không bao giờ tổ chức hoặc cho phép trưng cầu ý dân. Dân phải tự nói lên nguyện vọng, ý chí của mình bằng cách lặp đi lặp lại với bất cứ hình thức nào để biểu tỏ cách kiên định, ôn hòa cho đến khi đạt hiệu quả, thông qua thơ văn, vè, nhạc, hát, kịch, phim, tranh, biểu ngữ, cầu nguyện, Lễ nghi Tôn giáo, mệt nhọc, khổ hạnh, đói khát, nhịn ăn, nhịn uống, mồ hôi, nước mắt, bệnh tật, xương máu, sinh mạng của một/nhiều người, nhưng kiềm chế tuyệt đối không dùng đến bất cứ một loại vũ khí/hung khí nào có thể gây thương tích thể xác hoặc sát thương bất cứ đối tượng nào, kể cả gây tổn thương qua các hình thức ngôn ngữ thông thường. Nơi người Chiến sĩ Dân chủ Hòa bình (NCSDCHB), mọi hình thức đấu tranh đều là biểu tình và mọi hình thức biểu tình đều là đấu tranh. Đấu tranh tạo áp lực cao nhất và hiệu quả hòa bình vững bền nhất là ĐT/BTÔHBBĐTDTP của cá nhân, nhất là của tập thể.
3.2.2. ĐT/BTÔHBBĐTDTP : Việc giáo dục và chuyển đổi tâm hồn con người là kỳ công của riêng chính Thượng Đế, con người không thể tự làm được. Do đó, trong đấu tranh, NCSDCHB hằng ngày phải luôn thiền định - cầu nguyện cho đồng đội và đối phương cùng nhau thăng tiến và thăng hoa vươn lên Chân-Thiện-Mỹ, nhờ đó biết luôn đấu tranh trong cao thượng, ung dung, ôn hòa cả trong ngôn ngữ: không la hét, mắng chửi, nguyền rủa, mạ lỵ, xúc phạm đối phương. NCSDCHB chân chính phải loại trừ mọi mầm mống phẩn uất, căm ghét, hận thù, muốn báo oán, trả đũa ra khỏi tâm trí mình, mới đủ sức mạnh cần thiết để đấu tranh cho Sự thật, Công lý, Tình thương, Tự do, Nhân phẩm, Nhân quyền, Dân chủ, Đa nguyên, Văn hóa, Văn minh, Đạo đức quân bình, lành mạnh, trong sáng và chân chính. Lòng căm ghét, hận thù sẽ làm NCSDCHB yếu đuối và không thể cảm hóa được đối phương, rất khó phát triển hàng ngũ. Dù rất kiên định và quyết liệt đấu tranh bền bỉ không khoan nhượng, NCSDCHB chân chính trong suốt quá trình sử dụng ĐT/BTÔHBBĐTDTP chỉ có 2 thái độ mà thôi: CẢM PHỤC những ai đạo đức, anh hùng và CẢM THÔNG tất cả những ai sai lầm và tội lỗi. Không nên và không được có thái độ thứ 3 nào khác nữa. Chỉ sai lạc và nguy hại mà thôi. Hại cho mình và hại cho đời. NCSDCHB chấp nhận mọi hi sinh mất mát của bản thân/gia đình/tổ chức để khôn ngoan phân hóa, cô lập các phần tử cực đoan gian ác, và thu phục các thành phần phục thiện của đối phương. Lý tưởng đạo đức phải cao để lôi kéo đối phương vươn lên, chứ không phải là mơ hồ ảo tưởng.
3.2.3. Vũ khí ĐT/BTÔHBBĐTDTP : Bất cứ điều gì trung thực, ôn hòa và nhân ái nơi bản thân NCSDCHB cũng là vũ khí hoặc được biến thành vũ khí, luôn làm đối phương bị động, lúng túng, run sợ và bất lực: lời nói, thơ văn, lời ca, tiếng hát, biểu ngữ, im lặng, điệu bộ, cười, khóc, ánh mắt, đột quỵ, nhà tù, chay tịnh, tuyệt thực, bệnh tật, bị thương, khước từ điều trị,… và tột đỉnh là cái chết. Thường cái chết của một lãnh đạo phong trào luôn kéo theo sự chấm dứt cả một chế độ hay một chính sách: Mahatma Mohandas Karamchand Gandhi ở Ấn Độ (1948), Mục sư Martin Luther King ở Mỹ (1968), Linh mục Zerzy Piepoluszko ở Ba Lan (1984)…
3.2.4. Nếu người lãnh đạo phong trào chưa vững tin vào hiệu quả tuyệt đối và tất yếu của ĐT/BTÔHBBĐTDTP, thành phần tham gia có những tham vọng riêng, ảo tưởng nôn nóng vượt quá năng lực mình, thích mạo hiểm phiêu lưu theo cá tính, cố chấp theo định kiến xơ cứng lỗi thời, thiếu kiềm chế trước cám dỗ nông cạn của bạo động, thiếu kiên nhẫn do đợi chờ quá mỏi mệt lâu ngày, đám đông tham gia chưa thấm nhuần sức mạnh chân chính của ĐT/BTÔHBBĐTDTP, thì luôn phát sinh 1 trong 3 hậu quả tác hại:
3.2.4.1. Không thể thành công : bất bạo động nửa vời, pha trộn quá nhiều bạo động, dù chỉ bạo động trong lời nói (hằn học, cay cú, độc ngôn, đâm chọc, cường điệu, mỉa mai, thô tục). Khi bị tấn công mà không thể kiềm chế, nhất là giới trẻ liều lĩnh trả đũa, chấp nhận đi tù, là rơi vào bẫy đối phương. Khi các thành viên nòng cốt bị bắt, phong trào sẽ dao động, khó kéo dài liên tục. Tệ hại hơn, một số bạn bị bắt chịu không nổi nhục hình hoặc bị lừa, chắc chắn sẽ sơ hở khai báo lung tung, càng làm cho phong trào đi xuống, có khi tan rã hẳn.
3.2.4.2. Thành công với nhiều đổ vỡ : Phải tốn nhiều công sức hàn gắn sửa chữa, có khi phải mất hàng trăm năm hoặc lâu hơn, do không bất bạo động tuyệt đối và toàn diện (cách mạng Pháp 1789…).
3.2.4.3. Không thành công chân chính thật sự : Chỉ đạt một số thành tích tạm bợ hời hợt bề ngoài trước mắt, không thể ổn định vững bền, chắc chắn phát sinh những bất công, sai lầm, gian trá và các tội ác mới, vì liều lĩnh lấy sai lầm này chữa trị sai lầm kia, lấy tội ác mới lớn và nhiều hơn thay cho tội ác cũ, với cường độ gấp nhiều lần, rồi lấy tuyên truyền mà bịp lừa và bít lấp bằng thủ đoạn nuôi dưỡng sự sợ hãi và gian trá (phong trào CS quốc tế, nhất là tại VN và TC…).
+ Cần phải dứt khoát khẳng định và xác tín: Chỉ có ĐT/BTÔHBBĐTDTP mới luôn dẫn đến thành công vững bền, không đổ vỡ, trong khoan dung, đạo đức, trung thực, nhân ái, công lý, thăng tiến, thăng hoa, văn hóa, văn minh, hòa bình mà thôi. Không có con đường nào khác, không những cho Việt Nam mà còn cho cả hoàn cầu. "Khi phê phán đối phương, chỉ nên phê phán đến 80% tội lỗi của đối phương thôi, chừa lại 20% cho bức xúc, để nếu do bức xúc mà cuồng nộ lên, thì cũng không vượt quá sự thật, tránh gây bất công cho đối phương" (Mahatma Gandhi). Một sự thật, lẽ phải được nêu lên trong căm thù uất hận thì không còn là sự thật nguyên vẹn nữa, dễ bị méo mó mờ đục, lại phản cảm biến thành sự dối trá - bất công mới. Tiêu chuẩn đạo đức phải cao, dù số đông chưa đạt tới, vẫn hấp dẫn thúc giục vươn lên.
+ Sẽ có một số người ham mê bạo lực và chạy theo thành công nông cạn, xuyên tạc rằng đây chỉ là con đường và phương pháp đấu tranh cuội, viển vông, do CS mớm cho, cốt để CS tiếp tục cai trị lâu dài. Chúng ta tỉnh táo không nghe theo lập luận thiếu nền tảng đạo đức đó, quyết tâm đấu tranh cho một Việt Nam thật sự đạo đức, thăng tiến và hòa bình vững bền, chứ không chỉ là bạo lực thay cho bạo lực, gián ác thay cho gian ác, hận thù thay cho hận thù, mê lầm thay cho mê lầm, chìm đắm trong lẩn quẩn. Phải thay chế độ CS bằng một chế độ tốt hơn nhiều lần về mọi mặt, vươn lên xây dựng một chế độ tối ưu.
3.2.5. Thời gian & Địa điểm : Bất cứ lúc nào, nơi đâu. Lúc đầu, chưa cần kéo đi xa, chưa cần về thành phố lớn (tốn kém, dễ bị tổn thất không/chưa cần thiết). Chưa cần xảy ra trước cơ quan bạo quyền (thách đố quá mức cần thiết). Chỉ cần thật sự xảy ra đâu đó là có tiếng vang, là đã được nói lên cho những ai cần nghe biết rồi, nhất là suốt năm 2011 này (có thể kéo dài qua 2012-2013…). Rồi lan dần ra đều khắp Nước.
3.2.6. Cách thức biểu tình tự phát rất đơn giản, nhanh gọn tại chỗ, ít tốn tiền, tránh bị đàn áp :
3.2.6.1. Cá nhân : Làm bất cứ gì cho đối phương hiểu điều mình muốn nói là đủ (có các biểu ngữ cầm ở tay, mang trước ngục/sau lưng… thì tốt hơn). Riêng tôi, dù ở đâu, sẽ liên tục ĐT/BTÔHBBĐTDTP suốt đời.
3.2.6.2. Tập thể : Sau một buổi học/thi các giáo viên/giảng viên học sinh/sinh viên đã sẵn; sau một lớp học/huấn luyện/tập huấn/hội họp các học viên/bộ đội/công an/nông dân/công nhân đã sẵn; sau phiên chợ, ca lao động, các tiểu thương/đại lý/lái xe-tàu đã sẵn; sau Lễ nghi Tôn giáo tại một ngôi Chùa, Thánh Thất, Nhà Thờ, Tín đồ đã sẵn… tự phát qui tụ tại bất cứ nơi nào (20-50-100-200-1.000… người), hát Ca Khúc/Thánh Ca…, đưa cao Biểu ngữ (lớn-dài hoặc chỉ 1 tờ giấy đưa cao). Hô khẩu hiệu ôn hòa, trật tự. Chỉ cần kéo dài 5-10-20-30… phút là đã biểu tình thành công trong giản dị, tiết kiệm thời gian, sức lực, tiền bạc,… Mọi thành phần xã hội rất dễ tự phát thực hiện, bất cứ lúc nào và nơi đâu. Hoặc thân nhân, xóm làng trong một cuộc Dân oan/đơn vị Tôn giáo đòi lại nhà đất bị cưỡng chiếm, trong một phiên tòa bất công,… có thể tự phát thành một cuộc biểu tình rầm rộ, chấn động. Riêng các Tôn giáo phải biết tận dụng lợi thế vô cùng uy dũng của mình: Một Bạch thư, Thư chung, một buổi Thờ tự, Thánh Lễ, Tế Đàn, một cuộc Rước Kiệu, Hành Hương, một buổi Cầu nguyện chung, dù chỉ một Lời Nguyện được xướng lên… Tất cả đều có thể trở thành một phương cách đấu tranh/biểu tình rất ôn hòa mà hiệu quả rất cao, làm cho bạo quyền hết sức run sợ và lung lay tận gốc, nhưng đành chịu hoàn toàn bất lực, không sao đối phó hoặc ngăn cản được.
+ ĐT/BTÔHBBĐTDTP đơn giản, đến thời điểm thích hợp sẽ biến thành các cuộc tuần hành cần thiết, cuốn theo mọi giới Đồng bào, kể cả Cán bộ, Công an CS…
3.3. Tẩy chay bầu cử Quốc hội (QH) độc đảng dân chủ giả hiệu 22-5-2011 (& 2016, 2021…) : Không phải chúng ta tẩy chay làm cho QH này không thành hình. Dù một số khá lớn cử tri không đi bầu, CS vẫn có đủ mọi thủ đoạn để thay phiếu, bỏ phiếu bù… làm cho QH này vẫn thành hình. Nhưng chúng ta tẩy chay để QH này thành hình trong gian manh. Chính các Đại biểu QH này tự thấy họ không ngay chính, không phải là Đại biểu của Dân, mà chỉ là tay sai của ĐCSVN và ĐCSTC, tự họ sẽ góp phần áp lực tiến lên đa nguyên đa đảng. Chúng ta đã gượng ép tự dối 12 lần trong 65 năm, không thể tự dối thêm lần thứ 13 nữa. Kính xin các Nhân sĩ, Trí thức phải tiên phong nêu gương làm chỗ dựa cho giới Bình dân, thay vì đợi chờ ngược lại.
3.4. Đặc biệt gửi đến lực lượng Công an (CA) và Quân đội (QĐ) CSVN. "Tổ Quốc đã rơi vào tay ngoại bang một phần lãnh thổ và lãnh hải cực kỳ quan trọng về an ninh-chiến lược, Đất Nước đã bị lệ thuộc đế quốc Tàu Cộng ngày càng chìm đắm trong mọi lãnh vực. Quí Bạn hãy DỨT KHOÁT ĐỨNG HẲN VỀ PHÍA DÂN TỘC, để luôn làm nhiệm vụ hết sức cao cả là bảo vệ an ninh-quốc phòng cho Tổ quốc, luôn là chỗ dựa đáng tin cậy của Đồng bào, nhất là những người Dân Oan mất đất mất nhà, Dân Nghèo cả về nhân phẩm-nhân quyền, cả về cơm ăn-áo mặc. Quí Bạn hãy gây áp lực để một số nhỏ cấp lãnh đạo ĐCSVN không thể tiếp tục duy trì địa vị độc tôn, hầu lợi dụng chức quyền vơ vét thêm tài sản quốc dân, buộc họ phải trả lại quyền Dân chủ trọn vẹn cho Toàn Dân…" (LKG THGTCDCS… số 2). Nếu Quí Bạn để Đất nước mãi mãi nô lệ TC và chìm đắm trong sợ hãi và dối trá do CS áp đặt, thì trách nhiệm của Quí Bạn trước Tổ quốc, Anh Linh của Tổ Tiên và Hồn Thiêng Sông Núi không trao trút cho ai được ! Quí Bạn hãy quả cảm đứng lên gánh vác trọng trách cao cả Lịch sử và Đồng bào giao phó.
4. Thời cơ đã thực sự chín muồi : Hiện nay, nội bộ cấp lãnh đạo cao nhất CSVN đã bế tắc về đường lối, lục đục về tổ chức, đã phân hóa rõ rệt về nhân sự, cơ hội giải thể chế độ CS đã trong tầm tay Dân Việt, nếu không biết tận dụng cơ hội này thì biết đến bao giờ? Dân Ba Lan, Nga, Liên Xô, Đông Âu (Dân văn hóa cao hơn: ít sợ hãi và khó chấp nhận dối trá hơn), Tuynidi, Ai Cập (bộ máy độc tài lỏng lẻo hơn CS)… nên đã thành công. VN muốn thành công, tùy sự quyết tâm của mỗi người trong 90 triệu người Việt. Nếu không tận dụng cơ hội này thì phải cam phận cúi đầu vĩnh viễn làm nô lệ CS và TC. Trong chế độ CS độc quyền toàn trị, người Dân đối kháng không thể nào tổ chức "đoàn luật sư, công đoàn, đoàn sinh viên, đoàn thanh niên, hiệp hội phụ nữ…" của riêng Phong trào Dân chủ được. Ngay cả "Liên đoàn Tăng Ni, Tu sĩ, Hiền sĩ, Đạo sĩ, Mục sư, Linh mục,…" dù muốn, cũng không thể thành lập được ngay từ đầu. Phải vừa Tiến Hành Giải Thể vừa Xây Dựng và Kiện Toàn Tổ Chức. Thiết nghĩ đó là phương cách tối ưu hiện nay tại VN.
+ Nếu liên tục áp lực đồng loạt cả Nước, buộc BCT ĐCSVN chọn: Khôn ngoan chấp thuận đa nguyên-đa đảng; hoặc nhận lãnh một cuộc chính biến tất yếu phải xảy ra do 1 trong 2 lực lượng CA/QĐ đảm nhiệm.
5. Đây là thời điểm rất thích hợp để các Tổ chức đấu tranh dân chủ công bố với Quốc Dân Dự án Chính trị của mình để Toàn Dân lựa chọn và an tâm kỳ vọng vào một tương lai VN đạo đức hơn, văn minh hơn, ổn định hơn và vững bền hơn, qua một lộ trình Dân chủ hóa Đất nước thiết thực phù hợp; hướng dẫn Đồng bào làm nhiệm vụ lịch sử, bằng các cuộc biểu tình ôn hòa, kiên định, hiệu quả, và bằng các hình thức đấu tranh bất bạo động hữu hiệu khác. Nếu Tổ chức nào chưa sẵn Dự án Chính trị khoa học phù hợp thì nên sát nhập vào Tổ chức khác có Dự án Chính trị hợp lý, hứa hẹn hiệu quả cao cho Đất nước hơn.
6. Xin Quí Luật sư, các Chuyên viên và các Tổ chức Dân chủ chuẩn bị một bản Hiến pháp hoàn hảo ngăn ngừa độc tài hữu hiệu, Luật Bầu cử và Tổ chức Quốc hội hợp lý, Luật Tổ chức Chính phủ gọn nhẹ hiệu quả, Luật Tổ chức Viện Bảo hiến khoa học, giúp cả những người chưa giỏi vẫn có thể điều hành Đất nước đạo đức, hòa bình và thịnh vượng; đồng thời chuẩn bị một cuộc Bầu cử Quốc hội tự do công bằng văn minh để đưa Hiến pháp đi vào cuộc sống.
7. Xin cảm ơn mọi người thiện chí đã vui lòng đọc Bản Di Chúc quá dài này. Kính chúc mọi người sớm được sống trong một Nước VN tự do, dân chủ, đa nguyên đa đảng, hòa bình, đạo đức và an vui.
Trong nhà tù hay bất cứ trong hoàn cảnh nào, tôi vẫn hiệp thông tiếp tục đấu tranh không ngừng. Xin mọi người luôn cầu nguyện cho tôi. Hẹn gặp lại mọi người đông đủ trên Thiên đàng và trong cõi vĩnh hằng.
Viết tại Nhà Chung Tổng Giáo phận Huế, ngày 02-02-2011 Tù nhân Lương tâm Tađêô Nguyễn Văn Lý Linh mục Công giáo Tổng Giáo phận
| | | |
| | | HOA KỲ TRIỆU TẬP ĐẠI SỨ CSVN ĐỂ PHẢN ĐỐI
Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Mỹ được dẫn lời nói bộ này đã triệu tập đại sứ Việt Nam tại Washington đến để phản đối vụ tùy viên của họ bị đối xử thô bạo.
Hãng thông tấn Associated Press (Mỹ) trích lời Người phát ngôn Mark Toner cho biết "Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã triệu tập" Đại sứ Lê Công Phụng để phản đối việc tùy viên chính trị Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội Bấm Christian Marchant bị tấn công sáng hôm thứ Tư 05/01 khi tới thăm linh mục bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Lý tại Huế.
Hãng này cũng dẫn lời một quan chức giấu tên ở Washington hé lộ chi tiết mới, là ông Marchant đã bị "đập cánh cửa xe hơi vào chân nhiều lần" trước khi bị chở đi. Tuy nhiên, ông không bị thương và "sẽ sớm hồi phục hoàn toàn".
Trước đó, Người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga nói trong một cuộc họp báo đầu năm rằng nhà chức trách đang xem xét "vụ việc liên quan đến hành vi của một viên chức ngoại giao của Đại sứ quán Hoa Kỳ (tại Hà Nội) ở Huế ngày 05/01 vừa qua".
Bà Nga khẳng định: "Việt Nam luôn tạo điều kiện cho các cơ quan đại diện ngoại giao và các nhà ngoại giao nước ngoài hoạt động tại Việt Nam theo đúng các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao năm 1961; đồng thời các cơ quan đại diện ngoại giao và các nhà ngoại giao nước ngoài cũng có nghĩa vụ tuân thủ Công ước Vienna và tôn trọng luật pháp nước sở tại."
Tờ Thanh Niên (7/1) chạy tít ''Một nhân viên Đại sứ quán Mỹ gây rối trật tự'', trích nguồn tin của báo kể về sự cố xảy ra trên đường Phan Đình Phùng, Huế, rằng ''một người đàn ông ngoại quốc, tay xách cặp tự xưng là nhân viên ngoại giao tòa Đại sứ Mỹ tại Hà Nội quát tháo ầm ĩ bằng cả tiếng Mỹ và tiếng Việt.''
''Một nhân viên Sở Ngoại vụ tỉnh Thừa Thiên - Huế đã nhẹ nhàng khuyên giải nhưng người đàn ông ngoại quốc vẫn hùng hổ nói ông ta là nhân viên ngoại giao có thể đi bất cứ đâu, gặp bất cứ ai mà không cần phải xin phép. Tiếp đó, ông này còn gạt người nhân viên ngã dúi dụi, sau đó đấm vào mặt một người dân đứng gần đó, xô đẩy cả một số người đang đứng xem..'', báo Thanh Niên viết.
Không đề cập
Các nguồn tin khác nói ông Christian Marchant "bị xô đẩy và cản trở" vào sáng thứ Tư 05/01 khi tìm cách tiếp cận để gặp gỡ linh mục Lý người hiện đang được tạm hoãn thi hành án và dưỡng bệnh tại Nhà Chung, Huế.
Bản thân linh mục Lý nói ông cho rằng những người tấn công ông Marchant là công an. Ông Lý nói ông chứng kiến cảnh ông Christian Marchant bị một nhóm người bao vây, giằng co và ép khiêng lên xe trong tiếng la hét cãi cọ của cả hai bên.
Đại sứ Mỹ tại Hà Nội Michael Michalak, người vừa kết thúc nhiệm kỳ, nói trong cuộc họp báo chia tay hôm thứ Năm rằng Hoa Kỳ đã gửi lời "phản đối mạnh mẽ" tới chính phủ Việt Nam về vụ việc này.
Báo chí Việt Nam hôm thứ Sáu 07/01 khi đưa tin về cuộc họp báo đã không nhắc gì tới phát biểu này của ông Michalak cũng như sự cố liên quan ông Marchant.
Ông Christian Marchant nhận chức vụ tùy viên chính trị tại sứ quán Mỹ ở Hà Nội từ tháng 9/2007 và theo kế hoạch sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm nay.
Ông đã được đề cử giải thưởng về Nhân quyền và Dân chủ của Bộ Ngoại giao Mỹ và theo lịch sẽ về Washington để nhận giải từ tay Ngoại trưởng Hillary Clinton vào tháng tới.
Tốt nghiệp Đại học Brigham Young chuyên ngành quan hệ quốc tế và chính trị học, ông Marchant là người mộ đạo và từng làm công việc truyền đạo tại CH Czech và Slovakia trong hai năm. Vợ chồng ông đều là tín đồ Mormon (Giáo hội Chúa Giêsu Kitô của các Thánh Ngày phán xử).
Trước khi tới Việt Nam, ông công tác tại sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh và Praha, CH Czech. Ông có vợ và ba con, hai gái một trai.
Dân biểu Ed Royce tố cáo công an Cộng Sản Nam có hành động "côn đồ" Đức Tâm
Ed Royce, một dân biểu có thế lực trong Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ tố cáo hành động « côn đồ » trong vụ nhà ngoại giao Mỹ, Christian Marchant, bị hành hung ở Huế ngày 05/01/11. Theo ông, công an Việt Nam vi phạm các quy định của công ước quốc tế trong việc bảo vệ an ninh cho các nhân viên ngoại giao.
Dân biểu thuộc đảng Cộng Hòa, Ed Royce, một nhân vật có thế lực trong Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ tố cáo hành động mà ông gọi là « côn đồ » trong vụ nhà ngoại giao Mỹ Christian Marchant bị hành hung ở Huế, ngày 05/01/2011, khi viên chức ngoại giao này tìm cách đến thăm linh mục Nguyễn Văn Lý.
Dân biểu Royce tố cáo công an Việt Nam đã « dẫm đạp » lên chân của nhà ngoại giao Mỹ, vi phạm các quy định của công ước quốc tế trong việc bảo vệ an ninh cho các nhân viên ngoại giao. Do vậy, ông Royce cho rằng vụ tấn công một nhà ngoại giao Mỹ còn vượt quá mức cần phải trừng phạt.
Xô xát giữa công an Việt Nam và ông Christian Marchant đã xẩy ra khi quan chức chính trị thuộc sứ quán Mỹ tại Việt Nam muốn vào thăm linh mục Nguyễn Văn Lý, hiện đang được tại ngoại để chữa bệnh ở Nhà Chung, Huế.
Dân biểu Royce cho biết là các cộng sự của ông đã liên lạc với nhà ngoại giao Marchant và có thể khẳng định là nhân viên ngoại giao này không phải là một mối đe dọa đối với Việt Nam. Thế nhưng, điều này cũng không ngăn cản được các quan chức Việt Nam dẫm đạp lên chân nhà ngoại giao Mỹ.
Theo ông Royce : « trong quá khứ, chính phủ Việt Nam đã sử dụng các thủ thuật côn đồ nhắm vào các nhà ly khai đấu tranh ôn hòa và đối với những người được coi là mối đe dọa đối với chính quyền. Giờ đây, rõ ràng là không ai có thể tránh khỏi những hành động lạm dụng này ».
Dân biểu Royce là người thường xuyên chỉ trích tình trạng vi phạm nhân quyền, không có tự do tôn giáo tại Việt Nam.
Một quan chức Mỹ, xin giấu tên, tại Hà Nội cho AFP biết là ông Marchant chỉ bị thương nhẹ. Hôm thứ năm, ông Michael Michalak, đại sứ Mỹ sắp mãn nhiệm kỳ đã tránh cung cấp chi tiết về sự cố này, và chỉ nói là Washington chính thức phản đối mạnh mẽ chính phủ Việt Nam trong việc đối xử với một nhà ngoại giao Hoa Kỳ.
Trong khi đó, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam thì khẳng định là Việt Nam luôn luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà ngoại giao làm việc nhưng họ cũng phải tôn trọng luật pháp của Việt Nam
TAGS: HOA KỲ (MỸ) - NHÂN QUYỀN - VIỆT NAM
BỘ NGOẠI GIAO HOA KỲ PHẢN ĐỐI CÔNG AN VIỆT CỘNG HÀNH HUNG VIÊN CHỨC TÒA ĐẠI SỨ MỸ
Trong một văn bản phổ biến tại thủ đô Washington chiều thứ Tư 5-1, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã chính thức lên tiếng phản đối việc công an Việt Cộng hành hung viên chức Tòa đại sứ Mỹ, khi người này đến Huế thăm Linh Mục Nguyễn Văn Lý.
Ông Christian Marchant trong một lần đến thăm dự án Cocoa do Hoa Kỳ tài trợ ở Tây Nguyên Việt Nam hồi đầu tháng 6-2010.
Như tin chúng tôi đã loan tải vào chiều hôm qua linh mục Nguyễn Văn Lý mô tả lại việc ông Christian Marchant, tùy viên chính trị thuộc Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội đã bị công an Việt Cộng hành hung, cản trở khi ông đến thăm Linh mục Nguyễn Văn Lý tại Nhà Chung, Tổng Giáo Phận Huế.
Theo LM Lý kể lại thì ông Christian Marchant đã đi máy bay từ Hà Nội vào Phú Bài, rồi từ Phú Bài, thuê xe để đến cổng 69 Phan Đình Phùng, vào thăm LM Lý. Trước khi ông Christian Marchant đến thì đã có sẵn mấy tên công an Việt Cộng phục kích tai đây, họ ngăn cản không cho ông Christian Marchant vào.
Cũng theo LM Lý kể lại thì ông Christian Marchant bị xô đẩy, bị công an đánh trong khi có sự chứng kiến của hàng trăm người dân tại đây.
Tại Washington DC vào lúc 1 giờ trưa tức 1 giờ khuya Việt nam, Bộ Ngoại Gao Hoa Kỳ đã chính thức đưa ra tuyên bố với nội dung sau đây:
“Chúng tôi nhận thức và quan ngại sâu sắc về vụ việc xảy ra và đã chính thức phản đối mạnh mẽ với chính quyền Cộng Sản Việt Nam tại Hà Nội và đồng thời chúng tôi dự định sẽ đưa vụ việc lên Đại sứ Việt Cộng Lê Công Phụng tại Washington vào ngày hôm nay. Các nhà ngoại giao được hưởng luật pháp quốc tế trong việc được bảo vệ đặc biệt để chống lại sự tấn công. Chính phủ Cộng Sản Việt Nam có trách nhiệm phải có các bước thích hợp để ngăn chặn bất kỳ cuộc tấn công về người, tự do và nhân phẩm của các nhà ngoại giao”.
TUỲ VIÊN CHÍNH TRỊ MỸ BỊ CÔNG AN HÀNH HUNG TẠI HUẾ
Ông Christian Marchant, Tùy viên Chính trị, Đại diện Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, bị hành hung và cưỡng bức không thể thăm Lm TNLT Nguyễn Văn Lý sáng 5-1-2011
FNA 11:00 5 Jan 2011 : Sáng nay, lúc 9g50, như đã báo trước, Ông Christian Marchant, Tùy viên Chính trị, Đại diện Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội và Anh Đào Công Đức, thông dịch viên, đi xe taxi đến cổng 69 Phan Đình Phùng, Huế để thăm Linh mục Nguyễn Văn Lý, người tù nhân lương tâm đang bị liệt nửa người do tai biến mạch máu não vì rối loạn huyết áp và đang bị quản chế tại Nhà Hưu dưỡng Nhà Chung Tổng Giáo phận Huế.
Ông Christian Marchant, cao to hơn 1,8m, khoảng 45-50 tuổi, và Anh Đức là 2 người đã cùng các đoàn chính khách Hoa Kỳ vào trại giam Nam Hà, tỉnh Hà Nam thăm Lm Lý nhiều lần trong những năm 2004, 2008 và 2009.
Lẽ ra cuộc thăm gặp bình thường sáng nay sẽ bắt dầu lúc 10 g 00 như dự kiến. Nhưng ... Khu vực chung quanh Nhà Chung Tổng Giáo phận Huế từ ngày 15-3-2010, khi Lm Lý được đưa về điều trị tại đây thì vẫn có Công an canh gác khi lộ liễu, khi kín đáo, nhưng họ chưa cản trở hay gây phiền nhiễu cho bất cứ khách viếng thăm nào, dù trong hay ngoài Nước, dù người Việt hay người nước ngoài trong gần 10 tháng nay. Chỉ thi thoảng có vài dịp Lễ lớn, CA tăng cường đông hơn, có lẽ đề phòng Lm Lý đi Dâng Lễ đâu đó.
Nhưng trong vài ngày này, lực lượng CA đông hẳn lên, đến vài chục, hình như họ muốn ngăn chặn Lm Lý đi hành hương La Vang, dịp Đại hội đặc biệt năm 2011 này, là Đại Lễ Bế mạc Năm Thánh 2010 của Giáo hội Công giáo Việt Nam, ước tính khoảng 500 ngàn Tín hữu tham dự với trên 30 Hồng Y, Tổng Giám mục, Giám mục, cả ngàn Linh mục. Khách vào ra thăm Lm Lý vẫn bình thường, không ai bị khám xét bất cứ gì.
Tình hình nóng hẳn lên, khi xe chở Ông Christian Marchant và Anh Đức vừa đến cổng 69 Phan Đình Phùng thì 30-40 CA xông đến, vừa tự ý đóng cổng sắt Nhà Chung lại, vừa dùng bạo lực quyết tâm ngăn cản Ông Marchant và Anh Đức bước vào. Cuộc giằng co trở nên náo loạn khi 2 bên cùng lên tiếng to, nhiều CA đã vật Ông Marchant xuống đất, không cho ông chụp hình. Dân chúng 2 bên bờ sông An Cựu tụ tập xem càng lúc càng đông lên đến hàng trăm.
Lm Lý lê chân ra cổng đã bị đóng chặt, lớn tiếng gọi chào và cảm ơn Ông Marchant chỉ cách nhau khoảng 5m, nhưng Ông Marchant không nghe được vì các CA la hét lớn quá. Ông Marchant phẩn uất đến cực độ, rống lên như một con vật to lớn bị siết họng. Cuối màn, vào khoảng lúc 11 giờ cùng ngày, CA đã khiêng Ông Marchant vứt lên xe không khác gì con bò lớn, gần như bị buộc bốn chân và bịt mõm. Xe muốn chạy ngay, nhưng vì Ông Marchant vùng vẫy phản đối dữ dội, nên các CA phải vất vả tìm cách khống chế Ông cách nào đó bên trong xe chúng tôi không quan sát được. Phải mất # 10 phút sau, xe mới chạy được, đưa Ông Marchant và Anh Đức về Sở Ngoại vụ của tỉnh Thừa Thiên-Huế cách đó gần 1km.
Tuy cuộc thăm gặp đã không thể diễn ra xuôi thuận. Nhưng những gì xảy ra thì đã giúp nói lên nhiều điều hữu ích thay cho Lm Lý rất nhiều rồi, chắc chắn giúp Ông Marchant hiểu thấm thía, sâu sắc và rất sinh động về Nhân quyền, Tự do, Dân chủ và CSVN bằng hàng ngàn bài viết. (Tình hình này xem ra Lm Lý muốn lê chân tham gia Biểu Tình trong những ngày tới với Đồng bào các giới, khó bước chân ra khỏi cổng Nhà Chung).
Theo chương trình, Ông Marchant và Anh Đức sẽ đi La Vang, Quảng Trị chiều nay Tại đây, từ chiều mồng 3, mồng 4 và cả sáng mồng 5 này, nhiều thanh niên, kể cả lương dân không Công giáo, không rõ do ai tổ chức, đã phát tán các tài liệu nóng do Lm Lý viết như : Người Chiến sĩ Dân Chủ Hòa Bình hôm nay phải ưu tiên làm gì ? Đơn Tố Cáo và Yêu Cầu Truy Tố các BCT ĐCSVN về 2 tội Phản Quốc và Bán Nước, Lời Kêu Gọi Tiến Hành Giải Thể Chế Độ CS để Thiết Lập Chế Độ Dân Chủ Đa Nguyên Đa Đảng VN Thăng Tiến Hòa Bình, Bản Hướng Dẫn Biểu Tình Kiên Định Ôn Hòa... Huế và Việt Nam đang nóng lên từng ngày. @@@
|
| | | xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx GIU LAI NHUNG BAI TRUOC DE CHUYEN VAO PHAN LUU TRU==============> ***************************************************************************************************
|
CSVN TÌM MỌI CÁCH KIỂM SOÁT ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ CỦA DÂN CHÚNG
Tin tổng hợp - Hãng thông tấn Pháp AFP trong một bài phân tích gửi đi từ Hà Nội hôm thứ Bảy, cho rằng trong mục đích duy trì quyền lực độc tôn, nhà cầm quyền cộng sản tại Việt Nam vẫn đang tìm mọi cách để kiểm soát đời sống chính trị của dân chúng. Ðảng Cộng sản Việt Nam khẳng định mạnh mẽ sự kiểm soát chặt chẽ trên đời sống chính trị của đất nước trong bối cảnh đảng này được 80 tuổi và đang bị nhiều thành phần khác nhau trong xã hội chỉ trích. Thứ ba vừa qua nhân dịp kỷ niệm 80 ngày thành lập đảng Cộng sản Ðông dương là tiền thân của đảng Cộng sản Việt Nam, báo chí trong nước đã đưa tin là Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh đã nhắc lại rằng Ðảng đã và tiếp tục là lực lượng tiên phong của giai cấp lao động, của dân tộc Việt Nam. Lời phát biểu trên đây được đưa ra hai tuần lễ sau khi 4 người bất đồng chính kiến bị kết án từ 5 đến 16 năm tù giam vì tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền. Ðối với chính phủ Việt Nam, tội danh của bốn người này là bảo vệ sự đa đảng, có liên hệ với những tổ chức ở ngoài nước và âm mưu lật đổ chính phủ một cách bất bạo động bằng cách tuyên truyền trên Internet. Theo AFP, các nhà quan sát tình hình Việt Nam nghĩ rằng nhà cầm quyền nước này đã tăng cường chính sách đàn áp từ cuối năm 2006, sau khi hội nghị thượng đỉnh châu Á-Thái Bình Dương được tổ chức tại Hà Nội, và sau khi Việt Nam được kết nạp vào Tổ chức Thương mãi Thế giới. Từ 3 năm nay, ngành tư pháp Việt Nam đã đưa ra xét xử nhiều cá nhân dám chỉ trích chế độ. Họ đến từ nhiều tầng lớp khác nhau như là thành viên công đoàn, nhà báo, tu sĩ, luật sư ủng hộ dân chủ, nhà văn chủ trương đa đảng và chỉ trích quan hệ Việt-Trung. Các nhà phân tích còn nhận thấy một điều mới lạ là kể từ nay chính sách đàn áp của Việt Nam còn nhắm vào những thanh niên đã được đào tạo ở nước ngoài bị tố cáo là đã bắt liên lạc với những tổ chức chính trị ở ngoài nước. Theo ông Ben Kerkvliet, thuộc trường Ðại học quốc gia Úc ở Canberra được AFP trích dẫn, có những dấu hiệu cho thấy là càng có nhiều người chỉ trích về đường lối chính trị và nằm trong một tổ chức thì chính quyền càng ra tay đàn áp. Ông Kerkvliet còn nhận thấy là đối với nhiều người vấn đề trầm trọng là tệ nạn tham nhũng bên trong đảng Cộng sản. AFP nhận thấy là nếu như các nhà phân tích gặp khó khăn để đưa ra những nguyên nhân chính xác của các đợt bắt bớ vừa qua, thì cũng có một số người nêu lên khả năng những đấu đá trong nội bộ vì sắp đến Ðại hội lần thứ 11 của đảng Cộng sản Việt Nam, sẽ được tổ chức vào tháng giêng năm 2011. Ông Stein Toennesson thuộc Viện nghiên cứu về hoà bình của Oslo Na Uy, đưa ra giả thuyết là trước Ðại hội, những thành phần bảo thủ nhất nắm phần chủ động và những người khác không dám chống lại vì sợ bị đánh giá là có thái độ không kiên định. Nhưng ông không loại trừ khả năng là những thành phần đổi mới muốn cải tổ đảng từ bên trong. Trong khi đó ông Carl Thayer thuộc trường đại học New South Wales của Úc, thì nghĩ rằng đại đa số đảng viên không có cảm tưởng là Ðảng Cộng sản sẽ dễ dàng bị lật đổ, cho dù từ hai thập niên qua tính chính đáng của đảng này ngày càng bị phản bác.(SBTN)
Posted on 10 Feb 2010 FreeVietNews
| | | |
LEO THANG ĐÀN ÁP
Việt Long, phóng viên đài RFA 2010-02-02
Vụ án cô PhạmThanh Nghiên có thể tạm coi như đã kết thúc môt đợt đàn áp đối lập bất đồng chính kiến mà dư luận ở trong cũng như ngoài nước cùng coi như một đợt leo thang mới của nhà cầm quyền Hà Nội.
Nhưng vì sao phải có những bản án đó và phải leo thang như vậy? Đã có nhiều nhận định khác nhau. Dưới đây là ý kiến của một luật gia đã theo dõi từ rất nhiều năm tình trạng nhân quyền ở Việt Nam. Đó là Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân Quyền, trụ sở đặt tại Paris.
Bản án nặng hay nhẹ?
Việt Long: Toà án Việt Nam phạt cô Phạm Thanh Nghiêm 4 năm tù và 3 năm quản chế về tội “tuyên truyền chống Nhà nước. Bản án này so với 5 năm tù 3 năm quản chế phạt Luật sư Lê Công Định về tội “âm mưu lật đổ chính quyển” có nặng quá không, thưa Lụật sư? LS.Trần Thanh Hiệp: Không có tội mà vẫn bị kết án thì làm sao lại cân nhắc nặng hay nhẹ được? Tất cả những người vận động ôn hoà cho việc dân chủ hoá đất nước mà phải lãnh án tù trước các toà án ở Hà Nội cũng như ở Saigon, ở Hải Phòng, thì dưới cái chế độ xã hội chủ nghĩa ở trong nước đâu còn công lý nữa mà nói chuyện nặng với nhẹ. Pháp luật đã thực sự được dùng để làm công cụ đàn áp một cách trắng trợn trong khi muốn được coi là dân chủ thì pháp luật phải thực hiện công lý.
Không có tội mà vẫn bị kết án thì làm sao lại cân nhắc nặng hay nhẹ được ? Tất cả những người vận động ôn hoà cho việc dân chủ hoá đất nước mà phải lãnh án tù trước các toà án ở Hà Nội cũng như ở Saigon, ở Hải Phòng, thì dưới cái chế độ xã hội chủ nghĩa ở trong nước đâu còn công lý nữa mà nói chuyện nặng với nhẹ.
Việt Long: Trước khi 4 vụ án nói trên được xét xử, Luật sư đã khẳng định rằng tất cả những người bị đưa ra xử đều vô tội. Nhưng rốt cuộc họ đều bị kết tội cả. Vì sao luật sư không tiên đóan là họ sẽ bị kết tội mà khẳng định là họ vô tội? LS.Trần Thanh Hiệp: Trong những lần phát thanh trước của quý đài, tôi đã lên tiếng bàn về công lý theo quy phạm pháp lý quốc tế phổ quát về nhân quyền chứ tôi không làm công việc nghiên cứu cách chế tạo và áp dụng pháp luật trong khuôn khổ một chế độ độc tài đảng trị tàn dư của toàn trị thời chiến tranh lạnh. Tuy biết rằng toà án của chế độ này sẽ chẳng đếm xỉa gì đến những quy phạm đó, nhưng tôi vẫn phải nói tiếng nói của công lý để, một mặt, tiếp tay cho việc biện hộ của các luật sư ở trong nước và mặt khác đưa ra các tiêu chuẩn cho dư luận có cơ sở nhận diện điều mà tiếng nói của chế độ gọi là toà án đã “xét xử công minh”. Với lại đòi hỏi sự bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ cho tổ quốc, chống tham nhũng, đề xuất những cải cách nhằm ôn hoà chuyển hoá độc tài sang dân chủ ai cũng thấy là vô tội thì làm sao lại tiên đoán là sẽ bị kết tội, sẽ phải ở tù trong nhà giam và tại gia được? Nhưng bây giờ một khi án đã tuyên rồi, tôi sẵn sàng nhận định những vụ xét xử đàn áp với những bản án tiền chế bỏ túi vừa được trình diễn một cách vụng về đến mức làm cho chế độ “mất thể diện” như ông Đại sứ Anh ở Hà Nội đã nhận xét.
Và vì thế tôi chỉ muốn đề ra hai kết luận có cơ sở chắc chắn đó là thứ nhất đã có leo thang trong đợt đàn áp vừa kết thúc bằng bản án Phạm Thanh Nghiên và thứ hai leo thang để trèo lên đỉnh toàn trị
Tham vọng toàn trị
Việt Long: Luật sư có cho rằng những kịch bản này đã được viết sẵn để răn đe chẳng những dân chúng mà còn cả phe chủ trương đổi mới trong nội bộ đảng cầm quyền ? LS.Trần Thanh Hiệp: Từ lâu vẫn có một luồng dư luận theo đó có hai phe một bảo thủ và một đổi mới kình chống nhau trong nội bộ đảng cầm quyền. Chúng ta ở ngoài cuộc làm sao biết chắc được mức độ muốn đổi mới tiến tới dân chủ đã từ bỏ độc tài tới đâu hay là sau cùng thi cũng vẫn cứ duy trì độc tài nhưng chỉ dưới những hình thức mà quốc tế chấp nhận được.
Cho nên tôi muốn dè dặt không đưa ra những phỏng đoán không dựa trên cơ sở chắc chắn. Và vì thế tôi chỉ muốn đề ra hai kết luận có cơ sở chắc chắn đó là thứ nhất đã có leo thang trong đợt đàn áp vừa kết thúc bằng bản án Phạm Thanh Nghiên và thứ hai leo thang để trèo lên đỉnh toàn trị Một số các nhà dân chủ hiện đang bị cầm tù trong các vụ xét xử mới đây
Việt Long: Nói đến leo thang thì dường như đã rời lĩnh vực tư pháp để nói về khía cạnh chính trị của những bản án vừa qua. Luật sư vui lòng trình bày cho thấy cuộc leo thang đã diễn ra như thế nào và mục đích tối hậu của leo thang là gì, tại sao phải leo thang? Để thoả mãn lòng tự ái của những người cầm quyền hay để tự vệ trước phong trào đòi dân chủ hay để thị uy, tạo ấn tượng rằng đảng cầm quyền vẫn làm chủ được tình thế, trước áp lực quốc tế cũng như trước phong trào đòi dân chủ cả tự phát lẫn có tổ chức ở trong và ngoài nước ? LS.Trần Thanh Hiệp: Theo tôi cuộc leo thang đàn áp của nhà cầm quyền Hà Nội đã điễn ra về nhiều mặt. Trước hết nhà cầm quyền đã thẳng tay bẻ gãy uy thế tinh thần của giới luật sư, vô hiệu hoá những luật sư có lương tâm nghiệp vụ cao có lý tưởng bảo vệ nhân quyền bằng cách rút giấy phép hành nghề hay thậm chí dùng toà án và nhà tù dập tắt tiếng nói của quyền bào chữa. Đợt xét xử vừa rồi cho thấy các luật sư còn đang được hành nghề đã được thuần dưỡng để trở thành những biện hộ viên người máy có mặt tại phiên xử để xin khoan hồng và trang trí cho phong cảnh pháp quyền giả tạo.
Vì nhất quyết chống lại đa nguyên đa đảng, kịch liệt chối bỏ dân chủ nên vẫn ôm ấp tham vọng muốn làm chủ cả thể xác lẫn linh hồn người dân thì mới toàn trị đươc. Cho nên sớm muộn rồi cũng phải lần theo con đường toàn trị dù biết đã lỗi thời và bất lực.
Ngoài ra họ lại thao tác các tội danh cải tội danh để biến nhẹ thành nặng, gây lại bầu không khí xét xử từ những năm 1990. Sau hết, tìm đủ cách bóp méo việc áp dụng luật tố tụng để cách ly các người bị xét xử vói quốc tế, với thân nhân nhằm khép họ vào trong vòng vây của cô lập và khiếp sợ.
Việt Long: Những điều luật sư vừa trình bày vẫn là trong phạm vi tư pháp. Về mặt chính trị thì luật sư nói rằng leo thang như vậy để trèo lên đỉnh toàn tri. Có phải ông ngụ ý rằng nước Việt Nam vào thế kỷ 21 này có thể làm được như vào thời Staline, Mao Trạch Đông? LS.Trần Thanh Hiệp: Làm sống lại thế giới kinh hoàng xã hội chủ nghĩa thời Stalin, Mao thì không thể được vì điều kiện cơ bản để thiết lập loại chế độ ấy đã mất hẳn khi chủ nghĩa Mác-Lê Nin đã phá sản. Nhưng ý đồ theo đuổi mộng toàn trị thi vẫn còn, nhất là trong đầu óc tuyệt thiểu số những người cộng sản hiện còn cầm quyền ở Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Việt Nam.
Vì nhất quyết chống lại đa nguyên đa đảng, kịch liệt chối bỏ dân chủ nên vẫn ôm ấp tham vọng muốn làm chủ cả thể xác lẫn linh hồn người dân thì mới toàn trị đươc. Cho nên sớm muộn rồi cũng phải lần theo con đường toàn trị dù biết đã lỗi thời và bất lực. Ở Việt Nam sau đợt leo thang đàn áp vừa qua, người ta thấy dường như màn tre đang muốn buông xuống nhưng là thứ màn tre đã bị chọc thủng và còn bị tiếp tục chọc thủng để chỉ còn là bức màn tre thưa.
Việt Long: Xin cảm ơn Luật sư Hiệp và xin được nhắc lại rằng ý kiến của Luật sư Hiệp không nhất thiết phản ánh quan điểm của đài Á Châu Tự Do.
MỸ VÀ LIÊN ÂU PHẢN ỨNG VỀ NHỮNG VỤ ĐÀN ÁP Clinton: 'VN nên đối thoại với blogger'
Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton nói chính phủ Việt Nam nên đối thoại và tranh luận với những người chỉ trích qua mạng internet, thay vì bỏ tù họ.
Bà Clinton nói Việt Nam nên đối thoại với những ai chỉ trích
Bà nhắc đến Việt Nam trong Bấm bài diễn văn về tự do Internet, mà nhắm chủ yếu đến tranh cãi quanh Google ở Trung Quốc.
Trong diễn văn tại bảo tàng báo chí Newseum ở Washington hôm 21/01, ngoại trưởng Mỹ nói tại Việt Nam, "việc tiếp cận các trang mạng xã hội phổ biến đột nhiên biến mất".
Bà chỉ trích các nước "gồm cả Việt Nam và Trung Quốc" đã có những chiến thuật hạn chế việc xem thông tin về tôn giáo.
Sau đó, trong phần trả lời câu hỏi, ông Nguyễn Đình Thắng từ tổ chức BPSOS chuyên trợ giúp người tị nạn, hỏi bà ngoại trưởng sẽ làm gì khi Việt Nam vừa mới xử bốn nhà đối kháng, với mức án cao nhất 16 năm (Trần Huỳnh Duy Thức).
Bà Clinton nói: "Chúng tôi đã công khai phản đối việc bắt giữ, kết tội và cầm tù không chỉ các blogger ở Việt Nam, mà cả một số nhà sư Phật giáo và những người bị sách nhiễu."
"Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ...nâng cao mức sống của người dân. Và họ không nên lo ngại những bình luận trong nước. Tôi muốn thấy có thêm các chính phủ tranh luận nếu họ không đồng ý với điều mà một blogger hay trang web đang nói."
"Hãy giải thích những gì anh đang làm. Đưa ra thông tin phản bác. Chỉ ra những khiếm khuyết trong quan điểm của blogger."
Bà nói bà "hy vọng Việt Nam sẽ đi theo hướng đó, vì tôi nghĩ nó tương thích với tiến bộ mà chúng tôi chứng kiến tại đó mấy năm qua."
EU phản ứng
Hôm 20/01, Bấm Tòa sơ thẩm TP Hồ Chí Minh vừa tuyên án từ 5 năm tới 16 năm tù giam, thêm từ 3 tới 5 năm quản chế tại gia cho bốn nhân vật bất đồng chính kiến.
Những người này bị xử tội Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân theo Điều 79 Bộ Luật Hình sự.
Ông Lê Công Định và Lê Thăng Long lãnh án tù 5 năm và ông Bấm Nguyễn Tiến Trung nhận án 7 năm. Cả ba ông đều sẽ bị quản chế tại gia thêm ba năm sau khi mãn án.
Ông Bấm Trần Huỳnh Duy Thức bị án 16 năm tù giam và 5 năm quản chế.
Bấm Anh quốc và Hoa Kỳ đã ra tuyên bố phản đối vụ xử này.
Liên hiệp châu Âu (EU) cũng có thông cáo nói việc kết án "không phù hợp với quyền căn bản của mọi người được có ý kiến và tự do bày tỏ chúng trong hòa bình."
EU nói sự nghiêm trọng của mức án, đặc biệt là 16 năm tù cho ông Duy Thức, là "chưa từng có trong những năm gần đây".
Phiên tòa và phán quyết là một bước thụt lùi lớn và đáng tiếc cho Việt Nam.
Thông cáo của EU
"Phiên tòa và phán quyết là một bước thụt lùi lớn và đáng tiếc cho Việt Nam. Sự quý trọng của cộng đồng quốc tế và tiến bộ kinh tế lâu dài không thể duy trì nếu sự tự do biểu lộ, đặc biệt là trao đổi và phát triển tư tưởng về những vấn đề quan trọng cho nhân dân và đất nước, bị bóp nghẹt."
"Việc tiến hành xử án cũng gây lo ngại: gia đình những bị can không được phép vào chính tòa; hệ thống âm thanh cho người quan sát ở phòng gần bên không tốt; và những cáo buộc nghiêm trọng của hai trong bốn người nói rằng họ bị sức ép hay sách nhiễu trong quá trình điều tra đã không được Tòa lưu ý."
EU nói họ "nhắc lại thiện chí vững chắc và ủng hộ Việ Nam và sẵn sàng tiếp tục là đối tác với Việt Nam".
"Tuy nhiên, xu hướng tiêu cực thể hiện qua việc tuyên án này và những lần khác gần đây, cần bị đảo ngược để tiềm năng của Việt Nam trong mọi lĩnh vực, cả xã hội và kinh tế, được thành hiện thực."
Cập nhật:Bấm Đọc về phản ứng của các công ty quanh tuyên bố về Trung Quốc của bà Clinton.
| | | |
TỪ ĐIỀU 88 ĐẾN ĐIỀU 79: AI LÀ TỘI PHẠM ?
Trọng Nghĩa Gửi cho BBC Việt ngữ từ Pháp http://www.bbc. co.uk/vietnamese /forum/2009/ 12/091225_ trong_nghia_ art88_79. shtml
Ông Lê Công Định là một trong bốn người bị truy tố vì âm mưu 'lật đổ chính quyền.'
Sau gần sáu tháng giam giữ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã quyết định truy tố Trần Anh Kim, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung từ tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo điều 88 thành tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79 Bộ Luật Hình sự.
Trước phiên tòa sắp diễn ra, dư luận đang nghĩ gì về vấn đền tội phạm trong vụ việc này?
Khoản 1 điều 79 Bộ luật hình sự ghi rõ: “Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì bị phạt như sau: Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả ngiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”.
Về nhân thân và hoạt động của những người bị bắt giam cho thấy họ chưa bao giờ chống phá chính quyền, mà ngược lại đã chứng tỏ mình là những công dân giàu lòng yêu nước.
Những gì họ đã làm đều chứng tỏ đã ấp ủ niềm tin lâu dài và tinh thần tự nguyện vì dân tộc.
Trần Anh Kim cống hiến gần cả cuộc đời vào sinh ra tử trong chiến tranh và tích cực chống tham nhũng vì lợi ích nhân dân thời bình.
Lê Công Định là một luật sư từng bào chữa cho Việt Nam trong các vụ kiện tụng quốc tế nổi tiếng, khát khao cống hiến sức mình để xây dựng nền tư pháp lành mạnh và công bằng.
Trần Huỳnh Duy Thức là giám đốc của một trong những công ty Việt Nam hiếm hoi trên thị trường thế giới, vươn lên từ khó khăn gây dựng sự nghiệp, là tấm gương cho tuổi trẻ đang mơ ước thành đạt và làm rạng danh dân tộc, đồng thời cũng tham gia cổ vũ cho dân chủ tiến bộ thông qua các bài viết dưới bút danh blogger Trần Đông Chấn, cộng sự trong “Nhóm nghiên cứu Chấn”.
Nguyễn Tiến Trung sau khi tốt nghiệp thạc sĩ công nghệ thông tin ở Pháp đã quyết định trở về đóng góp vào sự phát triển của đất nước, dù cơ hội làm việc và gây dựng gia đình ở nước ngoài trong tầm tay.
Những gì họ đã làm đều chứng tỏ đã ấp ủ niềm tin lâu dài và tinh thần tự nguyện vì dân tộc. Phát biểu hay bài viết của họ đều chỉ ra yếu kém trong xã hội và nêu biện pháp khắc phục.
'Chẳng ai có tội'
Tất cả đều bàn thảo, trao đổi rất ôn hòa. Bằng cách đó, làm sao họ có thể phạm tội lật đổ chính quyền? Lật đổ chính quyền là bạo động như có người từng bắt cóc thủ tiêu hay đặt bom ám sát các nhân vật cao cấp, khởi nghĩa vũ trang, xóa bỏ chính phủ hợp hiến, quyết tử gây đổ máu…
Đằng này, họ đều rất ý thức, biết tôn trọng và dừng lại trước giới hạn cho phép của pháp luật về quyền tự do ngôn luận và thành lập các hội nhóm. Việc cáo buộc hay kết tội của Viện kiểm sát thiên về chủ quan định tính mà chưa đạt đến một định lượng cần và đủ. Cho nên, trong vụ việc này chẳng có ai là tội phạm “lật đổ chính quyền”.
Miễn cưỡng chấp nhận thì có thể gọi đó là “chính quyền bán nhân dân”, chứ không phải là “chính quyền nhân dân.”
Chúng ta cũng cần hiểu đúng về “chính quyền nhân dân”. Ở Việt Nam ai cũng biết các cuộc bầu cử đều theo hình thức “Đảng cử dân bầu”, mà quan trọng nhất nhân sự do Đảng chọn, lá phiếu của người dân chỉ là hợp thức hóa quyền lực cho nhân sự đó.
Miễn cưỡng chấp nhận thì có thể gọi đó là “chính quyền bán nhân dân” (một nửa), chứ không phải là “chính quyền nhân dân”. Do vậy, đúng ra nên dừng lại phiên tòa, xác định lại nội dung cùa “chính quyền nhân dân”và giải thích một cách trung thực, công bằng, khoa học trước khi đưa ra áp dụng.
Việc giải thích này không chỉ lấy ý kiến từ đảng viên Đảng cộng sản mà còn rộng rãi ở các đảng, trong giới luật sư, trí thức và các tầng lớp xã hội.
'Nếu đủ dũng cảm' Vợ ông Trần Anh Kim tin rằng việc ông 'nhận tội' chỉ là 'lùi một bước để tiến.'
Nếu Đảng cộng sản đủ dũng cảm, minh bạch và trung thực khách quan, hãy nên tiến hành việc này. Đây mới là thử thách cho thấy một Đảng vì dân, vì sự phát triển của xã hội, biết lắng nghe những tiếng nói phản biện. Đây càng là dịp Đảng cộng sản tự minh chứng không phải là tổ chức chính trị duy nhất, không triệt thoái những đảng viên của Đảng khác, đồng thời Việt Nam không giam giữ tù nhân chính trị.
Xét ở điểm này, vì không có một “chính quyền nhân dân” đích thực nên càng chẳng có ai là tội phạm “lật đổ chính quyền nhân dân”.
Trong thời gian dài, cùng với điều 88 hay 79 nói trên là hàng loạt chỉ thị của Đảng ban hành cảnh giác và chống lại “Diễn biến hòa bình”.
Thật ra, đây là một quá trình diễn biến tự nhiên theo quy luật, xóa bỏ những rào cản trên con đường loài người đi đến tự do văn minh.
Sự cản trở ấy chính là một vài thể chế, mô hình lạc hậu còn sót lại trên cả thế giới, hay thậm chí chỉ một phe phái bảo thủ làm ì cả một thể chế.
'Diễn biến hòa bình?' Một số lãnh đạo Việt Nam nhấn mạnh về 'các thế lực thù địch' và 'diễn biến hòa bình.'
“Diễn biến hòa bình”là phương pháp mà cả thế giới đều chấp nhận trong quá trình chuyển biến xã hội. Chính những người cộng sản từng thay thế “Diễn biến hòa bình” bằng “bạo lực cách mạng”, “khởi nghĩa vũ trang”, “lật đổ chính quyền”… và gây ra cho nhân loại không biết bao nhiêu cuộc đổ máu.
Hãy nhìn lại các quốc gia sau khi xảy ra “Diễn biến hòa bình”, tình hình mọi mặt đều tích cực hơn so với trước đó bị kìm kẹp. Đảng cộng sản Việt Nam luôn sợ “Diễn biến hòa bình” và tìm cách ngăn chặn, chứng tỏ Đảng đã trở thành vật cản, sức ì của tiến trình lịch sử.
Từ đó, nhóm từ “peace process”xuất hiện ở Việt Nam đã được giải thích bằng một ngữ nghĩa phát sinh méo mó.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “phương thức và thủ đoạn” của diễn biến hòa bình “chủ yếu là tạo dựng và thúc đẩy những nhân tố phản động, chống đối từ bên trong, đẩy đối phương vào khủng hoảng toàn diện, từng bước chuyển hoá chế độ chính trị theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa hoặc bị chính các thế lực chống đối dùng bạo lực lật đổ.”
Đây là giải thích chỉ có ở Đảng cộng sản, làm cho một số cốt cán của Đảng tin theo, cảnh giác, quay lưng và thậm chí phản đối “Diễn biến hòa bình.”
Đây là giải thích chỉ có ở Đảng cộng sản, làm cho một số cốt cán của Đảng tin theo, cảnh giác, quay lưng và thậm chí phản đối “Diễn biến hòa bình”.
Kết cuộc là sự tụt hậu và thua thiệt nhiều mặt mà toàn dân tộc phải trả giá. Chỉ riêng cách giải thích này cũng tự bộc lộ tính chủ quan chất bất chấp quy luật và thể hiện tâm lý lo sợ của Đảng. Cho nên, các nhà đấu tranh nói trên đã đều trở thành đối tượng thực hiện “Diễn biến hòa bình”. Mà nếu đúng vậy, họ là những người đáng được tôn vinh, chứ sao gọi là tội phạm?
Những cá nhân nói trên là đảng viên của Đảng Dân chủ Việt Nam. Từ khi phục hoạt, toàn Đảng không hề có chủ trương hay hoạt động nào chống phá, lật đổ nhà nước.
'Không thể quy kết' Tác giả cho việc giúp 'phục hoạt' các đảng phái cũ là 'không gây hại' cho anh ninh quốc gia.
Nguyễn Tiến Trung được gọi nhập ngũ khi đã là đảng viên công khai của Đảng Dân chủ. Hồ sơ nhập ngũ công nhận Trung có phẩm chất đạo đức tốt, có thể phục vụ trong quân đội. Như vậy, việc Trung tham gia Đảng Dân chủ đã không bị xem là tội phạm theo điều 79.
Trần Anh Kim chủ yếu viết bài, thể hiện quan điểm chống tham nhũng và đã công khai nhiều năm nay trên các phương tiện truyền thông. Việc làm ấy không nằm trong tiêu chí nào quy kết cụ thể vào điều 79.
Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Công Định đặc biệt hơn, vì họ tham gia giúp phục hoạt Đảng Xã hội và Đảng Lao động. Tuy nhiên, hoạt động này không thể bị gọi là gây hại đến an ninh quốc gia hay “xâm phạm chế độ chính trị” Việt Nam.
Thứ nhất, Đảng Xã hội và Đảng Dân chủ trước đây từng hoạt động song song với Đảng cộng sản, cùng phục vụ đất nước. Phục hoạt các đảng không thể gọi là việc làm chống phá hay lật đổ chế độ.
Đảng Xã hội và Đảng Dân chủ trước đây từng hoạt động song song với Đảng cộng sản, cùng phục vụ đất nước. Phục hoạt các đảng không thể gọi là việc làm chống phá hay lật đổ chế độ.
Thứ hai, quá trình phục hoạt, cả hai Đảng đều nêu cao tôn chỉ phục vụ lợi ích quốc gia, không công bố xâm phạm an ninh hay lật đổ Đảng cộng sản.
Cụ thể về đường lối, Đảng Dân Chủ thượng tôn pháp luật. Ngày 1-9-2008, Đảng Dân Chủ đã ra “Bản Tuyên bố quan điểm” gồm có 6 điểm, trong đó nêu rõ:
“Đảng Dân chủ Việt Nam ủng hộ chính sách đoàn kết dân tộc theo nguyên tắc tự do, dân chủ và bình đẳng”; và“Đảng Dân chủ Việt Nam xem đảng cầm quyền là một đối tác chính trị trong sứ mạng bảo vệ tổ quốc, dân chủ hóa xã hội, phát triển đất nước và bảo đảm quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của toàn dân”. Như vậy, từ tuyên bố đến việc làm, Đảng Dân Chủ luôn kêu gọi đoàn kết hợp tác, không kích động thù nghịch. Nhưng đoàn kết hợp tác không thể thực hiện trên nguyên tắc chỉ có một đảng, mà phải có các đối tác lấy “tự do, dân chủ và bình đẳng” làm nguyên tắc nền tảng. 'Kêu gọi dân chủ' Nguyễn Tiến Trung trong ngày được 'gọi' nhập ngũ.
Đảng Dân chủ kêu gọi dân chủ tiến bộ, Đảng Cộng sản Sản Việt Nam cũng kêu gọi dân chủ, đổi mới - cả hai có gì để chống đối nhau? Điều 3 Hiến pháp Việt Nam với mục tiêu “xây dựng xã hội công bằng, dân chủ”,Đảng Dân chủ cũng tôn trọng và cam kết hết sức mình thực hiện mục tiêu này.
Việc phục hoạt hai đảng Xã hội và Lao động kể trên thể hiện mong muốn làm sống lại lý tưởng trong sáng một thời của nhiều đảng viên Đảng cộng sản từng cống hiến nhưng không còn môi trường, hiện đang bất mãn với tình trạng tham nhũng, thoái hóa trong Đảng cộng sản.
Phục hoạt của hai đảng giúp phân biệt trong hàng ngũ Đảng cộng sản đâu là thanh liêm và thoái hóa, đâu là vì dân và chỉ vì cá nhân, đâu là tiến bộ và tụt hậu, đâu là đoàn kết và gây chia rẽ dân tộc, đâu là thành phần tiếp tục ở lại trong một đảng đang mất lòng tin và thành phần trong sạch, quyết định kịp thời trả lại thẻ và ra khỏi Đảng cộng sản…
Có cạnh tranh chính trị sẽ khiến đảng cầm quyền phải làm việc tốt hơn; mà như vậy là có lợi cho chính quyền nhân dân, có lợi cho dân, cho nước.
Vì thế, không có “nguy cơ”nào, mà thay vào đó là thời cơ thuận lợi cho Đảng cộng sản tự đổi mới, đáp ứng nhu cầu dân tộc và thời đại, nếu không muốn thấy các đảng viên kỳ cựu, liêm khiết lần lượt rời bỏ lánh xa. Có cạnh tranh chính trị sẽ khiến đảng cầm quyền phải làm việc tốt hơn; mà như vậy là có lợi cho chính quyền nhân dân, có lợi cho dân, cho nước.
Không còn nghi ngờ gì nữa, việc làm xuất phát từ lý tưởng cao cả của các nhà dân chủ đang bị giáng một đòn nặng chính vì họ đã“bấm trúng tử huyệt” tham nhũng của đảng cầm quyền. Cho nên, Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội đang hoạt động cũng chẵng phải là tội phạm hình sự.
Ai là tội phạm? Viện chiến lược phát triển tư nhân IDS, phản biện độc lập, tự giải thể.
Câu trả lời: Hoặc là tất cả những công dân Việt Nam, hoặc là Đảng cộng sản Việt Nam. Vì sao? Bởi vì ai ở Việt Nam đều cũng có thể trở thành đối tượng bị bắt giam theo điều 88 hay 79 nếu dám nói lên chính kiến của mình, dám bảo vệ cái đúng, bảo vệ tiến bộ và công bằng.
Những ai dám thành lập các hội đoàn bảo vệ quyền lợi chính đáng của giai cấp hay tầng lớp của mình dưới quan điểm của Đảng cộng sản đều là tội phạm.
Thật vậy, nông dân chỉ dám biểu tình riêng lẻ vùng miền, đòi quyền lợi bị mất nhưng không được đáp ứng, nên ngày nay ở Việt Nam hình thành tầng lớp dân oan.
Giả sử nông dân, công nhân và các tầng lớp khác cũng nói lên tiếng nói tương tự, tất cả sẽ bị công an và quân đội của Đảng đàn áp, bắt giam.
Vì họ không có tổ chức nào chặt chẽ nên dù với số lượng đông nhất, họ vẫn bị thua thiệt nhiều nhất: đói nghèo, học lực thấp, nông thôn và nông nghiệp không được chính sách bảo hộ, bị cướp đất, kéo ra thành thị bán sức lao động…
Công nhân vì không được thành lập các nghiệp đoàn nên cũng bị bóc lột. Những trí thức tâm huyết với dân tộc và nhìn ra căn nguyên vấn đề xã hội, dám nói lên tiếng nói của mình bênh vực cho nhân dân, vì lợi ích dân tộc, đã bị Đảng cộng sản bắt giam.
Những công dân trong các đạo giáo đòi quyền lợi bị tước đoạt cũng bị đàn áp, bắt giam. Giả sử nông dân, công nhân và các tầng lớp khác cũng nói lên tiếng nói tương tự, tất cả sẽ bị công an và quân đội của Đảng đàn áp, bắt giam.
'Trở thành nhà tù' Tác giả cho rằng nếu vận dụng các điều luật như hiện nay, VN sẽ trở thành một 'nhà tù'.
Và như thế, cả Việt Nam sẽ trở thành một nhà tù! Như thế mà không phải cả đầt nước Việt Nam đều trở thành đối tượng điều chỉnh của điều 88 và 79 hay sao? Nhưng toàn dân làm sao trở thành tội phạm?
Vậy chỉ còn Bộ chính trị Đảng cộng sản. Theo đà đổi mới xuất phát từ “xé rào” trong nhân dân vào những năm 1986, nửa đường Đảng dừng lại, đưa đất nước bước theo những bước tính toán riêng để bảo vệ quyền lợi của Đảng, hình thành tầng lớp đảng viên“tư bản đỏ”.
Đổi mới là gì nếu không phải là chấp nhận nguyên tắc kinh tế thị trường “theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa?” Hiện nay, nhà nước ra sức thu hút đầu tư nước ngoài, gia nhập nền kinh tế thế giới, thay đổi khung pháp lý để thuận lợi cho việc phát triển kinh tế.
Nhà nước hi sinh quyền lợi của người nông dân, thu hồi đất bừa bãi để xây sân golf và xây dựng khu công nghiệp; nhà nước hy sinh quyền lợi của người công nhân để thu hút đầu tư nước ngoài, bằng cách chối bỏ quyền thành lập nghiệp đoàn độc lập, giữ lương cơ bản ở giá rẻ mạt và ngoảnh mặt làm ngơ trước cảnh người lao động bị chèn ép bởi chủ tư bản nước ngoài và sống khổ cực.
Không những chỉ là “tư bản chủ nghĩa” mà còn là chủ nghĩa tư bản hoang dã mà các nước phương Tây đã vượt qua từ lâu.
Vậy ai mới đang “từng bước chuyển hóa chế độ chính trị theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa” đây? Không những chỉ là “tư bản chủ nghĩa” mà còn là chủ nghĩa tư bản hoang dã mà các nước phương Tây đã vượt qua từ lâu.
Cho dù ca ngợi thành quả gì chăng nữa, ở nhiều lĩnh vực, Việt Nam vẫn bị xếp ở thứ hạng cuối cùng là một chứng minh thực tế nhất cho thấy cả dân tộc đang bị Đảng cộng sản bỏ rơi trong quá trình củng cố sức mạnh vật chất và địa vị của mình.
Bộ chính trị Đảng cộng sản mới là tội phạm số một, vì đã “gây hậu quả ngiêm trọng” đẩy đất nước vào con đường chủ nghĩa tư bản hoang dã, hằn sâu bất công trong xã hội. Nhưng lạ thay, pháp luật trong tay của Đảng đã biến trắng thành đen và ngược lại, không hơn không kém là công cụ chỉ nhằm bảo vệ Đảng.
Phiên tòa sắp đến Cựu hoa hậu Ngọc Khánh cho rằng chồng bà, ông Lê Công Định sẽ tự bào chữa.
Các nhà dân chủ sẽ bị xét xử riêng rẽ từng cá nhân một, hay họ sẽ bị xét xử tập thể? Họ đều là đảng viên và cộng tác viên của một đảng phái chính trị, nên có nhiều khả năng sẽ ra tòa cùng một lúc.
Trong trường hợp đó, việc mời đại diện Đảng Dân Chủ Việt Nam, mà người đứng đầu là Trưởng ban Thường vụ, với tư cách là nhân chứng và là tổ chức bảo vệ quyền lợi cho đảng viên của mình, là điều nhất thiết phiên tòa phải thực hiện.
Chỉ như vậy, trách nhiệm của từng cá nhân hay trách nhiệm tập thể mới được xác định rõ ràng. Trong thời đại thượng tôn pháp luật ngày nay, không thể có những phiên tòa công lý nửa vời bằng cách tổ chức xử kín, thiếu các thành phần liên quan, không tìm hiểu hết ngọn nguồn của các hành động và thu thập tất cả những thông tin nhiều phía.
Những quan điểm, chủ trương và hoạt động của Đảng Dân Chủ cần được đăng tải công khai và khách quan trên báo chí trong nước cho dư luận am tường.
Những quan điểm, chủ trương và hoạt động của Đảng Dân Chủ cần được đăng tải công khai và khách quan trên báo chí trong nước cho dư luận am tường. Đó cũng là một cách để nâng cao nhận thức của quần chúng về luận điệu xuyên tạc chụp mũ “lật đổ chính quyền nhân dân”.
Nếu các nhà đấu tranh dân chủ của Đảng Dân Chủ Việt Nam vẫn bị kết tội theo điều 79 thì công lý sẽ bị chà đạp.
Bởi một lẽ đơn giản xét kỹ cả về ý chí tinh thần, hành động vật chất lẫn quá trình học tập, lao động, cống hiến của họ, không có gì có thể chứng minh họ âm mưu hay hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân.
Chúng ta cùng chờ đợi diễn biến pháp lý của vụ việc và hết lòng ủng hộ cho chính nghĩa, cho tương lai Việt Nam “công bằng, dân chủ, văn minh”.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng và cách hành văn của tác giả, là cựu sinh viên ngành công nghệ thông tin tại Pháp.
| | | |
VIỆT NAM CẦN CÓ TỰ DO ĐỂ PHÁT TRIỂN
Đại sứ Thụy Điển: Việt Nam cần có tự do để phát triển 2009-12-07
Tại Hội nghị các nước cấp viện cho Việt Nam, bên cạnh cam kết gia tăng viện trợ, quốc tế cũng kêu gọi Việt Nam hãy mở rộng tự do thông tin đế phát triển.
Kết thúc Hội nghị tại Hà Nội, các nhà tài trợ quốc tế công bố mức cam kết viện trợ vốn ODA dành cho Việt Nam với hơn 8 tỷ USD. Tuy nhiên, bên cạnh cam kết này các nước phương Tây cảnh báo rằng việc chính phủ hạn chế các phương tiện truyền thông và Internet, cũng như các trang mạng xã hội như Facebook, sẽ đe dọa tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam.
Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn đặc biệt với ông Rolf Bergman, Đại sứ Thuỵ Điển tại Việt Nam, người tham dự hội nghị để biết thêm chi tiết về vấn đề này.
Mức viện trợ kỷ lục Mặc Lâm: Thưa ông Đại sứ, kết thúc Hội nghị các nước cấp viện cho Việt Nam là cam kết hơn 8 tỷ đô la, số vốn ODA lớn nhất từ trước tới nay. Theo nhận xét của ông Đại sứ thì lý do nào đưa đến kết quả rất phấn khởi này thưa ông?
Đại sứ Rolf Bergman: Số tiền này được cam kết từ các nước cấp viện cho Việt Nam trong tài khóa 2010 nhưng thực tế thì một số đã được giải ngân trong tháng này lý do vì ngân sách của chúng tôi có những khác biệt.
So sánh với con số 6 tỷ vào năm nay thì năm tới có nhiều hơn, do thành quả của Việt Nam đã khiến nhiều nước trong nhóm cấp viện có niềm tin cao hơn.
Tuy nhiên tôi vẫn nghi ngờ số tiền mà các nước cam kết có đạt đến mức hơn 8 tỷ hay không vì tỷ giá thay đổi của năm nay so với năm tới, hơn nữa như tôi đã trình bày thì một số đã đươc giải ngân trong năm nay.
Đối với Việt Nam, tôi xác nhận một lần nữa những thành tựu mà nước này đã đạt được thì không có gì phải bàn cãi. Có những tiến triển rất khích lệ trong cách điều hành kinh tế của chính phủ cũng như những chính sách tài chánh tiền tệ phù hợp được đưa ra trong năm nay đã giúp thị truờng tương đối ổn định so với những nước khác trong khu vực.
Chính phủ cũng đã tỏ ra khôn khéo hơn khi sử dụng những đồng vốn ODA trong các dự án của họ và họ đã thành công.
Tự do để phát triển Mặc Lâm: Ông đã có những quan tâm gì được phát biểu trong hội nghị, đặc biệt về vấn đề nhân quyền hay tự do dân chủ?
Đại sứ Rolf Bergman: Về các vấn đề nhân quyền, tự do dân chủ thì nhà nước có nỗ lực cải tiến tuy nhiên tôi cho là chưa đúng mức. Các thành quả kinh tế và an sinh xã hội có thể tốt và đạt hiệu quả nhưng chưa bù đắp được những gì mà người dân cần trong lĩnh vực dân chủ nhân quyền. Chính trị vẫn là một mối quan tâm lớn của các nước cấp viện bên cạnh các thành quả mà Việt Nam đạt được trong năm qua.
Mặc Lâm: Trong thời gian qua nhà nước đã thử nghiệm việc đóng cửa các trang mạng xã hội như facebook và kiểm soát việc truy cập internet của người dân một cách gắt gao hơn. Ông đại sứ có phát biểu gì về vấn đề này?
Đại sứ Rolf Bergman: Chúng tôi đã đưa ra những quan tâm về vấn đề tự do truyền thông nơi công cộng cũng như nhận được thông tin của người dân là một yếu tố quan trọng cần phải hiện thực hoá để đẩy mạnh phát triển.
Chúng tôi nhấn mạnh rằng báo chí cũng như các trang mạng xã hội giữ vai trò hết sức trọng yếu trong việc nối kết thông tin, để dẫn đến thành quả, chứ không tác hại gì đến các kế hoạch của chính phủ. Chúng tôi thật sự quan ngại khi nhận được tin chính phủ kiểm soát trang xã hội Facebook vì làm như thế là cản trở sự phát triển chứ không thể gặt hái kết quả tốt được.
Chúng tôi đề nghị chính phủ Việt nam tháo bỏ các tường lửa nhằm ngăn cản truy cập vào internet, kể cả minh bạch hoá các hồ sơ chống tham nhũng như lời yêu cầu của các đại biểu quốc hội đưa ra mới đây.
Các nước cấp viện có mặt trong hội nghị như Hoa Kỳ, Canada, Na Uy, New Zealand cũng như các nước châu Âu khác đều có chung những quan ngại như của chúng tôi.
Mặc Lâm: Theo chúng tôi được biết thì Thuỵ Điển là nước có quan tâm rất nhiều đến vấn đề tham nhũng tại Việt nam trong nhiều năm qua. Riêng trong năm 2009 ông Đại sứ có ghi nhận bất cứ một tiến bộ nào mà Việt nam đạt đựơc trong lãnh vực chống tham nhũng hay không?
Đại sứ Rolf Bergman: Vâng chúng tôi thường có những cuộc trao đổi với các giới chức Việt Nam về vần đề chống tham nhũng và chúng tôi nhận thấy trong thời gian qua đã có những tiến triển đáng khích lệ.
Bất cứ lúc nào có cơ hội nói chuyện với họ chúng tôi cũng lập đi lập lại quan điểm rất rõ ràng của chúng tôi là minh bạch trong công tác chống tham nhũng là ưu tiên hàng đầu mà chúng tôi quan tâm. Chúng tôi cũng đã nhiều lần nhấn mạnh đến vai trò của báo chí trong việc phát hiện các vụ tham nhũng.
Chúng tôi hy vọng sẽ thấy nhiều hơn nữa những tiến bộ trong lĩnh vực này nhưng phải thật lòng mà nói chúng tôi chưa thấy chính phủ có phản hồi tích cực trong vấn đề này và vì vậy chúng tôi cảm thấy hơi thất vọng.
Mặc Lâm: Ông đại sứ có trông đợi rằng những mối quan tâm của ông sẽ đựơc nhà nước Việt Nam thực hiện một cách nghiêm túc hay không?
Đại sứ Rolf Bergman: Chúng tôi vẫn đang trông đợi thêm những nỗ lực của chính phủ Việt nam trong vấn đề này bên cạnh các thành tựu kinh tế mà họ đạt được.
Chúng tôi vẫn trông chờ chính phủ cho phép báo chí được tự do nhiều hơn nữa để từ đó dẫn đến một nền báo chí tự do hoàn toàn, vì trên nguyên tắc chúng tôi vẫn tin rằng cản trở vai trò truyền thông chân thực của báo chí là cản trở sự phát triển của quốc gia. Nhiều nước đã chứng minh điều này trong quá khứ và tôi tin rằng Việt Nam cũng không ngoại lệ.
Mặc Lâm: Xin cám ơn ông đại sứ đã dành thời gian cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn hôm nay.
| | | |
QUYẾT ĐỊNH 97: LUẬT VÁ VÍU
Đỗ Thái Nhiên (http://www.vietvusa .com)
Ngày 24/07/2009, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN đã ban hành quyết định số 97. Quyết định này ngăn cấm tư nhân, tức là người dân, không được phép phổ biến trước công chúng những ý kiến nghiên cứu khoa học có nội dung ngược lại với đường lối và chính sách của nhà nước. Quyết định 97 có đoạn viết nguyên văn như sau: “Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước, cần phải gửi ý kiến phản biện đó cho các cơ quan đảng và nhà nước có thẩm quyền, chứ không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học công nghệ.”
Đặc biệt điều (2), khoản (2) của quyết định 97 còn ghi rõ: “Chỉ hoạt động trong lãnh vực được ban hành kèm theo quyết định này.”. Kèm theo quyết định này có nghĩa là các ngành khoa học sau đây bị cấm nghiên cứu: Luật học, chính trị học, truyền thông và thông tin. Nói rõ hơn: giới trí thức, tức là quần chúng, bị cấm viết phản biện trong các ngành vừa nêu, ngay cả trườnh hợp bài phản biện chỉ gửi cho cơ quan nhà nước, không phổ biến trước công chúng.
Nhằm biện minh cho quyết định 97, ông Nguyễn Quân, thứ trưởng bộ Khoa Học Công Nghệ đã giải thích trên Vietnamnet rằng: “…trong bối cảnh xã hội phức tạp hiện nay, nhất là trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế đầy khó khăn thử thách, chúng ta đang cần có đồng thuận cao của xã hội đối với các quyết sách của đảng và nhà nước, cần có sự ổn định để tiếp tục phát triển, thì việc công bố các kết quả nghiên cứu phản biện liên quan đến đường lối chủ trương, chính sách điều hành kinh tế xã hội phải hết sức thận trọng.”
Rõ ràng là nhân danh “xã hội phức tạp”, trong khi chẳng có xã hội nào là không phức tạp, CSVN đưa ra chủ trương tạo đồng thuận và ổn định cho xã hội bằng phương pháp bịt miệng giới thường dân nghiên cứu khoa học công nghệ.
Ngày 14/09/2009 Viện Nghiên Cứu Phát Triển (Gọi tắt là IDS) do tiến sĩ Nguyễn Quang A làm viện trưởng đã họp phiên khoáng đại. Từ phiên họp khoáng đại này, IDS tuyên bổ tự giải thể nhằm phản đối quyêt định 97.
Ngày 14/10/2009 nhà cầm quyền Hà Nội ra thông cáo gồm ba trọng điểm:
1)Quyết định 97 là cần thiết và hợp pháp.
2)Giao cho UBND thành phố Hà Nội “xử lý” sự vịêc IDS tự giải thể.
3)Xử lý những phát biểu thiếu xây dựng của một vài cá nhân trong IDS
Nhìn chung lại, quyết định 97 và các hành động trừng phạt nằm đàng sau hai chữ “xử lý” có mục đích đe dọa những người dân nào toan tính chống chế độ Hà Nội. Hành động chống đối này được ngụy trang dưới hình thức dùng các công trình nghiên cứu khoa học để phản biện, có nghĩa là nói ngược lại với đường lối và chính sách của CSVN. Câu hỏi được đặt ra là: những đe dọa vừa kể có thực sự làm tiêu tan mọi ý chí chống đối hay không? Giáo sư Sử học Phan Huy Lê đã nhẹ nhàng trả lời câu hỏi kia như sau:
Ngày 14/10/2009, báo Khoa Hoc Và Đời Sống, trực thuộc hệ thống truyền thông CSVN đã phổ biến một bài viết có tựa đề “Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám”, tác giả là GS Phan Huy Lê. Nhằm tránh những trừng phạt gay gắt từ quyết định 97, GS Phan Huy Lê chỉ xin “Trả lại sự thật”, thay vì “phản biện”. Thế nào là sự thật?
Tháng 10 năm 1945 kho xăng Thị Nghè bị cháy. Cháy do tai nạn hay do ai đó phá hoại, tin tức sơ khởi không nói rõ. Ngay lúc bấy giờ, ông Trần Huy Liêụ, một giáo sư sử học của Hà Nội, vội vàng bịa ra câu chuyện: Cậu bé Lê Văn Tám 10 tuổi đã tự tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt cháy kho xăng Thị Nghè. Lập tức, tin về “ngọn đuốc” Lê Văn Tám được báo chí và đài phát thanh, kể cả đài BBC Luân Đôn rầm rộ phổ biến. Từ đó Lê Văn Tám trổ thành nhân vật có thật.
Tại miền Bắc Việt Nam trước 1975 và Miền Nam Việt Nam sau 1975, câu chuyện anh hùng Lê Văn Tám được truyền tụng rộng rãi. Lê Văn Tám có mặt trong sách giáo khoa. Lê Văn Tám được dùng để đặt tên đường phố, Lê Văn Tám đứng lẩm liệt trên tượng đài, trong công viên. Lê Văn Tám là thần tương của mọi giai tầng Việt Nam.
Trong bài viết “Trả Lại Sự Thật Hình Tượng Lê Văn Tám” GS Phan Huy Lê cho biết: năm 1960, ông Trần Huy Liệu có lần đã giải thích với GS Phan Huy Lê rằng: “Dựng chuyện thiếu niên Lê Văn Tám là nghĩ đến biểu tượng cậu bé anh hùng làng Gióng (Phù Đổng Thiên Vương), còn việc đặt tên Lê Văn Tám vì họ Lê Văn rất phổ biến ở nước ta và Tám tức là nghĩ đến cách mạng Tháng Tám. Lúc bấy giờ, GS trần Huy Liệu đang giữ chức bộ trưởng Bộ Thông Tin Tuyên Truyền trong chính phủ lâm thời, nên GS nói rõ là muốn tạo dựng nên một biểu tượng anh hùng để tuyên truyền, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta.”
Nhận định về tính chất hư thực của câu chuyện Lê Văn Tám, GS Phan Huy Lê cho rằng: “ Cậu bé Lê Văn Tám sau khi tẩm xăng vào người và tự châm lửa đốt, vẫn còn khả năng chạy từ ngoài vào kho xăng với khoảng đường 50 mét. Tôi đã hỏi một số bác sĩ, và họ cho rằng sức nóng của lửa xăng, một em bé không thể chạy xa như vậy”
Với các sự kiện nêu trên, “anh hùng” Lê Văn Tám hiển nhiên là câu chuyện bịa đặt. Nói đúng hơn, đây là một hồ sơ bí mật dùng vào việc dối gạt dư luận trong nhiều thập niên qua. Đề cập đến hồ sơ mật, CSVN có nhiều ngàn hồ sơ mật. Mỗi hồ sơ mật sau khi bị giải mật sẽ là một hủ mắm thối hoặc một tội ác ma quái trong lịch sử loài người. Sau đây là vài câu hỏi dẫn đường vào kho tội ác kia:
Trần Dân Tiên là ai ? Hồ Chí Minh có bao nhiêu căn cước, bao nhiêu vợ, bao nhiêu con ? Ngày sanh, ngày tử của Hồ Chí Minh, thực sự là ngày nào? Đâu là nguyên văn chúc thư của Hồ Chí Minh?
Công việc ướp xác Hồ Chí Minh trong những thập niên qua tốn kém tất cả là bao nhiêu? Tiền ướp xác lấy từ đâu? Cơ quan hành chánh nào, văn kiện pháp lý nào có liên hệ tới dịch vụ ướp xác kia?
CSVN nợ Tàu bao nhiêu tiền? Tổng số nợ được xác định bằng phương pháp nào? Thể thức trả nợ ra sao? Trả trong bao lâu? Văn kiện pháp lý nào cho phép CSVN, một đảng hoạt động không giấy phép, lấy thuế của dân, tài nguyên của quốc gia để trả “nợ ân oán giang hồ” cho Tàu? Nợ của một đảng không giấy phép chỉ có thể là nợ ân oán giang hồ.
Tại sao sau 1975 CSVN phải theo Nga, đánh Tàu? Nội dung mật ước 1999 và 2000 giữa Tàu và CSVN bao gồm những gì?
Những câu hỏi có nội dung đòi hỏi CSVN giải mật bí mật lịch sử dài bất tận. Nghịch lý lớn lao nhất nằm ở sự thể rằng: Đất nước là của toàn dân, thế nhưng những vấn đề trọng đại gắn bó chặt chẽ với vận mệnh của đất nước đều bị chế độ Hà Nội, một chế độ không do dân bầu, mang cất vào kho riêng của đảng CSVN dưới danh nghĩa là bí mật quốc phòng. Chừng nào kho bí mật bị phá tung, chừng đó chế độ Hà Nội sẽ cáo chung. Đó là lý do giải thích tại sao CSVN phải hối hả bảo vệ bí mật bằng những biện pháp quái dị kiểu: Buộc báo chí phải đi bên lề phải. Tịch thu máy vi tính của những người bị tình nghi có tư tưởng chống độc tài, những bloggers chống Tàu. Giới hạn tối đa quyền sử dụng máy vi tính của người dân. Cấm tư nhân làm báo dưới mọi hình thức. Cấm người dân mặc áo thun có ghi hang chữ Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Cấm giới trí thức phổ biến những phản biện đối với đường lối và chính sách của CSVN…
Thay vì phản biện chính trị, GS Phan Huy Lê chỉ dùng “nhu cầu nói thật” thông qua câu chuyện Lê Văn Tám để nhẹ nhàng qua mặt quyết định 97. Hành động của GS Phan Huy Lê là một thông điệp nói rõ ra: Con người, đặc biệt là người Việt Nam có một nghìn lẽ một kiểu diễn đạt tư tưởng. Dùng luật pháp vá víu kiểu quyết định 97 để ngăn chận lời lẽ chống đối của người Việt Nam yêu dân chủ và công bằng chẳng khác nào dùng rơm rạ để vá lại những rò rỉ trên một con đê èo ọp đang run rẩy trước cơn thịnh nộ của nước lũ. Giải pháp hữu lý nhất cho hiện tình Việt Nam là giải pháp rằng con đê CSVN không thể tiếp tục tồn tại trong vá víu. Nó phải bị thay thế bằng một con đê mới. Con đê mới kia sẽ được thiết kế từ những kiến thức vửng vàng về khoa học chính trị và khoa học luật pháp của thể chế tự do dân chủ./.
Đỗ Thái Nhiên (ww.vietvúa.com)
VỤ IDS: SỐNG KHÔNG ĐƯỢC, CHẾT CHẲNG YÊN
Vụ IDS (Viện Nghiên cứu Phát triển): Sống không được, chết chẳng yên! Alfonso Hoàng Gia Bảo
Việc IDS (Viện Nghiên cứu Phát triển) phải ‘tự giải thể’ hôm 14/9/09, chỉ vài giờ trước khi quyết định 97/2009/QĐ-TTg có hiệu lực nhưng cũng chính tổ chức này chưa đầy hai năm trước đã được nhà nước cấp phép hoạt động, một sự thay đổi chính sách quá nhanh chóng trong quãng thời gian ngắn đã cho chúng ta thấy hết sự bất cập của nền hành chính Việt Nam.
Những con chữ biết ‘nhảy múa’!
Tuy nhiên điều đáng nói là sự bất cập này lại đưọc che giấu đằng sau những con chữ ‘lắt léo’ (chính xác hơn có lẽ phải gọi là ‘láu cá’) trong quyết định 97, rằng nhà nước không hề buộc IDS phải đóng cửa, mà chỉ ‘nhẹ nhàng’ yêu cầu “…Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ" (trích Điều 2.2: Trách nhiệm của cá nhân thành lập tổ chức khoa học và công nghệ) nhưng trên thực tế thì ai cũng biết, chẳng có ‘cá nhân’ lẫn ‘tư nhân’ nào về lâu về dài có thể chịu nổi cảnh công sức mình bỏ ra để làm nên sản phẩm lại bị kẻ khác ‘phỗng tay trên’? (‘gửi ý kiến’ thôi à nghen không phải cung cấp, bán buôn hay trao đổi gì đâu đấy! họ ‘tử tế’ chưa?).
Và như thế ý định ‘tối hậu’ của nhà nước khi ban hành QĐ97 tưởng đã quá rõ. Vì không muốn thấy bất kỳ một viện nghiên cứu kinh tế chính trị tư nhân nào xuất hiện trên lãnh thổ VN (ngoại trừ những viện nghiên cứu HCM, Mác-Lê Nin) nhưng lại sợ mang tiếng cấm đoán, mất dân chủ nên chơi trò đểu ‘mượn gió bẻ măng’ bằng cách chận đầu ra không cho sản phẩm mang nhãn hiệu ‘IDS think-tank’ được bày bán trên thị trường. Quản lý chặt cái hầu bao kiểu này làm sao IDS sống? mà nhắm không sống nổi thì đành phải “tự chết” thôi!
Dân VN mình toàn là những người thông minh cả, vì hễ cứ đụng đến chuyện gì có ‘hơi hướm’ chính trị là y như rằng, nhà nước lẫn nhân dân chẳng ai buồn nói thẳng, nói thật với nhau điều gì nhưng mọi người vẫn hiểu thấu suốt ‘ruột gan’ nhau, thế mới tài!
Giữa kẻ ban hành quyết định 97 và người đấu tranh chống lại nó có thể nói là cả một sự đấu trí ghê gớm giữa ‘ông’ nhà nước và 16 bộ não của IDS, và có vẻ như IDS đã thắng ít nhất cũng là 1-0 bằng pha ‘tự kết liễu đời mình’ sau khi không khó lắm để ‘giải mã’ cái ý đồ đen tối của nhà nước nằm sau những câu chữ lắt léo ‘nhảy múa’ nêu trên.
Khi trả lời phỏng vấn BBC hôm 15/9, Ts.Nguyễn Quang A có nói đến “đây là một quyết định rất khó khăn” chắc hẳn ông muốn ám chỉ về sự ‘đấu trí’ này? rằng IDS biết ‘tỏng’ nhà nước muốn gì nhưng vì chuyện này ‘nhạy cảm’ quá chẳng thể nói ra được, đằng nào cũng ‘chết’ thôi thì cho thiên hạ biết mình chết oan bằng cách tự mình “treo cổ” vậy!
Có vẻ như việc IDS ‘bắt bài’ nhà nước cộng thêm những phát biểu xung quanh việc ‘tự vẫn’ này đã làm ông thủ tướng ‘bị quê’, nên mới vừa có thêm chuyện chỉ đạo phải “xử lý thích hợp, đúng quy định”… tuy nhiên, một lần nữa sự thông minh của dân VN giúp mọi người hiểu ra những câu chữ ấy ‘múa vậy mà không đẹp vậy’, vì trước nay chẳng ai thấy người nào ngoan ngoãn chấp hành yêu cầu của nhà nước mà bị xử lý bao giờ, IDS là trường hợp đầu tiền và độc nhất vô nhị? Chẳng qua là muốn “xử lý” cái tội dám ‘bêu rếu’ nhà nước qua hành động “tự giải thể” này mà thôi.
Cũng từ chuyện hiểu rõ ‘ruột gan’ nhau như vậy, những người lên tiếng chỉ trích quyết định giải thể của Ts.Nguyễn Quang A khi cho đó là “vội vã” xem ra cũng rất có lý, vì tại sao IDS không chịu tiếp tục trò đấu trí bằng đòn ‘nắn gân’ ngược lại nhà nước: “các anh muốn độc quyền thâu tóm các công trình nghiên cứu phản biện ư? Ok! Chúng tôi chấp nhận cuộc chơi nhưng xin nhớ cho rằng nền kinh tế VN bây giờ chẳng còn ai bao cho ai nữa, chúng tôi phải tự túc từ A – Z không lệ thuộc ngân sách, vậy xin quí vị nhớ bỏ tiền ra để được làm đại lý độc quyền và giá cả, tất nhiên do IDS quyết định vì chúng tôi là chủ làm ra những sản phẩm trí tuệ này”.
Tại sao không nhỉ? Khi ấy chẳng nhẽ nhà nước lại dám nói thẳng đòi ‘xài chùa’ thì coi sao được trong khi không ‘nuôi’ IDS ngày nào? một khi họ không thể núp dưới mỹ từ “gởi ý kiến” nữa, tức điều 2.2 tự nó phơi bày tất cả những mặt trái vô lý của nó ra.
Sự thiếu cao thượng của nhà nước trong cách ‘triệt hạ’ IDS có thể thấy qua việc lên án những phát biểu của Ts.Nguyễn Quang A (vì là người phát biểu nhiều nhất) “thiếu tinh thần xây dựng” nhưng thực tế là bất cứ ai nghe, xem qua những phát biểu ấy (link ở đây 1, 2, 3 trên BBC, ngoài ra còn có trên cả các trang RFA, Bauxitevietnam. info v.v…) đều cảm thấy toàn những lời nói hết sức nhã nhặn. Sự thật này buộc mọi người phải nghĩ gì về QĐ-97? Phải chăng chỉ với một mục đích duy nhất là loại cho bằng được IDS một cách ‘hợp pháp’ ra khỏi ‘sân chơi’ phản biện, vì sự nổi tiếng của nó đang khiến những học viện, viện nghiên cứu công khác do nhà nước quản lý ngày càng trở nên lu mờ bởi họ đang đi vào ngõ cụt với những ‘công trình nghiên cứu’ vô bổ về quá độ tiến lên CNXH, về ‘KTTT theo định hướng XHCN’? Nếu không phải vì thế thì sao khi viện này đã ‘biết điều’ tự giải thể rồi mà vẫn còn bị người ta làm khó dễ?
Mấy chữ “thích hợp, đúng quy định” đi kèm cái chỉ đạo “xử lý” cho ta thấy bản thân ông thủ tướng hiểu hơn ai hết tình trạng xử lý không thích hợp và sai qui định là phổ biến. Lẽ ra với những kinh nghiệm sửa sai – tái phạm – sửa tiếp, sửa hoài… mà VN đã phạm phải không biết bao lần mấy chục năm qua, ông thủ tướng phải can đảm dựa vào chúng để xem xét lại quyết định 97 xem, liệu nó có điều gì “bất hợp lý” không? thay vì cứ tiếp tục cho thi hành trong tâm trạng hoài nghi, vừa xử lý IDS mà vừa lo nên phải nhắc nhở thích hợp với đúng qui định.
“Ôn cổ tri tân”
Dẫu sao thì IDS cũng đã ‘chết’ và ít nhiều gì cái chết này cũng đã làm liên lụy đến công ăn việc làm của của 16 vị trí thức ISD, sự ‘lận đận’ của họ (xin phép gọi vậy) khiến gợi nhớ lại một câu chuyện khá lâm li bi đát của một kẻ sĩ sa cơ lỡ vận…
Chuyện rằng tại một nước nọ có một cậu học trò thông minh xuất chúng, sau khi thi đậu Trạng Nguyên được vào triều làm quan. Nhưng chắc số cậu “đầu thai nhầm thế kỷ” nên đã ‘đầu quân’ nhầm vào một triều đình mà ở đó số người tài đức đếm chưa hết mấy đầu ngón tay, trong lúc lũ quan tham bất tài lại đông như kiến cỏ. Bởi vậy, dù rất có năng lực làm việc nhưng ông chỉ được giao cho những chức vụ ‘quèn’ để chẳng bao giờ có cơ hội thăng tiến.
Có ở trong chăn lâu ngày mới biết chăn lắm rận! Vì biết rõ tư chất mình khó có thể hòa hợp cùng kiểu tiến thân ‘lưng đi không được phép thẳng, mắt chẳng được nhìn ngay’, tháng tháng nhận bổng lộc tiếng là của ‘vua ban’ nhưng thực chất đấy lại là tiền mồ hôi nước mắt đóng thuế của dân, nên ông đã xin rũ áo từ quan về quê sinh sống bằng nghề dạy học. Rời kinh đô chẳng bao lâu thì chuyện tiếm quyền đã xảy ra. Triều đình như rắn nhiều đầu nhưng chẳng đầu nào biết khóc. Con nào con nấy chỉ chực chờ tranh giành quyền lực khiến cho đất nước bị rơi vào tình cảnh hỗn loạn, lạc hậu, sản xuất đình đốn thua kém thiên hạ, mất mùa đói kém khắp nơi, khiến vị thầy đồ cũng bị vạ lây do khó khăn nên học trò mỗi lúc một thưa dần... trong cơn túng quẫn ông tình cờ gặp lại một bạn học cũ thủa hàn vi nay anh này giàu ‘nứt khố đổ vách’. Do từ lâu biết tiếng là người có chí học hành, sống trung thực nhưng do chẳng gặp vận may sa mà bạn mình phải cơ thất thế, nên anh ta đã giúp đỡ bằng cách thu xếp cho bạn về làm quản gia cho mình.
Nếu những người bình thường khác gặp nạn mà được ‘quới nhân’ giúp đỡ như vậy cả là một may mắn, vận hạn ắt sẽ chóng qua thì với những kẻ tài hoa, kẻ sĩ ‘lỡ thời’ như vị quan của chúng ta, sự đời thường không mấy khi chịu chiều lòng họ nhanh như vậy. Có những việc xảy đến tưởng rằng gặp may nhưng đâu ai ngờ đấy mới chỉ là khúc prélude êm ả nghe bùi cái lỗ tai để dẫn đưa tới những chương presto, aggressimo gầm thét dữ dội tiếp theo. Vì vậy mà cái giá long đong lận đận họ phải trả bao giờ cũng gấp đôi, gấp ba lần người bình thường, như cụ Nguyễn Du từng bảo “chữ tài liền với chữ tai một vần”.
Đoạn trường của vị cựu quan này khởi đi từ việc ‘may mắn’ gặp lại bạn hiền nhưng cũng từ đây ‘đại họa’ xảy đến cho chính ông khi người bạn chỉ nhận ra mỗi đức tính trung thực nơi mình nhưng lại không biết rằng, giao cho một người tốt giàu lòng trắc ẩn quản lý cả một gia sản lớn giữa lúc dân tình đói kém có khác nào tự ‘giăng bẫy’ hại bạn?
Quả thật, mới sau vài năm làm quản lý gia sản của bạn sa sút thấy rõ. Vì sao chắc khỏi cần nói ra chắc mọi người cũng hiểu. Bởi đây chắc hẳn đúng là mẫu quản gia mà Chúa Jésus từng khen ngợi là khôn ngoan trong Thánh Kinh vì đã biết ‘lấy của thế gian mua lấy nước thiên đàng’ bằng những việc làm đầy xót thương đối với người nghèo khổ trong vùng đang làm công cho nhà bạn mình.
Bạn anh mặc dù không vui vì chuyện ‘thất thu’ nhưng cũng không nỡ xua đuổi bạn nhưng vợ anh ta thì không! Của đau con xót khiến bà phải suy tính và đã nghĩ ra chiêu trục xuất bạn chồng bằng cách sai tên đầy tớ ruột lợi dụng lúc anh này lo công việc ngoài trang trại đem chục lượng vàng lén giấu vào rương của anh ta và sau đó sẽ hô hoán lên mất của. Vì chỉ bằng cách bị bắt quả tang như thế mới có lý do ‘chính đáng’ để bứng người bạn hiền lành của chồng mình ra khỏi nhà. Hơn nữa thời điểm ra lúc khi gia đình đang buồn rầu vì thất thu do việc thương dân nghèo ‘không đúng chỗ’ khiến càng dễ nghi vấn về ‘lòng tham’ với anh hơn.
Tuy nhiên người tính chẳng bằng trời tính mà nguyên nhân là do chủ sao thì tớ vậy. Chủ giỏi mưu mô thì đứa tớ ắt cũng phải lắm mưu mẹo. Khi nhận lệnh thi hành tên đầy tớ liền nhận ra cái ‘lỗ hổng’ to tướng không ai kiểm soát mình từ lúc khi nhận vàng cho đến chỗ gài bẫy, vì làm chuyện hại người nên đâu dám cho ai biết mà chỉ chủ tớ biết với nhau, vì thế “cài bao nhiêu, bao nhiêu bỏ túi chỉ có Trời và ta biết” hắn nghĩ vậy và cũng đã làm như vậy.
Thế là từ ý định chỉ đóng kịch mất của giả thôi nay bỗng dưng bị mất thật và người lãnh đủ mọi tai họa tất nhiên không ai khác ngoài vị quan thất thời kiêm quản gia khốn khổ của chúng ta!
Sau cái ngày xảy ra đại họa oan trái này, vị cựu quan, kiêm thầy đồ kiêm quản gia tốt bụng của chúng ta biết có kẻ rắp tâm hại mình, nhưng trước những ‘chứng cớ’ quá rõ ràng, trong lúc chờ giải quyết ông chỉ còn biết tạ lỗi chịu tội và xin cáo việc để trở về sống tại quê nhà. Tưởng phen này thôi đành chấp nhận sống yên ở quê cho đến cuối đời thì nào ngờ vụ mất vàng thiệt khiến bà chủ ‘cay cú’ nên đã quyết làm đến nơi đến chốn trước công đường….
Thế rồi vào một ngày nọ khi chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là gà sẽ gáy sáng là đến giờ xét xử, mặc dù vô tội nhưng lại không thể chứng minh, muốn bảo toàn danh dự ông chỉ còn cách treo cổ tự vận tại nhà. Phiên tòa đành phải hủy bỏ nhưng ‘tự chết’ chưa phải đã là hết.
Ma chay mới tháng trước thì tháng sau có kẻ xấu bụng biết bà chủ vẫn còn ấm ức vì chuyện ‘tự chết’ của ông quan này nên lại tâu với bà rằng muốn biết ông ta có ‘chôm’ vàng hay không cứ xin quan cho quật mồ hắn lên, nếu đích thị là thủ phạm hẳn thế nào vợ con hắn cũng chôn theo quan tài chút đỉnh cho y xài dưới âm phủ, cứ quật mồ lên là biết liền!
Tất nhiên ‘cây ngay chẳng sợ chết đứng’ kết quả đào bới chẳng được gì thêm nhưng trước những cay cú người ta vẫn cứ thích đòi phải “xử lý” tiếp vụ việc nhân danh công lý và “sự cần thiết, phù hợp với hiến pháp, pháp luật”. Sàigòn, 22/10/2009 Alfonso Hoàng Gia Bảo
| | | |
BÁT NHÃ: BỘ NGỌAI GIAO VN VẪN NÓI DỐI
Phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao: Sự kiện tu viện Bát Nhã là sai sự thật Thanh Trúc, phóng viên đài RFA 2009-10-10
Tại buổi họp báo thường kỳ hôm thứ Năm 8 tháng Mười, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga, phủ nhận mọi tin tức liên quan đến tu viện Bát Nhã. Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại Giao Việt Nam hôm thứ Năm, trả lời câu hỏi của một số phóng viên về vụ Bát Nhã, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga, khẳng định rằng “không có cái gọi là Việt Nam ép bốn trăm người tu theo pháp môn Làng Mai phải rời khỏi tu viện Bát Nhã” rằng thông tin “đã xảy ra đụng độ giữa các “sư thầy” “sư cô “ tại tu viện Bát Nhã và chính quyền làm một số người bị thương và bị nhiều người bị bắt là hoàn toàn sai sự thật”.
Lời lẽ của người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Nguyễn Phương Nga được đăng trên báo Người Lao Động, những chữ sư thầy và sư cô được báo để giữa hai ngoặc kép.
Áp giải về nguyên quán
Để xác minh lời nói mới rồi của phát ngôn nhân bộ ngoại giao Nguyễn Phương Nga, đài Á Châu Tự Do tìm cách liên lạc với thầy Pháp Hội là người bị công an áp tải về lại nguyên quán ở Hà Nội, được thầy Pháp Hội cho biết vụ việc ngày Chúa Nhật 27 tháng 9 năm 2009 mà mấy trăm tăng thân bị đánh và bị đuổi khỏi tu viện Bát Nhã là có thật:
“Họ bắt và ép các thầy và sư chú phải ra đi. Đến chiều công an chỉ mặt Pháp Hội rồi họ bắt đưa ra ngoài uỷ ban. Ngay đêm đó họ cho xe đưa về Hà Nội. Hai người lái xe họ thuê còn ba người công an áp tải. Họ chạy nguyên đêm chủ nhật, sang ngày thứ hai, đêm thứ hai, đến trưa ngày thứ ba thì áp tải Pháp Hội về tận nhà. Họ có quay phim, chụp hình, họ có đưa lên tổ dân phố, lên công an phường, lên chính quyền, lên mặt trận ...
Họ có mặt trước rồi yêu cầu Pháp Hội ra, Pháp Hội có cảm tưởng là bị truy nã. Họ nói rằng muốn đi ra khỏi Hà Nội thì phải xin phép họ. Theo Pháp Hội dự đoán thì họ nghi ngại mình, vì trong tu viện Bát Nhã đã nhận được khá nhiều người trẻ và nhiều người trí thức nên họ nghi ngại và họ tìm cách làm tất cả những điều như vậy.”
Người thứ hai, thầy Pháp Sĩ, bị áp giải về nguyên quán ở Khánh Hòa cùng lúc với thầy Pháp Hội:
Qua cái đêm hoạn nạn tại Bát Nhã thì chúng tôi bị đánh đập rất là nhiều. Trên người mang thương tích và đi khám bệnh.
Thầy Pháp Sĩ
“Dạ đúng là chúng tôi bị công an áp tải về nhà cùng với thầy Pháp Hội vào lúc 10 giờ đêm ngày 27 tháng 9 năm 2009. Công an áp tải tôi lên xe trước rồi tiếp tục bắt thầy Pháp Hội và truy lùng bắt thầy Pháp Tụ nhưng mà không được. Họ áp tải đi ban đêm và xuống tỉnh Khánh Hòa vào lúc 3 giờ sáng. Sau đó thì bàn giao cho công an tỉnh Khánh Hòa và BA 38 Khánh Hòa chở chúng tôi thẳng về gia đình và bàn giao cho gia đình. Một anh công an có chụp hình và nói là thầy cứ ở yên đó, chúng tôi sẽ tiếp tục vào thăm thầy. Các anh công an đã tịch thu giấy chứng minh nhân dân và giấy tờ đi lại để mình khỏi đi đâu ra khỏi địa phương.”
Đánh đập, đe dọa, khủng bố Vẫn theo lời thầy Pháp Sĩ thì khi đã về đến địa phương rồi ông vẫn bị công an theo dõi sát:
“Qua cái đêm hoạn nạn tại Bát Nhã thì chúng tôi bị đánh đập rất là nhiều. Trên người mang thương tích và đi khám bệnh. Vừa đi ra khỏi nhà thì công an địa phương đi vào và nói rằng công an tỉnh Khánh Hòa cần gặp để làm việc. Trên nguyên tắc chúng tôi bị quản lý một cách rất khéo léo.”
Người thứ ba, thầy Pháp Tụ, tìm cách thoát đi khi bị đẩy lên taxi chở ra ngoài, hiện đang bị công an truy lùng. Từ nơi tạm lánh , thầy Pháp Tụ nói rằng phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Nguyễn Phương Nga cố tình phủ nhận chuyện nhà nước dùng bạo lực ép bốn trăm tăng sinh Làng Mai rời khỏi tu viện Bát Nhã:
“Cái ngày diễn ra sự kiện thì mình thấy rất là rõ các anh bên công an đứng chỉ điểm mặt các thầy để cho một số người lạ mặt họ vô họ tấn công và áp lực đánh đập. Khi mà Pháp Tụ đi ra thì trên người không còn gì hết. Cái y thì người ta đã xé rồi, còn cái bình bát thì người ta đá, đạp nó bể rồi. Họ định lấy cái y đó để cột Pháp Tụ dụt (ném) lên xe. Trong lúc lên xe như vậy thì có một số các sư chú nằm trên đầu xe thì họ lôi ra, họ bị đánh, có những người bị chảy máu nữa. Khi Pháp Tụ được dụt lên xe đầu tiên trong 4 chiếc xe taxi thì anh (tài xế) taxi nói rằng các anh đã bị công an lừa, nói là vô đây để đón khách. Nếu biết các thầy như vậy thì các anh sẽ không vô. Khi mà ra tới cổng chính thì mình thấy có mặt đầy đủ Chủ tịch xã, Chủ tịch thị xã, các cơ quan đầy đủ hết, khoảng hai mươi mấy người, mỗi người đeo một cái khẩu trang. Trong đó có anh Thành mà trước kia đã gặp Pháp Tụ và thầy Pháp Sĩ. Anh Thành này là bên BA 38, là công an phụ trách về vấn đề tôn giáo. Mà trong lúc mấy thầy bị đánh đập như vậy thì luôn luôn có anh Long, công an thị xã Bảo Lộc về phụ trách tôn giáo đứng quay phim chụp hình, còn một số anh công an khác thì vô trong phòng lục lọi. Họ đổ nước vô máy vi tính, còn những máy ghi hình, âm thanh thì họ đập hết. Đã là người xuất gia, cần thiết nhất là mình phải giữ cái tâm cho nó bình an, tức là mình không có bạo động nhưng mà thật sự thì lần đầu tiên trong đời, từ nhỏ đến lớn mới thấy trường hợp các anh công an nói với một số các vị phụ nữ chạy vô bóp bộ phận kín của mình, thì đây là một điều Pháp Tụ cảm thấy rất là đau lòng.”
Cái ngày diễn ra sự kiện thì mình thấy rất là rõ các anh bên công an đứng chỉ điểm mặt các thầy để cho một số người lạ mặt họ vô họ tấn công và áp lực đánh đập. Thầy Pháp Tụ
Tính đến lúc này gần hai trăm tăng thân Làng Mai vẫn còn tạm náu tại chùa Phước Huệ ngoài thị xã Bảo Lộc. Trước đó, các vị ấy xác nhận với đài Á Châu Tự Do là đã có những loa phóng thanh mắc ngoài khuôn viên chùa Phước Huệ, đe dọa và vu khống tăng thân Bát Nhã cũng như xúc phạm đến sư trụ trì là thượng tọa Thích Thái Thuận. Ba hôm trước, thông tấn xã Việt Nam loan tin là thượng tọa Thích Thái Thuận có nói rằng không hề có sự đe dọa hay khủng bố nhắm vào các tăng thân Làng Mai trong chùa Phước Huệ.
Từ thị xã Bảo Lộc, thượng tọa Thích Thái Thuận trả lời đài Á Châu Tự Do:
“Bây giờ khỏi nói đến chuyện đó nữa để cho nó ổn định công việc ở tại chùa. Thôi thì họ bình luận như thế nào đó thì cứ để họ bình luận và quý vị cứ tìm hiểu. Riêng tôi thì cho tôi khỏi nói mấy chuyện đó đi.”
Thanh Trúc: Chỉ xin hỏi thêm một câu nữa thôi là từ khi những tăng thân chạy về chùa Phước Huệ và được thượng tọa Thích Thái Thuận bảo bọc thì có những loa phóng thanh ban đêm nói những điều như: Những tăng thân Làng Mai muốn chiếm chùa Phước Huệ rồi có những lời xúc phạm đến thượng tọa Thích Thái Thuận. Vậy thưa thầy, có những loa như vậy không?
Thầy Thích Thái Thuận: Những loa đó có phóng thanh những lời như phải giành lại chùa Bát Nhã rồi cũng có nói thông tin là giành giựt chùa Phước Huệ. Tôi cũng có nói là không có chuyện đó đâu. Trước đây hai ngày, lúc mới bắt đầu vô chùa Phước Huệ thì họ cũng có đe dọa thôi chứ sau thì không có nữa thành ra tôi không có muốn nói nhiều, chị thông cảm cho.
Không xin phép?
Cũng tại buổi họp báo thường của Bộ Ngoại Giao hôm thứ Năm, người phát ngôn Nguyễn Phương Nga nói rằng những vị tu theo Pháp Môn Làng Mai đã tổ chức khoa tu tại chùa Bát Nhã mà không xin phép Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và cơ quan nhà nước có thẩm quyền, số người tới tu cũng không đăng ký tạm trú theo qui định của pháp luật, rằng việc làm này là vi phạm qui định về thủ tục hành chánh của Việt Nam, vi phạm giới luật Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Bà Nguyễn Phương Nga nói rằng không có chuyện đuổi 400 tăng ni là “lấy thúng úp voi”.
Từ Nam California, ni sư trưởng Chân Không trong tăng thân Làng Mai, từng tháp tùng thiền sư Thích Nhất Hạnh về Việt Nam để vận động mang pháp môn Làng Mai đến thiền viện Bát Nhã, trình bày:
“Năm 2006, Ủy ban tôn giáo nhà nước có cho phép mấy trăm tăng thân tu ở pháp môn Làng Mai ở tại Bát Nhã. Cả Giáo hội phật giáo trung ương và Giáo hội Lâm Đồng cũng cho phép, rồi công an các nơi đều cho phép hết.Tất cả các phép tu dài hay phép tu ngắn đều có phép và người bảo trợ là thầy Đức Nghi. Nhưng đến năm 2008 thầy Đức Nghi không bảo trợ nữa. Hiện bây giờ tăng thân Làng Mai đang ở dưới quyền của thầy Thái Thuận và thầy Thái Thuận bảo trợ. Vậy trên nguyên tắc là tăng thân Làng Mai đúng phép. Tôi muốn nói tình trạng hiện tại là ngày 8 tháng 10 năm 2009 thì tăng thân Làng Mai đang rất đúng phép vì vẫn còn thư cho phép của Ủy ban tôn giáo nhà nước năm 2006 cho tới 2010, và có cả giấy phép của trung ương, của tỉnh Lâm Đồng nhưng người bảo trợ là thầy Đức Nghi. Bây giờ thầy Đức Nghi muốn lấy lại chùa để làm chuyện khác thành ra cũng phải chịu. Bà Nguyễn Phương Nga nói rằng không có chuyện đuổi 400 tăng ni là “lấy thúng úp voi”.
6 NGƯỜI VN NHẬN GIẢI NHÂN QUYỀN
http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2009/10/091014_ hrw_prize. shtml
Sáu cây bút ở Việt Nam được tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch (HRW) trao giải thưởng Hellman/Hammett năm nay.
Đó là nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải tức Hoàng Hải (blogger Điếu Cày), nhà giáo Nguyễn Thượng Long, cô Phạm Thanh Nghiên, thượng tọa Thích Thiện Minh, cựu chiến binh Trần Anh Kim và ông Vi Đức Hồi.
Trong thông cáo ra tại New York hôm 13/10, HRW nói giải thưởng này là để "tôn vinh cam kết của họ đối với quyền tự do ngôn luận và sự dũng cảm của họ trước sự truy bức về chính trị."
Thông cáo viết:"Tất cả những người này đều là các cây bút và nhà tranh đấu mà công việc và hoạt động của họ đã bị đàn áp."
"Ngoài các trải nghiệm cá nhân, họ còn đại diện cho các cây viết và nhà báo khác, mà cuộc sống và sự nghiệp bị gián đoạn vì các chính sách kiểm soát ngôn luận và các ấn phẩm của chính phủ."
Giải thưởng hàng năm Hellman/Hammett được Human Rights Watch trao cho các nhân sỹ quốc tế, bắt đầu từ 1989, tới nay đã gần 700 nhân vật được nhận giải. Nó đi kèm phần thưởng tài chính dưới 10.000 Mỹ kim.
Giải thưởng này mang tên của kịch sỹ cánh tả Mỹ Lillian Hellman và nhà văn Dashiel Hammet, những người từng bị truy bức về chính trị trong những năm 1950 tại Hoa Kỳ vì bị cho là cộng sản. Chính phủ Việt Nam trong quá khứ đã từng lên tiếng chỉ trích việc trao giải Hellman/Hammett của HRW cho các nhân vật ở Việt Nam, mà họ cho là "dựa trên các thông tin sai lệch".
Vinh danh Bà Elaine Pearson, phó giám đốc khu vực châu Á của HRW, nói: "Việc vinh danh các cây bút này cũng giúp làm sáng tỏ một nước Việt Nam mà nhiều người trên thế giới không biết."
Bà cáo buộc: "Đây là nơi mà chính phủ trấn áp mạnh mẽ những người bất đồng chính kiến, tự do ngôn luận, báo chí độc lập và quyền tiếp cận mạng internet; chính phủ làm tất cả những gì có thể để bịt miệng các chỉ trích gia."
Trong số sáu vị nhận giải thưởng năm nay, cô Phạm Thanh Nghiên, 33 tuổi, và ông Trần Anh Kim, 61 tuổi, hiện còn đang bị giam giữ chưa được xét xử.
Cô Nghiên bị bắt từ tháng Chín 2008 còn ông Kim bị bắt hồi tháng Bảy năm nay.
Blogger Điếu Cày, 57 tuổi, thì hiện đang thi hành án tù hai năm rưỡi vì tội trốn thuế.
Thượng tọa Thích Thiện Minh, 56 tuổi, đã ngồi tù 26 năm từ 1976-2005 vì chống đối nhà nước. HRW nói hiện ông vẫn bị quản chế, giống nhà giáo Nguyễn Thượng Long và ông Vi Đức Hồi.
Năm nay, ngoài sáu người Việt, HRW còn trao giải cho 31 nhân vật từ Trung Quốc, Iran, Miến Điện, Colombia , Ai Cập, Eritrea , Gambia , Iraq , Bắc Triều Tiên, Pakistan , Nga , Rwanda , Sri Lanka , Syria , Tây Tạng, Thổ Nhĩ Kỳ, Tunisia , và Zimbabwe .
TÒA ĐẠI SỨ HOA KỲ TỎ THÁI ĐỘ VỀ VỤ KẾT ÁN
Quan ngại sâu sắc' sau vụ kết án http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2009/10/091014_ usembassydisside nts.shtml
Trong một thông cáo báo chí ra hôm 14/10, Đại sứ quán của Hoa Kỳ ở Hà Nội bày tỏ ''quan ngại sâu sắc về việc 9 nhà hoạt động dân chủ bị kết án ở Việt Nam hồi tuần trước".'
Thông cáo viết: "Các nhà hoạt động đơn giản chỉ bày tỏ các quan điểm của họ một cách ôn hòa và không tạo ra bất cứ mối đe dọa nào tới an ninh quốc gia của Việt Nam."
''Chúng tôi cũng quan ngại về việc bắt giữ nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, bà đã bị đánh đập và bắt giữ sau khi công khai bày tỏ sự ủng hộ đối với 9 nhà hoạt động dân chủ. Không nên có cá nhân nào bị đánh đập, bắt giữ, hoặc giam giữ vì thực hành quyền tự do ngôn luận,'' thông cáo viết tiếp. ''Các hành động này, cùng với việc cưỡng ép các sư sãi ra khỏi Tu viện Bát Nhã ở tỉnh Lâm Đồng và việc chính phủ đã không bảo vệ họ khỏi bị tấn công là trái với cam kết của chính Việt Nam đối với các tiêu chuẩn được quốc tế công nhận về nhân quyền và nền pháp trị.''
Đại sứ quán Hoa Kỳ thúc giục: ''Chính phủ Việt Nam tôn trọng các cam kết nhân quyền quốc tế của mình, và thả ngay lập tức và vô điều kiện những người này cũng như các tù nhân khác bị giam giữ vì đã bày tỏ các quan điểm của họ một cách ôn hòa.''
Xử hàng loạt
Tổng cộng đã có chín người phải ra tòa với cùng một tội danh. Tất cả số này đều bị bắt từ tháng Chín năm ngoái.
Họ bị buộc tội đã "lưu trữ, phát tán những tài liệu vu khống chế độ, sau đó chụp hình và phát tán lên mạng Internet".
Các nhà hoạt động đơn giản chỉ bày tỏ các quan điểm của họ một cách ôn hòa.
Những người ra tòa ở Hải Phòng ngày 09/10 có các ông Nguyễn Xuân Nghĩa, 60 tuổi; Nguyễn Văn Tính, 67 tuổi; Nguyễn Kim Nhàn, 60 tuổi; Nguyễn Văn Túc, 45 tuổi; Ngô Quỳnh, 25 tuổi và Nguyễn Mạnh Sơn, 66 tuổi.
Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa nhận án nặng nhất là 6 năm tù giam và 4 năm quản chế tại gia vì 'vai trò lãnh đạo'.
Họ bị cáo buộc là vào hồi tháng 8/2008 đã tổ chức treo biểu ngữ và rải truyền đơn với nội dung "chống chính quyền" tại cầu vượt Lạch Tray (Hải Phòng) và Lai Cách (Hải Dương) rồi chụp ảnh và viết bài đưa lên mạng Internet.
Các biểu ngữ mà ḥọ đã treo được nói có nội dung chống chính quyền, kêu gọi dân chủ, đa nguyên đa đảng, chỉ trích tình trạng lạm phát trong kinh tế và chính sách biển đảo.
Trên một biểu ngữ còn có dòng chữ về Khối 8406, một tập hợp đấu tranh dân chủ trong nước.
Hôm 08/10, ông Phạm Văn Trội, 37 tuổi, bị Tòa án Nhân dân Hà Nội xử 4 năm tù giam và 4 năm quản chế tại gia.
Trước đó, nhà giáo Vũ Hùng cũng lãnh 3 năm tù giam và 3 năm quản chế vì vi phạm Điều 88. Nhà thơ Trần Đức Thạch, 57 tuổi, Hội viên Hội Nhà văn Nghệ An, hôm 06/10 bị xử tù giam 3 năm và 3 năm quản chế
NHÀ GIÁO VŨ HÙNG TUYỆT THỰC
Nhà Giáo Yêu Nước Vũ Hùng Tuyệt Thực Phản Đối Bản Án
Vào chiều ngày 13/10/2009, thân nhân của nhà giáo Vũ Hùng gồm cụ thân sinh của ông, vợ ông là bà Lý Thị Tuyết Mai, và con gái của ông đã đến trại giam để thăm nuôi. Tuy nhiên, quản trại từ chối, không cho gặp với lý do nhà giáo Vũ Hùng đang “vi phạm nội qui trại”.
Khi bị gặng hỏi nhiều lần, cán bộ trại mới cho biết nhà giáo Vũ Hùng đã tuyệt thực gần 7 ngày qua để phản đối bản án chế độ CSVN áp đặt lên ông. Vào ngày 7/10/2009, sau vỏn vẹn 3 giờ “xét xử”, tòa án Hà Nội đã kết án ông 3 năm tù giam và 3 năm quản chế. Trọng tội của ông là đã cùng với 8 nhà yêu nước khác treo biểu ngữ tuyên nhận Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam và kêu gọi cải thiện nhiều mặt tình trạng xã hội Việt Nam hiện nay. Tại phiên tòa ông khảng khái duy trì quan điểm hết lòng vì nước vì dân của mình. Ông phủ nhận các cáo buộc vô lý của chế độ và tuyên bố “Tôi chỉ muốn đóng góp tiếng nói nhỏ bé của tôi để xã hội tốt đẹp hơn.”
Kể từ ngày bị bắt vào năm ngoái, 18/9/2008, đến nay gia đình vẫn không được gặp mặt nhà giáo Vũ Hùng. Tại phiên tòa ngày 7/10/2009, sau khi bị tuyên án, ông đã cố gắng tiến lại để an ủi vợ vài lời nhưng công an lập tức ngăn bà Mai lại và kéo ông ra khỏi tòa.
Vào ngày 9/10/2009, tức chỉ 2 ngày sau khi có bản án phi lý và bất công này, tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International) đã phát động lời kêu gọi hành động khẩn cấp đến các thành viên trên khắp thế giới để tranh đấu cho nhà giáo Vũ Hùng.
| | | |
MUỐN BẮT THÌ BẮT, MUỐN THẢ THÌ THẢ
Muốn bắt thì bắt muốn thả thì thả Mặc Lâm, phóng viên đài RFA, Bangkok 2009-09-14
Sau khi nhiều cơ quan truyền thông quốc tế lên tiếng quan ngại, hai blogger Người Buôn Gió và Mẹ Nấm cùng với nhà báo Phạm Đoan Trang đã được trả tự do. Nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải (Blogger Điếu Cày) bị bắt giải lên xe công an, trong cuộc biểu tình ôn hòa hôm Chủ Nhật 23-12-2007 ở Sài Gòn Trong lúc đó nhà báo tự do Nguyễn Hoàng Hải còn được biết rộng rãi hơn qua bút danh Điếu Cày bị bắt giam từ ngày 19 tháng Tư năm 2008 vì đã biểu tình chống Trung Quốc về Trường Sa và Hoàng Sa, nhưng lại nhận bản án 30 tháng về tội trốn thuế và không hề được giảm án hay ân xá trong dịp lễ vừa qua.
Dư luận vẫn đang theo dõi blogger Điếu Cày trong lúc bị di chuyển từ trại giam này sang trại giam khác với những quan tâm đặc biệt dành cho ông.
Quyết định bất ngờ của công an
Hai Blogger Người Buôn Gió tức anh Bùi Thanh Hiếu và Mẹ Nấm tức Nguyễn Ngọc Như Quỳnh cùng với nhà báo Phạm Đoan Trang có lẽ không ngờ rằng mình được thả ra sớm như vậy sau khi cơ quan an ninh bắt giữ với cáo buộc là xâm phạm an ninh quốc gia.
Đây là một động thái hiếm hoi của công an Việt Nam dành cho các người bị cáo buộc tội danh này khi họ áp dụng luật tạm giữ hành chánh tối đa là chín ngày cho các nghi can vừa nói. Cả ba người đều có chung một hành động giống nhau dẫn tới việc bắt giữ khẩn cấp của công an đó là trên trang blog và bài viết của họ có nội dung chống lại việc Trung Quốc lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Ba người này may mắn hơn một blogger khác, cũng hành động như họ là tham gia biểu tình chống trung Quốc trước khi cuộc rước đuốc Olympic Bắc Kinh xảy ra, đó là nhà báo tự do Nguyễn Hoàng Hải còn được biết là chủ nhân của trang blog Điếu Cày.
Chống Trung Quốc: 2 năm 6 tháng tù giam
Toà án Quận 3, TP Hồ Chí Minh, tuyên mức án 30 tháng tù giam cho ông Nguyễn Văn Hải (tức blogger Điếu Cày) và vợ cũ của ông là bà Dương Thị Tân nhận mức án cải tạo không giam giữ 16 tháng và thử thách ba năm về tội trốn thuế.
Rất là không công bình với chúng tôi vì chúng tôi nào có tội gì ngoài cái tội yêu nước của ông Hải?
Bà Dương Thị Tân
Chúng tôi liên lạc với bà Dương Thị Tân để hỏi bà có ý kiến gì khi hai logger Người Buôn Gió và Mẹ Nấm cùng với nhà báo Phạm Đoan Trang chỉ bị tạm giữ có 9 ngày trong khi chồng bà là blogger Điếu Cày lại bị bản án nặng nề như thế, bà Tân cho biết: “Rất là không công bình với chúng tôi vì chúng tôi nào có tội gì ngoài cái tội yêu nước của ông Hải?”
Nhạc sĩ lão thành Tô Hải, có lẽ là một blogger già nhất Việt Nam, người cùng với blogger Điếu Cày tham gia cuộc biểu tình cho biết: “Công tác ngoại giao thế nào chưa biết nhưng ông Hải tức Điếu Cày thì đã vào tù rồi! Dạo đó tôi cũng tham gia nhưng có lẽ họ thấy già quá nên không bắt!”
Người yêu mến blogger Điếu Cày trông mong ông sẽ được ân xá vào ngày lễ 2 tháng 9 vừa qua vì tin rằng việc giam giữ ông như vậy là quá đủ cho chính sách nâng cao quan hệ Việt Trung của nhà nước. Quan trọng hơn nữa là dư luận vẫn tin tưởng mạnh mẽ rằng ông Nguyễn Hoàng Hải là người vô tội.
Thủ tục đầu tiên làm đơn xin nhận tội ?
Luật sư Lê Trần Luật giải thích thủ tục miễn giảm án hay ân xá có những quy định như sau: “Giảm án tha tù là trong thời gian cải tạo phải tốt và thực hiện hai phần ba bản án. Còn ân xá thì không cần thực hiện hai phần ba nhưng phải làm đơn nhận tội và xin được khoan hồng.”
Giảm án tha tù là trong thời gian cải tạo phải tốt và thực hiện hai phần ba bản án. Còn ân xá thì không cần thực hiện hai phần ba nhưng phải làm đơn nhận tội và xin được khoan hồng LS.Lê Trần Luật
Thủ tục này có lẽ là nguyên nhân khiến cho một loạt các nhà đấu tranh cho dân chủ bị bắt trước đây ít lâu, xuất hiện trên truyền hình Việt Nam nhận tội một cách công khai với hy vọng hưởng sự khoan hồng của nhà nước. Riêng blogger Điếu Cày thì khác.
Theo lời kể của vợ ông là bà Dương Thị Tân thì hai ông bà không có lý do gì để nhận tội, dù chỉ nhận để được ân xá, bà Tân kể phản ứng của chồng bà như sau: “Họ bắt chúng tôi nhận tội để được ân giảm thì chúng tôi thấy không có lý do gì để nhận cả, Ông Hải cho họ biết là sẽ ở cho đến ngày cuối cùng.”
Sau khi hai blogger Người Buôn Gió và Mẹ Nấm cùng với nhà báo Phạm Đoan Trang được thả, bà Nguyễn Phương Nga, người mới đảm nhận vai trò phát ngôn viên cho Bộ Ngoại Giao Việt Nam tuyên bố với báo chí rằng: "Cơ quan an ninh đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Việt Nam khi tiến hành tạm giữ những người này. Đáng tiếc một số tổ chức và cá nhân đã cố ý thổi phồng sự việc này để xuyên tạc với dụng ý xấu".
Hãy làm gì nhà nước nói đừng làm gì nhà nước làm
Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ nhận định lới tuyên bố này là khác thường và ông chứng minh ngược lại: “Chính phủ Việt Nam và bộ Ngoại Giao Việt nam liên tục công bố trước Liên Hiệp Quốc là Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam thì blogger Như Quỳnh cũng như những người khác kêu gọi phản đối Trung Quốc mà bị xem là có tội thì bộ Ngoại Giao Việt Nam có tội hay không?”
Chính phủ Việt Nam và bộ Ngoại Giao Việt nam liên tục công bố trước Liên Hiệp Quốc là Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam thì blogger Như Quỳnh cũng như những người khác kêu gọi phản đối Trung Quốc mà bị xem là có tội thì bộ Ngoại Giao Việt Nam có tội hay không? Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ Trong khi đó nhạc sĩ Tô Hải cay đắng hơn khi ông cho rằng Việt Nam không còn xem trọng luật pháp như bà phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao tuyên bố, ông đưa ra ý kiến: “Cái đất nước này là cái đất nước chẳng giống ai cả, muốn bắt ai thì bắt muốn giam giữ bao lâu cũng được.”
Bà Dương Thị Tân cũng cho biết tình trạng chồng bà trong nhà giam bị đối xử khá tồi tệ bà nói: “Chúng tôi ngồi ở cái phòng cách ly của họ và chỉ được nói qua một cái lổ nhỏ xíu bên cạnh ông Hải là một giám thị trại giam”.
Cư dân mạng trên các trang blog theo dõi sự kiện ông đang tiếp tục bị giam một cách chăm chú do vẫn tin rằng hành động của blogger Điếu Cày là yêu nước và phẩm chất ứng xử của ông trước mọi áp lực là đáng trân trọng. Từng là người lính của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông Điếu Cày vẫn tiếp tục chiến đấu trong hoàn cảnh mới của đất nước với niềm tin mãnh liệt vào công lý.
Thế nhưng ngày nào người lính Điếu Cày còn trong bốn bức tường tối tăm thì ngày ấy xem ra công lý vẫn chưa soi rọi được hết những góc tối khó nhận dạng từ nhiều thế lực. Tính chất khác lạ trong việc phân biệt xét xử hiện nay của các tòa án tại Việt nam tùy theo thời tiết chính trị giữa quan hệ Việt Trung là mối lo lắng hàng đầu của dư luận.
&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&& TU DAY THUOC VE NHUNG THOI KY TRUOC | | | |
TẠI SAO LUẬT SƯ ĐỊNH ?
Trần Khải
Tại sao Luật sư Lê Công Định bị bắt? Có thực là vì những nghiên cứu học thuật, hay vì hoạt động đảng phái, hay vì ảnh hưởng trên giới trí thức, hay để răn đe các tầng lớp khác? Hay là để trấn áp các tiếng nói quan tâm về dân chủ, nhân quyền, Bauxite Tây Nguyên và Biển Đông? Hay để nêu câu hỏỉ một cách khác: nếu thực sự rằng luật sư Lê Công Định "vi phạm điều 88 của Bộ Luật Hình sự" thì tại sao nhiều người khác cũng có các ngôn ngữ hay hành vi tương tự mà không bị bắt? Và tại sao nhà nứơc không để yên cho những người như luật sư Định nói, viết và hành động như nhiêù người khác để "trình diễn bộ mặt cởi mở đa dạng" của chế độ? Thí dụ, nói và viết để chỉ trích nhà nước CSVN thì có nhiều, và các tác giả đa số đều được để yên. Như tác giả các bài viết trên những báo ngoaì luồng như báo Tổ Quốc, nơi ban biên tập đa số đều liên hệ tới Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên ở hải ngoại và nhóm trí thức Đà Lạt; hay như báo Tự Do Ngôn Luận, nơi ban biên tập đa số đều liên hệ tới Khối 8406 và nhóm linh mục Huế; hay như các trang nhà của một số nhà văn quốc nội, như trang của nhà văn Đào Hiếu hay blog của nhạc sĩ Tô Hải… Tất cả đều rực lửa dân chủ, đều tràn ngập những khát vọng nhân quyền và đều mơ ước về một chế độ dân chủ đa nguyên. Nhưng không ai bị bắt, mà chỉ bị công an làm phiền, gây rối. Thậm chí, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy viết nhiều bài nêu đích danh ông Hồ ra chỉ trích, và sau một thời gian ngồi tù cũng được cho ra và rồi bà vẫn viết tiếp. Công an biết rằng họ không thể bắt hết, giam hết. Cho nên, công an phải có lựa chọn. Làm sao để bắn một viên sỏi mà rớt nhiều con chim. Nơi đây, luật sư Lê Công Định là một lựa chọn mà công an tin là đúng thời điểm, đúng người. Bản tin trên báo VietnamNet, và báo Nhân Dân - kèm với 2 đoạn băng hình, trong đó băng hình trên VietnamNet là trích đoạn ngắn, nhưng trên báo Nhân Dân dài đầy đủ trọn cả bản văn "nhận tội vi phạm điều 88 Luật Hình Sự," cho thấy hình ảnh và giọng noí luật sư Lê Công Định trong này. Nếu nói về việc làm đảng phái, hay mang tính tổ chức (Khối 8406), thì từng có cụ Hoàng Minh Chính, cụ Trần Khuê, hay Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, LM Phan Văn Lợi, Đỗ Nam Hải, và cả ngàn người khác. Thực tế, nếu nói là vi phạm như thế, phải nói là hàng ngàn người vi phạm. Tại sao không bắt những người trong ban biên tập các báo ngoaì luồng và các trang web, blog nêu trên? Hay mời gọi ký tên đòi dân chủ… Thậm chí, những cuộc biểu tình của dân oan ba miền, bắt rồi thả về địa phương, hay "tuần hành cầu nguyện" của giaó dân Hà Nội vẫn được để thả lỏng? Như thế, tại sao bắt luật sư Lê Công Định? Tất nhiên, không phải thuần túy vì luật sư Lê Công Định đã biện hộ cho hai luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân cùng với nhà báo tự do Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, vì thế giới sẽ hàì lòng thấy hình ảnh một luật sư nhân quyền bào chữa cho các nhà hoạt động nhân quyền. Cũng không phảỉ thuần túy vì các bài viết đòi hỏi dân chủ đa nguyên của luật sư Lê Công Định trên đàì BBC hay các báo khắp thế giới, cũng không phaỉ góp ý về bản hiến pháp A hay B hay C nào hết, vì chuyện nghiên cứu học thuật tư tưởng là chuyện bình thường… Thế thì tại sao bắt luật sư Lê Công Định? Thực tế, dưới mắt Bộ Công An CSVN, luật sư Lê Công Định không có gì nguy hiểm trực tiếp. Hãy hình dung thế này, tới biểu tình hàng trăm ngàn người ở quảng trường Thiên An Môn trong nhiều tuần lễ cuối tháng 5 và đầu tháng 6 của năm 1989 vẫn không làm suy suyển chế độ CS Trung Quốc, thì cớ gì chế độ Hà Nội sợ một luật sư ở Sài Gòn? Tất nhiên là, luật sư Lê Công Định không nguy hiểm, theo cách nhìn này. Thứ nữa, dù có tạo ra biến động ở Sài Gòn, nơi luật sư Lê Công Định cư trú, thì cũng không bao giờ có tầm mức lớn như phong trào dân chủ Thiên An Môn ở Bắc Kinh. Thế nên, nhìn dưới khía cạnh quân sự, hay về sức mạnh quần chúng… thì luật sư Lê Công Định không nguy hiểm gì. Thậm chí, giả như luật sư Lê Công Định có dọn văn phòng ra Hà Nội làm việc, để lâu dài móc nối thế lực, thì với giọng nói Miền Nam rặt, không bao giờ có thể tạo thế lực gì giữa cả mấy dòng họ nội ngoại của ông Hồ từ Nghệ An đang thao túng quyền lực ở Hà Nội, và khi truyền tới hoàng tử họ Nông thì các ghế quyền lực đã bắt rễ. Không thể nào có chuyện luồn sâu, trèo cao với chế độ này. Họ tuyển nhân sự để truyền ngôi từ khi còn thiếu niên. Do vậy, người cộng sản chỉ sợ nội bộ giết nhau. Vì phong traò có rộng lớn như Thiên An Môn cũng thua, dù biểu tình hàng trăm người như dân oan hay hàng ngàn người như Tháí Hà cũng vẫn vô ích. Chỉ có nội bộ cộng sản mới biến đổi chế độ của họ được, và họ chỉ sợ nhau mà thôi. Đó là lý do phong trào phản đối các dự án bauxite Tây Nguyên mang tính cách độc đáó trong các vận động dân chủ: đích thân Tướng Võ Nguyên Giáp gửi 3 lá thư và nhiều ngàn nhà trí thức ký tên đòi hỏi hủy bỏ dự án mở cửa bên hông nhà cho "dự kiến nhiều ngàn người" Trung Quốc vào cửa ngõ quan yếu. Một chữ ký của Tướng Giáp, chắc chắn có thể thuyết phục hàng chục hay hàng trăm tướng lãnh trong hàng ngũ quân đội và công an CSVN. Và chỉ cần vài trăm chiến binh đặc công, thí dụ như một tiểu đoàn quân đội nổi dậy, chiếm vài trụ sở chính phủ, vây bắt 15 người trong Bộ Chính Trị CSVN là xong. Do vậy, phong trào bauxite mang một thế lực mới, rất mới, với tiềm năng dễ dàng làm sụp đổ chính phủ CSVN. Đơn giản, chính nghĩa bảo vệ tổ quốc lúc nào cũng có sức thuyết phục. Nhưng, trong khi CSVN còn lúng túng với phong trào bauxite Tây Nguyên, thì tình hình nhà nứơc TQ cấm ngư dân Việt ra Biển Đông lưới cá ba tháng lại bồi thêm một đòn đau cho lý do chế độ tồn tại. Không bảo vệ nổi ngư dân, laị không dám lớn tiếng như nhà nứơc Phi Luật Tân, Indonesia… nhà nứơc Hà Nội đã bị đẩy vào đường cùng của tai tiếng bán đất, bán biển. Các tội này muôn đời không gột rửa được, và về mặt khẩn cấp, lại có thể làm chế độ sụp đổ. Thế nên, trong giây phút hoảng hốt đó, có phải công an đã gàì bẫy được luật sư Lê Công Định đi sâu vào các diễn tiến mới, hay có phải luật sư Lê Công Định vì nóng lòng đã tự lựa chọn một bước đi ra ngoài chức năng luật sư, để trở thành người hoạt động nhân quyền? Thí dụ, góp ý vào các sơ thảo Hiến Pháp - chuyện nghiên cứu tư tưởng là chuyện ở các đạị học vẫn làm, nhưng muốn lấy cớ bắt thì vẫn bắt. Thí dụ, nhận chức vụ ở một đảng phái (theo lời nói trên băng video) - việc này thì có các đảng và các tổ chức đang hoạt động, với nhiều vị trí thức minh danh như cụ Hoàng Minh Chính (đã quá cố), Trần Khuê, Trần Anh Kim, Nguyễn Tiến Trung, Linh Mục Phan Văn Lợi, vân vân… vẫn chưa bị bắt, nhưng muốn lấy cớ bắt thì vẫn bắt. Thậm chí, thực tế, không cần lý cớ gì, vẫn có thể bắt quản thúc được, huống gì là đủ thứ cớ. Như thế, chúng ta có thể thấy chuyện công an bắt luật sư Lê Công Định thực ra là vì 3 lá thư của Tướng Võ Nguyên Giáp, vì hiệu lệnh của Tướng Giáp mới là tiềm năng làm sụp đổ chế độ? Chứ còn, một luật sư ở Sài Gòn thì làm được gì, nếu chúng ta so với tầm mức của Thiên An Môn ở Bắc Kinh? Một câu hỏi cũng nát óc khác: khi hai luật sư Nguyễn Văn Đàì và Lê Thị Công Nhân và nhà báo tự do Điếu Cày bị bắt, đã có luật sư Lê Công Định đứng ra bào chữa. Phong trào dân chủ thấy rõ rằng cần có một luật sư Lê Công Định hoạt động độc lập với mọi tổ chức, để duy trì hoạt động chuyên môn về luật... như thế sẽ giúp ích rất nhiều. Phong trào dân chủ, nói cho cùng không cần một ông Lê Công Định đi ném truyền đơn, hay đi họp mật hay lo bàn mưu tính kế để đấu trí với chính trị bộ CSVN. Bây giờ, ai sẽ đóng vai trò bào chữa cho các nhà hoạt động dân chủ? Chúng ta cần một luật sư Lê Công Định để nói lớn cho toàn dân và cho khắp thế giới biết rằng pháp luật của VN là bất toàn, và rằng cơ chế cần dân chủ hóa... Phong trào dân chủ VN không cần một anh Lê Công Định vào bất kỳ đảng nào. Tại sao anh từ chối vai trò luật sư để chọn một bí danh và một chức vụ, nếu cáo buộc của công an là sự thực và nếu lời anh nói trên video là không sai? Ai đã, hay hoàn cảnh nào, đã thuyết phục anh dấn thân thêm một bước để rời bỏ vai trò chuyên môn luật gia?
Thực tế, hiện thời, chúng ta không tìm được câu trả lời.
Đó chỉ là vài suy đoán từ vị trí hải ngoại, cùng với lời cầu nguyện cho luật sư Lê Công Định và cho tất cả những người quan tâm về dân chủ đều được bình an và sẽ thành công.
| | | |
VIỆT NAM BÁC BỎ NHỮNG CÁO BUỘC VỀ NHÂN QUYỀN
VN bác bỏ các cáo buộc của một tổ chức nhân quyền ở hải ngoại 25/03/2009
Hôm thứ Ba, Việt Nam đã bác bỏ những cáo buộc của một tổ chức nhân quyền Việt Nam ở Hải ngoại về tình hình nhân quyền của Việt Nam và nói rằng những cáo buộc này là 'vu khống và xuyên tạc'.
Tổ chức này cáo buộc Việt Nam bóp nghẹt mọi tư tưởng bất đồng chính kiến và cầm tù những người chỉ trích chính phủ.
Bản tin hôm thứ Tư của Reuters cho hay trong lá thư gửi cho Hội đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, đại sứ Việt Nam nói rằng khi điều trần trước diễn đàn ở Geneva, một trong số những tổ chức nhân quyền là Ủy ban Nhân Quyền Việt Nam đã phớt lờ những thành tích bảo vệ quyền tự do cơ bản mà Việt Nam đã đạt được.
Đại sứ Vũ Dũng, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh LHQ, viết trong thư rằng Hà Nội thường xuyên thảo luận về vấn đề nhân quyền với Hoa Kỳ và Liên hiệp Châu Âu cũng như các nước khác.
Ông Dũng cũng nói rằng điều này trái ngược với những cáo buộc theo nguyên văn lời ông là 'những thông tin xuyên tạc và vu khống về tình hình nhân quyền ở Việt Nam' mà ông Võ Văn Ái, chủ tịch Ủ ban Nhân quyền Việt Nam, có trụ sở tại Paris đã trình bày.
Hôm thứ Hai, ông Ái đã lên án những 'hành động vi phạm nhân quyền nghiêm trọng' của giới hữu trách Việt Nam và nói rằng giới hữu trách đã gây 'áp lực không thể chịu đựng nổi đối với những người bất đồng chính kiến và gia đình của họ trong cuộc sống hàng ngày'. Và hậu quả là tất cả mọi hoạt động bất đồng chính kiến ôn hoà bị bóp nghẹt một cách có hệ thống.
Ông Ái cũng đề cập đến việc giới hữu trách Việt Nam quản thúc Hòa Thượng Thích Quảng Độ, người lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị cấm hoạt động ở Việt Nam.
Ông Võ Văn Ái nói thêm rằng Việt Nam đã đàn áp dã man những cuộc biểu tình của nông dân và công nhân hồi tháng 9 năm ngoái và nhiều người bị bắt trong những cuộc biểu tình đó vẫn còn bị cầm tù trong điều kiện hết sức cực khổ, trong khi các blogger và luật sư cũng đã bị bắt giữ.
Đại sứ của Việt Nam nói rằng không nên cho phép tổ chức của ông Ái 'lập lại những lời lẽ xúc phạm' như vậy trước Hội đồng Nhân quyền một lần nữa.
Diễn đàn gồm 47 nước thành viên này sẽ xem xét thành tích nhân quyền của Việt Nam vào tháng 5 tới đây, theo cơ chế có tên gọi là Đánh giá Định kỳ Tổng thể, những thành tích này phải được tất cả các thành viên xem xét kỹ lưỡng 4 năm một lần.
VIỆT NAM KHÔNG CÓ TỰ DO
Freedom House: Việt Nam không có tự do http://www.rfa. org/vietnamese/ in_depth/ Vietnam-has- no-freedom- NTran-0311200912 2109.html Nhã Trân, phóng viên RFA 2009-03-11
Tổ chức Freedom House hôm thứ Hai 9 tháng 3, 2009 công bố tại Geneve phúc trình thường niên về nhân quyền trên thế giới, trong đó cho hay mức độ tự do của mỗi quốc gia.
Nhã Trân lược thuật đánh giá của Freedom House về mức độ tự do tại các nước, đặc biệt tại Việt Nam, đồng thời lấy ý kiến một số người trong nước về tự do ở Việt Nam hiện nay.
Xếp hạng của Freedom House
Phúc trình mới nhất của Freedom House về tình trạng nhân quyền toàn cầu là kết quả nghiên cứu về các quyền chính trị cũng như dân sự của ngưòi dân thế giới trong năm 2008.
Tổ chức quốc tế về dân chủ và tự do này, có trụ sở tại Washington DC, Hoa Kỳ, xếp hạng từng nước xét về mức độ các quyền tự do vừa kể mà người dân được hưởng, tính trong suốt 30 năm từ 1973 đến nay.
Bảng xếp hạng về mức độ tự do tại các nước của Freedom House chia toàn cầu ra làm 3 nhóm.
Các quốc gia được kể là quốc gia hoàn toàn hay gần như hoàn toàn có tự do trong suốt hơn một phần tư thế kỷ vừa qua có thể kể Hoa Kỳ, Canada, Anh, Đức, Pháp, Nhật, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Australia, Italy, Mexico, Nam Hàn, Israel, Áo, Ukraine, Romania, Norway, New Zealand, Mexico, Luxembourg, Ireland, Ấn Độ, Hungary v.v…
Các nước chỉ có tự do phần nào gồm Thái Lan, Singapore, Phillipines, Trung Quốc, Iraq, Bangladesh, Iran, Jordan, Qatar….
Các nước bị xem là không có tự do có thể kể Việt Nam, Campuchia và ẢRập Xê-út.
Người Việt nói gì?
Trong khi tổ chức nhân quyền quốc tế này thẩm định như thế thì người dân Việt có ý kiến gì về mức độ tự do ở Việt Nam? Một giáo chức ở Quảng Nam là ông Bùi Thi nhận xét:
“Quyền tự do bầu cử và ứng cử thì tôi thấy chưa có ở Việt Nam mình. Mỗi lần bầu cử thì đi bầu, nhưng ngưòi dân không có quyền tự do lựa chọn những người mà họ muốn, vì dưòng như đã có sự sắp sẵn ở trên từ lâu rồi, nên mình có muốn bầu cho ngừơi nào thì cũng không thể theo ý của mình được.
Tôi chưa thấy ai ứng cử. Không biết là cái quyền đó có không mà tôi chưa thấy ai ứng cử. Vừa rồi tôi nghe có một người muốn ứng cử vào quốc hội là luật sư Cù Huy Hà Vũ nhưng rồi sau đó không được.
Người Việt Nam chỉ được hưởng một cái tự do trong khuôn khổ đã được huấn luyện, chứ không có được cái quyền tự do phát biểu ý kiến, tự do bầu cử, tự do hội họp. Những quyền đó không có ở Việt Nam.
Ô. Bùi Thi, Quảng Nam
Tôi thấy không có ai được tự do lập hội. Tất cả đều phải xin phép hết. Không ai có thể lập hội mà không được sự cho phép của nhà nước.
Tự do phát biểu ý kiến thì, xét về mặt lý thuyết thì có, nhưng trên thực tế thì không phải là như vậy. Những ý kiến mình phát biểu ra nếu mà ngược lại với ý của cấp trên thì cấp trên ngừơi ta sẽ gây khó khăn cho mình. Không thể có tự do phát biểu được. Các phát biểu phải theo chỉ đạo của trên, mà ngưòi ta đã đề ra trước.
Việt Nam theo tiêu đề của nhà nước thì là cộng hòa xã hội chủ nghĩa, độc lập tự do hạnh phúc, nhưng mà trên thực tế thì không được tự do như là các nước Tây Phương.
Người Việt Nam chỉ được hưởng một cái tự do trong khuôn khổ đã được huấn luyện, chứ không có được cái quyền tự do phát biểu ý kiến, tự do bầu cử, tự do hội họp. Những quyền đó không có ở Việt Nam.”
Xét về chi tiết mức độ tự do ở Việt Nam, nghiên cứu của Freedom House cho thấy trong giai đoạn đầu tiên của thời gian 30 năm này, từ 1973-1975 khi Việt Nam chưa thống nhất, mức tự do của hai miền có khác nhau.
Trong 3 năm ấy miền Bắc bị đánh giá là không có tự do; còn miền Nam thì có một phần tự do.
Kể từ 1975 sau khi đất nước thống nhất, cả hai miền không có tự do và cho đến nay 2009 Việt Nam bị xem là nước nói chung không tự do, ngoại trừ một vài giai đoạn ngắn ngủi kéo dài một vài năm khi các ngăn cấm được nới lỏng chút ít.
Chủ một doanh nghiệp tư nhân ở Hà Nội là bà Thùy Hương nhận xét:
“Việt Nam chưa có các quyền về chính trị. Điều gì liên quan đến chính trị hay là bầu cử thì đều bị hạn chế. Quyền tự do về bầu cử hay bầu đại diện của một tổ chức vẫn chưa được.
Ví dụ như là bầu đại diện phường hay là gì đó, ở Việt Nam mình chưa được. Mình vẫn phải dựa theo tổ chức của mình, chẳng hạn như bầu ủy ban phường, thì họ đưa danh sách ra, và mình có bầu cử đi chăng nữa thì cái người trúng cử cũng không chuẩn.
Tất cả người Việt Nam đều muốn, đều mong muốn là có một cái như thế nào đó để người dân được thoải mái hơn. Nói chung là trong đời sống hiện nay, mọi người đều muốn thay đổi.
Bà Thùy Hương, Hà Nội
Theo tôi thì các quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng hoặc là tự do báo chí vẫn còn bị hạn chế. Tự do tín ngưỡng thì lại còn bị hạn chế hơn.
Nếu như mình nhìn từ ngoài vào thì thấy như là nhà nước đã mở cửa hay gì đó. Thế nhưng mà thật sự chỉ là mở cửa một phần nào đó thôi, chứ thật sự bên trong thì đang còn có nhiều những cái khống chế.
Tất cả người Việt Nam đều muốn, đều mong muốn là có một cái như thế nào đó để người dân được thoải mái hơn. Nói chung là trong đời sống hiện nay, mọi người đều muốn thay đổi”.
Báo cáo của Freedom House về tình trạng nhân quyền toàn cầu ghi nhận rằng 2008 là năm thứ ba mà mức độ tự do trên thế giói nói chung suy giảm, nghĩa là các quyền tự do của công dân thế giới có phần bị giới hạn kể từ năm 2006.
Dù vậy, có những nước các quyền tự do của ngưòi dân đã bị kềm hãm hoặc giới hạn đến nhiều thập niên trước đó, điển hình là Việt Nam, xứ mà tự do vắng bóng kể từ năm 1975.
Một nông gia ở An Giang cho rằng:
“Thấy sao mấy ổng toàn đặt để không à. Mấy ổng làm theo ý của mấy ổng không à. Phải do nơi mấy ổng sắp xếp mới được. Ngưòi dân tự ra ứng cử không được. Phải qua Mặt Trận Tố Quốc mới được. Quyền tự do ứng cử thì người dân không được. Cái đó do chính quyền mới được.
Tự do lập hội là không được. Phải có ý kiến do mấy ổng đặt ra mới được. Chứ mình đặt ra vấn đề là không được.
Việt Nam bây giờ chưa được tự do phát biểu. Phải do nơi chánh quyền. Hội họp thì mấy ổng đề ra ý kiến mới được, chứ mình không có ý kiến riêng được.”
Sau phúc trình thường niên về tình trạng nhân quyền toàn cầu, tổ chức cổ súy tự do và dân chủ trên thế giới Freedom House dự kiến công bố báo cáo về những nước tệ nhất trong số các nước bị kể là có thành tích tồi tệ về nhân quyền.
| | | |
BẮC KINH VÀ HỒ SƠ NHÂN QUYỀN
TQ- Giới ly khai kêu gọi Mỹ gây sức ép với Bắc Kinh về hồ sơ nhân quyề Đức Tâm, RFI
Bài đăng ngày 22/02/2009 Cập nhật lần cuối ngày 22/02/2009 15:18 TU
Nhà ly khai Giang Kỳ Sinh, cũng đang bị cấm rời khỏi nơi ở, cho biết ông thông cảm với lập trường công khai của Mỹ vì không muốn làm cho Bắc Kinh mất mặt, nhưng ông hy vọng là Washington vẫn đề cập đến hồ sơ nhân quyền trong các cuộc gặp kín song phương
Hôm nay, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton kết thúc chuyến công du Trung Quốc. Theo hãng tin AFP, sáng nay, ngoại trưởng Mỹ đã đến dự lễ cầu nguyện tại một nhà thờ ở phía tây Bắc Kinh. Sau đó, bà gặp các đại diện xã hội dân sự Trung Quốc.
Giới phân tích cho rằng qua hai lần xuất hiện trước công chúng, lãnh đạo ngành ngoại giao Mỹ muốn chứng minh rằng bà vẫn gắn bó, quan tâm tới các quyền dân sự và tự do tôn giáo, mà không hề làm cho chính quyền Bắc Kinh phật ý. Các động thái này diễn ra sau khi ngoại trưởng Mỹ bị chỉ trích là chỉ tập trung bàn với lãnh đạo Trung Quốc về hợp tác kinh tế, hồ sơ thay đổi khí hậu, khủng hoảng an ninh và đặt vấn đề nhân quyền xuống hàng thứ yếu.
Trước khi ngoại trưởng Mỹ tới Bắc Kinh, công an Trung Quốc đã phong tỏa nơi ở của nhiều nhà ly khai. Họ lấy làm tiếc về thái độ mềm yếu của ngoại trưởng Mỹ trong hồ sơ nhân quyền. Bà Tăng Kim Yên, vợ nhà ly khai nổi tiếng Hồ Giai nhấn mạnh là những người bảo vệ nhân quyền và đại diện xã hội dân sự sẽ phải chịu nhiều đau khổ nếu cộng đồng quốc tế không chú ý và gây sức ép đối với Trung Quốc.
Nhà ly khai Giang Kỳ Sinh, cũng bị cấm rời khỏi nơi ở, nói rằng ông thông cảm với lập trường công khai của Mỹ vì không muốn làm cho Bắc Kinh mất mặt, nhưng ông hy vọng là Washington vẫn đề cập đến hồ sơ nhân quyền trong các cuộc gặp kín song phương.
Hôm nay, ngoại trưởng Clinton cho biết đã thảo luận vấn đề nhân quyền với người đồng nhiệm Trung Quốc và nhắc lại với Bắc Kinh rằng việc phát triển nhân quyền là một nội dung cơ bản trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.
| | | |
KỀM CHẾ BLOG, NGUỒN SINH LỰC
CSVN kềm chế hệ thống blog đầy sinh lực trong nước
Tim Johnston, Washington Post, 18/01/09, Nguyễn Phương Nga lược dịch Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều quyết định trong những tháng gần đây để ngăn chặn việc xử dụng blog, vì con số những người dùng Internet đang tăng vọt trong đất nước cộng sản này.
Chiến dịch trên bắt đầu vào tháng 8, khi chính phủ công bố một nghị định cho phép công an có một quyền hạn rộng rãi để ra tay đối phó với thành phần chỉ trích nhà nước trên mạng, trong đó cả những người chống đối “nhà nước CHXHCN Việt Nam”, phá hoại an ninh quốc gia và trật tự xã hội.
Nghị định cũng cấm “khiêu dâm truỵ lạc … và phá huỷ phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc”, theo tin tức đăng tải trên tờ báo mạng của Bộ Thông tin Truyền thông.
Việt Nam là một quốc gia đến với thời đại Internet tương đối khá trễ, nhưng mức tăng trưởng kinh tế phi thường trong vài năm qua đã tạo ra một sự gia tăng mạnh mẽ tương tự trong những người xử dụng Internet. Nhiều ước lượng cho thấy khoảng 24 triệu trong tổng số dân 84 triệu người thường xuyên lên mạng. Các dịch vụ thì có đầy rẫy để cho những ai không thể sắm nổi máy tính, và nhiều cửa tiệm nhỏ bán các nhu liệu vi phạm bản quyền cho những người có máy.
Trong một môi trường mà thông tin bị kiểm soát nặng nề bởi truyền thông nhà nước, thì các blogger đã nhanh nhẩu tìm ra được nhiều khả năng mà thế giới Internet có thể cung cấp cho họ. Tin tức về đất nước, phần lớn là từ các cơ quan truyền thông nước ngoài, và những bài bình luận chính trị thường xuyên phê phán chỉ trích chính phủ đã trở thành một nhu cầu cần thiết hàng đầu. Do đó, những bàn cãi về tương lai chính trị của đất nước, dù có hoặc không có Ðảng Cộng sản, đã trở nên sôi nổi.
“Ðây là một môi trường trí tuệ không được đồng đều”, theo bà Kim Ninh, người đứng đầu tổ chức Asia Foundation ở Hà Nội, khi nói về hệ thống của các trang blog, Bà nói, “Có rất nhiều chuyện đánh bùn sang ao, nhưng ở bên dưới là cả một truyền thống trí tuệ có từ thời kỳ thực dân Pháp trong các thập niên 20s, 30s, và 40s đang tiếp tục tràn tới. Họ tiếp nhận các đề tài tranh luận chính trị rất nghiêm túc. Mọi người vào các trang blog để tìm những tin tức mà họ không thể lấy được từ truyền thông chính thức”.
Hành động của nhà nước đối với việc tham gia vào các blog đã khêu gợi nên một phản ứng gay gắt từ những người cổ xuý cho tự do ngôn luận, “Việt Nam là một trong vài nước mà người dân có thể bị bỏ tù vì các tội danh như ‘lợi dụng quyền tự do dân chủ’. Các nhà tài trợ cho Việt Nam nên tiếp tục đòi hỏi nhà nước phải chấm dứt hành động hình sự hóa việc bày tỏ tư tưởng một cách ôn hòa”, theo ông Brad Adams, giám đốc Á châu của tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch cho biết trong một thông cáo báo chí hôm Thứ Năm.
Sau một thời gian tương đối được tự do, khi các nhà báo trên mạng và báo giấy thử đi vào những phạm vi mà họ có thể đăng tải được, thì nhà cầm quyền mới đây lại bắt đầu đàn áp.
Cuối năm ngoái, toà án áp đặt một bản án tù hai năm lên một nhà báo sau khi ông ta viết một loạt bài vạch trần tham nhũng, và một blogger nổi tiếng được biết qua biệt danh Ðiếu Cày, có tên thật là Nguyễn Văn Hải, bị kết án 2 năm tù vì tội trốn thuế trong một trường hợp được khắp nơi coi như một sự trừng phạt vì anh ta tham gia vào blog.
Peter Leech, một người Úc đã thành lập ra ở Việt Nam một trang web, Intellasia.net, nhằm thu thập các tin tức phổ biến, bắt đầu gặp nhiều khó khăn với nhà cầm quyền vào tháng 6/2007. Ông ta nói rằng công an thường xuyên lục soát văn phòng Intellasia, máy chủ đặt trang web ở Hoa Kỳ bị tấn công và cuối cùng ông buộc phải bỏ chạy khỏi Việt Nam.
“Họ đang trở nên cứng rắn hơn đối với mọi thứ -báo chí, internet, mọi thứ”. Ông Leech nói từ thành phố Perth ở nước Úc. Ðại đa số các blogger ở Việt Nam dùng các bộ phận nền tạo lập ra các trang blog của Yahoo và Google, và nhà nước nói rằng họ sẽ tranh thủ để tìm sự trợ giúp của các công ty này trong việc giám sát mạng internet.
“Các nhà cung cấp dịch vụ sẵn lòng hợp tác với các cơ quan Việt Nam”, theo Ðỗ Quý Doãn, thứ trưởng bộ Thông tin Truyền thông cho biết tại một cuộc họp báo hồi cuối tháng trước. “Tôi nghĩ là các nhà cung cấp dịch vụ cũng mong muốn có một môi trường internet sạch sẽ, Tôi nghĩ nếu các cơ quan nhà nước Việt Nam yêu cầu hợp tác, thì Google hoặc Yahoo cũng sẽ sẵn lòng”.
Bộ phận nền (platform) tạo lập ra blog phổ biến nhất đối với giới blogger Viêt Nam là Yahoo 360. Công ty Yahoo cho biết trong tuần này rằng họ chưa được nhà nước Viêt Nam tiếp xúc về bất cứ sự kiểm soát nào.
“Như một chính sách chung, thì công ty Yahơo cũng như các công ty khác trên thế giới, được yêu cầu phải tuân hành theo các luật lệ do các chính phủ đòi hỏi khi công ty là đối tượng lệ thuộc vào luật pháp của nước đó”, Yahơo nói trong một thông cáo, chỉ rõ ra cho thấy rằng bộ phận nền Yahoo 360 được vận hành từ Singapore
Ðể xem coi nhà nước Việt Nam có thể kiểm soát thành công Internet như thế nào. Như Trung Quốc đã cho thấy, có kỹ thuật tồn tại để ngăn chận các nội dung mà nhà nước không muốn, ít nhất là từ những người xử dụng thất thường. Nhưng không giống như những người xử dụng Internet của Trung Quốc, là nơi chính phủ của họ kiểm duyệt Internet từ lúc ban đầu, còn những người xử dụng ở Việt Nam đã có 8 năm được hưởng sự truy cập vào Internet không bị ràng buộc, vốn là điều mà họ coi là một quyền tự do.
Ông Leech nói về các quan chức nhà nước, “Nếu họ làm một vài điều gì đó khắc nghiệt, thì không những nó chỉ là một bước đi lùi to lớn, mà nó còn làm mọi người rất giận dữ”.
GIỚI HẠN MỚI VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN Phóng viên của Thanh Niên và Tuổi Trẻ bị kết tội lạm dụng quyền tự do dân chủ
Đuổi việc nhà báo, bỏ tù phóng viên và giới viết blog thay vì làm những việc đó đối với các quan chức tham nhũng sẽ khiến nhà chức trách Việt Nam chẳng có thêm bạn.
Đó là kết luận của bài báo có tựa “Làm người đưa tin im tiếng” (Muting the messengers) mà tạp chí The Economist của Anh ra ngày 15/01/2009. Báo này nói trong khoảng 700 tờ báo mà toàn bộ do chính phủ kiểm soát, chỉ có một số báo tương đối mạnh dạn trong cách đưa tin. Tuy nhiên, phóng viên của hai tờ báo hàng đầu tại Việt Nam viết bài liên quan tới vụ tham nhũng của quan chức tại một ban quản lý dự án thuộc Bộ giao thông vận tải đã phải ra tòa vì tội “lạm dụng quyền tự do dân chủ”.
Tổng biên tập của hai tờ này (Thanh Niên và Tuổi Trẻ) mới đây nhận quyết định không được tái bổ nhiệm vì điều mà The Econnomist mô tả là vì họ làm việc quá hiệu quả. Hệ lụy của vụ này cũng như nỗ lực khống chế giới viết blog có nội dung nhạy cảm về chính trị có thể làm cụt hứng nỗ lực chống tham nhũng.
'Không bắt cá lớn'
Hai báo có phóng viên bị bắt ra bài kêu gọi thả nhân viên của họ "Mặc dù có một số thành công về chống tham nhũng nhưng dường như chính phủ đã và đang chặt chém báo chí trước khi cá lớn bị sa lưới."
Mọi việc xảy ra vào thời điểm chẳng may mắn gì cho Việt Nam khi nền kinh tế đang có các vết rạn nứt.
Lo ngại về khủng hoảng tiền tệ làm giới đầu tư mất lòng tin.
Xuất khẩu giảm, đầu tư nước ngoài ít đi và triển vọng tụt dốc kinh tế khiến The Economist dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chỉ đạt 3.2% trong năm 2009.
Lần gần nhất tạp chí được đông đảo giới học giả và chính khách quốc tế đọc đã viết bài về Việt Nam hồi tháng 6/2008, nhắc nhở Hà Nội về thực trạng lạm phát ngoài vòng kiểm soát làm người dân mất lòng tin.
Trong bài lần này, lời cảnh báo cho Hà Nội là với hàng ngàn người có nguy cơ mất việc làm trong năm này thì rủi ro về bất ổn xã hội chắc chắn sẽ gia tăng.
Băng keo dán miệng chưa đủ,kỳ này thêm cây kim và sợi chỉ nữa. PPT Việt Nam
The Economist đưa ra một nhận xét xác đáng. Những giới hạn tự do ngôn luận mà nhà nước Việt Nam đưa ra gần đây chỉ làm cho Đảng CS cầm quyền thêm thù mất bạn. Cái mất nguy hiểm nhất của nhà nước Việt Nam là hạ cấp giá trị báo chí chính thống thành cơ quan tuyên truyền, dẫn tới việc từ người bình dân ít quan tâm thời cuộc cũng cho rằng khi "nhà nước nói thế này tức là sự việc đã xảy ra thế khác". Cách hiểu này sẽ rất nguy hiểm cho chế độ. Xem ra ngăn cấm ngôn luận lúc này lợi bất cập hại.
| | | |
LM NGUYỄN VĂN LÝ: ĐẤU TRANH NGAY TRONG NHÀ TÙ
(Bản tin ngày 06-01-2009) Sáng ngày 02-01-2009, một người cháu gọi linh mục Nguyễn Văn Lý bằng chú ruột là anh Nguyễn Công Hoàng đã từ Quảng Biên ra trại K1, xã Ba Sao, huyện Kim Bảng, thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam để thăm vị tù nhân lương tâm linh mục. Anh đến trại lúc 6g30 và nộp giấy tờ, nhưng phải đợi tới 8g45 mới thấy cán bộ trại dẫn chú mình ra. Trong chiếc áo tù sọc dưa (bắt buộc mặc), linh mục Lý trông khỏe mạnh và tươi tỉnh như mọi lần. Trước hết, cha cho biết cách đây vài tuần, đã có hai linh mục thuộc Tổng giáo phận Huế ra thăm (lần thứ hai kể từ tháng 03-2007). Đó là linh mục quản lý Nhà chung và linh mục Trần Văn Quý, quản xứ Trường An (hay Phường Đúc) kiêm thành viên Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên và Hội đồng nhân dân thành phố Huế. Đại diện cho tòa Tổng giám mục Huế, hai vị này đã đem quà (tiền mặt, sách nguyện) của Đức Tổng giám mục Nguyễn Như Thể. Tiền thì trại cho nhận (nhưng phải ký gởi) còn sách nguyện thì cán bộ giữ lại (y như số phận cuốn sách nguyện mà gia đình đã gởi cách đây gần hai năm). Tiếp đến, trước mặt công an trại giam, linh mục Lý cho anh Hoàng biết từ lâu nay, thỉnh thoảng cán bộ từ trung ương có đến “làm việc” với cha, và cha đã lợi dụng những dịp đó để đấu tranh với họ.
Linh mục đấu tranh về 3 điểm chính: -Quyền tự do ngôn luận, -quyền sống của thai nhi & - quyền tư hữu đất đai tài sản của nhân dân. Về quyền tự do ngôn luận, linh mục lập luận (với cán bộ trung ương): Karl Marx, vào thế kỷ 19, đã từng xử dụng quyền này để phê phán -thậm chí đòi tiêu diệt- chế độ tư bản bên Anh, nơi ông đang sống, mà chẳng bị hề hấn gì. Nhóm Nguyễn Ái Quốc, cũng thế kỷ 19, ra báo tại Paris để chống lại chính quyền thực dân Pháp mà vẫn bình yên.
Các nhà nho Việt Nam có tư tưởng tiến bộ đầu thế kỷ 20 đã được nhà cầm quyền thuộc địa Pháp để cho tự do mở Đông Kinh Nghĩa Thục. Tại sao nhà cầm quyền CSVN nay lại không cho nhân dân lên tiếng? Về quyền sống của thai nhi, linh mục Lý lập luận: Tại sao vì muốn cho các em bé đã sinh ra được điều kiện sinh sống học hành mà lại giết những em bé đang còn trong bụng mẹ? Việc sát nhi ghê tởm này, cả chồng lẫn vợ cùng cán bộ y tế khắp Việt Nam đang đồng lòng thực hiện một cách bình thản, dựa theo quy định cấm nhân viên nhà nước có đứa con thứ ba và theo chủ trương tự do phá thai của nhà cầm quyền CS. Tội ác ngút trời này đang kéo tai họa xuống cho nhân dân Việt Nam mà trước hết cho các thủ phạm.
Linh mục Lý cũng cho biết trong đợt tù 2001-2005 (vẫn tại trại giam này), cán bộ đã có hai lần mời cha thuyết trình về vấn đề kế hoạch hóa gia đình cho họ, nam riêng nữ riêng, mỗi lần hai giờ. (Chú thích: ngay sau 1975, linh mục Lý là chuyên gia giảng dạy về phương pháp ngừa thai tự nhiên tại Tổng giáo phận Huế). Về quyền sở hữu đất đai tài sản của nhân dân, cha Lý cho biết mình đã tranh đấu chuyện này từ đợt tù trước. Lúc ấy, cha đã yêu cầu nhà cầm quyền trả lại tiểu chủng viện Hoan Thiện, trường trung học Thiên Hựu, trường Bình Linh và nhiều cơ sở khác cho Giáo phận Huế. Trung ương hứa trả. Nhưng khi ra tù, linh mục thấy đó chỉ là lời nói dối gạt.
Nay thì linh mục tiếp tục đấu tranh (trong những lần làm việc với cán bộ trung ương) cho quyền sở hữu đất đai của dân oan và của các tôn giáo. Linh mục Lý còn cho biết hôm tháng 3-2008, tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội đã có cho người đến thăm linh mục. Nghe thông báo, linh mục liền đưa ra hai điều kiện: phải để tôi giải thích cho tòa đại sứ vì sao tôi phải mang áo tù này, hai là không được chụp hình quay phim. Trại chấp nhận. Gặp phái đoàn, trước hết cha Lý dành ra nửa giờ đồng hồ để giải thích chuyện mặc áo tù (hơi dài như thế vì bắt buộc phải qua thông dịch viên).
Linh mục nói: Trong thế giới văn minh hiện giờ, có các Công ước quốc tế nhân quyền. Mỗi nước soạn luật pháp riêng nhưng một khi đã ký vào Công ước thì phải lấy đó quy tắc cao nhất. Tại sao Việt Nam đã gia nhập hai Công ước nhân quyền 1966 mà còn làm ngược lại?
Cha Lý giải thích (cho tòa đại sứ): Nhà cầm quyền CS bắt tôi ở tù và bắt tôi mặc áo tù này chính vì tôi đã thúc đẩy Việt Nam thực thi Công ước quốc tế. Họ cho tôi sai nên bắt tôi. Cho nên tôi là tù nhân lương tâm chứ không phải là tội phạm hình sự… Hai chú cháu nói chuyện khoảng một tiếng thì cán bộ trại loan báo hết giờ. Thế nhưng linh mục Lý vẫn chủ động ngồi lại thêm nửa giờ nữa (như các lần trước) và bắt đầu hỏi thăm thân nhân, bằng hữu xa gần. Linh mục xin gởi lời cám ơn đồng bào và các tổ chức nhân quyền quốc nội lẫn hải ngoại cũng như của quốc tế đã luôn quan tâm đến mình. Về bản thân, linh mục cho biết mình vẫn bị biệt giam trong một khu vực riêng, không được có sách nguyện để đọc kinh hằng ngày, bị tước mọi giấy bút và sách vở (ngoại trừ báo chí của nhà nước mà gia đình gởi). Mỗi ngày, linh mục chỉ ăn sáng và tối, nhịn bữa trưa để cầu nguyện cho quê hương và Giáo hội, nhất là cho Thái Hà.
Trước khi tiễn biệt, linh mục Lý đọc cho anh Hoàng nghe bài thơ nhỏ sau đây: Tự do ngôn luận cho dân! Độc tài độc đảng phải cần bỏ đi. Trục xuất sát hại thai nhi, Vô thần duy vật, tội ghi mãi hoài. Cửa nhà cơ sở đất đai, Của dân, của đạo trả ngay tức thì ! Nhóm Phóng viên FNA tường trình từ Huế lúc 16g40 ngày 06-01-2009
CSVN XIẾT CHẶT CÁC TRANG BLOG
Trọng Nghĩa
Các nhà cung cấp dịch vụ Internet có nhiệm vụ thiết lập những cơ sở dữ liệu và phong tỏa, xoá bỏ mọi nội dung bị chính quyền Việt Nam đánh giá là bất hợp pháp
Theo một thông tư mới ban hành mà hãng tin Pháp AFP có được bản sao, thì kể từ nay các trang blogs chỉ được quyền loan tải các thông tin mang tính chất cá nhân, và nội dung không được quyền ''chống lại Nhà Nước'' hoặc ''phá rối trật tự xã hội''.
Ngoài ra các nhà cung cấp dịch vụ Internet có nhiệm vụ thiết lập những cơ sở dữ liệu và phong tỏa, xoá bỏ mọi nội dung bị chính quyền đánh giá là bất hợp pháp.
Theo hãng AFP, chính quyền đã áp đụng đối với các trang blog những quy định ban hành hồi tháng 8 vừa qua đối với Internet, vốn cấm đoán việc chống lại Nhà Nước, làm tổn hại an ninh quốc gia, trật tư công cộng và an toàn xã hội, phá hoại tình đoàn kết dân tộc. Mặt khác chính quyền cũng nghiêm cấm việc phát tán bí mật quốc gia trong cả lãnh vực quân sự lẫn kinh tế.
Ngày từ đầu tháng 12 vừa qua, thứ trưởng bộ Thông tin, ông Đỗ Qúy Doãn đã chuẩn bị dư luận về việc xiết chặt quyền kiểm soát các trang blog khi cho rằng chính quyền không muốn can thiệp vào chuyện riêng tư của những người viết blog, mà chỉ muốn giúp họ hiểu rõ phạm vi những hoạt động mà họ được phép tiến hành.
Trong phương án kiểm soát trang blog, theo báo Thanh Niên, chính quyền Việt Nam có ý định liên lạc với các tập đoàn Internet lớn như Yahoo và Google để các công ty này giúp đỡ chính quyền trong việc kiểm soát các trang blog.
Theo hãng AFP, trong thời gian qua, Internet đã giúp cho người Việt Nam phát biểu ý kiến một cách thoải mái hơn, một sự thông thoáng không thể có trên các phương tiện thông tin báo chí truyền thống bị chính quyền kiểm soát chặt chẽ.
Trong những tháng gần đây, trên mạng đã xuất hiện vô số nhưng lời phê phán chính quyền về cách xử lý hồ sơ tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với Trung Quốc. Trong lúc đó, trên mặt báo chính thức, hồ sơ nhạy cảm này hầu như không được đề cập đến. Việt Nam siết chặt kiểm soát đối với các blogger VOA 24/12/2008
Theo tinh thần một bản Thông Tư Hướng Dẫn mới, đòi hỏi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến phải cung cấp mọi thông tin liên quan tới người sử dụng, Việt Nam đã siết chặt thêm quyền kiểm soát đối với những chủ thể của các trang blog, thường được gọi là blogger, để ngăn cấm những quan điểm bị coi là chống đối nhà nước hoặc gây phương hại tới an ninh quốc gia.
Tin của AFP cho hay internet lâu nay vẫn cung cấp cho người Việt một diễn đàn để bày tỏ những quan điểm không thể tìm thấy trên các phương tiện truyền thông truyền thống bị chính quyền kiểm soát chặt chẽ. Internet đã tạo ra một bầu không khí trang blog ngày càng trăm hoa đua nở, thế nhưng hồi đầu tháng, chính phủ cho biết là muốn có những luật lệ chặt chẽ hơn để kiểm soát những trang blog này.
Bản Thông Tư Hướng Dẫn mới xác định rõ là những trang blog chỉ được trình bày những nội dung có tính cách riêng tư và không bao giờ được cung cấp, truyền đi hoặc đặt đường liên kết trực tiếp đến những thông tin vi phạm các qui định của một nghị định được đưa ra hồi đầu năm nay.
Nghị định này cấm chỉ đưa lên các trang điện tử những thông tin chống đối nhà nước, gây phương hại tới an ninh quốc gia và trật tự xã hội, tạo ra những vụ đối đầu, hoặc tiết lộ những bí mật liên quan tới an ninh quốc gia, quân đội hoặc kinh tế.
Trong số ấn hành trước đây trong tháng này, nhật báo Thanh Niên cho biết giới hữu trách sẽ tiếp xúc với hai công ty Internet khổng lồ là Yahoo và Google để xin cộng tác trong việc tạo một mội trường lành mạnh và tốt đẹp hơn cho các bloggers.
Bản Thông Tư Hướng Dẫn mới yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến thiết lập hồ sơ dữ kiện liên quan tới những trang blog dưới sự giám sát của họ và cung cấp những thông tin này cho nhà chức trách khi được yêu cầu, cũng như để loại bỏ những nội dung vi phạm luật lệ.
Thông Tấn Xã Reuters cho hay Bản Thông Tư này không nói rõ những gì sẽ xảy ra đối với những trang blog được đăng tải trên mạng của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ của nước ngoài, như mạng Yahoo360 đang được nhiều người sử dụng.
Hội Nhà Báo Không Biên Giới chuyên theo dõi các hoạt động truyền thông, trụ sở đặt tại Paris, liệt kê Việt Nam vào danh sách các nước kẻ thù của internet vì đã có những hành động kiểm duyệt chặt chẽ tương tự như hành động của nước đàn anh Trung Quốc.
Tuy nhiên, theo AFP, dù phải đương đầu với những hành động kiểm duyệt như vậy, những lời chỉ trách nhà chức trách đã xuất hiện nhiều trên các trang điện tử trong năm qua, trong đó đáng kể nhất là những lời chỉ trích chính phủ về cách giải quyết cuộc tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh trong biển Đông.
Cả Việt Nam lẫn Trung Quốc cùng nhận có chủ quyền với các dãy đảo Trường Sa và Hoàng Sa, và cuộc tranh chấp này đã tạo ra những vụ biểu tình hiếm thấy tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh một năm trước đây. Đây là một vấn đề rất nhạy cảm về mặt chính trị, gây cản trở cho việc phát triển quan hệ thêm nữa giữa hai nước đồng minh cùng theo chủ nghĩa cộng sản và hiếm khi được báo chí tại Việt Nam đề cập tới, hoặc nếu có thì cũng chỉ bàn tới một cách ngắn gọn và đầy thận trọng.
Các tòa án tại Việt Nam đã bỏ tù một số người bày tỏ thái độ bất đồng chính kiến trên internet và hồi đầu tháng đã giữ nguyên bản án hai năm rưỡi tù dành cho một blogger được nhiều người biết tiếng.
Blogger Điếu Cày, tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, đã bị buộc tội trốn thuế, dù Hội Nhà Báo Không Biên Giới cho rằng thật ra ông này bị trừng phạt chỉ vì đã chỉ trích chính sách của Bắc Kinh trong vùng Biển Đông. Thông Tấn Xã DPA của Đức cho biết bản Thông Tư Hướng Dẫn mới này không nói rõ về việc trừng phạt những vụ vi phạm.
Cũng theo DPA, một vài người tỏ vẻ nghi ngờ về tác dụng của Bản Thông Tư Hướng Dẫn mới. Ông Lê Bạch Dương, Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Phát Triển Xã Hội ở Hà Nội, nói rằng theo ông nghĩ, chính phủ không nên dùng các biện pháp kỹ thuật và hành chính để kiểm soát các trang blog, vì những biện pháp này khó mang lại hiệu quả.
Ngay trong ngày thứ Tư, một trang blog trên mạng Yahoo360 viết rằng chính phủ khó mà thi hành được những điều đề ra trong bản Thông Tư Hướng Dẫn.
Tin của Reuters cho hay hiện có khoảng 21 triệu người sử dụng internet tại Việt Nam. Năm ngoái, số người dùng internet tại Việt Nam là 17 triệu 700 ngàn người, và năm 2006 chỉ có 14 triệu 700 ngàn người. BBC 24 Tháng 12 2008 - Cập nhật 08h39 GMT VN cấm blog 'chống đối nhà nước'
Việt Nam mới chính thức cấm các blogger truyền đi hoặc đặt đường link liên quan tới các nội dung ‘chống lại nhà nước, tiết lộ bí mật quốc gia, an ninh và kinh tế’.
Theo tin từ tờ Hà Nội Mới, hôm 23/12, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (TT – TT) Đỗ Quý Doãn đã ký thông tư, theo đó còn cấm các blog đưa thông tin “xuyên tạc, vu khống và gây rối”.
Bộ TT – TT nhận định, blog ‘giúp cá nhân mở rộng khả năng tương tác trên môi trường internet’ nhưng cần phải ‘phù hợp với thuần phong mỹ tục và pháp luật’ cũng như sử dụng ‘tiếng Việt trong sáng và lành mạnh’.
Thông tư này nhấn mạnh, các blogger ‘phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin cung cấp, lưu trữ, truyền đi trên blog của mình, bảo đảm không vi phạm quy định của pháp luật’.
Ngoài cá nhân blogger, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet cũng phải ‘có trách nhiệm’ kiểm soát hoạt động của các blog trên trang họ cung cấp.
Tuy nhiên, thông tư này không nói rõ hình thức xử lý đối với các blog sử dụng dịch vụ từ nước ngoài như Yahoo!360, vốn được phần đông các blogger Việt Nam ưa chuộng.
Thời gian qua, cộng đồng blogger cũng có nhiều ý kiến trái chiều về các biện pháp quản lý blog của nhà nước.
'Chiếm lĩnh môi trường mạng'
Một trong những nhiệm vụ của Bộ Thông tin và Truyền thông là quản lý hoạt động Internet ở Việt Nam.
Theo thống kê của Trung tâm Internet Việt Nam, hiện có hơn 21 triệu người sử dụng Internet ở Việt Nam.
Hồi đầu tháng này, tờ Thanh Niên đưa tin, Bộ TT – TT dự kiến sẽ liên hệ với hai công ty Yahoo và Google để yêu cầu hợp tác nhằm “tạo ra một môi trường tốt và lành mạnh nhất cho các blogger”.
Vài năm trở lại đây, blog là phương tiện được sử dụng nhiều để người dân trong nước nói lên tiếng nói về mọi vấn đề trong xã hội, trong đó có các chủ đề nhà nước coi là ‘nhạy cảm’ như vấn đề Trường Sa – Hoàng Sa hay nhân quyền.
Thống kê không chính thức nói hiện có khoảng hơn hai triệu blog ở Việt Nam, mà theo các nhà quan sát là đang ‘chiếm lĩnh môi trường mạng Việt Nam’.
Hồi tháng Tư, trả lời BBC Việt Ngữ, ông Vũ Minh Trí, Tổng Giám đốc Yahoo! tại Việt Nam, nói sẽ 'không tiết lộ thông tin khách hàng' cho bên thứ ba.
"Yahoo! không tiết lộ thông tin cho phía bên ngoài. Một trong những điều chúng tôi khẳng định là sẽ giữ đúng cam kết đó với khách hàng".
| | | |
DÂN CHỦ LÀ CÁCH SỐNG ỔN ĐỊNH
Ngô Nhân Dụng
Các chế độ cộng sản thường viện lẽ cần bảo vệ ổn định xã hội nên phải độc tài. Như thế nào gọi là ổn định? Nhìn vào cảnh những nông dân Việt Nam khiếu kiện về đất đai, những vụ đình công ngoài vòng pháp luật ở Hà Nội, Sài Gòn, Ðà Nẵng, Hải Phòng, không thấy gì ổn định. Nhưng bên Trung Quốc gần đây các cuộc biểu tình ôn hòa đã biến thành bạo động nữa. Khẩu hiệu “xã hội hài hòa” của ông Hồ Cẩm Ðào không thể hiện được, khi nào xã hội còn đầy tham nhũng, bất công. Nhưng thiếu sót lớn nhất là không có những phương tiện bình thường, giản dị để người dân được lên tiếng nói.
Trong tỉnh Quảng Ðông phát triển nhanh nhất Trung Quốc, hàng ngàn công nhân thất nghiệp đã kéo nhau tới trước các hãng xưởng mới đóng cửa. Họ đến đòi chủ nhân phải trả hết số lương còn thiếu. Khi nhiều xí nghiệp quịt lương của nhân viên, mối liên hệ giữa con người với con người có được hài hòa hay không? Ở các nước tư bản thật sự, các chủ nhân không dám làm như vậy vì còn có pháp luật. Khi nhân viên ở một nước cộng sản mất việc mà không thể trông cậy vào hệ thống pháp luật để đòi tiền lương còn thiếu, khi họ phải tự mình kéo thành đám đông đi biểu tình đòi nợ, như vậy thì xã hội có sống trong nền nếp ổn định hay không? Ở Thẩm Quyến vào đầu Tháng Mười Một 2008, dân chúng biểu tình bạo động sau khi cảnh sát ở một trạm canh giết một thanh niên lái xe gắn máy cãi lệnh. Ở một thành phố khác cũng trong tỉnh Quảng Ðông, mười ngày sau lại xẩy ra một vụ tương tự, dân cũng biểu tình. Tại sao họ không đợi nhà chức trách điều tra những vụ giết người, mà phải biểu tình bạo động? Tại sao một vụ vi phạm luật giao thông mà cũng dẫn tới cảnh chết người? Nếu những chuyện như vậy năm thì mười họa mới xẩy ra thì hiểu được. Nhưng chỉ trong vòng 10 ngày trong cùng một tỉnh có tới hai vụ thì xã hội này có nếp sống đầy bạo lực!
Mỗi năm ở Trung Quốc có hàng trăm ngàn cuộc biểu tình với số lượng lớn từ hàng trăm người trở lên. Chính phủ Bắc Kinh đã mở cửa cho phép các báo, đài nhà nước loan tin về các cuộc biểu tình này, vì họ biết rằng không thể bịt miệng dân mãi được. Các mạng lưới điện tử đã đóng vai thúc đẩy đảng cộng sản phải nới lỏng chế độ kiểm duyệt tin tức. Vì họ biết nếu nhà nước không loan tin thì dân chúng sẽ được nghe các nguồn tin khác. Cho nên chính sách của đảng cộng sản hiện giờ là “kiểm duyệt tin bằng cách loan tin trước.”
Cho nên chúng ta mới biết ở thành phố Trùng Khánh, hàng trăm tài xế taxi đã biểu tình phản đối cảnh sát dung túng cho những chiếc xe taxi “lậu” cướp khách của họ. Chính quyền thành phố phải họp mặt với đại diện các tài xế suốt ba giờ. Ở nhiều nơi khác giới lái taxi cũng đình công hưởng ứng. Các người lái taxi phản đối nạn tham nhũng và sự thông đồng giữa nhà nước cộng sản và các chủ nhân cho thuê xe chạy taxi bóc lột giới tài xế. Nhiều chiếc xe taxi bị phá vì tài xế không tham dự cuộc đình công, cho thấy người ta sẵn sàng gây bạo động.
Ngày 8 tháng 11 ở Bắc Kinh, hơn 400 người biểu tình trước tòa thị chính để phản đối một cuộc “lạc quyên” lừa bịp. Tân Hoa Xã loan tin như vậy, chỉ khiến người đọc thắc mắc thêm. Tại sao bị kẻ gian lừa bịp mà lại đem nhau tới tòa đô chính phản đối? Ai lạc quyên? Họ nhân danh đảng và nhà nước ở cấp thành phố hay trung ương khi yêu cầu dân đóng góp? Ðể làm gì? Những ông lớn nào dính líu? Không ai biết.
Vụ biểu tình đang được cả thế giới chú ý là người dân ở thị xã Lũng Nam, tỉnh Cam Túc. Bản tin của nhà nước cộng sản cho biết hàng ngàn người đã biểu tình, và chỉ loan tin có 60 cảnh sát viên bị dân đánh. Nhưng những nguồn tin độc lập nêu lên con số mười ngàn người, với nhiều biến chuyển rõ hơn.
Vụ biểu tình ở Lũng Nam bắt đầu với 30 người dân “khiếu kiện về đất đai,” một lý do thông thường nhất, ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam hiện nay. Những người này đã nộp đơn khiếu oan từ năm 2006 vì chính quyền chiếm đất không bồi thường thỏa đáng; ngày Thứ Hai vừa qua họ lại “biểu tình hâm nóng” nỗi oan khuất để nhắc nhở nhà nước khỏi quên. Qua ngày hôm sau, có thêm khoảng 2,000 người dân khác tới dự biểu tình, và vấn đề được nêu lên đã thay đổi. Người ta phản đối chính quyền thị xã Lũng Nam đã quyết định đổi nơi thiết lập “trụ sở ủy ban nhân dân” sau trận động đất cũ. Người biểu tình đã đánh lại công an, cảnh sát bằng gậy sắt, xích sắt; ném đá, ném gạch, ném cả chậu cây kiểng vào đám công an; chiếm một xe cứu hỏa, đốt các xe hơi khác của công an, đốt cả xe đạp và xe gắn máy; dân cũng kéo tới đập vỡ cửa kính trụ sở nhà nước và chiếm cả một văn phòng trong một ngày. Số người biểu tình lên tới 10,000 người, theo nguồn tin của Asia News.
Cuộc biểu tình ở Lũng Nam đông người vì nông dân ở các làng mạc chung quanh cũng kéo về tham dự, mỗi nhóm người đến với những khẩu hiệu, những nỗi oan ức và yêu sách mới. Một người Trung Hoa nói với nhà báo: “Tôi trước là cán bộ nhà nước, nhưng nay tôi ủng hộ người dân.”
Ngày Thứ Tư, cuộc biểu tình đã bị đàn áp và chính quyền tuyên bố tình trạng giới nghiêm trong thành phố 2 triệu 6 dân và Tân Hoa Xã báo tin “tình hình đã ổn định!” Nhưng trong thành phố còn nhiều đám khói bốc lên.
Vì đâu một cuộc biểu tình “bình thường” của 30 người dân mất đất khiếu kiện (đã kéo dài từ 2 năm nay) bỗng nhiên biến thành vụ bạo động khiến hàng trăm người dân bị bắt? Nguyên nhân chính được nêu lên là dân chúng phản đối việc chính quyền đổi địa điểm trụ sở huyện Võ Ðô từ thị xã Lũng Nam tới một thành phố khác, trong kế hoạch xây dựng lại sau vụ động đất vào tháng Năm vừa qua.
Cuộc động đất ở Tứ Xuyên hồi Tháng Năm lan sang tới huyện Võ Ðô, tiếp theo lại một trận động đất vào ngày 21 tháng 6, tất cả khiến cho gần 2 triệu người trong huyện mất nhà cửa. Lấy lý do vùng này có thể bị động đất nữa, chi đảng cộng sản địa phương quyết định dời trụ sở ủy ban nhân dân huyện từ Lũng Nam đi nơi khác.
Tại sao dân chúng lại phản đối quyết định dời địa chỉ của trụ sở nhà nước? Lý do chắc không đơn giản. Cuộc biểu tình biến thành bạo động cho thấy phải có nhiều nguyên nhân tiềm ẩn khác, nhiều nỗi phẫn uất được tích tụ từ bao năm, chỉ chờ dịp bùng nổ. Trên các mạng lưới nhiều người than thở rằng dân chúng huyện Võ Ðô đã khổ vì các cán bộ cộng sản tham nhũng cửa quyền, những vụ chiếm đất không bồi thường đầy đủ trong bao nhiêu năm qua. Cam Túc là một tỉnh vùng biên cương, tiếp giáp với vùng Tây Vực, có nhiều nhóm dân thiểu số bị người Hán cai trị; cũng là tỉnh đã diễn ra những cuộc biểu tình của người Tây Tạng trong Mùa Hè vừa qua.
Quyết định dời trụ sở huyện có thể đúng, có thể sai, người ngoài không biết được nguyên ủy. Nhưng khi những người dân bị ảnh hưởng của quyết định trên đã bầy tỏ ý kiến phản đối bằng cách bạo động, chúng ta thấy chắc các cán bộ đã quyết định đơn phương và bất ngờ, dân không được hỏi ý kiến. Cách cai trị của đảng cộng sản không bao giờ minh bạch, công khai. Mỗi chi bộ đảng cộng sản là một “hội kín,” họ quyết định gì cũng chỉ có họ biết với nhau, đó là nguyên nhân chính tạo ra những bất mãn chồng chất.
Người dân thì lúc nào cũng nghi ngờ cán bộ quyết định điều gì đều vì quyền lợi của chính họ. Mỗi quyết định lớn đều tạo ra cơ hội tham nhũng, việc dời trụ sở huyện Võ Ðô hay mở rộng thủ đô Hà Nội đều có những lý do chấm mút cả. Khi trụ sở huyện đổi chỗ, khi đất thành phố được quy hoạch lại, giá nhà ở nơi cũ sẽ xuống giá, địa điểm mới sẽ lên giá! Các quan chức nào được ăn nhiều trong các kế hoạch đó?
Khi cán bộ đảng ở Lũng Nam giải thích rằng họ phải đổi địa điểm cơ quan nhà nước vì Lũng Nam ở trong vùng động đất, người dân đã hỏi lại rằng nếu lo động đất thì tại sao không cho cả 2.6 triệu người dân đổi địa chỉ theo? Ðây là một câu hỏi cho thấy dân không tin tưởng vào bất cứ lời giải thích nào nữa. Một người dân Lũng Nam đã than với nhà báo rằng bà ta thuộc lớp người nghèo, trụ sở huyện thay đổi thì bà ta cũng không được, không mất gì cả. Nhưng, bà vẫn thấy, “Khi trụ sở huyện còn ở đây thì dù tôi không có việc làm cũng vẫn đi mót rác được, đủ cơm ăn. Bây giờ họ đổi trụ sở huyện đi nơi khác, tìm đâu ra rác nữa để mà mót?” Bà than: “Bây giờ còn có cơm ăn, mai mốt sẽ phải ăn bắp trừ cơm thôi!”
Cuộc biểu tình bạo động ở Lũng Nam chỉ là một trong hàng trăm ngàn cuộc phản đối của nhân dân Trung Hoa đối với chính quyền cộng sản. Một chế độ như thế không thể coi là ổn định được. Các nước cộng sản như Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Hàn đều là những thùng thuốc nổ chỉ lo sẽ có lúc bùng lên. Lý do chính là vì người dân không được hưởng những quyền tự do tối thiểu: Tự do báo chí để được phát biểu ý kiến bất đồng; tự do hội họp để cùng nêu lên những ý kiến chung. Tóm lại là chưa có tự do dân chủ.
Một đặc tính thiết yếu của chế độ dân chủ là người dân được góp ý kiến trong những quyết định liên can tới đời sống của họ, chuyện nhỏ cũng như chuyện lớn.
Người dân các nước như Pháp, Canada, Mỹ đều chấp nhận phải có một nhóm người cầm quyền bính và quyết định thay cho mình; về những công việc chung, như xây cầu, làm đường, tăng thuế hay giảm thuế. Không người dân nào đòi tự mình quyết định lấy tất cả mọi việc.
Nhưng nếu có người thấy chính quyền “làm bậy” thì sao? Thí dụ, nếu ông, bà thị trưởng phá bỏ một công viên để làm trường học, hoặc ông tổng thống định làm thêm hai hàng không mẫu hạm nữa, mà người dân không đồng ý thì sao? Ở một nước tự do dân chủ người ta có quyền nói: Chúng tôi chống dự án này. Có quyền kêu gọi những ai đồng ý với mình cùng lên tiếng nói, có khi lên tiếng với tư cách một đảng đối lập. Nói mãi mà chính quyền vẫn làm trái ý mình thì sao? Thì đến kỳ bầu cử tới mình sẽ bỏ phiếu chống, và hô hào mọi người chống bà thị trưởng hoặc ông tổng thống “ngu dốt” hoặc tham nhũng này.
Người ta không cần phải bạo động để bầy tỏ ý kiến. Ðó là đặc tính của thể chế dân chủ. Lý do là vì người ta biết có thể thay đổi chính quyền, thay đổi xã hội chung quanh mình bằng lá phiếu. Trong các nước dân chủ lâu lâu cũng xẩy ra những cuộc biểu tình bạo động. Nhưng đó là những biến cố họa hiếm, khi có những xúc động mạnh bị dồn nén lâu ngày cần bùng nổ ra, có lý do chính đáng hoặc không chính đáng.
Còn ở các nước độc tài thì những cuộc biểu tình bạo động xẩy ra rất nhiều. Chính vì những người dân ở đó không có cơ hội phát biểu các ý kiến trái ngược với ý nhà nước. Ðến khi người dân không chịu nổi sự áp bức nữa, thì chỉ còn cách là bạo động. Cho nên chính thể chế dân chủ tự do mới bảo đảm cho xã hội được ổn định, hòa bình trong lâu dài.
| | | |
XẤU HỔ KHI XEM BÁO ĐÀI VIỆT NAM
10 lý do khiến tôi xấu hổ khi xem báo đài Việt Nam Blog Bút Thép
Lúc đầu đặt Blast cho vui, bắt chước theo một câu nói của Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt bị báo chí VN cắt xén rồi nhào nặn đến méo mó . Anh Đinh Tấn Lực khen hay và thách tôi đưa ra 10 lý do khiến tôi phải xấu hổ khi xem báo đài Việt Nam. Ý kiến của anh thật hay, thử xem xét một cách nghiêm túc xem nào:
1. Lý do thứ nhất : Xuyên tạc trơ trẽn- thường xuyên bóp méo sự thật một cách có hệ thống.
2. Lý do thứ hai : Dùng thế mạnh của phương tiện truyền thông "đánh hội đồng" các cá nhân hay tổ chức làm phật ý giới cầm quyền, hàng trăm báo đài cùng hùa vào một sự kiện.
3. Lý do thứ ba : Không khách quan- chỉ đưa tin một chiều. Cá nhân hay tổ chức bị chỉ trích không có cơ hội tự thanh minh hay bào chữa.
4. Lý do thứ tư: Đánh lừa lòng tin người dân bằng những điều hão huyền.
5. Lý do thứ năm: Tuyên truyền những thông tin mị dân của giới cầm quyền.
6. Lý do thứ sáu: nhàm chán bởi trăm tờ báo điều đưa tin gần giống nhau, thiếu tính cách cá biệt.
7. Lý do thứ bảy: Tung hỏa mù bằng những thông tin vớ vẫn để che dấu sự thật của những thông tin nhạy cảm.
8. Lý do thứ tám: Mãnh đất màu mỡ của những kẻ bồi bút, thiếu hiếm những cây bút trung thực.
9. Lý do thứ chín: Ru ngủ thanh thiếu niên bởi những trò chơi vô ích.
10. Lý do thứ mười: Tin "xe cán chó" tràn lan khắp các báo đài.
NGHỊ QUYẾT 1636 CỦA QUỐC HỘI LIÊN ÂU
Quốc Hội Liên Hiệp Âu Châu thông qua Nghị Quyết 1636 đề cao vai trò của Truyền Thông trong các nền Dân Chủ
Ngày 3-10-2008 vừa qua, Quốc Hội Liên Hiệp Âu Châu đã thông qua Nghị Quyết 1636. Nghị Quyết nầy long trọng đề cao vai trò của Truyền Thông trong các nền Dân Chủ .
Vào dịp nầy, Tiến sĩ Callamard, Chủ Tịch Tổ Chức Điều 19 (Article 19 Organization), một tổ chức Nhân Quyền độc lập hoạt động khắp thế giới nhằm bảo vệ và cổ võ quyền tự do phát biểu cũng đã tuyên bố: "Vào lúc có những thách thức lớn lao cho ngành truyền thông khắp thế giới, luôn cả tại Âu châu, Nghị Quyết 1636 đã ra đời đúng lúc và được hoan nghênh đặc biệt. Những cuộc tấn công nhắm vào tự do truyền thông và tự do phát biểu gần suốt 10 năm qua đã đảo ngược trào lưu tích cực của 10 năm trước đó, đồng thời đã ngăn trở việc phổ biến thông tin tự do đến dân chúng, tạo nên hiểm họa nghiêm trọng cho các chế độ dân chủ mới cũng như cũ".
Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam hân hoan chào mừng sự ra đời của Nghị Quyết 1636. Việc thông qua Nghị Quyết nầy đã nói lên mối quan tâm sâu xa của các quốc gia hội viên thuộc Liên Hiệp Âu Châu về các quyền tự do ngôn luận và tự do thông tin đang bị chà đạp nặng nề tại nhiều quốc gia đang bị quân phiệt và cộng sản độc tài thống trị.
Nhân dịp nầy, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đặc biệt kêu gọi nhà cầm quyền Hà Nội phải chấm dứt ngay mọi vi phạm Nhân Quyền, trong đó có các quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, theo đúng tinh thần của Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị của Liên Hiệp Quốc mà Hà Nội đã phê chuẩn và cam kết tôn trọng kể từ năm 1982.
Theo Tiến Sĩ Callamard, quyền tự do phát biểu và thông tin của giới truyền thông là một đòi hỏi thiết yếu của dân chủ. "Sự tham gia của quần chúng trong tiến trình quyết định đòi hỏi quần chúng phải được thông tin đầy đủ và có cơ hội tự do trao đổi và thảo luận những ý kiến khác nhau."
Nghị Quyết 1636 hoan nghênh những nhận định có tính cách so sánh về các tình trạng truyền thông tại các quốc gia, và mời gọi quốc hội các nước phân tích tình hình truyền thông của nước họ để tìm ra những thiếu sót trong luật lệ và cách thực hành về truyền thông, và có biện pháp thích ứng để chấn chỉnh. Nghị Quyết 1636 đã đưa ra 27 nguyên tắc căn bản để đánh giá tình hình tự do báo chí tại mỗi quốc gia.
Đặc biệt Nghị Quyết 1636 đã đưa ra những nguyên tắc về luật lệ thích hợp và tương ứng liên quan đến việc bêu xấu. "các viên chức chính quyền không được đặc miễn đối với sự phê bình và nói xấu khác hơn người dân bình thường, chẳng hạn như bằng hình luật với mức án cao hơn… Các nhà báo sẽ không phải bị tù hay các cơ sở truyền thông sẽ không bị đóng cửa vì lời bình luận chỉ trích" (Nguyên tắc căn bản 2); cái gọi là luật lệ chống phát biểu hận thù: "Hình luật chống lại sự xúi dục hận thù hay để bảo vệ trật tự công cộng hoặc an ninh quốc gia phải tôn trọng quyền tự do phát biểu. Các hình phạt phải đúng với nhu cầu cần thiết và tương xứng" (Nguyên tắc căn bản 3); sỡ hữu chủ truyền thông: "sỡ hữu chủ truyền thông và giới có ảnh hưởng kinh tề đến truyền thông phải minh bạch. Luật lệ phải chống lại nạn độc quyến truyền thông và các loại thị trường áp đảo trong ngành truyền thông. Ngoài ra, phải có hành động tích cực nhằm khích lệ sự đa nguyên truyền thông." (Nguyên tắc căn bản 18).
Nghị Quyết 1636 cũng kêu gọi nhà cầm quyền phải tôn trọng sự kín đáo về các nguồn thông tin của nhà báo (Nguyên tắc căn bản 8); bảo vệ các nhà báo, kể cả bằng cảnh sát và tòa án: "Các nhà báo bị hăm dọa phải được cảnh sát bảo vệ khi họ yêu cầu. Các công tố viên và tòa án phải xử lý thích đáng và đúng mức khi các nhà báo bị hăm dọa hay bị tấn công." (Nguyên tắc căn bản 14).
Ngoài ra, Nghị Quyết cũng nêu lên nhiều nguyên tắc nhằm bảo đãm sự độc lập của các cơ sở truyền thông, đáng kể nhất gồm có: (1) chống lại sự can thiệp chính trị: "các nhân viên chính phủ còn tại chức không được hoạt động trong ngành truyền thông chuyên nghiệp" (Nguyên tắc căn bản 23); (2) độc lập đối với các sở hữu chủ truyền thông (Nguyên tắc căn bản 13); (3) được sử dụng một cách công bằng và bính đẵng các kênh, tần số, hay dây cáp phân phối tin tức (Nguyên tắc căn bản 16); (4) được sử dụng một cách công bằng và bình đẳng các phương tiện truyên thông khi có bầu cử (Nguyên tắc căn bản 5); (5) sử dụng không hạn chế sách báo thông tin ngoại quốc hay điện tử, kể cả Internet (Nguyên tắc căn bản 17); (6) độc lập của các nhà phát thanh công cọng không bị sự can thiệp chính trị (Nguyên tắc căn bản 20); và (7) truyền thông tư nhân không bị đặt dưới sự điều hành của các công ty nhà nước hay do nhà nước khống chế và kiềm soát; (8) các tổ chức truyền thong tư nhân phải được hưởng quyền tự điều hành: "phải có một hệ thống tự điều hành trong ngành truyền thông bao gồm quyền các nhà báo trả lời và sửa chữa hoặc tự nguyện xin lỗi. Ngành truyền thông phải thành lập những cơ quan tự điều hành như hội đồng khiếu nại hay người phụ trách tiếp nhận và điều tra khiếu nại. Quyết định của các cơ quan này phải được thi hành, và những biện pháp này phải được tòa án công nhận là hợp pháp. (Nguyên tắc căn bản 25); và "các nhà báo phải tự thiết lập và áp dụng những chuẩn mực chuyên môn về tư cách hành xử, phải cho khán giả hay độc giả biết những quyền lợi chính trị va tài chánh của họ cũng như sự hợp tác của họ với nhà nước, chẳng hạn như các nhà báo đi theo quân đội" (Nguyên tắc căn bản 26).
HÒA GIẢI HÒA HỢP VỚI AI VÀ CÁI GÌ ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Cách đây chừng hai năm, nhiều chính khách xu thời đã nêu ra chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp. Nhìn thấy tính cách xu thời mong nhẩy bàn độc, nhiều Vị đã lên tiếng nói rõ rằng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là lá đơn van xin làm bồi cho CSVN vì chính CSVN không nêu ra vấn đề ấy và vì tâm địa cố hữu của CSVN là ngoan cố bấu víu chặt lấy quyền độc tài độc đảng. Chúng tôi cũng đã viết nhiều về vấn đề này.
Trong tuần vừa rồi, tôi đọc bài của Oâng NGUYỄN TƯỜNG LONG mang đầu đề HÒA GIẢI LÀ MỘT NHU CẦU CÓ THẬT. Tôi cũng có đọc những ý kiến của Bác sĩ NGUYỄN THỊ THANH về Hòa Giải Hòa Hợp.
Đối với vấn đề này, lập trường của chúng tôi được bầy tỏ qua hai câu hỏi: 1) Ai hòa hợp hòa giải với ai ? 2) Hòa hợp hòa giải về cái gì ?
Nếu không trả lời chính xác cho hai câu hỏi ấy, thì vấn đề Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là chiêu bài tung ra để che đậy những mưu mô khác.
AI HÒA HỢP HÒA GIẢI VỚI AI ?
Khi nói hòa hợp hòa giải là nói đến hai lực lượng tranh đấu, dành dựt một cái gì mà dai dẳng không phân thắng bại để tổn thương nguy hại đến cả hai lực lượng. Vì vậy hai bên ngồi lại thảo luận với nhau để chia chác điều mà mình đang dằng co. Nếu chia phần cho đều, thì hai lực lượng tạm yên đánh nhau.
Nếu hiểu Hòa Giải Hòa Hợp là giữa Quốc gia và Cộng sản thì không trúng bởi lẽ người Quốc gia không dành dựt cái điều mà CSVN đang nắm giữ. Trở lại về nguyên thủy cuộc đấu tranh Quốc-Cộng, người Quốc gia đứng ở vị trí bảo vệ Tự do, Nhân quyền, còn người Cộng sản dùng võ lực đến chiếm quyền để đặt để Độc tài độc đảng, không cho Tự do và chà đạp Nhân quyền. Vì vậy người Quốc gia không đi dành dựt chiếm hữu, lấy cho mình cái quyền Độc tài, tiêu diệt Tự do, chà đạp Nhân quyền như Cộng sản. Một bên là tự vệ, một bên là xâm lăng ăn cướp. Vì vậy nói người Quốc gia đi Hòa Hợp Hòa Giải với CSVN là không trúng
Trúng hơn là nên nói hòa hợp hòa giải giữa những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng và những người làm Chính trị phe chủ trương độc đảng về cái quyền lực cai trị. Nếu những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng muốn hòa hợp hòa giải với CSVN, thì cứ việc làm, nhưng đây là việc đấu tranh dành quyền lực giữa tầng lớp làm chính trị. Liệu CSVN có chia quyền hành cho những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng hay không, hay là CSVN xử dụng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để vẽ râu ria cho chế độ cố hữu của họ, xử dụng những người làm Chính trị phe đa đảng như bung xung lừa bịp Dân và Quốc tế.
Nếu hai phe Chính trị mà chỉ dùng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để chia ghế, chia quyền hành, thì Dân vẫn tiếp tục đấu tranh chống lại cả hai phe thống trị.
HÒA HỢP HÒA GIẢI VỀ CÁI GÌ ?
Đối với người Dân, vấn đề tha thiết căn bản của họ là có TỰ DO, có việc tôn trọng NHÂN QUYỀN thực sự và những người cầm quyền đừng ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của họ. Trừ những người làm Chính trị cho quyền hành, hầu hết đồng bào Tỵ nạn Hải ngoại đứng về phía Dân chúng Việt Nam quốc nội đấu tranh cho TỰ DO, NHÂN QUYỀN và QUYỀN SINH SỐNG NUÔI THÂN XÁC. Ơû Hải ngoại, người Quốc gia Tỵ nạn đã có TỰ DO, có NHÂN QUYỀN và CÓ CƠM ĂN ÁO MẶC. Họ đứng sau lưng Dân chúng Việt Nam để hỗ trợ cuộc đấu tranh của người Dân đòi CSVN cho TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN và đừng CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân chúng quốc nội.
Vậy thì việc Hòa Giải Hòa Hợp là giữa CSVN và DÂN CHÚNG VIỆT NAM tại Quốc nội, chứ không phải giữa CSVN và khối người Quốc gia tỵ nạn tại Hải ngoại. CSVN muốn Hòa Giải Hòa Hợp thì hãy làm công việc đó đối với Dân chúng Việt Nam tại Quốc nội. CSVN hãy trả lại TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN, đừng nắm Kinh tế ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân và phải hòan trả lại Dân những gì mà CSVN đã ăn cướp trong bao chục năm trường. Điều cuối cùng này rất quan trọng. Thực vậy, đừng dùng chiêu bài Hòa giải Hòa hợp để chuyển tài sản ăn cướp ra nước ngoài, rồi cho con cháu ra đây bảo lãnh mình ra sống vương giả trên của cải ăn cướp được.
Hãy Hoà Giải Hòa Hợp giữa CSVN và Dân chúng Quốc nội, chứ đừng đểu cán kêu gọi Hòa Giải Hòa Hợp với một số thành phần Chính trị ở việc chia ghế. CÁI GÌ (đối tượng) cho việc Hòa Giải Hòa Hợp giữa CSVN và DÂN CHÚNG QUỐC NỘI là: (i) cho TỰ DO, (ii) tôn trọng NHÂN QUYỀN, (iii) đừng nắm độc quyền Kinh tế mà ĂN CƯỚP NHÀ ĐẤT VÀ CƠM ÁO của Dân, (iv) phải hoàn trả lại cho DÂN và ĐẤT NƯỚC những gì đã ăn cướp trước đây.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
BỊT MIỆNG BÁO CHÍ Trần Khải
Đó là một thói quen khó dời đổi của nhà nứơc CSVN: bịt miệng báo chí mỗi khi thấy bất lợi. Hành vi đưa tay thô bạo bịt miệng dĩ nhiên là không đẹp gì trong thời buổi truyền thông bùng nổ khắp thế giới, nhưng đó là phản ứng có thể tin là gần như phản xạ của các quan chức thông tin tại VN hiện nay.
Mới đầu tháng này, đàì RFA loan tin rằng Thứ Trưởng Bộ Thông Tin và Truyền Thông CSVN Đỗ Quý Doãn đã ký quyết định thu hồi thẻ nhà báo của 7 cán bộ và phóng viên. Thông Tấn Xã Việt Nam loan tin này hôm thứ Sáu 1-8-2008 và cho biết lý do của sự việc này là vì các đương sự có vi phạm nghiêm trọng trong hoạt động và thông tin trên báo chí. Bản tin liệt kê, theo RFA, "Những cán bộ và phóng viên bị thu hồi thẻ nhà báo gồm các ông Nguyễn Quốc Phong, phó tổng biên tập báo Thanh Niên, Bùi Văn Thanh, phó tổng biên tập báo Tuổi Trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Huỳnh Kim Sánh, tổng thư ký tòa soạn báo Thanh Niên, Dương Đức Đà Trang, trưởng văn phòng đại diện báo Tuổi Trẻ thành phố Hồ Chí Minh tại Hà Nội và ông Trần Đình Dũng tự Việt Dũng, phóng viên báo Khoa Học và Đời Sống.
"Hai trường hợp khác bị khởi tố về tội tham ô tài sản và thiếu trách nghiệm, gây hậu quả nghiêm trọng là hai bà Nguyễn Thị Thanh Thúy, phó tổng biên tập báo Người Cao Tuổi và bà Hoàng Tuyết Oanh, cán bộ báo Người Cao Tuổi." (hết trích)
Bản tin cũng ghi lời Luật sư Trần Lâm, rằng "đây là một chủ trương kiểm soát báo chí vì đã có 2 nhà báo ngồi tù vì loạt phóng sự liên hệ tới vụ án tham những PMU 18 tại Bộ Giao Thông - Công Chánh..."
Nghĩa là, khui tộị tham nhũng, sẽ bị tịch thu thẻ nhà báo?
Điều này nghĩa là, các báo quốc nội cần tránh các đề tài tế nhị như tham nhũng, vì là "vi phạm nghiêm trọng trong hoạt động và thông tin trên báo chí."
Tuy nhiên, báo Nhật Bản The Yomiuri Shimbun số ngày 8-8-2008 loan tin rằng cơ quan PMU của thành phố Sài Gòn đã "đòi huê hồng 15% từ công ty Pacific Consultants International (PCI) trên 2 dự án để sẽ cho công ty này thầu độc quyền hồi 8 năm trứơc, theo lời một giám đốc PCI."
Lúc đó, PCI mới nài nỉ, thương thuyết để xin giảm còn 10% thôi. Ông Giám Đốc PCI Haruo Sakashita, 62 tuổi, thương thuyết với PMU và được cho xuống 10%...
Và như thế là hơn 800 ngàn đô la đã nộp cho quan chức CSVN. Đàì BBC kể rằng cán bộ cầm tiền cống nộp của PCI là ông Huỳnh Ngọc Sỹ, Phó Giám đốc Sở Giao thông Công chính của thành phố Sài Gòn, kiêm Giám đốc Ban Quản lý PMU Đông - Tây.
Trong khi báo chí Nhật Bản sôi nổi khai thác như thế, báo chí quốc nội VN vẫn im lặng. Và phải tới vài tuần sau khi báo Nhật lần đầu khui ra, vào ngày 17-8-2008, thông tấn nhà nứơc TTXVN mới đưa ra bản tin kiểu làm dịu dư luận nhẹ nhàng hơn. Bản tin nhan đề "Việt Nam sẵn sàng phối hợp với phía Nhật Bản để làm rõ vụ việc" có những đoạn trích như sau:
"...Gần đây báo chí Nhật Bản và nước ngoài đưa khá nhiều tin về việc công ty Tư vấn quốc tế Thái Bình Dương (PCI) của Nhật Bản bị nghi vấn hối lộ quan chức Việt Nam để trúng thầu dự án Đại lộ Đông-Tây, Thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng vốn ODA của Nhật Bản. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã trả lời phỏng vấn báo chí về vấn đề này.
Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn khẳng định, Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn đánh giá cao và chân thành cảm ơn Chính phủ và nhân dân Nhật Bản cũng như Chính phủ và nhân dân nhiều nước khác đã dành viện trợ ODA cho Việt Nam trong nhiều năm qua...
...Về việc một số báo chí Nhật Bản nói quan chức PCI có hành vi hối lộ để được trúng thầu trong dự án hành lang Đông-Tây, Thành phố Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn cho biết, khi phía Nhật Bản nêu vấn đề này, Bộ Ngoại giao và các cơ quan hữu quan của Việt Nam rất coi trọng và đã xem xét một cách nghiêm túc. Ông nhấn mạnh rằng, phía Việt Nam đã nói rõ với phía Nhật Bản rằng tuy giữa hai nước chưa ký Hiệp định song phương về hỗ trợ tư pháp nhưng Việt Nam sẵn sàng phối hợp với phía Nhật Bản để làm rõ vụ việc này theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam và các thoả thuận hữu quan giữa hai nước. Phía Nhật Bản có thể lập hồ sơ uỷ thác tư pháp với nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Luật Tương trợ tư pháp của Việt Nam năm 2007 để các cơ quan chức năng Việt Nam có cơ sở pháp lý triển khai phối hợp tác với các cơ quan tương ứng của phía Nhật Bản. Việt Nam cũng đã đề nghị phía Nhật Bản trong khi vụ việc đang được điều tra, chưa có kết luận cuối cùng thì các cơ quan truyền thông đại chúng của hai nước đều không nên đưa tin, bài về việc này; nếu có đưa tin thì phải khách quan, theo đúng quy định pháp luật của mỗi nước...." (hết trích)
Ông Thứ Trưởng CSVN nói thẳng rằng Hà Nội không muốn báo chí Nhật đưa tin về chuyện naỳ, dù rằng đã ra tòa, các giám đốc PCI đã nhận tội, kể rõ các đợt cống nộp ra sao.
Nghiã là bịt miệng. Không khác gì hết. Không thu thẻ nhà báo, vì là chuyện đăng trên báo Nhật Bản, nhưng Hà Nội không muốn thấy chuyện naỳ trên mặt báo, dù là báo Việt hay báo Nhật Bản.
Thực ra, Nhật đâu có cần hỗ trợ tư pháp gì, vì Nhật không có ý phiền hà gì quan lớn Huỳnh Ngọc Sỹ, mà chỉ muốn công ty Nhật PCI đừng vi phạm luật cấm hối lộ -- và đây là luật của Nhật Bản áp dụng với công dân Nhật.
Người ta thắc mắc rằng ông Huỳnh Ngọc Sỹ gốc bự cỡ naò mà được bảo vệ kỹ như thế.
Và vì sao ông Thứ Trưởng CSVN phải thò tay xuyên đại dương để tìm cách bịt miệng cả báo Nhật Bản?
Tuy nhiên, báo Nhật Bản hãy dè chừng. Nếu Thứ Trưởng Bộ Ngoại giao CSVN Hồ Xuân Sơn nói mà không ép-phê gì, thì có thể Thứ Trưởng Bộ Thông Tin và Truyền Thông CSVN Đỗ Quý Doãn lại sẽ xuất chiêu. Lần này không tịch thu thẻ nhà báo, mà có thể sẽ yêu cầu chính phủ Nhật đóng cửa các báo như tờ The Yomiuri Shimbun? Để chờ xem ông Sơn bàn kế gì với ông Doãn.
| | | |
| | | TỰ DO VÀ BÁO CHÍ
Tự Do & Báo Chí (Vụ 2 nhà báo bị bắt) Huy Đức
Tôi không thể hình dung, nếu vụ án tiếp tục, Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến sẽ bị buộc tội dựa trên lý lẽ nào. Cho dù, cũng nên chuẩn bị tinh thần để đón nhận những điều không vui vẻ. Bộ Luật Hình Sự đang chứa đựng rất nhiều "thòng lọng" và qua chứng kiến hàng trăm phiên tòa, tôi hiểu, chứng cứ đôi khi đóng một vai trò nhỏ nhoi so với "ý chí" của những người "làm án".
Không có gì phải ngạc nhiên khi loạt bài đòi thả tự do cho hai nhà báo bị chặn lại. Cũng không nên bất ngờ trước việc báo Tuổi Trẻ bị "thổi còi" khi cho dịch tư liệu về một số vụ án báo chí ở Mỹ và Châu Âu. Những tư liệu có thể ảnh hưởng đến nhận thức về quyền tự do ngôn luận (xem Bài 1 và lời Cáo lỗi). Người Mỹ đã đòi tự do trước cả khi đòi được độc lập cho mình. Năm 1735, khi nước Mỹ đang là thuộc địa, Zenger bị buộc tội phỉ báng Thống đốc New York vì xuất bản những thông tin được coi là "sai trái". Nhưng luật sư của Zenger, ông Hamilton đã yêu cầu bồi thẩm đoàn bỏ qua những "tiểu tiết" đó, vì "đây không phải là một vụ kiện mang tính cá nhân". ông nhấn mạnh: "Đây là vụ kiện của sự tự do". Quyền tự do chỉ trích chính phủ của người dân quan trọng đến nỗi không thể vì một vài sai sót mà toà có thể đưa ra những phán quyết ảnh hưởng đến quyền tự do ngôn luận.
Nguyên tắc này được người Mỹ và các nước dân chủ thiết lập và áp dụng với nhiều quan điểm giống nhau, trong trường hợp báo chí chỉ trích các viên chức của chính quyền và, về sau, áp dụng với cả những người của công chúng. Các nhà lãnh đạo của các nước dân chủ không phải là không khó chịu với những lời chỉ trích. Nhưng, họ ý thức được rằng, nếu như quyền lực nhà nước không được chế ước, nhất là bởi quyền tự do chỉ trích của người dân, thì quyền lực sẽ nhanh chóng làm cho nhà nước dễ dàng tha hoá.
Quyền "tự do ngôn luận" mà Hồ Chí Minh đưa vào Hiến Pháp Việt Nam không thể không được hiểu theo nguyên tắc ấy. Những bài báo của Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Việt Chiến, dù sai, cũng không thể khép vào hình sự. Tuy nhiên, dựa trên những thông tin mà Osin có cho tới bây giờ, cũng cần phải phân tích để có thể hiểu thêm về bản chất của những gì diễn ra với báo chí.
Trừ một số sự kiện chính có họp báo như bắt giam, khởi tố bị can, phần lớn các thông tin về vụ PMU thường được công an "rỉ tai" cho nhà báo. Những nhà báo có thâm niên viết nội chính như Nguyễn Việt Chiến thì nguồn tin có thể đến thẳng từ Tướng Ngọ, Tướng Quắc. Những nhà báo khác thường phải lấy tin ở các quán cà phê, do một số người từ cơ quan điều tra "tiết lộ". Để tránh bị nhà báo ghi âm, các "nguồn tin" dạng này thường cho các phóng viên đọc thông tin ghi trong một cuốn sổ, được dàn dựng sao cho tạo được cảm giác tin cậy như là sổ tay công tác. Phóng viên nào đưa tin đúng như công an muốn, hôm sau sẽ được ưu tiên. Phóng viên nào tỏ ra khách quan, có thể sẽ không bao giờ nhận được nhiều thông tin hấp dẫn.
Từ những cuộc tiếp xúc như vậy, mà hàng loạt các "phóng sự điều tra" về vụ PMU 18 ra đời: Nguyễn Việt Tiến rửa ghế bằng cách đãi các thuộc cấp thứ bia đã tắm qua người đẹp; Nguyễn Viết Tiến sàm sỡ với một cô gái ở quán phở lại còn tát phó công an Quận nên bị giam tới nửa đêm ; Nguyễn Viết Tiến được hiến bồ từ đàn em Bùi Tiến Dũng… Không phải là những chứng cứ tham nhũng, chính những thông tin mô tả nhân cách, đã tạo áp lực dữ dội để đưa ông Tiến vào tù. Hôm qua (18-5), một vị giáo sư khả kính nói với tôi : "Chỉ riêng việc bao một cô bồ nhí từ khi cô ấy 16 cho tới năm cô ấy 23 đã đủ để bỏ tù ông Tiến". Không chỉ có vị giáo sư ấy nghĩ về ông Tiến như vậy, qua những gì được đăng trên báo, dân chúng cũng đã nghĩ về ông như là một ông trùm chỉ biết ăn chơi. Các bloggers khi comment phản đối Osin cũng dùng những thông tin về ông Tiến đã từng đăng báo. Nhiều bloggers tuyên bố rằng họ không thể nào tin Nguyễn Việt Tiến vô tội. Tôi chưa bao giờ gặp ông Tiến. Có thể tôi cũng không tin ông Tiến liêm khiết hoàn toàn. Nhưng, có lẽ chúng ta cũng phải chấp nhận, những câu chuyện mô tả ông Tiến như một người xấu xa, giờ đây, không có một bằng chứng nào để chứng minh đó là sự thật.
Ngày 9-11-2006, Tòa án quận Đống Đa đã buộc một tờ báo mạng phải xin lỗi nhà hàng Phố Núi vì đã đưa tin sai sự thật có liên quan đến vụ PMU và tờ báo này đã phải "hỗ trợ" nhà hàng 120 triệu. Không rõ Nguyễn Việt Tiến rồi có kiện các báo hay không, nhưng, rõ ràng, kiện đòi bồi thường dân sự mới là "chế tài" thích hợp cho những bài báo được viết sai mà không phải do các phóng viên bịa đặt.
Nếu, thay vì khởi tố bắt giam các nhà báo, các cơ quan tố tụng tạo niềm tin cho những người như ông Tiến khởi kiện dân sự thì dân chúng sẽ được chuẩn bị tâm lý dần dần. Thông qua các trình tự tố tụng dân sự, dân chúng cũng sẽ hiểu bản chất của vụ PMU và đánh giá lại độ tin cậy của những thông tin mà họ đã bị "mặc định" khi công an phối hợp với truyền thông trong những ngày "làm án". Uy tín của truyền thông chắc chắn sẽ bị tổn thất nhưng bài học mà giới báo chí qua đó thu lượm được cũng sẽ vô cùng quý giá. Những người chủ mưu trong việc cung cấp các thông tin sai lệch cho báo giới cũng qua đó mà lộ ra.
Tôi không phải là người làm án để định tội những kẻ cung cấp thông tin sai lệch cho nhà báo. Nhưng đừng coi những hành vi như vậy là thân thiện với báo giới. Tôi là phóng viên nội chính nhiều năm, biết rõ những con người vô tội, chỉ vì báo chí bắt tay với công an, đã trở thành nạn nhân không thoát khỏi tù tội và những điều nhục mạ. Một khi công an đi cùng báo chí, hai thế lực mạnh nhất hợp sức, thì sẽ đe doạ an ninh của người dân. Chưa có một quốc gia nào mà cơ quan có quyền bắt người, đồng thời lại nắm trong tay rất nhiều tờ báo. Làm sao mà tòa án có thể độc lập để xem xét một người có tội hay không khi người đó vừa mới bị công an còng là lập tức báo chí, gọi họ là tội phạm.
Trong blog của một người có tên trong friend list có post lại một entry rất hay của vợ nhà báo Nguyễn Văn Hải. Báo chí và các bloggers đều đứng về phía nhà báo này kể từ khi anh bị bắt. Hải xứng đáng được như vậy và tôi có comment: "Như thế là hạnh phúc". Phải ở trong địa vị của những người vợ có chồng bị bắt mới thấy, trong hoàn cảnh ấy, nếu dư luận công minh, đứng bên cạnh động viên, thì sợ hãi sẽ vơi đi biết mấy. Phải ở trong hoàn cảnh ấy thì mới thấy, những người vợ khác cũng khát khao được động viên như vợ của các phóng viên. Nên nhớ, một khi đã bị "còng" thì Nguyễn Văn Hải hay Nguyễn Việt Tiến cũng đều bị công an coi là "tội phạm". Đã tra tay vào còng, thì bộ trưởng hay nhà báo cũng đều trở thành kẻ yếu. Đừng ảo tưởng về vai trò chống tham nhũng của báo chí khi sử dụng những tư liệu từ công an đưa ra. Nhiều đồng nghiệp cho đến này vẫn còn giữ rất nhiều tư liệu về nhiều nạn nhân của sự kết hợp giữa công an và báo chí.
Cách mà chính quyền lựa chọn để bắt đầu vụ án, tuy đã đưa hai nh=C
KHI NHÀ BÁO PHẢI CÂM MIỆNG
Hòa Vân
Trong bài viết Có những khi dư luận phải ngậm đắng nuốt cay… của mục Phát ngôn và hành động ấn tượng trong tuần 9-16.5.2008, báo điện tử Tuần Việt Nam, nhà báo Bùi Dũng nhận xét :
« Nếu ngày thứ Tư (14/5) và trước đó, trên các mặt báo còn sôi lên sự việc hai nhà báo là Nguyễn Văn Hải (báo Tuổi Trẻ) và Nguyễn Việt Chiến (báo Thanh Niên) cùng với Thượng tá Đinh Văn Huynh, Trưởng phòng 9, C14, điều tra viên cao cấp vụ PMU18 bị bắt tạm giam, Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc, nguyên Cục trưởng Cục CSĐT tội phạm về TTXH (C14), Bộ Công an, Trưởng ban chuyên án PMU18 bị khởi tố thì sang ngày hôm sau (15/5),... Hết ».
Thế nhưng, nếu hôm nay bạn muốn tìm lại đoạn viết trên bằng cách bấm vào đường dẫn về địa chỉ mạng của nó thì… cái câu cuối « thì sang ngày hôm sau (15/5),... Hết » đã được thay bằng ba dấu chấm và một đoạn khác, nêu lên nhiều câu hỏi không phải không xác đáng về vụ bắt giam các nhà báo, nhưng cái thông tin « Hết » như được phù phép biến đi…
Lạ ! Muốn biết thêm thông tin, đành phải lướt mạng, tìm đến các blog. Và đây, trên blog của Ngoc N, một nhà báo báo Pháp luật Việt Nam (bài Chuyện bên lề bài báo "vượt luật") :
« Chiều ngày 14/5/2008, BBT báo Pháp Luật Việt Nam cũng như tất cả các BBT những tờ báo đều nhận được chỉ thị qua điện thoại của sếp cao nhất Ban tuyên giáo TƯ về việc cấm tiếp tục đăng thông tin về vụ 2 nhà báo bị tạm giam và tướng Quắc bị khởi tố… ».
Té ra, « Hết », vì có người đã ra lệnh, không ai còn được nói gì nữa. Chấm dứt cuộc chơi. Ngay cả nói rằng cuộc chơi đã chấm dứt cũng không được, nên Tuần Việt Nam mới phải sửa bài viết.
Dễ hiểu là nhất loạt báo chí… xếp hàng, im.
Ngay cả báo Tuổi Trẻ, một người trong cuộc, cũng không được phép đưa thêm tin về nhân viên của mình đang còn bị tạm giam, và phải tìm cách lách bằng những bài báo viết về tai nạn nghề nghiệp của… các nhà báo nước ngoài. Nhưng thế cũng không được ! Loạt bài Khi nhà báo rơi vào vòng lao lý vừa ra được hai kỳ (Cái giá của thông tin…, ngày 16.5 và Miller thà ngồi tù, không lộ nguồn tin, ngày 17), thì một cú điện thoại đã gọi đến tòa soạn, và « Kỳ 3 : William Farr ôm bí mật xuống đáy mồ », đúng như cái tựa tiền định của nó, đã lập tức bị chôn xuống đáy mồ, dù đã được quảng cáo trước ! Dĩ nhiên, người ta sẽ không biết Tuổi Trẻ có định đăng gì hay không cho bài kỳ 4, vào đúng ngày sinh nhật cố chủ tịch Hồ Chí Minh.
Vụ PMU18 đã từng được thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng coi là vụ tham nhũng lớn nhất cần sớm được giải quyết (không tham nhũng thì ông tổng Bùi Tiến Dũng lấy đâu ra cả triệu đô la để chơi cá độ ?). Thế mà, hơn hai năm sau, vụ án vẫn chưa được mang ra xử, trong khi nhân vật nổi cộm nhất, cấp trên trực tiếp của tổng Dũng, nguyên thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến vừa được trả tự do, được Viện kiểm sát nhân dân tối cao tuyên bố vô tội đối với hai trong ba tội danh mà ông ta bị truy tố, và miễn trách nhiệm hình sự với tội danh thứ ba (« thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng »)… Và tướng Quắc bị khởi tố về tội « lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ », thượng tá Huynh và hai nhà báo bị khởi tố và bắt tạm giam về cùng tội danh. Dễ hiểu là nhiều người cho rằng đằng sau vụ này là một cuộc đấu đá tranh giành quyền lực ở cấp cao, mà những người bị bắt chỉ là ruồi muỗi.
Nhưng nếu việc bắt hai nhà báo (báo chính thống, của chế độ1) có thể được coi như một vụ trả thù (hèn hạ) của một phe trong cuộc đấu đá đó2, việc bắt toàn bộ báo chí im miệng, không được đề cập tới sự việc, mới là điều đáng nói tới. Nói như người Pháp, cái sự im lặng đinh tai ấy của báo chí là bằng chứng hùng hồn nhất của sự khinh miệt nhân dân, khinh miệt trí thức của kẻ cầm quyền. Xin cho tôi không bình luận về những lời tố cáo tính « hèn hạ » của trí thức VN, mà nhà báo là một bộ phận đáng kể, nhất là trong việc phản ánh những tệ nạn xã hội cũng như những bức xúc của người dân. Vì đơn giản là trong thời gian qua họ đã từng can đảm viết lên nhiều điều rất trái tai người cầm quyền. Nhưng đối với nhiều vấn đề thì họ không có chỗ để viết. Có những nhà báo phải mượn blog để nói lên uất ức của mình, vì có đưa bài thì cũng không được đăng. « Lệnh » từ rất cao, tuyệt đối, bất chấp dư luận đang đòi hỏi làm rõ sự việc, với những minh chứng cụ thể, thuyết phục cho quyết định bắt người của Viện kiểm sát (dù là những minh chứng đó vẫn có thể bị tòa án bác bỏ sau đó). Bắt là bắt, không cần trưng ra lý do. Và anh không được cãi.
Nghe nói người ta đang bàn bạc về cái đề án gọi là « Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế ». Những người đã đưa ra cái lệnh « Im ! » đầy khinh miệt kia cũng là những người chủ trì cuộc thảo luận. Kết quả (ngắn hạn thôi, dài hạn lại là chuyện khác) tưởng chẳng cần nói…
Hòa Vân
1 Đối với những người không nằm trong hệ thống, sự đối xử hèn hạ này còn thêm tính dã man nữa. Xem vụ "nhà báo tự do" Hoàng Hải, tức blogger Điếu Cày bị bắt (ngày 20.4.2008 tại Đà Lạt), và nhiều blogger khác cùng chính kiến với anh bị công an sách nhiễu suốt những ngày cuối tháng 4 – nhân vụ "rước đuốc thế vận hội Bắc Kinh" đi qua TPHCM - trên website của "Câu lạc bộ nhà báo tự do" : http://clbnbtd.com/index.php.
2 Câu này không hàm nghĩa coi các nhà báo này là thuộc « một bên » trong cuộc đấu đá. Cũng không hàm nghĩa phủ nhận tính tích cực mà nhiều người đề cao của hai nhà báo trong những bài viết liên quan. Chỉ nói lên cái khả năng là những người ra lệnh bắt họ coi họ là thuộc phe kia. Việc đánh giá hai nhà báo cụ thể trong vụ này không thuộc chủ đề của bài viết, còn đánh giá chung thì… tùy. Mặc dầu cái thói bôi xấu những người bị khởi tố, dù họ chưa bị/được đem ra xử, là rất cần bị phê phán, tôi tin rằng không phải nhà báo VN nào cũng là « nhà báo công an » chuyên nghề bôi bẩn những người khác ý…
|
KHÔNG CÓ DÂN CHỦ TỰ DO ĐÍCH THỰC THEO AI CŨNG CHỈ LÀ ĐẦY TỚ LÝ ĐẠI NGUYÊN
Phóng viên Thanh Trúc của Đài Á Châu Tự Do, ngày 31-07-08, trong cuộc phỏng vấn với mội sĩ quan trẻ của quân đội trong nước, nhân việc thay đổi một số tướng lãnh thuộc Quân Khu thủ đô Hànội, đã đặt ra câu hỏi: "Tầng lớp sĩ quan trẻ trong Quân Đội Nhân Dân bây giờ có suy nghĩ như thế nào về vấn đề Trungquốc hiện nay? Họ có sợ Trungquốc không? Thì được trả lời: "Một số sĩ quan trẻ rất bức xúc về tất cả vấn đề Trungquốc, nào là hiệp định biên giới, rồi nào là Hoàng Sa, nào là Trường Sa. Toàn bộ hệ thống lãnh đạo của quân đội, đảng, nhà nước đều là hèn nhát cả, hèn nhát tới vô cùng luôn". "Hèn đến mức mà mình cảm tưởng không thể sống được nữa, nếu mình cứ tiếp tục như thế này. Chả biết mình chiến đấu vì ai. Người lính dù mặc bộ quần áo nào, mục đích đầu tiên là bảo vệ nhân dân và bảo vệ tổ quốc, và bảo vệ lãnh thổ, sau đó thì bảo vệ cái gì đó thì mình không biết, nhưng hai cái trước phải đặt lên hàng đầu. Cái thứ hai nữa là trong quá trình xây dựng chiến lược, phát triển các mối quan hệ quân sự thì mối quan hệ đầu tiên, lớn nhất, là hợp tác quân sự với Mỹ. Mặc dù đảng không thích Mỹ một chút nào luôn, có thể nói ghét là khác, nhưng dứt khoát phải dựa vào Mỹ". Về quan hệ quốc phòng Việt-Mỹ, phóng viên Thanh Trúc đặt câu hỏi với viên sĩ quan trẻ kia rằng: "Những sĩ quan và chiến sĩ Quân Đội Nhân Dân Việt Nam có sự kỳ vọng gì vào thế hệ sĩ quan trẻ, hay có e ngại gì trong mối quan hệ với Hoakỳ không? Thì được thẳng thắn trả lời: "Theo tôi thì cái tôi mong mỏi nhất là Mỹ mở rộng chương trình đào tạo quân sự cho Việtnam, theo cái chương trình mà Bộ Quốc Phòng Mỹ dành cho các nước, thì sẽ đào tạo những thế hệ sĩ quan trẻ để từ đó họ có - vì thế hệ trẻ bao giờ họ cũng có - tư tưởng khác với những thế hệ già cỗi như hiện nay và hèn nhát như hiện nay. Thế hệ trẻ bao giờ cũng có tư tưởng cởi mở hơn, và có thể nói, họ sẽ là những người hàn gắn lại mối đau chiến tranh mà cả dân tộc phải chịu đựng, chứ không phải bên nào, hoặc bên nào cả, cuộc chiến tranh qua đi đã lâu rồi đừng để nó đau đớn nữa". "Tất nhiên cá nhân tôi vẫn rất ghét Mỹ, vì thật ra Mỹ đã bán cả Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa rồi, bán đi những người gần gũi nhất của Mỹ. Về phần tôi, tôi vẫn có sự cảnh giác đối với Mỹ, thật sự đối với Trungquốc và ngay cả đối với Mỹ". "Nhưng mà dứt khoát, chắc chắn rằng trong khu vực Đông Nam Á này, và khu vực Châu Á Thái Bình Dương, cả cái vùng này, người Mỹ không thể tìm được người bạn nào tốt hơn là người Việtnam cả. Tôi khẳng định như vậy". Trên đây là ý kiến của một sĩ quan trẻ trong quân đội Việtcộng- chưa nói tới đúng, sai - Tuy không thể cho đây là tiếng nói chung của quân đội Việtcộng, nhưng vẫn nhận ra được là Người Sĩ Quan Trẻ này và nhiều người cùng trang lứa, họ không còn tuân giữ giáo điều "Trung với Đảng" nữa. Họ đã thấy được toàn bộ hệ thống lãnh đạo của quân đội, đảng, nhà nước đều là hèn nhát, hèn nhát vô cùng. Khi những người lính đã thấy rõ bản chất lãnh đạo của mình là hèn, không có can đảm và khả năng bảo vệ được dân, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ lãnh thổ, trước sự lấn chiếm của Trungquốc, như trước kia, Quân Lưc Việt Nam Cộng Hòa năm 1974 đã chiến đấu chống lại cuộc xâm lăng quần đảo Hoàng Sa của Trungcộng, mà nhiều chiến sĩ VNCH đã chết trong trận chiến đó. Theo viên sĩ quan trẻ này thì: "54 người lính có thể nói là những anh hùng của đất nước đã hy sinh ở đó, chính là những người lính Việtnam Cộnghòa". Một người sĩ quan được đào tạo trong lò cộngsản sắt máu, hận thù, mà thấy đảng, nhà nước, quân đội mình hèn, bất xứng trong vai trò lãnh đạo, không bằng được kẻ địch xưa của họ là Việtnam Cộnghòa, anh đã công khai vinh danh người lính cộng hòa là anh hùng của đất nước, thì chế độ mà anh phục vụ đã hết thuốc chữa rồi. Chắc đây không chỉ là trường hợp đơn lẻ, mà phải là phản ảnh tâm tình, suy tư của rất nhiều đồng đội của anh. Giới lãnh đạo Việtcộng cũng biết rõ điều đó, nên họ đã không còn dám trói quân đội của mình trong quan hệ thầy trò với Trungcộng nữa, mà trao cho Hoakỳ, kẻ thù xưa và là nhà hợp tác nay, để đào tạo quân đội của họ đủ điều kiện và khả năng tham dự vào Chương Trình Sáng Kiến Hoạt Động Hòa Bình Toàn Cầu – Global Peace Operations Initiative – qua đó tham gia vào các khóa huấn luyện và sinh hoạt khác của hoạt động gìn giữ hòa bình chung. Khi Việtnam đã chính thức được tham gia hợp tác với Hoakỳ trong chương trình trên, thì chỉ còn một bước ngắn nữa là Mỹ- Việt sẽ tiến tới ký một Hiệp Ước An Ninh Toàn Diện, để cho lời cam kết của chính phủ Hoakỳ ủng hộ chủ quyền quốc gia, an ninh, và toàn vẹn lãnh thổ Việtnam thành hiện thực. Lúc đó thì chiến hạm Hoakỳ có đủ danh nghĩa và tính hợp pháp ra vào lãnh hải Việtnam, nhằm bảo vệ cho những công ty khai thác dầu lửa của mình, và các công ty quốc tế, như Anh, Nhật, Ấn và ASEAN đang liên doanh với Việtnam tại Biển Đông. Việtnam và các công ty khai thác dầu khí ở đây, không còn sợ bị hạm đội của Trungcộng đe dọa nữa. Mặc cho Trungcộng có thành công trong việc xây dựng hạm đội tầu ngầm nguyên tử ở đảo Hải Nam hay không cũng vậy. Vì Trungcộng chỉ có khả năng và can đảm bắt nạt từng nước nhỏ, chứ chưa dám đụng tới Một Cuộc Thế Chiến. Nhất là kinh tế Trungcộng đang lệ thuộc vào thị trường và vốn đầu tư quốc tế. Họ không ngu dại gì mà đập vỡ hũ gạo của mình. Viễn ảnh cho thấy, hung hăng, hục hặc cách mấy thì cuối cùng Trungcộng cũng đành phải xuống nước, xin sống chung hòa bình, để được chia phần hợp tác khai thác dầu khí ở Biển Đông, như đang làm thế với Nhật ở vùng Điếu Ngư Đài, nơi tranh chấp Nhật – Trung. Về thế quốc tế thì việc hợp tác chiến lược và kinh tế giữa Mỹ-Việt chỉ có đi tới, không thể đi lui. Nhưng về mặt chính trị thì Việtcộng vẫn còn ngoan cố, chưa chịu mở rộng Tự Do Hóa Xã Hội, vẫn xiết cổ truyền thông, quản thúc báo chí. Vẫn tăng cường sự lãnh đạo của đảng với báo chí. Vẩn không chấp nhận Tư Nhân Hóa lãnh vực truyền thông và Tự Do Ngôn Luận. Đây vốn là linh hồn của mọi lãnh vực Tự Do Xã Hội, kể cả Tự Do Tôn Giáo, Tự Do Lập Đảng, Tư Do Nghiệp Đoàn…Nghĩa là Cộngđảng vẫn muốn nắm độc quyền toàn trị cả về các mặt Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, Quân Đội và Công An để thống trị tòan dân. Vẫn coi dân là đối tượng để khủng bố, bóc lột qua các Tổng Công Ty Quốc Doanh, với hệ thống Hành Chánh Tham Nhũng và Công An Trị. Khi một chế độ độc tài tham nhũng đã không Tôn Trọng Dân của mình, thì không thể dựa được vào dân, tất phải dựa vào các thế lực ngọai bang để tồn tại. Thế nên Việtcộng theo Tầu thì ngoan ngoãn làm đầy tới cho Tầu, ngày nay có theo Mỹ thì cũng sẵn sàng làm đầy tớ cho Mỹ. Dù do quyền lợi phát triển kinh tế của Tư Bản Mỹ, Hoakỳ luôn luôn đòi hỏi Việtcộng phài Tôn Trọng Nhân Quyền và Dân Chủ Hóa chế độ. Nhưng trong nhất thời thì với một tên đầy tớ dễ sai, so với một người bạn mới còn nhiều nghi nan, thì hệ thống "bàn giấy" Mỹ rất dễ bị sa ngã. Cuộc đấu tranh Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền của toàn dân Việt trong, ngoài nước của chúng ta vẫn chưa hết khó khăn. LÝ ĐẠI NGUYÊN Little Sàigòn ngày 12-08-2008.
| | | |
ĐOÀN LUẬT SƯ VÀ LIÊN ĐOÀN LUẬT SƯ
Đỗ Thái Nhiên
Căn cứ vào hiến pháp 1992 của CSVN nhà cầm quyền Hà Nội vẫn thường xuyên đề cao nguyên tắc mọi người đều được hưởng quyền bình đẳng trước luật pháp. Tuy nhiên, muốn thực sự có được quyền bình đẳng này, trong rất nhiều trường hơp, người dân cần đến sự hổ trợ giới luật sư. Vì vậy, để có thể đánh giá chân xác mức độ "bình đẳng trước luật pháp" của xã hội Việt Nam ngày nay, chúng ta không thể không tìm hiểu qui chế hành nghề luật sư dưới chế độ Hà Nội.
Ngày 29/06/06, nhà cầm quyền CSVN đã ban hành đạo luật số 65/QH11. Luật này được gọi là Luật Luật Sư. Bây giờ chúng ta hãy ghi nhận ba điều luật chủ yếu của luật 65/QH11:
_ Điều 10 xác định luật sư phải là "công dân Việt Nam trung thành với tổ quốc, tuân thủ hiến pháp và pháp luật". Đừng quên rằng đối với CSVN tổ quốc có nghĩa là tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp được CSVN nhắc tới bao giờ cũng hàm ý quyền toàn trị dành cho CS nói ở điều 4 hiến pháp. Tóm lại, điều 10 luật 65/QH11 buộc người luật sư phải nằm dưới quyền lãnh đạo của đảng, trung thành với đảng CS.
_ Điều 3 quy định: Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp CS có nhiệm vụ thiết lập chương trình khung trong việc đào tạo hành nghề luật sư. Sau đó điều 17 viết thêm: Bộ Trưởng Tư Pháp là giới chức có thẩm quyền cấp phát chứng chỉ hành nghề luật sư. Như vậy, điều 10 và 17 cho thấy muốn hành nghề luật sư, ứng viên phải sống dưới trướng của Bộ Tư Pháp CS. Bộ cho sống thì được sống. Bộ bảo chết thì phải chết.
_ Mặc dầu điếu 10 và 17 đã giao nạp sinh mệnh nghề nghiệp của người luật sư cho Bộ Tư Pháp, điều 6 luật 65/QH11 còn nhấn mạnh thêm: "Quản lý hành nghề luật sư được thực hiện theo nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư". (Hết lời dẫn). Kiểu hành văn của điều 6 tuy có phần bí hiểm nhưng vẫn đủ để cho người dân hiểu rằng: nghề luật sư dưới chế độ CS do nhà nước quản lý trực tiếp và chặt chẽ.Câu hỏi được đặt ra là: bằng vào những kỹ thuật kềm kẹp của bộ Tư Pháp liệu chừng CSVN có khả năng biến người luật sư dưới chế độ CS vĩnh viễn trở thành những người chỉ biết nói bằng lưỡi gỗ hay không? Câu hỏi vừa nêu làm cho chúng ta nghĩ tới hai chữ NHÂN DÂN trong tiếng Việt. Nhân là con người toàn thiện toàn mỹ. Nhân là lương tâm của mỗi người. Dân là con người sống với thực tiễn xã hội. Dân khi vui, khi buồn; khi thành thật, khi gian dối; khi hiền đức khi độc ác…Điều cần nhấn mạnh là dân thường xuyên nghe tiếng NHÂN, thường xuyên cố gắng sống hướng thượng, thường xuyên được NHÂN tức là được lương tâm nhắc chừng thế nào là hướng thượng trong mỗi hoàn cảnh sống. Nhân và Dân đã có những gắn bó keo sơn trên ngôn ngữ cũng như trên thực tại đời sống. Riêng trong giới luật sư, càng chìm nổi trong nghề nghiệp, người luật sư càng hiểu biết một cách thấm thía thế nào là công lý, thế nào là lương tâm nghề nghiệp. Chính lương tâm kia, chính chữ nhân trong mỗi luật sư đã hối thúc người luật sư dưới chế độ CSVN phải can đảm chứng tỏ cho công luận biết rằng thần công lý không bao giờ bỏ rơi người dân cùng khổ. Tại Việt Nam, trong hơn một thập niên qua, người đệ tử lẩy lừng của thẩn Công Lý chính là nữ luật sư Lê Thị Công Nhân, bên cạnh vị nữ luật sư nhỏ người mà to gan này còn có các luật sư khác oanh liệt không kém. Đó là quý vị: LS Nguyễn Văn Đài, LS Trần Quốc Hiển, LS Nguyễn Bắc Truyễn, LS Bùi Kim Thành, LS Lê Quốc Quân, LS Trần Thị Thùy Trang…những vị luật sư này đã hoặc đang bị CSVN giam cầm trong các nhà tù, các nhà thương điên chỉ vì tội đòi hỏi dân chủ nhân quyền cho người dân. Tin từ Việt Nam cho biết: thứ sáu, ngày 8/8/2008, tòa án Nhân Dân Tối Cao của CSVN tại Saigon đã nhóm họp để xét xử phúc thẩm ông Phạm Bá Hải, người lãnh đạo tổ chức Bạch Đằng Giang, một tổ chức đấu tranh đòi hỏi dân chủ nhân quyền cho Việt Nam. Ông Phạm Bá Hải được luật sư Lê Trần Luật biện hộ. Mở đầu bài tranh biện của mình, luật sư Lê Trần Luật dõng dạc phát biểu: "Thưa Hội Đồng Xét Xử,
Tôi, LS Lê Trần Luật, người được tòa án nhân dân tối cao chấp thuận bào chữa cho Nhà Hoạt Động vì Dân Chủ Phạm Bá Hải. Sở dĩ tôi không gọi Phạm Bá Hải là bị cáo mà lại gọi là "nhà họat động dân chủ" vì tôi tin rằng những hành động của anh vừa bị cấp sơ thẩm buộc tội là những hành động không phạm tội, nếu không muốn nói là sẽ mang lại nhiều kết quả tốt đẹp cho tiến trình phát triển dân chủ ở Việt Nam" (Hết lời dẫn)
Điều đáng ghi nhận là khi luật sư Lê Trần Luật tuyên xưng thân chủ của mình là "Nhà hoạt động vì dân chủ" thì cả hội đồng xét xử lẩn viện kiểm sát nhân dân đều ngồi bất động, không nói một lời phản đối. Sự thể này chứng tỏ mạnh mẽ rằng tòa án CSVN đã bị khuất phục bởi phong cách biện hộ hào hùng của LS Lê Trần Luật. Danh sách các luật sư đã hoặc đang ở tù dưới chế độ CS đi kèm với câu chuyện LS Lê Trần Luật trước tòa án CS cho thấy: về phương diện cá nhân, số lượng luật sư dũng cảm hành động theo lòng nhân, theo lương tâm chức nghiệp ngày càng đông đảo. Vậy thì, về phương diện tập thể, đoàn luật sư đã làm gì để biểu đồng tình với các luật sư dũng cảm kia? Câu trả lời xin được giải bày như sau: Tháng 12/2007 Trung Quốc cưởng đoạt Hoàng Sa và Trường Sa của VN bằng cách mang hai quần đảo kia sáp nhập vào đơn vị hành chánh Tam Sa của Trung Quốc. Từ đó quần chúng VN nổi lên biểu tình chống Trung Quốc và cũng từ đó CSVN ngày càng đàn áp những cuộc biểu tình này một cách tàn tệ. Thế rồi, thật là bất ngờ, ngày 05/01/2008, LS thủ lãnh Nguyễn Đăng Trừng cùng các luật sư phụ tá gồm có: LS Nguyễn Văn Trung, LS Nguyễn Văn Hòa, LS Lê Công Định đã tổ chức một hội nghị qui tụ hai ngàn luật sư thuộc đoàn luật sư Saigon. Hội nghi này quyết liệt phản đối Trung Quốc xâm lược. Phản ứng vừa nêu của Đoàn Luật Sư Saigon đã làm cho chúng ta nghĩ đến thuật ngữ "xã hội dân sự". Xã hội dân sự là xã hội được hình thành theo nhu cầu sống hợp quần và tâm lý yêu chuộng công ích của con người. Xã hội dân sự nằm ngoài sự tổ chức và điều động của guồng máy cầm quyền. Mối quan hệ giữa nhà cầm quyền và người dân bao giờ cũng có khuynh hướng thoái hóa thành quan hệ thống trị và bị trị. Xã hội dân sự là đối lực tự nhiên của nhà cầm quyền các loại, nó có tác dụng vô hiêụ hóa các khuynh hướng thoái hóa kia. Đoàn luật sư Saigon do bộ tư pháp của CSVN nắm quyền sinh sát. Sự việc 2000 luật sư Saigon đồng loạt đứng lên chống Trung Quố ngày 05/01/2008 là chỉ dấu cho thấy đoàn luật sư Saigon đang nổ lực từ giả nhà nước CSVN để chạy về phía xã hội dân sự
Nói chung, lương tâm làm người hối thúc cá nhân người luật sư hành nghề dưới chế độ CSVN chỉ nghe theo tiếng nói của lương tâm, từ chối tuân hành mọi mệnh lệnh của bộ tư pháp Hà Nội. Mặt khác, kiến thức và kinh nghiệm của nghề luật sư đã chỉ ra rằng: đoàn luật sư phải là một tổ chức thực sự độc lập, phải là một xã hội dân sự thì người luật sư mới có thể phục vụ thân chủ một cách thích nghi. Trào lưu luật sư bênh vực người dân chống lại nhà cầm quyền, cộng với trào lưu đoàn luật sư tìm đường thoát khỏi vòng tay khống chế của bộ tư pháp CS đã buộc CSVN phải đi tìm giải pháp mới. Giải pháp mới chính là ngày 16 tháng 01/2008 thủ tướng CSVN ký quyết định thành lập Hội Đồng Lâm Thời Luật Sư Toàn Quốc. Đồng thời ông Lê Thúc Anh, cựu phó chánh án tòa án tối cao, được bổ nhiệm làm chủ tịch hội đồng lâm thời. Phụ tá ông Lê Thúc Anh là hai ông:
1)Ông Trần Đại Hưng, cựu phó ban nội chính, ban chấp hành trung ương.
2)Ông Nguyễn Văn Thảo, cựu vụ trưởng vụ bổ trợ, bộ tư pháp.
Cả ba ông chủ tịch và hai phó chủ tịch đều chưa hề hành nghề luật sư. Dưới sự điều hành của ba ông lãnh đạo kia là 12 ủy viên, trong đó có luật sư Phạm Hồng Hải, chủ nhiệm đoàn luật sư Hà Nội và luật sư Nguyễn Đăng Trừng, chủ nhiệm đoàn luật sư Saigon. Như vậy hội đồng luật sư toàn quốc chính là Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam.
Ngày 18/06/2008 LS Nguyễn Đăng Trừng , chủ nhiệm đoàn Luật Sư Saigon công bố quyết định rút tên ra khỏi Hội Đồng Lâm Thời LS Toàn Quốc. Lý do rút tên: Đoàn Luật Sư Saigon không đồng ý với sự việc đưa một người không phải là luật sư lên làm chủ tịch hội đồng lâm thời luật sư. Quyết định này hiện đang là đề tài tranh cãi giữa ban chỉ đạo đại hội đại biểu luật sư toàn quốc và đoàn luật sư Saigon
Câu chuyện chế độ Hà Nội tìm cách mang đoàn luật sư Saigon nối kết với đoàn luật sư Hà Nội để tạo thành liên đoàn luật sư Việt Nam đã hàm chứa các ẩn ý sau đây:
Thứ nhất: luật hiện hành của CSVN xác định: luật sư cũng như đoàn luật sư, tất cả đều nằm gọn trong tay của bộ tư pháp CSVN. Tuy nhiên theo nhận định của ông Hà Hùng Cường, bộ trưởng bộ Tư Pháp CSVN, mỗi đoàn luật sư có khuynh hướng trở thành một sứ quân. Sứ quân ở đây là sứ quân chống độc tài Hà Nội, chống bành trướng Bắc Kinh. Làm thế nào Hà Nội có thể vừa dẹp được loạn luật sư sứ quân vừa tránh được tai tiếng phá hoại tính chất độc lập của nghề luật sư? CSVN đã trả lời câu hỏi vừa nêu bằng cách thành lập liên đoàn luật sư Việt Nam. Liên đoàn này có nhiệm vụ thay thế bộ tư pháp trong công tác dẹp loạn luật sư sứ quân. Nói rõ hơn, CSVN dẹp loạn luật sư sứ quân thông qua xảo thuật dùng luật sư đánh luật sư.
Thứ hai: kiến thức nghề nghiệp cộng với kinh nghiệm nghề nghiệp đã khắc sâu vào tâm trí mỗi người luật sư hai yếu tố tinh thần quan trọng. Đó là lòng tự trọng nghề nghiệp và tình đồng nghiệp. Hai yếu tố tinh thần kia đã làm cho hiện tượng luật sư đánh luật sư rất khó lòng xảy ra. Nhất là đánh luật sư để bảo vệ chế độ độc tài tham ô. Vì vậy muốn tạo ra trận đồ luật sư đánh luật sư CSVN đã bổ nhiệm ba người , một chủ tịch và hai phó chủ tịch, vào ban lãnh đạo tối cao liên đoàn luật sư Việt Nam. Ba người này là Lê Thúc Anh, chủ tịch; Trần Đại Hưng và Nguyễn Văn Thảo phó chủ tịch. Cả ba không phải là luật sư thực sự, cả ba chưa hề hành nghề luật sư, không có kiến thức và tâm lý luật sư. Như vậy, cả ba sẳn sàng khoác áo luật sư để đánh luật sư theo lệnh của Hà Nội.
Theo dõi những lời qua tiếng lại giữa Đoàn Luật Sư Saigon và Hội Đồng Lâm Thời Luật Sư Toàn Quốc công luận mới hiểu được lý do thầm kín dẫn tới sự việc Đoàn Luật Sư Saigon ly khai với Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam. Ly khai trong trường hợp này chính là nổ lực biến Đoàn Luật Sư Saigon thành một đơn vị mẫu mực của xã hội dân sự. Mặt khác không riêng gì Đoàn Luật Sư Saigon mà còn rất nhiều tổ chức xã hội khác: báo chí, tôn giáo, văn nghệ, thể dục thể thao , hướng đạo, võ thuật v.v…tất cả đều mong muốn được thành hình và phát triển theo đúng phẩm chất của xã hội dân sự. Xã hội dân sự là xã hội do người dân tự quản. Xã hội dân sự vừa là môi trường của tự do dân chủ, vừa là công cụ có năng lực tước bỏ một cách nhẹ nhàng nhưng rất hữu hiệu mọi dự mưu bành trướng của các phe phái độc tài áp bức./. Đỗ Thái Nhiên
| | | |
| | | VẤN ĐỀ HÒA HỢP VÀ HÒA GIẢI
Bài 4/4 by: • Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
IV. Cần Phải Xác Định Vấn Đề 1. Xác Định Chữ Dùng
Trước hết xin nói qua về cách dùng chữ thường thấy của người VN mình. Người quốc gia kể cả những nhà hoạt động chính trị và người Mỹ nữa, thường rất hời hợt trong việc xử dụng chữ nghĩa, dù là trong trường hợp tự chứng minh chính mình (self identify). Đây là chuyện rất quan trọng. Chúng ta thường chê VGCS ít học, nhưng thực ra chúng rất tinh tường trong vấn đề dùng chữ. Để ý xem. Xưa nay VGCS luôn luôn gọi chính quyền miền Nam là “Nhà Cầm Quyền Saigon”, chứ không bao giờ nói “Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa”. Chúng gọi “Quân Đội Saigon” thay vì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và ngay như người Mỹ để giản tiện trong cách trao đổi, họ cũng thường nói “The Government Troups” chứ rất ít khi nói đầy đủ danh xưng của nó là “The Republic of VN Armed Forces”. Và còn rất nhiều như thế nữa ….. Cũng vậy, các chánh khách, nhất là các nhà báo của ta xưa nay thường sử dụng tưới xượi bất kể chữ nghĩa gì. Sự buông thả lời ăn tiếng nói này là tính hời hợt cố hữu của người quốc gia và là sự cố tình của VGCS muốn xóa đi cái căn cước nhân dạng (identity) của Việt Nam Cộng Hòa và của từng người dân của đất nước này. Bây giờ cũng không khác xưa là mấy, chỉ có người tỵ nạn tại hải ngoại mới đặt ra vấn đề và gọi nó là HHHG. VGCS và báo chí trong nước của chúng không bao giờ nói đến mấy chữ đó. Bao hàm trong ý nghĩa gần như thế, chính thức bọn lãnh đạo Hànội chỉ kêu gọi xóa bỏ hận thù, khép lại quá khứ, hướng về tương lai v.v. Những chữ HHHG là do cộng sản miền Bắc đẻ ra cho nhóm người tự gọi là Thành Phần Thứ 3 tại miền Nam xài trong thời chiến tranh. Bẵng đi một thời gian. Mấy lúc gần đây lại thấy nó xuất hiện tại hải ngoại. Có một lần hồi mấy năm về trước, Võ Văn Kiệt sau khi đã không còn làm thủ tướng nữa mới hô hào nhà nước của y cũng nên đặt ra vấn đề hòa hợp với những người thuộc chế độ cũ để họ có cơ hội góp phần vào công việc xây dựng và phát triển đất nước. Kiệt chỉ nói hòa hợp chứ không nói hòa giải, nói người của chế độ cũ chứ không nói quân nhân công chức VNCH. Rõ ràng là VGCS vẫn còn đội cái mũ “ngụy quyền” trên đầu chính phủ VHCH đã đi vào lịch sử và vẫn tròng một chữ “ngụy” vào cổ của tất cả mọi người dân miền Nam. Như thế thì làm sao mà HHHG? Người miền Nam có thua trận nhưng không thể mất danh dự. VGCS đã không chủ trương và cũng không đặt ra vấn đề hòa giải với người Việt miền Nam, nhất là với đồng bào tỵ nạn tại hải ngoại. Thay vào đó, bộ máy tuyên truyền của đảng VGCS chỉ mập mờ đánh trống thổi kèn rùm beng một số xảo ngữ ru ngủ như xoá bỏ hận thù, quên đi quá khứ, hướng về tương lai, xóa ngăn cách v.v., rồi được bọn truyền thông lưu manh, mấy cái ống loa nối dài của CS tại hải ngoại phụ họa như những con vẹt. Điều đó cho thấy CS không hề có một chút thực tâm nào trong việc hoà giải, mà chỉ là trò bịp nhắm mục đích chiêu dụ người tỵ nạn đầu hàng mà thôi. Tự đặt ra chuyện HHHG với CS một cách đơn phương, những người chủ trương đã tự lừa dối mình và lừa dối người khác một cách trơ trẽn và lố bịch. VGCS xem ra cũng chẳng mặn mà gì, nhưng trong bụng chắc chúng cười khinh bỉ.
2. Xác Định Liên Hệ
Nói HHHG là nói cho suông miệng. Thật ra nó bao gồm hai tiến trình trước sau riêng biệt. Cả hai liên hệ nhân quả với nhau. Phải hoà giải trước đã rồi mới hoà hợp được. Không thể nào có hoà hợp được trong khi sự chia rẽ và bất hoà chưa bị tiêu trừ. Hoà giải là giải quyết sự bất hoà giữa hai hay nhiều đối tượng của bất hoà. Còn hoà hợp đơn giản chỉ là sự chung sống nhịp nhàng và hài hòa giũa con người với nhau. Nếu nói rằng có hoà hợp là đã có hoà giải rồi, và ngược lại, có hoà giải là tất có hoà hợp thì thật là hồ đồ và thiển cận. Đành rằng hoà giải dễ đưa đến sự hoà hợp, nhưng rất nhiều trường hợp có hoà hợp mà không hề có hoà giải, đặc biệt là trong lãnh vực chính tri. Chính phủ Liên Hiệp năm 1946 là một điển hình hoà hợp nhưng không hoà giải. Câu thường nói “tiểu nhân đồng nhi bất hòa” chỉ vào trường hợp này. Như trên vừa nói, chữ hòa giải có nghĩa là bỏ đi những chia rẽ, xung đột. Vậy nếu VGCS chịu ngồi xuống nói chuyện hòa giải với người quốc gia thì đó có nghĩa là chúng đã chịu bỏ đi những hiềm khích ngày trước, và chịu chấp nhận đa nguyên đa đảng. Hiện nay chưa có chỉ dấu nào cho thấy VGCS chịu nghiêm chỉnh chấp nhận làm chuyên đó. Lịch sử Dân Tộc từ thời lập quốc đến nay, chưa bao giờ xẩy ra sự bất hoà trầm trọng nào giữa các thành phần dân chúng, bất kể là bất hòa về chính kiến, tôn giáo hay chủng tộc. Thời phong kiến, khi đất nước gặp phải một ông vua hôn quân và triều đình thối nát thì dân chúng bất bình nổi lên làm loạn. Ngày nay, tình trạng bất bình xẩy ra giữa nhà cầm quyền và dân chúng, hoặc giữa các đảng phái với nhau. Tuyệt nhiên không có sự bất hòa giữa người dân với người dân. Duy nhất một trường hợp hãn hữu có thể trở thành sự thật là có nhiều người lo ngại hiện nay đang âm ỉ một tình trạng xung đột giữa các thành phần dân chúng tại miền Nam. Vấn đề này là do chính sách di dân vô tổ chức của đảng VGCS gây ra. Sau ngày 30-4-75, để đề phòng sự nổi dậy của người miền Nam, CS ào ạt đưa cán bộ, đồng thời thả lỏng cho dân chúng miền Bắc di cư vào Nam không có một kế hoạch nào cả. Lớp di cư 75 (tiếng miền Nam) này, cán bộ cũng như dân, như một đàn chó đói, vừa thiếu ăn, lại giỏi lăn lộn xông xáo nên chỉ trong một thời gian ngắn đã chiếm gần hết những nguồn lợi kinh tế của miền Nam. Sự thực này đã đưa đến sự bất mãn không tránh khỏi trong dân chúng tại miền Nam, và là đầu giây mối nhợ gây nên làn sóng dân oan hiện nay. VC chiếm miền Nam thực tế không phải là một cuộc giải phóng, mà là một cuộc xâm lăng hoàn toàn đúng nghĩa. Cán bộ CS vào miền Nam là những ông quan thực dân tân thời. Cái gì thích thì chiếm đoạt, kể cả đàn bà con gái, mà cái thích của bọn người này thì vô cùng tận. Đây là chính sách rất thâm độc của bọn đầu lãnh ngoài Hànội. Sự thể cho thấy đảng CS chính là nguyên nhân gây ra mối bất hoà giữa các tầng lớp dân chúng VN. Sự cai trị độc tài, độc đoán của đảng CS dựa trên một mớ lý thuyết phi dân tộc là nguồn gốc gây ra mọi tranh chấp, mọi thảm họa của đất nước, đưa quốc gia đến tình trạng lạc hậu, thoái hoá, bất công và mất tự do như hiện nay. Như thế đặt cho đúng vấn đề HHHG là phải nói hoà giải giữa nhân dân VN và đảng CSVN với khoảng gần 3 triệu đảng viên, chứ tuyệt nhiên không phải giữa người dân với nhau. Thật là sai lầm nếu nói hoà giải dân tộc theo ý nghĩa là hoà giải giữa các thành phần dân chúng bị CS cai trị. Những thành phần dân tộc này giữa họ với nhau không hề làm gì có chuyện bất hoà để phải kêu gọi họ hoà giải. Do đó, đặt ra vấn đề Hòa Giải Dân Tộc là không hợp lý. Chữ Dân Tộc đi theo sau nhóm từ HHHG là không cần thiết. Đành rằng cần phải có sự hoà giải giữa các thành phần dân tộc thì công việc xây dựng và phát triển đất nước mới thành công được. Vấn đề HHHG thực sự cần thiết, nhưng ai là người có trách nhiệm phải đặt ra vấn đề HHHG? Hiện nay CS là một đảng cầm quyền và độc bá quyền lực nên việc HHHG phải do đảng CS đặt ra mới đúng. Vả lại như trên đã nói, đảng CS là nguyên nhân gây ra những mối bất hoà trong dân chúng, nên đảng CS mới thật sự là người có bổn phận xin hòa giải và xin lỗi với toàn dân. Người dân bị trị xin hoà giải với chánh quyền đang cai trị mình là một điều thậm phi lý. Họ có làm gì sai quấy hay xúc phạm đến nhà cầm quyền đâu mà phải cầu hòa và xin tha thứ. Nếu đảng CS muốn hoà giải thực sự thì điều kiện cần thiết là họ phải thành tâm. Không thể vừa nói quên đi quá khứ vừa ban hành Nghị Quyết 36. Đó la lưu manh bịp bợm. VGCS cũng không được giải tư Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa và giao cho vài ba tư nhân muốn làm gì thì làm. Làm như thế cũng chỉ là bịp bợm. Nghĩa Trang này vừa là tài sản quốc gia, vừa là di tích lịch sử. Nó phải được tôn trọng. Nếu VGCS thực tâm muốn hòa giải với những người đã cầm súng chống lại mình, thì chúng phải giữ nguyên trạng Nghĩa Trang này, và bảo quản cho tử tế, hoặc giao lại cho các đoàn thể, tổ chức cựu quân nhân QLVNCH để tỏ ra thiện chí. VGCS vừa hô hào xoá bỏ thù hận, vừa đốc xúi chánh phủ Mã Lai và Indonesia phá bỏ đài kỷ niệm vượt biên. Đây rõ ràng là gây thêm thù hận. Đảng CS phải ý thức rõ điều đó. Khẳng định là nếu không có thành tâm hòa giải, cho dù có đạt được một hình thức hòa hợp nào đó, kết quả cũng chỉ là đám bọt xà phòng trong không khí. 3. Xác Định Chính Mình Mấy chữ HHHG xuất hiện tại miền Nam với nhóm người tự xưng là thành phần thứ 3 khi cuộc chiến tới giai đoàn quyết liệt. Cũng vì nghe mấy chữ này êm tai quá nên Chính Quyền Hoa Kỳ, để rút lui mà không bị mất thể diện, đã thúc đấy Chính Phủ VNCH chấp nhận một chính phủ 3 thành phần gồm VNCH, VC (Mặt Trận Giải Phóng) và thành phần thứ 3. Cũng vì ham HHHG quá nên Dương Văn Minh nhất quyết phải làm tổng thống để đầu hàng VGCS. Các bên lâm chiến tại VN họp Hòa Đàm tại Ba Lê để giải quyết chiến tranh là khởi đầu một tiến trình hòa giải. Ba năm trời họp bàn là thời gian để người ta ngồi cãi nhau, phần lớn đều là những chuyện tầm phào, trong khi ngoài chiến trường súng vẫn nổ, người vẫn chết. Yếu tố quyết định hòa đàm không nằm trên bàn hội nghị, mà nằm ngoài chiến trường tại VN và trên các đường phố của nước Mỹ. Sự thể cho thấy trong chính trị, sự hòa giải không đem đến từ hảo tâm, từ lòng trắc ẩn hay nhân đạo của con người, và cũng không phát xuất từ sự tử tế của bất cứ ai, mà chỉ là chuyện mặc cả, đổi chác theo nguyên lý mạnh được yếu thua. Khổ lụy con người và chết chóc là cái giá để bọn người được đặc quyền sống và quyền thụ hưởng trao đổi với nhau. Hiện nay, các nhà chính trị, các đảng phái ở hải ngoai muốn HHHG với VGCS để trở về xây dựng đất nước. Lý tưởng đấy. Nhưng họ có cái gì để trả giá với VGCS? Lòng yêu nước chăng? Đối vói VGCS chỉ là thứ đồ bỏ. Tình đồng bào chăng? Đó là thứ hàng xa xỉ. Hay mượn oai hùm của người Mỹ? Cũng không phải là cái gì quí báu. Thật sư thì món đồ này VGCS càng không thiếu. Sự ủng hộ của quần chúng cũng không. Tiền bạc thì kể như tay trắng. Rõ ràng là các đảng phái chính trị ở đây chẳng có cái gì làm giá để mà thương lượng hòa giải với CS. Muốn ép lại không có lực. Kêu gọi suông, VGCS nghe sao? Các lãnh tụ chính trị của chúng ta ngày trước đã không tiên đoán ra rằng vũ khí chống cộng hữu hiệu nhất là đồng tiền và sự đoàn kết trong cộng đồng chứ không phải khẩu súng. Ba mươi năm về trước, tập thể người Việt tỵ nạn đầu tiên có được hai lợi thế. Thứ nhất đa số họ là thành phần ưu tú nhất của đất nước. Thứ hai, đồng bào rất đoàn kết, khí thế cao, nhiệt huyết có thừa. Tập thể này chỉ thiếu một lãnh tụ thực tâm yêu nước, mưu lược và có viễn kiến. Vào lúc đó chỉ có ông Hoàng Cơ Minh đứng lên phất ngọn cờ lãnh đạo. Nhưng thay vì lãnh đạo, sự bất tài, thiển cận và độc đoán của ông đã làm thui chột đi những mầm non có năng khiếu về sau. Thay vì khua chiêng đánh trống tổ chức kháng chiến bịp, ông ta nên qui tụ đồng bào, đề ra một chương trình khuyến học qui mô trong cộng đồng vừa để đào tạo nhân tài cho tương lai, vừa hun đúc lòng yêu nước cho các thế hệ sau này. Thay vì thu tiền lập chiến khu ma, ông cần đề ra kế hoạch đóng góp để mỗi trung tâm tỵ nạn xây cất lấy một ngôi đình làng làm nơi sinh hoạt chung cho cộng đồng để tạo tinh thần đoàn kết. Khi người Mỹ còn đang bị choáng váng vì cuộc thất trận, họ rất quan tâm đến vấn đề tỵ nạn và sẵn sàng giúp đỡ chúng ta. Thay vì xua lũ âm binh đông tiến, ông phải nghĩ đến việc vận động thúc đẩy Quốc Hội Mỹ ban hành luật cấm người tỵ nạn du lịch và gởi tiền về VN, phát động một cuộc embargo và boycott nội bộ trong cộng đồng đối với VGCS khi chúng bắt đầu thi hành chính sách mở cửa. Nếu chận được 5 tỷ dollars tiền viện trợ không bồi hoàn của người tỵ nạn đổ vào VN hàng năm (chưa kể số tiền khổng lồ không đếm được người tỵ nạm đem về xài khi về du lịch), và nếu làm được cho hàng tỷ bạc hàng xuất khẩu của VGCS phải đổ đi, thì ai xin HHHG với ai sẽ biết. Làm được như thế thì trước hết cán bộ CS nằm vùng sẽ không thể ngóc đầu lên nổi để quấy phá. Thứ hai, cái thế HHHG sẽ đổi chiều, nghĩa là VGCS cầu được hòa giải với người tỵ nạn hơn là người tỵ nạn phải xin hòa giải với VGCS. Thực tế trước mắt cho thấy chính quyền tại lục địa phải ve vãn lấy lòng người Tầu tứ xứ, mà không có chuyện người Trung Hoa tại hải ngoại phải qụy lụy bọn lãnh đạo Trung Nam Hải. Lý do một phần là vì cộng đồng người Trung Hoa có nhiều tiền bạc. Đặc biệt là các cộng đồng này gắn bó với nhau và đoàn kết hơn ta rất nhiều. Cái chúng ta còn có thể làm được lúc này là những người cương quyết chống cộng, còn ai hay người đó ngồi lại với nhau thành một tập thể có tổ chức và có lãnh đạo, cùng chung chí hướng và cùng chung hành động. Nếu không làm được như thế thì lịch sử ngày 30-4-1975 sẽ lại tái diễn là điều có thể tiên đoán trước được. 4. Cuối Cùng: Xác Định Phương Hướng Có lẽ các nhà đấu tranh cho dân chủ tại VN và các đảng phái chính trị người Việt nên học hỏi người Mỹ cách họ giải quyết cuộc nội chiến (Civil War) của nước Mỹ để mà tìm ra phương thức áp dụng trong vấn đề bế tắc hiện nay của đất nước. Từ đầu thập niên 1850, chính trường nước Mỹ luôn luôn cãi cọ nhau ì xèo về việc các tiểu bang miền Nam bành trướng chế độ nô lN 79; vào các vùng đất sở hữu của Liên Bang. Sự tranh cãi cuối cùng đưa đến việc ly khai của 7 tiểu bang miền Nam trước khi ông Abraham Lincoln của đảng Cộng Hòa nhậm chức Tổng Thống ngày 4-3-1861. Cuộc nội chiến hay còn gọi là chiến tranh Nam/ Bắc bắt đầu sau đó và kéo dài đúng 4 năm, từ tháng 9-1861 đến tháng 9-1865 khi đại tướng Robert Edward Lee của miền Nam chịu đầu hàng. Cuộc chiến đẫm máu nhất này của nước Mỹ làm thiệt mạng 620.000 binh sĩ, chưa kể thiệt hại về phía thường dân. Có những nét giống nhau rất đặc biệt trong cuộc Nội Chiến Mỹ và chiến tranh VN như: cả hai đều là cuộc đối đầu giữa hai miền Nam và Bắc của đất nước. Cả hai đều đánh nhau vì một nguyên nhân là tội ác. Một bên gây tội ác. Một bên chống lại tội ác đó. Tội ác trong cuộc Nội Chiến Mỹ là chế độ nô lệ. Còn tội ác trong chiến tranh VN là chế độ CS. Tôi kể chế độ VGCS là tội ác căn cứ trên kết luận của cuốn Sách Đen nói rằng CS là một thảm hoạ lớn nhất cho con người trong thế kỷ 20, và đựa vào Nghị Quyết của Quốc Hội Âu Châu lên án chủ nghĩa CS là tội ác chống nhân loại. Cũng có một điểm rất giống nhau về hình thức, nhưng lại hoàn toàn khác hẳn về mục đích. Cuộc chiến Nam-Bắc Mỹ thật sự là một cuộc nội chiến. Người dân Mỹ giữa hai miền Nam-Bắc xử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề của đất nước. Trong khi tại VN, bọn VGCS thi hành một cuộc chiến ủy nhiệm. Nói rõ hơn là VGCS theo chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế CS gây chiến nhằm tiêu diệt người Quốc Gia để thôn tính lãnh thổ cho đế quốc Liên Sô. Còn về điểm khác biệt giữa hai cuộc chiến, như chúng ta thấy, đó chính là hệ quả tạo ra từ mỗi cuộc chiến tranh. Cuộc Nội Chiến của nước Mỹ cụ thể đã đem lại liên tiếp 3 Tu Chính quan trọng cho Hiến Pháp của Hoa Kỳ. Thứ nhất là Tu Chính thứ 13 bãi bỏ chế độ nô lệ trong cả nước. Thứ hai, Tu Chính 14 công nhận quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi công dân. Và thứ ba, Tu Chính 15 bãi bỏ việc hạn chế đầu phiếu theo sắc tộc. Nói khác đi là xác lập quyền đầu phiếu cho mọi công dân không phân biệt mầu da. Sau cuộc chiến, trên bình diện pháp lý, mọi công dân Mỹ không phân biệt đen, trắng, đều được chung hưởng tự do dân chủ và quyền bình đẳng trước pháp luật. Đây là nền tảng pháp lý vững chắc cho việc phát triển một nước Mỹ giầu mạnh và văn minh như chúng ta thấy ngày nay. Chế độ nô lệ bị coi là một tội ác vì nó xúc phạm nhân vị con người. Cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ là một cuộc chiến tranh chống tội ác và đã thắng lợi. Kết luận về cuộc Nội Chiến của nước Mỹ, TT Abraham Lincoln nói: Civil War brought to America a new birth of freedom (cuộc nội chiến đã khai sanh ra một nền tự do mới cho nước Mỹ). Cuộc chiến tranh VN diễn ra như thế nào tôi xin khỏi trình bầy ở đây. Còn như những hậu quả của chiến tranh VN thì xin không nói nhiều, chỉ cần thu tóm trong mấy chữ thôi là đủ: tù đầy, hoàn toàn đổ nát, và không phải là thiếu chết chóc. Tôi muốn nhấn mạnh đến những sự sụp đổ về mặt tâm lý và tình cảm con người, về truyền thống lễ giáo và văn hóa dân tộc, về nền giáo dục gia đình và phong tục tập quán xã hội. Ai không tin xin cứ về (hay đến) ở VN một ít ngày thôi là sẽ thấy. Những nét đẹp quê hương này đã mất đi và chắc chắn không bao giờ có thể tìm lại được nữa. Chỉ có nền kinh tế xem ra có phần phục hồi lại được chút ít, nhưng lại gây ra khoảng cách giầu nghèo quá chênh lệnh tạo nên tình trạng bất ổn xã hội thường trực, ảnh hưởng không ít đến việc phát triển đất nước và hạnh phúc của người dân. Thử đọc một trích đoạn ngắn mô tả về tình hình kinh tế tại VN hiện nay của Tiến sĩ Trần Minh Hoàng để biết: “Không thoát khỏi qui luật, nền kinh tế của Việt Nam với những biến động nhanh chóng và dồn dập thời gian gần đây, chỉ trong vòng 1 tháng, nhất là sau tết Mậu Tý. Từ việc giá cả tăng cao đột biến, với mức giá tiêu dùng sinh hoạt của chợ búa, thịt cá rau cải ... tăng trung bình là 50% ; giá bất động sản nhà đất tăng gấp 3 lần ( có nơi lên đến 7.000 USD/m2 sàn sử dụng ), giá vàng lên cao trên 18 triệu 200 ngàn/ lượng. Lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng lên đến mức chóng mặt từ hơn 10% năm đã lên đến trên 40% năm”(Ts Trần Minh Hoàng: 2008 khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng chính trị ở Việt Nam). Với mức phát triển kinh tế trung bình 8.5%, trong khi mọi thứ trên thị trường tăng từ 10% đến 50%, thử hỏi kinh tế VN là cái gì, đi lên hay đi xuống? Trong tình trạng đó, các đảng viên, các chủ xí nghiệp sản xuất, các nhà buôn, các người cung cấp dịch vụ đâu có thiệt hại gì. Tất cả hậu quả đều đổ lên đầu người tiêu thụ. Đồng tiền từ hầu bao người nghèo vẫn ào ào chẩy vào túi những người giầu có. Sự chênh lệch giầu nghèo càng ngày càng kéo dài thêm ra. Theo thống kê của Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc ngày 27-8-2007 thì 20% dân số các gia đình giầu có được hưởng 40% các phúc lợi xã hội, trong khi 20% người nghèo nhất chỉ nhận được 7%. Một báo cáo khác cho biết 20% người giầu có nhất hưởng 47% các khoản trợ cấp, trong lúc đó chỉ có 2% những người cùng khổ nhận được. Thêm vào đó 20% những người giầu có nhất so với 15% những người nghèo khó nhất được hưởng các trợ giúp sức khỏe. Báo The Economist thống kê lợi tức đầu người VN là 555 USD năm 2007. Con số này nếu là đáng tin tưởng thì cũng nên hiểu cho đúng với thực tế của tình hình VN. Giới giầu có ước tính là khoảng từ 3 – 5% với lợi tức hàng chục triệu USD, trong khi 95% người nghèo chỉ kiếm được trung bình 1 dollar/ngày. Tóm lại một số rất ít người giầu thì cực giầu, còn lại đại đa số nghèo thì cực nghèo. Một người bạn mới từ VN trở về Mỹ, anh ta làm một cuộc khảo sát bỏ túi khá sâu rộng trên khắp cả ba miền VN bằng mắt thấy tai nghe đã đưa ra một kết luận như sau: có đến 75% dân chúng VN từ nghèo đến nghèo mạt rệp (tức cùng cực). Trên 20% từ đủ ăn đến khá giả (có chút đỉnh dư ra). Khoảng 3% còn lại gồm đại đa số đảng viên, thân nhân của họ, và những thành phần móc ngoặc làm ăn với cán bộ là thành phần giầu có, từ triệu phú đến tỷ phú dollar. Sự mất quân bình xã hội này những người dễ tính nhất cũng không thể chịu đựng nổi. Như vậy kinh tế VN quả có đi lên và bay lên theo nhịp độ thần tốc với một nhóm nhỏ rất ít, nhưng lại đi xuống, tuột dốc không phanh (thắng) với đại đa số quần chúng. Đó là kết luận đúng nhất về tình hình phát triển kinh tế và xã hội VN. Nhìn vào các hệ quả của hai cuộc chiến tranh cách nhau đúng một thế kỷ tại Hoa Kỳ trước kia và tại VN gần đây, luận theo đạo lý đông phương thì chỉ khi cái thiện tiêu diệt được cái ác, thành sự mới tốt đẹp và tương lai mới tươi sáng. Ngược lại, khi cái thiện bị cái ác tiêu diệt, sự dữ sẽ lan tràn. Cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ cho chúng ta một kết luận là để xây dựng và phát triển một đất nước, điều kiện tiên quyết là phải tiêu diệt sạch mầm mống của tội ác phản lại con người trên đất nước đó. Kinh nghiệm của nước Mỹ phải là điều xác định ưu tiên hàng đầu nếu nhân dân VN muốn nói đến vấn đề HHHG hay chung sống đa đảng với CS trên đất nước mình. Kết Luận Đã nói đến chuyện hòa giải tức là phải nhìn nhận rằng cuộc xung đột vẫn còn tồn tại. Nếu quan niệm rằng cuộc chiến VN chưa kết thúc, mà mới chỉ chấm dứt một giai đoạn thì vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải làm thế nào để kết thúc nó. Tiêu diệt hoàn toàn tội ác CS tức xóa bỏ hẳn chủ nghĩa CS, hay hòa giải và hòa hợp với nó để cùng tồn tại? Trở lại với vấn đề của nước Mỹ, một trăm năm trước, nếu hai miền Nam Bắc Hoa Kỳ thỏa hiệp để cho chế độ nô lệ tồn tại thì thử hỏi nước Mỹ có còn được là nước Mỹ ngày nay không? Chúng ta không thể hình dung ra được cái nó không xẩy ra, nhưng có một điều chắc chắn có thể tin được dù nó không xẩy ra, là nước Mỹ sẽ là một quốc gia lạc hậu và tệ hại nhất về mặt dân chủ và nhân quyền trên hành tinh này. Đó là điều khẳng định không thể nghi ngờ. Câu hỏi chúng tôi muốn gởi đến quí độc giả là HHHG hay dân chủ đa đảng cùng với sự có mặt của đảng CS với đầy đủ nanh vuốt tội ác của nó có phải là phương thức tốt nhất để giải quyết vấn đề của đất nước không? Tháng 4 năm 2008 Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
|
|
QUỐC HỘI ÂU CHÂU TẨY CHAY BẮC KINH
Quốc Hội Âu Châu Bỏ Phiếu Tẩy Chay Thế Vận Hội Bắc Kinh
http://www.sbtn.net - Apr 11, 2008
Tin Brussels - Quốc Hội Âu châu ngày hôm qua đã thông qua với đa số tuyệt đối, một nghị quyết về Tây Tạng và kêu gọi các lãnh tụ thế giới tẩy chay buổi lễ khai mạc Thế Vận Hội, nếu chính phủ Trung cộng không chịu ngồi lại để thương thuyết với người lãnh đạo Giáo hội Phật Giáo Tây Tạng và cũng là quốc vương của quốc gia này là đức Ðạt Lai Lạt Ma.
Nghị quyết không có giá trị bắt buộc nhưng cũng là một áp lực lên các lãnh tụ Liên Hiệp Âu Châu để có một thái độ mạnh mẽ hơn trước những vụ biểu tình chống đối khắp nơi về sự đàn áp của Trung cộng đối với Tây Tạng, và gây khó khăn cho Bắc Kinh là một quốc gia buôn bán lớn nhất đối với toàn cõi Âu châu. Nghị quyết này được sự ủng hộ của những tổ chức chính đảng trong Quốc Hội Âu châu, đã được bày tỏ qua kết quả là 580 phiếu thuận, chỉ có 24 phiếu chống và 54 phiếu trắng. Chủ tịch Quốc Hội là ông Hans-Gert Poettering, một người bạn thân cận với nữ Thủ tướng Ðức Angela Merkel, nói rằng vào tháng trước đáng lý ra Âu châu đã phải xét lại việc tẩy chay hoàn toàn buổi lễ khai mạc Thế Vận Hội, và mời đức Ðạt Lai Lạt Ma đến nói chuyện trước Quốc Hội. Phó Chủ tịch tổ chức này là ông Edward McMillan-Scott, một trong những người soạn thảo bản nghị quyết, đã tỏ ra vui mừng trước kết quả cuộc bỏ phiếu, và nói việc này sẽ đưa tới những áp lực đối với các chính trị gia tại Âu châu. Ông nói không chỉ những hình ảnh tàn nhẫn tại Tây Tạng và phong cách mà Trung cộng đã đối xử với người dân Tây Tạng trong nhiều năm qua, nhưng việc này còn đi xa hơn nữa đến những vấn đề như Darfur, Miến Ðiện, Việt Nam, và ngay cả tại Trung cộng là nơi người ta được biết hiện đang có khoảng 7 triệu người đang bị cầm giữ trong các trại cải tạo. Ông nhấn mạnh đây là một hệ thống đàn áp gần như không thể so sánh trong lịch sử thế giới. Và khi Thế Vận Hội được trao cho Trung cộng tổ chức vào năm 2001, ai cũng mong là sẽ thấy được những thay đổi từ quốc gia này, khi các lãnh tụ hứa hẹn là họ sẽ thay đổi. Thế nhưng họ đã không giữ lời hứa, và nay các chính trị gia trên thế giới đã tỉnh mộng trước những lời hứa hão huyền này.
Cho đến nay chủ tịch luân phiên Quốc Hội Âu châu là Slovenia và các viên chức cao cấp của Liên Âu đã lên án những hành động bạo động tại Tây Tạng, và kêu gọi Bắc Kinh hãy mở những cuộc đàm phán với nhân vật lãnh đạo Giáo hội Phật Giáo Tây Tạng, nhưng đã ngưng lại trước khi tuyên bố tẩy chay toàn bộ Thế Vận Hội. Văn phòng Thủ tướng Anh quốc là ông Gordon Brown hôm thứ tư tuyên bố ông sẽ không tham dự lễ khai mạc Thế Vận Hội, nhưng nhấn mạnh rằng đây không phải là một hành động chính trị vì ông Brown sẽ có mặt trong buổi lễ bế mạc, khi Trung cộng sẽ trao đuốc và cờ Thế Vận cho Anh quốc là nơi sẽ tổ chức Thế Vận Hội kế tiếp vào năm 2012.
Tổng thống Pháp là ông Nicolas Sarkozy, là quốc gia sẽ giữ chức chủ tịch luân phiên của Liên Âu khi Thế Vận Hội diễn ra vào tháng 8, cũng từng tuyên bố việc ông có tham dự lễ khai mạc Thế Vận hay không tùy vào việc Trung cộng có ngồi lại với đức Ðạt Lai Lạt Ma hay không.
Ông Graham Watson, Chủ tịch nhóm Tiến Bộ tại Quốc Hội Âu châu, nói ông hy vọng nghị quyết này sẽ làm cho chính phủ Trung cộng phải suy nghĩ lại về những ý kiến trên toàn thế giới. Ðây là một nghị quyết có tính cách đóng góp vào cộng đồng thế giới, và là một thông điệp mạnh mẽ trong thời gian này. Theo ông thì những người Trung Hoa nay đang hối hận vì đã đứng ra tổ chức Thế Vận Hội, trước khi họ sẵn sàng để thay đổi hệ thống chính trị ở quốc gia của mình.
Quốc Hội Âu châu được bầu trực tiếp bởi người dân và không có quyền can dự vào đường lối đối ngoại của những quốc gia thành viên, nhưng là nơi bày tỏ ý kiến của công chúng và đưa ra những áp lực về chính trị với các quốc gia trong toàn khối Âu châu. Quyết định cuối cùng của khối 27 quốc gia này sẽ nằm trong tay của Hội đồng Âu châu, sẽ họp vào tháng tới. | | |
| | | HỘI ĐỒNG ÂU CHÂU/ Nghị Viện Quốc Hội Nhu cầu kết án quốc tế về những tội phạm của những chế độ cộng sản toàn trị
NGHỊ QUYẾT 1481 (Năm 2006)
1. Nghị Viện Quốc Hội tham chiếu Nghị Quyết 1096 (Năm 1996) của mình về những biện pháp tháo bỏ cái di sản của những hệ thống cộng sản toàn trị đã qua.
2. Những chế độ cộng sản toàn trị đã cai trị ở Trung và Đông Aâu-châu trong thế kỷ vừa qua, và những chế độ ấy vẫn còn nắm quyền tại một số nước trên thế giới, hết thảy các chế độ ấy, không có ngoại lệ, đã bị xếp loại vào đặc tính là mang những vi phạm tập thể về nhân quyền. Những vi phạm này đã có những khía cạnh khác nhau tùy thuộc vào nền văn hóa, vào quốc gia và vào giai đoạn lịch sử, và những vi phạm này đã bao gồm những vụ ám sát và xử tử cá nhân hay tập thể, bao gồm việc chết chóc trong các trại tập trung, bao gồm việc bỏ đói, lưu đầy, tra tấn, lao động nô dịch và bao gồm những hình thức khác như khủng bố thể xác hàng loạt, như bách hại dựa theo tiêu chuẩn chủng tộc hay tôn giáo, như vi phạm vào tự do của lương tâm, của tư tưởng và phát biểu, vi phạm vào tự do báo chí, và cũng như thiếu đa dạng chính trị.
3. Các tội ác đã được biện bạch nhân danh lý thuyết đấu tranh giai cấp và nhân danh nguyên tắc độc tài của giai cấp vô sản. Sự giải thích của hai nguyên tắc ấy đã hợp thức hóa việc “trừ khử“ những người bị xem là nguy hại tới việc xây dựng một xã hội mới và, như thế, những người này bị coi là những kẻ thù của các chế độ cộng sản toàn trị. Con số lớn rộng những nạn nhân trong mỗi quốc gia liên hệ đã là công dân thuộc chính quốc gia ấy. Đặc biệt đó là trường hợp của các dân tộc thuộc cựu Liên bang Xô Viết, vốn vượt rất xa các dân tộc khác về con số nạn nhân.
4. Nghị viện thừa nhận rằng, mặc dù các tội ác của các chế độ toàn trị, vài đảng cộng sản Aâu-châu cũng đã có những đóng góp vào việc đạt tới nền dân chủ. 5. Sự sụp đổ của các chế độ cộng sản toàn trị tại Trung và Đông Aâu-châu đã không được tiếp nối theo, trong mọi trường hợp, bởi một cuộc điều tra quốc tế về những tội ác vi phạm bởi các chế độ này. Hơn thế nữa, những thủ phạm gây ra tội ác đã không bị mang ra tòa xử án bởi cộng đồng quốc tế giống như trường hợp các tội ác khủng khiếp vi phạm bởi chế độ Quốc Xã đã bị mang ra xử.
6. Bởi thế, việc cảnh giác quần chúng về các tội ác vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị thực là rất được ít ỏi thực hiện. Đảng cộng sản còn hợp pháp và còn hoạt động tại một số quốc gia, ngay cả trong một số trường hợp chính những đảng này đã không xa ra cho lắm (rất gần) những tội ác vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị trong quá khứ.
7. Nghị viện xác tín rằng việc cảnh giác Lịch sử là một trong những tiền điều kiện để tránh những tội ác tương tự trong tương lai. Hơn thế nữa, việc thẩm định luân lý và việc kết án những tội ác đã vi phạm giữ một vai trò quan trọng việc giáo dục các thế hệ trẻ. Quan điểm minh bạch của cộng đồng quốc tế về quá khứ có thể là một điểm tham chiếu cho những hành động tương lai của họ.
8. Ngoài ra, Nghị viện tin rằng những nạn nhân của các tội ác vi phạm bởi những chế độ cộng sản toàn trị, mà những nạn nhân này còn đang sống hay gia đình của họ, đều xứng đáng nhận lòng trìu mến, sự thông cảm và sự thừa nhận về những nỗi thống khổ của họ. 9. Những chế độ cộng sản toàn trị còn hoạt động trong một số quốc gia trên thế giới và những tội ác còn tiếp tục vi phạm. Những quan tâm về quyền lợi quốc gia chớ nên ngăn cản các quốc gia ấy phê phán thích đáng về các chế độ cộng sản toàn trị hiện tại. Nghị viện kết án mạnh mẽ tất cả những vi phạm đó về nhân quyền.
10. Các cuộc tranh luận và lên án mà cho tới nay vẫn được tiến hành ở bình diện quốc gia tại một số nước thành viên của Hội Đồng Aâu Châu không thể miễn trừ cho cộng đồng quốc tế trong việc lấy một vị trí minh bạch về các tội ác vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị. Cộng đồng quốc tế có bổn phận luân lý phải làm như vậy mà không được trì hoãn lâu hơn nữa.
11. Hội Đồng Aâu-Châu có vị trí tốt cho một cuộc tranh luận như vậy ở bình diện quốc tế. Tất cả các quốc gia cộng sản cũ Aâu-châu, ngoại trừ Belarus, ngày nay là thành viên của Hội Đồng và việc bảo vệ nhân quyền cũng như quy tắc luật pháp đều là những giá trị nền tảng mà Hội Đồng chủ trương.
12. Vì thế, Nghị viện Quốc Hội mạnh mẽ kết án những vi phạm tập thể về nhân quyền do các chế độ cộng sản toàn trị gây ra và bầy tỏ lòng trìu mến, sự thông cảm và thừa nhận đối với những nạn nhân của các tội ác này.
13. Hơn nữa, Nghị viện Quốc Hội kêu gọi tất cả các đảng cộng sản hay hậu cộng sản trong những nước thành viên mà cho đến nay đã chẳng làm như thế để tái thẩm định lịch sử chủ nghĩa cộng sản và quá khứ riêng của mình, hãy tự tách rời mình ra một cách rõ rệt khỏi những tội ác đã vi phạm bởi những chế độ cộng sản toàn trị và hãy kết án những tội ác ấy không chút mơ hồ nào cả.
14. Nghị viện tin tưởng rằng quan điểm minh bạch này của cộng đồng quốc tế sẽ dọn đường cho sự hòa giải tương lai. Hơn nữa, hy vọng Nghị viện sẽ khuyến khích các sử gia khắp thế giới tiếp tục công cuộc khảo cứu của họ nhắm mục đích xác định và kiểm chứng khách quan về những gì đã xẩy ra. =============
(1) Nghị viện tranh luận vào ngày 25.02.2006 (Phiên họp thứ 5)(xem Doc.10765, phúc trình của Uûy Ban Chính Trị Vụ,Người Phúc trình:Ông LINDBLAD). Văn bản được Nghị viện thông qua vào ngày 25.02.2006 (Phiên họp thứ 5).
|
| NGHỊ QUYẾT 243 CỦA HẠ VIỆN HOA KỲ
NGHỊ QUYẾT 243 CỦA HẠ VIỆN HOA KỲ VỚI ĐA SỐ TUYỆT ĐỐI 404 LÀ LỜI KHẲNG ĐỊNH HÙNG HỒN RẰNG NHỮNG PHIÊN TÒA Ở VIỆT NAM LÀ ĐỘC ĐOÁN XỬ NHỮNG NGƯỜI VÔ TỘI.
Nguyễn Phúc Liên
Chúng tôi hết lòng hoan nghênh NGHỊ QUYẾT 243 của HẠ VIỆN Hoa kỳ với số Phiếu thượng đẳng TUYỆT ĐỐI 404/0, nghĩa là mọi Dân Biểu không ai chấp nhận việc làm man rợ rừng rú của CSVN phản lại Nhân Quyền. Con số 404 trên số 0 (KHÔNG) có nghĩa là không một ai chấp nhận việc CSVN dùng sức mạnh khủng bố, đàn áp, bắt tù những người Dân đang đòi hỏi bất bạo động những Quyền Làm Người của mình. Đây là sự trả lời đồng nhất cho những Phiên Tòa man rợ của CSVN ngày 30.03.2007 tại Huế và ngày 11.05.2007 sắp tới tại Hà Nội của nguỵ quyền độc tài CSVN.
NGHỊ QUYẾT 243 với số Phiếu thượng thặng TUYỆT ĐỐI 404/0 chứng tỏ rằng những Dân Biểu đã quyết định theo Nhân Quyền, Tình Người, chứ không theo khuynh hướng khác biệt Chính trị mà đa số Hạ Viện lần này là đảng Dân Chủ. Chúng ta ca ngợi những Dân Biểu Dân Chủ đã gạt ra một bên sự khác biệt Chính trị của hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ để chỉ lấy tiêu chuẩn trọng yếu nhất là Tình Người và Nhân Quyền. Không thể vì tranh chấp quyền hành Chính trị mà bỏ quên cái trọng yếu của tất cả mọi chế độ Chính trị là phải tôn trọng Nhân Phẩm, Nhân Quyền.
Đây cũng là bài học cho ngụy quyền CSVN chỉ độc đoán hành xử theo Chính trị mà đè bẹp Nhân Quyền, chà đạp Nhân Phẩm, Tình Người và Tình Dân Tộc. CSVN đã dùng tiểu xảo mưu mẹo ra được CPC về Tôn Giáo, vào được WTO về Thương mại nhờ Hoa kỳ. Việc khủng bố, đàn áp, bắt tù tội ngày hôm nay của CSVN càng cho thấy rõ những mưu mẹo xảo trá tính toán lừa đảo người khác. Cái hậu quả sẽ vận lại chính mình cho những ai thiếu thành thực và xảo trá. NGHỊ QUYẾT 243 này là một hậu quả nhãn tiền và sẽ dán lên mặt Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng khi tới Washington tháng 6 này. Nó cũng cảnh cáo cho những ai, kể cả Giám mục, đang làm tay sai cho CSVN trong Nghị Quyết 36 lừa đảo muốn thuần hóa những đồng bào tỵ nạn tại Hải ngoại.
Nguyễn Phúc Liên
Theo một thông cáo báo chí của Hạ Viện Hoa Kỳ, thì Nghị quyết HRes. 243 do Dân Biểu Chris Smith của đảng Cộng Hòa soạn thảo và đưa ra đệ trình tại Hạ Viện, đã được thông qua ngày 2/5/07 với một tỷ số 404 phiếu thuận và không có phiếu chống (404-0).
Xét rằng ngày 18-02-2007, công an Việt Nam đã tiến hành khám xét nhà xứ của linh mục Nguyễn Văn Lý và đã tịch thu nhiều máy vi tính, điện thoại, hơn 100 card điện thoại di động và hơn 200 kg tài liệu; Xét rằng công an đã di chuyển linh mục Lý đến một nơi xa xôi hẻo lánh là Bến Củi, miền trung Việt Nam, và quản chế ông ở đó; Xét rằng linh mục Lý là một cựu tù nhân lương tâm, đã trải qua tổng cộng hơn 13 năm tù từ 1983 vì ủng hộ tự do tôn giáo và dân chủ tại Việt Nam; Xét rằng linh mục Lý là một cố vấn cho Khối 8406, một phong trào dân chủ đã khởi sự từ tháng 4-2006 khi hàng trăm người khắp cả Việt Nam công khai ký tên kêu gọi dân chủ và nhân quyền; Xét rằng linh mục Lý cũng là một cố vấn cho một chính đảng mới, đảng Thăng Tiến Việt Nam, và là một trong những biên tập viên tiên khởi của bán nguyệt san Tự do Ngôn luận; Xét rằng vào ngày 06-03-2007, công an Việt Nam đã bắt giữ một trong số ít luật sư hoạt động cho nhân quyền là Nguyễn Văn Đài, người đã bênh vực nhiều cá nhân bị bắt giữ vì các hoạt động nhân quyền và tôn giáo của họ, người đồng sáng lập Ủy ban Nhân quyền tại Việt Nam và là một trong những nhà tổ chức chính của phong trào dân chủ Khối 8406; Xét rằng, vào ngày 06-03-2007, công an Việt Nam cũng đã bắt giữ Lê Thị Công Nhân, một luật sư nhân quyền, một thành viên Khối 8406, phát ngôn viên chính thức của đảng Thăng Tiến và là một sáng lập viên của Phong trào Công nhân Việt Nam; Xét rằng linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã bị buộc tội phổ biến tài liệu tuyên truyền chống lại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo điều 88 Bộ luật Hình sự của Việt Nam; Xét rằng linh mục Lý đã bị xét xử, bị kết tội và bị tuyên án 8 năm tù ngày 30-3-2007; Xét rằng nếu bị kết tội, các luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân mỗi người có thể bị tuyên án tới 20 năm tù; Xét rằng ông Lê Quốc Quân là một luật sư đã du hành sang Hoa Kỳ tháng 9-2006 để nghiên cứu việc phát triển xã hội dân sự trong tư cách người nhận học bổng Reagan-Fascell tại Quỹ Quốc gia vì Dân chủ (National Endowment for Democra-cy); Xét rằng ông Lê Quốc Quân đã trở về Việt Nam đầu tháng 03-2007 và đã bị công an Hà Nội bắt giữ ngày 08-03-2007; Xét rằng ông Lê Quốc Quân đã bị buộc tội theo Điều 79 Bộ luật Hình sự của Việt Nam, một điều khoản cấm các hoạt động nhằm mục đích lật đổ Chính quyền và tuyên những hạn tù hết sức khắt khe, thậm chí là án tử; Xét rằng linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân hay Lê Quốc Quân đã chẳng có hoạt động nào ủng hộ hay lôi kéo bạo lực; Xét rằng việc bắt giữ và kết tội linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân đã vi phạm Điều 69 Hiến pháp Việt Nam, vốn tuyên bố rằng “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”; Xét rằng linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân đã bị bắt giữ và kết tội trái với các quyền được ghi trong Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam là một quốc gia thành viên, đặc biệt Điều 18 (tự do tôn giáo), Điều 19 (tự do ngôn luận) và Điều 22 (tự do lập hội); Xét rằng Việt Nam vừa mới giam tù, bắt giữ, quản chế tại gia, hay mặt khác cấm cản nhiều nhà hoạt động hiếu hòa cho dân chủ và tôn giáo vì những lý do liên quan đến quan điểm chính trị hay tôn giáo của họ, gồm có Nguyễn Bình Thành, Nguyễn Phong, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Vũ Bình, Huỳnh Nguyên Đạo, Nguyễn Tấn Hoành, Trần Thị Lệ Hằng, Hoàng Huy Chương, Đoàn Văn Diên, Lê Bá Triết, Nguyễn Tuân, Bùi Kim Thành và Trần Quốc Hiền; Xét rằng Quốc hội Hoa Kỳ đã đồng ý cho Việt Nam trở nên thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2006, với những bảo đảm rằng Nhà nước Việt Nam đã đều đặn cải thiện thành tích nhân quyền của mình và sẽ tiếp tục làm như vậy; Xét rằng nhóm các quốc gia châu Á tại Liên Hiệp Quốc đã đề cử Việt Nam như ứng viên duy nhất cho ghế bất thường trực tại Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2008-2009, và theo Hiến chương LHQ, Việt Nam bị buộc hoàn thành các nghĩa vụ của mình hợp với các mục tiêu của LHQ, trong đó có chuyện xúc tiến và khuyến khích việc tôn trọng nhân quyền lẫn các tự do cơ bản cho mọi người; và Xét rằng việc cầm tù tùy tiện và việc vi phạm các nhân quyền của công dân Việt Nam là nguồn gốc mối quan tâm liên tục và nghiêm trọng của Quốc hội, và việc bắt linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân là một phần trong xu hướng gia tăng việc đàn áp các người ủng hộ nhân quyền tại Việt Nam.
Chính vì thế quyết nghị rằng
(1) Hạ viện (A) kết án và phản đối việc Chính quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN tùy tiện giam giữ linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân; kêu gọi phải thả họ ngay lập tức và vô điều kiện, ngưng mọi cáo buộc tội phạm, cũng như phải thả ngay lập tức và vô điều kiện mọi tù nhân chính trị và tôn giáo khác. (B) kết án và phản đối việc xâm phạm các quyền tự do ngôn luận, tôn giáo, hội họp, lập hội và việc thiếu thủ tục pháp lý đúng đắn cho các cá nhân tại Việt Nam (C) nghi ngờ các khả năng của VN trong việc trở nên một thành viên của Hội đồng Bảo an LHQ, trừ phi Chính quyền Việt Nam lập tức khởi sự tôn trọng các nhân quyền và các tự do cơ bản của hết mọi người trong biên giới quốc gia; và (D) mạnh mẽ thúc giục Chính quyền VN xem xét những hệ quả của hành vi mình đối với việc mở rộng bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam;
(2) cảm nghĩ chung của Hạ viện là Hoa Kỳ nên (A) đặc biệt quan tâm đến việc thả tù lập tức, đến thân phận pháp lý và đến các nhu cầu nhân đạo của linh mục Nguyễn Văn Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân. (B) sử dụng nguồn tài chính từ Quỹ Bảo vệ Nhân quyền mới thành lập của Bộ Ngoại giao để trợ giúp việc bênh vực pháp lý cũng như những nhu cầu của các gia đình và thân thuộc của linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân; (C) tiếp tục thúc đẩy Chính quyền VN tuân theo những tiêu chuẩn được quốc tế thừa nhận về các tự do và nhân quyền cơ bản; (D) nói rõ cho Chính quyền VN rằng họ phải tuân thủ quy tắc luật pháp, phải tôn trọng tự do tôn giáo và tự do ngôn luận để nới rộng bang giao với Hoa Kỳ; (E) nói rõ cho Chính quyền VN rằng việc giam giữ linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân và các tù nhân chính trị lẫn tù nhân lương tâm khác, cũng như các vi phạm nhân quyền khác đều không có lợi cho VN vì chúng tạo nên những chướng ngại cho mối quan hệ song phương đã cải thiện và cho việc hợp tác với Hoa Kỳ; (F) nghiên cứu những vi phạm nhân quyền hiện tại của Chính quyền VN và xem xét việc tái áp đặt lên VN danh xưng “các quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC) vốn đã được gỡ bỏ ngày 13-11-2006, căn cứ Đạo luật về Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 1998; và (G) để thúc đẩy các tự do và nhân quyền đó cũng như để củng cố bang giao lâu dài giữa Hoa Kỳ và VN, Hoa Kỳ nên đưa ra những chương trình trợ giúp nước ngoài mới hầu đẩy mạnh các khả năng liên kết trong xã hội dân sự VN, bao gồm
(i) những chương trình về quy tắc luật pháp để huấn luyện các luật sư nhân quyền, các thẩm phán, các giáo sư và các sinh viên về luật nhân quyền quốc tế;
(ii) những sáng kiến ngoại giao công khai để thông tin và giáo dục các công dân Việt Nam về các chuẩn mực và trách nhiệm nhân quyền quốc tế; và
(iii) những dự án hỗ trợ các tổ chức và hội đoàn cổ vũ tự do tôn giáo, ngôn luận, hội họp và lập hội. | | |
| | | BÁC SĨ NGUYỄN ĐAN QUẾ GỬI THƯ CHO MỸ NÓI VỀ NHÂN QUYỀN VN
Bác Sĩ Quế gửi thý cho Quốc Hội, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và các Tổ Chức Nhân Quyền Quốc Tế Về hiện trạng nhân quyền tại Việt Nam
Ngày 16 tháng 1 nãm 2007, từ trong nýớc, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế đã gửi cho các nhà lập pháp Hoa Kỳ hằng quan tâm đến nhân quyền Việt Nam nhý các DB Frank Wolf, Tom Davis, Jim Moran, Loretta Sanchez, Zoe Lofgren.., các Thýợng Nghị Sĩ James Webb, Sam Brownback, Edward KennedyẦmột số viên chức tại Bộ? Ngoại giao Hoa Kỳ, và các tổ chức nhân quyền quốc tế một bức thý trình bầy về tình trạng nhân quyền hiện nay tại Việt Nam. Sau đây là nguyên vãn bức thý của Bác Sĩ Quế.
Sàigòn, ngày 16 tháng 1, 2007.
Kính gửi quý vị: Đại diện dân cử tại Quốc Hộ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ Các Hiệp Hội Nhân Quyền.Quốc Tế
Kính thýa Qúi Vị,
Tôi rất hân hạnh gửi đến Qúi Vị? bản tóm lýợc về tình trạng Nhân Quyền tại Việt Nam hiện nay, với hy vọng qúy vị sẽ lýu tâm, cứu xét và xử dụng những dữ kiện trực tiếp liên quan đến tự do và phúc lợi của nhân dân Việt Nam đýợc nêu lên trong bản phúc trình này.
Năm 2006 vừa qua, Việt Nam đã đạt mức phát triển kinh tế khá cao (hõn 8%), nhýng không có những tiến bộ týõng xứng về Nhân Quyền.
Thực tế quan trọng nhất là Việt Nam hiện vẫn nằm dýới chế độ cộng sản tòan trị đang trong thời kỳ chuyển tiếp sang kinh tế thị trýờng.
Chính quyền không tôn trọng tự do thông tin và tự do phát biểu, cũng nhý không chấp nhận những chính kiến bất đồng. Nhà nýớc Cộng Sản đã coi nhý phạm tội hình những ai tranh đấu đòi hỏi các nhân quyền căn bản này, và độc quyền điều hành đất nýớc theo luật lệ riêng của họ.
Mặc dầu bị đàn áp, những ngýời bất đồng chính kiến vẫn cố gắng hết sức và đã đạt đýợc một số býớc tiến đáng kể: sự ra đời của Khối 8406, phục họat Đảng Dân Chủ; xuất hiện Đảng Thăng Tiến, Uỷ Ban Nhân Quyền Việt Nam, Công Đòan Độc Lập, Hiệp Hội Đòan Kết Công - Nông, Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo, Hội Dân Oan; báo mạng Tự Do Ngôn Luận, Tự Do Dân Chủ; và nhất là Liên Minh Nhân Quyền - Dân Chủ Việt Nam.
Kết quả còn hạn chế, vì chúng tôi chỉ có internet là phýõng tiện chính để liên lạc và vận động quần chúng mạnh dạn đứng lên đòi nhân quyề?n và đòi cải cách chính trị, chủ yếu dựa trên Bản tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ýớc về Quyền Dân Sự và Chính Trị của Liên Hiệp Quốc.
Trýớc và trong thời gian diễn ra hội nghị? thýợng đỉnh Hợp Tác Kinh Tế Châu Á - Thái Bình Dýõng (APEC) và chuyến viếng thăm Việt Nam của TT Bush vào cuối nãm 2006, nhà cầm quyền Hà nội đã thẳng tay đàn áp, chặn đứng mọ?i tiếp xúc giữa các nhà vận động dân chủ với các thành viên tham dự hội nghị hay những phóng viên ngọai quốc.
Sau hội nghị APEC, chính quyền Hà nội vẫn tiếp tục duy trì những hạn chế gắt gao đối với mọi họat động xã hội, chính trị của những ngýời bất đồng chính kiến. Dýới đây là những mánh khóe đàn áp thông thýờng của họ:
- cắt điện thọai, internet, fax... - đặt công an chìm thýờng xuyên canh gác trýớc nhà. - theo dõi, gây phiền hà tối đa cho những ngýời bất đồng chính kiến mỗi khi ra khỏi nhà, kể cả cố ý gây đụng xe. - đe dọa gia đình và những ai đến tiếp xúc. - khám nhà bất cứ lúc nào, bất kể đêm khuya, lấ?y lý do bịa đặt là khám hộ khẩu. - vi phạm quyền tự do đi lại của công dân, kể? cả xuất ngọai với hộ chiếu và visa hợp pháp, nhiều khi bị chặn không cho đi ngay trýớc khi lên máy bay. - kiểm sóat café internet bằng những biện pháp hành chính, týờng lửa; khách phải xuất trình chứng minh nhân dân, bắt chủ tiệm cài đặt phần mềm ghi lại khách hàng vào những trang web nào; kể cả bố trí công an ngồi trực tiếp theo dõi khách hàng ở những tiệm cafe internet nào bị tình nghi tại những thành phố lớn nhý Saigon, Hà nội, Huế, Đà nẵng... - hõn 600 tờ báo, tất cả truyền thanh, truyền hình tòan quốc, nhà xuất bản đều nằm dýới sự kiểm sóat của đảng cộng sản. Ngòai ra, những nhà báo, nhà vãn...còn bị phạt nặng nếu vi phạm nghị định số 56/2006/NDCP và chỉ thị số 37 do Nguyễn Tấn Dũng mới ký ngày 29-11-2006. - còn nhiều cách hèn hạ khác đã đýợc dừng để? cô lập, khống chế tối đa những ngýời bất đồng chính kiến, đến mức họ không thể chịu nổi cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần.
Chúng tôi xin đặc biệt lýu ý qúy vị ba lãnh vực tối quan trọng sau đây :
1. Tự do tôn giáo: Những ngýời có đạo chỉ đýợc phép thờ phụng tại những địa điểm chính quyền cho phép, và do giáo hội quốc doanh tổ chức. Nhà cầm quyền vẫn dứt khóat không công nhận Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Cao Đài, Hòa Hảo họat động độc lập. 2. Vấn đề bảo vệ quyền của ngýời công nhân Việt Nam & Bản chất thực sự của Tổng Công Đòan Lao Động CS :
Điều đáng buồn là býớc sang thế kỷ 21, hàng triệu công nhân VN vẫn chýa có đýợc những công đoàn độc lập để? bảo vệ quyền lợi của họ chống lại lạm dụng của giới chủ.
Tất cả công nhân VN hiện bị ép gia nhập cái gọi là ềTổng Công Đòan Lao Động VNỪ, mà thực chất chỉ là công cụ của đảng CSVN để kiểm sóat và điều khiển giai cấp thợ thuyền. Bộ chính trị đảng CSVN cố gắng thỏa mãn giới đầu tý với giá nhân công rẻ, họ tin rằng qua công cụ Tổng Công Đòan, có thể ngăn ngừa và bóp nghẹt mọi ý đồ đình công chống lại giới chủ nhân. Nhýng sự thực là từ đầu năm 2006 đã xẩy ra hàng lọat các cuộc đình công ở các công ty có vốn đầu tý nýớc ngòai, đòi tãng lýõng và cải thiện chế độ làm việc.
Vấn đề thành lập các công đòan độc lập đang trở thành một nhu cầu cấp bách của mọi công nhân Việt Nam. Và đây là điều không thể nào tránh khỏi.
3. Các sắc dân thiểu số: Các sắc dân thiểu số ở miền Bắc và Cao nguyên Trung phần vẫn bị phân biệt đối xử, bị lấy mất đất đai canh tác và bị ép bỏ đạo (các mục sý Tin Lành, kể cả Mennonites hiện còn nhiều xung đột với chính quyền địa phýõng các nõi trong nýớc). Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam hiện đang thi hành chính sách tuyệt chủng và diệt chủng đố?i với các anh chị em thiểu số ngýời Thýợng. * Chúng tôi công khai lên án và yêu cầu Hà Nội phải chấ?m dứt ngay mọi hành vi đàn áp man rợ những ngýời có chính kiến khác với đýờng lối của đảng Cộng sản Việt Nam.
Chúng tôi mạnh mẽ đòi chính quyền Hà nội phải thả tức khắc và vô điều kiện những tù chính trị, tôn giáo, sắc dân thiểu số, đặc biệt là nhà báo Nguyễ?n Vũ Bình, Bs Lê Nguyên Sang, sinh viên Trýõng Quốc Huy, các ông Phạm Bá Hải, Vũ Hòang Hải, Nguyễn Ngọc Quang, Huỳnh Minh Đạo, công nhân Nguyễn Tấn Hòanh, nông dân Trần Thị Lệ Hồng...cùng mở cửa nhà tù để Hồng Thập Tự Quốc Tế thanh sát, và để những tổ chức nhân quyền quốc tế? nhý hội Theo Dõi Nhân Quyền , hội Ký Giả Không Biên Giới, hội Ân Xá Quốc Tế...vào họat động tại Việt Nam.
Chúng tôi xin trân trọng đa tạ mọi giúp đỡ lớn lao của Quí Vị. Chúng tôi tin rằng sự lên tiếng mạnh mẽ của Quí Vị sẽ giúp dân tộc Việt Nam lấy lại những nhân quyền căn bản để họ? có thể vui sống nhý mọi ngýời trong thế giới vãn minh ngày nay.
Trân trọng kính chào quý vị, Bs Nguyễn Đan Quế Đại diện Cao trào Nhân Bản & Tập Hợp Vì Nền Dân Chủ |
| | | NHỮNG ĐỀ TÀI KHAI TRIỂN TỪ NGHỊ QUYẾT 1481 (Năm 2006) NGHỊ VIỆN QUỐC HỘI ÂU CHÂU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Chúng tôi coi Nghị Quyết 1481 (Năm 2006) như nền tảng của một Bản Cáo Trạng để xét xử những tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam.
Nghị Quyết ấy kêu gọi việc Xử án Quốc tế đối với những tội ác đã qua của các chế độ Cộng sản toàn trị, đồng thời kêu gọi phải phổ biến những tội ác lịch sử ấy: (i) cho những đảng phái chính trị hiện hành biết, hầu đi đến hòa giải; (ii) và cho việc giáo dục những thế hệ trẻ tương lai phải tránh những tội ác tương tự.
Dân tộc Việt Nam đã phải chịu đựng những tội ác ấy rất ghê tởm và rất lâu dài do đảng cộng sản Việt Nam chủ trương. Vì những tội ác ấy mà Dân tộc Việt Nam đã phải trải qua hai cuộc Di cư Tỵ nạn liền sau 1954 và liền sau 1975 lớn nhất Thế giới.
Hiện nay, đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn đó và vẫn chủ trương chế độ toàn trị mà Quốc Hội Aâu Châu lên án. Dân tộc Việt Nam đã phải sống trên 60 năm dài Lịch sử dưới những tội ác rất hung dữ của Cộng sản Việt Nam, tất nhiên phải đồng loạt trước hết là lật đổ chế độ toàn trị này và sau đó phải xử án những tội ác đó như một bài học Lịch sử cho tương lai hòa giải của Dân tộc và cho cuộc sống lành mạnh, nhân đạo của các thế hệ trẻ tương lai. Quốc Hội Việt Nam gồm những nghị viên hoàn toàn sinh ra và lớn lên trong chế độ đầy tội ác của cộng sản. (i) Một là họ ngu mê đần độn không còn biết thẩm định đâu là thiện, đâu là ác, mà chỉ như đàn khỉ được huấn luyện làm xiệc, chỉ đâu gật đó; (ii) Hai là họ biết phân biệt thiện ác, nhưng đã không đứng về phía Dân để lên tiếng bênh đỡ Dân đang đau khổ dưới những tội ác, mà đã đứng hẳn về phía đảng cộng sản Việt Nam để cùng đám tội phạm cộng sản này để cùng gây tội ác trên đầu Dân. Ngu đần như súc vật hoặc tích cực hợp tác với tội phạm, họ đều bị Dân kết án không bầu cho cái Quốc Hội đó nữa. Hoà nhịp với cộng đồng quốc tế và nhìn tương lai của hạnh phúc Dân tộc, của phát triển Đất Nước, chúng tôi muốn đóng góp một số những khai triển từ Nghị Quyết 1481 (Năm 2006) của Quốc Hội Aâu Châu, mong Dân mình thấy rõ Lập trường của nhân dân thuộc cộng đồng quốc tế và phế bỏ Quốc Hội bù nhìn cũng như đảng cộng sản Việt Nam.
Những đề tài khai triển như sau:
1) GIÁ TRỊ THẨM ĐỊNH CỦA NGHỊ VIỆN QUỐC HỘI ÂU CHÂU Thẩm định về những tội ác của các chế độ cộng sản toàn trị, Quốc Hội Aâu Châu có khả năng thẩm định cao hơn các Quốc Hội khác như Hoa kỳ chẳng hạn, bởi vì những nghị viên thẩm định đã sống sát liền hay chính trong lòng các chế độ cộng sản toàn trị ấy. Việt Nam: vạch trần ra việc làm của Quốc Hội Việt Nam, không những không đứng về phía Dân với vai trò mà Dân trao phó, mà còn hợp tác với kẻ chủ trương tội ác là đảng cộng sản độc tài Việt Nam.
2) VI PHẠM TẬP THỂ VỀ NHÂN QUYỀN Tính cách vi phạm TẬP THỂ được nhấn mạnh trong Nghị Quyết. Thực vậy, nếu có những đàn áp nhân quyền cho một cá nhân, thì việc đàn áp cá nhân này được đảng thực hiện như là một biện pháp nhằm khủng bố nhân quyền cho một Tập thể. Việt Nam: Liệt kê những vi phạm Tập thể về nhân quyền và việc đàn áp, bắt tù tội cá nhân tại Việt Nam trong chủ trương khủng bố tinh thần Tập thể.
4) TỘI ÁC ÁM SÁT Tại những nước dưới chế độ cộng sản toàn trị trước đây, việc ám sát đối lập hoặc tình nghi đối lập là chủ trương của những chế độ. Những sách viết về tội ác này tại Liên Xô và những nước Trung và Đông Aâu còn đó.
Việt Nam: Tội ác này do chính Hồ Chí Minh chủ trương từ thời Mặt trận Việt Minh, đến việc thanh trừng Việt Nam Quốc Dân Đảng. Việc ám sát đã kéo dài tiếp theo từ Miền Bắc, rồi Miền Nam Việt Nam.
5) TỘI ÁC XỬ TỬ Các chế độ cộng sản không thể phủ nhận những bản án xử tử, hoặc xử tử không cần kêu án tại Liên Xô, tại Trung Hoa (Cách Mạng Văn Hóa), tại những tiểu quốc chư hầu Trung và Đông Aâu (Hung gia lợi 1956 và Mùa Xuân Tiệp khắc 1968...)
Việt Nam: Điển hình nhất của tội ác này của đảng cộng sản Việt Nam là cuộc Cải Cách Điền Địa 1952-1956. Tội ác đã tái diễn trong dịp Tết Mậu Thân 1968 với những mồ chôn TẬP THỂ.
6) TỘI ÁC BẮT ĐI LƯU ĐẦY Điển hình nhất về tội ác này là tại Liên Xô với việc lưu đầy tại Tây Bá Lợi Á. Hãy đọc sách viết của Soljenitsyne (Archipel du Goulag).
Việt Nam: Ơû Việt Nam, đây là tội ác của những Vùng Kinh tế mới và nhất là những Trại Cải Tạo.
7) TỘI ÁC ĐỂ CHẾT CHÓC, BỎ ĐÓI, TRA TẤN, LAO ĐỘNG NÔ DỊCH TRONG CÁC TRẠI TẬP TRUNG Tại những nước Trung và Đông Aâu, các trại Tập trung đã được thiết lập với những tội ác liệt kê như trên. Những trại Tập trung khổng lồ nhất là tại Liên Xô.
Việt Nam: Những người đã phải giam cầm trong các trại Cải Tạo đều biết rõ những tội ác này.
8) TỘI ÁC BÁCH HẠI THEO TIÊU CHUẨN CHỦNG TỘC, TÔN GIÁO Tại Trung và Đông Aâu, nhất là Liên Xô, việc bách hại tôn giáo kéo dài trong những năm trường vì cộng sản coi tôn giáo là thuốc phiện của dân chúng.
Việt Nam: Hãy nhìn tình trạng bách hại Tôn giáo trước năm 1975 tại Miền Bắc và sau đó tại Miền Nam liền những năm sau 1975. Hiện nay, Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo vẫn kềm kẹp Tôn giáo.
9) TỘI ÁC ĐỐI VỚI TỰ DO LƯƠNG TÂM, TỰ DO TƯ TƯỞNG Đây là tội ác nhằm những cá nhân có tầm ảnh hưởng lãnh đạo Tập thể. Đàn áp những cá nhân này được đảng chủ trương như việc khủng bố tư tưởng và lương tâm Tập thể. Việt Nam: Chính một số cựu đảng viên cũng đã chịu cảnh đàn áp, tù đầy này. Sống động nhất: hãy hỏi Hòa thượng Thích Quảng Độ, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Mục sư Nguyễn Hồng Quang và những, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn... và những nhà đấu tranh cho Dân chủ hiện nay.
10) TỘI ÁC CẤM ĐOÁN TỰ DO PHÁT BIỂU, TỰ DO BÁO CHÍ Đây là tội ác nhằm bưng bí sự thật và dành độc quyền nhồi sọ Dân chúng những lý thuyết và chủ trương của đảng cộng sản. Tội ác này cũng nhằm diệt tất cả những ý tưởng nào có thể gây nên một tập họp quần chúng khả dĩ chống lại việc độc tài tư tưởng của đảng. Việt Nam: Cấm đoán ngay cả việc đọc Diễn đàn Internet. Không có một tờ báo viết nào mà không dưới quyền kiểm soát của đảng cộng sản Việt Nam.
11) TỘI ÁC KHÔNG CHO ĐA DẠNG CHÍNH TRỊ Chủ trương một chế độ đ
|
|
|
|