|  |
|  | 
| | | ========================= =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| | | =============================================================== VietTUDAN --------------------------------------------------------------KINH TE/ TAI CHANH ===============================================================x |
2011:NGUY CƠ KHỦNG HOẢNG LƯƠNG THỰC THẾ GIỚI
Thanh Hà
Thiên tai gây thiệt hại mùa màng không còn là những nguyên nhân duy nhất dẫn đến tình trạng khan hiếm lương thực trên thế giới. Đất canh tác bị xói mòn, nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn và các hoạt động tích trữ và đầu cơ càng làm tăng nhiệt độ thị trường nông phẩm.
Giá lúa mì tại Anh Quốc tăng cao kỷ lục. Mehicô ký hàng loạt hợp đồng trước thời hạn để bảo đảm nguồn cung cấp ngô. Nga vốn là một nhà cung cấp lúa mì và ngũ cốc quan trọng của thế giới phải nhập ngũ cốc để phục vụ ngành chăn nuôi, đợi mùa thu hoạch vào mùa xuân này. Ả rập Xê út chuẩn bị mua vào 2 triệu tấn lúa mì trong vài tuần lễ. Tại Ấn Độ, nước đông dân thứ nhì trên hành tinh, giá nông phẩm tăng 18% trong tháng 12/2.010 không khác nào một quả bom nổ chậm. Trung Quốc đang trên đà thâu tóm các vựa lúa mì và ngô của thế giới.
Chỉ giá lương thực đến mức báo động
Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) báo động : chỉ giá nông sản, lương thực và nhu yếu phẩm tăng cao chưa từng thấy kể từ năm 1990 và trước mắt chưa có dấu hiệu cho thấy cộng đồng quốc tế hy vọng đảo ngược tình hình. Năm 1.990 là thời điểm cơ quan đa quốc gia này bắt đầu đo lường độ dao động của giá cả lương thực.
Nội trong tháng giêng, giá lương thực tăng 3,4% so với tháng 12 năm ngoái. Từ tháng 5/2010 đến nay, giá lúa mì, cacao tăng 6%. Riêng giá cà phê tăng 30% trong cùng thời kỳ.Trên thị trường New York giá cà phê arabica phá kỷ lục của hồi tháng 6/1997.
Theo thẩm định của FAO, chỉ số giá cả của 55 mặt hàng nhu yếu phẩm được coi là « tất yếu » - bao gồm thịt, ngũ cốc, đường, sữa … - trong tháng qua đã lên tới gần 231 điểm, tức là còn cao hơn cả so với thời điểm được coi là « nóng » nhất hồi tháng 6/2008 của cơn khủng hoảng lương thực thế giới. Khi đó chỉ số này mới chỉ là 224 điểm.
Trước khi nổ ra các cuộc bạo loạn vì lý do « cơm áo » tại Haiti hay Philippines vào mùa xuân 2008, Ngân hàng Thế giới thẩm định có khoảng 870 triệu người trên hành tinh bị đói và suy sinh dưỡng.
Con số này giờ đây lên đến 900 triệu. Nguyên nhân chính, theo quan điểm của Chủ tịch Ngân hàng Thế giới là năng suất của giới nông gia trên thế giới không được cải thiện trong ba năm vừa qua.
Theo chuyên gia Liên Hiệp Quốc, ông Olivier de Schutter : « Có 80 quốc gia trên thế giới bị đe dọa thiếu lương thực. Số này đã gia tăng một cách đáng quan ngại ».
Đâu là những nguyên nhân dẫn tới tình trạng căng thẳng về lương thực hiện nay và đe dọa khủng hoảng về lương thực tại một số nơi trên thế giới nghiêm trọng tới mức độ nào ?
Theo phân tích của ông Lester Brown, Chủ tịch Viện nghiên cứu Earth Policy Institute có trụ sở tại thủ đô Washington : từ nhiều năm trở lại đây thiên tai không còn là nguyên nhân duy nhất đẩy giá lương thực lên cao. Cốt lõi của vấn đề đặt ra từ hai phía cung và cầu.
Giới hạn về đất đai
Nhìn từ góc độ sản xuất : đất đai canh tác ngày càng khan hiếm do các hiện tượng đất bị xói mòn, nhiễm mặn, sa mạc hóa …. Các mạch nước ngầm đang bị cạn và còn bị chia sẻ cho thành phố. Thêm vào đó, đương nhiên còn phải kể đến hiện tượng trái đất ngày càng bị hâm nóng, khí hậu bị đảo lộn, gây nhiều thiên tai và thiệt hại mùa màng.
Nạn cháy rừng tràn lan tại Nga vào mùa hè năm ngoái, đợt lũ lịch sử ở bang Queensland, Úc trong hai tháng qua, tiếp theo đó là các đợt bão tuyết bất ngờ làm tê liệt nhiều bang miền Đông nước Mỹ … đang khiến giới trồng trọt và chăn nuôi lo ngại. Cũng chỉ cần mực nước sông Mekong và nước biển tăng thêm một mét, là cũng đủ để nhận chìm một nửa vựa lúa của Việt Nam cũng như là 19 khu vực châu thổ khác của châu Á.
Năng suất đạt mức tối đa
Một điểm đáng quan ngại khác là năng suất nông nghiệp đã bước vào giai đoạn bão hòa : thí dụ như tại Nhật Bản năng suất trồng lúa liên tục gia tăng trong nhiều thập niên, tuy nhiên các chuyên gia đánh giá là từ 14 năm nay, chỉ số năng suất này đã bị chựng lại. Trung Quốc và Hàn Quốc cũng đang tiến gần đến mức thu hoạch tối đa tương tự như tại Nhật Bản.
Yếu tố sau cùng khiến Viện nghiên cứu Earth Policy Institute nêu ra để giải thích vì sao mức cung trên thị trường nông phẩm thế giới đang trên đà chựng lại là do một phần đất canh tác được sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng. Điển hình là khu vực chung quanh thung lũng Central Valley bang California ; vùng châu thổ sông Nil bên Ai Cập cũng như là tại nhiều nơi khác tại hai nước rộng lớn ở châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ
Thêm 219.000 miệng ăn mỗi ngày
Nhìn đến mức tiêu thụ của hành tình thì dân số địa cầu vào năm 2.010 đã tăng gấp đôi so với thời điểm của năm 1970. Các nông gia trên thế giới mỗi ngày phải đáp ứng thêm cho nhu cầu của 219.000 thực khách !
Mức tiêu thụ ngũ cốc trên thế giới cũng đã nhân lên gấp đôi trong thời gian từ 1.990 đến 2.005.
Reuter Ngoài ra, như cầu thực phẩm của hơn một nửa nhân loại ngày càng được « nâng cấp » tức là bữa ăn của khoảng 3 tỷ người ngày càng thêm phong phú cả về chất lượng lẫn khối lượng. Mức tiêu thụ về thịt cá, trứng, sữa tại các quốc gia đang phát triển đặc biệt tăng nhanh hơn so với các nước công nghiệp.
Nhìn chung, khối lượng thịt bò, heo và gia cầm để phục vụ cho 1,3 tỷ dân Trung Quốc hiện đã cao gấp hai lần so với ở Mỹ.
Một thách thức khác đặt ra trong vấn đề bảo đảm an toàn lương thực bắt nguồn từ chính sách phát triển nhiên liệu dầu thực vật. Trong năm 2009 chẳng hạn, Hoa Kỳ sản xuất được tất cả 416 triệu tấn ngũ cốc, trong số đó 120 tấn được sử dụng để chế biến dầu ethanol.
120 tấn ngũ cốc đó, theo thẩm định của ông Lester Brown, Chủ tịch Viện nghiên cứu Earth Policy Institute, có thể nuôi sống đến 350 triệu con người cho cả năm. Nói cách khác các dự án đầu tư ồ ạt của Âu Mỹ vào các loại dầu thực vật là một mối đe dọa trực tiếp đối với vấn đề an toàn lương thực của nhân loại.
Đề phòng khủng hoảng
Chính vì muốn tránh để lại xảy ra các cuộc bạo loạn vì lý do lương thực như cách nay ba năm cho nên cộng đồng quốc tế đã nhanh chóng lên tiếng báo động về những tác động kinh tế, xã hội khi giá lúa mì, ngũ cốc tăng 200% trong vài tháng.
Theo quan điểm của chuyên gia Liên Hiệp Quốc, ông Olivier de Schutter thì điều đáng mừng nhất là tương tự như cuộc khủng hoảng 2008, thực ra cộng đồng quốc không bị đe dọa thiếu lương thực. Tuy nhiên mỗi khi thiên tai hoành hành như nạn cháy rừng ở Nga, đợt nắng nóng đến thiêu người tại Ukraina ... đều đặt các thị trường nông phẩm của thế giới « trong tình trạng báo động » : các nhà cung cấp chưa vội bán lương thực để chờ thời giá. Còn về phía người mua thì lại hối hả liên lạc với các tay môi giới đề phòng nông phẩm thêm khan hiếm.
Trả lời đài RFI chuyên gia thuộc Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc, Concepsion Calpé lo ngại chính sách thu mua vội vã của nhiều quốc gia trên thế giới càng tạo thêm sức ép lên thị trường nông phẩm quốc tế :
« Hầu hết các loại lương thực, thực phẩm đều tăng giá, so với tháng 12 /2010, ngoại trừ giá thịt còn tương đối ổn định. Giá đường tăng 6% trong một tháng ; rồi giá dầu ăn, lúa mì, các sản phẩm chế biến từ sữa … đều tăng. Mối lo ngại hiện nay là hiện tượng vật giá leo thang kể trên sẽ dẫn đến những hậu quả ra sao ? Đó là những hậu quả kinh tế và xã hội, đặc biệt là tại các quốc gia phải nhập khẩu lương thực.
Năm ngoái, một số các quốc gia tại châu Phi đã có một vụ thu hoạch tương đối cao, nhờ vậy, trước mắt các nước này chưa bị đe dọa trực tiếp.
Vấn đề đặt ra là nhiều nơi do muốn đề phòng giá cả còn tăng thêm nữa và lương thực, thực phẩm trở nên khan hiếm hơn trong những tháng tới cho nên đang mua vào rất nhiều nông phẩm để tích trữ. Hiện tượng này lại càng đẩy chỉ giá nông phẩm tăng thêm cao. Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc hy vọng đây chỉ là một cơn sốt nhất thời và trong một vài tháng nữa với các vụ thu hoạch đầu năm, thị trường nông phẩm sẽ được thư giãn hơn ».
Trong những điều kiện như trên, vẫn theo ông Schutter muốn tránh để tạo nên những cơn sốt trên thị trường lương thực, thì điều tất yếu là nên củng cố thêm các khoản dự trữ đẻ điều hòa nhiệt độ trên thị trường, chống đỡ với các hoạt động đầu cơ. Đây là lý do khiến chính phủ Pháp đưa vào chương trình chủ tịch luân phiên nhóm G20 và G8 vấn đề giới hạn hiện tượng giá như yếu phẩm trồi sụt bất thường. Bộ trưởng Nông nghiệp Pháp, Bruno Le Maire giải thích với báo giới :
« Một trong những hồ sơ lớn tôi phải theo dõi trong suốt năm 2.011 liên quan đến việc nước Pháp chuẩn bị hai Hội nghị quốc tế của nhóm G20 và G8. Ổn định giá cả lương thực là một trong những ưu tiên hàng đầu của Paris.
Giá nông phẩm dao động quá mạnh trên thị trường ảnh hưởng đến đời sống của giới nông gia khi họ phải mua cỏ và thức ăn cho gia súc ; ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày của người tiêu dùng : sức mua của các hộ gia đình bị yếu đi khi thịt, sữa, bánh mì, hay mì sợi … tăng giá.
Nhìn rộng ra hơn, thì tại nhiều nơi trên thế giới hiện tượng giá lương thực tăng cao là nguy cơ dẫn đến bạo loạn. Theo tôi nước Pháp có trách nhiệm phải quan tâm đến vấn đề này. Đây là một trách nhiệm cả về mặt kinh tế lẫn đạo đức : mục tiêu của nước Pháp nhằm đẩy lui các hoạt động đầu cơ để thị trường nông phẩm hoạt động tích cực hơn ».
Riêng đối với khu vực châu Á các chuyên gia kinh tế dự báo : lạm phát tại châu Á có thể lến tới từ 10 đến 15% nếu như giá lương thực tăng từ 8 đến 9 %. Khi đó các cuộc bạo loạn như đã từng xảy ra tại Philippines hồi 2.008 sẽ khó tránh khỏi.
TRUNG QUỐC: TĂNG LÃI SUẤT LẦN 2 ĐỂ CHỐNG LẠM PHÁT
BẮC KINH - Hôm Thứ Ba, Trung Quốc quyết định tăng lãi suất ngân hàng lần thứ nhì chỉ trong 6 tuần lễ, tăng sức chống lại áp lực của lạm phát trong nền kinh tế tăng trưởng nhanh có thể gây bất ổn thị trường toàn cầu.Thời điểm tăng lãi suất vào cuối những ngày lễ đầu năm âm lịch gây ngạc nhiên tuy các nhà đầu tư đã đoán trước chính sách kiểm soát tiền tệ của Bắc Kinh trong lúc đối phó với áp lực của vật giá và bong bóng địa ốc.
Lãi suất ký thác 1 năm đuợc tăng lên tới 3% và lãi suất cho vay 1 năm là 6.06%, bắt đầu áp dụng từ Thứ Tư 9-2, theo loan báo của ngân hàng nhà nước.
Tuy lạm phát yếu đi trong Tháng 12, các nhà phân tích đuợc Reuters dò hỏi dự đoán lạm phát 5.3% trong Tháng 1, là mạnh nhất trong hơn 2 năm, do sự leo thang của giá luơng thực.
Kinh tế gia Xu Biao của China Merchant Bank tại Shenzhen nói đây là sự gia tăng lãi suất đầu tiên trong năm Tân Mão, và không là lần sau cùng. Theo lời ông, nếu lạm phát còn cao trong tháng này, ngân hàng trung ương buộc phải tăng lãi suất tiếp.
Phóng viên báo cáo: giá đồng 3 tháng hạ xuống dưới mức 10,000 MK/tấn, hưá phiếu dầu thô cũng giảm. Nhưng, vào lúc này các viên chức cả quyết rằng lạm phát là kiểm soát đuợc. Nhà cầm quyền Bắc Kinh có hàng loạt biện pháp cưỡng chế với giá bất động sản - ý thức đuợc sự căm phẫn trong công chúng về chi phí gia cư quá cao, chính quyền cả quyết không dung thứ mọi sự làm giá và đầu cơ địa ốc.
Tiền mặt dư thừa trong nền kinh tế, gồm thặng dư mậu dịch lớn là nguồn gốc của sự leo thang vật giá và giới lãnh đạo Bắc Kinh hi vọng lãi suất cao sẽ khuyến khích dân chúng gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn, và cân nhắc kỹ khi định mua nhà trả góp.
Trong Tháng 12, các kinh tế gia đã tiên đoán lãi suất ngân hàng với tiền ký thác 1 năm sẽ tăng lên đến 3.5% vào Tháng 6.
Giữ hối suất tiền Nguyên mạnh là 1 vũ khí chống lạm phát, do làm giảm giá hàng nhập cảng - nhưng, Bắc Kinh đuợc trông đợi giữ tiền Nguyên theo mức thay đổi từ từ, gây khó chịu Hoa Kỳ và Brazil là 2 nước lên án hối suất thấp giả tạo đưa tới cạnh tranh không công bằng.
Cuộc thăm dò của Thomas Reuters cho hay tỉ lệ tăng trưởng năm 2011 của Trung Quốc đuợc dự báo ở mức 9.3%, so với năm trước là 10.3%.
FED :SAU ĐỘC CHIÊU USD.600 TI, KHÔNG CÓ NGUY CƠ LẠM PHÁT
WASHINGTON - Cuộc điều trần đầu tiên của thống đốc Quỹ dự trữ liên bang tại Hạ Viện mới, với phe đa số là đảng viên CH, sẽ là gay go - đa số người chất vấn thống đốc Ben Bernanke sẽ là người cùng đảng CH.
Ông Bernanke, đảng viên CH, được TT Bush chọn để lãnh đạo quỹ dự trữ liên bang từ năm 2006.
TT Obama gặp ít nhiều chống đối khi ông yêu cầu lập pháp chấp nhận nhiệm kỳ 2 của ông Bernanke hồi cuối năm 2009.
Đảng CH không chấp nhận kế hoạch cứu nguy Wall Street trong thời gian khủng hoảng. Hồi Tháng 1-2010, Thượng Viện chuẩn thuận thống đốc Bernake với 1 đa số sít sao chưa từng thấy với 1 thống đốc khác. Nhưng, nhiều kinh tế gia, học giả và dân cử ghi công ông Bernake về sự phòng ngừa suy thoái biến thành suy thoái đợt 2.
Nhưng, đó là chuyện quá khứ. Nay, nỗ lực kích thích kinh tế bằng kế hoạch thu mua trái phiếu kho bạc trị giá 600 tỉ bị đả kích, phần lớn từ đảng CH, kể cả chủ tịch Hạ Viện John Boehner và thủ lãnh đa số Thượng Viện Mitch McConnell - hai vị này nói thu mua trái phiếu có thể châm ngòi lạm phát, hay tạo ra đầu cơ đưa tới hiện tượng bong bóng.
Ra Hạ Viện điều trần sáng Thứ Tư, thống đốc Bernanke phải giải thích về chi phí và phúc lợi của kế hoạch thu mua trái phiếu.
Chủ tịch ủy ban ngân sách là dân biểu Paul Ryan (CH-Wisconsin) có ý sợ rằng hành động ấy của Quỹ liên bang sẽ gây ra lạm phát. Cũng có thể là nhân dịp này các dân biểu của 2 đảng sẽ nhắc nhở thống đốc Bernanke tìm giải pháp cho tình trạng thiếu hụt ngân sách trên 1000 tỉ MK.
Cũng như trong quá khứ, chắc là ông Bernanke sẽ không tán đồng hành động lập pháp cụ thể để giảm thiếu hụt - có lẽ ông sẽ cảnh giác Lập Pháp và Bạch Ốc rằng không đặt kế hoạch giảm thiếu hụt trong dài hạn thì nền kinh tế sẽ bị thiệt hại về sau. Ông giải thích: các nhà đầu tư sẽ đòi lãi cao với nợ công, nghĩa là lãi suất vay mượn tăng, khi ấy sức mua của người tiêu thụ và doanh nghiệp giảm, hãm chậm các hoạt động kinh tế.
Tuần qua, thống đốc Bernanke đã cảnh cáo các dân biểu CH chớ "đuà" với yêu cầu của Bộ ngân khố về nâng giới hạn nợ công quá ngưỡng 14.300 tỉ - trong dịp phát biểu tại câu lạc bộ báo chí tuần qua, ông nói các nhà lập pháp không nên dùng giới hạn nợ công như lá bài thương lượng trong các thảo luận về hạn chế thiếu hụt ngân sách.
Tỉ lệ thất nghiệp hiện nay đã hạ xuống ở mức 9%, vẫn là rất cao, và sức tạo việc làm còn yếu. Ông Bernanke từng nói phải mất 5, 6 năm để đưa tỉ lệ thất nghiệp trở lại mưc bình thường.
Trong khi đó một bản tin khác vào trưa Thứ Tư của hãng AP cho biết rằng các thành viên của Quốc Hội đã chất vấn gay gắt Chủ Tịch Quỹ Dự Trữ Liên Bang Ben Bernanke hôm Thứ Tư về việc phải chăng các chính sách của Quỹ Dự Trữ Liên Bang đang gia tăng nguy cơ nâng cao lạm phát trong những tháng sắp tới.
Chủ Tịch Ủy Ban Ngân Sách Hạ Viện Paul Ryan, thuộc đảng Cộng Hòa tại Wisconsin, nói rằng ông lo ngại rằng Quỹ Dự Trữ Liên Bang không thể phát hiện lạm phát cho đến khi “con bò ra khỏi chuồng” và lạm phát đã lan rộng nguy hiểm cho nền kinh tế.
Bernanke cho biết rằng lạm phát đang gia tăng trong các nền kinh tế đang trổi dậy. Nhưng ông hạ thấp nguy cơ đối với nền kinh tế Hoa Kỳ, ngay dù các nhà lập pháp bày tỏ quan ngại về việc gia tăng giá xăng và thực phẩm.
| | | |
TRUNG QUỐC: LẠM PHÁT & HẬU QUẢ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 02.12.2010 Web : http://VietTUDAN.net
Nội dung bài Quan Điểm này đã được Đài RFI phỏng vấn ngày thứ Tư 01.12.2010, để phát thanh về Việt Nam.
Theo Kinh tế gia Wang Tao, làm việc cho UBS tại Bắc Kinh, trước những đề nghị của các Chuyên gia quốc tế về những Biện pháp Tài chánh, Tiền tệ để giải quyết Lạm phát và tăng vật giá, Bắc Kinh vẫn từ chối những biện pháp ấy vì sợ nguy hiểm xẩy đến cho những Kỹ nghệ xuất cảng và lo lắng nạn thất nghiệp cho chục triệu nhân công:
«Pékin, malgré les pressions intenses de ses partenaires commerciaux, refuse toute hausse importante qui mettrait en danger ses industries exportatrices et des dizaines de millions d'emplois.» (PEKIN, 24 nov 2010 (AFP) (Par Boris CAMBRELENG) (Bắc Kinh, mặc dầu những áp lực của những bạn hàng thương mại của mình, từ chối mọi việc tăng lên quan trọng (như lãi suất, tỷ giá đồng yuan) có thể đưa đến nguy hiểm cho những kỹ nghệ xuất cảng và cho những chục triệu công nhân).
Trong bài này, chúng tôi trình bầy => Tình hình Lạm phát như thế nào hiện nay => Những lý do nào đưa đến Lạm phát => Những Biện pháp chống đỡ Lạm phát => Những hậu quả Lạm phát cho Kinh tế Trung quốc
Tình trạng Lãm phát như thế nào hiện nay
Theo hai bài viết từ Bắc Kinh của Ký giả Harold THIBAULT đăng trên Nhật báo quốc tế Le Monde 19.11.2010; theo Bản Tin của Thông Tấn AFP bởi Boris CAMBRELENG đánh đi từ Bắc Kinh ngày 24.11.2010; và theo bài viết với tựa đề LES ALGUES, SYMBOLES DE L’INFLATION GALOPANTE EN CHINE (Rau câu, biểu tượng của Lạm phát nhẩy vọt tại Trung quốc) của Tác giả WEI GU (bản dịch của Christine LAHUEC) đăng trên Le Monde 30.11.2010, thì Tình hình Lạm phát tại Trung quốc được tóm tắt bằng những con số được đưa ra như sau: : * Trong tháng 10, vật giá nhẩy vọt 4.4%. Đó là con số chính thức tuyên bố, nhưng theo những nhà quan sát Kinh tế Trung quốc, thì việc nhẩy vọt vật giá phải là 7%.
* Vật giá những thực phẩm chính cho dân chúng tăng 62.4% trong một năm
* Tăng giá McDonald’s… và Siêu thị: Giá tại 1135 Tiệm ăn McDonald’s tăng từ 0.5 Yuan tới 1 Yuan. Các Tiêm ăn Kentucky Fried Chicken cũng tăng như vậy. Việc tăng giá cũng nhìn thấy rõ tại các Siêu thị.
* Viviane WEI, bà mẹ của một gia đình, được phỏng vấn ngay trước Siêu thị Carrefour (Pháp) ở phía Tây Thượng Hải, than phiền về giá tỏi và gừng tăng hơn một nửa giá của tháng trước.
* Theo bài của Wei Gu đăng trên Le Monde 30.11.2010, Rau Câu, món ăn chính của dân Trung quốc, tăng giá 20% trong tháng 10 vừa rồi vì đầu cơ, khan hiếm công hái, xa bờ biển làm chi phí thêm tìm kiếm do các công nghệ của những thành phố ven biển tàn phá.
Những lý do nào đưa đến Lạm phát
1) Lý do Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) bị thổi phồng gây ra Lạm phát, vật giá tăng vọt (Inflation).
Ba nguồn làm thổi phồng Khối Tiền lưu hành như sau:
a) Biện pháp Quantitative Easing $600 tỉ để mua Treasury Bonds nhằm hạ lãi suất dài hạn khiến những khối vố đầu tư quốc tế đổ dồn vào các nước Á châu, nhất là Trung quốc để kiếm lợi nhuận cao hơn.
«L’afflux de capitaux étrangers (spéculatifs), líe notamment à la stratégie monétaire extrêmement souple menée par la Réserve Fédérale américaine (FED), a renforcé cette tendance» (Le Monde 19.11.2010, page 1)
(Làn sóng những vốn đầu cơ từ ngoài vào, liên quan chính yếu đến chiến thuật tiền tệ cực kỳ mềm dẻo chủ trương bởi Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang Mỹ (FED), đã tăng cường khuynh hướng này (vật giá tăng vọt))
Theo Bản Tin AFP đánh đi từ KUALA LUMPUR Mã Lai, ngày 30.11.2010: Họp Bộ trưởng Tài chánh ASEAN khẳng định về Ngoại tệ nóng vào các nước ASEAN và Trung quốc do ảnh hưởng của Chính sách Tài chánh FED rót $600 tỉ vào lưu hành có thể làm cho lượng $581 năm 2009 tăng mạnh lên $825 tỉ cho đến hết năm nay 2010.
b) Chính Nhà Nước Trung quốc công khai thổi phồng số vốn vào lưu hành : Nhằm giữ đà tăng trưởng Kinh tế cũ, Nhà nước Trung quốc đã xuất quá nhiều vốn cho các Công ty nhà nước. Năm 2009, Nhà nước bơm vốn cho các Công ty trong năm 2009 là Rmb9’600 tỉ ($1’450 tỉ):
“Bank lending ballooned to a record Rmb9’600bn ($1’450bn) as China rushed to reflate its economy after the financial crisis” (Financial Times 22.11.2010, page 2)
(Ngân hàng cho vay thổi phồng vốn cho vay kỷ lục Rmb9’600 tỉ ($1’1450 tỉ) trong năm 2009 khi Trung quốc vội vàng phát động Kinh tế sau cuộc Khủng hoảng Tài chánh)
c) Nhưng số vốn quan trọng là các Ngân Hàng Thương mại đã ngầm cho các Công ty vay mà chính Nhà nước không kiểm soát được. Tiến sĩ James KYNGE gọi đây là hệ thống Tài chánh đường hầm “subterranean world of finance “ hay “underground financial system “.
Theo những con số cung cấp từ Use-Trust, một Tổ chức Tư vấn Kỹ nghệ, thì số vốn ngầm rót ra trong hai Tam Cá Nguyệt 2 và 3 tổng cộng là Rmb3’934.13 tỉ ($624.46 tỉ):
“According to Use-Trust, a trust industry consultancy, the volume of bank trust lending conducted off the balance sheets of banks totalled Rmb2’005.26bn ($318.29bn) in the third quarter of this year, up from Rmb1’928.87 ($306.17bn) in the second quarter” (Financial Times 22.11.2010, page 2)
(Theo Use-Trust, một Tổ chức Tư vân Kỹ nghệ, thì số lượng vốn ngân hàng cho vay ngoài bảng cân đối kế toán tổng cộng là Rmb2’005.26 tỉ ($318.29 tỉ) trong Tam cá nguyệt thứ ba của năm nay và Rmb1’928.87 tỉ ($306.17 tỉ) trong Tam cá nguyệt thứ hai)
Ngay những ngân hàng nhà nước cũng cho vay đường hầm vì là cơ hội tham nhũng, ăn hối lộ. Mặc dầu dưới sự kiểm soát của Ủy Ban Điều Chỉnh Ngân Hàng Trung quốc, những Ngân Hàng nhà nước cũng đi đường hầm cho vay chui. Con số cho vay chui lên tới tối thiểu Rmb2’000 tỉ ($320 tỉ):
“The off-balance-sheet lending by state banks this year was said to have reached at least Rmb2’000bn ($320 tỉ) (Financial Times 22.11.2010, page 2)
(Số vốn cho vay ngoại bảng can đối kế toán bởi các Ngân hàng nhà nước năm nay được nói đã đạt tới tối thiểu Rmb2’000 tỉ ($320 tỉ)
Ba nguồn làm tăng Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) như trên đã tóm tắt đang làm Lạm phát, Vật giá tăng vọt tại Trung quốc:
“It is the pressures caused by such ballooning money supply… that are the prime causes of inflation.” (Financial Times 22.11.2010, page 2)
(Đó là những áp lực gây ra từ việc cung cấp tiền căng phồng len như vậy đã là những nguyên cớ chính yếu tạo Lạm phát hiện nay.)
2) Lý do vật giá thực phẩm tăng vọt hơn các hàng khác
Hai lý do sau đây làm giá thực phẩm tăng hơn các hàng khác:
a) Chú trọng hàng công nghệ xuất cảng và lãng quên thực phẩm cho dân. Việc lạm phát chính yếu là trên các thực phẩm. Vật giá tăng tổng thể 4.4%, nhưng đặc biệt đối với 18 thực phẩm chính yếu, vật giá tăng trong năm vừa rồi tới 62.4%. Người ta không khó hiểu về lý do tăng giá vọt của thực phẩm. Trung quốc sãn xuất chính yếu những hàng công nghệ (produits manufacturés) nhằm xuất cảng chứ không nhằm phục vụ dân Trung quốc. Về nông nghiệp, nếu sản xuất được gì, thì những Công ty chế biến thực phẩm như đóng hộp, phơi khô, lại cũng nhằm xuất cảng. Do đó thực phẩm ăn liền cho dân chúng bị khan hiếm trong khi ấy Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) bị thổi phồng lên. Hậu quả là vật giá thực phẩm tăng vọt tới 62.4%.
b) Giá công nhân tăng 15%. Những nông dân ra tỉnh vì vậy khan hiếm người làm. Giá công hái cà chua tăng 25% theo bài của Wei Gu trên Le Monde 30.11.2010. Lấy tỉ dụ rau câu, món ăn phổ biến tại TQ. Những vùng ven biển bị chiếm cho công nghệ: xây cảng, nhà cữa. Phải đi xa ra biển mới hái được rau câu, nên chi phí tốn kém và do đó giá bán tăng lên. Rau câu phơi khô còn bị đầu cơ vì giữ được lâu.
Những Biện pháp chống đỡ Lạm phát
Trong Kinh tế, người ta phân biệt hai loại Lạm phát, Vật giá tăng, đó là Lạm phát vui sướng (Inflation heureuse) và Lạm phát khổ cực (Inflation malheureuse). Lạm phát vui sướng khi mà nền Kinh tế phát triển, dân thu nhập nhiều và tăng tiêu thụ. Ngân hàng Trung ương chỉ cần điều chỉnh khối tiền lưu hành cho phù hợp với phát triển Kinh tế. Còn đối với Lạm phát khổ cực (Inflation malheureuse), khi mà khối tiền lưu hành bị thổi phồng lên hoặc là sản xuất bị yếu kém đi. Những người có số thu nhập cố định, gặp trường hợp Lạm phát này, sẽ thấy mình nghèo đi và phải chi tiêu khổ cực.
Công thức đơn giản của FISCHER tóm tắt hai lý do tăng lạm phát khổ cực này:
M.V -------- = P T
P là chỉ số tổng quát giá tiêu thụ. M.V là lượng Tiền lưu hành. T là lượng hàng hóa sản xuất thực. Vậy nếu lượng Tiền lưu hành (M.V) bị thổi phồng lên, thì chỉ số tổng quát giá tiêu thụ (P) cũng tăng vọt lên. Cũng vậy, nếu sản xuất (T) bị yếu kém đi mà lượng Tiền lưu hành giữ nguyên, thì chỉ số tổng quát giá tiêu thụ (P) cũng tăng vọt lên. Tại Trung quốc, vật giá tăng vọt hiện nay, nhất là về thực phẩm, đó là tình trạng Lạm phát khổ cực. Nhà nước có tăng lương, nhưng chính yếu là cho Quân đội, Công an, Công chức, đó là cho những lực lượng giữ trật tự xã hội để bảo vệ chế độ. ¾ dân chúng Trung quốc trong nội địa và số công nhân làm việc cho Kinh tế thì lại không được hưởng những thành quả Kinh tế tương xứng mà Trung quốc xuất cảng thu nhập vào. Đây là tình trạng phân phối không đồng đều thu nhập Kinh tế mà chính Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã phải công khai nói ra trước Quốc Hội trong tháng 6/2010 vừa rồi.
Những Biện pháp chống đỡ Lạm phát là cho tình trạng Lạm phát khổ cực này (Inflation malheureuse) như sau:
1) Những biện pháp cấp thời.
Ngày 17.11.2010, Thủ tướng ÔN GIA BẢO đã đưa ra một số biện pháp cấp thời chống Lạm phát (Inflation), như:
=> Kiểm soát giá cả (Controle des Prix), nghĩa là đặt Giá Trần nhà (Prix plafond). Đây là biện pháp sẽ gây tất yếu cho Chợ Đen và Đầu Cơ như thời ở Nga trước đây. Những con buôn Tầu rất lành nghề về Chợ Đen và Đầu Cơ làm thực phẩm càng khan hiếm và Giá hàng luôn luôn theo đà tăng.
=> Từ kho Dự trữ, Nhà nước quyết định cho ra 62’000 tấn thịt heo và 210’000 tấn đường. Nhưng đối với 1 tỉ 300 triệu dân Tầu, thì hai lượng thịt và đường cho ra này chỉ như muối bỏ bể.
2) Những biện pháp Tài chánh
Đây là những biện pháp do những nhà Tài chánh, Ngân Hàng quốc tế đề nghị (theo Bản Tin AFP bởi Boris CAMBRELENG đánh đi từ Bắc Kinh ngày 24.11.2010). Biện pháp Tài chánh này nhằm rút nhỏ lại Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) bằng (a) Tăng Lãi suất chỉ đạo; (b) Bắt các Ngân Hàng Thương mại tăng Dự trữ tại Ngân Hàng Trung ương. Nhưng những Biện pháp Tài chánh này không dễ dàng thực hiện vì những lý do sau đây:
a) Biện pháp tăng Lãi suất chỉ đạo
Nếu dùng Biện pháp tăng Lãi suất chỉ đạo lên để làm cho Giá thuê vốn thành mắc mỏ và do đó các Công ty giảm vay vốn đầu tư, thì Trung quốc lại lo ngại giảm đà Tăng trưởng và tăng Thất nghiệp vì không đầu tư thêm nữa, các Công ty thải thợ.
b) Các Biện pháp làm giảm Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation)
=> Đối với số vốn đầu cơ quốc tế ập vào do ảnh hưởng của của Quantitative Easing $600 tỉ của FED, thì Trung quốc khó lòng ngăn chặn vì sợ thiếu vốn nước ngoài. Có thể đặt thuế cho số vốn này như trường hợp Ba Tây đã áp dụng từ hai tháng nay để làm giảm việc ập vào của vốn đầu cơ quốc tế.
=> Đối với hệ thống cho vay đường hầm “subterranean world of finance“ hay “underground financial system“, bắt các Ngân Hàng thương mại tăng Dự trữ đặt tại Ngân Hàng Trung ương, thì Trung quốc gặp phải khó khăn là không kiểm soát được số tín dụng đường hầm này. Cái căn nguyên của việc tín dụng đường hầm là tham nhủng, hối lộ. Đây là việc khó khăn thực hiện kiểm soát vì chính Ngân Hàng Nhà nước cũng tham nhũng, hối lộ để cho vay vốn đường hầm.
Những hậu quả Lạm phát cho Kinh tế Trung quốc
Hậu quả này do chính những chuyên viên Kinh tế Bắc kinh lo sợ trước Họp G20 Nam Hàn và do chính Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã nói trong cuộc họp riêng vố Tổng thống Obama tại Hội nghị Seoul. Hậu quả gồm 5 điểm sau đây:
(1) Đặt mua hàng Trung quốc bị giảm vì những lý do:
=> Lạm phát làm giá thành sản xuất cao
=> Tỷ giá đồng Yuan buộc phải lên vì Đo-la hạ, nên không hỗ trợ được cạnh tranh xuất cảng.
=> Đo-la giảm, hàng Mỹ trở thành cạnh tranh tại các Thị trường khác.
=> Mãi lực Tiêu thụ Liên Âu và Hoa kỳ xuống. Đây là lý do quan trọng cho việc giảm đặt mua hàng Trung quốc ở hai Thị trường chính mà Trung quốc đã lợi dụng làm giầu cho mình và đồng thời làm giảm Mãi lực Tiêu thụ của hai Thị trường này.
(2) Đặt mua hàng giảm thì các Công ty thải thợ, thất nghiệp tăng tại Trung quốc
(3) Thêm vào đó, một số Công ty nước ngoài thấy không có lợi nữa và sẽ chuyển sản xuất sang các nước khác có lợi hơn
(4) Đo-la xuống, nghĩa là Đồng Yuan tăng Tỷ giá, thì tình trạng Lạm phát cũng tăng làm Dân chúng bất bình.
(5) Lạm phát tăng làm Dân nghèo bất bình. Thất nghiệ tăng làm công nhân bất bình. Cả hai sẽ dẫn đến xáo trộn Xã hội và Chính trị
Khi viết về cuộc Khủng hoảng Tài chánh Á châu năm 1997, Bà Francoise NICOLAS đã nhấn mạnh đến hậu quả làm căng thẳng xã hội để đi đến BẠO LOẠN dân chúng làm thay đổi quyền lực Chính trị như trường hợp của Nam Dương thời ấy.
Cách đây 3 năm, nhân vật giá thực phẩm Thế giới tăng, Ong Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp Quốc, nói về hậu quả BẠO LOẠN quần chúng từ Lạm phát lên Chính trị:
”Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói).
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 02.12.2010 Web : http://VietTUDAN.net
| | | |
TRUNG QUỐC TÍNH TOÁN GÌ KHI MUỐN GIÚP VÀ ĐẦU TƯ VÀO LIÊN ÂU ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva 13.01.2011 Web: http://VietTUDAN.net
Liên Âu hiện đang gặp hai vấn đề tài chánh và Tiền tệ. Về Tài chánh, một số nước thuộc Liên Âu như Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan, Tây Ban Nha… gặp tình trạng nợ công chồng chất và phải cầu cứu giúp đỡ để tránh tình trạng vỡ nợ. Về Tiền tệ, đồng Euro tụt dốc có thể gây chia rẽ trầm trọng trong khối các nướx sử dụng đồng tiền duy nhất Euro.
Giữa lúc khó khăn giải quyết như vậy, Trung quốc tỏ ý muốn giúp đỡ hai nước Hy Lạp và Tây Ban Nha về nợ nần, đồng thời dự tính đầu tư hoặc mua một số Công ty thuộc những nước này. Đây có phải là lòng tốt thương nhau muốn giúp đỡ hay Trung quốc tính toán những điều có lợi cho mình ?
Thực ra trong mọi việc tương giao trợ lực quốc tế, ngay với khuôn khổ gọi là bác ái, chúng tôi không tin rằng qua việc tặng những món tiền mà không có như tính toán lấy lại lợi cho mình. Vì vậy, chúng tôi đi theo hướng tìm hiểu xem việc đề nghị giúp đỡ Hy Lạp hay Tây Ban Nha có những tính toán thủ lợi nào cho Trung quốc. Người ta cũng ngạc nhiên rằng nếu Trung quốc có số tiền bạc dự trữ trên USD.2’500 tỉ, tại sao không đầu tư nội địa để lo lắng nâng cao đời sống của trên 1 tỉ 500 triệu dân của họ đang chịu cãnh nghèo cực, mà lại đem tiền đi giúp đỡ tha nhân Hy Lạp và Tây Ban Nha. Phải có những hậu ý tính toán thủ lợi nào đó.
Những nghi ngại của chính phía Âu châu
Chúng tôi xin đưa ra đây những trường hợp nghi ngờ về ẩn ý của Trung quốc. Những nghi ngờ này được đưa ra qua báo chí hoặc qua đài truyền hình:
1) Trung quốc muốn tặng “Cheval de Troie»
Thứ Năm, 06.01.2011, trong giờ Tin Tức lúc 19:30, xướng ngôn viên Darius của Đài Truyền Hình Thụy sĩ Pháp thoại, khi nói đến ý định của Trung quốc muốn giúp đỡ giải quyết những khó khăn của Aâu châu, đã nói rằng đó là Trung quốc muốn tặng « Cheval de Troie« . Đây là câu chuyện cổ Hy Lạp được kể trong Odyssée. Thành Troie bị vây hãm trong suốt 10 năm bởi Hy Lạp. Cuối cùng quân lính Hy Lạp làm như rút binh, nhưng để lại một con Ngựa bằng gỗ khổng lồ. Trong con ngựa này, có một số lính Hy Lạp trốn ở trong bụng. Dân thành Troie kéo con ngựa gỗ vào trong thành. Đến đêm lính Hy Lạp từ bụng con ngựa chui ra và mở cữa thành Troie. Thế là quân đội Hy Lạp vào được thành và chiến thắng. « Cheval de Troie« đã trở nên một thành ngữ trong tiếng Pháp để nói rằng trong quà tặng có chứa những độc ý chiến thuật làm nguy hại cho người ham nhận.
Mặc dầu không bình phẩm minh nhiên về việc tỏ ý giúp đỡ của Trung quốc, mà chỉ cần nhắc tới « Cheval de Troie « , thì thính giả cũng hiểu rằng đây là lời phê bình tế nhị nói đến những tính toán thủ lợi của Trung quốc.
2) Trung Quốc đã đánh cắp bí mật của Renault như thế nào ?
Cũng trong tuần vừa rồi, tờ báo Le Figaro cũng đăng tải việc nghi ngờ Trung quốc hối lộ để lấy những bí mật của hãng sản xuất xe hơi Renault. Dựa theo Bản Tin bằng tiếng Pháp, Oâng Trọng Thành đã viết ra Bản Tin bằng tiếng Việt như sau :
« Phụ trương kinh tế của nhật báo Le Figaro hôm nay chạy trên trang nhất hàng tựa «Trung Quốc đã tiến hành do thám Renault như thế nào ? ». Tờ báo cung cấp các thông tin mới nhất về vụ gián điệp công nghiệp tại hãng xe hơi Pháp nối tiếng này. Theo tiết lộ từ các cuộc điều tra tư nhân, hai trong số ba viên chức cao cấp của Renault có tài khoản tại các ngân hàng Thụy Sĩ và Lichtenstein, mà nơi cung cấp tiền là một công ty Trung Quốc. Tại Lichtenstein, người ta đã phát hiện được 150 ngàn euro, còn tài khoản tại Thụy Sĩ có 500 ngàn.
Theo một nguồn thông tin ẩn danh, số tiền này đến từ một doanh nghiệp Trung Quốc, có trụ sở tại Bắc Kinh, mang tên Power Grid Corporation. Đây là một công ty lớn trong lĩnh vực phân phối điện. Khoản tiền mờ ám kể trên, được nghi là để trả công cho những người đánh cắp bí mật của Renault, rất có thể đã được chuyển qua một loạt các cơ sở trung gian tại Thượng Hải và Malta.”
Từ Bắc Kinh, Trung quốc cũng đã sử dụng gián điệp, hối lộ tiền bạc để mua những bí ẩn nghề nghiệp của Âu châu. Nếu bỏ tiền giúp đỡ hoặc đầu tư vào Liên Âu, thì Trung quốc tha hồ khám phá những bí ẩn nghề nghiệp của Liên âu vậy.
3) Châu Âu muốn kiểm soát đầu tư của các công ty Trung Quốc
Cũng theo Ông Trọng Thành, thì Âu Châu muốn kiểm soát đầu tư của các Công ty Trung quốc. Bản tin như sau:
“Nhật báo kinh tế Les Echos hôm nay, chạy tựa trên trang nhất “Bruxelles muốn ngăn chặn việc Trung Quốc mua các công ty Châu Âu”. Trả lời phỏng vấn nhật báo Handelsbaltt của Đức, Ủy viên Châu Âu về Công nghiệp Antonio Tajani đã cho biết nỗi lo ngại về của ông trước ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc.
Cụ thể là các doanh nghiệp Trung Quốc ngày càng có khả năng mua được “các doanh nghiệp Châu Âu sở hữu các công nghệ then chốt trong các lĩnh vực quan trọng”. Theo Ủy viên công nghiệp Châu Âu, tuy đây là một hoạt động đầu tư kinh tế, nhưng “ẩn đằng sau đó là một chiến lược chính trị”, chính vì thế “Châu Âu cũng cần phải phản ứng lại về mặt chính trị”.
Dựa trên mô hình của Ủy ban phụ trách các đầu tư nước ngoài của Hoa Kỳ, ông Antonio Tajani dự kiến thành lập một cơ quan kiểm soát các đầu tư tại Châu Âu. Mặc dù hiện tại, Ủy ban Châu Âu chưa nhận được các đề xuất lập pháp mới, làm cơ sở cho sự ra đời của một cơ quan như vậy, nhưng, theo một chuyên gia Châu Âu am hiểu về tình hình, chắc chắn Ủy viên Châu Âu về Công nghiệp đã phải có lý do mới đưa ra một đề xuất như vậy”
4) Nhiều nước Âu châu ngăn cấm những “China Town”
Tại Âu châu, chỉ có “China Town” ở Luân Đôn và Paris. Chúng tôi biết rằng ba Quốc gia Âu châu đặc biệt ngăn cấm việc mở những “China Town” ở bất cứ thành phố nào của họ. Lý do ngăn cấm là họ không muốn một “quốc gia “ trong một quốc gia với tất cả những phức tạp mà họ phải tiêu tốn tiền bạc để kiểm soát những bí ẩn “vô luật lệ “ bên trong những “China Town “ ở thành phố của họ. Tại nước Đức, có rất nhiều thành phố lớn, nhưng người Tầu không thể thành lập được “China Town”. Tại Ý cũng vậy, chúng ta không tìm thấy những khu Tầu như ở Luân Đôn và Paris.
Riêng tại Thụy sĩ, một nhân viên thuộc ủy ban Tỵ nạn đã cho chúng tôi biết rằng ngay tứ đầu khi nhận những người Tỵ nạn Việt Nam mà họ biết trong đó có nhiều người gốc Tầu, Thụy sĩ tản nghững người Tỵ nạn ra nhiều nơi để tránh việc tụ họp lại một khu trong thành phố. Họ muốn tránh những tụ họp thành “China Town”.
Qua sự việc ngăn cản “China Town” này, chúng ta hiểu rằng một số nước Âu châu chắc chắn nghi ngờ rằng nếu trường hợp Trung quốc đầu tư vào Liên Âu, thì sẽ có những gian lận, không sòng phằng trong nền Kinh tế của họ.
Qua Thương mại, Trung quốc đã thâu Mãi lực Thị trường Liên Âu về cho mình. Bây giờ lại dùng chính những tiền thâu được ấy, Trung quốc muốn thâu về cho mình những bí quyết ngành nghiệp, những chất xám của Liên Âu.
Nhận định của chúng tôi về việc Trung quốc muốn bỏ tiền vào Liên Âu
Nhận định của chúng tôi bắt đầu từ câu hỏi: Trung quốc có khối Tiền dự trữ lớn, đồng thời cũng có khối người nghèo khổng lồ cần phải đầu tư vào đó để cải thiện đời sống. Tại sao không đầu tư tại nội địa, mà phải mang Tiền đi làm việc giúp đỡ dân nước ngoài ?
Chúng tôi có những cắt nghĩa như sau đây:
1) Việc thu vào được nhiều Tiền không phải là cho dân mà cho những cá nhân thuộc đảng CSTQ. Đây là Kinh tế Mafia nhóm đảng, chứ không phải Kinh tế của nước Tầu. Nói Trung quốc có dự trữ Tiền bạc nhiều thì không trúng, mà phải nói rằng dự trữ Tiền bạc đó là của nhóm đảng hay những tư nhân con cháu đảng. Nước Trung quốc vẫn nghèo, chỉ có nhóm đảng CSTQ là trở thành triệu phú, tỉ phú.
Nhóm đảng triệu phú, tỉ phú này tất nhiên không nghĩ đến đời sống nghèo khổ của dân chúng Tầu, mà chĩ nghĩ đến cất giữ tiền riêng của mình cho kỹ. Họ cũng là người Tầu, nhưng lại không muốn cất giữ Tiền bạc tại Trung quốc vì sợ một ngày nào đó, khi có thay đổi quyền lực hay dân chúng đứng dậy lật đổ họ, họ sẽ mất hết Tiền bạc đã ăn cắp được.
Để có thể cất giữ an toàn tài sản, nhóm đảng Mafia CSTQ luôn luôn muốn chuyển Tiền bạc ra nước ngoài. Để có thể chuyển ra một cách danh chính ngôn thuận, phải tìm cách đầu tư, mua những Công ty ngoại quốc, thâm chí dưới hình thức giúp đỡ Tài chánh.
Nếu Liên Âu chấp nhận cho việc Trung quốc đầu tư hay mua các Công ty tại Liên Âu, đó là việc tiếp nhận những món Tiền mà nhóm đảng Fafia cướp bóc của dân Trung quốc để đem ra nước ngoài xin “tỵ nạn “, đó là tiếp nhận những món tiền biển thủ phi nhân. Một đàng thì Âu châu rêu rao thanh trừng việc rửa tiền bẩn, một đàng thì lại tiếp nhận những món tiền của nhóm đảng Mafia CSTQ để rửa sạch dùm họ.
Trường hợp Việt Nam cũng vậy. Nhiều những lãnh đạo đảng CSVN bóc lột, tham nhũng để có tiền triệu. Qua những Việt kiều, họ tìm cách đầu tư ở những cơ sở làm ăn tại California chẳng hạn. Họ không dám để Tiền ăn cướp được tại Việt Nam vì lo ngại đến một ngày nào đó, Dân nổi dậy, họ mất cả chì lẫn chài.
2) Lý do thứ hai liên hệ đến chính nền Kinh tế Trung quốc. Thực vậy, nền Kinh tế Trung quốc dựa trên xuất cảng, nhất là cho hai Thị trường lớn Hoa kỳ và Liên Âu. Nếu nền Kinh tế lệ thuộc vào xuất cảng, thì Trung quốc rất lo ngại về những Biện pháp Che chỡ Mậu dịch. Sau cuộc Khủng hoảng, Mãi lực của hai Thị trường này giảm xuống. Những Biện pháp Che chở Mậu dịch đã là con ma đe dọa Trung quốc hàng ngày.
Để có thể tránh những Biện pháp Che chở Mậu dịch này, thì việc sản xuất của Trung quốc phải đặt một đầu cầu tại chính hai Thị trường Hoa kỳ và Liên Âu. Thực vậy, đối với những Tập đoàn sản xuất Liên quốc gia (Multinationales), việc đặt một đầu cầu ở một quốc gia là biện pháp tránh những cản ngăn quan thuế.
Trung quốc tha thiết đầu tư hoặc mua lại những Công ty thuộc Liên Âu là nhằm đặt một đầu cầu cho xuất cảng của họ vào thị trường Liên Âu này. Ngày mà Hong Kong còn thuộc Anh quốc, những sản xuất của Quảng Đông đã đặt đầu cầu tại Hong Kong để có thể xuất cảng sang cả Thị trường chung Âu châu vì Hong Kong thuộc nước Anh, mà nước Anh lại thuộc thuộc Thị trường chung Âu châu này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 13.01.2011 Web: http://VietTUDAN.net
| | | |
VIỆT NAM: VỠ NỢ KINH TẾ & LẠM PHÁT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 09.12.2010 Web : http://VietTUDAN.net
Tuần trước, chúng tôi viết bài với đầu đề TRUNG QUỐC: LẠM PHÁT VÀ HẬU QUẢ, nghĩa là Lạm phát là cái nguyên nhân đem đến những Hậu quả nguy hại cho Kinh tế Trung quốc. Tuần này viết về Lạm phát tại Việt Nam, chúng tôi lại chọn đầu đề VIỆT NAM: TỤT DỐC KINH TẾ VÀ LẠM PHÁT, nghĩa là chính việc tụt dốc Kinh tế là cái nguyên nhân đang đẩy Lạm phát đến chóng mặt.
Những gì xẫy ra tại Việt Nam thường đi ngược lại với những nước chung quanh. Đúng như lời Phạm Văn Đồng tuyên bố trước Quốc Hội một cách long trọng: “Những gì các nước khác không làm được, thì ta làm được. Đầu năm tới, Nhà Nước sẽ cung cấp cho dân Hà Nội mỗi buổi sáng một cốc SỮA TRÂU !” (Trích lại lời Giáo sư Tiến sĩ Toán CHỬ VĂN ĐÔNG tại Varsovie). Ngườ ta thường cho dân uống sữa bò, thì ta cho dân uống sữa trâu mới đặc biệt.
Bài này lần lượt bàn những điểm sau đây: => Một vài ý niệm giáo khoa về Lạm phát => Tình trạng tụt dốc Kinh tế tại Việt Nam => Lạm phát và những nguyên nhân => Phải đánh thẳng vào Chủ trương Kinh tế quốc doanh
Một vài ý niệm giáo khoa về Lạm phát
Xin các bậc thức giả cho phép tôi nhắc lại một vài ý niệm giáo khoa về Lạm phát để làm cái sườn cho chúng tôi cắt nghĩa những lý do Lạm phát, Vật giá leo thang tại Việt Nam.
Lạm phát, Vật giá leo thang là một sự so sánh giữa Lãnh vực đồng Tiền, phương tiện trao đỗi hàng hóa, và Lãnh vực Kinh tế thực gồm những hàng hóa được sản xuất ra và trao đổi. Lượng Tiền lưu hành trong dân gian và Lượng hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của dân gian cùng song hành. Khi so sánh hai Lượng song hành ấy, người ta định một Chỉ số tổng quát cho tương đương giữa đơn vị Tiền tệ và đơn vị Hàng hóa tiêu thụ. Vật giá có nghĩa là sự so sánh tương đương này. Khi nói Tỷ giá Hối đoái là nói sự tương đương giữa hai đồng Tiền, còn nói Vật giá là nói sự tương đương giữa đơn vị một đồng Tiền với đơn vị Hàng hóa Tiêu thụ.
Để tóm tắt sự tương đương ấy, chúng tôi lấy lại Công thức của FISHER ở dạng đơn giản nhất:
M.V ---------- = P T
“H” là Khối lượng Tiền. “V” là tốc độ lưu hành (tốc độ nhanh làm lượng Tiền nhiều lên trong khoãng thời gian nhất định). “T” bao gồm tất cả lượng hàng hóa thực trao đổi trong khoảng thời gian nhất định của lượng Tiền lưu hành. “P” là Chỉ giá tổng quát Tiêu thụ, kết quả của so sánh giữa Khối lượng Tiền lưu hành và Khối lượng hàng hóa trao đổi ở trong một khoảng thời gian nhất định.
Khi “P” tăng, người ta gọi là Lạm phát hay Vật giá leo thang, nghĩa là phải dùng nhiều đơn vị đồng Tiền mới có được cùng đơn vị hàng hóa trước đây. Nhìn một cách đơn giản theo Công thức, thì khi “P” tăng, người ta thấy những trường hợp sau đây:
(i) Trường hợp thứ nhất: Lượng Tiền lưu hành tăng và Lượng hàng hóa đứng yên
Đây là trường hợp Lạm phát Tiền tệ, mà người ta thường gọi lá phá giá đồng bạc. Tỉ dụ một Nhà Nước độc tài độc đoán in thêm tiền mới cho vào lưu hành chung với tiền đang sử dụng của dân gian.
(ii) Trường hợp thứ hai: Lượng hàng hóa giảm và Lương Tiền lưu hành đúng yên
Đây là trường hợp tụt dốc Kinh tế thực, nghĩa là khả năng cung cấp hàng hóa cho trao đổi bị sút kém đi. Tỉ dụ hiệu năng sản xuất hàng hóa kém sánh với khối tiền lưu hành đang được sử dụng. Trong Đệ nhị Thế chiến, các đồng tiền Âu châu mất hẳn giá vì không có hoạt động sản xuất hàng hóa Kinh tế: đồng Franc Pháp cũ, đồng Mark Đức cũ, đồng Lire Ý, đồng Yen Nhật.
(iii) Trướng hợp thứ ba: Lượng Tiền lưu hành tăng và Lượng hàng hóa giảm
Đây là trường hợp mà hai lực làm Lạm phát hợp lại để làm Lạm phát trở thành phi mã (Inflation galoppante) và Vật giá leo thang chóng mặt ! Tỉ dụ trước đây, thời mà Đệ Tam quốc tế Cộng sản mở những Mặt Trận Giải Phóng (Front de Libération) tại những nước Phi châu và Nam Mỹ. Hoạt động sản xuất hàng hóa đình trệ hoặc bị phá hoại, trong khi ấy Nhà Nước đương quyền phải trả lương Lính và Công chức, nên in Tiền mới ra làm Khối lưu hành Tiền tệ được thổi phồng lên. Lạm phát ở Ba Tây có lúc lên tới 1’600%.
Chúng tôi cũng xin chú thích thêm rằng không phải mọi Lạm phát đều xấu. Người ta phân biệt Lạm phát vui sướng (Inflation heureuse) và Lạm phát buồn cực (Inflation malheureuse). Lạm phát vui sướng khi mà một nước có phát triển Kinh tế đều đặn, dân chúng có thu nhập tăng, nên chi tiêu nhiều hơn khiến giá hàng hóa tăng lên. Trong trường hợp này, Ngân Hàng Trung ương chỉ cần điều chỉnh khối Tiền lưu hành cho phù hợp với đà tăng trưởng hàng hóa. Lạm phát buồn cực là khi dân nghèo bị vật giá lại tăng vọt, khiến dạ dầy đói.
Lạm phát ở Việt Nam hiện nay là loại Lạm phát gì và ở trường hợp nào trong ba trường hợp trên đây ?
Tình trạng tụt dốc Kinh tế tại Việt Nam
Chúng tôi không hiện diện ở Việt Nam để chứng kiến cảnh tụt dốc Kinh tế. Nhưng có những nhân vật quốc tế đáng tin cậy họp chính tại Hà Nội và nói với Nhà Nước CSVN về mô hình Kinh tế nguy hiểm và nguy cớ tụt dốc mau chóng của Kinh tế Việt Nam. Chúng tôi xin trích đăng lại những tuyên bó của các nhân vật ấy.
Nhân vật thứ nhất mà chúng tôi trích dẫn là Giáo sư Michael PORTER, người được chính Nguyễn Tấn Dũng nhờ cậy nghiên cứu và thẩm định về mô hình Kinh tế VN cũng như tương lai của nó. Giáo sư đưa ra nhận định rõ rệt:
“Khi xem xét kỹ mô hình phát triển được áp dụng từ trước tới nay để xem có tiếp tục phù hợp với Việt Nam nữa không, câu trả lời của tôi là không”.
“Mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào việc khai thác các lợi thế có sẵn như tài nguyên và nhân công giá rẻ. “
“Nhiều chính sách vĩ mô có thể kích thích tăng trưởng trong ngắn hạn, nhưng lại không có tác dụng, hoặc thậm chí có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng năng suất dài hạn của Việt Nam”.
“Các mất cân đối vĩ mô lớn như cán cân thương mại và tài khoản vãng lai, tỷ lệ tiết kiệm – đầu tư, lạm phát và tỷ giá hối đoái có thể gây ra những hậu quả “không thể xem thường. Ít nhất, chúng tạo ra tâm lý với các nhà đầu tư rằng, rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam là rất cao. Các mất cân đối vĩ mô này có thể làm phát sinh khủng hoảng, khi niềm tin bị xói mòn và các dòng vốn nước ngoài chảy khỏi Việt Nam”.
“Nếu Việt Nam không vượt qua được cách thức tăng trưởng hiện nay, quốc gia sẽ bị tắc ở mức thu nhập trung bình thấp và phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước có thu nhập thấp hơn đang trỗi dậy”.
Giáo sư kết luận:
“Tôi sẽ rất buồn nếu báo cáo này chỉ được để trên giá sách. Tôi hy vọng phó Thủ tướng sẽ giao các cơ quan nhà nước sử dụng báo cáo này trong quá trình hoạch định chính sách”.
Nhân vật thứ hai mà chúng tôi trích dẫn là Ông Adam SITKOFF, Giám đốc Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam. Theo Ông, việc Lạm phát hiện nay chỉ là sự phát hiện của một tình trạng tụt dốc Kinh tế có tính cách vĩ mô. Chính vì vậy mà trong Diễn đàn Doanh nghiệp họp tại Hà Nội hôm 2/12, Ông Adam Sitkoff nhấn mạnh muốn chính phủ ổn định kinh tế vĩ mô thì tốt hơn.
Trả lời Phỏng vấn cho BBC, Ông nói:
“Có hai chủ đề chúng tôi nêu ra trong cuộc họp diễn đàn doanh nghiệp ngày 2/12 tại Hà Nội. Đó là chính phủ cần để ý duy trì ổn định kinh tế vĩ mô tốt hơn. Đề ra chính sách hữu hiệu để kiềm chế tỷ lệ lạm phát – vốn đang khá cao. Hiện lạm phát đang ảnh hưởng đến đời sống và sức mua của người dân. Thứ hai là chúng tôi muốn thấy chính phủ nghiêm túc thúc đẩy cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước. Sau vụ khủng hoảng tại Vinashin, chúng tôi quan sát thấy các tập đoàn kinh tế nhà nước khác phải nhận bớt nợ và bị gán tài sản của Vinashin. Cách giải quyết các khoản nợ của Vinashin vẫn còn chưa minh bạch.
Cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ tin rằng chính phủ nên giảm bớt can thiệp vào quá trình làm ăn và kinh doanh của doanh nghiệp. Cạnh đó trong lúc tỷ lệ tư hữa hóa được đẩy mạnh, doanh nghiệp nhà nước vẫn kiểm soát hầu hết các loại hình kinh doanh quan trọng ở Việt Nam. Chúng tôi muốn thấy điều này thay đổi. Chính phủ nên tập trung vào các tiêu chuẩn kế toán, hạch toán được quốc tế công nhận liên quan đến cách tính thuế và thu thuế, để góp phần loại trừ tham nhũng. Hành động thường xuyên bơm thêm vốn cho doanh nghiệp quốc doanh đang ngập trong nợ nần không phải là cách dùng tiền thuế của dân tốt nhất.”
Vụ Tập đoàn quốc doanh VINASHIN thua lỗ tới USD.4.4 tỉ đang lan tràn sang các Tập đoàn quốc doanh khác, khiến giới Ngân Hàng quốc tế nhìn thấy tình trạng đe dọa vỡ nợ của nền Kinh tế quốc doanh. Các Tổ chức thẩm định quốc tế như MOODY, STANDARD & POOR’S đều đồng loạt hạ giá những Tập đoàn Kinh tế nhà nước để khả năng vay vốn của Việt Nam đi đến cho bế tắc rất gần đây.
Việc VINASHIN xin khất nợ USD.60 triệu với những lời lẽ như hé lộ ý tưởng dựt nợ tạo ảnh hưởng rất xấu cho tương lai tài chánh Việt Nam.
Trong khi các Tập đoàn Kinh tế Nhà nước tụt dốc, bị đe dọa vỡ nợ, tạo một viễn tượng bí lối vay vốn tương lai, thì khả năng Tài chánh của chính Nhà Nước đang đi vào kiệt quệ. Chúng tôi xin trích ngay Báo chí quốc nội:
“Lời báo động của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế được đưa ra hôm 07/12 tại Hội nghị thường niên các nhà tài trợ cho Việt Nam, diễn ra trong 2 ngày (7-8/12) tại Hà Nội. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, tính đến tháng 9 vừa qua, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã xuống đến mức chỉ còn bảo đảm được không đầy 2 tháng nhập khẩu.
Trong tham luận tại hội nghị, ông Masato Miyazaki, đại diện cho Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, không cho biết số liệu cụ thể về dự trữ ngoại tệ của Việt Nam, mà chỉ ghi nhận rằng: “Dự trữ quốc tế của Việt Nam đã ổn định trong năm nay nhưng vẫn còn ở mức thấp, khoảng 1,8 tháng nhập khẩu tính đến tháng Chín năm nay”.
Cũng theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, mức dự trữ vào tháng 12 năm ngoái chỉ bảo đảm được không đầy 2,5 tháng nhập khẩu mà thôi.”
Lạm phát và những nguyên nhân
Như trên chúng tôi đã nói, việc tụt dốc của nền Kinh tế vĩ mô tại Việt Nam mới là chính yếu. Tình trạng Lạm phát, Vật giá nhẩy vọt hiện nay chỉ là sự phát hiện nổi lên tác hại đến đời sống dân chúng. Báo chí quốc nội không thể không đăng tãi tình trạng Lạm phát buồn cực này (Inflation malheureuse), hậu quả của tụt dốc cả một bộ máy Kinh tế nhà nước. Chúng tôi xin trích đăng Báo chí quốc nội.
“SÀI GÒN (TH) - Lạm phát gia tăng nhanh chóng trong mấy tháng qua, vượt qua mặt những chỉ tiêu mà Quốc Hội đề ra cũng như các biện pháp “bình ổn giá” mà nhà cầm quyền quảng cáo. Hậu quả, những người có đồng lương cố định và đại đa số quần chúng đều nghèo khó lại thêm phần khốn đốn.
Tờ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam trong một bản tin ngày 29 tháng 11, 2010 về “lo âu đường đi của giá” nói rằng, ‘luôn có trên 50% bạn đọc cho biết họ đang thực sự gặp khó khăn.’
Theo các con số do Tổng Cục Thống Kê ở Hà Nội đưa ra, lạm phát tăng nhanh nhất ba tháng trở lại đây của năm nay và là mức gia tăng tệ hại nhất trong suốt 20 tháng qua. Ðây là hệ quả của chính sách đánh sụt giá đồng nội tệ nhằm cứu ngành sản xuất xuất cảng gây ảnh hưởng dây chuyền lên cả nền kinh tế.
Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, giá cả gia tăng 11.09% trong tháng 11, 2010 so với một năm trước. Ðây là tỉ lệ lạm phát gia tăng nhiều nhất từ tháng 3, 2009 mà vào thời điểm đó lạm phát nằm ở 11.25%. Tháng 10, 2010, lạm phát là 9.66%. Nếu chỉ tính từng tháng một thì lạm phát của tháng 11 đã tăng hơn tháng mười 1.86%.
Cuối năm 2009, Quốc Hội của chế độ Hà Nội biểu quyết “chỉ tiêu lạm phát trong năm 2010 phải dưới 7%”. Nhưng đến tháng 5, 2010, thấy không kềm nổi, nhà cầm quyền trung ương “xin điều chỉnh chỉ tiêu lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI)” lên “không quá 8%”.
“Giá của tất cả mọi loại thực phẩm mà chúng tôi mua ở các chợ địa phương đều gia tăng đáng kể so với tháng trước”. Craig Jackson, quản lý nhà hàng Al Fresco (cũng có chi nhánh ở Hà Nội) nói như vậy và phải trình bày với thức khách lý do “những bất ổn trong tỉ giá” đã làm giá thực phẩm tăng vọt.
Theo báo Người Lao Động hôm 20 tháng 11, 2010 vừa qua, các siêu thị ở Sài Gòn đã tăng giá ít nhất 10%. Gạo, một thứ căn bản của bữa ăn người Việt Nam, lên giá ít nhất cũng 4%, trong khi nhà cầm quyền khoe năm nay sẽ xuất cảng 6.5 triệu tấn gạo.
Nói chung, giá thực phẩm đã gia tăng 14.78% so với một năm trước trong đó một số thứ còn tăng đến 20.45%, theo Tổng Cục Thống Kê nói trên.
Theo tờ Người Lao Động, một số mặt hàng khác gắn liền với đời sống hàng ngày là đường và gas cũng tăng đáng kể.
Báo Người Lao Động dẫn nguồn tin từ Cục Quản Lý Giá (Bộ Tài Chính Việt Nam), nói giá bán lẻ đường trắng trong nước 15 ngày đầu tháng 11 khoảng 19,000-21,000 đồng/kg, tăng 1,000 đồng/kg so với tháng 10.”
Chúng tôi trở lại Công thức của FISHER trình bầy với tính cách tóm gọn giáo khoa ở đoạn đầu để nhìn những lý do căn bản tạo tình trạng Lạm phát, Vật giá leo thang hiện nay ở Việt Nam:
(i) Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh được Nhà Nước rót vào cho phồng lên số vốn, nghĩa là đã cho những Tập đoàn này lượng tiền lưu hành lớn (M.V tăng)
(ii) Nhà Nước đứng ra như bảo đảm cho những Tập đoàn này vay vốn nước ngoài, càng làm phồng lên khối Tiền lưu hành (M.V tăng)
(iii) Nhà Nước thiếu hụt Ngân sách, nhưng Nhà Nước độc tài đã phá giá đồng bạc Việt Nam, in Tiền mới rót vào lưu hành vá đặc biệt rót cho các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh để dân chúng hứng chịu cảnh Lạm phát Tiền tệ này (M.V tăng)
(iv) Trong khi ấy, các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh tham nhũng, lãng phí, không sản xuất hàng hóa cho tương xứng với số vốn nhận được. Không có hiệu năng Kinh tế, nghĩa là giảm sút hẳn sản xuất hàng hóa. Việc này làm giảm lượng hàng hóa trao đổi “T” trong Công thức của Fisher. Thổi phồng vốn lưu hành Tiền tệ và tụt dốc sản xuất hàng hóa, các Tập đoàn Kinh tế nhà nước đã hiệp hai lực (“M.V” tăng và “T” giảm) làm cho Lạm phát phi mã (Inflation galoppante) và Vật giá vọt lên chóng mặt.
Chính vì hiểu cái nguồn gốc phát sinh Lạm phát và Vật giá tăng vọt như vậy mà các nhân vật quốc tế họp tại Hà Nội đã khuyên Nguyễn Tấn Dũng phãi thay đổi mô hình Kinh tế vĩ mô nền tảng, chứ không chỉ nguyên hô hào dùng dầu cù là thoa bóp Lạm phát và Vật giá nhất thời. Phải trị từ cội nguồn Lạm phát.
Chính vì cái cội nguồn này mà chúng tôi thấy có sự khác biệt giữa Lạm phát Trung quốc và Lạm phát Việt Nam:
* Lạm phát Trung quốc một phần do độc chiêu QE2 $600 tỉ làm cho lượng vốn quốc tế đầu cơ dồn vào để kiếm lợi nhuận cao. Trong khi ấy, vốn đầu cơ quốc tế không vào Việt Nam vì sợ vào không những không có lợi nhuận mà còn sợ mất vốn vì Kinh tế sắp vỡ nợ.
* Tỷ giá Đo-la xuống tại Trung quốc để tự động đẩy Tỷ giá đồng Yuan lên. Nhưng tại Việt Nam, Tỷ giá tiền Đồng VN lại tăng lên VN$.2’000 đối với Đo-la, nghĩa là giá đồng Tiền VN xuống mà giá đồng Đo-la lại lên. Dân Việt Nam và giới Hối đoái không còn tin tưởng ở Đồng bạc Việt Nam đã phá giá 3 lần trong một năm.
Thật đúng như lời Phạm Văn Đồng là những gì nước khác làm không được thì nước ta làm được, nhưng làm ngược chiều.
Phải đánh thẳng vào Chủ trương Kinh tế quốc doanh
Đã từ nhiều năm nay, chúng tôi luôn luôn kêu gọi rằng phải đánh thẳng vào Chủ trương Kinh tế quốc doanh. Việc tụt dốc Kinh tế VN, việc xuất hiện Lạm phát buồn cực (Inflation malheureuse) lúc này chính là do Nhà Nước sử dụng những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh để nắm độc quyền Kinh tế Quốc gia như chúng ta đã thấy hậu quả được trình bầy trong những phần trên đây.
VINASHIN, VINACOMIN… chỉ là những Tập đoàn Kinh tế Nhà nước chường ra cái tên. Nhưng có một thứ Vi trùng không mang tên làm ruỗng những Tập đoàn ấy. Đó là Vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ chui xuyền qua đãng và các Tập đoàn để đục khoét làm tụt hậu Kinh tế Quốc gia. Những con Vi trùng này cố thủ giữ Chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế để chúng chui rúc ẩn danh giữa hai quyền lực này mà đi đêm, đánh đĩ với nhau đẻ ra cả ổ Vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ thi nhau đục khoét Kinh tế Quốc gia.
Đó là lý do coat lõi điếm đàng thâm cung bí sử mà những nhân vật quốc tế chỉ nói bóng gió, chứ không dám nói huỵch toẹt ra.
Tôi xin phép nói hụyh toẹt ra rằng phải DỨT BỎ CHÍNH CÁI CƠ CHẾ CSVN ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ NẮM ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để THAM NHŨNG LÃNG PHÍ thì mới có thể phát triển Kinh tế Việt Nam được.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 02.12.2010 Web : http://VietTUDAN.net
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx | | | |
CSVN KHÔNG TRẢ NỢ ĐÁO HẠN VÀ HẬU QUẢ CHO CẢ DÂN CHÚNG VIỆT NAM
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 20.12.2010 Web : http://VietTUDAN.net
Ngày 16.12.2010, chúng tôi viết bài với đầu đề VINASHIN QUỴT NỢ NƯỚC NGOÀI !(?). Món nợ nước ngoài tổng cộng là USD.600 triệu. Ngày hôm nay 20.12.2010, theo thời biểu hoàn vốn, thì Vinashin phải trả USD.60 triệu, nhưng Vinashin xin hoãn và phía Tài chánh nước ngoài chưa trả lời chấp thuận hay không.
Hôm nay, chúng tôi nhận được được hai Bản Tin do Đài RFI gửi cho :
1) Bản Tin của BLOOMBERG, ngày 20.12.2010, do Bà Katrina NICOLAS từ Singapore, với đầu đề VIETNAM DEFAULT SWAPS SOAR AS LENDERS AWAIT $60 MILLION VINASHIN REPAYMENT.
2) Bản Tin của AFP, ngày 20.12.2010, từ Hà Nội đánh đi.
Chúng tôi xin viết về nội dung của hai Bản Tin này để độc giả tiện theo rõi những gì đang xẩy ra, nhất là tầm ảnh hưởng tai hại cũa việc không trã nợ đáo hạn không phải cho riêng Vinashin mà cho cã tương lai Kinh tế, Thương mại Việt Nam.
Bản chất món nợ và Thời biểu hoàn vốn
Tập đoàn nhà nước VINASHIN là phía xin vay USD.600 triệu. Phía xin vay nhờ CREDIT SUISSE giúp đỡ để kêu gọi cho vay số tiền là USD.600 triệu vào năm 2007. CREDIT SUISSE kêu gọi trong nghiệp đoàn của mình (Syndicat bancaire) gồm Standard Chartered Bank và Tập đoàn vốn Elliott Advisors Ltd. để cùng góp số vốn cho vay là USD.600. Thời hạn vay là 7 năm. Số vốn này phải hoàn lại trong vòng 5 năm, mỗi 6 tháng trả USD.60 triệu, bắt đầu lần trả đầu tiên là ngày 20.12.2010.
Vinashin không đủ tín nhiệm để vay món nợ, nên món nợ này phải được bảo đảm bởi Chính phủ Việt Nam. Thực vậy, Bản Tin của AFP từ Hà Nội viết rõ rệt như sau:
“… un emprunt de 600 millions syndiqué par le Crédit Suisse et garanti par le gouvernement vietnamien. « (… món vay 600 triệu được được tổ chức bởi Crédit Suisse và được bảo đảm bởi chính phủ Việt Nam).
Đối với việc trả lần đầu USD.60 triệu này, Vinashin làm đơn xin hoãn lại một năm, lấy lý do Tập đoàn Vinashin thua lỗ USD.4.4 tỉ và ở trong tình trạng gần như vỡ nợ. Lý do này cũng được hiểu như lời đe dọa quỵt nợ của Vinashin.
Bản Tin của Bloomberg viết :
“The Company (Vinashin) which the government says had debt of about 86 trillion dong (USD.4.4 billion) as of June, won’t be able to make the loan repayment because of lack of funds, Chairman Nguyen Ngoc Su told the Vietnam Economic Forum website last week “. (Công ty (Vinashin) mà chính phủ nói là đã có món nợ chừng 86 ngàn tỉ đồng (USD.4.4 tỉ) vào tháng 6, nên không thể hoàn trả do thiếu thiếu vốn, Chủ tịch Nguyễn Ngọc Sử đã nói như vậy tuần rồi cho Hội Nghị Kinh tế Việt Nam).
Theo Bản Tin của AFP, món nợ được bảo đảm bởi chính phủ Việt Nam (garanti par le gouvernement vietnamien), thì Nghiệp đoàn Ngân hàng Crédit Suisse mới tổ chức và ưng thuận cho vay. Nếu Tập đoàn Nhà nước Vinashin vỡ nợ, không trả được, thì Chính phủ Việt Nam phải chịu trách nhiệm hoàn trả đúng hạn, trừ trường hợp Nhà Nước Việt Nam cũng tuyên bố vỡ nợ để xin hoãn nợ.
Khi đã bảo đảm cho món nợ này, mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố Nhà Nước không chịu trách nhiệm hoàn nợ, đó là điều quá ngỗ nghịch, cối chầy như tuyên bố qụyt nợ vậy.
Hậu quả của việc xin hoãn trả USD.60 triệu lần đầu
Những hậu quả này không phải cho riêng Tập đoàn Vinashin, mà cho cả những Tập đoàn nhà nước khác cũng như cho Kinh tế, Thương mại chung của cả nước Việt Nam. Chúng tôi nói về những hậu quả trước ngày 20.12.2010, rồi tức khắc trong ngày hôm nay 20.12.2010, và sau này cho tương lai tín dụng của Việt Nam.
Hậu quả trước 20.12.2010
Tình trạng thua lỗ USD.4.4 tỉ đã làm cho giới Tài chánh quốc tế đánh giá rất thấp về nền Kinh tế Việt Nam trong tay độc quyền của các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh. Thêm vào đó, Ngân sách Nhà nước thiếu hụt trầm trọng, kho dự trữ ngoại hối chỉ còn bảo đảm nhập cảng trong vòng hơn một tháng. Gần hơn cả, khi nói về hoàn nợ USD.60 triệu, thì Chủ tịch Nguyễn Ngọc Sử tuyên bố Công ty hầu như vỡ nợ, nghĩa là hé cho thấy tình trạng như quỵt nợ. Nhưng điều quan trọng hơn cả là Thủ tướng tuyên bố Chính phủ không chịu trách nhiệm hoàn vốn mặc dầu đã bảo đảm cho món nợ này (garanti par le gouvernement vietnamien).
Những tuyên bố này cho thấy ý định muốn QUỴT NỢ.
Vì vậy, trước ngày 20.12.2010, giới Tài chánh và các Tập đoàn Thẩm định Tín dụng như MOODY’S, STANDARD & POOR’S đã đồng loạt hạ điểm các Công ty quốc doanh Việt Nam. Việc hạ điểm này không những đối với các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh, mà còn cả đến những nợ nần Nhà nước vì họ biết rằng những Tập đoàn Kinh tế này cũng chính là Nhà Nuớc.
Bản Tin của AFP từ Hà Nội viết:
“L’agence de notation STANDARD & POOR’S a souligné la semaine dernìere que la situation de Vinashin fragilisait le système bancaire et les capacités de crédit de l’ensemble du pays communiste. Tandis que MOODY’S dégradait la note des obligations d’Etat vietnamiennes, en raison notamment des dettes abysssales des conglomérats d’Etat. »
(Chi nhánh định điểm STANDARD & POOR’S đã chú thích tuần vửa rồi rằng tình trạng của Vinashin đã làm mong manh hệ thống ngân hàng và những khả năng vay vốn của toàn thể nước cộng sản. Trong khi ấy, MOODY’S đã hạ điểm những công trái phiếu Nhà Nước Việt Nam chỉ vì lý do chính yếu là những nợ nần tận đáy của những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh)
Hậu quả tuyên bố chính ngày hôm nay, 20.12.2010
Theo Tập đoàn Royal Bank of Scotland, tin từ Singapore cho biết là lúc 13g18, điểm căn bản để bảo vệ nợ của Nhà Nước Việt Nam đã tăng lên 295 điểm. Mỗi điểm được tính phải trả là USD.1'000 cho việc bảo đảm mỗi món nợ USD.10 triệu, nghĩa là cứ USD.10 triệu, phải trả thêm tiền bảo đảm là : 295 x USD.1'000.- = USD.295'000.-. Nếu món nợ là USD.60 triệu chưa kịp trả, thì phải chịu : USD.295'000 x 6 = 1'770'000.-
Trong ngày hôm nay cho đến lúc này, theo Bản Tin của Bloomberg từ Singapore, mọi phía yên tiếng và chờ đợi nhau, khước từ mọi bình luận. Tập đoàn KPMG Hồng Kông đã được chỉ định cố vấn cho Con nợ Vinashin, trong khi ấy Tập đoàn Luật ALLEN & OVERY đã được ủy nhiệm bởi phía Chủ nợ như cố vấn Luật pháp. Ông Edward MIDDLETON thuộc phía Tập đoàn Hồng Kông KPMG đã từ chối không trả lời. Cũng vậy, Ông David KIDD thuộc Tập đoàn Luật pháp ALLEN & OVERY cũng từ chối bình phẩm. Ngay cả phát ngôn viên CREDIT SUISSE Hong Kong và Ông Adam HARPER đại diện Chủ vốn ELLIOTT Advisers cũng từ chối bình phẩm.
Bản Tin của AFP từ Hà Nội cũng nói về sự yên lặng từ hai phía :
« Ni Crédit Suisse ni Vinashin n’ont répondu lundi aux questions de AFP »
(Cả Crédit Suisse, cả Vinashin đều đã không trả lời ngày thứ hai cho những câu hõi của AFP).
Mỗi bên như đang giữ thế : làm thế nào QUỴT NỢ (?) và làm thế nào ĐÒI ĐƯỢC NỢ. Tình trạng căng thẳng giữ thế này sẽ làm mất tin tưởng vào khả năng vay vốn của Việt Nam.
Hậu quả sau 20.12.2010 nếu Việt Nam không tôn trọng hoàn nợ đáo hạn.
Nhận định về hậu quả của việc Vinashin không hoàn nợ đúng hạn, Giáo sư Jonathan PINCUS, Kinh tế gia tại Trường Harvard Kennedy ỡ Thành phố Hồ Chí Minh đã nói :
« If Vinashin doesn’t pay, it will make it more expensive for any Vietnamese entity, government-ownered or otherwise, to get overseas financing. People in the government don’t seem to be thinking long-term about the implications of this for Vietnam’s fiancial credibility “ (Bloomberg, by Katrina NICHOLAS, 20.12.2010, from Singapore)
(Nếu Vinashin không trả, việc này sẽ làm nợ nần trở thành rất mắc mỏ cho bất cứ Công ty Việt Nam nào, quốc doanh hay không quốc doanh, về việc có được tài chánh nước ngoài. Những người trong Chính phủ dường như không nghĩ đến dài hạn về việc này đối với lòng tin tưởng tài chánh dành cho Việt Nam).
Bản Tin của AFP còn nhắc lại lời từ chối của Nhà Nước không nhận trách nhiệm hoàn vốn trong khi lúc vay vốn thì Nhà Nước đã long trọng bảo đảm việc hoàn vốn (“emprunt de USD.600 millions garanti par le gouvernement vietnamien”). Bản Tin viết:
“Le gouvernement a insisté sur le fait que le groupe devrait payer lui-même ses dettes ». (Chính phủ đã nhấn mạnh rằng chính Tập đoàn phải trả những nợ nần của mình)
Việc mất tín nhiệm Tài chánh không phải chỉ liên hệ đến việc VAY VỐN (Project Financing) nước ngoài, mà nó còn liên hệ đến Kinh doanh của các Công ty trong tương lai đối với các bạn hàng. Thực vậy, những giao dịch thương mại linh kiện sản xuất hay hàng hóa trao đổi cần có Tín dụng ngắn hạn (Commodity Finances). Khi mất tin tưởng về nợ nần, thì những bạn hàng đòi hỏi phải trả tiền mặt mới giao hàng. Nếu có cho tín dụng ngắn hạn về hàng hóa, thì người cung cấp hàng hóa tăng giá bán để bù trừ vào nguy hiểm tín dụng. Đây là những hậu quả thiệt hại lâu dài về hoạt động Kinh tế, Thương mại cho Việt Nam.
Ông tân Tổng Giám đốc Nguyễn Ngọc Sử, mới nhận chức, chưa ăn được gì, nay phải gồng mình trả nợ cho Ông cựu Tổng Giám đốc đã làm mất USD.4.4 tỉ. Nguyễn Tấn Dũng đồng chịu trách nhiệm về món nợ khổng lồ này, liệu Ông tân Thủ tướng khác nhận chức thay cho Nguyễn Tấn Dũng, có nhận trách nhiệm hoàn món nợ này thay cho cựu Thủ tướng Dũng hay không.
Họ tìm cách đổ trách nhiệm cho nhau để thoái thác hoàn nợ mà không nghĩ rằng hậu quả quỵt nợ sẽ đổ lên đầu Dân chúng Việt Nam.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 20.12.2010 Web : http://VietTUDAN.net
| | | |
| VIỆT NAM: VỠ NỢ KINH TẾ & LẠM PHÁT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 09.12.2010 Web : http://VietTUDAN.net
Tuần trước, chúng tôi viết bài với đầu đề TRUNG QUỐC: LẠM PHÁT VÀ HẬU QUẢ, nghĩa là Lạm phát là cái nguyên nhân đem đến những Hậu quả nguy hại cho Kinh tế Trung quốc. Tuần này viết về Lạm phát tại Việt Nam, chúng tôi lại chọn đầu đề VIỆT NAM: TỤT DỐC KINH TẾ VÀ LẠM PHÁT, nghĩa là chính việc tụt dốc Kinh tế là cái nguyên nhân đang đẩy Lạm phát đến chóng mặt.
Những gì xẫy ra tại Việt Nam thường đi ngược lại với những nước chung quanh. Đúng như lời Phạm Văn Đồng tuyên bố trước Quốc Hội một cách long trọng: “Những gì các nước khác không làm được, thì ta làm được. Đầu năm tới, Nhà Nước sẽ cung cấp cho dân Hà Nội mỗi buổi sáng một cốc SỮA TRÂU !” (Trích lại lời Giáo sư Tiến sĩ Toán CHỬ VĂN ĐÔNG tại Varsovie). Ngườ ta thường cho dân uống sữa bò, thì ta cho dân uống sữa trâu mới đặc biệt.
Bài này lần lượt bàn những điểm sau đây: => Một vài ý niệm giáo khoa về Lạm phát => Tình trạng tụt dốc Kinh tế tại Việt Nam => Lạm phát và những nguyên nhân => Phải đánh thẳng vào Chủ trương Kinh tế quốc doanh
Một vài ý niệm giáo khoa về Lạm phát
Xin các bậc thức giả cho phép tôi nhắc lại một vài ý niệm giáo khoa về Lạm phát để làm cái sườn cho chúng tôi cắt nghĩa những lý do Lạm phát, Vật giá leo thang tại Việt Nam.
Lạm phát, Vật giá leo thang là một sự so sánh giữa Lãnh vực đồng Tiền, phương tiện trao đỗi hàng hóa, và Lãnh vực Kinh tế thực gồm những hàng hóa được sản xuất ra và trao đổi. Lượng Tiền lưu hành trong dân gian và Lượng hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của dân gian cùng song hành. Khi so sánh hai Lượng song hành ấy, người ta định một Chỉ số tổng quát cho tương đương giữa đơn vị Tiền tệ và đơn vị Hàng hóa tiêu thụ. Vật giá có nghĩa là sự so sánh tương đương này. Khi nói Tỷ giá Hối đoái là nói sự tương đương giữa hai đồng Tiền, còn nói Vật giá là nói sự tương đương giữa đơn vị một đồng Tiền với đơn vị Hàng hóa Tiêu thụ.
Để tóm tắt sự tương đương ấy, chúng tôi lấy lại Công thức của FISHER ở dạng đơn giản nhất:
M.V ---------- = P T
“H” là Khối lượng Tiền. “V” là tốc độ lưu hành (tốc độ nhanh làm lượng Tiền nhiều lên trong khoãng thời gian nhất định). “T” bao gồm tất cả lượng hàng hóa thực trao đổi trong khoảng thời gian nhất định của lượng Tiền lưu hành. “P” là Chỉ giá tổng quát Tiêu thụ, kết quả của so sánh giữa Khối lượng Tiền lưu hành và Khối lượng hàng hóa trao đổi ở trong một khoảng thời gian nhất định.
Khi “P” tăng, người ta gọi là Lạm phát hay Vật giá leo thang, nghĩa là phải dùng nhiều đơn vị đồng Tiền mới có được cùng đơn vị hàng hóa trước đây. Nhìn một cách đơn giản theo Công thức, thì khi “P” tăng, người ta thấy những trường hợp sau đây:
(i) Trường hợp thứ nhất: Lượng Tiền lưu hành tăng và Lượng hàng hóa đứng yên
Đây là trường hợp Lạm phát Tiền tệ, mà người ta thường gọi lá phá giá đồng bạc. Tỉ dụ một Nhà Nước độc tài độc đoán in thêm tiền mới cho vào lưu hành chung với tiền đang sử dụng của dân gian.
(ii) Trường hợp thứ hai: Lượng hàng hóa giảm và Lương Tiền lưu hành đúng yên
Đây là trường hợp tụt dốc Kinh tế thực, nghĩa là khả năng cung cấp hàng hóa cho trao đổi bị sút kém đi. Tỉ dụ hiệu năng sản xuất hàng hóa kém sánh với khối tiền lưu hành đang được sử dụng. Trong Đệ nhị Thế chiến, các đồng tiền Âu châu mất hẳn giá vì không có hoạt động sản xuất hàng hóa Kinh tế: đồng Franc Pháp cũ, đồng Mark Đức cũ, đồng Lire Ý, đồng Yen Nhật.
(iii) Trướng hợp thứ ba: Lượng Tiền lưu hành tăng và Lượng hàng hóa giảm
Đây là trường hợp mà hai lực làm Lạm phát hợp lại để làm Lạm phát trở thành phi mã (Inflation galoppante) và Vật giá leo thang chóng mặt ! Tỉ dụ trước đây, thời mà Đệ Tam quốc tế Cộng sản mở những Mặt Trận Giải Phóng (Front de Libération) tại những nước Phi châu và Nam Mỹ. Hoạt động sản xuất hàng hóa đình trệ hoặc bị phá hoại, trong khi ấy Nhà Nước đương quyền phải trả lương Lính và Công chức, nên in Tiền mới ra làm Khối lưu hành Tiền tệ được thổi phồng lên. Lạm phát ở Ba Tây có lúc lên tới 1’600%.
Chúng tôi cũng xin chú thích thêm rằng không phải mọi Lạm phát đều xấu. Người ta phân biệt Lạm phát vui sướng (Inflation heureuse) và Lạm phát buồn cực (Inflation malheureuse). Lạm phát vui sướng khi mà một nước có phát triển Kinh tế đều đặn, dân chúng có thu nhập tăng, nên chi tiêu nhiều hơn khiến giá hàng hóa tăng lên. Trong trường hợp này, Ngân Hàng Trung ương chỉ cần điều chỉnh khối Tiền lưu hành cho phù hợp với đà tăng trưởng hàng hóa. Lạm phát buồn cực là khi dân nghèo bị vật giá lại tăng vọt, khiến dạ dầy đói.
Lạm phát ở Việt Nam hiện nay là loại Lạm phát gì và ở trường hợp nào trong ba trường hợp trên đây ?
Tình trạng tụt dốc Kinh tế tại Việt Nam
Chúng tôi không hiện diện ở Việt Nam để chứng kiến cảnh tụt dốc Kinh tế. Nhưng có những nhân vật quốc tế đáng tin cậy họp chính tại Hà Nội và nói với Nhà Nước CSVN về mô hình Kinh tế nguy hiểm và nguy cớ tụt dốc mau chóng của Kinh tế Việt Nam. Chúng tôi xin trích đăng lại những tuyên bó của các nhân vật ấy.
Nhân vật thứ nhất mà chúng tôi trích dẫn là Giáo sư Michael PORTER, người được chính Nguyễn Tấn Dũng nhờ cậy nghiên cứu và thẩm định về mô hình Kinh tế VN cũng như tương lai của nó. Giáo sư đưa ra nhận định rõ rệt:
“Khi xem xét kỹ mô hình phát triển được áp dụng từ trước tới nay để xem có tiếp tục phù hợp với Việt Nam nữa không, câu trả lời của tôi là không”.
“Mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào việc khai thác các lợi thế có sẵn như tài nguyên và nhân công giá rẻ. “
“Nhiều chính sách vĩ mô có thể kích thích tăng trưởng trong ngắn hạn, nhưng lại không có tác dụng, hoặc thậm chí có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng năng suất dài hạn của Việt Nam”.
“Các mất cân đối vĩ mô lớn như cán cân thương mại và tài khoản vãng lai, tỷ lệ tiết kiệm – đầu tư, lạm phát và tỷ giá hối đoái có thể gây ra những hậu quả “không thể xem thường. Ít nhất, chúng tạo ra tâm lý với các nhà đầu tư rằng, rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam là rất cao. Các mất cân đối vĩ mô này có thể làm phát sinh khủng hoảng, khi niềm tin bị xói mòn và các dòng vốn nước ngoài chảy khỏi Việt Nam”.
“Nếu Việt Nam không vượt qua được cách thức tăng trưởng hiện nay, quốc gia sẽ bị tắc ở mức thu nhập trung bình thấp và phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước có thu nhập thấp hơn đang trỗi dậy”.
Giáo sư kết luận:
“Tôi sẽ rất buồn nếu báo cáo này chỉ được để trên giá sách. Tôi hy vọng phó Thủ tướng sẽ giao các cơ quan nhà nước sử dụng báo cáo này trong quá trình hoạch định chính sách”.
Nhân vật thứ hai mà chúng tôi trích dẫn là Ông Adam SITKOFF, Giám đốc Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam. Theo Ông, việc Lạm phát hiện nay chỉ là sự phát hiện của một tình trạng tụt dốc Kinh tế có tính cách vĩ mô. Chính vì vậy mà trong Diễn đàn Doanh nghiệp họp tại Hà Nội hôm 2/12, Ông Adam Sitkoff nhấn mạnh muốn chính phủ ổn định kinh tế vĩ mô thì tốt hơn.
Trả lời Phỏng vấn cho BBC, Ông nói:
“Có hai chủ đề chúng tôi nêu ra trong cuộc họp diễn đàn doanh nghiệp ngày 2/12 tại Hà Nội. Đó là chính phủ cần để ý duy trì ổn định kinh tế vĩ mô tốt hơn. Đề ra chính sách hữu hiệu để kiềm chế tỷ lệ lạm phát – vốn đang khá cao. Hiện lạm phát đang ảnh hưởng đến đời sống và sức mua của người dân. Thứ hai là chúng tôi muốn thấy chính phủ nghiêm túc thúc đẩy cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước. Sau vụ khủng hoảng tại Vinashin, chúng tôi quan sát thấy các tập đoàn kinh tế nhà nước khác phải nhận bớt nợ và bị gán tài sản của Vinashin. Cách giải quyết các khoản nợ của Vinashin vẫn còn chưa minh bạch.
Cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ tin rằng chính phủ nên giảm bớt can thiệp vào quá trình làm ăn và kinh doanh của doanh nghiệp. Cạnh đó trong lúc tỷ lệ tư hữa hóa được đẩy mạnh, doanh nghiệp nhà nước vẫn kiểm soát hầu hết các loại hình kinh doanh quan trọng ở Việt Nam. Chúng tôi muốn thấy điều này thay đổi. Chính phủ nên tập trung vào các tiêu chuẩn kế toán, hạch toán được quốc tế công nhận liên quan đến cách tính thuế và thu thuế, để góp phần loại trừ tham nhũng. Hành động thường xuyên bơm thêm vốn cho doanh nghiệp quốc doanh đang ngập trong nợ nần không phải là cách dùng tiền thuế của dân tốt nhất.”
Vụ Tập đoàn quốc doanh VINASHIN thua lỗ tới USD.4.4 tỉ đang lan tràn sang các Tập đoàn quốc doanh khác, khiến giới Ngân Hàng quốc tế nhìn thấy tình trạng đe dọa vỡ nợ của nền Kinh tế quốc doanh. Các Tổ chức thẩm định quốc tế như MOODY, STANDARD & POOR’S đều đồng loạt hạ giá những Tập đoàn Kinh tế nhà nước để khả năng vay vốn của Việt Nam đi đến cho bế tắc rất gần đây.
Việc VINASHIN xin khất nợ USD.60 triệu với những lời lẽ như hé lộ ý tưởng dựt nợ tạo ảnh hưởng rất xấu cho tương lai tài chánh Việt Nam.
Trong khi các Tập đoàn Kinh tế Nhà nước tụt dốc, bị đe dọa vỡ nợ, tạo một viễn tượng bí lối vay vốn tương lai, thì khả năng Tài chánh của chính Nhà Nước đang đi vào kiệt quệ. Chúng tôi xin trích ngay Báo chí quốc nội:
“Lời báo động của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế được đưa ra hôm 07/12 tại Hội nghị thường niên các nhà tài trợ cho Việt Nam, diễn ra trong 2 ngày (7-8/12) tại Hà Nội. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, tính đến tháng 9 vừa qua, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã xuống đến mức chỉ còn bảo đảm được không đầy 2 tháng nhập khẩu.
Trong tham luận tại hội nghị, ông Masato Miyazaki, đại diện cho Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, không cho biết số liệu cụ thể về dự trữ ngoại tệ của Việt Nam, mà chỉ ghi nhận rằng: “Dự trữ quốc tế của Việt Nam đã ổn định trong năm nay nhưng vẫn còn ở mức thấp, khoảng 1,8 tháng nhập khẩu tính đến tháng Chín năm nay”.
Cũng theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, mức dự trữ vào tháng 12 năm ngoái chỉ bảo đảm được không đầy 2,5 tháng nhập khẩu mà thôi.”
Lạm phát và những nguyên nhân
Như trên chúng tôi đã nói, việc tụt dốc của nền Kinh tế vĩ mô tại Việt Nam mới là chính yếu. Tình trạng Lạm phát, Vật giá nhẩy vọt hiện nay chỉ là sự phát hiện nổi lên tác hại đến đời sống dân chúng. Báo chí quốc nội không thể không đăng tãi tình trạng Lạm phát buồn cực này (Inflation malheureuse), hậu quả của tụt dốc cả một bộ máy Kinh tế nhà nước. Chúng tôi xin trích đăng Báo chí quốc nội.
“SÀI GÒN (TH) - Lạm phát gia tăng nhanh chóng trong mấy tháng qua, vượt qua mặt những chỉ tiêu mà Quốc Hội đề ra cũng như các biện pháp “bình ổn giá” mà nhà cầm quyền quảng cáo. Hậu quả, những người có đồng lương cố định và đại đa số quần chúng đều nghèo khó lại thêm phần khốn đốn.
Tờ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam trong một bản tin ngày 29 tháng 11, 2010 về “lo âu đường đi của giá” nói rằng, ‘luôn có trên 50% bạn đọc cho biết họ đang thực sự gặp khó khăn.’
Theo các con số do Tổng Cục Thống Kê ở Hà Nội đưa ra, lạm phát tăng nhanh nhất ba tháng trở lại đây của năm nay và là mức gia tăng tệ hại nhất trong suốt 20 tháng qua. Ðây là hệ quả của chính sách đánh sụt giá đồng nội tệ nhằm cứu ngành sản xuất xuất cảng gây ảnh hưởng dây chuyền lên cả nền kinh tế.
Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, giá cả gia tăng 11.09% trong tháng 11, 2010 so với một năm trước. Ðây là tỉ lệ lạm phát gia tăng nhiều nhất từ tháng 3, 2009 mà vào thời điểm đó lạm phát nằm ở 11.25%. Tháng 10, 2010, lạm phát là 9.66%. Nếu chỉ tính từng tháng một thì lạm phát của tháng 11 đã tăng hơn tháng mười 1.86%.
Cuối năm 2009, Quốc Hội của chế độ Hà Nội biểu quyết “chỉ tiêu lạm phát trong năm 2010 phải dưới 7%”. Nhưng đến tháng 5, 2010, thấy không kềm nổi, nhà cầm quyền trung ương “xin điều chỉnh chỉ tiêu lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI)” lên “không quá 8%”.
“Giá của tất cả mọi loại thực phẩm mà chúng tôi mua ở các chợ địa phương đều gia tăng đáng kể so với tháng trước”. Craig Jackson, quản lý nhà hàng Al Fresco (cũng có chi nhánh ở Hà Nội) nói như vậy và phải trình bày với thức khách lý do “những bất ổn trong tỉ giá” đã làm giá thực phẩm tăng vọt.
Theo báo Người Lao Động hôm 20 tháng 11, 2010 vừa qua, các siêu thị ở Sài Gòn đã tăng giá ít nhất 10%. Gạo, một thứ căn bản của bữa ăn người Việt Nam, lên giá ít nhất cũng 4%, trong khi nhà cầm quyền khoe năm nay sẽ xuất cảng 6.5 triệu tấn gạo.
Nói chung, giá thực phẩm đã gia tăng 14.78% so với một năm trước trong đó một số thứ còn tăng đến 20.45%, theo Tổng Cục Thống Kê nói trên.
Theo tờ Người Lao Động, một số mặt hàng khác gắn liền với đời sống hàng ngày là đường và gas cũng tăng đáng kể.
Báo Người Lao Động dẫn nguồn tin từ Cục Quản Lý Giá (Bộ Tài Chính Việt Nam), nói giá bán lẻ đường trắng trong nước 15 ngày đầu tháng 11 khoảng 19,000-21,000 đồng/kg, tăng 1,000 đồng/kg so với tháng 10.”
Chúng tôi trở lại Công thức của FISHER trình bầy với tính cách tóm gọn giáo khoa ở đoạn đầu để nhìn những lý do căn bản tạo tình trạng Lạm phát, Vật giá leo thang hiện nay ở Việt Nam:
(i) Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh được Nhà Nước rót vào cho phồng lên số vốn, nghĩa là đã cho những Tập đoàn này lượng tiền lưu hành lớn (M.V tăng)
(ii) Nhà Nước đứng ra như bảo đảm cho những Tập đoàn này vay vốn nước ngoài, càng làm phồng lên khối Tiền lưu hành (M.V tăng)
(iii) Nhà Nước thiếu hụt Ngân sách, nhưng Nhà Nước độc tài đã phá giá đồng bạc Việt Nam, in Tiền mới rót vào lưu hành vá đặc biệt rót cho các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh để dân chúng hứng chịu cảnh Lạm phát Tiền tệ này (M.V tăng)
(iv) Trong khi ấy, các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh tham nhũng, lãng phí, không sản xuất hàng hóa cho tương xứng với số vốn nhận được. Không có hiệu năng Kinh tế, nghĩa là giảm sút hẳn sản xuất hàng hóa. Việc này làm giảm lượng hàng hóa trao đổi “T” trong Công thức của Fisher. Thổi phồng vốn lưu hành Tiền tệ và tụt dốc sản xuất hàng hóa, các Tập đoàn Kinh tế nhà nước đã hiệp hai lực (“M.V” tăng và “T” giảm) làm cho Lạm phát phi mã (Inflation galoppante) và Vật giá vọt lên chóng mặt.
Chính vì hiểu cái nguồn gốc phát sinh Lạm phát và Vật giá tăng vọt như vậy mà các nhân vật quốc tế họp tại Hà Nội đã khuyên Nguyễn Tấn Dũng phãi thay đổi mô hình Kinh tế vĩ mô nền tảng, chứ không chỉ nguyên hô hào dùng dầu cù là thoa bóp Lạm phát và Vật giá nhất thời. Phải trị từ cội nguồn Lạm phát.
Chính vì cái cội nguồn này mà chúng tôi thấy có sự khác biệt giữa Lạm phát Trung quốc và Lạm phát Việt Nam:
* Lạm phát Trung quốc một phần do độc chiêu QE2 $600 tỉ làm cho lượng vốn quốc tế đầu cơ dồn vào để kiếm lợi nhuận cao. Trong khi ấy, vốn đầu cơ quốc tế không vào Việt Nam vì sợ vào không những không có lợi nhuận mà còn sợ mất vốn vì Kinh tế sắp vỡ nợ.
* Tỷ giá Đo-la xuống tại Trung quốc để tự động đẩy Tỷ giá đồng Yuan lên. Nhưng tại Việt Nam, Tỷ giá tiền Đồng VN lại tăng lên VN$.2’000 đối với Đo-la, nghĩa là giá đồng Tiền VN xuống mà giá đồng Đo-la lại lên. Dân Việt Nam và giới Hối đoái không còn tin tưởng ở Đồng bạc Việt Nam đã phá giá 3 lần trong một năm.
Thật đúng như lời Phạm Văn Đồng là những gì nước khác làm không được thì nước ta làm được, nhưng làm ngược chiều.
Phải đánh thẳng vào Chủ trương Kinh tế quốc doanh
Đã từ nhiều năm nay, chúng tôi luôn luôn kêu gọi rằng phải đánh thẳng vào Chủ trương Kinh tế quốc doanh. Việc tụt dốc Kinh tế VN, việc xuất hiện Lạm phát buồn cực (Inflation malheureuse) lúc này chính là do Nhà Nước sử dụng những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh để nắm độc quyền Kinh tế Quốc gia như chúng ta đã thấy hậu quả được trình bầy trong những phần trên đây.
VINASHIN, VINACOMIN… chỉ là những Tập đoàn Kinh tế Nhà nước chường ra cái tên. Nhưng có một thứ Vi trùng không mang tên làm ruỗng những Tập đoàn ấy. Đó là Vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ chui xuyền qua đãng và các Tập đoàn để đục khoét làm tụt hậu Kinh tế Quốc gia. Những con Vi trùng này cố thủ giữ Chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế để chúng chui rúc ẩn danh giữa hai quyền lực này mà đi đêm, đánh đĩ với nhau đẻ ra cả ổ Vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ thi nhau đục khoét Kinh tế Quốc gia.
Đó là lý do coat lõi điếm đàng thâm cung bí sử mà những nhân vật quốc tế chỉ nói bóng gió, chứ không dám nói huỵch toẹt ra.
Tôi xin phép nói hụyh toẹt ra rằng phải DỨT BỎ CHÍNH CÁI CƠ CHẾ CSVN ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ NẮM ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để THAM NHŨNG LÃNG PHÍ thì mới có thể phát triển Kinh tế Việt Nam được.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 02.12.2010 Web : http://VietTUDAN.net
| | |
TRUNG QUỐC: LẠM PHÁT & HẬU QUẢ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 02.12.2010 Web : http://VietTUDAN.net
Nội dung bài Quan Điểm này đã được Đài RFI phỏng vấn ngày thứ Tư 01.12.2010, để phát thanh về Việt Nam.
Theo Kinh tế gia Wang Tao, làm việc cho UBS tại Bắc Kinh, trước những đề nghị của các Chuyên gia quốc tế về những Biện pháp Tài chánh, Tiền tệ để giải quyết Lạm phát và tăng vật giá, Bắc Kinh vẫn từ chối những biện pháp ấy vì sợ nguy hiểm xẩy đến cho những Kỹ nghệ xuất cảng và lo lắng nạn thất nghiệp cho chục triệu nhân công:
«Pékin, malgré les pressions intenses de ses partenaires commerciaux, refuse toute hausse importante qui mettrait en danger ses industries exportatrices et des dizaines de millions d'emplois.» (PEKIN, 24 nov 2010 (AFP) (Par Boris CAMBRELENG) (Bắc Kinh, mặc dầu những áp lực của những bạn hàng thương mại của mình, từ chối mọi việc tăng lên quan trọng (như lãi suất, tỷ giá đồng yuan) có thể đưa đến nguy hiểm cho những kỹ nghệ xuất cảng và cho những chục triệu công nhân).
Trong bài này, chúng tôi trình bầy => Tình hình Lạm phát như thế nào hiện nay => Những lý do nào đưa đến Lạm phát => Những Biện pháp chống đỡ Lạm phát => Những hậu quả Lạm phát cho Kinh tế Trung quốc
Tình trạng Lãm phát như thế nào hiện nay
Theo hai bài viết từ Bắc Kinh của Ký giả Harold THIBAULT đăng trên Nhật báo quốc tế Le Monde 19.11.2010; theo Bản Tin của Thông Tấn AFP bởi Boris CAMBRELENG đánh đi từ Bắc Kinh ngày 24.11.2010; và theo bài viết với tựa đề LES ALGUES, SYMBOLES DE L’INFLATION GALOPANTE EN CHINE (Rau câu, biểu tượng của Lạm phát nhẩy vọt tại Trung quốc) của Tác giả WEI GU (bản dịch của Christine LAHUEC) đăng trên Le Monde 30.11.2010, thì Tình hình Lạm phát tại Trung quốc được tóm tắt bằng những con số được đưa ra như sau: : * Trong tháng 10, vật giá nhẩy vọt 4.4%. Đó là con số chính thức tuyên bố, nhưng theo những nhà quan sát Kinh tế Trung quốc, thì việc nhẩy vọt vật giá phải là 7%.
* Vật giá những thực phẩm chính cho dân chúng tăng 62.4% trong một năm
* Tăng giá McDonald’s… và Siêu thị: Giá tại 1135 Tiệm ăn McDonald’s tăng từ 0.5 Yuan tới 1 Yuan. Các Tiêm ăn Kentucky Fried Chicken cũng tăng như vậy. Việc tăng giá cũng nhìn thấy rõ tại các Siêu thị.
* Viviane WEI, bà mẹ của một gia đình, được phỏng vấn ngay trước Siêu thị Carrefour (Pháp) ở phía Tây Thượng Hải, than phiền về giá tỏi và gừng tăng hơn một nửa giá của tháng trước.
* Theo bài của Wei Gu đăng trên Le Monde 30.11.2010, Rau Câu, món ăn chính của dân Trung quốc, tăng giá 20% trong tháng 10 vừa rồi vì đầu cơ, khan hiếm công hái, xa bờ biển làm chi phí thêm tìm kiếm do các công nghệ của những thành phố ven biển tàn phá.
Những lý do nào đưa đến Lạm phát
1) Lý do Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) bị thổi phồng gây ra Lạm phát, vật giá tăng vọt (Inflation).
Ba nguồn làm thổi phồng Khối Tiền lưu hành như sau:
a) Biện pháp Quantitative Easing $600 tỉ để mua Treasury Bonds nhằm hạ lãi suất dài hạn khiến những khối vố đầu tư quốc tế đổ dồn vào các nước Á châu, nhất là Trung quốc để kiếm lợi nhuận cao hơn.
«L’afflux de capitaux étrangers (spéculatifs), líe notamment à la stratégie monétaire extrêmement souple menée par la Réserve Fédérale américaine (FED), a renforcé cette tendance» (Le Monde 19.11.2010, page 1)
(Làn sóng những vốn đầu cơ từ ngoài vào, liên quan chính yếu đến chiến thuật tiền tệ cực kỳ mềm dẻo chủ trương bởi Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang Mỹ (FED), đã tăng cường khuynh hướng này (vật giá tăng vọt))
Theo Bản Tin AFP đánh đi từ KUALA LUMPUR Mã Lai, ngày 30.11.2010: Họp Bộ trưởng Tài chánh ASEAN khẳng định về Ngoại tệ nóng vào các nước ASEAN và Trung quốc do ảnh hưởng của Chính sách Tài chánh FED rót $600 tỉ vào lưu hành có thể làm cho lượng $581 năm 2009 tăng mạnh lên $825 tỉ cho đến hết năm nay 2010.
b) Chính Nhà Nước Trung quốc công khai thổi phồng số vốn vào lưu hành : Nhằm giữ đà tăng trưởng Kinh tế cũ, Nhà nước Trung quốc đã xuất quá nhiều vốn cho các Công ty nhà nước. Năm 2009, Nhà nước bơm vốn cho các Công ty trong năm 2009 là Rmb9’600 tỉ ($1’450 tỉ):
“Bank lending ballooned to a record Rmb9’600bn ($1’450bn) as China rushed to reflate its economy after the financial crisis” (Financial Times 22.11.2010, page 2)
(Ngân hàng cho vay thổi phồng vốn cho vay kỷ lục Rmb9’600 tỉ ($1’1450 tỉ) trong năm 2009 khi Trung quốc vội vàng phát động Kinh tế sau cuộc Khủng hoảng Tài chánh)
c) Nhưng số vốn quan trọng là các Ngân Hàng Thương mại đã ngầm cho các Công ty vay mà chính Nhà nước không kiểm soát được. Tiến sĩ James KYNGE gọi đây là hệ thống Tài chánh đường hầm “subterranean world of finance “ hay “underground financial system “.
Theo những con số cung cấp từ Use-Trust, một Tổ chức Tư vấn Kỹ nghệ, thì số vốn ngầm rót ra trong hai Tam Cá Nguyệt 2 và 3 tổng cộng là Rmb3’934.13 tỉ ($624.46 tỉ):
“According to Use-Trust, a trust industry consultancy, the volume of bank trust lending conducted off the balance sheets of banks totalled Rmb2’005.26bn ($318.29bn) in the third quarter of this year, up from Rmb1’928.87 ($306.17bn) in the second quarter” (Financial Times 22.11.2010, page 2)
(Theo Use-Trust, một Tổ chức Tư vân Kỹ nghệ, thì số lượng vốn ngân hàng cho vay ngoài bảng cân đối kế toán tổng cộng là Rmb2’005.26 tỉ ($318.29 tỉ) trong Tam cá nguyệt thứ ba của năm nay và Rmb1’928.87 tỉ ($306.17 tỉ) trong Tam cá nguyệt thứ hai)
Ngay những ngân hàng nhà nước cũng cho vay đường hầm vì là cơ hội tham nhũng, ăn hối lộ. Mặc dầu dưới sự kiểm soát của Ủy Ban Điều Chỉnh Ngân Hàng Trung quốc, những Ngân Hàng nhà nước cũng đi đường hầm cho vay chui. Con số cho vay chui lên tới tối thiểu Rmb2’000 tỉ ($320 tỉ):
“The off-balance-sheet lending by state banks this year was said to have reached at least Rmb2’000bn ($320 tỉ) (Financial Times 22.11.2010, page 2)
(Số vốn cho vay ngoại bảng can đối kế toán bởi các Ngân hàng nhà nước năm nay được nói đã đạt tới tối thiểu Rmb2’000 tỉ ($320 tỉ)
Ba nguồn làm tăng Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) như trên đã tóm tắt đang làm Lạm phát, Vật giá tăng vọt tại Trung quốc:
“It is the pressures caused by such ballooning money supply… that are the prime causes of inflation.” (Financial Times 22.11.2010, page 2)
(Đó là những áp lực gây ra từ việc cung cấp tiền căng phồng len như vậy đã là những nguyên cớ chính yếu tạo Lạm phát hiện nay.)
2) Lý do vật giá thực phẩm tăng vọt hơn các hàng khác
Hai lý do sau đây làm giá thực phẩm tăng hơn các hàng khác:
a) Chú trọng hàng công nghệ xuất cảng và lãng quên thực phẩm cho dân. Việc lạm phát chính yếu là trên các thực phẩm. Vật giá tăng tổng thể 4.4%, nhưng đặc biệt đối với 18 thực phẩm chính yếu, vật giá tăng trong năm vừa rồi tới 62.4%. Người ta không khó hiểu về lý do tăng giá vọt của thực phẩm. Trung quốc sãn xuất chính yếu những hàng công nghệ (produits manufacturés) nhằm xuất cảng chứ không nhằm phục vụ dân Trung quốc. Về nông nghiệp, nếu sản xuất được gì, thì những Công ty chế biến thực phẩm như đóng hộp, phơi khô, lại cũng nhằm xuất cảng. Do đó thực phẩm ăn liền cho dân chúng bị khan hiếm trong khi ấy Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) bị thổi phồng lên. Hậu quả là vật giá thực phẩm tăng vọt tới 62.4%.
b) Giá công nhân tăng 15%. Những nông dân ra tỉnh vì vậy khan hiếm người làm. Giá công hái cà chua tăng 25% theo bài của Wei Gu trên Le Monde 30.11.2010. Lấy tỉ dụ rau câu, món ăn phổ biến tại TQ. Những vùng ven biển bị chiếm cho công nghệ: xây cảng, nhà cữa. Phải đi xa ra biển mới hái được rau câu, nên chi phí tốn kém và do đó giá bán tăng lên. Rau câu phơi khô còn bị đầu cơ vì giữ được lâu.
Những Biện pháp chống đỡ Lạm phát
Trong Kinh tế, người ta phân biệt hai loại Lạm phát, Vật giá tăng, đó là Lạm phát vui sướng (Inflation heureuse) và Lạm phát khổ cực (Inflation malheureuse). Lạm phát vui sướng khi mà nền Kinh tế phát triển, dân thu nhập nhiều và tăng tiêu thụ. Ngân hàng Trung ương chỉ cần điều chỉnh khối tiền lưu hành cho phù hợp với phát triển Kinh tế. Còn đối với Lạm phát khổ cực (Inflation malheureuse), khi mà khối tiền lưu hành bị thổi phồng lên hoặc là sản xuất bị yếu kém đi. Những người có số thu nhập cố định, gặp trường hợp Lạm phát này, sẽ thấy mình nghèo đi và phải chi tiêu khổ cực.
Công thức đơn giản của FISCHER tóm tắt hai lý do tăng lạm phát khổ cực này:
M.V -------- = P T
P là chỉ số tổng quát giá tiêu thụ. M.V là lượng Tiền lưu hành. T là lượng hàng hóa sản xuất thực. Vậy nếu lượng Tiền lưu hành (M.V) bị thổi phồng lên, thì chỉ số tổng quát giá tiêu thụ (P) cũng tăng vọt lên. Cũng vậy, nếu sản xuất (T) bị yếu kém đi mà lượng Tiền lưu hành giữ nguyên, thì chỉ số tổng quát giá tiêu thụ (P) cũng tăng vọt lên. Tại Trung quốc, vật giá tăng vọt hiện nay, nhất là về thực phẩm, đó là tình trạng Lạm phát khổ cực. Nhà nước có tăng lương, nhưng chính yếu là cho Quân đội, Công an, Công chức, đó là cho những lực lượng giữ trật tự xã hội để bảo vệ chế độ. ¾ dân chúng Trung quốc trong nội địa và số công nhân làm việc cho Kinh tế thì lại không được hưởng những thành quả Kinh tế tương xứng mà Trung quốc xuất cảng thu nhập vào. Đây là tình trạng phân phối không đồng đều thu nhập Kinh tế mà chính Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã phải công khai nói ra trước Quốc Hội trong tháng 6/2010 vừa rồi.
Những Biện pháp chống đỡ Lạm phát là cho tình trạng Lạm phát khổ cực này (Inflation malheureuse) như sau:
1) Những biện pháp cấp thời.
Ngày 17.11.2010, Thủ tướng ÔN GIA BẢO đã đưa ra một số biện pháp cấp thời chống Lạm phát (Inflation), như:
=> Kiểm soát giá cả (Controle des Prix), nghĩa là đặt Giá Trần nhà (Prix plafond). Đây là biện pháp sẽ gây tất yếu cho Chợ Đen và Đầu Cơ như thời ở Nga trước đây. Những con buôn Tầu rất lành nghề về Chợ Đen và Đầu Cơ làm thực phẩm càng khan hiếm và Giá hàng luôn luôn theo đà tăng.
=> Từ kho Dự trữ, Nhà nước quyết định cho ra 62’000 tấn thịt heo và 210’000 tấn đường. Nhưng đối với 1 tỉ 300 triệu dân Tầu, thì hai lượng thịt và đường cho ra này chỉ như muối bỏ bể.
2) Những biện pháp Tài chánh
Đây là những biện pháp do những nhà Tài chánh, Ngân Hàng quốc tế đề nghị (theo Bản Tin AFP bởi Boris CAMBRELENG đánh đi từ Bắc Kinh ngày 24.11.2010). Biện pháp Tài chánh này nhằm rút nhỏ lại Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) bằng (a) Tăng Lãi suất chỉ đạo; (b) Bắt các Ngân Hàng Thương mại tăng Dự trữ tại Ngân Hàng Trung ương. Nhưng những Biện pháp Tài chánh này không dễ dàng thực hiện vì những lý do sau đây:
a) Biện pháp tăng Lãi suất chỉ đạo
Nếu dùng Biện pháp tăng Lãi suất chỉ đạo lên để làm cho Giá thuê vốn thành mắc mỏ và do đó các Công ty giảm vay vốn đầu tư, thì Trung quốc lại lo ngại giảm đà Tăng trưởng và tăng Thất nghiệp vì không đầu tư thêm nữa, các Công ty thải thợ.
b) Các Biện pháp làm giảm Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation)
=> Đối với số vốn đầu cơ quốc tế ập vào do ảnh hưởng của của Quantitative Easing $600 tỉ của FED, thì Trung quốc khó lòng ngăn chặn vì sợ thiếu vốn nước ngoài. Có thể đặt thuế cho số vốn này như trường hợp Ba Tây đã áp dụng từ hai tháng nay để làm giảm việc ập vào của vốn đầu cơ quốc tế.
=> Đối với hệ thống cho vay đường hầm “subterranean world of finance“ hay “underground financial system“, bắt các Ngân Hàng thương mại tăng Dự trữ đặt tại Ngân Hàng Trung ương, thì Trung quốc gặp phải khó khăn là không kiểm soát được số tín dụng đường hầm này. Cái căn nguyên của việc tín dụng đường hầm là tham nhủng, hối lộ. Đây là việc khó khăn thực hiện kiểm soát vì chính Ngân Hàng Nhà nước cũng tham nhũng, hối lộ để cho vay vốn đường hầm.
Những hậu quả Lạm phát cho Kinh tế Trung quốc
Hậu quả này do chính những chuyên viên Kinh tế Bắc kinh lo sợ trước Họp G20 Nam Hàn và do chính Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã nói trong cuộc họp riêng vố Tổng thống Obama tại Hội nghị Seoul. Hậu quả gồm 5 điểm sau đây:
(1) Đặt mua hàng Trung quốc bị giảm vì những lý do:
=> Lạm phát làm giá thành sản xuất cao
=> Tỷ giá đồng Yuan buộc phải lên vì Đo-la hạ, nên không hỗ trợ được cạnh tranh xuất cảng.
=> Đo-la giảm, hàng Mỹ trở thành cạnh tranh tại các Thị trường khác.
=> Mãi lực Tiêu thụ Liên Âu và Hoa kỳ xuống. Đây là lý do quan trọng cho việc giảm đặt mua hàng Trung quốc ở hai Thị trường chính mà Trung quốc đã lợi dụng làm giầu cho mình và đồng thời làm giảm Mãi lực Tiêu thụ của hai Thị trường này.
(2) Đặt mua hàng giảm thì các Công ty thải thợ, thất nghiệp tăng tại Trung quốc
(3) Thêm vào đó, một số Công ty nước ngoài thấy không có lợi nữa và sẽ chuyển sản xuất sang các nước khác có lợi hơn
(4) Đo-la xuống, nghĩa là Đồng Yuan tăng Tỷ giá, thì tình trạng Lạm phát cũng tăng làm Dân chúng bất bình.
(5) Lạm phát tăng làm Dân nghèo bất bình. Thất nghiệ tăng làm công nhân bất bình. Cả hai sẽ dẫn đến xáo trộn Xã hội và Chính trị
Khi viết về cuộc Khủng hoảng Tài chánh Á châu năm 1997, Bà Francoise NICOLAS đã nhấn mạnh đến hậu quả làm căng thẳng xã hội để đi đến BẠO LOẠN dân chúng làm thay đổi quyền lực Chính trị như trường hợp của Nam Dương thời ấy.
Cách đây 3 năm, nhân vật giá thực phẩm Thế giới tăng, Ong Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp Quốc, nói về hậu quả BẠO LOẠN quần chúng từ Lạm phát lên Chính trị:
”Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói).
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 02.12.2010 Web : http://VietTUDAN.net
TQ BÍ LỐI TRƯỚC NẠN VẬT GIÁ LEO THANG. CÒN VN: VẬT GIÁ TĂNG CHÓNG MẶT !
Tú Anh
Phải chăng phép lạ kinh tế Trung Quốc đã bị lạm phát đánh vào nhược điểm ? Từ nhiều tháng nay, người dân Trung Quốc bàng hoàng khi thấy giá nhu yếu phẩm cũng như các loại thực phẩm bình thường không thể thiếu trong bữa cơm đột nhiên mỗi ngày mỗi leo thang hơn 62% trong vòng một năm.
Tỷ lệ lạm phát trong tháng 10 được công bố là 4,4% nhưng Viện Khoa học Xã hội nói đến mức độ nghiêm trọng, hơn 7% thống kê chính thức. Thừa nhận thất bại không kềm được lạm phát ở 3% mỗi năm, và do lo sợ bất ổn định xã hội, Bắc Kinh vội vã trấn an dân chúng bằng một vài biện pháp tình thế như mở kho dự trữ thịt, đường và ra lệnh chính quyền địa phương kiểm soát giá cả.
Giới phân tích cảnh báo các « giải pháp tình thế » này không hiệu quả. Theo giới truyền thông Tây phương thì phép lạ kinh tế Trung Quốc đang bị nạn lạm phát phi mã đe dọa.
Từ một năm nay, những thức ăn hàng ngày từ hành tỏi, rau đậu, dầu ăn đến rong biển tất cả đều trở thành quý hiếm. Theo số liệu chính thức công bố hồi trung tuần tháng 11/2010, thì tỷ số lạm phát trong tháng 10 là 4,4% trong khi Viện Khoa học Xã hội thẩm định là trong năm năm qua, tỷ lệ lạm phát thực cao hơn con số do nhà nước cung cấp đến 7%.
Thực phẩm lên giá đe dọa dạ dày dân chúng. Giá một phần ăn ở nhà trường tăng đột biến 125%, từ 0,2 lên 0,5 nhân dân tệ.Cảnh tượng học sinh một trường trung học ở Quý Châu bày tỏ lòng phẫn nộ bằng hành động đập nát nhà ăn (cantine) của trường đang được lan truyền từ nhiều ngày qua trên mạng internet. Vụ bạo động này không phải là hình thức duy nhất minh họa sự bất an của dân chúng.Cổng thông tin điện tử Thiên Nhai tổ chức cuộc trưng cầu ý kiến xem Hán tự nào được bầu làm từ ngữ nói lên được ý nghĩa của năm 2010 sắp hết. Chưa chi mà từ « Trướng » đã đứng đầu danh sách. Viết với bộ « thủy », chữ « trướng » mang nghĩa « lên cao ».
Trước chiều hướng giá cả leo thang với vận tốc phi mã, Bắc Kinh đã phải thừa nhận là chỉ tiêu giới hạn lạm phát trong năm 2010 khoảng 3% là không thể thực hiện được. Thường trực lo âu « bất ổn xã hội », chính phủ Trung Quốc tung lúa mì, dầu ăn, đường từ các kho dự trữ ra bán. Thủ tướng Ôn Gia Bảo chỉ thị kiểm soát giá cả. Truyền thông nhà nước quy trách nhiệm cho đầu cơ.
Tuy nhiên các biện pháp « chữa cháy » trên đây không trấn an được dư luận. Giới chuyên gia cảnh báo là các biện pháp hành chánh tạm thời sẽ không mang lại kết quả mà còn tạo thêm vấn đề. Giáo sư Patrick Chovanec, đại học Thanh Hoa giải thích là « giải pháp kiểm soát giá cả không giải quyết căn nguyên nguồn cội của vấn đề mà còn tạo ra phản tác dụng cho kinh tế ». Nhà kinh tế Louis Kuijs của Ngân hàng Thế giới làm việc tại Bắc Kinh khuyến cáo Trung Quốc phải tiến hành các biện pháp « siết chặt chính sách tiền tệ » trong bối cảnh lượng tiền mặt lưu hành tăng đến 70% trong vòng một năm .
Những nguyên nhân sâu xa nào làm cho lạm phát tại Trung Quốc gia tăng ? Vì sao các biện pháp do chính phủ đề ra bị chỉ trích là không thể thành công, và chính quyền Trung Quốc chưa đủ quyết tâm thực hiện các giải pháp triệt để nhất ?
RFI đặt câu hỏi với giáo sư kinh tế Nguyễn Phúc Liên, đại học Genève, Thụy Sĩ.
Giáo sư Nguyễn Phúc Liên : « Một trong những nguyên nhân gây lạm phát tại Trung Quốc là lượng tiền lưu hành quá lớn. Một phần là do đầu cơ , một phần lớn là do chính các ngân hàng Trung Quốc, vì tham nhũng, cho vay theo kiểu « đường hầm», một phần nữa là do nhà nước rót tiền vào đầu tư để duy trì chỉ tiêu tăng trưởng. Thêm vào đó, giá thực phẩm leo thang vì chính sách của nhà nước là tập trung xuất khẩu không phục vụ (dạ dày) của người dân.. . Bây giờ kiểm soát nguồn tài chính thì e mất vốn đầu tư nước ngoài, tăng trưởng kinh tế sẽ yếu, công ty sa thải công nhân, thất nghiệp tăng…nhà nước sợ lộn xộn, bất ổn xã hội… do đó họ tiến thoái lưỡng nan, họ bị bí lối ».
THẤT NGHIỆP MỸ GIẢM HAY KHÔNG? BAO NHIÊU % VÀ VỚI TỐC ĐỘ NÀO ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 08.12.2010 Web: http://VietTUDAN.net
Chiều tối hôm qua, Đài CNN còn đưa ra con số 9.8% thất nghiệp tại Mỹ, nghĩa là con số gần 10% vẫn đứng nguyên, trong khi ấy Chính sách rót $600 tỉ của QE2 đã bắt đầu tạo ảnh hưởng Quốc tế hơn một tháng nay kể từ ngày quyết định của FED, 03.11.2010.
Cuộc bầu thay đổi đa số từ đảng Dân Chủ sang đảng Cộng Hòa tại Quốc Hội Mỹ, nghĩa là thất bại của TT.Obama, cũng do con số thất nghiệp này.
Mục đích chính của Quyết định QE 2 $600 tỉ
FED dưới sự điều hành của Chủ tịch Ben BERNANKE đã được giao trách nhiệm chính yếu là hạ con số THẤT NGHIỆP tại Mỹ bằng phương tiện Tiền Tệ, Tài chánh. Trong tầm tay của mình, Giáo sư Tiến sĩ Ben BERNANKE có hai khí giới để thực hiện: (i) Hạ Lãi suất Chỉ đạo; (ii) Điều hành tăng giảm Khối Tiền lưu hành.
Khí giới thứ nhất là Lãi suất Chỉ đạo thì đã hết đạn rồi, nghĩa là Lãi suất ấy đã được hạ đến gần 0%. Chỉ còn khí giới thứ hai là làm tăng giảm Khối Tiền lưu hành.
Quyết định QE2 rót $600 tỉ vào Lưu hành với tốc độ nhân Tiền mà FED quen sử dụng như ảo thuật là việc FED bó buộc phải làm. Tất nhiên mục đích chính của quyết định rót Tiền này là phải hạ THẤT NGHIỆP tại Hoa kỳ mà FED đã nhận trọng trách.
Nếu Quyết định QE2 $600 tỉ rót vào Lưu hành có tác động đến Thế giới, nhất là Trung quốc, về Tỷ giá Hối đoái và về Cán Cân Mậu dịch, thì đó không phải là mục đích chính mà chỉ là những tác động giai đoạn để đi đến mục đích chính là hạ THẤT NGHIỆP tại Mỹ.
Nhưng bao giờ người ta mới thấy dấu hiệu mức thất nghiệp hạ ? và hạ xuống đến mức độ nào? rồi tốc độ hạ nhanh hay chậm ? Đó là những câu hỏi mà FED, Chính quyền Obama, Dân Mỹ, nhất là dân thất nghiệp, phải đặt ra và chờ mong câu trả lời.
Tác động của QE2 $600 tỉ nhằm tiến tối mục đích hạ THẤT NGHIỆP Ngày 03.11.2010, khi các Chuyên viên FED họp để lấy quyết định cuối cùng là rót $600 tỉ vào Lưu hành, chắc chắn đã tính toán những tầm ảnh hưởng tác động giai đoạn có tính cách chiến thuật để đạt mục đích tối hậu của mình. Những tác động giai đoạn này ảnh hưởng lên Kinh tế/Tài chánh nội địa Hoa kỳ cũng như lên toàn Thế giới.
=> Tác động tính toán lên Kinh tế / Tài chánh nội địa Hoa kỳ
* FED sữ dụng $600 tỉ để mua Trái phiếu Ngân khố Mỹ nhằm hạ lãi suất dài hạn xuống. Việc này nhằm thúc đẩy số vốn đầu cơ lưu hành quốc tế dồn vào mua những Cổ phiếu ngắn hạn. FED biết rằng Dân chúng Hoa kỳ giữ lượng Cổ phiếu đến USD.7’000 tỉ. Khi giá những Cổ phiếu này tăng lên, thì Dân chúng Hoa kỳ thấy mình giầu lên và dành một phần cho chi tiêu. Mãi lực dân Mỹ tăng do Cổ phiếu tăng giá. Dân chúng tiêu dùng, thì Sản xuất mới tăng được. Các xí nghiệp thuê Nhân công để tăng Sản xuất, thì Thất nghiệp sẽ giảm. * Một mặt khác, khi FED rót $600 tỉ vào Lưu hành, các Xí nghiệp thấy số vốn ở Thị trường tăng lên với Lãi suất thấp gần 0%, nên dễ dàng vay vốn để đầu tư vào những chương trình Sản xuất của mình. Hậu quả vay được vốn rẻ đầu tư là thu nhận thêm Nhân công và do đó Thất nghiệp giảm xuống. * FED cũng tính toán rằng với $600 tỉ hoặc nhân lên thêm rót vào lượng Tiền tệ lưu hành, thì Tỷ giá đồng Đo-la tất nhiên giảm xuống. Xin lưu ý là Đo-la giảm tới mức nào, thì đó là việc FED có khả năng quyết định cho phù hợp. Khi Tỹ giá Đo-la hạ, thì hàng hóa Hoa kỳ được nâng đỡ trong việc xuất cảng trên Thị trường quốc tế. Nếu xuất cảng Hoa kỳ tăng, thì tất nhiên Sản xuất tăng và do đó các Xí nghiệp thu nhận thêm Nhân công, thất nghiệp giảm xuống.
=> Tác động tính toán lên Kinh tế / Tài chánh quốc tế
Đã từ những thập niên, Kinh tế Á châu, từ Nhật, Đài Loan, Nam Hàn, Tân Gia Ba… đả nhờ Mãi lực cao của Dân chúng Hoa kỳ mà làm giầu cho mình. Điển hình nhất là Trung quốc, sản xuất và xuất cảng nhằm chính yếu vào khai thác Thị trường Hoa kỳ.
Mãi lực Hoa kỳ bị khai thác đến nỗi bay giờ phải kiệt quệ làm dân chúng Mỹ thất nghiệp trầm trọng. Chính TT.Obama đã phải công khai chỉ trích về điểm khai thác này tại Hội nghị G20 Seoul và Hội nghị APEC tại Nhật.
Chúng tôi đã có lần viết rằng TT.Obama không thể ngồi ôm khối thất nghiệp dân chúng Mỹ mà than khóc trước những kẻ làm cho mình kiệt quệ và còn lên mặt hống hách ương ngạnh. Chính thái độ ôm thất nghiệp mà chỉ than khóc đã làm cho TT.Obama và đảng Dân chủ thất bại mới đây. Hoa kỳ có quyền phản công lại.
Nếu Quyết định QE2 $600 tỉ có những tác động phản công lại trên Thị trường quốc tế, nhất là ở Trung quốc, thì đó cũng chỉ là luật nhân quả do chính một số nước Á châu, nhất là Trung quốc, đã gây ra cái nhân không sòng phẳng.
Những tác động hậu quả tính toán trên Thị trường quốc tế như sau:
* Tác động trực tiếp từ giảm giá đồng Đo-la. Đồng Đo-la hạ giá xuống khiến Tỷ giá đồng Yuan tự động phải lên. Như vậy, tác động này làm cho Trung quốc giảm việc gian lận dùng Tỷ giá đồng Yuan thấp để xuất cảng hàng sang Hoa kỳ làm cán cân Mậu dịch Mỹ thiếu hụt đến USD.46 tỉ trong tháng 10 vừa rồi. Khi Trung quốc giảm xuất cảng, thì đó cũng có nghĩa là hàng Mỹ có khả năng tăng xuất cảng để từ đó tăng Sản xuất tại Mỹ và hạ được thất nghiệp của mình. Cũng vậy, vì đồng Đo-la hạ xuống, những nước xuất cãng khác của Á châu cũng chịu ảnh hưởng tác động này như Trung quốc.
* Tác động gián tiếp qua những vốn đầu cơ lưu động. Khi làm cho Lãi suất Hoa kỳ xuống do Quyết định rót $600 tỉ, những vốn đầu cơ lưu động đổ dồn vào những nước bắt đầu phát triển để kiếm lợi nhuận cao hơn. Tác động này tạo tình trạng Lạm phát, nhất là Trung quốc mà chúng tôi đã có dịp viết một bài dài trong tuần vừa rồi. Cái hậu quả là nền Kinh tế mang Lạm phát thiếu cạnh tranh, giảm tăng trưởng, giãm xuất cảng. Như vậy gián tiếp Hoa kỳ tăng tính cạnh tranh của mình về xuất cảng và Sản xuất. Tất nhiên tác động này góp phần vào việc làm giảm thất nghiệp tại Hoa kỳ.
Qua những tác động liệt kê ra trên đây, về kinh tế / Tài chánh nội địa Mỹ cũng như trên Thế giới, chúng ta thấy rằng khi quyết định QE2 rót $600 tỉ vào lưu hành, FED đã tính toán nhất quán nhằm mục đích chính là hạ THẤT NGHIỆP tại Mỹ, nhiệm vụ được trao phó. Nhưng FED có đạt được mục đích hay không và bao giờ mới đạt được ?
Những khó khăn trong việc giảm thất nghiệp ở những nước tiền tiến đã kỹ nghệ hóa
Trong suốt phần trình bầy trên đây, tất cả những tính toán sử dụng tác động Tiền tệ và Tài chánh giai đoạn của FED là đi tới tăng SẢN XUẤT để từ đó các xí nghiệp THU NHẬN NHÂN CÔNG. Việc giảm THẤT NGHIỆP chỉ là hậu quả của quyết định thu nhận thêm nhân công của các xí nghiệp hay không. Quyền quyết định Tiền tệ và Tài chánh là quyền của FED, nhưng quyền quyết định thu nhận nhân công là quyền của xí nghiệp sản xuất. Chính vì việc FED không giữ chủ động trong việc quyết định thu nhận nhân công mà mục đích của QE2 $600 tỉ rót vào lưu hành vốn có thể không đạt được mục đích theo mong ước của FED. Những khó khăn trong việc giảm được thất nghiệp còn tùy thuộc vào quyết định của các xí nghiệp mà mục đích tối hậu của họ là nhằm đạt tới LỢI NHUẬN TỐI ĐA. Các xí nghiệp nhằm mục đích hoàn toàn Kinh tế, trong khi ấy mục đích giải quyết THẤT NGHIỆP của FED còn mang thêm khía cạnh Xã Hội, Chính trị. Chúng tôi xin cắt nghĩa những khó khăn đó như sau.
Công thức tổng quát về SẢN XUẤT: Q = f(K, L, t) Q là Lượng Sản Xuất. f có nghĩa là tùy thuộc. K là Vốn sử dụng. L là Nhân Lực. T là Kỹ thuật hội nhập vào hai Yếu tố K và L. Mục đích xản xuất của xí nghiệp là LỢI NHUẬN TỐI ĐA, chứ không tất nhiên là sản xuất lượng nhiều hay ít. Công thức trên đây đứng về phía tính toán chi tiêu cho Giá thành. Vì tính cách cạnh tranh xít xao ở Thị trường, nên Giá bán trở thành rất khó khăn để quản trị, các xí nghiệp tìm mọi cách sử dụng Chi tiêu cho K, L và t để hạ Giá thành làm biên độ LỢI NHUẬN tăng.
=> Khó khăn thứ nhất: Lựa chọn sử dụng giữa K (Vốn) và Nhân Lực (L)
Việc lựa chọn này tùy thuộc Loại hàng hóa sản xuất của Xí nghiệp. Đối với những hàng hóa thuộc loại phức tạp và cao cấp dùng dài hạn, Xí nghiệp lựa chọn sử dụng Vốn (L) vào những thiết bị sản xuất toàn hảo. Nhưng đối với những hàng hóa thường dùng mỗi ngày có tính cách ngắn hạn, Xí nghiệp lựa chọn sử dụng Nhân lực, nhất là Nhân lực không chuyên nghiệp và rẻ tiền. Tỉ dụ ngành sản xuất may mặc được chuyển về những nước có nhân lực rẻ tiền.
Đứng về quan điểm quản trị Chi tiêu như vậy của các Xí nghiệp, nếu Chính sách QE2 $600 tỉ nhằm tăng sản xuất tại Hoa kỳ, thì chưa tất nhiên việc tăng sản xuất dẫn đến việc Xí nghiệp nhận thêm nhân công Mỹ để giảm thất nghiệp. Một số Xí nghiệp Mỹ có thể sử dụng vốn từ FED để tăng cường thiết bị sản xuất những hàng cao cấp hoặc sang các nước có nhân công rẻ tiền để sản xuất những hàng thường dùng mỗi ngày.
=> Khó khăn thứ hai: Hiện đại hóa Xí nghiệp (t)
Kỹ thuật hội nhập (t) là yếu tố chủ chốt cho Sản xuất tại những nước tiền tiến đã kỹ nghệ hóa. Nó hội nhập vào hai Yếu tố Vốn (K) và Nhân Lực (L).
Con vật, như con voi, có sức mạnh biết bao lần hơn con người. Nhưng con voi không có tiến triển, trong khi ấy con người, nhờ trí thông minh, có những phát minh và luôn luôn muốn áp dụng phát minh để khắc phục sức mạnh thiên nhiên phục vụ làm tăng cường sức mạnh cho sức yếu thân xác của mình.
Từ tình trạng phải dùng bắp thịt để làm việc kiếm ăn nuôi sống thân xác, con người đã phát minh những cách thế để bắt thiên nhiên làm việc kiếm cơm cho mình.
Trong Kinh tế, người ta gọi HIỆN ĐẠI HÓA XÍ NGHIỆP là áp dụng những phát minh Khoa học vào Tiến trình Sản Xuất. Trong Công thức Sản xuất, Yếu tố (t) tượng trưng cho việc áp dụng những phát minh Khoa học, gọi là Tiến triển Kỹ thuật (Progrès Technologique) hội nhập vào hai Yếu tố Sản xuất là Vốn (K) và Nhân Lực (L).
Các nước tiền tiến đã kỹ nghệ hóa luôn luôn phải theo rõi những Phát minh khoa học (Inventions scientifiques) và áp dụng chúng vào Tiến trình sản xuất, nếu không sẽ bị đào thải.
Nước Mỹ ở vào thượng đỉnh những nước tiền tiến đã kỹ nghệ hóa. Việc Hiện đại hóa Sản xuất có ba mức độ:
1) Mức độ Cơ Giới hóa (Mécanisation) Đây là mức độ dùng Cơ giới (Mécanique) để hỗ trợ cho Bắp thịt. Tỷ dụ dùng Máy cầy thay cho người kéo cầy.
2) Mức độ Tự động hóa Cơ giới (Automatisation de la Mécanique). Đây là mức độ đặt vào Cơ giới một Bộ phận làm cho Cơ giới tự phát động và tự ngưng làm việc. Người ta bắt đầu gọi đó là thêm cho Cơ giới một bộ óc thô sơ. Tỉ dụ Máy giặt tự bắt đầu ở thời điểm nào đó, rồi tự ngưng khi giặt xong.
3) Mức độ Rô-bô (Robotisation) Cái bộ óc thô cho Tự động hóa Cơ giới được kiện toàn đến nỗi nhiều người gọi đó là Trí thông minh nhân tạo (intelligence artificielle).
Xem như thế, Hiện đại hóa sản xuất qua ba mức độ trên là việc giải thoát con người khỏi sự hiện diện nơi sản xuất. Nhưng mỗi mức độ giải thoát con người là mỗi lần làm con người mất việc làm : (1) Máy cầy đẩy nông dân phải đến những khu kỹ nghệ để làm công nhân nhà máy; (2) Máy giặt tự động hóa thải chị giúp việc khỏi phải canh chứng ; (3) Rô-bô khuân vác thải người công nhân cũng như Máy Điện tính thải cô thư ký.
Tóm lại, Hiện đại hóa Sản xuất đi theo khuynh hướng thải thợ tại những nước tiền tiến.
Hoa kỳ là nước tiền tiến đã kỹ nghệ hóa cao độ. Điều đó có nghĩa là khuynh hướng thải Nhân lực cũng cao độ. Chính vì vậy mà khi Chính sách Tiền tệ và Tài chánh QE 2 $600 tỉ nhằm tác động tăng SẢN XUẤT cho Xí nghiệp đã Hiện đại hóa tại Mỹ chưa tất nhiên dẫn đến việc nhận thêm Nhân Lực để giảm THÁT NGHIỆP như FED mong muốn.
Nước Mỹ vừa trải qua một cuộc Khủng hoảng Kinh tế làm Sản xuất giảm. Các xí nghiệp đã thải thợ để mức độ THẤT NGHIỆP lên tới 9.8%. Điều đó có nghĩa là những Nhà Máy Thiết bị sản xuất cũng bị « thất nghiệp « . Nếu ngày nay, vì tác động của QE2 $600 tỉ mà Xí nghiệp tăng Sản xuất, thì họ nghĩ trước tiên đến việc cho nhà máy thiết bị « thất nghiệp« chạy lại cho hết năng lực trước khi thâu nhận thêm nhân công làm giảm thất nghiệp như FED mong muốn.
Đây là khó khăn rất lớn tại Hoa kỳ trong việc làm giảm thất nghiệp.
Góp ý để Kết luận : Che Chở Mậu dịch là quyền tự vệ
Tự do Mậu dịch là điều đáng quý vì trên mặt Lý thuyết từ những Oâng Tổ Cổ điển Anh quốc như Adam Smith, David Ricardo, Stuart Mill…, tự do mậu dịch mang lại lợi ích cho cả hai phía trao đổi. Nhưng nếu mình ở thế yếu bị khai thác, thì tự do mậu dịch là thí thân để người khác lợi dụng. Tự do mậu dịch là Lý tưởng khi mà hai phía có lực Kinh tế đồng đều. Nhưng khi thấy mình yếu chưa đủ lực, thì mình có quyền tự vệ xin hoãn binh, nghĩa là mình Che Chở mình (Protectionnisme) cho đến khi đủ lực.
Ngày 30.11.2010, Thượng viện Hoa kỳ chấp thuận DỰ LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM, đó là bước khởi sự cho những Biện pháp không giá biểu (Mesures non tarifaires douanìeres) đẻ Che Chở Mậu dịch mà những ký kết trong khuôn khổ Tổ Chức Mậu dịch Thế giới (WTO / OMC) không có quyền can thiệp.
Những tác động của Chính sách QE2 $600 tỉ về Tiền tệ và Tài chánh của FED phải được bổ túc bởi những Biện pháp Không giá biểu quan thuế để ngăn chặn sự ích kỷ của những Xí nghiệp chỉ tìm LỢI NHUẬN TỐI ĐA nhất thời.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 08.12.2010 Web: http://VietTUDAN.net
| | | |
TRUNG QUỐC TÍNH TOÁN GÌ KHI MUỐN GIÚP VÀ ĐẦU TƯ VÀO LIÊN ÂU ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva 13.01.2011 Web: http://VietTUDAN.net
Liên Âu hiện đang gặp hai vấn đề tài chánh và Tiền tệ. Về Tài chánh, một số nước thuộc Liên Âu như Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan, Tây Ban Nha… gặp tình trạng nợ công chồng chất và phải cầu cứu giúp đỡ để tránh tình trạng vỡ nợ. Về Tiền tệ, đồng Euro tụt dốc có thể gây chia rẽ trầm trọng trong khối các nướx sử dụng đồng tiền duy nhất Euro.
Giữa lúc khó khăn giải quyết như vậy, Trung quốc tỏ ý muốn giúp đỡ hai nước Hy Lạp và Tây Ban Nha về nợ nần, đồng thời dự tính đầu tư hoặc mua một số Công ty thuộc những nước này.
Đây có phải là lòng tốt thương nhau muốn giúp đỡ hay Trung quốc tính toán những điều có lợi cho mình ?
Thực ra trong mọi việc tương giao trợ lực quốc tế, ngay với khuôn khổ gọi là bác ái, chúng tôi không tin rằng qua việc tặng những món tiền mà không có như tính toán lấy lại lợi cho mình. Vì vậy, chúng tôi đi theo hướng tìm hiểu xem việc đề nghị giúp đỡ Hy Lạp hay Tây Ban Nha có những tính toán thủ lợi nào cho Trung quốc. Người ta cũng ngạc nhiên rằng nếu Trung quốc có số tiền bạc dự trữ trên USD.2’500 tỉ, tại sao không đầu tư nội địa để lo lắng nâng cao đời sống của trên 1 tỉ 500 triệu dân của họ đang chịu cãnh nghèo cực, mà lại đem tiền đi giúp đỡ tha nhân Hy Lạp và Tây Ban Nha. Phải có những hậu ý tính toán thủ lợi nào đó.
Những nghi ngại của chính phía Âu châu
Chúng tôi xin đưa ra đây những trường hợp nghi ngờ về ẩn ý của Trung quốc. Những nghi ngờ này được đưa ra qua báo chí hoặc qua đài truyền hình:
1) Trung quốc muốn tặng “Cheval de Troie»
Thứ Năm, 06.01.2011, trong giờ Tin Tức lúc 19:30, xướng ngôn viên Darius của Đài Truyền Hình Thụy sĩ Pháp thoại, khi nói đến ý định của Trung quốc muốn giúp đỡ giải quyết những khó khăn của Aâu châu, đã nói rằng đó là Trung quốc muốn tặng « Cheval de Troie« . Đây là câu chuyện cổ Hy Lạp được kể trong Odyssée. Thành Troie bị vây hãm trong suốt 10 năm bởi Hy Lạp. Cuối cùng quân lính Hy Lạp làm như rút binh, nhưng để lại một con Ngựa bằng gỗ khổng lồ. Trong con ngựa này, có một số lính Hy Lạp trốn ở trong bụng. Dân thành Troie kéo con ngựa gỗ vào trong thành. Đến đêm lính Hy Lạp từ bụng con ngựa chui ra và mở cữa thành Troie. Thế là quân đội Hy Lạp vào được thành và chiến thắng. « Cheval de Troie« đã trở nên một thành ngữ trong tiếng Pháp để nói rằng trong quà tặng có chứa những độc ý chiến thuật làm nguy hại cho người ham nhận.
Mặc dầu không bình phẩm minh nhiên về việc tỏ ý giúp đỡ của Trung quốc, mà chỉ cần nhắc tới « Cheval de Troie « , thì thính giả cũng hiểu rằng đây là lời phê bình tế nhị nói đến những tính toán thủ lợi của Trung quốc.
2) Trung Quốc đã đánh cắp bí mật của Renault như thế nào ?
Cũng trong tuần vừa rồi, tờ báo Le Figaro cũng đăng tải việc nghi ngờ Trung quốc hối lộ để lấy những bí mật của hãng sản xuất xe hơi Renault. Dựa theo Bản Tin bằng tiếng Pháp, Oâng Trọng Thành đã viết ra Bản Tin bằng tiếng Việt như sau :
« Phụ trương kinh tế của nhật báo Le Figaro hôm nay chạy trên trang nhất hàng tựa «Trung Quốc đã tiến hành do thám Renault như thế nào ? ». Tờ báo cung cấp các thông tin mới nhất về vụ gián điệp công nghiệp tại hãng xe hơi Pháp nối tiếng này. Theo tiết lộ từ các cuộc điều tra tư nhân, hai trong số ba viên chức cao cấp của Renault có tài khoản tại các ngân hàng Thụy Sĩ và Lichtenstein, mà nơi cung cấp tiền là một công ty Trung Quốc. Tại Lichtenstein, người ta đã phát hiện được 150 ngàn euro, còn tài khoản tại Thụy Sĩ có 500 ngàn.
Theo một nguồn thông tin ẩn danh, số tiền này đến từ một doanh nghiệp Trung Quốc, có trụ sở tại Bắc Kinh, mang tên Power Grid Corporation. Đây là một công ty lớn trong lĩnh vực phân phối điện. Khoản tiền mờ ám kể trên, được nghi là để trả công cho những người đánh cắp bí mật của Renault, rất có thể đã được chuyển qua một loạt các cơ sở trung gian tại Thượng Hải và Malta.”
Từ Bắc Kinh, Trung quốc cũng đã sử dụng gián điệp, hối lộ tiền bạc để mua những bí ẩn nghề nghiệp của Âu châu. Nếu bỏ tiền giúp đỡ hoặc đầu tư vào Liên Âu, thì Trung quốc tha hồ khám phá những bí ẩn nghề nghiệp của Liên âu vậy.
3) Châu Âu muốn kiểm soát đầu tư của các công ty Trung Quốc
Cũng theo Ông Trọng Thành, thì Âu Châu muốn kiểm soát đầu tư của các Công ty Trung quốc. Bản tin như sau:
“Nhật báo kinh tế Les Echos hôm nay, chạy tựa trên trang nhất “Bruxelles muốn ngăn chặn việc Trung Quốc mua các công ty Châu Âu”. Trả lời phỏng vấn nhật báo Handelsbaltt của Đức, Ủy viên Châu Âu về Công nghiệp Antonio Tajani đã cho biết nỗi lo ngại về của ông trước ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc.
Cụ thể là các doanh nghiệp Trung Quốc ngày càng có khả năng mua được “các doanh nghiệp Châu Âu sở hữu các công nghệ then chốt trong các lĩnh vực quan trọng”. Theo Ủy viên công nghiệp Châu Âu, tuy đây là một hoạt động đầu tư kinh tế, nhưng “ẩn đằng sau đó là một chiến lược chính trị”, chính vì thế “Châu Âu cũng cần phải phản ứng lại về mặt chính trị”.
Dựa trên mô hình của Ủy ban phụ trách các đầu tư nước ngoài của Hoa Kỳ, ông Antonio Tajani dự kiến thành lập một cơ quan kiểm soát các đầu tư tại Châu Âu. Mặc dù hiện tại, Ủy ban Châu Âu chưa nhận được các đề xuất lập pháp mới, làm cơ sở cho sự ra đời của một cơ quan như vậy, nhưng, theo một chuyên gia Châu Âu am hiểu về tình hình, chắc chắn Ủy viên Châu Âu về Công nghiệp đã phải có lý do mới đưa ra một đề xuất như vậy”
4) Nhiều nước Âu châu ngăn cấm những “China Town”
Tại Âu châu, chỉ có “China Town” ở Luân Đôn và Paris. Chúng tôi biết rằng ba Quốc gia Âu châu đặc biệt ngăn cấm việc mở những “China Town” ở bất cứ thành phố nào của họ. Lý do ngăn cấm là họ không muốn một “quốc gia “ trong một quốc gia với tất cả những phức tạp mà họ phải tiêu tốn tiền bạc để kiểm soát những bí ẩn “vô luật lệ “ bên trong những “China Town “ ở thành phố của họ. Tại nước Đức, có rất nhiều thành phố lớn, nhưng người Tầu không thể thành lập được “China Town”. Tại Ý cũng vậy, chúng ta không tìm thấy những khu Tầu như ở Luân Đôn và Paris.
Riêng tại Thụy sĩ, một nhân viên thuộc ủy ban Tỵ nạn đã cho chúng tôi biết rằng ngay tứ đầu khi nhận những người Tỵ nạn Việt Nam mà họ biết trong đó có nhiều người gốc Tầu, Thụy sĩ tản nghững người Tỵ nạn ra nhiều nơi để tránh việc tụ họp lại một khu trong thành phố. Họ muốn tránh những tụ họp thành “China Town”.
Qua sự việc ngăn cản “China Town” này, chúng ta hiểu rằng một số nước Âu châu chắc chắn nghi ngờ rằng nếu trường hợp Trung quốc đầu tư vào Liên Âu, thì sẽ có những gian lận, không sòng phằng trong nền Kinh tế của họ.
Qua Thương mại, Trung quốc đã thâu Mãi lực Thị trường Liên Âu về cho mình. Bây giờ lại dùng chính những tiền thâu được ấy, Trung quốc muốn thâu về cho mình những bí quyết ngành nghiệp, những chất xám của Liên Âu.
Nhận định của chúng tôi về việc Trung quốc muốn bỏ tiền vào Liên Âu
Nhận định của chúng tôi bắt đầu từ câu hỏi: Trung quốc có khối Tiền dự trữ lớn, đồng thời cũng có khối người nghèo khổng lồ cần phải đầu tư vào đó để cải thiện đời sống. Tại sao không đầu tư tại nội địa, mà phải mang Tiền đi làm việc giúp đỡ dân nước ngoài ?
Chúng tôi có những cắt nghĩa như sau đây:
1) Việc thu vào được nhiều Tiền không phải là cho dân mà cho những cá nhân thuộc đảng CSTQ. Đây là Kinh tế Mafia nhóm đảng, chứ không phải Kinh tế của nước Tầu. Nói Trung quốc có dự trữ Tiền bạc nhiều thì không trúng, mà phải nói rằng dự trữ Tiền bạc đó là của nhóm đảng hay những tư nhân con cháu đảng. Nước Trung quốc vẫn nghèo, chỉ có nhóm đảng CSTQ là trở thành triệu phú, tỉ phú.
Nhóm đảng triệu phú, tỉ phú này tất nhiên không nghĩ đến đời sống nghèo khổ của dân chúng Tầu, mà chĩ nghĩ đến cất giữ tiền riêng của mình cho kỹ. Họ cũng là người Tầu, nhưng lại không muốn cất giữ Tiền bạc tại Trung quốc vì sợ một ngày nào đó, khi có thay đổi quyền lực hay dân chúng đứng dậy lật đổ họ, họ sẽ mất hết Tiền bạc đã ăn cắp được.
Để có thể cất giữ an toàn tài sản, nhóm đảng Mafia CSTQ luôn luôn muốn chuyển Tiền bạc ra nước ngoài. Để có thể chuyển ra một cách danh chính ngôn thuận, phải tìm cách đầu tư, mua những Công ty ngoại quốc, thâm chí dưới hình thức giúp đỡ Tài chánh.
Nếu Liên Âu chấp nhận cho việc Trung quốc đầu tư hay mua các Công ty tại Liên Âu, đó là việc tiếp nhận những món Tiền mà nhóm đảng Fafia cướp bóc của dân Trung quốc để đem ra nước ngoài xin “tỵ nạn “, đó là tiếp nhận những món tiền biển thủ phi nhân. Một đàng thì Âu châu rêu rao thanh trừng việc rửa tiền bẩn, một đàng thì lại tiếp nhận những món tiền của nhóm đảng Mafia CSTQ để rửa sạch dùm họ.
Trường hợp Việt Nam cũng vậy. Nhiều những lãnh đạo đảng CSVN bóc lột, tham nhũng để có tiền triệu. Qua những Việt kiều, họ tìm cách đầu tư ở những cơ sở làm ăn tại California chẳng hạn. Họ không dám để Tiền ăn cướp được tại Việt Nam vì lo ngại đến một ngày nào đó, Dân nổi dậy, họ mất cả chì lẫn chài.
2) Lý do thứ hai liên hệ đến chính nền Kinh tế Trung quốc. Thực vậy, nền Kinh tế Trung quốc dựa trên xuất cảng, nhất là cho hai Thị trường lớn Hoa kỳ và Liên Âu. Nếu nền Kinh tế lệ thuộc vào xuất cảng, thì Trung quốc rất lo ngại về những Biện pháp Che chỡ Mậu dịch. Sau cuộc Khủng hoảng, Mãi lực của hai Thị trường này giảm xuống. Những Biện pháp Che chở Mậu dịch đã là con ma đe dọa Trung quốc hàng ngày.
Để có thể tránh những Biện pháp Che chở Mậu dịch này, thì việc sản xuất của Trung quốc phải đặt một đầu cầu tại chính hai Thị trường Hoa kỳ và Liên Âu. Thực vậy, đối với những Tập đoàn sản xuất Liên quốc gia (Multinationales), việc đặt một đầu cầu ở một quốc gia là biện pháp tránh những cản ngăn quan thuế.
Trung quốc tha thiết đầu tư hoặc mua lại những Công ty thuộc Liên Âu là nhằm đặt một đầu cầu cho xuất cảng của họ vào thị trường Liên Âu này. Ngày mà Hong Kong còn thuộc Anh quốc, những sản xuất của Quảng Đông đã đặt đầu cầu tại Hong Kong để có thể xuất cảng sang cả Thị trường chung Âu châu vì Hong Kong thuộc nước Anh, mà nước Anh lại thuộc thuộc Thị trường chung Âu châu này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 13.01.2011 Web: http://VietTUDAN.net
| | | |
PHẢI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH ĐỂ GIẢI THOÁT DÂN TỘC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 15.09.2010 Web : http://vietTUDAN.net
Bài này tóm tắt, nhưng có lẽ khá dài, về sự hình thành một Lập trường và Quan điểm Đấu tranh nhằm Phát triển Kinh tế Đất Nước và Giải thoát Dân tộc khỏi một bạo quyền đã do Hồ Chí Minh, đầy tớ của Cộng sản Quốc tế, thiết lập nó và đặt để trên Dân tộc Việt Nam bằng bạo lực.
Chúng tôi nói là tóm tắt bởi vì chỉ là một bài báo lấy lại ý chính đã viết trong hai cuốn sách với nhan đề DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN và DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ.Cả hai được xuất bản bởi NXB DAY&NIGTH, Ventura, California, USA năm 2009 và năm 2010.
Nhưng bài tóm tắt có lẽ khá dài vì phải kể cho gẫy gọn sự hình thành một Lập trường và Quan điểm Đấu tranh từ năm 1965 cho đến nay, tức là 45 năm. Chúng tôi nói sự hình thành, nghĩa là Lập trường và Quan điểm Đấu tranh không phải là một Mệnh lệnh giáo điều cho mọi người, nhưng là từ cá nhân sống với tuổi tác, với những biến chuyển thời cuộc từ năm 1965 tới nay. Như vậy việc hình thành Lập trường và Quan điểm này là chính cuộc sống của chúng tôi qua thời gian với những gì xẩy ra cho Quê Hương trong suốt quãng dài thời gian ấy.
Chúng tôi sẽ nói tới những điểm sau đây : => Từ bản chất, mỗi người tìm sống cho cá nhân => Sự thất bại của Chủ trướng Kinh tế Tập quyền Chỉ huy => Sự thật về chủ trương Kinh tế của Cơ Chế CSVN hiện hành => Thủ phạm của Tham nhũng, Lãng phí chính là Cơ Chế CSVN => Phải dứt vỏ Cơ Chế CSVN nếu muốn Phát triển Kinh tế và giải thoát Dân tộc
Từ bản chất, mỗi người tìm sống cho cá nhân
Mỗi con vật, mà con người trước hết là con vật, đều mang bản năng phải tự kiếm sống để thân xác mình tồn tại. Khi con vật hay con người mới sinh ra, cha mẹ chịu trách nhiệm nuối dưỡng cho đến khi có đủ sức tự kiếm ăn nuôi sống mình. Khi sống thành xã hội, thì con vật hay con người không phải là ỷ nại vào xã hội để mà sống mà chỉ tìm sự nương tựa lẫn nhau để cuộc tìm sống cá nhân có hiệu lực hơn, chứ Tổ chức quyền lực xã hội không thay thế sinh hoạt tìm sống cá nhân. Chủ trương Quyền lực Tổ chức xã hội bao thầu việc tìm sống cho mỗi cá nhân trở thành không tưởng (Utopique) hoặc chỉ là chiêu bài che đậy để giữ quyền lực lợi dụng sức cố gắng cá nhân tìm sống.
Tìm cách nuôi sống thân xác cá nhân
Việc mỗi cá nhân tìm cách nuôi sống thân xác riêng của mình là nền tảng cho hệ thống sinh hoạt Kinh tế. Việc kiếm sống cá nhân đòi hỏi phải có PHƯƠNG TIỆN làm ăn. Ở đây, chúng ta đặt ra vấn đề TƯ HỮU những phương tiện kiếm sống. Mỗi con vật, tùy thức ăn phù hợp cho thân xác, mà biến hóa, tạo ra những phương tiện kiếm ăn riêng của mình. Đây là tư hữu tự nhiên. Con chim hút nhụy hoa, cần có mỏ dài. Con sư tử dạng chân ra đái để báo hiệu vùng đất săn thuộc tư hữu của mình. Người nông dân có tư hữu cái liềm để cắt cỏ; anh ngư phủ có tư hữu tấm lưới để bắt cá. Không thể tước đoạt những tư hữu PHƯƠNG TIỆN kiếm sống cá nhân.
TƯ HỮU là nền tảng phát sinh hệ thống Kinh tế. Thực vậy, TƯ HỮU là điều tự nhiên. Mà khi những phương tiện kiếm sống thuộc TƯ HỮU, thì hệ luận trực tiếp là phải có TỰ DO xử dụng phương tiện, nếu không tư hữu không còn ý nghĩa.
Mỗi cá nhân tự kiếm sống nuôi thân xác mình là điều tự nhiên và bó buộc. Phương tiện kiếm sống là tư hữu, cách thế kiếm sống là do cá nhân quyết định trong một Môi trường sống chung (Environnement Politico-Juridique) đòi hỏi phải có TỰ DO SINH HOẠT KINH TẾ cho mỗi cá nhân. Nguyên tắc TỰ DO SINH HOẠT KINH TẾ là một điều tự nhiên, chứ không đến từ một cấu trúc lý thuyết, từ một ý thức hệ nào. Một ý thức hệ, cấu trúc từ suy tư của đầu óc, để bó buộc sự tự nhiên từ bản năng thân xác, đó là một điều không thể chấp nhận.
Khi Quyền lực Chính trị, nhất là quyền độc tài của một nhóm người, nhân danh một ý thức hệ, can thiệp TRỰC TIẾP vào tư hữu và vào quyết định kiếm sống cá nhân, đó là điều không thể chấp nhận. Dùng quyền lực Chính trị độc tài, dành độc quyền quản trị Kinh kế dù trực tiếp hay gián tiếp qua những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước, mà không bao cấp cho cuộc sống thân xác cá nhân, đó là việc vi phạm vào bản năng tự nhiên kiếm sống của từng người. Một CƠ CHẾ như vậy đối với Kinh tế là một CƠ CHẾ VÔ LƯƠNG. Chúng tôi nói VÔ LƯƠNG bởi vì nếu cơ chế còn bao cấp, thì còn có lương tâm.
Nguyên tắc đòi hỏi bởi những ông tổ Lý thuyết Kinh tế
Từ nền tảng cá nhân buộc phải kiếm sống cho thân xác mình, từ bản năng tự nhiên TƯ HỮU phương tiện kiếm sống, từ hệ luận trực tiếp là TỰ DO xử sụng phương tiện và từ tính cách ĐỘC LẬP quyết định sinh hoạt Kinh tế của mỗi cá nhân, những ông tổ Lý thuyết gia đã xây dựng hệ thống Kinh tế nhấn mạnh thiết yếu là KHÔNG ĐƯỢC CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ. Cái nguyên tắc thiết yếu này nhằm:
=> Bảo vệ sự TỰ DO và tính cách ĐỘC LẬP của cá nhân trong sinh hoạt Kinh tế kiếm sống cho chính thân xác của từng người (chứ không phải của ý niệm xã hội)
=> Phát huy sáng kiến kiếm sống cá nhân và đẩy mạnh hiệu năng sinh hoạt kinh tế
=> Tạo sự phát triển Kinh tế chung qua Thị trường Tự do trao đổi với sự cạnh tranh hiệu năng của những cá nhân tham dự Thị trường.
Từ nguyên tắc này, những Lý thuyết gia xây dựng hệ thống Kinh tế đã đồng nhất về vị trí của Nhà Nước chỉ là Trung Lập hay Cảnh Sát (Etat Neutre ou Etat Gendarme).
Qua những Thế hệ, những Lý thuyết gia sau đây giữ vững Nguyên tắc Tự do và Độc lập cá nhân trong sinh hoạt Kinh tế:
1) Thế hệ những Nhà Kinh tế Cổ điển Anh (les Classiques Anglais). Đây cũng là những Ông Tổ sáng lập nền Kinh tế Tự do và Thị trường: Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL (Thế kỷ 17)
2) Thế hệ những Nhà Kinh tế Tân Cổ điển (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20):Alfred MARSHALL, PARETTO, WALRAS
3) Nhà Toán học và Kinh tế gia lừng danh KEYNES sau cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-1930. Ông tổ của Economie du Marche lấy phía Cầu (Demande) hướng dẫn phía Cung (Offre).
4) Thế hệ học trò của KEYNES, hậu Keynes (Post-keynesiens): Paul SAMUELSON (Giải Nobel Kinh tế 1970), FRIEDMANN. Đây là nhưng Giáo sư Kinh tế và Cố vấn cho Hoa kỳ. Họ dậy tại Trường Kinh tế Harvard.
Sự thất bại của Chủ trướng Kinh tế Tập quyền Chỉ huy
Nhìn cá nhân tìm sống một cách tự nhiên như trên, với những biện luận của các ông Tổ Lý thuyết Kinh tế, một hệ thống Kinh tế Trự do và Thị trường được thành hình. Nhưng đầu thế Kỷ 20, hệ thống Kinh tế Tập quyền và Chỉ huy được thiết lập và có tham vọng bao thầu cho sinh hoạt Kinh tế cá nhận.
Vài nét lịch sử của chủ trương Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy
TƯ HỮU trong hệ thống Kinh tế được coi là một sự tự nhiên dựa trên quyền tìm sống tối sơ của từng cá nhân và nguyên tắc Không Can Thiệp Chính trị, được các Lý thuyết gia đòi hỏi như điều kiện phát triển TỰ DO xử dụng TƯ HỮU làm phương tiện kiếm sống. Nếu việc xây dựng lý thuyết cho hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường mang tính cách khai triển tự nhiên, thì việc cấu trúc chủ trương Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy đã được thuyết lý dựa trên những quan niệm mang tính cách triết học.
Các lý thuyết gia của chủ trương này đã chạy ngược lên mãi thời Triết gia PLATON. Thực vậy, trong những cuốn “La République“, “Les Lois“, Platon đã nói đến “La Cité Communiste“ trong đó những người trách nhiệm làm Luật không được có gia đình và do đó không cần tư hữu cho con cháu.
Thời Trung Cổ Aâu châu, phía Thiên Chúa Giáo đã khai triển những Dòng Tu được coi là những Cộng đồng Cộng sản về Kinh tế.
Nhưng phải đợi đến đầu Thế kỷ thứ XVI, với Thomas MOORE (1477-1553), thì lý thuyết về một Chủ thuyết Xã Hội Kinh tế mới được phát triển có hệ thống. Thomas MOORE là người tôn sùng đạo Thiên Chúa. Được Vua HENRI VIII Anh quốc trọng dụng, nhưng vì cương trực phản đối lại Vua về vấn đề rắc rối vợ con, nên Oâng đã bị hành quyết. Năm 1516, cuốn sách Utopie ra đời và ông chủ trương Nhà Nước Utopie (Etat d’Utopie). Bắt đầu từ Thế kỷ XVI, Xã hội Tây phương có những xáo trộn về mọi phương diện: Tôn giáo, Tư duy, Nghệ thuật, Kinh tế, Xã hội... Oâng tìm kiếm một Thể chế có trật tự mà mẫu Cộng đồng trật tự nhất là các Dòng Tu. Giáo sư Sử học Kinh tế Jean-Marie VALARCHE đã viết: “Il (Thomas MOORE) prévoit un dirigisme absolu de l’Etat“ (Oâng (Thomas MOORE) dự trù một chủ thuyết Chỉ huy tuyệt đối của Nhà Nước).
Chúng tôi nhắc đến tác giả này vì muốn lấy ra những điểm mà Karl MARX đã chịu ảnh hưởng: ảnh hưởng của một Dòng Tu làm việc theo chỉ thị của người đứng đầu, cộng chung những sản phẩm, tiêu thụ theo nhu cầu từng người, chỉ có hệ thống phân phối giữa cung và cầu mà không có thương mại.
Từ đây, bắt đầu những cấu trúc Xã Hội Chủ Nghĩa qua những tác giả khác cho đến thời Karl MARX.
Karl Heinrich MARX sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 vùng Rhénanie, Đức, trong một gia đình gốc Do thái. Cha là Luật sư, nên Marx học Luật, sau chuyển sang Triết học theo HEGEL. Oâng chỉ làm quen và suy tư về những vấn đề Xã Hội, Kinh tế, Đấu tranh khi phải di chuyển sống ở nhiều nơi và viết báo. Sống ở một thời đại hậu bán Thế kỷ XIX có nhiều những cực đoan: Kỹ nghệ hóa vượt mức, Giới Tư sản nắm quyền hành, Cách xa Giới Chủ và Giới Thợ, Tình trạng thất nghiệp và đói nghèo, Cách Mạng 1848, những Ý tưởng Quốc gia cực đoan phát sinh. Trong sự hỗn loạn của những cực đoan ấy, Oâng lưu ý khai triển những vấn đề sau đây:
=> Chủ thuyết Duy vật Lịch sử. Với Chủ thuyết này, Oâng nhấn mạnh đến sự vong thân tôn giáo để kết luận rằng:“Tôn giáo là cái bông ghê tởm mọc trên đống phân tư bản. Bởi vậy nếu hốt đống phân đi, thì hoa cũng tàn...“ Cũng trong Chủ thuyết này, tương quan Xã hội được chính yếu nhấn mạnh vào hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến thiết. Hạ tầng cơ sở gồm những tương quan sản xuất vật chất, thượng tầng kiến thiết gồm những phương diện Luật pháp, Chính trị quy định Xã hội.
=> Giai cấp Xã hội và Đấu tranh Giai cấp. Cái nguyên nhân tạo ra những Giai cấp Xã hội là sự đấu tranh chiếm hữu. Oâng nhìn thấy hiện tượng vô sản hóa Giai cấp Thợ thuyền. Xã hội phân chia ra hai Giai cấp chính: Giai cấp chiếm hữu và nắm quyền, Gai cấp Thợ thuyền bị khai thác và bị bóc lột. Oâng thuyết giải về tính cách Vong thân Lao động, nghĩa là một mặt đối với chính mình, người Lao động sản xuất, nhưng bị tước đoạt sản phẩm; mặt khác đối với tương giao xã hội trước người khác, người lao động biến thành cái máy làm theo quyết định của chủ bóc lột chứ không có sáng kiến tự mình.
=> Ảnh hưởng bởi Lý thuyết của David RICARDO về Giá trị sản phẩm được đo lường bằng chính Giá trị Lao động hàm ngụ trong sản phẩm. Tư sản cũng chỉ là sự tích lũy Giá trị sản phẩm từ Giá trị Lao động. Oâng chủ trương Đấu tranh Giai cấp và hệ luận là Giai cấp Lao động phải dành lấy quyền làm chủ sản phẩm của mình. Cần một cuộc nổi dậy Cách Mạng dù bằng bạo động và Giai cấp Vô sản phải nắm trọn quyền hành độc tài tổ chức Xã hội.
Thế giới Cộng sản thực hiện hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy
Nếu Karl MARX cấu trúc hệ thống mang đậm tính cách lý luận do ảnh hưởng Triết học và Lý tưởng xã hội đậm hình thức tổ chức Cộng đồng Dòng Tu theo kiểu Thomas MOORE, thì LENINE, một người Chính trị, đã lấy những ý tưởng của MARX để đấu tranh chiếm quyền hành và tổ chức cai trị xã hội.
LENINE sinh năm 1870 vùng Simbirsk, giữa Oural và Moscou. Người anh cả của Oâng thuộc một tổ chức Khủng bố, đã muốn ám sát Nga Hoàng, nhưng bị bại lộ và người anh này đã bị treo cổ. Lúc ấy Lénine mới có 17 tuổi và đã bị đi lưu đầy và sống lần lượt tại Anh, Thụy sĩ và Pháp. Năm 1905, sau khi Nga bại trận đối với Nhật, nhóm của Lénine đã phát động nổi dậy, nhưng thất bại.
Năm 1917, Nga lại thất trận đối với Đức. Nhờ tài hùng biện của Lénine và tài chiến thuật của TROTSKY, cuộc CÁCH MẠNG VÔ SẢN tháng 10 đã thành công. LENINE trở thành Nguyên Thủ Quốc gia cho đến năm 1924, năm Oâng chết.
Tổ chức cai trị Xã hội được tiếp tục và trở thành khuôn khổ độc đoán dưới thời STALINE.
Xã hội Cộng sản được tổ chức thực hiện những chủ trương của MARX:
=> Cuộc đấu tranh đẫm máu thanh trừng Giai cấp tiếp tục khắt khe và vô nhân đạo dưới thời Staline. Giai cấp Tôn giáo, Trí thức và Tư bản bị tiêu diệt.
=> Truất hữu toàn vẹn những tư hữu. Tất cả trở thành CÔNG HỮU;
=> Giai cấp VÔ SẢN nắm quyền độc tài, mà đại diện Giai cấp này là Đảng Cộng sản duy nhất, nghĩa là quyền hành cai trị Xã hội và quản trị CÔNG HỮU thuộc về Đảng Cộng sản lãnh đạo Giai cấp vô sản.
=> Vì những phương tiện sản xuất là CÔNG HỮU, nên chỉ có Nhà Nước (Đảng Cộng sản) có quyền điều hành để sản xuất Kinh tế. Không còn Kinh tế tư nhân nữa mà chỉ còn Kinh tế do Nhà Nước hoạch định qua những Kế Hoạch (Ngũ niên);
=> Thực hiện một Xã hội bình đảng, không giai cấp, nên cá nhân được bao cấp tiêu thụ theo nhu cầu; => Một cuộc Cải Cách Ruộng Đất được thực hiện. Không còn tư hữu đất đai. Những đất nông nghiệp được chia ra làm hai loại canh tác: Kolkhoz và Soukhoz. Dù canh tác thuộc loại nào chăng nữa, nông dân trở thành những Công nhân (Ouvriers agricoles)
=> Thương mại không những không được coi là sản xuất giá trị, mà còn bị coi là ăn bám sản xuất, nên bị bỏ đi. Thay vào đó, Nhà Nước tổ chức những Hợp tác xã để phân phối hàng hóa giữa sản xuất và tiêu thụ.
=> Dưới thời Staline, Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản được phát động để mang Cách Mạng Vô sản đến những nước khác. Theo đúng chủ trương đấu tranh giai cấp bằng bạo động của Karl Marx, Nga cung cấp vũ khí để làm bất ổn tại những Quốc gia khác để tạo cơ hội chiếm quyền hành.
Những lý do thất bại của Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy
Năm 1989, Liên Xô và những nước chư hầu Cộng sản Đông Aâu lần lượt sụp đổ mà lý do chính yếu là đời sống Dân chúng quá đói nghèo, nghĩa là sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy. Thực vậy, sau khi bức tượng Bá Linh, tượng trưng phân cách giữa hai hệ thống Kinh tế, bị hạ xuống, chúng tôi đã có dịp sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến thực sự cảnh nghèo khổ của chính dân Thủ đô của Khối Cộng sản. Nga phải mua những hộp đồ ăn đã hết hạn của những nước Tây phương. Ngôi Nhà Hàn Lâm Viện cho những Sinh viên ưu tú trống rỗng. Những Sinh viên Việt Nam sang du học đã phá tường của những phòng của Hàn Lâm Viện để mở quán chạp phô, mở quán phở, thậm chí mở quán bán thị chó. Tôi còn giữ những hình ảnh chụp cảnh làm ăn nghèo khổ này.
Hãy thử tìm hiểu những lý do thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy này.
=> Nỗ lực sản xuất Kinh tế không nhằm về phát triển Kinh tế, mà nhằm củng cố cho Đảng Cộng sản và Chính trị của Đảng. Khả năng phát triển Kinh tế Quốc gia đã bị tiêu dùng cho mục đích Chính trị. Trong suốt những năm sản xuất, Liên xô sản xuất vũ khí nhiều hơn việc sản xuất những hàng thường dùng của người lao động. Lấy một vài tỉ dụ hiện giờ : Trung Cộng tiêu tốn gần 50 tỉ Mỹ Kim cho sự vẻ vang Chế độ Chính trị của mình, hơn là phục vụ đời sống thực của Dân chúng; một số những xây cất ở Việt Nam cũng nhằm phục vụ cho Đảng và thể chế Chính trị, chứ không nhằm mục đích Kinh tế cho người Dân nghèo.
=> Khi Nhà Nước nắm giữ những chi tiêu và điều hành những Tập đoàn sản xuất công, thì việc chi tiêu chắc chắn không được căn cơ cho có hiệu lực. Câu nói “Chi tiêu tiền chùa“ hay “Cha chung không ai khóc“ cho thấy thực trạng lãng phí ắt phải xẩy ra, đó là chưa kể đến chủ tâm cắt xén của chung làm của riêng. Đây là một điều tự nhiên. Câu ngạn ngữ Kinh tế tư bản:“Làm ra tiền đã khó, nhưng chi tiêu tiền bạc còn khó hơn“. Đối với Kinh tế tư bản, khi chi tiêu, đã phải tính mình thu vào bao nhiêu lợi nhuận, nghĩa là tính cuyện làm sinh lời Kinh tế thực sự trước khi bỏ một đồng ra tiêu. Chỉ có tiền tư hữu riêng của mỗi người, thì người đó mới căn cớ tính toán để chi tiêu cho đúng.
=> Nói về việc tiêu thụ, người lao động cũng dễ lười biếng khi thấy rằng mình cố gắng làm việc mà chỉ được hưởng đồng đều như người không chịu khó làm việc. Chính việc tư hữu những sản phẩm làm ra và được tiêu thụ là động lực kích thích sự chịu khó làm việc. Người ta nói rằng con gái Nga đẹp, nhưng thiếu nụ cười, bởi vì nụ cười của người con gái trong Kinh tế tự do có tư hữu được thưởng công, trong khi đó người con gái của Kinh tế chỉ huy có cười cả ngày cũng chỉ lĩnh được phần tiêu thụ đồng đều như người không cười. Vậy thì cười làm gì để trại quai hàm.
=> Về sản xuất tại những Soukhoz, Kolkhoz, chính hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy cũng đã phải sửa sai. Hiệu năng nông nghiệp của Soukhoz và Kolkhoz thấp xuống, Nhà Nước đã phải cấp cho mỗi Gia đình một khoảng đất tư để trồng trọt riêng cho Gia đình. Thửa đất tư có rau cỏ mọc tươi tốt, nhưng thửa ruộng công thì cây cỏ dễ khô héo. Cũng vậy con bò tư thì to béo và nhiều sữa, nhưng con bò nhà nước thì gầy còm, chỉ nhỏ giọt sữa.
=> Một tình trạng làm nản cố gắng sản xuất nữa, đó là những người cố gắng sản xuất, sản phẩm không những chỉ được bao cấp đồng đều mà còn bị chính cán bộ đảng không chân lấm tay bùn, có quyền chia cho mình phần lớn hơn để tiêu xài phung phí. Giảm cố gắng vì thấy người ngồi mát ăn bát vàng tham nhũng, hối lộ.
=> Những sinh hoạt Kinh tế quốc gia Cung, Cầu được hoạch định bằng những Kế Hoạch Ngũ Niên không được chính xác vì những người làm Kế hoạch thiên về Chính trị hơn là chuyên môn Kinh tế và vì sự phù hợp giữa Cung và Cầu có tính cách sinh động cập nhật ngắn hạn chứ không cứng nhắc dài hạn.
Nga và Đông Aâu can đảm dứt bỏ Kinh tế Tập quyền Chỉ huy để trở về với Kinh tế Tự do cá nhân
Sự sụp đổ của Liên xô va các nước Cộng sản Đông Aâu vì lý do Dân chúng quá nghèo khổ là chứng minh hùng hồn cho sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy. Sụp đổ rồi, những nước này chọn hệ thống Kinh tế nào ?
Việc họ quay về hệ thống Kinh tế tự do và thị trường chứng thực một lần nữa cái uy thế phát triển Kinh tế của hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường trong việc giải quyết đời sống dân chúng. Hai điều quan trọng làm nền tảng cho hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường là quyền TƯ HỮU và CHÍNH TRỊ KHÔNG ĐƯỢC CAN THIỆP TRỰC TIẾP vào sinh hoạt Kinh tế. Đó là nền tảng phát triển Kinh tế thực sự và lâu bền.
Chúng tôi xin trích lại chính quan điểm của Karl MARX về chủ trương Hạ Tầng Cơ Sở Kinh tế là chính yếu. Trong PREFACE A LA CRITIQUE DE L’ECONOMIE POLITIQUE, Karl MARX viết: “Les rapports de procuction correspondent à un degré de développement des forces productives matérielles, cet ensemble forme la structure économique sur laquelle s’érige la superstructure juridique et politique qui détermine certaines conditions sociales.“ (Những tương quan sản xuất tương ứng với mức độ phát triển những lực lượng sản xuất vật chất, toàn bộ này tạo hệ thống kinh tế mà trên đó được xây dựng thượng tầng kiến thiết luật pháp và chính trị để định một số những điều kiện xã hội).
Câu nói của Marx phù hợp với hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường quan niệm rằng Chính trị chỉ được coi như Môi trường Chính trị-Luật pháp cho phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat) với sinh hoạt Kinh tế. Như vậy, khi chọn hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, thì không thể lấy độc đoán Chính trị để trấn át, bó buộc Hạ Tầng cơ sở Kinh tế phải tuân theo được.
Sự thật về chủ trương Kinh tế của Cơ Chế CSVN hiện hành
Kinh tế Tự do và Thị trường định hướng XHCH của Việt Nam không thể gọi là hệ thống với nền tảng Lý luận, mà chỉ là một sự vá víu loang lổ để CSVN thủ lợi riêng.
Lừa đảo dân với Kinh tế vá váy đụp để giữ Quyền lực và bóc lột Kinh tế
Chúng tôi thường ví việc vá víu này như việc CSVN đi vá VÁY ĐỤP của những bà nhà quê Miền Bắc thời nghèo khó Pháp thuộc. Marx-Lénine vẽ mẫu và may cho XHCH một chiếc VÁY lý tưởng bắt Dân mặc. Dân mặc không được vì chiếc váy không hợp, còn dầy vò thắt bụng dân đến đau đớn. Váy đã cũ kỹ không mặc được nữa. Dân Nga và Đông Aâu cởi phăng nó ra vất đi để tự mình đi kiếm may váy mới.
Tại Việt Nam, Cộng sản vẫn bắt Dân mặc chiếc váy cũ kỹ và rách ấy. Dân buộc phải mặc mà không được la lên. Nếu la lên than vãn thì Công an đế phang cho mấy dùi cui điện. Nhưng chính CSVN thấy đến chỗ cùng rồi bởi vì thấy dân mặc váy cũ rách nát để lòi cả “cụ h...“ ra ngoài, nên đảng phải Mở Cửa để mong kiếm đo-la của Đế quốc Tư bản Mỹ, kẻ thù của Marx-Lénine-Staline. Cách đây 4 năm, từ Phan Văn Khải đến Nông Đức Mạnh đồng loạt tuyên bố chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường cốt kiếm những miếng vải GIN mới toanh của Mỹ hoặc những nước Tự do khác để về vá chiếc váy nâu sồng bị rách để lòi cả “cụ h...“ ra ngoài. Nhưng vì chiếc váy được vẽ mẫu bởi Marx-Lénine và còn đeo tòng teng nhãn hiệu Xã Hội Chủ Nghĩa, nên CSVN đã gọi chiếc VÁY ĐỤP ấy là Kinh tế Tự do Thị trường Định hướng XHCN.
Chúng tôi phân tích bài này dưới hình ảnh chiếc VÁY ĐỤP nâu sồng rách nát được vá bằng những miếng vải Tự do lòe loẹt còn mang nhãn hiệu XHCN.
Chúng tôi đi tìm lý do của việc vá váy đụp như thế nào:
=> Lý do thứ nhất: Không giữ nổi Bao Cấp cho dân, nên đành Mở Cửa và chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
Thất bại của Kinh tế Chỉ huy không thể nào cho phép Nhà Nước giữ được việc Bao Cấp cho dân. CSVN đành phải Mở Cửa để cứu đói và chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường để mỗi người đi kiếm sống cho mình. Nhưng nếu hoàn toàn tuân theo nền tảng của hệ thống Kinh tế này, thì dân phải có TƯ HỮU và có TỰ DO cá nhân làm ăn. Nhưng nếu có TƯ HỮU và có TỰ DO, thì chính cái CÁ NHÂN TƯ HỮU và TỰ DO này phải đi đến nguyên tắc DÂN CHỦ để giải quyết những tranh chấp những quyền lợi cá nhân khi làm ăn chung đụng.
=> Lý do thứ hai: Lo sợ sự lớn mạnh của Kinh tế tư nhân dẫn đến thể chế phù hợp với nguyên tắc Dân chủ.
Theo học thuyết Marx-Lénine, CSVN không thể không biết quan điểm lý luận của Karl MARX về chủ trương Hạ Tầng Cơ Sở Kinh tế là chính yếu. Trong PREFACE A LA CRITIQUE DE L’ECONOMIE POLITIQUE, Karl MARX viết: “Les rapports de procuction correspondent à un degré de développement des forces productives matérielles, cet ensemble forme la structure économique sur laquelle s’érige la superstructure juridique et politique qui détermine certaines conditions sociales.“ (Những tương quan sản xuất tương ứng với mức độ phát triển những lực lượng sản xuất vật chất, toàn bộ này tạo hệ thống kinh tế mà trên đó được xây dựng thượng tầng kiến thiết luật pháp và chính trị để định một số những điều kiện xã hội).
Với quan điểm này, thì khi Tư doanh giữ vững những quan hệ làm ăn theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, thì buộc lòng họ phải đòi hỏi thượng tầng kiến thiết Chính trị và Luật pháp cho phù hợp, nghĩa là không được độc tài mà phải tôn trọng nguyên tắc Dân chủ mới giải quyết được quyền lợi Kinh tế cá nhân tự do.
Quan điểm của Marx phù hợp với Biện chứng cuộc sống của dân quê Việt Nam thường nói:“Nhất sĩ (Chính trị) nhì nông (Kinh tế), hết gạo chạy rông, thì nhất nông (Kinh tế) nhì sĩ (Chính trị)“. Có lần tôi đã nói với một đảng viên cao cấp CSVN rằng Hà Nội cứ việc cố thủ lấy độc quyền Chính trị (Thủ đô Chính trị), nhưng hãy để cho Sài gòn tự do làm Kinh tế (Thủ đô Kinh tế), thì có ngày Thủ đô Chính trị Hà Nội phải xách bị vào quỳ gối ăn xin và lệ thuộc vào Thủ đô Kinh tế Sài gòn bởi vì lúc ấy là nhất nông nhì sĩ rồi. Hãy nhớ tại Aâu châu hàng Quý tộc đả phải bán tước hiệu quý tộc cho những người làm ăn (bourgeois) để có gì đỡ đói.
=> Lý do thứ ba: Giữ lấy nhãn hiệu XHCN (Xã Hội Chủ Nghĩa)
Đói quá, phải Mở Cửa và phải đắng cay tuyên bố theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường mà CSVN đã chửi bới thậm tệ bao thế hệ là bóc lột, khai thác và còn đấu tố giết hại bao nhiêu người. Mà nếu cho TƯ HỮU, nghĩa là không còn CÔNG HỮU, thì làm thế nào đảng CSVN còn có lý do giữ lại Điều 4 Hiến Pháp. Chính vì vậy mà cần phải tìm cách giữ lại những tiếng Xã Hội Chủ Nghĩa để có cớ giữ Điều 4. Nhưng chẳng lẽ gọi nền Kinh tế là KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, thì thối tha ngược ngạo chịu không nổi bởi vì nền tảng lý luận của hai nền Kinh tế trái ngược nhau. Vì vậy mà Bộ Chính Trị mới thêm hai chữ ĐỊNH HƯỚNG như trò hề.
ĐỊNH HƯỚNG có nghĩa là sau này lại trở về với Xã Hội Chủ Nghĩa. Cho cá nhân bỏ TƯ HỮU ra làm Kinh tế theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Sau khi tư nhân làm ăn thịnh vượng, có nhiều TƯ HỮU rồi, thì Nhà Nước lại truất hữu, biến TƯ HỮU làm CÔNG HỮU theo Xã Hội Chủ Nghĩa. Hai chữ ĐỊNH HƯỚNG XHCN có nghĩa như vậy. Sao mà ngu thế: bảo tư nhân làm ăn rồi sau đó tước đoạt tư hữu, thì bố đứa nào dám cố gắng bỏ tài sản ra làm ăn cho CSVN ăn cướp sau này theo ĐỊNH HƯỚNG XHCN.
=> Lý do thứ tư: Phải nhập nhoèn gian lận ngược ngạo
CSVN cố thủ giữ lấy độc tài Chính trị, nhưng lại sợ chính quan điểm của Marx về Infrastructure économique (Hạ tầng cơ sở kinh tế) sẽ quyết định Superstructure Politique et Juridique (Thượng tầng kiến thiết Chính trị và Luật pháp), nghĩa là CSVN sẽ mất quyền độc tài. Nhưng vì đói ăn do hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy, nên đành phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nguồn đưa đến lật đổ độc tài của Superstructure Politique et Juridique.
CSVN sống trong lo lắng, nên đành phải nhập nhoèn gian lận vá víu (vá VÁY ĐỤP) để biện minh cối chầy về lý thuyết. Hai chữ ĐỊNH HƯỚNG và chắp nối che đậy việc nhập nhoèn gian lận trái ngược về Chính trị và Kinh tế. Tiếng Tây gọi là Les Magouilles politiques et économiques contradictoires :
* Nhà Nước kêu gọi Tư nhân bỏ vốn làm ăn theo Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng lại dành những ưu tiên làm ăn miếng ngon cho con cháu đảng hoặc những ai đút lót tiền tham nhũng. Đây là việc vi phạm tự do của Thị trường.
* Nhà Nước dùng Tiền bạc của chung để lập hệ thống Tổng Công ty, Công ty quốc doanh với những đặc quyền Kinh tế, Thương mại mà những Tư doanh phải chịu lụy những đặc quyền quốc doanh này mới có thể làm ăn. Hệ thống đặc quyền này buộc phải có bởi lẽ những lãnh đạo Chính trị, ngoài liên hệ gia đình, còn phải lệ thuộc giới làm ăn của đảng vì giới này lại có quyền chế tài về chính trị theo hệ thống đảng.
* Tư nhân kinh doanh phải chịu hệ thống hành chánh rất nặng nề và chậm chạp. Đây là tệ nạn mà CSVN không thể nào cải thiện. Đảng CSVN thu nhiều đảng viên. Đảng phải bầy vẽ ra hệ thống hành chánh phức tạp để có chỗ làm việc cho đảng viên, nếu không thì họ bỏ đảng. Hệ thống hành chánh là nguồn của chậm trễ kinh tế và nguồn của ăn bẩn, đút lót tiền bạc
* Tài nguyên quốc gia bị khai thác, bán tháo trong đặc quyền của những người liên hệ của đảng: con cháu đảng viên cao cấp, trung ương và địa phương...
* Nhân lực Việt Nam, Lao động do Nhà Nước quyết định để bán cho tư bản ngoại lai làm ăn tại chỗ hoặc xuất cảng. Một hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường phải có những Nghiệp đoàn Lao động hay những Nghiệp đoàn chuyên nghiệp độc lập để bảo vệ tư hữu hiển nhiên nhất là nhân lực và chất xám.
* Nguồn vốn đầu tư nước ngoài được hướng dẫn cho hệ thống liên doanh với những Công ty quốc doanh liên hệ với đảng.
* Những dự án xây dựng hạ tầng cơ sở được quyết định bừa bãi theo tiêu chuẩn liên hệ Chính trị, thậm chí được coi như việc thưởng công cho những đảng viên đã có công với đảng.
* Nhà Nước, từ Trung ương đến Địa phương nắm giữ quyền trưng dụng và cấp phát Đất đai dưới những chiêu bài như Khu chế xuất, Công nghệ hóa...
* Tài chánh, Tiền tệ, Ngân Hàng nằm trong tay đảng. Những lạm phát tiền tệ là do sự quyết định độc đoán của Chính trị đảng. Người dân không thấy, nhưng chịu hậu quả về lạm phát tiền tệ này.
Dầu tuyên bố long trọng là theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng Chính trị độc tài đã can thiệp trực tiếp vào sinh hoạt Kinh tế.
Dân phải can đảm xé bỏ chiếc váy đụp chứ đừng vá thêm nữa
CSVN cố thủ giữ lấy chiếc váy đụp và tìm cách gian lận vá víu chiếc váy ấy để bắt dân mặc với hai chủ đích:
=> Giữ lại quyền Chính trị độc tài độc đảng theo Điều 4 của Hiến Pháp
=> Gian lận nắm lấy Kinh tế cho đảng và cho con cháu của đảng.
Nhà Nước luôn luôn kêu gọi TRẬT TỰ dưới chiêu bài Phát triển Kinh tế bền vững và vĩ mô. Nhân danh hai chữ TRẬT TỰ, Nhà Nước cho quyền mình được đàn áp tất cả những ai lên tiếng than vãn những nhập nhoèn gian lận vá víu để đảng duy trì hai chủ đích nêu trên đây. Theo quan điểm của Marx, một Hạ tầng cơ sở Kinh tế gồm những nhập nhoèn gian lận như vậy không thể nào cho phát sinh một Thượng tầng kiến thiết Chính trị và Luật pháp sáng sủa công minh được.
Dân phải dứt khoát vứt bỏ chiếc váy đụp ấy để từ đó mới có thể phát triển bền vững được. | | | |
Thủ phạm của Tham nhũng, Lãng phí chính là Cơ Chế CSVN
Tham nhũng, Lãng phí là một thói tật trong mọi xã hội . Chính cái môi trường tổ chức xã hội chế tài tham nhũng, lãng phí, làm cho có sự khác biệt giữa xã hội này với xã hội kia.
Tham nhũng Lãng phí là thói tật trong mọi xã hội
Mỗi lần nói đến Tham nhũng Lãng phí, thì một số người muốn bênh đỡ CSVN, đã bào chữa rằng Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội chứ không phải chỉ nguyên ở Việt Nam hiện nay.
Chúng tôi không phủ nhận câu nói ấy. Thực vậy, cái thói tật của con người là lười biếng. Tôi vẫn khẳng định tôi là con người lười biếng, thích ngồi mát mà ăn được bát vàng. Nếu không làm việc, mà vẫn được trả lương để sống, thì tôi chấp nhận liền. Vì muốn thân xác mình sống, được thỏa mãn những nhu cầu, thì phải nai lưng ra làm việc. Làm việc vất và đổ mồ hôi là bản án cho mỗi cá nhân sinh ra và muốn sống. Đấu tranh Kinh tế là cuộc đấu tranh gay gắt nhất vì mọi người sống buộc lòng phải đấu tranh.
Trong cuộc đấu tranh gay gắt này, con người mang bản tính lười biếng, dễ tính toán đủ mọi cách để có thể ngồi mát ăn bát vàng, thậm chí giết người khác để cướp lấy của. Tham nhũng Lãng phí là thói tật gần như bản tính của con người mang cái nọc lười biếng và khi có dịp ngồi cạnh đống vàng. Chúng tôi không phủ nhận là Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội mà mỗi người phải tranh chấp kiếm sống. Nhưng cái khác biệt là ở những xã hội khác nhau có những CƠ CHẾ đề phòng bản tính Tham nhũng Lãng phí và có những CƠ CHẾ cho phép phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí.
Ví Tham nhũng Lảng phí là những con Giòi do Ruồi Nhặng đẻ ra. Hễ có Ruồi Nhặng là có Giòi. Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, đó là bản tính. Đâu cũng có Ruồi Nhặng. Vấn đề ở đây không phải là cấm bản tính Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, mà là làm vệ sinh để Ruồi Nhặng khó lòng có chỗ đẻ ra Giòi. Nếu cứ để đống phân chình ình ra đó mà không hốt đi, thì Ruồi Nhặng tha hồ đậu trên đống phân mà đẻ ra Giòi.
Cũng vậy, đống phân để chình ình là CƠ CHẾ cho phép bản tính lười biếng, ngồi mát ăn bát vàng tha hồ đẻ ra và lan tràn Giòi Tham nhũng Lãng phí. Thậm chí không những không muốn hốt đống phân CƠ CHẾ, mà còn tìm mọi cách để bao che cho Giòi Bọ.
Tóm tắt của đoạn này là điều quan trọng không phải cái tính Tham nhũng Lãng phí nằm ở mỗi người trong bất cứ một xã hội nào, nhưng là ở chỗ xã hội đã chọn một CƠ CHẾ để Tham nhũng Lảng phí phát sinh mạnh lan tràn và được bao che cho một nhóm người.
CƠ CHẾ CSVN Đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế
Ba tiếng quan trọng ở đây là ĐỘC TÀI Chính trị, ĐỘC QUYỀN Kinh tế và việc ĐÁNH ĐĨ giữa hai lãnh vực này.
Xử dụng tiếng ĐÁNH ĐĨ không phải là chúng tôi có ý nói tục để mạ lỵ một CƠ CHẾ, nhưng vì tiếng đó diễn tả xác thực tình trạng cấu kết trong bóng tối, không minh bạch và mang tính nhập nhoèn giấu diếm không lương thiện giữa hai lãnh vực. Tiếng ĐÁNH ĐĨ cho thấy một sự giả hình, lươn lẹo cấu kết bất chính.
Thực vậy, nhìn về lãnh vực Kinh tế, CSVN nói là chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường, nhưng lại dùng những Tập đoàn Kinh tế, những Tổng Công ty thuộc Nhà Nước (đảng CSVN) để nắm Độc quyền Kinh tế dưới chiêu bài chỉ đạo Kinh tế. Những Tập đoàn, Tổng Công ty này lại được quyết định về điều hành theo liên hệ nhóm đảng và thân thuộc gia đình. Nhà Nước một đàng nói cho đẹp về phương diện Chỉ đạo Kinh tế mạnh, nhưng một đàng lại xậm xụi nắm giữ những Tập đoàn, những Tổng Công ty theo liên hệ gia đình và nhóm đảng. Giả hình, che đậy nắm quyền lợi cho gia đình và nhóm đảng, đó là việc đánh đĩ, việc điếm đàng vậy.
Nhìn sang lãnh vực Chính trị và Luật pháp, đảng CSVN cũng nhập nhoèn nói một đàng làm một nẻo. CSVN tạo cơ quan Lập pháp (Quốc Hội) dưới danh nghĩa Dân chủ, nhưng theo việc ngụy tạo độc đoán của đảng mình. Luật pháp được đặt ra cho phép đủ thứ Tự do, nhưng lại thực hành độc đoán và xử dụng sức mạnh để đàn áp những than vãn khiếu nại. Đó là việc đánh đĩ, điếm đàng.
Một CƠ CHẾ cho phép Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế là cơ hội làm phát sinh Tham nhũng Lãng phí. Nếu Chính trị còn ĐỘC TÀI và Kinh tế còn ĐỘC QUYỀN trong tay một đảng duy nhất, thì Tham nhũng Lãng phí tha hồ lan tràn không cản được. Thực vậy, như chúng tôi đã trình bầy trong đoạn đầu của bài này, Tham nhũng Lãng phí thuộc bản tính của con người và có ở mọi xã hội, nhưng Tham nhũng Lãng phí phát sinh và lan tràn mạnh ở một xã hội khi mà xã hội ấy cho phép một CƠ CHẾ thuận lợi. Việc cho phép ĐỘC TÀI Chính trị được ĐỘC QUYỀN Kinh tế tạo CƠ CHẾ thuận lợi cho phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. Càng dễ dãi cho việc lan tràn Tham nhũng Lãng phí hơn nữa khi mà việc cấu kết giữa hai lãnh vực được che đậy nhập nhoèn không sáng sủa như việc ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG.
CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế đã được CSVN thực hiện trong suốt những chục năm trường và đã được sơn phết bằng những chiêu bài giả dối như Mở cửa, Đổi mới, theo Kinh tế Tự do/ Thị trường, Hội nhập Kinh tế toàn cầu... Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay là hậu quả của Tham nhũng Lãng phí lan tràn từ một CƠ CHẾ mà họ đã thực hành. Chữa Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh là phải chữa tận nguồn, trị đúng bệnh, tức là đánh thẳng vào cái CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ ấy.
Vinashin: tỉ dụ cụ thể thời sự của Cơ Chế CSVN
Một Thể Chế có Ý thức hệ biện minh. Khi không còn Ý thức hệ, thì Thể Chế chỉ là một guồng máy cai trị không hồn gọi là CƠ CHẾ.
Nhân chi sơ, tính dâm dục (Freud). Cũng vậy, nhân chi sơ, tính ham muốn chiếm hữu phương tiên nuôi sống thân xác cho riêng mình (La survie corporelle). Không thể diệt những tính đó ở mỗi cá nhân. Sự phát hiện bất chính của những tính đó là tùy thuộc môi trường bao quanh cá nhân cho phép. CƠ CHẾ của CSVN chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế là một môi trường cho cho phép và khuyến kích THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ bất chính.
Thủ phạm vụ Vinashin không phải là từ cá nhân, mà là từ CƠ CHẾ cho phép và khuyến khích THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, rồi còn bao che cho nhau để cùng chia phần THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ bất chính.
Tác giả NGUYỄN TRUNG viết:
Tham nhũng: cơ chế Chạy chức: cơ chế Bằng giả: cơ chế Công an đánh chết người: cơ chế Xử lý môi trường yếu kém: cơ chế Chất lượng và hiệu quả công trình kém: cơ chế Chính phủ không quản lý được các tỉnh trong việc thuê đất rừng đầu nguồn: cơ chế. Quan chức kiêm một lúc nhiều nhiệm vụ (như Chủ tịch tỉnh & Đại biểu QH) nên làm việc chả ra đâu vào đâu mà theo như lời ông Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ tịch QH là “Cõng em thì khỏi xay lúa”: cơ chế Người có thực tài không được nhận vào những chức vụ quan trọng của Chính phủ: cơ chế
Tiến sĩ NGUYỄN QUANG A viết :
Trong khi trả lời báo chí trong cuộc họp báo tối 4-8-2010, Phó thủ tướng thường trực đã có một câu rất đáng chú ý, “yếu kém này là do cơ chế”. Có thể hiểu câu này theo nhiều cách. Lỗi là tại cơ chế, không phải của ai cả, làm sao mà phạt, mà bỏ tù cơ chế được? Tôi hy vọng đây không phải là cách hiểu và diễn giải của các nhà lãnh đạo. Mà giả có hiểu như thế thì cũng vẫn có thể hỏi tiếp: ai tạo ra cái cơ chế ấy? Ai điều hành cái cơ chế ấy? Và phải dẫn đến câu trả lời: phải xóa bỏ tận gốc rễ cái cơ chế ấy đi. Cũng phải quy trách nhiệm cho những người tạo ra và vận hành nó nữa.
Gs. Ts. NGUYỄN PHÚC LIÊN viết :
KẾT LUẬN của hai Tập Chủ đề là đòi hỏi DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN hiện hành để có thể phát triển Kinh tế bền vững và lâu dài cho ĐẤT NƯỚC và DÂN TỘC VIỆT NAM. Chúng tôi không dùng hai chữ CHỐNG CỘNG nữa bởi vì chính đảng CSVN đã không còn giữ Ý thức hệ Cộng sản, mà chỉ còn giữ lại một CƠ CHẾ độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế để vơ vết tài nguyên Quốc gia và bóc lột Nhân Lực VN vào túi riêng của mình.
KẾT LUẬN của chúng tôi là, trên mặt LÝ THUYẾT cũng như theo QUAN SÁT THỰC TẾ, phải DỨT BỎ cái Cơ Chế CSVN hiện hành cấu kết giữa CÔN ĐỒ ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và KẺ CƯỚP ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để bắt đầu phát triển Kinh tế thực sự. Dứt bỏ Cơ Chế này và thực hiện DÂN CHỦ HOÁ KINH TẾ, thì việc phát triển Kinh tế mới BỀN VỮNG và LÂU DÀI cho Quê Hương.
Phải dứt vỏ Cơ Chế CSVN nếu muốn Phát triển Kinh tế và giải thoát Dân tộc
Cơ Chế là căn nguyên phá hoại phát triển Kinh tế và trói buộc Dân tộc dưới thống trị độc quyền. Phải dứt bỏ chính cái căn nguyên ấy bỏi vì còn Cơ Chế thì còn giòi bọ THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Những kẻ chủ trương bảo tồn Cơ Chế như đảng CSVN thì không thể nào diệt được Tham Nhũng, Lãng phí.
Gìoi Cơ chế không thể diệt được giòi tham nhũng, phải có Dân mới diệt được
Khi Dân Oan đòi Công lý, CSVN giải quyết không được và dùng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Trật tự ở đây có nghĩa là cúi đầu chấp nhận cái CƠ CHẾ như đống cứt để Ruồi Nhặng đẻ đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí lan tràn đến thôn quê. Khi Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho Công lý, thì CSVN cũng không thể giải quyết và đã xử dụng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Không giải quyết cho Thái Hà theo Luật pháp được bởi vì cái CƠ CHẾ đã đẻ ra Tham nhũng Lãng phí trên giải đất ấy.
Khi Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh xẩy ra, Nguyễn Tấn Dũng hô to khẩu hiệu diệt trừ Tham nhũng Lãng phí. Đó chỉ là khẩu hiệu mỵ dân. Đã bao lần đảng CSVN hô hào diệt trừ Tham nhũng Lãng phí bằng kêu gọi đảng viên hãy nêu cao tinh thần Cách Mạng. Thực ra tinh thần Cách Mạng đã chết nghẻo từ lâu rồi mà chỉ còn tính lười biếng và lòng mong mỏi ngồi mát ăn bát vàng. Đó là bản tính của con người, nhất nữa con người ấy lại có quyền độc tài ngồi cạnh đống vàng.
Không bao giờ Lãnh đạo đảng CSVN, mặc dầu biết rõ căn bệnh, dám nói rằng phải giải quyết đất đai cho Dân Oan, cho Thái Hà, cho tình trạng Lạm phát, cho Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh bằng vứt bỏ CƠ CHẾ, bằng hốt đống phân hiện hành của đảng để Ruồi Nhặng đừng đẻ Giòi lan tràn.
Một số những Cố vấn Kinh tế cho CƠ CHẾ hiện hành, mặc dầu biết rõ căn bệnh, nhưng vì tư lợi nên trở thành nịnh thần và khi có chút can đảm vì lương tâm áy náy, thì chỉ dám nói đến CẢI CÁCH (Reform), nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ, đống cứt, chỉ nắn bóp chút ít. Một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc, đã hô hào Hòa Giài Hòa Hợp, mong liếm hớp mẩu bánh thừa quẳng xuống do CSVN, nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ hiện hành, bãi phân có đầy Giòi, để ngửi chung. Một số Lãnh đạo Tôn giáo như Hồng y Mẫn chẳng hạn, hô hào ĐỐI THOẠI để phát triển bền vững, nghĩa là tiếp tục bãi phân đã đầy Giòi này.
Tôi xin trả lời rằng CSVN không dám hốt bãi phân CƠ CHẾ. Chính khối Dân nghèo 75% Dân số Việt Nam sẽ đứng lên gùm cổ CSVN phải dứt bỏ CƠ CHẾ, nghĩa là buộc họ phải hốt bãi phân đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí.
31 cựu tướng và lão niên của đảng CSVN lên tiếng, nhưng phải đi đến tận căn nguyên
Điều đáng chú ý và có lẽ cho thấy dấu hiệu đáng mừng trong những ngày cuối tháng 8 vừa qua là 31 cựu tướng và lão niên thuộc đảng CSVN ký đơn lên tiếng đòi Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng, và Nguyễn Sinh Hùng, Phó Thủ tướng, phải từ chức vì trách nhiệm những tham nhũng và lãng phí chính yếu của Vinashin.
Chúng tôi đặt câu hỏi việc đòi trừng phạt Dũng và Hùng như vậy có nhằm diệt tận gốc bệnh nội tạng tham nhũng lãng phí hiện hành hay chỉ là thoa bóp, “cạo gió“ ngoài da ?
Với những trình bầy từ đầu đến giờ, chúng tôi đưa ra quan điểm dứt khoát nhằm chữa bệnh nội tạng tham nhũng lãng phí tận gốc, chứ không chấp nhận chỉ thoa bóp, “cạo gió“ ngoài da.
Yêu cầu trừng phạt của 31 cựu tướng và lão niên CSVN
Nhân vụ Vinashin, Tin tức từ quốc nội trong cuối tháng 8 cho biết tóm lược như sau:
“HÀ NỘI (TH) - 31 cựu tướng lãnh và đảng viên Cộng Sản lão thành đã cùng ký tên tố cáo Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ Tướng Nguyễn Sinh Hùng là các người “trốn trách nhiệm” và “hạn chế dân chủ”. Đồng thời, tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam, Vũ Văn Hiến, bị một thuộc cấp tố cáo đích danh nhiều tội với các dẫn chứng cho thấy ông này “tham nhũng, cố ý làm trái, tư lợi, trả thù các người khiếu nại tố cáo”...
Những ngày cuối tháng 8 năm 2010, có tất cả 31 người trong đó có một số tướng lãnh từng lên tiếng về các vấn đề thời sự sống còn của đất nước thời gian gần đây, đã đứng tên chung trong một đơn kiến nghị gửi “Bộ Chính Trị và các ủy viên trung ương đảng”.
Lá đơn cáo buộc ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng đang nhăm nhe cái ghế tổng bí thư đảng Cộng Sản, là người phải chịu trách nhiệm trực tiếp về sự sụp đổ của tập đoàn “quả đấm thép” Vinashin mà Phạm Thanh Bình, chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn “chỉ là người chịu trách nhiệm gián tiếp”.
“Trong khi không có tiền để xây một cái cầu nhỏ cho con em đồng bào dân tộc đi học, phải leo dây qua sông, nhiều lúc rớt xuống sông. Không xây thêm được một số trường mầm non công để đồng bào phải xếp hàng dài, chen chúc chạy thi nhau để xin một chỗ cho con... và còn bao nhiêu công việc bức thiết khác. Thủ tướng cơ cấu lại Vinashin để trốn tránh trách nhiệm”. Lá đơn gửi Bộ Chính Trị đề ngày 29 tháng 8 năm 2010 viết.
Ông Nguyễn Sinh Hùng, phó thủ tướng, không những bị qui tội đồng phạm với ông Dũng, lại còn bị cáo buộc là “có xu hướng áp đặt và hạn chế dân chủ” khi Quốc Hội thảo luận trước khi biểu quyết bác bỏ dự án đường sắt cao tốc.”
Theo chúng tôi, việc đòi hỏi trừng phạt hay chữa trị bệnh tham nhũng lãng phí như trên chỉ mới là thoa bóp, “cạo gió“ ngoài da. Chúng tôi xin cắt nghĩa tại sao ở đoạn dưới đây.
Vi trùng bệnh nội tạng tham nhũng lãng phí vẫn nằm đó và nẩy sinh
Trong suốt cuốn sách của chúng tôi nhan đề DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN, xuất bản 2009 do NXB DAY & NIGHT, Ventura, California, chúng tôi chứng minh rằng chính cái Cơ Chế CSVN là nguồn gốc căn bệnh nội tạng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ.
Tuần vừa rồi, khi viết quan điểm về sự phát hiện bệnh tham nhũng, lãng phí của Vinashin, chúng tôi đã nói rằng thủ phạm bệnh tình này là cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành, chứ không phải từ cá nhân nào.
Thủ phạm vụ Vinashin không phải là từ cá nhân, mà là từ CƠ CHẾ cho phép và khuyến khích THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, rồi còn bao che cho nhau để cùng chia phần THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ bất chính.”
Vì vậy, 31 cựu tướng và lão niên thuộc đảng CSVN chỉ đòi hạ bệ những cá nhân Dũng & Hùng, đó chỉ là thoa bóp, “cạo gió“ ngoài da cho căn bệnh nội tạng của Cơ Chế. Dũng và Hùng xuống chức, thì sẽ có những Dũng & Hùng khác thay thế, vẫn mang “nhân chi sơ, tính tham nhũng“, vẫn có sẵn cái môi trường, CƠ CHẾ CSVN hiện hành thuận lợi, để có thể làm tham những lãng phí hơn Dũng & Hùng hiện nay. Không thể chỉ nêu “tinh thần Cách Mạng“ không tưởng (utopique) và lỗi thời mà diệt được tham nhũng. Thánh nhân mà nhốt chung trong môi trường che kín với mỹ nhân, thì tính dâm chi sơ cũng nổi dậy để tay chân sờ soạng. Quân tử mà có quyền độc tài sinh sát người khác để khóa miệng mà ngồi bên đống vàng, thì bụng tham chi sơ dễ làm quân tử nhặt mấy thỏi vàng dấu vào túi riêng cho bản thân mình.
Phải cắt bỏ chính cái gốc của căn bệnh nội tạng.
Quan điểm của chúng tôi là phải cắt bỏ cái gốc của căn bệnh nội tạng, tức là dứt bỏ chính cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành để diệt trừ THAM NHŨNG LÃNG PHÍ.
Không phải chỉ nguyên chúng tôi nói căn bệnh nội tạng là Cơ Chế, mà tác giả NGUYỄN TRUNG cũng như Tiến sĩ NGUYỄN QUANG A đã khẳng định thủ phạm Tham Nhũng Lãng Phí là do Cơ Chế. Các Cựu Tướng và Lão Niên đã lên tiếng, đó là dấu hiệu đáng mừng, nhưng mới thoa bóp, “cạo gió “ ngoài da. Xin các Cựu Tướng và Lão Niên mạnh tay thêm, cắt vứt bỏ cái Cơ Chế hiện hành căn nguyên của căn bệnh nội tạng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ.
Lấy lại tỉ dụ bình dân một đống phân. Cơ Chế CSVN hiện hành ví như đống phân, một môi trường để những giòi tham nhũng lúc nhúc. Nếu 31 cựu tướng và lão niên chỉ nhặt ra có hai con giòi lớn là Dũng và Hùng, mà vẫn để đống phân nằm chình ình, thì những con giòi khác có môi trường phân lớn lênh, sinh ra ruồi nhặng và đẻ thêm đàn giòi con cháu nhung nhúc khác. Nếu ruồi nhặng lại đến từ Trung quốc, gặp đống phân, chúng đẻ thêm giòi để đống phân trở thành phân Trung quốc.
Vậy, để có thể giết hết đám giòi tham nhũng, không thể bắt từng con, rồi để lại đống phân, mà phải hốt đống phân đi, lấy nước Javel rửa sạch, thì mới mong giòi tham nhũng lãng phí không có môi trường sinh ra và lan tràn.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 15.09.2010 Web: http://vietTUDAN.net
| | | |
DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN VÌ TƯƠNG LAI KINH TẾ ĐẤT NƯỚC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 06.08.2010 Web : http://vietTUDAN.net
KẾT LUẬN của hai Tập Chủ đề là đòi hỏi DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN hiện hành để có thể phát triển Kinh tế bền vững và lâu dài cho ĐẤT NƯỚC và DÂN TỘC VIỆT NAM. Bài đính kèm dưới đây là tóm tắt lập trường đòi hỏi của chúng tôi. Chúng tôi không dùng hai chữ CHỐNG CỘNG nữa bởi vì chính đảng CSVN đã không còn giữ Ý thức hệ Cộng sản, mà chỉ còn giữ lại một CƠ CHẾ độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế để vơ vết tài nguyên Quốc gia và bóc lột Nhân Lực VN vào túi riêng của mình. Phản ứng của người được ưu đãi của Cơ Chế
Khi phổ biến bài đính kèm dưới đây trên Diễn Đàn, chúng tôi nhận được phản hồi sau đây, có thể từ Quốc nội hay từ Hải ngoại bởi một trong những thành phần con ông cháu cha được du học do tiền tham nhũng của bố mẹ thuộc đảng CSVN.
Re: [TinhThuong36] CSVN: CÔN ĐỒ CHÍNH TRỊ VÀ KẺ CƯỚP KINH TẾ Thursday, August 5, 2010 6:36 AM From: "Son Cao Van" soncv78@yahoo.com To: "NGUYEN PHUC LIEN" wimimpactdrlien@yahoo.com
chào ngài Tiến Sy
Xin thưa với ngài, ngài biết biết gì về đất nước chúng tôi nà nói năng linh tính.
Thưa ngài, cái mà ngài muốn vất bỏ:CNCS là thành quả của cha ông chúng tôi đã đổ xương máu để giành lại từ từ ngoại bang, đã cho chúng tôi được ăn học và mở mang với nước ngoài. Cuộc sống của chúng tôi tuy chưa bằng với các nước phát triển song với tôi nhũng cái gì được thừa hưởng không thua kém gì với các nước phát triển: tiền - tài- danh vọng đủ cả. Cuộc sống của tôi và gia đình không kém gì các ngài, ra ngoài xã hội có thể ngẩng cao đầu với mọi người. Nhũng cái đó ai cho ? Tôi ko hiểu ngài sinh ra ở đâu, cội nguồn ở đâu mà ngài nỡ lên án, hận thù với đất mẹ Việt Nam đến thế. Nếu ngài là người có lương tri, xin ngài ít nhất đừng gửi mail cho tôi với các nội dung như trên để hàng ngày tôi phải dọn chúng như những rác rưởi ko mong đợi Chào ngài.
Xin Ông “Son Cao Van“ nhìn lại và thấy Cơ Chế đã được xây dựng bằng xương máu dân lành vô tội bị đảng CSVN giết chết, đạp lên thân xác họ để bước tới chiếm đoạt quyền hành cho đảng. Hãy nhìn dân chết trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất, hãy nhìn những nấm mồ tập thể Tết Mậu Thân, hãy nhìn cuộc tàn sát huynh đệ tương tàn do Hồ Chí Minh làm tay sai cho Cộng sản Quốc tế để mở cuộc xâm chiếm Miền Nam yên lành, hãy nhìn những triệu người bất chấp chết chóc trên biển cả hay trong rừng núi bỏ nước ra đi vì thấy rõ cái ác độc côn đồ của Cơ Chế CSVN.
Được hưởng ưu đãi của đảng và Cơ Chế bóc lột này, Ông “Son Cao Van“ tất nhiên không muốn Dứt Bỏ Cơ Chế hiện hành. Nhưng trong tương lai, Dân Oan, Dân nghèo sẽ đứng lên DỨT BỎ cái Cơ Chế này và chính cá nhân Ông, con cháu của Tham nhũng.
Gửi tới tuổi trẻ, tương lai Dân Tộc và Đất Nước
Trong ảnh hưởng tuyên truyền của CSVN và bên cạnh thái độ của lớp người hoạt đầu Chính trị nhằm nhẩy bàn độc lượm nhặt những mẩu bánh thẩy ra do CSVN, một số bạn trẻ có thể nghĩ rằng chúng tôi, vì hận thù quá khứ, nhất thiết đòi DỨT BỎ Cơ Chế này, mà không muốn “hòa giải hòa hợp “ lừa bịp. Những người đã lớn tuổi, đã quá kinh nghiệm với CSVN, cũng nhìn về tương lai Dân Tộc và Đất Nước. Họ muốn tương lai Đất Nước không còn Cơ Chế CSVN hiện hành, thì lớp tuổi trẻ mới có thể chung lưng xây dựng Đất Nước được. Còn Cơ Chế CSVN, thì việc nỗ lực xây dựng của lớp tuổi trẻ chỉ là phục vụ cho một nhóm đảng xử dụng bạo lực để bóc lột. Riêng cá nhân tôi, rời Việt Nam năm 1965, với 45 sống xa Quê Hương, nhưng tôi nhất thiết chống cái Cơ Chế CSVN hiện hành, không phải là vì hận thù quá khứ, nhưng VÌ TƯƠNG LAI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VN TRONG BỀN VỮNG VÀ LÂU DÀI.
Chúng tôi xin gửi đến bạn đọc hai Tập Chủ đề in thành sách. Hai Tập này là Lập trường dứt khoát của chúng tôi đối với Cơ Chế CSVN hiện hành. Chúng tôi in thành sách. Đây không phải là quảng cáo để quý bạn trẻ mua, vì chúng tôi gửi nguyên bản đến quý bạn để quý bạn đọc mà không cần mua. Điều quan trọng là quý bạn trẻ đọc để giữ vững lập trường rằng phải DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH ĐỂ PHÁT TRIÊN ĐẤT NƯỚC TRONG BỀN VỮNG VÀ LÂU DÀI.
Đính kem (Attachments):
1) Tập Chủ đề 1: DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN Nhà Xuất Bản DAY & NIGHT Ventura, California, USA 2009
NỘI DUNG TẬP TÀI LIỆU:
Bài MỞ ĐẦU: CHO THUỐC CHỮA TRỊ ĐÚNG CĂN BỆNH Bài 01: NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ Bài 02: THẤT BẠI CỦA HỆ THỐNG KINH TẾ TRUNG ƯƠNG TẬP QUYỀN VÀ CHỈ HUY Bài 03: KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN CHỈ LÀ BỊP BỢM VÔ LƯƠNG Bài 04: THAM NHŨNG LÃNG PHÍ LÀ HẬU QUẢ CỦA VIỆC ĐÁNH ĐĨ GIỮA ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ & ĐỘC QUYỀN KINH TẾ Phụ bản 1: BIẾN ĐỘNG TÀI CHÁNH HOA KỲ VÀ QUAN ĐIỂM CỦA NHÀ NƯỚC MỸ Phụ bản 2: US$ 700 TỈ CỨU VỚT WALL STREET CỦA CHÍNH QUYỀN BUSH Bài 05: LẠM PHÁT TIỀN TỆ (INFLATION MONETAIRE) CỦA MỘT NHÀ NƯỚC ĐỘC TÀI Phụ Bản 03: CẢNH CÁO TỘI HÌNH CSVN: ĐỪNG LÀM LẠM PHÁT TIỀN TỆ ĂN CƯỚP NỮA Bài 06: SỰ YẾU KÉM NĂNG SUẤT (FAIBLE PRODUCTIVITE) CỦA NHỮNG CÔNG TY QUỐC DOANH Bài 07: TẤT CẢ MỌI CAN THIỆP NHÀ NƯỚC LÀM PHÁT SINH ĐẦU CƠ, CHỢ ĐEN VÀ CHI PHÍ TỐN KÉM Phụ Bản 04: KHỦNG HOẢNG KINH TẾ KHẨN TRƯƠNG TẠI TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM (Phần I) Phụ Bản 05: KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRUNG QUỐC: TỪNG NGÀN XÍ NGHIỆP DẸP TIỆM (Phần II) Bài 08: NĂNG SUẤT CAO (PRODUCTIVITE ELEVEE) CỦA NỀN KINH TẾ TƯ DOANH Phụ Bản 06: NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI Phụ Bản 07: TỪ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ LAN SANG KHỦNG HOẢNG XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ Phụ Bản 08: CẤU KẾT GIỮA CHÍNH TRỊ VÀ KINH TẾ ĐẺ RA QUÁI THAI THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ Bài 09: THỊ TRƯỜNG LÀ YẾU TỐ ĐIỀU HỢP CỦA NỀN KINH TẾ Bài 10: CHÍNH TRỊ VÀ LUẬT PHÁP CHỈ LÀ MÔI TRƯỜNG CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ Phụ Bản 9: ĂN CƯỚP TRẮNG TRỢN CỦA CƠ CHẾ ĐỘC TÀI: KÍCH CẦU BẰNG LẠM PHÁT TIỀN TỆ? Bài 11: YÊU CẦU NHỮNG BIỆN PHÁP CỤ THỂ TIẾN ĐẾN DỨT BỎ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH Phụ Bản 10: CHỐNG THAM NHŨNG CHỨ KHÔNG CHỐNG KINH TẾ VIỆT NAM Bài 12: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ DẪN ĐẾN DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRỊ DÉMOCRATISATION ECONOMIQUE => DEMOCRATISATION POLITIQUE
2) Tập Chủ đề 2: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ Nhà Xuất Bản DAY & NIGHT Ventura, California, USA 2010 NỘI DUNG:
Bài 00: CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ Bài 01: TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM TRONG TÒAN CẢNH NỔI DẬY ĐÒI CÔNG LÝ Bài 02: NGĂN CHẶN TỨC KHẮC TIẾN TRÌNH CSVN GIAO NƯỚC CHO TẦU Bài 03: ĐỒNG YUAN ĐỘC ĐÓAN: MẶT TRẬN XÂM LĂNG TIỀN TỆ Bài 04: TỪ LẠM PHÁT, PHÁ GIÁ NỘI TỆ ĐẾN DÂN CHÚNG NGHÈO ĐÓI NỔI DẬY Bài 05: TRUNG QUỐC XUỐNG NƯỚC VÌ LO SỢ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI Bài 06: TỶ GIÁ ĐỒNG YUAN VÀ CĂNG THẲNG THƯƠNG MẠI MỸ VÀ TẦU Bài 07: MỸ VÀ TẦU TRONG THẾ ĐẤU ĐÁ THƯƠNG MẠI BÓ BUỘC Bài 08: ẤN ĐỘ CƯỜNG QUỐC KINH TẾ TƯƠNG LAI: MỘT BÀI HỌC DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ Bài 09: KINH TẾ ĐỘC TÀI “ĐỊNH HƯỚNG BÓC LỘT XH” LO SỢ LỰC LƯỢNG DÂN NGHÈO BẠO LỌAN Bài 10: HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 12 CSVN: TIẾP TỤC KINH TẾ TẬP QUYỀN NHÓM ĐẢNG Bài 11: TIỀN TỆ VÀ THƯƠNG MẠI: TRUNG QUỐC CÓ NHỮNG BẾ TẮC RIÊNG Bài 12: HIỆU QUẢ CỦA HAI NỀN KINH TẾ: ẤN ĐỘ DÂN CHỦ VÀTẦU ĐẢNG CHỈ HUY Bài 13: TRUNG CỘNG VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NHÂN: THỢ THUYỀN NỔI DẬY ĐÒI CÔNG LÝ Bài 14: KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TQ ? NHỮNG YẾU TỐ CHÍNH DẪN TỚI Bài 15: TUYÊN BỐ NÂNG TỈ GIÁ ĐỒNG YUAN: MỘT CHƯƠNG TRÌNH LƯU MANH (PLAN MACHIAVELIQUE) ? Phụ bản cho Bài 15: TÍNH CÁCH LƯU MANH CỦA QUYẾT ĐỊNH MỚI VỀ TỈ GIÁ ĐỒNG YUAN Bài 16: NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ Bài 17: Bài KẾT LUẬN: CSVN: CÔN ĐỒ ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ VÀ KẺ CƯỚP ĐỘC QUYỀN KINH TẾ Bài 18: Bài PHỤ BẢN TỔNG QUÁT: TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ
Quý bạn trẻ, những người không phải trải qua cuộc chiến xâm lăng Miền Nam của Cộng sản, không có những dấu vết hận thù, nhưng quý bạn có những dằn vặt cho tương lai, cần nhìn thấy rõ rằng việc phát triển Đất Nước nhanh hay chậm là tùy thuộc việc DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH sớm hay muộn. Quý bạn chỉ cần ghi lại (download ) nguyên bản của hai Tập sách, chứ không cần mua, để đọc và thấy cái Cơ Chế này cần phải được DỨT BỎ như thế nào vì chính quyền lợi tương lai của quý bạn. Đối với chúng tôi, Quý Bạn Trẻ đọc những Tập sách Chủ đề này và nhất quyết đấu tranh DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐÁT NƯỚC BỀN VỮNG VÀ LÂU DÀI cho tương lai, đó là điều quý báu vô giá rồi.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 06.08.2010 Web: http://vietTUDAN.net
| | | |
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx GIU LAI NHUNG BAI VE KINH TE DE CHUYEN SANG PHAN LUU TRU =========> **************************************************************************************************** | | | |
LIÊN-ÂU VÀ VIỆT NAM: VIỄN TƯỢNG BẾ TẮC ĐÀM PHÁN MẬU DỊCH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 04.03.2010
Tờ The Wall Street Journal ngày 03.03.2010 loan tin rằng hôm qua thứ Ba/02.03.2010, Liên Aâu và Việt Nam bắt đầu đàm phán về Mậu dịch song phương giữa Liên Aâu và Việt Nam. Sau thất bại của Daho Round tổng quát trong khuôn khổ WTO, các Khối quốc gia đi tìm những đàm phán mậu dịch song phương. Thực ra ý tưởng đàm phán song phương giữa Liên Aâu và Việt Nam đã manh nha từ lâu, rồi bỏ bẵng đi, nay lấy lại mà thôi. Liên Aâu, nhất là Pháp, nhằm bán xe hơi, những thiết bị máy móc cho Việt Nam. Việt Nam nhằm xuất cảng những hàng nông nghiệp, hàng may mặc sang Liên Aâu. Theo một số nhà phân tích, cuộc đàm phán mậu dịch song phương này có một số những bế tắc.
Thời điểm đàm phán
Cuộc đàm phán rơi đúng vào thời điểm mà Liên Aâu đang bối rối, khủng hỏang trong chính những nước thuộc Vùng Euro của họ. Những nhà Chính trị đã quá vội thống nhất đồng Tiền (Euro) trước khi giải quyết những khác biệt Kinh tế giữa các nước thành viên để có những chỉ đạo thống nhất. Liên Aâu đang gặp khủng hỏang vì khác biệt Kinh tế/Tài chánh giữa một số thành viên, mà Hy Lạp là điển hình. Những nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cũng đang bị đe dọa như trường hợp Hy Lạp.
Liên Aâu cũng đã có một số kinh nghiệm về Tự do Mậu dịch khi hàng may mặc Trung quốc tràn đầy vào và làm thiệt hại cho ngành nghiệp này tại Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và ngay tại Pháp. Liên Aâu cách đây hai năm đã phải lấy những biện pháp ngăn chặn hàng may mặc Trung quốc. Họ cũng đã lấy biện pháp đối với hàng da đến từ Trung quốc và Việt Nam. Riêng về những hàng nông nghiệp, Liên Aâu cũng có những nước nông nghiệp, ngư nghiệp chính như Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Hy Lạp. Họ cần phải che chở những nước này trong khối Liên Aâu.
Về chăn nuôi và những hàng công nghệ nhẹ, thường dùng, Liên Aâu có những nước Đông Aâu với nhân công rẻ. Bắt đầu Phong trào dân chúng Liên Aâu công kích việc sản xuất tại Trung quốc để làm tăng thất nghiệp tại Liên Aâu. Khuynh hướng là đưa việc sản xuất những hàng rẻ tiền về cho những nước Đông Aâu trong khối của họ. Ngại sợ hàng hóa Trung quốc, Liên Aâu ngại sợ luôn sự liên hệ quá mật thiết giữa Việt Nam và Trung quốc để có tráo trở hàng hóa giữa hai nước này.
Bế tắc chính yếu khó lòng vượt qua
Hai Ký giả, John W.MILLER từ Bruxelles và Patrick BARTA từ Bangkok, viết chung một bài về bế tắc chính yếu này đăng trong The Wall Street Journal ngày 03.03.2010. Hai Ký giả khẳng định ngay từ đầu trước khi vào chi tiết: “Any deal faces obstacles in European Parliament” (Mọi thương vụ đều đối diện với những chướng ngại trong Quốc Hội Aâu-châu). (The Wall Street Journal 03.03.2010, trang 7).
Các ông nhắc lại việc Liên Aâu đã tăng thuế nhập những hàng da đến từ Việt Nam bắt đầu từ 2006. Về tình hình Kinh tế Việt Nam, hai ông viết:
“Vietnam’s recent growth has come from costly stimulus programs that have forced the government to borrow heavily abroad. Meanwhile, the global economic crisis has dented foreign direct investment and pushed exports into a slump, swelling Vietnam’s trade deficit and forcing the government to devalue its currency” (Sự tăng trưởng mới đây của Việt Nam đến từ những chương trình khích cầu tốn kém và những chương trình này đã bắt buộc Nhà Nước phải vay mượn nặng nề vốn nước ngòai. Trong khi ấy, cuộc Khũng hỏang Kinh tế tổng quát đã tạo lỗ trống về đầu tư trực tiếp từ nước ngòai và đã đẩy xuất cảng tụt dốc nặng, hiện đang tạo thiếu hụt mạnh cán cân thương mại Việt Nam và đang bó buộc Nhà Nước phải phá giá đồng tiền của mình) (The Wall Street Journal 03.03.2010, trang 7)
Tại Liên Aâu, Quốc Hội, từ Hội Nghị Lisbon mới đây, có quyền biểu quyết phê chuẩn một Khế ước Thương Mại. Cái quyền này là bế tắc căn bản cho những đàm phán hiện nay mà Việt Nam và Liên Aâu bắt đầu. Những thành phần của Quốc Hội này không phải đa số là thuộc Pháp, Đức..., những nước muốn bán xe hơi, máy móc cho Việt Nam. Có 27 quốc gia trong Liên Aâu. Đa số những Nghị viên là thuộc Khối Đông Aâu và những nước ven Địa Trung Hải như Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha.
Về mặt Kinh tế, đa số những Nghị viên thuộc Khố Đông Aâu và vùng Địa Trung Hải không muốn những hàng cạnh tranh của Trung quốc và Việt Nam đối với nước gốc của họ cũng đang sản xuất những hàng hóa giống với Việt Nam và Trung quốc. Về mặt Chính trị, những nước Đông Aâu đã quá quen thuộc với Cộng sản Việt Nam và Tầu.
Quốc Hội Aâu châu đã nhiều lần ra Nghị quyết phản đối về Nhân quyền đối với Việt Nam. “The Parliament could also raise Vietnam’s human-rights record” (The Wall Street Journal 03.03.2010, trang 7).
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 04.03.2010
| | | |
ĐỒNG YUAN ĐỘC ĐÓAN: MẶT TRẬN XÂM LĂNG TIỀN TỆ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 25.02.2009
Trong thời thống trị của đồng Đo-la từ Hội Nghị Bretton Woods 1944 cho đến ngày nay, chúng ta đã thấy những lời đứng lên muốn cải cách hệ thống Tiền tệ. Ngòai Staline gọi hệ thống Tiền tệ là “Impérialisme du Dollar”, còn TT. Charles De GAULLE lên tiếng vì sợ tình trạng bếp bênh cho Euro-Dollar, còn khối A-rập xử dụng Pétro-Dollar làm áp lực với Hoa-kỳ để bênh đỡ Palestine.
Nhật báo LE MONDE ngày 10.11.2009, p.2, đã trích đăng lại lời công kích của TT.De GAULLE như sau:
“Ngày 4 tháng Hai năm 1965, Charles De GAULLE, Tổng thống Pháp, tuyên bố trong một cuộc họp rằng:”Nhiều quốc gia chấp nhận, theo nguyên tắc, đồng Đo-la như giá trị vàng để thanh tóan những chênh lệch trong Bảng Cân Bằng Thanh tóan Quốc tế. Đây là điều làm cho Hoa kỳ nhận nợ một cách như cho không đối với ngọai quốc vì chính Hoa kỳ phát hành phương tiện thanh trả cho chính mình. Nhìn những hậu quả có thể làm khủng hỏang, chúng tôi nghĩ rằng phải kịp thời tìm phương tiện ngăn chặn trường hợp như vậy. Chúng tôi nhận định rằng những giao dịch thương mại quốc tế cần phải được thiết lập trên một căn bản tiền tệ không có những nghi ngại và không mang dấu vết của một nước đặc biệt nào.”
Lời tuyên bố đã gây một “tiểu chiến tranh tiền tệ” giữa TT.De GAULLE và TT.Richard NIXON.
Chế độ BẢN VỊ—US$---VÀNG (Etalon—Devise US$--Vàng) vẫn được tiếp tục cho đến ngày nay (Xin đọc bài TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ đăng trong số này).
Những đòi hỏi mới của Trung quốc
Kinh tế Trung quốc đặt trọng tâm vào xuất cảng và đã xuất cảng thật nhiều để thu vào tồn trữ một khối Đo-la khổng lồ mà chúng ta có thể gọi là khối Sino-Dollar dưới hình thức cho Hoa-kỳ nhận nợ. Mỹ công khai nhận nợ, nhưng Trung quốc đã xậm xụi quyết định độc đóan về Tỷ giá hạ thấp đồng Yuan đối với Đo-la tới 50% nhằm phục vụ cho hàng xuất cảng của mình. Nhân cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế 2007/09, được cổ võ bởi TT.Nicolas SARKOZY và một số nước bắt đầu phát triển, Trung quốc đứng lên công kích hệ thống thanh trả Thương mại quốc tế lấy đồng US$ làm căn bản. Trung quốc lo lắng cho sự bấp bênh lên xuống của đồng US$ mà mình đang tích trữ một khối khổng lồ, nhất cho chính Hoa-kỳ nhận nợ. CNN ngày 17.02.2010 đã chạy hàng chữ trên Truyền Hình:”CHINA LOSING APPETITE FOR US DEBT !”.
Ngược lại, Hoa kỳ, ngay từ thời TT.BUSH, đã luôn luôn yêu cầu Trung quốc nâng giá đồng Yuan lên cho đúng với Tỷ giá của Thị trường. Nhưng Trung quốc vẫn cố chấp độc đóan quyết định Tỷ giá đồng Yuan thấp đối với Đo-la để giữ tính cạnh tranh xuất cảng của hàng hóa của mình. Trung quốc cũng bất chấp những than vãn về điểm này từ những nước khác cũng làm việc cho xuất cảng.
Trung quốc kêu gọi kiểm sóat chặt chẽ hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh quốc tế, nhưng ai cũng biết rằng không thể nào kiểm sóat Ngân Hàng/Tài chánh của chính Trung quốc độc đóan, được coi là “bí mật quân sự”. Trung quốc muốn kéo vây cánh nhằm thay thế đồng US$ bằng một Đơn Vị Tiền mới. Ngày 23.03.2009, Oâng Zhou XIAO-CHUAN, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã cho đăng lên mạng www.pbc.gov.cn lời tuyên bố như sau (theo bản dịch của Nhật báo LE MONDE ngày 10.11.2009, p.3) :
”L’objectif adéquat est donc de créer une monnaie de réserve internationale qui soit déconnectée de nation individuelle et se montre capable de rester stable sur le long terme. Comparée à la gestion séparée des réserves par chaque pays, la gestion centralisée d’une partie des réserves globales par une institution internationale de référence sera bien plus efficace pour contrer la spéculation et stabiliser les marchés financiers.” (Mục đích phù hợp là tạo ra một đồng Tiền dự trữ quốc tế tách rời ra khỏi một quốc gia riêng lẻ và có khả năng đứng bền vững trong trường kỳ. So sánh với việc quản trị riêng lẻ những dự trữ của từng quốc gia, việc quản trị tập trung những dự trữ tổng quát bởi một Tổ chức Quốc tế làm quy chiếu sẽ hữu hiệu hơn nhiều để chống lại đầu cơ và tạo bền vững cho những Thị trường Tài chánh).
Phản ứng Quốc tế thế nào đối với việc Tuyên Chiến Tiền Tệ này
Như chúng tôi đã nhấn mạnh về tính cách PHỔ QUÁT (Universalité) cắt nghĩa trong bài mang tính cách giáo khoa TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ, Tiền tệ là một sự chấp nhận tự do và là tư hữu hòan tòan của mỗi cá nhân. Quyền lực Tiền tệ mang tính độc lập với quyết định Chính trị. Chúng tôi rất ngại ngùng xử dụng nhũng tiếng “Chiến Tranh Tiền Tệ” được tuyên bố bởi những người điều hành Chính trị. Không một cá nhân nào tư hữu Tiền bạc muốn để cho Nhà Nước “chiến tranh tiền tệ” để mình mất tiền. Một đồng tiền được chấp nhận hay không phải là do đồng thuận của từng cá nhân tư hữu.
Đồng Đo-la từ năm 1944 đến nay đã lan tràn khắp Thế giới đến nỗi một đứa con nít cũng biết nói:”One Dollar, please !” . Nó chưa biết nói: “One Yuan, please !”
Ký giả Cécile PRUDHOMME, dưới đầu đề :”Ni l’Euro ni Yuan ne parviendront, à moyen terme, à remplacer le Billet vert comme pivot du système financier international. UNE DOMINATION CONTESTÉE, MAIS PAS MENACÉE !” (Cho cả Euro, cả Yuan cũng chưa, trong trung hạn, thay thế Giấy bạc xanh đang làm mốc cho hệ thống Tài chánh quốc tế. MỘT SỰ THỐNG TRỊ BỊ PHẢN ĐỐI, NHƯNG KHÔNG BỊ ĐE DỌA !) (Le Monde 10.03.2009, p.2).
Ký giả đã trích ngay ra lời của TT.NIXON trả lời cho TT.De GAULLE: ”Le Dollar est notre monnaie, et votre problème !” (Đồng Đo-la là đồng tiền của chúng tôi, còn vấn đề là thuộc về các ông !”. Thực vậy, Hoa kỳ không hề dùng quân đội bắt ép người khác phải chấp nhận đồng Đo-la. Việc người khác chấp nhận Đo-la là việc đồng thuận tự do vậy.
Ký giả đưa ra những con số cho thấy tầm quan trọng của Đo-la đã ăn rễ sâu rộng hiện nay:”Theo điều tra của Ngân Hàng Thanh Tóan Quốc tế (BRI), đồng Đo-la đại diện 86.3% ở Thị trường Hối đóai, nơi trao đổi mỗi ngày USD.3’200 tỉ. 37% cho đồng Euro Liên Âu, 16.5% cho đồng Yen Nhật và 15% cho đồng Bảng Anh.”. Một sự hiện diện như vậy với cả một bộ máy tổ chức điều hành Hối đóai không thể một sớm một chiều thay thế.
Đối với Liên Aâu, mặc dầu Sarkozy hớn hở cổ võ cho đề nghị thay đổi, nhưng Oâng Jean-Claude TRICHET, Thống đốc Ngân Hàng Liên Aâu, ngày 8.10.2009, đã tuyên bố: ”Mon prédécesseur et moi-même avons toujours dit que nous ne faisions pas campagne pour une utilisation internationale de l’euro” (Vị tiền nhiệm và chính tôi đã luôn luôn nói rằng chúng tôi không cổ động cho việc xử dụng quốc tế cho đồng Euro).
Thái độ của Nhật cũng ủng hộ việc duy trì đồng Đo-la. Oâng Hiroshisa FUJII, Bộ trưởng Tài chánh Nhật, đã tuyên bố ngày 27.10.2009: “Le dollar demeurait une devise solide et il était de ce fait naturel que le billet vert reste pour le Japon une monnaie de réserve. Il est clair que le dollar est encore la plus forte monnaie du monde”. (Đồng Đo-la đã đứng như một đồng tiền chắc chắn và vì lẽ tất nhiên đó, tờ giấy bạc xanh còn đứng đối với nước Nhật làm đồng tiền dự trữ. Tỏ tường rằng đồng Đo-la còn là đồng tiền mạnh nhất Thế giới)
Trước thái độ còn tin tưởng và ủng hộ đồng Đo-la như vậy của Liên Aâu và của Nhật, Trung quốc tìm tòi những con đường khác để lấn dần đất của đồng Đo-la.
Tìm XÂM LĂNG ĐỒNG YUAN đối với một số nước nghèo
Nhật báo Le Monde Economie ngày 23.02.2010, trang 1, cho đăng bài nói về việc Trung quốc mang đồng Yuan của mình đi tìm xâm lăng tại những nước nghèo.
Trung quốc đã tìm xâm lăng trong lãnh vực tiền tệ với những lý do nổi xùng thuộc lãnh vực Chính trị. Đây không hẳn là Chiến Tranh Tiền tệ, va chạm giữa hai đồng Tiền Yuan và Đo-la, thuần túy thuộc lãnh vực Tiền tệ. Nhật báo Le Monde nêu ra những lý do: ”La confrontation sino-américaine gagne en intensité. Ventes d’armes à Taiwan, visite du dalai-lama à Washington: l’administration Obama donne des gages de fermeté à l’égard de Pékin.” (Việc va chạm Tầu—Mỹ tăng độ mạnh. Bán vũ khí cho Đài Loan, cuộc viếng thăm của Đức Dalai-Lama tại Hoa Thịnh Đốn: Chính quyền Obama tỏ thái độ cứng rắn đối với Bắc Kinh).
Trung quốc đã ký kết những Liên đối mậu dịch cho phép thanh khỏan thương mại bằng đồng Yuan như sau:
=> Những hiệp ước mậu dịch ký kết với Hong Kong, Hàn Quốc, Malaysia, Bêlarus, Indonesia và Argentina năm 2009 cho phép các nước này xử dụng đồng Yuan trong các vụ mua bán.
=> Đồng Yuan Trung Quốc được phép xử dụng ngoài nước: tại Lào, Việt Nam, Mông Cổ và Nga từ năm 2003.
=> Trong vòng 5 năm, các hợp đồng ký kết bằng đồng yuan đã tăng thêm và chiếm 30% khối trao đổi mậu dịch giữa Trung Quốc và ASEAN .
Trung quốc tìm những con đường nhỏ này để cạnh tranh đồng Yuan đối với đồng Đo-la tại một số nước nghèo. Nhưng thử hỏi một số người tư hữu tài sản có muốn giữ tài sản mình bằng đồng Yuan hay không ? Đồng Yuan là Tiền tệ của Trung quốc, được quyết định Tỷ gia một cách độc tài, dưới luật lệ Tiền bạc không có tự do cho chính những Sỡ hữu chủ tài sản. Chọn giữ đồng Yuan nguy hiểm hay chọn giữ đồng Đo-la trong khuôn khổ luật pháp triệt để tôn trọng tư hữu cá nhân ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 25.02.2010
| | | |
TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.02.2010
Nội dung bài này mang tính cách giáo khoa: chúng tôi trình bầy những quan niệm về Tiền tệ và định vị trí, vai trò của nó trong mọi lãnh vực họat động Kinh tế. Ngân Hàng là trái tim, Tiền tệ là mạch máu cho sức khỏe Kinh tế.
Chúng ta cần những quan niệm giáo khoa rõ rệt để có chung một tiếng nói, một nhận định về những tranh chấp, thậm chí chiến tranh, giữa các đồng Tiền: đồng Đo-la Mỹ, đồng Euro, đồng Bảng Anh, đồng Yen Nhật, đồng Franc Thụy sĩ, đồng Yuan Trung quốc. Trong những Thế kỷ trước, đồng Florin Hòa Lan đã một thời nắm ưu thế; tiếp đến là đồng Bảng Anh lên kế vị; và từ Hội Nghị Tiền tệ Bretton Woods năm 1944, đồng Đo-la Mỹ tràn lan khắp Thế giới mà Staline gọi là “Impérialisme du Dollar” (Đế quốc Đo-la).
Trong suốt thời kỳ thống trị của Đo-la đến ngày nay, có nhiều những cuộc nổi dậy chống Đo-la. Aâu châu được tái thiết sau Thế Chiến II và phát triển Kinh tế, bán hàng hóa cho các cựu thuộc địa, thu tiền vào bằng Đo-la tích lũy tại Aâu châu thành khối Euro-Dollar. Các nước A-rập Trung đông bán dầu lửa và tích lũy Đo-la thành khối Petro-Dollar. Cuộc nổi dậy đầu tiên là từ TT.De GAULLE nhân danh Euro-Dollar khi Oâng muốn bắt tay với Nga. Cuộc nổi dậy thứ hai nhân danh Petro-Dollar từ những nước A-rập nhằm bênh đỡ cho Palestine.
Ngày nay, nhân cuộc Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh/Kinh tế 2007-90 bắt đầu từ Hoa kỳ, lan ra khắp Thế giới ở những nơi nào mang ảnh hưởng ưu thế của Đo-la, một số Quốc gia đặt lại vai trò thống trị của Đo-la. Được sự cổ võ của TT.Sarkozy và một vài Quốc gia trong khối G20, Trung quốc lên tiếng mạnh nhất chống lại Đo-la.
Thực vậy, Trung quốc tích lũy khối Đo-la khổng lồ, có thể gọi là Sino-Dollar. Là chủ nợ bằng Đo-la đối với Hoa-kỳ, nhưng cứ nganh ngánh mất ăn mất ngủ khi mà đồng Đo-la chuyển biến lên xuống. Đồng tiền liền với khúc ruột mà ! CNN ngày 17.02.2010 chạy hàng chữ trên Đài “China losing appetite for US debt”. Các báo Le Monde ngày hôm sau 18.02.2010, p.12; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.32, cũng lên tiếng phụ họa về cảnh ăn không ngon, ngủ không yên này của Trung quốc. Trung quốc lên tiếng đòi hỏi lần lượt những vấn đề sau đây:
* Kiểm sóat chặt chẽ hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh mà đồng Đô-la giữ ưu thế
* Thay thế đồng Đo-la bằng một Đơn vị Tiền tệ chung nào đó trong khuôn khổ IMF
* Hiện nay, Trung quốc dùng Thương mại để bành trướng đồng YUAN xâm lăng ra nước ngòai (Xin đọc bài Quan Điểm đăng trong số VietTUDAN 436/25.02.2010).
Những vấn đề Tranh chấp, thậm chí Chiến tranh, về Tiền tệ trên đây khiến chúng tôi thấy cần viết những quan niệm giáo khoa về Tiền tệ nói chung để chúng ta có cùng một tiếng nói khi nhận định về các Tranh chấp.
Chúng tôi xin trình bầy lần lượt những điểm:
=> Phát minh và chuyển biến của Tiền tệ => Những Chế độ Tiền tệ và định Tỷ giá => Những Thị trường liên quan đến Tiền tệ => Cán cân Thương mại và đồng Tiền mạnh => Làm thế nào Tiền đẻ ra Tiền
Phát minh và chuyển biến của Tiền tệ
Không ai nhai nuốt đồng 100 Đo-la để khỏi đói, mà dùng đồng 100 Đô mua đồ ăn để ăn thì bụng mới không đói được. Như vậy đồng tiền chỉ là thứ yếu, là phương tiện để mua hàng hóa phục vụ cho những nhu cầu của con người. Hàng hóa thực của sản xuất Kinh tế là chính yếu, còn đồng tiền là phụ. Chính vì vậy, đồng tiền được định nghĩa là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises) hay “Phương tiện chuyên chở trao đổi hàng hóa” (Moyen de véhiculer les échanges des marchandises).
Xem những câu định nghĩa như vậy, thì chính việc phát triển trao đổi hàng hóa (Thương mại) đòi hỏi việc phát minh ra Tiền tệ và sự Chuyển biến của Tiền tệ cho phù hợp với đà phát triển Thương mại nội địa hay quốc tế. Phát minh và Chuyển biến Tiền tệ qua những giai đọan như sau:
1) Trao đổi hiện vật (Echange de Troc)
Trao đổi hiện vật, nghĩa là hàng hóa trao đổi lấy hàng hóa. Một người có dư 5 con gà, nhưng lại muốn có cái ghế để ngồi. Họ mang 5 con gà để đổi lấy cái ghế. Nhưng một người khác chỉ có dư 4 con gà, mà lại muốn cái ghế. Việc trao đổi gà lấy ghế trở thành bế tắc. Chẳng lẽ chặt cái ghế ra làm 5 phần và họ chỉ lấy 4 phần của cái ghế.
Cái bế tắc đầu tiên cho trao đổi hiện vật là việc phân chia hàng hóa thành những thành phần nhỏ. Chính cái bế tắc thương mại này đã đòi hỏi phải phát minh ra một phương tiện có thể phân chia ra càng nhỏ càng hay. “La DIVISIBILITE pousse le Commerce à inventer la Monnaie” (Tính cách khả phân đẩy Thương mại đến phát minh Tiền tệ).
2) Tiền-Hàng hóa (Monnaie-Marchandise)
Ý tưởng đầu tiên là chọn một lọai hàng hóa mang tính cách khả phân tốt nhất. Một số bộ lạc Phi châu đã chọn Răng Sư tử làm đơn vị trao đổi các hàng hóa khác. Tại Á châu, dân chúng chọn Đấu Gạo làm Đơn Vị trị giá việc trao đổi hàng hóa. Xem việc chọn lựa này, vì tính cách khả phân, Tiền tệ còn mang tính Khan hiếm (Rareté) và tính Phổ quát ( Universalité). Thực vậy, Răng Sư Tử không phải là dễ kiếm, do đó Tiền mới qúy. Nếu chọn những viên sỏi làm Tiền, thì ai cũng kiếm được. Cũng vậy, chọn Đấu Gạo làm Tiền trung gian Thương mại, đó là nhấn mạnh tính Phổ quát (Universalité) của hàng hóa lựa chọn. Ở Á châu, Gạo là phổ quát nhất, ai cũng chấp nhận.
Tóm lại, một đồng Tiền phải mang tính Khả phân (Divisibilité) để dễ dàng làm trung gian trao đổi; một đồng Tiền phải mang tính Khan hiếm (Rareté) để tự nó mang một giá trị; một đồng tiền phải mang tính Phổ quát (Universalité) nghĩa là mọi người cùng công nhận.
3) Tiền Kim lọai (Monnaie Métallique)
Hàng hóa mỗi ngày mỗi nhiều. Những tác nhân Kinh tế mỗi ngày mỗi giầu có thêm và người ta nghĩ đến Tiết kiệm, tích lũy hàng hóa cho tuổi già hay cho con cháu sau này. Tiền bạc trở thành một phương tiện tích lũy tài sản. Nếu chọn Tiền bạc bằng một hàng hóa nào đó, thì hàng hóa dễ trở thành hư hỏng, mất giá trị trong thời gian. Đây là tính cách thứ tư mà người ta đòi hỏi Tiền tệ phải có, đó là tính Kéo dài (Durabilité) trong thời gian. Không ai muốn tiết kiệm tiền bạc mà trong thời gian bị hư hỏng, mất giá. Tính cách Kéo dài (Durabilité) này đã thúc đẩy việc lựa chọn Kim lọai làm Tiền tệ. Đầu tiên là chọn Sắt, nhưng Sắt dễ bị rỉ. Người ta chọn Đồng khó bị rỉ hơn. Nhưng Đồng dễ kiếm, phạm vào tính Hiếm có (Rareté). Người ta chọn Bạc vừa khó bị hư hỏng vừa hiếm có hơn Đồng. Cuối cùng VÀNG được chọn lựa như Tiền tệ Kim lọai chót. Thực vậy, Tiền Vàng mang đủ 4 tính chất : Khả phân (Divisibilité) thành cân lượng thật nhỏ; Hiếm có (Rareté) nên tự nó có giá trị nội tại (Valeur en soi); Phổ quát (Universalité) vì cả Thế giới, ai cũng chấp nhận vàng; Kéo dài (Durabilité) vì vàng không bị rỉ.
Hiện nay, giữa các đồng Tiền, VÀNG vẫn là nơi ẩn náu (Refuge) khi các Tiền tệ bị giao động.
4) Tiền Giấy
Những bế tắc Thương mại đã thúc đẩy phát minh Tiền tệ. Ở thời kỳ Thương mại hiện vật (Commerce de Troc), tính cách bất khả phân hàng hóa khiến người ta phát minh ra Tiền tệ trung gian mang tính khả phân tối đa.
Ở thời kỳ phát triển Thương mại Quốc tế từ Trung Cổ Aâu châu, một bế tắc nữa khiến người ta phải phát minh ra Tiền Giấy. Thực vậy, Trung Cổ Aâu châu là thời kỳ phân chia đất đai cho các Lãnh chúa. Mỗi vùng nhỏ có một Lâu đài Lãnh chúa quy tụ dân chúng chung quanh thành những Thành phố. Mỗi vùng tổ chức những Chợ Phiên của Thành phố để trao đổi hàng hóa, tỉ dụ Chợ Phiên Bruxelles, Chợ Phiên Milano, Chợ Phiên Munich... Thương gia từ Thành phố Milano muốn mua hàng hóa ở Chợ Phiên Bruxelles. Mua hàng, phải trả Tiền. Nhưng nếu Tiền tệ là Kim lọai, Vàng chẳng hạn, thì phải chở Vàng từ Milano đến Bruxelles để trả. Chở Vàng từ Milano đi Bruxelles, vượt qua rặng núi Alpes, thì sợ ăn cướp, không có an ninh giữa một thời giặc giã của các Lãnh Chúa.
Cái bế tắc của thời kỳ phát triển Thương mại quốc tế này là An ninh (Sécurité) cho Tiền bạc khi mang Tiền đi xa để mua hàng. Việc phát minh qua những giai đọan như sau:
=> Chứng minh thư ký thác (Certificat de Dépôt)
Vàng không được chở đi, mà chỉ được ký thác tại một Nhà Ký Thác (Maison de Dépôt). Nhận và giữ vàng của Thương gia, Cơ sở Ký thác cho Thương gia một Tờ Giấy chứng minh số vàng ký thác. Thương gia từ Milano chỉ cần mang Tờ Giấy Chứng Minh Ký thác sang Bruxelles, đế trình Chứng Minh thư tại một Cơ sở Ký thác khác tại đây để đổi thành vàng mà mua hàng. Như vậy khi chỉ mang một Tờ Giấy Chứng Minh Thư Ký thác từ Milano sang Bruxelles, Thương gia có An ninh (Sécurité) hơn là chuyên chở qua rặng núi Alpes trùng điệp cả một lượng vàng nặng chĩu.
Chứng Minh Thư Ký Thác (Certificat de Dépôt) là hình thức đầu tiên của Tiền Giấy ngày nay. Những Cở Sở Ký Thác (Maison de Dépôt) trở thành những Ngân Hàng ngày nay.
Xin chú thích thêm rằng trên Tờ Chứng Minh Thư Ký thác, luôn luôn có hai Chữ Ký. Qúy vị lưu ý rằng trên các Tờ Giấy Bạc hiện nay vẫn giữ hai Chữ Ký. Các Giấy tờ Ngân Hàng đụng chạm đến Tiền bạc phải có hai Chữ Ký. Vấn đề đặt ra là làm thế nào Cơ Sở Ký Thác tại Bruxelles nhận ra Tờ Chứng Minh Thư Ký thác là thật hay giả. Ở thời kỳ này, vấn đề kiểm chứng (Vérification) bằng truyền thông chưa có. Việc kiểm chứng ở thời kỳ này đặt trên cơ sở liên hệ Gia đình với những bí mật giao hẹn trước với nhau trong Gia đình. Đây là điểm cắt nghĩa tại sao ngành Ngân Hàng được bành trướng phần lớn giữa những người Do-thái. Thực vậy, những liên hệ Gia đình Do-thái ở khắp Aâu châu và họ phát triển những Cơ sở quản trị Tiền tệ.
=> Tiền Giấy phát hành từ Ngân Hàng Trung Ương (Billet de Banque émis par la Banque Centrale)
Có hai biến cố dẫn đến việc phát hành Tiền Giấy duy nhất của Ngân Hàng Trung ương hay Ngân Hàng Quốc gia, Ngân Hàng Phát Hành (Banque Centrale, Banque Nationale, Banque d’Emission). Biến cố thứ nhất là các Lãnh chúa bị dẹp và thành lập những Quốc gia rộng lớn. Biến cố thứ hai là các Chứng Minh Ký Thác trở thành nhiều và phức tạp, hầu như chỉ dành cho những Thương gia chuyên biệt, trong khi dó đại da số Dân chúng cần phương tiện Tiền tệ mua bán.
Hai biến cố trên đây khiến các Quốc gia thành lập MỘT Ngân Hàng Trung ương để in ra MỘT lọai Chứng Minh Ký Thác, TIỀN GIẤY duy nhất cho Quốc gia, để dân chúng nhận biết và xử dụng làm Phương tiện trao đổi hàng hóa.
Ngân Hàng Trung ương hay Ngân Hàng Quốc gia được giao hai nhiệm vụ chính yếu:
* Phát hành Tiền tệ (Emission des Billets de Banque) * Điều hành khối tiền cho vào phát triển Kinh tế/ Thương mại cho phù hợp (Gestion adéquate de la Masse monétaire mise en circulation dans l’Economie et le Commerce).
Hai nhiệm vụ này được thực hiện theo đòi hỏi Kinh tế/Thương mại của Dân chúng có tính cách lâu dài, chứ không tùy thuộc những quyết định nhất thời mang mầu sác Chính trị của Nhà Nước cai trị. Ơû khía cạnh này, chúng ta có thể nói Quyền lực Tiền tệ mang tính cách độc lập với Quyền lực Chính trị (L’autorité monétaire est indépendante du pouvoir politique).
5) Phát hành Tiền tệ Tư nhân (Emission monétaire privée)
Theo như định nghĩa lúc ban đầu về Tiền tệ, đồng tiền được định nghĩa là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises) hay “Phương tiện chuyên chở trao đổi hàng hóa” (Moyen de véhiculer les échanges des marchandises). Như vậy, tất cả mọi Phương tiện ngòai TIỀN MẶT (Tiền Giấy phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương) có thể được xử dụng để mua bán hàng hóa đều có thể được gọi là Tiền tệ.
Tính cách Phổ quát (Universalité) của tờ Giấy Bạc phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương làm mất An ninh (Sécurité). Thực vậy, cầm một xấp Giấy Bạc 100 Đô ra phất phơ khoe khoang trước các Cô trong Bar, có thể bị giết khi ra khỏi Bar như chơi. Cái lý do là thằng ăn cướp, cô bán Bar hay mình có thể xử dụng những tờ Giấy Bạc 100 Đô như nhau. Chúng ta mất An ninh khi cầm tờ Giấy Bạc. Vì vậy, mọi người muốn Ký thác những tờ Giấy Bạc ấy tại Ngân Hàng tư để chỉ lấy những Chứng Minh Thư Ký thác (giống như Ký thác Vàng trước đây) để có những Carnet de Chèques, Credit Cards, Promissory Notes, Stanby Letter of Credit, Bank Guarantees... mà mua bán hàng hóa.
Đây là việc phát hành Tiền tệ của lãnh vực Tư nhân. Việc phát hành này không những chỉ dựa trên TIỀN MẶT hiện có và ký thác, mà còn bao trùm cả tiền bạc khả thể (Monnaie virtuelle) ước mong nhận được trong lai. Lãnh vực tương lai này đã tạo thành Kỹ Nghệ Tài chánh của giới nắm giữ Tiền tệ. Nhưng tương lai giống như bài hát “Que sera sera” bấp bênh. Giới phát hành Tiền tệ tương lai đã tạo nên những Khủng hỏang.
Những Chế độ Tiền tệ và định Tỷ giá
Đại thể, Tiền tệ đã trải qua những Chế độ (Régimes Monétaires) quy định mà mục đích là làm cho những người giữ Tiền có một sự chắc chắn nào đó về tài sản tiết kiệm của mình. Làm thế nào mà những người tiết kiệm dưới hình thức Tiền tệ có thể thấy tài sản của mình ít bị mất?
Chúng tôi trình bầy ba chế độ sau đây cho đến nay:
1) Chế độ BẢN VỊ VÀNG (Etalon-Or)
Mỗi quốc gia, hòan tòan độc lập, định giá Tiền tệ riêng của mình dựa trên Cân lượng Vàng tương đương cho Đơn vị Tiền. Tỉ dụ một Quan Thụy sĩ, CHF.1 = 0.020gr Or fin; một Đo-la Mỹ, USD.1 = 0.040gr Or fin.
Tất cả những Quốc gia định giá trị Tiền bạc của mình dựa trên cân lượng vàng thuộc về Chế độ Bản Vị Vàng.
Trong cùng một Chế độ như vậy, các nước mới có thể định Tỷ giá Tiền tệ giữa hai nước. Theo tỉ dụ trên đây, thì hối suất giữa đồng Đo-la Mỹ và Quan Thụy sĩ sẽ là:
Tỷ giá Đo-la Mỹ/Quan Thụy sĩ:
0.040 gr Or fin USD.1.- = ------------------- = CHF.2.- 0.020 gr Or fin
Trong Chế độ Bản Vị Vàng, Tỷ giá Tiền tệ mang tính cách khách quan và khó lòng thay đổi vì dựa trên cân lượng vàng không thay đổi trừ khi một quốc gia tự ý định lại cân lượng vàng cho đồng Tiền của mình. Trong Chế độ này, người ta cấm luôn Thị trường Vàng song hành với Tiền tệ. Người giữ Tiền bạc chắc chắn về giá trị đổng tiền bởi lẽ có sự hóan chuyển (Convertibilité) Tiền thành Vàng.
2) Chế độ BẢN VỊ-TIỀN TRUNG GIAN-VÀNG (Etalon-Devise-Or)
Chế độ trên đây kéo dài khá lâu. Nhưng Thế Chiến II đã buộc phải thay đổi Chế độ Tiền tệ. Thực vậy, Thế Chiến II đã làm các nước Aâu-châu mất hết Vàng để bảo đảm cho việc định giá trị Tiền bạc của mình. Chỉ có đồng Đo-la Mỹ và đồng Quan Thụy sĩ còn đủ vàng bảo chứng cho Tiền tệ của mình.
Những đồng Quan Pháp, Mark Đức, Lire Ý... hòan tòan mất giá.
Trước tình trạng này, Hoa kỳ kêu gọi Hội Nghị Bretton Woods về Tiền tệ năm 1944 để định lại giá trị về Tiền tệ. Hội Nghị quyết định ba điều:
1) Chế độ Tiền tệ vẫn lấy cân lượng Vàng làm gốc
2) Lấy một đồng Tiền trung gian còn Vàng bảo đảm giá trị. Đồng Đo-la Mỹ được chọn
3) Thiết lập Qũy Hỗ Trợ Tiền bạc, đó là IMF hiện nay
Theo quyết định của Hội Nghị, thì Tiền mỗi nước được định theo giá trị đồng Đo-la Mỹ để rồi qua đó mới có hóan chuyển sang cân lượng vàng.
Tỉ dụ một Quan Pháp được định giá trị là USD.20 cents; một Quan Thụy sĩ được định giá trị là USD.80 cents.
Từ đó, Tỷ giá giữa đồng Quan Pháp và đồng Quan Thụy sĩ được định như sau:
Tỷ giá Quan Thụy sĩ/ Quan Pháp:
USD.80 cents CHF.1.- = ----------------- = FF.4.- USD.20 cents
Như vậy, Tỷ giá Tiền tệ giữa các nước vẫn không bấp bênh vì định nghĩa đồng Đo-la vẫn dựa trên cân lượng vàng. Nhưng tính hóan chuyển gián tiếp sang vàng thay đổi nếu Hoa kỳ thay đổi định giá cân lượng vàng cho đồng Tiền của mình. Thế giới bắt đầu cảm thấy một sự lệ thuộc vào quyết định giá trị của đồng Đo-la. Nếu Hoa kỳ tự ý tái quyết định cân lượng vàng cho đồng Đo-la, thì Thế giới phải tuân theo khi muốn hóan chuyển Tiền của mình thành vàng.
Chính vì cảm thấy sự lệ thuộc này, mà Staline đã gọi đây là “Impérialisme du Dollar” (Đế quốc Đo-la), mà TT. De GAULLE đã phản đối nhân danh Euro-Dollar, mà các nước giữ Pétro-Dollar lên tiếng.
3) Chế độ BẢN VỊ KHẢ NĂNG MUA HÀNG (Régime du Pouvoir d’Achat)
Mặc dầu vàng vẫn được dùng dưới hình thức Lingot để bảo đảm Tiền tệ, nhưng Dân chúng xa vời với vấn đề định giá tương đương vàng cho Đơn vị Tiền tệ của mỗi nước. Điều thiết thân hơn hết của Dân chúng là tương đương hàng hóa mà họ có thể mua được với một Đơn vị Tiền tệ mà họ đang giữ.
Trên thực tế, Dân chúng chấp nhận một Chế độ Tiền tệ được dịnh nghĩa dựa trên Khả năng hóan chuyển sang hàng hóa mà họ xử dụng hàng ngay.
Tỉ dụ tại Mỹ, USD.1.- có thể mua được 600gr khoai tây và tại Thụy sĩ CHF.1.- có thể mua được 400gr khoai tây.
Tỷ giá giữa Đo-la Mỹ và Quan Thụy sĩ:
600gr khoai tây USD.1.- = -------------------- = CHF.1.50 400gr khoai tây
Đây là Tỷ giá thực tiễn nhất mà người Dân chấp nhận cho đời sống của họ. Nhưng Tỷ giá này lại không mang tính cách cố định như dựa trên so sánh cân lượng vàng hàm chứa trong định nghĩa Tiền tệ của mỗi nước. Tỷ giá dựa trên khả năng đổi lấy hàng hóa thay đổi không lường vì tình trạng sản xuất Kinh tế mỗi nước có những thay đổi theo mùa, theo năm. Khả năng phát triển Kinh tế đều đặn của một nước là nền tảng bảo đảm cho giá trị vững bền của đồng Tiền của nước đó.
Với Chế độ Bản Vị Khả năng Mua hàng (Régime du Pouvoir d’Achat) tình trạng Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế hiện nay đã làm cho các nước lo lắng vì giữ quá nhiều Dự trữ Tiền tệ bằng Đo-la. Trung quốc giữ khối Đo-la khổng lồ, ăn không ngon, ngủ không yên là phải.
Trên đây, chúng tôi lấy tỉ dụ một mặt hàng là khoai tây. Trong tính tóan tổng quát cho Quốc gia, người ta kể mọi mặt hàng tiêu thụ tính thành một Chỉ số Tổng quát được tóm gọn trong Công thức sau đây của FISHER:
M.V ----------- = P T
M : Khối Tiền tệ cho vào nền Kinh tế; V: Tốc độ lưu hành Tiền tệ; T: Sản xuất/ Thương mại hàng hóa trong một thời kỳ nhất định; P: Mức độ Tổng quát những Giá cả (Niveau Général des Prix). Chính dựa trên thay đổi của P mà người ta nói đến Lạm phát mà lý do có thể là tăng Khối Tiền lưu hành hay là giảm Khả năng Sản xuất/Thương mại mà những Cơ quan trách nhiệm điều hành Khối Tiền chưa có những biện pháp điều chỉnh kịp thời.
Cũng ở trong Chế độ Bản Vị Khả năng Mua hàng này mà một số Quốc gia, nhất là những Nhà Nước độc tài, khi gặp thiếu hụt Ngân sách, dễ dàng in Tiền mới cho vào Khối Tiền M để làm Lạm phát hòan tòan có tính cách Tiền tệ. Đây là một tội ác đối với Dân chúng đang tích giữ Tiền bạc có khả năng mua hàng thực sự. Đồng Tiền mới in ra chưa được chuyển qua hệ thống sản xuất Kinh tế để có tương đương hàng hóa. Nhà Nước độc tài tung đồng Tiền mới ra để tiêu dùng lẫn lộn với đồng Tiền cũ đã có khả năng tương đương hàng hóa. Đây là việc làm mất giá cho đồng Tiền cũ.
Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết: “L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy).
Những Thị trường liên quan đến Tiền tệ
Chúng tôi muốn phân biệt bốn Thị trường sau đây rất gần nhau, cùng khởi nguồn từ đồng Tiền: Thị trường Tiền tệ, Thị trường Tài chánh (Vốn), Thị trường Chứng khóan, Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng. Mỗi Thị trường nhằm thu Lợi nhuận từ những phương diện khác nhau.
=> Thị trường Tiền tệ
Nói đến Thị trường là nói đến hai phía Cung và Cầu. Thị trường Tiền tệ có phía Cung một đồng Tiền để bán và phía Cầu cùng đồng Tiền ấy để mua. Nếu phía Cung đồng Tiền nhiều hơn, thì đồng Tiền ấy giảm giá trị, nghĩa là dùng một đồng Tiền khác để mua, thì mua được lượng nhiều hơn (Valeur nominale). Cũng vậy, nếu trên Thị trường có nhiều người Cầu, thì đồng Tiền trở thành mắc giá và khi dùng đồng Tiền khác để mua, thì lượng mua được sẽ ít hơn. Đây là vấn đề chênh lệc Tỷ giá do Cung và Cầu.
Nếu Thị trường hòan tòan tự do thay đổi theo Cung, Cầu, thì lượng Tiền trao đổi sẽ làm cân bằng Tỷ giá. Nhưng nếu Tỷ giá có sự can thiệp cứng nhắc của một quyền lực ngọai tại, thì Thị trường Tiền tệ sẽ có hai giá: Giá chính thức bó buộc và Giá chợ đen lén lút. Đây là trường hợp Thị trường Tiền tệ tại Trung quốc và tại Việt Nam giữa đồng Đo-la và đồng Tiền của mỗi Quốc gia.
=> Thị trường Tài chánh (Vốn)
Nếu Thị trường Tiền tệ nhằm vào chênh lệc Tỷ giá, thì Thị trường Tài chánh nhằm vào Lãi suất. Lãi suất, cái Giá của Thị trường, tăng giảm là do Cung và Cầu Vốn. Phía Cầu Vốn là những Công ty làm việc trong lãnh vực Kinh tế thực. Phía Cung Vốn là những Ngân Hàng, những Tập thể Tài chánh. Các Công ty tìm vay Vốn với Giá rẻ, nghĩa là Lãi suất thấp. Trong khi ấy, những Ngân Hàng, những Tập đòan Tài chánh tìm nơi cho thuê Vốn với Lãi suất cao.
Trong thời Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế 2007/09, các Ngân Hàng Trung ương hạ Lãi suất chỉ đạo xuống thấp, nghĩa là làm cho Giá thuê vốn trở thành rẻ để những Công ty có thể thuê Vốn dễ dàng mà họat động khôi phục nền Kinh tế thực.
=> Thị trường Chứng khóan
Thị trường Chứng khóan cũng là Thị trường Tài chánh. Thị trường Tài chánh chính hiệu trên đây là sự va chạm giữa phía Công ty Cầu Vốn và phía có Tiền Cung Vốn. Nguồn lợi là Lãi suất.
Thị trường Chứng Khóan cũng là Thị trường Tài chánh, nhưng là nơi gặp gỡ các Thương gia mua bán những Giá trị các Công ty ghi tên trên Thị trường. Nguồn thu lợi chính yếu là chênh lệch lên xuống Giá trị các Công ty ghi trên Thị trường. Những người tham dự vào Thị trường Chứng khóan có khuynh hướng tác động đầu cơ để làm cho Giá cả Thị trường lên xuống mà lấy lợi.
Thị trường này cho những lợi nhuận cao và mau mắn. Đây là Thị trường vĩ đại quay vòng quanh Thế giới 24/24 giờ. Khủng hỏang khởi nguồn từ Subprime Mortgage Credits làm cho Thị trường Chứng khóan xẹp xuống đen tối, nhưng rồi trong một thời gian ngắn các Thị trường Chứng khóan sôi động lại vì số vốn tham dự vào Thị trường này khổng lồ để các Ngân Hàng và Tập đòan Tài chánh thi nhau thu lợi nhuận từ chênh lệc Giá trị các Công ty niêm yết.
=> Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng.
Có lẽ đây là Thị trường không được công khai phổ biến cho lắm, nhưng vẫn hiện diện như trợ lực cho Thị trường Tài chánh. Thực vậy, để có thể vay được Vốn, phải có thế chấp bảo đảm cho việc hòan vốn. Thế chấp thường được đòi hỏi là những Bank Guarantees, Standby Letter of Credit phát hành do những Ngân Hàng đáng tin cậy. Việc xếp hạng tin cậy giữa các Ngân Hàng khác nhau. Tỉ dụ nếu Bảo Lãnh của Bank of America có giá trị tin tưởng 95%, thì Bảo Lãnh phát hành bởi Banco Da Brazil chỉ mang tin tưởng được 60% chẳng hạn. Sự chênh lệc tin tưởng này lại làm phát sinh ra những Phát hành Tái Bảo Lãnh.
Những Công ty vay Vốn vào Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng này để mua bán những Thế chấp làm Collateral mà vay Vốn.
Cán cân Thương mại và đồng Tiền mạnh
Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.
Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh ?
Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.
Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giàm giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.
Trung quốc, do xuất cảng, thu vào nhiều Đo-la tất nhiên đồng Yuan phải trở thành mắc hơn. Nhưng Nhà Nước độc tài Trung Cộng đã cố tình giữ giá đồng Yuan hạ để nâng dỡ cho xuất cảng mà thôi.
Làm thế nào Tiền đẻ ra Tiền
Vớiõ 4 Thị trường liên hệ đến Tiền bạc như chúng tôi đã trình bầy trên đây, giới Ngân Hàng và Tài chánh có nhiều phương tiện để làm ăn thu Lợi nhuận mà chưa chắc đã cần phải qua lãnh vực họat động Kinh tế thực.
Giới Ngân Hàng và Tài chánh nắm giữ khối hiện Kim khổng lồ, đồng thời họ lại có khả năng phát hình tư nhân Tín dụng, tương lai Kim (Monnaie virtuelle) để đầu tư kiếm lời. Người ta nói đến sự tách rời ra của giới Ngân Hàng và Tài chánh để lập một KỸ NGHỆ TÀI CHÁNH riêng với những Sản phẩm Tài chánh đặc biệt để làm sinh lời. Sản phẩm Subprime Mortgage Credit là một trong những tỉ dụ.
Khi làm việc về Tài chánh, chúng tôi đã gặp những Khách hàng đặt câu hỏi: khi bỏ Tiền vào, Ngân Hàng chỉ cho lợi nhuận hàng năm tối đa 5%, tại sao Ngân Hàng xử dụng Tiền của chúng tôi để làm ăn thu và lợi nhuận 50% chẳng hạn ?
Lợi nhuận cao ! HYI :High Yield Investment ! Tiền đẻ ra Tiền !
Năm 2004, chúng tôi đã viết một tỉ dụ đơn giản bằng tiếng Anh để cắt nghĩa Lợi nhuận cao. Chúng tôi xin tóm tắt bằng tiếng Việt tỉ dụ ấy: TỈ DỤ MỘT ÔNG CHÀ GIÀ CHO VAY KIẾM LỜI Ở GÓC CHỢ BẾN THÀNH.
Oâng Chà Già có 100 đồng làm vốn để cho vay kiếm lời. Oâng ra đứng ở góc Chơ Bến Thành. Khách hàng xin vay của Oâng là những Bà buôn thúng bán mẹt, chồng chết vì chiến tranh, nên mua buôn bán lẻ rau cỏ tại mấy góc phố. Mỗi buổi sáng Oâng cho một Bà vay 100 đồng với điều kiện là chiều tối trả lại vốn và thêm Tiền lời là 0.50 xu. Đối với các Bà cần vốn mua hàng buôn bán độ nhật, thì giá thuê vốn 0.50 là quá rẻ.
Oâng Chà Già làm việc 5 ngày một Tuần. Như vậy mỗi Tuần Oâng thu vào được 2.5 đồng. Mỗi Tháng 4 Tuần, Oâng thu vào được 10 đồng Tiền lời. Oâng làm việc một Năm 10 tháng, còn để 2 tháng đi nghỉ hè. Như vậy một năm làm việc 10 tháng, ông thu Lợi nhuận vào là 100 đồng.
0.50 mỗi ngày x 5 ngày mỗi tuần x 4 tuần mỗi tháng x 10 tháng mỗi năm = 100 đồng Lợi nhuận trong một năm, nghĩa là Lợi nhuận 100% hàng năm cho số vốn đầu tư.
Đó là Lợi nhuận cao có thể thực hiện được. Đây không phài là điều mơ mộng hão huyền mà là sự tính tóan cụ thể mà ai cũng thấy. Nếu có lúc nào đó, chúng ta khẳng định có thể kiếm Lợi nhuận đầu tư là 100%, nhiều người cho rằng chúng ta nói khùng điên. Nhưng thực tế có thể làm được như tỉ dụ Oâng Chà Già.
Không có gì là bí ẩn để cắt nghĩa Lợi Nhuận cao. Lợi nhuận là việc thu vào cái kết quả sau một CHU TRÌNH KHAI THÁC (Cycle d’Exploitation). Một Chu Trình Khai Thác được định nghĩa là từ khi mua sắm nguyên vật liệu, rồi biến chế thành sản phẩm và chấm dứt ở việc bán sản phẩm để thu vào được số thặng dư đối với chi tiêu. Chu trình Khai Thác mang thời gian dài ngắn khác nhau tùy theo ngành nghiệp và sản phẩm. Tỉ dụ Chu trình Khai Thác nông nghiệp như trồng Cà Chua có thể kéo dài 2 tháng, từ khi mua cây con cho đến khi cây lớn ra trái và đem trái đi bán.
Nguyên tắc thu vào lợi nhuận cao và mau là phải rút ngắn CHU TRÌNH KHAI THÁC, hay nói cách khác là TĂNG TỐC ĐỘ QUAY của Chu Trình (Accélération de la Vitesse de Rotation). Chúng ta càng quay mau, thì lợi nhuận càng vào nhiều
Đối với Chu Trình Mua/Bán ở các Thị trường Tiền tệ, Thị trường Tài chánh và Chứng khóan, các Ngân Hàng/Tập đòan Tài Chánh có thể rút rất ngắn lại một Chu Trình thực hiện Thương vụ. Việc thu ngắn Chu trình Thương vụ Tài chánh mỗi ngày mỗi dễ dàng do phương tiện truyền thông điện tử mau chóng. Chỉ trong một tiếng đồng hồ, những Traders có thể hòan thành một Chu trình Thương vụ Tài chánh để thu vào Lợi nhuận.
Nếu Oâng Chà Già trên đây muốn tăng vận tốc Chu trình cho vay của Oâng, Oâng có thể cho vay một ngày hai lần cho hai Bà buôn thúng bán mẹ. Như vậy Lợi nhuận hàng năm của Oâng sẽ tăng gấp đôi mặc dầu Oâng chỉ thu vào có 0.50 xu mỗi lần cho vay.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.02.2010
| | | |
JAMES S.CHANOS DỰ ĐÓAN HIỆN TÌNH KINH TẾ TRUNG CỘNG
ĐÀO NHƯ
Theo báo New York Times hôm 8/1/2010, James S Chanos, năm nay 51 tuổi, một trong những người Mỹ đầu tư tại Trung cộng. Chanos sở hữu một tài khoản đồ sộ 6 tỷ Mỹ kim, và ông có thể sử dụng đầu tư bất cứ nơi nào trên đất nước Trung cộng. Do đó ông là người có cái nhìn thấu đáo vào tận những gốc khuất của nền kinh tế TC, những ưu cũng như khuyết điểm của nó. James S. Chanos tuần vừa rồi đưa ra lời báo động các nhà đầu tư thế giới phải hiểu rằng nền kinh tế TC hiện nay đang có những rủi ro to lớn có thể đưa đến một cuộc khủng hoảng kinh tế mới ngay cả sư sụp đổ của nền kinh tế của đất nước này. Theo Chanos, trong hiện tại không ai chối cải được sức hút như khối nam châm khổng lồ của nền kinh tế TC vì các nhà đầu tư thế giới bị ‘mà mắt’ bởi những dữ kiện của thống kê về chỉ số Stock nội địa của TC.
Nguy cơ của nền kinh tế Trung cộng hiện nay được tạo nên do gói kích cầu $586 tỷ usd. Thoạt tiên gói kích cầu này có mục đích rõ ràng, ngoài mục đích củng cố và nâng cao xuất khẩu, nó còn dùng để kích thích tiêu dùng của người dân. Người dân TC có tiền vay từ ngân hàng với lãi xuất thắp, họ mua sắm, tậu nhà cửa, xây dựng doanh nghiệp mới. Bằng cách này thì thị trường tín dụng sẽ phục hồi nhanh, và thị trường địa ốc cũng sẽ vận hành tốt trở lại.
Chính phủ Trung công hy vọng nhờ thế họ chấn hưng nền kinh tế TC và đẩy mạnh tiến trình phục hưng kinh tế thế giới. Nhưng gói kích cầu của những năm 2008-09 quá lớn và các nguồn tiền này đựợc lùa vào Wall Street, thị trường địa ốc, tạo ra tình trạng cho vay và mua nhà với những điều kiện quá dễ dàng và nhiều quá vượt mức kiểm soát. Hơn nữa thấy thị trường địa ốc TC ăn nên làm ra, các nhà đầu tư thế giới lao vào bỏ ra số vốn rất lớn đầu cơ vào thị trường này. Do đó thị trường địa ốc và tín dụng của TC tăng nhanh, phình lớn, cổ phiếu ở Wall Street tăng mạnh, tạo ra tình trạng “bong bóng kinh tế”. Có lần xuất hiện trong chương trình CNBC, Chanos cảnh cáo:
“Hiện tượng bong bóng tín dụng là thấy rõ nhất tại thị trường tín dụng TC…Không đâu có bong bóng tín dụng phình đại như TC hôm nay” Bubbles are best identified by credit excesses, not evaluation excesses…And there’s no credit bigger than credit excess in China”
Thị trường tín dụng, và địa ốc đang phì đại một cách nguy hiểm vì cả hai thị trường này đang vận hành không đúng theo qui luật, tăng trưởng vượt kiểm soát. Hơn thế nữa, trong cuộc phỏng vấn với tờ báo Politico hồi tháng 11-2009, Chanos còn cảnh cáo là hiện tại TC sản xuất một khối lượng lớn các mặt hàng họ không thể bán ra được. Số hàng này đang tồn kho chờ ngày quá date. Jim Grant, người bạn lâu năm của Chanos, chủ biên tập san tài chánh Grant’s Interest Rate Observer, cũng cảnh cáo, nền kinh tế Trung cộng bị quấy nhiễu và phiền toái rất nhiều trong mấy chục năm qua bởi điều mà ông ta gọi là Quyền Lực Thứ Ba, và Thứ Tư họ lợi dụng gói kích cầu. Hiện nay tại các ngân hàng TC, mức độ bad loans đã là 20% và sau gói kích cầu có thể cao hơn thế nữa. Trong tương lai gần, xem chừng nền kinh tế tài chánh TQ có thể sẽ đi vào con đường mòn của nền kinh tế Hoa Kỳ đã kinh qua vào những năm 2007-2008: thị trường tín dụng phì đại và vỡ, thị trường địa ốc, Freddie Mac, Fannie Mae sụp đổ lôi theo nhiều ngân hàng lớn khác khiến chánh phủ Hoa Kỳ phải kịp thời ra tay chống đỡ.
Sở dĩ những việc tiên đoán của James S. Chanos về hiện tượng bong bóng hiện tại của nền kinh tế TC có sức thuyết phục đối với một số nhà kinh tế phương Tây và các nhà đầu tư thế giới là vì trong quá khứ Chanos đã tiên đoán đúng với nhiều bằng chứng xác thực về sự sụp đổ của tập đoàn Enron và sau đó là Tyco International, Boston Market restaurant chain, Home builders và nhiều ngân hàng lớn của thế giới…
Chanos cảnh cáo nhiều lần các nhà đầu tư hải ngoại trên thế giới khị bỏ tiền vào đầu tư ở TC, họ chỉ dựa vào, hầu như “tuân theo” những dữ kiện về chỉ số Stock nội địa của TC. Nhưng với Chanos, không bao giờ bị“mà mắt” vì những dữ kiện hời hợt dó, ông đầu tư theo phương hướng, chính sách của ông. Nghiên cứu đầu tư của ông tại TC bao giờ cũng tập trung vào sự tìm hiểu tường tận về khả năng xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyên viên kỹ thuật, phối trí nhân lực, nhân công, giao thông vận tải, khả năng phát triển công nghệ sản xuất cement, than, sắt, thép và các nguồn quặng khoáng chất. Theo Chanos, khả năng phát triển công nghệ này và đào tạo nhân công ở Trung cộng còn rất yếu, thiếu sáng tạo.
Trong khi đó Jim Rodgers, sáng lập viên của Quantum Fund với George Soros, đang sống tại Singapore, thì cho rằng những dự đoán của Chanos về hiện tượng bong bóng của nền kinh tế TC hôm nay cần phải xét lại vì Jim Rodgers cho rằng những dự đoán của Chanos thiếu cơ sở, và sự quan hệ của Chanos với nền kinh tế TC chưa đủ bề dày để cho phép Chanos đưa ra những dự đoán trên. Theo Jim Rodgers thì hiện tại thị trường tín dụng và địa ốc của TC chưa bao giờ có hiện tượng bong bóng. Nhiều đồng nghiệp và bạn bè của Chanos cũng công nhận là Chanos mới bắt đầu tìm hiểu đi sâu vào nền kinh tế TC trong một vài năm gần đây. Chanos hiện vẫn thường email tham khảo học hỏi ý kiến của những người sành về kinh tế TC. Chanos và nhóm bạn bè của ông cũng đang đối mặt với các nhà đầu tư tên tuổi trên thế giới: Warren Buffet, Will Beer L.. Ross Jr...họ không mấy tin tưởng vào lập luận của nhóm Chanos.
Trong lúc đó, có một nhóm chuyên gia kinh tế người Hoa công nhận hiện tượng bong bóng trên nền kinh tế của TC đang mỗi ngày một hiện rõ hơn. Xa hơn nữa, năm 2001 Gordon G. Chang, chuyên viên kinh tế tại Hoa Kỳ, đã từng tiên đoán về nền kinh tế TC sẽ đi vào khủng hoảng trầm trọng.
James S Chanos, một trong ba người con trai của một gia đình làm nghề giặt ủi tại Milwaukee . Chanos tốt nghiệp Yale như là một sinh viên PreMed. Nhưng sau đó Chanos chuyển sang kinh tế lý do là Chanos có nhiều đam mê và khuynh hướng về nghiên cứu kinh tế. Chanos khởi đầu sư nghiệp gia nhập thị trường chứng khoán- phố Wall-Wall Street . Tại Wall Street ông học hỏi rất nhiều về điều hành Stock và sự quan hệ giữa đầu tư và Stock. Chính Wall Street là con đường đưa James S. Chanos đến sự thành công hôm nay.
Chính những năm làm việc tại đây ông đã đưa ra sự tiên đoán chính xác về sư sụp đổ của tập đoàn Enron và sau đó là Tyco International, Boston Market restaurant chain, Freddie Mac, Fannie Mae và nhiều financial disasters khác, nhất là những ngân hàng tầm cỡ của thế giới. Chanos sẽ có buổi thuyết trình với đề tài “Contrarian Investor Sees Economic Crash in China ” tại viện đại học Oxford - Anh quốc cuối tháng Jan này.
Chúng ta thử chờ xem và theo dõi kết quả của buổi thuyết trình này nhất là phản ứng của của Trung cộng, của thế giới và của viện Đại học Oxford đối với quan điểm của James S Chanos. Từ đó hy vọng chúng ta có cái nhìn chính xác hơn về những dự đoán của Chanos về nền kinh tế Trung cộng hôm nay./.
Đào Như Bs Đào Trong Thể 10/Jan/2010 Oak park , Ill. USA
| | | |
TƯ NHÂN HÓA, GIA ĐÌNH HÓA HAY TRUNG QUỐC HÓA TÀI SẢN QUỐC GIA VN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 28.01.2010 UNICODE: http://VietTUDAN.net
Kinh tế Trung quốc và Kinh tế Việt Nam thóat thai từ Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy. Chủ trương Kinh tế này còn mang một khía cạnh nhân đạo, đó là Bao Cấp và đồng hưởng Xã hội. Để có thể thực hiện Chủ trương Kinh tế ấy, thì Nhà Nước tập trung quyền lực Chính trị độc tài về mình, đồng thời giữ luôn độc quyền phác họa những kế họach Kinh tế gồm Sản xuất và phân phối Tiêu thụ.
Kinh tế nhóm đảng Mafia: Một người làm quan, cả họ được nhờ
Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy và Bao cấp Xã hội đã thất bại vì tiền bạc chung bị thất thóat và bao cấp xã hội làm người ta lười biếng. Do đó, Trung quốc cũng như Việt Nam tuyên bố chuyển mình sang Chủ trương Kinh tế Tự và Thị trường. Nhưng Chủ trương Kinh tế Tự do và Thị trường THỰC SỰ đòi hỏi phải có một Môi trường Chính trị-Pháp lý phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat): Tư hữu những phương tiện sản xuất và tiêu thụ, Tự do tư doanh, Tự do thương lượng và ký kết giao kèo, Luật pháp bảo đảm những quyền sinh họat Kinh tế phải do những cá nhân đồng quyết định (Dân chủ).
Trung quốc và Việt Nam nói rằng chấp nhận Chủ trương Kinh tế Tự do và Thị trường cho mọi tác nhân Kinh tế, nhưng đã đặt hệ thống Kinh tế trong một Môi trường Chính trị-Luật pháp cũ của Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy: độc đảng giữ trọn quyết định trên những phương tiện sản xuất, độc đảng nắm đất đai và tài nguyên quốc gia, độc đảng giữ trọn những sinh họat kinh tế/ thương mại qua những Công ty quốc doanh, Luật pháp liên quan đến sinh họat Kinh tế do độc đảng thiết lập và cá nhân phải tuân phục. Đảng đã thêm vào cái đuôi “định hướng XHCN“ để lấy cớ giữ trọn cái Mội trường Chính trị-Pháp lý bảo đảm cho độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế, đồng thời làm một việc bất nhân nữa là không nhận trách nhiệm bao cấp và đồng hưởng xã hội.
Đó chính là bóc lột của nhóm đảng Mafia mà kết quả là nhóm đảng Mafia trở thành giầu nứt khố và đại đa số dân chúng bị bóc lột đến nghèo kiết xác. Không có CÔNG LÝ ở một lọai Kinh tế như vậy, tất nhiên cũng không thể có HÒA BÌNH xã hội.
Sự phản kháng của đại đa số Dân chúng tại Trung quốc cũng như tại Việt Nam đang lên mạnh để đòi hỏi CÔNG LÝ và do đó HÒA BÌNH cho cá nhân và xã hội. Trước sự phản kháng lên mạnh này, nhóm đảng Mafia đã trở thành giầu có sau những chục năm bóc lột, cảm thấy rằng không thể ngồi yên thụ hưởng, nên dường như đang tìm cách cất giấu tiền bạc dưới một chiêu bài nào đó.
Việc chuyển tài sản ra nước ngòai để cất giấu là sự tất nhiên. Giới Ngân Hàng Thụ sĩ nói nhỏ với nhau rằng họ sẽ nhận được việc chuyển từ Trung quốc sang Thụy sĩ số tài sản tới USD.180 tỉ. Chúng tôi cũng đọc tin thấy rằng Việt Nam đang định “tư nhân hóa“ một số Công ty quốc doanh lớn. Đây cũng là chiêu bài để nhóm đảng Mafia cất giấu tài sản tại chính quốc nội.
Không phải chỉ nguyên chúng tôi nhận định về Kinh tế nhóm đảng Mafia Trung quốc và Việt Nam. Có nhiều người đã viết. Chúng tôi xin trích đăng một số tỉ dụ.
Nhà phân tích Bill Hayton nói về Kinh tế Mafia gia đình tại Việt Nam
Việt Nam sẽ đi về đâu? Chắc chắn là sẽ không bình yên. Báo Foreign Policy (foreignpolicy. com) hôm 21-1-2010 có bài viết nhan đề “Vietnam’s New Money” (Đồng Tiền Mới của VN) cho thấy một viễn ảnh u ám của kinh tế và xã hội VN, và dịch tóm tắt như sau.
Nhà phân tích Bill Hayton mở đầu bài viết bằng hình ảnh ngày 16-11-2008, kể về đám cưới của 2 doanh nhân tại khách sạn sang trọng Caravelle ở Sài Gòn: Chú rể là Nguyễn Bảo Hoàng, 36 tuổi, quản trị công ty đầu tư IDG Ventures Vietnam, và cô dân là Nguyễn Thanh Phượng, 27 tuổi, chủ tịch quỹ đầu tư VietCapital. Hai công ty của cô dâu chú rể kết hợp quản trị 150 triệu đô la các khoản đầu tư ở VN.
Cô Phượng là con gái Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng. Chú rể là Việt kiều công dân Mỹ, con của một gia đình chạy khỏi VN năm 1975 để trốn chế độ CS, bây giờ trở về để cưới con của một trong những người quyền lực nhất nước.
Đám cưới này biểu hiện cho thấy Đảng CSVN vẫn khống chế cả khu vực công lẫn tư. Nhiều hãng tư thực ra nguyên là hãng quốc doanh cũ (SOE) hay vẫn còn thuôc quyền nhà nước quản lý, và hầu hết vẫn điều hành bởi các đảng viên.
Hầu hết những người chỉ huy kinh tế tư doanh hiện này là do đảng chỉ định, hay gia đình họ, hay bạn bè của họ. Giới thượng lưu CSVN đang biến chủ nghĩa tư bản VN trở thành một kinh doanh gia đình. Và nếu phiên tòa xử 4 nhà dân chủ tuần này về tội lật đổ chính phủ có dấu hiệu nào, thì tình hình củng cố quyền lực đảng là diễn biến kinh sợ cho tương lai VN.
Có nhìều điển hình về mối quan hệ gia tộc và tiền bạc, quyền lực tại VN: một trong những người giàu nhất VN là Trương Gia Bình, chủ tịch công ty tin học lớn nhất VN, hãng FPT. Bình cùng là ngưòi duy nhất tại VN thường được nhắc với nhãn hiệu “cựu phò mã” bởi vì Bình từng kết hôn với con gaí cuả tướng Võ Nguyên Giáp.
Một thí dụ khác là Đinh Thị Hoa, người VN đầu tiên tốt nghiệp MBA, cao học kinh doanh, tại Đaị Học Harvard. Khi về VN, Hoa lập công ty có tên là Galaxy. Trông thì đúng là mô hình kinh tế tư doanh. Nhưng Galaxy là một trong nhiều công ty thuộc sở hữu của con cái các lãnh tụ đảng. Khi WB cấp học bổng cho Hoa, cha của Hoa là Thứ Trưởng Ngoaị Giao.
Việc kết hợp tài sản của cả nước vào tay các gia đình quyền thế tại VN đang bóp méo nền kinh tế này: kinh tế sẽ đi theo ý muốn của một số ít người, chứ không đi theo nhu cầu của đa số dân. Và mạng lưới chủ nghĩa xã hội bè cánh chia chác kinh tế đang trở thành một đe dọa cho ổn định tương lai VN. VN có cơ nguy gặp số phận của nhiều đứa con cưng trước kia của WB -- bùng nổ kinh tế, rồi sẽ sụp đổ.
Các hãng quốc doanh lớn nhất được hưởng nguồn tài trợ tiền không minh bạch cho các dự án tài chánh với rất ít hợp lý về kinh tế. Vào tháng 6-2008, tới 28 hãng quốc doanh xài 1.5 tỉ đô để thiết lập hay mua cổ phần trong các công ty quản lý tiền đầu tư, các hãng chứng khoán, các ngân hàng thương mại và các hãng bảo hiểm. Có 3/4 công ty tài chánh VN hiện sở hữu của các hãng quốc doanh lớn nhất (còn gọi là tổng công ty).
Với tiền dễ dàng xài như thế, nên mới xảy ra hiện tượng các hãng quốc doanh phải hối lộ khách hàng, cán bộ và thanh tra để nhắm mắt cho vi phạm luật. Câu hỏi là, vào thời khoảng khủng hoảng, Đảng CSVN có thể trừng phạt chính các đảng viên của họ không để đưa kinh tế đen naỳ trở lại vòng kiểm soát. Nhưng bao lâu nữa mới có thể làm thế?
Vụ kết án các nhà dân chủ tuần này có phaỉ là dấu hiệu cho thấy mạng lưới tham nhũng của đảng, của quyền lực và của đặc quyền hiện đã ra ngoaì vòng kiểm soát?
Tim JOHNSTON viết về tư nhân hóa các Tổng Công ty Việt Nam
Ngày 06.01.2010, từ Bangkok, Ký giả Tim JOHNSTON, dưới đề mục TƯ NHÂN HÓA (PRIVATISATION) đăng trên FINANCIAL TIMES trang 15, đã viết về việc Nguyễn Tấn Dũng sắp cho tư nhân hóa hai Tổng Công ty lớn của Nhà Nước, đó là PETROLIMEX và VIETNAM STEEL CORP.
Petrolimex, trước đây gọi là Vietnam National Petroleum Corp., chính yếu nhập cảng dầu lửa cho cả nước. Hiện Petrolimex có tất cả 6'000 trạm phân phối xăng dầu trên tòan quốc.
Vietnam Steel Corp. là Tổng Công ty sản xuất và cung ứng sắt thép cho Việt Nam.
Phải chăng đây là tiến trình tư nhân hóa Kinh tế hay chỉ vì những lý do sau đây:
=> Tổng Công ty Nhà Nước lãng phí, thua lỗ mà Ngân qũy Nhà Nước thiếu hụt không còn sức bù thêm tài chánh nữa.
=> Một chiêu bài để con cháu đảng giầu có mua lại Công ty nhà nước làm tư hữu và giấu tài sản. Đây có thể gọi là gia đình hóa, hay nhóm đảng hóa tài sản quốc gia.
=> Trung quốc có nhiều tiền muốn chuyển ra nước ngòai. Nếu Trung quốc mua lại đa số phần hùn Petrolimex, thì họ giữ quyền kiểm sóat xăng nhớt tại Việt Nam. Đây sẽ nằm trong chương trình xâm lăng Kinh tế vậy.
=> Cũng vậy, nếu Trung quốc mua đa số phần hùn trong Tổng Công ty Sắt Thép Việt Nam, họ có thể biến Tổng Công ty này thành một chi nhánh Sắt Thép của họ đã khá mạnh trên Thế giới.
Tác giả Tim Johnston nhận định rằng: “The appetite for investment in Vietnam is quite low!“ (Sự ham muốn đầu tư vào Việt Nam còn hòan tòan thấp). Bỏ vốn đầu tư vào một Tổng Công ty vẫn lệ thuộc ở một hệ thống Luật pháp độc tài, độc đảng, đó là liều lĩnh.
Chúng tôi cũng nghĩ rằng giới Việt kiều có thể về thăm Quê Hương, giúp vốn cho người nhà làm ăn nhỏ, nhưng chưa dám bỏ số vốn lớn để hùn vào Petrolimex hoặc Vietnam Steel Corp.
Đại đa số dân chúng thì nghèo khổ, làm sao có tiền hùn vốn mua Petrolimex hoặc Vietnam Steel Corp. Chỉ có nhóm đảng Mafia, đã cướp bóc được nhiều tiền, cánh nhóm đảng Mafia Trung quốc, có thể bỏ vốn mua để cất giấu tài sản.
Jamil ANDERLINI viết về những Công ty của con Thủ tướng ÔN GIA BẢO và con Chủ tịch HỒ CẨM ĐÀO
Một sự trùng hợp hy hữu. Cũng trong thời gian này, Tác giả Tim ANDERLINI từ Bắc Kinh, cũng dưới đề mục tài sản tư, viết đăng trên tờ FINANCIAL TIMES ngày hôm qua 27.01.2010, trang 17, một bài về những Công ty của con trai Thủ tướng Oâng Gia Bảo và của con trai Chủ tịch Hồ Cẩm Đào. Con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, con rể của Tướng Võ Nguyên Giáp, tại Việt Nam, nhờ quyền lực độc tài đảng, mà làm ăn giầu có, thì tại Trung quốc, con trai Thủ tướng Oân Gia Bảo và con trai Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, cũng dựa quyền thế sinh sát độc đóan của đảng mà làm ăn thâu tóm tài sản.
ÔN YUNSONG, cũng gọi là Winston ÔN, con trai của Thủ tướng Oâng Gia Bảo, có Công ty tư nhân về tài chánh NEW HORIZON có thể đầu tư tiền tỷ Đo-la. Chúng tôi xin dịch một đọan viết của Tác giả Jamil ANDERLINI:
“Một Tập đòan Tài chánh được thành lập bởi con trai của Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung quốc, đã cùng với một số nhà đầu tư nước ngòai sắp đầu tư số lượng USD.1 tỷ vào lục địa Trung quốc.“
“ÔN Yunsong, cũng được gọi là Winston ÔN, là con trai độc nhất của Thủ tướng Trung quốc, có Tập đòan Tài chánh NEW HORIZON với vốn lúc đầu USD.750 triệu và sắp tăng lên USD.1 tỷ trong những tuần tới.“
Về những bí mật làm việc của những con cái các Lãnh đạo của đảng Cộng sản, Tác giả Jamil ANDERLINI viết: “The children of China’s Leaders enjoy unparalelled access to decision-makers and are seen as essential facilitators by foreign businesses operating in the country. But while their names can help attract investors, any public perception in China that they are trading on their family’s name can be politically devastating and details of their activities are often regarded as state secrets. Internet searches for information on NEW HORIZON and Winston WEN were blocked in China yesterday.“ (Những con cái của các Lãnh đạo tại Trung quốc được hưởng liên hệ không sánh được về việc liên hệ trực tiếp với những người có quyền quyết định và được coi như là những người dàn xếp chính yếu bởi nhà kinh doanh nước ngòai làm việc trọng xứ Tầu. Nhưng trong khi tên của những con cái các Lãnh tụ này có thể quyến rũ những nhà đầu tư, thì bất cứ những sự biết đến của quần chúng rằng những người con này đang làm ăn dựa trên tên gia đình của họ có thể gây tàn phá về mặt chính trị, và những chi tiết họat động của họ thường được coi là những bí mật nhà nước. Những truy tìm tin tức bằng Internet về Tập đòan New Horizon và về Winston ÔN đã được ngăn chặn lại hôm qua tại Trung quốc) (FINANCIAL TIMES 27.01.2010, trang 17).
Về riêng con trai của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Tác giả Jamil ANDERLINI cũng viết như sau: “In similar situation in July last year, the Central Propaganda Department ordered all Chinese search engines to block searches related corruption probe in Namibia involving Nuctech, the airport scanner group controlled by Hu Haifeng, 38-year-old son of Hu Jintao, China’s president“. (Trong hòan cảnh giống như vậy vào tháng Bẩy năm ngóai, Bộ Tuyên truyền Trung ương đã ra lệnh xử dụng tất cả những phương tiện tìm kiếm đóng chặt những truy tìm bằng chứng tham nhũng ở Namibia liên hệ đến NUCTECH, Tập đòan Air Scanner dưới quyền kiểm sóat của Hồ Haifeng, con trai 38 tuổi của Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch Trung quốc) (FINANCIAL TIMES 27.01.2010, trang 17).
Kinh tế nhóm đảng Mafia Trung quốc và Việt Nam đang tìm cách giấu cất tài sản bằng tư nhân hóa hay gia đình hóa những Công ty quốc doanh vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 28.01.2010
| | | |
QUỐC TẾ ÁP LỰC LÊN TRUNG QUỐC VỀ TỶ GIÁ TIỀN TỆ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 21.01.2010 UNICODE: http://VietTUDAN.net
Trong suốt những năm phát triển Kinh tế, Trung quốc đã cố thủ giữ tỷ giá đồng Yuan thấp gắn liền với Đo-la, phương tiện thanh tóan thương mại Quốc tế. Trung quốc cố tình xử dụng quyền lực độc đóan Chính trị để giữ tỷ giá đồng Yuan thấp hơn bình thường trong mục đích hạ giá hàng hóa để cạnh tranh xuất cảng. Thời Tổng thống BUSH đã có nhiều những thảo luận và áp lực lên Trung quốc để nâng cao tỷ giá đồng Yuân tới mức độ bình thường, nhưng Trung quốc vẫn tìm cách ngụy biện mà không thực hiện.
Những đòi hỏi Quốc tế hiện nay
Trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 430 tuần trước, 14.01.2010, chúng tôi đã viết về việc Quốc tế trở nên bực tức đối với những gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc đến nỗi phải nghĩ đến những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures du Protectionnisme). Một trong những tức bực nhất của Quốc tế là vấn đề Trung quốc chai lỳ cố thủ xử dụng tỷ giá thấp của đồng Yuan.
Ngày 28.12.2009, từ Bắc Kinh, Geoff BYER đã đăng một bài trên tờ FINANCIAL TIMES với đầu đề CHINA DISMISSES CURRENCY PRESSURE (Trung quốc từ chối không kể đến áp lực tiền tệ). Tác giả thuật lại trong một bài phỏng vấn của Tân Hoa xã hôm qua, Oâng Gia Bảo đã nói rõ: “Chúng tôi sẽ không thỏa mãn cho những áp lực dưới bất cứ hình thức nào ép buộc chúng tôi phải nâng tỷ giá tiền tệ. Như tôi đã nói với một số bạn hữu ngọai quốc: một mặt các ông đòi hỏi chúng tôi tăng tỷ giá tiền tệ, một mặt các ông lại đưa ra mọi biện pháp Che chở Kinh tế (Protectionnisme)!“ (trang 14)
Cùng ngày 28.12.2009, trong tờ THE WALL STREET JOURNAL, hai Tác giả James T. AREDDY và Shen HONG cũng viết rằng Oân Gia Bảo cũng đã từ chối những công kích của ngọai quốc về chính sách tiền tệ của Trung quốc, áp lực chúng tôi phải nâng tỷ giá đồng Yuan (trang 3).
Đầu năm 2010, những Quốc gia chính trong khối ASEAN, vì lý do Trung quốc cố thủ giữ tỷ giá đồng Yuan hạ, nên yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010.
Ngày 06.01.2010, Tác giả Julie DESNE từ Thượng Hải, viết trên tờ FIGARO rõ ràng về áp lực của Hoa kỳ và Liên Aâu đối với Trung quốc, rằng: “Washington et Bruxelles n’ont de cesse de dénoncer un yuan sous-évalue qui maintient les exportations chinoises anormalement bon marché, aggravant les déficits américain et européen face à la Chine.“ (Hoa Thịnh Đốn và Bruxelles không ngừng tố cáo tỷ giá đồng Yuan cố ý giữ hạ để giữ những xuất cảng của Trung quốc với giá hàng thấp không bình thường, khiến những cán cân thương mại Mỹ và Liên Aâu thua lỗ đối với Trung quốc) (trang 24)
Nâng tỷ giá đồng Yuan lên bao nhiêu ? Oâng Zhang BIN, một trong những Kinh tế gia Trung quốc làm việc cho Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội (CASS) của Nhà Nước Trung quốc, đã công khai đề nghị rằng Bác Kinh nên nâng tỷ giá đồng Yuan lên 10% (FIGARO 06.01.2010, trang 24). Nhà Nước Trung quốc có nghe theo lời khuyến cáo này không, đó là chuyện khác.
Cắt nghĩa ảnh hưởng tỷ giá tiền tệ trên giá cả hàng hóa xuất cảng
Chúng tôi sẽ có dịp viết chi tiết và dài về “Chiến tranh Tiền tệ“ mà Trung quốc đã nêu ra nhân việc xuống giá của đồng Đo-la trong khi ấy Trung quốc cũng như một số Quốc gia đang phát triển giữ khối Đo-la Dự trữ lớn. Thống đốc Ngân Hàng Trung Quốc thậm chí công khai kêu gọi thay đồng Đo-la bằng một lọai tiền tệ khác.
Trong phạm vị bài QUAN ĐIỂM này, chúng tôi chỉ cắt nghĩa những liên hệ trực tiếp tỷ giá tiền tệ đến giá cả hàng xuất cảng.
=> Từ Hội Nghị Tiền tệ Thế giới tại Bretton Woods năm 1944, Hệ thống Tiền tệ được bảo đảm dựa trên trung gian đồng Đo-la bởi vì Aâu châu đã mất hết vàng trong Thế Chiến II khả dĩ bảo đảm cho giá trị đồng tiền mỗi nước, trong khi ấy chỉ còn Đo-la có vàng làm bảo chứng giá trị. Hội nghị Bretton Woods chấp nhận Régime Etalon-Devise ($)-Or. Đồng Đo-la trở thành phương tiện thanh tóan Thương mại tòan cầu và là qũy Dự trữ trong các Ngân Hàng. Như vậy, khi xuất cảng hàng hóa, các nhà xuất cảng mỗi nước đều yêu cầu người mua phải thanh tóan bằng đồng Đo-la.
=> Aâu châu được tái thiết và Kinh tế phát triển. Xuất cảng hàng hóa, các nước Aâu châu đòi trả tiền bằng Đo-la. Khối sản xuất Dầu lửa cũng đòi việc thanh tóan bằng Đo-la. Nhật bản, Đài Loan tiến mạnh và xuất cảng, cũng thu Đo-la vào. Nhưng mỗi nước Aâu châu, Trung đông và Viễn đông lại có tiền riêng của mỗi nước để làm phương tiện thương mại trong nội địa: đồng Bảng Anh, đồng Quan Pháp, đồng Mark Đức, đồng Yen... Vì vậy mà tỷ giá giữa đồng tiền mỗi nước và đồng Đo-la phải được thiết lập. Tỷ giá giữa hai đồng tiền của hai nước cũng được thiết lập qua trung gian đồng Đo-la. Tỉ dụ FF.1 (Franc Pháp) tương đương với USD.0.25 cents và DM.1 (Mark Đức) tương đương với USD.0.50 cents. Nhờ qua trung gian đồng Đo-la, người ta thiết lập tỷ giá giữa Mark Đức và Franc Pháp: DM.1 = (USD.0.50 cents/ USD.0.25 cents) = FF.2.
=> Khi mà Đồng Đo-la lan tràn trên Thế giới, thì lượng vàng làm căn bản định nghĩa bảo chứng Đo-la không được bảo đảm. Bỏ Régime Etalon-Devise-Or, hệ thống Tiền tệ chỉ được bảo đảm dựa trên Khả năng Kinh tế của mỗi nước trong hệ thống gọi là Régime du Pouvoir d’Achat của đồng tiền. Kinh tế Hoa kỳ vẫn giữ sức mạnh quán quân Thế giới và đồng Đo-la vẫn được chấp nhận như phương tiện thanh tóan Thương mại Thế giới. Khi đồng tiền không được bảo đảm theo định nghĩa dựa trên lượng vàng nữa, mà chỉ dựa trên sức mạnh Kinh tế, thì tỷ giá giữa mỗi đồng tiền đối với Đo- và tỷ giá giữa các đồng tiên quốc gia đối với nhau có những thay đổi tùy theo sức mạnh Kinh tế mỗi quốc gia.
=> Ở đọan trên, chúng tôi nói đến Khả năng Kinh tế quốc gia dựa trên đó một đồng tiền quốc gia được thẩm định giá trị và do đó tạo lý do thứ nhất cho sự thay đổi (Flexibilité) của tỷ giá giữa đồng tiền quốc gia và Đo-la và giữa các đồng tiền quốc gia với nhau. Trong đọan này, chúng tôi nói đến lý do thứ hai của sự thay đổi tỷ giá đối với một ngọai tệ (Đo-la) dựa trên CUNG và CẦU ở Thị trường Tiền tệ giữa đồng tiền quốc gia và ngọai tệ ở một nước. Tại một quốc gia, có việc nhập ngọai tệ do xuất cảng và việc xuất ngọai tệ do nhập cảng. Cụ thể là phương tiện thanh tóan xuất nhập cảng là đồng Đo-la. Như vậy có Thị trường trao đổi giữa đồng tiền quốc gia với ngọai tệ Đo-la do Xuất Nhập cảng làm thay đổi CUNG và CẦU đo-la và đồng tiền quốc gia trên Thị trường. Khi CUNG và CẦU thay đổi ở Thị trường Tiền tệ, thì tỷ giá giữa đồng tiền quốc gia và đồng Đo-la có có những bấp bênh thay đổi (Flexible et Flottant). Đây là lý do thứ hai làm thay đổi tỷ giá giữa ngọai tệ và tiền quốc gia.
=> Thị trường Tiền tệ mỗi quốc gia như nói trên đây tùy thuộc cán cân Thương mại mỗi nước, nghĩa là thặng dư Xuất-Nhập cảng hay thiếu hụt Xuất-Nhập cảng. Nói thặng dư Xuất-Nhập cảng nghĩa là Xuất cảng lớn hơn Nhập cảng và ngược lại thiếu hụt Xuất-Nhập cảng nghĩa là Nhập cảng cao hơn xuất cảng. Xuất cảng cao hơn Nhập cảng tức là quốc gia thu vào nhiều Đo-la (ngọai tệ chính thanh tóan Xuất-Nhập cảng). Nhập cảng cao hơn Xuất cảng tức là quốc gia cho ra ngòai nhiều Đo-la. Chi tiêu trong nước bằng tiền quốc gia. Vì vậy khi Xuất cảng nhiều và thu vào nhiều Đo-la, thì những nhà xuất cảng phải đổi Đo-la ra để chi tiêu trong nước, tức là phía CẦU đồng tiền quốc nội phải tăng. Khi tăng CẦU tiền quốc nội, thì giá trị tiền quốc nội trở thành mắc giá sánh với Đo-la. Tỷ giá giữa đồng tiền quốc nội sánh với Đo-la phải tăng. Nhưng nếu Nhập cảng nhiều hơn Xuất cảng, thì phía CẦU Đo-la tăng, vì vậy Đo-la mắc giá hơn tiền quốc nội.
=> Theo nguyên tắc CUNG và CẦU ở Thị trường Tiền tệ quốc nội trên đây, Trung quốc Xuất cảng nhiều hơn Nhập cảng, thì họ thu vào nhiều Đo-la hơn là chi tiêu Đo-la ra nước ngòai. Các nhà Xuất cảng phải đổi Đo-la ra đồng Yuan, tiền quốc gia, để chi tiêu trong nước. Phía CẦU đồng Yuan phải tăng, nghĩa là đồng Yuan phải lên giá sánh với Đo-la. Đó là tỷ giá tự nhiên giữa đồng Yuan và đồng Đo-la. Trong bao nhiêu năm Xuất cảng hàng hóa, Trung quốc thu vào số lượng lớn Đo-la và phải chi tiêu trong nước bằng đồng Yuan, tiền quốc gia. Những nhà Xuất cảng hàng Trung quốc tăng phía CẦU đồng Yuan để chi tiêu ở Trung quốc. Tỷ giá đồng Yuan phải lên cao. Đó là tỷ giá được gọi là tự nhiên theo luật CUNG và CẦU của đồng tiền quốc nội ở Thị trường Tiền tệ nếu có tự do.
=> Nhưng khuynh hướng tăng tỷ giá giữa đồng Yuan và Đo-la tại Trung quốc đã bị sự ngăn chặn bởi quyền lực Chính trị. Người ta gọi đây là sự can thiệp Nhà Nước độc đóan vào Luật CUNG và CẦU ở một Thị trường. Khi khuynh hướng tự nhiên là tỷ giá giữa đồng Yuan và đồng Đo-la phải cao hơn, thì Nhà Nước ấn định một tỷ giá thấp hơn. Đây là việc đặt “Giá trần nhà“ (Prix plafond) để ngăn chặn khuynh hướng tăng giá. Việc ngăn chặn với “giá trần nhà“ này luôn luôn tạo ra Chợ Đen và là nguồn gốc của sự ăn bẩn, hối lộ, đặc quyền.
=> Tại sao Nhà Nước Trung quốc làm công việc đặt “Giá trần nhà“ để ngăn chặn khuynh hướng tăng tỷ giá tự nhiên giữa dồng Yuan và đồng Đo-la ? Lý do là để làm hạ giá hàng hóa Trung quốc xuất cảng. Thực vậy, ở Thị trường Thương mại hàng hóa, phương tiện cạnh tranh chính yếu là giá cả hàng hóa. Mục đích của họat động Kinh tế là thu vào Lợi nhuận tối đa. Lợi nhuận là độ lớn giữa Giá bán và Giá thành. Ơû Thị trường cạnh tranh gay gắt, người ta rất khó tăng Giá bán, nhưng có thể hạ Giá thành để làm tăng độ lớn của Lợi nhuận. Kinh tế gia Paul SAMUELSON nói ra như một định luật:“Trên thị trường cạnh tranh dài hạn, Lợi nhuận có khuynh hướng triệt tiêu“. Nhưng có những Xí nghiệp vẫn sống vì thu được Lợi nhuận vì họ biết quản trị Giá thành thấp. Hàng hóa Trung quốc thuộc chính yếu những hàng hóa xử dụng thường ngày cho đại đa số quần chúng nghèo, không cần phẩm chất cao. Sản xuất những hàng hóa này không cần phải chi tiêu thiết bị Kỹ thuật đắt giá, mà chỉ xử dụng chính yếu Nhân lực. Trung quốc xử dụng độc đóan Chính trị để khai thác khối Nhân lực lớn với tiền lương rẻ mạt. Đồng thời, một cách hạ giá thành sản xuất nữa là tăng số lượng sản xuất, điều mà Trung quốc có thể làm.
=> Khi xử dụng quyền Chính trị Nhà Nước để giữ tỷ giá đồng Yuan hạ dối với Đo-la, đó là việc họ hạ thêm giá hàng xuất cảng để quyến rũ những nhà mua hàng từ nước ngòai có đựơc đồng Yuân hạ để mua hàng, chi tiêu tại Trung quốc. Đây cũng là việc hấp dẫn những Xí nghiệp Liên quốc gia (Multinationales) xử dụng vốn Đo-la, mua được đồng Yuan với giá rẻ để sản xuất hoặc xuất cảng ra nước ngòai bán thu vào Đo-la mắc giá. Mức độ Lợi nhuận tăng rộng từ giá hạ sản xuất tại Trung quốc với chi tiêu đồng Yuan rẻ, đến giá xuất cảng thương mại với giá Đo-la cao.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 21.01.2010
| | | |
GIAN GIẢO KINH TẾ TQ LÀM THẾ GIỚI BỰC TỨC VÀ CÓ BIỆN PHÁP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 14.01.2010 UNICODE: http://VietTUDAN.net
Những gian lận Kinh tế/ Thương mại của Trung quốc dần dần xuất hiện. Trong tình trạng phát triển Kinh tế bình thường hoặc hồ hởi, người ta dễ bỏ qua những gian lận ấy. Nhưng ngày nay, sau việc khó khăn phục hồi Kinh tế hậu Khủng hỏang, nhất là tình trạng thất nghiệp tăng mạnh khắp nơi, những gian lận ấy được phanh phui ra và những biện pháp chế tài gian lận sẽ được đặt ra và áp dụng.
Những gian lận Kinh tế/ Thương mại Trung quốc
Trong Hội Nghị Copenhague vừa qua, người ta thấy thái độ quá lì lợm của Trung quốc làm nguyên nhân chính cho bế tắc những đàm phán của Hội Nghị. Thái độ khăng khăng của Trung quốc gồm hai điểm: (i) thứ nhất là Trung quốc nhất định bám sát Ký kết Kyoto theo đó thì các nước đã kỹ nghệ hóa phải tài trợ cho những nước chưa phát triển để giảm thiểu thải khí độc trong đó có Trung quốc là nước được hưởng tài trợ này; (ii) thứ hai là Trung quốc nhất định không cho phép bất cứ những thanh tra, kiểm điểm nào đến từ nước ngòai hay một tổ chức nào gồm một số nước được trao trách nhiệm kiểm sóat, thanh tra thực hiện việc giảm thiểu khí độc.
Trung quốc nại ra vấn đề Chủ quyền Quốc gia để nhất định không nhượng bộ điểm thứ hai trên đây. Hoa kỳ, qua Ngọai trưởng Hilary CLINTON, đã nhấn mạnh đòi hỏi thanh tra này bởi lẽ Trung quốc đứng đầu trong việc thải khí độc, mà nếu không có kiểm điểm việc thực hiện, thì những cố gắng gỉam thiểu khí của các nước khác trở thành vô ích.
Thái độ cố thủ của Trung quốc đã cho các nước khác dự đóan một sự gian lận nào đó mà Trung quốc không muốn cho ai biết.
Thực ra sự nghi ngờ về lòng ngay thẳng của Trung quốc ở lãnh vực Kinh tế/ Thương mại đã có một số biểu lộ với chứng cớ từ đã một số năm nay. Hình ảnh về gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc mỗi ngày mỗi hiện ra rõ hơn qua những sự việc sau đây:
1) Thương hiệu MADE IN CHINA mỗi ngày mỗi giảm xuống qua những kiểm chứng có tính cách khoa học đối với một số những hàng hóa Trung quốc:
* Thực phẩm, sữa, bánh kẹo mang nhiều lượng mélanine có hại cho sức khỏe. Một số những thực phẩm được sản xuất thiếu những điều kiện vệ sinh đòi hỏi.
* Hàng nông nghiệp mang dấu vết tồn tại của những chất sát trùng hoặc những hóa chất nguy hại.
* Những đồ chơi cho trẻ con mang nước sơn có thể sinh bệnh, nhất là khi trẻ con cho vào miệng ngậm.
* Hàng công nghệ đẹp mã, với giá rẻ, nhưng chất liệu xử dụng không tốt và dễ hư hỏng trong một thời gian rất ngắn.
* Những thuốc giả đem bán tại những nước nghèo, nhất là tại Phi châu, không những không chữa được bệnh mà có thể gây thêm những bệnh khác.
* Một số những vật liệu xây cất cũng được sản xuất với chất liệu kém, khiến những công trình xây cất nhằm dài hạn bị hư hỏng trước hạn kỳ dự trù.
2) Những xí nghiệp, những nhà máy sản xuất nhằm sản xuất cấp thời để xuất cảng hàng hóa thâu tiền mau chóng. Việc tổ chức nhà máy đã không tôn trọng những những đòi hỏi thiết lập những phương tiện bảo vệ môi trường. Kỹ nghệ Trung quốc đã làm ô uế và phá họai môi trường mà dân chúng phải hứng chịu. Có lẽ đây là lý do mà Trung quốc cố thủ không cho một kiểm sóat, thanh tra nào từ nước ngòai để có thể tố giác những gian lận công nghệ hóa của đảng CSTQ, nhóm Mafia làm Kinh tế riêng cho nhóm.
3) Ai cũng biết việc xử dụng có tính cách bóc lột nhân lực tại Trung quốc. Nhân công bị khai thác không tương xứng với đồng lương. Một số những nhà luân lý, nhậy cảm về nhân quyền đã lên tiếng kêu gọi từ chối việc xử dụng hàng Trung quốc.
4) Trung quốc đã xử dụng vốn dự trữ để khai thác tài nguyên, nhất là nguyên vật liệu như quặng, khí đốt thiên nhiên, dầu lửa... từ nhưng nước nghèo, có thể qua những hối lộ cho những chính quyền những nước này:
* USD.25 tỉ cho vùng Trung Á. Tại vùng này, có những va chạm quyền lợi với Nga. Nga không dễ dàng gì mà để Trung quốc yên lành khai thác chính trong vùng đang mang nhiều liên hệ có tính cách lịch sử với Nga.
* USD.45 tỉ cho những nước nghèo Á dông. Thái độ nghi ngại của ASEAN là tất nhiên. Những nước Á châu như Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Việt Nam... đã quá am tường tính cách làm ăn của người Trung quốc.
* USD.42 tỉ cho một số nước Phi châu. Tại vùng này, Aâu châu đã lên tiếng gọi đây là chủ trương Tân thuộc địa của Trung quốc. Những nước Phi châu đã là cựu thuộc địa của Anh, Pháp, Bồ Đào Nha... Lục địa cổ Aâu châu cần nguyên vật liệu từ Phi châu. Cách đây chừng 25 năm, Mỹ đã có nhũng đụng độ với Pháp về quyền lợi dầu lửa tại vùng Vịnh Guinée. Mỹ cũng đành phải nhượng bộ với những cựu Thực dân Pháp lâu đời ở vùng này.
Việc khai thác nguyên vật liệu cũng đồng thời nằm trong chủ trương xuất cảng sang những vùng nghèo trên đây:
-> Những thiết bị cũ của Trung quốc
-> Những vật liệu xây cất sản xuất rẻ tiền từ Trung quốc
-> Khối nhân công rẻ tiền của Trung quốc. Hiện tại Phi châu có chừng trên 100'000 nhân công Trung quốc..
Trung quốc muốn trở thành chủ nợ cũng như họ đã là chủ nợ của CSVN để dễ dàng bắt ép con nợ phải nhận những nhượng quyền về Kinh tế/Thương mại. Những phản ứng của dân chúng Việt Nam về Beauxite cắt nghĩa những phản ứng sẽ xẩy ra ở những xứ nghèo con nợ khác.
5) Việc cố thủ xử dụng tỉ giá đồng Yuan thấp sánh với Mỹ-kim nhằm nâng đỡ xuất cảng đã từ lâu gây bực tức cho Mỹ, Liên Aâu và một số lớn những nước Á châu. Một trong những lý do chính đang gây bực tức tại các nước Á châu khiến những nước chính trong khối ASEAN yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010.
Báo Philippine Star trong tháng 12/2009 có bài cho rằng việc Trung Quốc duy trì tỉ giá đồng nhân dân tệ như hiện nay khiến hàng xuất khẩu của Asean chịu thiệt hại nặng.
Kinh tế gia Zhang BIN, làm việc cho Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội tại chính Trung quốc, đã lên tiếng khuyến cáo Trung quốc phải nâng tỉ giá đồng Yuan lên 10% sánh với Mỹ-kim.
6) Hoa kỳ đang có những nghi ngờ về liên hệ giữa Iran và Trung quốc khiến Trung quốc có thái độ lừng khừng đối với việc chế tài chương trình Nguyên tử của Iran. Trung quốc cần dầu lửa và có quyền Veto ở Liên Hiệp Quốc.
Sự gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc đã và sẽ tạo ra những phản ứng thất lợi cho chính Trung quốc. Không thể lừa người khác lâu dài được.
Chính sách Kinh tế Trung quốc làm tổn hại đến mọi Quốc gia
Đó là khẳng định của Ban Biên Tập Nhật Báo New York Times ngày 13 tháng 12 năm 2010
(http://www.nytimes. com/2010/ 01/12/opinion/ 12tue1.html) (Người dịch: Đoàn Hưng Quốc):
“Nền kinh tế của Trung Quốc rất thành công trong vòng 20 năm qua bằng cách mở cửa cho đầu tư từ nước ngoài và kềm giá đồng Quan (so với đồng Mỹ kim), họ đã phát triển vượt bực nhờ vào sức tiêu thụ của các nước phát triển.
Nhưng đồng thời chính sách này đã mang đến nhiều yếu kém cho nền kinh tế toàn cầu. Nếu Bắc Kinh tiếp tục đường lối nói trên thì nhiều nước sẽ phải dùng đến biện pháp duy nhất là bảo hộ mậu dịch nhằm ngăn chận hàng hoá giá rẻ giả tạo từ Trung Quốc. Cuộc chiến mậu dịch một khi xảy ra rất khó kiểm soát, sẽ ảnh hưởng đến xuất cảng của mọi quốc gia và chận đứng phát triển nơi nơi.
Hàng hoá Trung Quốc đổ ào ạt ra thế giới đã đè bẹp các nhà sản xuất tại các nước đang phát triển. Việc này nếu đã tệ hại khi nền kinh tế thế giới còn phồn thịnh thì lại càng nguy hiểm hơn trong giai đoạn suy thoái hiện tại. Trong nhiều quốc gia các gói kích cầu đã không đạt được tác dụng vì tiền của chính phủ đầu tư rơi một phần nhằm mua đồ giá rẻ từ Trung Quốc nên không tạo công tạo được công ăn việc làm trong nước.
Sau khi thả nổi đồng Quan tăng giá dần trong vòng ba năm, Bắc Kinh từ mùa hè năm 2008 đã siết đồng Nhân Dân Tuệ theo giá trị Mỹ Kim và trụt xuống so với Euro và tiền Yen, tạo áp lực nặng nề đến Âu Châu và Nhật Bản.
Chính sách “làm nghèo các nước lân bang” của Bắc Kinh khiến nền kinh tế thế giới khó phục hồi. Khi các gói kích cầu chấm dứt thì các nước sẽ phải dựa vào xuất cảng để phát triễn trong hoàn cảnh dân chúng trong nước cắt giảm chi tiêu, nhưng xuất cảng sẽ khó hơn nếu hàng hoá Trung Quốc tiếp tục đổ ồ ạt với giá rẻ mạt. Cán cân mậu dịch nghiên về Trung Quốc rõ rệt từ tháng 12-2009 sau khi sút giảm trong vòng 1 năm, và dự đoán sẽ nhảy vọt trong năm 2010.
Bắc Kinh có thể chọn lựa các chính sách lành mạnh hơn, chẳng hạn như dùng trử lượng ngoại tệ khổng lồ vào các chương trình xã hội: bảo hiểm sức khoẻ, giáo dục và lương bổng hưu trí nhằm nâng cao đời sống dân chúng.
Bắc Kinh chắc hẳn sẽ phải đối phó với biện pháp giới hạn mậu dịch nếu tiếp tục kềm giá đồng Quan. Chính quyền Obama đã phải nhượng bộ áp lực trong nước và tăng thuế lên vỏ xe hơi và ống sắt nhập cảng từ Trung Quốc. Quốc Hội Mỹ giờ này vẫn im lặng nhưng ngườì ta có thể cảm nhận tâm lý trả đủa tăng dần mọi nơi.
Ấn Độ đã nộp một chồng hồ sơ tố cáo các vi phạm mậu dịch tự do của Trung Quốc. Diễn Đàn Hợp Tác Mậu Dịch Á Châu – Thái Bình Dương mới đây kêu gọi “thả nổi giá biểu tiền tệ theo thị trường”, ý muốn ám chỉ chính sách siết giá đồng Quan của Bắc Kinh.
Một trận chiến mậu dịch với Trung Quốc sẽ tác hại không lường và ảnh hưởng lan rộng toàn cầu. Tự chế là cần thiết, nhưng chúng tôi (Ban Biên Tập Báo New York Times) e rằng không ai có thể chờ đợi lâu hơn nữa vào Bắc Kinh thay đổi chính sách của họ“.
Những biện pháp Che Chở Mậu Dịch
Tại cuộc Họp tại Luân Đôn của G20 đầu tháng tư 2009, vấn đề cấp bách cho G20 là Che Chở Kinh tế (Protectionism).
Chính những quốc gia thuộc G20 đã tự động lấy những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes). Tổng cộng đã đếm được 66 Biện Pháp. Đó là lời la hỏang của Oâng ZOELLICK, Chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), của Oâng STRAUSS, Tổng Giám đốc Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF/FMI), của Oâng LAMY, Tổng Giám đốc Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC).
Con Ma CHE CHỞ KINH TẾ (Spectre Protectionnisme/Spectre Protectionism) hiện ra nguyên hình, chứ không phải là bóng ma chập chờn. Đó là vấn đề mà G20 phải giải quyết thực sự. Nhưng vấn đề này không thể giải quyết được.
Những nước đến cuộc Họp thượng đỉnh sẽ cao giọng nêu ý chí triệt hạ Protectionism, nhưng thực tế mỗi nước đã tự động lấy những Biện Pháp Che Chở Kinh tế rồi. Vì vậy, về vấn đề này, những thành viên đến họp G20 chỉ nói xạo. Miệng nói lớn tiếng là Tự do Mậu Dịch, nhưng lại âm thầm làm Che Chở Kinh tế.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 14.01.2010
| | | |
TỰ DO MẬU DỊCH CAFTA
Trần Khải
Việt Nam gỡ rào thương mại, và hàng Trung Quốc sẽ ào ạt tiến vào. Cuộc chiến mới đang diễn ra: trong khi các quan chức Hà Nội trấn an dư luận rằng tự do mậu dịch giữa khối ASEAN và Trung Quốc sẽ là cơ hội cho hàng Việt Nam chiếm lĩnh thị trường TQ, thì thực tế như dường diễn ra là hàng Việt đang bị đẩy lùi về phương Nam.
Tình hình lúc đầu tưởng như là dễ ăn, vì trong cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu mấy năm qua, nhiều nước vùng Liên Âu và Hoa Kỳ nghiêng về chính sách bảo hộ mậu dịch, kiếm cớ gây sự dựng rào cản thương mại, từ giày da tới hàng may mặc, cho tới cá basa... cho nên Trung Quốc được khối ASEAN nhìn như một thị trường khổng lồ và dễ dãi. Nhưng thực tế, thấy vậy mà không phảỉ vậy.
Hiệp ước có tên gọi tắt là CAFTA, viết đủ là China-Asean Free Trade Area. Đã hiệu lực kể từ ngày 1-1-2010. Được ca ngợi là thị trường tự do mậu dịch lớn nhất thế giới, CAFTA được mô tả là có 1.7 triệu khách hàng, với tổng sản lượng quốc dân là 2 ngàn tỉ đô la, và có tổng trị giá thương mại là 1.3 ngàn tỉ đô la. Trong đó, trị giá thương mại hiệp ước này là 200 tỉ đô.
Hiệp ước viết rằng, thương mại giữa TQ và 6 nước khối Asean trong đó có Brunei, Indonesia, Mã Lai, Phi Luật Tân, Thái Lan và Singapore đã miễn thuế quan cho hơn 7,000 mặt hàng.
Vào năm 2015, các nước Asean mới vào, trong đó có Việt Nam, Lào, Cam Bốt và Miến Điện, sẽ vào sân chơi miễn thuế quan.
Thế là Trung Quốc, và chủ yếu là TQ, ca ngợi ầm ĩ rằng CAFTA sẽ mang “lợi ích hỗ tương” cho cả TQ và Asean. Thực tế, lợi nhiều nhất lại là TQ.
Phía Việt Nam, khi nhiều nhà quan sát nêu lên nỗi lo là sẽ bị hàng TQ tràn vào đè bẹp, các quan chức trấn an liền.
Báo Tìn Nhanh dựa theo bản tin báo Tuổi Trẻ tuần qua đăng bài nhan đề “E ngại hàng giá rẻ tràn vào Việt Nam,” ghi lại cuộc phỏng vấn một quan chức. Bản tin trích:
“VN bắt đầu thực hiện cắt giảm thuế cho các mặt hàng Trung Quốc để đến năm 2015, 90% dòng thuế sẽ về 0-5%. Liệu hàng Trung Quốc có ồ ạt vào VN thời gian tới? Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Lê Quang Lân - phó vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công thương) - cho biết:
- Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) bắt đầu thực thi từ năm 2005. Mục tiêu của hiệp định là trong mười năm sẽ tạo ra khu vực thương mại tự do, không thuế quan giữa các nước ASEAN - Trung Quốc. Năm 2010 là một năm quan trọng với sáu nước ASEAN cũ là Singapore, Philippines, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Brunei khi 90% dòng thuế sẽ giảm xuống mức 0-5%, trong đó chủ yếu là 0%. Riêng VN từ năm 2010 cũng bắt đầu cắt giảm để đến năm 2015, 90% dòng thuế đối với hàng Trung Quốc sẽ về 0-5%. Tuy thực hiện chậm hơn nhưng ta vẫn được hưởng đầy đủ ưu đãi của Trung Quốc như các nước ASEAN khác.
* Hàng Trung Quốc chưa được giảm thuế đã tràn ngập, hiệp định này sẽ mở ra những thách thức lớn hơn đòi hỏi doanh nghiệp VN cần nhanh chóng nhận thức và vào cuộc?
- Phải nói thách thức khi cắt giảm thuế quan với hàng Trung Quốc là rất lớn, tuy nhiên VN cũng có cơ hội. Thực tế trong chương trình thu hoạch sớm, mặc dù VN chưa giảm thuế mạnh cho Trung Quốc nhưng phía Trung Quốc đã giảm thuế trước cho hàng VN. Vì vậy, nhiều mặt hàng nông sản của VN đã xuất khẩu mạnh vào Trung Quốc thời gian gần đây.
Trên nguyên tắc, chương trình thu hoạch sớm rất có lợi cho VN với nhiều hàng nông sản như rau quả, thủy, hải sản... được giảm thuế. Vì vậy, riêng những mặt hàng theo chương trình thu hoạch sớm VN lúc nào cũng xuất siêu. Chương trình đang mang lại nhiều lợi ích cho VN vì tất cả hàng nông sản xuất vào Trung Quốc đều cơ bản đã có thuế suất 0%. Từ năm 2004 đến nay, năm nào ta cũng xuất siêu. Riêng năm 2008 trong chương trình thu hoạch sớm, VN xuất khẩu sang Trung Quốc 365 triệu USD, nhập khẩu 131 triệu USD.
Chúng ta cũng bước đầu xuất khẩu được nhiều sản phẩm may mặc, giày dép, thiết bị sang Trung Quốc với tỉ trọng ngày một tăng. Tôi xin nhấn mạnh doanh nghiệp của ta vẫn cần chủ động hơn nữa để tận dụng ưu đãi của ACFTA trong các năm tới...” (hết trích) Nghĩa là, qua lời ông Phó Vụ Trưởng Lê Quang Lân, phía Việt Nam hưởng lợi vô số kể. Nhưng thực tế có đúng là như thế không? Có đúng là hàng VN bán vào TQ ào ạt không, hay là ngược lại, chưa thực hiện gì đã thấy hàng TQ tràn vào VN như thác lũ?
Bản tin BBC tuần này đưa nỗi bi quan ngay ở nhan đề bản tin, “Cửa chính và cửa sau đều là hàng TQ,” viết: “... thách thức đối với hàng Việt Nam là vô cùng lớn, như cuộc trao đổi sau đây giữa BBC Việt Ngữ với bà Phạm Chi Lan, chuyên viên kinh tế từ Việt Nam. ..
BBC: Lộ trình của Hiệp định tự do Thương mại Asean Trung Quốc cho thấy tới năm 2015, 90 phần trăm dòng thuế đánh vào hàng Trung Quốc sẽ ở mức từ 0 đến 5%. Thưa bà liệu các công ty Việt Nam có chuẩn bị kịp không?
Phạm Chi Lan: Thực sự tôi lo đây là thách thức rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tôi lo rằng trong 5 năm nữa nhiều doanh nghiệp khi phải trực diện cạnh tranh với hàng TQ khi vào Việt Nam sẽ không dễ gì cạnh tranh nổi. Vì thời gian năm năm có thể không đủ cho họ để nâng cao năng lực cạnh tranh của họ để đối phó với hàng Trung Quốc.
Ai cũng biết nâng cao năng lực cạnh tranh không dễ dàng, nó phụ thuộc một phần vào doanh nghiệp, phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, vào điều kiện phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam. Các điều kiện phát triển hiện nay có nhiều mặt chưa thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đây là thực tế không thể nào bỏ qua. Trong khi về phía Trung Quốc có thể nói là các nhà cầm quyền của Trung Quốc cũng đã có nỗ lực rất lớn và có các chính sách rất khôn ngoan để hỗ trợ cho doanh nghiệp của họ. Vì vậy vị thế của họ có thể luôn luôn là tốt hơn so với vị thế của các doanh nghiệp Việt Nam ở ngay thị trường của mình...”(hết trích)
Phía Indonesia đã lạnh cẳng rồi. Như thế, có phải VN chưa thấy quan tài chưa đổ lệ?
Một phát ngôn nhân Bộ Kỹ Nghệ Indonesia mới tuần qua nói với nhật báo Mỹ Wall Street Journal, rằng chính phủ Indonesia đã chính thức trình một lá thư lên ASEAN để xin cho hiệp ước tự do thương mại với TQ hoãn cho tới tháng 1-2011. Nghĩa là xin hoãn một năm.
Indonesia thấy rằng khi miễn thuế quan cho 90% hàng hóa nhập khẩu – trong đó có các sản phẩm như may dệt, thép và hóa chất -- sẽ làm hại cho các kỹ nghệ của Indonesia vì hàng TQ nhập vào bán giá quá rẻ. Và Indonesia cần hoãn một năm để sửa soạn nội lực đón “thác lũ thương mại” từ TQ.
Không chỉ có Indonesia, nhiều viên chức Phi Luật Tân cũng lo ngại. Báo Inquirer.net của Phi Luật Tân hôm 14-1-2010 đăng bài của Walden Bello -- một dân biểu Phi Luật Tân, thuộc Đảng Hành Động Công Dân và bản thân là nhà nghiên cứu ở viện Focus on the Global South -- cho thấy rằng, cứ tưởng khi Liên Âu và Mỹ gây sự khép thị trường, khối Asean nhảy sang tìm thị trường tự do mậu dịch với TQ hóa ra lại còn tệ hại hơn.
Trước tiên là tình hình hàng lậu từ TQ, thực tế đã làm hỗn loạn nhiều nền kinh tế của ASEAN rồi. Bello viết rằng có khoảng 70-80% tiệm giày ở VN đang bán giày TQ nhập lậu, và do vậy, kỹ nghệ giày VN thiệt hại nặng lắm rồi. Trường hợp Phi Luật Tân cũng tương tự như thế, theo bài viết nhan đề “The China-Asean Free Trade Area: Propaganda and Reality” (Vùng Tự Do Thương Mại TQ-Asean: Tuyên Truyền và Thực Tiễn).
Không chỉ giaỳ da, mà kỹ nghệ rau quả cũng thiệt hại vì hàng TQ nhập lậu.
Bello còn viết, “Thực tế, nhiều mặt hàng đã bị ảnh hưởng xấu rồi, kể cả thép, giấy, xi-măng, hóa dầu, nhựa plastic, và ngói sứ.”
Bello dẫn ra bản nghiên cứu của Joseph Francia và Errol Ramos từ tổ chức Free Trade Alliance, trong đó viết, “Nhiều công ty Phi Luật Tân, ngay cả những công ty có tin1h cạnh tranh toàn cầu, đã phải đóng cửa hay là phải giảm sản lượng và cắt bớt nhân viên, chỉ vì hàng lậu tràn vào.”
Bello viết, “Bây giờ có nỗi lo là hiệp ước CAFTA sẽ đơn giản hợp pháp hóa việc nhập lậu và làm tệ hại thêm ảnh hưởng vốn đã xấu vì hàng TQ nhập vào đối với kỹ nghệ và nông nghiệp ASEAN.”
Thực tế ra sao? Chỉ thấy rằng, trong khi quan chức Hà Nội lạc quan, thì nhiều nhà phân tích thị trường, cả Việt Nam, Indonesia và Phi Luật Tân đều bi quan.
Hiệp ước CAFTA có vẻ như khúc gân gà rồi vậy.
| | | |
NĂM 2010: NHẬN ĐỊNH CHUNG TÌNH HÌNH KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 07.01.2010 UNICODE: http://VietTUDAN.net
Tóm tắt nội dung Bài này đã được Đài RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn và ghi âm hôm qua, 06.01.2009. Hôm nay 07.01.2010, bài phỏng vấn sẽ được phát thanh về Việt Nam.
Nhật Báo Anh FINANCIAL TIMES thứ Hai 04.01.2010 đăng ở trang 19 bài phỏng vấn một số những nhà Quản trị xí nghiệp lớn Quốc tế dưới đầu đề SỰ NGHIÊM KHẮC LÀ TIẾNG NÓI CHÌA KHÓA KHI NHỮNG NHÀ QUẢN TRỊ ĐẶT CHƯƠNG TRÌNH CHO NĂM TỚI (Austeriry the Key word as Business Leaders plan for the coming year). Cũng Vậy, Nhật Báo LE MONDE thứ Ba 05.01.2010 đăng ở trang 13 bài phỏng vấn 5 nhà Quản trị xí nghiệp lớn của Pháp với đầu đề là HỒI PHỤC KINH TẾ NÀO CHO 2010 ? DỰ ĐÓAN CỦA 5 CHỦ XÍ NGHIỆP (Quelle eprise en 2010 ? Le Pronostic de cinq Patrons). Năm nhà Quản trị này thuộc những ngành họat động khác nhau : Phân phối Hàng hóa, Sản xuất Xe Hơi, Bưu điện, Xây Cất và Chuyên Chở.
Nhận định của những Nhà Quản trị như thế nào ?
=> Theo Nhật Báo FINANCIAL TIMES
Oâng Michael O’LEARY, Chủ tịch Công ty Hãng Máy Bay hạ giá RYANAIR đã tóm tắt thái độ của các Xí nghiệp Tây phương bằng những chữ « Phải nghiêm khắc về Chi tiêu ». Oâng đã gọi năm 2010 là năm rất bảo thủ (“2010 is a year to be very conservative“)
Ong Alan MIDDLETON, Giám đốc Điều Hành của Công ty PA Tư Vấn của Anh quốc, cảnh cáo rằng các Xí nghiệp phải lo tạo dựng vững chắc Qũy lưu hành thường xuyên (Liquidité permanente) họat động, chứ không đầu tư xả láng và phiêu lưu.
Oâng Feike SIJBESMA, đứng đầu Tập đòan DSM của Đức nói : »Qũy lưu hành thường xuyên và canh chừng chi tiêu là hai ưu tiên trong suốt năm 2010 ».
Oâng Michel DEMARE, Giám đốc Tài chánh của Tập đòan Điện ABB của Thụy sĩ, cho rằng mối quan tâm của những Xí nghiệp Liên quốc gia là di chuyển một số đơn vị sản xuất sang những nước bắt đầu phát triển để giảm chi tiêu.
Một Phúc trình của Ngân Hàng UBS cho rằng trong năm một số những Xí nghiệp yếu sẽ bị mua và biến mất.
=> Theo Nhật Báo LE MONDE
Oâng Michel-Edouard LECLERC, Chủ tịch Tập đòan Phân Phối Hàng Hóa LECLERC tuyên bố rằng năm nay 2010, Tiêu thụ vẫn còn giảm sút. Năm ngóai, thụt giá từ 4% tới 0%. Nếu giảm giá vẫn tiếp tục, thì đây là sự ngưng họat động của một số nhà phân phối.
Oâng Patrick PELATA, Tổng Giám đốc Hãng Renault, đưa ra ba yếu tố đình trệ: thứ nhất là Khả năng tài chánh tiêu thụ, thứ hai là sự Tin tưởng của giới tiêu thụ vào Kinh tế (như vậy mới dám tin tưởng lấy Tín dụng tiêu thụ), thứ ba là sự Già đi của sản xuất Xe Hơi.
Oâng Jean-Paul BAILLY, Chủ tịch Bưu Điện, nhận xét rằng việc Phục hồi Kinh tế rất khác nhau tùy theo từng Châu lục và việc Phục hồi ấy khá chậm chạp cho Aâu châu, nhất là Pháp.
Oâng Pierre-André De CHALANDAR, Tổng Giám đốc Tập đòan Xây Cất Saint-Gobain, nhận xét rằng năm 2009, họat động xuống rất thấp và ông rất thận trọng cho năm 2010 vì chưa thấy dấu hiệu phục hồi nào. Trong hệ thống liên đới sản xuất, Oâng lo ngại cho những khó khăn của những Công ty nhỏ và Trung bình hợp tác làm việc xây cất với Tập đòan lớn của Oâng.
Oâng Patrick MOLIS, Chủ tịch Hãng Chuyên chở Quốc gia, tuyên bố : »Năm 2010 sẽ rất bình lặng ở Pháp và Aâu châu, không có phục hồi mạnh. Thất nghiệp tăng là vấn đề chính yếu. Nó ảnh hưởng tới phía Cầu tiêu thụ. Mặt khác, đừng quá trông chờ vào đà phát triển của Trung quốc. Mức Tiêu thụ của 1.3 tỉ người Trung quốc chỉ tương đương với 15% mức Tiêu thụ của 300 triệu dân Mỹ. Chính Aâu châu và Hoa kỳ mới kéo theo Đầu tầu Tiêu thụ của Thế giới. Tại Trung quốc, việc phục hồi mang tính cách giả tạo. Họ đầu tư vào hạ tầng cơ sở, vào khả năng sản xuất, nhưng không có lối thóat tiêu thụ. Tại Aâu châu và đặc biệt tại Pháp, khuynh hướng tổng quát là thắt chặt đồng lương và giảm nhân viên.... Những Công ty nhỏ và trung bình, nếu có khả năng tài chánh, phải đầu tư để tạo công ăn việc làm. Những Xí nghiệp lớn thì tìm cách chuyển một số đơn vị sản xuất đi nơi khác, vì vậy giảm nhân viên tại Pháp và tại Aâu châu. »
Cắt nghĩa những nhận định bi quan cho năm 2010
Tổng quát mà nói, tình trạng đình trệ những họat động Kinh tế tùy thuộc vào phía CẦU tiêu thụ đúng như nghiên cứu của Kinh tế gia John M. KEYNES, ông tổ của nền Kinh tế Tiêu thụ (Economie de Consommation). Chính Tiêu thụ kéo theo Sản xuất (La Consommation mène la Production). Khi phía CẦU hàng hóa tăng, thì phía CUNG đầu tư để sản xuất. Phía Ngân Hàng, Tài chánh tin tưởng và dễ dàng cho Tín dụng.
=> Aûnh hưởng tâm lý của cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế 2008/2009
Năm 2010 chưa quên Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh năm 2008 và Khủng hỏang Kinh tế năm 2009. Thực vậy, cuộc Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh đi từ lý do quá dễ dãi của phía giữ vốn. Giới Ngân Hàng/Tài chánh tạo ra những sản phẩm tài chánh riêng của họ để cấp Tín dụng và buôn bán những sản phẩm Tài chánh ấy để ăn lời cao và nhanh chóng trong Kỹ nghệ Tài chánh riêng của họ (Industries Financìeres). Họ khuyến khích giới Tiêu thụ nhắm mát chi tiêu dựa trên Tín dụng dễ dãi, nghĩa là dựa trên ngưỡng vọng thu nhập tương lai. Giới sản xuất cũng dễ dàng có vốn đầu tư để sản xuất quá nhiều hàng hóa. Tiêu thụ và Sản xuất Kinh tế được thổi phồng lên như bong bóng mà những tác nhân Kinh tế như quên rằng đến một lúc nào đó bong bóng quá căng sẽ nổ. Thực vậy, khi giới Tiêu thụ, phía CẦU, ý thức về tiêu thụ quá lố, hoặc cảm thấy những hiệu quả thỏa mãn (Effets de Saturation), hoặc việc thu nhập tương lai không như ý hướng khả dĩ hòan Tín dụng, thì họ ngưng Tiêu thụ, giảm hẳn phía CẦU. Phía Ngân Hàng/Tài chánh không thâu hồi được Tín dụng và vỡ nợ hoặc thắt chặt lại việc cho vay cho cả phía CẦU và phía CUNG. Nền Kinh tế ngưng trệ, Khủng hỏang diễn ra.
=> Giữ thế thủ Tài chánh/ Kinh tế
Hình ảnh Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh và Kinh tế của những năm 2008/2009 vẫn còn sống trong đầu óc những nhà Quản trị Xí nghiệp khiến họ phải giữ những thận trọng cho năm 2010 như những phát biểu ở trên đây từ những Nhà Quản trị. Sự thận trọng bao gồm những điểm sau đây :
1) Giữ số vốn lưu hành chắc chắn để bảo đảm việc xoay sở những họat động của Xí nghiệp (Solvabilité).
2) Chắt bóp và căn cơ việc chi tiêu để có thể làm cho lợi nhuận tăng và do đó có tiền cho vào Qũy lưu hành (Liquidité) và Qũy dự trữ (Réserves). Không thể chi tiêu xả láng như trước với Tín dụng được dễ dàng cho bởi phía Ngân Hàng và Tài chánh.
3) Khi Kinh tế đi lên, các Xí nghiệp lạc quan và chi tiêu cho sản xuất. Khi Kinh tế đi xuống, thì các Xí nghiệp lo lắng về quản trị Chi tiêu ( Gestion des Dépenses, des Couts). Ở giai đọan khó khăn về tiền bạc, thì phải thắt lưng buộc bụng khi tiêu xài. Theo Paul SAMUELSON, ở một Thế giới cạnh tranh Kinh tế/Thương mại, khỏang cách lợi nhuận có khuynh hướng triệt tiêu, nên việc sống còn của Xí nghiệp tùy thuộc vào Quản trị Chi tiêu.
4) Chính vì lo lắng về quản trị Chi tiêu, mà các Xí nghiệp hướng về việc tái xử dụng những phương tiện sản xuất sẵn có. Trước khi đi mua cây bút chì mới, thì lục sóat trong ngăn kéo xem mình còn nửa cây bút chì gẫy chưa dùng hay không.
5) Cũng chính vì mối quan tâm quản trị Chi tiêu mà các Xí nghiệp chưa vội mướn thêm nhân công, đồng thời tìm cách chuyển những đơn vị sản xuất đến những nước có nhân công rẻ. Đây là lý do làm tăng thất nghiệp tại các nước đã Kỹ nghệ hóa : Hoa kỳ, Aâu châu, Pháp mà các nhà Quản trị trên đây đã đề cập tới.
6) Khi số thất nghiệp tăng, thì Kinh tế lại đi vào vòng luẩn quẩn. Tăng thất nghiệp có nghĩa là Thu nhập của giới Tiêu thụ giảm. Thu nhập giảm, thì phía CẦU giảm tác hại lên chính phía CUNG. Henry FORD đã áp dụng một chính sách lương bổng nâng đỡ phía CẦU khi Oâng nói:“Tôi trả lương hậu cho thợ để họ có tiền mua xe hơi mà tôi sản xuất“. Việc tăng thất nghiệp hiện nay, nhất là giới trẻ, làm giảm phía CÂU, sẽ tác hại lên chính phía sản xuất.
7) Một lý do nữa là giảm phía CẦU từ phía Nhà Nước. Các Nhà Nước của những Quốc gia đã Kỹ nghệ hóa đều thâm lạm Ngân Sách có tính dài hạn. Việc thâm lạm này là để cứu giới Ngân Hàng/Tài chánh. Chi tiêu Nhà Nước (Dépenses Publiques) chiếm vai trò khá quan trọng cho phía CẦU. Nhưng khi Ngân sách thâm lạm, thì tất nhiên Nhà Nước không thể chi tiêu, do đó làm giảm thên phía CẦU.
=> Thử nghĩ đến một vài đề nghị tích cực
1) Đầu tư vào những Công ty nhỏ và trung bình
Những nhận định bi quan trên đây đến từ những nhà Quản trị những Xí nghiệp lớn Liên quốc gia (Multinationales). Lời khuyên của Oâng Patrick MOLIS, Chủ tịch Tập đòan Chuyên chở Quốc gia Pháp là một trong những giải pháp cho tình trạng đình trệ và luẩn quẩn hiện nay. Đó là những Công ty Nhỏ và Trung bình đầu tư tạo công ăn việc làm. Chúng ta đã có kinh nghiệm của nước Ý cách đây 30 năm trước. Thực vậy, cách đây 30 năm, Kinh tế Ý dựa trên những Tập đòan lớn và hậu quả là dân thất nghiệp đình công. Từ những đại Xí nghiệp, Kinh tế Ý đã chuyển sang tiểu Xí nghiệp Gia đình để cứu vãn tình hình.
2) Đầu tư vào phương diện sáng tạo Kỹ thuật. Đây là ý tưởng của Oâng Jean-Paul BAILLY, Chủ tịch Bưu Điện Pháp. Oâng tuyên bố:“La crise des années 2008 et 2009 accélérera les innovations et les mutations technologiques, ce qui permettra une meilleure compétitivité des entreprises“ (LE MONDE 05.01.2010, page 13) (Khủng hỏang những năm 2008 và 2009 sẽ làm tăng tốc độ những sáng chế và những hóan chuyển kỹ thuật, điều cho phép tính cạnh tranh tốt nhất của những xí nghiệp). Thực vậy, những sáng chế thường phát xuất từ những trường hợp khó khăn, bế tắc mà người ta phải cố gắng tìm lối thóat.
Không thể quá tin tưởng vào đà phát triển Trung quốc
Đây là ý kiến của Oâng Patrick MOLIS. Thực vậy, cái nhìn của Thế giới vào Kinh tế Trung quốc là theo nhãn quan của nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Thế giới làm Kinh tế trong khung cảnh một Xã Hội Dân chủ, nghĩa là Kinh tế thuộc về Dân. Trong khi đó, những họat động Kinh tế của Trung quốc thuộc về một nhóm đảng giữ quyền độc tài. Đây là Kinh tế của một nhóm Mafia hòan tòan giữ quyền quyết định độc tài. Thế giới nhìn vào Kinh tế Trung quốc và vẫn tưởng rằng đó là phát triển Kinh tế giống như ở Xã hội Dân chủ Tây phương.
Nền Kinh tế Mafia với quyền Chính trị độc tài mang những đặc tính sau đây:
1) Nhà Nước độc tài hòan tòan nắm vốn đầu tư. Những Xí nghiệp lớn nắm 90% sinh họat Kinh tế và do Nhà Nước cấp vốn. Nếu có 10% do vốn tư nhân, thì những công ty nhỏ tư nhân này cũng lệ thuộc vào những quyết định của những đại công ty Quốc doanh làm việc cho đảng.
2) Sinh họat Kinh tế của Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng để thu nhập nhanh cho Nhà Nước. Ông Patrick MOLIS nói rất đúng, mức tiêu thụ của 1.3 tỉ dân Trung quốc chỉ bằng 15% mức tiêu thụ của 300 triệu dân Mỹ. Khi mà Âu châu và Hoa kỳ, vì khó khăn Kinh tế, giảm thiểu tiêu thụ, thì ảnh hưởng trực tiếp là làm giảm xuất cảng của Trung quốc.
3) Với độc tài Chính trị, 90% Công ty Nhà Nước đã khai thác nhân lực Trung quốc như những nô lệ sản xuất để phục vụ thu nhập xuất cảng cho nhóm Mafia đảng Cộng sản Trung quốc. Những thu nhập cho đảng và cho túi riêng của đảng viên là giá mồ hôi nước mắt của khối dân không lồ Trung quốc bị Chính trị độc tài bắt ép làm việc với đồng lương rẻ mạt.
4) Nền Kinh tế Trung quốc ăn xổi ở thì, thu nhập mau, nhưng không quan tâm đến những ô uế môi trường. Dân chúng vừa bị khai thác nhân lực, vừa phải chịu những ô uế môi trường trong lâu dài. Tại Hội Nghị Copenhague, nếu có ai ngạc nhiên thấy thái độ khăng khăng của Trung quốc không muốn ai nhòm ngó, kiểm sóat việc phóng khí độc, thì phải hiểu rằng đây là một hệ thống sản xuất mà nhóm đảng Mafia cố thủ giấu kín. Ai chết mặc ai, miễn là đảng thu nhập nhanh chóng. Tỉ dụ mới đây nhất là ống dẫn dầu bị vỡ và dầu chảy loang làm ô uế sông Hòang Hà. Nhà Nước và Báo đài giấu diếm.
5) Những Chương trình kích cầu kinh tế không nhằm khối dân tiêu thụ Trung quốc. Ông Patrick MOLIS gọi đây là những Chương trình có tính cách giả tạo:
* Chi tiêu vào Hạ tầng cơ sở. Với xứ sở mênh mông, hạ tầng cơ sở không thể xây dựng nhanh chóng với số vốn bỏ ra tương đối nhỏ bé. Đảng Mafia chỉ lo những thành phố ven biển và xây cất nhà cửa giống như Dubai để làm vẻ vang cho đảng, chứ không phải cho dân.
* Canh tân một số những cơ sở sản xuất bởi vì thiết bị sản xuất lúc đầu là những máy móc “second hand” mua lại rẻ từ Tây phương, nhưng Ông Patrick MOLIS nhận xét luôn rằng sản xuất mà Trung quốc không có ngõ ra tiêu thụ (capacités de production, mais sans débouchés). Tiêu thụ Hoa kỳ và Âu châu giảm xuống, tiêu thụ nội địa Trung quốc thì không được đầu tư, do đó không có lối thóat tiêu thụ (sans débouchés).
* Kinh tế Trung quốc thuộc về nhóm Mafia đảng, mà đảng muốn giữ quyền độc tài và không muốn chuyển Kinh tế sang tay Dân. Đầu tư tăng khả năng tiêu thụ cho Dân, đó là sự chuyển hướng Kinh tế về Dân, điều mà nhóm Mafia đảng không muốn vậy. Muốn giữ độc tài Chính trị, thì phải giữ vững độc quyền Kinh tế. Khối Dân Trung quốc gồm 1.3 tỉ người. Đảng CSTQ nắm số vốn lớn do sự bóc lột sức lao động của khối Dân ấy mà có. Nhưng đảng không muốn bỏ vốn nâng cấp Khả năng Tiêu thụ (Pouvoir d’Achat) cho khối Dân đó để Kinh tế Trung quốc trở thành độc lập, không lệ thuộc vào lo lắng giảm sút đặt hàng từ nước ngòai. Đảng biết rằng khi nâng cấp khả năng Tiêu thụ cho Dân chúng, tức là bắt đầu Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế. Dân chủ hóa Kinh tế là bước chắc chắn nhất để phế bỏ độc tài Chính trị. Khi Dân nắm vững Kinh tế trong tay, thì họ có thể tuyên bố:”Trước đây thì nhất sĩ (Chính trị), nhì nông (Kinh tế), nhưng hết gạo chạy rông, thì nhất nông (Kinh tế) nhì sĩ (Chính trị)”. Dân chủ hóa Kinh tế là một sự nhượng quyền Chính trị (đảng) bó buộc vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
NĂM 2010: KINH TẾ MỸ SUY THÓAI LẦN HAI ?
Paul Krugman:
Kinh tế gia đoạt giải Nobel, ông Paul Krugman, cho rằng khả năng kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái lần hai ở thời điểm nửa sau năm 2010 khi ảnh hưởng từ kế hoạch kích cầu tài khóa và tiền tệ của Chính phủ Mỹ kết thúc là 30%.
Paul Krugman nhận định kinh tế Mỹ có thể rơi vào suy thoái lần hai trong năm 2010.
Trong bài phát biểu mới nhất tại hội nghị kinh tế ở Atlanta, ông nói: “Khả năng suy thoái kinh tế lần hai đến là 30 - 40% - tỷ lệ không hề thấp. Khả năng tăng trưởng kinh tế chững lại khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng lên cũng không nhỏ”.
Kinh tế gia 56 tuổi này nhận định tăng trưởng kinh tế Mỹ sẽ chững lại khi FED chấm dứt việc mua các loại chứng khoán, kế hoạch 787 tỷ USD của chính quyền Tổng thống Obama giảm bớt, các công ty ngừng khôi phục lại hàng tồn kho.
Giáo sư kinh tế thuộc Đại học Princeton, ông Krugman, đã cùng giáo sư kinh tế Martin Feldstein thuộc Đại học Harvard, giáo sư kinh tế Joseph Stiglitz của Đại Colombia, lên tiếng cảnh báo về nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Dù việc các công ty đẩy mạnh khôi phục hàng tồn kho đã giúp kinh tế Mỹ tăng trưởng với tốc độ trung bình năm đạt 4% trong quý 4/2009, ông Krugman nhận định tốc độ tăng trưởng năm nay sẽ chỉ quanh mức 2%, rủi ro kinh tế đi xuống ở thời điểm nửa sau của năm là hoàn toàn có thể.
Dự báo của ông Krugman như vậy u ám hơn nếu so với dự báo của 58 chuyên gia kinh tế tham gia khảo sát của Bloomberg vào đầu tháng 12/2009.
FED có kế hoạch ngưng chương trình 1.250 tỷ USD mua chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp và dừng chương trình 175 tỷ USD mua nợ liên bang vào tháng 3/2010, theo ông Krugman, lãi suất thế chấp sau đó có thể tăng, doanh số và giá nhà đất có thể hạ trở lại.
Ông Krugman cho rằng FED nên cân nhắc mua thêm 2.000 tỷ USD tài sản để giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Krugman cho biết, ông không đồng ý với quan điểm của cựu Chủ tịch FED Alan Greenspan về việc thị trường chứng khoán tăng điểm trong năm qua cho thấy nền kinh tế không cần thêm kế hoạch hỗ trợ từ chính phủ. Chỉ số S&P 500 tăng 23% trong năm 2009 và như vậy có năm tăng điểm mạnh nhất từ năm 2003.
Krugman nhận xét: “Hiện nay người ta nghèo hơn 4 năm trước, tiêu dùng người dân không phụ thuộc vào giá cổ phiếu mà phụ thuộc vào giá nhà đất”. Ông nói: “Khả năng kinh tế rơi vào suy thoái lần hai hiện hữu tại phần lớn các nền kinh tế phát triển thuộc châu Á và châu Âu”.
Ông cũng dự báo đồng USD có thể suy yếu nhẹ so với đồng tiền của một số nền kinh tế khác thuộc nhóm nước phát triển: “Sự suy yếu của đồng USD tốt cho chúng ta, tuy nhiên không tốt đối với nước thuộc châu Âu và Nhật”.
Krugman nhận xét về kinh tế Mỹ: “Thông thường khủng hoảng tài chính thường kéo dài, Dù hệ thống ngân hàng Mỹ đã ổn định, tình hình của ngành ngân hàng vẫn chưa trở lại bình thường”
NĂM 2010: THẶNG DƯ TQ CÓ THỂ GIẢM MẠNH
Thặng dư thương mại của Trung Quốc có thể giảm xuống 19% trong năm 2010 khi mà Trung Quốc đang có xu hướng nhập khẩu tăng do nhu cầu trong nước tăng mạnh.
Thặng dư thương mại của Trung Quốc có thể giảm xuống 19% trong năm 2010 khi xu hướng nhập khẩu tăng.
Trong năm 2010, nhập khẩu có thể tăng tới 16%, vượt qua mức tăng 8% của xuất khẩu. Trong khi đó, nền kinh tế nước này dự báo sẽ tăng trưởng 10,1%.
Bộ Thương mại Trung Quốc cho hay rằng mức thặng dư thấp hơn có thể khiến khả năng cạnh tranh của nền kinh tế thứ 3 thế giới này giảm xuống so với các đối tác thương mại chủ chốt. Trước đó Trung Quốc đã hướng tới nước xuất khẩu lớn nhất thế giới.
Theo ông Lu Ting, nhà kinh tế trụ sở tại Hồng Kông nhận định số lượng hàng nhập về sẽ thu hẹp lại còn 160 tỷ USD so với ước tính 198 tỷ USD năm nay.
“Yếu tố then chốt trong việc thu hẹp thặng dư sẽ là mức tăng trong nhập khẩu nhờ vào nhu cầ
|
|
|
|