DIEN DAN CHINH TRI VIET NAMDau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
Xét rằng: Sự công nhận nhân phẩm của tất cả con người trong đại gia đình nhân loại và những quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.
Xét rằng: Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng sự tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.
Xét rằng: Nhân Quyền cần phải được bảo vệ bằng luật pháp, để con người không bị bắt buộc phải sử dụng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức.
Xét rằng: Mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia cần được khuyến khích và mở rộng.
Xét rằng: Trong Hiến Chương, các dân tộc của cộng đồng Liên Hiệp Quốc đã lại một lần nữa xác định niềm tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị con người, vào quyền bình đẳng nam nữ và cũng đã quyết định cổ vũ cho các tiến bộ xã hội và cải tiến mức nhân sinh trong bối cảnh ngày càng tự do hơn.
Xét rằng: Các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc, nhằm cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản.
Xét rằng: Sự hiểu biết chung về nhân quyền và tự do là điều tối quan trọng để có thể thực hiện đầy đủ sự cam kết trên.
Do đó, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc long trọng công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản Tuyên Ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.
Mặt khác, bằng những phương thức tiến bộ trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, phải bảo đảm sự thừa nhận và tuân hành Bản Tuyên Ngôn một cách có hiệu lực, trong các dân tộc của các nước thành viên, và ngay cả trong những người dân sống trên các phần đất thuộc quyền cai quản của các nước đó.
Điều 1: Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái.
Điều 2: Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được công bố trong Bản Tuyên Ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác. Hơn nữa, cũng không được có sự phân biệt nào đối với con người sống trên một quốc gia hay trên một lãnh thổ, căn cứ trên cơ chế chính trị, nền tảng luật pháp hay quy chế quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ đó. Cho dù quốc gia hay lãnh thổ này độc lập hay dưới sự bảo hộ, không được tự trị hay ở trong tình trạng bị hạn chế về chủ quyền.
Điều 3: Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân.
Điều 4: Không ai bị cưỡng bức làm nô lệ hay tôi đòi. Chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm.
Điều 5: Không một người nào phải chịu cực hình, tra tấn, hay bất kỳ hình thức đối xử, hoặc trừng phạt bất nhân, hay có tính cách lăng nhục.
Điều 6: Ở bất cứ nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật.
Điều 7: Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng, không kỳ thị phân biệt. Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị vi phạm Bản Tuyên Ngôn này, cũng như chống lại mọi kích động dẫn đến kỳ thị như vậy.
Điều 8: Mọi người đều có quyền được bảo vệ và bênh vực bởi các cơ quan tư pháp quốc gia có thẩm quyền về các hành vi vi phạm các quyền căn bản, do Hiến Pháp và Luật Pháp quy định.
Điều 9: Không một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán.
Điều 10: Mọi người đều có bằng nhau quyền được phân xử công khai và công bằng, trước một tòa án độc lập và vô tư, để được phán quyết về các quyền lợi và nhiệm vụ của mình, hay về những tội phạm mà mình bị cáo buộc.
Điều 11: khi truy tố trước pháp luật, mọi người được xem là vô tội, cho đến khi pháp luật chứng minh là có tội, trong một phiên tòa công khai và tòa án này phải cung ứng tất cả mọi bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ của đương sự. Không ai có thể bị kết án khi có những hành động hay sơ suất xảy ra vào lúc mà luật pháp của quốc gia hay quốc tế không qui định đó là một hành vi phạm pháp. Tương tự như vậy, không được áp đặt một hình phạt nào nặng hơn hình phạt được ấn định vào lúc hành vi phạm pháp xảy ra.
Điều 12: Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ, trước những xâm phạm và xúc phạm như vậy.
Điều 13: Mọi người có quyền tự do di chuyển và cư trú, trong phạm vi biên giới của quốc gia. Mọi người đều có quyền rời khỏi lãnh thổ bất kỳ nước nào, kể cả nước của mình, và quyền trở về xứ sở.
Điều 14: Trước sự ngược đãi, mọi người đều có quyền tị nạn và tìm sự dung thân tại các quốc gia khác. Quyền này không được kể đến, trong trường hợp bị truy nã thật sự vì các tội phạm không có tính chính trị, hay do những hành vi trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.
Điều 15: Mọi người đều có quyền có quốc tịch. Không một ai bị tước bỏ quốc tịch, hay bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch, một cách độc đoán.
Điều 16: Nam và nữ trong tuổi trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không bị hạn chế về lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam nữ đều có quyền bình đẳng lúc kết hôn, trong đời sống vợ chồng và lúc ly hôn. Hôn nhân chỉ có thể tiến hành khi cả hai đều được tự do quyết định và đồng ý thật sự. Gia đình phải được xem là một đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và được quyền bảo vệ của xã hội và quốc gia.
Điều 17: Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tập thể. Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.
Điều 18: Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay nơi chốn riêng, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phượng và áp dụng các nghi thức đạo giáo.
Điều 19: Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới.
Điều 20: Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa. Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể.
Điều 21: Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách tự do. Mọi người đều có quyền đón nhận những dịch vụ công cộng của quốc gia một cách bình đẳng. Ý muốn của người dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự, bằng phiếu kín, qua phương thức phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương của bầu cử tự do.
Điều 22: Vì là thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền an ninh xã hội, qua các cố gắng của quốc gia và hợp tác quốc tế, dựa theo phương cách tổ chức và tài nguyên của mỗi nước. Quyền này được đặt trên căn bản của sự thụ hưởng những quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, cần thiết cho nhân phẩm và sự phát triển tự do của mỗi cá nhân.
Điều 23: Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc chính đáng và thuận lợi đối với công việc, và quyền được bảo vệ chống thất nghiệp. Mọi người, không vì lý do kỳ thị nào, đều có quyền được hưởng lương bổng như nhau cho cùng một công việc. Mọi người làm việc đều được quyền hưởng thù lao một cách công bằng và thích hợp, khả dĩ bảo đảm cho bản thân và gia đình mình một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm, cũng như được trợ giúp nếu cần, qua các phương thức bảo vệ xã hội khác. Mọi người đều có quyền thành lập và tham gia vào các nghiệp đoàn, để bảo vệ quyền lợi của mình.
Điều 24: Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả việc hạn chế hợp lý số giờ làm việc, và các ngày nghỉ định kỳ có trả lương.
Điều 25: Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình. Các bà mẹ và trẻ con phải được hưởng sự chăm sóc và trợ giúp đặc biệt. Tất cả mọi trẻ con, sinh có hôn thú hay không, đều được xã hội bảo vệ một cách bình đẳng.
Điều 26: Mọi người đều có quyền được giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và căn bản. Giáo dục tiểu học phải bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được mở rộng và giáo dục đại học phải được mở rộng bình đẳng cho mọi người, trên căn bản tài năng xứng đáng. Giáo dục phải được điều hướng để phát triển đầy đủ nhân cách, và củng cố sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản. Giáo dục phải nhằm cổ vũ sự cảm thông, lòng khoan dung, và tình hữu nghị giữa mọi quốc gia, mọi nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, và hỗ trợ việc phát triển các sinh hoạt của Liên Hiệp Quốc nhằm duy trì hòa bình. Cha mẹ có quyền ưu tiên chọn lựa phương cách giáo dục dành cho con cái mình.
Điều 27: Mọi người đều có quyền tự do tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thưởng thức các bộ môn nghệ thuật, và cùng chia xẻ các tiến bộ khoa học cũng như các lợi ích của khoa học. Mọi người đều có quyền được bảo vệ về tác quyền, trên bình diện tinh thần cũng như quyền lợi vật chất, đối với các tác phẩm khoa học, văn chương, hay nghệ thuật.
Điều 28: Mọi người đều có quyền đòi hỏi được sống trong một trật tự xã hội và trật tự quốc tế, trong đó các quyền và các tự do được đề cập trong Bản Tuyên Ngôn này có thể được thể hiện đầy đủ.
Điều 29: Mọi người đều có bổn phận đối với cộng đồng nào mà chỉ trong đó mới có thể phát triển toàn vẹn và tự do nhân cách của mình. Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ. Trong bất cứ trường hợp nào, nhân quyền và những quyền tự do này cũng không được hành xử trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.
Điều 30: Không một điều nào trong Bản Tuyên Ngôn này được hiểu và hàm ý cho phép một nước, một nhóm hay một cá nhân nào được quyền có những việc làm hay hành động nhằm hủy diệt nhân quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên Ngôn này.
Liên Hiệp Quốc - 10/12/1948
DI CHUC SO 1 CUA LM NGUYEN VAN LY
DI CHÚC Số 1 của Linh mục Nguyễn Văn Lý Lm. Nguyễn Văn Lý Nhà Chung Tổng Giáo phận Huế, ngày 02-02-2011
Ngày 15-3-2011 Nhà cầm quyền (NCQ) Cộng sản Việt Nam (CSVN) sẽ đưa tôi vào lại trại giam, tiếp tục áp bức tôi chịu bản án ngày 30-3-2007 tù giam 8 năm và 5 năm quản chế mà tôi luôn phủ nhận, vì nó hoàn toàn bất công và trái Công pháp Quốc tế. Để quyết liệt phản đối, tôi sẽ tuyệt thực vô thời hạn liên tục nhiều đợt nối tiếp nhau và khước từ mọi điều trị của bạo quyền CS (bệnh tai biến mạch máu não 3 lần gây liệt tay-chân phải từ tháng 5-2009, hiện đã khỏi khoảng 60% và thi thoảng bị xuất huyết chi dưới đến nay đã 6 lần). Vì không biết chắc những gì sẽ xảy ra, tôi xin gửi lại vài điều cần thiết cho Giáo hội, thân nhân và toàn thể Đồng bào Việt Nam (VN) thân yêu trong và ngoài Nước, thay cho các Di chúc tôi đã viết hàng năm mỗi khi có điều kiện (Giáo luật), như là nỗ lực cuối cùng để hoàn thành trách nhiệm với Đồng bào, Dân tộc, Tổ quốc, Giáo hội và Thiên Chúa theo lương tâm thôi thúc đòi buộc.
I. Vài chuyện riêng.
1. Tạ ơn và tạ tội : Con tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho con muôn hồng ân trong gần 65 năm làm người và gần 64 năm được sinh ra làm con dân Nước Việt, được làm con Chúa và Hội Thánh Công giáo, được ăn học làm Linh mục gần 37 năm, được chia sẻ kiếp tù đày của hàng triệu người Việt 5 lần gần 17 năm (còn thêm 5 năm nữa) và bị quản chế 8 lần 15 năm (còn thêm 5 năm và vô thời hạn). Xin Chúa và mọi người tha thứ tất cả lỗi lầm của con do chưa sống xứng đáng đời một Tín hữu Công giáo, và chưa biết đấu tranh hiệu quả giúp Dân tộc VN thoát khỏi chế độ CS gian manh bạo tàn.
2. Về thân xác : Sau khi con qua đời, kính xin Tòa Tổng Giám mục Huế cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn cầu nguyện cho con không có xác cũng được. Xin trao xác con cho bệnh viện nào gần nhất có thể lấy được một số nội tạng cấy ghép được cho những ai cần: giác mạc, tim, gan, thận, gân, mạch,… Sau đó xin trao cho Đại học Y Huế giúp sinh viên học giải phẩu. Khi không còn sử dụng nghiên cứu nữa, nếu Đại học Y gửi lại thi thể, kính xin Tòa TGM Huế chôn táng con với một hòm gỗ rẻ tiền nhất của Dân nghèo. Xin ghi 2 bên quan tài: Chúa Là Sự Sống Lại, Tự Do Tôn Giáo Hay Là Chết. Xin miễn mọi hoa đèn phúng điếu/tiệc chia ly tốn kém. Sau Thánh Lễ Tạ Ơn, xin hết lòng ghi ơn mọi người, kính xin mọi người yên lặng chia tay nhanh, tiết kiệm thời giờ tối đa.
Trên mộ, dưới chân Thánh giá, xin ghi: Con chỉ là hạt sương long lanh ngọn lá,
Phút chốc bốc hơi không dấu vết Chúa ơi, Con chỉ là hạt bụi cuộc đời, Một làn gió thoảng cuốn mất thôi !
Dưới chân mộ, xin ghi: Đời con là một chuỗi ngày thiếu sót với Chúa và với mọi người. Xin tha thứ.
Nếu Đại học Y Huế đã tiêu hủy, xin Gia tộc và mọi người thay vì đau lòng, phải vui mừng đợi ngày gặp lại nhau trong Nước Chúa với thân xác phục sinh hiển vinh.
3. Tôi không nợ/hứa gì ai, chỉ để lại ít sách vở/đồ dùng, xin Sở Quản lý Nhà Chung và Gia tộc chia cho các Linh mục, Nữ tu con đi tu của tôi, các cháu, Bạn hữu và các sinh viên/học sinh sử dụng hữu ích.
II. Phải làm gì trước hiện trạng của Giáo hội Công giáo, các Tôn giáo và Tổ quốc VN ?
1. VN chưa có Tự do Tôn giáo (TDTG) thực sự và đầy đủ cho 6 TG hiện diện (Cao Đài, Công Giáo, Hồi Giáo, Phật Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, Tin Lành). TDTG gồm 4 điều chính yếu liên quan chặt chẽ với nhau mọi TG đều phải được quyền có, nhưng chưa có:
1.1. Các Tôn giáo (TG) phải được thừa nhận tư cách pháp nhân và được đối xử công bằng : Tại VN, chưa có TG nào được thừa nhận tư cách pháp nhân cả, chỉ mới được phép đăng ký có mặt. Một số Giáo hội Tin Lành tư gia chưa được phép đăng ký và chưa được đối xử công bằng hợp lý.
1.2. Các TG phải được tự do phát triển theo khả năng mình có, chỉ bị pháp luật ràng buộc như mọi công dân/tổ chức khác, để không xâm phạm tự do của cá nhân/tổ chức khác: Tại VN, điều này chưa TG nào có được. Chỉ TG nào hoàn toàn tùng phục NCQ CSVN mọi mặt, mới được tự do làm nô lệ cho bạo quyền CS mà thôi. Sau đây chỉ là vài thí dụ minh chứng:
+ Suốt 260 năm Đạo Công giáo bị bắt bớ từ thời vua Lê chúa Trịnh chúa Nguyễn đến thời Văn Thân (1617-1877), tuy nhiều lúc Giáo hội Công giáo (GHCG) phải sinh hoạt lén lút, bị triệt hạ, tàn sát…nhưng các quyền thiêng liêng cơ bản nhất như tuyển chọn chủng sinh, đào tạo/phong chức/bổ nhiệm linh mục/giám mục GHCG đều chủ động, không bị mất. Còn trong chế độ CS, luôn được rêu rao là tự do ưu việt gấp ngàn lần các Nước khác, tất cả các quyền cơ bản này GHCG đã bị mất vào tay bạo quyền CSVN ! Các TG chỉ được sinh hoạt trong vòng chiếc thòng lọng siết cổ các TG mà thôi. Điều này chính xác 100%.
+ GHCG VN có duy nhất một Học viện Giáo hoàng Piô X tại Đà Lạt để đào tạo các Linh mục tốt nghiệp cử nhân thần học, thì đã bị "được phép trao nhượng" hoàn toàn không thỏa đáng ngay sau năm 1975 để làm trường đảng. Tiểu chủng viện Hoan Thiện nơi đào tạo Linh mục, số 11 đường Đống Đa, Huế bị Công an CS dùng bạo lực cưỡng chiếm rất tàn nhẫn tháng 12-1979 để bị làm Festival Hotel,… NCQ CSVN đang nỗ lực để đạt tiêu chuẩn 1 giáo viên dạy 25-50 học sinh/sinh viên mà tình trạng giáo dục hiện nay suy đồi đến thế, trong khi tỷ lệ của GHCG VN hiện là 1 Linh mục phải phục vụ trên 20.000 Giáo dân, chưa kể số Lương dân trong vùng và nhu cầu thiếu Linh mục rất trầm trọng ở Trung Quốc, Lào, Campuchia, Châu Phi, Châu Âu,… nhất là 26 Giáo phận không có Giáo phận nào có Tiểu chủng viện (bị tịch thu/đóng cửa), chỉ có 6 Đại chủng viện, khiến chất lượng đào tạo linh mục yếu kém hoặc rất yếu kém do thiếu nền tảng nhân bản từ đầu.
+ Mọi Tín đồ và Tu sĩ, Giáo sĩ đều bị buộc phải học và tin yêu Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ nghĩa Xã hội (CNXH), Con người và Tư tưởng Hồ Chí Minh (HCM) từ Mẫu giáo, Tiểu học, Trung học, Đại học, Chủng viện, Thiền viện, Tu viện, Học viện. Tín đồ, Tu sĩ, Giáo sĩ nào không muốn, thì cũng phải ép lương tâm tự dối lòng, học và làm bài sao cho qua được các kỳ thi. Đặt bút xuống viết bất cứ một loại giấy hành chính… "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" là đã nói dối viết dối. Cầm tiền giấy in hình ông HCM rất nhiều người chỉ muốn xé ngay, nhưng mọi người đều vẫn phải cất giữ để sinh sống là đã tự dối. Tôi đã công khai khẳng định rất nhiều lần: VN đang là một trường dạy buộc nói dối tinh vi và khổng lồ. Văn hóa Dân tộc bế tắc tận nền tảng.
1.3. Các TG hoặc các Tín đồ được tham gia đời sống xã hội, chính trị… theo đúng niềm tin TG của mình: Tại VN, điều này chưa TG nào có được. Chưa TG nào có riêng một tờ báo, nhà in, nhà xuất bản, giờ phát thanh/truyền hình, nói gì đến đài phát thanh/truyền hình, trường tiểu/trung/đại học, viện nghiên cứu, hội đoàn chính trị… lại càng xa vời. Chỉ vài năm gần đây, viện mồ côi, nhà khuyết tật, dưỡng đường bệnh nhân AIDS… NCQ CSVN không thể lo xuể, mới hé ra cho vài TG "được phép làm từ thiện, được quyền thương người" với bao nhiêu khó khăn về thủ tục, cơ sở, nhân sự,…
1.4. Muốn có TDTG thực sự đầy đủ, các TG phải có Tự do Ngôn luận (TDNL) để rao truyền niềm tin TG của mình theo đúng tiêu chuẩn Liên Hiệp Quốc (LHQ), căn cứ trên các Văn bản Công pháp Quốc tế:
+ Công Ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị”, của LHQ ngày 16-12-1966, VN xin tham gia ngày 24-09-1982: Mọi người có quyền TDNL. Quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ (điều 19,2).
+ Tuyên ngôn QT Bảo vệ những người đấu tranh cho Nhân quyền” ngày 9.12.1998 : Mọi người đều có quyền: Lưu giữ, tìm kiếm, thu đạt, nhận và bảo quản những thông tin về tất cả các quyền con người và tất cả các tự do căn bản, nhất là được toàn quyền tiếp cận với những thông tin liên quan đến cách ứng dụng các quyền và các tự do qua những hệ thống lập pháp, tư pháp hay hành chánh quốc gia (điều 6.a) ; Xuất bản, thông báo cho người hay phổ biến tự do mọi ý kiến, mọi thông tin và mọi kiến thức về các quyền con người và các tự do căn bản, y theo sự qui định của những văn bản QT liên quan đến các quyền con người và những văn bản QT khác có thể áp dụng (điều 6.b) ; Nghiên cứu, thảo luận, đánh giá và lượng định sự tôn trọng, trên pháp lý cũng như trong thực hành, tất cả các quyền con người và tất cả các tự do căn bản, và làm cho công chúng chú ý đến vấn đề này bằng cách này hay mọi cách thích hợp khác (điều 6.c).
+ Luật Ký kết, Tham gia và Thực hiện Điều ước Quốc tế do NCQ CSVN ban hành ngày 24.6.2005, hiệu lực ngày 01.01.2006: Trong trường hợp văn bản qui phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có qui định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng qui định của điều ước quốc tế (điều 6,1). Việc ban hành văn bản qui phạm pháp luật phải bảo đảm không làm cản trở việc thi hành điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có qui định về cùng một vấn đề (điều 6,2). Nghĩa là khi có điều nào trong Luật pháp của một Nước thành viên LHQ khác với hoặc mâu thuẫn với Luật Quốc tế, thì phải áp dụng Luật Quốc tế là Văn bản pháp lý có giá trị ràng buộc cao hơn.
Nhưng trong thực tế, quyền TDNL tại VN hiện nay thua xa tại nước Anh thời Karl Marx (1840-50), tại nước Pháp thời Nhóm Người Việt Yêu Nước hoạt động (1910-30), và ngay tại VN thời Pháp thuộc khi cụ Huỳnh Thúc Kháng xuất bản báo Tiếng Dân tại Huế năm 1927 và Ông Nguyễn An Ninh xuất bản báo La cloche fêlée (Tiếng chuông rè/rạn) ở Sài Gòn năm 1923 chống lại Thực dân Pháp. Thời đó, riêng tại Nam Kỳ, Việt Nam, các đảng viên cộng sản, nếu đấu tranh bất bạo động, dù công khai, vẫn không bị bắt.
+ Nhìn vào các sinh hoạt TG có tính lễ hội, những ai nói ở VN hiện nay họ vẫn đang sinh hoạt TG bình thường hoặc là do mù nhận thức, hoặc cố tình ép lương tâm nói dối. Dù tất cả mọi người tại VN nói VN đang có TDTG, thì riêng tôi vẫn xác quyết VN chưa có TDTG thực sự, đang bị mất những điều cơ bản nhất.
+ Muốn có TDTG, TDNL trước tiên phải thoát Họa Mất Nước do "diễn biến hòa bình từ từ nô lệ" Trung Cộng (TC) tham lam và tàn bạo, đồng thời phải thoát khỏi chế độ CS độc tài gian trá.
2. Tại sao phải chống Giặc Tàu và phải cấp bách giải thể chế độ CSVN ?
Tổ quốc VN đang phải gánh chịu các tổn hại cực kỳ to lớn:
2.1. Tổn hại toàn diện trong thân phận kiếp người : Khi đẩy Dân tộc và Tổ quốc VN ngày càng nô lệ TC, Đảng CSVN đã và đang làm tổn thương tình yêu Nước thiêng liêng và danh dự của người VN khắp nơi trên thế giới, quốc nội lẫn hải ngoại, nghiêm trọng nhất là đang biến gần 87 triệu người Việt quốc nội và con cháu ngàn đời sau, trở thành những nô lệ của các tộc người Trung Hoa, vì TC vừa đông hơn, vừa mạnh hơn, tham lam hơn và nhất là tàn ác hơn. Kể cả sau này khi Trung Hoa đã thoát khỏi Chế độ CS, kiếp nô lệ ấy vẫn tiếp tục đè nặng trên Dân tộc Việt.
2.2. Tổn hại lãnh thổ - lãnh hải của Tổ quốc ngàn đời :
Đảng CSVN đã và đang tiến hành biến Tổ quốc VN thành thuộc địa của TC, biến Dân tộc VN thành nô lệ của TC. Dưới chế độ CS, Tổ quốc VN chúng ta đã: - mất từ 760 km2 đến 1.000 km2 ở vùng biên giới lãnh thổ phía Bắc. - mất từ 11.000 km2 đến 20.000 km2 ở vùng biên giới lãnh hải Vịnh Bắc Việt. - mất nhiều địa điểm mang tính lịch sử như Ải Nam Quan, Bãi Tục Lãm, phân nửa thác Bản Giốc... và nhiều cao điểm chiến lược quan trọng về an ninh quốc phòng. - mất Quần đảo Hoàng Sa và phần lớn quần đảo Trường Sa, là tài nguyên về khoáng sản, hải sản và là tiền đồn phía Đông Tổ quốc. - mất quyền kiểm soát vùng Tây Nguyên do việc để cho TC khai thác bôxit, mất quyền kiểm soát hơn 300 ngàn hecta rừng đầu nguồn và hàng chục ngàn hecta duyên hải do việc để cho TC thuê mướn lâu dài.
+ Do đâu và bởi ai mà một phần lãnh thổ và lãnh hải trọng yếu của Tổ quốc Việt Nam, vốn vẫn nguyên vẹn qua hàng ngàn năm dựng Nước và giữ Nước, tự dưng lại bị mất vào tay Trung Cộng cách quá dễ dàng từ khi Đảng CSVN cướp Chính quyền năm 1954? Các tội đồ này và các đồng lõa không được phép và không xứng đáng tiếp tục khiên cưỡng độc đoán lãnh đạo Đất nước này, ngoài ý chí của toàn Dân nữa.
+ Nếu VN là đệ tử, nô lệ của TC, thì làm sao chống lại TC được? Vì thế, "phải tiến hành thiết lập Chế độ Dân chủ Đa nguyên Đa đảng VN Thăng tiến Hòa bình, văn minh thân thiện giữa Cộng đồng Quốc tế, để đủ sức vừa ngăn chặn hiệu quả TC bành trướng tham lam, vừa dựa vào Công pháp Quốc tế giúp thu hồi lại phần lãnh thổ và lãnh hải trọng yếu của Tổ quốc VN đã bị mất vào tay TC, chấm dứt tình trạng nô lệ TC ngày càng lộ rõ không thể biện minh trước Quốc Dân và Quốc tế."
(Trích Thư yêu cầu trả lời dứt khoát với Quốc Dân về lãnh thổ và lãnh hải của Tổ quốc đã bị CSVN trao nhượng cho Trung Cộng tôi gửi ông Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao Trương Hòa Bình ngày 30-1-2011).
+ Hơn nữa, "Chế độ Cộng sản độc tài vô thần duy vật đã trở thành một đại họa vô cùng cay đắng cho Nhân loại, một thử nghiệm đã hoàn toàn thất bại trên toàn cầu về một ước mơ công bằng, hòa bình, văn minh, thịnh vượng không bao giờ đạt. Mọi người có chút lương tri và tâm trí đều không muốn chế độ vô luân này tồn tại thêm giây phút nào trên hành tinh này nữa. Riêng tại Việt Nam, suốt 80 năm qua, kể từ năm 1930 khi Đảng CS Đông Dương, tức là Đảng CSVN, có mặt trên Quê hương chúng ta, thì hận thù, gian trá, áp bức, cướp đoạt, bất công, bạo lực, đấu tố, khủng bố, chiến tranh… triền miên xâu xé Tổ quốc và Đồng bào chúng ta, dưới đủ mọi hình thức, vừa thô bạo vừa tinh vi, khiến không một người Dân Việt nào được an tâm vui sống trọn vẹn dù chỉ một ngày. Trãi nghiệm quá khổ đau chán ngấy này trong mỗi người chúng ta không nên kéo dài thêm ngày nào trên Dân tộc và trong tâm hồn con cháu thơ ngây vô tội của chúng ta nữa."
(Trích Lời Kêu Gọi Tiến Hành Giải Thể Chế Độ CS Để Thiết Lập Chế Độ Dân Chủ Đa Nguyên Đa Đảng VN Thăng Tiến Hòa Bình của tôi ngày 01-01-2011, viết tắt LKG THGTCDCS).
3. Làm thế nào để giải thể chế độ CS tại VN ?
3.1. Dân tộc Việt Nam có truyền thống anh hùng hàng ngàn năm qua, nhưng sau hơn 60 độc tài toàn trị, CS đã phạm một tội ác cực kỳ to lớn là đã lấy đe dọa, khủng bố, đàn áp và dối gạt làm cho phần lớn Đồng bào VN hiện nay bị biến chất và thoái hóa, trở nên bạc nhược và rất bạc nhược. CS đã ranh ma thiết lập độc tài toàn trị dựa trên 2 vũ khí truyền đời: lừa dối và đe dọa, biến Toàn Dân VN thành nạn nhân nô lệ.
3.1.1. Phải lấy Sự Thật để thắng dối trá. Phải sưu tập và chuyển tải Sự Thật thật sâu rộng trong mọi giới Đồng bào trong và ngoài Nước. Nhưng Sự Thật phải được chuyển đến mọi người bằng nhân ái, cảm thông, ôn hòa, văn minh, lịch sự mới tác dụng tốt. Sự Thật được chuyển bằng hận thù cay độc thì không thể hữu hiệu.
3.1.2. Phải lấy Nhận Thức, Trí Tuệ và Giác Ngộ để thắng sợ hãi. Giới Bình dân sợ mất hộ khẩu, bị đuổi học, mất việc làm… an nguy của cả gia đình. Họ trông đợi giới Lãnh đạo, Nhân sĩ, Trí thức xông ra gánh vác để họ nương theo. Đáng tiếc là các giới Nhân sĩ này lại đang có địa vị, nhiều quyền lợi, càng sợ mất nhiều thứ hơn: sợ mất nhiệm sở ngon, sợ con cái mất đại học, mất du học, mất việc làm lương cao, mất tương lai hoành tráng… nhưng luôn "khôn khéo" che đậy lòng ích kỷ và nhu nhược của mình bằng các lập luận ngụy trang với những kiểu nói "mưu sĩ dạy đời, uyên bác thâm trầm, nhạy bén sâu sắc, làm ra vẻ ẩn sĩ nhẫn nại chờ thời" (đại loại: Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống; Tôi còn trách nhiệm với bao người, tôi tham gia thì nhiệm vụ cao cả ai gánh vác thay? Giả như con cái tôi trưởng thành rồi, thì tôi…; Lúc này chưa đến lúc, liều lĩnh chỉ có chết; Làm sao trứng chọi được đá? Để những người chuyên môn, còn mình chỉ cần theo dõi là đủ; Làm không đúng thời điểm, lẽ ra đến lúc dân có thể đứng lên thì nay dân không thể đứng lên được…)
+ 90 triệu Dân VN cần cùng nhau nhận thức cho thật chuẩn xác: Chế độ CSVN thực sự cần đào thải thay thế không? a) Nếu ai cho rằng không cần, thì cứ an tâm cúi đầu cho nó tiếp tục lừa dối và đe dọa, kéo lê kiếp nô lệ truyền qua đời con cháu chắt chít…cho đến khi nào nó tự mục ruỗng đến mức tự hũy, mất hàng trăm năm nữa. b) Nếu ai cho rằng, dù CS kéo dài thêm một ngày cũng không thể để nó tồn tại, cũng "không thể sửa chữa nó, mà phải thay thế nó"(TT Nga Boris Yeltsin), vì nó là "dối trá, và chỉ là dối trá" (ĐGH Gioan-Phaolô II) thì phải hiệp lực quyết tâm thay thế nó. "Dù một hệ thống quyền lực mục ruỗng đến đâu, nó cũng tự đề kháng để tồn tại, cho đến khi có một lực mạnh hơn xô nó ngã" (Lê-nin). c) Còn những ai vừa thấy cần phải thay thế nó, nhưng không dám làm gì, chỉ ngồi đợi người khác làm cho mình hưởng thì… Chúng ta kêu gọi CS từ bỏ độc quyền mà giới Nhân sĩ chúng ta còn bám níu quyền lợi hơn CS nữa, thì có tự mâu thuẫn không? Giới Nhân sĩ mà ngồi đợi cho giới Bình dân đấu tranh và thiết lập đời tự do cho mình hưởng thì quá phi lý, phải tự hổ thẹn mà xông ra gánh vác, mới là đáng mặt sĩ phu quân tử.
+ Lẽ ra trong chế độ CS, thanh niên nam nữ không nên sinh con buộc con cái phải làm nô lệ. Nay đã sinh các em rồi, thì phải nỗ lực giải thoát con cái. Lo cho con em học bổng, thành đạt… vẫn không quan trọng bằng giúp giải thoát các em khỏi bệnh dối trá và sợ hãi của kiếp nô lệ đúng nghĩa. Hơn 60 năm qua, nhất là từ 1975 đến nay, chúng ta đã quá lo toan chuyện phụ tùy mà cố tình dối lòng lờ đi chuyện chính yếu.
+ Làm điều chính đáng, dù một người cũng luôn kiên vững không sợ. Nay một tập thể đông, không lẽ CS dám đuổi học cả trăm/ngàn/vạn sinh viên/học sinh? Và cho dù bị đuổi học thì cũng chưa là gì, so với việc bị kéo lê kiếp nô lệ của dối trá và sợ hãi. Toàn Dân phải rủ bỏ sợ hãi, cùng đồng loạt đứng lên, lấy lại khí phách uy dũng của giòng máu Lạc Hồng. Giới Nhân sĩ phải tiên phong, giới Bình dân phải hỗ trợ. Đôi bên bổ sung nhau, cùng giúp nhau đứng lên tự làm cuộc trưng cầu ý dân tự phát, bằng các cuộc đấu tranh/biểu tình ôn hòa bất bạo động toàn diện tự phát (ĐT/BTÔHBBĐTDTP) hàng loạt.
3.2. Đấu Tranh/Biểu Tình Ôn Hòa Bất Bạo Động Toàn Diện Tự Phát : Trong 2 Bản Hướng dẫn ĐT/BTÔHBBĐTDTP ngày 01 & 20-01-2011, tôi đã trình bày khá đầy đủ về lý do, thời gian, địa điểm, hình thức, phương cách. Nay xin nhắc lại các điểm chính yếu và nói rõ hơn các điểm cần.
3.2.1. Trong một chế độ độc tài toàn trị, NCQ CS không bao giờ tổ chức hoặc cho phép trưng cầu ý dân. Dân phải tự nói lên nguyện vọng, ý chí của mình bằng cách lặp đi lặp lại với bất cứ hình thức nào để biểu tỏ cách kiên định, ôn hòa cho đến khi đạt hiệu quả, thông qua thơ văn, vè, nhạc, hát, kịch, phim, tranh, biểu ngữ, cầu nguyện, Lễ nghi Tôn giáo, mệt nhọc, khổ hạnh, đói khát, nhịn ăn, nhịn uống, mồ hôi, nước mắt, bệnh tật, xương máu, sinh mạng của một/nhiều người, nhưng kiềm chế tuyệt đối không dùng đến bất cứ một loại vũ khí/hung khí nào có thể gây thương tích thể xác hoặc sát thương bất cứ đối tượng nào, kể cả gây tổn thương qua các hình thức ngôn ngữ thông thường. Nơi người Chiến sĩ Dân chủ Hòa bình (NCSDCHB), mọi hình thức đấu tranh đều là biểu tình và mọi hình thức biểu tình đều là đấu tranh. Đấu tranh tạo áp lực cao nhất và hiệu quả hòa bình vững bền nhất là ĐT/BTÔHBBĐTDTP của cá nhân, nhất là của tập thể.
3.2.2. ĐT/BTÔHBBĐTDTP : Việc giáo dục và chuyển đổi tâm hồn con người là kỳ công của riêng chính Thượng Đế, con người không thể tự làm được. Do đó, trong đấu tranh, NCSDCHB hằng ngày phải luôn thiền định - cầu nguyện cho đồng đội và đối phương cùng nhau thăng tiến và thăng hoa vươn lên Chân-Thiện-Mỹ, nhờ đó biết luôn đấu tranh trong cao thượng, ung dung, ôn hòa cả trong ngôn ngữ: không la hét, mắng chửi, nguyền rủa, mạ lỵ, xúc phạm đối phương. NCSDCHB chân chính phải loại trừ mọi mầm mống phẩn uất, căm ghét, hận thù, muốn báo oán, trả đũa ra khỏi tâm trí mình, mới đủ sức mạnh cần thiết để đấu tranh cho Sự thật, Công lý, Tình thương, Tự do, Nhân phẩm, Nhân quyền, Dân chủ, Đa nguyên, Văn hóa, Văn minh, Đạo đức quân bình, lành mạnh, trong sáng và chân chính. Lòng căm ghét, hận thù sẽ làm NCSDCHB yếu đuối và không thể cảm hóa được đối phương, rất khó phát triển hàng ngũ. Dù rất kiên định và quyết liệt đấu tranh bền bỉ không khoan nhượng, NCSDCHB chân chính trong suốt quá trình sử dụng ĐT/BTÔHBBĐTDTP chỉ có 2 thái độ mà thôi: CẢM PHỤC những ai đạo đức, anh hùng và CẢM THÔNG tất cả những ai sai lầm và tội lỗi. Không nên và không được có thái độ thứ 3 nào khác nữa. Chỉ sai lạc và nguy hại mà thôi. Hại cho mình và hại cho đời. NCSDCHB chấp nhận mọi hi sinh mất mát của bản thân/gia đình/tổ chức để khôn ngoan phân hóa, cô lập các phần tử cực đoan gian ác, và thu phục các thành phần phục thiện của đối phương. Lý tưởng đạo đức phải cao để lôi kéo đối phương vươn lên, chứ không phải là mơ hồ ảo tưởng.
3.2.3. Vũ khí ĐT/BTÔHBBĐTDTP : Bất cứ điều gì trung thực, ôn hòa và nhân ái nơi bản thân NCSDCHB cũng là vũ khí hoặc được biến thành vũ khí, luôn làm đối phương bị động, lúng túng, run sợ và bất lực: lời nói, thơ văn, lời ca, tiếng hát, biểu ngữ, im lặng, điệu bộ, cười, khóc, ánh mắt, đột quỵ, nhà tù, chay tịnh, tuyệt thực, bệnh tật, bị thương, khước từ điều trị,… và tột đỉnh là cái chết. Thường cái chết của một lãnh đạo phong trào luôn kéo theo sự chấm dứt cả một chế độ hay một chính sách: Mahatma Mohandas Karamchand Gandhi ở Ấn Độ (1948), Mục sư Martin Luther King ở Mỹ (1968), Linh mục Zerzy Piepoluszko ở Ba Lan (1984)…
3.2.4. Nếu người lãnh đạo phong trào chưa vững tin vào hiệu quả tuyệt đối và tất yếu của ĐT/BTÔHBBĐTDTP, thành phần tham gia có những tham vọng riêng, ảo tưởng nôn nóng vượt quá năng lực mình, thích mạo hiểm phiêu lưu theo cá tính, cố chấp theo định kiến xơ cứng lỗi thời, thiếu kiềm chế trước cám dỗ nông cạn của bạo động, thiếu kiên nhẫn do đợi chờ quá mỏi mệt lâu ngày, đám đông tham gia chưa thấm nhuần sức mạnh chân chính của ĐT/BTÔHBBĐTDTP, thì luôn phát sinh 1 trong 3 hậu quả tác hại:
3.2.4.1. Không thể thành công : bất bạo động nửa vời, pha trộn quá nhiều bạo động, dù chỉ bạo động trong lời nói (hằn học, cay cú, độc ngôn, đâm chọc, cường điệu, mỉa mai, thô tục). Khi bị tấn công mà không thể kiềm chế, nhất là giới trẻ liều lĩnh trả đũa, chấp nhận đi tù, là rơi vào bẫy đối phương. Khi các thành viên nòng cốt bị bắt, phong trào sẽ dao động, khó kéo dài liên tục. Tệ hại hơn, một số bạn bị bắt chịu không nổi nhục hình hoặc bị lừa, chắc chắn sẽ sơ hở khai báo lung tung, càng làm cho phong trào đi xuống, có khi tan rã hẳn.
3.2.4.2. Thành công với nhiều đổ vỡ : Phải tốn nhiều công sức hàn gắn sửa chữa, có khi phải mất hàng trăm năm hoặc lâu hơn, do không bất bạo động tuyệt đối và toàn diện (cách mạng Pháp 1789…).
3.2.4.3. Không thành công chân chính thật sự : Chỉ đạt một số thành tích tạm bợ hời hợt bề ngoài trước mắt, không thể ổn định vững bền, chắc chắn phát sinh những bất công, sai lầm, gian trá và các tội ác mới, vì liều lĩnh lấy sai lầm này chữa trị sai lầm kia, lấy tội ác mới lớn và nhiều hơn thay cho tội ác cũ, với cường độ gấp nhiều lần, rồi lấy tuyên truyền mà bịp lừa và bít lấp bằng thủ đoạn nuôi dưỡng sự sợ hãi và gian trá (phong trào CS quốc tế, nhất là tại VN và TC…).
+ Cần phải dứt khoát khẳng định và xác tín: Chỉ có ĐT/BTÔHBBĐTDTP mới luôn dẫn đến thành công vững bền, không đổ vỡ, trong khoan dung, đạo đức, trung thực, nhân ái, công lý, thăng tiến, thăng hoa, văn hóa, văn minh, hòa bình mà thôi. Không có con đường nào khác, không những cho Việt Nam mà còn cho cả hoàn cầu. "Khi phê phán đối phương, chỉ nên phê phán đến 80% tội lỗi của đối phương thôi, chừa lại 20% cho bức xúc, để nếu do bức xúc mà cuồng nộ lên, thì cũng không vượt quá sự thật, tránh gây bất công cho đối phương" (Mahatma Gandhi). Một sự thật, lẽ phải được nêu lên trong căm thù uất hận thì không còn là sự thật nguyên vẹn nữa, dễ bị méo mó mờ đục, lại phản cảm biến thành sự dối trá - bất công mới. Tiêu chuẩn đạo đức phải cao, dù số đông chưa đạt tới, vẫn hấp dẫn thúc giục vươn lên.
+ Sẽ có một số người ham mê bạo lực và chạy theo thành công nông cạn, xuyên tạc rằng đây chỉ là con đường và phương pháp đấu tranh cuội, viển vông, do CS mớm cho, cốt để CS tiếp tục cai trị lâu dài. Chúng ta tỉnh táo không nghe theo lập luận thiếu nền tảng đạo đức đó, quyết tâm đấu tranh cho một Việt Nam thật sự đạo đức, thăng tiến và hòa bình vững bền, chứ không chỉ là bạo lực thay cho bạo lực, gián ác thay cho gian ác, hận thù thay cho hận thù, mê lầm thay cho mê lầm, chìm đắm trong lẩn quẩn. Phải thay chế độ CS bằng một chế độ tốt hơn nhiều lần về mọi mặt, vươn lên xây dựng một chế độ tối ưu.
3.2.5. Thời gian & Địa điểm : Bất cứ lúc nào, nơi đâu. Lúc đầu, chưa cần kéo đi xa, chưa cần về thành phố lớn (tốn kém, dễ bị tổn thất không/chưa cần thiết). Chưa cần xảy ra trước cơ quan bạo quyền (thách đố quá mức cần thiết). Chỉ cần thật sự xảy ra đâu đó là có tiếng vang, là đã được nói lên cho những ai cần nghe biết rồi, nhất là suốt năm 2011 này (có thể kéo dài qua 2012-2013…). Rồi lan dần ra đều khắp Nước.
3.2.6. Cách thức biểu tình tự phát rất đơn giản, nhanh gọn tại chỗ, ít tốn tiền, tránh bị đàn áp :
3.2.6.1. Cá nhân : Làm bất cứ gì cho đối phương hiểu điều mình muốn nói là đủ (có các biểu ngữ cầm ở tay, mang trước ngục/sau lưng… thì tốt hơn). Riêng tôi, dù ở đâu, sẽ liên tục ĐT/BTÔHBBĐTDTP suốt đời.
3.2.6.2. Tập thể : Sau một buổi học/thi các giáo viên/giảng viên học sinh/sinh viên đã sẵn; sau một lớp học/huấn luyện/tập huấn/hội họp các học viên/bộ đội/công an/nông dân/công nhân đã sẵn; sau phiên chợ, ca lao động, các tiểu thương/đại lý/lái xe-tàu đã sẵn; sau Lễ nghi Tôn giáo tại một ngôi Chùa, Thánh Thất, Nhà Thờ, Tín đồ đã sẵn… tự phát qui tụ tại bất cứ nơi nào (20-50-100-200-1.000… người), hát Ca Khúc/Thánh Ca…, đưa cao Biểu ngữ (lớn-dài hoặc chỉ 1 tờ giấy đưa cao). Hô khẩu hiệu ôn hòa, trật tự. Chỉ cần kéo dài 5-10-20-30… phút là đã biểu tình thành công trong giản dị, tiết kiệm thời gian, sức lực, tiền bạc,… Mọi thành phần xã hội rất dễ tự phát thực hiện, bất cứ lúc nào và nơi đâu. Hoặc thân nhân, xóm làng trong một cuộc Dân oan/đơn vị Tôn giáo đòi lại nhà đất bị cưỡng chiếm, trong một phiên tòa bất công,… có thể tự phát thành một cuộc biểu tình rầm rộ, chấn động. Riêng các Tôn giáo phải biết tận dụng lợi thế vô cùng uy dũng của mình: Một Bạch thư, Thư chung, một buổi Thờ tự, Thánh Lễ, Tế Đàn, một cuộc Rước Kiệu, Hành Hương, một buổi Cầu nguyện chung, dù chỉ một Lời Nguyện được xướng lên… Tất cả đều có thể trở thành một phương cách đấu tranh/biểu tình rất ôn hòa mà hiệu quả rất cao, làm cho bạo quyền hết sức run sợ và lung lay tận gốc, nhưng đành chịu hoàn toàn bất lực, không sao đối phó hoặc ngăn cản được.
+ ĐT/BTÔHBBĐTDTP đơn giản, đến thời điểm thích hợp sẽ biến thành các cuộc tuần hành cần thiết, cuốn theo mọi giới Đồng bào, kể cả Cán bộ, Công an CS…
3.3. Tẩy chay bầu cử Quốc hội (QH) độc đảng dân chủ giả hiệu 22-5-2011 (& 2016, 2021…) : Không phải chúng ta tẩy chay làm cho QH này không thành hình. Dù một số khá lớn cử tri không đi bầu, CS vẫn có đủ mọi thủ đoạn để thay phiếu, bỏ phiếu bù… làm cho QH này vẫn thành hình. Nhưng chúng ta tẩy chay để QH này thành hình trong gian manh. Chính các Đại biểu QH này tự thấy họ không ngay chính, không phải là Đại biểu của Dân, mà chỉ là tay sai của ĐCSVN và ĐCSTC, tự họ sẽ góp phần áp lực tiến lên đa nguyên đa đảng. Chúng ta đã gượng ép tự dối 12 lần trong 65 năm, không thể tự dối thêm lần thứ 13 nữa. Kính xin các Nhân sĩ, Trí thức phải tiên phong nêu gương làm chỗ dựa cho giới Bình dân, thay vì đợi chờ ngược lại.
3.4. Đặc biệt gửi đến lực lượng Công an (CA) và Quân đội (QĐ) CSVN. "Tổ Quốc đã rơi vào tay ngoại bang một phần lãnh thổ và lãnh hải cực kỳ quan trọng về an ninh-chiến lược, Đất Nước đã bị lệ thuộc đế quốc Tàu Cộng ngày càng chìm đắm trong mọi lãnh vực. Quí Bạn hãy DỨT KHOÁT ĐỨNG HẲN VỀ PHÍA DÂN TỘC, để luôn làm nhiệm vụ hết sức cao cả là bảo vệ an ninh-quốc phòng cho Tổ quốc, luôn là chỗ dựa đáng tin cậy của Đồng bào, nhất là những người Dân Oan mất đất mất nhà, Dân Nghèo cả về nhân phẩm-nhân quyền, cả về cơm ăn-áo mặc. Quí Bạn hãy gây áp lực để một số nhỏ cấp lãnh đạo ĐCSVN không thể tiếp tục duy trì địa vị độc tôn, hầu lợi dụng chức quyền vơ vét thêm tài sản quốc dân, buộc họ phải trả lại quyền Dân chủ trọn vẹn cho Toàn Dân…" (LKG THGTCDCS… số 2). Nếu Quí Bạn để Đất nước mãi mãi nô lệ TC và chìm đắm trong sợ hãi và dối trá do CS áp đặt, thì trách nhiệm của Quí Bạn trước Tổ quốc, Anh Linh của Tổ Tiên và Hồn Thiêng Sông Núi không trao trút cho ai được ! Quí Bạn hãy quả cảm đứng lên gánh vác trọng trách cao cả Lịch sử và Đồng bào giao phó.
4. Thời cơ đã thực sự chín muồi : Hiện nay, nội bộ cấp lãnh đạo cao nhất CSVN đã bế tắc về đường lối, lục đục về tổ chức, đã phân hóa rõ rệt về nhân sự, cơ hội giải thể chế độ CS đã trong tầm tay Dân Việt, nếu không biết tận dụng cơ hội này thì biết đến bao giờ? Dân Ba Lan, Nga, Liên Xô, Đông Âu (Dân văn hóa cao hơn: ít sợ hãi và khó chấp nhận dối trá hơn), Tuynidi, Ai Cập (bộ máy độc tài lỏng lẻo hơn CS)… nên đã thành công. VN muốn thành công, tùy sự quyết tâm của mỗi người trong 90 triệu người Việt. Nếu không tận dụng cơ hội này thì phải cam phận cúi đầu vĩnh viễn làm nô lệ CS và TC. Trong chế độ CS độc quyền toàn trị, người Dân đối kháng không thể nào tổ chức "đoàn luật sư, công đoàn, đoàn sinh viên, đoàn thanh niên, hiệp hội phụ nữ…" của riêng Phong trào Dân chủ được. Ngay cả "Liên đoàn Tăng Ni, Tu sĩ, Hiền sĩ, Đạo sĩ, Mục sư, Linh mục,…" dù muốn, cũng không thể thành lập được ngay từ đầu. Phải vừa Tiến Hành Giải Thể vừa Xây Dựng và Kiện Toàn Tổ Chức. Thiết nghĩ đó là phương cách tối ưu hiện nay tại VN.
+ Nếu liên tục áp lực đồng loạt cả Nước, buộc BCT ĐCSVN chọn: Khôn ngoan chấp thuận đa nguyên-đa đảng; hoặc nhận lãnh một cuộc chính biến tất yếu phải xảy ra do 1 trong 2 lực lượng CA/QĐ đảm nhiệm.
5. Đây là thời điểm rất thích hợp để các Tổ chức đấu tranh dân chủ công bố với Quốc Dân Dự án Chính trị của mình để Toàn Dân lựa chọn và an tâm kỳ vọng vào một tương lai VN đạo đức hơn, văn minh hơn, ổn định hơn và vững bền hơn, qua một lộ trình Dân chủ hóa Đất nước thiết thực phù hợp; hướng dẫn Đồng bào làm nhiệm vụ lịch sử, bằng các cuộc biểu tình ôn hòa, kiên định, hiệu quả, và bằng các hình thức đấu tranh bất bạo động hữu hiệu khác. Nếu Tổ chức nào chưa sẵn Dự án Chính trị khoa học phù hợp thì nên sát nhập vào Tổ chức khác có Dự án Chính trị hợp lý, hứa hẹn hiệu quả cao cho Đất nước hơn.
6. Xin Quí Luật sư, các Chuyên viên và các Tổ chức Dân chủ chuẩn bị một bản Hiến pháp hoàn hảo ngăn ngừa độc tài hữu hiệu, Luật Bầu cử và Tổ chức Quốc hội hợp lý, Luật Tổ chức Chính phủ gọn nhẹ hiệu quả, Luật Tổ chức Viện Bảo hiến khoa học, giúp cả những người chưa giỏi vẫn có thể điều hành Đất nước đạo đức, hòa bình và thịnh vượng; đồng thời chuẩn bị một cuộc Bầu cử Quốc hội tự do công bằng văn minh để đưa Hiến pháp đi vào cuộc sống.
7. Xin cảm ơn mọi người thiện chí đã vui lòng đọc Bản Di Chúc quá dài này. Kính chúc mọi người sớm được sống trong một Nước VN tự do, dân chủ, đa nguyên đa đảng, hòa bình, đạo đức và an vui.
Trong nhà tù hay bất cứ trong hoàn cảnh nào, tôi vẫn hiệp thông tiếp tục đấu tranh không ngừng. Xin mọi người luôn cầu nguyện cho tôi. Hẹn gặp lại mọi người đông đủ trên Thiên đàng và trong cõi vĩnh hằng.
Viết tại Nhà Chung Tổng Giáo phận Huế, ngày 02-02-2011 Tù nhân Lương tâm Tađêô Nguyễn Văn Lý Linh mục Công giáo Tổng Giáo phận
NGHỊ QUYẾT ĐƯA CSVN TRỞ LẠI DANH SÁCH CPC
Vũ Hoàng, phóng viên RFA
Nghị quyết do Dân biểu Ed Royce soạn thảo nhằm đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC được đem ra bàn thảo tại Hạ Viện.
Ông Ed Royce và ông Cao Quang Ánh trong một buổi thảo luận về nhân quyền VN năm 2010
Vũ Hoàng phỏng vấn ông Ed Royce về vấn đề này.
Vũ Hoàng: Thưa ông Ed Royce, với tư cách là tác giả bản dự thảo đưa Việt Nam trở lại danh sách “các nước cần quan tâm đặc biệt về vấn đề tôn giáo” (CPC), ông có thể giải thích lý do vì sao dẫn đến quyết định này được không?
Ed Royce: Lý do quan trọng nhất mà chúng ta có thể nhìn thấy là tự do tại Việt Nam. Tôi có cơ may là gặp được Hòa Thượng Thích Quảng Độ vài năm trước, nhưng cho đến ngày hôm nay thì Ngài đã bị ngồi tù hoặc bị quản chế hơn 30 năm qua. Cũng trong cùng thời gian, có những nhà đấu tranh cho tôn giáo khác như Linh mục Nguyễn Văn Lý, người đã bị tra khảo, đánh đập hàng trăm lần. Đây là một trong nhiều khuôn mặt bị hành hạ dã man vì tự do tôn giáo tại Việt nam.
Chúng ta phải lên tiếng, nếu chúng ta tiếp tục im lặng, có nghĩa là chúng ta đang tước vũ khí và bỏ rơi những người đang đấu tranh.
Tôi đã chụp hình mặt ông sau một trận tra tấn và đưa cho những cộng sự của tôi xem trong phiên họp này. Tôi nghĩ thời điểm đã đến cho Việt Nam, là thời điểm mà người Công giáo, Phật giáo không tiếp tục bị cầm tù hay quản chế vì những niềm tin tôn giáo của họ.
Khi tôi nhìn thấy những sự xâm phạm nhân quyền tại Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, Cao đài hay những tôn giáo khác như Công giáo thì tôi nhận thức được rằng nếu chúng ta không thay đổi những pháp chế có sức ép đến chính phủ Việt Nam, thì chúng ta không thể nào thay đổi được chế độ cầm quyền đó.
Đây là vấn đề đạo đức nên tôi sẽ kêu gọi tất cả những đồng nghiệp của tôi trong quốc hội ủng hộ và chúng tôi sẽ trình dự luật này ra trước quốc hội thông qua và đặt Việt Nam trở lại vào danh sách CPC.
Xâm phạm nhân quyền trầm trọng
Vũ Hoàng: Ông có thể giải thích rõ hơn vì sao ông gọi Dự thảo này là “chiến thắng của những người bị tước đoạt tự do tôn giáo"?
Ed Royce: Nếu chúng ta có thể thông qua dự luật này thì chính phủ Hoa Kỳ có cơ hội làm một việc làm rất có ý nghĩa đó là đặt Việt Nam lại vào danh sách CPC. Trước hết là chúng ta phải lên tiếng, nếu chúng ta tiếp tục im lặng, có nghĩa là chúng ta đang tước vũ khí và bỏ rơi những người đang đấu tranh.
Tôi nghĩ thắng lợi cho những người đang đấu tranh cho tự do tôn giáo chỉ có thể xảy ra khi cộng đồng thế giới bắt đầu tỏ thái độ và cho các nhà cầm quyền này biết rằng khi họ đàn áp dân chúng thì sẽ phải đối diện với những hậu quả không thể gọi là tốt đẹp.
Tôi cũng muốn nói thêm một điều là đơn vị truyền thông như RFA là một yếu tố rất quan trọng. Khi tôi công tác tại Đông Đức tôi đã nhận thấy được tầm quan trọng của cơ quan truyền thông này vì tất cả mọi người tại đó rất quan tâm đến những tin tức mà RFA đưa ra, từ đó thúc đẩy họ đấu tranh cho những quyền lợi mà họ tự nhiên phải có.
Tôi hy vọng đây sẽ là một chiến thắng cho quyền tự do tôn giáo; trên khía cạnh cộng đồng quốc tế sẽ có những bước mạnh mẽ nhằm tạo ra những biện pháp trừng trị Việt Nam và kết quả có thể là họ sẽ có những hành động, giống như lần đầu tiên chúng ta đặt họ vào danh sách này nhưng đây là là bươc đi theo đúng hướng.
Trong thời gian một năm qua đã có những trường hợp chính quyền mượn tay xã hội đen để làm việc cho chính phủ, kiểu như ném đá giấu tay, điều này làm tôi rất bực mình. Chúng ta muốn thấy sự tự do tôn giáo hoàn toàn tại Việt Nam chứ không phải người dân sống đời sống đức tin của họ dựa theo lề lối của nhà nước.
Mọi người rất quan ngại về chuyện chính phủ Việt Nam ngược đãi những người hành đạo của tất cả các tôn giáo. Và điều này là không thể chấp nhận được!
Vũ Hoàng: Ông có đề cập đến chuyện nếu Việt Nam muốn có quan hệ chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ, thì Việt Nam phải tôn trọng quyền cơ bản của người dân, gồm quyền tự do tôn giáo. Ông có nghĩ là Chính phủ Việt nam sẽ làm theo điều này?
Ed Royce: Đây là Chính phủ Cộng sản, thì cũng giống như bất kỳ một đất nước Cộng sản nào khác, chẳng hạn những đất nước Cộng sản ở Đông Âu, họ chỉ bắt đầu thay đổi khi có áp lực, họ chỉ bắt đầu thay đổi khi có luồng thông tin tự do trong xã hội. Điều quan trọng hơn nữa là chúng ta đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC, đây cũng là điều mà rất nhiều các tổ chức phi chính phủ đã nói với chúng tôi.
Ông cũng biết đấy, cách đây vài năm, Human Rights Watch, một tổ chức phi chính phủ về nhân quyền gọi việc đàn áp nhân quyền tại Việt Nam là tồi tệ nhất trong vòng 20 năm trở lại đây. Tôi nghĩ có một thực tế là chính phủ Việt Nam sẽ chống lại sự thay đổi, và đây là lý do vì sao chúng ta phải sử dụng những cơ quan trung gian để thay đổi, chẳng hạn thông qua các cơ quan truyền thông, cũng như thông qua việc phê chuẩn Nghị quyết này.
Đàn áp tôn giáo
Vũ Hoàng: Chính phủ Tổng thống Obama nói rằng đã có những tiến bộ trong tình trạng nhân quyền Việt Nam, ông không đồng tình với quan điểm này, thế ông nhận xét thế nào về vấn đề này? Ông có thể cho khán giả một vài thí dụ được không ạ?
Linh mục Nguyễn Văn Lý ngày 5-3-2007 (lúc Linh mục tạm ngưng tuyệt thực). Photo courtesy FNA Ed Royce: Tôi rất vui cho ông thấy nhiều thí dụ rất rõ ràng về những gì đang diễn ra tại Việt Nam hôm nay, cụ thể là quá trình cải thiện nhân quyền ở Việt Nam không có tiến triển mà ngược lại là đằng khác. Trước hết, chính quyền Việt Nam quấy nhiễu những người theo đạo Thiên Chúa, tịch thu đất đai của nhà thờ, và đôi khi họ còn đánh đập, bắt giữ những người theo đạo.
Những điều này nằm trong báo cáo của chúng tôi và cũng được giới truyền thông đưa tin hoặc được các tổ chức Phi chính phủ quay trở lại Việt Nam làm việc cho biết.
Những tổ chức này trực tiếp nói với chúng tôi những gì họ nhìn thấy và chứng kiến. Việt Nam có tới 355 người theo Đạo tin lành hiện vẫn đang ở trong tù, sau khi bị bắt giữ vì biểu tình đòi quyền dành đất và biểu tình đòi tự do tôn giáo ở Tây Nguyên.
Việt Nam cũng có 600 người theo Đạo tin lành và nhiều nhà thờ vẫn không được công nhận về tính hợp pháp, vì thế đã dẫn tới những vụ quấy nhiễu, bắt giữ hay phá hoại nhà cửa.
Chúng tôi cũng biết được nhiều người theo Phật giáo thường xuyên gặp khó khăn khi thực hiện việc lễ bái của mình. Và đó là tình hình hiện nay. Bất kể những người này theo đạo gì đi chăng nữa, nếu không bị kết tội, thì những người này sẽ phải đối mặt với việc Nhà nước cố gắng kiểm soát tôn giáo họ.
Ông biết đó, gần đây mới xảy ra chuyện Cồn Dầu ở Đà Nẵng với việc đánh đập bằng roi điện, và chuyện đó thực sự gây sốc. Những người thi hành công vụ tại Việt Nam đã phá hoại nghĩa trang của những người theo đạo. Đây là những thí dụ mới diễn ra trong năm nay và làm mọi người rất quan ngại về chuyện chính phủ Việt Nam ngược đãi những người hành đạo của tất cả các tôn giáo. Và điều này là không thể chấp nhận được!
Tôi cũng muốn nói thêm một điều là đơn vị truyền thông như RFA là một yếu tố rất quan trọng.
Vũ Hoàng: Ông có hi vọng dự luật CPC sẽ thành công lần này?
Ed Royce: Vâng, tôi hi vọng dự thảo này sẽ được phê duyệt. Buổi thảo luận sẽ diễn ra vào chiều nay. Thành công mà chúng tôi có cho tới bây giờ là đã gửi được dự thảo này đến Uỷ Ban Đối ngoại, và hi vọng sau buổi thảo luận chiều nay thì dự thảo luật này của chúng tôi sẽ được ủng hộ mạnh mẽ.
Vũ Hoàng: Ông có điều gì muốn nhắn gửi tói mọi người đang ở Việt Nam không thưa ông?
Ed Royce: Chúc mừng năm mới và Giáng sinh an lành đến tất cả mọi người. Và hi vọng rằng chúng ta có thể gửi một thông điệp mạnh mẽ đến chính quyền Cộng Sản Việt Nam, để quyền tự do tín ngưỡng sẽ được tôn trọng, giống như tại Hoa Kỳ hay tại khắp nơi trên thế giới. Và cám ơn ông rất nhiều cho buổi nói chuyện ngày hôm nay.
Vũ Hoàng: Xin được thay mặt thính giả đài ACTD gửi tới ông lời Chúc mừng năm mới và Giáng sinh vui vẻ và cũng một lần nữa xin cám ơn ông đã giành thời gian cho đài của chúng tôi.
Ed Royce: Cám ơn ông rất nhiều cho cuộc phỏng vấn này.
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx GIU LAI NHUNG BAI TRUOC DE CHUYEN VAO PHAN LUU TRU===============> *****************************************************************************************************
CUỘC VIẾNG THĂM LS LÊ THỊ CÔNG NHÂN
J.B Nguyễn Hữu Vinh
HÀ NỘI - Tối Chủ nhật 7/3/2010, đường phố Hà Nội ồn ào, náo nhiệt. Người người vội vã, những quầy bán hoa tươi nhộn nhịp, các hàng lưu niệm đông đúc... Dường như cả thành phố tấp nập bất chấp những khó khăn của thị trường, của cuộc sống, để mừng ngày Quốc tế Phụ nữ - 8/3.
Chúng tôi, mấy giáo dân, sau khi đi thăm người thân trong Bệnh viện Bạch Mai, ngồi trong một quán cafe nhìn dòng người hối hả xuôi ngược mà thấy vui vui. Thì ra, dù cuộc sống có khó khăn đến đâu, con người vẫn nghĩ tới con người thật nhiều, và dành cho nửa nhân loại những điều tốt đẹp nhất.
Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc
Mấy anh em ngồi nói chuyện về giáo lý, giáo luật như lệ thường khi gặp nhau. Bỗng như một sự vô tình cùng nhau nói đến lời kinh “Thương người có mười bốn mối”, một bạn trẻ đọc “Thương xác bảy mối:... thứ bốn viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc...”.
Đọc đến đây, một anh bạn chợt lên tiếng: “Chúng ta vừa đi thăm kẻ liệt, nhưng kẻ tù rạc thì chưa. Chúng ta đã thăm nhiều kẻ ốm đau, giúp đỡ một số người đói rách, nhưng đúng là chưa bao giờ đến thăm những kẻ đã và đang ở tù. Hình như chúng ta quên mất họ là một trong những thành phần chúng ta cần quan tâm”. Một người tiếp lời: “Thăm kẻ liệt thì còn được, thăm tù nhân thì coi chừng nhà nước lại coi là... liên quan chính trị đấy”.
Một người lên tiếng: “Tại sao lại sợ là liên quan nào? Chúng ta chỉ đến thăm họ trong cảnh tù đày, khổ sở vì những lý do cụ thể là con người. Còn việc họ ở tù vì sao, đó là việc của chính quyền với bản thân họ. Ai làm, người đó chịu chấp nhận, không có luật pháp nào cấm thăm kẻ tù đày. Không luật pháp nào cấm được tình yêu thương, nếu tám giáo dân Thái Hà “được” đi tù thì hôm nay tớ đi thăm ngay”.
Mọi người đều tán thành điều đó, và cùng nghĩ tới Lê Thị Công Nhân, một Kitô hữu mới ra khỏi nhà tù để về với cuộc sống đời thường sau 24 tiếng. Hẳn giờ này, cô ấy còn chịu nhiều những choáng váng, đau khổ và áp lực của ba năm cách biệt với cuộc sống xã hội. Tất cả mọi người nhất trí đến thăm cô ấy nhân ngày phụ nữ 8/3, ngày mà mọi phụ nữ đều đáng được tôn vinh. Gọi chiếc taxi bên đường, ghé qua hàng bán hoa tươi mua một bó, chúng tôi cùng nhau lên đường.
Cuộc viếng thăm không hẹn trước
Chiếc taxi đưa chúng tôi vòng lượn hỏi thăm nhà, mất chừng nửa tiếng. Một người làm nghề “xe ôm” hỏi: “Các anh đi thăm cô gì mới ra tù phải không? Phải đi vào ngõ 4 đường Phương Mai”. Cũng buồn cười cái anh xe ôm, đi tù về thì đâu chỉ có một người, nhưng anh ta đã chỉ đúng chỗ. Chiếc taxi đưa chúng tôi vào một ngõ, khi chiếc xe dừng lại, ngạc nhiên thấy Lê Thị Công Nhân đang ở đó, tay cầm mấy chiếc mắc áo trong tay.
Chúng tôi xuống xe, một bạn trẻ ôm bó hoa trên tay và cùng tới chào hỏi. Lê Thị Công Nhân ngạc nhiên: “Chào các anh, em chưa gặp các anh bao giờ”. Cũng đúng thôi, đã gặp nhau bao giờ mà quen được. Chúng tôi trả lời: “Chào em, chúng tôi là những tín hữu Kitô, ngày hôm nay, đến chúc mừng em và thăm em khi nghe tin em vừa mới được ra tù”. Cô nở nụ cười mời chúng tôi về nhà.
Con ngõ nhỏ, hơi tối dẫn chúng tôi đến khu tập thể, Công Nhân nói: “Ngõ tuy tối nhưng không đáng sợ”. Qua dãy sân trước nhà tập thể, mấy anh em chúng tôi cùng nhau bước lên cầu thang. Ngoài sân, một phụ nữ mặc áo đỏ, đội mũ bảo hiểm đang ngồi trên xe bấm điện thoại gọi đi đâu đó, Công Nhân nói: “Những người này ở vòng trong, là phụ nữ, còn nam giới thì ở vòng ngoài, chắc họ sắp đổi gác”.
Qua hai lần cửa, chúng tôi bước vào căn hộ của gia đình Công Nhân nằm ở cuối tầng 3 khu tập thể, một căn hộ nhỏ nhắn và xinh xắn. Một chiếc bàn giữa hai bên là chiếc ghế ngồi kê đệm. Trên tường nhà có Thánh giá mang tượng Chúa Giêsu và những câu Kinh Thánh được trích ra. Chúng tôi ngồi yên vị và bắt đầu cuộc nói chuyện.
Cuộc viếng thăm khá bất ngờ, chủ và khách đều mới mẻ, tôi giới thiệu: “Chúng tôi, những tín hữu Kitô, được tin em vừa ra khỏi nhà tù, chúng tôi đến thăm em nhân ngày Phụ nữ 8/3 và chúc mừng em đã ra khỏi nhà tù, cách biệt với xã hội để trở lại cuộc sống bình thường”.
Bác Trần Thị Lệ khá ngỡ ngàng khi thấy Công Nhân đưa chúng tôi vào nhà, những người khách không được mời và cũng chưa quen biết. Nhưng dường như sự cảnh giác biến mất, những nụ cười luôn nở trên môi khi biết chúng tôi là những Kitô hữu.
Buổi nói chuyện không dài, chúng tôi chúc mừng em được ra khỏi nhà tù về với gia đình, về với cuộc sống thường ngày của em. Lê Thị Công Nhân kể cho chúng tôi về những ngày tháng, những cảm xúc của em khi ở trong tù, khi được trở về với cộng đồng, với gia đình và em khẳng định rằng: “em không chấp nhận bản án, nghĩa là cái đuôi đằng sau là 3 năm quản chế không có giá trị gì với em”.
Kể về nỗi sợ hãi khi sống trong nhà tù suốt ba năm, cô nói:
“Những năm tháng trong tù, có những khó khăn khi cô đơn, khi ốm đau... tất cả em dần dần đều quen nhưng không tạo cho em nỗi sợ hãi.
Nhưng em đã có lần trải qua nỗi sợ thật sự, đó là khi truyền hình liên tục đưa tin về câu nói của Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt. TV đưa đi đưa lại nhiều lần trong các chương trình thời sự, chương trình vì an ninh. Cả buồng tù hơn 60 chục con người bắt đầu lên đồng, gào rú đòi đập chết cái lũ ấy đi, đòi chém đòi giết. Mà trong phòng tù đó, chỉ mỗi mình em là công khai xưng rằng mình là Kitô hữu. Em thấy thực sự sợ hãi và báo với quản lý buồng giam.
Tuy em chưa được nghe chính thức câu nói đó, nhưng em tin là không phải như thế. Em đã có cách xem TV và đọc báo của em, em hiểu rằng, có một sự thật như thế nào đó chưa biết, nhưng không phải là sự thật này.” Và cô kết luận:
“Cái đáng sợ chính là sự ngu dốt của con người, nó có thể biến người ta trở thành những con người mất kiểm soát hành vi”.
Câu chuyện của chúng tôi có khi bị ngắt quãng bởi sự xúc động của cô, mắt ngấn lệ khi nói về những điều cô thao thức, những suy nghĩ về thế sự, về thời cuộc...
Ðể vượt qua ba năm tù tội với một phụ nữ là điều không hề đơn giản như những người chưa trải qua có thể nghĩ. Tuy nhiên, Lê Thị Công Nhân nói:
“Ðể vượt qua ba năm trong nhà tù, em chỉ có mỗi cuốn Kinh Thánh, trang cuối cùng em đọc xong lần thứ nhất là đêm trước ngày em ra tòa Phúc thẩm. Ba năm trong tù, Chúa vừa là người bạn, là người Cha, là người Thầy của em, nâng đỡ, dìu dắt em vượt qua tất cả. Em mới về chưa thể cập nhật được thông tin, nhưng ở trong tù, em thấy trên TV những người giáo dân Thái Hà ra trước vành móng ngựa mặc rất đẹp, áo dài đỏ, áo vét... đó là điều để lại ấn tượng trong em ”.
Em tỏ ý nói rằng, khi nghe được có những cuộc đi bộ hàng chục km của giáo dân đến trước phiên tòa, rực rỡ với cành thiên tuế, em rất tiếc không được hòa chung vào dòng người đó, vì em nhỏ bé nên chắc chắn em sẽ đi hàng đầu.
Tôi nói với cô rằng: “Tôi không phải là người có thể hoạt động chính trị hay có khả năng làm chính trị, chỉ đơn giản là một tín hữu Kitô, hôm nay đến thăm em vì chúng ta là Kitô hữu. Nhưng những câu chuyện em kể đã để lại cho chúng tôi thêm một lần xác tín, một niềm tin được tăng thêm. Khi chúng ta có Thiên Chúa là đấng tối cao, đấng soi sáng và dẫn đường làm Thầy, làm Cha và làm Bạn của chúng ta, chúng ta có thể đi đến bất cứ nơi nào Chúa muốn”.
Chia tay Lê Thị Công Nhân và gia đình cô, chúng tôi có ấn tượng mãi về một cô gái, một con người nhỏ nhắn về hình thể, một con người yếu đuối về thể xác, nhưng có một tinh thần thép và một sự hiểu biết, lòng bao dung rộng lớn.
Chúng tôi tin cô sẽ vượt qua tất cả, vì trong cô có một niềm tin – Một Ðức Tin, cô chữa lại.
Hà Nội ngoài kia vẫn dập dìu những chiếc xe với những bó hoa lớn, những hàng quán vẫn tấp nập... Chúng tôi ra về từ một ngõ nhỏ dưới trời lất phất mưa xuân.
J.B Nguyễn Hữu Vinh
CSVN TÌM MỌI CÁCH KIỂM SOÁT ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ CỦA DÂN CHÚNG
Tin tổng hợp - Hãng thông tấn Pháp AFP trong một bài phân tích gửi đi từ Hà Nội hôm thứ Bảy, cho rằng trong mục đích duy trì quyền lực độc tôn, nhà cầm quyền cộng sản tại Việt Nam vẫn đang tìm mọi cách để kiểm soát đời sống chính trị của dân chúng. Ðảng Cộng sản Việt Nam khẳng định mạnh mẽ sự kiểm soát chặt chẽ trên đời sống chính trị của đất nước trong bối cảnh đảng này được 80 tuổi và đang bị nhiều thành phần khác nhau trong xã hội chỉ trích. Thứ ba vừa qua nhân dịp kỷ niệm 80 ngày thành lập đảng Cộng sản Ðông dương là tiền thân của đảng Cộng sản Việt Nam, báo chí trong nước đã đưa tin là Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh đã nhắc lại rằng Ðảng đã và tiếp tục là lực lượng tiên phong của giai cấp lao động, của dân tộc Việt Nam.
Lời phát biểu trên đây được đưa ra hai tuần lễ sau khi 4 người bất đồng chính kiến bị kết án từ 5 đến 16 năm tù giam vì tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền. Ðối với chính phủ Việt Nam, tội danh của bốn người này là bảo vệ sự đa đảng, có liên hệ với những tổ chức ở ngoài nước và âm mưu lật đổ chính phủ một cách bất bạo động bằng cách tuyên truyền trên Internet. Theo AFP, các nhà quan sát tình hình Việt Nam nghĩ rằng nhà cầm quyền nước này đã tăng cường chính sách đàn áp từ cuối năm 2006, sau khi hội nghị thượng đỉnh châu Á-Thái Bình Dương được tổ chức tại Hà Nội, và sau khi Việt Nam được kết nạp vào Tổ chức Thương mãi Thế giới. Từ 3 năm nay, ngành tư pháp Việt Nam đã đưa ra xét xử nhiều cá nhân dám chỉ trích chế độ. Họ đến từ nhiều tầng lớp khác nhau như là thành viên công đoàn, nhà báo, tu sĩ, luật sư ủng hộ dân chủ, nhà văn chủ trương đa đảng và chỉ trích quan hệ Việt-Trung.
Các nhà phân tích còn nhận thấy một điều mới lạ là kể từ nay chính sách đàn áp của Việt Nam còn nhắm vào những thanh niên đã được đào tạo ở nước ngoài bị tố cáo là đã bắt liên lạc với những tổ chức chính trị ở ngoài nước. Theo ông Ben Kerkvliet, thuộc trường Ðại học quốc gia Úc ở Canberra được AFP trích dẫn, có những dấu hiệu cho thấy là càng có nhiều người chỉ trích về đường lối chính trị và nằm trong một tổ chức thì chính quyền càng ra tay đàn áp. Ông Kerkvliet còn nhận thấy là đối với nhiều người vấn đề trầm trọng là tệ nạn tham nhũng bên trong đảng Cộng sản. AFP nhận thấy là nếu như các nhà phân tích gặp khó khăn để đưa ra những nguyên nhân chính xác của các đợt bắt bớ vừa qua, thì cũng có một số người nêu lên khả năng những đấu đá trong nội bộ vì sắp đến Ðại hội lần thứ 11 của đảng Cộng sản Việt Nam, sẽ được tổ chức vào tháng giêng năm 2011. Ông Stein Toennesson thuộc Viện nghiên cứu về hoà bình của Oslo Na Uy, đưa ra giả thuyết là trước Ðại hội, những thành phần bảo thủ nhất nắm phần chủ động và những người khác không dám chống lại vì sợ bị đánh giá là có thái độ không kiên định. Nhưng ông không loại trừ khả năng là những thành phần đổi mới muốn cải tổ đảng từ bên trong.
Trong khi đó ông Carl Thayer thuộc trường đại học New South Wales của Úc, thì nghĩ rằng đại đa số đảng viên không có cảm tưởng là Ðảng Cộng sản sẽ dễ dàng bị lật đổ, cho dù từ hai thập niên qua tính chính đáng của đảng này ngày càng bị phản bác.(SBTN)
Posted on 10 Feb 2010 FreeVietNews
BEAUXITE VIỆT NAM QUYẾT SỐNG
Đăng bởi boxitvn on 11/01/2010 http://boxitvn. wordpress. com/2010/ 01/11/bauxite- viet-nam- quyet-song/ #more-8
Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Cù Huy Hà Vũ trong đêm đầu năm mới 2010.
Phải khẳng định rằng đối với Loài Người Văn Minh, thông tin chuyển tải trên Internet đã trở nên thiết yếu tới mức không có nó thì không thể tồn tại, như Oxy đối với Sự sống vậy. Cũng như thế, từ 8 tháng nay với 17 triệu rưỡi lượt truy cập – một con số kỷ lục – trang mạng Bauxite Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Nhà giáo Phạm Toàn và Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng khởi xướng, tập hợp trên 3 nghìn chữ ký của giới trí thức Việt Nam và các tầng lớp nhân dân ký vào Kiến nghị, quyết liệt phản đối Chính phủ cho phép khai thác bauxite tại Tây Nguyên, bất chấp hậu họa cho môi trường và an ninh quốc gia, tiếp nối những bức tâm thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về cùng vấn đề, đã thực sự trở thành “dinh dưỡng tinh thần” hàng ngày của tất cả những ai “con Lạc cháu Hồng” ứa máu với Hoàng Sa, đau đáu với Trường Sa, với sinh mệnh của Tổ quốc đang lâm nguy bởi “liên minh ma quỷ” giữa các thế lực tham nhũng trong nước và bành trướng phương Bắc. Cũng chính vì vậy, với Bauxite Việt Nam, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Cộng sản, “xã hội dân sự” – thành phần quyết không thể thiếu của bất kỳ quốc gia Dân chủ và Pháp quyền nào – đã được thị phạm một cách vô cùng hoành tráng và sinh động!
Điều vô cùng nghiêm trọng là từ ngày 12 tháng 12 năm ngoái, 2009, Bauxite Việt Nam liên tục bị “tin tặc” đánh phá khốc liệt, mạng bị sập nhiều lần, thậm chí cả các hộp thư điện tử cá nhân của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và Nhà giáo Phạm Toàn cũng bị chúng trộm cắp mật khẩu hoặc “nhái” địa chỉ để “chế” và phát tán một số thư mạo danh người này để đả kích, xúc phạm danh dự người nọ. Nếu như hành vi đầu cùa “tin tặc” dù là thô bạo và trắng trợn nhưng cũng chẳng làm nhụt được chí của ai thì hành vi sau của chúng quả vô cùng hiểm độc bởi không chỉ nhằm ly gián những người chủ trương Bauxite Việt Nam với nhau mà chính là còn nhằm ly gián những người ký Kiến nghị và ủng hộ trang mạng, hòng đẩy cả một phong trào yêu nước và dân chủ rầm rộ nhất từ trước đến nay đi đến chỗ tan rã.
Thế nhưng như mọi người đã thấy, những “mưu ma chước quỷ” nói trên ngay lập tức đã thất bại thảm hại với lời kết án “bọn lưu manh tin học” thật đanh thép và đầy khinh bỉ của Nhà giáo Phạm Toàn, với các thư “chế” sặc mùi mật thám tuốt tuột bị vụt vô sọt rác mà bằng chứng là không có bất cứ trang mạng nào dù trong hay ngoài nước đăng lại. Mặc dù vậy, để khôi phục một cách bền vững Bauxite Việt Nam, không thể không đặt câu hỏi: Ai là kẻ chủ mưu và làm cách nào để diệt trừ tận gốc những hành vi bỉ ổi và để tiện ấy ?!
Tất cả những ý kiến mà tôi nghe được cho đến nay đều cho rằng hỏi tức trả lời: Chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo “xóa” Bauxite Việt Nam bởi run sợ trước ảnh hưởng xã hội ngày một lớn mà trang mạng có được bằng những phản biện quyết liệt mà rất khoa học và đúng pháp luật đối với quyết định cho phép khai thác bauxite tại Tây Nguyên và các quyết định trái pháp luật khác của Chính phủ và Thủ tướng, bằng những phanh phui không khoan nhượng những bất cập, tha hóa và phản dân chủ của hệ thống chính trị hiện hành, cốt lành mạnh hóa hệ thống, và chỉ đạo này đã được “ẩn” dưới Công văn 8500/VPCP-TH do Thủ tướng ký đầu tháng 12/2009 giao Bộ Thông tin và Truyền thông tiến hành kiểm tra các trang mạng “có phép và không phép” và báo cáo Thủ tướng trước 15/12/2009! Nghĩa là, trang mạng nào làm ngứa “nhãn” Thủ tướng hay không theo “lề phải” thì cứ việc rút giấy phép, thu thẻ (nhà báo) khỏi cần nêu lý do đối với loại “có phép” (như đã làm đối với trang mạng của Tạp chí Tia sáng vào ngày 27/10/2009 sau khi trang này đăng bài “Giáo dục: xin cho tôi nói thẳng” của Giáo sư Hoàng Tụy), còn đối với loại “không phép” thì dùng “tin tặc” thủ tiêu là tuyệt chiêu! Tóm lại, dưới góc nhìn của cư dân mạng có óc hài hước, Thủ tướng đã biến Bộ bốn T – tên gọi khác của Bộ Thông tin và Truyền thông – thành “Bộ Thu thẻ tùy tiện”, “Bộ Thực thi Tin tặc”, hay gọn lại, “Bộ Thu thẻ – Tin tặc”! Và không phải ngẫu nhiên, vẫn những ý kiến trên, mà Công văn 8500/VPCP-TH lại rất “đồng điệu” với Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ngày 24/7/2009 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng độc đoán cấm các tổ chức khoa học và công nghệ công khai “phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước” (thật kỳ quái, phản biện mà không công khai, tức không để công chúng biết để giám sát đối tượng được phản biện, thì đó là lối “góp ý”, “phê bình” áp dụng cho sinh hoạt nội bộ Đảng và chính quyền, không tiếp thu thì “ghế” cũng chẳng hề hấn gì miễn được “sếp” đỡ, chứ đâu phải là phản biện như một chế tài, không sửa sẽ bị dân loại bỏ, trừ phi chính quyền không “từ nhân dân mà ra”!), dẫn đến IDS, Viện Nghiên cứu Phát triển tư nhân đầu tiên của Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ độc lập với Chính phủ, phải tự giải thể vào trung tuần tháng 9 cùng năm.
Nói cách khác, việc đánh phá Bauxite Việt Nam và những người chủ trương trang mạng dứt khoát không phải là hành vi đơn lẻ hay nhất thời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhằm vô hiệu hóa những kẻ dám “chọc gậy bánh xe dự án bauxite” đang quay tít mà ngược lại, nằm trong cả một chiến dịch quy mô do Chính phủ tiến hành nhằm bóp nghẹt mọi phản ứng xã hội trước những “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước” làm lén Quốc Dân Đại hội nói riêng, bịt miệng giới Trí thức Yêu nước chuộng Công lý và Dân chủ nói chung để “giữ vững ổn định chính trị”, tức giữ statuquo – nguyên trạng “chế độ xã hội chủ nghĩa”, nhất là trong bối cảnh Đại hội XI của Đảng đã cận kề…
Về logic hình thức, tức về hiện tượng mà nói thì những ý kiến trên là rất thuyết phục. Tuy nhiên với tư cách một người làm công tác pháp luật, tôi chưa vội kết luận, không chỉ vì chưa có chứng cứ cụ thể và trực tiếp – “bắt tận tay, day tận trán” như các cụ vẫn nói – mà còn vì những ý kiến trên quá chủ quan, đã đánh giá quá thấp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bởi dẫu có bất đồng chính kiến với Bauxite Việt Nam đến đâu, không đời nào Thủ tướng – người không ngớt hô hào xây dựng Nhà nước pháp quyền vì Dân – lại có thể hành xử phản pháp luật đến như vậy!
Thực thế, các hành vi phá hoại trên của “tin tặc” đã xâm phạm nghiêm trọng những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và Pháp luật bảo hộ và bị các Nhà lập pháp liệt vào danh sách tội phạm thể hiện tại các quy định pháp luật sau: - Điều 69 Hiến pháp: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin…” - Điều 73 Hiến pháp: “Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được đảm bảo an toàn, bí mật”. - Khoản 2 Điều 10 Pháp lệnh bưu chính, viễn thông: “Nghiêm cấm thu trộm, nghe trộm thông tin trên mạng viễn thông, trộm cắp, sử dụng trái phép mật khẩu, khoá mật mã và thông tin riêng của tổ chức, cá nhân khác”. - Điều 125 Bộ Luật hình sự về “Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác” quy định: “Người nào chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền bằng phương tiện viễn thông và máy tính, hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác” với hình phạt “cải tạo không giam giữ từ một năm đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm” trong trường hợp “có tổ chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn, phạm tội nhiều lần, gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại các Điểm a, b, c, d Khoản 2 Điều này. - Điều 122 Bộ Luật hình sự về “Tội vu khống” quy định: “Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”với hình phạt “phạt tù từ một năm đến bảy năm” trong trường hợp “có tổ chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn, đối với nhiều người, ” quy định tại các Điểm a, b, c Khoản 2 Điều này. Vậy để trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đồng thời gián tiếp chứng minh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “vô can” một cách có căn cứ pháp luật, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và Nhà giáo Phạm Toàn với tư cách chủ nhân trang mạng Bauxite Việt Nam, chủ nhân của những hộp thư điện tử bị tin tặc trộm cắp mật khẩu, khoá mật mã hoặc “nhái” địa chỉ và chủ nhân của những thư điện tử bị tin tặc chiếm đoạt để mạo danh vu khống người khác, hoàn toàn có quyền yêu cầu Nhà nước “nhập cuộc” bằng cách căn cứ Điều 100 (Căn cứ khởi tố vụ án hình sự) và Điều 101 (Tố giác và tin báo về tội phạm) Bộ Luật tố tụng hình sự để làm đơn tố cáo hoặc tố giác gửi Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về các tội phạm trên của “tin tặc” và đề nghị khởi tố vụ án hình sự “Xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác” theo Điều 125 và “Vu khống” theo Điều 122 Bộ Luật hình sự để truy tìm và đưa ra trước vành móng ngựa “bọn lưu manh tin học” và những kẻ chủ mưu.
Song song, hai ông có thể cậy tới sự giúp đỡ của Hiệp sĩ Công nghệ thông tin Nguyễn Tử Quảng, Giám đốc Trung tâm An ninh mạng BKIS thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội, người đã rất thành công trong việc tổ chức tấn công và chiếm quyền kiểm soát hai máy chủ ở Anh được cho là nguồn gốc điều khiển các cuộc tấn công vào các trang mạng của Hàn Quốc và Mỹ vào tháng 7 năm ngoái. Tôi tin Tử Quảng không hổ danh Hiệp sĩ và cũng là một người yêu nước chân chính, tiếp nối dũng khí của bố vợ là Nhà báo Đăng Ngọc, Phó Tổng biên tập báo Đại đoàn kết bị buộc thôi việc do ngày 6/11/2007 đã đăng bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp phản đối phá bỏ Hội trường Ba Đình để xây Nhà Quốc Hội, sẽ hết mình vì Bauxite Việt Nam!
“Quyết sống!”, đó là câu trả lời của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi gửi cá nhân tôi ngay khi Bauxite Việt Nam bị đánh sập. Không nghi ngờ gì nữa, đó cũng là lời tuyên thệ long trọng của những người khởi xướng trang mạng, tiếp nối lời thề “Quyết Tử cho Tổ quốc quyết Sinh” của những bậc Anh hùng nước Việt Mùa Đông năm 1946. Hậu sinh Cù Huy Hà Vũ này chỉ có thể nghiêng mình và noi theo trước khí phách của các Ông – những Chu Văn An của “Thất trảm sớ” thời nay – với niềm tin chắc nịch rằng những Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn và Nguyễn Thế Hùng cùng hàng ngàn Nghĩa sĩ của Phong trào Kiến nghị 2009 đã và đang làm nên Lịch sử!
Hà Nội Mùa Đông 4/01/2010 – 9/01/2010 CHHV
LM NGUYỄN VĂN LÝ BỊ CHUYỂN TRỞ LẠI NHÀ TÙ BA SAO
Việt cộng đã đem Linh mục Nguyễn Văn Lý về trại Ba Sao lúc 5 giờ chiều ngày 11/12/2009.
Linh mục Nguyễn Văn Lý vẫn còn bị liệt nửa người, và chỉ có thể đi vài bước ngắn với chiếc nạng 4 chân nhưng mệt lả, không thể tiếp tục bước thêm, mặc dù tinh thần ngài vẫn bất khuất; nhưng thể xác và sức khoẻ Linh mục Nguyễn Văn Lý thật đáng quan ngại.
Linh mục Nguyễn Văn Lý tiếp xúc Đại sứ Hoa Kỳ Michael Michalak ngày 14/10/09 tại nhà tù Ba Sao. (Hình của báo CAND)
Sau cơn tai biến mạch máu não lần thứ hai ngày 14/11/2009 cho đến nay, ông không thể tự ăn một mình vì cánh tay phải của ông không thể tự điều khiển. Tất cả các bữa ăn đều do các cháu của Linh mục giúp cho ông ăn.
Ông cũng không thể tự chống gậy để đến phòng vệ sinh ngay trong phòng bệnh viện của ông. Mọi hoạt động căn bản đều phải tùy thuộc sự giúp đỡ tận tình của các người cháu vì nửa người bên phải của ông gần như hoàn toàn tê liệt.
Từ tuần trước, tình trạng sức khoẻ của Linh mục Nguyễn Văn Lý trở thành xấu hơn. Ông thỉnh thoảng bị sốt, rồi sau đó đột ngột bị lạnh. Các cháu của ông đấp cho ông 2, 3 lớp mền nhưng ông vẫn run vì lạnh. Ông cố gắng tập luyện thân thể, nhưng những phút luyện tập này càng ngày càng ngắn đi vì những cơn sốt kéo đến thường xuyên hơn. Trí nhớ của ông cũng bị giảm sút rất nhiều.
Cũng trong thời gian này, Linh mục Nguyễn Văn Lý từ chối ăn uống và được trị liệu nếu các bác sĩ ghi tên trên toa thuốc là "phạm nhân Lý". Nhưng những kiên quyết này của Cha, bác sĩ và y tá thường đến ngỏ lời xin lỗi Cha về "những lỗi lầm" trên. Ông dự định sẽ tuyệt thực để phản đối tình trạng Công sản Việt Nam chà đạp nhân quyền.
Ông luôn lạc quan vì luôn nghĩ rằng ông đã thực hiện đúng lý tưởng tranh đấu dân chủ, tự do cho đồng bào của ông.
Mặc dù Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần đề nghị trả tự do cho ông với "vài điều kiện không chân thật". Ông vẫn từ chối và tiếp tục con đường tranh đấu cho sự thật và tự do cho tất cả mọi người.
Ngày 29/11/2009, gia đình ông đã viết thư cho cấp lãnh đạo Việt Nam yêu cầu nhà cầm quyền phải trả tự do cho Linh mục Nguyễn Văn Lý theo diện nhân đạo. Nhưng một viên chức của CSVN cho biết họ không chấp nhận đòi hỏi nầy, vì trong lá thư của gia đình đã không thỏa đáng những điều kiện mà họ đã từng bắt buộc Linh mục Lý phải chấp nhận trước khi họ chấp nhận sẽ đưa Linh mục Lý ra khỏi nhà tù nhỏ.
Gia đình Linh mục Lý đành đau lòng nhìn thấy ngài bị đọa đày. Nhưng họ vẫn đồng ý với Cha là Cha hoàn toàn vô tội trước pháp luật. Mọi hoạt động tranh đấu của Cha hoàn toàn bất bạo động và theo đúng hiến chương quốc tế nhân quyền của Liên Hiệp Quốc mà CSVN đã ký kết.
Với bản án tù 8 năm, Linh mục Lý đồng ý chấp nhận sự đày đọa thêm 5 năm biệt giam nữa với cơ thể tê liệt của ông.
Linh mục Nguyễn Văn Lý đang đòi hỏi CSVN phải trả ông về lại giáo phận Huế, nơi ông được Giáo Hội Công Giáo ban phép để phục vụ. Ông tuyên bố từ đây ông sẽ không dùng thuốc men hay thực phẩm của nhà tù mà chỉ dùng thực phẩm do gia đình cung cấp.
Đây cũng có thể coi như một hình thức tuyệt thực. Vì gia đình Linh mục Lý quá xa làm sao có thể thăm nuôi thường xuyên được. Đặc biệt là người chị của Cha năm nay đã gần 70 tuổi. Bà đã hao mòn sức khoẻ khi liên tục thăm nuôi Linh mục Lý trong tù từ năm 1983.
Anh Nguyễn Văn Hải, cháu Linh mục Lý đã đưa ngài tử bệnh viện của bộ Công An tại Cầu Giấy, Hà Nội về trại tù Ba Sao lúc 5 giờ chiều 11/12/2009.
Anh Hải không được phép theo Linh mục Lý vào phòng giam và chỉ còn biết khóc để từ biệt Cha tại cổng trại tù khi thấy Cha phải chập chững từng bước ngắn với cây nạng 4 chân và sự phụ giúp bắt buộc của cai tù.
Không biết trong lúc này Linh mục Nguyễn Văn Lý xoay trở cách nào trong phòng biệt giam với tình trạng sức khoẻ vô cùng tồi tệ của ông và một thân thể bất động. Ước mong quý đồng hương góp cho ông một lời cầu nguyện.
Washington ngày 12 tháng 12 năm 2009 Ngô Thị Hiền Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Cho Việt Nam (CRFV)
THƯ NGỎ GỞI PHÓNG VIÊN CÁC CƠ QUAN BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG LỀ PHẢI
Thư ngỏ gởi phóng viên các cơ quan báo chí truyền thông “lề phải”
Thưa quý vị,
Khi viết những dòng chữ này gởi đến quý vị, chúng tôi vẫn mong rằng, tất cả quý vị trong tương lai sẽ là những phóng viên trung thực trong mọi vấn đề thời sự xảy ra hàng ngày trên quê hương đất nước. Quý vị là những chiến sĩ tiên phong của đệ tứ quyền trong nền tự do ngôn luận mà người dân trong mọi quốc gia trên thế giới đều cần đến. Mặc dù hiện nay, vì cuộc sống và danh vọng tiền tài mà có không ít phóng viên đã tự đánh mất lương tâm để chạy theo những hư ảo thế quyền. Nói đến sự thật và công bằng thì bất cứ ai cũng đều thích, cũng đều công nhận, nhưng để thực hiện cho tốt thì lại là những việc làm không dễ, đôi khi người ta phải đổi lấy cả sự nghiệp và sinh mạng của mình.
Những nước dân chủ đa nguyên thì quyền tự do ngôn luận và báo chí là quyền bất khả xâm phạm của toàn dân bởi vì, nhờ có tự do ngôn luận, tự do báo chí mà người dân mới kiểm soát được chính quyền và chính quyền bắt buộc phải làm tốt nếu muốn được nhân dân tiếp tục ủng hộ, và cũng nhờ có tự do ngôn luận và báo chí mà người dân mới biết được ai có đủ tài đức để lãnh đạo đất nước. Trong thể chế Cộng sản độc quyền lãnh đạo như Việt Nam bây giờ, báo chí đều phải đi theo “lề phải” dưới sự hướng dẫn của đảng và không có báo chí tư nhân, không có cơ quan độc lập trong vai trò giám sát sự điều hành của các cấp chính quyền thì quốc nạn tham nhũng, bè phái và những thành phần bất tài vô dụng cứ tiếp tục tung hoành gây khổ đau cho nhân dân và đất nước là điều dễ hiểu. Cho dù khó tính và cố bao che ngụy biện đến đâu đi nữa thì quý vị, cũng phải công nhận là nền tự do ngôn luận và quyền hạn của phóng viên ở các nước dân chủ đa nguyên đã vượt xa Việt Nam rất nhiều.
Thật đau lòng cho hiện tình đất nước VN chúng ta, khi hàng ngày nhân dân phải đối diện cả một guồng máy lãnh đạo độc tài sống trên luật pháp, cộng thêm hệ thống truyền thông ngôn luận chỉ biết đi theo một chiều dưới sự chỉ đạo của đảng để nhằm mục đích duy nhất là cũng cố quyền hành và địa vị cá nhân. Xin quý vị hãy thật sự khách quan và tự đặt ra những câu hỏi thiết thực để chứng tỏ đâu là chính nghĩa và đâu là phi nghĩa. Tạm thời chúng ta có thể khép lại quá khứ đau lòng mà ĐCSVN đã gây ra cho đất nước và cuộc sống yên lành của toàn dân, nhưng những hình ảnh tang thương của phong trào cải cách ruộng đất, Nhân văn Giai phẩm năm 1954- 1957 ở miền Bắc, của các mồ chôn tập thể ở cố đô Huế vào tết Mậu thân năm 1968 sau khi quân đội giải phóng rút lui, của sự tàn sát dân thường ở ấp Tân Lập thuộc huyện Cao Su tỉnh Đồng Nai mà quân đội đảng đã thực hiện khiến cho nhà văn Trần Đức Thạch phải viết lên bài “ hố chôn người ám ảnh” được đăng trên các trang web toàn cầu. Chắc chắn rằng lịch sử sau này sẽ không bao giờ bỏ qua.
Những tưởng trong thời gian hội nhập vào tiến trình văn minh của thế giới ngày nay, các nhà lãnh đạo ĐCSVN từng tự hào là đỉnh cao trí tuệ sẽ nhìn ra được sự thật để mà đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết. Nhưng không, họ đã vì địa vị và lợi ích cá nhân, vì sự tồn vong của đảng mà quên đi tất cả. Họ đã âm thầm dâng hiến những mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc cho Trung Quốc, một đất nước đã từng gieo rắc đau thương cho dân tộc VN suốt 1000 năm trong quá khứ, và hiện nay lại tiếp tục dùng chiêu bài “16 chữ vàng” và “4 Tốt” do các nhà lãnh đạo ĐCSVN dâng hiến để tái diễn con đường xâm lăng của chúng vào đất nước Việt Nam. Quần đảo Hoàng sa, phần lớn của Trường sa thân thương của Tổ quốc, Ải Nam quan, ¾ thác Bãn Giốc, bãi Tục Lãm, trên 10000 km2 vùng biển, v.v… đã thực sự được các nhà lãnh đạo ĐCSVN âm thầm dâng cho bọn người Trung Quốc rồi. Bây giờ, vấn đề cho TQ tự do đem hàng trăm ngàn công nhân (có thể là quân nhân trá hình) đến Tây nguyên để khai thác Bô-xít, đây là một đại dự án khiến cho TQ chiếm trọn VN trong tương lai.
Những bức thư cảnh tỉnh đầy tâm huyết của các tướng lãnh đã từng hy sinh cả đời cho sự tồn vong của đảng, nhất là đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với bảng kiến nghị đầy lòng yêu nước và tinh thần dân tộc của gần 3000 các nhà trí thức, nhà khoa học VN ở trong và ngoài nước đã không đánh thức được sự độc tài, độc đoán của hàng lãnh đạo ĐCSVN. Những cuộc bắt bớ cướp giựt của hải quân TQ đối với các ngư dân VN đã là những câu chuyện hàng ngày không có hồi kết.Thế nhưng những bài báo do các phóng viên bồi bút viết theo yêu cầu của đảng đang hướng sự hiểu biết trong đại bộ phận nhân dân vào con đường xa rời thực tế, những chương trình ca ngợi đất nước TQ, ca ngợi tinh thần hữu nghị VN-TQ trên các phương tiện truyền thong. Báo điện tử ĐCSVN cho đăng bài viết của báo TQ về cuộc tập trận của hải quân TQ về chủ quyền HS-TS khiến cho cư dân mạng phải vất vả phản đối liên tục sau nhiều ngày mới chịu gở bõ, trong khi ông TBT Đào duy Quát thì chỉ bị phạt hành chánh 30 triệu đồng. Trang web của bộ công thương hợp tác với TQ lại để cho TQ sử dụng tên miền vn hàng mấy năm trời. Vừa qua, TQ thành lập chương trình phát thanh “ Vịnh Bắc bộ” dành cho nhân dân VN và trong buổi lể khai mạc, ông Nguyễn Anh Dũng tham tán tòa Tòa Lãnh sự VN ở tỉnh Nam Ninh đến tham dự và phát biểu ca ngợi hết mình trước việc làm khiêu khích này của TQ,…
Trong lúc các ngư dân VN ghé “cảng Hữu Nhật, một cảng quân sự của hải quân TQ nằm trên quần đảo thuộc chủ quyền VN” để tránh bão thì họ đã bị hải quân TQ phân biệt đối xử, đánh đập và cướp sạch tài sản. Ấy vậy mà 15 nhân vật trong BCT ĐCSVN vẫn không dám một lời phản đối, trong khi báo chí VN và các cơ quan phát thanh truyền hình của đảng hàng ngày vẫn tiếp tục ca ngợi tình hữu nghị đối với TQ, thủ tướng Nguyễn tấn Dũng vẫn tay bắt mặt mừng đi thăm TQ để ký thêm những mật ước mà nhân dân không được quyền biết.
Trên đây là những hành động điển hình cho sự ươn hèn nhu nhược của các nhà lãnh đạo ĐCSVN trước bọn người TQ. Còn trong nước thì lại gia tăng đàn áp, bắt bớ và trù dập những công dân yêu nước, dùng tiền đóng thuế của nhân dân để mua các thiết bị kiểm soát Internet, theo dõi các blogger cá nhân và thiết lập hệ thống tường lửa firewall để người dân không tiếp cận được các trang web đối lập với đảng. Thật quá đau lòng khi những hành động hại dân hại nước của những con người trong đảng gây ra như những sự việc vừa kể, cùng với các vụ việc có tầm mức quốc gia như PMU18, ODA, Vedan trên dòng sông Thị Vãi, vụ sập cầu Cần thơ, cấm xuất khẩu gạo để nông dân điêu đứng trong năm qua 2008, vụ in tiền polymer mà nước Úc đang điều tra, xã hàng trăm triệu m3 nước trong lúc lũ đang lên để gây thiệt hại nặng nề cho nhân dân v.v.., nhưng chưa thấy ai bị từ chức và bị luật pháp trừng trị đúng người đúng tội. Trái lại, những người trẻ và trí thức trên tay không một tấc sắt, chỉ biết dùng kiến thức của mình để đòi hỏi các nhà lãnh đạo ĐCSVN phải ý thức được tinh thần dân tộc để mà đổi mới tư duy theo ý nguyện của toàn dân, họ chưa bao giờ chủ trương loại bỏ ĐCSVN trong lòng dân tộc bởi vì, đó là quyền quyết định của toàn dân thông qua bầu cử tự do và công bằng, họ tranh đấu với những điều xấu của đảng. Việc làm của họ rất phù hợp với bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và các công ước quốc tế khác mà VN đã tình nguyện tham gia. Họ lên tiếng hô hào HS-TS và các vùng đất đã nhượng cho TQ là của VN, thì sự đòi hỏi của họ cũng rất phù hợp với điều 69 hiến pháp VN. Nhưng họ đã bị tòa án cho là chống lại đảng, chống lại đường lối của nhà nước và họ đã bị xử tù rất nặng. Đó là những bản án phi nhân, phi nghĩa chỉ có thể xảy ra trong một vài nước trên thế giới còn theo chế độ độc tài quân phiệt, độc tài cộng sản như VN mà thôi.
Hiện tại chính quyền đang ra sức phát động phong trào sống và làm việc theo gương chủ tịch Hồ chí Minh. Nhưng qua sự tìm hiểu của các nhà nghiên cứu về sự thật của cuộc đời chủ tịch HCM thì hoàn toàn khác với những gì mà hàng ngày đảng tuyên truyền trong nhân dân. Về tư tưởng của chủ tịch HCM thì ông chỉ là người thi hành theo đường lối của CNCS quốc tế mà thôi. Khi còn sống rất nhiều lần chủ tịch HCM xác nhận là tư tưởng của ông là tư tưởng của Lê nin và Mao Trạch Đông. Ông cũng từng nói “ai có thể sai chớ Lê nin và Mao trạch Đông thì không thể sai”. Cuốn phim sự thật HCM đã và đang được trình chiếu khắp nơi trên thế giới do LM Nguyễn Hữu Lễ thực hiện có lưu dẫn trên các trang web toàn cầu, với các nhân chứng đã một thời làm việc cho đảng và cùng sống với chủ tịch HCM hiện nay vẫn còn sống là những bằng chứng hùng hồn cho cuộc đời của chủ tịch HCM. Nếu cuốn phim sự thật về HCM mà không đúng thì tại sao chính quyền CSVN không đưa LM.Nguyễn Hữu Lễ ra trước tòa án quốc tế?
Cũng vì mục đích chính trị mà các nhà lãnh đạo CSVN đã thêu dệt một cách quá thần thánh vai trò của chủ tịch HCM, và đây là một vết nhơ trong lịch sử VN sau này. Ngoài ra còn quá nhiều những sai trái khác mà hàng ngày các nhà lãnh đạo CSVN đang áp dụng. Xin đơn cử 4 sự kiện điễn hình.
1/ Nhà sử học Phan Huy Lê (chủ tịch hội nghiên cứu lịch sử của đảng) vừa tiết lộ: trước khi ông Trần Huy Liệu qua đời có nhắn nhủ với ông là sau này, khi tình hình cho phép thì ông nên đính chính lại sự thật về anh hùng Lê Văn Tám trong nền giáo dục VN bởi vì, Lê Văn Tám là nhân vật không có thật do chính ông Trần huy Liệu tự đặt ra khi kho xăng ở Thị Nghè của Pháp cháy mà không biết nguyên nhân. Ông Trần Huy Liệu lúc đó là trưởng ban tuyên giáo trung ương mới nghĩ ra một nhân vật ảo, cậu bé Lê Văn Tám 10 tuổi đã ý thức được con đường cách mạng và câm thù giặc Pháp, nên đã tự tẳm xăng vào mình rồi đốt cháy thành ngọn đuốc chạy vào kho xăng của địch cách đó 50 mét khiến kho xăng phát nổ và cháy. Ông còn nói sở dĩ ông lấy họ Lê Văn là vì nhiều người VN mang họ Lê còn tên Tám là ngày cách mạng tháng 8 thành công.
2/ 16 tấn vàng tài sản của miền Nam VN mà ĐCSVN tuyền truyền trong nhân dân là tổng thống Nguyễn Văn Thiệu mang đi. Thật ra, 16 tấn vàng cùng những tài sản quý hiếm khác đã được bàn giao lại cho chính quyền cách mạng lâm thời sau khi chiếm được miến Nam. Vấn đề này đã được báo Tuổi Trẻ tường thuật đầy đủ trong loạt bài “vàng đổi chủ” đăng từ ngày 25/4 đến 02/5/2006.
3/ Việc lực lượng công an giả dạng thường dân, thuê mướn côn đồ thông qua sư quốc doanh Thích đức Nghi đàn áp tăng ni và phá nát tu viện Bát Nhã ngày 27/9/2009. Ngay cả khi các tăng ni Bát Nhã về tá túc tại chùa Phước Huệ, nhưng hàng ngày công an và chính quyền vẫn thường xuyên làm áp lực HT Thích Thái Thuận trục xuất số tăng ni này, trong khi đài truyền thanh Bảo Lộc thì vẫn thường xuyên phát những bản tin vu cáo tăng ni Bát Nhã làm chính trị. Đây là một sự thật quá rõ ràng đã được các cơ quan truyền thông trên thế giới cùng các nhà trí thức trong nước lên tiếng phản đối, nhưng bà Nguyễn Phương Nga phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao cùng ông Nguyễn thanh Xuân phó ban tôn giáo chính phủ lại xác nhận là không có.
4/ Khi công an Hà nội tự động kiếm chuyện hành hung nhà văn Trần Khải Thanh Thủy để bắt bà về tội gây rối trật tự công cộng và đánh trọng thương người khác, công an đã đưa lên báo chí hình ảnh bể đầu của ông Điệp được báo mạng Dân trí đăng lên. Kỳ thực, hành động “ném đá dấu tay” này của công an đã bị blogger Diệu Vân khám phá vì đó là tấm hình đã được chụp vào ngày 28/2/2005 được CA dùng phần mềm Photoshop để chỉnh sửa lại ngày 09/10/2009.
Trong những ngày qua có một số phóng viên viết bài bôi xấu tăng ni tại Bát Nhã và cá nhân hòa thượng Thích Nhất Hạnh cũng như nhà văn Trần Khải Thanh Thủy. Đây là những việc làm vô nhân đạo mà chúng tôi nghĩ chỉ có một số rất ít phóng viên vì cuộc sống cá nhân nên đánh mất lương tâm. Chắc chắn những bài viết sai sự thật này sẽ không bao giờ mất và sau này khi đủ điều kiện, việc biết tên thật của phóng viên viết bài sẽ không khó. Thiết nghĩ trong tương lai những phóng viên này chắc chắn sẽ ăn năn về những hành động của mình bởi vì, sống trên đời không có sự việc nào mất hẳn cả, nếu có nhân thì phải có quả. Nhân quả là định luật bất di bất dịch đã hiện diện từng giây phút trong cuộc sống của chúng ta. Một người nông dân muốn sau này trúng mùa thì hiện tại phải siêng năng cần mẫn canh tác đúng phương pháp, một học sinh muốn thi đậu thì hiện tại phải có thời khóa biểu học tập hợp lý, con người muốn có một tương lai tràn đầy hạnh phúc không khổ đau, thì hiện tại phải có những việc làm chân chánh đúng với lẽ phải của đạo làm người. Những bài viết sai sự thật để đưa một con người lương thiện vào vòng lao lý, đó là những việc làm bất thiện chắc chắn sau này sẽ không bao giờ có kết quả tốt.
Chúng ta thử nhìn sự thành đạt của những người VN sinh sống ở các nước dân chủ đa nguyên trên mọi phương diện để mà so sánh lại trong nước. Tại sao cũng là một con người VN, nhưng trình độ và sự thành đạt lại chênh lệch quá xa như thế? Dĩ nhiên, môi trường xã hội sẽ là yếu tố quyết định để con người có đủ cơ hội và điều kiện phát triển hết khả năng của mình. Trong một xã hội dân chủ đa nguyên sẽ không bao giờ tồn tại những sai lầm triền miên từ những người lãnh đạo như tại VN bởi vì, với nền dân chủ đa nguyên thì anh có quyền thành lập đảng phái theo mục đích riêng của anh thì tôi cũng có quyền đó, anh có quyền đưa ra những chính sách phục vụ nhân dân và đất nước thì tôi cũng có quyền như thế, quyền quyết định sau cùng là của toàn dân thông qua bầu cử tự do và công bằng, nếu cá nhân và đảng phái của anh không được toàn dân tín nhiệm để lãnh đạo đất nước thì anh vẫn có quyền trong vai trò đối lập để cùng với toàn dân kiểm soát sự điều hành của chính quyền. Không thể có chuyện một thủ tướng vi phạm pháp luật mà tòa án lại nói rằng: luật pháp không có điều khoản nào xử thủ tướng như trường hợp tòa án tối cao VN trả lời với luật sư Cù Huy Hà Vũ trong vụ luật sư này kiện thủ tướng Nguyễn tấn Dũng về QĐ 167 của thủ tướng cho phép TQ khai thác Bô xít Tây nguyên không thông qua QH.
Với nền dân chủ đa nguyên thì quyền tự do báo chí là bất khả xâm phạm của toàn dân, và những người phóng viên sẽ được tự do trong khi tác nghiệp mà không phải đi theo lề phải của bất cứ một thế lực nào cả. Các đại biểu QH trong nền dân chủ đa nguyên sẽ là những người đủ tài, đủ đức được nhân dân chọn lựa để bênh vực quyền lợi cho nhân dân trước mọi thế lực của chính quyền, họ đại diện cho ngành lập pháp và hoàn toàn độc lập với chính quyền, khác với VN 95% đại biểu QH là đảng viên kiêm nhiệm. Trong mọi cơ quan của chính quyền đều có đủ thành phần đảng phái tham gia, chớ không phải như VN chỉ có đảng viên ĐCS mới được làm trưởng các ban ngành.
Ngày 9/11/2009 vừa qua khắp nơi dân chúng ở Đông âu và nước Đức đã tưng bừng kỷ niệm 20 năm bức tường Bá linh sụp đổ, cũng từ đó chủ nghĩa cộng sản coi như đã vĩnh viễn cáo chung tại chính nơi sinh ra nó mặc dù hiện nay, cũng có các nhà lãnh đạo của các nước này vẫn là những cựu đảng viên ĐCS trước đây. Nhưng vì sự đi lên của thời đại và tiến trình xây dựng đất nước cho nên, không có một ai muốn trở lại con đường cộng sản cả, điều đó chứng tỏ rằng thể chế CNCS không thể nào phù hợp với nền văn minh thế giới. Vậy mà tại VN, ông Tô Huy Rứa, trưởng ban tuyên giáo trung ương lại viết bài đăng trên báo điện tử của ĐCSVN nói rằng: “Cách mạng tháng 10 Nga giành thắng lợi và đã đi vào lịch sử nhân loại như một sự kiện vĩ đại quan trọng nhất của thế kỷ 20, mở đầu thời đại mới, thời đại quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới,…”. Ông còn nói: “Chủ nghĩa tư bản phát triển được như ngày nay, ở trình độ CNTB hiện đại phải mất từ 400-500 năm”. Theo như lời nói này của ông Rứa thì dân tộc VN phải chờ đợi từ 400 hoặc 500 năm nữa để được hưởng những gì mà CNTB ngày nay đang có. Nên nhớ đó là lời nói “vàng ngọc” của ông Tô Huy Rứa, trưởng ban tuyên giáo trung ương, đại diện cho “đỉnh cao trí tuệ” của đảng.
Trước khi bức tường Bá linh sụp đổ, quân đội và công an của ĐCS Đông đức được mệnh danh là tàn bạo nhất, sẵn sàng bắn chết không nương tay những người nào vượt tường qua Tây Đức để tỵ nạn. Nhưng cuối cùng rồi họ cũng vẫn quay về lẽ phải, quay về với sức mạnh của nhân dân và bức tường Bá linh, một bức tường ô nhục đã ngăn cách 2 miền đất nước Đức suốt 28 năm đã sụp đổ.
Tại VN phóng viên báo chí và ngành truyền thông, sức mạnh quân đội và lực lượng công an là thành trì bảo vệ chế độ. Nhưng CNCS đã quá lỗi thời không còn phù hợp với trào lưu tiến bộ của thế giới, trình độ của các thành phần lãnh đạo của đất nước thì quá kém không đủ khả năng và dũng khí trước kẻ thù Trung Quốc và những vấn đề nhạy cảm của đất nước, đây là một sự thật quá rõ ràng và chúng ta phải làm sao để khỏi hổ thẹn với tiền nhân.
Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin ghi lại lời phát biểu của cựu Tổng bí thư ĐCS Liên Xô cũ Gorbachev tại trường đại học Columbia ngày 12/3/2002: “Cán bộ đảng chỉ điều hành quốc gia với sự gian dối. Chúng tôi, trong đó có tôi từng nói, tư bản đang đi đến sự hủy diệt trong khi chúng ta đang phát triển tốt đẹp. Lẽ dĩ nhiên, đó chỉ là những lời tuyên truyền nói dối. Trên thực tế, quốc gia của chúng tôi đang bị bỏ rơi lại ở đằng sau”.
Do đó, nếu quý vị còn chút tình với quê hương đất nước thì hãy ngẫm nghĩ lại về việc làm của mình để sau này khỏi ân hận.
Việt Nam, ngày 17/11/2009 Hương Trà cùng nhóm bạn trẻ (Email: huongtra13@gmail. com)
KHÔNG DÁM XỬ TỘI DANH TREO BIỂU NGỮ
Tại Sao Hà Nội Không Dám Xử Tội Treo biểu Ngữ Của 9 Người Yêu Nước Trung Điền
Một lần nữa nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã lún sâu vào tội phản dân tộc khi kết án 59 năm tù (gồm 32 năm giam cầm và 27 năm quản chế) đối với 9 nhà dân chủ yêu nước gồm nhà thơ Trần Đức Thạch, Nhà giáo Vũ Hùng, Kỹ sư Phạm Văn Trội, Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Sinh viên Ngô Quỳnh, ông Nguyễn Văn Túc, ông Nguyễn Mạnh Sơn, ông Nguyễn Văn Tính, ông Nguyễn Kim Nhàn trong các phiên tòa tại Hà Nội và Hải Phòng trong các ngày 6, 7, 8, và 9 tháng 10 vừa qua. Những nhà dân chủ yêu nước đã bị kết án nặng nề chỉ vì họ lên tiếng kêu gọi mọi người cùng nhau bảo vệ đất nước đang bị phương Bắc đe dọa.
Tuy nhiên, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã dùng còng 88 (điều 88 - tuyên tuyền chống nhà nước) của bộ luật Hình sự để kết án 9 nhà dân chủ thay vì xét xử về việc họ đã cùng nhau treo biểu ngữ “Bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo Việt Nam - tự do dân chủ đa nguyên” tại Hà Nội và Hải Phòng. Trong bản kết luận điều tra của công an và cả bản cáo trạng của Viện kiểm sát, Cộng sản Việt Nam đã chỉ đề cập về một số bài viết, một số phát biểu của các nhà dân chủ mà họ cho là có “âm mưu chính trị” nhằm chống lại nhà nước.
Tại sao Hà Nội lại tránh né việc xét xử các hành động tụ họp treo biểu ngữ?
Thứ nhất, việc Hà Nội không dám đưa ra xét xử tội treo biểu ngữ vì sẽ đụng đến hai vấn đề cấm kỵ đối với chế độ. Đó là vấn đề xâm lược của Bắc Kinh đối với các lãnh hải, lãnh đảo của Việt Nam và tội bán nước của Hà Nội trong các hành vi đồng loã với Bắc Kinh từ công hàm Phạm Văn Đồng vào năm 1958 kéo dài cho đến nay. Do đó khi đưa ra xét xử, Hà Nội không thể kết án xoay quanh các hành động liên quan đến việc treo biểu ngữ vì còn phải đề cập đến nội dung và sự ảnh hưởng của nó. Đi sâu vào nội dung, Hà Nội sẽ bế tắc trong việc kết tội đối với vụ treo biểu ngữ của các nhà dân chủ. Đồng thời những phản biện qua lại về các hành vi xâm lược của Bắc Kinh giữa cán bộ Việt cộng và các nhà tranh đấu trong phiên tòa, chắc chắn sẽ đẩy Hà Nội vào thế tiến thoái lưỡng nan: Tấn công Bắc Kinh để giữ thể diện hay bênh vực Bắc Kinh để giữ chỗ dựa an toàn.
Thứ hai, khi mang vụ treo biểu ngữ ra kết án, Hà Nội còn đối diện một vấn đề nghiêm trọng khác là phản ứng chống đối của các đảng viên đảng Cộng sản về hành động bán nước của họ. Từ khi một số cựu chiến binh ký vào thỉnh nguyện thư gửi cho ông Mạnh và ông Dũng yêu cầu rút lại công hàm Phạm Văn Đồng vào tháng 5 năm 2008, ban bí thư và bộ chính trị Cộng sản Việt Nam đã phải phổ biến hàng loạt các tài liệu học tập nhằm giải thích quan điểm của đảng về các thái độ xâm lấn của Trung Quốc trên Biển Đông. Tuy nhiên, hầu hết đảng viên đảng Cộng sản đã không đồng tình về các giải thích và trong những buổi họp nội bộ, đa số đã yêu cầu trung ương đảng phải có thái độ phản đối mạnh mẽ hơn đối với Trung quốc. Do đó, Cộng sản Việt Nam không thể tự bắn vào chân mình khi họ biết là không thể nào vừa làm hài lòng Bắc Kinh, vừa làm hài lòng nội bộ đảng, bởi thái độ ươn hèn của họ trong thời gian vừa qua.
Thứ ba, Hà Nội lo sợ kết quả của phiên tòa sẽ tạo sự phẫn nộ của dư luận và có thể bị kích động tạo thành một phòng trào chống đảng và nhà nước về tội bán nước, phản dân tộc khi đưa ra xét xử những người vì lòng yêu nước đã treo biểu ngữ kêu gọi mọi người bảo vệ đất nước. Mặc dù Hà Nội mang điều 88 ra xét xử đối với 9 nhà dân chủ; nhưng có thể nói là dư luận người Việt ở trong và ngoài nước rất quan tâm theo dõi, nhiều quốc gia đã cử đại diện đến dự thính tại các phiên tòa vừa qua. Tuy gọi là xử công khai; nhưng mọi diễn tiến và nội dung của phiên tòa đã bị Hà Nội kiểm soát gắt gao. Ngay cả việc loan tải kết quả của phiên tòa, lần này Hà Nội chỉ cho loan tải một cách lấy lệ trên một số kênh truyền hình địa phương, hoàn toàn khác với cách cho loan tải rầm rộ của những phiên tòa trước đây để dằn mặt dư luận.
Chính vì biết thủ đoạn tránh né của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, 9 nhà dân chủ yêu nước và cả những luật sư biện hộ đã chống lại các luận cứ kết tội của công an và Viện kiểm sát. Tất cả các nhà dân chủ đã không nhận mình có tội vi phạm điều 88 như CSVN đưa ra. Ngược lại họ đều chủ trương rằng những bài viết, những phát biểu đều nằm trong khuôn khổ của quyền tự do được quy định trong hiến pháp cũng như trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mà Cộng sản Việt Nam công nhận.
Các nhà dân chủ cũng đã khẳng định rằng họ là những người yêu nước và các hành động của họ - treo biểu ngữ - là thái độ biểu hiện lòng yêu nước mà tất cả mọi người Việt Nam đều phải làm và cần làm trước những đe dọa của ngoại bang. Trong bài luận cứ bào chữa trước phiên tòa xử Kỹ sư Phạm Văn Trội hôm mồng 7 tháng 10 tại Hà Nội, Luật sư Huỳnh Văn Đông đã nói:
“Trong vụ án này nếu có tội, anh Phạm Văn Trội chỉ phạm một tội duy nhất là tội dám nói lên những tiêu cực còn tồn tại trong xã hội, dám nói thật và nói thẳng những quan điểm, chính kiến của mình và chấp nhận hậu quả cho những hành động đó nhưng tội danh này không có trong Bộ luật hình sự Việt Nam. Nếu xét xử và buộc tội anh Phạm Văn Trội có hành vi tuyên truyền chống nhà nước bằng cái đơn tố cáo chính sách an ninh nhà nước và đảng Cộng sản Việt Nam, thì tôi nghĩ rằng cả tập thể Tòa soạn báo đảng Cộng sản cũng phải đi tù nốt vì hành vi công khai dâng biển cho Trung Quốc bằng việc biểu dương sức mạnh của quân đội Trung quốc trên vùng biển Hoàng sa - Trường sa Việt Nam thông qua bài báo trên trang báo của đảng Cộng sản ngày 4 tháng 9 vừa rồi. Nhưng chúng ta chỉ thấy ông Tổng Biên Tập chỉ bị “khiển trách” hết sức nhẹ nhàng và bị phạt 30 triệu đồng . Dư luận bất bình trước những thông tin được loan tải trên trang nhà của ĐCS và càng bức xúc trước “hình phạt” như gãi ngứa đối với cá nhân có trách nhiệm nên có người gọi đó là thứ “Công lý bất công”.
Luận cứ bào chữa của Luật Sư Huỳnh Văn Đông đã nói lên tất cả bộ mặt thật của chế độ Hà Nội đã dùng “công lý trá hình” để trù dập những tiếng nói bất khuất, yêu nước. 59 năm tù là một bản án rất nặng đối với 9 nhà dân chủ yêu nước chỉ vì cùng nhau treo một biểu ngữ kêu gọi mọi người bảo vệ đất nước. Lịch sử Việt Nam chắc chắn phải ghi lại 9 tấm gương yêu nước ngày hôm nay đã dám hành động vì đại nghĩa để chống lại Phương Bắc và tập đoàn tay sai lãnh đạo Hà Nội. Nhưng cũng từ bài học của lịch sử, những chế độ bán nước hại dân thì không bao giờ tồn tại lâu dài. Sinh viên Ngô Quỳnh, trong lời phát biểu sau cùng trước tòa án Hải Phòng vào ngày 9 tháng 10 đã nói: “Tôi hãnh diện những điều tôi đã làm và tôi mong thế hệ của tôi và các em của tôi sớm nhìn thấy một Việt Nam độc lập, tự do dân chủ”.
Trung Điền Ngày 11/10/2009
TÒA ĐẠI SỨ HOA KỲ TỎ THÁI ĐỘ VỀ VỤ KẾT ÁN
Quan ngại sâu sắc' sau vụ kết án http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2009/10/091014_ usembassydisside nts.shtml
Trong một thông cáo báo chí ra hôm 14/10, Đại sứ quán của Hoa Kỳ ở Hà Nội bày tỏ ''quan ngại sâu sắc về việc 9 nhà hoạt động dân chủ bị kết án ở Việt Nam hồi tuần trước".'
Thông cáo viết: "Các nhà hoạt động đơn giản chỉ bày tỏ các quan điểm của họ một cách ôn hòa và không tạo ra bất cứ mối đe dọa nào tới an ninh quốc gia của Việt Nam."
''Chúng tôi cũng quan ngại về việc bắt giữ nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, bà đã bị đánh đập và bắt giữ sau khi công khai bày tỏ sự ủng hộ đối với 9 nhà hoạt động dân chủ. Không nên có cá nhân nào bị đánh đập, bắt giữ, hoặc giam giữ vì thực hành quyền tự do ngôn luận,'' thông cáo viết tiếp. ''Các hành động này, cùng với việc cưỡng ép các sư sãi ra khỏi Tu viện Bát Nhã ở tỉnh Lâm Đồng và việc chính phủ đã không bảo vệ họ khỏi bị tấn công là trái với cam kết của chính Việt Nam đối với các tiêu chuẩn được quốc tế công nhận về nhân quyền và nền pháp trị.''
Đại sứ quán Hoa Kỳ thúc giục: ''Chính phủ Việt Nam tôn trọng các cam kết nhân quyền quốc tế của mình, và thả ngay lập tức và vô điều kiện những người này cũng như các tù nhân khác bị giam giữ vì đã bày tỏ các quan điểm của họ một cách ôn hòa.''
Xử hàng loạt
Tổng cộng đã có chín người phải ra tòa với cùng một tội danh. Tất cả số này đều bị bắt từ tháng Chín năm ngoái.
Họ bị buộc tội đã "lưu trữ, phát tán những tài liệu vu khống chế độ, sau đó chụp hình và phát tán lên mạng Internet".
Các nhà hoạt động đơn giản chỉ bày tỏ các quan điểm của họ một cách ôn hòa.
Những người ra tòa ở Hải Phòng ngày 09/10 có các ông Nguyễn Xuân Nghĩa, 60 tuổi; Nguyễn Văn Tính, 67 tuổi; Nguyễn Kim Nhàn, 60 tuổi; Nguyễn Văn Túc, 45 tuổi; Ngô Quỳnh, 25 tuổi và Nguyễn Mạnh Sơn, 66 tuổi.
Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa nhận án nặng nhất là 6 năm tù giam và 4 năm quản chế tại gia vì 'vai trò lãnh đạo'.
Họ bị cáo buộc là vào hồi tháng 8/2008 đã tổ chức treo biểu ngữ và rải truyền đơn với nội dung "chống chính quyền" tại cầu vượt Lạch Tray (Hải Phòng) và Lai Cách (Hải Dương) rồi chụp ảnh và viết bài đưa lên mạng Internet.
Các biểu ngữ mà ḥọ đã treo được nói có nội dung chống chính quyền, kêu gọi dân chủ, đa nguyên đa đảng, chỉ trích tình trạng lạm phát trong kinh tế và chính sách biển đảo.
Trên một biểu ngữ còn có dòng chữ về Khối 8406, một tập hợp đấu tranh dân chủ trong nước.
Hôm 08/10, ông Phạm Văn Trội, 37 tuổi, bị Tòa án Nhân dân Hà Nội xử 4 năm tù giam và 4 năm quản chế tại gia.
Trước đó, nhà giáo Vũ Hùng cũng lãnh 3 năm tù giam và 3 năm quản chế vì vi phạm Điều 88.
Nhà thơ Trần Đức Thạch, 57 tuổi, Hội viên Hội Nhà văn Nghệ An, hôm 06/10 bị xử tù giam 3 năm và 3 năm quản chế
CÔNG AN BẮT 7 NGƯỜI DÂN BÌNH ĐỊNH
Công an bắt 7 người dân Bình Định ‘lạm dụng tự do dân chủ’ Sunday, September 20, 2009 http://www.nguoi- viet.com/ absolutenm/ anmviewer. asp?a=101550&z=2
BÌNH ÐỊNH 20-9 (TH) - 7 người dân ở tỉnh Bình Ðịnh đã bị nhà cầm quyền địa phương tống giam và truy tố ra tòa mà nhà cầm quyền địa phương gọi là “lạm dụng các quyền tự do dân chủ”. “Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Bình Ðịnh đã quyết định khởi tố 7 đối tượng gây rối trật tự an ninh tại thôn Lộ Diêu, xã Hoài Mỹ, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh”.
Báo Người Lao Ðộng cho hay như vậy hôm Chủ Nhật 20 Tháng Chín 2009 và đưa chi tiết là “khởi tố bắt tạm giam 3 tháng đối với bị can Hồ Minh Hải, 49 tuổi, thường trú tại thôn Lộ Diêu đã vi phạm về việc lạm dụng các quyền tự do dân chủ, tổ chức hội họp, soạn thảo, vận động nhiều người ký đơn, nộp tiền, kéo đi khiếu kiện nhiều nơi, dẫn đến gây rối trật tự công cộng và hủy hoại tài sản công dân.”
Người ta không hiểu ông Hải và những người khác được kể ở phần dưới bản tin khiếu kiện chuyện đất đai tài sản hay tố cáo tham nhũng cửa quyền.
Theo báo Người Lao Ðộng, “Bị can Võ Thị Chính, 51 tuổi; Nguyễn Thị Nhanh, 36 tuổi, bị khởi tố về tội ‘Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân’ được qui định ở điều 258- BLHS hiện hành.
Trong đó, bị can Võ Thị Chính, bị bắt tạm giam 3 tháng và Nguyễn Thị Nhanh được cho tại ngoại nhưng bị can Nguyễn Thị Nhanh có hành vi chống đối người thi hành công vụ , nên cơ quan điều tra công an tỉnh bắt tạm giam 3 tháng để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.”
Nhưng, bản tin hé lộ chút xíu cho thấy ông trưởng thôn Lộ Diêu cũng bị truy tố vì tội bán đất vài tài sản công “trái thẩm quyền”.
“Bị can Võ Xuân Kinh, 56 tuổi, nguyên trưởng thôn Lộ Diêu, xã Hoài Mỹ bị khởi tố về tội ‘Lạm quyền trong khi thi hành công vụ’ được qui định tại điều 282-BLHS hiện hành và cấm rời khỏi nơi cư trú.
Trong thời gian làm trưởng thôn, bị can đã có hành vi bán đất và tài sản công vượt quá thẩm quyền, vi phạm luật đất đai và gây thất thu cho ngân sách nhà nước và thiệt hại lợi ích của công dân tại địa phương.” Tờ Người Lao Ðộng nói.
Ngoài những người nói trên tờ Người Lao Ðộng dẫn tin của TTXVN nói rằng “các bị can Ðinh Thanh Tiếng, 54 tuổi; Hồ Ðức Minh, 44 tuổi và Nguyễn Văn Thái, 44 tuổi cũng có hành vi phạm tội lạm dụng quyền tự do dân chủ, tổ chức hội họp, soạn thảo, vận động nhiều người ký đơn, nộp tiền kéo đi khiếu kiện nhiều nơi gây mất trật tự công cộng và hủy hoại tài sản công dân, nhưng được cho tại ngoại cấm đi khỏi nơi cư trú.”
Tháng Mười 2008, hai nhà báo và hai sĩ quan cao cấp công an CSVN cũng đã bị truy tố về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ...” khi vạch ra nhiều chi tiết động trời trong vụ án tham nhũng, hối lộ ở Bộ Giao Thông Vận Tải CSVN.
Tướng chánh thanh tra Bộ Công An, Trần Văn Thanh, cũng bị ra tòa với cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ...” dù ông bệnh hoạn không ngồi nổi.
MUỐN BẮT THÌ BẮT, MUỐN THẢ THÌ THẢ
Muốn bắt thì bắt muốn thả thì thả Mặc Lâm, phóng viên đài RFA, Bangkok 2009-09-14
Sau khi nhiều cơ quan truyền thông quốc tế lên tiếng quan ngại, hai blogger Người Buôn Gió và Mẹ Nấm cùng với nhà báo Phạm Đoan Trang đã được trả tự do.
Nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải (Blogger Điếu Cày) bị bắt giải lên xe công an, trong cuộc biểu tình ôn hòa hôm Chủ Nhật 23-12-2007 ở Sài Gòn
Trong lúc đó nhà báo tự do Nguyễn Hoàng Hải còn được biết rộng rãi hơn qua bút danh Điếu Cày bị bắt giam từ ngày 19 tháng Tư năm 2008 vì đã biểu tình chống Trung Quốc về Trường Sa và Hoàng Sa, nhưng lại nhận bản án 30 tháng về tội trốn thuế và không hề được giảm án hay ân xá trong dịp lễ vừa qua.
Dư luận vẫn đang theo dõi blogger Điếu Cày trong lúc bị di chuyển từ trại giam này sang trại giam khác với những quan tâm đặc biệt dành cho ông.
Quyết định bất ngờ của công an
Hai Blogger Người Buôn Gió tức anh Bùi Thanh Hiếu và Mẹ Nấm tức Nguyễn Ngọc Như Quỳnh cùng với nhà báo Phạm Đoan Trang có lẽ không ngờ rằng mình được thả ra sớm như vậy sau khi cơ quan an ninh bắt giữ với cáo buộc là xâm phạm an ninh quốc gia.
Đây là một động thái hiếm hoi của công an Việt Nam dành cho các người bị cáo buộc tội danh này khi họ áp dụng luật tạm giữ hành chánh tối đa là chín ngày cho các nghi can vừa nói. Cả ba người đều có chung một hành động giống nhau dẫn tới việc bắt giữ khẩn cấp của công an đó là trên trang blog và bài viết của họ có nội dung chống lại việc Trung Quốc lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Ba người này may mắn hơn một blogger khác, cũng hành động như họ là tham gia biểu tình chống trung Quốc trước khi cuộc rước đuốc Olympic Bắc Kinh xảy ra, đó là nhà báo tự do Nguyễn Hoàng Hải còn được biết là chủ nhân của trang blog Điếu Cày.
Chống Trung Quốc: 2 năm 6 tháng tù giam
Toà án Quận 3, TP Hồ Chí Minh, tuyên mức án 30 tháng tù giam cho ông Nguyễn Văn Hải (tức blogger Điếu Cày) và vợ cũ của ông là bà Dương Thị Tân nhận mức án cải tạo không giam giữ 16 tháng và thử thách ba năm về tội trốn thuế.
Rất là không công bình với chúng tôi vì chúng tôi nào có tội gì ngoài cái tội yêu nước của ông Hải? Bà Dương Thị Tân
Chúng tôi liên lạc với bà Dương Thị Tân để hỏi bà có ý kiến gì khi hai logger Người Buôn Gió và Mẹ Nấm cùng với nhà báo Phạm Đoan Trang chỉ bị tạm giữ có 9 ngày trong khi chồng bà là blogger Điếu Cày lại bị bản án nặng nề như thế, bà Tân cho biết: “Rất là không công bình với chúng tôi vì chúng tôi nào có tội gì ngoài cái tội yêu nước của ông Hải?”
Nhạc sĩ lão thành Tô Hải, có lẽ là một blogger già nhất Việt Nam, người cùng với blogger Điếu Cày tham gia cuộc biểu tình cho biết: “Công tác ngoại giao thế nào chưa biết nhưng ông Hải tức Điếu Cày thì đã vào tù rồi! Dạo đó tôi cũng tham gia nhưng có lẽ họ thấy già quá nên không bắt!”
Người yêu mến blogger Điếu Cày trông mong ông sẽ được ân xá vào ngày lễ 2 tháng 9 vừa qua vì tin rằng việc giam giữ ông như vậy là quá đủ cho chính sách nâng cao quan hệ Việt Trung của nhà nước. Quan trọng hơn nữa là dư luận vẫn tin tưởng mạnh mẽ rằng ông Nguyễn Hoàng Hải là người vô tội.
Thủ tục đầu tiên làm đơn xin nhận tội ?
Luật sư Lê Trần Luật giải thích thủ tục miễn giảm án hay ân xá có những quy định như sau: “Giảm án tha tù là trong thời gian cải tạo phải tốt và thực hiện hai phần ba bản án. Còn ân xá thì không cần thực hiện hai phần ba nhưng phải làm đơn nhận tội và xin được khoan hồng.”
Giảm án tha tù là trong thời gian cải tạo phải tốt và thực hiện hai phần ba bản án. Còn ân xá thì không cần thực hiện hai phần ba nhưng phải làm đơn nhận tội và xin được khoan hồng LS.Lê Trần Luật
Thủ tục này có lẽ là nguyên nhân khiến cho một loạt các nhà đấu tranh cho dân chủ bị bắt trước đây ít lâu, xuất hiện trên truyền hình Việt Nam nhận tội một cách công khai với hy vọng hưởng sự khoan hồng của nhà nước. Riêng blogger Điếu Cày thì khác.
Theo lời kể của vợ ông là bà Dương Thị Tân thì hai ông bà không có lý do gì để nhận tội, dù chỉ nhận để được ân xá, bà Tân kể phản ứng của chồng bà như sau: “Họ bắt chúng tôi nhận tội để được ân giảm thì chúng tôi thấy không có lý do gì để nhận cả, Ông Hải cho họ biết là sẽ ở cho đến ngày cuối cùng.”
Sau khi hai blogger Người Buôn Gió và Mẹ Nấm cùng với nhà báo Phạm Đoan Trang được thả, bà Nguyễn Phương Nga, người mới đảm nhận vai trò phát ngôn viên cho Bộ Ngoại Giao Việt Nam tuyên bố với báo chí rằng: "Cơ quan an ninh đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Việt Nam khi tiến hành tạm giữ những người này. Đáng tiếc một số tổ chức và cá nhân đã cố ý thổi phồng sự việc này để xuyên tạc với dụng ý xấu".
Hãy làm gì nhà nước nói đừng làm gì nhà nước làm
Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ nhận định lới tuyên bố này là khác thường và ông chứng minh ngược lại: “Chính phủ Việt Nam và bộ Ngoại Giao Việt nam liên tục công bố trước Liên Hiệp Quốc là Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam thì blogger Như Quỳnh cũng như những người khác kêu gọi phản đối Trung Quốc mà bị xem là có tội thì bộ Ngoại Giao Việt Nam có tội hay không?”
Chính phủ Việt Nam và bộ Ngoại Giao Việt nam liên tục công bố trước Liên Hiệp Quốc là Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam thì blogger Như Quỳnh cũng như những người khác kêu gọi phản đối Trung Quốc mà bị xem là có tội thì bộ Ngoại Giao Việt Nam có tội hay không? Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ Trong khi đó nhạc sĩ Tô Hải cay đắng hơn khi ông cho rằng Việt Nam không còn xem trọng luật pháp như bà phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao tuyên bố, ông đưa ra ý kiến: “Cái đất nước này là cái đất nước chẳng giống ai cả, muốn bắt ai thì bắt muốn giam giữ bao lâu cũng được.”
Bà Dương Thị Tân cũng cho biết tình trạng chồng bà trong nhà giam bị đối xử khá tồi tệ bà nói: “Chúng tôi ngồi ở cái phòng cách ly của họ và chỉ được nói qua một cái lổ nhỏ xíu bên cạnh ông Hải là một giám thị trại giam”.
Cư dân mạng trên các trang blog theo dõi sự kiện ông đang tiếp tục bị giam một cách chăm chú do vẫn tin rằng hành động của blogger Điếu Cày là yêu nước và phẩm chất ứng xử của ông trước mọi áp lực là đáng trân trọng. Từng là người lính của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông Điếu Cày vẫn tiếp tục chiến đấu trong hoàn cảnh mới của đất nước với niềm tin mãnh liệt vào công lý.
Thế nhưng ngày nào người lính Điếu Cày còn trong bốn bức tường tối tăm thì ngày ấy xem ra công lý vẫn chưa soi rọi được hết những góc tối khó nhận dạng từ nhiều thế lực. Tính chất khác lạ trong việc phân biệt xét xử hiện nay của các tòa án tại Việt nam tùy theo thời tiết chính trị giữa quan hệ Việt Trung là mối lo lắng hàng đầu của dư luận.
SÁCH NHIỄU LS LÊ TRẦN LUẬT
Cơ quan an ninh thường xuyên sách nhiễu LS.Lê Trần Luật Mặc Lâm, phóng viên đài RFA 2009-07-01
Sau khi Luật sư Lê Công Định bị bắt, một không khí ngột ngạt bao trùm khắp nước. Giới luật sư, những người từng bào chữa cho các vụ mà nhà nước cho là nhạy cảm, đều tỏ ra bất an vì lo sợ sự quấy rối của cơ quan an ninh.
Điển hình là Luật sư Lê Trần Luật, người liên tục bị mời lên cơ quan an ninh nhiều ngày qua vì ông từng lãnh nhận vai trò bào chữa cho vụ Thái Hà. Mặc Lâm phỏng vấn ông để biết rõ hơn những chi tiết phía sau các vụ mời làm việc này.
Cơ quan an ninh mỗi ngày mỗi mời lên làm việc
Mặc Lâm : Thưa Luật Sư, sau nhiều lần bị cơ quan an ninh mời lên làm việc thì hôm nay một lần nữa họ cũng đã mời ông như vậy. Đối với lần này thì diễn biến có gì lạ hơn những lần trước không?
LS Lê Trần Luật : Những người đó chính là cơ quan an ninh của Công An TP.HCM và họ cứ "mời" tôi lên làm việc hệt việc này tới việc khác, ví dụ như họ làm việc với tôi về chuyện tôi trả lời trên RFA về Điều 88. Họ cho rằng Đài RFA là một đài phản động, và tôi trả lời như thế mặc dù nó không sai nhưng mà trả lời cho một đối tượng phản động thì tôi cũng là người phản động, rồi họ yêu cầu tôi là đừng trả lời nữa.
Đó chính là cơ quan an ninh của Công An TP.HCM và họ cứ "mời" tôi lên làm việc hệt việc này tới việc khác, ví dụ như họ làm việc với tôi về chuyện tôi trả lời trên RFA về Điều 88. Luật sư Lê Trần Luật
Rồi họ cứ mời lên, họ bảo là nghe tin là tôi đi học giáo lý để trở thành giáo dân, họ bảo là không nên đi học giáo lý để thành giáo dân trong lúc này, bởi vì như thế là nó không hay.
Họ mời lên, nhưng sau đó họ không làm việc với tôi và họ áp giải tôi qua cơ quan thuế để làm việc về những chuyện mà văn phòng đã giải thể từ lâu rồi nhưng không biết vì sao mà (cơ quan) thuế cứ muốn mời lên để làm việc thì tôi đã từ chối mấy lần, bây giờ họ nhờ bên cơ quan an ninh áp giải tôi lên (cơ quan) thuế làm việc.
Thì cũng chỉ xoay chung quanh những vấn đề đó thôi, và một vấn đề cốt lõi nữa là họ bảo là các sếp của họ muốn biết quan điểm của tôi về vụ của Lê Công Định là như thế nào. Đó là những nội dung mà họ làm việc với tôi suốt một tuần vừa rồi, kể cả sáng nay họ cũng mới áp giải tôi đi làm việc.
Mặc Lâm : Đối với câu hỏi về LS Lê Công Định thì Luật Sư có nghĩ rằng cơ quan an ninh đang muốn thăm dò ý kiến dư luận hay là họ còn có ẩn ý nào khác?
LS Lê Trần Luật : Tôi không biết nữa, nhưng mà có lần tôi trả lời trên RFA rằng cho đến lúc này tôi cũng không tin LS Lê Công Định là đã phạm tội, thì họ bảo là tại sao báo đài trong nước đã đưa tin, kể cả âm thanh - hình ảnh, vân vân, rõ ràng như thế mà tôi vẫn không tin, thì tôi bảo đó là quan điểm của tôi thôi, còn với những gì mà báo chí cung cấp đối với trường hợp LS Lê Công Định thì cho đến nay tôi thấy có nhiều sự mâu thuẫn và tôi không tin rằng anh ấy đã phạm tội.
Cho đến lúc này tôi cũng không tin LS Lê Công Định là đã phạm tội, thì họ bảo là tại sao báo đài trong nước đã đưa tin, kể cả âm thanh - hình ảnh, vân vân, rõ ràng như thế mà tôi vẫn không tin, thì tôi bảo đó là quan điểm của tôi thôi
Những lời khuyên hay lời cảnh cáo?
Mặc Lâm : Về lý luận của cơ quan an ninh cho rằng Luật Sư trả lời cho Đài RFA thì cũng trở thành phản động thì Luật Sư trả lời như thế nào cho họ?
LS Lê Trần Luật : Tôi thì tôi có nói với họ rằng trước hết đối với RFA tôi chưa tìm thấy văn bản nào hoặc một công bố nào của nhà nước rằng RFA là một đài phản động, như một lần tôi đã trả lời Đài RFA rằng tôi thấy có nhiều đảng viên cũng như nhiều cán bộ cao cấp của nhà nước vẫn trả lời trên RFA, vậy thì chẳng lẽ những người đó là phản động hay sao, thì họ bảo là "Riêng trường hợp anh là khác!" Tôi bảo khác chỗ nào thì họ bảo là tôi tự hiểu lấy chuyện đó.
Đối với RFA tôi chưa tìm thấy văn bản nào hoặc một công bố nào của nhà nước rằng RFA là một đài phản động, như một lần tôi đã trả lời Đài RFA rằng tôi thấy có nhiều đảng viên cũng như nhiều cán bộ cao cấp của nhà nước vẫn trả lời trên RFA
Mặc Lâm : Đối với lời khuyên không nên tiếp tục học hỏi thánh kinh cũng như tìm hiều giáo lý của cơ quan an ninh thì Lụât Sư có thấy rằng việc làm này là vi phạm nghiêm trọng đến quyền tự do tín ngưỡng của người dân hay không?
LS Lê Trần Luật : Họ chỉ bảo là "chúng tôi khuyên anh là đừng có nên đi học giáo lý trong lúc này thôi" chứ còn họ không đưa ra một lời cấm đoán.
Mặc Lâm : Tình hình hiện nay của Luật Sư ra sao rồi?
LS Lê Trần Luật : Họ cứ gọi điện họ bảo tôi phải lên làm việc, có khi tôi lên làm việc có khi tôi quyết liệt từ chối và tôi ở trong nhà, tôi không có ra ngoài đường.
Nhưng sau đó họ cứ rình rập trước nhà tôi đó, đến khi tôi vừa bước ra khỏi nhà đi công việc, nghiên cứu hồ sơ hoặc đi chơi gì đó vào khoảng chừng nửa tiếng hay 45 phút sau là họ cho xe của cảnh sát đến nơi tôi đang ở đó, rồi họ nắm tay nắm chân kéo tôi lên xe.
Họ chỉ bảo là "chúng tôi khuyên anh là đừng có nên đi học giáo lý trong lúc này thôi" chứ còn họ không đưa ra một lời cấm đoán
Quan ngại nhứt của tôi hiện nay, vấn đề không phải là họ áp giải hay là thế nọ thế kia, mà quan ngại thật sự của tôi là nếu họ tiếp tục làm như thế thì tôi không còn đủ thời gian để mà tôi có thể làm những công việc để phục vụ cho mưu cầu cuộc sống bình thường hàng ngày, chẳng hạn như việc lo cho vợ con, việc phải kiếm tiền để sinh sống. Ngày nào họ cũng mời; hơn mười ngày qua (thì) ngày nào cũng phải đi làm việc, mà sáng mai tôi cũng phải tiếp tục làm việc với họ. Nếu tôi không đi thì họ cứ đứng rình rập trước nhà như thế và một khi tôi bước ra thì họ cho xe cảnh sát đến và họ kéo tôi lên trên xe chở đi.
Mặc Lâm : Nếu trong trường hợp xấu nhất Luật Sư bị mời rồi không được thả thì ông có chia sẻ gì với những thính giả đang theo dõi câu chuyện này ngày hôm nay?
LS Lê Trần Luật : Tôi ít nghĩ tới chuyện họ sẽ bắt tôi, nhưng mà nếu họ bắt tôi thì mọi người bên ngoài cũng như dư luận hãy tin rằng tôi không bao giờ có một hành vi vi phạm nào, và mãi mãi tôi không bao giờ thừa nhận những hành động tôi làm là vi phạm
Mặc Lâm : Xin cám ơn LS Lê Trần Luật
RÚT CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ
LS Lê Công Định bị rút chứng chỉ hành nghề http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2009/07/090701_ lecongdinh_ update.shtml
Ông Lê Công Định sẽ không còn được hành nghề luật sư
Tin cho hay Bộ Tư pháp đã thi hành quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề của LS Lê Công Định, người hiện cũng đang bị điều tra về hoạt động 'lật đổ chính quyền'.
Quyết định này không gây bất ngờ, vì trước đó, hôm 22/06, Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh đã xóa tên ông Định khỏi danh sách luật sư của đoàn và Đoàn Luật sư Việt Nam cũng đã tuyên bố sẽ có biện pháp kỷ luật mạnh đối với ông. Báo Sài Gòn Giải phóng đưa tin việc tống đạt quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc rút chứng chỉ hành nghề số 0626/TP/LS-CCHB cấp ngày 11/04/2002 cho ông Lê Công Định đã được thực hiện chiều thứ Ba 30/06 tại trại B34, nơi ông đang bị tạm giam.
Như vậy, về nguyên tắc ông Lê Công Định không còn được phép hành nghề luật sư nữa.
Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh cũng cho hay, ngoài việc bị khởi tố, bắt tạm giam bốn tháng vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam theo Điều 88 Bộ Luật Hình sự, ông Lê Công Định còn đang bị điều tra "làm rõ hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân".
Báo này nói "theo lời khai tại cơ quan điều tra", ông Định đã tham gia các tổ chức phản động, tổ chức khủng bố và lập Đảng lao động Việt Nam "nhằm lôi kéo lực lượng tham gia lật đổ Nhà nước CHXHCN Việt Nam".
Đầu tuần này, Văn phòng Chính phủ vừa ra thông báo về ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đối với hoạt động của Đoàn Luật sư.
Ông Dũng đã yêu cầu Liên đoàn Luật sư tăng cường kiểm tra giám sát hoạt động của các đoàn luật sư địa phương cũng như của các luật sư, "có các biện pháp cần thiết để phòng và chống việc lợi dụng danh nghĩa tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư gây tác động xấu đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân..."
HÀNH XỬ NHÂN QUYỀN TẠI VIỆT NAM
Hà Giang, thông tín viên RFA 2009-04-06
Vào ngày 4/4 vừa qua, Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Phong Trào Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam đã tổ chức một buổi thuyết trình và hội luận tại Nam California để tường trình về việc họ đã nộp đơn khiếu nại với Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc về những vi phạm nhân quyền một cách có tổ chức và hệ thống của nhà cầm quyền Hà Nội.
Công việc khiếu nại này có một tiến trình ra sao, và hậu quả gì sẽ đến với một quốc gia bị đưa ra trước HDNQLHQ?
Mỗi quốc gia có cách hành xử Nhân quyền khác nhau?
Cùng với các tổ chức nhân quyền quốc tế, cộng đồng người Việt hải ngoại vẫn tích cực trong việc đưa ra công luận thế giới những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, mong tạo áp lực để nhà cầm quyền Hà Nội phải tôn trọng những quyền làm người căn bản của người dân.
Cùng với các tổ chức nhân quyền quốc tế, cộng đồng người Việt hải ngoại vẫn tích cực trong việc đưa ra công luận thế giới những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, mong tạo áp lực để nhà cầm quyền Hà Nội phải tôn trọng những quyền làm người căn bản của người dân.
Nhưng người ta cho rằng, tính đến nay, dù luôn luôn bị dư luận thế giới chỉ trích, tình trạng đàn áp nhân quyền tại Việt Nam vẫn không được cải thiện, mà ngày càng có vẻ trở nên trầm trọng hơn. Trước tình trạng ấy, giới quan tâm đã âm thầm đi tìm những phương cách mới…
Mọi người có bổn phận và quyền lợi như nhau trước toàn thế giới
Trong buổi hội luận được tổ chức tại Garden Grove, Nam Cali vào ngày 4/4 vừa qua, Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Phong Trào Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam tường trình rằng một trong những biện pháp mới này là việc áp dụng thủ tục khiếu kiện theo nghị quyết 1503 của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc.
Ông Phạm Trần Anh, một cựu sinh viên HVQGHC, hiện đang sống tại Hoa Kỳ, tóm lược mục đích của buổi hội luận:
“Mục đích để giải thích cho mọi người thấy rằng, cái lập luận của nhà cầm quyền CS, nói rằng, tùy theo mỗi quốc gia, có những cách hành xử nhân quyền khác nhau, điều này chỉ là một sự ngụy biện. Trong tổng số 192 nước trong đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, thì chỉ có 4 nước lý luận như vậy để bao biện cho cái sự độc tài của họ.
“Mục đích để giải thích cho mọi người thấy rằng, cái lập luận của nhà cầm quyền CS, nói rằng, tùy theo mỗi quốc gia, có những cách hành xử nhân quyền khác nhau, điều này chỉ là một sự ngụy biện. Trong tổng số 192 nước trong đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, thì chỉ có 4 nước lý luận như vậy để bao biện cho cái sự độc tài của họ.
Bởi vì trước là một công dân của một nước nào, thì chúng ta đã là một con người. Và đã là một con người thì phải có bổn phận và quyền lợi như nhau trước toàn thế giới.
Cái cuộc hội thảo này phổ biến rộng rãi tới quần chúng cộng đồng những người liên hệ để cùng tham gia khiếu kiện để chặn tay những hành động vi phạm nhân quyền một cách trầm trọng.” TS Nguyễn Ngọc Hùng, đến từ Đức Quốc, là người đầu tiên đã khởi xướng việc đi tìm một phương cách mới để cải thiện nhân quyền cho Việt Nam.
Ông đã liên kết và làm việc âm thầm với một nhóm nhân sĩ VN ở nhiều nơi trong và ngoài nước, trong hơn một năm trời để nghiên cứu luật nhân quyền, thủ tục khiếu nại, cũng như thu thập tin tức của các nạn nhân mà quyền làm người đã bị nhà nước Hà Nội chà đạp.
Ông cho biết cách đây 2 tuần, ủy ban Quốc Tế Yểm Trợ Phong Trào Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam đã xúc tiến việc nộp đơn khiếu kiện những vi phạm nhân quyền một cách có tổ chức và hệ thống, của nhà cầm quyền Hà Nội theo nghị quyết 1503.
Theo TS Nguyễn Ngọc Hùng, nghị quyết này đã được ra đời từ năm 1970, được tu chính vào năm 2000, nhưng chỉ đến năm 2006, sau khi Liên Hiệp Quốc đã hoán chuyển Cao Ủy Nhân Quyền thành Hội Đồng Nhân Quyền, thì thủ tục khiếu kiện theo nghị quyết này mới trở thành dễ dàng hơn.
Ông cho biết cách đây 2 tuần, ủy ban Quốc Tế Yểm Trợ Phong Trào Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam đã xúc tiến việc nộp đơn khiếu kiện những vi phạm nhân quyền một cách có tổ chức và hệ thống, của nhà cầm quyền Hà Nội theo nghị quyết 1503.
Vi phạm nhân quyền có tổ chức và hệ thống
Ông giải thích:
“Điều kiện để mà khiếu kiện theo nghị quyết 1503 là nhà cầm quyền liên hệ phải vi phạm nhân quyền một cách có hệ thống, nghĩa là đã vi phạm một công việc nhiều lần hoặc là trầm trọng, thí dụ như bắt bớ người không có lý do, bắt bớ nhiều người giam giữ lâu ngày mà không do một tòa án xét xử, hoặc là thủ tiêu người, hoặc là tra tấn tù nhân…”
LS Lâm Chấn Thọ, đến từ Gia Nã Đại, là người chuyên nghiên cứu về thủ tục pháp lý của Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Phong Trào Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam, cho biết:
“Cái thủ tục đó cho phép nạn nhân, nhóm nạn nhân, và các tổ chức về nhân quyền được nêu lên các vi phạm nhân quyền có tính cách nhất quán, bền bỉ và những vi phạm đó phải đáng tin cậy và nghiêm trọng. Nếu do các tổ chức phi chính phủ đưa lên thì tổ chức đó phải biết các vi phạm đó một cách trực tiếp”.
Trong khi LS Lâm Chấn Thọ giải thích vi phạm nhân quyền bền bỉ, đáng tin cậy và nghiêm trọng là gì, thì những người tham dự buổi hội luận đã có nhiều người gật gù, biểu lộ sự thấu hiểu tại sao những vi phạm nhân quyền của nhà quyền VN được định nghĩa là vi phạm nhân quyền có tổ chức và hệ thống:
“Vi phạm nhân quyền bền bỉ là vi phạm đã xẩy ra thường xuyên cho một số người. Ủy ban Nhân Quyền QuốcTế đã quyết định trong quá khứ rằng, giam giữ kéo dài với thủ tục hành chánh trong 6, 7 trường hợp cũng đủ là một vi phạm nhân quyền bền bỉ.
“Điều kiện để mà khiếu kiện theo nghị quyết 1503 là nhà cầm quyền liên hệ phải vi phạm nhân quyền một cách có hệ thống, nghĩa là đã vi phạm một công việc nhiều lần hoặc là trầm trọng, thí dụ như bắt bớ người không có lý do, bắt bớ nhiều người giam giữ lâu ngày mà không do một tòa án xét xử, hoặc là thủ tiêu người, hoặc là tra tấn tù nhân…”
Vi phạm nghiêm trọng là tra tấn, thủ tiêu, ám sát, xử tử không qua tòa án, xử tử tùy tiện, xử tử một phiên tòa bất công, giam giữ tùy tiện không xét xử, và không cho xuất ngoại. Vi phạm đáng tin cậy là vi phạm đã được chứng minh bởi những chứng tích đáng tin.”
Một danh sách những nạn nhân gồm gần 150 tù nhân chính trị đã bị nhà cầm quyền VN xử tử, 100 tù nhân chính trị và tôn giáo hiện còn đang bị giam cầm, gần 40 tù nhân lương tâm, trong đó có nhiều thành viên của khối 8406 hiện còn đang bị giam giữ, và những phân tích về bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền đối chiếu với hiến pháp VN đã được thu gọn trong một tập tài liệu dầy 100 trang có tên “Bản Cáo Trạng nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN vi phạm nhân quyền có tổ chức và hệ thống”, do ủy ban soạn thảo, bằng hai ngôn ngữ Việt và Anh ngữ đã được phổ biến trong cuộc hội luận.
Đa số người tham dự tỏ ra rất phấn khởi và hy vọng là với nghị quyết 1503, tình trạng nhân quyền VN sẽ dần dà được cải thiện, mặc dù LS Lâm Chấn Thọ đã giải thích đây là một tiến trình tốn rất nhiều thời gian, có thể kéo dài cả năm trời, với những giai đoạn đi từ xét xử kín, đến khuyến cáo, đến xét xử công khai, và cuối cùng là trục xuất ra khỏi đại hội đồng Liên Hiệp Quốc nếu tình trạng nhân quyền tại quốc gia bị khiếu nại mãi vẫn không được cải thiện.
NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM
Giải pháp thực hiện tiến bộ Nhân quyền ở Việt Nam? Trần Thanh Hiệp & Nguyễn An, RFA 2009-03-10 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/proposal-for-the-current-situations-HumanRights-in-Vietnam-TTHiep-03102009161448.html
Trong phần trước, khi bàn về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, Luật sư Trần Thanh Hiệp, cho biết ông sẵn sàng đưa ra đề nghị để thưc hiện tiến bộ về nhân quyền ở Việt Nam.
Trong cuộc trao đổi với biên tập viên Nguyễn An của ban Việt ngữ, LS Trần Thanh Hiệp, Chủ tịch Trung tâm Việt Nam về nhân quyền, trụ sở ở Paris, cho biết thêm chi tiết. Trần Thanh Hiệp: Người ta đã nêu lên và đòi hỏi từ lâu tiến bộ cho nhân quyền ở Việt Nam. Nhưng cho đến nay vẫn chưa hề có được những tiến bộ đấy. Không lẽ tình trạng phi nhân quyền này cứ kéo dài một cách không thời hạn?
Đề nghị của tôi không mang tham vọng thay đổi hẳn thực trạng phi nhân quyền của một chế độ đảng trị. Tôi chỉ có một sáng kiến nhỏ để tạo ra được một bước khởi đầu có khả năng mở ra một triển vọng mới cho việc thực hiện nhân quyền đích thực và chân chính trên đất nước Việt Nam.
Muốn vậy, tôi cho rằng phải bắt đầu bằng việc định nghĩa rõ ràng những tiến bộ ấy không thể là gì khác hơn việc chấm dứt ngay đàn áp nhân quyền. Rồi bắt tay ngay vào việc làm cụ thể không cần phải chờ đợi có những thay đổi lớn chưa thể có vả lại không có hy vọng gi có được ngay.
“Bệnh đàn áp”
Nguyễn An: Như vậy phải chăng Luật sư muốn nói rằng ngay dưới chế độ đảng trị hiện hành có thể thực hiện tiến bộ cho nhân quyền ở Việt Nam không cần phải có những cải cách cơ bản về chính trị và pháp luật?
Trần Thanh Hiệp: Tôi xin được sửa lại là “chưa cần chứ không phải không cần” hay, nói cách khác, trong khi chờ đợi những cải cách cơ bản về chính trị và pháp luật.
Đề nghị của tôi khởi đi từ ý kiến rất thực tiễn, theo đó nhà cầm quyền sẽ không thể theo đuổi chính sách đàn áp đối lâp một cách có hệ thống và qui mô lớn nếu không có sự can thiệp của tòa án. Công an sẽ không dám ngang nhiên hăm dọa, sách nhiễu, hành hung dưới đủ mọi hình thức, thậm chí bắt giam bừa bãi nếu không được tòa án sau đó hợp thức hóa bằng những bản án đàn áp.
Trong hiện tình và trên thực tế khâu then chốt để thưc hiện sự đàn áp không phải là công an mà là tòa án. Vậy phải làm sao trị liệu bệnh đàn áp ở ngay chính khâu quyết định là tòa án.
Nguyễn An: Nếu chỉ có thế thì phải làm những gì mới để không còn đàn áp nữa. Luật sư có đòì hỏi phải thay thế cả hệ thống tư pháp đương hành không?
Trần Thanh Hiệp: Tất nhiên nếu chế độ hiện nay ở trong nước mà có được sự phân quyền cho tư pháp được độc lập thì quá lý tưởng rồi đâu còn vấn đề gì.
Tôi không biết bao giờ thì tình trạng phân quyền này sẽ đến nhưng ngay trước mắt và trong khi chờ đợi tôi thấy đã có đủ điều kiện để ngăn giữ các tòa án này không tự biến thành công cụ đàn áp mà là những cơ quan bảo vệ và thực thi nhân quyền.
Tức là đưa các tòa án vào con đường nhân quyền mà chế độ chủ trương qua tiếng nói của người phát ngôn bộ ngoại giao “Nhà nước Việt Nam tôn trọng các quyền tự do dân chủ của người dân và luôn bảo đảm điều kiện thuận lợi để người dân thực hiện các quyền của mình” Nguyễn An: Thì cho đến nay vẫn là những lời tuyên bố ấy và vẫn đi song song với những bản án chống nhân quyền. Làm sao có được tiến bộ?
Trần Thanh Hiệp: Cơ cấu và nhân sự chưa thay đổi nhưng cách xét xử thì đã thay đổi và phải thay đổi nữa. Tại sao? Tại vì dù không muốn nhà cầm quyền Hà Nội cũng cứ phải thay đổi cách xét xử.
Trước đây họ toàn quyền muốn bắt ai thì bắt muốn bỏ tù ai thì bỏ tù. Nhưng về sau họ đã phải bắt và xử theo thủ tục tố tụng luật định. Rồi lại phải cho luật sư biện hộ, khởi đầu cho có lệ rồi dần dần phải chịu cho luật sư trình bày đủ lý lẽ.
Dù sao vẫn còn tình trạng luật sư nói luật sư nghe tòa xét xử theo chỉ thị làm sẵn bản án trước khi xử. Cách xét xử tuồng kịch này đã xảy ra trong quá lộ liễu trong những vụ cha Lý, cac luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân trong giai đọan sơ thẩm. Khi đến giai đoạn phúc thẩm thì cũng có cải thiện nhưng vẫn chưa có bước đột phá.
Cách xét xử độc đoán và tuồng kịch này, trước dư luận quốc tê rất khó coi nên trong vụ án giáo dân ấp Thái Hà những chỉ dấu của sự tôn trọng nhân quyền đã bắt đầu xuất hiện. Vấn đề trước mắt là phải tập trung áp lực vào khâu xét xử để vô hiệu hóa sự đàn áp.
Cơ chế chữa trị
Nguyễn An: Đề nghị luật sư nói rõ thêm về những áp lực ấy…
Trần Thanh Hiệp: Đó là một toàn bộ đòi hỏi về cách xét xử của tòa án mà nhà cầm quyền Hà Nội có nghĩa vụ phải thi hành vì đã được trù liệu bởi luật quốc tế về nhân quyền mà Hà Nội đã tham gia.
Cách xét xử này không phải là một khẩu hiệu suông có thể tùy tiện giải thích để gạt bỏ, mà là cả một hệ thống ứng xử cụ thể phải tuân thủ. Hệ thống này có tên gọi là “Nguyên tắc Xét Xử Công Bằng”. Xét xử ở đây không phải là đưa phạm nhân ra trước tòa để tùy tiện quyết định một cách độc đoán số phận của người ấy.
Theo nguyên tắc luật định xét xử công bằng này, thì tất cả những cơ quan xa gần liên hệ tới việc xét xử phải tôn trọng một loạt tiêu chuẩn để đảm bảo rằng nhân quyền của người bị xét xử phải được thực sự tôn trọng. Vì nguyên tắc này đã tóm lược nội dung của một nhân quyền tức là “quyền được xét xử một cách công bằng”, đồng thời đề ra nghĩa vụ phải bảo vệ con người không bị tước đoạt độc đoán và nhất là một cách bất hợp pháp những quyền tự do cơ bản của con người.
Quyền này đã được minh thị dự liệu nơi điều 14 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị như sau “mọi người phải được quyền hưởng sự xét xử công bằng và công khai của một tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị do luật định”
Nguyễn An: Nhưng công an cũng có quyền bắt người và giam người trước khi tòa án xét xử
Trần Thanh Hiệp: Thì công an cũng có nghĩa vụ phải áp dụng nguyên tắc xét xử công bằng để việc bắt giam này không phương hại gì tới tính công bằng của bản án sẽ do tòa án tuyên phán.
Nguyễn An: Tức là nguyên tắc xét xử công bằng phải được áp dụng ngay từ khi chưa ra trước tòa án….
Trần Thanh Hiệp: Đúng vậy. Theo luật quốc tế về nhân quyền thì quyền được xét xử công bằng bao gồm đủ các quyền trước khi xét xử, trong khi xét xử và cả sau khi xét xử.
Do đó tôi cho rằng cuộc tranh đấu nhân quyền hiện nay nên tập trung vào yêu sách đòi nhà cầm quyền Hà Nội phải tôn trọng và áp dụng nghiêm chỉnh nguyên tắc ấy.
Chừng nào mà chưa có xét xử công bằng thì vẫn còn đàn áp. Vậy phải lấy tiêu chuẩn xét xử công bằng làm tiêu chuẩn cho bước mở đầu của tiến bộ về nhân quyền cơ Việt Nam hiện nay.
Nguyễn An: Xin cảm ơn Luật sư Hiệp.
VIỆT NAM KHÔNG CÓ TỰ DO
Freedom House: Việt Nam không có tự do http://www.rfa. org/vietnamese/ in_depth/ Vietnam-has- no-freedom- NTran-0311200912 2109.html Nhã Trân, phóng viên RFA 2009-03-11
Tổ chức Freedom House hôm thứ Hai 9 tháng 3, 2009 công bố tại Geneve phúc trình thường niên về nhân quyền trên thế giới, trong đó cho hay mức độ tự do của mỗi quốc gia.
Nhã Trân lược thuật đánh giá của Freedom House về mức độ tự do tại các nước, đặc biệt tại Việt Nam, đồng thời lấy ý kiến một số người trong nước về tự do ở Việt Nam hiện nay.
Xếp hạng của Freedom House
Phúc trình mới nhất của Freedom House về tình trạng nhân quyền toàn cầu là kết quả nghiên cứu về các quyền chính trị cũng như dân sự của ngưòi dân thế giới trong năm 2008.
Tổ chức quốc tế về dân chủ và tự do này, có trụ sở tại Washington DC, Hoa Kỳ, xếp hạng từng nước xét về mức độ các quyền tự do vừa kể mà người dân được hưởng, tính trong suốt 30 năm từ 1973 đến nay.
Bảng xếp hạng về mức độ tự do tại các nước của Freedom House chia toàn cầu ra làm 3 nhóm.
Các quốc gia được kể là quốc gia hoàn toàn hay gần như hoàn toàn có tự do trong suốt hơn một phần tư thế kỷ vừa qua có thể kể Hoa Kỳ, Canada, Anh, Đức, Pháp, Nhật, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Australia, Italy, Mexico, Nam Hàn, Israel, Áo, Ukraine, Romania, Norway, New Zealand, Mexico, Luxembourg, Ireland, Ấn Độ, Hungary v.v…
Các nước chỉ có tự do phần nào gồm Thái Lan, Singapore, Phillipines, Trung Quốc, Iraq, Bangladesh, Iran, Jordan, Qatar….
Các nước bị xem là không có tự do có thể kể Việt Nam, Campuchia và ẢRập Xê-út.
Người Việt nói gì?
Trong khi tổ chức nhân quyền quốc tế này thẩm định như thế thì người dân Việt có ý kiến gì về mức độ tự do ở Việt Nam? Một giáo chức ở Quảng Nam là ông Bùi Thi nhận xét:
“Quyền tự do bầu cử và ứng cử thì tôi thấy chưa có ở Việt Nam mình. Mỗi lần bầu cử thì đi bầu, nhưng ngưòi dân không có quyền tự do lựa chọn những người mà họ muốn, vì dưòng như đã có sự sắp sẵn ở trên từ lâu rồi, nên mình có muốn bầu cho ngừơi nào thì cũng không thể theo ý của mình được.
Tôi chưa thấy ai ứng cử. Không biết là cái quyền đó có không mà tôi chưa thấy ai ứng cử. Vừa rồi tôi nghe có một người muốn ứng cử vào quốc hội là luật sư Cù Huy Hà Vũ nhưng rồi sau đó không được.
Người Việt Nam chỉ được hưởng một cái tự do trong khuôn khổ đã được huấn luyện, chứ không có được cái quyền tự do phát biểu ý kiến, tự do bầu cử, tự do hội họp. Những quyền đó không có ở Việt Nam.
Ô. Bùi Thi, Quảng Nam
Tôi thấy không có ai được tự do lập hội. Tất cả đều phải xin phép hết. Không ai có thể lập hội mà không được sự cho phép của nhà nước.
Tự do phát biểu ý kiến thì, xét về mặt lý thuyết thì có, nhưng trên thực tế thì không phải là như vậy. Những ý kiến mình phát biểu ra nếu mà ngược lại với ý của cấp trên thì cấp trên ngừơi ta sẽ gây khó khăn cho mình. Không thể có tự do phát biểu được. Các phát biểu phải theo chỉ đạo của trên, mà ngưòi ta đã đề ra trước.
Việt Nam theo tiêu đề của nhà nước thì là cộng hòa xã hội chủ nghĩa, độc lập tự do hạnh phúc, nhưng mà trên thực tế thì không được tự do như là các nước Tây Phương.
Người Việt Nam chỉ được hưởng một cái tự do trong khuôn khổ đã được huấn luyện, chứ không có được cái quyền tự do phát biểu ý kiến, tự do bầu cử, tự do hội họp. Những quyền đó không có ở Việt Nam.”
Xét về chi tiết mức độ tự do ở Việt Nam, nghiên cứu của Freedom House cho thấy trong giai đoạn đầu tiên của thời gian 30 năm này, từ 1973-1975 khi Việt Nam chưa thống nhất, mức tự do của hai miền có khác nhau.
Trong 3 năm ấy miền Bắc bị đánh giá là không có tự do; còn miền Nam thì có một phần tự do.
Kể từ 1975 sau khi đất nước thống nhất, cả hai miền không có tự do và cho đến nay 2009 Việt Nam bị xem là nước nói chung không tự do, ngoại trừ một vài giai đoạn ngắn ngủi kéo dài một vài năm khi các ngăn cấm được nới lỏng chút ít.
Chủ một doanh nghiệp tư nhân ở Hà Nội là bà Thùy Hương nhận xét:
“Việt Nam chưa có các quyền về chính trị. Điều gì liên quan đến chính trị hay là bầu cử thì đều bị hạn chế. Quyền tự do về bầu cử hay bầu đại diện của một tổ chức vẫn chưa được.
Ví dụ như là bầu đại diện phường hay là gì đó, ở Việt Nam mình chưa được. Mình vẫn phải dựa theo tổ chức của mình, chẳng hạn như bầu ủy ban phường, thì họ đưa danh sách ra, và mình có bầu cử đi chăng nữa thì cái người trúng cử cũng không chuẩn.
Tất cả người Việt Nam đều muốn, đều mong muốn là có một cái như thế nào đó để người dân được thoải mái hơn. Nói chung là trong đời sống hiện nay, mọi người đều muốn thay đổi.
Bà Thùy Hương, Hà Nội
Theo tôi thì các quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng hoặc là tự do báo chí vẫn còn bị hạn chế. Tự do tín ngưỡng thì lại còn bị hạn chế hơn.
Nếu như mình nhìn từ ngoài vào thì thấy như là nhà nước đã mở cửa hay gì đó. Thế nhưng mà thật sự chỉ là mở cửa một phần nào đó thôi, chứ thật sự bên trong thì đang còn có nhiều những cái khống chế.
Tất cả người Việt Nam đều muốn, đều mong muốn là có một cái như thế nào đó để người dân được thoải mái hơn. Nói chung là trong đời sống hiện nay, mọi người đều muốn thay đổi”.
Báo cáo của Freedom House về tình trạng nhân quyền toàn cầu ghi nhận rằng 2008 là năm thứ ba mà mức độ tự do trên thế giói nói chung suy giảm, nghĩa là các quyền tự do của công dân thế giới có phần bị giới hạn kể từ năm 2006.
Dù vậy, có những nước các quyền tự do của ngưòi dân đã bị kềm hãm hoặc giới hạn đến nhiều thập niên trước đó, điển hình là Việt Nam, xứ mà tự do vắng bóng kể từ năm 1975.
Một nông gia ở An Giang cho rằng:
“Thấy sao mấy ổng toàn đặt để không à. Mấy ổng làm theo ý của mấy ổng không à. Phải do nơi mấy ổng sắp xếp mới được. Ngưòi dân tự ra ứng cử không được. Phải qua Mặt Trận Tố Quốc mới được. Quyền tự do ứng cử thì người dân không được. Cái đó do chính quyền mới được.
Tự do lập hội là không được. Phải có ý kiến do mấy ổng đặt ra mới được. Chứ mình đặt ra vấn đề là không được.
Việt Nam bây giờ chưa được tự do phát biểu. Phải do nơi chánh quyền. Hội họp thì mấy ổng đề ra ý kiến mới được, chứ mình không có ý kiến riêng được.”
Sau phúc trình thường niên về tình trạng nhân quyền toàn cầu, tổ chức cổ súy tự do và dân chủ trên thế giới Freedom House dự kiến công bố báo cáo về những nước tệ nhất trong số các nước bị kể là có thành tích tồi tệ về nhân quyền.
ĐỔI NHÂN QUYỀN LẤY CÔNG TRÁI PHIẾU NƯỚC MỸ MẤT TẤT CẢ
Lý Đại Nguyên:
Chuyến công du đầu tiên của Ngoại Trưởng Hillary Clinton của Chính Quyền Dân Chủ Mỹ, Barack Obama đến 4 nước Á Châu: Nhậtbản, Indonesia, Hànquốc và Trunghoa cộng sản, cho thấy chính sách ngoại giao của nước Mỹ vẫn đặt Á Châu ở hàng ưu tiên. Trong đó Nhậtbản là một Đồng Minh chiến lược trọng yếu toàn diện. Indonesia là một nước bạn mới, đông tín đồ ôn hòa nhất trong Thế Giới Hồi Giáo. Hànquốc là nước bạn tiền đồn của Mỹ, đối diện với Hàncộng ngang ngược. Và Trunghoa cộng sản là trọng tâm của chuyến công du của bà Clinton. Ở đây bà Clinton đã gặp hầu hết các lãnh tụ của Trung Nam Hải. Ngày 21-02-2009 Chủ tịch Trungcộng, Hồ Cẩm Đào đón tiếp Ngoại Trưởng Hoakỳ, Hillary Clinton tại Bắckinh. Đúng ngày này năm xưa, 21-02-1972, Mao Trạch Đông chủ tịch Trungcộng đã đón tiếp tổng thống Hoakỳ, Richard Nixon, mở đầu quan hệ Mỹ-Hoa. Lần này 2 bên đã làm việc chặt chẽ hơn về vấn đề khí hậu thay đổi, vấn đề an ninh, và giải quyết cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu. Nhưng điều đáng ghi nhận ở đây là Ngoại Trưởng Mỹ đã không đá động gì đến vấn đề Nhân Quyền, đang là nhu cầu khẩn thiết của toàn dân Trunghoa, cũng như toàn cõi Áchâu và toàn thể Thếgiới.
Các hội Nhân Quyền trên khắp thế giới đều quyết liệt phản đối, nhất là 2 tổ chức nhân quyền có uy tín quốc tế là Ân Xá Quốc Tế ở Anh và Human Rights Watch ỏ Mỹ. Việc không đề cập tới vấn đề Nhân Quyền không phải do chủ quan của bà Clinton, mà phải là phản ảnh Chính Sách Ngoại Giao Hoa Kỳ Đổi Mới của chính quyền Dân Chủ Obama. Vì khi ra đi, Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ bà Hillary Clinton đã tuyên bố với báo chí rằng: “Không nên để các cuộc tranh luận với Trungquốc về nhân quyền làm cản trở những tiến bộ trong các lãnh vực khác”. Ngay lâp tức tổ chức theo dõi Nhân Quyền Human Rights Watch phản bác rằng: “Những nhận định của bà Clinton là một sai lầm chiến lược”. Đúng vậy, nhân loại từ lâu nay đã quá quen là nước Mỹ, qua nhiều đời Tổng Thống đều giương cao Ngọn Cờ Nhân Quyền làm chính nghĩa cho nền ngoại giao của mình. Để cụ thể hóa vấn đề nhân quyền, đến thời tổng thống Bill Clinton, năm 1998, đã ký ban hành Đạo Luật Tự Do Tôn Giáo Thể Giới, lấy đó làm căn bản cho Chính Sách Ngoại Giao của nước Mỹ. Nay, khi bà Hillary Clinton lên làm Ngoại Trưởng thì việc đầu tiên lại “Dùng Nhân Quyền đổi lấy công trái phiếu của Mỹ ở Trungcộng” mới thật là éo le, sai nguyên tắc chiến lược truyền thống của nước Mỹ. Nước Mỹ sẽ mất tất cả.
Sau cuộc gặp Hồ Cẩm Đào và các lãnh tụ cộng sản Trunghoa, bà Clinton tuyên bố: “Bắc Kinh vẫn tin tưởng vào công trái phiếu của Mỹ”. Tính đến tháng 12/08, Trungcộng là nước mua nhiều công khố phiếu của Mỹ nhất, lên tới gần 700 tỷ USD. Sắp bằng con số trong kế hoạch kích thích kinh tế 787 tỷ USD của chính quyền Dân Chũ Mỹ, Obama. Theo các chiến lược gia kinh tế tài chính Mỹ, thì nước Mỹ phải cần đến 3.000 tỷ USD mới mau cứu nổi. TT Bush đã xài 700 tỷ USD để cứu nguy ngân hàng. Nghĩa là 2 ông tổng thống Cộnghòa và Dânchủ chỉ mới chi ra gần một nửa số cần phải dùng. Hiện nay trong tay Trungcộng còn khoảng 2.000 tỷ USD tiền mặt. Phía Mỹ rất cần tới số tiền đó, Phía Tầu cũng rất lo là nếu nền kinh tế Mỹ sụp đổ thì Dollars Mỹ sẽ xuống gía, lỗ to, mà không bán cho ai được, nên cần mua công trái phiếu của Mỹ, dù không có lời, nhưng không lỗ, vì một Dollar Mỹ vẫn trả cho một Dollar cộng thêm tiền lời. Với đầu óc thực tế của nhà buôn người Hoa, thì giá nào họ cũng phải chọn mua công khố phiếu của Mỹ, dù bà Clinton có đặt ra vấn đề Nhân Quyền hay không cũng vậy.
Vì coi nhẹ vấn đề nhân quyền, không dám đặt vấn đề Nhân Quyền ra với lãnh đạo Bắckinh, bà Clinton đã bị Báo Wall Street Journal nặng lời phê phán là: “phạm lỗi lầm như một tay mơ về ngoại giao”. Theo báo này cho rằng: “chính thành tích nhân quyền xấu xa của Bắckinh đã ngăn trở mối quan hệ song phương. Hệ thống pháp luật mờ ám của Bắckinh, từng dùng để giam nhốt những người bất đồng chính kiến, cũng đã gây tổn hại tới các doanh gia Mỹ”… “là một cái tát vào mặt những người bất đồng chính kiến ở Trungquốc”… “làm như vậy, tân ngoại trưởng Mỹ đã dành sẵn chỗ cho Bắckinh gia tăng cường độ đàn áp thành phần bất đồng chính kiến, vào đúng năm nay là dịp ghi nhớ 20 năm cuộc đàn áp đẫm máu ở Thiên An Môn, là 50 năm đàn áp cuộc nổi dậy ở Tâytạng, và một năm từ cuộc nổi dậy ở Lahsa, thủ phủ xứ này”. Tệ hơn, lời tuyên bố đó có thể đánh dấu một sự thay đổi trong chính sách nhân quyền của Washington. Các chính quyến trước của cả hai đảng đều coi nhân quyền là đề tài quan trọng…”. Báo Wall Street Journal kết luận, “nếu lời tuyên bố đó là sự sơ thất, thì nay là lúc xác nhận đó là sơ sót. Còn nếu đó là sự đổi thay một chính sách, thì cần suy nghĩ lại”. Trích từ Đài Á Châu Tự Do.
Thực ra chuyến Hoa du, bà Clinton chỉ giải quyết được vấn đề Trungcộng chịu tiếp tục ngoan ngoãn làm chủ nợ cho Mỹ. Vì đây là trò chơi “Chết đuối người trên cạn” của hệ thống tài chánh Tư Bản Toàn Cầu. Sống thì cùng sống, mà chết thì cùng chết. Còn vấn đề khí thải thì Trungcộng lấy cớ là nước kỹ nghệ mới phát triển không đủ sức làm giảm khí thải độc hại, Riêng về vấn đề an ninh thì giới quân sự Mỹ chưa hoàn toàn bị thuyết phục bới sáng kiến tăng nhanh sự hợp tác quân sự với Trungcộng. Vì tham vọng bành trướng quân sự ra Biển Đông và xuống vùng Đông Nam Á đã quá lộ liễu. Sau chuyến đi thăm Thái Lan, Hồng Kông, Nam Hàn tuần qua, Đô Đốc Timothy Keating tư lệnh lực lượng Hoakỳ tạì Áchâu Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đã kể lại rằng: “một tướng Trungquốc đề nghị với ông rằng, hai nước nên chia đôi Thái Bình Dương”. “Theo gợi ý đó phía Trungquốc, họ sẽ lo gìn giữ hòa bình từ Hawail về phía Tây, để cho Hoakỳ lo từ Hawail sang phía Đông”. Đô đốc nói, ông đã trả lời “No, thanks!” (Không, cảm ơn). Với tham vọng không cần che dấu đó, liệu ông tổng thống Mỹ, Barack Obama trong cuộc gặp đầu tiên với Hồ Cẩm Đào, chủ tịch Trungcộng tại hội nghị G20, diễn ra vào ngày 02/04/09 ở Luândôn có dám ôm hôn thắm thiết “đồng chí” cộng sản Đại Hán này. Rồi hứa chia đôi Thái Bình Dương, trao cả Đồng Minh Nhậtbản, Hànquốc, ASEAN và cả Úc châu cho Đế Quốc Trung Cộng hay không? Nếu dám như vậy, thì đúng với cái tên mới đặt của nhà sử học Niall Ferguson, gọi đó là thứ Liên Minh Chimerica. Trong thần thoại Hylạp, Chimera là con quái vật nhiều đầu, miệng phun ra lửa. Đến đây lại thấy rằng, chỉ vì Lê Khả Phiêu muốn giữ chiếc ghế Tổng Bí Thư khóa IX, do Muời, Anh, Kiệt theo kế hoạch của Bắckinh mà đánh phá, nên phải nghe lệnh quan thầy không dám qua mặt Trungcộng, để ký Hiệp Ước Thương Mại Việt Mỹ trước Trungcộng một năm, vào 1999, nên đã thành mối họa lớn cho Việtnam, mối nguy cho toàn cõi Áchâu và mối đe dọa cho Hoakỳ trong tương lai. Bài trước đã đề cập tới việc này.
Little Saigon
KỀM CHẾ BLOG, NGUỒN SINH LỰC
CSVN kềm chế hệ thống blog đầy sinh lực trong nước Tim Johnston, Washington Post, 18/01/09, Nguyễn Phương Nga lược dịch Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều quyết định trong những tháng gần đây để ngăn chặn việc xử dụng blog, vì con số những người dùng Internet đang tăng vọt trong đất nước cộng sản này.
Chiến dịch trên bắt đầu vào tháng 8, khi chính phủ công bố một nghị định cho phép công an có một quyền hạn rộng rãi để ra tay đối phó với thành phần chỉ trích nhà nước trên mạng, trong đó cả những người chống đối “nhà nước CHXHCN Việt Nam”, phá hoại an ninh quốc gia và trật tự xã hội.
Nghị định cũng cấm “khiêu dâm truỵ lạc … và phá huỷ phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc”, theo tin tức đăng tải trên tờ báo mạng của Bộ Thông tin Truyền thông.
Việt Nam là một quốc gia đến với thời đại Internet tương đối khá trễ, nhưng mức tăng trưởng kinh tế phi thường trong vài năm qua đã tạo ra một sự gia tăng mạnh mẽ tương tự trong những người xử dụng Internet. Nhiều ước lượng cho thấy khoảng 24 triệu trong tổng số dân 84 triệu người thường xuyên lên mạng. Các dịch vụ thì có đầy rẫy để cho những ai không thể sắm nổi máy tính, và nhiều cửa tiệm nhỏ bán các nhu liệu vi phạm bản quyền cho những người có máy.
Trong một môi trường mà thông tin bị kiểm soát nặng nề bởi truyền thông nhà nước, thì các blogger đã nhanh nhẩu tìm ra được nhiều khả năng mà thế giới Internet có thể cung cấp cho họ. Tin tức về đất nước, phần lớn là từ các cơ quan truyền thông nước ngoài, và những bài bình luận chính trị thường xuyên phê phán chỉ trích chính phủ đã trở thành một nhu cầu cần thiết hàng đầu. Do đó, những bàn cãi về tương lai chính trị của đất nước, dù có hoặc không có Ðảng Cộng sản, đã trở nên sôi nổi.
“Ðây là một môi trường trí tuệ không được đồng đều”, theo bà Kim Ninh, người đứng đầu tổ chức Asia Foundation ở Hà Nội, khi nói về hệ thống của các trang blog, Bà nói, “Có rất nhiều chuyện đánh bùn sang ao, nhưng ở bên dưới là cả một truyền thống trí tuệ có từ thời kỳ thực dân Pháp trong các thập niên 20s, 30s, và 40s đang tiếp tục tràn tới. Họ tiếp nhận các đề tài tranh luận chính trị rất nghiêm túc. Mọi người vào các trang blog để tìm những tin tức mà họ không thể lấy được từ truyền thông chính thức”.
Hành động của nhà nước đối với việc tham gia vào các blog đã khêu gợi nên một phản ứng gay gắt từ những người cổ xuý cho tự do ngôn luận, “Việt Nam là một trong vài nước mà người dân có thể bị bỏ tù vì các tội danh như ‘lợi dụng quyền tự do dân chủ’. Các nhà tài trợ cho Việt Nam nên tiếp tục đòi hỏi nhà nước phải chấm dứt hành động hình sự hóa việc bày tỏ tư tưởng một cách ôn hòa”, theo ông Brad Adams, giám đốc Á châu của tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch cho biết trong một thông cáo báo chí hôm Thứ Năm.
Sau một thời gian tương đối được tự do, khi các nhà báo trên mạng và báo giấy thử đi vào những phạm vi mà họ có thể đăng tải được, thì nhà cầm quyền mới đây lại bắt đầu đàn áp.
Cuối năm ngoái, toà án áp đặt một bản án tù hai năm lên một nhà báo sau khi ông ta viết một loạt bài vạch trần tham nhũng, và một blogger nổi tiếng được biết qua biệt danh Ðiếu Cày, có tên thật là Nguyễn Văn Hải, bị kết án 2 năm tù vì tội trốn thuế trong một trường hợp được khắp nơi coi như một sự trừng phạt vì anh ta tham gia vào blog.
Peter Leech, một người Úc đã thành lập ra ở Việt Nam một trang web, Intellasia.net, nhằm thu thập các tin tức phổ biến, bắt đầu gặp nhiều khó khăn với nhà cầm quyền vào tháng 6/2007. Ông ta nói rằng công an thường xuyên lục soát văn phòng Intellasia, máy chủ đặt trang web ở Hoa Kỳ bị tấn công và cuối cùng ông buộc phải bỏ chạy khỏi Việt Nam.
“Họ đang trở nên cứng rắn hơn đối với mọi thứ -báo chí, internet, mọi thứ”. Ông Leech nói từ thành phố Perth ở nước Úc.
Ðại đa số các blogger ở Việt Nam dùng các bộ phận nền tạo lập ra các trang blog của Yahoo và Google, và nhà nước nói rằng họ sẽ tranh thủ để tìm sự trợ giúp của các công ty này trong việc giám sát mạng internet.
“Các nhà cung cấp dịch vụ sẵn lòng hợp tác với các cơ quan Việt Nam”, theo Ðỗ Quý Doãn, thứ trưởng bộ Thông tin Truyền thông cho biết tại một cuộc họp báo hồi cuối tháng trước. “Tôi nghĩ là các nhà cung cấp dịch vụ cũng mong muốn có một môi trường internet sạch sẽ, Tôi nghĩ nếu các cơ quan nhà nước Việt Nam yêu cầu hợp tác, thì Google hoặc Yahoo cũng sẽ sẵn lòng”.
Bộ phận nền (platform) tạo lập ra blog phổ biến nhất đối với giới blogger Viêt Nam là Yahoo 360. Công ty Yahoo cho biết trong tuần này rằng họ chưa được nhà nước Viêt Nam tiếp xúc về bất cứ sự kiểm soát nào.
“Như một chính sách chung, thì công ty Yahơo cũng như các công ty khác trên thế giới, được yêu cầu phải tuân hành theo các luật lệ do các chính phủ đòi hỏi khi công ty là đối tượng lệ thuộc vào luật pháp của nước đó”, Yahơo nói trong một thông cáo, chỉ rõ ra cho thấy rằng bộ phận nền Yahoo 360 được vận hành từ Singapore
Ðể xem coi nhà nước Việt Nam có thể kiểm soát thành công Internet như thế nào. Như Trung Quốc đã cho thấy, có kỹ thuật tồn tại để ngăn chận các nội dung mà nhà nước không muốn, ít nhất là từ những người xử dụng thất thường. Nhưng không giống như những người xử dụng Internet của Trung Quốc, là nơi chính phủ của họ kiểm duyệt Internet từ lúc ban đầu, còn những người xử dụng ở Việt Nam đã có 8 năm được hưởng sự truy cập vào Internet không bị ràng buộc, vốn là điều mà họ coi là một quyền tự do.
Ông Leech nói về các quan chức nhà nước, “Nếu họ làm một vài điều gì đó khắc nghiệt, thì không những nó chỉ là một bước đi lùi to lớn, mà nó còn làm mọi người rất giận dữ”.
GIỚI HẠN MỚI VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN
Phóng viên của Thanh Niên và Tuổi Trẻ bị kết tội lạm dụng quyền tự do dân chủ
Đuổi việc nhà báo, bỏ tù phóng viên và giới viết blog thay vì làm những việc đó đối với các quan chức tham nhũng sẽ khiến nhà chức trách Việt Nam chẳng có thêm bạn.
Đó là kết luận của bài báo có tựa “Làm người đưa tin im tiếng” (Muting the messengers) mà tạp chí The Economist của Anh ra ngày 15/01/2009.
Báo này nói trong khoảng 700 tờ báo mà toàn bộ do chính phủ kiểm soát, chỉ có một số báo tương đối mạnh dạn trong cách đưa tin.
Tuy nhiên, phóng viên của hai tờ báo hàng đầu tại Việt Nam viết bài liên quan tới vụ tham nhũng của quan chức tại một ban quản lý dự án thuộc Bộ giao thông vận tải đã phải ra tòa vì tội “lạm dụng quyền tự do dân chủ”.
Tổng biên tập của hai tờ này (Thanh Niên và Tuổi Trẻ) mới đây nhận quyết định không được tái bổ nhiệm vì điều mà The Econnomist mô tả là vì họ làm việc quá hiệu quả.
Hệ lụy của vụ này cũng như nỗ lực khống chế giới viết blog có nội dung nhạy cảm về chính trị có thể làm cụt hứng nỗ lực chống tham nhũng.
'Không bắt cá lớn'
Hai báo có phóng viên bị bắt ra bài kêu gọi thả nhân viên của họ "Mặc dù có một số thành công về chống tham nhũng nhưng dường như chính phủ đã và đang chặt chém báo chí trước khi cá lớn bị sa lưới."
Mọi việc xảy ra vào thời điểm chẳng may mắn gì cho Việt Nam khi nền kinh tế đang có các vết rạn nứt.
Lo ngại về khủng hoảng tiền tệ làm giới đầu tư mất lòng tin.
Xuất khẩu giảm, đầu tư nước ngoài ít đi và triển vọng tụt dốc kinh tế khiến The Economist dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chỉ đạt 3.2% trong năm 2009.
Lần gần nhất tạp chí được đông đảo giới học giả và chính khách quốc tế đọc đã viết bài về Việt Nam hồi tháng 6/2008, nhắc nhở Hà Nội về thực trạng lạm phát ngoài vòng kiểm soát làm người dân mất lòng tin.
Trong bài lần này, lời cảnh báo cho Hà Nội là với hàng ngàn người có nguy cơ mất việc làm trong năm này thì rủi ro về bất ổn xã hội chắc chắn sẽ gia tăng.
Băng keo dán miệng chưa đủ,kỳ này thêm cây kim và sợi chỉ nữa. PPT Việt Nam
The Economist đưa ra một nhận xét xác đáng. Những giới hạn tự do ngôn luận mà nhà nước Việt Nam đưa ra gần đây chỉ làm cho Đảng CS cầm quyền thêm thù mất bạn. Cái mất nguy hiểm nhất của nhà nước Việt Nam là hạ cấp giá trị báo chí chính thống thành cơ quan tuyên truyền, dẫn tới việc từ người bình dân ít quan tâm thời cuộc cũng cho rằng khi "nhà nước nói thế này tức là sự việc đã xảy ra thế khác". Cách hiểu này sẽ rất nguy hiểm cho chế độ. Xem ra ngăn cấm ngôn luận lúc này lợi bất cập hại.
THẢO LUẬN Ở LIÊN HIỆP QUỐC VỀ NHÂN QUYỀN TẠI VIỆT NAM
Hà Giang, thông tín viên RFA 2008-12-15
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnamese-Americans-met-with-the-United-Nations-to-discuss-about-Human-Rights-Issues-in-Vietnam-12152008173623.html Vào ngày 12 tháng 12 mới đây Tiến Sĩ Hà Văn Hải, nguyên cố vấn Thống Đốc tiểu bang Massachussets, thành viên sáng lập cộng đồng VN tại Hoa Kỳ và đại diện chính phủ Hoa Kỳ về nhân quyền tại Liên Hiệp Quốc, Geneva, Thụy Sĩ, vào năm 2004 do tổng thống bổ nhiệm, đã hướng dẫn một phái đoàn người Việt vào gặp các Đại Sứ Hoa Kỳ và Gia Nã Đại tại Liên Hiệp Quốc ở Nữu Ước để thảo luận vấn đề nhân quyền cho VN.
Bắt bớ người dân muốn biểu lộ ý nguyện
Để tìm hiểu rõ thêm về cuộc gặp gỡ này, thông tín viên Hà Giang đã phỏng vấn TS Hà Văn Hải.
Hà Giang: Thưa TS Hà Văn Hải chúng tôi được biết tin là TS vừa hướng dẫn một phái đoàn, đến gặp các Đại Sứ tại Liên Hiệp Quốc ở Nữu Ước, xin TS cho thính giả của đài Á Châu Tự Do được biết lý do và mục đích của cuộc gặp gỡ này được không ạ?
Chúng tôi thấy đây là những dịp tốt nhất mà chúng ta cần phải làm, và chúng ta cần phải gặp gỡ nhiều hơn nữa để công cuộc đấu tranh ở trong nước được tốt đẹp hơn,
TS Hà Văn Hải: Kính thưa quý thính giả đài Á Châu Tự Do và cô Hà Giang, đặc biệt năm nay, kỷ niệm 60 năm bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền ra đời, chúng tôi những người Việt tỵ nạn đã đến Liên Hiệp Quốc để đấu tranh đòi hỏi cho nhân quyền tại VN, vì tại VN nhân quyền vẫn bị chà đạp, 83 triệu dân VN vẫn chưa có tự do, vẫn không có quyền làm người, nhất là quyền tự do tín ngưỡng.
Tường trình về nhân quyền ở Việt Nam tại LHQ
Hà Giang: Cảm ơn TS. Thế thì TS và phái đoàn đã gặp những ai, và diễn tiến của các cuộc thảo luận này như thế nào thưa TS?
TS Hà Văn Hải: Chúng tôi đã được đại sứ Hoa Kỳ là bà Joan Plaisted cùng chúng tôi thảo luận những văn thư chúng tôi đã gửi vào. Chúng tôi cũng được gặp bà Sunderland, người phụ tá đặc biệt của ông đại sứ John McNee của tòa Đại Sứ Gia Nã Đại đặc trách về nhân quyền, bàn thảo với chúng tôi rất nhiều về vấn đề tự do tôn giáo, cũng như nạn buôn bán trẻ em tại VN. Chúng tôi thấy đây là những dịp tốt nhất mà chúng ta cần phải làm, và chúng ta cần phải gặp gỡ nhiều hơn nữa để công cuộc đấu tranh ở trong nước được tốt đẹp hơn, thưa quý vị.
Hà Giang: Thưa TS, sau khi nghe tường trình của TS và phái đoàn về tình trạng vi phạm nhân quyền ở VN, thì phản ứng của đại sứ Joan Plaisted và đại diện của đại sứ John McNee là bà Sunderland ra sao ạ?
chúng tôi và bà cũng hy vọng rằng là trong thời gian bà còn giữ chức vụ Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc, bà sẽ cố gắng yểm trợ cho các quốc gia, trong đó có VN sớm có nhân quyền, và các quyền tự do căn bản của con người được tôn trọng.
Bà Joan Plaistered đã từng làm đại sứ của nhiều quốc gia, bà rất là kinh nghiệm trong vấn đề làm sao để đem lại tự do dân chủ cho các quốc gia khác, bà rất mừng là bà đã gặp anh em chúng tôi và bà cũng hy vọng rằng là trong thời gian bà còn giữ chức vụ Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc, bà sẽ cố gắng yểm trợ cho các quốc gia, trong đó có VN sớm có nhân quyền, và các quyền tự do căn bản của con người được tôn trọng.
Bắt phóng viên tại tòa báo
Sau hơn một giờ thảo luận bà Sunderland đã biết rất nhiều về những tệ trạng xẩy ra tại các quốc gia Á Châu, và bà hứa sẽ chuyển các hồ sơ này về bộ ngoại giao ở Otawa, hy vọng họ sẽ mời chúng ta qua bên đó để nói chuyện với những nhân vật về nhân quyền của bộ ngoại giao tại những vùng Đông Nam Á, và hy vọng rằng cái buổi gặp gỡ đó tiếng nói của những người Canada gốc Việt sẽ được tôn trọng và từ đó cuộc đấu tranh của chúng ta sẽ có nhiều hy vọng hơn.
Đừng quên hỏi chúng ta đã làm được gì cho quê hương
Hà Giang: Theo nhận định của TS thì các vị đại sứ này có thể làm được gì để giúp cho chúng ta trong việc mang đến nhân quyền cho người dân VN?
Chúng ta nên đặt câu hỏi ngược trở lại là chúng ta đã làm được gì cho quê hương của chúng ta, và chúng ta đã làm được những gì cho dân tộc của chúng ta, trước khi chúng ta hỏi những người này làm được gì cho dân tộc của chúng ta.
Chúng tôi nhìn thấy qua cuộc đấu tranh của Thái Hà, người trong nước đã vùng lên, không sợ hãi, quyết tâm đấu tranh để đòi hỏi quyền lợi của mình, và ở hải ngoại đã một lòng yểm trợ, đã viết thơ lên những vị dân cử, viết thơ lên Liên Hiệp Quốc, để đòi hỏi cái nguyện vọng của dân tộc chúng ta.
Chúng ta nên đặt câu hỏi ngược trở lại là chúng ta đã làm được gì cho quê hương của chúng ta, và chúng ta đã làm được những gì cho dân tộc của chúng ta, trước khi chúng ta hỏi những người này làm được gì cho dân tộc của chúng ta.
Tuy nhiên nếu chúng ta không có những cái buổi tiếp xúc như ngày hôm nay, họ nhận văn thư của chúng ta họ có thể họ đọc qua, nhưng nếu cái sự gặp gỡ này, mà chúng ta nói với họ đây là những bằng chứng cụ thể, đây là những chứng tích mà đã xẩy ra tại VN.
Những hình ảnh những lời trình bầy của chúng ta, thì chúng ta sẽ được cái sự chú ý nhiều hơn, và họ cảm thông nhiều hơn, và họ sẽ có những cái dữ kiện chính xác, họ nói chúng tôi có những nhân chứng sống đây, đã vào gặp gỡ chúng tôi đây, và họ sẽ lấy cái này để làm áp lực với nhà cầm quyền của những quốc gia vi phạm nhân quyền, và dân chúng của họ như vậy.
Quý vị phải lập lại những điều gì trong tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, quý vị là thành viên, quý vị phải tôn trọng. thì chúng tôi sẽ có những biện pháp chế tài với quý vị, với những quốc gia, chẳng hạn như là quốc gia bên Phi Châu, nhà cầm quyền đã vi phạm nhân quyền và đã bị một số biện pháp chế tài do liên hiệp quốc.
Hà Giang: Cảm ơn TS. Ngoài ra TS còn điều gì muốn chia xẻ với thính giả của đài Á Châu Tự Do không ạ?
Chúng tôi nghĩ những dữ kiện này, những hình ảnh này, và những tài liệu này, và những công sức của anh em đến gặp họ, là những việc làm cụ thể cần phải làm và nên tiếp tục làm để cho họ nhận thấy trách nhiệm của họ đối với người dân, và họ nhìn thấy là đây này họ có thể dễ dàng nói chuyện với Liên Hiệp Quốc cũng như là áp lực với nhà cầm quyền đương thời và họ có những biện pháp chế tài lập tức.
Hà Giang: Trân trọng Cảm ơn TS đã dành thời giờ cho chúng tôi trong cuộc phỏng vấn này.
NHÂN QUYỀN VÀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
Khổng Nhân Chí
Hôm nay, thế giới kỷ niệm 60 năm tuyên ngôn nhân quyền thế giới trong bối cảnh thế giới có nhiều chuyển biến tích cực về tình hình an ninh chính trị. Bằng những nỗ lực không mêt mỏi của những cá nhân, những chiến sĩ đấu tranh cho hoà bình và công lý, những tổ chức đấu tranh vì quyền con người, đặc biệt là những nhà lãnh đạo các quốc gia dân chủ hàng đầu thế giới, đã thể hiện trách nhiệm đầy cao cả. Chính nhờ những nỗ lực đó cho đến nay đã có hàng trăm quốc gia người dân được hưởng các quyền cơ bản của con người và chính nhờ tinh thần của nội dung bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền ngày 10/12/1948 của LHQ làm nền tảng cho cuộc đấu tranh vì quyền con người được hiệu quả như ngày hôm nay. Dù không có ràng buộc pháp lý, nhưng Tuyên ngôn nhân quyền là nguồn cơ bản và cơ sở tư tưởng để xây dựng nên các văn kiện quan trọng, thành lập các tổ chức và thủ tục giám sát quốc tế về quyền con người trên quy mô toàn thế giới. Làm tiền đề cho việc xây dựng hiến pháp, luật pháp của các quốc gia vùng lãnh thổ vv... Những giá trị có tính vĩnh cửu của bản tuyên ngôn nhân quyền, đã xác quyết những quyền cơ bản quan trọng nhất cuả con người về quyền BÌNH ĐẲNG, không phân biệt giới tính, đẳng cấp thành phần xã hội, không phân biệt chủng tộc màu da, tôn giáo, sắc tộc vv… Thậm chí quyền con người được xác định và công nhận trên phạm vi toàn thế giới không phân biệt lãnh thổ quốc gia. Có nghĩa là bất kỳ ở đâu trên thế giới các giá trị về quyền con người cũng đều có một mẫu số chung và đều bình đẳng như nhau. Tạo hoá đã ban cho họ (danh từ chung) quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đó là là những quyền cơ bản nhất để thi triển cụ thể ra những quyền khác của con người. Chẳng hạn như quyền sống đó là một trong những quyền có tính đương nhiên của tạo hoá, không ai có quyền tước đoạt cuộc sống của họ ngoài số mệnh. Quyền TỰ DO cũng vậy, mọi người ai cũng có quyền thể hiện quyền tự do cá nhân trong một cộng đồng bình đẳng và tôn trọng quyền tự do của người khác như chính quyền tự do của bản thân mình vv… Trên tinh thần cơ bản của Tuyên ngôn nhân quyền thế giới được chắt lọc, chỉnh sửa, bổ xung, tham khảo từ những giá trị của các bản tuyên ngôn sẵn có trong lịch sử tiến bộ của loài người, của các quốc gia dân chủ khác đã có, đặc biệt là bản tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ 1776 và bản tuyên ngôn nhân quyền của nước công hoà Pháp 1879, đã thi triển ra khoảng hơn 80 công ước, tuyên bố quốc tế về quyền con người đã được soạn thảo và ban hành, trong đó có những công ước quan trọng như Công ước về các quyền dân sự, chính trị, Công ước về các quyền kinh tế , xã hội và văn hóa, Công ước về chống phân biệt chủng tộc, Công ước chống tra tấn, các công ước về quyền trẻ em, phụ nữ, người tàn tật, người di cư, các dân tộc thiểu số... Sau 60 năm ra đời, không còn nghi ngờ gì nữa tuyên ngôn quốc tế nhân quyền đã khẳng định tính đúng đắn, khẳng định sức mạnh của quyền con người, là nền tảng cho sức mạnh đồng thuận cùng chung hưởng và tôn trọng lợi ích cá nhân, lợi ích cộng đồng trong một xã hội, một quốc gia mà mọi người đều có quyền làm chủ vận mệnh của mình, trên cơ sở tôn trọng những giá trị khế ước và cam kết chung Ðến nay, Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế đã được dịch ra 360 thứ tiếng khác nhau, là văn kiện được các quốc gia thừa nhận, tôn trọng và truyền bá rộng rãi. Hầu hết các nước và vùng lãnh thổ đã và thực hiện các cam kết về quyền con người bằng những khả năng có thể của mỗi quốc gia. Những thành tích đã đạt được của cộng đồng thế giới về phấn đấu, đấu tranh vì quyền con người là hết sức to lớn. Một thế giới chan hoà yêu thương đầy tình nhân ái đã ngày càng được rộng mở. Sự thân thiện của mói quan hệ giữa con người với con người, giữa các dân tộc, giữa các quốc gia, các tôn giáo ngày càng được khẳng định và gắn bó. Nhưng tiếc thay, bên cạnh những giá trị to lớn mà loài người tiến bộ đã đạt được ngày hôm nay, vẫn còn không ít những thế lực đen tối, những nhóm lợi ích thiểu số trong xã hội vì quyền lợi và lợi ích cá nhân, đã gây lên những kịch bản xấu bằng những cuộc bao động, khủng bố, gây bất ổn nhằm tranh chiếm quyền lợi của nhằm lợi ích thiểu số cực đoan. Trước những trào lưu dân chủ trên thế giới ngày càng lớn mạnh và được khẳng định có tính tất yếu. Trước nguy cơ bị lật đổ theo xu thế tấy yếu, những thế lực đen tối này đã mưu toan toan tính dùng những âm mưu xảo quyệt không những trong chính sách đàn áp bóc lột mà còn tìm cách xoá nhoà ranh giới, đánh đồng các khái niệm về quyền con người với các quyền khác, để bao che biện minh cho hành vi tước đoạt quyền con người một cách tinh vi có hệ thống. Nguy hiểm hơn nữa là một số thế lực đen tối có quyền lực trong tay, đã nhân cơ hội tạo lên những đột phá, bước ngoạt có tính lịch sử mà họ cho rằng mình là kẻ có công, để rồi nắm giữ công cụ nhà nước trong tay, đã thao túng chiếm đoạt các quyền cơ bản của chính những người anh em, những đồng bào của mình, làm của riêng cho mình, coi đó như một thứ tài sản để từ đó cho mình cái quyền ban phát, quyền bố thí cho người khác. Hơn 60 năm nắm quyền cai trị đất nước, đưa đất nước trải qua bao cuộc chiến tranh đau thương và khốc liệt, đảng CSVN đã tự cho mình cái quyền công thần khai sinh ra nước Việt Nam, đưa Việt Nam thoát khỏi ách thực dân đế quốc, để rồi tạo lên một chế độc tài chuyên chế, tuy không tàn bạo khát máu bằng một số các chế dộ độc tài điển hình, nhưng họ đã đẩy đất nước đến những thảm hoạ về tri thức con người, về xã hội và môi trường sống một cách tồi tệ nhất. Họ không biết rằng, sự huyễn hoặc tự thưởng của họ với quá khứ lại là vết nhơ trong lịch sử dân tộc cũng như vết đen trong lịch sử đương đại thế giới. Đẩy một dân tộc vào lò lửa chiến tranh triền miên hơn 30 năm, với những giết chóc tàn phá man rợ đó không phải là chính nghĩa mà là phi nghĩa, đó không phải là công lao mà là tội ác. Tội ác chống lại nhân loại, chống lại dân tộc mà không có lợi biện minh bào chữa, vì cho đến ngày hôm nay cái giá trị về mục đích mà họ đề ra về quyền con người chỉ là hình thức, chỉ là trên giấy tờ mà thôi. Thủ hỏi tất cả những quyền con người được họ cam kết với cộng đồng quốc tế, được ghi trên hiến pháp có được họ thực thi, có được họ tôn trọng thực hiện một cách đầy đủ không, hay đó chỉ là thức bánh vẽ mà thôi. Cái khẩu hiệu mà họ đưa ra trong mấy ngày qua nhân ngày quốc tế nhân quyền, để biện minh bào chữa là “nhân quyền phải gắn liền với đôc lập dân tộc- quyền con người phải gắn liền với chủ quyền đất nước”. Vậy họ nghĩ sao với chính lời ông Nguyễn Sát Quốc trước đây ( chứ không phải sự tiếm danh, hay mạo muội tự nhận mình là “Nguyễn Ái Quốc” như báo chí và các cơ quan tuyên tuyền của nhà nước độc tài CSVN vẫn gọi cho ông ấy ). Ông ta đã nói: “Nước có độc lập mà dân không được tự do thì nền độc lập ấy có nghĩa lý gì ? ” ( tên thường gọi của ông này chính là Hồ Chí Minh). Đúng như lời ông Quốc đã nói, nếu phải lựa chọn một trong hai cách: Đất nước bị “đô hộ” bởi ngoại xâm nhưng người dân được quyền tự do báo chí, tự do đi lại, tự do buôn bán và tự do lập hội, tự do bầu cử, ứng cử một cách thực sự như thời thuộc Pháp và thứ tự do bánh vẽ trên giấy như ngày hôm nay ở Việt Nam thì người dân sẽ chọn cách nào ???? Tất nhiên là hiên nay chưa thể biết người dân sẽ lựa chọn cách nào bởi kết quả chỉ có được sau khi có một cuộc trưng cầu dân ý. Nhưng chúng ta có thể biết được điều đó thông qua những nước lân bang, chẳng hạn cuôc chuyển giao lịch sử quốc đảo Hồng Kông diễn ra năm 1999. Gần như toàn bộ cư dân Hồng Kông đã chuẩn bị thu xếp hành lý rời khởi nơi chôn nhau cắt rốn của mình khi đến đúng giờ G, Hồng Kông sẽ trao trả lại cho Trung Hoa Cộng sản đại lục. Buộc Giang Trạch Dân khi đó phải tuyên bố một nước hai chế độ nhằm níu giữ người dân ở lại. Đó là một bằng chứng sống động về hai chữ ĐỘC LẬP và TỰ DO CÁI NÀO QUAN TRỌNG HƠN !!! Ngay mới đây thôi việc người dân xứ xở Úc Châu đã thông qua việc trưng cầu dân ý, để xin được làm thần dân của nữ hoàng Anh. Tình nguyện để vương quốc Anh đô hộ quốc gia mình, nhưng được sống trong cảnh thái bình, tự do công bằng và bác ái !!!! Rõ ràng cái khái niệm về độc lập dân tộc mà đảng CSVN đưa ra đã trở lên lỗi thời với một thế giới văn minh và hiện đại, một thế giới coi trọng quyền con người hơn cả, thì những giá trị về ranh giới quốc gia chỉ là ước lệ mà thôi. Các quốc gia châu âu đang tiến tới điều đó, khi mà công dân của họ có quyền đi lại, sinh sống tự do trên các quốc gia khác, họ đang tiến tới sự thống nhất về mọi mặt xã hội kinh tế chính trị vì tiêu chí là quyền con người là tối thượng. Cái khái niệm về chủ quyền nó cũng trở lên xa lạ khi mà giao thương kinh tế, sự đồng thuận chính trị trên nền tảng của quyền con người sẽ xoá bỏ raò cản vì lợi ích chung. Những cảnh rừng già vùng nhiệt đới châu phi, vùng rừng rậm Amaron của Braxil sẽ là tài sản chung của nhân loại và mọi người đều có trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ. Các nhà khoa học, các tình nguyện viên đã “xâm phạm chủ quyền” của các quốc gia đó để làm nhiệm vụ bảo tồn thiên nhiên một cách vô tư đầy nhiệt huyết, đầy trách nhiệm và cao cả của mình. Tất cả những lời phát biểu của những kẻ có chức có quyền độ lốt trí thức, giáo sư tiến sĩ vv…như Đào Duy Quát, Lê Đức Thuý vv.. và hàng trăm bài viết của các tờ báo lá cải trong nước nhằm che đậy bào chữa cho hành động tội ác cũng như hành vi vi phạm nhân quyền của nhà nước CSVN sẽ chẳng thể nào che khuất được những gì đã và đang xảy ra hàng ngày hàng giờ trên thế giới hiện nay. Thực tiễn về giá trị nhân quyền đã được khẳng định, đã chứng minh cho loài người thấy bản chất cũng như sức mạnh của nó khi được thực thi một cách triệt để và nghiêm túc. Những giá trị về nhân quyền, độc lập dân tộc và chủ quyền mà Việt Nam đã thể hiện hôm nay là cái gì ??? Một chế độ độc tài chuyên chế đã ban phát thứ nhân quyền bánh vẽ trên giấy, mà trong đó người dân như những bầy súc vật ngoan ngoãn dưới sự chăn dắt của đảng CSVN. Người dân thực sự không hề có môt chút quyền gì. Những cái quyền mà họ ban phát cho ngày hôm nay đều do họ sắp đặt và kiểm soát Độc lập dân tộc ư ! Nó có giá trị gì khi nền kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào nước ngoài !!!! Tư tưởng chính sách đường lối thì dập y chang chính sách độc tài của Trung Hoa và thử hỏi hiện nay trên thế giới, có quốc gia nào không có độc lập dân tộc ??? Chủ quyền ư ! Cho đến hôm nay Việt Nam chưa bao giờ được hưởng trọn vẹn chủ quyền quốc gia theo đúng nghĩa của nó. Hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là máu thịt của Việt Nam hiện vẫn đang bị Trung Cộng chiếm giữ. Người dân đã vượt quá cái quyền được ban phát, để thể hiện tinh thần yêu nước và chủ quyền quốc gia thì bị cấm đoán bị độc chiếm chỉ giành riêng cái quyền đó cho đảng CSVN mà thôi.
Tất cả điều đó đã nói lên thực trạng của đất nước mà hệ quả do sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của đảng CSVN đã gây ra. Cho dù họ có giở bao nhiêu mưu ma chước quỉ gì đi nữa để che đậy hòng cứu vớt chế độ, thì chỉ làm hại đất nước, làm chậm quá trình phát triển của chính dân tộc mình mà thôi. Lịch sử dân tộc sẽ lên án họ như một kẻ tội đồ, tên tuổi của họ sẽ bị nguyền rủa như Trần Ích Tắc, như Lê Chiêu Thống, Nguyễn Sát Quốc mà thôi. Xu thế tấy yếu của thời đại sẽ là động lực to lớn đẩy lùi các thế lực đen tối đến chỗ diệt vong trong một ngày không xa.
Hà Nội, 10/12/2008 Khổng Nhân Chí
THỦ ĐOẠN TRẤN ÁP MỚI CỦA CSVN
Trần Nam - ĐDCND www.ddcnd.org
Ngày 14-11-2008, nhà cầm quyền Hà Nội đã tuyên án anh Ngô Phát Đạt, tức Trần Minh Hoàng 5 năm tù về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đây là một tội danh ảo, cũng giống như tội “trốn thuế” mà nhà nước CSVN đã áp dụng đối với anh Nguyễn Văn Hải, tức Điều Cày.
Ngô Phát Đạt, tức Trần Minh Hoàng
Trước toà, anh Ngô Phát Đạt đã phủ nhận tội trạng nhưng CSVN vẫn cứ tiến hành. Thực chất đây chỉ là phiên toà và bản án trá hình, mục tiêu chính là bịt miệng các tiếng nói bất đồng chính kiến, mà anh Trần Minh Hoàng cũng như anh Nguyễn Văn Hải là nạn nhân điển hình của chế độ độc tài, toàn trị.
Thời gian gần đây, nhà cầm quyền Hà Nội đã dùng hình thức trấn áp tinh vi và hiểm độc hơn. Bằng thủ đoạn truy tố các tội danh có tính hình sự, như vi phạm tội kinh tế, trốn thuế, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản v.v…Cộng Sản Việt Nam đã dùng hệ thống luật pháp và bộ máy an ninh để nhanh chóng bịt miệng các tiếng nói đối lập, gán ghép họ những tội phạm kinh tế, hình sự thay vì các tội chính trị như vi phạm điều 88 tuyên truyền chống nhà nước, lợi dụng dân chủ v.v.... để tránh bị dư luận thế giới lên án về những hành vi đàn áp nhân quyền của Việt Nam đối với các nhà bất đồng chính kiến.
Anh Ngô Phát Đạt, tức Trần Minh Hoàng, sinh năm 1960 tại Vĩnh Long, là người đã từng viết nhiều bài lên án chế độ và phê bình các chính sách kinh tế sai trái của cộng sản Việt Nam. Vì sớm nhận thức ra bộ mặt thật của chế độ, anh Trần Minh Hoàng đã tham gia vào các hoạt động dân chủ, đóng góp cụ thể bằng những bài viết lý luận. Trước đó, anh dự định tham gia vào Đảng Dân Chủ Việt Nam của cụ Hoàng Minh Chính và đã có viết đơn xin gia nhập, tuy nhiên sau khi cụ Hoàng Minh Chính chết, anh quyết định không tham gia Đảng Dân Chủ Việt Nam nữa, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động độc lập để đóng góp cho phong trào dân chủ trên mặt trận lý luận và tuyên vận.
Những bài viết ký tên Trần Minh Hoàng đã làm cho bộ máy an ninh Hà Nội lo sợ và ngày đêm tung lực lượng an ninh mạng truy lùng tác giả. Ngày 16 tháng 7 năm 2008 công an Sài Gòn đã bắt anh tại Phú nhuận. Bốn tháng sau, qua toà án nhân dân quận Phú Nhuận, cộng sản Việt Nam đã gán ghép anh tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với bản án 5 năm tù giam. Anh Ngô Phát Đạt, tức Trần Minh Hoàng đã kịch liệt phản bác những cáo buộc của chế độ, che đậy cho hành vi trấn áp các tiếng nói bất đồng chính kiến. Trước khi bị cộng sản Việt Nam bắt, anh Trần Minh Hoàng đã cảnh báo "Do nắm giữ độc quyền kinh tế và chính trị đã sản sinh ra tham nhũng. Hành vi tham nhũng do chính thể chế chính trị và kinh tế ở VN sinh ra và dung dưỡng ngày một nghiêm trọng và hết thuốc chữa. Thay vì ra sức sửa chữa khuyết điểm do nhân dân đóng góp, nhà nước VN lại ra sức dung túng cho tham nhũng và quay ngược lại đàn áp đánh phá các phong trào đấu tranh chống tham nhũng của người dân. Đây là một tội ác lớn và tày đình của đảng cộng sản đối với dân tộc.". Vụ án hối lộ, tham nhũng tiền ODP của Huỳnh Ngọc Sỹ gần cả triệu mỹ kim cho thấy những tiên liệu của Trần Minh Hoàng có cơ sở, đã làm cho chế độ CS phải hoảng hốt, nhanh chóng quay ra đàn áp, bịt miệng các tiếng nói trung thực.
Chúng tôi phổ biến lại bài viết Trần Minh Hoàng và vụ án của anh để rộng đường dư luận, cảnh báo trước các âm mưu thâm độc của cộng sản Việt Nam, qua thủ đoạn dùng các bản án phạm tội “hình sự” đàn áp những tiếng nói đối lập, hòng chạy tội, để tránh bớt áp lực và lên án của dư luận thế giới. Dù cho CSVN che đậy và quỷ quyệt thế nào, tên tuổi của anh Ngô Phát Đạt, tức Trần Minh Hoàng cũng sẽ được nhân dân quý mến, xem anh như một chiến sĩ, đã vì đấu tranh cho lý tưởng tự do dân chủ mà chịu cảnh tù đày, cùng chung số phận với những chiến sĩ dân chủ khác như luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Bắc Truyễn, bác sĩ Lê Nguyên Sang, ký giả Huỳnh Nguyên Đạo v.v...
Trần Nam
QUỐC HỘI ÂU CHÂU ĐÒI VIỆT NAM THỰC HIỆN NHÂN QUYỀN
22/10/2008: Quốc hội châu Âu ra nghị quyết kêu gọi EU tạo áp lực để Việt Nam phải thực hiện việc tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản khác, trước khi ký kết Hiệp ước hợp tác với Việt Nam.
Nghị quyết được thông qua tại phiên họp của Quốc hội châu Âu ở Strasbourg hôm thứ tư, với 479 phiếu thuận trên 21 phiếu chống.
Nghị quyết kêu gọi Uỷ ban và Hội đồng châu Âu đòi hỏi Việt Nam thực hiện nhân quyền theo những thoả thuận hiện hành. Châu Âu cần yêu cầu Việt Nam chấm dứt ngay sự vi phạm có hệ thống những quyền dân chủ và nhân quyền, trước khi ký kết những hiệp ước mới.
Nghị quyết của Quốc hội châu Âu tố cáo sự bất dung tôn giáo của nhà cầm quyền Việt Nam, kêu gọi Hà Nội lập tức trả tự do cho tất cả những người bị giam tù, cầm giữ vì bày tỏ ý kiến chính trị và tôn giáo một cách ôn hoà.
Số người này bao gồm hơn 300 người Thượng theo đạo Tin lành, cũng như những người Khmer Krom, tu sĩ Phật giáo, những người Công giáo, Cao đài, Hòa Hảo và những người hoạt động chính trị, dân oan khiếu kiện về nhà đất cùng với các lãnh đạo công đoàn.
Nghị quyết cũng kêu gọi hành pháp châu Âu đề nghị Việt Nam xét lại đạo luật buộc những người bất đồng ý kiến về chính trị và tôn giáo vào tội hình sự, chấm dứt việc kiểm duyệt và kềm chế báo chí trong nước, kể cả internet và blog cá nhân.
Quốc hội châu Âu còn lên án Việt Nam về việc giam giữ những ký giả viết bài chống tham nhũng, việc công an Hà Nội bắt giữ và hành hung ký giả Ben Stocking của Mỹ. RFA News
QUỐC HỘI ÂU CHÂU QUYẾT ĐỊNH GIẢI SAKHAROV CHO HU JIA
EU honors Chinese dissident Hu Jia By PAUL AMES, Associated Press Writer Paul Ames, Associated Press Writer – 46 mins ago
AP – In this March 31, 2006 file photo, Chinese AIDS activist Hu Jia speaks during an interview at a cafe …
STRASBOURG, France – The European Union honored jailed Chinese dissident Hu Jia with its top human rights prize on Thursday in defiance of Beijing's warning that selecting him would seriously harm its relations with the 27-nation bloc.
"Hu Jia is one of the real defenders of human rights in the People's Republic of China," said European Parliament President Hans-Gert Poettering. "The European Parliament is sending out a signal of clear support to all those who support human rights in China."
Members of the European Parliament selected Hu for the Sakharov Prize from a shortlist of three that also included candidates from Belarus and Congo. Lawmakers said Chinese pressure had been counterproductive.
Before the announcement, the Chinese Foreign Ministry said awarding Hu the prize would constitute interference in China's internal affairs.
"We all know what kind of person Hu Jia is. He is a criminal, convicted on the charge of inciting subversion of government," ministry spokesman Qin Gang said at a news briefing in Beijing
"To issue an award to such a criminal is interference in China's judicial sovereignty and totally against the initial purpose of this prize," Qin said.
China's ambassador to the EU wrote to Poettering last week to warn that picking Hu would seriously damage China's relations with the EU.
The prize, named in honor of Soviet dissident Andrei Sakharov, was announced as EU leaders gathered in Beijing for a summit with Asian counterparts Friday and Saturday seeking to build a global response to the financial crisis.
Hu is a brash dissident who chronicled the arrests and harassment of other activists before he was sentenced in April to 3 1/2 years in jail in China. The authorities in Beijing say he planned to work with foreigners to disturb the Beijing Olympics. Just before Hu's arrest he had spoken to a committee of EU lawmakers by phone to discuss human rights before the games.
He started out fighting for the rights of HIV/AIDS patients, but his scope expanded after the government gave little ground and he began to see China's problems as rooted in authorities' lack of respect for human rights.
Hu's lawyer said he was pleased by the award, but doubted it would lead to his client's early release from jail.
"If they release him right now, people will say the government succumbed to pressure by the international society," Li Jingsong said.
As the parliamentarians went into their meeting to choose a winner, Hu had the backing of the conservative European People's Party, the largest faction in the 785-seat European Parliament, along with the Liberals and Greens.
"Awarding the Sakharov Prize to Hu Jia puts human rights back at the heart of EU-China relations following China's failure to keep its pre-Olympic promises on raising human rights standards," said a statement from Green faction leaders Daniel Cohn-Bendit and Monica Frassoni.
The Socialists, who make up the second-largest group had backed Abbe Apollinaire Malu-Malu, who guided Congo through its first elections in 50 years in 2006. The other candidate was Belarus opposition leader Alexander Kozulin.
Hu had also been suggested for this year's Nobel Peace Prize, which drew Chinese criticism, too. That prize went to former Finland President Martti Ahtisaari.
In his Oct. 16 letter to Poettering, Song said EU-China relations are just recovering from the angry backlash in China triggered by European human rights protests before this year's Beijing Olympics.
"Not recognizing China's progress in human rights and insisting on confrontation will only deepen the misunderstanding between the two sides," Song cautioned.
The $64,000 prize was begun in 1988 in honor of Sakharov, who died the following year. Previous winners include former South African President Nelson Mandela, East Timorese leader Xanana Gusmao and Cuban dissident Oswaldo Paya.
To mark the 20th aniversary of the prize, the EU plans two days of special events culminating in the award to Hu on Dec. 17 in Strasbourg, France.
Associated Press writer Anita Chang in Beijing contributed to this report
NGHỊ QUYẾT 1636 CỦA QUỐC HỘI LIÊN ÂU
Quốc Hội Liên Hiệp Âu Châu thông qua Nghị Quyết 1636 đề cao vai trò của Truyền Thông trong các nền Dân Chủ
Ngày 3-10-2008 vừa qua, Quốc Hội Liên Hiệp Âu Châu đã thông qua Nghị Quyết 1636. Nghị Quyết nầy long trọng đề cao vai trò của Truyền Thông trong các nền Dân Chủ .
Vào dịp nầy, Tiến sĩ Callamard, Chủ Tịch Tổ Chức Điều 19 (Article 19 Organization), một tổ chức Nhân Quyền độc lập hoạt động khắp thế giới nhằm bảo vệ và cổ võ quyền tự do phát biểu cũng đã tuyên bố: "Vào lúc có những thách thức lớn lao cho ngành truyền thông khắp thế giới, luôn cả tại Âu châu, Nghị Quyết 1636 đã ra đời đúng lúc và được hoan nghênh đặc biệt. Những cuộc tấn công nhắm vào tự do truyền thông và tự do phát biểu gần suốt 10 năm qua đã đảo ngược trào lưu tích cực của 10 năm trước đó, đồng thời đã ngăn trở việc phổ biến thông tin tự do đến dân chúng, tạo nên hiểm họa nghiêm trọng cho các chế độ dân chủ mới cũng như cũ".
Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam hân hoan chào mừng sự ra đời của Nghị Quyết 1636. Việc thông qua Nghị Quyết nầy đã nói lên mối quan tâm sâu xa của các quốc gia hội viên thuộc Liên Hiệp Âu Châu về các quyền tự do ngôn luận và tự do thông tin đang bị chà đạp nặng nề tại nhiều quốc gia đang bị quân phiệt và cộng sản độc tài thống trị.
Nhân dịp nầy, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đặc biệt kêu gọi nhà cầm quyền Hà Nội phải chấm dứt ngay mọi vi phạm Nhân Quyền, trong đó có các quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, theo đúng tinh thần của Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị của Liên Hiệp Quốc mà Hà Nội đã phê chuẩn và cam kết tôn trọng kể từ năm 1982.
Theo Tiến Sĩ Callamard, quyền tự do phát biểu và thông tin của giới truyền thông là một đòi hỏi thiết yếu của dân chủ. "Sự tham gia của quần chúng trong tiến trình quyết định đòi hỏi quần chúng phải được thông tin đầy đủ và có cơ hội tự do trao đổi và thảo luận những ý kiến khác nhau."
Nghị Quyết 1636 hoan nghênh những nhận định có tính cách so sánh về các tình trạng truyền thông tại các quốc gia, và mời gọi quốc hội các nước phân tích tình hình truyền thông của nước họ để tìm ra những thiếu sót trong luật lệ và cách thực hành về truyền thông, và có biện pháp thích ứng để chấn chỉnh. Nghị Quyết 1636 đã đưa ra 27 nguyên tắc căn bản để đánh giá tình hình tự do báo chí tại mỗi quốc gia.
Đặc biệt Nghị Quyết 1636 đã đưa ra những nguyên tắc về luật lệ thích hợp và tương ứng liên quan đến việc bêu xấu. "các viên chức chính quyền không được đặc miễn đối với sự phê bình và nói xấu khác hơn người dân bình thường, chẳng hạn như bằng hình luật với mức án cao hơn… Các nhà báo sẽ không phải bị tù hay các cơ sở truyền thông sẽ không bị đóng cửa vì lời bình luận chỉ trích" (Nguyên tắc căn bản 2); cái gọi là luật lệ chống phát biểu hận thù: "Hình luật chống lại sự xúi dục hận thù hay để bảo vệ trật tự công cộng hoặc an ninh quốc gia phải tôn trọng quyền tự do phát biểu. Các hình phạt phải đúng với nhu cầu cần thiết và tương xứng" (Nguyên tắc căn bản 3); sỡ hữu chủ truyền thông: "sỡ hữu chủ truyền thông và giới có ảnh hưởng kinh tề đến truyền thông phải minh bạch. Luật lệ phải chống lại nạn độc quyến truyền thông và các loại thị trường áp đảo trong ngành truyền thông. Ngoài ra, phải có hành động tích cực nhằm khích lệ sự đa nguyên truyền thông." (Nguyên tắc căn bản 18).
Nghị Quyết 1636 cũng kêu gọi nhà cầm quyền phải tôn trọng sự kín đáo về các nguồn thông tin của nhà báo (Nguyên tắc căn bản 8); bảo vệ các nhà báo, kể cả bằng cảnh sát và tòa án: "Các nhà báo bị hăm dọa phải được cảnh sát bảo vệ khi họ yêu cầu. Các công tố viên và tòa án phải xử lý thích đáng và đúng mức khi các nhà báo bị hăm dọa hay bị tấn công." (Nguyên tắc căn bản 14).
Ngoài ra, Nghị Quyết cũng nêu lên nhiều nguyên tắc nhằm bảo đãm sự độc lập của các cơ sở truyền thông, đáng kể nhất gồm có: (1) chống lại sự can thiệp chính trị: "các nhân viên chính phủ còn tại chức không được hoạt động trong ngành truyền thông chuyên nghiệp" (Nguyên tắc căn bản 23); (2) độc lập đối với các sở hữu chủ truyền thông (Nguyên tắc căn bản 13); (3) được sử dụng một cách công bằng và bính đẵng các kênh, tần số, hay dây cáp phân phối tin tức (Nguyên tắc căn bản 16); (4) được sử dụng một cách công bằng và bình đẳng các phương tiện truyên thông khi có bầu cử (Nguyên tắc căn bản 5); (5) sử dụng không hạn chế sách báo thông tin ngoại quốc hay điện tử, kể cả Internet (Nguyên tắc căn bản 17); (6) độc lập của các nhà phát thanh công cọng không bị sự can thiệp chính trị (Nguyên tắc căn bản 20); và (7) truyền thông tư nhân không bị đặt dưới sự điều hành của các công ty nhà nước hay do nhà nước khống chế và kiềm soát; (8) các tổ chức truyền thong tư nhân phải được hưởng quyền tự điều hành: "phải có một hệ thống tự điều hành trong ngành truyền thông bao gồm quyền các nhà báo trả lời và sửa chữa hoặc tự nguyện xin lỗi. Ngành truyền thông phải thành lập những cơ quan tự điều hành như hội đồng khiếu nại hay người phụ trách tiếp nhận và điều tra khiếu nại. Quyết định của các cơ quan này phải được thi hành, và những biện pháp này phải được tòa án công nhận là hợp pháp. (Nguyên tắc căn bản 25); và "các nhà báo phải tự thiết lập và áp dụng những chuẩn mực chuyên môn về tư cách hành xử, phải cho khán giả hay độc giả biết những quyền lợi chính trị va tài chánh của họ cũng như sự hợp tác của họ với nhà nước, chẳng hạn như các nhà báo đi theo quân đội" (Nguyên tắc căn bản 26).
QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ BỊ BÓP NGHẸT
25/08/2008
Hôm cuối tuần, chính phủ Việt Nam cho hay: 4 nhà báo bị tịch thu thẻ hành nghề vì đã viết và duyệt đăng những tin tức thất thiệt về một vụ chống tham nhũng và vì đã bênh vực cho các đồng nghiệp bị bắt giữ vì các bài tường thuật của họ trong vụ này.
Thông tấn xã AFP trích một bản tin của chính phủ nói rằng những nhà báo này đã không tìm hiểu các nguồn tin khi trực tiếp viết, biên tập, duyệt đăng những tin tức và bài vở liên quan tới vụ PMU18, trong đó có những thông tin sai sự thật nghiêm trọng.
Theo AFP, dân chúng trong nước đã cực kỳ phẫn nộ năm 2005 khi báo chí phanh phui một vụ tham nhũng trong đơn vị lo về hạ tầng cơ sở có tên là PMU18 của Bộ Giao Thông Vận Tải, trong đó tin nói rằng các viên chức hữu trách đã biển thủ ngân quỹ và dùng những món tiền này để cá độ bóng đá. Vụ tai tiếng tham nhũng này đã khiến Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải phải từ chức.
Cũng theo AFP, tháng 5 năm nay, hai nhà báo Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến, những người hăng say trong việc tường thuật vụ tham nhũng, đã bị bắt giữ sau khi bị buộc tội lạm dụng quyền hạn và thông tin sai lạc, khiến giới truyền thông mạnh mẽ phản kháng.
Nhật báo Thanh Niên lập tức đòi trả tự do ngay cho các nhà báo lương thiện, trong khi nhât báo Tuổi Trẻ viết rằng nhà báo của họ đã phải trả một cái giá cho những tin tức về một vấn đề chưa được giải quyết xong xuôi mà lại còn diễn ra một cách lạ kỳ.
Tuy nhiên, tin tức cho biết hai ngày sau các báo này đã phải ngưng ngay những lời phản kháng sau khi nhận được một lời cảnh cáo của chính phủ. Dầu vậy, đầu tháng Tư vừa qua, 4 nhà báo hàng đầu của hai nhật báo vừa kể đã bị chính phủ tịch thu thẻ hành nghề mà không đưa ra một lý do cụ thể.
Hôm thứ Bảy vừa rồi, chính phủ mới giải thích rằng những người này đã đưa ra những thông tin kích động phản đối hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong loạt bài sau khi hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải bị cơ quan an ninh điều tra, khởi tố và bắt tạm giam.
Các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền và các nhà quan sát quốc tế đã lên án Hà Nội về các vụ bắt giữ này, cho rằng đây là những vi phạm nghiêm trọng tới quyền tự do báo chí. Hôm thứ Tư vừa rồi, đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak, cũng đã bày tỏ sự lo ngại bằng lời nhận định rằng các vụ bắt giữ sẽ có một tác động tiêu cực cho những nhà báo muốn tường thuật những vụ họ có thể phát giác.
Cũng trong ngày thứ Tư tuần trước, trong bài tường thuật với đề tài 'Tại Việt Nam, quyền tự do báo chí bị bóp nghẹt' đọc trên hệ thống truyền thanh NPR, sau khi đề cập đến chuyện hai nhà báo Việt Nam bị bắt giữ và 5 nhà báo khác bị tịch thu thẻ hành nghề, thông tín viên Michael Sullivan đã trích nhận định của nhiều quan sát viên và của ông Carl Thayer, một chuyên viên về vấn đề Việt Nam của Viện Quốc Phòng Úc, trong đó mọi người cho rằng hành động của chính phủ Việt Nam sẽ khiến giới nhà báo trong nước phải thận trọng hơn, có nghĩa là phải tự kiểm duyệt nhiều hơn, trong tương lai.
CHO DÂN TRỰC TIẾP BẦU CHỦ TỊCH XÃ TRÒ LỪA MỚI CỦA VIỆT CỘNG
LÝ ĐẠI NGUYÊN
Trên trang Chính Trị Xã Hội trong báo Người Lao Động của Viê.tcộng, đề ngày 24-08-2008, đăng bài của tác giả Thái An với đề tài: “Thí điểm bầu trực tiếp Chủ Tịch Xã từ năm 2009. Bước Đột Phá Để Mở Rộng Dân Chủ Cơ Sở. Đề án thí điểm không tổ chức HĐND cấp quận , huyện, phường và thí điểm nhân dân bầu trực tiếp chủ tịch UBND xã đang được Bộ Nội Vụ soạn thảo, để thực hiện thí điểm từ năm 2009, sau khi HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004-2009 kết thúc. Đề án thực sự là bước đột phá trong đổi mới tư duy, tầm nhìn, hành động và là bước tiến lớn trong việc mở rộng và phát huy dân chủ ở cơ sở”. Theo cơ chế của nhà nước Viê.tcộng hiện nay, thì các cấp tỉnh, quận, huyện, phường, xã đều có Hội Đồng Nhân Dân để bầu ra và kiểm soát chủ tịch và Ủy Ban Nhân Dân. Nhưng đứng trên đầu 2 cơ chế này là Đảng Ủy và Viên Bí Thư đầy quyền lực, ở mọi cấp, mà vô trách nhiệm về mặt hành chánh và luật pháp nhà nước.
Đây là cái gốc của việc lạm quyền, tham nhũng, hà hiếp, đàn áp, bóc lội người dân lành Viê.tnam khốn khổ. Cảnh Dân Oan hiện nay, đểu do đơn vị hành chánh cấp xã thực hiện theo chỉ thị từ thượng cấp. Chính vì vậy, mà lâu nay, các nước như Thụy Điển có thiện chí, muốn cố vấn và tài trợ cho Viê.tcộng cải tổ hệ thống hành chánh trì trệ, thối nát, tùy tiện, thảy đều bất lực, đành chào thuạ Nay, Viê.tcộng muốn làm một bước đột phá cho dân bầu trực tiếp người điều hành cơ sở gốc của Quốc Gia là vị đứng đầu xã, và guồng máy hành chánh Làng Xã ở nông thôn và Thị Xã ở đô thi.. Giống như ỏ Hoakỳ và các nước Dân Chủ thành nếp sống lâu đờị Chính nơi đây, người dân mới ý thức và cảm nhận được quyền làm chủ xã hội và đất nước của mình. Mình thực sự biết rõ để chọn ra và kiểm soát những người điều hành Làng Xã, Thị Xã để đề ra những công việc cụ thể do nhu cầu của dân địa phương, và thực hiện luật lệ cũng như các chính sách nhà nước một cách nghiêm minh, nhằm phục vụ quyền lợi cả tinh thần, lẫn vật chất cho chính người dân, chứ không vì quyền lợi của kẻ thống trị, đảng phái cầm quyền, hoặc tôn giáo toàn thống. Đây mới là nền Dân Chủ Trực Tiếp, từ đó ý thức dân chủ trưởng thành để người dân đủ trình độ sáng suốt chọn bầu ra các thành phần lãnh đạo quốc giạ Đây là đường hướng xây dựng thể chế dân chủ đi từ gốc lên trên. Còn các cuộc gọi là cách mạng thì ưu tiên đoạt chính quyền trung ương, rồi mới thực hiện các lý tưởng này, nọ, hoặc thi hành xây dựng dân chủ. Tức là đi từ ngọn xuống, nên thường thì chẳng bao giờ tới được gốc, vì dễ rơi vào thế chuyên chế. Riêng với chủ trương của Quốc Tế Cộng Sản thì họ tự nhận họ thuộc chế độ Vô Sản Chuyên Chính. Họ chỉ vì quyền lợi của Nhân Dân Lao Động, không vì lợi ích của Người Dân Mỗi Nước. Đó là trên lý thuyết, còn thực tế, khi Cô.ngđảng cướp được chính quyền ở Ngạ ở Tầu, ở Việt… thì những lãnh tụ trở thành Vị Vua cực quyền. Đảng trở thành Giai Cấp Thống Trị, Nhân Dân Lao Động và Toàn Dân đều trở thành những tên Nô Lệ Khổ Sai, Trí Thức bị hèn hóa chỉ biết phục vụ cho ý muốn hoang tưởng và quyền lợi của lãnh tụ và cô.ngđảng. Đó là nguyên nhân nội tại, tương tác với duyên ngoại lai của chiến lược Mỹ, tạo ra cảnh huynh đệ tương tàn, làm cho Quốc Tế Cộng Sản sụp đổ.
Cô.ngsản Tầu, Cô.ngsản Việt tuy đã đầu hàng Tưbản, nhưng không dám thực hiện dân chủ đúng nghĩa, chỉ muốn đổi từ cộng sản bao cấp thành tư bản bóc lột, để được nhận vào kinh tế thị trường. Vì muốn có những thị trường nhân dụng rẻ tiền, nên tư bản các nước kỹ nghệ cũng hăm hở đổ vốn đầu tư vào làm ăn, và mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa cho hàng của Tầu, Việt nhập cảng. Thế nhưng vì lợi nhuận lâu dài của giới tư bản và vị thế chiến lược của Mỹ và các cường quốc Dân Chủ, họ vẫn dùng áp lực Nhân Quyền để buộc các nước còn duy trì cơ chế độc đảng độc tài như Tầucộng, Viê.tcộng phải tuân thủ những đòi hỏi thực tế của ho.. Đồng thời từng bước phải thay đổi chế độ và luật pháp cho hợp với nhu cầu kinh tế thị trường toàn cầu hóạ Vì nguyên tắc phát triển của kinh tê thị trường là phải Dân Chủ Hóa Chế Đô.. Có như vậy người dân ở các nước Dân Chủ Tự Do mới trở thành khách hàng tiêu thụ sản phẩm của kỹ nghệ tư bản, và những Quốc Gia đó mới đủ khả năng tài chánh để trang bị kỹ thuật cao của Mỹ trong sản xuất và phòng thủ đất nước. Chính vì vậy mà mấy năm gần đâỵ Hoakỳ đã tài trợ cho Tầucộng tổ chức bầu cử trực tiếp tại một số thí điểm Xã Ấp. Nhưng Tầucộng đã lươn lẹo, không cho bầu cử trực tìếp ở đơn vị Hành Chánh Gốc là Xã, mà chỉ cho bầu các Trưởng Thôn, Trưởng Ấp. Xã vẫn nằm trong hệ thống tham nhũng của các cấp ủy đảng. Bởi vậy các Trưởng Thôn, Trưởng Ấp do dân bầu mới vì quyền lợi của dân, tổ chức các cuộc biểu tình đòi quyền sống, mà mỗi năm có tới hàng Trăm Ngàn vụ xẩy ra ở Trungcô.ng.
Nay Viê.tcộng đi xa hơn Tầucộng một bước, là dự định cho dân bầu trực tiếp Chủ Tịch Xã, người cầm đầu Ủy Ban Nhân Dân Xã. Tức là đơn vị Hành Chánh Gốc của Nhà Nước. Định bỏ các Hội Đồng Nhân Dân Xã, Phường, Huyện, Quận, mà chỉ tăng cường thành phần HĐND tỉnh, và thành phố trực thuộc Trung Ương. Nhưng xem ra Cô.ngđảng vẩn duy trì thứ Đảng Ủy và Viên Bí Thư Xã để nắm đầu Chủ Tịch Xã và Ủy Ban Nhân Dân Xã. Rồi trao cho Mặt Trận Tổ Quốc đứng ra tổ chức bầu cử theo công thức bầu bán lạc hậu “Đảng Cử Dân Bầu”. Như vậy dù dân có bầu ra Chủ Tịch Xã thì vẫn bị thứ cơ chế Đảng Lãnh Đạo, Nhà Nước Quản Lý và Dân vẫn Làm Mọi như xưạ Đây là một trò bịp lớn, không chỉ bịp toàn dân Việt, mà bịp luôn cả Mỹ, bịp toàn thể dư luận quốc tế.
Việc Người Dân trong Xã trực tiếp bầu Xã Trưởng và 4 hoặc 6 Nghị Viên Xã để quyết định đường lối và điều khiển hệ thống hành chánh xã là đúng với nhu cầu, và đòi hỏi của Nền Dân Chủ Trực Tiếp, mang tính thời đạị Lại rất hợp với truyền thống Dân Tộc đã có từ ngàn xưạ Đây là nguyên tắc “Phép Vua Thua Lệ Làng” trong hành trình bảo vệ tinh thần độc lập của Dân Tộc trước sức khống chế của các Đế Quốc, bắt Vua ta phải xưng thần, triều cống và nghe lê.nh. Vì biết cách tổ chức đơn vị Làng Xã Tự Quản, nên thời bình dù Vua có bị xưng thần, thì dân vẫn nuôi được tinh thần Độc Lâp, thời chiến Làng Xã là đồn lũy chiến đấu trường kỳ. Dân Tộc Việt nhờ đó mới thoát khỏi một ngàn năm bị người Tầu đồng hóa, và một trăm năm bị Thực Dân Pháp cải hóạ Nhưng rồi chính Hồ Chí Minh và Viê.tcộng đã tiêu diệt tận gốc rễ hệ thống Làng Xã Tự Quản, qua việc nhận lệnh Nga, Tầucộng thực hiện Cải Cách Ruộng Đất. Rồi cấy vào đó thứ “Chi Bộ Cộng Sản Xã”. Sau đó Viê.tcộng theo Nga thì bắt toàn dân phải thờ Nga, theo Tầu thì buộc toàn dân nô lệ Tầụ Nay, Viê.tcộng nếu muốn chuộc trọng tội đó với Dân Tôc và Toàn Dân thì nên khởi sự bằng việc tự hủy bỏ hệ thống Đảng Ủy tại Làng Xã, Thị Xã. Nghiêm chỉnh tổ chức một cuộc bầu cử thật sự tự do, công bằng, vô tư, trong sáng. Trao cho thành phần dân sự ngoài đảng, chính quyền và MTTQ, đứng ra tổ chức bầu cử tại Làng Xã, Thị Xã. Tập thể có nhân sự và khả năng làm việc đó ở Viê.tnam hiện nay là các Trường Đại Học. Vì sinh viên chỉ trong ngắn ngày là có thể học hiểu luật, phương pháp vận động, tổ chức bầu cử. Rồi từng nhóm trên mươi người do một Giáo Sư hướng đẫn về từng Làng Xã, Thị Xã tiến hành bầu cử. Chỉ có thế người dân mới tin tưởng, người được bầu ra mới thấy mình không bị thượng cấp ban ơn và lệ thuộc ho.. Lúc đó chỉ biết có quyền lợi của dân và pháp luật của Quốc Gia Dân Chủ.
Little Saigon ngày 26-08-2008.
HÒA GIẢI HÒA HỢP VỚI AI VÀ CÁI GÌ ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Cách đây chừng hai năm, nhiều chính khách xu thời đã nêu ra chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp. Nhìn thấy tính cách xu thời mong nhẩy bàn độc, nhiều Vị đã lên tiếng nói rõ rằng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là lá đơn van xin làm bồi cho CSVN vì chính CSVN không nêu ra vấn đề ấy và vì tâm địa cố hữu của CSVN là ngoan cố bấu víu chặt lấy quyền độc tài độc đảng. Chúng tôi cũng đã viết nhiều về vấn đề này.
Trong tuần vừa rồi, tôi đọc bài của Oâng NGUYỄN TƯỜNG LONG mang đầu đề HÒA GIẢI LÀ MỘT NHU CẦU CÓ THẬT. Tôi cũng có đọc những ý kiến của Bác sĩ NGUYỄN THỊ THANH về Hòa Giải Hòa Hợp.
Đối với vấn đề này, lập trường của chúng tôi được bầy tỏ qua hai câu hỏi: 1) Ai hòa hợp hòa giải với ai ? 2) Hòa hợp hòa giải về cái gì ?
Nếu không trả lời chính xác cho hai câu hỏi ấy, thì vấn đề Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là chiêu bài tung ra để che đậy những mưu mô khác.
AI HÒA HỢP HÒA GIẢI VỚI AI ?
Khi nói hòa hợp hòa giải là nói đến hai lực lượng tranh đấu, dành dựt một cái gì mà dai dẳng không phân thắng bại để tổn thương nguy hại đến cả hai lực lượng. Vì vậy hai bên ngồi lại thảo luận với nhau để chia chác điều mà mình đang dằng co. Nếu chia phần cho đều, thì hai lực lượng tạm yên đánh nhau.
Nếu hiểu Hòa Giải Hòa Hợp là giữa Quốc gia và Cộng sản thì không trúng bởi lẽ người Quốc gia không dành dựt cái điều mà CSVN đang nắm giữ. Trở lại về nguyên thủy cuộc đấu tranh Quốc-Cộng, người Quốc gia đứng ở vị trí bảo vệ Tự do, Nhân quyền, còn người Cộng sản dùng võ lực đến chiếm quyền để đặt để Độc tài độc đảng, không cho Tự do và chà đạp Nhân quyền. Vì vậy người Quốc gia không đi dành dựt chiếm hữu, lấy cho mình cái quyền Độc tài, tiêu diệt Tự do, chà đạp Nhân quyền như Cộng sản. Một bên là tự vệ, một bên là xâm lăng ăn cướp. Vì vậy nói người Quốc gia đi Hòa Hợp Hòa Giải với CSVN là không trúng
Trúng hơn là nên nói hòa hợp hòa giải giữa những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng và những người làm Chính trị phe chủ trương độc đảng về cái quyền lực cai trị. Nếu những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng muốn hòa hợp hòa giải với CSVN, thì cứ việc làm, nhưng đây là việc đấu tranh dành quyền lực giữa tầng lớp làm chính trị. Liệu CSVN có chia quyền hành cho những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng hay không, hay là CSVN xử dụng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để vẽ râu ria cho chế độ cố hữu của họ, xử dụng những người làm Chính trị phe đa đảng như bung xung lừa bịp Dân và Quốc tế.
Nếu hai phe Chính trị mà chỉ dùng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để chia ghế, chia quyền hành, thì Dân vẫn tiếp tục đấu tranh chống lại cả hai phe thống trị.
HÒA HỢP HÒA GIẢI VỀ CÁI GÌ ?
Đối với người Dân, vấn đề tha thiết căn bản của họ là có TỰ DO, có việc tôn trọng NHÂN QUYỀN thực sự và những người cầm quyền đừng ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của họ. Trừ những người làm Chính trị cho quyền hành, hầu hết đồng bào Tỵ nạn Hải ngoại đứng về phía Dân chúng Việt Nam quốc nội đấu tranh cho TỰ DO, NHÂN QUYỀN và QUYỀN SINH SỐNG NUÔI THÂN XÁC. Ơû Hải ngoại, người Quốc gia Tỵ nạn đã có TỰ DO, có NHÂN QUYỀN và CÓ CƠM ĂN ÁO MẶC. Họ đứng sau lưng Dân chúng Việt Nam để hỗ trợ cuộc đấu tranh của người Dân đòi CSVN cho TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN và đừng CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân chúng quốc nội.
Vậy thì việc Hòa Giải Hòa Hợp là giữa CSVN và DÂN CHÚNG VIỆT NAM tại Quốc nội, chứ không phải giữa CSVN và khối người Quốc gia tỵ nạn tại Hải ngoại. CSVN muốn Hòa Giải Hòa Hợp thì hãy làm công việc đó đối với Dân chúng Việt Nam tại Quốc nội. CSVN hãy trả lại TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN, đừng nắm Kinh tế ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân và phải hòan trả lại Dân những gì mà CSVN đã ăn cướp trong bao chục năm trường. Điều cuối cùng này rất quan trọng. Thực vậy, đừng dùng chiêu bài Hòa giải Hòa hợp để chuyển tài sản ăn cướp ra nước ngoài, rồi cho con cháu ra đây bảo lãnh mình ra sống vương giả trên của cải ăn cướp được.
Hãy Hoà Giải Hòa Hợp giữa CSVN và Dân chúng Quốc nội, chứ đừng đểu cán kêu gọi Hòa Giải Hòa Hợp với một số thành phần Chính trị ở việc chia ghế. CÁI GÌ (đối tượng) cho việc Hòa Giải Hòa Hợp giữa CSVN và DÂN CHÚNG QUỐC NỘI là: (i) cho TỰ DO, (ii) tôn trọng NHÂN QUYỀN, (iii) đừng nắm độc quyền Kinh tế mà ĂN CƯỚP NHÀ ĐẤT VÀ CƠM ÁO của Dân, (iv) phải hoàn trả lại cho DÂN và ĐẤT NƯỚC những gì đã ăn cướp trước đây.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
X
NHỮNG LO NGẠI LIÊN QUAN ĐẾN TC VÀ VC
Báo Mỹ viết về những mối lo ngại liên quan đến Trung Quốc, Việt Nam 15/01/2008
Báo Washington Times số ra hôm thứ ba, ngày 15 tháng 1, năm 2008 đăng một bài viết nhan đề 'Trung Quốc, Việt Nam và Những Mối Lo Ngại Toàn Cầu'.
Bài viết mở đầu rằng: 'Trung Quốc và Việt Nam đứng đầu nhiều danh sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và của Liên Hiệp Quốc như hồ sơ vi phạm nhân quyền, danh sách các nước gây gây ô nhiễm môi trường, danh sách những nước đặt ưu tiên phát triển kinh tế trên nhiệm vụ bảo vệ người dân vốn sống trong môi trường thiếu các quyền tự do như tự do phát biểu, tự do báo chí, bầu cử công bằng và minh bạch'.
Bài viết này được tờ Washington Times loan tải vào lúc Phó Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông John Negroponte, bắt đầu đi thăm hai nước Châu Á này. Bài báo nói rằng các đề tài quan trọng được quan chức ngoại giao cao cấp thứ hai của chính phủ Mỹ đưa ra thảo luận trong chuyến đi thăm này chắc chắn sẽ là vấn đề mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân trao đổi thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, tỉ giá đồng nhân dân tệ, quyền và an toàn của người lao động tại Việt Nam và Trung Quốc, và an toàn sản phẩm xuất khẩu, thế nhưng còn nhiều vấn đề khác đáng ra phải được đưa ra thảo luận nhưng lại ít được chú ý đến. Đó là những vấn đề mà tờ nhật báo nằm trong số có nhiều độc giả nhất tại thủ đô Washington liệt kê bao gồm:
•Nhân Quyền - Bài báo nói 'cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều nằm trong danh sách các nước thường xuyên vi phạm nhân quyền', mặc dù trước đây trong hồ sơ tranh đăng cai Olympic, Bắc Kinh có hứa sẽ giảm tình trạng này, và chính phủ Việt Nam cũng cam kết sẽ chú trọng vào lãnh vực nhân quyền khi họ phấn đấu gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới.
Washington Times viết tiếp rằng: 'Hầu hết các nhóm tranh đấu cho nhân quyền đều nói rằng những lời hứa của Trung Quốc và Việt Nam với cộng đồng thế giới là không có thật'.
•Kế đến, Bắc Kinh bị chỉ trích là thiếu tích cực trong việc dùng ảnh hưởng của họ thông qua các hoạt động kinh tế để giúp giải quyết cuộc khủng hoảng nhân đạo tại khu vực Darfur của Sudan.
•Bài báo nói rằng: 'Trung Quốc và Việt Nam hiện đang là những nước đứng đầu thế giới trong việc gây ô nhiễm môi trường. Nguồn nước ngầm tại hai nước này có mức ô nhiễm cao, mà nguyên nhân chính là do việc sử dụng hóa chất diệt trùng và phân hóa học quá nhiều'.
Riêng về Trung Quốc, nước láng giềng Nhật Bản của họ đã từng lên tiếng phản đối việc khói mù từ “nhà máy của thế giới” này đã lan sang gây ảnh hưởng bầu không khí của Nhật Bản.
•Tranh chấp chủ quyền và các nguồn tài nguyên, Bài báo nói rằng 'Trung Quốc và Việt Nam tiếp tục tranh chấp chủ quyền tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nơi mà dư luận tin là có nhiều trữ lượng dầu khí. Vấn đề tranh chấp mới đây trở nên gay gắt khi Trung Quốc có lại các hành động xác lập chủ quyền đối với các hải đảo này vào mấy tháng cuối năm vừa qua. Người dân Việt Nam đã biểu tình và bày tỏ phản đối trên mạng Internet. Còn phía Trung Quốc thì yêu cầu chính phủ Việt Nam phải trấn áp các hình thức phản đối này… Những tranh chấp này có thể mang lại nhiều hậu quả, và tựu trung là sẽ ảnh hưởng đến tình hình hòa bình và ổn định chung của khu vực'.
Tác giả của bài viết -- ông John E Carey, một cựu sĩ quan cấp cao của quân đội Mỹ, một chuyên gia về Châu Á, và hiện là chủ tịch của Công Ty Tư Vấn Quốc Phòng Quốc Tế – đã kết luận rằng ngoài những đề tại kinh tế được chú trọng như trao đổi mậu dịch và tỉ giá hối đoái, còn những vấn đề khác ở hai quốc gia cộng sản này cũng cần được nêu lên để bàn thảo công khai.
Một số thông tin trên đây được trích từ The Washington Times
===================QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN======================
“Mọi người có quyền tự do ngôn luận; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác theo sự lựa chọn của mình” (Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm 1982). (Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall include freedom to seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media of his choice.)
==========================
TỰ DO BÁO CHÍ TẠI VIỆT NAM
Việt Nam xếp hạng 178/195 trên thế giới về tự do báo chí Thiện Giao, phóng viên đài RFA 2008-05-03
Tổ chức Freedom House vừa công bố bản phúc trình thường niên về tự do báo chí trên toàn thế giới năm 2007. Nhận định chung là mức độ tự do báo chí toàn cầu giảm dần trong 6 năm liền. Theo phúc trình này, Việt Nam xếp hạng 178 trên 195 quốc gia được khảo sát, và thuộc vào nhóm “không có tự do.”
Xếp hạng 178 trên 195
Tổ chức Freedom House vừa công bố phúc trình tự do báo chí thường niên nhằm đánh giá mức độ tự do báo chí trên toàn thế giới, trên từng khu vực, và tại mỗi quốc gia, trong năm 2007. Mức độ tự do báo chí năm 2007 sụt giảm so với năm trước, và là sự tiếp tục sụt giảm trong một giai đoạn 6 năm liền. Đó là kết luận tổng quát nhất được tiết lộ từ các con số thống kê.
Điều bất ngờ là, ngoài sự mất tự do báo chí tại các quốc gia độc tài, ngay cả các quốc gia có nền dân chủ cao cũng có dấu hiệu sụt giảm của tự do báo chí. Bản phúc trình khảo sát 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, cho thấy 72 quốc gia có tự do báo chí; 59 quốc gia tương đối tự do; và 64 quốc gia không có tự do báo chí. Việt Nam thuộc vào nhóm không có tự do báo chí, được xếp hạng 178 trên 195.
“Nhà nước ra nhiều luật liên quan đến báo chí, và gần đây nhất là chỉ thị 37 của thủ tướng cấm tư hoá báo chí. Tôi cho rằng với hoàn cảnh như vậy, báo chí phát triển rất khó khăn.”
“Tôi thấy 600 tờ báo thì cũng là một tiếng nói thôi.”
Tôi thấy 600 tờ báo thì cũng là một tiếng nói thôi.
“Theo luật báo chí Việt Nam, chỉ có cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội thuộc nhà nước mới có quyền ra báo.”
Đó là những phát biểu của một số nhà báo Việt Nam, trong đó có những người tự gọi là “nhà báo tự do,” không tham gia trong hệ thống báo chí chính thống nhà nước, mà là những blogger hay những người viết bài gởi ra đăng ở các tờ báo nước ngoài. Các phát biểu này đã được ghi âm và phát trên một chương trình của đài Á Châu Tự Do hồi trung tuần tháng Hai vừa qua, cũng liên quan trực tiếp đến câu hỏi về mức độ tự do báo chí tại Việt Nam.
Tất cả đều do nhà nước quản lý
Tại Việt Nam hầu hết các ngòi bút đều bị kiểm duyệt nghiêm ngặt và bị đặt dưới áp lực của đảng và nhà nước.
Anh Văn Lang, một nhà báo tự do, đã từng đưa ra nhận định: “Báo chí tự do thì phải ở thể chế tự do. Do đó ở Việt Nam, báo chí nằm trong một cái khung không thể đi ra được. Về mặt cơ chế, ở nước ngoài, các vị trí trong ban biên tập, như chủ nhiệm, chủ bút đều thuộc tư nhân, họ làm đúng theo luật, và không ai xen vào được.
Tại Việt Nam thì tất cả đều do nhà nước quản lý, Tổng Biên Tập do nhà nước chỉ định, nên nếu anh làm trái ý “ông chủ” thì “ông chủ” có quyền cắt, chuyển anh qua công tác khác. Do đó các tổng biên tập làm việc như có lưỡi dao trên bên trên, họ phải làm có mức độ, nếu ai qua khỏi mức độ thì mất việc. Tại Việt Nam, các tổng biên tập mất chức liên tục.”
Những phát biểu này cho thấy, Việt Nam khống chế báo chí thông qua sự khống chế về nhân sự báo chí. Gần đây, như nhiều người ta đã biết, thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng, cho ban hành chỉ thị số 37, cấm tư nhân hoá báo chí.
Bản phúc trình thường niên của Freedom House, ngoài việc đánh giá tổng quát trên toàn thế giới, còn thiết lập những đánh giá theo từng vùng và nhận định riêng cho từng quốc gia. Trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương với 40 quốc gia, Tân Tây Lan được xếp đầu bản và Bắc Hàn xếp cuối bản. Việt Nam thuộc nhóm “không có tự do,” đứng hàng thứ 36, ngay trên nước Lào và dưới Brunei. Cũng trong bảng này, Cambodia hạng 26, và được xếp vào nhóm “tương đối tự do.”
Trong cuộc phỏng vấn hồi tháng Hai, một nhà báo Việt Nam mô tả luật báo chí Việt Nam và tiến trình bổ nhiệm một Tổng Biên Tập, nhân vật cao cấp nhất của một tờ báo, như sau.
“Theo luật báo chí Việt Nam, chỉ có cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội của nhà nước mới có quyền ra báo. Và quyền ra báo phải được thừa nhận bởi một giấy phép do Bộ Văn Hoá Thông Tin cấp. Theo luật, khi tờ báo là cơ quan ngôn luận của các tổ chức ấy, thì tờ báo ấy là cơ quan trực thuộc tổ chức đó. Cơ quan đó sẽ đề nghị một tổng biên tập.
Đề nghị này sẽ được xem xét theo rất nhiều tầng nấc. Bắt đầu bằng Ban Văn Hoá Tư Tưởng Thành Phố trực thuộc trung ương. Rồi đến Ban Văn Hoá Tư Tưởng Thành Uỷ, rồi sau đó gởi lên cho ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương mà ngày nay người ta gọi là Ban Tuyên Giáo. Sau khi cơ quan Đảng có ý kiến về đề nghị đó [bổ nhiệm Tổng Biên Tập], họ chuyển cho chính quyền phê duyệt. Trên nguyên tắc, sự bổ nhiệm tổng biên tập phải có sự đồng ý của ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương và Bộ Văn Hoá Thông Tin.”
Chính quyền và các nhà báo
Rõ ràng, tiến trình đề cử và bổ nhiệm như vừa được mô tả, cho thấy người được cất nhắc vào các vị trí cao trong các cơ quan truyền thông Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu mang đầy màu sắc chính trị do phải được sự phê duyệt của các cơ quan chịu trách nhiệm về tư tưởng của Đảng và chính quyền.
Trong một bảng đánh giá về mức độ tự do báo chí của Việt Nam trước đó một năm, tức là năm 2006, Freedom House viết rằng: “Mức độ căng thẳng giữa chính quyền và các nhà báo lên cao. Trong khi các nhà hoạt động vận động cho một nền truyền thông tự do hơn, thì nhà nước Việt Nam tiếp tục đàn áp tự do ngôn luận, nhất là những thông tin trên Internet.”
Mức độ căng thẳng giữa chính quyền và các nhà báo lên cao. Trong khi các nhà hoạt động vận động cho một nền truyền thông tự do hơn, thì nhà nước Việt Nam tiếp tục đàn áp tự do ngôn luận, nhất là những thông tin trên Internet.
Nhà báo tự do Hoàng Hải, mà nhiều người trong giới blog biết đến với tên gọi “Điếu Cày,” vừa bị bắt gần đây do những hoạt động phản đối Trung Quốc tuyên bố chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, đã từng nhận định, rằng, nếu “Nhà nước cấm đăng thì toàn bộ các báo không đăng. Các báo không đăng, thì dân không biết tin tức.” Cũng theo blogger này, trong hoàn cảnh như thế, Internet sẽ là phương tiện truyền đạt và phá vỡ bức tường bưng bít thông tin trong truyền thông nhà nước.
Công việc đưa tin buổi lễ rước đuốc Olympics Bắc Kinh tại Sài Gòn ngày 29 tháng Tư vừa qua là một ví dụ về sự kiểm soát báo chí Việt Nam. Gần như không một tờ báo nào của Việt Nam đưa tin về việc rước đuốc. Rồi bỗng nhiên, đến ngày 29 tháng Tư, tất cả các báo cùng đưa tin, với nội dung và mức độ
.
===============PHONG TRAO DÂN CHỦ/ NHÂN QUYỀN================= ĐẢNG THĂNG TIẾN VIỆT NAM
========================
Kêu gọi các đảng viên THĂNG TIẾN VIỆT hãy cùng nhau lập BAN XỬ LÝ THƯỜNG để nối tiếp ý chí bất khuất của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ và BAN ĐẠI DIỆN như Oâng NGUYỄN PHONG, Luật sư LÊ THỊ CÔNG NHÂN
(NHUYỄN PHÚC LIÊN, đảng viên đảng Thăng Tiến Việt Nam) .
LS LÊ THỊ CÔNG NHÂN TỪ CHỐI ĐI MỸ
LS Lê Thị Công Nhân từ chối đi Mỹ định cư như một cách bị "lưu đày" Luật sư Lê Thị Công Nhân http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=80604&z=157 (Tặng Giáo sư NGUYỄN CHÍNH KẾT làm bài học)
HÀ NỘI 24-6 (NV).- Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, tù nhân chính trị đang bị giam giữ ở nhà tù số 5 tỉnh Thanh Hóa nói rằng cô sẽ không chấp nhận đi Mỹ định cư như một cách giúp chế độ Hà Nội thi hành chính sách tống xuất tất cả những người đấu tranh đòi dân chủ hóa đất nước ra khỏi Việt Nam.
"Vào các ngày 10, 11 vừa qua, một số cán bộ của Cục A 42 (thuộc Tổng Cục An Ninh CSVN) đã đến trại tù số 5 ở tỉnh Thanh Hóa để hỏi Nhân là có muốn đi Mỹ không nếu nước Mỹ nhận?" Bà Trần Thị Lệ, mẹ nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, cho báo Người Việt hay như vậy sau chuyến thăm con gái hôm Thứ Bảy 21 tháng 6, 2008 vừa qua. Bà đã lặn lội 200 cây số đi thăm con gái nhưng chỉ được cho gặp mặt một giờ và một lần trong một tháng.
Theo lời bà Lệ, sau khi một người đã "thành án", chẳng có quan chức nhà nước nào đến thăm hỏi. Nhưng một số cán bộ cao cấp của Bộ Công An CSVN đến nửa dò ý nửa thuyết phục Lê Thị Công Nhân cho thấy họ có chủ ý rõ rệt.
"Nhân rất ngạc nhiên khi được hỏi như vậy và hiểu rằng không phải bỗng dưng mà cán bộ từ Hà Nội lại lặn lội đến nhà tù để phỏng vấn tội phạm về ý nguyện của người ta. Nhân đã trả lời là nếu được đi đến một quốc gia khác có dân chủ, nhân quyền để du lịch hay du học thì rất muốn. Còn 'đi luôn' thì không".
Bà Lệ thuật lại lời con gái đối đáp với cán bộ Cục A 42 như vậy. Bà thuật lại cho biết cô con gái bà cho cán bộ CSVN biết là cô "sinh ra ở Việt Nam là có một mục đích là đóng góp vào công cuộc vận động dân chủ hóa đất nước".
Sau nhiều lời thuyết phục cô chấp nhận đi Mỹ định cư không xong, đám cán bộ Công an A 42 đã đe nẹt cô là "Nếu không đi Mỹ thì đây (trại tù số 5 Thanh Hóa) sẽ là địa chỉ mãi mãi của chị đấy!". Bà Lệ thuật lại.
"Họ mỉa mai mạt sát Nhân là trước đây là một luật sư trắng trẻo, xinh đẹp, còn bây giờ thì là một tù nhân đen đúa xấu xí." Bà kể, "Nhân đáp lại rằng tù nhân thì thế thôi."
Bà nói khi nào cán bộ công an nói quá đáng thì Nhân mới đáp lại. Khi bị đáp lại thì họ lại im vì không trả lời được.
Theo lời bà Trần Thị Lệ, Luật Sư Lê Thị Công Nhân đã chuẩn bị tinh thần từ trước để vào tù vì biết hành động đòi hỏi tự do dân chủ và nhân quyền thật sự của mình sẽ không được các kẻ cai trị độc tài chấp nhận.
"Công Nhân rất kiên định, không viết đơn xin khoan hồng cũng không nhìn nhận mình có tội gì". Bà nói. "Nhân nói đến Chúa còn bị đóng đinh trên thánh giá, còn Nhân bị tù ở đây cũng là một sự thử thách nhân cách và định lực của con người".
Bởi vậy, qua những lần thăm trước, bà có hỏi con gái là có muốn nộp đơn làm "giám đốc thẩm" để chống lại các áp đặt phi lý của các bản án sơ thẩm và phúc thẩm không, cô trả lời rằng "Có làm cũng chẳng được gì" vì biết các bản án chính trị đã được chế độ Hà Nội định sẵn nhằm trừng phạt các người đấu tranh dân chủ ở trong nước.
"Còn nước còn tát". Bà Lệ thuật lại lời nói với con gái như vậy và được cô trả lời là "Sự giả dối của nền tư pháp tại Việt Nam không còn gì để tin được". Dù vậy cô "ủng hộ việc làm của luật sư biện hộ cũng như của gia đình Luật Sư Ðài.
Bà Lệ cho hay, trong cương vị của một người mẹ thấy con bị tù tội, bà không thể không làm bất cứ gì để cứu con nên bà cũng đã nộp đơn xin "giám đốc thẩm" (Báo Người Việt đã loan tin này tuần trước).
"Má cũng làm đơn à?" Cô hỏi mẹ một cách ngạc nhiên.
Bà Lệ cho hay, cán bộ A 42 đến gặp LS Lê Thị Công Nhân ở nhà tù Thanh Hóa cho biết thư gửi cho cô chứa đầy "một xe tải". Tuy nhiên, cô không nhận được một cái nào. Bà Lệ nói điều này cho thấy tất cả thư từ, bưu thiếp mọi người trên thế giới gửi đến cho cô để bày tỏ lòng yêu quí, cảm thông đều bị công an CSVN chận giữ hết. Cô cho biết gửi qua đường bưu điện 6 lá thư thì bà Lệ chỉ nhận được một cái duy nhất.
Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, 28 tuổi, bị chế độ Hà Nội bắt giam cùng với Luật Sư Nguyễn Văn Ðài ngày 6 tháng 3, 2007 với sự vu cáo "tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN".
Khi ra tòa sơ thẩm ở Hà Nội ngày 11 tháng 5, 2007, LS Ðài, 39 tuổi, bị kết án 5 năm tù, 4 năm quản chế; LS Nhân bị kêu án 4 năm tù 3 năm quản chế. Nhưng trước các lời đả kích của dư luận quốc tế về không có nhân quyền ở Việt Nam, họ chỉ được giảm án mỗi người một năm tù còn giữ nguyên án quản chế.
Cuối Tháng Năm vừa qua, LS Lê Công Ðịnh, một trong 5 luật sư biện hộ trong phiên tòa phúc thẩm, đã gửi đơn đòi "giám đốc thẩm" lại các bản án cho hai Luật Sư Ðài và Nhân vì nhận thấy thủ tục tố tụng hình sự đã bị vi phạm trầm trọng. Sau đó, cô Vũ Minh Khánh, vợ Luật Sư Ðài, cũng đã làm đơn đòi "giám đốc thẩm" với các dẫn chứng chi tiết, cụ thể về sự vi phạm ngay chính luật tố tụng hình sự của tòa án CSVN.
Cho tới nay, cả 3 lá đơn yêu cầu giám đốc thẩm của LS Ðịnh, cô Khánh và bà Lệ cũng không thấy được trả lời.
Ngày 29 tháng 5, 2008, phụ tá ngoại trưởng Mỹ, David Kramer, đến Việt Nam đối thoại nhân quyền. Ông đã đề nghị trả tự do cho một số người trước khi Nguyễn Tấn Dũng đến Mỹ vận động đầu tư và viện trợ. Trong số đó có LM Nguyễn Văn Lý, LS Nguyễn Văn Ðài, LS Lê Thị Công Nhân. Tuy nhiên, Nguyễn Tấn Dũng đang có mặt ở Mỹ và các người vừa kể vẫn ở trong tù.
VẤN ĐỀ HÒA HỢP VÀ HÒA GIẢI
Bài 1/4
by: • Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất Saturday, May 03 2008
Nếu hòa hợp hòa giải (HHHG) Dân Tộc là con đường lý tưởng đưa đến phát triển đất nước thì tại sao cộng sản Việt Nam (CSVN) lại ban hành Nghị Quyết 36? Và nếu HHHG là giải pháp tốt đẹp để giải quyết các vấn đề của Việt Nam (VN) thì tại sao các nhà hoạt động chính trị tại hải ngoại lại không công khai tuyên truyền và cổ võ nó? HHHG dân tộc, vấn đề đã xưa cũ, nó chỉ là chuyện của dân gian và của báo chí. Tuyệt nhiên không thấy người ta công khai đề cập đến trong các cuộc hội họp chính trị, và ngay cả những nhà tranh đấu đòi dân chủ cũng thường tỏ ra úy kị nó. Như vậy có phải HHHG chỉ là hiện tượng ảo của một âm mưu đen tối nào đó làm người ta bị nhột khi phải đối diện với nó? Từ ngữ thời trang các nhà hoạt động chính trị thường sử dung hiện nay là đa nguyên đa đảng thay vì HHHG. Có lẽ vì thế dư luận mới cho rằng HHHG và đa nguyên đa đảng chẳng qua chỉ là hai mặt của một đồng tiền. Loại giấy bạc này do CS Hànội in ra và dùng nó để mua sự khờ dại của những nhà hoạt động chính trị loại school smart (xin tạm dịch là mọt sách). Những người thực sự chủ trương HHHG với Việt gian cộng sản (VGCS) cũng không có ai giải thích vấn đề một cách tường tận. Chung quanh có rất nhiều câu hỏi cần phải được đặt ra. Tại sao phải HHHG với VGCS? Phải hiểu thế nào là HHHG? Những ai chủ trương HHHG? Những ai chống? Tại sao người ta không minh danh đặt vấn đề ra một cách công khai cho mọi người thảo luận để tìm ra chân lý, mà cứ phải úp úp mở mở, nói một đàng, làm một nẻo. Lấy cái gì để nói chuyện HHHG với VGCS? Hậu quả của việc HHHG sẽ ra sao? Vân vân và vân vân. Nếu không minh bạch hóa vấn đề thì HHHG hay đa nguyên đa đảng hơn kém chỉ nên coi là một màn xiệc mà chủ gánh là bọn chóp bu Hànội, không ai khác vào đây cả. Có nhiều màn trình diễn hấp dẫn. Chủ gánh không cần quảng cáo mà người hiếu kỳ vẫn tấp nập mua vé vào xem.
HHHG trong một tình trạng rất ư là mơ huyền … mờ như thế đấy. Bài viết xin được đóng góp một vài ý kiến nhỏ hy vọng soi sáng được phần nào những hóc hiểm đầy ảo thuật tính của màn xiệc hấp dẫn này. Mong những ai còn tha thiết đến vận mệnh của đất nước quan tâm hơn đối với vấn đề.
I. Sơ Lược Về Tình Hình Đấu Tranh Hiện Nay
1. Gió Đã Đổi Chiều
Khái niệm về chiến tranh đã thay đổi trong thời đại ngày nay, và hình như định nghĩa về chiến tranh cũng đang là độc quyền của một vài quốc gia có sức mạnh áp đảo. Ngày xưa du kích VC giật mìn xe đò, pháo kích trường học, nổ rạp hát, bắt người đi mò tôm v.v. chả thấy ai kết tội chúng là khủng bố cả. Nhưng bây giờ thì khác, chuyện lớn như ôm bom tự sát, chuyện nhỏ như liệng một trái phá tự chế không có ngòi nổ ở đâu đó, cãi cọ rồi xô xát với nhân viên của một phái đoàn ngoại giao, rải truyền đơn chống cộng v.v. tất cả đều được ghép chung vào một loại tội phạm gọi là tội “khủng bố”. Chữ “khủng bố” và chữ “chiến tranh” có nghĩa khác nhau một trời một vực. Chiến tranh xem ra còn ẩn tàng một một chút gì nhân đạo. Hai bên đánh nhau còn có cơ hội để thương lương hòa giải. Nhưng khủng bố thì không. Dù nặng hay nhẹ, biện pháp là tuyệt đối không tha, phải đuổi tận giết tuyệt. Điều trớ trêu là ngày nay bọn giật mìn xe đò, pháo kích trường học, chôn sống thường dân vô tội v.v. lại đang bô bô kết tội những hành động chống lại chúng là khủng bố. Và thật là tồi tệ, luật pháp nước Mỹ cũng thường khi y án phụ họa.
Sự đổi chiều quan điểm này đã khiến tất cả mọi khuynh hướng đấu tranh của chúng ta, trong cũng như ngoài nưóc nhất loạt thay đổi đường lối theo. Đấu tranh vũ trang tất nhiên bị dẹp bỏ vì đó là khủng bố. Tất cả các tổ chức tranh đấu đều đồng loạt tuyên bố đấu tranh bất bạo động. Đến như Mặt Trận Hoàng Cơ Minh trước kia hung hăng đông tiến đem âm binh về giải phóng VN, nay đứa con quí tử là Việt Tân (VT) cũng sợ co vòi, chỉ còn dám nói canh tân để giải phóng đất nước. Lý Thái Hùng Tổng Bí Thư đảng VT tuyên bố: “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng chủ trương tiến hành một cuộc đãu tranh toàn diện, để xây dựng tự do dân chủ và để canh tân Việt Nam . Nghĩa là đấu tranh để ưu tiên chấm dứt ách độc tài hiện nay nhưng cũng đồng thời tiến hành những nỗ lực canh tân một cách chọn lọc và tích cực, đáp ứng nhu cầu chung và dài hạn của đất nước.” (Chủ trương và đường lối của đảng VT – Lý Thái Hùng , Berlin , Đức Quốc 19-9-2004).
Cương lĩnh, tuyên ngôn v.v. của các đảng phái và tổ chức mới ra đời lúc gần đây đều có cùng luận điệu như thế cả:
- Đảng Dân Chủ VN của ông Hoàng Minh Chính: Xây dựng chế độ dân chủ đa nguyên đa đảng, bầu cử tự do và công bằng. Xây dựng cơ cấu quốc gia tam quyền phân lập (Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp đều có thẩm quyền độc lập.) Sinh hoạt chính trị lành mạnh. Các đảng chính trị bình đẳng với nhau. Hoạt động của các đảng phái chính trị và nhà nước phải riêng biệt. Bộ máy hành chính quốc gia phải gọn nhẹ để phục vụ nhân dân một cách hữu hiệu.
- Đảng Dân Chủ Nhân Dân: Mục tiêu đấu tranh là hình thành một lực lượng đối lập công khai, để kịp thời ngăn chặn những hành động của nhà cầm quyền gây tổn hại cho đất nước và cho nhân dân……. Đấu tranh với chính quyền độc tài sửa đổi Hiến pháp và Pháp luật để phù hợp với ý nguyện nhân dân, hướng tới việc xây dựng một nhà nước dân chủ và pháp quyền.
- Đảng Thăng Tiến VN: Trực diện đấu tranh bất bạo động với đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), nhằm mục đích xây dựng một Hiến pháp mới, để người Dân thực hiện quyền làm chủ Đất nước của mình thông qua cuộc tổng tuyển cử tự do với sự tham gia tranh cử bình đẳng của tất cả các Chính đảng ; qua đó nắm quyền lãnh đạo và quản lý Đất nước.
- Khối 8406: Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được “đổi mới” từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước, trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu.
Khối 8406 nói có phần hơi mạnh mẽ hơn, nhưng cũng chưa đủ để xác định rõ sự khác biệt. Nhờ được tiếp xúc với một số người hiểu biết về Khối 8406, người viết tin tưởng rằng nhiều quí vị lãnh đạo nòng cốt của tập hợp chính trị này là những người rất đáng tin tưởng cả về mặt đạo đức cá nhân lẫn xã hội, có tinh thần dấn thân, can đảm và đầy nhiệt huyết. Tuy nhiên trong hành động, quí vị đó đã vấp phải một số sai lầm nguy hiểm, đến nỗi có dư luận coi khối 8406 cũng là dân chủ cuội. Đàng khác, Khối 8406 đã để Việt Tân xâm nhập và lũng đoạn nhiều quá khiến mất đi rất nhiều cảm tình và tin tưởng của người Việt hải ngoại. Đấy là chưa nói đến tình trạng nghi ngờ có chuyện cài người của VGCS. Ở trong nước chuyện này khó tránh khỏi. Tuy nhiên, thật sự là điều bất công nếu cứ vơ đũa cả nắm khẳng định rằng Khối 8406 là một tổ chức dân chủ cuội. Đành rằng cá thể có cuội trong đó, nhưng toàn thể thì nhất định không.
- Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền VN: Mục tiêu của Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam là đấu tranh nhằm vận động sức mạnh của Toàn Dân để giải quyết dứt khoát sự lũng đoạn của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam, đưa đến thay thế triệt để thể chế chính trị độc đảng toàn trị lạc hậu hiện nay bằng thể chế chính trị đa đảng tiến bộ, nghĩa là thay thế sinh hoạt chính trị không công bằng, không chấp nhận cạnh tranh bằng sinh hoạt công bằng, có cạnh tranh trong sáng.
- Tổ Chức Phục Hưng VN: Tổ Chức PHVN chủ trương tiến hành công cuộc phục hưng đất nước trên căn bản xây dựng Dân Chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên song hành với nỗ lực phục hưng Văn Hóa Dân Tộc.
- Liên Đảng Lạc Hồng: Xây dựng một Liên Minh Chính Trị đối lập có thực lực đối trọng với đảng CSVN. Liên Đảng Lạc Hồng quyết tâm thúc đẩy tiến trình đấu tranh chấm dứt tình trạng độc tài toàn trị, góp phần phục hưng Dân Tộc và phát triển một quốc gia thực sự có đạo đức, dân chủ, tự do, hạnh phúc và văn minh.
- Lộ Trình 9 điểm của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế thỉnh thoảng được nhóm Cao Trào Nhân Bản của ông tại Mỹ giới thiệu với chính giới Hoa Kỳ. BS Quế cũng chủ trương như các đảng phái trên, không có gì khác lạ. Gọi phương thức tranh đấu của nhóm này là chính trị sa-lông không sai. Họ đứng riêng lẻ, tranh đấu không có gốc, tức là không dựa vào quần chúng, mà chủ yếu là dựa vào cách bắt mạch xem cái ngọn tức đường lối của Hoa Kỳ rồi theo đó mà phất cờ. Nhóm Cao Trào Nhân Bản chỉ thấy tranh đấu đâu đó chung quanh Quốc Hội Hoa Kỳ, không thấy xuất hiện ở những chỗ đông người tỵ nạn như xuống đường hay biểu tình v.v. Nó biểu lộ cái quán tính của một số chính khách và đảng phái của nhiều chánh khách miền Nam xưa kia.
Sự trùng hợp hoặc giống nhau đến nỗi người ta có thể tưởng tượng là tất cả các cương lĩnh và đường lối đều do cùng một tác giả viết ra. Mỗi đảng, mỗi tổ chức chỉ cần đem về sao chép, xào nấu lại, sửa lời văn đôi chút là đã có một bản cương lĩnh riêng của mình rồi. Đọc qua một số trích yếu từ các văn kiện chính thức của các đảng và tổ chức chính trị hiện nay, chúng ta thấy được hai điểm quan trọng: một là họ không minh nhiên lập trường tiêu diệt chế độ CS. Hai là họ chủ trương chế độ mà CS cũng được công nhận là một thành phần tham gia sinh hoạt trong đó. Rõ ràng đây là một hình thức hòa hợp. Sự hòa hợp này không hẳn đã có hòa giải nên chắc chắn sẽ lại đem đến xung đột về sau. Điều thiếu sòng phẳng là các đảng phái và tổ chức chính trị kia chủ trương HHHG với VGCS nhưng họ lại không dám tự nhận là mình có chủ trương đó. Chuyện này cũng dễ hiểu thôi vì đại đa số đồng bào tỵ nạn không chấp nhận HHHG. Nếu họ tự nhận, họ sẽ mất cảm tình của đồng bào và sẽ bị đồng bào tẩy chay. Trường hợp của Việt Tân là một thí dụ.
2. Những Thành Phần Trong Bàn Cờ Chính Trị VN
Ở đây dĩ nhiên chúng tôi chỉ đề cập đến người Việt Nam . Có 4 thành phần. Nhìn qua lăng kính chính trị, và dù đứng dưới bất cứ góc độ nào cũng rất dễ dàng nhận ra.
- Thứ nhất: CS chuyên chính. Gọi là CS chuyên chính hay CS chính chuyên cũng đồng một ý nghĩa. Thành phần này đều là đảng viên đang tham gia vào cơ cấu chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương. Bọn này tuyệt đối trung kiên và trung thành với đảng vì quyền lợi và vì đang có điều kiện hưởng thụ mà thường là bất hợp pháp. Ngoài ra còn phải kể đến vài nhóm và cá nhân ở hải ngoại. Loại này không phải là CS “chính chuyên”, nhưng tự đông làm việc nhiều khi không công cho VGCS, ngày trước còn làm vụng trộm, nhưng bây giờ ít thấy còn e dè lén lút nữa.
- Thứ hai: Nhân dân trong nước và đặc biệt đại đa số đồng bào tỵ nạn tại hải ngoai. Thành phần này không đội trời chung với CS, và tuyệt đối không chấp nhận sự có mặt của VGCS dưới bất cứ hình thức nào trong cơ cấu chính quyền vì họ đã và đang là nạn nhân trực tiếp của chế độ.
- Thứ ba: Cộng sản phản tỉnh. Dùng chữ phản tỉnh thực ra chỉ là miễn cưỡng. Gọi cho có cái tên mà thôi. Phản tỉnh là xét lại tư tưởng để tìm sai lầm mà sửa chữa. Câu hỏi đặt ra là đã có người CS nào thực tâm đi tìm sai lầm để sửa chữa chưa. Chủ nghĩa CS là một sai lầm lớn nhất trong lịch sử con người. Hàng núi tài liệu và sách vở với vô số bằng chứng đã chứng minh rồi đấy. Lịch sử và thực tế đã công nhận rồi đấy. Các văn kiện đảng viết rõ ràng đảng CSVN là một chi bộ của CS Liên Sô, Hồ Chí Minh (HCM) là một cán bộ lãnh lương và hoạt động cho đảng CS Liên Sô. Đảng CS đã bán đất bán biển cho ngoại bang. Thế mà đã có ai trong số 3 triệu đảng viên CS dám nhìn nhận những tội ác và sai lầm đó không? Hoàng Minh Chính (HMC) chỉ là một tên CS theo chủ nghĩa xét lại. Ông ta chủ trương chống đảng để cứu đảng. Dân chủ mà HMC đòi là thứ dân chủ được lãnh đạo bởi phe CS của HMC. Tất cả chỉ có thế. Tôn HMC lên hàng “tổ tông” của phong trào dân chủ VN là chẳng hiểu gì về HMC. Xem phương án Tiểu Diên Hồng của ông ta tất sẽ hiểu ông ta. Ông ta không bao giờ phản đảng cả. Bùi Tín, Nguyễn Thanh Giang vẫn ca ngợi Hồ Chí Minh là một người yêu nước. Trần Khuê phong thánh cho Hồ và gọi là đức thánh Hồ. Thánh Hồ còn ngồi trên cả quốc tổ Hùng Vương. Hà Sĩ Phu nói Trời cho dân và đảng hai bên chọn được nhau và sẽ còn là của nhau cho đến trăm năm đầu bạc. Lê Hồng Hà khẳng định đây là cuộc đấu tranh chấm dứt vai trò độc đảng, đảng trị của đảng CSVN, chớ không phải là cuộc đấu tranh để đánh đổ và xoá bỏ đảng CSVN. Còn nhiều và rất nhiều như thế lắm. Lê Hồng Hà đưa ra tuyên ngôn trên là lời giải thích rõ ràng và đầy đủ ý nghĩa nhất thay cho cả bọn gọi là phản tỉnh này. Tất cả các thành phần được coi là phản tỉnh cốt cán trên đã có thấy ai nhìn nhận sai lầm và sửa sai chưa? Như thế thì làm sao gọi là phản tỉnh.
- Thứ tư: Thành phần thứ 3. Thành phần này đa số thuộc giới trí thức, già có, trẻ có. Tiếc rằng giới trẻ có học mà sao họ không biết gì về lịch sử và nhất là phong trào CS trên thế giới. Chuyện thật đáng lo ngại, nhưng không trách họ được vì nhà trường đã đào tạo họ như thế. Nhưng còn những người lớn tuổi, có học? Điều này mới thực là kỳ lạ. Hơn ba mươi năm trước họ sống dưới chế độ Cộng Hòa nhưng lại xu hướng CS. Sau 30-4-75 họ phải bỏ miền Nam vượt biên ra nước ngoài vì không thể sống được với CS. Ở hải ngoại họ lại ngoảnh đầu về trong nước và trông đợi ở những người CS phản tỉnh. Họ học cao và đã dầy dạn kinh nghiệm mà không thể hiểu rằng người CS phản tỉnh không bỏ đảng và cũng không chống đảng, chỉ chống ngững người CS đang cầm quyền mà thôi. Họ cũng không tiên đoán được rằng một chế độ đa đảng hậu CS sẽ đưa đất nước đi về đâu. Con đường đấu tranh của nhóm thuộc thành phần thứ ba này có thể tìm thấy qua lá thư của GS Nguyễn Chánh Kết viết gởi cho một người bạn của ông. Lá thư này ông gởi qua mạng internet có đoạn viết: “Hiện nay, điều quan trọng là chúng ta phải đoàn kết với tất cả những ai có khuynh hướng tranh đấu cho tự do dân chủ, cho đa nguyên đa đảng, bất kể họ là ai. Chúng ta phải tiến từng bước một, và tiến được tới đâu thì chấp nhận tới đó đã, rồi lại tiếp tục tiến tới nữa. Không nên chủ trương Tout ou rien, non à peu près, everything or nothing, not nearly (được ăn cả, ngã về không)”. Ông Nguyễn Chánh Kết kể là người ở trong nước. Còn ở hải ngoại, nhiều nhà trí thức cũng đã bầy tỏ bằng những luận điệu tương tự. Chẳng hạn BS Nguyễn Xuân Ngãi nói “đảng cuội (tức đảng Dân Chủ VN của Hoàng Minh Chính) cũng được đi, ủng hộ lầm có mất mát gì đâu”. Hoặc các ông Hoàng Cơ Định, Nguyễn Trọng Việt, Nguyễn Ngọc Bích cũng đồng ca một giọng: cờ nào cũng là cờ, cả hai lá cờ không tốt sao.
3. Ôn Lại Một Chút Lịch Sử Để Rút Kinh Nghiệm
Tưởng cũng nên ôn lại vài bài học lịch sử Dân Tộc về HHHG cho những ai trí nhớ không được tốt.
Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc Hội đầu tiên của nước Vietnam họp khoáng đại ra mắt toàn dân tại Nhà Hát Lớn, Hànội. Cũng tại đây, ngày này, một chánh phủ liên hiệp kháng chiến được đưa ra trình diện Quốc Hôi. Chính Phủ này gồm đủ mặt các đảng phái: Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc, Dân Chủ, và nhân sĩ độc lập. Tình trạng hợp tác giữa các phe phái chính trị này ngày xưa gọi là liên hiệp, ngày nay nếu có ai gọi là đa nguyên đa đảng hay hoà hợp hoà giải chắc cũng không sai.
Chỉ 4 ngày sau khi Quốc Hội họp khoá đầu tiên, chính phủ liên hiệp do Hồ Chí Minh cầm đầu đã ký với Pháp một văn kiện quan trọng gọi là Hiệp Ước Sơ Bộ, và sau đó ít tháng, Tạm Ước ngày 14-9-46. Ký hai văn kiện này, Hồ Chí Minh tạm coi như được rảnh tay đối phó với Pháp để dồn nỗ lực vào công việc thanh toán các đảng phái quốc gia và những thành phần chống đối Việt Minh. Thời kỳ này có thể ví như một đêm tối kinh hoàng trong lịch sử Dân Tộc. Hàng ngàn, hàng vạn những cuộc ám sát, bắt cóc, thủ tiêu bí mật trên khắp mọi miền đất nước do Việt Minh chủ động. Không có toà án nào xét xử.
Màn liên hiệp này thực tế đã cho thấy chỉ là trò bịp bợm do Hồ dàn dựng. Những người đứng về phe Quốc Gia có thể nói đã học được một bài học đắt giá về chuyện liên hiệp, hay đa nguyên đa đảng, hay hoà hợp hoà giải với CS.
Năm 1975, trong khi quân lực Việt Nam Cộng Hoà đang đổ xương máu chống lại sự xâm lăng của cộng sản miền Bắc, thì một số chính khách tại miền Nam tự nhận là thành phần thứ ba tôn Dương Văn Minh làm thủ lãnh, công khai chiếm chánh quyền để thực hiện âm mưu bắt tay hoà hợp hoà giải với CS. Nhưng "thiên bất dung gian", cái chính quyền vô năng bất lực này đã phải cay đắng bẽ mặt khi cả đám đứng lên nghênh đón tên sĩ quan CS bước vào phòng họp chính phủ tại dinh Độc Lập để nghe tên VC này hách dịch ra lệnh cho họ: "Dơ tay lên đầu hàng. Các anh có còn gì đâu mà đòi bàn giao". Quân dân miền Nam mất tất cả đã đành. Những kẻ ôm mộng HHHG với CS cũng đã tiêu tán tất cả chì lẫn chài. Lần thứ hai người quốc gia lại học được bài học HHHG với CS. Nhưng lần này thì đau hơn nhiều Người quốc gia đã mất trắng tay, còn bị lưu đầy, tù tội, nhà tan cửa nát, gia đình ly tán...!
Hai lần kinh nghiệm xương máu như thế đó mà ngày nay nhiều người vẫn chưa tởn. Nhiều người đang tự bôi xóa thân phận tỵ nạn của mình, đội mồ dựng dậy cái thành phần thứ 3 để đứng vào trong đó. Xem ra lịch sử lại đang tái diễn? Điểm đáng lưu ý là vấn đề HHHG tại hải ngoại thực tế không được các chính khách và đảng phái minh thị quảng diễn, nhưng lại được biểu lộ ra bằng rất nhiều hành động hai mặt để đánh lừa dư luận. Chẳng hạn đảng Việt Tân một mặt phái người về trong nước cho CS bắt để chứng minh ta đây chống cộng. Nhưng mặt khác, chủ tịch đảng Đỗ Hoàng Điềm lại cố tình trình bầy sai tình hình nhân quyền tại VN mà mục đích là để làm thất bại Dự Luật Nhân Quyền VN tại Quốc Hội Mỹ. Tình trạng đang diễn ra tại hải ngoại cũng gần giống như ngày trước khi miền Nam rơi vào tay CS Bắc Việt. Điều đáng lo ngại là người Việt tỵ nạn xem ra chẳng mấy cảnh giác về chuyện đó. Có phải họ đã qua sông nên đấm cò vào sóng!
(còn tiếp) Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
.
.
.
Vietnam Human Rights Act of 2007 (Engrossed as Agreed to or Passed by House)
HR 3096 EH 110th CONGRESS
1st Session H. R. 3096
AN ACT
To promote freedom and democracy in Vietnam.
Be it enacted by the Senate and House of Representatives of the United States of America in Congress assembled,
SECTION 1. SHORT TITLE; TABLE OF CONTENTS.
(a) Short Title- This Act may be cited as the `Vietnam Human Rights Act of 2007'.
(b) Table of Contents- The table of contents for this Act is as follows:
Sec. 1. Short title; table of contents.
Sec. 2. Findings.
Sec. 3. Purpose.
TITLE I--PROHIBITION ON NONHUMANITARIAN ASSISTANCE TO THE GOVERNMENT OF VIETNAM
Sec. 101. Bilateral nonhumanitarian assistance.
TITLE II--ASSISTANCE TO SUPPORT DEMOCRACY IN VIETNAM
Sec. 201. Assistance.
TITLE III--UNITED STATES PUBLIC DIPLOMACY
Sec. 301. Radio Free Asia transmissions to Vietnam.
Sec. 302. United States educational and cultural exchange programs with Vietnam.
TITLE IV--UNITED STATES REFUGEE POLICY
Sec. 401. Refugee resettlment for nationals of Vietnam.
TITLE V--ANNUAL REPORT ON PROGRESS TOWARD FREEDOM AND DEMOCRACY IN VIETNAM
Sec. 501. Annual report.
SEC. 2. FINDINGS.
Congress finds the following:
(1) The relationship between the United States and the Socialist Republic of Vietnam has grown substantially over the past 12 years, with annual trade between the 2 countries reaching over $9,000,000,000 per year.
(2) The Government of Vietnam's transition toward greater economic freedom and trade has not been matched by greater political freedom and substantial improvements in human rights for many Vietnamese.
(3) The United States Congress agreed to Vietnam becoming an official member of the World Trade Organization (WTO) in 2006, amidst assurances that the Vietnamese Government was steadily improving its human rights record and would continue to do so.
(4) Vietnam remains a one-party state, ruled and controlled by the Communist Party of Vietnam (CPV), which continues to deny the right of citizens to change their government.
(5) Although in recent years the National Assembly of Vietnam has played an increasingly active role as a forum for highlighting local concerns, corruption, and inefficiency, the National Assembly remains subject to the direction of the CPV and the CPV maintains control over the selection of candidates in national and local elections.
(6) The Government of Vietnam forbids public challenge to the legitimacy of the one-party state, restricts freedoms of opinion, the press, and association and tightly limits access to the Internet and telecommunication.
(7) Since Vietnam's accession to the WTO on January 11, 2007, the Vietnamese Government arbitrarily arrested and imprisoned several individuals for their peaceful advocacy of democracy, including Father Nguyen Van Ly and human rights lawyers Nguyen Van Dai and Le Thi Cong Nhan.
(8) The Government of Vietnam continues to detain, imprison, place under house arrest, convict, or otherwise restrict persons for the peaceful expression of dissenting political or religious views, including Bui Kim Thanh, Hang Tan Phat, Truong Quoc Huy, Vu Hoang Hai, Nguyen Ngoc Quang, Pham Ba Hai, Dr. Le Nguyen Sang, Huynh Nguyen Dao, Nguyen Bac Truyen, Tran Quoc Hien, Nguyen Tan Hoanh, Tran Thi Le Hang, Doan Huu Chuong, Doan Van Dien, Le Ba Triet, Nguyen Tuan, Tran Thi Thuy Trang, Nguyen Phong, Nguyen Binh Thanh, Hoang Thi Anh Dao, Le Thi Le Hang, Tran Khai Thanh Thuy, Ho Thi Bich Khuong, Hong Trung, Danh Tol, Kim Muot, Thach Thuong, Ly Suong, Ly Hoang, Nguyen Van Tho, Le Van Soc, Nguyen Van Thuy, Duong Thi Tron, Truong Minh Duc, and Dr. Pham Hong Son, among others.
(9)(A) The Government of Vietnam continues to limit freedom of religion and restrict the operation of religious organizations.
(B) Despite reported progress in church openings and legal registrations of religious venues, the Government of Vietnam has halted most positive actions since the Department of State lifted the `country of particular concern' (CPC) designation for Vietnam in November 2006.
(C) Unregistered ethnic minority Protestant congregations suffer severe abuses because of actions by the Government of Vietnam, which have included forced renunciations of faith, the arrest and harassment of pastors, the withholding of social programs provided for the general population, confiscation and destruction of property, and subjection to severe beatings.
(D) The Unified Buddhist Church of Vietnam (UBCV) suffers persecutions as the Government of Vietnam continues to restrict contacts and movement of senior UBCV clergy, including the Most Venerable Thich Huyen Quang, and the Most Venerable Thich Quang Do for refusing to join the state-sponsored Buddhist organizations, and the Government also continues to place leaders under `pagoda' and house arrest, destroy religious property, and harass and threaten local practicing Buddhists.
(E) The Government of Vietnam continues to suppress the activities of other religious adherents, including Cao Dai and Hoa Hao who lack official recognition or have chosen not to affiliate with the state-sanctioned groups, including through the use of detention and imprisonment.
(F) During Easter weekend in April 2004, thousands of Montagnards gathered to protest their treatment by the Government of Vietnam, including the confiscation of tribal lands and ongoing restrictions on religious activities. Credible reports indicate that the protests were met with violent response as many demonstrators were arrested, injured, went into hiding, and that others were killed. Many of these Montagnards are still serving long sentences for their involvement in peaceful demonstrations in 2001 and 2004.
(G) Ethnic minority Hmong in the Northwest Highlands of Vietnam also suffer restrictions, abuses, and persecution by the Government of Vietnam, and although the Government is now allowing some Hmong Protestants to organize and conduct religious activity, some government officials continue to deny or ignore additional applications for registration.
(10) The Government of Vietnam controls all print and electronic media, including access to the Internet, jams the signals of some foreign radio stations, including Radio Free Asia, and has detained and imprisoned individuals who have posted or sent democracy-related materials via the Internet.
(11) People arrested in Vietnam because of their political or religious affiliations and activities often are not accorded due legal process as they lack full access to lawyers of their choice, may experience closed trials, have often been detained for years without trial, and have been subjected to the use of torture to admit crimes they did not commit or to falsely denounce their own leaders.
(12)(A) United States refugee resettlement programs, including the Humanitarian Resettlement (HR) Program, the Orderly Departure Program (ODP), Resettlement Opportunities for Vietnamese Returnees (ROVR) Program, general resettlement of boat people from refugee camps throughout Southeast Asia, the Amerasian Homecoming Act of 1988, and the Priority One Refugee resettlement category have helped rescue Vietnamese nationals who have suffered persecution on account of their associations with the United States as well as Vietnamese nationals who have been persecuted because of race, religion, nationality, political opinion, or membership in a particular social group.
(B) While previous programs have served their purposes well, a significant number of eligible refugees from Vietnam were unfairly denied or excluded, including Amerasians, in some cases by vindictive or corrupt Vietnamese officials who controlled access to the programs, and in others by United States personnel who imposed unduly restrictive interpretations of program criteria. In addition, the Government of Vietnam has denied passports to persons who the United States has found eligible for refugee admission.
(C) The Department of State has agreed to extend the September 30, 1994, registration deadline for former United States employees, `re-education' survivors, and surviving spouses of those who did not survive `re-education' camps to sign up for United States refugee programs, as well as the Vietnamese In Country Priority One Program in Vietnam to provide protection to victims of recent persecution on account of race, religion, nationality, political opinion, or membership in a particular social group.
(D) The former United States Immigration and Naturalization Service agreed to resume the processing of former United States employees under the U11 program, which had been unilaterally suspended by the United States Government, as well as to review applications of Amerasians, children of American servicemen left behind in Vietnam after the war ended in April 1975, for resettlement to the United States under the Amerasian Homecoming Act of 1988.
(13) Congress has passed numerous resolutions condemning human rights abuses in Vietnam, indicating that although there has been an expansion of relations with the Government of Vietnam, it should not be construed as approval of the ongoing and serious violations of fundamental human rights in Vietnam.
(14) Enhancement of relations between the United States and Vietnam has proved an opportunity for a human rights dialogue and could lead to future progress on human rights issues in Vietnam.
SEC. 3. PURPOSE.
The purpose of this Act is to promote the development of freedom and democracy in Vietnam.
TITLE I--PROHIBITION ON NONHUMANITARIAN ASSISTANCE TO THE GOVERNMENT OF VIETNAM
SEC. 101. BILATERAL NONHUMANITARIAN ASSISTANCE.
(a) Assistance-
(1) IN GENERAL- Except as provided in subsection (b), United States nonhumanitarian assistance may not be provided to the Government of Vietnam in an amount exceeding the amount so provided for fiscal year 2007--
(A) for fiscal year 2008 unless not later than 30 days after the date of the enactment of this Act the President determines and certifies to Congress that the requirements of subparagraphs (A) through (D) of paragraph (2) have been met during the 12-month period ending on the date of the certification; and
(B) for each subsequent fiscal year unless the President determines and certifies to Congress in the most recent annual report submitted pursuant to section 501 that the requirements of subparagraphs (A) through (E) of paragraph (2) have been met during the 12-month period covered by the report.
(2) REQUIREMENTS- The requirements of this paragraph are that--
(A) the Government of Vietnam has made substantial progress toward releasing all political and religious prisoners from imprisonment, house arrest, and other forms of detention;
(B)(i) the Government of Vietnam has made substantial progress toward respecting the right to freedom of religion, including the right to participate in religious activities and institutions without interference by or involvement of the Government; and
(ii) the Government of Vietnam has made substantial progress toward returning estates and properties confiscated from the churches;
(C) the Government of Vietnam has made substantial progress toward allowing Vietnamese nationals free and open access to United States refugee programs;
(D) the Government of Vietnam has made substantial progress toward respecting the human rights of members of all ethnic minority groups; and
(E)(i) neither any official of the Government of Vietnam nor any agency or entity wholly or partly owned by the Government of Vietnam was complicit in a severe form of trafficking in persons; or
(ii) the Government of Vietnam took all appropriate steps to end any such complicity and hold such official, agency, or entity fully accountable for its conduct.
(b) Exception-
(1) CONTINUATION OF ASSISTANCE IN THE NATIONAL INTEREST- Notwithstanding the failure of the Government of Vietnam to meet the requirements of subsection (a)(2), the President may waive the application of subsection (a) for any fiscal year if the President determines that the provision to the Government of Vietnam of increased nonhumanitarian assistance would promote the purpose of this Act or is otherwise in the national interest of the United States.
(2) EXERCISE OF WAIVER AUTHORITY- The President may exercise the authority under paragraph (1) with respect to--
(A) all United States nonhumanitarian assistance to Vietnam; or
(B) one or more programs, projects, or activities of such assistance.
(c) Definitions- In this section:
(1) SEVERE FORMS OF TRAFFICKING IN PERSONS- The term `severe form of trafficking in persons' means any activity described in section 103(8) of the Trafficking Victims Protection Act of 2000 (Public Law 106-386 (114 Stat. 1470); 22 U.S.C. 7102(8)).
(2) UNITED STATES NONHUMANITARIAN ASSISTANCE- The term `United States nonhumanitarian assistance' means--
(A) any assistance under the Foreign Assistance Act of 1961 (including programs under title IV of chapter 2 of part I of that Act, relating to the Overseas Private Investment Corporation), other than--
(i) disaster relief assistance, including any assistance under chapter 9 of part I of that Act;
(ii) assistance which involves the provision of food (including monetization of food) or medicine;
(iii) assistance for refugees; and
(iv) assistance to combat HIV/AIDS, including any assistance under section 104A of that Act; and
(B) sales, or financing on any terms, under the Arms Export Control Act.
TITLE II--ASSISTANCE TO SUPPORT DEMOCRACY IN VIETNAM
SEC. 201. ASSISTANCE.
(a) In General- The President is authorized to provide assistance, through appropriate nongovernmental organizations and the Human Rights Defenders Fund, for the support of individuals and organizations to promote internationally recognized human rights in Vietnam.
(b) Authorization of Appropriations- There are authorized to be appropriated to the President to carry out subsection (a) $2,000,000 for each of the fiscal years 2008 and 2009.
TITLE III--UNITED STATES PUBLIC DIPLOMACY
SEC. 301. RADIO FREE ASIA TRANSMISSIONS TO VIETNAM.
(a) Policy of the United States- It is the policy of the United States to take such measures as are necessary to overcome the jamming of Radio Free Asia by the Government of Vietnam.
(b) Authorization of Appropriations- In addition to such amounts as are otherwise authorized to be appropriated for the Broadcasting Board of Governors, there are authorized to be appropriated to carry out the policy under subsection (a) $9,100,000 for the fiscal year 2008 and $1,100,000 for fiscal year 2009.
SEC. 302. UNITED STATES EDUCATIONAL AND CULTURAL EXCHANGE PROGRAMS WITH VIETNAM.
It is the policy of the United States that programs of educational and cultural exchange with Vietnam should actively promote progress toward freedom and democracy in Vietnam by providing opportunities to Vietnamese nationals from a wide range of occupations and perspectives to see freedom and democracy in action and, also, by ensuring that Vietnamese nationals who have already demonstrated a commitment to these values are included in such programs.
TITLE IV--UNITED STATES REFUGEE POLICY
SEC. 401. REFUGEE RESETTLMENT FOR NATIONALS OF VIETNAM.
(a) Policy of the United States- It is the policy of the United States to offer refugee resettlement to nationals of Vietnam (including members of the Montagnard ethnic minority groups) who were eligible for the Humanitarian Resettlement (HR) Program, the Orderly Departure Program (ODP), Resettlement Opportunities for Vietnamese Returnees (ROVR) Program, the Amerasian Homecoming Act of 1988, or any other United States refugee program and who were deemed ineligible due to administrative error or who for reasons beyond the control of such individuals (including insufficient or contradictory information or the inability to pay bribes demanded by officials of the Government of Vietnam) were unable or failed to apply for such programs in compliance with deadlines imposed by the Department of State.
(b) Authorized Activity- Of the amounts authorized to be appropriated to the Department of State for Migration and Refugee Assistance for each of the fiscal years 2008, 2009, and 2010, such sums as may be necessary are authorized to be made available for the protection (including resettlement in appropriate cases) of Vietnamese refugees and asylum seekers, including Montagnards in Cambodia.
TITLE V--ANNUAL REPORT ON PROGRESS TOWARD FREEDOM AND DEMOCRACY IN VIETNAM
SEC. 501. ANNUAL REPORT.
(a) In General- Not later than 6 months after the date of the enactment of this Act and every 12 months thereafter, the Secretary of State shall submit to the Congress a report on the following:
(1)(A) The determination and certification of the President that the requirements of subparagraphs (A) through (E) of section 101(a)(2) have been met, if applicable.
(B) The determination of the President under section 101(b)(1), if applicable.
(2) Efforts by the United States Government to secure transmission sites for Radio Free Asia in countries in close geographical proximity to Vietnam in accordance with section 301(a).
(3) Efforts to ensure that programs with Vietnam promote the policy set forth in section 302 and with section 105 of the Human Rights, Refugee, and Other Foreign Policy Provisions Act of 1996 regarding participation in programs of educational and cultural exchange.
(4) Steps taken to carry out the policy under section 401(a).
(5) Lists of persons believed to be imprisoned, detained, or placed under house arrest, tortured, or otherwise persecuted by the Government of Vietnam due to their pursuit of internationally recognized human rights. In compiling such lists, the Secretary shall exercise appropriate discretion, including concerns regarding the safety and security of, and benefit to, the persons who may be included on the lists and their families. In addition, the Secretary shall include a list of such persons and their families who may qualify for protections under United States refugee programs.
(6) A description of the development of the rule of law in Vietnam, including, but not limited to--
(A) progress toward the development of institutions of democratic governance;
(B) processes by which statutes, regulations, rules, and other legal acts of the Government of Vietnam are developed and become binding within Vietnam;
(C) the extent to which statutes, regulations, rules, administrative and judicial decisions, and other legal acts of the Government of Vietnam are published and are made accessible to the public;
(D) the extent to which administrative and judicial decisions are supported by statements of reasons that are based upon written statutes, regulations, rules, and other legal acts of the Government of Vietnam;
(E) the extent to which individuals are treated equally under the laws of Vietnam without regard to citizenship, race, religion, political opinion, or current or former associations;
(F) the extent to which administrative and judicial decisions are independent of political pressure or governmental interference and are reviewed by entities of appellate jurisdiction; and
(G) the extent to which laws in Vietnam are written and administered in ways that are consistent with international human rights standards, including the requirements of the International Covenant on Civil and Political Rights.
(b) Contacts With Other Organizations- In preparing the report under subsection (a), the Secretary shall, as appropriate, seek out and maintain contacts with nongovernmental organizations and human rights advocates (including Vietnamese-Americans and human rights advocates in Vietnam), including receiving reports and updates from such organizations and evaluating such reports. The Secretary shall also seek to consult with the United States Commission on International Religious Freedom for appropriate sections of the report.
Passed the House of Representatives September 18, 2007.
HỘI ĐỒNG ÂU CHÂU/ Nghị Viện Quốc Hội Nhu cầu kết án quốc tế về những tội phạm của những chế độ cộng sản toàn trị
NGHỊ QUYẾT 1481 (Năm 2006)
1. Nghị Viện Quốc Hội tham chiếu Nghị Quyết 1096 (Năm 1996) của mình về những biện pháp tháo bỏ cái di sản của những hệ thống cộng sản toàn trị đã qua.
2. Những chế độ cộng sản toàn trị đã cai trị ở Trung và Đông Aâu-châu trong thế kỷ vừa qua, và những chế độ ấy vẫn còn nắm quyền tại một số nước trên thế giới, hết thảy các chế độ ấy, không có ngoại lệ, đã bị xếp loại vào đặc tính là mang những vi phạm tập thể về nhân quyền. Những vi phạm này đã có những khía cạnh khác nhau tùy thuộc vào nền văn hóa, vào quốc gia và vào giai đoạn lịch sử, và những vi phạm này đã bao gồm những vụ ám sát và xử tử cá nhân hay tập thể, bao gồm việc chết chóc trong các trại tập trung, bao gồm việc bỏ đói, lưu đầy, tra tấn, lao động nô dịch và bao gồm những hình thức khác như khủng bố thể xác hàng loạt, như bách hại dựa theo tiêu chuẩn chủng tộc hay tôn giáo, như vi phạm vào tự do của lương tâm, của tư tưởng và phát biểu, vi phạm vào tự do báo chí, và cũng như thiếu đa dạng chính trị.
3. Các tội ác đã được biện bạch nhân danh lý thuyết đấu tranh giai cấp và nhân danh nguyên tắc độc tài của giai cấp vô sản. Sự giải thích của hai nguyên tắc ấy đã hợp thức hóa việc “trừ khử“ những người bị xem là nguy hại tới việc xây dựng một xã hội mới và, như thế, những người này bị coi là những kẻ thù của các chế độ cộng sản toàn trị. Con số lớn rộng những nạn nhân trong mỗi quốc gia liên hệ đã là công dân thuộc chính quốc gia ấy. Đặc biệt đó là trường hợp của các dân tộc thuộc cựu Liên bang Xô Viết, vốn vượt rất xa các dân tộc khác về con số nạn nhân.
4. Nghị viện thừa nhận rằng, mặc dù các tội ác của các chế độ toàn trị, vài đảng cộng sản Aâu-châu cũng đã có những đóng góp vào việc đạt tới nền dân chủ.
5. Sự sụp đổ của các chế độ cộng sản toàn trị tại Trung và Đông Aâu-châu đã không được tiếp nối theo, trong mọi trường hợp, bởi một cuộc điều tra quốc tế về những tội ác vi phạm bởi các chế độ này. Hơn thế nữa, những thủ phạm gây ra tội ác đã không bị mang ra tòa xử án bởi cộng đồng quốc tế giống như trường hợp các tội ác khủng khiếp vi phạm bởi chế độ Quốc Xã đã bị mang ra xử.
6. Bởi thế, việc cảnh giác quần chúng về các tội ác vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị thực là rất được ít ỏi thực hiện. Đảng cộng sản còn hợp pháp và còn hoạt động tại một số quốc gia, ngay cả trong một số trường hợp chính những đảng này đã không xa ra cho lắm (rất gần) những tội ác vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị trong quá khứ.
7. Nghị viện xác tín rằng việc cảnh giác Lịch sử là một trong những tiền điều kiện để tránh những tội ác tương tự trong tương lai. Hơn thế nữa, việc thẩm định luân lý và việc kết án những tội ác đã vi phạm giữ một vai trò quan trọng việc giáo dục các thế hệ trẻ. Quan điểm minh bạch của cộng đồng quốc tế về quá khứ có thể là một điểm tham chiếu cho những hành động tương lai của họ.
8. Ngoài ra, Nghị viện tin rằng những nạn nhân của các tội ác vi phạm bởi những chế độ cộng sản toàn trị, mà những nạn nhân này còn đang sống hay gia đình của họ, đều xứng đáng nhận lòng trìu mến, sự thông cảm và sự thừa nhận về những nỗi thống khổ của họ.
9. Những chế độ cộng sản toàn trị còn hoạt động trong một số quốc gia trên thế giới và những tội ác còn tiếp tục vi phạm. Những quan tâm về quyền lợi quốc gia chớ nên ngăn cản các quốc gia ấy phê phán thích đáng về các chế độ cộng sản toàn trị hiện tại. Nghị viện kết án mạnh mẽ tất cả những vi phạm đó về nhân quyền.
10. Các cuộc tranh luận và lên án mà cho tới nay vẫn được tiến hành ở bình diện quốc gia tại một số nước thành viên của Hội Đồng Aâu Châu không thể miễn trừ cho cộng đồng quốc tế trong việc lấy một vị trí minh bạch về các tội ác vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị. Cộng đồng quốc tế có bổn phận luân lý phải làm như vậy mà không được trì hoãn lâu hơn nữa.
11. Hội Đồng Aâu-Châu có vị trí tốt cho một cuộc tranh luận như vậy ở bình diện quốc tế. Tất cả các quốc gia cộng sản cũ Aâu-châu, ngoại trừ Belarus, ngày nay là thành viên của Hội Đồng và việc bảo vệ nhân quyền cũng như quy tắc luật pháp đều là những giá trị nền tảng mà Hội Đồng chủ trương.
12. Vì thế, Nghị viện Quốc Hội mạnh mẽ kết án những vi phạm tập thể về nhân quyền do các chế độ cộng sản toàn trị gây ra và bầy tỏ lòng trìu mến, sự thông cảm và thừa nhận đối với những nạn nhân của các tội ác này.
13. Hơn nữa, Nghị viện Quốc Hội kêu gọi tất cả các đảng cộng sản hay hậu cộng sản trong những nước thành viên mà cho đến nay đã chẳng làm như thế để tái thẩm định lịch sử chủ nghĩa cộng sản và quá khứ riêng của mình, hãy tự tách rời mình ra một cách rõ rệt khỏi những tội ác đã vi phạm bởi những chế độ cộng sản toàn trị và hãy kết án những tội ác ấy không chút mơ hồ nào cả.
14. Nghị viện tin tưởng rằng quan điểm minh bạch này của cộng đồng quốc tế sẽ dọn đường cho sự hòa giải tương lai. Hơn nữa, hy vọng Nghị viện sẽ khuyến khích các sử gia khắp thế giới tiếp tục công cuộc khảo cứu của họ nhắm mục đích xác định và kiểm chứng khách quan về những gì đã xẩy ra.
=============
(1) Nghị viện tranh luận vào ngày 25.02.2006 (Phiên họp thứ 5)(xem Doc.10765, phúc trình của Uûy Ban Chính Trị Vụ,Người Phúc trình:Ông LINDBLAD). Văn bản được Nghị viện thông qua vào ngày 25.02.2006 (Phiên họp thứ 5).
NGHỊ QUYẾT 243 CỦA HẠ VIỆN HOA KỲ
NGHỊ QUYẾT 243 CỦA HẠ VIỆN HOA KỲ VỚI ĐA SỐ TUYỆT ĐỐI 404 LÀ LỜI KHẲNG ĐỊNH HÙNG HỒN RẰNG NHỮNG PHIÊN TÒA Ở VIỆT NAM LÀ ĐỘC ĐOÁN XỬ NHỮNG NGƯỜI VÔ TỘI.
Nguyễn Phúc Liên
Chúng tôi hết lòng hoan nghênh NGHỊ QUYẾT 243 của HẠ VIỆN Hoa kỳ với số Phiếu thượng đẳng TUYỆT ĐỐI 404/0, nghĩa là mọi Dân Biểu không ai chấp nhận việc làm man rợ rừng rú của CSVN phản lại Nhân Quyền. Con số 404 trên số 0 (KHÔNG) có nghĩa là không một ai chấp nhận việc CSVN dùng sức mạnh khủng bố, đàn áp, bắt tù những người Dân đang đòi hỏi bất bạo động những Quyền Làm Người của mình. Đây là sự trả lời đồng nhất cho những Phiên Tòa man rợ của CSVN ngày 30.03.2007 tại Huế và ngày 11.05.2007 sắp tới tại Hà Nội của nguỵ quyền độc tài CSVN.
NGHỊ QUYẾT 243 với số Phiếu thượng thặng TUYỆT ĐỐI 404/0 chứng tỏ rằng những Dân Biểu đã quyết định theo Nhân Quyền, Tình Người, chứ không theo khuynh hướng khác biệt Chính trị mà đa số Hạ Viện lần này là đảng Dân Chủ. Chúng ta ca ngợi những Dân Biểu Dân Chủ đã gạt ra một bên sự khác biệt Chính trị của hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ để chỉ lấy tiêu chuẩn trọng yếu nhất là Tình Người và Nhân Quyền. Không thể vì tranh chấp quyền hành Chính trị mà bỏ quên cái trọng yếu của tất cả mọi chế độ Chính trị là phải tôn trọng Nhân Phẩm, Nhân Quyền.
Đây cũng là bài học cho ngụy quyền CSVN chỉ độc đoán hành xử theo Chính trị mà đè bẹp Nhân Quyền, chà đạp Nhân Phẩm, Tình Người và Tình Dân Tộc. CSVN đã dùng tiểu xảo mưu mẹo ra được CPC về Tôn Giáo, vào được WTO về Thương mại nhờ Hoa kỳ. Việc khủng bố, đàn áp, bắt tù tội ngày hôm nay của CSVN càng cho thấy rõ những mưu mẹo xảo trá tính toán lừa đảo người khác. Cái hậu quả sẽ vận lại chính mình cho những ai thiếu thành thực và xảo trá. NGHỊ QUYẾT 243 này là một hậu quả nhãn tiền và sẽ dán lên mặt Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng khi tới Washington tháng 6 này. Nó cũng cảnh cáo cho những ai, kể cả Giám mục, đang làm tay sai cho CSVN trong Nghị Quyết 36 lừa đảo muốn thuần hóa những đồng bào tỵ nạn tại Hải ngoại.
Nguyễn Phúc Liên
Theo một thông cáo báo chí của Hạ Viện Hoa Kỳ, thì Nghị quyết HRes. 243 do Dân Biểu Chris Smith của đảng Cộng Hòa soạn thảo và đưa ra đệ trình tại Hạ Viện, đã được thông qua ngày 2/5/07 với một tỷ số 404 phiếu thuận và không có phiếu chống (404-0).
Xét rằng ngày 18-02-2007, công an Việt Nam đã tiến hành khám xét nhà xứ của linh mục Nguyễn Văn Lý và đã tịch thu nhiều máy vi tính, điện thoại, hơn 100 card điện thoại di động và hơn 200 kg tài liệu;
Xét rằng công an đã di chuyển linh mục Lý đến một nơi xa xôi hẻo lánh là Bến Củi, miền trung Việt Nam, và quản chế ông ở đó;
Xét rằng linh mục Lý là một cựu tù nhân lương tâm, đã trải qua tổng cộng hơn 13 năm tù từ 1983 vì ủng hộ tự do tôn giáo và dân chủ tại Việt Nam;
Xét rằng linh mục Lý là một cố vấn cho Khối 8406, một phong trào dân chủ đã khởi sự từ tháng 4-2006 khi hàng trăm người khắp cả Việt Nam công khai ký tên kêu gọi dân chủ và nhân quyền;
Xét rằng linh mục Lý cũng là một cố vấn cho một chính đảng mới, đảng Thăng Tiến Việt Nam, và là một trong những biên tập viên tiên khởi của bán nguyệt san Tự do Ngôn luận;
Xét rằng vào ngày 06-03-2007, công an Việt Nam đã bắt giữ một trong số ít luật sư hoạt động cho nhân quyền là Nguyễn Văn Đài, người đã bênh vực nhiều cá nhân bị bắt giữ vì các hoạt động nhân quyền và tôn giáo của họ, người đồng sáng lập Ủy ban Nhân quyền tại Việt Nam và là một trong những nhà tổ chức chính của phong trào dân chủ Khối 8406;
Xét rằng, vào ngày 06-03-2007, công an Việt Nam cũng đã bắt giữ Lê Thị Công Nhân, một luật sư nhân quyền, một thành viên Khối 8406, phát ngôn viên chính thức của đảng Thăng Tiến và là một sáng lập viên của Phong trào Công nhân Việt Nam;
Xét rằng linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã bị buộc tội phổ biến tài liệu tuyên truyền chống lại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo điều 88 Bộ luật Hình sự của Việt Nam;
Xét rằng linh mục Lý đã bị xét xử, bị kết tội và bị tuyên án 8 năm tù ngày 30-3-2007;
Xét rằng nếu bị kết tội, các luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân mỗi người có thể bị tuyên án tới 20 năm tù;
Xét rằng ông Lê Quốc Quân là một luật sư đã du hành sang Hoa Kỳ tháng 9-2006 để nghiên cứu việc phát triển xã hội dân sự trong tư cách người nhận học bổng Reagan-Fascell tại Quỹ Quốc gia vì Dân chủ (National Endowment for Democra-cy);
Xét rằng ông Lê Quốc Quân đã trở về Việt Nam đầu tháng 03-2007 và đã bị công an Hà Nội bắt giữ ngày 08-03-2007;
Xét rằng ông Lê Quốc Quân đã bị buộc tội theo Điều 79 Bộ luật Hình sự của Việt Nam, một điều khoản cấm các hoạt động nhằm mục đích lật đổ Chính quyền và tuyên những hạn tù hết sức khắt khe, thậm chí là án tử;
Xét rằng linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân hay Lê Quốc Quân đã chẳng có hoạt động nào ủng hộ hay lôi kéo bạo lực;
Xét rằng việc bắt giữ và kết tội linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân đã vi phạm Điều 69 Hiến pháp Việt Nam, vốn tuyên bố rằng “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”;
Xét rằng linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân đã bị bắt giữ và kết tội trái với các quyền được ghi trong Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam là một quốc gia thành viên, đặc biệt Điều 18 (tự do tôn giáo), Điều 19 (tự do ngôn luận) và Điều 22 (tự do lập hội);
Xét rằng Việt Nam vừa mới giam tù, bắt giữ, quản chế tại gia, hay mặt khác cấm cản nhiều nhà hoạt động hiếu hòa cho dân chủ và tôn giáo vì những lý do liên quan đến quan điểm chính trị hay tôn giáo của họ, gồm có Nguyễn Bình Thành, Nguyễn Phong, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Vũ Bình, Huỳnh Nguyên Đạo, Nguyễn Tấn Hoành, Trần Thị Lệ Hằng, Hoàng Huy Chương, Đoàn Văn Diên, Lê Bá Triết, Nguyễn Tuân, Bùi Kim Thành và Trần Quốc Hiền;
Xét rằng Quốc hội Hoa Kỳ đã đồng ý cho Việt Nam trở nên thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2006, với những bảo đảm rằng Nhà nước Việt Nam đã đều đặn cải thiện thành tích nhân quyền của mình và sẽ tiếp tục làm như vậy;
Xét rằng nhóm các quốc gia châu Á tại Liên Hiệp Quốc đã đề cử Việt Nam như ứng viên duy nhất cho ghế bất thường trực tại Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2008-2009, và theo Hiến chương LHQ, Việt Nam bị buộc hoàn thành các nghĩa vụ của mình hợp với các mục tiêu của LHQ, trong đó có chuyện xúc tiến và khuyến khích việc tôn trọng nhân quyền lẫn các tự do cơ bản cho mọi người; và
Xét rằng việc cầm tù tùy tiện và việc vi phạm các nhân quyền của công dân Việt Nam là nguồn gốc mối quan tâm liên tục và nghiêm trọng của Quốc hội, và việc bắt linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân là một phần trong xu hướng gia tăng việc đàn áp các người ủng hộ nhân quyền tại Việt Nam.
Chính vì thế quyết nghị rằng
(1) Hạ viện
(A) kết án và phản đối việc Chính quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN tùy tiện giam giữ linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân; kêu gọi phải thả họ ngay lập tức và vô điều kiện, ngưng mọi cáo buộc tội phạm, cũng như phải thả ngay lập tức và vô điều kiện mọi tù nhân chính trị và tôn giáo khác.
(B) kết án và phản đối việc xâm phạm các quyền tự do ngôn luận, tôn giáo, hội họp, lập hội và việc thiếu thủ tục pháp lý đúng đắn cho các cá nhân tại Việt Nam
(C) nghi ngờ các khả năng của VN trong việc trở nên một thành viên của Hội đồng Bảo an LHQ, trừ phi Chính quyền Việt Nam lập tức khởi sự tôn trọng các nhân quyền và các tự do cơ bản của hết mọi người trong biên giới quốc gia; và
(D) mạnh mẽ thúc giục Chính quyền VN xem xét những hệ quả của hành vi mình đối với việc mở rộng bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam;
(2) cảm nghĩ chung của Hạ viện là Hoa Kỳ nên
(A) đặc biệt quan tâm đến việc thả tù lập tức, đến thân phận pháp lý và đến các nhu cầu nhân đạo của linh mục Nguyễn Văn Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân.
(B) sử dụng nguồn tài chính từ Quỹ Bảo vệ Nhân quyền mới thành lập của Bộ Ngoại giao để trợ giúp việc bênh vực pháp lý cũng như những nhu cầu của các gia đình và thân thuộc của linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và Lê Quốc Quân;
(C) tiếp tục thúc đẩy Chính quyền VN tuân theo những tiêu chuẩn được quốc tế thừa nhận về các tự do và nhân quyền cơ bản;
(D) nói rõ cho Chính quyền VN rằng họ phải tuân thủ quy tắc luật pháp, phải tôn trọng tự do tôn giáo và tự do ngôn luận để nới rộng bang giao với Hoa Kỳ;
(E) nói rõ cho Chính quyền VN rằng việc giam giữ linh mục Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân và các tù nhân chính trị lẫn tù nhân lương tâm khác, cũng như các vi phạm nhân quyền khác đều không có lợi cho VN vì chúng tạo nên những chướng ngại cho mối quan hệ song phương đã cải thiện và cho việc hợp tác với Hoa Kỳ;
(F) nghiên cứu những vi phạm nhân quyền hiện tại của Chính quyền VN và xem xét việc tái áp đặt lên VN danh xưng “các quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC) vốn đã được gỡ bỏ ngày 13-11-2006, căn cứ Đạo luật về Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 1998; và
(G) để thúc đẩy các tự do và nhân quyền đó cũng như để củng cố bang giao lâu dài giữa Hoa Kỳ và VN, Hoa Kỳ nên đưa ra những chương trình trợ giúp nước ngoài mới hầu đẩy mạnh các khả năng liên kết trong xã hội dân sự VN, bao gồm
(i) những chương trình về quy tắc luật pháp để huấn luyện các luật sư nhân quyền, các thẩm phán, các giáo sư và các sinh viên về luật nhân quyền quốc tế;
(ii) những sáng kiến ngoại giao công khai để thông tin và giáo dục các công dân Việt Nam về các chuẩn mực và trách nhiệm nhân quyền quốc tế; và
(iii) những dự án hỗ trợ các tổ chức và hội đoàn cổ vũ tự do tôn giáo, ngôn luận, hội họp và lập hội.
NHỮNG ĐỀ TÀI KHAI TRIỂN TỪ NGHỊ QUYẾT 1481 (Năm 2006) NGHỊ VIỆN QUỐC HỘI ÂU CHÂU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Chúng tôi coi Nghị Quyết 1481 (Năm 2006) như nền tảng của một Bản Cáo Trạng để xét xử những tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam.
Nghị Quyết ấy kêu gọi việc Xử án Quốc tế đối với những tội ác đã qua của các chế độ Cộng sản toàn trị, đồng thời kêu gọi phải phổ biến những tội ác lịch sử ấy: (i) cho những đảng phái chính trị hiện hành biết, hầu đi đến hòa giải; (ii) và cho việc giáo dục những thế hệ trẻ tương lai phải tránh những tội ác tương tự.
Dân tộc Việt Nam đã phải chịu đựng những tội ác ấy rất ghê tởm và rất lâu dài do đảng cộng sản Việt Nam chủ trương. Vì những tội ác ấy mà Dân tộc Việt Nam đã phải trải qua hai cuộc Di cư Tỵ nạn liền sau 1954 và liền sau 1975 lớn nhất Thế giới.
Hiện nay, đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn đó và vẫn chủ trương chế độ toàn trị mà Quốc Hội Aâu Châu lên án. Dân tộc Việt Nam đã phải sống trên 60 năm dài Lịch sử dưới những tội ác rất hung dữ của Cộng sản Việt Nam, tất nhiên phải đồng loạt trước hết là lật đổ chế độ toàn trị này và sau đó phải xử án những tội ác đó như một bài học Lịch sử cho tương lai hòa giải của Dân tộc và cho cuộc sống lành mạnh, nhân đạo của các thế hệ trẻ tương lai. Quốc Hội Việt Nam gồm những nghị viên hoàn toàn sinh ra và lớn lên trong chế độ đầy tội ác của cộng sản. (i) Một là họ ngu mê đần độn không còn biết thẩm định đâu là thiện, đâu là ác, mà chỉ như đàn khỉ được huấn luyện làm xiệc, chỉ đâu gật đó; (ii) Hai là họ biết phân biệt thiện ác, nhưng đã không đứng về phía Dân để lên tiếng bênh đỡ Dân đang đau khổ dưới những tội ác, mà đã đứng hẳn về phía đảng cộng sản Việt Nam để cùng đám tội phạm cộng sản này để cùng gây tội ác trên đầu Dân. Ngu đần như súc vật hoặc tích cực hợp tác với tội phạm, họ đều bị Dân kết án không bầu cho cái Quốc Hội đó nữa.
Hoà nhịp với cộng đồng quốc tế và nhìn tương lai của hạnh phúc Dân tộc, của phát triển Đất Nước, chúng tôi muốn đóng góp một số những khai triển từ Nghị Quyết 1481 (Năm 2006) của Quốc Hội Aâu Châu, mong Dân mình thấy rõ Lập trường của nhân dân thuộc cộng đồng quốc tế và phế bỏ Quốc Hội bù nhìn cũng như đảng cộng sản Việt Nam.
Những đề tài khai triển như sau:
1) GIÁ TRỊ THẨM ĐỊNH CỦA NGHỊ VIỆN QUỐC HỘI ÂU CHÂU
Thẩm định về những tội ác của các chế độ cộng sản toàn trị, Quốc Hội Aâu Châu có khả năng thẩm định cao hơn các Quốc Hội khác như Hoa kỳ chẳng hạn, bởi vì những nghị viên thẩm định đã sống sát liền hay chính trong lòng các chế độ cộng sản toàn trị ấy.
Việt Nam: vạch trần ra việc làm của Quốc Hội Việt Nam, không những không đứng về phía Dân với vai trò mà Dân trao phó, mà còn hợp tác với kẻ chủ trương tội ác là đảng cộng sản độc tài Việt Nam.
2) VI PHẠM TẬP THỂ VỀ NHÂN QUYỀN
Tính cách vi phạm TẬP THỂ được nhấn mạnh trong Nghị Quyết. Thực vậy, nếu có những đàn áp nhân quyền cho một cá nhân, thì việc đàn áp cá nhân này được đảng thực hiện như là một biện pháp nhằm khủng bố nhân quyền cho một Tập thể.
Việt Nam: Liệt kê những vi phạm Tập thể về nhân quyền và việc đàn áp, bắt tù tội cá nhân tại Việt Nam trong chủ trương khủng bố tinh thần Tập thể.
4) TỘI ÁC ÁM SÁT
Tại những nước dưới chế độ cộng sản toàn trị trước đây, việc ám sát đối lập hoặc tình nghi đối lập là chủ trương của những chế độ. Những sách viết về tội ác này tại Liên Xô và những nước Trung và Đông Aâu còn đó.
Việt Nam: Tội ác này do chính Hồ Chí Minh chủ trương từ thời Mặt trận Việt Minh, đến việc thanh trừng Việt Nam Quốc Dân Đảng. Việc ám sát đã kéo dài tiếp theo từ Miền Bắc, rồi Miền Nam Việt Nam.
5) TỘI ÁC XỬ TỬ
Các chế độ cộng sản không thể phủ nhận những bản án xử tử, hoặc xử tử không cần kêu án tại Liên Xô, tại Trung Hoa (Cách Mạng Văn Hóa), tại những tiểu quốc chư hầu Trung và Đông Aâu (Hung gia lợi 1956 và Mùa Xuân Tiệp khắc 1968...)
Việt Nam: Điển hình nhất của tội ác này của đảng cộng sản Việt Nam là cuộc Cải Cách Điền Địa 1952-1956. Tội ác đã tái diễn trong dịp Tết Mậu Thân 1968 với những mồ chôn TẬP THỂ.
6) TỘI ÁC BẮT ĐI LƯU ĐẦY
Điển hình nhất về tội ác này là tại Liên Xô với việc lưu đầy tại Tây Bá Lợi Á. Hãy đọc sách viết của Soljenitsyne (Archipel du Goulag).
Việt Nam: Ơû Việt Nam, đây là tội ác của những Vùng Kinh tế mới và nhất là những Trại Cải Tạo.
7) TỘI ÁC ĐỂ CHẾT CHÓC, BỎ ĐÓI, TRA TẤN, LAO ĐỘNG NÔ DỊCH TRONG CÁC TRẠI TẬP TRUNG
Tại những nước Trung và Đông Aâu, các trại Tập trung đã được thiết lập với những tội ác liệt kê như trên. Những trại Tập trung khổng lồ nhất là tại Liên Xô.
Việt Nam: Những người đã phải giam cầm trong các trại Cải Tạo đều biết rõ những tội ác này.
8) TỘI ÁC BÁCH HẠI THEO TIÊU CHUẨN CHỦNG TỘC, TÔN GIÁO
Tại Trung và Đông Aâu, nhất là Liên Xô, việc bách hại tôn giáo kéo dài trong những năm trường vì cộng sản coi tôn giáo là thuốc phiện của dân chúng.
Việt Nam: Hãy nhìn tình trạng bách hại Tôn giáo trước năm 1975 tại Miền Bắc và sau đó tại Miền Nam liền những năm sau 1975. Hiện nay, Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo vẫn kềm kẹp Tôn giáo.
9) TỘI ÁC ĐỐI VỚI TỰ DO LƯƠNG TÂM, TỰ DO TƯ TƯỞNG
Đây là tội ác nhằm những cá nhân có tầm ảnh hưởng lãnh đạo Tập thể. Đàn áp những cá nhân này được đảng chủ trương như việc khủng bố tư tưởng và lương tâm Tập thể.
Việt Nam: Chính một số cựu đảng viên cũng đã chịu cảnh đàn áp, tù đầy này. Sống động nhất: hãy hỏi Hòa thượng Thích Quảng Độ, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Mục sư Nguyễn Hồng Quang và những, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn... và những nhà đấu tranh cho Dân chủ hiện nay.
10) TỘI ÁC CẤM ĐOÁN TỰ DO PHÁT BIỂU, TỰ DO BÁO CHÍ
Đây là tội ác nhằm bưng bí sự thật và dành độc quyền nhồi sọ Dân chúng những lý thuyết và chủ trương của đảng cộng sản. Tội ác này cũng nhằm diệt tất cả những ý tưởng nào có thể gây nên một tập họp quần chúng khả dĩ chống lại việc độc tài tư tưởng của đảng.
Việt Nam: Cấm đoán ngay cả việc đọc Diễn đàn Internet. Không có một tờ báo viết nào mà không dưới quyền kiểm soát của đảng cộng sản Việt Nam.
11) TỘI ÁC KHÔNG CHO ĐA DẠNG CHÍNH TRỊ
Chủ trương một chế độ độc tài toàn trị, nên đảng cộng sản cấm tất cả mọi hình thức đa dạng chính trị. Việc này vẫn tồn tại ở Việt Nam ngày nay.
Việt Nam: Cuộc đấu tranh hiện hành đòi tối thiểu một Quốc Hội đa nguyên. Điều 4 của Hiến Pháp vẫn còn nằm chình ình ra đó.
12) CHE LẤP TỘI ÁC BẰNG LÝ THUYẾT ĐẤU TRANH GIAI CẤP
Từ ngụy biện về giá trị lao động, đến ngụy tạo về bóc lột giai cấp, cộng sản đẩy dân vào một cuộc đấu tranh giai cấp đến độ chém giết nhau. Lợi dụng việc thanh trừng giai cấp để đảng cộng sản chiếm quyền cai trị.
Việt Nam: Những tòa án nhân dân, nhất là trong vụ Cải Cách Điền Địa, dưới việc điều khiển của đảng, đẩy việc đấu tranh giai cấp đến tàn sát chính người Dân vô tội mà đảng nghi ngờ có thể chống lại quyền độc đoán của đảng.
13) CHE LẤP TỘI ÁC ĐỘC TÀI BẰNG TỰ NHẬN LÃNH ĐẠO GIAI CẤP VÔ SẢN
Nắm toàn quyền cai trị, đảng cộng sản, từ đấu tranh giai cấp, tiến đến tước hữu tài sản nhân dân ngay cả của giới lao động. Đảng cộng sản nhân danh Cách Mạng Vô Sản cho một Xã Hội mới, mặc dầu đã bao chục năm trường cũ rích, thâu tóm mọi quyền Chính trị, Kinh tế về cho đảng mình.
Việt Nam: Truất hữu tài sản, ruộng đất tại Miền Bắc. Sau 1975, truất hữu tài sản cá nhân, đoàn thể hay Tôn giáo tại Miền Nam. Điều 4 của Hiến Pháp VN còn đó. Nó tượng trưng cho việc nguỵ biện này để nắm quyền cho đảng cả về Chính trị lẫn Kinh tế.
14) LẤY CỚ ĐẤU TRANH GIAI CẤP, LÃNH ĐẠO VÔ SẢN ĐỂ TRỪ KHỬ NHỮNG AI KHÔNG ĐỒNG QUAN ĐIỂM.
Chúng tôi không nói đối lập mà chỉ nói đến không đồng quan điểm là đã bị trừ khử rồi. Che lấp tội ác bằng nguỵ biện Đấu tranh Giai cấp và Lãnh đạo Vô sản, đảng cộng sản đẩy những nguỵ biện ấy đến chỗ coi ai không đồng chính kiến là “kẻ thù“ của Cách Mạng để họ tiêu diệt ngay thân xác những người ấy.
Việt Nam: Đảng chỉ cần tung ra tiếng “ngụy“ đã đủ trừ khử những cá nhân hoặc tập thể mà họ muốn. Hai tiếng “nguỵ quyền“ đã tự cho phép họ giết tập thể năm Mậu Thân 1968. Hiện nay, tên ngợm giáo gian quốc doanh Nguyễn Tấn Khóa còn nói như con vẹt rằng “thế lực thù địch“ để hô hào giáo dân tách xa ra khỏi những Lãnh đạo Tôn giáo chân chính, để gán cho những ai dám can đảm đòi Tự do Tôn giáo.
15) NẠN NHÂN BỊ TRỪ KHỬ CHÍNH LÀ NHỮNG NGƯỜI DÂN CỦA QUỐC GIA
Nghị Quyết 1481 nêu rõ rằng những nạn nhân bị trừ khử lại chính là những người dân của quốc gia sống dưới chế độ toàn trị của cộng sản. Quyết Nghị nói rằng những nạn nhân này nhiều nhất là ở Liên Xô.
Việt Nam: Riêng Việt Nam, chúng ta chứng nhận những cuộc trừ khử đẫm máu này trên chính Dân tộc Việt Nam để phục vụ hai điều nguỵ biện trên đây mà Hồ Chí Minh nhập cảng vào từ nước ngoài.
16) ĐÒI HỎI CUỘC ĐIỀU TRA QUỐC TẾ VỀ NHỮNG TỘI ÁC
Nghị Quyết 1481 đòi hỏi phải có một cuộc điều tra quốc tế về tất cả những tội ác đã qua trên đây vi phạm bởi các đảng cộng sản toàn trị.
Việt Nam: Chúng ta yêu cầu việc điều tra quốc tế về chính những tội ác xẩy ra tại Việt Nam không những đã qua, mà còn đang diễn ra dưới chế độ hiện hành.
17) ĐÒI HỎI XỬ ÁN NHỮNG TỘI ÁC
Nghị Quyết 1481 nêu ra trường hợp quốc tế xử án những tội ác dưới chế độ Đức Quốc Xã và yêu cầu việc xử án những tội phạm dưới các chế độ cộng sản toàn trị.
Việt Nam: Trường hợp Việt Nam, tội phạm như Hồ Chí Minh không những không bị xét xử mà đảng cộng sản còn muốn tôn vinh trong cộng đồng quốc tế. Dân tộc Việt Nam phải lật đổ những tên tội phạm thuộc chế độ toàn trị công sản này và phải xử tội chúng theo công lý của nhân loại và Dân tộc về những tội ác mà chúng đã làm. Chúng tôi nhớ lại một việc làm rất ý nghĩa của Hội Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa tại Thụy sĩ. Khi Võ Nguyên Giáp được đám theo đóm ăn tàn mời qua Thụy sĩ, Hội Cựu Quân Nhân VNCH đã viết cho Chính quyền Thụy sĩ đòi phải xử những tội ác của Võ Nguyên Giáp, khiến việc viếng thăm của ông ta với Chính quyền tại đây không được báo chí chụp hình. Với Nghị Quyết này của Quốc Hội Aâu Châu, khi có nhân vật nào của đảng CSVN qua Aâu-châu, các Phong trào người Việt Hải ngoại có thế để yêu cầu Chính quyền địa phương phải hỏi những nhân vật ấy về tội ác mà họ đã làm đối với Dân tộc Việt Nam.
18) CẢNH GIÁC QUẦN CHÚNG VỀ NHỮNG TỘI ÁC
Quyết Nghị 1481 thẩm định rằng việc cảnh quần chúng về những tội ác này đã rất ít được thực hiện trong những nước đã thoát ra khỏi những chế độ cộng sản toàn trị. Đây là việc thiếu sót.
Việt Nam: Tại Việt Nam, dân chúng dù có được cảnh giác, nhưng chế độ cộng sản toàn trị vẫn nắm quyền và khủng bố dân chúng không được phát biểu ra.
19) MỘT SỐ ĐẢNG CỘNG SẢN VẪN HỢP PHÁP VÀ HOẠT ĐỘNG
Nghị Quyết 1481 muốn nói đến những quốc gia như Trung quốc, Bắc Hàn, Việt Nam và Cuba, cũng như một số đảng vẫn tồn tại ở những nước mà chế độ cộng sản đã sụp đổ. Ơû những nước mà chế độ cộng sản còn tồn tại, thì những tội ác vẫn tiếp tục mặc dầu dưới hình thức khác. Tại những nước đã thoát khỏi chế độ, một số đảng cộng sản vẫn hợp pháp và hoạt động, nhưng đã không lìa xa cho đủ những vết tích tội phạm.
Việt Nam: Dân tộc Việt Nam vẫn chưa thoát ra được cái chế độ cộng sản toàn trị với những tội ác vẫn còn được chủ trương dù dưới hình dạng uyển chuyển vì áp lực kinh tế quốc tế.
20) CẦN VIỆC CẢNH GIÁC LỊCH SỬ ĐỂ TRÁNH TỘI ÁC TƯƠNG LAI
Nghị Quyết nhấn mạnh rằng việc cảnh giác Lịch sử về những tội ác đã vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị là điều cần thiết để tránh những tội ác này hoặc tương tự như vậy trong tương lai.
Việt Nam: Đảng cộng sản cố tình bóp méo Lịch sử không những tại Quốc nội mà còn rêu rao trên bình diện Quốc tế để mong tiếp tục những tội ác. Nghị Quyết 1481 của Quốc Hội Aâu Châu chặn đứng những xuyên tạc bóp méo Lịch sử này hầu ngăn chặn những tội ác tương lai của cộng sản.
21) THẨM ĐỊNH VÀ KẾT ÁN TỘI ÁC ĐỂ GIÁO DỤC TUỔI TRẺ
Việc thẩm định những tội ác này là một đòi buộc luân lý. Việc kết án những tội ác là một đòi buộc công lý. Tất cả mang giá trị giáo dục cho những thế hệ tương lai.
Việt Nam: Tại Việt Nam, ngược lại, tuổi trẻ còn đang bị giáo dục, “nhồi sọ“ với những lý thuyết đã gây ra những tội ác vô nhân đạo, phi luân lý. Ngay cả trong Tôn giáo, tại các Chủng viện Công giáo chẳng hạn, những lý thuyết cộng sản toàn trị vẫn được giảng dậy, nhồi sọ. Các Lãnh đạo Tôn giáo có thể ngồi yên để cộng sản tiếp tục nhồi sọ tuổi trẻ về một lý thuyết đã gây những tôi ác ghê tởm hay không ?
22) NHỮNG NẠN NHÂN CỦA CÁC TỘI ÁC ĐƯỢC THỪA NHẬN VỚI TRÌU MẾN
Đây là việc thừa nhận và trìu mến của cộng đồng quốc tế đối với các nạn nhân của các chế độ cộng sản toàn trị.
Việt Nam: Trong khi ấy, đảng cộng sản Việt Nam và một số những kẻ theo đóm ăn tàn, muốn nhẩy bàn độc... lên tiếng bất xứng đối với khối người Việt Nam tỵ nạn, nạn nhân của chế động cộng sản toàn trị. Nhớ đến việc một tướng Kỳ cục nào đó đã phản bội đồng đội, đã không biết hãnh diện rằng mình nhất quyết từ bỏ những kẻ tội phạm để đi tìm tự do. Tướng Kỳ cục còn ca ngợi chính đảng cộng sản toàn trị mà cộng đồng quốc tế khẳng khái kết án.
23) QUỐC HỘI ÂU CHÂU KẾT ÁN TẤT CẢ NHỮNG VI PHẠM NHÂN QUYỀN CỦA MỘT SỐ ĐẢNG CỘNG SẢN HIỆN HÀNH
Nói đến một số đảng cộng sản còn tồn tại hoặc còn nắm quyền trên một số quốc gia, Quốc hội Aâu châu tái khẳng định việc kết án tất cả những vi phạm nhân quyền còn tái diễn trên các quốc gia ấy. Một số nước không cộng sản, không thể viện cớ những quyền lợi riêng quốc gia mà ngăn cản hoặc lờ đi việc thẩm định và kết án những tội ác của những chế độ cộng sản toàn trị hiện tại.
Việt Nam: Đối với người Việt Nam, chỉ những kẻ nào vì lợi lộc cá nhân, muốn theo đóm ăn tàn... mới không dám động chạm tới những tội ác của đảng công sản Việt Nam đang tiếp tục trên Quê Hương. Yù nghĩa nào cho việc Lãnh đạo Tôn giáo yên tiếng ?
24) KÊU GỌI THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG ÂU CHÂU KẾT ÁN CỘNG SẢN
Mặc dầu ở bình diện thành viên của Hội Đồng Aâu Châu, có những tranh luận kết án các tội ác cộng sản ở bình diện quốc gia, nhưng Hội Đồng kêu gọi họ hãy lên tiếng kết án chung trong khuôn khổ cộng đồng quốc tế. Việc kết án quốc tế này là một bổn phận luân lý không thể trì hoãn.
Việt Nam: Khi những người Quốc gia tỵ nạn lên tiếng kết án cộng sản Việt Nam, một số người, theo tuyên truyền của cộng sản hay vì tư lợi nhỏ nhen, đã gọi chúng ta là những người cực đoan. Nghị Quyết 1481 của Quốc Hội Aâu châu không phải là việc thẩm định cực đoan mà là một bổn phận luân lý cần phải lên tiếng.
25) LẬP TRƯỜNG CỦA CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ LÀ ĐIỂM QUY CHIẾU CHO CÁC QUỐC GIA THÀNH VIÊN
Việc bảo vệ nhân quyền và quy tắc luật pháp mà Hội Đồng Aâu châu chủ trường đưa đến việc thẩm định và kết án những tội ác của các chế độ cộng sản toàn trị. Những giá trị mà Hội đồng chủ trương phải là điểm quy chiếu nền tảng cho những quốc gia thành viên của Hội Đồng. Đây là lời kêu gọi để các quốc gia thành viên đứng thành một khối nhất quyết lên án những tội ác của cộng sản.
Việt Nam: Những giá trị về bảo vệ nhân quyền và về quy tắc luật pháp của Quốc Hội Aâu châu không những là tiếng kêu gọi các quốc gia thành viên mà còn là việc đòi buộc chế độ cộng sản toàn trị Việt Nam tuân theo nếu Việt Nam muốn một sự trợ lực về Kinh tế. Dân Việt đồng thanh với lời kêu gọi này để yêu cầu việc chấm dứt chế độ của đảng cộng sản toàn trị tại Việt Nam.
26) KÊU GỌI NHỮNG ĐẢNG CỘNG SẢN HOẶC HẬU CỘNG SẢN TRONG NHỮNG NƯỚC THÀNH VIÊN TRÁNH XA TỘI ÁC VÀ KẾT ÁN KHÔNG MƠ HỒ
Trong những nước thành viên của Hội Đồng Aâu Châu, còn sót lại những đảng cộng sản hay những đảng hậu cộng sản. Hội đồng kêu gọi họ tránh xa những tội ác quá khứ của chế độ công sản toàn trị và lên tiếng kết án chúng không chút mơ hồ.
Việt Nam: Cùng với lời kêu gọi của Hội Đồng Aâu châu, Nhân dân Aâu châu, người Việt Nam không những thẳng thắn lên tiếng mà còn phải nhất quyết đấu tranh đòi buộc đảng cộng sản Việt phải từ bỏ tội ác hiện hành. Chúng ta kết án những tội ác ấy mà không chút ngờ vực nào cả. Những ai còn lưỡng lự vì quyền lợi cá nhân, hãy đọc kỹ Nghị Quyết 1481 của Nghị viện Quốc Hội Aâu Châu gồm những nghị viên đã từng sống sát cạnh hoặc chính trong lòng những chế độ cộng sản toàn trị ấy. Họ hoặc gia đình họ đã từng là những nạn nhân của chế độ. Không chút mơ hồ ! Tiếng nói đầy xác tín này không cho phép người Việt Nam, đã trải qua trên 70 năm Lịch sử đầy tội ác ghê tởm của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam, có thái độ lưỡng lự dưới chiêu bài Hoà Giải Hòa Hợp chẳng hạn để những tội ác phản nhân quyền, phi luân lý ấy còn tiếp diễn mãi trên Quê Hương.
Tuần tự, chúng tôi sẽ khai triển những Đề tài (26 Đề tài) nêu ra trên đây. Chúng tôi cũng xin thú nhận rằng vì xa Quê Hương Việt Nam đã 41 năm nay, thiếu những kinh nghiệm sống trong lòng của chế độ cộng sản toàn trị trên Đất Nước, nên những khai triển của chúng tôi chắc chắn có những thiếu sót. Tỉ dụ những năm Cải Cách Điền Địa, chúng tôi còn nhỏ tuổi, nên không thể nhận định như những bậc lão thành đã tham dự chính những Tòa án Nhân dân giết người theo lệnh của đảng. Cũng vậy, Tết Mậu Thân 1968, chúng tôi đã ở bên Thụy sĩ này, nên không thể chứng kiến cảnh ghê rợn giết người và chôn tập thể tại Huế. Về tội ác tại những trại Cải Tạo, làm thế nào chúng tôi có thể tả ra những tội ác ấy bằng chính những Vị đã từng phải đói khổ, hành hạ, lao động nô dịch...trong chính những trại mà những Vị ấy đã phải sống. Viết bằng đọc lại sách không thể nào sống động với toàn thân như những Vị đã từng phải trải qua những trại Cải Tạo phi nhân phẩm và phi luân lý. Những Thuyền nhân lao mình xuống biển làm mồi cho cá, cho tất cả mọi nguy hiểm sống chết. Những Thuyền nhân này cảm thấu hơn chúng tôi nhiều về sự sống chết bên cạnh khi nhất quyết từ bỏ Việt Nam đi tìm Tự do. Những thuyền nhân này cảm thấu hơn chúng tôi nhiều về những tội ác của cộng sản đã làm họ liều chết.Trong khi đó chúng tôi chỉ xem hình ảnh để tả lại, nên không thể sống động và cảm thấu những điều ác nhân của cộng sản được.
Cố gắng khai triển những đề tài trên đây, nhưng vì thiếu kinh nghiệm sống thực những cảnh tội ác, nên chúng tôi tha thiết mong mỏi những Vị đã từng sống trong lòng chế độ với những tội ác ấy từ chế độ, hãy lên tiếng để viết không trì hoãn và không mơ hồ hầu kêu gọi chấm dứt chế độ cộng sản toàn trị tại Việt Nam và kết án những tội ác ấy để thế hệ tuổi trẻ tương lai nhìn rõ mà ghê tởm và tránh cho Dân tộc Việt Nam những tội ác tương tự.
Tương lai HÒA GIẢI HÒA HỢP Dân tộc chỉ có thể đạt được khi mà chế độ cộng sản toàn trị đầy tội ác này chấm dứt, và nhân danh công lý, những tội ác ấy phải bị kết án minh bạch. Không thể có Hòa Giải Hòa Hợp trong tình trạng mập mờ. Nghị Quyết 1481 (Năm 2006) viết để kết luận: “Nghị viện tin tưởng rằng quan điểm minh bạch này của cộng đồng quốc tế sẽ dọn đường cho sự hòa giải tương lai. Hơn nữa, hy vọng Nghị viện sẽ khuyến khích các sử gia khắp thế giới tiếp tục công cuộc khảo cứu của họ nhắm mục đích xác định và kiểm chứng khách quan về những gì đã xẩy ra.“