|  |
|  | 
| | | ========================= =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| | | =============================================================== VietTUDAN ----------------------------------------------------- PHONG TRAO DAU TRANH =============================================================== |
MINH ĐỊNH LÃNH VỰC ĐẤU TRANH CỦA NHỮNG LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 13.01.2011 Web: http://VietTUDAN.net
Kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng CSVN luôn luôn vu khống cho những ai góp ý khác với ý đảng bằng Điều 88 để kết tội chống lại và nhằm lật đổ Chính quyền Nhân dân mà họ đang cố thủ giữ lấy. Dù cho những ai chỉ đòi hỏi quyền sống tối thiểu, CSVN cũng nại ra Điều khoản 88 để quy tội về Chính trị. Ông Lê Chí Quang, vì lòng yêu nước trước nạn Tầu xâm lăng biên giới, cũng bị kết án Chính trị. Việt kiều về thăm Quê hương, nếu họ muốn bắt, thì cũng có thể vu không dấu súng ống để làm Khủng bố nhằm lật đổ Chính quyền. Mới đây nhất, Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà-Vũ, đầu tiên là ngụy tạo gái, sau đó cũng lan sang Điều 88 chống lại Chính quyền.
Khi khai triển Chủ đề: TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH, và nhìn lại những kinh nghiệm vu khống trơ tẽn của CSVN, chúng tôi thấy cần phải minh định ngay từ Bài 01 của loạt Bài tiếp theo rằng Lãnh vực Đấu tranh của những Lực Lượng Quốc nội đứng lên là:
=> Phi Chính trị => Đòi Quyền sống cho thân xác => Dứt bỏ một Cơ chế phát sinh lan tràn Tham nhũng Lãng phí
Phi Chính trị
Nếu hiểu Làm Chính trị theo ý nghĩa đảng phái, tranh chấp Ý thức hệ, đối chọi những Chủ trương quản trị Quốc gia, để nắm lấy Chính quyền nhằm thực hiện Chủ trương quản trị Quốc gia theo Ý thức hệ chọn lựa, thì những Lực Lượng quốc nội mà chúng tôi kêu gọi không nằm trong những Lãnh vực Chính trị đảng phái này.
Thực vậy, khi viết Bài Mở đầu cho Chủ đề đăng kèm dưới đây, chúng tôi đã trình bay rõ rệt Lý do Phá sản Quốc gia gồm (i) Tụt lùi Kinh tế vĩ mô, (ii) Vật giá nhẩy vọt và (iii) Phá giá Tiền tệ làm những nguyên cớ cốt lõi để những Lực Lượng Quốc nội buộc lòng phải đứng lên. Nếu họ không đứng lên, thì chính họ sẽ chết. Họ đứng lên đấu tranh để thân xác họ khỏi bị chết, chứ không phải vì tranh chấp Ý thức hệ hay chủ trương nắm lấy quyền hành quản trị Quốc gia gì cả.
Như vậy, Lãnh vực đấu tranh của họ là PHI CHÍNH TRỊ hiểu theo Chính trị đảng phái như chúng tôi vừa trình bầy trên đây.
Minh định Lãnh vực đấu tranh như vậy để khi CSVN cố chấp lấy Điều 88 ra để bất bớ những Lực Lượng này, thì chúng ta có quyền lôi cả dòng họ của chúng ra mà phỉ nhổ. Lôi Hồ Chí Minh ra mà chữi rằng hắn không biết dậy đàn lớp con cháu của đảng CSVN cố chấp vu khống. Nếu tên ngu Nguyễn Tấn Dũng vẫn cối chầy vu Điều 88 cho những Lực Lượng này thì hãy lôi con gái hắn ra mà nhiếc rằng “con không khôn hơn cha “ đểø khuyên thằng cha đừng cối chầy, lôi xui gia của hắn ra mà quở trách rằng sống bên Mỹ biết phải trái mà không biết dậy xui gia Dũng đừng làm như côn đồ mà mất danh hai họ.
Đòi Quyền sống cho thân xác
Cũng như đã viết rõ trong Bài Mở đầu, những Lực Lượng đứng lên là đòi quyền sống cho thân xác, nếu không DẠ DÀY họ đói meo và phải chết. Chúng tôi không nói đến Nhân quyền tổng quát và trừu tượng như ý niệm Dân chủ, Tự do… Chúng tôi chĩ hạn hẹp Lãnh vực đấu tranh cho quyền cụ thể là DẠ DẦY.
Đây là Lãnh vực đấu tranh ở mức độ sinh vật cho sống còn của thân xác. Con chim khi bị cướp miếng mồi là con giun, thì nó cũng xả thân rượt theo để tối thiểu dành lại được nữa con giun. Hai con cá dưới ao cũng dành dựt với nhau con tép để nuôi thân mình. Con thú rừng cũng còn biết đái vào gốc cây để dành khu vực săn mồi như tư hữu kiếm ăn.
Cuộc đấu tranh sẽ diễn ra giữa các Lực Lượng Quốc nội và CSVN là cuộc đấu tranh giữa CSVN, một đảng ăn cướp bóc lột miếng ăn, và quần chúng bị cướp bóc mất miếng ăn. Khi quần chúng còn có bữa ăn dàn xếp với đàn kiến cào trong bụng, thì họ có thể chưa vội đứng lên tranh đấu. Nhưng khi đảng cướp vì Tham nhũng Lãng phí mà phá sãn Kinh tế Quốc gia, làm Vật giá tăng vọt, khiến DẠ DẦY quần chúng đói veo, thì buộc lòng họ phải đứng lên dành lại miếng ăn để khỏi bị chết đói.
Cuộc đấu tranh này sẽ không có thời giờ để ĐỐI THOẠI với kẻ cướp đã cối chầy bao chục năm nay bởi vì DẠ DẦY dân đói sắp chết rồi, không còn thời gian lãi nhải với đám kẻ cướp mặt dầy mày dạn chai lỳ. Cuộc đấu tranh này là ĐỐI THỌI khi kẽ cướp còn lỳ lợm. Nó dứt khoát như những vần Thơ của thương binh NGUYỄN CUNG THƯƠNG tại Sài Gòn:
Tao cụt một chân một tay, Nhưng còn một tay Viết thư giùm cho thằng mù hai mắt Nghe nói ở xứ người chúng mày "cày" như trâu Nhưng không quên đồng đội Chia đô la cho chúng tao, như chia máu ngày nào Tao cũng sớt cho mấy thằng bạn: phế binh Việt Cộng! Chúng cũng què đui sứt mẻ như nhau Bởi đảng của chúng bây giờ là lũ đầu trâu..
Có điều tao không thể hiểu Bao nhiêu năm qua Chúng mày cứ mãi dặn dò Thế giới văn minh, đừng làm gì bạo động Liệu chúng mày có thể hoà hợp được không Với lũ kên kên hổ báo? Những con thú cực kỳ giầu có Mang " thẻ đỏ , tim đen " Nợ Nga, sợ Tầu, lạy Mỹ Với quan thầy cung cúc tận tụy Quay về đàn áp dân đen Chúng đóng đinh Jesus lần nữa Bịt Miệng Cha, trói Phật, nhốt Sư quản lý chùa
Chúng tao lết lê trên thành phố Cáo Hồ Nên biết rõ từng tên đại ác Trên bàn tiệc máu xương dân tộc Nhà hàng nào chúng cũng ăn nhậu Bé gái nào cũng bị chúng mua trinh! Chúng ta sẽ tỉa từng thằng Đất nước cần nhiều "quốc táng" Bớt được mạng thằng Cộng Sản nào Thì địa ngục xã hội chủ nghĩa này Còn có chút sáng láng hơn
Hãy gửi tiền cho những nhà tu Để họ mở cửa nhà tù Còn chúng tao là chiến sĩ Hãy gửi về cho chúng tao vũ khí Thằng cụt tay sẽ chỉ cho thằng mù mắt bấm cò Thằng còn chân sẽ cõng thằng què quặt Trận chiến sau cùng này sẽ không có Dương Văn Minh!
Thương binh NGUYỄN CUNG THƯƠNG
Cuộc đấu tranh cuối củng giữa CSVN ăn cướp và những Lực Lượng dành lại những gì đã bị cướp để mình khỏi chết đói sẽ dứt khoát, không có Dương Văn Minh để Hòa Hợp Hòa Giải, không có giờ đối thoại nữa, không có thái độ như Trí thức văn minh “bất bạo động“, mà sẵn sàng BẠO ĐỘNG (bắn bỏ).
Thương binh NGUYỄN CUNG THƯƠNG, tàn tật, không đấu tranh Chính trị lập đảng phái để nắm quyền quản trị Quốc gia, mà hoàn toàn nằm trong Lãnh vực Kinh tế, tìm quyền sống cho thân xác mình.
Dứt bỏ một Cơ chế phát sinh lan tràn Tham nhũng Lãng phí
Chủ đề là Trách nhiệm Quốc nội DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH. Mục đích của những Lực Lượng Quốc nội đứng lên không phải là chống lại Chính quyền theo Điều 88 mà CSVN lấy ra để vu khống bắt tù người ngay. Mục đích tiến tới của đấu tranh là DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH. Tại sao vậy ?
THAM NHŨNG LÃNG PHÍ là Quốc nạn dẫn đến Phá sản Quốc gia gồm (i) Tụt lùi Kinh tế vĩ mô, (ii) Vật giá nhẩy vọt và (iii) Phá giá Tiền tệ. Tình trạng Kinh tế hiện nay của Việt Nam là:
LẠM PHÁT, VẬT GIÁ TĂNG VỌT, NGÂN SÁCH THIẾU HỤT TRẦM TRỌNG, DỰ TRỮ NGOẠI HỐI CẠN KIỆT, ĐỒNG TIỀN VIỆT NAM PHÁ GIÁ XUỐNG DỐC, MẤT TIN TƯỞNG CỦA GIỚI ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÌ THÁI ĐỘ HÈN HẠ MUỐN QUỴT NỢ, NHỮNG TẬP ĐOÀN QUỐC DOANH BỊ CÁC TỔ CHỨC THẨM ĐỊNH QUỐC TẾ HẠ ĐIỂM.
THAM NHŨNG LÃNG PHÍ không phải là do từng cá nhân, nên không diệt được bởi vì cái mầm Tham Nhũng Lãng Phí nằm sẵn trong mỗi người. Nhân chi sơ, Tính Tham nhũng Lãng phí.
Cái mầm THAM NHŨNG LÃNG PHÍ phát sinh, lớn lên và lan tràn khi gặp MÔI TRƯỜNG thuận tiện. Cái môi trường này ví như đống phân để Tham nhũng Lãng phí như những con giòi sinh ra nhung nhúc.
Cái CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH chính là cái MÔI TRƯỜNG làm phát sinh, lớn lên và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế. Đó là MÔI TRƯỜNG của Tham nhũng Lãng phí. Đó là ĐỐNG PHÂN để sinh nở và lan tràn giòi tham nhũng lãng phí.
Từ khi Hội Nghị Trung ương 12 sửa soạn cho Đại Hội đảng thứ XI quyết định “Nhà Nước nắm chủ đạo Kinh tế”, thì đó là CSVN vẫn duy trì CƠ CHẾ, vẫn giữ ĐỐNG PHÂN, nghĩa là vẫn giữ MÔI TRƯỜNG cho THAM NHŨNG LÃNG PHÍ, thì chúng tôi không thèm viết hoặc đọc những gì nói về Đại Hội đảng nữa bởi vì Đại Hội này cũng chỉ thay đổi vị trí của đám giòi Tham nhũng Lãng phí giống như nhau. Con giòi nào cũng giống con giòi nào !
Cuộc đấu tranh của những Lực Lượng Quốc nội DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH có nghĩa một cách đơn giản là lấy xẻng HỐT CÁI ĐỐNG PHÂN giòi bọ đi để Dân, nhất là quần chúng nghèo khổ, có thể kiếm được miếng ăn và chung sức Phát triển Đất Nước. Đó là TRÁCH NHIỆM CỨU QUỐC của các Lực Lượng Quốc nội vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 13.01.2011 Web: http://VietTUDAN.net
| | | |
HẢI NGOẠI GÓP PHẦN CHO VIỆC THÂU HỒI TÀI SẢN CỦA ĐỘC TÀI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tê Geneva, 07.02.2011 Web : http://VietTUDAN.net
(Chú thích: Tóm tắt ý tưởng chính của bài này đã được đài RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn để phát thanh về Việt Nam. Chúng tôi nhấn mạnh đến việc đóng góp của các Cộng đồng Việt Nam Hải ngoại trong việc vận động với các Chính quyền nước ngoài Phong tỏa và Hoàn lại cho Dân Việt Nam những Tài sản của những Lãnh đạo CSVN đã nhiều năm bóc lột dân chúng và khai thác tài nguyên quốc gia cho túi riêng và chuyển ra cất dấu tại nước ngoài.)
Nhiều khi tôi suy nghĩ: nếu ăn cướp được USD.5 triệu và tiêu tán đi được không bị thâu hồi, mà người ta chỉ cất chức và kết án tù chừng 3 năm, thì tôi cũng dám làm tên ăn cướp. Ngồi tù – nhất là ở Thụy sĩ – được ngủ phòng ấm áp mà không phải trả tiền dầu nhớt đốt lò sưởi, được ăn uống mỗi ngày ba bữa mà không phải chui vào bếp, được xem Tivi mà không phải đóng thuế, được cảnh sát canh phòng cho an toàn để mình ngủ ngon giấc, lại có Tuyên úy khuyên về phần linh hồn để được lên Thiên đàng sau này. Tù như vậy thì sướng quá ! Hãy tự nghĩ nếu sống ở ngoài tù, phải đi kiếm việc làm và làm việc cật lực trong 3 năm, chưa chắc đã kiếm được mấy trăm ngàn đo-la. Trong khi ngồi tù 3 năm, lại có lương 5 triệu đo-la, đáng đi ăn cướp lắm !
Tại Việt Nam, tỉ dụ những vụ tham nhũng như Vinashin làm mất tới USD.4.4 tỉ, mà chỉ phạt xuống chức, chứ không thấy Nhà Nước đưa ra vấn đề tìm lấy lại số tiền khổng lồ USD.4.4 tỉ. Dân chúng nghèo khổ quan tâm đến vấn đề lấy lại tài sản đã bị biển thủ, còn vấn đề kẻ tham nhũng mất chức hay không, họ không quan tâm cho lắm.
Ben ALI tự động bỏ chức Tổng Thống trốn chạy. Hosni MUBARAK có thể cáo bệnh, bỏ chức Tổng Thống, sang Anh quốc chữa bệnh và nghỉ ngơi.
Từ DẠ DẦY đói mà đứng lên, mang lòng HẬN THÙ với kẻ đã cướp bóc mình và tài sản quốc gia để mình phải nghèo khổ, dân chúng quan tâm chính yếu và cụ thể là đòi lại những gì đã bị những nhà độc tài biển thủ. Được chút Tự do và Dân chủ mà DẠ DẦY vẫn đói veo vì hậu quả của biển thủ, thì cuộc Cách Mạng còn thiếu sót và đi “chệch hướng“. Những nhà Trí thức Dân chủ hay những nhà Chính trị quốc tế dễ đưa ra Tự do, Dân chủ, Nhân quyền trừu tượng cho đẹp cho sang, mà quên đi lý do chính yếu là DẠ DẦY và HẬN THÙ do độc tài ăn cướp, có thể lái cuộc CÁCH MẠNG của dân chúng đi “chệch hướng“ khiến một số người nản lòng. Độc tài và “Cướp ngày“ cũng là một
Nếu nắm được quyền Chính trị độc tài bịt miệng dân chúng, cấm đoán báo chí, có thể ngụy biện Luật pháp để bỏ tù người chống đối, thì khi thấy Tiền bạc, Tài sản quốc gia nằm sờ sờ trước mắt, kẻ độc tài dễ dàng biển thủ. Không ai có thể than vãn. Còn nếu Độc tài Chính trị của cả một Đảng như ở Việt Nam mà nắm trọn Độc quyền Kinh tế được cả Đại Hội đảng quyết định như Cương Lĩnh, thì những bóc lột dân chúng, biển thủ tài sản quốc gia được chính Nhà Nước che chở bởi vì chính Đảng điều hành Nhà Nước.
Nhân những cuộc Cách Mạng tại Tunisie, Ai Cập…, báo chí truyền thông nói nhiều về những biển thủ của hai nhà độc tài Ben ALI, Hosni MUBARAK…, từng những tiền tỉ, trong khi ấy dân của những nước này thất nghiệp, mỗi ngày chỉ có thể sống với chừng 2 đo-la. Dân nghèo cực nổi dậy làm Cách Mạng. Điều quan trọng đối với dân không phải chỉ để Ben ALI và Gia đình thoát ra nước ngoài sống sung sướng với tiền tỉ biển thủ được, mà phải thâu lại những tài sản biển thủ ấy. Cũng vậy, dân Ai Cập không phải chỉ nguyên đòi hỏi Hosni MUBARAK xuống chức để ông và cả Gia đình sống yên lành như những tỉ phú, mà dân phải thâu lại tài sản quốc gia đã bị biển thủ.
Tại Việt Nam cũng vậy, khi cuộc Cách Mạng dứt bỏ Cơ Chế CSVN hiện hành, thì không phải chỉ để Lãnh đạo Đảng yên lành ở trong nước hay tại ngoại quốc hưởng thụ những tài sản đã biển thủ được, mà phải thâu hồi những tài sản ấy lại cho Quốc gia.
Bài này viết về vấn đề Phong tỏa Tài sản của những nhà Độc tài đã được chuyển ra nước ngoài nhằm hoàn lại những tài sản biển thủ ấy cho Quốc gia sở hữu. Những kiều bào sống tại nước ngoài, có gốc từ những Quốc gia dưới quyền cai trị độc tài, có thể đóng góp vào tiến trình Phong tỏa và Hoàn lại Tài sản Quốc gia đã bị những nhà độc tài biển thủ và chuyển ra ngoại quốc.
Chỉ đích danh những tên Độc tài biển thủ Tài sản quốc gia Những tỉ cụ thể : => Tại Á Đông : MARCOS, SUHARTO => Tại Trung Đông : Sadam HUSSEIN => Tại Trung Phi : MUBUTU => Tại Bắc Phi : Ben ALI, MUBARAK, KADAFI
Những Tài sản biển thủ thường được phân chia cho thành phần Gia đình và cất dấu tại nước ngoài, nhất là Thụy sĩ, Pháp, Anh, Hoa kỳ.
Tờ Financial Times 26.01.2011, để trưng dẫn tỉ dụ, đã công khai đưa ra danh dách một số nhà độc tài biển thủ tài sản quốc gia và chuyển ra nước ngoài:
* HAITI: Jean-Claude ‘Baby Doc’ DUVALIER cai trị từ 1971-1986, chuyển đi từ USD.300-900 triệu
* IVORY COAST : Laurent GBAGBO, hiện cố thủ giữ quyền hành, chuyển sang Thụy sĩ và hiện bị phong tỏa. Con số chưa công bố.
* TUNISIA : Zein al-Abidine Ben ALI, cai trị từ 1987-2011, chuyển tiền biển thủ sang nhiều quốc gia, con số ước lượng từ USD.8-9 tỉ. Thụy sĩ đã ra lệnh phong tỏa
* IRAQ : Saddam HUSSEIN, cai trị từ 1979-2003, biển thử từ USD.10-40 tỉ
* INDONESIA : Haji Muhammad SUHARTO, cai trị từ 1965-1998, biển thủ từ USD.15-35 tỉ.
Hai cơ chế Trung quốc và Việt Nam cho phép những nhà độc tài nắm giữ Kinh tế, thì việc biển thù càng trầm trọng.
Phong tỏa những Tài sản biển thủ
1) Trường hợp mới nhất là Ben ALI và BAGBO
Tối hôm nay 19.01.2011, trong giờ Tin Tức lúc 19:30, Bà Tổng Thống CALMY-RAY đích thân tuyên bố trên Đài Truyền Hình TSR1 rằng THỤY SĨ QUYẾT ĐỊNH PHONG TỎA NHỮNG TRƯƠNG MỤC NGÂN HÀNG VÀ NHỮNG TÀI SẢN :
=> Của cựu Tổng Thống BAGBO (Cote d’Ivoire)
=> Của cựu Tổng Thống BEN ALI, của Gia đình Ông và của những người điều hành Chế độ của Ông.
Bà Tổng thống CALMY-RAY công bố chính thức rằng Lệnh Phong tỏa này bắt đầu có Hiệu Lực từ ngày hôm nay 19.01.2011 và kéo dài trong vòng 3 năm. Trong thời gian này, những Tài sản bị phong tỏa không thể rời khỏi Thụy sĩ và chờ đợi Luật pháp phân định. Theo Lệnh này của Trung ương Liên Bang Thụy sĩ, các Ngân Hàng phải khai trình những Trương mục liên hệ.
Đài Truyền Hình Thụy sĩ còn cho biết thêm những tin sau đây:
* Chính Bà Leila TRABELSI, vợ thứ hai của Ben ALI, thường gọi là Cô hớt tóc (La coiffeuse) đứng ở trung tâm cả một hệ thống Kinh tế đáng nghi ngờ.
* Em trai của Bà Leila TRABELSI, Bernard TRABELSI quản trị Du Lịch, Vạn Tải và Địa ốc, có lãnh vực Thương mại khổng lồ, có cả đoàn máy bay JET đậu tại Phi trường Geneva.
* Cháu trai của Bà Leila TRABELSI, tham nhũng, hiện có tòa nhà vương giả tại Gia Nã Đại.
* Con rể của Ben ALI trở nên giầu có bất thường với những hoạt động Kinh tế mờ ám.
Thông tin của các Đài Truyền hình cho thấy hình ảnh Dân chúng biểu tình tại Tunisie, đòi hỏi dẫn độ cựu Tổng thống Ben ALI về Tunisie để xét xử và trao nộp Tài sản ăn cướp của nước Tunisie.
2) Dự phòng trường hợp của TT.MUBARAK
Đài Truyền Hình TSR1 tối hôm qua Chúa Nhật 6.2.2011 cho biết rằng tài sản ước lượng của Gia đình MUBARAK tối thiểu là vào khoảng USD.40 tỉ được chia nhau đứng tên cất giữ hoặc kinh doanh ở trong nước hay tại ngoại quốc:
=> TT.Osni MUBARAK => Vợ : Suzanne MUBARAK => Người con trai cả : Alaa MUBARAK, có nhà tại Manhattan => Người con trai thứ hai : Gamal MUBARAK, có dinh thự tại Luân Đôn
Tối nay, 07.02.2011, Đài Truyền Hình Euro News, đã lập đi lập lại Thông Tin về Tài sản của Gia đình MUBARAK.
Sau khi nói về cơ chế Mubarak tham nhũng, đàn áp nhân quyền, sử dụng bạo lực công an tra tấn, bỏ tù, và nói về tình trạng dân chúng thất nghiệp, sống với chừng 2 đo-la mỗi ngày, Đài Euro News, dưới đề mục EGYPT : MUBARAK’S FORTUNE, đã cho biết nhiều chi tiết hơn Đài Truyền Hình TSR1 Thụy sĩ về Tài sản của nhà độc tài Mubarak. Tài sản ước lượng từ USD.40 tỉ tới USD.70 tỉ được phân phối như sau :
=> TT. Hosni MUBARAK : USD.15 tỉ => Vợ : Suzanne MUBARAK : USD.1 tỉ => Con trai cả : Alaa MUBARAK : USD.8 tỉ => Con trai thứ hai : Gamal MUBARAK : USD.17 tỉ
Đài Euro News còn phê bình thêm rằng Tài sản của Gia đình MUBARAK còn lớn hơn Tài sản của người giầu nhất Thế giới.
Tài sản ấy được phân phối vào lãnh vực Địa ốc tại Hoa kỳ (New York và Los Angeles), tại Anh quốc (Luân Đôn) tại United Arab Emirates (Dubai).
Tài sản kếch xù này được tạo nên từ quyền lực độc tài tham nhũng:
* Lợi dụng quyền lực dành độc quyền mua rẻ hoặc chiếm lấy những đất đai quân đội vào những năm 1980 và sau đó bán lại với giá cao cho những Tập đoàn nước ngoài vào đầu tư du lịch.
* Bắt những Tập đoàn khai thác tài nguyên, du lịch và địa ốc phải dành cho Gia đình ông 20% tham dự lợi nhuận.
* Những Tập đoàn muốn đầu tư tại Ai Cập phải đóng tham nhũng mới có phép hoạt động.
Đài cũng chiếu lên hình ảnh Mubarak già yếu, xuống bậc thang không vững bên cạnh vợ. Ông từ chối không ra ứng cử Tổng Thống kỳ tới là tất nhiên. Nhưng ông cố thủ giữ quyền cho đến tháng 9 này vì muốn có thời giờ để tiêu táng tài sản.
Kết luận của Bản Tin này, Đài chiếu lên hình ảnh TT.OBAMA thăm Ai Cập và đứng cạnh con đỡ đầu MUBARAK (DICTATOR MADE IN USA) chào Quốc kỳ. Chẳng lẽ suốt 30 năm trường, Hoa kỳ không biết nhà độc tài này biển thủ Tài sản đến USD.40—70 tỉ hay sao để khuyến cáo, mà phải đợi dân chúng Ai Cập bị bóc lột đói khổ, xuống đường chết chóc mới lên tiếng khuyến cáo ?
Chú thích cá nhân : Theo nguồn tin không chính thức từ giới Tài chánh/Ngân hàng quan tâm đến Tài sản của Gia đình MUBARAK, thì TT.MUBARAK, còn mang Quốc tịch Anh vì Vợ (Suzanne MUBARAK) gốc người Anh, có thể lấy lý do chữa bệnh để thoát khỏi Ai Cập và sang Anh quốc trong những ngày gần đây. Như vậy ông cũng là con rể của Anh quốc (MADE IN UNITED KINGDOM).
Nước giữ Tài sản ra lệnh Phong tỏa khi có yêu cầu
Khi đưa tin về Tài sản của MUBARAK, Đài Truyền Hình Thụy sĩ TSR1 mời một Luật sư lên để cắt nghĩa cho biết những trường hợp nào ra lệnh Phong tỏa Tài sản. Luật sư cho biết những trường hợp sau đây :
1) Theo yêu cầu của Chính quyền chuyển tiếp của bản xứ 2) Theo yêu cầu của Luật sư đại diện một đoàn thể kiều bào nước đó tại Thụy sĩ 3) Theo đề nghị của sứ quán Thụy sĩ tại nước đó 4) Đơn giản hơn : Thụy sĩ tình nghi rửa tiền
Hoàn trả Tài sản biển thủ cho Dân (Quốc gia) có quyền
Chúng tôi đã tìm thấy những trường hợp Phong tỏa trước đây và Thụy sĩ đã chuyển trả lại cho Quốc gia (Dân) có quyền đối với những Tài sản bị phong tỏa ấy. Những trường hợp này được đăng trên Nhật báo TRIBUNE DE GENEVE hôm nay, 20.01.2011, trang 3:
1) Trường hợp TT. Ferdinand MARCOS, Phi Luật Tân
Ngày 25.03.1986, Liên Bang Thụy sĩ ra lệnh Phong tỏa Tài sản của cựu Tổng thống Ferdinand MARCOS trên Lãnh thổ Thụy sĩ. Sau những thủ tục Luật pháp sáng tỏ chứng minh năm 2003, Liên Bang Thụy sĩ đã chuyển trả cho Dân Phi Luật Tân số tiền là USD.683 triệu.
2) Trường hợp Ông Sani ABACHA, Nigeria
Trương mục của Ông này đã bị Phong tỏa và Liên Bang Thụy sĩ đã chuyển trả cho Dân Nigera năm 2005 số tiền USD.500 triệu.
3) Trường hợp Ông Raul SALINAS, Mễ Tây Cơ
Ông này biển thủ tiền và chuyển qua Thụy sĩ. Trương mục bị phong tỏa và Liên Bang Thụy sĩ đã chuyển trả lại cho Dân Mễ Tây Cơ năm 2008 số tiền USD.74 triệu.
Những trường hợp trên cho thấy rằng khi Liên Bang Thụy sĩ Phong tỏa Tài sản để điều tra, thì khi Thủ tục Luật pháp chứng minh rồi, Tài sản bị phong tỏa được Liên Bang Thụy sĩ chuyển trở lại cho Quốc gia (Dân) hay Người có quyền.
Vai trò của Cộng đồng Kiều bào Hải ngoại
Theo Luật sư cho biết nguyên tắc chung trên Đài Truyền Hình Thụy sĩ TSR1 tối 0.6.02.2011, thì Công đồng Kiều bào, qua Luật sư đại diện, có thể yêu cầu việc Phong tỏa Tài sản biển thủ.
Trở lại trường hợp cụ thể của Tài sản Ben ALI và Cộng đồng Kiều bào Tunisie tại Thụy sĩ. Thứ Ba ngày 18.01.2011, Nhật báo TRIBUNE DE GENÈVE đăng trên trang nhất một bài với đầu đề TRAQUE A GENEVE DES AVOIRS DU CLAN BEN ALI (SĂN LÙNG TẠI GENEVE NHỮNG TÀI SÃN CỦA BÈ ĐẢNG BEN ALI). Dựa theo bài báo này, chúng tôi đã viết trong Bài dưới đây rằng Hội Người Tunisie tại Thụy sĩ tích cực yểm trợ cuộc Cách Mạng tại nước họ bằng hành động cụ thể:
=> Bao vây Ngân Hàng HSBC tại Geneva vì thấy hình bóng Cháu của Ben Ali cùng với một cận vệ lai vãng đến Ngân Hàng này.
=> Nhân danh Hội Người Tunisie, họ liên lạc với Trung ương Liên Bang Thụy sĩ tại Thủ đô BERNE để yêu cầu Phong tỏa những Tài sãn của Ben Ali và bè đảng tại các Ngân Hàng và trên Lãnh thổ Thụy sĩ.
Qua những khả năng có thể làm được này, chúng ta người Việt ở hải ngoại có thể đóng góp cụ thể với cuộc đấu tranh tại Quốc nội.
Thực vậy, ngày 30.12.2010, dưới đầu đề TRÁCH NHIỆM ĐẤU TRANH QUỐC NỘI, chúng tôi đã đề nghị việc đóng góp cụ thể của người Việt Hải ngoại cho Quốc nội như sau:
“Điều đóng góp mà Quốc nội mong chúng ta làm, đó là canh chừng, tố cáo những tên THAM NHŨNG LÃNG PHÍ và con cháu chúng chuyển tiền bạc ăn cướp ra nước ngoài để sống sung sướng. Nếu có thể, yêu cầu nước ngoài chuyển những tiền ăn cướp đó trả lại cho dân Việt Nam.”
Người Việt Tỵ nạn sống trên 70 Quốc gia. Chúng ta có khả năng canh chừng việc này tại khắp nơi. Tại mỗi Quốc gia có người Việt Tỵ nạn sinh sống, nhất là tại những Quốc gia như Thụy sĩ, Hoa kỳ, Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Đức… có những Ngân Hàng có thể nhận Tiền ký thác, chúng ta thành lập những Ủy Ban phụ trách về vấn đề này. Ủy Ban này có thể gồm những Chuyên viên Tài chánh, Ngân Hàng và những Luật sư. Đó là việc đóng góp cụ thể cho cuộc đấu tranh tại Quốc nội.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 07.02.2011 Web: http://VietTUDAN.net
| | | |
*************************************** VĂN PHÒNG ********************************************* TRUY TÌM TÀI SẢN TỘI PHẠM CSVN BUREAU OF RESEARCH FOR CRIMINAL FORTUNES OF VIETNAMESE COMMUNISM BUREAU DE RECHERCHE DES FORTUNES CRIMINELLES DU COMMUNISME VIETNAMIEN
22 Rue du Prieuré, CH-1202 GENEVA, Switzerland Tel:0041 22 731 82 66. Mobile:0041 79 766 65 83. Fax:0041 22 738 28 08 Email: TRUY TIM TAI SAN CSVN <vanphongtttscsvn@gmail.com>
Dưới Chủ để TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH, chúng tôi không kêu gọi hay khuyến dụ những Lực Lượng Quốc nội đứng lên, mà nhìn thấy việc Quốc nội đứng lên là tất yếu bởi hai lý do:
1) Khi Kinh tế quốc doanh tụt dốc vì Tham nhũng Lãng phí tràn lan làm cho DẠ DẦY cá nhân của đa số quần chúng thiếu ăn, thì quần chúng buộc phải đứng lên đòi quyền sống thân xác mình. Nếu không đứng lên đấu tranh tối thiểu cho quyền DẠ DẦY, thì chính mình bị chết. Tính cách tất yếu đứng lên là ở chỗ đó. Nếu muốn sống, thì phải đứng lên tranh đấu chống lại kẻ bóc lột, cướp bóc mình. Còn nếu cứ ngồi yên cúi đầu chịu cảnh cướp bóc và chờ đợi người khác đến cứu như cảnh nằm há miệng chờ sung rụng, thì chính mình đi dần đến cảnh DẠ DẦY đói veo và chết.
2) CSVN cấu kết với tư bản ngoại lai để bóc lột sức lao động của dân chúng Việt Nam và khai thác tài nguyên Quốc gia làm của riêng, tạo ra một thiểu số Mafia giầu nứt khố và đa số quần chúng nghèo kiết xác. Hố sâu giầu nghèo mỗi ngày mỗi cách biệt rõ rệt. Việc giầu nứt khố của thiểu số Mafia CSVN là dựa trên Cơ chế Độc tài Chính trị nắm trọn Độc quyền Kinh tế. Việc cách biệt giầu nghèo tất nhiên tạo một tâm lý xã hội HẬN THÙ đối với tầng lớp bóc lột bất chính.
Từ BỤNG ĐÓI cá nhân và HẬN THÙ xã hội, Lực Lượng Quốc nội đứng lên là điều sẽ xẩy ra.
Khi viết Chủ đề này đối với Việt Nam, chúng tôi lại chứng kiến những cuộc Cách Mạng tại Tunisie và Ai Cập. Một sự trùng hợp: dân chúng của hai nước này tự động đứng lên vì BỤNG ĐÓI và HẬN THÙ đối với những kẻ đã cướp bóc họ để trở nên giầu nứt khố. Dân chúng Quốc nội của hai nước này nhất quyết đi đến TRIỆT HẠ Ben ALI và Hosni MUBARAK cùng với bè đảng bóc lột, chứ không chỉ ngừng ở chỗ CẢI CÁCH nới rộng chút Tự do, Dân chủ, Nhân quyền trừu tượng xa vời vớ cái BỤNG ĐÓI cụ thể của từng cá nhân.
Khi viết rằng TRÁCH NHIỆM đứng lên DỨT BỎ Cơ chế CSVN hiện hành là từ những Lực Lượng Quốc nội, chúng tôi tự hỏi: vậy Hải ngoại có thể đóng góp được gì cho cuộc đứng lên của Quốc nội. Vận động các Chính quyền nước ngoài để áp lực lên CSVN ? Kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng một số lớn những Chính quyền nước ngoài chỉ nói suông cho chúng ta hài lòng, nhưng thực tế họ tính toán quyền lợi cho nước họ, thậm chí còn cấu kết tòng phạm với CSVN. Chúng ta hãy tự tin lấy chính mình trong việc DỨT BỎ Cơ chế CSVN, chứ đừng nuôi hy vọng quá nhiều vào các Chính quyền ngoại quốc để cái Cơ chế CSVN hiện hành này vẫn tiếp tục kéo dài.
Khi tự đặt câu hỏi xem Hải ngoại có thể đóng góp được gì cụ thể với Quốc nội, chúng tôi thấy rằng Hải ngoại – tỵ nạn sống trên 70 quốc gia -- tìm đủ mọi cách truy tầm những tài sản của độc tài CSVN cướp bóc chuyển ra cất giấu ở nước ngoài. Việc truy tầm này với mục đích yêu cầu hoàn trả những tài sản ấy về cho Dân Quốc nội. Đó là việc đóng góp cụ thể mà dân chúng quốc nội mong muốn từ chúng ta ở Hải ngoại. Thực vậy, dân chúng Quốc nội không kêu gọi chúng ta trở về để cùng xuống đường biểu tình, nhưng mong mỏi chúng ta truy tầm và phục hồi những tài sản mà những kẻ bóc lột đã chuyển ra cất giấu tại nước ngoài.
Nói thì phải làm cụ thể. Chính vì vậy mà chúng tôi đề nghị Hải ngoại đi tới thiết lập một
VĂN PHÒNG TRUY TÌM TÀI SẢN TỘI PHẠM CSVN
Chúng tôi hy vọng rằng mỗi nước có một nhóm chuyên viên chú tâm làm công việc TRUY TÌM này.
Để tiến tới những nhóm chuyên viên như vậy, chúng tôi thấy hãy bắt đầu một thí điểm. Do đó, chính cá nhân chúng tôi tự nguyện bắt đầu một thí điểm tại Geneva, Thụy sĩ. Bình thường những việc đấu tranh từ Hải ngoại cho Việt Nam, chúng ta nên chọn những nước lớn có đông người Việt tỵ nạn như Hoa kỳ, Pháp, Đức, Úc châu. Nhưng đối với việc truy tầm tài sản này, chúng tôi đề nghị chọn thí điểm Thụy sĩ vì những lý do sau đây:
=> Thụy sĩ quy tụ nhiều tài sản cất dấu
=> Thụy sĩ đã công khai phong tỏa những tài sản bất chính và đã thực hiện việc hoàn lại tài sản cho Quốc gia sở hữu.
=> Chúng tôi xin tình nguyện lấy địa chỉ của mình làm địa chỉ liên lạc về công việc này.
=> Cá nhân chúng tôi, Nguyễn Phúc Liên, xin tình nguyện phục trách công việc liên lạc trong lãnh vực này. Tôi có một số thuận lợi như:
* Đã sống 45 năm tại Thụy sĩ
* Đã dậy học trên 35 năm tại đây, nên có nhiều liên lạc với những cựu sinh viên đang làm việc trách nhiệm trong các Ngân Hàng hoặc trong các Tập đoàn Tài chánh.
* Chính chúng tôi cũng đã làm việc trên 20 năm về tài chánh cụ thể, nên có một số hiểu biết về những “lắt léo“ của tài chánh quốc tế.
* Chúng tôi vẫn giữ Quốc tịch Việt Nam, nên CSVN không thể than phiền với Thụy sĩ rằng việc làm của Văn Phòng Truy Tìm này động chạm đến nội bộ Việt Nam.
Địa chỉ của thí điểm Văn Phòng này như sau:
VĂN PHÒNG TRUY TÌM TÀI SẢN TỘI PHẠM CSVN 22 Rue du Prieuré 1202 GENEVA Switzerland
Chúng tôi xin nhận trách nhiệm liên lạc và thâu nhận những tài liệu về TRUY TÌM TÀI SẢN BẤT CHÍNH CSVN do các nơi chuyển tới.
NGUYỄN PHÚC LIÊN Geneva, 16.02.2011
Có những phản ứng tích cực cổ võ về đề nghị này. Xin ghi lại phản ứng mà chúng tôi nhận được đầu tiên từ Hà Nội:
From: "do thinh" dothinh1@yahoo.com To: "NGUYEN PHUC LIEN" viettudan@yahoo.com
Kính ông Nguyễn Phúc Liên,
Rất hoan nghênh! Kính chúc ông và cộng sự sớm gặt hái thành công, thông báo rộng rãi để cộng đồng quốc nội + hải ngoại cùng chia vui.
Kính, Đỗ Thịnh, 69 tuổi, Hà Nội, Việt Nam
| | | |
**************************** MẶT TRẬN DIỆT TRỪ THAM NHŨNG *********************** VÀ LÃNG PHÍ ************************************************************************************************* | | | |
| KHẨN THIẾT ĐỐI THOẠI VỚI THỨ TRƯỞNG VN VỀ THAM NHŨNG ĐẤT ĐAI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 28.11.2010 Cập nhật 05.12.2010 Web: http://VietTUDAN.net
Chú thích:
Chúng tôi đã viết bài dưới đây ngày 28.11.2010 để xin ĐỐI THOẠI với Giáo sư Tiến sĩ Khoa học ĐẶNG HÙNG VÕ về Tham Nhũng Đất đai. Chúng tôi đã cho Địa chỉ và Số Điện thoại để chờ tiếng nói của GsTsKh VÕ. Nhưng không có tin tức gì. Nên hôm nay, 05.12.2010, chúng tôi cho phổ biến bài này nữa để khẩn thiết mong ĐỐI THOẠI. Đây là vấn đề rất quan trọng bởi vì Tham nhũng Đất Đai tại Việt Nam trở thành một Quốc nạn.
Chúng tôi đã đưa ra rất gọn gàng và minh bạch hai quan điểm về Lý do phát sinh THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Giáo sư Tiến sĩ Khoa học ĐẶNG HÙNG VÕ đã viết ra và phổ biến công khai quan điểm của mình. Chúng tôi cũng không map mờ giấu diếm quan điểm của chúng tôi, nhất nữa quan điểm này đã được viết như một chủ đề từ nhiều năm nay.
Xin Giáo sư Tiến sĩ Khoa học ĐẶNG HÙNG VÕ không nên tìm cớ này hay cớ khác để thoái thác việc ĐỐI THOẠI với chúng tôi về Lý do phát sinh THAM NHŨNG LÃNG PHÍ. Chúng tôi càng tha thiết hơn nữa khi biết rằng Giáo sư Tiến sĩ Khoa học ĐẶNG HÙNG VÕ đã từng làm Thứ trưởng của Bộ Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường.
Chúng tôi sẽ tìm mọi cách để yêu cầu Giáo sư Tiến sĩ Khoa học ĐẶNG HÙNG VÕ, cũng là cựu Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Thiên nhiên, phải lên tiếng đối thoại với chúng tôi. Một Giáo sư Đại học và một cựu Thứ trưởng không thể đánh trống bỏ dùi vô trách nhiệm. Chúng tôi quen biết một số Ngân Hàng, Công ty và Giáo sư Đại Học ở Việt Nam và chúng tôi nhờ những người này nhắn đến Giáo sư Tiến sĩ Khoa học ĐẶNG HÙNG VÕ về những lời nói vô trách nhiệm của mình mang tính cách cổ võ việc ăn cướp đất đai của Dân nghèo. Đây là một tội ác và GsTsKh ĐẶNG HÙNG VÕ lên tiếng cổ võ tức là TÒNG PHẠM với tội ác đê hèn này đối với Dân nghèo (Dân Oan) VN.
Nguyễn Phúc Liên Geneva, 05.12.2010
Đã từ nhiều năm, tôi quan tâm tìm hiểu những nguyên do làm lan tràn THAM NHŨNG, nhất là về Đất Đai, trong Cơ Chế CSVN hiện hành.
Hôm qua, tôi vào Diễn Đàn, đọc được bài tìm hiểu về Tham Nhũng dưới đầu đề NHẬN DẠNG THAM NHŨNG TRONG QUẢN LÝ ĐẤT viết bởi GS.TSKH Đặng Hùng Võ (Giáo sư Tiến sĩ Khoa Học ĐĂNG HÙNG VÕ). Đọc lời văn, tôi có cảm tưởng là Giáo sư Tiến sĩ Khoa Học hiện đang sống và day học tại Việt Nam vì những từ sử dụng trong bài là những từ thuộc Cơ chế CSVN hiện hành. Tôi dễ nhận ra những từ đó vì tôi chỉ biết những từ thuộc Đệ Nhất VNCH (tôi ra nước ngoài từ 1965), nên tôi nhận ra liền những từ thuộc Cơ Chế CSVN ngày nay khi đọc.
Nguyên do Tham Nhũng theo Giáo sư Tiến sĩ Khoa học ĐĂNG HÙNG VÕ
Tôi vui mừng và hớn hở đọc bài tìm hiểu về Tham Nhũng này của Giáo sư Tiến sĩ Khoa Học ĐĂNG HÙNG VÕ. Vì là một Tiến sĩ Khoa học, nên Giáo sư ĐẶNG HÙNG VÕ đã tìm hiểu nguyên do Tham Nhũng thành một Chu kỳ khép kín với những hệ quả “Cause à Effet “ liên hoàn nối tiếp. Tôi có cảm tưởng Giáo sư đang tiến tới đặt thành Công thức như một nhà Toán học.
Giáo sư Tiến sĩ Khoa học ĐĂNG HÙNG VÕ đã viết Chu kỳ khép kín THAM NHŨNG như sau:
“Câu trả lời khá giản dị: nghèo đói và dân trí thấp là nguyên nhân trực tiếp làm cho tham nhũng phát triển.
Có thể thấy một chu trình khép kín đang xẩy ra ở các nước kém phát triển là: (1) nghèo đói và dân trí thấp tạo ra tham nhũng; (2) tham nhũng cần có môi trường thiếu minh bạch trong quản lý đất đai; (3) thiếu minh bạch trong quản lý đất đai tạo ra tình trạng đất đai và bất động sản không được pháp luật công nhận và bảo vệ; (4) đất đai và bất động sản không được pháp luật công nhận và bảo vệ tạo ra thiếu vốn để đầu tư phát triển; (4) thiếu vốn để đầu tư phát triển lại tạo ra nghèo đói và dân trí thấp.”
Hai chữ DÂN TRÍ làm cho tôi nhớ lại việc đảng CSVN lấy lý luận rằng Dân Trí VN còn kém về Dân chủ, nên CSVN chưa cho Dân chủ được và cứ việc giữ Độc tài đảng trị.
Ngày nay, Giáo sư Tiến sĩ Khoa học ĐẶNG HÙNG VÕ lại cho rằng “dân trí thấp là nguyên nhân trực tiếp làm cho tham nhũng phát triển.”
Khi xem hình ảnh cảnh Dân oan khiếu kiện tại Hà Nội, tôi thấy một Bà Mẹ bị tham nhũng tước đoạt hết cả nhà đất, đã tuột quần ra chửi những người trách nhiệm ăn cướp. Ngay trong trường hợp này, cũnng khó lòng nói Bà Mẹ là có dân trí thấp. Việc tuột quần của Bà Mẹ là để nói lên rằng cả một Nhà Nước côn đồ ăn cướp một cách đê tiện, hèn hạ, thiếu nhân trí, không xứng đáng với cái mà Bà Mẹ tuột quần ra cho mà xem, mà hổ thẹn với cái mà cả đảng gọi là “đỉnh cao của trí tuệ loài người “ (cao hơn dân trí).
Hãy lấy trường hợp tham nhũng đất đai của Tòa Khâm sứ Hà Nội và đất của Giáo xứ Thái Hà. Nếu nói là Tham nhũng trên những miếng đất này là do dân trí thấp làm phát sinh, thì tôi không hiểu nổi. Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT, không phải vì do “dân trí kém “ của mình mà bị CSVN dàn xếp tham nhũng trên miếng đất Tòa khâm sứ. Ngài có “dân trí cao “ chứ không mang dân trí thấp như Giáo sư Tiến sĩ Khoa học ĐĂNG HÙNG VÕ khẳng định trong Chu kỳ tham nhũng của mình đâu. Cũng vậy, dân trí của các Linh mục dòng Chúa Cứu thế không thấp đâu để đến nỗi sinh ra cảnh tham nhũng làm mất miếng đất tại Giáo xứ Thái Hà.
Chính vì một số tỉ dụ trên, tôi thấy có những gì mà tôi cần phải xin Giáo sư Tiến sĩ Khoa học ĐẶNG HÙNG VÕ giải thích thêm để đầu óc của tôi mang “dân trí thấp “ được Giáo sư TSKH Đăng Hùng Võ khai thông cho bớt ngu đần.
Nguyên do Tham Nhũng theo Giáo sư Tiến sĩ Kinh tế NGUYỄN PHÚC LIÊN
Thật rất trùng hợp, tôi vừa mới viết và phổ biến một bài ngắn trên Diễn Đàn tóm tắt về nguyên do chính yếu làm phát sinh THAM NHŨNG LÃNG PHÍ trong Cơ Chế CSVN hiện nay. Tôi xin trích đăng lại những dòng tóm tắt về Tham Nhũng Lãng phí như sau:
“Cơ Chế còn, Tham nhũng và Lãng phí còn.
Chúng tôi đã viết cả một cuốn sách với đầu đề DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN bởi vì chính cái Cơ Chế chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế mới là nguyên cớ cho Tham nhũng và Lãng phí. Vì vậy phải DỨT BỎ chính cái Cơ chế mới mong diệt được Tham nhũng Lãng phí.
Tham nhũng Lãng phí không đến từ cá nhân mà đến từ cái cơ hội tốt để cái mầm Tham nhũng Lãng phí có dịp nẩy sinh và phát triển. Thánh nhân mà có toàn quyền sinh sát, bịt miệng người khác, mà ngồi bên đống vàng, thì lòng tham lớn lên nhặt ít thỏi vàng đút túi. Nếu có ai nghi ngờ việc biển thủ này, thì chỉ bắt nó, nói nó phạm tội chống lại chính quyền theo điều 88, thế rồi nhốt tù là xong.
Chúng tôi đã ví cái Cơ Chế CSVN hiện hành là một đống phân để nuôi dưỡng cả một ổ giòi tham nhũng lãng phí. Vậy phải hốt đống phân đó đi mới diệt được đám giòi tham nhũng lãng phí lúc nhúc. Nếu đống phân còn đó, nghĩa là vẫn duy trì Cơ Chế chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế, thì nếu nhặt con giòi này đi thì những con giòi khác cũng giống hệt như con giòi vừa nhặt đi.
Hội Nghị Trung Ương 12 CSVN sửa sọan cho Đại Hội đảng năm 2011 đã không tháo gỡ cho nền Kinh tế Việt Nam theo hướng Dân chủ hóa Kinh tế, mà ngược lại còn tiếp tục trói buộc nền Kinh tế trong quyền lực độc tài độc đảng Chính trị. Thực vậy, Dự thảo Cương lĩnh từ Hội Nghị Trung Ương 12 đã viết rõ rệt: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”, nghĩa là đảng vẫn giữ lại đống phân mà thi nhau chui rúc như giòi bọ đục khoét, “ăn bẩn“, khỏi cần nói đến con giòi này sạch hay con giòi kia bẩn.”
Theo tôi, Nguyễn Phúc Liên, Tham Nhũng Lãnh phí về đất đai là do mấy ông lớn nắm quyền độc tài cai trị và nắm luôn cả đất đai mà đảng CSVN gọi là “thuộc nhân dân, nhưng Nhà Nước quản lý “. Dân trí của người dân không thấp đến nỗi không hiểu câu nói lừa đảo hạ cấp này mà trí óc đảng ngu muội đến nỗi cứ tưởng dân trí của Dân kém cỏi không hiểu.
Chúng tôi rất mong được ĐỐI THOẠI, THẢO LUẬN với Giáo sư Tiến sĩ Khoa học ĐẶNG HÙNG VÕ về mọi vấn đề thuộc THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ đang hoành hành hiện nay trên Quê Hương Việt Nam.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 28.11.2010
| | |
**************************** MẶT TRẬN KINH TẾ-TÀI CHÁNH ******************************* NÔNG DÂN, CÔNG NHÂN VÀ TƯ DOANH ĐẤU TRANH CHO QUYỀN SỐNG **************************************************************************************************** Thể chế CSVN độc tài toàn trị đầy tham nhũng hiện nay đưa Kinh tế Việt Nam đến thụt lùi. Công nhân và Nông dân ngày càng nghèo. Những cuộc Đình Công đòi hỏi thành lập Nghiệp đoàn Độc lập, nghĩa là đảng CSVN đừng chính trị hóa lao động để phục vụ cho chủ trương Chính trị riêng của đảng, nhất là để dễ dàng bóc lột sức lao động của dân nghèo, mà hãy để cho giới nghèo được tự do tìm phương tiện nuôi sống cho chính họ. Tư doanh bị kềm chế bởi Quốc doanh phục vụ cho đảng và cho túi riêng con cái đảng.
**************************************************************************************************** | | | |
CÁCH BIỆT GIẦU NGHÈO BẤT CHÍNH TẠO TÂM LÝ QUẦN CHÚNG GHEN GHÉT HẬN THÙ Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 27.01.2011 Web : http://VietTUDAN.net
Tuần trước, dưới Chủ đề TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH, chúng tôi viết về thái độ Dân chúng Tunisie nhất quyết loại bỏ Cơ chế cai trị độc tài và bóc lột của Ben ALI và đảng của ông. Lý do chính đứng lên của Dân chúng là đòi quyền sống, hay nói cụ thể hơn là đòi quyền DẠ DẦY.ø Năm 2003, TT.Jacques CHIRAC thăm Tunis, đã tuyên bố như gián tiếp nói với Ben ALI lý do chính của việc nổi dậy tương lai : «Le premier de droits de l’homme, c’est de manger » (Quyền đầu tiên của những Nhân quyền, đó là quyền ăn uống) (Nhật báo Le Monde 17.01.2011, trang 6).
Ông Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp quốc, người có nhiều kinh nghiệm về những nước nghèo thiếu lương thực, thường cảnh cáo những Chính phủ của những nước này mỗi khi có Lạm phát làm dân chúng nghèo thiếu ăn : “Si le prix continuent à augmenter, je ne seris pas surprise qu’on assiste à des eumeutes de faim “ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên rằng người ta chứng kiến những cuộc bạo loạn vì đói) (Trả lời cho cuộc Phỏng vấn của Báo Financial Times 19.06.2008 nhân cuộc Họp của FAO mà ông Jacques DIOUF kêu gọi các nước giầu giúp đỡ các nước nghèo về lương thực).
Viết về cuộc Cách Mạng tại Tunisie vì Kinh tế, chúng tôi không thể không nhìn thấy tương lai nổi dậy của quần chúng Việt Nam. Thực vậy, cuối năm 2010, tình trạng tụt dốc Kinh tế Việt Nam càng trầm trọng, rồi Lạm phát, Vật giá tăng vọt, Phá giá đồng bạc, Ngân sách thiếu hụt, Dực trữ ngoại hối chỉ còn USD.14 tỉ chỉ đủ cho chừng hai tháng nhập cảng, những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh bị hạ điểm tin tưởng Tín dụng do vụ Vinashin tỏ ý quỵt nợ. Những lý do Kinh tế ấy cho thấy viễn tượng nổi dậy của các Lực Lượng quốc nội.
Chính vì vậy, trong bài mở đầu cho Chủ đề TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH, chúng tôi viết như kêu gọi những Lực Lượng quốc nội, thuộc mọi thành phần, đứng lên bảo vệ quyền DẠ DẬY, nghĩa là cứu lấy chính mình khỏi chết đói. Chẳng quốc tế nào thương mình hơn chính mình thương lấy mình
Nếu quyền DẠ DẦY mang tính cách cá nhân và vật chất buộc cá nhân đói ăn phải đứng lên, thì còn một yếu tố nổi dậy nữa thuộc tâm lý quần chúng để cuộc nổi dậy mang tính cách xã hội đồng loạt. Chúng tôi muốn nói đến sự GHEN GHÉT, HẬN THÙ mà xã hội quy tội vào một tầng lớp bóc lột. Tầng lớp bóc lột này có thể dành ra một số tiền bố thí để làm cho DẠ DẦY người nghèo có chút cơm cháo dằn bụng mà có thể tạm thời không nổi dậy nữa, nhưng khi tâm lý xã hội đã ghen ghét và hận thù, thì những bố thí cho miếng cơm cháo không những không làm bớt ghen tức và hận thù, mà ngược lại còn làm quần chúng càng ghét và thù hận thêm. Thực vậy, Lê-Nin, từ bụng đói của dân chúng thợ thuyền và nông dân, đã chuyển quần chúng sang tâm lý ghen tức, hận thù xã hội để đẩy cuộc đấu tranh giai cấp đến đẫm máu. Đảng CSVN đã tạo một tâm lý xã hội ghen tương, thù hận giới địa chủ để mở những cuộc đấu tố tàn bạo giữa người với người.
Cuộc nổi dậy của Tunisie, từ tình trạng thất nghiệp, thiếu thốn về Kinh tế, còn mang tâm lý xã hội thù ghét Ben ALI và đảng của ông bóc lột. Cách Mạng Tunisie đang lan sang các nước độc tài Bắc Phi châu. Các Đài Truyền Hình tối hôm nay 26.01.2011 đều đưa lên những hình ảnh nổi dậy tại Ai Cập. Nhà Bình Luận của Đài Euro News tại Le Caire đã nhận định rằng từ việc nổi dậy vì lý do Kinh tế, dân chúng Ai Cập chuyển sang đấu tranh Chính trị nhằm loại bỏ giới thống trị bóc lột. Các nhà độc tài Bắc Phi châu quyết định bỏ tiền túi ra để hạ giá thực phẩm cho dân chúng đỡ đói, nhưng họ không thể làm giảm tâm lý xã hội đã chất chứa từ lâu là ghen ghét và thù hận họ đã tàn nhẫn bóc lột cả nước cho túi riêng. Khi quyền DẠ DẦY chuyển sang tâm lý xã hội GHEN GHÉT, HẬN THÙ này, thì những nhà độc tài bóc lột khó lòng lấy tiền riêng mà làm giảm được.
Nếu xã hội cùng đói ăn với nhau, thì không có nổi dậy, mà mọi người có thể cùng nhau hợp tác cố gắng phát triển Kinh tế để cứu đói giảm nghèo. Tụt giốc Kinh tế làm dạ dầy dân khổ sở, nhưng nếu đó là tình trạng Kinh tế chung, thì dân có thể thông cảm và không nổi dậy. Nhưng nếu việc tụt dốc Kinh tế không phải tình trạng làm ăn sút kém chung, mà là do một nhóm đảng cầm quyền Chính trị cướp bóc những cố gắng của quần chúng để làm giầu riêng cho nhóm đảng, thì việc tụt dốc Kinh tế chuyển sang tâm lý xã hội GHEN GHÉT và HẬN THÙ đối với cái nhóm đảng đã cướp bóc của chung làm của riêng giầu có. Bắt đầu từ DẠ DÀY đói, cuộc nổi dậy trở thành toàn diện do chính cái tâm lý xã hội GHEN GHÉT và THÙ HẬN kẻ bóc lột để mình giầu nứt khố giữa một quần chúng nghèo kiết xác.
Tại Trung quốc, ÔN NHƯ BẢO ý thức sức mạnh của tâm lý xã hội GHEN GHÉT HẬN THÙ Giầu--Nghèo
Một số lớn báo chí Tây phương ca tụng Trung quốc trở thành giầu có hiện nay. Nói như vậy là sai. Phải phân biệt Dân Trung quốc vẫn nghèo, chỉ có đảng Cộng sản Trung quốc giầu mà thôi. 80% dân chúng Trung quốc vẫn nghèo khổ. Chỉ có đảng CSTQ và giới liên hệ là giầu vì khai thác nhân lực dân Trung quốc bán cho tư bản nước ngoài để làm giầu cho nhóm đảng
Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, viết tóm gọn và xác thực về Kinh tế/ Thương mại tập quyền chỉ huy nhóm đảng ở Trung quốc như sau:
“It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries”
(Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay).
Chính Thủ tướng Oân Gia Bảo đã phát biểu ngày 14.03.2010 trước Quốc Hội Nhân Dân nỗi lo lắng về thực trạng của nền Kinh tế tập quyền chỉ huy của nhóm đảng Mafia:
“L’inflation, plus une redistribution inéquitable des revenus et la corruption pourraient affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement”
(Lạm phát, thêm vào đó là một sự phân phối không đồng đều những thu nhập và tham nhũng có thể tác hại đến sự ổn định xã hội và ngay cả đến sự ổn định nhà nước” (Le Monde 16.03.2010, trang 16) Chính nhật báo Le Monde cũng tả hố sâu nghèo nàn của quần chúng nông thôn và thiểu số giầu nứt khố của nhóm đảng Mafia như sau:
“La Chine est alarmée par le fait que le fossé ville-campagne va continuer à se creuser dans la mesure òu le pays se focalise sur le développement urbain et pas du monde rural.”
(Trung quốc bị báo động bởi sự việc là hố sâu thành phố—nhà quê sẽ tiếp tục tự đào sâu thêm ở mức độ nước này đặt tiêu điểm phát triển thành thị và không phải là lãnh vực nông thôn)
Cách đây 6 năm, số người giầu từ 150 triệu Đo-la, liên hệ với đảng CSTQ, là 100 người. Ngày nay con số đó đã tăng lên 1’000 người (Le Monde 16.03.2010, p.16).
Thú nhận những điểm như trên đây rồi, chính Ôn Gia Bảo tuyên bố một điều làm cho những ai thường ca tụng “cường quốc Kinh tế Trung quốc” phải ngạc nhiên:
“Cela prendra cent ans, même plus pour que la Chine devienne un pays moderne”
(Điều đó còn cần 100 năm, ngay cả lâu hơn nữa, để Trung quốc trở thành một nước tân tiến) (Le Monde 16.03.2010, trang 16).
Lạm phát ở Trung quốc đang làm cho nhóm đảng Mafia CSTQ lo sợ. Vật giá lên cao, nhất là thực phẩm, không làm cho cuộc sống của những người thuộc nhóm đảng CSRQ lo ngại vì họ dư thừa tiền bạc ăn cướp được, nhưng họ lo sợ DẠ DẦY thiếu ăn của 80% dân chúng nổi dậy và chuyển sang đấu tranh xã hội và chính trị do tâm lý xã hội GHEN GHÉT và THÙ HẬN giới cầm quyền bóc lột. Tăng trưởng Kinh tế cao, nhưng vào túi riêng nhóm đảng Mafia CSTQ chuyển ra nước ngoài chứ không tạo Mãi lực cho dân chúng nội địa. Báo chí khen Trung quốc tích trữ được tới USD.2500 tỉ, nhưng tại sao nhóm đảng Mafia CSTQ không đầu tư phát triển cho dân chúng nội địa nghèo khổ, mà lại dùng tiền đó để giúp hoặc mua tài sản tại những nước giầu khác. Đó chỉ là cái cớ chuyển tài sản ra khỏi Trung quốc mà họ đang lo sợ một cuộc quần chúng nổi dậy GHEN GHÉT và HẬN THÙ chính họ.
Tại Việt Nam, hố sâu giầu nghèo đã và đang tạo Tâm lý xã hội GHEN GHÉT, HẬN THÙ
Hiện tượng hố sâu cách biệt bất chính Giầu—Nghèo mỗi ngày mỗi tăng tạo tâm lý quần chúng GHEN GHÉT và HẬN THÙ với đảng CSVN. Mỗi lần viết về hiện tượng này, tôi không thể quên những câu Thơ của Thương binh NGUYỄN CUNG THƯƠNG viết từ Sài Gòn:
Chúng tao lết lê trên thành phố Cáo Hồ Nên biết rõ từng tên đại ác Trên bàn tiệc máu xương dân tộc Nhà hàng nào chúng cũng ăn nhậu Bé gái nào cũng bị chúng mua trinh! Chúng ta sẽ tỉa từng thằng Đất nước cần nhiều "quốc táng" Bớt được mạng thằng Cộng Sản nào Thì địa ngục xã hội chủ nghĩa này Còn có chút sáng láng hơn
Chúng tôi xin kể ra một số sự việc từ THAM NHŨNG LÃNG PHÍ đưa nhóm đảng Mafia CSVN giầu nứt khố. Không cần phải có Lê-Nin tác động để gây HẬN THÙ của giới vô sản để làm cuộc thanh trừng giai cấp đẫm máu. Không cần đảng CSVN huấn luyện cho nông dân để gây HẬN THÙ mà mở những cuộc đấu tố bẩn thỉu giết “địa chủ “. Tâm lý dân chúng Việt Nam ngày nay GHEN GHÉT và HẬN THÙ tự động tích lũy vì chứng kiến trước mắt những cướp bóc bất công do nhóm đảng Mafia CSVN làm. Những tỉ dụ HẬN THÙ như sau:
1) Một bà mẹ Dân Oan khiếu kiện đã tụt quần phản đối Tham nhũng cướp nhà đất của bà mà Nguyễn Tấn Dũng chịu trách nhiệm. Việc làm này của một người đàn bà Việt Nam chứng tỏ sự HẬN THÙ đến cực độ của Bà.
2) Hơn 4 tỉ đô-la của Vinashin vào túi những tên lãnh đạo nào của nhóm đảng Mafia CSVN. Dân chúng nghèo khổ không HẬN THÙ sao được.
3) Dân chúng thấy hàng ngày những cảnh tiêu xài hoang phí, từ ăn chơi đến xe hơi nhà lầu, của những con ông cháu cha thuộc đảng hoặc giới thân cận với đảng.
4) Báo chí Uùc nêu đích danh Lê Đức Thúy, cựu Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, ăn hối lộ để cho con đi học tại Anh quốc tốn kém. Giới trẻ Việt Nam làm sao không GHEN TỨC và HẬN THÙ với chính Lê Đức Thúy và con của ông.
5) Nguyễn Tấn Dũng và Nông Đức Mạnh ngang nhiên dùng chức vụ để đưa con lên vị trí lãnh đạo nhằm nối tiếp quyền lực THAM NHŨNG LÃNG PHÍ của mình. Giới Trí thức tất nhiên GHEN GHÉT và HẬN THÙ.
6) Báo chí tại chính quốc nội đã đưa ra hình ảnh cách biệt Giầu—Nghèo như sau:
=> Ăn một bát phở giá 750.000 đồng (gần 40 đô-la)
« Kể từ nửa năm trở lại đây, anh Thắng – chủ một công ty hoạt động trong lĩnh vực bất động sản tại Hà Nội – thường đến ăn món phở khá nổi tiếng tại nhà hàng của một khách sạn trên đường Láng Hạ.
Loại phở này có 6 loại khác nhau với nhiều mức giá khác và chênh nhau tương đối lớn, gồm: Phở bò Kobe gyu ‘5’ giá 750.000 đồng/bát; phở bò Kobe ‘M’ giá 500.000 đồng/bát. “Bình dân” hơn là phở bò Wagyu Úc giá 220.000 đồng/bát. “Bình dân” hơn nữa là phở bò Mỹ giá 125.000 đồng/bát. 2 loại có giá thấp nhất là phở bò Úc ‘S’ giá 85.000 đồng/bát và phở nạm bò Mỹ giá 70.000 đồng/bát. »
(Trích Vietnamnet)
=> Cụ ông gần 100 tuổi đạp xích lô
«Cụ Đặng Huyền (người địa phương vẫn thường gọi là cụ Huần) năm nay 99 tuổi nhưng vẫn đạp xích lô. Hai năm trở lại đây, do sức khỏe yếu nên cụ Huyền không chở khách và hàng thường xuyên nữa nhưng mỗi khi có khách nhờ chở đồ nhẹ, cụ ông vẫn nhận lời cốt để có thêm tiền lo cho bữa cơm của hai vợ chồng già.
Bén duyên với nghề đạp xích lô từ khi 30 tuổi, đến nay cụ Huần đã có 69 năm làm nghề này. Con trai bỏ quê vào Nam làm ăn, hơn 30 năm nay mất liên lạc, cuộc sống gia đình cụ chỉ biết nhờ vào đồng công đạp xích lô ít ỏi và sự đùm bọc của làng xóm. »
(Trích VNExpress.net)
Lương công nhân Việt Nam mỗi tháng là 47 đô-la. Lương tháng không cho phép ăn được hai bát phở của giới làm địa ốc thân cận với đảng CSVN cướp nhà đất của dân.
Ngày 19.01.2011, Tác giả NGUYỄN QUANG DUY, từ Melbourne, viết về Chênh lệch giàu nghèo của cả Trung quốc và Việt Nam như sau: “Cũng như tại Trung Hoa , nhiều lãnh đạo cộng sản Việt Nam và gia đình đã lợi dụng chức quyền để trở thành những nhà đại tư bản hay tập đòan tư bản đỏ. Nhiều đảng viên cộng sản nhờ lợi dụng quyền thế tham nhũng cũng đã nhanh chóng trở nên giàu có. Tình trạng tham nhũng gắn liền với quyền lực và quyền thế. Chả thế khi được báo Pháp Luật phỏng vấn, ông Nguyễn Chí Dũng, Bí thư kiêm Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Ninh Thuận, và là đại biểu Đại hội đảng cộng sản lần này cho biết: “Tôi rất đồng tình với việc đưa tiêu chí không tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí để lựa chọn nhân sự khóa này. Nhưng bây giờ tìm được người gọi là ‘sạch sẽ’ một tí thì chắc là cũng khó, cũng hiếm”. Trong khi tham nhũng lạm quyền tràn lan trong guồng máy đảng Cộng sản, thì mức lương công nhân lại quá thấp, nên khỏang cách chênh lệch giàu nghèo càng ngày càng mở rộng giữa tầng lớp công nhân và giới cầm quyền cộng sản. Nhiều tầng lớp xã hội khác như những người về hưu, quân nhân, công chức, dân nghèo thành thị, mức sống trực tiếp chịu ảnh hửơng từ nạn phát phi mã do mô hình tăng trưởng Trung Quốc gây nên. Cả Trung Quốc lẫn Việt Nam , sự bất bình đẳng và chênh lệch giàu nghèo giữa một thiểu số cầm quyền cộng sản và đại đa số dân tộc sẽ là ngòi nổ cho trái bom ổn định chính trị mà hai đảng Cộng sản bằng bạo lực đang cố công dẹp tắt.”
Kết luận tóm gọn
Dân chúng Tunisie đã nổi dậy từ cụ thể Dạ Dầy bị đói. Toàn dân quyết liệt đi tới cùng, nghĩa là từ khởi điểm của dạ dầy, tâm lý chung GHEN GHÉT và HẬN THÙ đối với Ben ALI và bè nhóm bóc lột làm cho toàn dân nhất định tiễu trừ Chính trị. Tin tức Truyền Hình hôm nay cho biết là Chính phủ phải tuyên bố giải tán đảng hiện hành của Ben ALI, đồng thời phải ra yêu cầu quốc tế truy bắt vợ chồng Ben ALI về Tunisie xử tội.
Cũng tối hôm nay, nhà Bình luận của Đài Truyền Hình Euro News cho biết sự chuyển biến đấu tranh tại Ai Cập, từ thiếu ăn Kinh tế, tâm lý quần chúng GHEN GHÉT và HẬN THÙ đã chuyển sang đấu tranh Chính trị, đòi trừng phạt TT. MOUBARAK và con của Oâng cũng như đảng đang nắm quyền.
Hố sâu Giầu—Nghèo do bất công cướp bóc của nhóm đảng Mafia CSVN cầm quyền tạo cho toàn dân tâm lý chung xã hội là GHEN GHÉT và HẬN THÙ đối với Cơ chế CSVN hiện hành.
Khi mà Lạm phát, Vật giá tăng, dân nghèo cực khổ đến mức độ đứng lên, thì tâm lý chung xã hội GHEN GHÉT và HẬN THÙ của toàn dân sẽ đi đến DỨT KHOÁT PHẾ BỎ CƠ CHẾ CSVN hiện hành. Dân chúng đã quá biết những mưu toan lừa đảo của đảng CSVN trong quá dài bao chục năm. Những cải cách, nới rộng Nhân quyền trừu tượng chỉ là bình phong để rồi CSVN lùi một bước nhằm tiến hai bước nữa. Tâm lý GHEN GHÉT, HẬN THÙ ấy không cho phép những kẻ theo đóm ăn tàn, hoạt đầu chính trị nhằm nhẩy bàn độc, luồn trôn CSVN, dùng những chiêu bài đối thoại, hòa giải hòa hợp, làm lá chắn cho CSVN lợi dụng. Tâm lý GHEN GHÉT, HẬN THÙ đẩy ý chí của toàn dân đến DỨT ĐIỂM với bè lũ Mafia nhóm đảng CSVN đã bao năm trường cướp bóc cho đầy túi riêng.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 27.01.2011 Web: http://VietTUDAN.net
| | | |
PHẢI TRẢ LẠI QUYỀN TƯ HỮU ĐẤT ĐAI CHO DÂN
Luật về quản lý đất đai của thời Đệ nhất, Đệ nhị Cộng Hòa
Giới sinh viên luật và những người làm công việc liên quan đến pháp luật trên thế giới đều biết khái niệm “tục giao pháp lý”, tức là những nguyên tắc pháp lý cơ bản để mỗi khi làm luật hoặc áp dụng luật, họ sẽ tham chiếu các nguyên tắc này như là những tiêu chuẩn để đưa ra quyết định hoặc luật mới. Những câu “tục giao pháp lý” này được dạy cho sinh viên luật ngay từ năm thứ nhất, trừ những nước theo chế độ cộng sản thì chẳng những sinh viên luật không được dạy mà còn được… giấu đi.
Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn một ngàn câu “tục giao pháp lý” tiếng La tinh bắt nguồn từ Bộ Luật Hammurabi (Code of Hammurabi), do Hoàng Đế Hammurabi (1792 -1750 trước CN) nước Babylon (Iraq ngày nay) biên soạn và ban hành. Ví dụ: “In dubio pro reo” (Khi có nghi vấn, phải tha bổng bị can), được diễn dịch theo kiểu hiện đại là “Nguyên tắc suy đoán vô tội”. Hoặc: “Nemo bis penitur pro eodem delicto” (Không ai bị phạt hai lần vì cùng một tội), v.v…
Việt Nam thời Pháp thuộc và thời Đệ nhất, Đệ nhị Cộng Hòa xây dựng Hiến Pháp và hệ thống pháp luật về đất đai dựa trên nền tảng nguyên tắc “tục giao pháp lý” từ câu 1 đến câu 7, đó là: lẻ phải, lẻ phải và lẻ phải, công bằng, công bằng và công bằng, phải được số đông ủng hộ.
Năm 1956, ở miền Nam Tổng Thống Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 57, còn gọi là “Luật Người Cày Có Ruộng”, gồm những điểm chính là: Bảo vệ quyền tư hữu về ruộng đất đối với bất cứ ai; Hạn điền đối với điền chủ có trên 100 mẫu đất; Ruộng đất dư bị truất hữu được nhà nước mua lại theo giá thị trường. Theo thống kê, miền Nam thời điểm này có 2.033 điền chủ có trên 100 mẫu ruộng, không có trường hợp nào khiếu nại hay yêu cầu Tòa xét xử do bị nhà nước truất hữu ruộng đất, càng không có ai bị chính nhà nước ra tay “giết chết” vì đã sở hữu nhiều ruộng đất.
Điều 384 Bộ Dân Luật Việt Nam Cộng Hòa khẳng định: “Không ai có thể bị tước đoạt quyền sở hữu của mình, trừ phi vì lợi ích công cộng và được bồi thường thỏa đáng. Vì lợi ích công cộng, người sở hữu chủ cũng có thể bị bắt buộc để cho công quyền tạm chiếm hữu bất động sản của mình, với điều kiện được bồi thường thỏa đáng”.
Luật về quản lý đất đai của thời XHCN và hệ lụy phát sinh
Trong khi đó, ở miền Bắc Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc Lệnh số 197/SL về việc thi hành Luật Cải Cách Ruộng Đất “sao y” Cách Mạng Văn Hóa của Trung Quốc, nhằm mục đích “Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ”. Cái gọi là “giai cấp địa chủ” sau “sửa sai” số liệu được công khai chính thức là: 172.008 nạn nhân bị đấu tố (tức bị giết) có đến 123.266 người bị oan (chiếm 71,6%). Nỗi ám ảnh giết người kinh hoàng thời của các đội cải cách ruộng đất làm cho dân chúng miền Bắc không dám kiện cáo gì.
Việc tước đoạt quyền tư hữu ruộng đất được gọi bằng cái cái tên mỹ miều “sở hữu toàn dân”, nhưng thực chất dân nào có quyền gì đối với mảnh đất của mình. Bởi lẽ, quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng: định đoạt, quản lý và sử dụng thì dân chỉ được phép sử dụng có thời hạn. Nhà nước muốn “thu hồi” (thực chất là đuổi đi chổ khác) lúc nào thì “thu hồi”, có khác nào các địa chủ thời phong kiến đối với tá điền?
“Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai” (Điều 18 Hiến Pháp 1992), “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (Khoản 1 Điều 5 Luật Đất Đai). Việc nhà nước có toàn quyền về ruộng đất đã khiến cho “Cán bộ địa phương bán đất công bừa bãi như bán mớ rau, con cá. Tỉnh nào cũng có chuyện chính quyền cấp cơ sở bán đất vô tội vạ. Ngay giữa thủ đô Hà Nội cũng bán đất vô tội vạ. Tham nhũng đất đai nan giải lắm. Các kiểu tham nhũng đất đai thì muôn hình vạn trạng”. Đó là nhận xét của Thiếu tướng Trịnh Xuân Thu, Phó Tổng Cục Trưởng Tổng Cục An Ninh, Bộ Công An (Tuổi Trẻ ngày 08/7/2006).
Kết quả là theo thống kê của Thanh Tra Chính phủ, số đơn thư khiếu tố về đất đai năm sau cao hơn năm trước mà không giải quyết dứt điểm được, có vụ khiếu kiện đất đai kéo dài hơn 10 năm vẫn chưa chấm dứt.
“Báo cáo của Thanh tra Chính phủ cho thấy, so với 2009, năm nay các cơ quan nhà nước tiếp nhận hơn 157.000 đơn thư khiếu nại, tố cáo (tăng gần 30%). Nội dung khiếu nại chủ yếu về lĩnh vực đất đai (gần 70%). Nội dung tố cáo tập trung vào lĩnh vực hành chính (chiếm 94% và chủ yếu liên quan tới cán bộ có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng trong quản lý đất đai, tài chính…)”. (VnExpress 27/9/2010)
Như vậy, trong năm 2009 có hơn 523.000 đơn thư khiếu nại, tố cáo. Năm 2010 có hơn 680.000 đơn thư khiếu nại, tố cáo. Tính bổ đồng cho 80 triệu người (cả cụ già và trẻ sơ sinh, không tính cán bộ đảng viên đảng cộng sản), cứ bình quân 118 người thì có 1 người đứng đơn khiếu nại, tố cáo đến cấp Trung ương, quả là con số người đứng đơn khiếu tố kỷ lục mà các nước tư bản không thể với tới. Có hơn 476.000 đơn thư khiếu nại, tố cáo về đất đai, 204.100 đơn khiếu nại, tố cáo cho tất cả các vụ việc xã hội khác.
Phải trả lại quyền tư hữu đất đai của người dân
Để giải quyết việc đơn thư khiếu nại, tố cáo tăng chóng mặt, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Trần Đình Đàn thấy cần sửa Luật đất đai, còn Trưởng ban Dân nguyện Trần Thế Vượng lại cho rằng vấn đề chính là bộ máy cán bộ. “Theo ông Vượng, để giải quyết, vấn đề cốt lõi nằm ở bộ máy cán bộ. Khiếu nại, tố cáo tồn đọng kéo dài chỉ được giải quyết khi tập trung được một bộ máy có đủ năng lực với lực lượng cán bộ tập hợp từ các bộ, ngành liên quan”.
Ông Trưởng ban Dân nguyện lại có vẻ như không biết gì về nguyện vọng của dân, đó là được hoàn toàn làm chủ mảnh đất của cha ông để lại gắn bó bao đời với họ, chớ không phải như tình trạng hiện nay là thấp thỏm lúc nào cũng có thể bị “thu hồi” và cả dân lẫn cán bộ nhà nước phải bù đầu với khiếu kiện kéo dài. Ngân sách nhà nước (cụ thể là tiền thuế của dân) không thể dùng hao phí vô ích vào việc nuôi một bộ máy cán bộ để làm mỗi một việc là quanh năm suốt tháng “cắm đầu cắm cổ” vào điều tra, xác minh, xử lý hàng đống đống đơn từ khiếu tố cao ngất trời kia. Vấn đề mấu chốt không phải ở “trình độ cán bộ” không biết giải quyết khiếu nại hay cán bộ làm sai trong khi thu hồi đất, mà là người dân không có quyền sở hữu đất đai, tình trạng Tòa án phụ thuộc vào cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Và cơ quan này sẳn sàng lợi dụng cái thế của mình để “đè” Tòa án nhằm bảo vệ “chữ ký” của mình.
“Thảo luận trong phiên họp Thường vụ Quốc hội sáng 27/9, ông Trần Đình Đàn cho rằng, chừng nào không sửa Luật đất đai thì không thể thay đổi thực trạng đơn thư khiếu nại năm sau tăng hàng chục phần trăm so với năm trước. Ông Đàn đề nghị xem xét sửa luật này và cách định giá đất hiện nay”.
Đề nghị của ông Trần Đình Đàn đúng nhưng chưa đủ. Thậm chí nếu sửa luật theo hướng tăng mức đền bù vẫn không giải quyết được tình trạng khiếu tố về đất đai ùn đống khi mà giá nhà nước quy định luôn chạy theo đuôi giá thị trường một cách lẹt đẹt, hụt hơi. Cho dù có sửa luật đến mức nào đi nữa mà nhà nước cứ khư khư giữ quyền sở hữu đất đai thì vẫn không thể chấm dứt khiếu kiện về đất đai, bởi ai cũng biết rõ cái vòng xoáy “Quyền đẻ ra tiền, Tiền đẻ ra quyền”.
Khi cán bộ được giao quyền sinh sát quá lớn trong tay, thực tế đã chứng minh họ dùng cái quyền ấy thao túng vô tội vạ để tham nhũng đất đai, bán dự án, bán quy hoạch… thu tiền vào túi riêng. Ví dụ: Ký duyệt bất cứ dự án nào người ký duyệt cũng phải có “%”, dân thì không có quyền thay đổi mục đích sử dụng đất nhưng doanh nghiệp thì vô tư. Chỉ cần “thu hồi” một khoảnh ruộng, ném cho người nông dân một mớ tiền (không đủ mua lại nhà tái định cư, không có phương tiện sản xuất khác để sinh sống), thay đổi thành đất ở hay sân gôn rồi chia lô bán nền nhà, đẩy giá đất lên gấp 100 lần số tiền họ trả cho nông dân là bên A, bên B, bên ký duyệt… đều “ẳm” tiền khẳm túi.
Có tiền rồi, người ta lại tìm cách mua bằng cấp, mua chuộc lòng cấp trên (gọi nôm na là mua chức) để ngoi lên chức vụ cao hơn, có quyền phê duyệt những dự án lớn hơn (tất nhiên là “%” nhiều hơn), vậy là tiền đã đẻ ra quyền, rồi quyền lại đẻ thành tiền mới.
Trong khi giới doanh nhân được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền tư hữu về tư liệu sản xuất (nhà máy, công cụ, phương tiện…) thì công cụ sản xuất của nông dân là đất lại không được pháp luật bảo vệ quyền sở hữu. Nhà nước muốn “thu hồi” lúc nào thì “thu hồi”, bất kể đó là đất hương hỏa, đất thừa kế, đất mồ mả tổ tiên dòng họ mấy trăm năm hay đất khẩn hoang của nông dân, hoặc nông dân đã đổ mồ hôi sôi nước mắt làm cho mảnh ruộng ấy trở thành phì nhiêu phải cực khổ đến thế nào. Có cảm giác nông dân vẫn là những “tá điền thời hiện đại” đi thuê đất của nhà nước “địa chủ mới”?
Chưa kể đến tình trạng nông dân (thành phần chiếm hơn 70% dân số) đang bị đối xử bất công trên chính đất nước của mình, thua cả những người mang quốc tịch nước ngoài… nhưng lại lắm tiền. Ví dụ: khi nhà nước ký văn bản cho nhà đầu tư nước ngoài “thuê đất thời hạn 50 năm” cùng với chấp thuận cho phép họ xây biệt thự, xây khu liên hợp, xây chung cư cao cấp, xây khu thương mại… đồ sộ, khổng lồ bán lại cho người dân, số tiền bán dĩ nhiên vào túi nhà đầu tư sau khi trừ vốn xây dựng, đóng thuế kinh doanh và “miễn trả lại” tiền cho người mua. Tiếng là “cho thuê” nhưng rõ ràng nhà nước đã “bán đứt” mảnh đất ấy cho nhà đầu tư, vì sau khi hết thời hạn thuê, nhà nước đâu thể yêu cầu nhà đầu tư “bứng” những công trình xây dựng của họ đi nơi khác trả lại tình trạng ban đầu của “vật cho thuê”? Nhà nước muốn lấy lại mảnh đất đã “cho thuê” ấy sử dụng ư? Lại phải làm hàng loạt thủ tục thu hồi, giải tỏa và bồi thường cho những người đã bỏ tiền ra (cho nhà đầu tư) mua từng phần công trình ấy.
Nhà nước giành quyền quản lý nhiều quá thành ra hiệu quả quản lý không đi đến đâu, chưa bao giờ “rừng vàng biển bạc” nước ta bị tàn phá dữ dội như hiện nay, rừng thì bị “cạo trọc”, biển thì bị “băm nát”, nghe thấy mà đau lòng.
Vì vậy, trả lại cho người dân quyền tư hữu đất đai là việc phải làm, nhà nước muốn dùng đất đó vào việc gì phải thỏa thuận với dân và mua lại đúng giá, không đồng ý với nhau có quyền đưa nhau ra Tòa một cách công bằng là sẽ chấm đứt được tình trạng khiếu tố về đất đai cao ngất ngưỡng hiện nay.
Nguồn: Blog Tạ Phong Tần
| | | |
***************************** TOÀN DÂN DIỆT LŨ BÁN NƯỚC,********************************* ĐUỔI QUÂN XÂM LĂNG ******************************************************************************************************* | | | |
NHÌN GƯƠNG TỔ TIÊN
NHỮNG LỜI NHẮN GỬI CON CHÁU
Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn :
“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Tàu Hán. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta .Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.“ (Trần Nhân Tôn)
Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN đã viết để cảnh cáo những người có trách nhiệm mà phản bội cần phải loại trừ
“Nay các ngươi... trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức,...Chẳng những ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mải.“
CSVN hầu giặc Tầu mà không biết tức, không biết hổ thẹn sao ?
Lời của vua Lê Thánh Tôn đã nói như sau:
.. Một thước núi, một tấc đất của ta lẽ nào lại tự liệu vất bỏ được ! Kẻ nào dám đem một thước núi, một tấc đất của Tổ Tiên giống nòi để làm mồi cho giặc thì kẻ đó phải bị trừng trị nặng !. VUA LE THANH TON 1460-1497 Phải trừng trị nặng đảng CSVN bán nước
TỔ TIÊN ĐÃ ĐỀ PHÒNG LAO ĐỘNG TRUNG QUỐC
Đăng ngày: 22:18 28-04-2009 BAUXITE VIỆT NAM
Gần đây, dư luận xã hội và báo chí rất bức xúc và lo ngại trước tình hình người lao động Trung Quốc tràn vào Việt Nam ngày một nhiều, nhất là tại các công trường khai thác bauxite tại Tây Nguyên.
Xem trong sử sách, thấy rằng đây cũng là một vấn đề mà cha ông chúng ta đã từng vấp phải. 300 năm trước, lo ngại việc lao động Trung Quốc ào ạt tràn sang, đe doạ đến sự an nguy của đất nước, triều đình nhà Lê đã thể hiện trách nhiệm cao trước tổ tiên và trăm họ, đã tìm được cách xử trí khôn khéo và cương quyết, dần đưa vào ổn định.
Toàn văn tài liệu cho biết việc này như sau:
Tháng 12 [năm Đinh Dậu, niên hiệu Vĩnh Thịnh 2 (1706) đời vua Lê Dụ Tông] định thể lệ hạn chế số lao động (nước ngoài) trên các công trường khai mỏ tại các trấn. Lúc ấy, các mỏ vàng, bạc, đồng, thiếc ở các trần phần nhiều mộ người nhà Thanh (Trung Quốc) khai quật để lấy, phu mỏ quần tụ mỗi ngày một nhiều. Triều đình e rằng sẽ sinh sự biến động, bèn định thể lệ: Số phu mỏ nhiều nhất 300 người, thứ đến 200 người và ít nhất là 100 người, không mỏ nào được dung quá số quy định. Từ đấy, số phu (người Trung Quốc) làm ở các công trường khai mỏ mới có hạn chế”.
Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Nguồn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Chính biên, XXXV, 21. (Bản dịch của Viện Sử học. Nxb, Giáo dục, Hà Nội, 1998, Tập II, tr. 410).
| | | |
| | MỘT NGƯ DÂN BỎ BIỂN: VIỆT NAM MẤT DẦN LÃNH THỔ
André Menras Hồ Cương Quyết (Nguyễn Huệ Chi dịch)
Thực sự, những ngày gần đây, tin tức từ Việt Nam không phải là thật tốt đẹp cho người Việt và bạn bè của họ trên thế giới. Tôi vừa đọc được từ tờ báo SGTT ngày 06 Tháng 01 năm 2011 rằng ông Mai Phụng Lưu, chủ sở hữu của một con tàu đánh cá ở Lý Sơn, đã phải ngừng hoạt động do thiếu tiền trả nợ, hậu quả trực tiếp của việc bọn cướp biển Trung Hoa hoành hành trên vùng biển thuộc khu vực Hoàng Sa. Đây không phải là, như người ta có thể nghĩ, một việc vặt vãnh trong số biết bao việc khác, mà là một tín hiệu báo động đèn đỏ mới và khủng khiếp, nó bật sáng lên khi sự vẹn toàn lãnh hải và lãnh thổ của Việt Nam ở vào tình thế hiểm nguy.
Con người không hề ngán vùng vẫy trên vùng biển Hoàng Sa giờ đang ngày ngày ra đồng giúp vợ trồng tỏi ở Lý Sơn. Ảnh: VT.
Người đàn ông dũng cảm và giàu kinh nghiệm này, giữa tuổi đang đầy sức vóc, đã bốn lần bị lực lượng Hải quân của "những láng giềng tốt" bắt giữ, đánh đập, giam cầm, đòi tiền chuộc, thế rồi cuối cùng đành phải khuất phục. Chữ "bất khuất" từng là biểu tượng cho đất nước này qua nhiều thế kỷ trong con mắt của thế giới, phải chăng đã từ từ biến mất trong ngôn ngữ Việt Nam?
Khát vọng Lý Sơn.
Nhưng không phải thế, bốn mươi bốn ngày bị giam giữ mới đây cùng với đoạn kết 4 ngày đêm lang thang trong bão giông mà không có trong tay những dụng cụ đi biển, không có sự hỗ trợ thực sự nào của Hải quân Việt Nam: tất cả những điều đó vẫn không hề làm nhụt quyết tâm của ông Lưu. Khi thoát cảnh cầm tù trở về, sau nhiều lần mặt giáp mặt với cái chết, vậy mà ông vẫn tuyên bố sẽ quay trở lại biển Hoàng Sa, vì đây là khu vực đánh cá của tổ tiên mình. Bởi vì người đàn ông đáng mặt đàn ông ấy không phải là loại người chịu buông xuôi. Không như một số bạn chài ở Lý Sơn, từ bỏ đánh bắt trong các vùng biển tổ tiên để lại này mà nay Bắc Kinh muốn cướp đoạt. Không như họ, ông đã không quay về vùng biển Trường Sa, xa hơn nhưng tạm thời ít nguy hiểm hơn. Người đàn ông này là một thủy thủ của nhân dân. Với ông, lời nói có ý nghĩa và có giá trị dấn thân: làm mới nói và nói là làm. Vậy thì tại sao ông lại phải bỏ biển nếu không phải là vì sợ hiểm nguy? Có phải chỉ vì các khoản nợ vô cớ chất lên lưng ông và những khó khăn vật chất mà những khoản nợ ấy kéo tới cho gia đình ông? Tôi không nghĩ rằng sự thể lại như vậy.
Lý do thực sự để từ bỏ, ông Mai Phùng Lưu sẽ không nói, báo SGTT sẽ không thể viết ra, chẳng tờ báo Việt Nam nào khác dám viết để mà bị thu hồi ngay lập tức. Nhưng lý do ấy lại rất đơn giản, rất dễ hiểu và phải được nói ra: ông Lưu đã hoàn toàn mất lòng tin vào các bài diễn văn hay ho, các lời tuyên bố rắn rỏi cũng như điệu bộ khoa trương của các nhà lãnh đạo chính trị. Giờ đây ông thấy rõ mình bị họ bỏ rơi, bị buộc phải chấp nhận thất bại nhục nhã của cả một đời trung thành với biển. Thậm chí ông còn cảm thấy sự kiên trì chống chọi của mình có thể trở thành phiền nhiễu cho cái câu lạc bộ "4 tốt và 16 chữ vàng" của Việt Nam… – Tôi xin nói thêm và có cân nhắc kỹ, rằng ông Lưu có đủ lý do xác đáng để thấy mình bị phản bội bởi những người có nhiệm vụ bảo vệ cho ông.
Điều này thật đã hiển nhiên khi ta xét qua một số lời tuyên bố và hoạt động chính thức cần được nhắc lại ở đây:
“Trong bốn ngành kinh tế biển chỉ có ngư dân là lực lượng đặc thù phải bám biển, hoạt động trên diện rộng trong toàn bộ các vùng biển có chủ quyền lãnh thổ. Vì bản chất của ngư dân là phải bám biển nên đây là lực lượng không thay thế được, ngay cả trong tổ chức chiến tranh nhân dân trên biển. Ngoài chuyện mưu sinh của ngư dân, sự có mặt của ngư dân trên biển còn góp phần khẳng định chủ quyền và họ chính là lực lượng đang tham gia việc bảo vệ chủ quyền”. “Quỹ này sẽ hỗ trợ ngư dân gặp rủi ro khi đánh bắt xa bờ như: gặp bão tố, bị “tàu lạ” đâm chìm, bị người nước ngoài bắt và tịch thu tàu bè, ngư cụ…” (Ông Nguyễn Chu Hồi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo tuyên bố);
“Cần có quĩ ủng hộ ngư dân đánh bắt cá ở Hoàng Sa”… “sự hỗ trợ của các tổ chức nước ngoài” (Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi).
Vẫn biết là các lời tuyên bố như thế không phải là từ những người có trách nhiệm rất cao trong Đảng và Nhà nước vốn rất kiệm lời trong việc phát biểu công khai những vấn đề này, ngoại trừ Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khi lên tiếng tại đảo Bạch Long Vĩ. Rất có thể những lời trích dẫn kia là thành thực vào lúc chúng được phát ngôn. Nhưng với kinh nghiệm, thì cũng phải thấy cho hết nhẽ, rằng những lời nói đó đều gắn liền mật thiết với phương pháp “đánh trống bỏ dùi”.
Tôi sẽ tránh làm độc giả nhớ đến những lời tuyên bố lặp đi lặp lại của Bộ Ngoại giao Việt Nam, sau mỗi cuộc tấn công xâm lược của Trung Quốc, lại khẳng định như một điệp khúc nhàm chán về chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa với "người đồng chí tốt" của mình, kẻ vẫn làm đui làm điếc, và cứ tiếp tục lặng lẽ ra đòn thật tồi tệ chống lại tất cả những ông Luu người Việt vẫn còn dám ngẩng cao đầu kiếm sống trong nhân phẩm trên biển và trên các hòn đảo của tổ tiên họ.
Truyền thống giữ biển đảo Hoàng Sa lâu đời của người dân Lý Sơn.
Cũng nên nhớ lại tình tiết bi thảm khi chúng ta bặt tin tức của ông Lưu và 9 bạn đồng hành của ông – ấy là lúc họ được người anh em “Mười sáu chữ vàng” rộng lòng trả cho họ được tự do vào ngay giữa trận bão. Nhân dịp này, các nhà chức trách Việt Nam còn có màn trình diễn hay ho hơn nữa: sau hơn 3 ngày chơi trò ú tim thảm hại, giới chức cấp trung ương đá quả bóng trách nhiệm về cho cấp vùng, rồi mấy ông này lại chỉ xuống cấp địa phương, và cấp này than van về sự bất lực của họ vì thiếu phương tiện, các nhà hoạch định chính sách quốc gia bí ẩn nhân đó liền tìm thấy không có cơ hội nào tốt hơn để mời gọi bọn cướp biển kiêm cai ngục Trung Quốc cùng tìm kiếm tìm những người mất tích.
Và cuối cùng, trong cuộc đua của hội giả trang này, Việt Nam đã dám – cả gan đến tuyệt đỉnh – tự mình phiêu lưu trên không gian hàng hải riêng của mình với giấy phép do Trung Quốc cấp; và rồi lại là người Trung Quốc có công tìm ra và cứu vớt những người mất tích. Cảm ơn, vô cùng cám ơn, các đồng chí! Vụ này thật đáng được dâng tặng một bó hoa đẹp giống như bó hoa tặng cho Thuyền trưởng Trung Quốc của chiếc tàu hộ vệ tên lửa XIANGFAN hồi sáng 3 /12 khi nó cập cảng Tiên Sa thăm «hữu nghị» thành phố Đà Nẵng.
Vinh dự thay Hải quân Trung Quốc, tội nghiệp thay những ngư dân Việt Nam. "Ông anh! Chào mừng ông anh đã xông vào nhà tôi qua cửa lớn chính anh đã phá toang! Cho phép tôi giới thiệu với ông anh đây là vợ tôi… ". Mong sao khi họ đụng nhau trong vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam, hai bên "đối tác tốt" sẽ không quên ném một bó hoa khác xuống biển để tưởng nhớ các ngư dân và những thủy thủ của miền Trung Việt Nam đã chết chìm bởi tay những “con tàu hữu hảo” trong những đêm đen và những ngày đỏ máu. Những con người đầy bản lĩnh và dũng cảm như ông Lưu sao lại có thể tham gia được vào tấn hài kịch buồn thảm đó?
Tôi đã từng đau đớn trải nghiệm cảnh những người ngư dân bị bỏ rơi (1). Tôi đã biết thế nào là sức ỳ của một bộ máy hành chính và chính quyền tại Việt Nam, họ hành động trái ngược hẳn với những lời tuyên bố, họ kiểm soát và ngăn trở mọi giúp đỡ thực sự, họ để mặc cho ngư dân không có chút hy vọng ở ngày mai, phải đơn thương độc mã đối diện với lũ yêu tinh Trung Quốc. Tôi vẫn còn giữ y nguyên một vài trong số những lời của một ông già ở An Vinh âu sầu nói nhỏ vào tai tôi trước khi tôi rời Lý Sơn: «Mấy năm nay bọn Tàu đã hoàn toàn làm chủ cả đảo lẫn biển. Rồi đây đến lượt Trường Sa và không chừng cả… Lý Sơn».
Sao người ta có thể bán rẻ tình hữu nghị của nhân dân Việt Nam cho những kẻ ngược đãi họ, trấn lột họ, và công nhiên làm nhục họ như vậy? Sao người ta có thể khom mình chiều theo một nền hòa bình kiểu Trung Hoa và để mặc cho chết dần từng chiến sĩ cuối cùng giữ gìn hòa bình vùng biển và đảo Việt Nam? Vì những mặc cả bí mật gì vậy? Cần phải chấm dứt ngay thứ ngôn ngữ nước đôi chỉ có lợi cho những kẻ xâm lược và cần phải chọn cách nói của sự thật và sự minh bạch. Phải chọn giữa một bên là những tàu chiến Trung Quốc và quân giết người đang xâm nhập vùng biển Việt Nam và một bên là an ninh của ngư dân miền Trung đang kiếm tìm phương tiện sinh sống chính đáng duy nhất của mình.
Khi ông Lưu phải từ bỏ việc đánh cá ở Hoàng Sa sau hơn ba mươi năm hoạt động trong vùng biển này, trong khi Chính phủ Việt Nam không cần tính đến hàng tỷ đồng để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long song lại không moi đâu ra 600 triệu đồng trả các khoản nợ cho con người yêu nước dũng cảm ấy và để ông ta chìm đắm lạnh lẽo vào cảnh đói nghèo nhục nhã, thì chúng ta phải đặt ra câu hỏi: Ông Lưu liệu có bỏ cuộc nếu người ta trả các khoản nợ giúp ông? Ông Lưu liệu có bỏ cuộc nếu người ta cho phép đồng bào ông ở trong nước và nước ngoài trả các khoản nợ giúp ông và cho phép gửi đến ông những lá thư bày tỏ tấm lòng thông cảm? Cuối cùng, trách nhiệm về những hậu quả của việc bỏ cuộc này thuộc về ai? Ai đáng phải gánh lấy sự xấu hổ vì chuyện đó?
Khi nhà bị dột, đặt mấy cái chậu dưới từng máng nước vẫn không ngăn được tình trạng tồi tệ hơn. Chúng ta phải lợp lại mái nhà thôi.
Vào đêm trước Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, sau những vụ Bauxite, vụ [Huỳnh Ngọc Sĩ nhận hối lộ của] PCI, vụ Vedan, vụ InnoGreen, vụ Vinashin v.v., sự kiện Mai Phụng Lưu còn đặt ra một lần nữa hai câu hỏi vô cùng quan trọng:
1) Các nhà lãnh đạo Việt Nam có còn ý chí và dũng cảm nhận mang trên vai mình và mang trong danh dự cả vận mệnh của quốc gia và tài sản của nhân dân?
2) Nếu một số người trong họ còn có ý chí và lòng dũng cảm ấy, thì hệ thống chính trị-kinh tế hiện tại liệu có cho phép họ làm được điều đó?
Tôi đồ chừng rằng chẳng có ai trong những người tham dự đại hội dám đặt các câu hỏi này ra và có thể tự do trả lời những điều đó. Đối với tôi – một quan sát viên khiêm nhường, chỉ cần một câu trả lời thôi: Đã hoàn toàn đến lúc phải thay đổi. Phải thực sự thay đổi vì lợi ích của Việt Nam.
Để kết luận cho bài viết cay đắng này, xin bạn đọc cho phép tôi gửi đến ông Mai Phụng Lưu, đến gia đình ông và đến các bạn ngư dân của ông ở Lý Sơn và các nơi khác, đến tất cả những ai vẫn còn dám đi ra vùng biển Việt Nam ở Hoàng Sa, sự ngưỡng mộ của tôi trước lòng dũng cảm của họ. Trong tình hình bi thảm hiện tại, tôi coi họ là những đại diện xứng đáng cho nhân dân Việt Nam.
8-1-2011 HCQ Nguyễn Huệ Chi dịch
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN (1) «Hoàng Sa: sếp đi vắng !» Bauxite Việt Nam 05/10/2010. Nguyên văn tiếng Pháp (những câu tiếng Việt trong bài là do tác giả để nguyên, không chuyển ngữ): Chaque fois qu’un pêcheur abandonne la mer, le Vietnam perd un peu de son territoire André Menras Ho Cuong Quyet
| |
BIỂN ĐÔNG VỚI HOA KỲ-TRUNG CỘNG-VIỆT CỘNG HIỆN NAY
TT Nga Vladimir Putin : “Kẻ nào tin những gì Cộng Sản nói là không có cái đầu.”
Vấn đề “Biển Đông với Hoa Kỳ” và “Hoàng Sa Trường Sa với Trung Cộng và Việt Cộng” rất phức tạp. Luật Biển LHQ đã phức tạp lại rất mới mẻ, nhất là vấn đề Vùng Đặc Quyền Kinh Tế [rộng 200 hải lý] và Thềm Lục Địa “mở rộng” [350 hải lý], nơi có trữ lượng dầu khí rất lớn. Trung Cộng và Việt Cộng lại tung đủ thứ hoả mù vào, làm cho rối mù thêm để che dấu sự thật và thực hiện mưu toan bất chính.
Do đó, chẳng những dân chúng mà ngay giới trí thức hay nghiên cứu, nếu không theo sát vấn đề hay thiếu cẩn trọng cũng rất dễ ngộ nhận và sa vào sách lược bành trướng của Trung Cộng và chủ trương hiến biển dâng đảo cho Bắc Kinh để bảo kê cho chế độ độc tài đảng trị của Việt Cộng.
Để dễ hiểu và không mất nhiều thời gian của bạn đọc, người viết xin được triển khai tổng quát đề tài trên đây qua 3 tiểu mục :
1. Mục tiêu Hoa Kỳ ở Biển Đông.
2. Sách lược xâm chiếm Hoàng Sa Trường Sa của Trung Cộng.
3. Chủ trương hiến biển dâng đảo [cho Trung Cộng] của Việt Cộng.
Mục tiêu Hoa Kỳ ở Biển Đông
Ngày 24-7-2010, ngay sau lời tuyên bố của bà Hillary Clinton ở Hà Nội và trước sự suy diễn và kỳ vọng quá đáng vào vai trò của Mỹ ở Biển Đông, qua bài tham luận ở “Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông” ngày 12-9-2010 ở Nam California, Hoa Kỳ, và sau đó thuyết trình ở hội luận “Tổ Quốc Lâm Nguy! Phụ Nữ VN Phải Làm Gì” ngày 3-10-2010 ở Paris, Pháp-quốc, người viết bài này đã lưu ý bạn đọc: Mục tiêu “chủ chốt” của Hoa Kỳ ở Biển Đông là quyền lợi kinh tế. Trong lúc đó mục tiêu “cốt lõi” của Trung Cộng là chiếm trọn Hoàng Sa Trường Sa của VN. Vì khác biệt nhau nên rồi ra hai bên cũng dễ đi đến thoả hiệp và chỉ VN là thua thiệt hoàn toàn.
Thật vậy, chỉ cần đọc kỹ các tuyên bố của Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates ở Indonesia ngày 5-6-2010 hay của chính Bộ Trưởng Ngoại Giao Hillary Clinton ở Hà Nội ngày 24-7-2010 thì thấy ngay chính sách của Hoa Kỳ về Biển Đông, trước sau như một, gồm ba vấn đề:
1. Về kinh tế, Hoa Kỳ chủ trương tự do đi lại hay tự do hàng hải, chủ chốt là các công ty năng lượng Mỹ không bị đe doạ hay ngăn chặn.
2. Về lãnh hải, Hoa Kỳ chủ trương “không đứng về phía nào” và giải quyết các tranh chấp thông qua Luật Biển LHQ.
3. Về an ninh, Hoa Kỳ không chấp nhận dùng võ lực, giải quyết tranh chấp qua đàm phán “đa phương” và Mỹ sẵn sàng làm trung gian.
Một bản nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ được công bố trước đó còn viết rõ ràng hơn nữa chính sách của Hoa Kỳ về lãnh hải hay đối với Hoàng Sa Trường Sa: “Hoa Kỳ không có quan điểm đúng sai về pháp lý đối với các tuyên bố về chủ quyền lãnh hải. Lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ trong việc duy trì đường thông thương nối liền Đông Nam Á, Đông Bắc Á và Ấn Độ Dương đòi hỏi sự chống lại các xác lập chủ quyền vượt khỏi các điều Luật Biển LHQ cho phép.”
Rõ ràng là không những không hề có ý giúp “bảo vệ” hay “đòi lại” Hoàng Sa Trường Sa cho VN như một số người đã quá “tưởng tượng”. mà Hoa Kỳ còn tỏ ra “thiên vị” hay “tránh né” Trung Cộng. Bởi lẽ, chính Hoa Kỳ đã chứng kiến việc quân xâm lược Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa ngày 19-1-1974 [và sau này đánh chiếm 7 vị trí của Trường Sa ngày 14-3-1988], tức vi phạm trắng trợn Công Pháp Quốc Tế và Luật Biển LHQ. Nay kẻ xâm lăng lại lớn tiếng đòi hỏi chủ quyền pháp lý đối với hai quần đảo này mà Hoa Kỳ lại “không có quan điểm đúng sai về pháp lý đối với các tuyên bố về chủ quyền lãnh hải” của Trung Cộng là thế nào? Cho dù quan điểm của Hoa Kỳ tỏ ra có lợi cho Trung Cộng như thế, nhưng Bắc Kinh cho đến nay vẫn mạnh mẽ và dứt khoát không chấp nhận cho Hoa Kỳ xen vào vấn đề Biển Đông.
Hơn nữa, phần lớn chủ trương về Biển Đông của Hoa Kỳ đều “lặp lại” những gì mà Trung Cộng và Việt Cộng đã làm hay đang mưu toan?
-Về lãnh hải, Hoa Kỳ cho rằng “phải giải quyết thông qua Luật Biển LHQ” thì – với sự “cho phép” hay “dàn dựng” của Bắc Kinh – Hà Nội đã nộp Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa LHQ hồ sơ ngày 6-5-2009 để giải quyết vấn đề lãnh hải ở Nam VN [liên quan tới Trường Sa] và hồ sơ ngày 7-5-2009 về lãnh hải ở Trung VN [liên quan tới Hoàng Sa]. Bất cứ ai theo dõi tình hình VN đều biết người dân trong nước chỉ nói hay viết ra “Hoàng Sa Trường Sa là của VN” là đã bị đàn áp thẳng tay hay bỏ tù rồi, huống hồ là đưa vấn đề ra trước Luật Biển LHQ, trừ khi có sự đồng ý của Bắc Kinh thì Hà Nội mới dám làm như thế. Trung Cộng ồn ào phản đối hai hồ cũng chỉ là tung hoả mù để đánh lạc hướng dư luận mà thôi.
Vì sao Bắc Kinh lại cho phép Hà Nội đưa vấn đề mà cả hai vẫn coi là “nhạy cảm” này ra trước LHQ?
Xin thưa : Bắc Kinh đã nhận ra “kẽ hở” của Luật Biển LHQ và có thể lợi dụng hoàn toàn được kẽ hở này để hoàn tất mục tiêu chiếm trọn Hoàng Sa Trường Sa qua chính Luật Biển Quốc Tế với sự tiếp tay của “nội gián” Hà Nội. Hoa Kỳ có thể không thấy điều này vì hiện nay Hoa Kỳ vẫn đứng ngoài Luật Biển LHQ [tuy vẫn tuyên bố chấp hành]. Hay Hoa Kỳ biết rõ nhưng “lơ đi” hay thật ra, với Hoa Kỳ thì Hoàng Sa Trường Sa ở trong tay Trung Cộng hay Việt Cộng thì cũng như nhau mà thôi. [Xin đọc bài 3 để thấy đâu là kẽ hở của Luật Biển LHQ].
Đối với phần lãnh hải phía Bắc VN thì Bắc Kinh đã buộc được Hà Nội ký hiệp ước [bí mật và bất hợp pháp] ngày 25-12-2000, tức 10 năm trước, phân bố lại Vịnh Bắc Việt để lấn chiếm của VN hơn 20 ngàn km2 biển và Hoàng Sa. Hà Nội sau đó rêu rao là đã giải quyết vùng lãnh hải này đúng Luật Biển LHQ [dù sự thật hoàn toàn trái ngược]. Hoa Kỳ làm sao biết việc này, nhất là việc Hà Nội nộp hồ sơ ngày 7-5-2009 cho LHQ, trong đó cố ý giới hạn thềm lục địa VN ở 200 hải lý và gạt Hoàng Sa ra ngoài hải phận VN là để “hợp pháp hóa” hiệp ước “bất hợp pháp” 25-12-2000.
- Về an ninh, tự do đi lại ở Biển Đông chẳng những quan trọng đối với Mỹ và thế giới mà cũng vô cùng cần thiết cho cả Trung Cộng. Hơn nữa, Trung Cộng đâu cần dùng võ lực khi mà mục tiêu “cốt lõi” là Hoàng Sa đã nằm trọn trong tay TC;và Trường Sa thì sớm muộn cũng đạt được trong “hoà bình, hợp pháp” qua chính hai hồ sơ mà Hà Nội đã nộp LHQ. vì cả hai hồ sơ đều cố ý gạt hai quần đảo này ra ngoài thềm lục địa hay hải phận VN, tức gián tiếp cho rằng “Hoàng Sa Trường Sa chưa chắc là của VN” như TS Việt-kiều Vũ Quang Việt đã xuyên tạc lịch sử trên đài BBC cuối tháng 7 vừa qua !
Riêng cái bản đồ lưỡi bò chiếm 80% Biển Đông thì Trung Cộng cũng dư biết là làm sao thoả mãn trọn vẹn được vì nó vượt ra ngoài tất cả các quy định của Luật Biển LHQ và bị cả thế giới dị nghị. Quy luật Trung Cộng áp dụng xưa nay là “mềm nắn, rắn buông” nhất là mục tiêu “cốt lõi” là Hoàng Sa Trường Sa đã đạt. Xin lưu ý ở đây là chiều rộng Biển Đông, chỗ hẹp nhất ở vùng Vịnh Bắc Việt cũng gần 120 hải lý. Do đó, dù Trung Cộng có dành được chủ quyền pháp lý đối với Hoàng Sa thì, theo Luật Biển LHQ, nhiều nhất thì Hoàng Sa cũng chỉ được hưởng lãnh hải rộng 12 hải lý mà thôi, vì thế Hoàng Sa sẽ không đủ điều kiện để có Vùng Đặc Quyền Kinh Tế hay Thềm Lục Địa 200 hải lý; tức tự do đi lại ngay ở vùng Biển Đông hẹp nhất này.
- Về kinh tế, mục tiêu cốt lõi của Hoa Kỳ khi tăng cường can dự vào Biển Đông thì xem ra đã được giải quyết êm thắm giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng với sự kiện điển hình xảy ra vào đúng ngày Hà Nội khai diễn Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông [lần 2], 11-11-2010 ở Sàigòn, và ngay sau khi người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Hà Nội Nguyễn Phương Nga lại một lần nữa lên án Bắc Kinh “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền VN đối với Hoàng Sa Trường Sa, Thềm Lục Địa và Vùng Đặc Quyền Kinh Tế.”
Thật thế, ngày 10-11-2010 Thủ Tướng Anh David Cameron đến Bắc Kinh, mang theo đoàn đại biểu thương mại tới 50 người [nhiều nhất của Anh đến TQ từ xưa đến nay] trong đó có đại công ty dầu khí BP và BP sẽ ký hợp đồng thăm dò dầu khí với Tổng Công Ty dầu khí CNOOC của TQ. Nên nhớ, BP trước đây đã ký dự án thăm dò dầu khí với VN tại 2 lô 5.2 và 5.3. Sau khi đã tiến hành việc thăm dò một thời gian, BP phải án binh bất động vì phản đối của TC và cuối năm 2009 thì tuyên bố chính thức chấm dứt hợp đồng khai thác với VN. Nay BP ký hợp đồng với CNOOC và CNOOC ước lượng trữ lượng dầu khí của khu vực này có thể đến 22 tỉ thùng.
Ngoài ra, công ty dầu khí khổng lồ Chevron của Mỹ cũng cho biết là đang chuẩn bị ký dự án thăm dò dầu khí tại 3 lô ở Biển Đông với TC. Tuy cả hai công ty Anh-Mỹ này đều không nói rõ các lô sắp thăm dò nằm ở đâu trên Biển Đông nhưng giới nghiên cứu đều cho rằng “không thể ngoài” vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vì chỉ 2 vùng quần đảo này mới có thể có một trữ lượng dầu khí lớn như thế. Công ty dầu khí BP hiện nay do Bob Dudley, người Mỹ điều hành, sau khi Tổng Giám Đốc người Anh vừa bị mất chức sau vụ bể ống dấu ở vùng Louisiana và Florida.
Tóm lại, sự kiện điển hình nói trên đã chúng minh cụ thể Hoa Kỳ tăng cường can dự vào Biển Đông lúc này trước hết là vì vấn đề kinh tế. Sau tuyên bố 24-7-2010 của Bà Hillary Clinton, sau hàng loạt hội nghị cấp cao ở Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn, việc hai công ty dầu khí BP [Anh] nhưng do Mỹ đứng đầu và Chevron [Mỹ] đang chờ ký kết hợp đồng khai thác dầu khí hàng chục tỉ USD với Trung Cộng chứng tỏ Hoa Kỳ đã đạt được mục đích cốt lõi. Mọi sự ồn ào phản đối của Hà Nội hay Bắc Kinh hay hết Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông này đến Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông khác chỉ là hoả mù cho các mưu toan của TC và VC mà thôi.
Sách lược xâm chiếm của Trung Cộng và chủ trương bán Nước của Việt Cộng
“Sách lược xâm chiếm Hoàng Sa Trường Sa của Trung Cộng” và “chủ trương hiến biển dâng đảo cho Trung Cộng của Việt Cộng” là hai vấn đề khác nhau. Nhưng thật ra “tuy hai mà một” nên người viết xin được gom chung vào một mục để tránh phải lập lại và dài dòng.
Hơn 700 trăm năm xưa, sau 3 trận chiến đánh đuổi quân xâm lược phương Bắc ra ngoài Đất Việt, vua Trần Nhân Tôn [1279-1293] đã để lại di chúc: “Các ngươi chớ quên nước lớn thường làm trái đạo. Hoạ muôn đời của ta là Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới, luôn luôn bầy đặt chuyện để gây hấn. Không thôn tính được thì gậm nhấm đất đai của ta. Vậy các ngươi phải nhớ lời ta dặn. Một tấc đất cũng không để lọt vào tay ngoại bang. Đấy là di chúc cho con cháu muôn đời.”
Với Trung Cộng, ngay sau khi chiếm trọn Hoa-lục, Mao Trạch Đông đã khơi dậy chủ nghiã “bá quyền Đại-Hán” nhằm bành trướng trên đất dưới biển bằng đủ mọi phương cách ngọai giao, chính trị và nhất là quân sự. Biển Đông hay Vịnh Bắc Việt và Hoàng Sa Trường Sa là mục tiêu đầu tiên và cốt lõi của Trung Cộng. Điều không may hay nghiệt ngã của lịch sử là VN lại rơi vào tay bọn “nội gián” Việt Cộng nên Trung Cộng đã lấn chiếm được một phần Vịnh Bắc Việt, Hoàng Sa và một phần Trường Sa và với đà này thì dân tộc Việt sẽ rơi vào bành trướng một ngày không xa!
Dưới đây là một số trường hợp xâm chiếm Biển Đông điển hình tiêu biểu của Trung Cộng với sự tiếp tay đắc lực của “nội gián” Việt Cộng:
-Ngày 4-9-1958, Trung Cộng vừa công bố chủ quyền lãnh hải 12 hải lý, bao gồm Hoàng Sa Trường Sa [mà TC gọi là Tây Sa Nam Sa] là 10 ngày sau, với sự cho phép của Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng vội vàng gửi công hàm cam kết tôn trọng; tức gián tiếp dâng Hoàng Sa Trường Sa cho TC. -Ngày 19-1-1974, lợi dụng lúc Mỹ rút quân ra khỏi VN, Trung Cộng xua quân chiếm trọn Hoàng Sa; Việt Cộng giữ thái độ im lặng đồng loã hay “nội gián” vì trước đó 2 năm, tháng 2-1972, Cục Đo Đạc và Bản Đồ, trực thuộc thủ tướng Việt Cộng, đ ã xóa tên Hoàng Sa Trường Sa và thay vào đó tên Tây Sa Nam Sa của TC. -Ngày 14-3-1988, vào lúc “cơm không lành, canh không ngọt” giữa Bắc Kinh và Hà Nội, TC xua quân xâm chiếm 7 vị trí của nhóm đảo Trường Sa; Việt Cộng phản đối cho có phản đối như thường lệ, sau đó để yên cho TC chiếm giữ và xây dựng thành căn cứ quân sự ngày càng vững chắc. -Ngày 25-12-2000, TC ép buộc VC ký hiệp ước phân bố lại Vịnh Bắc Việt để chiếm của VN hơn 20 ngàn km2 vùng Vịnh Bắc Việt và Hoàng Sa. Chẳng những Lê Công Phụng, trưởng đoàn đàm phán nói ngược lại là “không mất biển mà còn có lợi” mà chính Bộ-trưởng Ngoại Giao VC Nguyễn Duy Niên còn trắng trợn nói với báo chí “Bạch Long Vĩ được hưởng lãnh hải 15 hải lý tức được thêm 3 hải l ý” trong lúc sự thật thì VN đã bị mất trên 20 ngàn km2 biển quanh đảo này. Điều ghi nhận ở đây nữa là, sau hiệp ước vùng Vịnh Bắc Việt 25-12-2000, Trung Cộng không ngừng bắn giết bừa bãi ngư dân VN hành nghề trong vùng Vịnh Bắc Việt và Hoàng Sa, VC hoặc im lặng hoặc phản đối cho có phản đối và TC thì ngày càng hung hãn hơn. -Ngày 6 và 7-5-2009, lợi dụng việc LHQ cho mở rộng thềm lục địa [từ 200 ra 350 hải lý], TC cho phép VC nộp hồ sơ “mở rộng” nhưng thực ra là “giới hạn” thềm lục địa VN ở 200 hải lý và gạt Hoàng Sa Trường Sa ra ngoài hải phận VN dành cho TC.
Qua các động thái của Trung Cộng ở Biển Đông, chúng ta có thể nhận ra sách sách lược xâm chiếm Hoàng Sa Trường Sa của Bắc Kinh diễn tiến như sau :
1. Lấn chiếm, bằng mọi phương cách, kể cả xâm lăng võ lực [như các trường hợp tiêu biểu nói trên] rồi tuyên bố lung tung bất chấp lý lẽ để gây hỏa mù và vừa gây áp lực vừa lôi kéo hợp tác. 2. Đàm phán song phương, để dễ hù họa, o ép, mua chuộc [như các hiệp ước nêu trên giữa Bắc Kinh và Hà Nội, hoàn toàn thua thiệt về phía VN nhưng Hà Nội luôn luôn dối gạt và tuyên truyền ngược lại là thắng lợi. 3. Thực tế hiển nhiên hay đặt trước sự đã rồi hay tình trạng hiện hữu [Trung Cộng đã triệt để áp dụng các phương thức này và đã hưởng lợi lớn trong các hiệp ước trước đây].
Xin được kết thúc vấn đề “Biển Đông với Hoa Kỳ” và “Hoàng Sa Trường Sa với Trung Cộng và Việt Cộng” ở đây. Xin mời đọc bài 3, trong loạt bài viết cho Ngày Hoàng Sa San Jose 22-1-2011, với nội dung : “Từ hiệp ước ngày 25-12-2000 với Bắc Kinh đến hồ sơ ngày 6 và 7-5-2009 nộp LHQ, Việt Cộng toan tính dâng 20 ngàn km2 Vịnh Bắc Việt và Hoàng Sa Trường Sa cho Trung Cộng qua Luật Biển LHQ.”
LS Nguyễn Thành, Justice & Peace Committee for Paracel & Spratly Islands of VN | | | |
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx GIU LAI NHUNG BAI TRUOC DAY DE CHUYEN VAO PHAN LUU TRU============> ****************************************************************************************************** | | | |
TÒAN CẢNH NỔI DẬY ĐÒI CÔNG LÝ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 11.02.2009
Ngày 06.01.2010, CSVN phạm thánh đối với Công Giáo, không phải chỉ đối với Đồng Chiêm, mà còn đối với Giáo Hội Công Giáo VN, đối với Giáo Hội Công Giáo Hòan vũ và đối với tất cả các Giáo Hội Thiên Chúa Giáo Tin Lành, Chính Thống Giáo và Anh Giáo. Tất cả các Giáo Hội này lấy THÁNH GIÁ làm biểu tượng hữu hình cho ĐỨC TIN vào ơn cứu rỗi mà Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể nhận lấy tội trần gian trên Thánh Giá. Chính trên cây Thánh Giá, Philatô cho ghi INRI (Giêsu Nazaret, Vua Dân Do Thái), nhận Vương Quyền của Chúa Giêsu.
Từ ngày CSVN phá cây THÁNH GIÁ tại Đồng Chiêm cho đến nay, tôi không viết một bài bình luận nào, mà chi đăng tải những Thông Tin về việc phạm thánh này.
Tôi muốn nhìn Đồng Chiêm không như một vụ việc riêng lẻ, mà đặt nó trong TÒAN CẢNH chín mùi đổ vỡ của Cơ Chế CSVN hiện hành mà Lực Lượng Công Giáo VN giữ phần chủ động quan trọng.
Chúng tôi xin đề cập những khía cạnh sau đây:
=> Đối với Dân: Tòan cảnh Kinh tế, Xã Hội, Chính trị đưa đến sụp đổ Cơ Chế CSVN
=> Đối với ngọai bang: Để Trung quốc xâm lăng Kinh tế làm cớ cho xâm lăng Quân sự
=> Hình thành và lớn mạnh của Lực Lượng Công Giáo VN với Tinh thần Đồng Chiêm
Đối với Dân: Tòan cảnh Kinh tế, Xã Hội, Chính trị đưa đến sụp đổ Cơ Chế CSVN
Qua kỷ niệm sụp đổ của Bức tường Bá Linh năm 1989, chúng tôi có dịp ghi nhận những bài học cụ thể dẫn đến sụp đổ cả một đế quốc được coi như một bộ máy cai trị đàn áp khắt khe đối với Dân chúng.
Có nhiều bài học. Chúng tôi muốn nhắc lại trong đọan này bài học Kinh tế, Xã hội, Chính trị đã buộc lòng Mikhail GORBATCHEV phải đưa ra chủ trương GLASNOST và PERESTROIKA. Thực ra, những tha hóa và giao động Xã hội bắt nguồn từ những bất công Kinh tế và từ đó hệ thống Chính trị lung lay và sụp đổ cho dù bộ máy đàn áp được tăng cường với chiêu bài ổn định Xã hội.
Hãy nhìn tình trạng Kinh tế, Xã hội và Chính trị thời năm 1985, khi Mikhail GORBATCHEV lên nắm quyền.
Những tài liệu mà chúng tôi lấy để viết về tình trạng tại Nga năm 1985 là từ cuốn MIKHAIL S.GORBATCHEV do Tác giả David KINGS, xuất bản năm 1988 do Time Incorporated N.York, được dịch ra Pháp ngữ dưới tựa đề MIKHAIL GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME.
Sau khi Brejnev chết, cánh Lãnh tụ già nối nhau đứng đầu đảng. Vì già, Andropov cũng chỉ được 18 tháng thì chết. Một ông già khác Tchernenko cũng chỉ nắm quyền đảng được mấy tháng thì chết. Trong Bộ Chính trị, chỉ có Gorbatchev là còn sung sức, nhờ tuổi trẻ và nhờ không uống Vodka. Có những Lãnh tụ già phải nhờ vịn vào vai của Gorbatchev mới có thể đi tham dự đám táng nhau được.
Sau cái chết của Tchernenko, Đảng Cộng sản Nga thấy rằng không thể chọn các cụ già gần đất xa trời lên đứng đầu đảng để vừa tổ chức đăng quang quyền hành xong, đã phải nghĩ đến tổ chức đám táng. Các cụ quyết định chọn một người trẻ để đỡ phải lập bập đọc những điếu văn liên hồi. Mikhail GORBATCHEV được chọn lên nắm quyền từ năm 1985.
Khi lên nắm quyền, Gorbatchev đứng trước một tình trạng xã hội hòan tòan đồi tệ, một tình trạng Kinh tế của đế quốc vô sản hòan tòan thiếu thốn thực sự. Theo Lý thuyết của Mác-Lê, thì tình trạng vô sản này như một ĐỊNH MỆNH phải đứng lên làm Cách Mạng nữa.
Oâng Andrei GRETCHEV, cố vấn Chính trị của Gorbatchev đã phải tuyên bố rằng tình trạng suy thóai tận cùng Kinh tế, sự đồi trụy của xã hội và tình trạng ươn hèn của đảng viên đã buộc Gorbatchev phải phất cờ trắng xin hàng với Thế giới Tự do trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Hậu quả tàn khốc của vụ Chernobyl lan tràn. Chiến tranh tốn kém tại Afghanistan không thể chịu đựng được nữa. Nga không những không còn sức chạy đua binh bị, không còn phương tiện giữ 500'000 lính canh chừng chế độ tại những nước chư hầu Đông Aâu và không thể tài trợ để giữ những cơ sở Ngọai giao và nuôi những nhân viên vừa ngọai giao vừa gián điệp khắp Thế giới.
Giới công nhân trong guồng máy Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã lưu truyền câu nói:“Ils font semblant de nous payer, on fait semblant de travailler“ (Chúng (nhà nước) làm giống như trả tiền lương, người ta cũng làm giống như có làm việc), nghĩa là họ không trả tiền thì mình cũng không làm việc. David KINGS, trong cuốn sách trích dẫn trên đây, đã tả tình trạng bại họai của những công chức nhà nước như sau: Tất cả mọi người, từ ngưới gác cổng đến Bộ trưởng, đều phải ăn hối lộ nhỏ lớn. Ngay cả những Huy chương cũng đem ra đổi lấy một lượng xúc xích (saucisses) để ăn. (Même les décorations de guerre pouvaient s’échanger contre la quantité de saucisses (Ngay cả những Huy chương chiến chanh cũng có thể đem ra đổi lấy một số lượng xúc xích để ăn) (Sách đã trích dẫn MIKHAIL GORBATCHEV, trang 154)
Tình trạng thê thảm Kinh tế này càng đẩy mạnh mọi người vào say sưa Vodka, vào ma túy, vào ly dị, đĩ điếm. Một câu khuyên rằng nếu muốn kêu thợ đến sửa điện, thì đừng kêu họ đến lúc sau trưa vì họ có thể làm cháy nhà vì đã say khướt rượu từ buổi sáng rồi.
Sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, chính bản thân tôi đã sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến tận mắt cảnh nghèo khó Kinh tế của Thủ đô quyền lực độc tài này. Tôi đã đến và ăn Phở trong chính Đôm 5 cũ, Tòa nhà Viện Hàn Lâm Khoa học, ngày nay vì nghèo quá, những phòng được phá thủng để bán chạp phô, mở tiệm phở. Tôi đã thăm Đôm 5 mới, tại đây tôi đã được ăn thịt chó (chó Berger KGB) lần đầu tiên từ khi rời Việt Nam năm 1965. Tôi đã có một Huy chương Lénine mang số rất nhỏ 2530, nghĩa là gần kề với Lénine bằng cách đổi chác kiểu saucisses như trên. Việt Nam có 3 Huy chương Lénine: Hồ Chí Minh, Lê Duẫn và Nguyễn Phúc Liên. Số Huy chương của tôi nhỏ, như vậy chắc Huy chương của tôi cao hơn Hồ Chí Minh.
Tình trạng tồi tàn Kinh tế, bại họai xã hội, hòan tòan xười ra của cán bộ và tham nhũng đến những hớp Vodka là một ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ chế độ. Tình trạng giống như trái cây đã chín rữa và sắp tự động rơi xuống đất để thối ra. Nếu lấy dây cột treo nó vào cành, thì may ra nó chưa rụng ngay. Cuộc Cải Cách mà GORBATCHEV tuyên bố chỉ là tìm những sợi dây hy vọng cột lại phần nào cho trái cây chín rũa sắp rơi khỏi cành.
Cuộc Cải Cách của Gorbatchev được tóm tắt vào hai chữ GLASNOST và PERESTROIKA
GLASNOST có nghĩa là làm trong sáng, làm thông rõ. Ơû một tình trạng mà cả một hệ thống cán bộ đảng nghiện ngập, say rượu, ăn hối lộ bất cứ cái gì, rồi làm lỗi và bưng bít từ dưới lên trên, chính Gorbatchev cũng không biết đâu là sự thật để mà điều hành. Vậy, phải hô hào làm trong sáng trước tiên trong nội bộ đảng để mới có thể điều hành.
Đối với những cơ quan truyền thông, GLASNOST bao gồm những biện pháp làm nhẹ đi những kềm kẹp làm mất tự do ngôn luận, nhất là về nghệ thuật và thông tin xã hội.
Trong bài Diễn Văn chủ yếu của Gorbatchev ngày 25.06.1987, Gorbatchev đã nêu ra 5 nguyên tắc của PERESTROIKA như sau (Sách đã trích dẫn GORBATCHEV, trang 229):
1) Cho những người đứng đầu Công ty một số quyền độc lập: định hàng sản xuất, định giá bán và định lương thợ theo hiệu năng làm việc.
2) Chuyển việc chỉ huy trung ương tập quyền Kinh tế về những Cơ quan địa phương của đảng.
3) Nới rộng việc chương trình hóa, việc định giá và việc phân phối tiền tệ và tín dụng.
4) Áp dụng những nghiên cứu khoa học vào việc nâng cấp phẩm chất hàng hóa.
5) Chuyển phương pháp quản trị theo hành chánh sang phương pháp quản trị theo chỉ tiêu kinh tế; khai triển việc tự quản trị; nâng cấp thu nhập cá nhân; phân quyền rõ rệt giữa điều hành Chính trị và quản trị Kinh tế.
Tuyên bố 5 nguyên tắc như trên, việc Cải Cách PERESTROIKA là việc, một mặt bỏ dần hệ thống Kinh tế trung ương tập quyền và chỉ huy tòan diện đã làm tàn lụi Kinh tế Nga, một mặt tiến dần đến một nền Kinh tế tôn trọng sáng kiến cá nhân mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường luôn luôn chủ trương. Gorbatchev đã nhìn nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường mới có hy vọng giải quyết được tình trạng Kinh tế tàn lụi của Nga lúc bấy giờ.
PERESTROIKA là một chủ trương cải cách Kinh tế để mong cứu vãn nước Nga. Cũng trong tình trạng tàn lụi Kinh tế này, mà Nga không còn khả năng đảm nhận những chi tiêu cho đối ngọai đúng như lời mà có vấn Chính trị Andrei GRETCHEV đã tuyên bố. Oâng giương cờ hàng thua đối với Chiến tranh Lạnh, giảm thiểu vũ khí, giải ngũ 500'000 lính, thóat ra khỏi cuộc chiến tranh Afghanistan, để tự do cho những nước chư hầu Đông Aâu tự giải quyết nội bộ của mình. Những cuộc nổi dậy đấu tranh của các nước Đông Aâu xẩy ra ra và đi đến thành công nhanh chóng trong hòan cảnh này.
Nền Kinh tế Việt Nam cũng như Trung quốc lúc này chỉ là nền Kinh tế của nhóm đảng Mafia cướp bóc, chứ không phải là Kinh tế của quần chúng.
Nhóm đảng Mafia đưa ra những con số hào nhóang che đậy những họat động kinh tế bất công, tham nhũng, hối lộ mà chính nhóm đảng Mafia ấy biết rõ và đang tìm cách cất giấu tiền bạc riêng của mình phòng khi Kinh tế sụp đổ và mất quyền Chính trị.
Chúng tôi đã viết nhiều về tình trạng kinh tế bóc lột của nhóm đảng Mafia này. Có người nghĩ rằng vì chúng tôi chống CSVN, nên viết những điều tiêu cực. Vì vậy, để nói về tình trạng Kinh tế hiện nay tại Việt Nam, chúng tôi muốn mượn lời của chính một người của đảng CSVN, Luật sư TRẦN LÂM. Nhìn tình trạng ấy, Luật sư đã phải kết luận rằng sự thay đổi đã đến gần. Luật sư viết như sau:
“Khi mở cửa, khi đón đầu tư nước ngoài, ai cũng nghĩ rằng: ta sẽ học, ta sẽ làm, ta sẽ có tất cả như các nước, ta tiến bộ, ta thừa sức theo kịp thiên hạ…Lúc đầu ta bàn nhiều đến cái thiếu sót, cái thua thiệt, coi đó là học phí với sự an ủi thầm kín. Đến nay, cũng đã nhiều năm: hãng Sony ra đi, ta không thấy nói gì đến ngành điện tử, ta có bao nhiêu hãng ô tô mà nay không thấy cái gì gọi là ô tô Việt Nam…Hóa ra xét tiến bộ đầu tư nước ngoài lấy số tiền đầu tư để đánh giá, còn nền công nghiệp của ta là một việc khác. Kết quả: mất đất, mất môi trường, sức lao động bị bán rẻ. Trong khi ấy, đồng ruộng cần máy móc nông nghiệp, phân bón; học sinh cần máy tính, người lớn cần điện thoại di động…thì tất cả của nước ngoài.
Những cái cũ ta có: gạo, café, cao su, bao nhiêu năm nay không giải quyết được ổn thỏa việc thu mua, chế biến, tồn trữ cứ vẫn như xưa. Cái ta có ưu thế tuyệt đối thì cũng không ổn định.
Những cái có mới, không ít, có thể chia ra hai loại: loại làm ra vì mục đích chính trị, nhằm khoa trương, kèm theo câu “nhất Đông Nam Á” như đường Trường Sơn, đường dây 500KV, hay như điện nguyên tử đến nay chưa có số lượng nhân lực ban đầu…Có cái khác thì thấy ai có thì học theo như Hà Nội bên Sông Hồng và Hà Nội rộng gấp 4 lần…; Loại thứ hai là thiếu hiểu biết kỹ thuật, bỏ ngoài tai ý kiến của các nhà khoa học, tự cho “chính trị là thống soái”, rồi chống cả trời đất như việc quản lí đô thị: Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội: nạn ngập lụt người ta cảnh báo bao nhiêu năm, đã thấm đòn ở thành phố Hồ Chí Minh, đến nay lại xảy ra ở khu Mỹ Đình, nơi đỉnh cao của kiến trúc đô thị Việt Nam. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà không đi từ nông nghiệp, không công nghiệp hoá nông nghiệp, quy hoạch đô thị thì “Treo”, không có luật nhập cư, công nghiệp hoá, xuất khẩu lao động thì bỏ rơi đào tạo nghề…các việc này người ta làm ở Châu âu từ thời kỳ Napoléon – Cái “Đảng bao giờ cũng sáng suốt”, “Tập thể bao giờ cũng đúng” đi đâu mất rồi? Thế mà cứ bô bô “Năm này, năm kia ta sẽ hiện đại hóa, công nghiệp hóa!”
Còn một điều vô cùng nhức nhối: làm gì cũng nói sẽ vay vốn ODA, cứ vay rồi ai trả? Kinh tế thị trường mà không có vốn. Số nợ này là bao nhiêu? Ai biết?
Nếu chỉ có như trên thì đi một lẽ, nó lại có cái lẽ thứ hai, như rắn thêm chân :
Ở ta thì những người thân quen, con cháu người cầm quyền từ TW đến cấp tỉnh đều núp bóng cha anh để làm ăn. Dân chỉ rõ công ty này là của ai? Công ty kia là của ai? Rồi những người có quyền chức ủng hộ cái này,diệt cái kia vì hối lộ…nền sản xuất bị chết từ trong trứng.
Chưa hết, hiện nay Trung Quốc thâm nhập vào nền kinh tế Việt Nam, thâm nhập bằng cả quyền lực chính trị. Nếu như họ lại có trong tay các nhóm lợi ích hay là các nhóm lợi ích hai bên kết hợp với nhau thì có lẽ nền kinh tế Việt Nam đi đứt.
Việc phân tách kinh tế Việt Nam với các mô thức, chỉ số, công thức xin dành cho các kinh tế gia, chưa chắc các kinh tế gia đã làm được vì lẽ tình hình bị che dấu.
Thiếu nhìn xa trông rộng, không có quy hoạch, thiếu kiến thức, thiếu óc phân tích, không có các biện pháp phù hợp là một phía. Phía khác là nạn tham nhũng tràn lan, cùng với ý thức có quyền hành thì cứ làm, rồi che dấu, xuyên tạc, có thể là nguyên nhân của các nguyên nhân.“
Đối với ngọai bang: Để Trung quốc xâm lăng Kinh tế làm cớ cho xâm lăng Quân sự
Tòan cảnh nổi dậy tại Quốc nội: Dân đòi CÔNG BẰNG Kinh tế để phát triển Đất Nước bền vững và lâu dài.
Nhìn kỹ về những cuộc nổi dậy trước đây ở Đông Aâu từ 1953 đến 1989/91, chúng tôi thấy rằng việc thành công hoặc thất bại của những cuộc nổi dậy tùy thuộc chính yếu vào thái độ đàn áp đến từ Moscou.
Bài học Đông Aâu ấy cho chúng ta đề phòng lệnh đàn áp đến từ Bắc Kinh hay chính Trung quốc cho quân đội và xe tăng vào Việt Nam đàn áp Dân Việt nổi dậy. Nếu Bắc Kinh chỉ ra lệnh cho quân đội hay công an Việt Nam dùng bạo lực đàn áp, thì chúng ta không ngại sợ cho lắm bởi lẽ trong quân đội hay công an có những người không đang tâm giết chính đồng bào ruột thịt của mình và có thể cùng nổi dậy với dân để chống lệnh Trung quốc. Cuộc nổi dậy năm 1980 tại Ba-Lan và cuộc xuống đường năm 1989 tại Bá Linh cho thấy điều đó. Erich Konecker, đồ đệ trung thành của Staline, cũng đã không dám xử dụng quân đội Đông Đức để giết chính người Đức.
Nhưng điều chúng ta ngại sợ hơn cả là chính quân đội và xe tăng Trung quốc tràn vào lãnh thổ Việt Nam để giết người Việt Nam. Trong sự liên đới Đông Nam Á và Thế giới hiện nay, việc Trung quốc tự nhiên cho quân và xe tăng đổ bộ xâm chiếm lãnh thổ Việt không phải là điều dễ làm vì quốc tế kết án. Trung quốc phải tìm ra những cái cớ để biện minh trước những nước trong vùng và trước Thế giới về việc họ xua quân và xe tăng vào Việt Nam.
Việt Nam chắc chắn không mang quân đội và vũ khí sang tấn công lãnh thổ Trung quốc để Trung quốc lấy cớ tràn quân vào Việt Nam. Những cái cớ mà Trung quốc sẽ lấy ra, đó là để đòi NỢ Việt Nam, để bảo vệ sinh mạng NGƯỜI Trung quốc đang sống ở Việt Nam và để bảo tòan TÀI SẢN của Trung quốc đặt để ở lãnh thổ Việt Nam.
=> Đòi NỢ Việt Nam
Trung quốc cho Hoa kỳ vay nợ. Họ trở thành chủ nợ, nhưng đối với con nợ Hoa kỳ, chính chủ nợ Trung quốc lại ngại sợ bởi vì Hoa kỳ có một lực lượng quân đội mạnh có thể vận chuyển nhanh chóng khắp Thế giới. Trung quốc chưa bao giờ viễn chinh và có thể bị tiêu diệt dễ dàng nếu muốn tấn công Hoa kỳ để đòi nợ.
Trường hợp con nợ Việt Nam thì khác. Việt Nam ở gần kề và bị bao vây mọi phía bởi Trung quốc: phía Đông, Tầu đã giữ Biển Đông; phía Tây, Tầu tràn qua Lào và Cao Mên dễ dàng; phía Bắc, Tầu đứng cạnh biên giới sẵn sàng tràn xuống như họ đã làm trong Lịch sử. Trong tình trạng Kinh tế hiện nay, Trung quốc dư vốn cho Việt Nam vay và khi cho Việt Nam vay thì họ không sợ mất vốn. Nhà Nước Việt Nam thiếu hụt ngân qũy và nhờ Trung quốc trợ giúp Tài chánh. Ngân Hàng dành riêng cho người Tầu đã họat động từ 4 năm nay tại Việt Nam. Phần lớn những Dự án ở Việt Nam hiện nay là do vốn Tầu cho vay và dân chúng Việt Nam phải trả góp. Trả nợ không xong, thì Tầu tràn vào đòi nợ.
=> Bảo vệ sinh mạng NGƯỜI TẦU sinh sống tại Việt Nam
Trung quốc cho vay nợ để thực hiện Dự án. Mỗi Dự án là mỗi xuất cảng công nhân Trung quốc sang Việt Nam. Những công nhân này không phải chỉ lấy vợ chồng tại Việt Nam mà ở lại, mà chính họ tìm mọi cách ở lại Việt Việt Nam để lập nghiệp. Những công nhân này sẽ mang gia đình họ từ Trung quốc sang sinh sống tại Việt Nam. Họ sẽ thiết lập những làng, những khu thương mại, những khu kỹ nghệ riêng cho họ. Khi người Tầu lập những China Towns khắp Thế giới, thì việc tiến lên những khu riêng của họ tại Việt Nam, với thái độ sợ sệt của CSVN lúc này, là việc rất dễ dàng và mau chóng. Khi đã sinh sống thành làng, thành khu thương mại, kỹ nghệ rồi, thì khi có cuộc nổi dậy tại Việt Nam, Trung quốc dễ dàng nại ra lý do bảo vệ sinh mạng người của họ để cho quân đội vào bảo vệ.
=> Bảo tòan TÀI SẢN Trung quốc đặt ở Việt Nam
Chúng tôi đã viết bài về chương trình tư nhân hóa hay Trung quốc hóa những Công ty quốc doanh Việt Nam. Người Trung quốc trực tiếp hay qua trung gian những người Tầu sống tại Việt Nam mua đa số cổ phần trong những Công ty này để nắm trọn Sản xuất cũng như Thương mại tại Việt Nam. Việc Trung quốc hóa này nhắm chính yếu vào Thương mại. Thực vậy, khi mà những cơ sở nhập cảng nằm trong tay Trung quốc, thì việc nhập cảng hàng từ Trung quốc để phân phối cho 85 triệu người Việt trở thành tự động. Khi có nổi dậy, Trung quốc có thể lấy lý do bảo tòan tài sản của họ mà cho quân tràn vào.
Tóm lại, Trung quốc không tự dưng tràn quân vào Việt Nam để bị Thế giới kết án. Nhưng họ sẽ nêu ra những lý do bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ mà cho quân vào Việt Nam đàn áp dân chúng nổi dậy.
Hình thành và lớn mạnh của Lực Lượng Công Giáo VN với Tinh thần Đồng Chiêm
Khi mà tình trạng Kinh tế, Xã hội, Chính trị đã chín mùi cần phải thay đổi, thì một là do chính giới Lãnh đạo Nước hiện hành tự ý thức hay là do một Lực Lượng nhân dân nổi dậy buộc giới Lãnh đạo Chính trị phải thay đổi. Tại Việt Nam, đảng CSVN, lãnh đạo Chính trị và Kinh tế quốc gia, một mặt thì như bất lực trong việc quyết định thay đổi, một mặt thì tăng cường đàn áp những thiện ý thay đổi cho tốt hơn.
=> Bất lực trong việc quyết định thay đổi
Những lý do đưa đến bất lực quyết định thay đổi như sau:
* Cố thủ giữ lấy quyền hành mặc dầu ý thức tình trạng tụt dốc Kinh tế, bất công Xã hội và bếp bênh Chính trị;
* Cậy nhờ vào Trung quốc để che chở Chính trị và bây giờ quyền lực che chở của Trung cộng trở thành quá lớn đến chỗ Trung cộng nắm quyền cho phép thay đổi hay không. Những Cố vấn Trung cộng trở thành những người đặt để quyền hành lãnh đạo Việt Nam.
* Các lãnh đạo Chính trị đã đi quá sâu vào vơ vét Kinh tế cho chính mình hay cho họ hàng, thân nhân, nên nếu thay đổi thì lo sợ mất những tài sản riêng đã cướp bóc, ăn hối lộ, tham nhũng mà có.
=> Tăng cường đàn áp những thiện ý thay đổi
Trong tình trạng Kinh tế bóc lột, bất công Xã hội và độc tài Chính trị mà Lãnh đạo Nhà nước bất lực không thay đổi như vừa nói trên đây, thì dân phải lên tiếng bầy tỏ thiện ý thay đổi. Phản ứng của lãnh đạo Nhà Nước là tăng cường đàn áp dưới chiêu bài “ổn định xã hội“, “đòan kết dân tộc“, “chống lại công quyền“, “mưu mô lật đổ nhà nước“, “tay sai thế lực thù địch ngọai lai“.
Lực Lượng Công giáo đã hình thành và lớn mạnh song hành với những tăng cường đàn áp của nhà nước CSVN. Có thể nói rằng mỗi lần CSVN tăng đàn áp là mỗi lần Lực Lượng Công giáo được tăng cường về hiệp thông và ý chí.
An Truyền, với Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ, đã thắp lên ngọn lửa phản kháng đòi CÔNG LÝ. Ngọn lửa ấy lan ra sâu rộng trong giới Công giáo Hải ngọai.
Ngày nay, Lực Lượng Công giáo Quốc nội đã lớn mạnh qua những vụ đàn áp tại Tòa Khâm sứ, Xứ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý. Chính những xuyên tạc của Báo Đài CSVN đã quảng cáo và làm tầm ảnh hưởng của Lực Lượng Công giáo càng lan rộng. Có thể nói rằng Lực Lượng Công giáo đã đứng lên tòan diện tại các Giáo phận Miền Bắc Việt Nam.
Điều quan trọng ở đây là những vụ Tòa Khâm sứ, Xứ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý không còn mang tính cách riêng lẻ nữa mà đã đứng chung lại thành một khối mang những đặc tính chung sau đây:
* Sự can đảm không ngại sợ đàn áp ở mọi nơi giống nhau
* Sự hiệp thông hỗ trợ trở thành tự động và tức khắc khi có một nơi nào bị đàn áp
* Tính cách THƯỜNG XUYÊN phản kháng của cả một khối người
* Thông tin tại Quốc nội đến mọi nơi rất nhanh chóng nhờ dòng Chúa Cứu Thế
Với những đặc tính trên đây, khối Công giáo Quốc nội đã trở thành một LỰC LƯỢNG thực sự với đòan ngũ chặt chẽ, được điều hành bởi các Linh mục và các Nữ tu sống cùng Giáo dân tại hiện trường.
Chúng tôi nhấn mạnh đến tính các THƯỜNG XUYÊN đấu tranh. Mỗi Nhà Thờ, không phải chỉ là nơi cầu nguyện, mà là nơi gặp gỡ, trao đổi thông tin, góp thêm ý kiến và nung nấu ý chí. Về điểm này, các Nhà Thờ nên áp dụng bài học Tôn giáo từ Bức tường Bá Linh qua hai Nhà Thờ đã đóng góp hữu hiệu về sự sụp đổ của Bức tường Cộng sản này.
Hai Nhà Thờ đó là Nhà Thờ GETHSEMANI và Nhà Thờ ST.NICOLAS. Trong năm 1989, cả hai Nhà Thờ là nơi họp lại thường xuyên của những Tín hữu dấn thân trong tinh thần đấu tranh cho những giá trị mà Lương tâm đã được thấm nhuần.
Mở đầu ngày KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH SỤP ĐỔ, buổi sáng sớm 09.11.2009, Bà Thủ tướng Angela MERKEL cùng các quan khách đã đến Nhà Thờ GETHSEMANI để dự Lễ Nghi Tôn Giáo kỷ niệm. Việc khởi đầu Ngày Kỷ Niệm bằng một LỄ NGHI TÔN GIÁO chứng tỏ tầm quan trọng đóng góp của Nhà Thờ này vào sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh.
Nhà Thờ GETHSEMANI do Mục sư Bernd ALBANI chủ trì. Tín hữu đến đây để thường xuyên và định kỳ cầu nguyện cho Hòa Bình. Các buổi cầu nguyện luôn luôn được kết thúc bằng bài ca “DONNA NOBIS PACEM“ XIN CHO CHÚNG TÔI HÒA BÌNH. Gerhard SCHONE là một Ca sĩ rất được biết tới tại Đông Đức. Oâng là người đã thường xuyên đến hát tại Nhà Thờ GETHSEMANI trong những buổi họp cầu nguyện. Ngày nay, hỏi lại Oâng tại sao hồi ấy ông có dịp sang Tây Bá Linh mà ông vẫn ở lại. Oâng trả lời rằng hồi ấy tôi cảm thấy những người đến Nhà Thờ tụ họp đấu tranh cần tiếng hát của tôi để giữ vững tinh thần, nên tôi không ra đi trước được.
Nhà Thờ ST.NICOLAS do Mục sư Christian FUHRER chủ trì. Đến Nhà Thờ này, phần đông là giới trẻ mang tinh thần đấu tranh sôi động hơn. Thường xuyên đến Nhà Thờ này là Nhạc sĩ Matthias KREHER để chơi nhạc trong những cuộc hội họp. Theo Mục sư Christian FUHRER, thì tại Nhà Thờ này đã có những cuộc họp định kỳ mỗi tuần ngày Thứ Hai từ năm 1982 để cầu nguyện đấu tranh cho những giá trị tinh thần. Năm 1989, tháng 10, từ Nhà Thờ, giới Thanh niên đã căng Biểu Ngữ và tiến ra ngòai phạm vi Nhà Thờ để diễn hành. Công an đã can thiệp bằng cách giật và xé Biểu Ngữ. Hành động này của Công an đã được ghi hình và phổ biến trên Truyền Hình Tây Đức. Thế là cả Đông Đức và Tây Đức, dân chúng biết đến việc đàn áp bằng bạo động của Công an. Chính Nhà Nước đã làm tăng thêm Phong trào người dân đứng dậy, kéo càng đông đến Nhà Thờ.
Ngày nay, phỏng vấn những nhân viên STASI về hai Nhà Thờ, họ đều công nhận đã được lệnh kiểm sóat, lấy hình, thâu phim những nhóm đến hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS. Điều làm họ ngạc nhiên là họ hiểu Tín hữu biết rõ có việc kiểm sóat, thu hình của STASI, nhưng những người đến hai Nhà Thờ dường như không sợ hãi gì và đến Nhà Thờ như một nhu cầu để biết thông tin và truyền thông cho nhau tâm tình và ý chí đấu tranh.
=> Đồng Chiêm: CSVN vấp phạm ngu xuẩn làm Dân không còn sợ chết
Tại Tòa Khâm sứ, tại Xứ Thái Hà, CSVN có thể lấy ra vấn đề Đất đai để hạ thấp ý tưởng đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Tại Tam Tòa, CSVN cũng nại ra vấn đề di tích Chiến tranh. Nhưng tại Đồng Chiêm, không có vấn đề đất đai hay di tích chiến tranh mà CSVN đã bạo hành đánh đập Giáo dân, nhất là đàn bà.
Tại Đồng Chiêm, CSVN đã phạm một sai lầm rất lớn, đó là động chạm đến THÁNH GIÁ, biểu tượng hữu hình của ĐỨC TIN THIÊN CHÚA GIÁO. Thực vậy, trung tâm điểm của Đức Tin Thiên Chúa Giáo là cây Thánh Giá.
Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể và đã chịu chết trên cây THÁNH GIÁ để cứu Nhân lọai. Đó là trung tâm của Đức Tin vào sự Cứu Rỗi mà mọi người theo Thiên Chúa Giáo nhìn vào đó để hành đạo. Thập tự giá thời Đế quốc La Mã là một hình phạt cho những người bị kết án tử hình. Chúa Giêsu đã biến thập tự giá hình phạt mà ai cũng sợ hãi thời La Mã thành cây THÁNH GIÁ biểu tượng tình Thương yêu cứu rỗi Nhân Lọai. Cây THÁNH GIÁ được kính trọng bởi mọi Tín đồ Thiên Chúa Giáo: Công Giáo, Chính Thống Giáo, Tin Lành cũng như Anh Giáo.
Ngòai việc cây THÁNH GIÁ biểu tượng hữu hình cho Đức Tin, cây THÁNH GIÁ còn là phương tiện mà Chúa Giêsu thiết lập Vương quyền. Năm 1925, Đức Giáo Hòang PIO XI đã tuyên bố LỄ CHÚA GIÊSU VUA, Vương quyền trên THÁNH GIÁ. Thánh Bộ Phụng Tự đã trích Phúc Aâm Thánh Gioan (Jn 18, 33-37), theo đó Vương quyền của Ngài được tuyên xưng trong mùa Phục Sinh và kết thúc trên cây THÁNH GIÁ. Philato đã cho viết tấm bảng INRI (Giêsu Nazaret, Vua dân Do Thái) đóng trên cây THÁNH GIÁ.
Phạm đến cây THÁNH GIÁ là phạm vào sự thánh, vào ĐỨC TIN GIÁO DÂN, vào VƯƠNG QUYỀN CHÚA GIÊSU. Ngay thời Vua, Chúa cấm đạo, các Vua, Chúa cũng đã hiểu ý nghĩa phạm sự thánh này. Các Vua Chúa chỉ yêu cầu Tín hữu bước qua cây THÁNH GIÁ, là được tha chết. Giáo dân biết rằng bước qua cây THÁNH GIÁ là chối bỏ ĐỨC TIN.
Tại Dồng Chiêm, CSVN đập phá cây THÁNH GIÁ, tức là mạ lỵ chính ĐỨC TIN người Thiên Chúa Giáo. Biến cố Đồng Chiêm càng làm tăng LỰC LƯỢNG đấu tranh của khối Công Giáo đến chỗ không còn sợ tra tấn đánh đập, thậm chí không sợ chết để theo gương các Thánh Tử Đạo trong quá khứ.
CSVN leo thang những đàn áp, tăng những kết án tù tội và đập phá Thánh Giá Đồng Chiêm một cách mù quáng. Đây chỉ là phản ứng của những kẻ sợ sệt trước viễn tượng nổi dậy tòan diện của Dân để chấm dứt một CƠ CHẾ đầy BẤT CÔNG đã đến lúc chín mùi phải chấm dứt. Việc đập phá Thánh Giá Đồng Chiêm chứng tỏ sự sợ hãi đến mù quáng trước Lực Lượng càng ngày càng lớn mạnh của Công Giáo.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 11.02.2010 | | | |
ĐÃ ĐẾN LÚC ÁP DỤNG HAI BÀI HỌC BỨC TƯỜNG BÁ LINH CHO CSVN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 10.12.2009
Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.
Chúng tôi thấy hai Bài học sau đây rất đúng cho Việt Nam ở thời điểm này:
=> Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO
Thái độ tích cực yểm trợ của Giáo Hòang Gioan-Phalô II cho CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT tại Ba Lan được coi là yếu tố tiên phong gián tiếp cho tranh đấu đánh sập Bức tường Bá Linh. Hai Nhà Thờ tại Đông Bá Linh là nơi quy tụ cầu nguyện đấu tranh trực tiếp cho sụp đổ Bức tường năm 1989.
Tại Việt Nam lúc này, cao trào đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH đã đứng lên mạnh tại Hà Nội (Tòa Khâm sứ và Xứ Thái Hà), tại Vinh (Tam Tòa). CSVN đang sợ hãi sự lớn mạnh này.
=> Bài học 2: TỪ TÌNH TRẠNG KINH TẾ KIỆT QUỆ ĐẾN THA HÓA XÃ HỘI
Tình trạng Kinh tế tồi tệ đưa đến Tha hóa Xã hội tại Nga vào những năm 1985 khi GORBATCHEV lên nắm quyền đã đến lúc chín mùi, là một định mệnh cho sụp đổ của Chế độ Cộng sản. Tuyên bố GLASNOST và PERESTROIKA của GORBATCHEV như cải cách mong níu lại hình thức một chế độ đã đưa đến hậu quả Kinh tế tồi tệ và Xã hội tha hóa cực điểm cũng không thể tránh được sụp đổ đến như một định mệnh. Nga không còn đủ sức can thiệp vào những nổi dậy của các nước Đông Aâu nữa và đây là chìa khóa cho sụp đổ Bức tường Bá Linh cũng như các nước Đông Aâu chỉ trong vòng hơn một năm.
Tại Việt Nam, trong thời điểm này, Luật sư TRẦN LÂM, , nguyên Thẩm phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm, đã viết một bài dài dưới đầu đề “SỰ THAY ĐỔI ĐÃ ĐẾN GẦN“, tả ra tình trạng yếu kém Kinh tế, tệ nạn tha hóa Xã hội để Luật sư dám nói rằng sự thay đổi đã đến gần. Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.” Tình trạng tham nhũng lan tràn này ở Việt Nam giống như ở thời kỳ Gorbatchev phải than rằng tham nhũng của công chức đến chỗ nhận một ly rượu Vodka.
Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 12.11.2009
Đức Tin Tôn Giáo, nơi tụ họp cầu nguyện và sự cứng rắn của Giáo quyền thực sự đã góp phần rất lớn trong việc làm sụp đổ Cộng sản trong những năm 1989-91. Những đóng góp này hòan tòan thuộc phạm vi bổn phận Công dân trước những độc ác tội lỗi đang chồng chất lên xã hội, cho những người sống quanh mình và cho chính bản thân mình. Đây là vấn đề tự vệ cho mình và hợp tác với những người đồng cảnh ngộ để tự vệ tập thể cho có hiệu lực hơn. Đây không phải là việc làm Chính trị mà là quyền tự vệ cho cuộc sống.
Cuộc đấu tranh của Công đòan ĐÒAN KẾT Ba-Lan
Hai khách mời quan trọng hơn cả trong Lễ kỷ niệm 20 năm Bức tường Bá Linh là GORBATCHEV và WALESA, luôn luôn cùng đi bên cạnh với Bà MERKEL. Oâng Lech WALESA được coi là tiên phong đóng góp làm sụp đổ chế độ Cộng sản. Chính vì vậy cuộc Lễ Kỷ Niệm đã dành cho Oâng vinh dự đẩy Domino đầu tiên làm sụp đổ Bức tường tượng trưng bằng 1'000 chiếc Dominos. Oâng và Công đòan ĐÒAN KẾT mang một Đức Tin Công giáo vững mạnh luôn được cổ võ công khai bởi chính Đức Giáo Hòang Gioan-Phaolô II. Khi thăm Ba Lan và gặp gỡ WALESA cũng như Công Đòan, Đức Giáo Hòang thẳng thắn khuyên mọi người:“Các con đừng sợ và hãy can đảm tiến tới“. Tờ LE MONDE thứ Ba 10.11.2009 đã bình luận:“Jean-Paul II, une participation active et heroique à la lutte“ (Gioan-Phaolô II, một sự tham dự tích cực và anh hùng cho cuộc đấu tranh). Ngày 22.01.2002, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, qua 26 Giám Mục Việt Nam trước mặt Ngài tại Vatican, đã gửi cũng những lời cổ võ “đừng sợ hãi nữa“, “hãy can đảm đứng lên tiến ra khơi“ đến tất cả các Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và tòan Giáo dân Việt Nam. Đây là lời cổ võ chính đáng cho sự thiện. Nếu lúc này, vì những mưu mô xảo quyệt trao đổi ngọai giao trần thế của CSVN, mà Đức Giáo Hòang đương kim hay một Hồng Y nào ở Vatican tìm cách làm nhụt chí đấu tranh của Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và Giáo dân Việt Nam, thì đó là việc làm giảm Đức Tin Tôn Giáo và đánh lạc hướng Lương tâm của Tín hữu, nếu không muốn kết luận rằng đây là việc chủ mưu tòng phạm với quân Pharisiêu CSVN nhằm tiếp tục gây tội ác không những cho Giáo dân VN nói riêng mà còn cả cho Dân tộc VN nói chung.
Tinh thần Tôn Giáo nơi GORBATCHEV
Trong thời gian học Đại học Luật tại Mạc Tư Khoa, Gorbatchev luôn luôn chơi thân với một người bạn đến học từ Prague, tên là MLYNAR, cùng học Luật. Vợ của người bạn này là bạn gái cùng phòng với RAISSA. Chính vì mối quan hệ này mà RAISSA trở thành vợ của GORBATCHEV. Khi học xong tại Mạc Tư Khoa, MLYNAR trở về Prague và vào được Bộ Chính trị. Nhưng sau này Oâng theo Phong trào Mùa Xuân Prague và bị mất chức. MLYNAR đã viết về tinh thần Tôn giáo (Chính thống giáo) của Gia đình Gorbatchev. Oâng nội và cha của Gorbatchev âm thầm sùng đạo, mặc dầu cũng là những người theo STALINE. Thời Staline rất khắt khe và nguy hiểm về Tôn giáo. Nhưng theo tiết lộ của Gorbatchev cho bạn của mình, thì Gia đình đã dấu Hình Đức Mẹ ở đàng sau hình của Staline để lén lút cầu nguyện. Tinh thần Tôn giáo của Gia đình đã ảnh hưởng lên tinh thần của Gorbatchev. (Tài liệu: MIKHAIL S.GORBATCHEV by David Kings, Xuất bản Time Incorporated N.York 1988).
Hai Nhà Thờ tại Bá Linh: Nơi tụ họp thường xuyên đấu tranh
Hai Nhà Thờ đó là Nhà Thờ GETHSEMANI và Nhà Thờ ST.NICOLAS. Trong năm 1989, cả hai Nhà Thờ là nơi họp lại thường xuyên của những Tín hữu dấn thân trong tinh thần đấu tranh cho những giá trị mà Lương tâm đã được thấm nhuần.
Mở đầu ngày KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH SỤP ĐỔ, buổi sáng sớm 09.11.2009, Bà Thủ tướng Angela MERKEL cùng các quan khách đã đến Nhà Thờ GETHSEMANI để dự Lễ Nghi Tôn Giáo kỷ niệm. Việc khởi đầu Ngày Kỷ Niệm bằng một LỄ NGHI TÔN GIÁO chứng tỏ tầm quan trọng đóng góp của Nhà Thờ này vào sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh.
Nhà Thờ GETHSEMANI do Mục sư Bernd ALBANI chủ trì. Tín hữu đến đây để thường xuyên và định kỳ cầu nguyện cho Hòa Bình. Các buổi cầu nguyện luôn luôn được kết thúc bằng bài ca “DONNA NOBIS PACEM“ XIN CHO CHÚNG TÔI HÒA BÌNH. Gerhard SCHONE là một Ca sĩ rất được biết tới tại Đông Đức. Oâng là người đã thường xuyên đến hát tại Nhà Thờ GETHSEMANI trong những buổi họp cầu nguyện. Ngày nay, hỏi lại Oâng tại sao hồi ấy ông có dịp sang Tây Bá Linh mà ông vẫn ở lại. Oâng trả lời rằng hồi ấy tôi cảm thấy những người đến Nhà Thờ tụ họp đấu tranh cần tiếng hát của tôi để giữ vững tinh thần, nên tôi không ra đi trước được.
Nhà Thờ ST.NICOLAS do Mục sư Christian FUHRER chủ trì. Đến Nhà Thờ này, phần đông là giới trẻ mang tinh thần đấu tranh sôi động hơn. Thường xuyên đến Nhà Thờ này là Nhạc sĩ Matthias KREHER để chơi nhạc trong những cuộc hội họp. Theo Mục sư Christian FUHRER, thì tại Nhà Thờ này đã có những cuộc họp định kỳ mỗi tuần ngày Thứ Hai từ năm 1982 để cầu nguyện đấu tranh cho những giá trị tinh thần. Năm 1989, tháng 10, từ Nhà Thờ, giới Thanh niên đã căng Biểu Ngữ và tiến ra ngòai phạm vi Nhà Thờ để diễn hành. Công an đã can thiệp bằng cách giật và xé Biểu Ngữ. Hành động này của Công an đã được ghi hình và phổ biến trên Truyền Hình Tây Đức. Thế là cả Đông Đức và Tây Đức, dân chúng biết đến việc đàn áp bằng bạo động của Công an. Chính Nhà Nước đã làm tăng thêm Phong trào người dân đứng dậy, kéo càng đông đến Nhà Thờ.
Ngày nay, phỏng vấn những nhân viên STASI về hai Nhà Thờ, họ đều công nhận đã được lệnh kiểm sóat, lấy hình, thâu phim những nhóm đến hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS. Điều làm họ ngạc nhiên là họ hiểu Tín hữu biết rõ có việc kiểm sóat, thu hình của STASI, nhưng những người đến hai Nhà Thờ dường như không sợ hãi gì và đến Nhà Thờ như một nhu cầu để biết thông tin và truyền thông cho nhau tâm tình và ý chí đấu tranh.
Tại Việt Nam ngày nay, chúng ta nghĩ đến những cuộc tụ họp cầu nguyện tại Khuôn viên Tòa Khâm sứ, tại Thái Hà, tại Tam Tòa. Những Tín hữu đến cầu nguyện bị đe dọa, bị thâu hình, bị đàn áp bằng võ lực thực sự của Công an. Nhưng Tín hữu đã không sợ hãi, kéo đến mỗi ngày mỗi đông. Phong trào Hiệp Thông cầu nguyện mỗi ngày mỗi lan rộng. Đây là những cuộc tụ họp đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH rất chính đáng. Hồng Y Quốc Vụ Khanh từ Vatican đã một lần can thiệp và bị quân Pharisiêu CSVN phản bội. Đây là một việc can thiệp lỗi lầm. Quân Pharisiêu CSVN còn đang muốn gian giảo tìm cách trao đổi ngọai giao trần thế với Vatican để nhằm phá đổ ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM cho sự thiện của Công giáo Việt Nam. Vatican không thể để mình bị lừa gạt nữa.
Bài học 2: TỪ TÌNH TRẠNG KINH TẾ KIỆT QUỆ ĐẾN THA HÓA XÃ HỘI Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 19.11.2009
Khi nói lý do KINH TẾ là ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ Cộng sản Nga, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hai khía cạnh:
* Một số những bài viết nói đến lý do dân chúng đấu tranh cho Tự do, Dân chủ như là yếu tố chính làm sụp đổ chế độ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Đối với quan điểm của chúng tôi, cái nhìn đưa về tình trạng KINH TẾ tồi tệ, một thất bại của chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy, là lý do căn bản đạp đổ Cộng sản.
* Việc sụp đổ Cộng sản là một ĐỊNH MỆNH, nghĩa là đây không phải là ý chí cải cách của chính cá nhân GORBATCHEV. Nó là Định Mệnh phải xẩy ra, cho dù chính Gorbatchev muốn cản cũng không được.
Tình trạng Kinh tế tồi tàn của Nga Khi GORBATCHEV lên nắm quyền
Những tài liệu mà chúng tôi lấy để viết bài học này là từ cuốn MIKHAIL S.GORBATCHEV do Tác giả David KINGS, xuất bản năm 1988 do Time Incorporated N.York, được dịch ra Pháp ngữ dưới tựa đề MIKHAIL GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME.
Gorbatchev sinh ngày 02 tháng 3 năm 1931 tại làng nhỏ Privolnoie thuộc vùng Stavropol, một vùng nông nghiệp phía Nam Liên xô. Học hành thời nhỏ không có gì xuất sắc, nhưng nhờ tận tâm họat động trong đòan Thanh niên Cộng sản, nên ông được khen thưởng và được giới thiệu lên Mạc Tư Khoa học Đại học. Oâng muốn học ngành Kỷ thuật Vật lý, nhưng vì yếu môn Tóan, nên buộc phải được chỉ định học Đại học Luật. Đây là Đại học ít Sinh viên nhất vì Luật pháp dưới thời Staline không có ý nghĩa gì. Xong Đại học Luật, Oâng trở về tỉnh và trở thành Bí thư đảng của tỉnh. Sau 20 năm chỉ ở tỉnh đồng quê canh nông này, tên ông được lưu ý đến và được gọi về Thủ đô Mạc Tư Khoa. Việc thăng tiến tới chức vụ lớn nhất trong đảng Cộng sản Nga cũng không phải là do công lao của ông, mà chỉ là sự run rủi ngẫu nhiên của thời thế mà chính ông không chủ động. Thực vậy, thuộc Tỉnh ông, có những suối nước nóng, nơi mà các Lãnh tụ già yếu, mang phong thấp đau mình nhức xương của đảng đến vùng đó tắm chữa bệnh. Từ đó, những Lãnh tụ già yếu này biết đến tên ông và sau này nhớ lại sự chăm sóc chữa bệnh của ông mà gọi ông về Mạc Tư Khoa.
Sau khi Brejnev chết, cánh Lãnh tụ già nối nhau đứng đầu đảng. Vì già, Andropov cũng chỉ được 18 tháng thì chết. Một ông già khác Tchernenko cũng chỉ nắm quyền đảng được mấy tháng thì chết. Trong Bộ Chính trị, chỉ có Gorbatchev là còn sung sức, nhờ tuổi trẻ và nhờ không uống Vodka. Có những Lãnh tụ già phải nhờ vịn vào vai của Gorbatchev mới có thể đi tham dự đám táng nhau được.
Sau cái chết của Tchernenko, Đảng Cộng sản Nga thấy rằng không thể chọn các cụ già gần đất xa trời lên đứng đầu đảng để vừa tổ chức đăng quang quyền hành xong, đã phải nghĩ đến tổ chức đám táng. Các cụ quyết định chọn một người trẻ để đỡ phải lập bập đọc những điếu văn liên hồi. Mikhail GORBATCHEV được chọn lên nắm quyền từ năm 1985.
Khi lên nắm quyền, Gorbatchev đứng trước một tình trạng xã hội hòan tòan đồi tệ, một tình trạng Kinh tế của đế quốc vô sản hòan tòan thiếu thốn thực sự. Theo Lý thuyết của Mác-Lê, thì tình trạng vô sản này như một ĐỊNH MỆNH phải đứng lên làm Cách Mạng nữa.
Oâng Andrei GRETCHEV, cố vấn Chính trị của Gorbatchev đã phải tuyên bố rằng tình trạng suy thóai tận cùng Kinh tế, sự đồi trụy của xã hội và tình trạng ươn hèn của đảng viên đã buộc Gorbatchev phải phất cờ trắng xin hàng với Thế giới Tự do trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Hậu quả tàn khốc của vụ Chernobyl lan tràn. Chiến tranh tốn kém tại Afghanistan không thể chịu đựng được nữa. Nga không những không còn sức chạy đua binh bị, không còn phương tiện giữ 500'000 lính canh chừng chế độ tại những nước chư hầu Đông Aâu và không thể tài trợ để giữ những cơ sở Ngọai giao và nuôi những nhân viên vừa ngọai giao vừa gián điệp khắp Thế giới.
Giới công nhân trong guồng máy Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã lưu truyền câu nói:“Ils font semblant de nous payer, on fait semblant de travailler“ (Chúng (nhà nước) làm giống như trả tiền lương, người ta cũng làm giống như có làm việc), nghĩa là họ không trả tiền thì mình cũng không làm việc. David KINGS, trong cuốn sách trích dẫn trên đây, đã tả tình trạng bại họai của những công chức nhà nước như sau: Tất cả mọi người, từ ngưới gác cổng đến Bộ trưởng, đều phải ăn hối lộ nhỏ lớn. Ngay cả những Huy chương cũng đem ra đổi lấy một lượng xúc xích (saucisses) để ăn. (Même les décorations de guerre pouvaient s’échanger contre la quantité de saucisses (Ngay cả những Huy chương chiến chanh cũng có thể đem ra đổi lấy một số lượng xúc xích để ăn) (Sách đã trích dẫn MIKHAIL GORBATCHEV, trang 154)
Tình trạng thê thảm Kinh tế này cảng đẩy mạnh mọi người vào say sưa Vodka, vào ma túy, vào ly dị, đĩ điếm. Một câu khuyên rằng nếu muốn kêu thợ đến sửa điện, thì đừng kêu họ đến lúc sau trưa vì họ có thể làm cháy nhà vì đã say khướt rượu từ buổi sáng rồi.
Sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, chính bản thân tôi đã sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến tận mắt cảnh nghèo khó Kinh tế của Thủ đô quyền lực độc tài này. Tôi đã đến và ăn Phở trong chính Đôm 5 cũ, Tòa nhà Viện Hàn Lâm Khoa học, ngày nay vì nghèo quá, những phòng được phá thủng để bán chạp phô, mở tiệm phở. Tôi đã thăm Đôm 5 mới, tại đây tôi đã được ăn thịt chó (chó Berger KGB) lần đầu tiên từ khi rời Việt Nam năm 1965. Tôi đã có một Huy chương Lénine mang số rất nhỏ 2530, nghĩa là gần kề với Lénine bằng cách đổi chác kiểu saucisses như trên. Việt Nam có 3 Huy chương Lénine: Hồ Chí Minh, Lê Duẫn và Nguyễn Phúc Liên. Số Huy chương của tôi nhỏ, như vậy chắc Huy chương của tôi cao hơn Hồ Chí Minh.
Tình trạng tồi tàn Kinh tế, bại họai xã hội, hòan tòan xười ra của cán bộ và tham nhũng đến những hớp Vodka là một ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ chế độ. Tình trạng giống như trái cây đã chín rữa và sắp tự động rơi xuống đất để thối ra. Nếu lấy dây cột treo nó vào cành, thì may ra nó chưa rụng ngay. Cuộc Cải Cách mà GORBATCHEV tuyên bố chỉ là tìm những sợi dây hy vọng cột lại phần nào cho trái cây chín rũa sắp rơi khỏi cành.
Tuyên bố Cải Cách của GORBATCHEV
Cuộc Cải Cách của Gorbatchev được tóm tắt vào hai chữ GLASNOST và PERESTROIKA
GLASNOST có nghĩa là làm trong sáng, làm thông rõ. Ơû một tình trạng mà cả một hệ thống cán bộ đảng nghiện ngập, say rượu, ăn hối lộ bất cứ cái gì, rồi làm lỗi và bưng bít từ dưới lên trên, chính Gorbatchev cũng không biết đâu là sự thật để mà điều hành. Vậy, phải hô hào làm trong sáng trước tiên trong nội bộ đảng để mới có thể điều hành.
Đối với những cơ quan truyền thông, GLASNOST bao gồm những biện pháp làm nhẹ đi những kềm kẹp làm mất tự do ngôn luận, nhất là về nghệ thuật và thông tin xã hội.
Trong bài Diễn Văn chủ yếu của Gorbatchev ngày 25.06.1987, Gorbatchev đã nêu ra 5 nguyên tắc của PERESTROIKA như sau (Sách đã trích dẫn GORBATCHEV, trang 229):
1) Cho những người đứng đầu Công ty một số quyền độc lập: định hàng sản xuất, định giá bán và định lương thợ theo hiệu năng làm việc.
2) Chuyển việc chỉ huy trung ương tập quyền Kinh tế về những Cơ quan địa phương của đảng.
3) Nới rộng việc chương trình hóa, việc định giá và việc phân phối tiền tệ và tín dụng.
4) Áp dụng những nghiên cứu khoa học vào việc nâng cấp phẩm chất hàng hóa.
5) Chuyển phương pháp quản trị theo hành chánh sang phương pháp quản trị theo chỉ tiêu kinh tế; khai triển việc tự quản trị; nâng cấp thu nhập cá nhân; phân quyền rõ rệt giữa điều hành Chính trị và quản trị Kinh tế.
Tuyên bố 5 nguyên tắc như trên, việc Cải Cách PERESTROIKA là việc, một mặt bỏ dần hệ thống Kinh tế trung ương tập quyền và chỉ huy tòan diện đã làm tàn lụi Kinh tế Nga, một mặt tiến dần đến một nền Kinh tế tôn trọng sáng kiến cá nhân mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường luôn luôn chủ trương. Gorbatchev đã nhìn nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường mới có hy vọng giải quyết được tình trạng Kinh tế tàn lụi của Nga lúc bấy giờ.
PERESTROIKA là một chủ trương cải cách Kinh tế để mong cứu vãn nước Nga. Cũng trong tình trạng tàn lụi Kinh tế này, mà Nga không còn khả năng đảm nhận những chi tiêu cho đối ngọai đúng như lời mà có vấn Chính trị Andrei GRETCHEV đã tuyên bố. Oâng giương cờ hàng thua đối với Chiến tranh Lạnh, giảm thiểu vũ khí, giải ngũ 500'000 lính, thóat ra khỏi cuộc chiến tranh Afghanistan, để tự do cho những nước chư hầu Đông Aâu tự giải quyết nội bộ của mình. Những cuộc nổi dậy đấu tranh của các nước Đông Aâu xẩy ra ra và đi đến thành công nhanh chóng trong hòan cảnh này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 10.12.2009 | | | |
RÚT RA TỪ KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH: Bài học 3:
THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG CUỘC NỔI DẬY TẠI ĐÔNG ÂU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 28.01.2010
Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.
=> Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO
=> Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN
=> Bài học 3: THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG CUỘC NỔI DẬY TẠI ĐÔNG ÂU
Ngày 12.11.2009, chúng tôi đã viết Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO. Đức Tin Tôn Giáo, nơi tụ họp cầu nguyện và sự cứng rắn của Giáo quyền thực sự đã góp phần rất lớn trong việc làm sụp đổ Cộng sản trong những năm 1989-91. Những đóng góp này hòan tòan thuộc phạm vi bổn phận Công dân trước những độc ác tội lỗi đang chồng chất lên xã hội, cho những người sống quanh mình và cho chính bản thân mình. Đây là vấn đề tự vệ cho mình và hợp tác với những người đồng cảnh ngộ để tự vệ tập thể cho có hiệu lực hơn. Đây không phải là việc làm Chính trị mà là quyền tự vệ cho cuộc sống.
Ngày 19.11.2009, chúng tôi viết Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN không phải cho riêng Nga mà cho cả các nước chư hầu Đông Aâu. Phá Tôn Giáo, phá đời sống tinh thần và chỉ tôn vinh vật chất, thì khi Kinh tế (vật chất) tồi tàn, con người Cộng sản trở thành tha hóa, cá nhân sống với những tranh giành miếng ăn không còn tôn trọng danh dự và công lý. Tình trạng Kinh tế và tha hóa Xã hội như vậy trở thành Định Mệnh sụp đổ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Khi nói ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ Cộng sản, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hai khía cạnh:
* Một số những bài viết nói đến lý do dân chúng đấu tranh cho Tự do, Dân chủ như là yếu tố chính làm sụp đổ chế độ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Đối với quan điểm của chúng tôi, cái nhìn đưa về tình trạng KINH TẾ tồi tệ, một thất bại của chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy, là lý do căn bản đạp đổ Cộng sản.
* Việc sụp đổ Cộng sản là một ĐỊNH MỆNH, nghĩa là đây không phải là ý chí cải cách của chính cá nhân GORBATCHEV tại Nga và kéo theo Đông Âu. Nó là Định Mệnh phải xẩy ra, cho dù chính Gorbatchev muốn cản cũng không được.
Hai Bài học trên đây đang diễn ra tại Việt Nam. Lực Lượng Tôn Giáo, đặc biệt là Công Giáo, lớn mạnh. Tinh thần đấu tranh của Lực Lượng Công Giáo càng ngày càng trở thành cương quyết do chính những đàn áp vô lý của CSVN tạo nên. Kinh tế Việt Nam là sự bóc lột sức lao động của dân, là sự cướp bóc tài sản quốc gia cho túi riêng của nhóm Mafia CSVN. Độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế của nhóm đảng Mafia làm Tham nhũng, Hối lộ tràn lan. Xã hội sống trong tha hóa, bất công.
Hôm nay, 28.01.2009, chúng tôi viết Bài học 3: THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG CUỘC NỔI DẬY TẠI ĐÔNG ÂU. Không phải chỉ có những cuộc NỔI DẬY của Dân chúng chống Cộng sản vào những năm 1989-1991, mà từ năm 1953 đã có những cuộc nổi dậy. Nếu những cuộc nổi dậy trước những năm 1989-1991, mặc dầu rất kiên cường nhưng không mang lại thành công, thì phải có những lý do của hòan cảnh khác với tình hình Nga và Đông Aâu ở thời điểm 1989-1991. Bài học này muốn nhìn những lý do THẤT BẠI hay THÀNH CÔNG của những cuộc nổi dậy ở Đông Aâu để có thể áp dụng cho việc nổi dậy tại Việt Nam hiện nay.
Chúng tôi viết những khía cạnh sau đây:
=> Những cuộc nổi dậy và thất bại => Những cuộc nổi dậy và thành công => Kinh nghiệm cho cuộc nổi dậy tại Việt Nam
Những cuộc nổi dậy và thất bại
Sau Thế Chiến II, hai Khối Cộng sản và Khối Tự do thành hình, bắt đầu từ những tranh chấp tại Bá Linh do Staline chủ xướng. Năm 1947, Chương trình Marshall với USD.173 tỉ bắt đầu tái thiết Aâu châu hậu chiến. Staline tìm mọi cách để ngăn cản Đông Bá Linh và các nước chư hầu Đông Aâu đứng ngòai tầm ảnh hưởng của đồng Đo-la do Chương trình này. Năm 1948, Staline phong tỏa Đông Bá Linh nằm trong lãnh thổ Đông Đức, cấm những đường bộ chuyển vận lương thực cho Bá Linh mà chính Đồng Minh Mỹ, Anh, Pháp cùng điều hành với Nga. Đây là việc bắt chẹt Mỹ, Anh, Pháp phải bỏ Bá Linh. Nhưng Đồng Minh đã thiết lập ngay năm 1949 Cầu Không Vận và vẫn giữ Tây Bá Linh.
1. Cuộc nổi dậy của Công nhân Đức năm 1953
Tây Bá Linh được xây dựng. Tây Đức phát triển Kinh tế. Đông Đức dưới quyền của Erich Honecker, một đồ đệ trung thành của Staline, đẩy mạnh kỹ nghệ nặng nhằm phục vụ cho kỹ nghệ võ khí của Nga. Phong trào nêu danh anh hùng công nhân sản xuất được phát động khắp nước. Công nhân bắt đầu thấy mình làm việc quá cực nhọc, chỉ nhận được khẩu phần ăn uống, không có nghiệp đòan bảo vệ. Khối công nhân xây cất chỉ thấy công việc xây những cơ sở cho đảng, mà chính nhà ở của họ tồi tàn, nhất là sau chiến tranh. Tình trạng này đã đưa đến cuộc nổi dậy của Công nhân, bắt đầu từ khối Công nhân xây cất.
Staline chết tháng Ba năm 1953. Nikita KHROUCHTCHEV lên nắm quyền.
Ngày 16.06.1953, Công nhân xây cất đình công. Phong trào lan tràn ra tới 278 nhóm công nhân, không phải chỉ là công nhân xây cất mà còn cả những công nhân thuộc kỹ nghệ năng. Từ đình công, thợ thuyền xuống đường biểu tình và đi đập phá những cơ sở của đảng Cộng sản.
Liền ngày hôm sau, 17.06.1953, Khrouchtchev ra lệnh cho xe tăng của Hồng Quân bắn xả vào những đòan biểu tình. Cuộc đàn áp làm cho 300 nhân công thiệt mạng. Honecker xử dụng Stasi bắt 20’000 người. Oâng cũng ra lệnh xử tử 200 công nhân được coi là những người thúc đẩy và điều hành cuộc nổi dậy.
Cuộc nổi dậy của Công nhân Đức năm 1953 thất bại do chính lệnh đàn áp khát máu của Moscou.
2) Cuộc nổi dậy của Dân chúng Hung Gia Lợi năm 1956
Thành phố Budapest và Dân chúng Hung Gia Lợi nổi dậy vào tháng Mười năm 1956 để chống lại đảng Cộng sản đã độc tài đưa Hung Gia Lợi làm chư hầu cho Nga. Dân chúng chỉ làm việc phục vụ cho Đế quốc Cộng sản Nga, trong khi ấy đời sống dân chúng, sau hơn 10 năm chấm dứt Thế Chiến, vẫn trong tình trạng tồi tệ, nghèo nàn. Cuộc nổi dậy của Hung Gia Lợi đòi hỏi Độc Lập cho quốc gia đối với Nga.
Do lệnh của Khrouchtchev từ Moscou, hơn 200 xe tăng của Hồng Quân đã tràn vào Budapest, tàn sát những đòan Dân chúng xuống đường. Trong một thời gian, những nhóm dân chúng, từ những cửa sổ của các nhà ở đường phố đã kháng chiến chống lại xe tăng, nhưng vô hiệu.
Khrouchtchev không thể để cho dân chúng từ bất cứ quốc gia chư hầu nào chống lại quyền lực Cộng sản từ Moscou.
Cuộc nổi dậy của dân chúng Hung Gia Lợi năm 1956 thất bại do sự cứng rắn đàn áp của Moscou. Hai cuộc nổi dậy 1953 tại Đức và 1956 tại Hung Gia Lợi càng làm cho Khrouchtchev tăng cường chiến tranh lạnh, nhất là tại Bá Linh.
Năm 1961, trong cuộc gặp tại Vienne (Aùo) giữa Khrouchtchev và Kennedy, Khrouchtchev đã tuyên bố với Kennedy rằng Nga sẵn sàng một cuộc chiến tranh nguyên tử về vấn đề Bá Linh. Nhưng tháng Mười năm 1961, Bức tường Bá Linh đã được thi hành với lệnh của Moscou. Việc xây Bức tường Bá Linh làm cho Kennedy nhẹ nhõm đối với đe dọa chiến tranh nguyên tử của Khrouchtchev. Theo Kennedy, xây Bức tường Bá Linh có nghĩa là Khrouchtchev thế thủ cho Khối Cộng sản chứ không tấn công nữa theo như thách thức tại Vienne.
3) Mùa Xuân tại Prague (Tiệp Khắc) năm 1968
Năm 1968 làm năm nổi dậy của giới trẻ khắp nơi. Paris 1968: sinh viên xuống đường.
Alexander DUBCEK, Bí thư đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ tháng Giêng năm 1968. Oâng chủ trương Mùa Xuân Tại Prague nhằm cởi mở Chế độ và thóat dần tầm ảnh hưởng khống chế của Moscou. Đây không phải là cuộc nổi dậy bột phát từ dân chúng, nhưng là từ một đảng Cộng sản muốn nới rộng Chế độ để có thêm Tự do, Dân chủ và Nhân quyền.
Năm 1964, Khrouchtchev buộc phải từ chức và Leonid BREJNEV lên thay.
Nhưng Mùa Xuân tại Prague 1968 cũng bị lệnh của Moscou đàn áp. Brejnev cho lệnh xe tăng của Lực Lượng Phòng Thủ Pacte de Varsovie tràn vào Tiệp Khắc. Dubcek bị lọai khỏi đảng Cộng sản Tiệp.
Alexander DUBCEK, năm 1968, có thể nói là một nhà Cải Cách đi trước Mikhail GORBATCHEV 17 năm, 1985, với Perestroika. Nếu Mùa Xuân tại Prague xẩy ra vào thời Perestroika của Gorbatchev thì có lẽ nó đã thành công, chứ không bị xe tăng đàn áp như thời Brejnev.
THẤT BẠI hay THÀNH CÔNG đến từ lệnh của Moscou vậy.
Những cuộc nổi dậy và thành công
Chúng ta đi vào những cuộc nổi dậy từ năm 1980 đến 1989-1991. Trong thời kỳ này, có những thay đổi từ Moscou.
Bắt đầu từ năm 1978, sau 14 năm nắm trọn quyền hành, đến năm 1982, Brejnev bước vào giai đọan mà người ta gọi là chiều tà của ông với những tệ đoan hành chánh, xã hội, kinh tế báo hiệu tình trạng sụp đổ của Cộng sản mà Gorbatchev buộc lòng phải cải cách sau này để cứu vãn chế độ. “Les années 1978 à 1982 furent le crépuscule de l’ère Brejnev, époque òu la stagnation économique et la storpeur politique semblaient faire éclore la corruption et l’intrigue dans les plus hautes sphère de la politique.” (Những năm 1978 đến 1982 đã là chiều tà của triều đại Brejnev, thời kỳ mà tình trạng ứ đọng kinh tế và sự hôn mê chính trị dường như làm nẩy nở tham nhũng và mưu mẹo ở những địa vực cao nhất của chính trị) (Mikhail GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME, par les Journalistes du Magazine TIME, 1988, p.161).
Tháng Mười năm 1980, Gorbatchev vào Bộ Chính trị. Trừ Gregori ROMANOV hơn ông 8 tuổi, GORBATCHEV sống giữa những Lãnh tụ già yếu khác gần đất xa trời, thở không ra hơi. Gorbatchev trẻ trung, đầy sinh lực, không uống rượu, có tài ngọai giao, được coi là người giữ chủ yếu chính sách của Moscou từ những năm 1980.
Những cuộc nổi dậy tại Đông Aâu từ năm 1980 có hòan cảnh để thành công, hoặc tối thiểu không bị xe tăng đàn áp đẫm máu như trước đây.
1) Cuộc nổi dậy của CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT Ba Lan năm 1980
Lech WALESA thành lập CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT tháng Bẩy năm 1980, một Công Đòan Tự do ở trong một Thể Chế độc tài Cộng sản. Đây là một việc nổi dậy của giới công nhân. Năm 1981, cuộc đình công đấu tranh đầu tiên được tổ chức tại Dansk và trong cuộc biểu tình, Lech WALESA giơ cao cho công nhân thấy chiến tháng đầu tiên của đấu tranh, đó là tờ giấy mà Nhà Nước Cộng sản cho phép thành lập Công Đòan.
Khi chính thức được công nhận, Công Đòan Đòan Kết tiếp tục đấu tranh cho Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, mặc dầu bị Nhà Nước Cộng sản Ba-Lan tìm cách đàn áp.
Xin nhắc ở đây rằng từ 16.10.1978, một Hồng Y gốc Ba Lan được bầu làm Giáo Hòang, Jean-Paul II. Từ Moscou, bắt đầu tinh thần Gorbatchev, không có lệnh mang xe tăng đàn áp cuộc nổi dậy tại Ba Lan. Tuy nhiên Giáo Hòang Jean-Paul II, vẫn nhớ những hình ảnh xe tăng đàn áp trước đây, đã công khai tuyên bố rằng nếu Nga đem xe tăng tràn vào Ba-Lan, thì Ngài sẵn sàng cởi áo Giáo Hòang để về Ba Lan chiến đấu. Khi thăm Ba Lan và gặp gỡ WALESA cũng như Công Đòan, Đức Giáo Hòang Jean-Paul II thẳng thắn khuyên mọi người: “Các con đừng sợ và hãy can đảm tiến tới“. Tờ LE MONDE thứ Ba 10.11.2009 còn viết về sự đóng góp đấu tranh của Giáo Hòang: “Jean-Paul II, une participation active et heroique à la lutte“ (Gioan-Phaolô II, một sự tham dự tích cực và anh hùng cho cuộc đấu tranh).
Cuộc đấu tranh của Công Dòan Đòan Kết đã trường kỳ, bắt buộc Nhà Nước Cộng sản phải đối thọai. Đảng Cộng sản Ba Lan cuối cùng vào tháng Tám năm 1989 đã phải họp bàn tròn với Lực Lượng đối lập mà dẫn đầu là Công Đòan Đòan Kết. Lần đầu tiên, một Thủ tướng được bầu lên mà không phải là đảng viên Cộng sản.
Việc đấu tranh thành công của Công Đòan Đòan Kết hiển nhiên từ hai yếu tố ngòai Ba Lan: Moscou không gửi xe tăng đàn áp như trước và Giáo Hòang La Mã tích cưcï ủng hộ.
2) Những cuộc nổi dậy 1989-1991 chấm dứt Cộng sản
Như trên chúng tôi đã viết, từ năm 1978, Brejnev sống như người đã chết. Một tờ báo Văn Học từ Leningrad đã viết: “La plupart des gens pensent à lui comme s’il était déjà mort.” (Phần lớn những người nghĩ về ông như là ông đã chết) (Mikhail GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME, par les Journalistes du Magazine TIME, 1988, p.162). Gorbatchev, trong bộ chính trị, đã mang vào tinh thần cải cách, đổi mới ngay từ cuối triều đại Brejnev.
Năm 1982, Brejnev chết, Tatiana ANDROPOV lên thay, nhưng cũng là người già yếu phải vịn vào vai Gorbatchev để đi dự đám táng Brejnev. Những tháng cuối cùng, Andropov nằm liệt giường tại bệnh viện Kuntsevo và tất cả những quyết định chính trị đều qua tay Gorbatchev truyền thông. Andropov chết tháng Hai 1984. Một ông già nữa đau yếu bệnh tật, TCHERNENKO lên thay. “Il était déjà si faible qu’il n’aivait même plus la force de lever le bras jusqu’au cercueil qu’il accompagnait sur la place Rouge. Il pouvait à peine traverser une pìece sans aide” (Oâng ta yếu sức đến nỗi ông ta không còn sức để giơ tay lên đụng vào quan tài mà ông phải đưa đám đền Công trường Đỏ. Oâng ta khó khăn đi qua được một căn phòng mà không có sự giúp sức.) (Mikhail GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME, par les Journalistes du Magazine TIME, 1988, p.162).
Tchernenko chết ngày 11.03.1985. Mikhail GORBATCHEV lên thay. Nắm trọn quyền, Gorbatchev tuyên bố GLASNOST và PERESTROIKA như chúng tôi đã viết trong Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN. Gorbatchev đã giúp đỡ các Lãnh đạo già yếu để đưa đám táng cho nhau. Trong tình trạng bại họai của Kinh tế và Xã hội, Gorbatchev phải cố gắng Cải Cách nếu muốn cứu vớt phần nào chế độ.
Tinh thần Cải Cách của Moscou lan rộng khắp Đông Aâu. Moscou không còn sức để can thiệp vào các chư hầu.
Các nước Đông Aâu đã đồng đứng dậy vào những năm 1989-1991:
=> Hung Gia Lợi mở hàng rào kẽm gai giữa Hung và Áo
=> Đại sứ quán của Tây Đức được Nhà Nước Cộng sản Tiệp cho phép đón tỵ nạn, từ đó di chuyển sang Tây Đức.
=> Dân chúng Đông Bá Linh, từ hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS phát xuất những cuộc biểu tình tuần hành của dân chúng.
Thực vậy cuộc nổi dậy của Dân Đông Bá Linh mang tính cách quyết định và được sự ủng hộ công khai của GORBATCHEV nhân cuộc ông qua để mừng 40 năm thành lập chế độ Cộng sản tại Đông Đức.
Năm 1989, Erich HONECKER, đệ tử trung thành của Staline, tổ chức mừng 40 năm thành lập chế độ Cộng sản. Oâng mời các đảng Cộng sản trên Thế giới đến tham dự. Ngày 06.10.1989, Gorbatchev sang tham dự. Dân chúng biểu tình hô lớn Gorbi ! Gorbi ! như người đến tháo gỡ chế dộ ra khỏi kềm kẹp Staline mà Honecker vẫn chủ trương.
Xuống máy bay, Gorbatchev đã tuyên bố ngay rằng tất cả những quyết định chính trị phải để ý đến đòi hỏi của dân chúng. Ngày hôm sau, 07.10.1989, cuộc gặp riêng giữa Honecker và Gortbatchev được coi là cuộc họp của hai người điếc; mỗi người mỗi ngả. Gorbatchev đã cảnh cáo Honecker rằng những ai không theo Thời cuộc, sẽ bị Thời cuộc lọai ra.
Hai ngày sau khi Gorbatchev lên máy bay về Nga, một cuộc biểu tình lớn 10'000 người phát xuất từ Nhà Thờ ST.NICOLAS ngày 09.10.1989. Người ta sợ một cuộc đàn áp bằng xe tăng do quyết định của chính Honecker chứ không từ Moscou. Người ta nghĩ đến cuộc đàn áp bằng xe tăng tại Thiên An Môn mới đây ngày 04.06.1989.
Nhưng cuối cùng Honecker không dám đàn áp biểu tình bằng xe tăng bởi vì ngại sợ chính những người trong đảng. Đảng bắt đầu chia rẽ trước sức mạnh biểu tình của dân chúng. Ngày 18.10.1989, Erich Honecker xin từ chức. Egon KRENZ lên và tuyên bố những biện pháp cải tổ nửa vời. Nhưng dân chúng, một khi đã nổi dậy, họ muốn đi tới cùng.
Ngày 04.11.1989, một cuộc biểu tình vĩ đại được phép tổ chức. Ngày 09.11.1989, lúc 23 giờ đêm, Bức tường Bá Linh được chọc thủng và nhanh chóng đổ xuống ngày hôm sau.
Kinh nghiệm cho cuộc nổi dậy tại Việt Nam
Nhìn những cuộc nổi dậy tại Đông Aâu từ năm 1953 đến những năm 1989-1991, chúng ta thấy rằng tại một nước chư hầu, yếu tố quyết định THẤT BẠI hay THÀNH CÔNG của dân chúng nổi dậy, ngòai ý chí đấu tranh can đảm của dân, còn phải kể đến sự can thiệp đàn áp hay sự thả lỏng, cổ võ từ Moscou. Những cuộc nổi dậy của Dức 1953, của Hung Gia Lợi 1956, của Tiệp Khắc 1968 đã THẤT BẠI vì bị xe tăng của Hồng Quân trực tiếp đàn áp do lệnh của Khrouchtchev và của Brejnev, trong khi đó những cuộc nổi dậy từ 1980 đến những năm 1989-1991 đã THÀNH CÔNG vì không những không có đàn áp đến từ Moscou, mà còn được tinh thần Cải Cách của Gorbatchev nâng đỡ, cổ võ.
Tại Việt Nam, chúng tôi muốn dành cho một Luật sư lão thành của chế độ lên tiếng trước về thực trạng Quê Hương, như vậy để tránh cái công thức láo khóet của CSVN rằng đây là tuyên truyền của thế lực thù địch ngọai lai. Luật sư TRẦN LÂM, nguyên Thẩm phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm, đã viết một bài dài dưới đầu đề “SỰ THAY ĐỔI ĐÃ ĐẾN GẦN“, tả ra tình trạng yếu kém Kinh tế, tệ nạn tha hóa Xã hội để Luật sư dám nói rằng sự thay đổi đã đến gần. Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.” Chúng tôi chỉ thêm rằng: “Tình trạng tham nhũng lan tràn này ở Việt Nam giống như ở thời kỳ Gorbatchev phải than rằng tham nhũng của công chức đến chỗ nhận một ly rượu Vodka.”
Lực Lượng nổi dậy của Dân chúng Việt Nam đã sẵn sàng. Dân Oan mất Nhà, Đất, đã kéo về Sài Gòn, Hà Nội biểu tình. Công Nhân thường xuyên đình công. Giới trẻ và Trí thức đã can đảm cất tiếng nói ngăn chặn xâm lăng Trung quốc. Dân Công giáo đã hiệp thông thành một Lực Lượng lớn.
Bài học từ Bức tường Bá Linh làm cho Lực Lượng sẵn sàng nổi dậy này đặt những câu hỏi sau đây:
=> Về mặt Chính trị, CSVN đã làm bồi cho Trung quốc đến mức nào ? Phải chăng CSVN mất độc lập về Chính trị để đến nỗi sẵn sàng rước xe tăng Trung quốc tràn vào Việt Nam để giết con cháu Hồng Bàng?
=> Về mặt Quân sự, lệnh chỉ huy của Trung quốc có dủ mạnh để bắt quân đội Việt Nam xả súng giết đồng bào ruột thịt của mình không ?
=> Về mặt Kinh tế, quyền lợi Kinh tế của Trung quốc nắm giữ tại Việt Nam lớn đến nỗi Trung Cộng có thể biện minh trước Thế giới rằng họ cho Quân đội tràn vào Việt Nam để bảo vệ Kinh tế của họ hay không?
Hỏi những câu đó, cốt ý để thẩm định sự THÀNH CÔNG hay THẤT BẠI khi Lực Lượng quần chúng hiện nay đứng lên như tại Đông Aâu. Nếu chỉ nguyên CSVN, thì Lực Lượng dân chúng không có gì phải ngại sợ mà đặt câu hỏi. Honecker không dám ra lệnh cho lính Đức dùng xe tăng bắn xả vào dân Đức vì sợ chính một phần quân đội Đức sẽ chống lại. Cũng vậy, Nông Đức Mạnh không thể ra lệnh dùng chiến xa bắn vào dân chúng anh em bà con của chính quân đội, sợ rằng một bộ phân quân đội sẽ đảo chính giết chính Nông Đức Mạnh.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 28.01.2010
| | | |
HỢP SỨC ĐẤU TRANH: DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN & CHỐNG TẦU XÂM LĂNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 03.12.2009
Lực lượng Quốc nội đang đứng lên. Hải ngọai hợp sức hỗ trợ cho Lực lượng Quốc nội. Cuộc đấu tranh của Quốc nội và sự hỗ trợ từ Hải ngọai nhằm dứt bỏ Cơ Chế CSVN tham nhũng để phát triển Đất Nước và chống lại việc xâm lăng của Trung quốc từ việc họ chiếm Đất, Biển của Tổ Tiên đến việc ho cho tràn lan hàng hóa giết chết Kinh tế của Quê Hương.
Nhìn vấn đề đấu tranh hiện nay như vậy, ngày 26.10.2009, chúng tôi đã đề nghị một QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH để cùng thảo luận; và ngày 28.11.2009, chúng tôi, nhân danh Phong trào Việt TỰ-DÂN, ra bản TUYÊN NGÔN HỢP TÁC ĐẤU TRANH, nhân cuộc Họp Kỷ Niệm 9 năm PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000 tổ chức tại Toronto, Canada.
MỘT QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH
Tham Luận cho cuộc họp mở rộng ngày 28-29/11/2009 của Phong Trào Hiến Chương 2000: Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 26.10.2009 Bài này đi từ nhận định tình hình xã hội tại VN dưới quyền cai trị của độc đảng CSVN để đi tới dự phóng một quan điểm đấu tranh.
Nhận định Tình hình Từ khi đảng CSVN đặt ách thống trị trên tòan lãnh thổ Việt Nam 1975, tình hình đấu tranh đã chuyển biến rất nhiều từ những năm đầu sánh với ngày naỵ Cho đến ngày sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Nga và Đông Âu Cuộc đấu tranh đặt nặng ở phía người Việt Hải ngọai, trong khi ấy tại Quốc nội, Dân chúng sống trong sợ sệt dưới quyền cai trị hòan tòan khắt khe và đàn áp của đảng CSVN. Cuộc đấu tranh của người Việt Hải ngọai đặt chính yếu vào giải pháp quân sự nhằm giải phóng Quê Hương. Có những xâm nhập từ ngòai vào, nhưng dân chúng Việt Nam vẫn đang bàng hòang về cuộc chiến mới đây, nhất là đang sống dưới cùm kẹp khát máu của CSVN, nên những xâm nhập này không đủ sức dấy động một cuộc nổi dậy của quần chúng. Giai đọan CSVN buộc lòng phải mở cửa và "đổi mới" Khi Cộng sản Nga và Đông Aâu sụp đổ, đảng và Nhà Nước CSVN hòan tòan ở trong thế bí về ngân sách vì không còn sự giúp đỡ của Nga và Đông Aâu nữạ Dân chúng đã phải ăn bo bo trước đây, bây giờ rơi vào tình trạng đói ăn thực sư.. Biết rằng phá hàng rào tre khép kín Chế độ là nguy hiểm, nhưng đảng và Nhà Nước CSVN bắt buộc phải mở cửa chơi với phía Thế giới Tự do vì bí miếng ăn. Người ngọai quốc và Việt kiều có thể vào Việt Nam và giao tiếp với dân chúng quốc nộị Qua những giao tiếp này, người quốc nội biết đến ý chí đấu tranh của khối người Việt tỵ nạn. Cũng trong thời kỳ này, việc đấu tranh, vẫn chính yếu từ Hải ngọai, nhưng chuyển hướng sang đấu tranh cho ý thức Chính trị, Nhân quyền, hơn là giải pháp quân sự như thời gian trước đâỵ Cuộc đấu tranh của Lm.NGUYỄN VĂN LÝ: một ngọn lửa công khai đốt lên Những giao tiếp với nước ngòai và với Việt kiều cho dân quốc nội biết đến ý chí đấu tranh tại Hải ngọai, nhưng giới biết tin vẫn còn dè dặt chưa lên tiếng. Chính trong tình hình dè dặt này mà cuộc đấu tranh của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ được coi là tiên phong thắp lên NGỌN LỬA đấu tranh . Cuộc đấu tranh của Linh mục tuy bị đàn áp, nhưng việc làm này đã mang lại hiệu quả tác động tâm lý, nói lên ý nghĩa phải can đảm đứng lên từ quốc nội thì mới hy vọng thay đổi được Cơ Chế đàn áp của CSVN. Điều quan trọng ở đây là phải đặt tầm quyết định ở LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI tự giải phóng mình. Ý chí đấu tranh giải phóng Quê Hương của Hải ngọai trở thành ý chí HỖ TRỢ cho Quốc Nộị Tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường để sửa sọan vào WTO hội nhập với Thế giới Cách đây 7 năm, đảng và Nhà Nước CSVN đồng lọat tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Họ thêm cái đuôi "định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa". Thực ra, một là để chữa thẹn, hai là một cái vỏ bọc cho một CƠ CHẾ vẫn giữ độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Với Cơ Chế này việc tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường là tréo cẳng ngỗng. Nhờ sự giúp đỡ của Hoa kỳ, Việt Nam đã vào được WTỌ Khi giúp đỡ như vậy, TT.BUSH đồng thời cũng mong mỏi một Tiến Trình Dân Chủ hóa Việt Nam. Cuộc đấu tranh tại Quốc nội cũng như Hải ngọai khởi sắc lên như trông đợi ở áp lực của Hoa kỳ và Tây phương. Tại Quốc nội một Phong trào gọi là những Nhà Dân chủ đã công khai ra mặt. Tại Hải ngọai, một số nhóm Chính trị, nào thành lập những Chính phủ lưu vong, nào là hé cho thấy chủ trương Hòa Giải Hòa Hợp. Họ có lẽ hy vọng vào áp lực của Hoa kỳ để được về Việt Nam cùng với CSVN thực hiện Tiến Trình Dân Chủ Hóạ Nếu có hứa với TT.BUSH để được ra khỏi danh sách Những Nước Bị Quan Tâm Đặc Biệt vì vi phạm Tự do Tôn giáo, rồi vào WTO, vào Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, thì ngày nay CSVN đã phản bội lại lời hứa Tiến Trình Dân chủ hóạ Sa lầy với Trung Cộng và việc đứng lên mạnh mẽ tại Quốc nội "Đi với Mỹ thì mất đảng; Đi với Tầu thì mất nước", đó là câu mà dân Hà Nội thường nói với nhaụ CSVN không muốn mất đảng, thà là mất nước. Đảng và Nhà Nước CSVN ngày nay đã hòan tòan chọn lựa đi với Trung Cộng để mất nước. CSVN đã thẳng tay đàn áp các Phong trào Dân Chủ, đàn áp tất cả những ai động chạm đến cuộc xâm lăng Lãnh Thổ, Lãnh Hải và Kinh tế của Trung Cô.ng. Chính những cuộc đàn áp không chính đáng này đã tạo lên làn sóng phản kháng từ mọi giới tại Việt Nam: 1) Dân Oan mất Nhà, Đất đã công khai kéo về Sài Gòn và Hà Nộị Cuộc đàn áp mà không giải quyết cho có Công lý càng làm tăng thên uất ức sẵn sàng bùng nổ nơi Dân Oan. 2) Công nhân đã làm những cuộc đình công. Ngày nay hậu quả của Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới và việc nhân công Trung quốc ồ ạt vào VN càng làm công nhân VN thất nghiệp. Nguồn phản kháng này mỗi ngày một nhen nhúm, đe dọa nổ lớn. 3) Những vụ Tòa Khâm sứ Hà Nội, Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý làm hàng Giám mục, Linh mục, Tu sĩ và Giáo dân Công giáo đòan kết quyết tâm đấu tranh cho CÔNG LÝ. 4) Việc Trung Cộng cấm đóan Ngư dân miền Trung đánh cá trong vùng Biển VN, rồi đánh đập, cướp bóc Ngư dân lánh nạn bão số 9 vừa qua đang tạo phẫn nộ từ dân chúng đối với Nhà Nước CSVN hèn yếụ 5) Vụ Bôxít Tây Nguyên đã dấy động lên phong trào phản đối công khai của giới Trí thức và ngay cả phía quân độị 6) Từ vụ Bôxit đến hàng hóa Trung quốc tràn ngập Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã công khai kêu gọi tòan dân cứu nguy Đất Nước, không xài hàng Trung quốc. 7) Trước nạn xâm lăng Kinh tế của Trung quốc, giới chuyên gia Kinh tế VN đã công khai lên tiếng phản đối và kêu gọi cứu nguy Đất Nước. Vietnamnet ngày 15.06.2009 đã viết: "Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, "quét" sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các doanh nghiệp VN đang "thua trắng bụng". Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới doanh nghiệp và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc." 8) Theo lệnh của Trung quốc, qua Tùy viên Thương mại Hồ Tỏa Cẩm, Nguyễn Tấn Dũng ra Quyết Định 97 ngày 24.07.2009 cấm đóan giới Trí thức phản biện đụng chạm đến Tầụ Tổ chức IDS tự giải tán vì lý do Quyết Định bịt miệng nàỵ 9) Một cuộc Thảo Luận công khai được tổ chức ngày 22.09.2009 gồm những Giáo sư Đại học về Kinh tế đã nói lên tính cách tréo cẳng ngỗng của mô hình Kinh tế Tự do Thị trường "định hướng XHCN", nghĩa là một CƠ CHẾ vẫn chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Giáo sư Tiến sĩ TRẦN NGỌC HIÊN phát biểu: "Sự phát triển của nhà nước pháp quyền và chế độ dân chủ trở thành mắt xích chủ yếu giữa kinh tế thị trường với thể chế chính tri.. Về mặt chính trị, sự phát triển kinh tế thị trường trở thành bước ngoặc kết thúc các chế độ chuyên chế và hình thành chế độ dân chủ. "Không thể coi là đã hình thành nền kinh tế thị trường khi nhà nước chưa ra khỏi tình trạng quan liêu, tham nhũng phổ biến. Không thể coi là đã có nhà nước pháp quyền khi trong xã hội còn thiếu dân chủ và tính tự phát của người dân còn phổ biến". Câu nói cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do Thị trường thực sự phải dẫn đến DÂN CHỦ. Tình hình qua 9 điểm kể ra trên đây cho thấy rằng Quốc Nội đang đứng lên dắu tranh, từ giới đại đa số là Dân nghèo, đến giới Trí thức và Lực lượng các Tôn giáọ Cuộc đấu tranh của Lực Lượng Quốc nội mỗi ngày mỗi tăng. Đảng và Nhà Nước CSVN càng đàn áp bao nhiêu, thì càng đi vào chỗ bí vì dựa vào lý do bất chính và càng làm cho dân chúng phẫn nộ vì biết rõ đây là hành động cả vú lấp miệng em mà thôị
Một Quan Điểm Đấu Tranh để tham luận Trong khí thế đấu tranh đang lên mạnh của tòan dân gồm mọi giới, chúng tôi xin mạn phép đưa ra một quan điểm đấu tranh gồm những điểm sau đây: 1) Mục đích tối hậu đi tới của đấu tranh: DỨT BỎ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Mục đích này hòan tòan mang tính cách Kinh tế. Chúng ta nhằm vào việc phát triển Kinh tế Đất Nước. Nhân danh việc phát triển này, chúng ta không thể để việc độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Cái CƠ CHẾ chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế là nguồn gốc những tham nhũng, hối lộ, bất công. Không thể phát triển Kinh tế chỉ cho một nhóm ngườị Thực vậy, chính CƠ CHẾ này đang tạo Kinh tế Mafia: nhóm người tham nhũng hối lộ giầu nứt khố và dân lam lũ làm ăn nghèo kiết xác. Chúng ta lấy lý do dấu tranh là Kinh tế, đó là xây dựng và không phải là phạm điều 88 mà CSVN cố ngụy biện gán cho những ai không đồng ý với những cướp bóc của ho.. Chính sự phát triển Kinh tế Tự do này đặt nền tảng để những tác nhân Kinh tế (mọi người) thiết lập ra nguyên tắc DÂN CHỦ trước hết để giải quyết những tranh chấp quyền lợi, sau đó cùng nhau chấp nhận hệ thống Pháp Luật cho cuộc sống chung đụng xã hội cho CÔNG BẰNG. DÂN CHỦ là nguyên tắc hệ quả của việc phát triển Kinh tế Tự dọ Nhắc hai chữ Dân chủ, CSVN ngụy biện nói chúng ta phạm điều 88. Chúng ta chỉ nói Phát triển Kinh tế Tự dọ 2) Những điểm cụ thể đấu tranh Chúng ta phải đấu tranh với một Nhà Nước độc tài và ngụy biện, xử dụng vũ lực và nhà tù để đàn áp. Vì vậy, trước khi đấu tranh, chúng ta phải nghĩ đến chống đỡ cho điểm mình đấu tranh. Chúng tôi nêu ra những điểm đấu tranh sau đây: a. Đấu tranh đòi CÔNG LÝ Khi đòi CÔNG LÝ, chúng ta được sự ủng hộ của khối Dân Oan và Lực lượng các Tôn giáọ Dân Oan và Tôn giáo đang đòi Công lý. b. Đấu tranh bênh vực nghề nghiệp cho Công nhân và Ngư dân Công nhân mỗi ngày mỗi mất việc vì nhân công Trung quốc tràn vàọ Ngư dân mất nơi đánh cá do Tầu chiếm Biển và Hải đảọ c. Đấu tranh chống khai thác Bôxit Tây Nguyên và việc Tầu xâm lăng Hòang/Trường Sa Đây là việc dấy động giới Trẻ Sinh viên Học sinh và giới Trí thức, cũng như nhiều giới khác, nghĩ đến Tiền đồ Đất Nước. d. Đấu tranh chống xâm lăng Kinh tế Trung quốc Hàng Trung quốc, nhất là hàng độc, lan tràn Việt Nam và giết Kinh tế Việt Nam. Những Dự án rơi vào tay Trung quốc. Mỗi Dự án hàm ngụ việc xuất cảng thiết bị và công nhân Tầu sang Việt Nam. Mỗi Dự án là việc nhận nợ mà Thế hệ tương lai phải oằn lưng trả nơ.. Dây là khía cạnh dấy động tòan dân, đặc biệt giới doanh nhân. e. Triệt để chống Tham nhũng, Lãng phí Đây không phải là cá nhân, mà chính là CƠ CHẾ làm phát sinh và nuôi dưỡng vi trùng Tham nhũng, Lãng phí ăn ruỗng đời sống Kinh tế của tòan dân. Chống Tham nhũng, Lãng phí là chống chính cái CƠ CHẾ hiện hành vậỵ CSVN không thể nói việc chống tham nhũng là phạm điều 88. f. Đấu tranh cho Tự do phản biện xây dựng Kinh tế Nếu CSVN ngụy biện cấm phản biện đối với khía cạnh Chính trị, thì chúng ta tối thiểu đòi Tự do phản biện để XÂY DỰNG KINH TẾ, phát triển Đất nước. Chúng tôi ao ước rằng những điểm ĐỀ NGHỊ ĐẤU TRANH trên đây trở thành PHONG TRÀO, nghĩa là các Nhóm đấu tranh CÙNG NHAU nói lên MỘT tiếng nói cho ma.nh.
TUYÊN NGÔN HỢP TÁC ĐẤU TRANH
PHONG TRÀO TỰ-DÂN 22 Rue du Prieure, CH-1202 GENEVA, Switzerland. Tel. : 0041 22 731 82 66. E-Mail : viettudan@yahoo.com
TỰ-DÂN, thành lập từ 1964, gồm những thành phần Thanh niên, Sinh viên, Học sinh đấu tranh cho nền TỰ DO, DÂN CHỦ tại Miền Nam Việt Nam, chống lại chủ nghĩa độc tài Cộng sản Miền Bắc. Sau 1975, những thành viên TỰ-DÂN di tản ra nước ngòai đã hợp lại với nhau , cùng giữ vững lập trường đấu tranh cũ, dưới danh xưng Việt TỰ-DÂN. Kể từ năm 2001, Việt TỰ-DÂN đã tích cực tái nhập cuộc đấu tranh ở Hải ngọai nhằm hỗ trợ cho Lực Lượng đấu tranh chính yếu đang nổi dậy tại Quốc nội. Nhận thấy các Phong trào đấu tranh tại Hải ngọai cần có chung một tiếng nói, đi chung một đường lối mới tạo được sức mạnh triệt để, giúp cho cuộc nổi dậy tại Quốc nội sớm thành công, PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000 đã đứng ra kêu gọi và chính thức mời Việt TỰ-DÂN tham gia cuộc họp mở rộng của Phong Trào Hiến Chương 2000, ngày 28-29.11.2009 tại Toronto, Canada, nhằm vạch ra những phương thức hành động cụ thể, nhân dịp kỷ niệm 9 năm ra mắt Phong Trào. Sau khi tham khảo nội bộ, Việt TỰ-DÂN nhận lời tham dự và long trọng tuyên bố cùng hợp tác đấu tranh song song với Phong Trào Hiến Chương 2000, như sau :
1) Mục đích chung tối hậu của việc hợp tác là hỗ trợ Lực Lượng nổi dậy tại Quốc nội nhằm dứt bỏ Cơ Chế Cộng sản Việt Nam hiện hành để Dân tộc cùng chung bảo vệ Tổ Quốc, chống ngọai xâm và phát triển Kinh tế trong Công lý và Hòa Bình.
2) Những lãnh vực đấu tranh cụ thể như sau:
a. Hỗ trợ các Lực lượng Dân Oan vàTôn giáo đang bị Cơ chế CSVN tham nhũng cướp bóc đất đai, nhà cửa một cách bất chính. Hỗ trợ khối Công nhân bị bóc lột dã man sức lao động, hiện đang bị triệt để khai thác hay bán đứng cho nước ngòai mà không được họp thành Nghiệp đòan để bảo vệ quyền lợi của mình.
b. Đối với những phần Lãnh thổ và Lãnh hải của Tổ Quốc đã bị CSVN dâng cúng cho Trung Cộng để được che chở mà bám lấy quyền hành Chính trị độc tài của họ, chúng ta cùng hợp tác một lòng với tòan dân, đấu tranh để dành lại và bảo tòan Đất, Biển của Tổ Quốc.
c. Chống lại việc để cho hàng hóa của Trung Cộng tràn sang Việt Nam, và chống lại việc để cho Trung Cộng khai thác tài nguyên của Đất Nước. Với hai sự kiện trên, CSVN đang tiếp tay cho Trung Cộng làm cuộc xâm lăng Kinh tế trên Tổ Quốc Việt Nam. Trên căn bản độc lập về phương diện tổ chức, Việt TỰ-DÂN công khai khẳng định cùng hợp tác đấu tranh với PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000, ở mục đích tối hậu và ở những lãnh vực cụ thể nêu ra trên đây.
Làm tại GENEVA, Thụy sĩ, ngày 28 tháng 11 năm 2009
Đại diện Việt TỰ-DÂN Ký tên NGUYỄN PHÚC LIÊN
Khi Đất Nước lâm nguy trước cảnh xâm lăng hiện nay do CSVN rước giặc vào Nhà, phải có một Hội Nghị DIÊN HỒNG để đồng tâm cứu nước. Nếu chưa có được một Hội Nghị DIÊN HỒNG của tòan dân, thì chúng ta hãy bắt đầu bằng hai, bằng ba... người tìm gặp đến nhau để cấu kết khởi sự ở những lãnh vực đấu tranh cụ thể nhất để tiến lên.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế | | | |
ĐÃ ĐẾN LÚC ÁP DỤNG HAI BÀI HỌC BỨC TƯỜNG BÁ LINH CHO CSVN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 10.12.2009
Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.
Chúng tôi thấy hai Bài học sau đây rất đúng cho Việt Nam ở thời điểm này:
=> Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO
Thái độ tích cực yểm trợ của Giáo Hòang Gioan-Phalô II cho CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT tại Ba Lan được coi là yếu tố tiên phong gián tiếp cho tranh đấu đánh sập Bức tường Bá Linh. Hai Nhà Thờ tại Đông Bá Linh là nơi quy tụ cầu nguyện đấu tranh trực tiếp cho sụp đổ Bức tường năm 1989.
Tại Việt Nam lúc này, cao trào đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH đã đứng lên mạnh tại Hà Nội (Tòa Khâm sứ và Xứ Thái Hà), tại Vinh (Tam Tòa). CSVN đang sợ hãi sự lớn mạnh này.
=> Bài học 2: TỪ TÌNH TRẠNG KINH TẾ KIỆT QUỆ ĐẾN THA HÓA XÃ HỘI
Tình trạng Kinh tế tồi tệ đưa đến Tha hóa Xã hội tại Nga vào những năm 1985 khi GORBATCHEV lên nắm quyền đã đến lúc chín mùi, là một định mệnh cho sụp đổ của Chế độ Cộng sản. Tuyên bố GLASNOST và PERESTROIKA của GORBATCHEV như cải cách mong níu lại hình thức một chế độ đã đưa đến hậu quả Kinh tế tồi tệ và Xã hội tha hóa cực điểm cũng không thể tránh được sụp đổ đến như một định mệnh. Nga không còn đủ sức can thiệp vào những nổi dậy của các nước Đông Aâu nữa và đây là chìa khóa cho sụp đổ Bức tường Bá Linh cũng như các nước Đông Aâu chỉ trong vòng hơn một năm.
Tại Việt Nam, trong thời điểm này, Luật sư TRẦN LÂM, , nguyên Thẩm phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm, đã viết một bài dài dưới đầu đề “SỰ THAY ĐỔI ĐÃ ĐẾN GẦN“, tả ra tình trạng yếu kém Kinh tế, tệ nạn tha hóa Xã hội để Luật sư dám nói rằng sự thay đổi đã đến gần. Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.” Tình trạng tham nhũng lan tràn này ở Việt Nam giống như ở thời kỳ Gorbatchev phải than rằng tham nhũng của công chức đến chỗ nhận một ly rượu Vodka.
Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 12.11.2009
Đức Tin Tôn Giáo, nơi tụ họp cầu nguyện và sự cứng rắn của Giáo quyền thực sự đã góp phần rất lớn trong việc làm sụp đổ Cộng sản trong những năm 1989-91. Những đóng góp này hòan tòan thuộc phạm vi bổn phận Công dân trước những độc ác tội lỗi đang chồng chất lên xã hội, cho những người sống quanh mình và cho chính bản thân mình. Đây là vấn đề tự vệ cho mình và hợp tác với những người đồng cảnh ngộ để tự vệ tập thể cho có hiệu lực hơn. Đây không phải là việc làm Chính trị mà là quyền tự vệ cho cuộc sống.
Cuộc đấu tranh của Công đòan ĐÒAN KẾT Ba-Lan
Hai khách mời quan trọng hơn cả trong Lễ kỷ niệm 20 năm Bức tường Bá Linh là GORBATCHEV và WALESA, luôn luôn cùng đi bên cạnh với Bà MERKEL. Oâng Lech WALESA được coi là tiên phong đóng góp làm sụp đổ chế độ Cộng sản. Chính vì vậy cuộc Lễ Kỷ Niệm đã dành cho Oâng vinh dự đẩy Domino đầu tiên làm sụp đổ Bức tường tượng trưng bằng 1'000 chiếc Dominos. Oâng và Công đòan ĐÒAN KẾT mang một Đức Tin Công giáo vững mạnh luôn được cổ võ công khai bởi chính Đức Giáo Hòang Gioan-Phaolô II. Khi thăm Ba Lan và gặp gỡ WALESA cũng như Công Đòan, Đức Giáo Hòang thẳng thắn khuyên mọi người:“Các con đừng sợ và hãy can đảm tiến tới“. Tờ LE MONDE thứ Ba 10.11.2009 đã bình luận:“Jean-Paul II, une participation active et heroique à la lutte“ (Gioan-Phaolô II, một sự tham dự tích cực và anh hùng cho cuộc đấu tranh). Ngày 22.01.2002, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, qua 26 Giám Mục Việt Nam trước mặt Ngài tại Vatican, đã gửi cũng những lời cổ võ “đừng sợ hãi nữa“, “hãy can đảm đứng lên tiến ra khơi“ đến tất cả các Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và tòan Giáo dân Việt Nam. Đây là lời cổ võ chính đáng cho sự thiện. Nếu lúc này, vì những mưu mô xảo quyệt trao đổi ngọai giao trần thế của CSVN, mà Đức Giáo Hòang đương kim hay một Hồng Y nào ở Vatican tìm cách làm nhụt chí đấu tranh của Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và Giáo dân Việt Nam, thì đó là việc làm giảm Đức Tin Tôn Giáo và đánh lạc hướng Lương tâm của Tín hữu, nếu không muốn kết luận rằng đây là việc chủ mưu tòng phạm với quân Pharisiêu CSVN nhằm tiếp tục gây tội ác không những cho Giáo dân VN nói riêng mà còn cả cho Dân tộc VN nói chung.
Tinh thần Tôn Giáo nơi GORBATCHEV
Trong thời gian học Đại học Luật tại Mạc Tư Khoa, Gorbatchev luôn luôn chơi thân với một người bạn đến học từ Prague, tên là MLYNAR, cùng học Luật. Vợ của người bạn này là bạn gái cùng phòng với RAISSA. Chính vì mối quan hệ này mà RAISSA trở thành vợ của GORBATCHEV. Khi học xong tại Mạc Tư Khoa, MLYNAR trở về Prague và vào được Bộ Chính trị. Nhưng sau này Oâng theo Phong trào Mùa Xuân Prague và bị mất chức. MLYNAR đã viết về tinh thần Tôn giáo (Chính thống giáo) của Gia đình Gorbatchev. Oâng nội và cha của Gorbatchev âm thầm sùng đạo, mặc dầu cũng là những người theo STALINE. Thời Staline rất khắt khe và nguy hiểm về Tôn giáo. Nhưng theo tiết lộ của Gorbatchev cho bạn của mình, thì Gia đình đã dấu Hình Đức Mẹ ở đàng sau hình của Staline để lén lút cầu nguyện. Tinh thần Tôn giáo của Gia đình đã ảnh hưởng lên tinh thần của Gorbatchev. (Tài liệu: MIKHAIL S.GORBATCHEV by David Kings, Xuất bản Time Incorporated N.York 1988).
Hai Nhà Thờ tại Bá Linh: Nơi tụ họp thường xuyên đấu tranh
Hai Nhà Thờ đó là Nhà Thờ GETHSEMANI và Nhà Thờ ST.NICOLAS. Trong năm 1989, cả hai Nhà Thờ là nơi họp lại thường xuyên của những Tín hữu dấn thân trong tinh thần đấu tranh cho những giá trị mà Lương tâm đã được thấm nhuần.
Mở đầu ngày KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH SỤP ĐỔ, buổi sáng sớm 09.11.2009, Bà Thủ tướng Angela MERKEL cùng các quan khách đã đến Nhà Thờ GETHSEMANI để dự Lễ Nghi Tôn Giáo kỷ niệm. Việc khởi đầu Ngày Kỷ Niệm bằng một LỄ NGHI TÔN GIÁO chứng tỏ tầm quan trọng đóng góp của Nhà Thờ này vào sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh.
Nhà Thờ GETHSEMANI do Mục sư Bernd ALBANI chủ trì. Tín hữu đến đây để thường xuyên và định kỳ cầu nguyện cho Hòa Bình. Các buổi cầu nguyện luôn luôn được kết thúc bằng bài ca “DONNA NOBIS PACEM“ XIN CHO CHÚNG TÔI HÒA BÌNH. Gerhard SCHONE là một Ca sĩ rất được biết tới tại Đông Đức. Oâng là người đã thường xuyên đến hát tại Nhà Thờ GETHSEMANI trong những buổi họp cầu nguyện. Ngày nay, hỏi lại Oâng tại sao hồi ấy ông có dịp sang Tây Bá Linh mà ông vẫn ở lại. Oâng trả lời rằng hồi ấy tôi cảm thấy những người đến Nhà Thờ tụ họp đấu tranh cần tiếng hát của tôi để giữ vững tinh thần, nên tôi không ra đi trước được.
Nhà Thờ ST.NICOLAS do Mục sư Christian FUHRER chủ trì. Đến Nhà Thờ này, phần đông là giới trẻ mang tinh thần đấu tranh sôi động hơn. Thường xuyên đến Nhà Thờ này là Nhạc sĩ Matthias KREHER để chơi nhạc trong những cuộc hội họp. Theo Mục sư Christian FUHRER, thì tại Nhà Thờ này đã có những cuộc họp định kỳ mỗi tuần ngày Thứ Hai từ năm 1982 để cầu nguyện đấu tranh cho những giá trị tinh thần. Năm 1989, tháng 10, từ Nhà Thờ, giới Thanh niên đã căng Biểu Ngữ và tiến ra ngòai phạm vi Nhà Thờ để diễn hành. Công an đã can thiệp bằng cách giật và xé Biểu Ngữ. Hành động này của Công an đã được ghi hình và phổ biến trên Truyền Hình Tây Đức. Thế là cả Đông Đức và Tây Đức, dân chúng biết đến việc đàn áp bằng bạo động của Công an. Chính Nhà Nước đã làm tăng thêm Phong trào người dân đứng dậy, kéo càng đông đến Nhà Thờ.
Ngày nay, phỏng vấn những nhân viên STASI về hai Nhà Thờ, họ đều công nhận đã được lệnh kiểm sóat, lấy hình, thâu phim những nhóm đến hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS. Điều làm họ ngạc nhiên là họ hiểu Tín hữu biết rõ có việc kiểm sóat, thu hình của STASI, nhưng những người đến hai Nhà Thờ dường như không sợ hãi gì và đến Nhà Thờ như một nhu cầu để biết thông tin và truyền thông cho nhau tâm tình và ý chí đấu tranh.
Tại Việt Nam ngày nay, chúng ta nghĩ đến những cuộc tụ họp cầu nguyện tại Khuôn viên Tòa Khâm sứ, tại Thái Hà, tại Tam Tòa. Những Tín hữu đến cầu nguyện bị đe dọa, bị thâu hình, bị đàn áp bằng võ lực thực sự của Công an. Nhưng Tín hữu đã không sợ hãi, kéo đến mỗi ngày mỗi đông. Phong trào Hiệp Thông cầu nguyện mỗi ngày mỗi lan rộng. Đây là những cuộc tụ họp đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH rất chính đáng. Hồng Y Quốc Vụ Khanh từ Vatican đã một lần can thiệp và bị quân Pharisiêu CSVN phản bội. Đây là một việc can thiệp lỗi lầm. Quân Pharisiêu CSVN còn đang muốn gian giảo tìm cách trao đổi ngọai giao trần thế với Vatican để nhằm phá đổ ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM cho sự thiện của Công giáo Việt Nam. Vatican không thể để mình bị lừa gạt nữa.
Bài học 2: TỪ TÌNH TRẠNG KINH TẾ KIỆT QUỆ ĐẾN THA HÓA XÃ HỘI Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 19.11.2009
Khi nói lý do KINH TẾ là ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ Cộng sản Nga, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hai khía cạnh:
* Một số những bài viết nói đến lý do dân chúng đấu tranh cho Tự do, Dân chủ như là yếu tố chính làm sụp đổ chế độ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Đối với quan điểm của chúng tôi, cái nhìn đưa về tình trạng KINH TẾ tồi tệ, một thất bại của chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy, là lý do căn bản đạp đổ Cộng sản.
* Việc sụp đổ Cộng sản là một ĐỊNH MỆNH, nghĩa là đây không phải là ý chí cải cách của chính cá nhân GORBATCHEV. Nó là Định Mệnh phải xẩy ra, cho dù chính Gorbatchev muốn cản cũng không được.
Tình trạng Kinh tế tồi tàn của Nga Khi GORBATCHEV lên nắm quyền
Những tài liệu mà chúng tôi lấy để viết bài học này là từ cuốn MIKHAIL S.GORBATCHEV do Tác giả David KINGS, xuất bản năm 1988 do Time Incorporated N.York, được dịch ra Pháp ngữ dưới tựa đề MIKHAIL GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME.
Gorbatchev sinh ngày 02 tháng 3 năm 1931 tại làng nhỏ Privolnoie thuộc vùng Stavropol, một vùng nông nghiệp phía Nam Liên xô. Học hành thời nhỏ không có gì xuất sắc, nhưng nhờ tận tâm họat động trong đòan Thanh niên Cộng sản, nên ông được khen thưởng và được giới thiệu lên Mạc Tư Khoa học Đại học. Oâng muốn học ngành Kỷ thuật Vật lý, nhưng vì yếu môn Tóan, nên buộc phải được chỉ định học Đại học Luật. Đây là Đại học ít Sinh viên nhất vì Luật pháp dưới thời Staline không có ý nghĩa gì. Xong Đại học Luật, Oâng trở về tỉnh và trở thành Bí thư đảng của tỉnh. Sau 20 năm chỉ ở tỉnh đồng quê canh nông này, tên ông được lưu ý đến và được gọi về Thủ đô Mạc Tư Khoa. Việc thăng tiến tới chức vụ lớn nhất trong đảng Cộng sản Nga cũng không phải là do công lao của ông, mà chỉ là sự run rủi ngẫu nhiên của thời thế mà chính ông không chủ động. Thực vậy, thuộc Tỉnh ông, có những suối nước nóng, nơi mà các Lãnh tụ già yếu, mang phong thấp đau mình nhức xương của đảng đến vùng đó tắm chữa bệnh. Từ đó, những Lãnh tụ già yếu này biết đến tên ông và sau này nhớ lại sự chăm sóc chữa bệnh của ông mà gọi ông về Mạc Tư Khoa.
Sau khi Brejnev chết, cánh Lãnh tụ già nối nhau đứng đầu đảng. Vì già, Andropov cũng chỉ được 18 tháng thì chết. Một ông già khác Tchernenko cũng chỉ nắm quyền đảng được mấy tháng thì chết. Trong Bộ Chính trị, chỉ có Gorbatchev là còn sung sức, nhờ tuổi trẻ và nhờ không uống Vodka. Có những Lãnh tụ già phải nhờ vịn vào vai của Gorbatchev mới có thể đi tham dự đám táng nhau được.
Sau cái chết của Tchernenko, Đảng Cộng sản Nga thấy rằng không thể chọn các cụ già gần đất xa trời lên đứng đầu đảng để vừa tổ chức đăng quang quyền hành xong, đã phải nghĩ đến tổ chức đám táng. Các cụ quyết định chọn một người trẻ để đỡ phải lập bập đọc những điếu văn liên hồi. Mikhail GORBATCHEV được chọn lên nắm quyền từ năm 1985.
Khi lên nắm quyền, Gorbatchev đứng trước một tình trạng xã hội hòan tòan đồi tệ, một tình trạng Kinh tế của đế quốc vô sản hòan tòan thiếu thốn thực sự. Theo Lý thuyết của Mác-Lê, thì tình trạng vô sản này như một ĐỊNH MỆNH phải đứng lên làm Cách Mạng nữa.
Oâng Andrei GRETCHEV, cố vấn Chính trị của Gorbatchev đã phải tuyên bố rằng tình trạng suy thóai tận cùng Kinh tế, sự đồi trụy của xã hội và tình trạng ươn hèn của đảng viên đã buộc Gorbatchev phải phất cờ trắng xin hàng với Thế giới Tự do trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Hậu quả tàn khốc của vụ Chernobyl lan tràn. Chiến tranh tốn kém tại Afghanistan không thể chịu đựng được nữa. Nga không những không còn sức chạy đua binh bị, không còn phương tiện giữ 500'000 lính canh chừng chế độ tại những nước chư hầu Đông Aâu và không thể tài trợ để giữ những cơ sở Ngọai giao và nuôi những nhân viên vừa ngọai giao vừa gián điệp khắp Thế giới.
Giới công nhân trong guồng máy Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã lưu truyền câu nói:“Ils font semblant de nous payer, on fait semblant de travailler“ (Chúng (nhà nước) làm giống như trả tiền lương, người ta cũng làm giống như có làm việc), nghĩa là họ không trả tiền thì mình cũng không làm việc. David KINGS, trong cuốn sách trích dẫn trên đây, đã tả tình trạng bại họai của những công chức nhà nước như sau: Tất cả mọi người, từ ngưới gác cổng đến Bộ trưởng, đều phải ăn hối lộ nhỏ lớn. Ngay cả những Huy chương cũng đem ra đổi lấy một lượng xúc xích (saucisses) để ăn. (Même les décorations de guerre pouvaient s’échanger contre la quantité de saucisses (Ngay cả những Huy chương chiến chanh cũng có thể đem ra đổi lấy một số lượng xúc xích để ăn) (Sách đã trích dẫn MIKHAIL GORBATCHEV, trang 154)
Tình trạng thê thảm Kinh tế này cảng đẩy mạnh mọi người vào say sưa Vodka, vào ma túy, vào ly dị, đĩ điếm. Một câu khuyên rằng nếu muốn kêu thợ đến sửa điện, thì đừng kêu họ đến lúc sau trưa vì họ có thể làm cháy nhà vì đã say khướt rượu từ buổi sáng rồi.
Sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, chính bản thân tôi đã sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến tận mắt cảnh nghèo khó Kinh tế của Thủ đô quyền lực độc tài này. Tôi đã đến và ăn Phở trong chính Đôm 5 cũ, Tòa nhà Viện Hàn Lâm Khoa học, ngày nay vì nghèo quá, những phòng được phá thủng để bán chạp phô, mở tiệm phở. Tôi đã thăm Đôm 5 mới, tại đây tôi đã được ăn thịt chó (chó Berger KGB) lần đầu tiên từ khi rời Việt Nam năm 1965. Tôi đã có một Huy chương Lénine mang số rất nhỏ 2530, nghĩa là gần kề với Lénine bằng cách đổi chác kiểu saucisses như trên. Việt Nam có 3 Huy chương Lénine: Hồ Chí Minh, Lê Duẫn và Nguyễn Phúc Liên. Số Huy chương của tôi nhỏ, như vậy chắc Huy chương của tôi cao hơn Hồ Chí Minh.
Tình trạng tồi tàn Kinh tế, bại họai xã hội, hòan tòan xười ra của cán bộ và tham nhũng đến những hớp Vodka là một ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ chế độ. Tình trạng giống như trái cây đã chín rữa và sắp tự động rơi xuống đất để thối ra. Nếu lấy dây cột treo nó vào cành, thì may ra nó chưa rụng ngay. Cuộc Cải Cách mà GORBATCHEV tuyên bố chỉ là tìm những sợi dây hy vọng cột lại phần nào cho trái cây chín rũa sắp rơi khỏi cành.
Tuyên bố Cải Cách của GORBATCHEV
Cuộc Cải Cách của Gorbatchev được tóm tắt vào hai chữ GLASNOST và PERESTROIKA
GLASNOST có nghĩa là làm trong sáng, làm thông rõ. Ơû một tình trạng mà cả một hệ thống cán bộ đảng nghiện ngập, say rượu, ăn hối lộ bất cứ cái gì, rồi làm lỗi và bưng bít từ dưới lên trên, chính Gorbatchev cũng không biết đâu là sự thật để mà điều hành. Vậy, phải hô hào làm trong sáng trước tiên trong nội bộ đảng để mới có thể điều hành.
Đối với những cơ quan truyền thông, GLASNOST bao gồm những biện pháp làm nhẹ đi những kềm kẹp làm mất tự do ngôn luận, nhất là về nghệ thuật và thông tin xã hội.
Trong bài Diễn Văn chủ yếu của Gorbatchev ngày 25.06.1987, Gorbatchev đã nêu ra 5 nguyên tắc của PERESTROIKA như sau (Sách đã trích dẫn GORBATCHEV, trang 229):
1) Cho những người đứng đầu Công ty một số quyền độc lập: định hàng sản xuất, định giá bán và định lương thợ theo hiệu năng làm việc.
2) Chuyển việc chỉ huy trung ương tập quyền Kinh tế về những Cơ quan địa phương của đảng.
3) Nới rộng việc chương trình hóa, việc định giá và việc phân phối tiền tệ và tín dụng.
4) Áp dụng những nghiên cứu khoa học vào việc nâng cấp phẩm chất hàng hóa.
5) Chuyển phương pháp quản trị theo hành chánh sang phương pháp quản trị theo chỉ tiêu kinh tế; khai triển việc tự quản trị; nâng cấp thu nhập cá nhân; phân quyền rõ rệt giữa điều hành Chính trị và quản trị Kinh tế.
Tuyên bố 5 nguyên tắc như trên, việc Cải Cách PERESTROIKA là việc, một mặt bỏ dần hệ thống Kinh tế trung ương tập quyền và chỉ huy tòan diện đã làm tàn lụi Kinh tế Nga, một mặt tiến dần đến một nền Kinh tế tôn trọng sáng kiến cá nhân mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường luôn luôn chủ trương. Gorbatchev đã nhìn nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường mới có hy vọng giải quyết được tình trạng Kinh tế tàn lụi của Nga lúc bấy giờ.
PERESTROIKA là một chủ trương cải cách Kinh tế để mong cứu vãn nước Nga. Cũng trong tình trạng tàn lụi Kinh tế này, mà Nga không còn khả năng đảm nhận những chi tiêu cho đối ngọai đúng như lời mà có vấn Chính trị Andrei GRETCHEV đã tuyên bố. Oâng giương cờ hàng thua đối với Chiến tranh Lạnh, giảm thiểu vũ khí, giải ngũ 500'000 lính, thóat ra khỏi cuộc chiến tranh Afghanistan, để tự do cho những nước chư hầu Đông Aâu tự giải quyết nội bộ của mình. Những cuộc nổi dậy đấu tranh của các nước Đông Aâu xẩy ra ra và đi đến thành công nhanh chóng trong hòan cảnh này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 10.12.2009
| | | |
DỰ PHÓNG MỘT QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH
Tham Luận cho cuộc họp mở rộng ngày 28-29/11/2009 của Phong Trào Hiến Chương 2000:
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 26.10.2009
Discussion Paper:
Suggestion of a struggle strategy to effectively neutralize the Vietnamese communist oppression
(SUMMARY BY PHONG TRAO HIEN CHUONG 2000/ CHARTER 2000/ CHARTE 2000)
In this discussion paper, Prof. Dr. NGUYEN PHUC LIEN made a review of the situation of the society of VN under the Vietnamese communist regime, to project a struggle strategy to effectively neutralize the Vietnamese communist oppression based on Article 88 of the Penal Code.
The writer pointed out several periods of the struggle path of the Vietnamese refugees and the people in the homeland, as well as the policy changes of the Vietnamese communists to cope with the dissolution of the Soviet empire and the era of globalization:
- During the years of the refugee exodus until the days of the collapse of the communist empire in Eastern Europe and the Soviet Union (end of the 1980s and early 1990s), the overseas Vietnamese, in general, took care of the struggle against the Vietnamese communist regime, mostly by military solutions (such as Hoang Co Minh’s group). The efforts failed.
- The period of opening to the Western world and "Renovation" : Upon the collapse of the Soviet Union and Eastern Europe, the Vietnamese communists realized a dead end as no more aids came from the communist bloc; they moved to the Western world and the overseas Vietnamese for survival. They opened in economics but still controlled in politics, in what is called: "market economy under the socialist directions". In this period, the struggle of the overseas Vietnamese was mostly in human rights and political rights.
- The struggle initiated by Rev. Thaddeus NGUYEN VAN LY: To the end of the year 2000, Rev. NGUYEN VAN LY was the first man who created a direct struggle battle against the Vietnamese communist regime, under his famous slogan: "Freedom of religion or death!". The struggle was suppressed, but the spirit of Rev. LY has since inspired numerous democracy and church activists to follow his cause. He has become a flame to shine the way for the people to stand up without fear. The struggle forces and the strength of the people in the homeland to stand up for themselves is decisive, Viet struggle organizations overseas can only serve as supportive forces.
- The acceptance of the market economy to participate in the WTO and integrate into the world in the globalization era: 2006 marked the final preparation stage for the Vietnamese communist regime to join the WTO following the APEC Summit in Hanoi, with the decisive help of the U.S. (removed VN from the CPC list by President Bush and other things). The democratic movements (such as the 8406 Bloc) were also given birth in 2006.
- Problems with communist China and the fierce reactions of the people in the homeland: while the Vietnamese communist leaders serve as lackeys and servants to Beijing, they are determined to suppress the democratic movements, victims of injustice, religious churches (Thai Ha, Tam Toa, Bat Nha etc), and even workers who strike to struggle for their working and living conditions. The Bauxite mining exploitation project in the Central Highlands offered to China by the Nguyen Tan Dung government caused fierce waves of challenge, from the military ranks, intellectuals, and religious leaders.
The writer raised nine points to prove that the people of VN are standing up against the Vietnamese communist regime. Oppression and treason of the Communist Party of VN to serve Beijing only leads to more unforeseeable reactions of the religious disciples, intellectuals, students and youths, cadres and officers, army generals, workers and victims of injustice.
Prof. Dr. NGUYEN PHUC LIEN’s suggestion of the ultimate move in the struggle battle in VN is to remove the reactionary mechanism of the current communist regime to pave the way for a smooth transformation to a real market economy, to eliminate the mafia and dictatorial system which is the origin of corruption, jungle laws, sweating the people etc. The main SLOGAN is: "STRUGGLE FOR ECONOMIC ATTAINMENTS" , not political struggle that is subject to the application of Article 88 of the Penal Code.
For more information, please refer to the writer’s discussion paper in Vietnamese submitted to the two-day meeting of the Charter 2000 Movement in Toronto on 28-29 November 2009 that is published in this issue.
Bài này đi từ nhận định tình hình xã hội tại VN dưới quyền cai trị của độc đảng CSVN để đi tới dự phóng một quan điểm đấu tranh.
NHẬN ĐỊNH TÌNH HÌNH
Từ khi đảng CSVN đặt ách thống trị trên tòan lãnh thổ Việt Nam 1975, tình hình đấu tranh đã chuyển biến rất nhiều từ những năm đầu sánh với ngày naỵ
Cho đến ngày sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Nga và Đông Âu
Cuộc đấu tranh đặt nặng ở phía người Việt Hải ngọai, trong khi ấy tại Quốc nội, Dân chúng sống trong sợ sệt dưới quyền cai trị hòan tòan khắt khe và đàn áp của đảng CSVN. Cuộc đấu tranh của người Việt Hải ngọai đặt chính yếu vào giải pháp quân sự nhằm giải phóng Quê Hương. Có những xâm nhập từ ngòai vào, nhưng dân chúng Việt Nam vẫn đang bàng hòang về cuộc chiến mới đây, nhất là đang sống dưới cùm kẹp khát máu của CSVN, nên những xâm nhập này không đủ sức dấy động một cuộc nổi dậy của quần chúng.
Giai đọan CSVN buộc lòng phải mở cửa và "đổi mới"
Khi Cộng sản Nga và Đông Aâu sụp đổ, đảng và Nhà Nước CSVN hòan tòan ở trong thế bí về ngân sách vì không còn sự giúp đỡ của Nga và Đông Aâu nữạ Dân chúng đã phải ăn bo bo trước đây, bây giờ rơi vào tình trạng đói ăn thực sư.. Biết rằng phá hàng rào tre khép kín Chế độ là nguy hiểm, nhưng đảng và Nhà Nước CSVN bắt buộc phải mở cửa chơi với phía Thế giới Tự do vì bí miếng ăn. Người ngọai quốc và Việt kiều có thể vào Việt Nam và giao tiếp với dân chúng quốc nộị Qua những giao tiếp này, người quốc nội biết đến ý chí đấu tranh của khối người Việt tỵ nạn. Cũng trong thời kỳ này, việc đấu tranh, vẫn chính yếu từ Hải ngọai, nhưng chuyển hướng sang đấu tranh cho ý thức Chính trị, Nhân quyền, hơn là giải pháp quân sự như thời gian trước đâỵ
Cuộc đấu tranh của Lm.NGUYỄN VĂN LÝ: một ngọn lửa công khai đốt lên
Những giao tiếp với nước ngòai và với Việt kiều cho dân quốc nội biết đến ý chí đấu tranh tại Hải ngọai, nhưng giới biết tin vẫn còn dè dặt chưa lên tiếng. Chính trong tình hình dè dặt này mà cuộc đấu tranh của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ được coi là tiên phong thắp lên NGỌN LỬA đấu tranh . Cuộc đấu tranh của Linh mục tuy bị đàn áp, nhưng việc làm này đã mang lại hiệu quả tác động tâm lý, nói lên ý nghĩa phải can đảm đứng lên từ quốc nội thì mới hy vọng thay đổi được Cơ Chế đàn áp của CSVN. Điều quan trọng ở đây là phải đặt tầm quyết định ở LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI tự giải phóng mình. Ý chí đấu tranh giải phóng Quê Hương của Hải ngọai trở thành ý chí HỖ TRỢ cho Quốc Nộị
Tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường để sửa sọan vào WTO hội nhập với Thế giới
Cách đây 7 năm, đảng và Nhà Nước CSVN đồng lọat tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Họ thêm cái đuôi "định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa". Thực ra, một là để chữa thẹn, hai là một cái vỏ bọc cho một CƠ CHẾ vẫn giữ độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Với Cơ Chế này việc tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường là tréo cẳng ngỗng.
Nhờ sự giúp đỡ của Hoa kỳ, Việt Nam đã vào được WTỌ Khi giúp đỡ như vậy, TT.BUSH đồng thời cũng mong mỏi một Tiến Trình Dân Chủ hóa Việt Nam.
Cuộc đấu tranh tại Quốc nội cũng như Hải ngọai khởi sắc lên như trông đợi ở áp lực của Hoa kỳ và Tây phương. Tại Quốc nội một Phong trào gọi là những Nhà Dân chủ đã công khai ra mặt. Tại Hải ngọai, một số nhóm Chính trị, nào thành lập những Chính phủ lưu vong, nào là hé cho thấy chủ trương Hòa Giải Hòa Hợp. Họ có lẽ hy vọng vào áp lực của Hoa kỳ để được về Việt Nam cùng với CSVN thực hiện Tiến Trình Dân Chủ Hóạ
Nếu có hứa với TT.BUSH để được ra khỏi danh sách Những Nước Bị Quan Tâm Đặc Biệt vì vi phạm Tự do Tôn giáo, rồi vào WTO, vào Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, thì ngày nay CSVN đã phản bội lại lời hứa Tiến Trình Dân chủ hóạ
Sa lầy với Trung Cộng và việc đứng lên mạnh mẽ tại Quốc nội
"Đi với Mỹ thì mất đảng; Đi với Tầu thì mất nước", đó là câu mà dân Hà Nội thường nói với nhaụ CSVN không muốn mất đảng, thà là mất nước. Đảng và Nhà Nước CSVN ngày nay đã hòan tòan chọn lựa đi với Trung Cộng để mất nước. CSVN đã thẳng tay đàn áp các Phong trào Dân Chủ, đàn áp tất cả những ai động chạm đến cuộc xâm lăng Lãnh Thổ, Lãnh Hải và Kinh tế của Trung Cô.ng.
Chính những cuộc đàn áp không chính đáng này đã tạo lên làn sóng phản kháng từ mọi giới tại Việt Nam:
1) Dân Oan mất Nhà, Đất đã công khai kéo về Sài Gòn và Hà Nộị Cuộc đàn áp mà không giải quyết cho có Công lý càng làm tăng thên uất ức sẵn sàng bùng nổ nơi Dân Oan.
2) Công nhân đã làm những cuộc đình công. Ngày nay hậu quả của Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới và việc nhân công Trung quốc ồ ạt vào VN càng làm công nhân VN thất nghiệp. Nguồn phản kháng này mỗi ngày một nhen nhúm, đe dọa nổ lớn.
3) Những vụ Tòa Khâm sứ Hà Nội, Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý làm hàng Giám mục, Linh mục, Tu sĩ và Giáo dân Công giáo đòan kết quyết tâm đấu tranh cho CÔNG LÝ.
4) Việc Trung Cộng cấm đóan Ngư dân miền Trung đánh cá trong vùng Biển VN, rồi đánh đập, cướp bóc Ngư dân lánh nạn bão số 9 vừa qua đang tạo phẫn nộ từ dân chúng đối với Nhà Nước CSVN hèn yếụ
5) Vụ Bôxít Tây Nguyên đã dấy động lên phong trào phản đối công khai của giới Trí thức và ngay cả phía quân độị
6) Từ vụ Bôxit đến hàng hóa Trung quốc tràn ngập Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã công khai kêu gọi tòan dân cứu nguy Đất Nước, không xài hàng Trung quốc.
7) Trước nạn xâm lăng Kinh tế của Trung quốc, giới chuyên gia Kinh tế VN đã công khai lên tiếng phản đối và kêu gọi cứu nguy Đất Nước. Vietnamnet ngày 15.06.2009 đã viết: "Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, "quét" sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các doanh nghiệp VN đang "thua trắng bụng". Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới doanh nghiệp và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc."
8) Theo lệnh của Trung quốc, qua Tùy viên Thương mại Hồ Tỏa Cẩm, Nguyễn Tấn Dũng ra Quyết Định 97 ngày 24.07.2009 cấm đóan giới Trí thức phản biện đụng chạm đến Tầụ Tổ chức IDS tự giải tán vì lý do Quyết Định bịt miệng nàỵ
9) Một cuộc Thảo Luận công khai được tổ chức ngày 22.09.2009 gồm những Giáo sư Đại học về Kinh tế đã nói lên tính cách tréo cẳng ngỗng của mô hình Kinh tế Tự do Thị trường "định hướng XHCN", nghĩa là một CƠ CHẾ vẫn chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Giáo sư Tiến sĩ TRẦN NGỌC HIÊN phát biểu: "Sự phát triển của nhà nước pháp quyền và chế độ dân chủ trở thành mắt xích chủ yếu giữa kinh tế thị trường với thể chế chính tri.. Về mặt chính trị, sự phát triển kinh tế thị trường trở thành bước ngoặc kết thúc các chế độ chuyên chế và hình thành chế độ dân chủ. "Không thể coi là đã hình thành nền kinh tế thị trường khi nhà nước chưa ra khỏi tình trạng quan liêu, tham nhũng phổ biến. Không thể coi là đã có nhà nước pháp quyền khi trong xã hội còn thiếu dân chủ và tính tự phát của người dân còn phổ biến". Câu nói cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do Thị trường thực sự phải dẫn đến DÂN CHỦ.
Tình hình qua 9 điểm kể ra trên đây cho thấy rằng Quốc Nội đang đứng lên dắu tranh, từ giới đại đa số là Dân nghèo, đến giới Trí thức và Lực lượng các Tôn giáọ Cuộc đấu tranh của Lực Lượng Quốc nội mỗi ngày mỗi tăng. Đảng và Nhà Nước CSVN càng đàn áp bao nhiêu, thì càng đi vào chỗ bí vì dựa vào lý do bất chính và càng làm cho dân chúng phẫn nộ vì biết rõ đây là hành động cả vú lấp miệng em mà thôị
DỰ PHÓNG MỘT QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH
Trong khí thế đấu tranh đang lên mạnh của tòan dân gồm mọi giới, chúng tôi xin mạn phép đưa ra một quan điểm đấu tranh gồm những điểm sau đây:
1) Mục đích tối hậu đi tới của đấu tranh: DỨT BỎ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Mục đích này hòan tòan mang tính cách Kinh tế. Chúng ta nhằm vào việc phát triển Kinh tế Đất Nước. Nhân danh việc phát triển này, chúng ta không thể để việc độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Cái CƠ CHẾ chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế là nguồn gốc những tham nhũng, hối lộ, bất công. Không thể phát triển Kinh tế chỉ cho một nhóm ngườị Thực vậy, chính CƠ CHẾ này đang tạo Kinh tế Mafia: nhóm người tham nhũng hối lộ giầu nứt khố và dân lam lũ làm ăn nghèo kiết xác.
Chúng ta lấy lý do dấu tranh là Kinh tế, đó là xây dựng và không phải là phạm điều 88 mà CSVN cố ngụy biện gán cho những ai không đồng ý với những cướp bóc của ho..
Chính sự phát triển Kinh tế Tự do này đặt nền tảng để những tác nhân Kinh tế (mọi người) thiết lập ra nguyên tắc DÂN CHỦ trước hết để giải quyết những tranh chấp quyền lợi, sau đó cùng nhau chấp nhận hệ thống Pháp Luật cho cuộc sống chung đụng xã hội cho CÔNG BẰNG.
DÂN CHỦ là nguyên tắc hệ quả của việc phát triển Kinh tế Tự dọ Nhắc hai chữ Dân chủ, CSVN ngụy biện nói chúng ta phạm điều 88. Chúng ta chỉ nói Phát triển Kinh tế Tự dọ
2) Những điểm cụ thể đấu tranh
Chúng ta phải đấu tranh với một Nhà Nước độc tài và ngụy biện, xử dụng vũ lực và nhà tù để đàn áp. Vì vậy, trước khi đấu tranh, chúng ta phải nghĩ đến chống đỡ cho điểm mình đấu tranh. Chúng tôi nêu ra những điểm đấu tranh sau đây:
ạ. Đấu tranh đòi CÔNG LÝ
Khi đòi CÔNG LÝ, chúng ta được sự ủng hộ của khối Dân Oan và Lực lượng các Tôn giáọ Dân Oan và Tôn giáo đang đòi Công lý.
b. Đấu tranh bênh vực nghề nghiệp cho Công nhân và Ngư dân
Công nhân mỗi ngày mỗi mất việc vì nhân công Trung quốc tràn vàọ Ngư dân mất nơi đánh cá do Tầu chiếm Biển và Hải đảọ
c. Đấu tranh chống khai thác Bôxit Tây Nguyên và việc Tầu xâm lăng Hòang/Trường Sa
Đây là việc dấy động giới Trẻ Sinh viên Học sinh và giới Trí thức, cũng như nhiều giới khác, nghĩ đến Tiền đồ Đất Nước.
d. Đấu tranh chống xâm lăng Kinh tế Trung quốc
Hàng Trung quốc, nhất là hàng độc, lan tràn Việt Nam và giết Kinh tế Việt Nam. Những Dự án rơi vào tay Trung quốc. Mỗi Dự án hàm ngụ việc xuất cảng thiết bị và công nhân Tầu sang Việt Nam. Mỗi Dự án là việc nhận nợ mà Thế hệ tương lai phải oằn lưng trả nơ.. Dây là khía cạnh dấy động tòan dân, đặc biệt giới doanh nhân.
ẹ Triệt để chống Tham nhũng, Lãng phí
Đây không phải là cá nhân, mà chính là CƠ CHẾ làm phát sinh và nuôi dưỡng vi trùng Tham nhũng, Lãng phí ăn ruỗng đời sống Kinh tế của tòan dân. Chống Tham nhũng, Lãng phí là chống chính cái CƠ CHẾ hiện hành vậỵ CSVN không thể nói việc chống tham nhũng là phạm điều 88.
f. Đấu tranh cho Tự do phản biện xây dựng Kinh tế
Nếu CSVN ngụy biện cấm phản biện đối với khía cạnh Chính trị, thì chúng ta tối thiểu đòi Tự do phản biện để XÂY DỰNG KINH TẾ, phát triển Đất nước.
Chúng tôi ao ước rằng những điểm ĐỀ NGHỊ ĐẤU TRANH trên đây trở thành PHONG TRÀO, nghĩa là các Nhóm đấu tranh CÙNG NHAU nói lên MỘT tiếng nói cho ma.nh.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 26.10.2009 | | | |
**************************** MẶT TRẬN DIỆT TRỪ THAM NHŨNG *********************** VÀ LÃNG PHÍ ************************************************************************************************* | | | |
PHÁT TRIỂN HAY TƯ DUY NHIỆM KỲ ?
Người Buôn Gió
Mấy chữ “tư duy nhiệm kỳ” nghe mà phát ghét. Ở đó bao hàm tất cả những cái gì là hủ bại nhất trong tính cách dân tộc, nhất là cái tính cách ăn xổi ở thì. Ăn xổi ở thì thì làm bất kỳ việc nào cũng cốt qua loa cho xong đi, để mà còn nặng túi trở về với gia đình, chăm sóc cái tổ ấm vốn đã lo đâu vào đấy trong khi đang tại chức. Cho nên mọi việc anh làm, tiếng là vì dân, nhân danh thật to tát, cuối cùng chỉ là đổ vỏ ra đấy để cho kẻ đến sau đi hót. Và chu trình cứ thế lặp đi lặp lại, trở thành một đại họa cho dân. Một thành phố Hà Nội mà càng cải tạo lại càng nhếch nhác chẳng phải vì thế thì còn gì. Nghe đâu ngài đương kim trọng thần của nhiệm kỳ này đang cố tranh thủ một mảnh đất nào đấy ở Hồ Mây, cái đích ngài cố ngắm cho trúng, chứ đâu phải là nghĩ suy về những quy hoạch tổng thể cho Hà Nội ngàn năm “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như cụ Hồ nói. Trách gì mới vài năm trước khi nước mưa biến cả thành phố thành sông thì có vị quan to đã có ngay một câu thật nổi tiếng: Dân Hà Nội bây giờ quen dựa dẫm vào Nhà nước mất rồi. Thì chính là vì dựa dẫm vào Nhà nước mà dân chúng Thủ đô chúng tôi cứ tưởng rồi sẽ có đường phố khang trang, đi lại thông thoáng hơn, nào hay bây giờ ra đường đã thấy ngay những con đường do Nhà nước cải tạo đã đang tắc ứ. Còn các khu Hà Nội mới mở từ khi Thủ đô ta giải phóng đến nay nhất là từ khi có đồng vốn vay nước ngoài để làm kinh tế thị trường, thì nhiều nơi lại còn ngõ ngách chật hẹp, chen chúc, lúc nhúc còn hơn cả Hà Nội 36 phố phường thuở xưa. Những nơi ấy xe cộ tha hồ mà tắc.
Ấy là lấy một Hà Nội mà làm ví dụ vậy thôi chứ xem binh tình cả nước thì có đâu mà không tắc. Các quan đầu tỉnh còn làm được gì hơn ngoài việc bán rừng mà sống theo kiểu “sống chết mặc bay”. Các kế hoạch xây dựng càng xây càng hỏng, nào hầm Thủ Thiêm, đường hầm Kim Liên…; có nhà máy như Dung Quất tưởng đã vận hành từ lâu thì nay lại phát hiện thêm 100 lỗi trong khi thi công nên phải tạm ngưng, không biết sẽ còn ngưng đến bao giờ. Các đại tập đoàn đứng sau Nhà nước, tưởng lập ra là cốt tăng thêm GDP, giúp cho an sinh được cải thiện, dân đỡ khổ hơn, nào hay anh nào cũng dài mồm than lỗ, mới ra Tết mọi thứ sản phẩm của họ đã tăng giá vùn vụt, nghĩa là họ chỉ góp phần vào bĩ cực mà chẳng thấy có thái lai.
Vậy thì còn gì nữa nhỉ nếu ta chưa tìm cách cắt phăng ngay đi cái kiểu tư duy nhiệm kỳ, tống quách nó vào quá khứ có hơn không?
Bauxite Việt Nam
Dự án khai thác quặng nhôm trên Tây Nguyên của Chính phủ gặp nhiều ý kiến phản đối trong mọi giai tầng nhân dân. Nhưng vì sự thống nhất từ Bộ Chính trị mà dự án này đột nhiên được thông báo là tiếp tục triển khai vì lợi ích kinh tế khu vực Tây Nguyên và được sự đồng thuận cao trong nhân dân? Tưởng rằng dự án khai thác này ký cách đây nhiều năm, như việc đã rồi với Trung Quốc. Không thể dừng lại được cho nên bằng mọi giá bỏ qua những lời khuyên của các nhà chuyên môn, trí thức, Bô Xít Tây Nguyên (cụm từ chắc chăn sẽ gắn liền với thể chế này để đi vào lịch sử) vẫn triển khai như thống nhất trước từ đâu đó.
Cho dù bô xít được triển khai trên Tây Nguyên, những tiếng nói ngăn cản không thành, nhưng thiết nghĩ đó cũng là bài học cho những nhà lãnh đạo đất nước khi động bút đến tài nguyên, môi trường, vị trí chiến lược của đất nước sẽ cẩn trọng hơn. Để cho họ nhận ra một điều minh bạch là bất ổn xã hội không phải do các thế lực thù địch nào tạo ra, mà bất ổn có thể do chính những quyết sách không được lòng dân. Một sự thật hiển nhiên là chưa có dự án nào từ xưa đến nay của Chính phủ mà bị chỉ trích công khai nhiều như dự án khai thác bô xít.
Người ta đưa nhiều lý do để biện minh cho việc khai thác bô xít, một nguyên nhân thuyết phục nhất là để phát triển kinh tế địa phương. Những người dân Tây Nguyên quanh năm sống trong nghèo khó, một sớm mai nghe tin có dự án, có việc làm, có cơ hội kinh doanh, dịch vụ… những cơ hội cải thiện đời sống được vẽ ra rạng ngời. Và hiện thực là tiền của đang đổ vào nơi họ sống. Dân nào mà chả muốn, nhất là dân nghèo. Họ đâu cần biết ngày mai, hay thế hệ sau hậu quả ra sao. Bởi vì họ không tính được đến mai sau cho nên họ là dân. Còn những người ra quyết sách lớn lao đó họ có tính được không ? Tôi nghĩ họ tính được bởi vì họ nói họ khôn ngoan hơn dân, có đạo đức hơn dân. Bởi thế dân đã tin tưởng chọn họ làm lãnh đạo để ra những quyết sách.
Môt số người nói rằng những hành vi đang bán nước.
Tôi không nghĩ vậy hoặc chưa dám nghĩ vậy. Xưa nay bề trên kết tội kẻ dưới có thể tùy tiện. Nhưng kẻ dưới hặc tội bề trên thì dù có lý lẽ hẳn hoi đều có kết cục bi thảm. Mệnh đề “bán nước” là chuyện nghiêm trọng, cần đông đảo nhân dân hay lịch sử sau này phán xét mới thật sự khách quan.
Mới đây người ta vừa được biết có hơn 300 ngàn ha rừng đầu nguồn đã được cho Trung Quốc thuê với thời gian đến nửa thế kỷ.
Lý do đưa ra vẫn muôn thuở – phát triển kinh tế khu vực.
Một dự án bô xít Tây Nguyên mà dư âm phản đối còn chưa lắng đọng, lại tiếp thêm 300 nghìn ha rừng đầu nguồn.
Phát triển kinh tế khu vực hay tư duy nhiệm kỳ?
Có lẽ cụm từ “tư duy nhiệm kỳ” nhẹ nhàng và có phần sát với thực tế hơn là kết luận “bán nước”.
Ở nhiệm kỳ của mình, vị lãnh đạo nào cũng muốn thể hiện được việc gì đó rõ ràng mang ích lợi về cho địa phận mình quản lý. Ở tình trạng dân chúng làm ăn tư duy manh mún, chụp giật, cán bộ dưới quyền quan liêu , năng lực yếu, bộ máy hành chính cồng kềnh những vận hành trì trệ, không ăn khớp… để giải quyết hạ tầng năng lực, tư duy ở một địa phương như vậy, nhà lãnh đạo cần bao nhiêu năm? Giải quyết vấn đề phi vật thể như vậy, công sức bỏ ra nhiều, thời gian cũng nhiều mà kết quả không thể đánh giá được ngay. Người lãnh đạo cầu toàn thường hay chọn cho mình phương án tối ưu nhất trong thời gian mình lãnh đạo địa phương. Và cách thu được tiền bạc nhanh nhất là cho thuê đất, đào tài nguyên đem bán lấy tiền? Nhất là không thể không nói đến những khoản hoa hồng cho người đặt bút ký.
Nhiệm kỳ 10 năm làm vậy, thì các lãnh đạo khác của 40 năm sau này còn gì để thuê, còn gì để khai thác. Nếu cứ tiếp tục như vậy thì chỉ thêm vài nhiệm kỳ nữa, con người Việt Nam còn chưa chắc thuộc về mình chứ đừng nói đến đất đai, tài nguyên, chủ quyền, văn hóa…
Người ta lại có thể lý giải, nhiệm kỳ này cho thuê đất, khai thác tài nguyên để lấy vốn phát triển nội lực, sau này không phải bán hay cho thuê gì nữa. Vẫn là ngụy biện cho qua nhiệm kỳ thôi. Hạ tầng năng lực, chuyên môn, kiến thức, tư duy… con người như vậy thì tiền đổ vào thế chứ nữa cũng chỉ làm nháo nhào trương cái biển, dựng cái cổng, mua máy móc cũ vận hành loáng thoáng để chụp ảnh, quay phim lấy thành tích rồi bỏ đó, quản lý và phát triển được đâu. Cốt có lý do để mang tiền về rồi chia nhau tiêu, rồi có số liệu để nói kinh tế đang tăng trưởng… Việc này xảy ra nhan nhản ở khắp các địa phương.
Bao nhiêu tài nguyên đã ra đi để mong mỏi làm vốn liếng cho đất nước phát triển, một mỏ than Quảng Ninh mênh mông tưởng rằng vô tận. Thì ngày hôm nay điện tăng giá vì lý do than phải nhập từ Trung Quốc về nên giá lên. Cả một khu dầu mỏ Dung Quất, Vũng Tàu đầy tiềm năng, đầu tư không biết bao nhiêu, mà giờ để xăng, dầu tăng giá với lý do nhập khẩu dầu thế giới tăng. Chúng ta khai thác tài nguyên lấy vốn để giờ chúng ta vượt xa Căm Pu Chia những 20 năm. Tự hào chăng?
Giờ đang còn nhiều tài nguyên nữa đang và chuẩn bị ra đi để đổi lại cho đất nước, con người Viêt Nam này là gì?
- Là hãy nghĩ đến bản thân mình bây giờ đi, xã hội thế nào có người khác lo.
Đó là lời của người có quyền sinh sát nhắc nhở tôi, chắc chắn nhiều rất nhiều người trong nhân dân chúng ta cũng nghĩ vậy. Đôi khi có lúc tôi không nghĩ vậy, vì thỉnh thoảng không nghĩ vậy tôi viết bài như thế này.
Còn bình thường tôi lại nghĩ rằng:
Chúng ta đừng nhìn Nhật, Nam Hàn, Phi, Mã, Sing, Thái, In Do… chúng ta nhìn Căm Pốt, Bắc Hàn để thấy rằng mình còn hạnh phúc, còn lạc quan, còn tin tưởng vào những gì mà chúng ta bảo nhau là cần lạc quan tin tưởng.
Nguồn: nguoibuongio. multiply. com
| | | |
KINH DOANH QUYỀN CHỨC TRONG CƠ CHẾ CSVN
"Kinh doanh" quyền chức - Một hiện tượng đáng lo ngại
Mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn nạn này.
LTS: Chuyện "chạy chức chạy quyền" xảy ra lâu nay ở một số nơi đã khiến không ít nhà lãnh đạo cũng như người dân quan tâm, lo lắng, thậm chí trở thành đề tài chất vấn tại Diễn đàn Quốc hội. Đây là một hiện tượng không phổ biến song rất đáng lo ngại và cần được đấu tranh loại trừ.
Nhà báo Nguyễn Quang Thiều bày tỏ góc nhìn riêng về hiện tượng này.
Trong một cuộc họp giao ban quận huyện của Hà Nội mới đây, Bí thư Thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị đã thẳng thắn nói: "Cơ chế có những sơ hở khiến nhiều người giàu bất thường, họ có quyền lực nên người khác cứ đưa hối lộ cho dù họ không đòi". Câu nói của ông rõ ràng làm cho ai cũng hiểu được rằng có quá nhiều người giàu lên một cách vô lý. Họ giàu không bởi trí tuệ, không phải tìm ra một con đường kinh doanh xuất chúng và không phải bởi những sự lao động không mệt mỏi của họ mà bởi được hối lộ. Ai được hối lộ? Tất nhiên chỉ là những người có quyền có chức mà thôi.
Không phải ngẫu nhiên mà dân gian xì xào với nhau, "kinh doanh" quyền chức là thứ kinh doanh mau lãi nhất.
Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn đề gây đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn đề này.
Ai cũng biết rằng hậu quả của việc mua quan bán chức là trực tiếp làm suy yếu hệ thống quản lý nhà nước và đẩy đất nước vào ngõ cụt, không chỉ trong việc phát triển đất nước mà trong cả nhân cách của một thể chế.
Bên cạnh đó, nạn mua quan bán chức sẽ là bức "tường lửa" nhưng không gây ra hoả hoạn để ngăn chặn những người có tài, có đức có thể giúp điều hành quản lý xã hội.
Những câu chuyện mà người dân vẫn nói với nhau trong công sở, trong quán cà phê... về sự giàu có của nhiều người có chức có quyền nghe mà kinh hãi. Đấy là chỉ nói đến những tài sản mà người xã hội nhìn thấy thôi. Những tài sản đó có thể không mang tên người có chức có quyền đó nhưng mang tên vợ hoặc chồng họ, con cái họ, cháu nội cháu ngoại họ nữa...
Nếu thực sự chống tham nhũng thì chúng ta chỉ làm điểm một số người có quyền có chức xem nguồn gốc những tài sản đó của họ từ đâu ra? Giải pháp tưởng đơn giản, nhưng chúng ta có thực sự muốn chống tham nhũng không và ai sẽ dám đi đầu trong chuyện này?
Các tổ chức chống tham nhũng của chúng ta hiện nay sẽ chống tham nhũng những ai và bằng cách nào khi những người đứng đầu tổ chức chống tham nhũng ở cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp huyện rồi đến các cơ quan... lại là những người đứng đầu thành phố ấy, tỉnh ấy, huyện ấy hay cơ quan ấy?
Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nói rằng hiện có tình trạng tham nhũng không phải do cơ quan, tổ chức phát giác mà đa phần do quần chúng...
Không phải là các cơ quan, các tổ chức... kém năng lực mà là họ không dám làm.
Bởi thế, chỉ khi những người dân là những người trong tổ chức chống tham nhũng thì cuộc đấu tranh chống tham nhũng mới có hiệu quả.
Nhân dân sẽ đề cử các thành viên vào các tổ chức chống tham nhũng. Đó là những người có trình độ, có lương tâm và không được có quyền chức.
Chúng ta ai ai cũng hiểu rằng: kẻ tham nhũng đương nhiên phải là những người có quyền có chức chứ nhân dân thì tham nhũng bằng cách gì. Bởi một chữ ký của người có quyền có chức là có thể giúp cho một nhà thầu, một công ty, một doanh nhân sau một đêm ngủ dậy bỗng có trong tay hàng trăm tỉ. Hoặc một chữ ký cho một người vào vị trí này hay vị trí kia và với vị trí đó họ có thể thu mỗi năm hàng chục tỉ.
Bí thư Phạm Quang Nghị nói những người có quyền cho dù không đòi hỏi gì nhưng cứ bị hối lộ. 500.000 đô la không hạ gục được sự liêm khiết của người lãnh đạo đó thì 1.000.000 đô la. Nếu 1.000.000 đôla không đủ mạnh để hạ gục thì nhiều đô la hơn nữa... Bức thành trì liêm khiết của con người cũng có lúc bền vững hơn dãy Trường Sơn nhưng nhiều khi chỉ yếu như tờ giấy bị thấm nước.
Hơn nữa, người nhận hối lộ luôn luôn tin tưởng rằng có phải một mình mình nhận hối lộ đâu, quanh mình nhiều người lắm. Bằng chứng là mình cũng hối lộ để có được vị trí hiện thời của mình cơ mà.
Những nguồn lợi khổng lồ từ vị trí quyền lực làm cho biết bao người mơ ước quyền lực. Và thế là cuộc chạy đua bằng tiền để chiếm lấy quyền lực là những cuộc chạy đua không khoan nhượng, không lương tâm và chẳng vì nhân dân hay đất nước gì cả.
Cách đây khoảng 10 năm, trong một lần làm việc với huyện Mai Châu, Hoà Bình, tôi thấy số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai làm thất thoát của Nhà nước bằng tổng thu nhập của huyện Mai Châu trong 80 năm. Nghĩa là tất cả Huyện uỷ, UBND và nhân dân các ngành nghề của huyện Mai Châu làm gần một thế kỷ mới bằng số tiền "lấy cắp" hợp pháp của ông Mười Hai. Mà số tiền ấy so với một người có quyền có chức nào đấy thời nay nhận hối lộ hay tham nhũng như báo chí đã phanh phui thì chỉ bằng muối bỏ bể.
Câu chuyện về một đồng chí lãnh đạo đem nộp tổ chức tiền cấp dưới và những người nhờ vả mừng tuổi trong một cái tết đơn sơ đã là 4 tỷ thì hỏi tiền lại quả hay tiền chạy chức chạy quyền sẽ là bao nhiêu ? Hỏi thì hỏi vậy thôi chứ biết làm thế nào. Mà có biết làm thế nào thì ai làm?
| | | |
VIỆT NAM: KINH DOANH QUYỀN CHỨC LÃI NHẤT
http://danluan. org/node/ 3773 Bài viết này được đăng trên Tuần Việt Nam, nhưng sau đó đã bị gỡ xuống...
Đã nhiều năm nay, mọi người Việt Nam đều hiểu và nói với nhau rằng: không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức. Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức... Trong một cuộc họp giao ban quận huyện của Hà Nội mới đây, Bí thư Thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị đã thẳng thắn nói: "Cơ chế có những sơ hở khiến nhiều người giàu bất thường, họ có quyền lực nên người khác cứ đưa hối lộ cho dù họ không đòi". Câu nói của ông rõ ràng làm cho ai cũng hiểu được rằng có quá nhiều người giàu lên một cách vô lý. Họ giàu không bởi trí tuệ, không phải tìm ra một con đường kinh doanh xuất chúng và không phải bởi những sự lao động không mệt mỏi của họ mà bởi được hối lộ. Ai được hối lộ? Tất nhiên chỉ là những người có quyền có chức mà thôi. Đã nhiều năm nay, mọi người Việt Nam đều hiểu và nói với nhau rằng: không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức. Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn nạn này.
Ai cùng biết rằng hậu quả của việc mua quan bán chức là trực tiếp làm suy yếu hệ thống quản lý nhà nước và đẩy đất nước vào ngõ cụt, không chỉ trong việc phát triển đất nước mà trong cả nhân cách của một thể chế.
Bên cạnh đó, nạn mua quan bán chức sẽ là bức "tường lửa" nhưng không gây ra hoả hoạn để ngăn chặn những người có tài, có đức có thể giúp điều hành quản lý xã hội.
Những câu chuyện mà người dân vẫn nói với nhau trong công sở, trong quán cà phê... về sự giàu có của nhiều người có chức có quyền nghe mà kinh hãi. Đấy là chỉ nói đến những tài sản mà người xã hội nhìn thấy thôi. Những tài sản đó có thể không mang tên người có chức có quyền đó nhưng mang tên vợ hoặc chồng họ, con cái họ, cháu nội cháu ngoại họ nữa...
Nếu thực sự chống tham nhũng thì chúng ta chỉ làm điểm một số người có quyền có chức xem nguồn gốc những tài sản đó của họ từ đâu ra? Giải pháp tưởng đơn giản, nhưng chúng ta có thực sự muốn chống tham nhũng không và ai sẽ dám đi đầu trong chuyện này?
Các tổ chức chống tham nhũng của chúng ta hiện nay sẽ chống tham nhũng những ai và bằng cách nào khi những người đứng đầu tổ chức chống tham nhũng ở cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp huyện rồi đến các cơ quan... lại là những người đứng đầu thành phố ấy, tỉnh ấy, huyện ấy hay cơ quan ấy?
Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nói rằng hiện có tình trạng tham nhũng không phải do cơ quan, tổ chức phát giác mà đa phần do quần chúng...
Không phải là các cơ quan, các tổ chức... kém năng lực mà là họ không dám làm.
Bởi thế, chỉ khi những người dân là những người trong tổ chức chống tham nhũng thì cuộc đấu tranh chống tham nhũng mới có hiệu quả.
Nhân dân sẽ đề cử các thành viên vào các tổ chức chống tham nhũng. Đó là những người có trình độ, có lương tâm và không được có quyền chức.
Chúng ta ai ai cũng hiểu rằng: kẻ tham nhũng đương nhiên phải là những người có quyền có chức chứ nhân dân thì tham nhũng bằng cách gì. Bởi một chữ ký của người có quyền có chức là có thể giúp cho một nhà thầu, một công ty, một doanh nhân sau một đêm ngủ dậy bỗng có trong tay hàng trăm tỉ. Hoặc một chữ ký cho một người vào vị trí này hay vị trí kia và với vị trí đó họ có thể thu mỗi năm hàng chục tỉ.
Bí thư Phạm Quang Nghị nói những người có quyền cho dù không đòi hỏi gì nhưng cứ bị hối lộ. 500.000 đô la không hạ gục được sự liêm khiết của người lãnh đạo đó thì 1.000.000 đô la. Nếu 1.000.000 đôla không đủ mạnh để hạ gục thì nhiều đô la hơn nữa... Bức thành trì liêm khiết của con người cũng có lúc bền vững hơn dãy Trường Sơn nhưng nhiều khi chỉ yếu như tờ giấy bị thấm nước.
Hơn nữa, người nhận hối lộ luôn luôn tin tưởng rằng có phải một mình mình nhận hối lộ đâu, quanh mình nhiều người lắm. Bằng chứng là mình cũng hối lộ để có được vị trí hiện thời của mình cơ mà.
Những nguồn lợi khổng lồ từ vị trí quyền lực làm cho biết bao người mơ ước quyền lực. Và thế là cuộc chạy đua bằng tiền để chiếm lấy quyền lực là những cuộc chạy đua không khoan nhượng, không lương tâm và chẳng vì nhân dân hay đất nước gì cả.
Cách đây khoảng 10 năm, trong một lần làm việc với huyện Mai Châu, Hoà Bình, tôi thấy số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai làm thất thoát của Nhà nước bằng tổng thu nhập của huyện Mai Châu trong 80 năm. Nghĩa là tất cả Huyện uỷ, UBND và nhân dân các ngành nghề của huyện Mai Châu làm gần một thế kỷ mới bằng số tiền "lấy cắp" hợp pháp của ông Mười Hai. Mà số tiền ấy so với một người có quyền có chức nào đấy thời nay nhận hối lộ hay tham nhũng như báo chí đã phanh phui thì chỉ bằng muối bỏ bể.
Câu chuyện về một đồng chí lãnh đạo đem nộp tổ chức tiền cấp dưới và những người nhờ vả mừng tuổi trong một cái tết đơn sơ đã là 4 tỷ thì hỏi tiền lại quả hay tiền chạy chức chạy quyền sẽ là bao nhiêu ? Hỏi thì hỏi vậy thôi chứ biết làm thế nào. Mà có biết làm thế nào thì ai làm?
Theo TVNN
| | | |
CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH: MỘT BỘ MÁY THAM NHŨNG MỌI CẤP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 17.12.2009
Chúng tôi luôn luôn viết rằng diệt THAM NHŨNG không phải là đi tìm diệt cá nhân, nhưng là lọai trừ những hòan cảnh để cái mầm tham nhũng sẵn có ở trong mỗi người có cơ hội phát triển. Chúng tôi ví tham nhũng là một trứng trùng nằm sẵn trong mỗi người. Ở trong hòan cảnh không thuận lợi thì trứng không nở ra và lớn lên. Nhưng khi gặp hòan cảnh thuận tiện, thì nó nở thành trùng và lớn lên. Vì vậy, diệt THAM NHŨNG là lọai bỏ cái môi trường thuận lợi để trứng sinh ra trùng và lớn lên được.
Hiện nay, ai cũng than phiền rằng THAM NHŨNG nhan nhản, nghĩa là trứng trùng tham nhũng đã nở thành con và lớn lên, sinh thêm con cái từng đàn nhung nhúc. Chính vì vậy mà Nguyễn Tấn Dũng mới hô hào diệt tham nhũng. Cách diệt tham nhũng là đi bắt từng con trùng trong khi ấy để yên lành cái hòan cảnh, cái khỏang đất tốt để trùng ẩn tránh, để trứng tham nhũng vẫn sinh ra thêm trùng và lớn lên.
Tham nhũng đầy đàn
Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.”
Phóng viên Hải Châu, ngày thứ Tư 16.12.2009, đã tả những nguy hiểm của người tố cáo tham nhũng như những trường hợp sau đây:
=> Người tố cáo tham nhũng thường phải chấp nhận cuộc đối đầu không cân sức với kẻ tham nhũng và các thế lực chìm, nổi - nhận định của Phó chánh văn phòng Ban chỉ đạo TƯ phòng chống tham nhũng Lê Mạnh Luân.
=> “Tôi là người trực tiếp tố cáo vụ việc tiêu cực nhưng thấy quá đơn độc". Đó là lời bộc bạch của ông Lê Phước Cẩm (xã Quế Trung, huyện Quế Sơn, Quảng Nam) tại hội nghị biểu dương 29 cá nhân ở các ngành, địa phương trong cả nước có thành tích phòng chống tham nhũng do Ban chỉ đạo TƯ phòng chống tham nhũng tổ chức ngày 15/12 tại Đà Nẵng.
=> Ông Cẩm kể, từ khi ông lên tiếng tố cáo vụ phá rừng Khe Diên, không đêm nào ông ngủ yên. "Trùm phá rừng Sáu Ngọc và bọn tiêu cực, tham nhũng dọa giết tôi cùng người thân, trong khi gia đình tôi nghèo, vợ đau cột sống, con bị chất độc da cam nằm một chỗ. Tôi được biết từ ngày 14/12, vụ án được xét xử sơ thẩm lại lần 2. Tôi mong muốn tòa án làm rõ ai cho chủ trương, ai phá rừng, ai tiếp tay, tại sao chính quyền biết mà vẫn làm ngơ”.
=> Theo ông Lê Mạnh Luân, Phó chánh văn phòng Ban chỉ đạo, thực tế cho thấy, người tham nhũng thường có chức vụ, quyền hạn, có vị thế xã hội cao, quan hệ xã hội rộng rãi, có tiềm lực vật chất và có nhiều thủ đoạn từ né tránh, đánh chìm sự việc đến tổ chức lực lượng chống trả tinh vi, quyết liệt và các thủ đoạn chạy tội, chạy án. Đặc biệt, hình thức trả thù của những kẻ tham nhũng cũng rất tinh vi, không phải chỉ trước mắt mà còn lâu dài.
Không thể diệt Tham nhũng bằng bắt từng con trùng
Khi trứng trùng Tham nhũng gặp đất tốt nở thành con và lớn lên sinh thêm con cháu đầy đàn, thì việc chống tham nhũng không còn là việc đi bới tìm từng con trùng nữa. Người đi bới trùng có thể bị đàn trùng quá đông xúm vào cắn chết. Ngay tại các Phòng chống Tham nhũng, những người điều hành có thể chính là những con trùng tham nhũng rồi. Ai dám tin tưởng mà hợp tác với họ để tìm trùng tham nhũng.
Đám trùng tham nhũng đông nhung nhúc ! Làm thế nào bắt từng con được.
Vị Giáo sư người Nhật đã tả rất đúng khi so sánh Cơ chế CSVN là một cái bộ máy gồm bánh xe lớn, bánh xe nhỏ, đinh ốc lớn, đinh ốc nhỏ chằng chịt. Bánh xe, Đinh ốc lớn nhỏ đều phải có dầu nhớt, thì Bộ máy mới có thể chạy được. Chúng tôi thì ví cái Cơ chế CSVN này là một cái vườn phì nhiêu làm điều kiện cho trứng trùng tham nhũng nở thành con, lớn lên và sinh con cháu đầy đàn. Có thể ví cái Cơ chế CSVN như một đống phân để trứng ruồi mới có thể nở thành giòi, thành ruồi... rồi đẻ trứng thêm.
Diệt tham nhũng ở đây không còn là đi sửa từng bánh xe, đinh ốc lớn nhỏ của cái máy, cũng không không phải là đi bắt từng con trùng ở cái vườn quá tốt cho chúng sinh thêm, cũng không phải là đi nhặt ra giết từng con giòi của đống phân.
Diệt Tham nhũng là thiêu hủy cả cái Máy, là đốt cái Vườn làm cơ hội sinh đầy trùng, là hốt đống Phân là chỗ sinh đầy giòi
Cái Cơ chế CSVN đã tạo một vùng đất tốt để làm hòan cảnh sinh nở ra đầy tràn trùng tham nhũng. Không thể bắt từng con, không thể chỉ đi tìm những cá nhân tham nhũng, mà phải phá hủy cái vùng đất làm hòan cảnh cho cá nhân trở thành trùng tham nhũng. Không có cách nào hơn.
Một Thánh nhân, dù có tu luyện diệt dục lâu năm, mà chưa trở thành họan quan, thì cái mầm dục vẫn nằm trong bụng vị Thánh nhân ấy. Nếu nhốt chung Thánh nhân trong một phòng tối tăm với một mỹ nữ khỏa thân, thì cái mầm dục có thể được hòan cảnh mà lớn lên đến lúc Thánh nhân cầm không được. Một cá nhân để ngồi cạnh đống vàng. Cá nhân đó lại có tòan quyền dộc tài bịt miệng mọi người, thì cá nhân ấy có hòan cảnh nhặt những thỏi vàng bỏ vào túi mình làm của riêng.
Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành là cái Máy mà những bánh xe, đinh ốc lớn nhỏ đều cần dầu nhớt hàng ngày để khỏi bị cháy. Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành là cái Khu Vườn tốt đã làm hòan cảnh sinh đầy trùng tham nhũng. Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành là bãi Phân mà giòi tham nhũng đang lúc nhúc đục khóet.
Đúng vậy, Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành chủ trương cho ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm trọn ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Đó là định nghĩa đích thực của Cơ Chế. ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ cho phép người tham nhũng bịt miệng, nhốt tù tất cả những ai dám đi chỉ điểm những con trùng tham nhũng sinh ra từ Cơ Chế. ĐỘC QUYỀN KINH KẾ là cho phép những người nắm độc tài Chính trị giữ đống Vàng của Quốc gia.
Nắm giữ hai quyền như vậy, thì làm thế nào không có tham nhũng phát sinh được. Nhặt đi từng tên tham nhũng mà Cơ Chế hiện hành vẫn nằm đó, thì trứng trùng tham nhũng vẫn nở thành con, rồi sinh ra từng đàn tham nhũng nữa.
Phải tận diệt cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành đã tạo điều kiện phát sinh tham nhũng từ trên xuống dưới lúc này và nếu CƠ CHẾ vẫn tồn tại thì Kinh tế Việt Nam sẽ khó lòng phát triển vì bầy trùng tham nhũng vẫn tiếp tục nẩy sinh để gậm nhấm ruỗng nền Kinh tế. Đây không phải là đòi hỏi Chính trị mà là đòi hỏi cho phát triển Kinh tế Việt Nam.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
NHẬP SIÊU TĂNG DÙ NGÂN SÁCH THIẾU HỤT, QUYẾT ĐỊNH DỰ ÁN DÙVỠ NỢ NGUY NGẬP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 17.12.2009
Bài ngắn gọn này đi liền với bài CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH: MỘT BỘ MÁY THAM NHŨNG MỌI CẤP mà chúng tôi đăng lại liền dưới đây.
Trong khi cán cân thương mại mất cân bằng, ngân sách thiếu hụt trầm trọng mà những Tổng Công ty Nhà Nước cứ tăng ào ào nhập siêu. Cũng vậy, thẩm định Quốc tế xếp Việt Nam vào nước có nguy cơ vỡ nợ lớn, thế mà những Dự án Công nghệ và Xây cất cứ được quyết định liên tục và dễ dàng.
Giới Chuyên gia Kinh tế tại Việt Nam đồng thanh lên tiếng rằng 75% dân chúng sống về nông nghiệp, ngư nghiệp lại không được vốn đầu tư của Nhà Nước để ý tới. Nhà Nước giữ quyền chính yếu xuất cảng gạo mà không lưu ý đầu tư để nông dân mất mát khỏang 30% những thu họach mùa màng. Đồng thời những Tổng Công ty vật tư Nông Nghiệp lại giữ “quotas” quan trọng và nhập cảng phân đạm. Nhà Nước cũng không dự trù những Ngân khỏan để hỗ trợ giá cả nông sản khiến nông dân dễ bị ém giá gạo mỗi khi được mùa. Tệ hơn nữa, người ta còn thấy tại các tỉnh, đất đai trồng cấy của nông dân còn bị trưng dụng để làm khu chế xuất cho ngọai quốc thuê hay làm những sân golf, khu giải trí ăn chơi phục vụ khách nước ngòai.
Lý do nào làm động lực cho những tình trạng vừa kể ra trên đây ?
Lý do chính yếu để cắt nghĩa là những Công ty, Tổng Công ty Nhà Nước chỉ lưu ý đến những sinh họat Kinh tế mà họ có thể làm THAM NHŨNG dễ dàng và mau chóng được. Thực vậy:
=> Đối với ngành Nông nghiệp và Ngư nghiệp, những người giữ quyền của Nhà Nước khó lòng ăn tham nhũng đối với nông dân và ngư dân, nên những Dự án đầu tư vào Nông nghiệp và Ngư nghiệp ít được để ý tới. Trừ trường hợp nhập cảng phân đạm, thì những Tổng Công ty Nhà Nước dành giữ lấy quotas để mua với giá cao và được những Công ty bán phân đạm nước ngòai trích ra một phần trên giá cao ấy thưởng công cho người mua. Chính tôi còn giữ hồ sơ về tham nhũng của Tổng giám đốc Khánh của Tổng Công ty Vật tư Nông nghiệp tại Hà Nội khi ông ăn cánh với Công ty SINGA UNIVERSAL Singapore để tăng giá mua phân đạm Urea N.46%.
=> Khi mua hàng từ nước ngòai, thì đây là dịp có thể tham nhũng. Chính vì vậy dù Việt Nam thiếu Ngân sách, mất cân bằng trầm trọng về cán cân mậu dịch, mà nhập siêu vẫn tăng đều đều. Phải có nhập siêu, thì mới có dịp tham nhũng. Tôi thường nhắc lại câu nói của Phạm Văn Đồng:”Những gì nước khác không làm được, thì nước ta làm được”. Về Kinh tế tại các nước khác, người bán muốn bán giá cao và người mua nài nỉ giá thấp. Nhưng đối với Việt Nam, người mua làm ngược lại, đó là người mua lại muốn mua giá cao.
=> Tại Việt Nam, những Dự án từ trung ương đến các tỉnh được đưa ra ào ào. Có những người chỉ biết số vốn tiếng Anh, cũng có thể làm nghề viết Dự án kiếm ăn được. Trong thời gian làm Đại diện cho một Tập đòan Tài chánh Hoa kỳ, trụ sở tại Zurich, tôi đã nhận được không biết bao nhiêu Dự án. Có cả Dự án nuôi đà điểu tại Đồng bằng Sông Cửu Long để lấy thịt. Người viết Dự án có lẽ tưởng đà điểu giống như con vịt, nên cho nó xuống đồng bằng sông Cửu Long để lội nước hoặc lội bùn lầy. Có Dự án nuôi hươu lấy sừng tại Nghệ An. Có Dự án nuôi Kangourou do một Kiều bào ở Uùc mách nước cho tỉnh Bình Tuy. Phải có Dự án và dùng sự quen thân trong đảng để quyết định. Không có Dự án, thì làm thế nào ăn bẩn được. Một lần, tôi đã nói với Tiến sĩ Phùng Khắc Kế, hồi ấy là Giám đốc Tín dụng tại Ngân Hàng Nhà Nước, rằng nếu Ngân Hàng Nhà Nước cứ làm tái Bảo Lãnh cho các Ngân Hàng khác, thì Ngân Hàng Nhà Nước sẽ vỡ nợ. Oâng nói:”Người Chủ Dự án đến chỉ thẳng vào mặt tôi và nói rằng ông ta đã là đồng đội đánh trận sống chế cùng với bố của tôi”. Nhà Nước biết sẽ có cắt xén tham nhũng, nhưng Nhà Nước chấp nhận Dự án để thưởng công bằng tham nhũng. Tham nhũng trở thành một chủ trương của Nhà Nước CSVN.
=> Ngày nay, những Dự án lại được dâng cho Trung Cộng. Trung Cộng chủ trương mua những Dự án để xuất cảng thiết bị cũ, vật liêu xây dựng và nhân công của họ sang Việt Nam cũng như các nước khác, nhất là những nước Phi châu. Họ cho đồng tiền hối lộ đi trước để mua Dự án.
Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành, với độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế, là một Cơ Chế cho phép THAM NHŨNG. Những đảng viên lấy vốn của Nhà Nước gọi là để làm Kinh tế, nhưng trước tiên là nghĩ kế cắt xén vốn đó cho túi riêng của mình . Không thể phát triển Kinh tế thực sự với Cơ chế này được.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 17.12.2009
“Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.” (Khẳng định từ một Giáo sư người Nhật)
| | | |
KHÔNG THAM NHŨNG HỐI LỘ, KHÔNG LÀM VIỆC ĐƯỢC
Không tham nhũng, hối lộ, không làm việc được?!
Một GS Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.”
Những phát hiện của Dự án Nâng cao năng lực phòng chống tham nhũng (PCTN) dựa trên kết quả điều tra, phỏng vấn hàng nghìn người dân, cán bộ tổ chức xã hội, đoàn thể, chính quyền tại 9 tỉnh, TP: Lào Cai, Hà Giang, Thái Bình, Hà Nội, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An… bằng các hình thức: lập các phiếu điều tra để người dân điền vào, phỏng vấn sâu lãnh đạo các tổ chức xã hội, đoàn thể, tổ chức một số buổi thảo luận với sự tham gia đông đảo của người dân ở thôn, xã…
Ngày 4/12 tới tại TP.HCM, dự án sẽ tổ chức hội thảo để công bố những phát hiện, nguyên nhân, đề xuất giải pháp về tình hình tham nhũng ở Việt Nam, lấy ý kiến góp ý các đại biểu để hoàn thiện dự án…
PGS – TS Đặng Ngọc Dinh, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu phát triển cộng đồng (CECODES), thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật VN, đã dẫn chứng như vậy khi trao đổi với Pháp luật TP.HCM, liên quan đến Dự án Nâng cao năng lực phòng chống tham nhũng (PCTN) cho các tổ chức xã hội và người dân, do CECODES phối hợp với Ban Dân chủ và pháp luật (Mặt trận Tổ quốc VN) tổ chức thực hiện từ giữa năm 2008 đến tháng 3/2010.
Dự án nhằm phân tích, đánh giá được hiện trạng sau 3 năm thi hành Luật phòng chống tham nhũng, tìm ra bản chất, nguyên nhân, tham nhũng ở VN, đề xuất các giải pháp hữu hiệu. Đồng thời, tìm ra các giải pháp làm cho người dân, đại diện là các tổ chức xã hội và cộng đồng, tham gia tích cực hơn vào công cuộc phòng chống tham nhũng.
“Tham nhũng là căn bệnh cấu trúc hoá vào hệ thống” - Xin ông cho biết những phát hiện của dự án sau khi nghiên cứu, khảo sát và lấy ý kiến người dân về thực trạng, tình hình tham nhũng ở Việt Nam? - Phát hiện lớn thứ nhất, tình hình tham nhũng ở Việt Nam có tính đặc thù, đó là phổ biến trong xã hội. Ngôn ngữ khoa học gọi là tính hệ thống, còn nói dân dã là tràn lan, ngấm sâu vào khắp nơi. Có người dân phàn nàn: Nó hệ thống lắm là vì cứ ai có quyền là có thể tham nhũng được, không nhất thiết chỉ có chức. Ví dụ, người quét rác bụi mù lên ở trước cửa một nhà hàng, anh muốn yên ổn phải mang mấy chục nghìn đưa cho người này.
Tại sao nói lại kết luận tham nhũng mang tính hệ thống? Bởi vì có hiện tượng công chức chưa coi việc phục vụ như là một nghĩa vụ để hưởng lương mà coi đó như một vị trí, điều kiện, thời cơ để kiếm sống. Cho nên họ lo lót vào chức ấy, kết bè phái (cũng do người dân nói). Nó thành hệ thống rất khó chữa chứ không phải chỉ có cá nhân nào ấy tham ô. Tham nhũng trở thành như một cái gì đó để tạo ra thu nhập.
Một giáo sư Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tưởng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy. “
Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu khi gặp gỡ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ngoài câu khen Việt Nam tăng trưởng ngoạn mục…, thì ông ấy nói “tuy nhiên, tham nhũng của các ngài đã trở thành một căn bệnh cấu trúc hoá vào trong hệ thống”. Ý câu này dẫn đến cách phòng chống tham nhũng ở Việt Nam không thể theo hệ thống đơn giản bình thường, bắt một vài anh tham nhũng, hối lộ, không ăn thua! - Câu nói của GS người Nhật có vẻ hơi quá, thưa ông? - Khi nói câu ấy ra ở 9 tỉnh (dự án điều tra, khảo sát ở 9 tỉnh – PV) thì không ai phản đối hết! Và coi đấy như một phát hiện, nhận xét sắc sảo. Thậm chí một đồng chí tỉnh uỷ viên ở Đà Nẵng, chủ tịch mặt trận còn nói: Dùng chữ tham nhũng có tính hệ thống là đúng vì ở đây có liên kết ngang với nhau, liên kết dọc với nhau (tức là dưới với trên) và liên kết chéo với nhau (tức là ngành này chéo ngành kia).
Trong một cỗ máy rất lớn “bôi dầu” để chạy đến khi chỗ nào chảy dầu ra thì mới lo lót, tố cáo…, không thì cứ chạy trong đấy nhưng nguy hiểm. Vì dầu đó cũng là những virus dần làm hỏng bộ máy. - Thứ hạng những ngành, lĩnh vực xẩy ra tham nhũng nhiều nhất theo “xếp hạng” của người dân mới đây có sự thay đổi gì không, thưa ông? - Những ngành mang nhiều tiềm năng, hiện trạng tham nhũng lớn là những ngành liên quan đến cuộc sống hàng ngày của người dân, đứng đầu là quản lý đất đai, đến xây dựng cơ bản, rồi đến các ngành khác.
Thiếu tướng Trịnh Xuân Thu, Bộ Công an từng nói trước Quốc hội rằng, cán bộ tham nhũng cấp phát đất đai như mớ rau, con cá… Vì ông tỉnh, huyện có quyền phân đất, lấy đất cho DN này thì họ “lại quả” bao nhiêu… Ông Thu ấy nói rất ngắn nhưng có 2 hiện tượng phù hợp với nghiên cứu của dự án này là tham nhũng đất đai ghê gớm nhất. Đất đai còn ghê gớm hơn cả xây dựng cơ bản vì từ đất đai mới ra xây dựng.
Giáo viên, bác sĩ khổ quá vì tham nhũng chưa thâm nhập?! “Lẽ ra cán bộ, công chức lấy lương từ thuế, đằng này lại chia sẻ từ khoản đó (từ tham nhũng, hối lộ)… Tức là quan chức chia sẻ cơ chế không công bằng trong quá trình phát triển để làm ra thu thập chứ không phải là lương bổng. Quan chức lại dùng tiền ấy sử dụng dịch vụ, người làm dịch vụ cũng hưởng tham nhũng theo kiểu hối lộ, ví dụ như bác sĩ, cô mẫu giáo, thành ra đang hưởng vòng quay của hối lộ và tham nhũng. Những nơi hưởng tiền ít, ví dụ vùng núi xa xôi quan chức, người dân không có tiền mấy thì người dạy mẫu giáo ít được phong bì. Nên người dân nói tiếu lâm rất ghê: “Vùng cao, giáo viên, bác sĩ khổ quá vì tham nhũng chưa thâm nhập vào đây!” (cười)”
Lần này, ngành tổ chức xếp hạng khá cao cũng là một phát hiện đáng lưu ý. Người dân cho là chạy chức, chạy quyền rất lớn vì từ đó mới ra quyền lực, chức tước, lợi lộc… Tham nhũng trong ngành tổ chức xếp thứ 4-5 chứ không phải thứ 7-9 như trước đây. Một khi tổ chức được xếp tham nhũng khá cao là rất nguy hiểm. Vì từ tổ chức, từ con người “cầm cân nảy mực” mới phát sinh ra nhiều chuyện…
Thể chế pháp lý khiếm khuyết - Phát hiện lớn nhất trong nguyên nhân về tham nhũng mà dự án rút ra được là gì, thưa ông? - Trước đây người ta hay nói nhiều đến nguyên nhân là sự tha hoá của cán bộ, tức là sâu mọt, rồi lương thấp, không nghiêm trị… Nhưng dự án này dám nêu lên một nguyên nhân quan trọng bậc nhất là do một số thể chế pháp lý còn khiếm khuyết. Thứ nhất là thể chế pháp lý về quản lý đất đai. Cái yếu tố đất đai thuộc sở hữu toàn dân, cộng với cơ chế cho phép cán bộ từ huyện đến tỉnh được quyền phân quyền đất đai, doanh nghiệp ấy giải phóng mặt bằng đền bù theo giá rẻ mạt và được lại rất nhiều. Nguyên nhân này là giá đền bù cho người dân thấp hơn rất nhiều so với giá đất cơ hội. Giá đất đang như thế này nhưng khi tôi làm một quy hoạch công nghiệp, cơ hội mảnh đất này lên giá rất cao. Nhưng khi làm nhà nước bảo đất này là đất ruộng trồng lúa nên giá chỉ mấy chục nghìn 1 mét vuông. Có một người dân dẫn chứng rất cụ thể: Chỉ cần xin 5ha, giải phóng mặt bằng 1 tỷ đồng, 1 tỷ lo lót tất cả từ thành phố cho đến xã, tổng cộng mất 2 tỷ. Xong người ta liên kết với Hàn Quốc làm một xí nghiệp, bảo “tôi có mảng đất 5ha này, ông đưa máy móc vào đây thì giá trị mảnh đất của tôi là 5 triệu đô”. Và 5 triệu đô thì lãi bao nhiêu, được hàng trăm tỷ mà mất có 2 tỷ. Thật kinh khủng! Phương diện thứ hai của nguyên nhân về thể chế là quản lý doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn thì cũng tạo ra tham nhũng rất lớn. Tập đoàn nhà nước nên Nhà nước cho vốn, cho vay ngân hàng, lúc thua lỗ thì anh xoá nợ… Ông chủ tịch tập đoàn lại là cán bộ nhà nước nhưng lại làm công ty con, “sân sau”… Chẳng hạn như tập đoàn về lương thực bán lúa gạo. Ông có công ty con ở Singapore, bán gạo giá rẻ, nó lại bán đắt lên trục lợi. Tập đoàn nhà nước làm hại rất nhiều cho công quỹ nhưng ít va chạm với người dân thường như lĩnh vực đất đai. Cho nên hai mặt của phương diện thể chế tạo cho tham nhũng mang tính hệ thống và rất khó chữa theo kiểu vụ việc được. Anh phải thay đổi cái cách phân phối đất, phải thay đổi cách quản trị vốn của doanh nghiệp, tập đoàn nhà nước… Dự án xếp nguyên nhân trên là quan trọng nhất. Công nghiệp hoá “trên lưng người nông dân”? “Đất đai quản lý như thế này người dân nói rất ghê. Tôi thấy găng quá nên nói, “tôi ghi vào đây có ảnh hưởng đến bác không?” Họ nói, “không, không, cứ ghi tên tôi ở dưới đi”. Câu thứ nhất họ bảo là: Ngoài tham nhũng ra, nếu quản lý đất đai kiểu này thì quá trình công nghiệp hoá hiện nay đang tiến hành “trên lưng người nông dân”. Không phải lời của dự án mà ghi chú thích hẳn hoi, ông này ở Thái Bình, từng là tỉnh uỷ viên. Ông ấy cho rằng, ngoài hiện tượng tạo thời cơ cho tham nhũng thì quá trình công nghiệp hoá thế này đang lợi cho doanh nghiệp, gây thiệt hại cho người nông dân. Cái doanh nghiệp mà được đất ở chỗ Ciputra (Hà Nội) được lãi gấp mấy trăm lần? Hay một sân golf họ lấy 100ha, 60ha làm sân gôn, 40ha làm biệt thự, lãi đấy vào túi ai?” Mua giấy phép thành lập trường để “bán bằng”? Vậy còn nguyên nhân nào khác dự án đưa ra về tình trạng tham nhũng? - Nguyên nhân thứ hai là cơ chế xin – cho của thời bao cấp đang còn rất thịnh hành. Ví dụ tôi xin lập một trường đại học dân lập thì tự nhiên được mảnh đất mấy ha, được giấy phép tuyển sinh. Tuyển sinh lấy mỗi em 1 triệu/tháng, bao nhiêu triệu 1 năm thì tự nhiên thành bao nhiêu tỷ lập tức. Ngành giáo dục trong hội thảo mà có người đứng lên nói: Cách đây độ 5 năm muốn được giấy phép để mở một trường ĐH-CĐ dân lập độ tốn 300 triệu lo lót các nơi thì bây giờ năm 2009 là 2 tỷ. Xong giấy phép ấy mà không lập có người khác mua ngay, gấp 2-3 lần. Sau đó lại tham nhũng kiểu khác, lấy tiền cho học sinh, làm cho chất lượng giảm đi. Tóm lại các trường đại học hiện nay có hiện tượng thành lập lên như trung tâm “bán bằng”. Muốn thành lập trung tâm bán bằng phải có giấy phép, muốn có giấy phép phải có hối lộ… Cho nên hệ thống tham nhũng nó giằng rịt như vậy. Như vậy hệ thống xin – cho rất mạnh, nhất là các dự án. Xin được mở bệnh viện tư, trường đại học… xin được căn hộ chung cư mua theo giá gốc, tưởng là thị trường nhưng chưa đích thực. - Như hai nguyên nhân ông nói kể trên không đề cập đến việc cán bộ tha hoá, sa sút về đạo đức dẫn đến tham nhũng? Trước kia trong các văn bản về phòng chống tham nhũng của nhà nước khi nói nguyên nhân hay nói đến ban đầu là đạo đức tha hoá, lương thấp… thì dự án này không nói như thế. Hai nguyên nhân nói trên không có dính đến đạo đức. Đạo đức rất khá nhưng rơi vào vòng xoáy này cũng phải nhận hối lộ, còn nếu khá hơn nữa ông đứng ra ngoài không làm nữa, ông về nghỉ hưu. Còn nếu anh vào cuộc, lại phải xin, phải đưa ra phong bì… Do đó, dự án đưa ra hai nguyên nhân chính ở trên rồi mới đến nguyên nhân đạo đức kém, lương bổng thấp, nền kinh tế dùng tiền mặt… Chẳng hạn dùng tiền mặt, anh ra phố Hà Trung (Hà Nội) mà đổi được 100 nghìn USD, lo lót hải quan chuyển sang Thuỵ Sĩ thì xong rồi. Chả ai còn biết nữa. Các nước đổi 5.000 USD phải xem ai cần đổi, nguồn gốc từ đâu, tại sao cần đổi… Mà cái hối lộ của Việt Nam nó lại ghê gớm, thành văn hoá, có bà nói: “Các bác cứ nói hối lộ xấu xa nhưng bây giờ vào bệnh viện, ngày lễ ngày tết cho cô giáo mà không đưa tiền, phong bì… thì mình trở thành người vô văn hoá”. Bà ta dùng chữ nặng lắm là vô học, mà có học, có văn hoá thì phải đưa, thành ra cái lệ đó rồi. Có hai ý kiến dự án này không đồng ý: Ý kiến thứ nhất bảo là cảnh sát giao thông xấu xa nhưng ta chiểu theo hai nguyên nhân kia thì ông cảnh sát là bình thường, vì nằm trong hệ thống. Ví dụ cảnh sát tỉnh A thế này còn cảnh sát các tỉnh khác rất nghiêm túc thì mới gọi là phạm trù đạo đức của cảnh sát. Như thế không phải tại vấn đề ở bản thân ông ấy mà tại hệ thống. Cho nên vừa rồi đối thoại về tham nhũng trong y tế, tôi có nói câu: Ngành y tế theo thống kê của người dân có tham nhũng nhưng không ghê gớm (về giá trị bằng tiền, vật chất) bằng đất đai. Nhưng tham nhũng ở đấy mang tính chất đương nhiên và noi gương? - Vì sao ông nói tham nhũng ở ngành y tế là “đương nhiên và noi gương”? - Vì anh bác sĩ lý lẽ: Tội gì mà tôi ngồi đây mổ suốt ngày lương 3 triệu mà anh kia chạy loăng quăng, có tiền tỷ. Thì bác sĩ lấy tiền của bệnh nhân, thậm chí có bệnh nhân van bác sĩ nhận tiền. Tôi có quen một người giải phẫu giỏi ở Việt Đức (tôi đã lắng nghe và hỏi rất cẩn thận). Người bác sĩ giỏi ở Việt Đức 40 tuổi, mổ chính bây giờ lương chính có 3 triệu nhưng thu nhập tất cả tiền hàng tháng 40 triệu. 40 triệu tương đương hơn 2.000 USD, được quá! Nhưng hiện nay thu nhập do hệ thống tham nhũng, hối lộ cung ứng. Thế mà có lần có một bà già 70 tuổi ở Hà Giang đưa phong bì, ông ấy không nhận vì trông bà nghèo khổ, bà ta sợ quá gần như quỳ xuống để cầu van… Lúc ấy thành văn hoá, “nếu bác sĩ không nhận phong bì của tôi thì tức là phản đối tôi, không chăm chút tôi. Nhận cho tôi để chăm chút cho tôi”. Bác sĩ ấy nhận, khi yên ổn rồi bóc ra thấy 30 ngàn đồng mà phát khóc… Có những ý kiến nói ra nhưng tổng kết lại người dân không đồng ý. “Người dân làm hỏng cán bộ, tham nhũng hối lộ tại người dân”, nói như vậy là sai hoàn toàn. Nói như thế này đúng: Lương thấp nên không giữ được mình, vì không nước nào lương thấp thế này cả. Công chức quá đông và lương quá thấp, đó là vấn đề lớn, là hiện tượng ở Việt Nam. Công chức không thực tài mà theo hệ thống tuyển lựa nó không đúng như một thị trường đích thực. “Bốc thuốc” cho bệnh tham nhũng - Vậy sau khi “chẩn đoán”, dự án đã “bốc thuốc” như thế nào để chữa “bệnh” tham nhũng ở Việt Nam? - Khuyến nghị tập trung nhất, về đường trường (lâu dài) thì phải thay đổi, hoàn thiện một số cơ chế sở hữu. Đó là đề xuất lớn nhất đầu tiên của dự án này, thí dụ về đất đai. Làm thế nào đó để người dân có quyền hơn, được đền bù cao hơn, được đối thoại với nhà đầu tư…? Chứ hiện nay họ có quyền rất ít và quyền ấy đưa về chính quyền. Mà quan chức ưu ái cho doanh nghiệp thì tự nhiên là tham nhũng. Tập đoàn nhà nước cần nghiên cứu lại, anh chủ tịch tập đoàn phải góp tiền của anh. Đằng này tập đoàn nhà nước tiền của dân, tội gì không làm ra công ty con, làm hại cho tập đoàn, lợi cho công ty con, cuối cùng tập đoàn càng lỗ. Đề xuất thứ hai về dài hạn muốn chống tham nhũng tốt phải minh bạch và tính giải trình phải cao.Ví dụ người dân có quyền yêu cầu UBND chỗ này giải trình… Chỉ giải trình anh cũng đã sợ rồi! Cũng như sân golf anh lấy đất thế nào cho ai và nộp bao nhiêu. tại sao sân golf một nửa làm biệt thự? Thứ ba về đường trường, tiếng nói của tổ chức xã hội và người dân phải tăng nữa. Giống như về ô nhiễm môi trường, phải có sức ép người dân kiện Vedan, hoặc trao giải thưởng không đúng, báo chí, người dân lên tiếng phải mạnh mẽ thì mới được. Giải pháp trước mắt, người dân đề xuất rất đơn giản và cụ thể là không nên để ông chỉ đạo (trưởng ban) phòng chống tham nhũng là ông chủ tịch chính quyền. Hiện nay là vừa đá bóng vừa thổi còi. Còn nữa, anh thanh tra ở tỉnh sợ ông chính quyền. Thanh tra ở tỉnh phải độc lập với ông chính quyền thì mới ăn thua. Vì vậy người dân đề nghị tăng cường hoạt động, tham gia giám sát của Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng… Kiến nghị thứ hai Đảng viên cũng như không Đảng viên, cán bộ cao cấp cũng như thấp cấp đều chịu trách nhiệm trước pháp luật. Không có xử riêng, cấp uỷ có ý kiến… Tức là thượng tôn pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Thứ ba, phải làm thế nào cho người dân dám tố cáo tham nhũng, thí dụ đơn thư khiếu nại tố cáo nặc danh cũng phải xét, rồi hòm thư tố giác tham nhũng để nơi thoải mái cho người dân dễ nhận biết. Kiến nghị thứ tư là vai trò giám sát của người dân, truyền thông, của tổ chức xã hội như Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên… phải tăng nữa và và thực chất hơn. - Ông vừa đưa ra đề xuất “vá” những chỗ khiếm khuyết về cơ chế. Nhưng có thể những người làm chính sách cơ hội không dễ thay đổi, từ bỏ quyền lợi của mình. Vậy theo ông phải làm như thế nào? - Ở VN có một đặc điểm và đặc điểm đó hay tạo nên tham nhũng mà trong dự án đã nêu là anh hành pháp lại lập pháp. Thí dụ cơ chế phát triển ngành điện lực, Luật điện lực hoặc chính sách phát triển điện lực lại do anh EVN (Tập đoàn Điện lực Việt Nam), Bộ Công thương đề xuất. Các nước chữa bằng cách hạn chế anh hành pháp lại, mà khi lập chính sách phải để cho anh lập pháp là Quốc hội. Trong Quốc hội thì anh Bộ trưởng phải rất ít, thậm chí đã Bộ trưởng không đại biểu Quốc hội. Của mình ngược lại hầu hết Bộ trưởng đều là đại biểu QH. Tách lập pháp ra khỏi hành pháp thì lập pháp mới đứng trên quyền lợi chung. Đằng này khi lập pháp có dấu vết hành pháp ở bên trong, thiên vị anh hành pháp nên rất nguy hiểm. Tham nhũng ở Việt Nam mang tính chất nạn nhân “Dự án này tập trung vào để không xẩy ra tham nhũng, nó chân tình ở chỗ ấy. Dự án không đề nghị tăng hình phạt gấp mấy lần, thậm chí còn đề nghị không tử hình tội tham nhũng. Vì “hồn” của dự án này nói tham nhũng ở Việt Nam mang tính chất nạn nhân nhiều hơn. Tội nhân là một số nào đấy… Giống như giáo dục, nhiều người là nạn nhân nên dự án này “không thích” ông Nguyễn Việt Khoa ở Hà Tây. Dự án này không đồng ý vì cách tiếp cận ấy đi vào những cái nhỏ lẻ, mà phải tìm nguyên nhân của những thứ đó. Mang camera quay đưa tiền cảnh sát ngoài đường, dự án này hoàn toàn không có dáng dấp như thế. Dự án này “đụng chạm” tại sao cảnh sát tham nhũng, cần phải “chữa” để cảnh sát không cần, không thể và không dám tham nhũng…” - Tại sao dự án không “hiến kế” những giải pháp cụ thể, thưa ông? - Anh quản lý phải nghĩ cách làm lợi cho dân, tránh tham nhũng. Anh đồng ý đất đai phân phối như vậy có phải lò sinh ra tham nhũng không? Không thể không đồng ý. Lò sinh ra tham nhũng anh phải chữa đi, anh phải mời chuyên gia chứ không thể người dân nói cách chữa được. Cũng giống như ông QH bảo ông Bộ trưởng: Tôi phát hiện cho ông việc để chính quyền phát đất thế này dễ tạo tham nhũng, ông phải đi tìm cách chữa mới nói ông quản lý dân chứ! Hoặc người ta nói tập đoàn là ổ tham nhũng. Thế thì phải cổ phần hoá hết đi hoặc làm cách nào đấy… Nếu làm được cái này lợi nhuận mới tập trung về cho xã hội, anh quay lại trả lương cho công chức. Chứ tổng số tiền ở VN không ít, nhưng rơi vào các đại gia, các doanh ngiệp và quan chức… Như thế công chức nhỏ không có lương phải “chấm mút” kiểu khác, cứ lằng nhằng thế. Là hệ thống cứ xoay vòng theo kiểu mà trong vòng luẩn quẩn như thế này, nó dựa vào tham nhũng phát triển theo kiểu không trong sáng, không đàng hoàng… Xin cảm ơn ông!
Văn Tiến thực hiện Nguồn: http://butlong. multiply. com/journal/ item/476/ 476 http://bauxitevietn am.info/c/ 20149.html
ĐỪNG ĐỂ THAM NHŨNG GIẾT CHẾT PHÁT TRIỂN
TT - Ngày quốc tế chống tham nhũng năm nay (9-12) diễn ra cùng lúc với Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu. Cả hai đều do Liên Hiệp Quốc tổ chức, nôm na mà nói là để tìm kiếm một thỏa hiệp chống tác hại của mỗi nước - nơi môi trường sống của cả nhân loại!
Hai sự kiện trọng đại này bổ sung cho nhau trong ý nghĩa: giữa tham nhũng và tàn phá môi trường có một mối liên quan hỗ tương.
Mới đây, Tổ chức Minh bạch quốc tế vừa công bố bảng chỉ số cảm nhận tham nhũng 2009, theo đó thứ hạng Việt Nam vẫn cứ sau 2/3 số nước khác như mọi năm (hạng 120/180). Có thể hi vọng rằng với việc mới phê chuẩn Công ước LHQ chống tham nhũng vào tháng 7 năm nay, sau sáu năm đắn đo, cách chống tham nhũng ở ta sẽ đến gần với cách chống tham nhũng chung của cả thế giới...
Cũng thế, hội nghị Copenhagen về biến đổi khí hậu là một nhắc nhở đừng hủy hoại môi trường sống của dân tộc mình và của nhân loại. Biến đổi khí hậu có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân phá hủy môi trường sống. Có thể dưới dạng phá rừng, cho dù dưới danh nghĩa rất hợp pháp như trồng cây công nghiệp, làm thủy điện, xây sân golf, khu công nghiệp...
Những số liệu sau cho thấy chúng ta đang tiến đến một thảm họa do chính mình gây ra khi tàn phá thiên nhiên: trong vòng 10 năm qua, mỗi năm mất trắng 51.000ha rừng, phần lớn là rừng tự nhiên ở thượng nguồn. Ở Tây nguyên, muốn trồng được 100.000ha cao su phải phá đi khoảng 140.000ha rừng tự nhiên! 80% diện tích rừng ngập mặn Việt Nam đã mất đi hoặc suy giảm chất lượng, đặc biệt giai đoạn từ 1995 trở lại đây, để nuôi trồng thủy sản!
Các mất mát đó phải chăng chính là lời giải đã có sẵn cho những bài toán có vẻ như nan giải, như có thể thấy trên một trang web chuyên ngành môi trường: ”Thủy điện: phát triển và đánh đổi?”, “Tam Đảo: rừng hay resort?“, “Long An: nông nghiệp hay sân golf?”... Những bài toán trên thật ra không nan giải về mặt kinh tế và phát triển, song lại nan giải về mặt lương tâm. Vì đằng sau đó có khi là hậu quả của “xin và cho”.
Không lấy làm lạ tại sao Tổng thư ký LHQ Ban Ki Moon trong thông điệp nhân Ngày quốc tế chống tham nhũng năm nay lại nhấn mạnh: ”Đừng để tham nhũng giết chết phát triển”! Nói cách khác, ông muốn cảnh báo chuyện nhân danh sự phát triển (có thể đó là xã nhà, huyện nhà, tỉnh nhà, ngành ta, đất nước mình...) để trục lợi và qua đó giết chết sự phát triển của chính xã ta, huyện ta, tỉnh ta…
Một năm ba tháng đã trôi qua kể từ khi dân chúng ven sông Thị Vải cay đắng nhận ra dòng sông sinh nhai của họ vì đâu mà “chết”, hiểu ra rằng họ có quyền đòi kẻ gây ô nhiễm phải bồi thường. Thế nhưng, đơn kiện của họ vẫn chưa được chính tòa án “nhà” của họ nhận đơn.Và họ vẫn đang cô độc đòi bồi thường chứ không thể chấp nhận hỗ trợ. Thị Vải chỉ là một trong những bài toán đã có “lời giải có sẵn”.
DANH ĐỨC
| | | |
DIỆT THAM NHŨNG LÀ DỨT BỎ MÔI TRƯỜNG PHÁT SINH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://VietTUDAN.net Geneva, 24.09.2009
Tại Trung quốc và Việt Nam, hai CƠ CHẾ quản trị Nước giống nhau: ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ trong tay một Đảng Chính trị duy nhất. Chúng tôi gọi là CƠ CHẾ (Mécanisme) chứ không phải là THỂ CHẾ (Régime). Thể Chế còn có ý thực hệ đi kèm, còn Cơ Chế chỉ là một cái Máy quản trị không hồn. Hai Đảng Cộng sản này đã mất hết Ý thức hệ Cộng sản.
Người ta thấy tại Trung quốc và Việt Nam, nạn THAM NHŨNG phát sinh và lan tràn. Hai nhà nước hô hào DIỆT THAM NHŨNG, nhưng tham nhũng vẫn lan tràn. Không thể diệt được THAM NHŨNG khi mà CƠ CHẾ của hai nước vẫn còn đó làm MÔI TRƯỜNG tốt để phát sinh và lan tràn vi trùng THAM NHŨNG.
Trung Quốc: không thể kinh doanh mà không hối lộ
Andreas Landwehr, IANS ngày 21/09/2009
Tin từ Bắc Kinh: “Tôi không thể làm ăn ở Trung Quốc nếu không hối lộ,” đại diện một công ty Đức tại Bắc Kinh phàn nàn.
“Ở các cơ quan trung ương, họ luôn căn dặn chúng tôi phải trong sạch và không được hối lộ dưới mọi hình thức, nhưng rồi bạn sẽ chẳng đi được bất cứ nơi đâu ở đây,” ông giải thích tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình trong lúc cố gắng chinh phục thị trường khổng lồ Trung Quốc mà không phải đưa hối lộ.
“Những người mà tôi tiếp xúc tại đây đều hỏi thẳng tôi qua điện thoại, ‘Tiền của tôi đâu?’”, ông kể.
Giá hạ, sản phẩm chất lượng cao và quan hệ, hay “guanxi” theo tiếng quan thoại, là điều kiện cần nếu muốn kinh doanh ở Trung Quốc,
Ngày càng nhiều công ty nước ngoài chợt nhận ra rằng bản thân họ đang rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo vốn có trong mạng lưới tham nhũng, kinh doanh và chính trị, thể hiện qua những điều ra gần đây chống lại các công ty lừng danh như Coca-Cola hay Tập đoàn khai khoáng Rio Tinto Anh-Úc.
Không chỉ người nước ngoài, người Trung Quốc cũng cần guanxi để công việc được thuận lợi. Một bí mật mà ai cũng biết là hiệu trưởng và giáo viên cùng nhận hối lộ. Bác sĩ chăm sóc đặc biệt những bệnh nhân nào biết “bồi dưỡng” thỏa đáng. Công ty dược phẩm cũng phải hối lộ để thâm nhập vào các bệnh viện.
Thậm chí thẩm phán có thể bị mua nếu dò đúng kênh, lĩnh vực xây dựng và bất động sản thì tham nhũng khét tiếng.
Nạn thông đồng cũng lan tràn. Quan chức thuộc cơ quan giám sát nằm cùng giường với chủ nhà máy mà họ chịu trách nhiệm quản lý. Thậm chí một số quan chức còn có phần hùn trong các công ty đó.
Công chức thuộc ban ngành Chính phủ và Đảng Cộng sản Trung Quốc thường có liên hệ trong những mạng lưới kiểu mafia với các doanh gia, lực lượng an ninh hay thậm chí với các băng nhóm tội phạm.
Quyền lực và tiền bạc liên hệ mật thiết với nhau bên trong Đảng Cộng sản, đồng thời bản chất dễ bị mua chuộc và đạo đức suy đồi của Đảng đã đặt ra nghi vấn về tính chính danh chính trị của Đảng.
Người dân Trung Quốc đang chán ghét và mệt mỏi với tham nhũng.
Nhưng hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, theo một nghĩa nào đó, công cuộc chống tham nhũng tại Trung Quốc là một hành động hào hiệp viển vông.
A. L. BVN dịch
Việt Nam: Góp một ý kiến về chống tham nhũng ở Việt Nam
Kính gửi GS Nguyễn Huệ Chi, GS Nguyễn Thế Hùng, NV Phạm Toàn,
Tôi đang dạy học ở nước ngoài và là người đã ký đơn Kiến nghị Bauxite Việt Nam đợt 2, số 358.
Tôi xin có một ý kiến nhỏ về chống tham nhũng, vì rất lấy làm lạ là cho đến nay, công an và Ủy ban chống tham nhũng của Việt Nam chưa bắt được một vụ tham nhũng nào?
Khi tôi đến làm việc tại các công ty ở đây, thấy tận mắt ông Tổng giám đốc công ty xuống tận phòng làm việc căn dặn rằng khi cần mua thiết bị cho dự án, phải chuyển đề nghị tới các phòng chức năng làm việc theo đúng thủ tục. Tuyệt đối không được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng vì rất có thể họ là người của Ủy ban chống tham nhũng. Một sai sót nhỏ trong quá trình mua bán cũng sẽ đưa Tổng giám đốc ra tòa.
Trong thời gian làm việc ở đây tôi cũng biết cảnh sát hình sự thường đóng giả làm gái mại dâm để bắt khách làng chơi. Cảnh sát phòng chống ma túy thường đóng giả làm người bán ma túy để vào hang ổ bọn buôn bán ma túy.
Tại sao Ủy ban phòng chống tham nhũng ở Việt Nam không đóng giả làm người đưa hối lộ để bắt các bậc lãnh đạo hay cảnh sát giao thông cầm tiền đút nhỉ? Việc đó cực kỳ dễ khi họ gắn những micro điện tử vào đồng tiền hay hàng hóa để theo dõi những kẻ nhận hối lộ.
Thân mến, PGS TS Vũ Triều Minh, Dạy học Universiti Teknologi PETRONAS, Malaysia
Tham Nhũng phát sinh và lan tràn từ một CƠ CHẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
Chúng tôi viết về con vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ phát sinh do CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế của đảng CSVN.
Tham nhũng Lãng phí là thói tật trong mọi xã hội
Mỗi lần nói đến Tham nhũng Lãng phí, thì một số người muốn bênh đỡ CSVN, đã bào chữa rằng Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội chứ không phải chỉ nguyên ở Việt Nam hiện nay.
Chúng tôi không phủ nhận câu nói ấy. Thực vậy, cái thói tật của con người là lười biếng. Tôi vẫn khẳng định tôi là con người lười biếng, thích ngồi mát mà ăn được bát vàng. Nếu không làm việc, mà vẫn được trả lương để sống, thì tôi chấp nhận liền. Vì muốn thân xác mình sống, được thỏa mãn những nhu cầu, thì phải nai lưng ra làm việc. Làm việc vất và đổ mồ hôi là bản án cho mỗi cá nhân sinh ra và muốn sống. Đấu tranh Kinh tế là cuộc đấu tranh gay gắt nhất vì mọi người sống buộc lòng phải đấu tranh.
Trong cuộc đấu tranh gay gắt này, con người mang bản tính lười biếng, dễ tính toán đủ mọi cách để có thể ngồi mát ăn bát vàng, thậm chí giết người khác để cướp lấy của. Tham nhũng Lãng phí là thói tật gần như bản tính của con người mang cái nọc lười biếng và khi có dịp ngồi cạnh đống vàng. Chúng tôi không phủ nhận là Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội mà mỗi người phải tranh chấp kiếm sống. Nhưng cái khác biệt là ở những xã hội khác nhau có những CƠ CHẾ đề phòng bản tính Tham nhũng Lãng phí và có những CƠ CHẾ cho phép phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí.
Ví Tham nhũng Lảng phí là những con Giòi do Ruồi Nhặng đẻ ra. Hễ có Ruồi Nhặng là có Giòi. Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, đó là bản tính. Đâu cũng có Ruồi Nhặng. Vấn đề ở đây không phải là cấm bản tính Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, mà là làm vệ sinh để Ruồi Nhặng khó lòng có chỗ đẻ ra Giòi. Nếu cứ để đống cứt chình ình ra đó mà không hốt đi, thì Ruồi Nhặng tha hồ đậu trên đống cứt mà đẻ ra Giòi.
Cũng vậy, đống cứt để chình ình là CƠ CHẾ cho phép bản tính lười biếng, ngồi mát ăn bát vàng tha hồ đẻ ra và lan tràn Giòi Tham nhũng Lãng phí. Thậm chí không những không muốn hốt đống cứt CƠ CHẾ, mà còn tìm mọi cách để bao che cho Giòi Bọ.
Tóm tắt của đoạn này là điều quan trọng không phải cái tính Tham nhũng Lãng phí nằm ở mỗi người trong bất cứ một xã hội nào, nhưng là ở chỗ xã hội đã chọn một CƠ CHẾ để Tham nhũng Lảng phí phát sinh mạnh lan tràn và được bao che cho một nhóm người.
CƠ CHẾ Đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế
Ba tiếng quan trọng ở đây là ĐỘC TÀI Chính trị, ĐỘC QUYỀN Kinh tế và việc ĐÁNH ĐĨ giữa hai lãnh vực này.
Xử dụng tiếng ĐÁNH ĐĨ không phải là chúng tôi có ý nói tục để mạ lỵ một CƠ CHẾ, nhưng vì tiếng đó diễn tả xác thực tình trạng cấu kết trong bóng tối, không minh bạch và mang tính nhập nhoèn giấu diếm không lương thiện giữa hai lãnh vực. Tiếng ĐÁNH ĐĨ cho thấy một sự giả hình, lươn lẹo cấu kết bất chính.
Thực vậy, nhìn về lãnh vực Kinh tế, CSVN nói là chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường, nhưng lại dùng những Tập đoàn Kinh tế, những Tổng Công ty thuộc Nhà Nước (đảng CSVN) để nắm Độc quyền Kinh tế dưới chiêu bài chỉ đạo Kinh tế. Những Tập đoàn, Tổng Công ty này lại được quyết định về điều hành theo liên hệ nhóm đảng và thân thuộc gia đình. Nhà Nước một đàng nói cho đẹp về phương diện Chỉ đạo Kinh tế mạnh, nhưng một đàng lại xậm xụi nắm giữ những Tập đoàn, những Tổng Công ty theo liên hệ gia đình và nhóm đảng. Giả hình, che đậy nắm quyền lợi cho gia đình và nhóm đảng, đó là việc đánh đĩ, việc điếm đàng vậy.
Nhìn sang lãnh vực Chính trị và Luật pháp, đảng CSVN cũng nhập nhoèn nói một đàng làm một nẻo. CSVN tạo cơ quan Lập pháp (Quốc Hội) dưới danh nghĩa Dân chủ, nhưng theo việc ngụy tạo độc đoán của đảng mình. Luật pháp được đặt ra cho phép đủ thứ Tự do, nhưng lại thực hành độc đoán và xử dụng sức mạnh để đàn áp những than vãn khiếu nại. Đó là việc đánh đĩ, điếm đàng.
Một CƠ CHẾ cho phép Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế là cơ hội làm phát sinh Tham nhũng Lãng phí. Nếu Chính trị còn ĐỘC TÀI và Kinh tế còn ĐỘC QUYỀN trong tay một đảng duy nhất, thì Tham nhũng Lãng phí tha hồ lan tràn không cản được. Thực vậy, như chúng tôi đã trình bầy trong đoạn đầu của bài này, Tham nhũng Lãng phí thuộc bản tính của con người và có ở mọi xã hội, nhưng Tham nhũng Lãng phí phát sinh và lan tràn mạnh ở một xã hội khi mà xã hội ấy cho phép một CƠ CHẾ thuận lợi. Việc cho phép ĐỘC TÀI Chính trị được ĐỘC QUYỀN Kinh tế tạo CƠ CHẾ thuận lợi cho phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. Càng dễ dãi cho việc lan tràn Tham nhũng Lãng phí hơn nữa khi mà việc cấu kết giữa hai lãnh vực được che đậy nhập nhoèn không sáng sủa như việc ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG.
CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế đã được CSVN thực hiện trong suốt những chục năm trường và đã được sơn phết bằng những chiêu bài giả dối như Mở cửa, Đổi mới, theo Kinh tế Tự do/ Thị trường, Hội nhập Kinh tế toàn cầu... Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay là hậu quả của Tham nhũng Lãng phí lan tràn từ một CƠ CHẾ mà họ đã thực hành. Chữa Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh là phải chữa tận nguồn, trị đúng bệnh, tức là đánh thẳng vào cái CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ ấy.
Dứt khoát diệt CƠ CHẾ đánh đĩ giữa hai Độc quyền Chính trị và Kinh tế
Khi Dân Oan đòi Công lý, CSVN giải quyết không được và dùng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Trật tự ở đây có nghĩa là cúi đầu chấp nhận cái CƠ CHẾ như đống cứt để Ruồi Nhặng đẻ đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí lan tràn đến thôn quê. Khi Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho Công lý, thì CSVN cũng không thể giải quyết và đã xử dụng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Không giải quyết cho Thái Hà theo Luật pháp được bởi vì cái CƠ CHẾ đã đẻ ra Tham nhũng Lãng phí trên giải đất ấy.
Khi Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh xẩy ra, Nguyễn Tấn Dũng hô to khẩu hiệu diệt trừ Tham nhũng Lãng phí. Đó chỉ là khẩu hiệu mỵ dân. Đã bao lần đảng CSVN hô hào diệt trừ Tham nhũng Lãng phí bằng kêu gọi đảng viên hãy nêu cao tinh thần Cách Mạng. Thực ra tinh thần Cách Mạng đã chết nghẻo từ lâu rồi mà chỉ còn tính lười biếng và lòng mong mỏi ngồi mát ăn bát vàng. Đó là bản tính của con người, nhất nữa con người ấy lại có quyền độc tài ngồi cạnh đống vàng.
Không bao giờ Lãnh đạo đảng CSVN, mặc dầu biết rõ căn bệnh, dám nói rằng phải giải quyết đất đai cho Dân Oan, cho Thái Hà, cho tình trạng Lạm phát, cho Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh bằng vứt bỏ CƠ CHẾ, bằng hốt đống cứt hiện hành của đảng để Ruồi Nhặng đừng đẻ Giòi lan tràn.
Một số những Cố vấn Kinh tế cho CƠ CHẾ hiện hành, mặc dầu biết rõ căn bệnh, nhưng vì tư lợi nên trở thành nịnh thần và khi có chút can đảm vì lương tâm áy náy, thì chỉ dám nói đến CẢI CÁCH (Reform), nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ, đống cứt, chỉ nắn bóp chút ít. Một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc, đã hô hào Hòa Giài Hòa Hợp, mong liếm hớp mẩu bánh thừa quẳng xuống do CSVN, nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ hiện hành, bãi cứt có đầy Giòi, để ngửi chung. Một số Lãnh đạo Tôn giáo như Hồng y Mẫn chẳng hạn, hô hào ĐỐI THOẠI để phát triển bền vững, nghĩa là tiếp tục bãi cứt đã đầy Giòi này.
Tôi cảm phục hai Bài viết trong tuần này của Oâng NGUYỄN TRUNG (Nhà Kinh tế) phân tích khúc chiết về sự tai hại của những Tập Đoàn Kinh tế và những Tổng Công ty quốc doanh CSVN, nghĩa là phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế của Nhà Nước CSVN. Trong bài viết thứ nhất, Oâng đề cập đến sự hiện hữu của một số Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh tại những nước Tây phương. Tôi đồng ý về mô hình này trong ý hướng từ từ tư nhân hóa (Privatisation), tuy nhiên tôi xin Oâng chú thích rằng tại những nước Tây phương, có Chính trị Dân chủ, có Tự do Báo Chí , có Luật pháp minh bạch chứ không phải Luật pháp ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG như trong chế độc ĐỘC TÀI độc đảng Chính trị ở Việt Nam. Đó là sự khác biệt quan trọng. Oâng NGUYỄN TRUNG kết luận khi phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế qua hệ thống Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh với ý hướng thúc đẩy thay đổi:’ Có phải làm như thế không? Có làm được không? Nhưng trước đó là câu hỏi: Có dám không?’
Tôi xin trả lời rằng CSVN không dám hốt bãi cứt CƠ CHẾ. Chính khối Dân nghèo 75% Dân số Việt Nam sẽ đứng lên gùm cổ CSVN phải dứt bỏ CƠ CHẾ, nghĩa là buộc họ phải hốt bãi cứt đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế Geneva, 22.09.2009
| | | |
CHỐNG THAM NHŨNG BẰNG MIỆNG
Hà Phan
Sáng 13/10, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định tình trạng tham nhũng tuy có giảm nhưng vẫn đang tồn tại một số vụ việc gây bức xúc trong dư luận; một số giải pháp phòng ngừa tham nhũng chưa đạt hiệu quả cao, tính minh bạch tại một số lĩnh vực như thuế, đầu tư, đất đai, chi tiêu công vẫn chưa cao… Những điều Thủ tướng nói không sai, chẳng lạ và cũng chưa có gì mới vì trên thực tế tại VN vẫn chống tham nhũng, lãng phí bằng khẩu hiệu và tuyên bố nhiều hơn hành động. Nghị quyết, quyết định, chỉ thị, biện pháp… chống tham nhũng, lãng phí không thiếu nhưng thực hiện thì vô cùng thiếu. Hàng loạt vụ án tham nhũng lớn như PCI, Nguyễn Đức Chi, PMU 18, Điện kế điện tử, Nguyễn Lâm Thái… cuối cùng đã hiện rõ là “đầu voi đuôi chuột”. Nhiều tờ báo và phóng viên bị “chỉ mặt” là thủ phạm “bé xé ra to” làm mất uy tín các cơ quan Đảng và chính quyền, quan chức!? Sau thời gian ngắn tưởng chừng như “tổ” tham nhũng sẽ bị phá thì đến nay không chỉ báo chí rụt rè mà người dân cũng chán nản khi thấy các quan chức “phản đòn” như vụ PMU 18 hay Nguyễn Đức Chi. Với những gì đã diễn ra thì công luận càng nghi ngờ quyết tâm “cá nhân tham nhũng không được bầu vào cấp ủy Đảng” như những tuyên bố gần đây khi Đại hội Đảng các cấp đến gần.
Còn nhớ cuối 1999 trầy trật mãi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội mới thông qua được quy chế chống lãng phí sau 8, 9 lần dự thảo sửa đi sửa lại. Nhưng 10 năm qua, quy chế này tồn tại trên giấy nhiều hơn hiệu quả thực tế vì phần lớn Bộ, ngành, địa phương đều nói hay hơn làm. Xe công mua quá giá quy định lãng phí đến mức mà thời còn làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, ông Nguyễn Sinh Hùng phải thốt lên “Bãi sông Hồng chứa cũng không đủ”. Từ địa phương đến trung ương, việc mua xe cho các quan đi lại lố hàng trăm triệu đã thành chuyện bình thường. Trong một cuộc Hội nghị không lớn tại miền Tây, tôi từng chứng kiến hơn 200 xe biển số xanh mổi chiếc chở một vị dù chung tỉnh, chung ngành. Chủ trương gom các văn phòng 2 của Bộ, ngành trung ương tại TP Hồ Chí Minh về một mối cũng nhanh chóng phá sản dù đã đổ hàng chục tỷ xây trụ sở chung vì Bộ nào cũng muốn riêng một cõi hoành tránh. Ngay tại TP Hồ Chí Minh tấc đất tấc vàng mà có văn phòng Bộ chỉ vỏn vẹn 10 người chiếm luôn biệt thự gần 1000 m2. Làm việc không hết, chia chác nhau vẫn dư thừa, họ đem cho thuê và luôn tìm cách lờ đi nghĩa vụ nộp ngân sách. Hơn ai hết, người đứng đầu địa phương và Bộ, ngành nắm rõ tình trạng này; họ cũng hô hào phải tiết kiệm, không được lãng phí nhưng vì “ nồi cơm nhỏ” của mỗi người, mỗi ngành nên “ nồi cơm chung” của cả nước cứ mãi bị bớt xén.
Chỉ riêng TP Hồ Chí Minh, quỹ đất dôi dư bị sử dụng lãng phí đem bán thu về cho ngân sách 14.913 tỷ đồng, số tiền đủ để xây thêm vài chiếc cầu Mỹ Thuận hay nuôi sống hàng triệu dân trong cả năm trời. Tham nhũng còn có thể vạch mặt chỉ tên trị tội chứ lãng phí thì vẫn vin vào trách nhiệm chung chung và quá nhiều người cảm thấy mình “vô tội” một cách vô cảm. Nếu nhận ra rằng hàng triệu đồng bào đang sống ở mức mà bớt một bữa tiệc rượu bia lai láng có thể nuôi cả gia đình nghèo trong vài tháng thì mới thấy đó là tội ác. Còn việc hô hào rồi vẫn nhắm mắt cho lãng phí vẫn tràn lan như bia rượu chảy đầy trong các lễ mừng công, đón huân chương, xe công vi vu lễ hội, nhà công như món quà biếu nhau thì người lãnh đạo nên xem lại nhân cách mình.
Bộ trưởng dùng vang Đà Lạt tiếp khách chắc quan chức dưới quyền mấy ai dám dùng Hennessy tiếp đãi nhau. Bí thư, Chủ tịch tỉnh đi làm bằng xe máy cũng ít cấp dưới dám dùng xe công đưa con đi học, vợ đi chợ, bản thân đi nhậu. Có gương ắt phải soi, còn ngược lại, phép nước sẽ tiếp tục bị coi thường và tài sản công vẫn là “cha chung không ai khóc”. Xài thoải mái của công không những thỏa được đặc lợi mà còn có mảnh đất màu mỡ để tham nhũng. Hàng trăm vụ tham nhũng lớn cũng bắt nguồn từ “mỡ nhiều quá mèo ăn không hết phải đem về cho vợ con, họ hàng, bạn bè”.
Giờ đây dân chúng đang chờ khẩu hiệu chống lãng phí phải được thực thi chứ không phải hô hào suông mãi. Họ có quyền đòi hỏi công bộc làm nhiều hơn nói vì suy cho cùng mọi nguồn tài sản của đất nước đều bắt nguồn từ đóng góp, thuế má của hàng chục triệu dân chúng. Hơn nữa, đó còn là lương tri và trách nhiệm của những người thay mặt nhân dân quản lý tài sản công – thứ lương tri và trách nhiệm lâu nay bị không ít quan chức để quên, đánh mất hay phung phí như tài sản công mà họ đã vung vãi suốt hàng chục năm qua.
H. P. http://bauxitevietn am.info/c/ 13569.html
THAM NHŨNG XÂY TƯỢNG ĐÀI ĐIỆN BIÊN
8 người bị truy tố vì tham nhũng khi thi công tượng đài chiến thắng Điện Biên Bảo Thạch Bài đăng ngày 14/10/2009 Cập nhật lần cuối ngày 14/10/2009 15:46 TU
Hôm nay, 14/10/2009, AFP trích dẫn một số nguồn tin trong nước, cho biết là 8 người đã bị truy tố vì tội tham nhũng trong việc xây dựng tượng đài kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ bằng những vật liệu rẻ tiền.
Tượng đài này đã được khánh thành năm 2004, đánh dấu 50 năm quân đội viễn chinh Pháp chiến bại tại Điện Biên Phủ. Tuy nhiên, vài ba năm sau, tượng đài Điện Biên Phủ đã bắt đầu bị hư hại. Cuộc điều tra cho thấy tượng đài này đã được xây dựng với chất liệu rẻ tiền là đồng vụn, thay vì đồng nguyên chất như đã dự trù.
Các bị cáo đã bớt xén và bỏ túi hàng trăm triệu đồng. Trong số các bị cáo có ông Dương Phượng Các, nguyên phó giám đốc Sở Văn Hóa tỉnh Điện Biên và Võ Thị Hồng, nguyên giám đốc công ty Mỹ thuật Trung ương. Công ty này đã được chỉ định thầu thi công đài tưởng niệm.
| | | |
DIỆT THAM NHŨNG LÀ DỨT BỎ MÔI TRƯỜNG PHÁT SINH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://VietTUDAN.net Geneva, 24.09.2009
Tại Trung quốc và Việt Nam, hai CƠ CHẾ quản trị Nước giống nhau: ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ trong tay một Đảng Chính trị duy nhất. Chúng tôi gọi là CƠ CHẾ (Mécanisme) chứ không phải là THỂ CHẾ (Régime). Thể Chế còn có ý thực hệ đi kèm, còn Cơ Chế chỉ là một cái Máy quản trị không hồn. Hai Đảng Cộng sản này đã mất hết Ý thức hệ Cộng sản.
Người ta thấy tại Trung quốc và Việt Nam, nạn THAM NHŨNG phát sinh và lan tràn. Hai nhà nước hô hào DIỆT THAM NHŨNG, nhưng tham nhũng vẫn lan tràn. Không thể diệt được THAM NHŨNG khi mà CƠ CHẾ của hai nước vẫn còn đó làm MÔI TRƯỜNG tốt để phát sinh và lan tràn vi trùng THAM NHŨNG.
Trung Quốc: không thể kinh doanh mà không hối lộ Andreas Landwehr, IANS ngày 21/09/2009
Tin từ Bắc Kinh: “Tôi không thể làm ăn ở Trung Quốc nếu không hối lộ,” đại diện một công ty Đức tại Bắc Kinh phàn nàn.
“Ở các cơ quan trung ương, họ luôn căn dặn chúng tôi phải trong sạch và không được hối lộ dưới mọi hình thức, nhưng rồi bạn sẽ chẳng đi được bất cứ nơi đâu ở đây,” ông giải thích tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình trong lúc cố gắng chinh phục thị trường khổng lồ Trung Quốc mà không phải đưa hối lộ.
“Những người mà tôi tiếp xúc tại đây đều hỏi thẳng tôi qua điện thoại, ‘Tiền của tôi đâu?’”, ông kể.
Giá hạ, sản phẩm chất lượng cao và quan hệ, hay “guanxi” theo tiếng quan thoại, là điều kiện cần nếu muốn kinh doanh ở Trung Quốc,
Ngày càng nhiều công ty nước ngoài chợt nhận ra rằng bản thân họ đang rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo vốn có trong mạng lưới tham nhũng, kinh doanh và chính trị, thể hiện qua những điều ra gần đây chống lại các công ty lừng danh như Coca-Cola hay Tập đoàn khai khoáng Rio Tinto Anh-Úc.
Không chỉ người nước ngoài, người Trung Quốc cũng cần guanxi để công việc được thuận lợi. Một bí mật mà ai cũng biết là hiệu trưởng và giáo viên cùng nhận hối lộ. Bác sĩ chăm sóc đặc biệt những bệnh nhân nào biết “bồi dưỡng” thỏa đáng. Công ty dược phẩm cũng phải hối lộ để thâm nhập vào các bệnh viện.
Thậm chí thẩm phán có thể bị mua nếu dò đúng kênh, lĩnh vực xây dựng và bất động sản thì tham nhũng khét tiếng.
Nạn thông đồng cũng lan tràn. Quan chức thuộc cơ quan giám sát nằm cùng giường với chủ nhà máy mà họ chịu trách nhiệm quản lý. Thậm chí một số quan chức còn có phần hùn trong các công ty đó.
Công chức thuộc ban ngành Chính phủ và Đảng Cộng sản Trung Quốc thường có liên hệ trong những mạng lưới kiểu mafia với các doanh gia, lực lượng an ninh hay thậm chí với các băng nhóm tội phạm.
Quyền lực và tiền bạc liên hệ mật thiết với nhau bên trong Đảng Cộng sản, đồng thời bản chất dễ bị mua chuộc và đạo đức suy đồi của Đảng đã đặt ra nghi vấn về tính chính danh chính trị của Đảng.
Người dân Trung Quốc đang chán ghét và mệt mỏi với tham nhũng.
Nhưng hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, theo một nghĩa nào đó, công cuộc chống tham nhũng tại Trung Quốc là một hành động hào hiệp viển vông.
A. L. BVN dịch
Việt Nam: Góp một ý kiến về chống tham nhũng ở Việt Nam Kính gửi GS Nguyễn Huệ Chi, GS Nguyễn Thế Hùng, NV Phạm Toàn,
Tôi đang dạy học ở nước ngoài và là người đã ký đơn Kiến nghị Bauxite Việt Nam đợt 2, số 358.
Tôi xin có một ý kiến nhỏ về chống tham nhũng, vì rất lấy làm lạ là cho đến nay, công an và Ủy ban chống tham nhũng của Việt Nam chưa bắt được một vụ tham nhũng nào?
Khi tôi đến làm việc tại các công ty ở đây, thấy tận mắt ông Tổng giám đốc công ty xuống tận phòng làm việc căn dặn rằng khi cần mua thiết bị cho dự án, phải chuyển đề nghị tới các phòng chức năng làm việc theo đúng thủ tục. Tuyệt đối không được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng vì rất có thể họ là người của Ủy ban chống tham nhũng. Một sai sót nhỏ trong quá trình mua bán cũng sẽ đưa Tổng giám đốc ra tòa.
Trong thời gian làm việc ở đây tôi cũng biết cảnh sát hình sự thường đóng giả làm gái mại dâm để bắt khách làng chơi. Cảnh sát phòng chống ma túy thường đóng giả làm người bán ma túy để vào hang ổ bọn buôn bán ma túy.
Tại sao Ủy ban phòng chống tham nhũng ở Việt Nam không đóng giả làm người đưa hối lộ để bắt các bậc lãnh đạo hay cảnh sát giao thông cầm tiền đút nhỉ? Việc đó cực kỳ dễ khi họ gắn những micro điện tử vào đồng tiền hay hàng hóa để theo dõi những kẻ nhận hối lộ.
Thân mến, PGS TS Vũ Triều Minh, Dạy học Universiti Teknologi PETRONAS, Malaysia
Tham Nhũng phát sinh và lan tràn từ một CƠ CHẾ Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
Chúng tôi viết về con vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ phát sinh do CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế của đảng CSVN.
Tham nhũng Lãng phí là thói tật trong mọi xã hội
Mỗi lần nói đến Tham nhũng Lãng phí, thì một số người muốn bênh đỡ CSVN, đã bào chữa rằng Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội chứ không phải chỉ nguyên ở Việt Nam hiện nay.
Chúng tôi không phủ nhận câu nói ấy. Thực vậy, cái thói tật của con người là lười biếng. Tôi vẫn khẳng định tôi là con người lười biếng, thích ngồi mát mà ăn được bát vàng. Nếu không làm việc, mà vẫn được trả lương để sống, thì tôi chấp nhận liền. Vì muốn thân xác mình sống, được thỏa mãn những nhu cầu, thì phải nai lưng ra làm việc. Làm việc vất và đổ mồ hôi là bản án cho mỗi cá nhân sinh ra và muốn sống. Đấu tranh Kinh tế là cuộc đấu tranh gay gắt nhất vì mọi người sống buộc lòng phải đấu tranh.
Trong cuộc đấu tranh gay gắt này, con người mang bản tính lười biếng, dễ tính toán đủ mọi cách để có thể ngồi mát ăn bát vàng, thậm chí giết người khác để cướp lấy của. Tham nhũng Lãng phí là thói tật gần như bản tính của con người mang cái nọc lười biếng và khi có dịp ngồi cạnh đống vàng. Chúng tôi không phủ nhận là Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội mà mỗi người phải tranh chấp kiếm sống. Nhưng cái khác biệt là ở những xã hội khác nhau có những CƠ CHẾ đề phòng bản tính Tham nhũng Lãng phí và có những CƠ CHẾ cho phép phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí.
Ví Tham nhũng Lảng phí là những con Giòi do Ruồi Nhặng đẻ ra. Hễ có Ruồi Nhặng là có Giòi. Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, đó là bản tính. Đâu cũng có Ruồi Nhặng. Vấn đề ở đây không phải là cấm bản tính Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, mà là làm vệ sinh để Ruồi Nhặng khó lòng có chỗ đẻ ra Giòi. Nếu cứ để đống cứt chình ình ra đó mà không hốt đi, thì Ruồi Nhặng tha hồ đậu trên đống cứt mà đẻ ra Giòi.
Cũng vậy, đống cứt để chình ình là CƠ CHẾ cho phép bản tính lười biếng, ngồi mát ăn bát vàng tha hồ đẻ ra và lan tràn Giòi Tham nhũng Lãng phí. Thậm chí không những không muốn hốt đống cứt CƠ CHẾ, mà còn tìm mọi cách để bao che cho Giòi Bọ.
Tóm tắt của đoạn này là điều quan trọng không phải cái tính Tham nhũng Lãng phí nằm ở mỗi người trong bất cứ một xã hội nào, nhưng là ở chỗ xã hội đã chọn một CƠ CHẾ để Tham nhũng Lảng phí phát sinh mạnh lan tràn và được bao che cho một nhóm người.
CƠ CHẾ Đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế
Ba tiếng quan trọng ở đây là ĐỘC TÀI Chính trị, ĐỘC QUYỀN Kinh tế và việc ĐÁNH ĐĨ giữa hai lãnh vực này.
Xử dụng tiếng ĐÁNH ĐĨ không phải là chúng tôi có ý nói tục để mạ lỵ một CƠ CHẾ, nhưng vì tiếng đó diễn tả xác thực tình trạng cấu kết trong bóng tối, không minh bạch và mang tính nhập nhoèn giấu diếm không lương thiện giữa hai lãnh vực. Tiếng ĐÁNH ĐĨ cho thấy một sự giả hình, lươn lẹo cấu kết bất chính.
Thực vậy, nhìn về lãnh vực Kinh tế, CSVN nói là chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường, nhưng lại dùng những Tập đoàn Kinh tế, những Tổng Công ty thuộc Nhà Nước (đảng CSVN) để nắm Độc quyền Kinh tế dưới chiêu bài chỉ đạo Kinh tế. Những Tập đoàn, Tổng Công ty này lại được quyết định về điều hành theo liên hệ nhóm đảng và thân thuộc gia đình. Nhà Nước một đàng nói cho đẹp về phương diện Chỉ đạo Kinh tế mạnh, nhưng một đàng lại xậm xụi nắm giữ những Tập đoàn, những Tổng Công ty theo liên hệ gia đình và nhóm đảng. Giả hình, che đậy nắm quyền lợi cho gia đình và nhóm đảng, đó là việc đánh đĩ, việc điếm đàng vậy.
Nhìn sang lãnh vực Chính trị và Luật pháp, đảng CSVN cũng nhập nhoèn nói một đàng làm một nẻo. CSVN tạo cơ quan Lập pháp (Quốc Hội) dưới danh nghĩa Dân chủ, nhưng theo việc ngụy tạo độc đoán của đảng mình. Luật pháp được đặt ra cho phép đủ thứ Tự do, nhưng lại thực hành độc đoán và xử dụng sức mạnh để đàn áp những than vãn khiếu nại. Đó là việc đánh đĩ, điếm đàng.
Một CƠ CHẾ cho phép Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế là cơ hội làm phát sinh Tham nhũng Lãng phí. Nếu Chính trị còn ĐỘC TÀI và Kinh tế còn ĐỘC QUYỀN trong tay một đảng duy nhất, thì Tham nhũng Lãng phí tha hồ lan tràn không cản được. Thực vậy, như chúng tôi đã trình bầy trong đoạn đầu của bài này, Tham nhũng Lãng phí thuộc bản tính của con người và có ở mọi xã hội, nhưng Tham nhũng Lãng phí phát sinh và lan tràn mạnh ở một xã hội khi mà xã hội ấy cho phép một CƠ CHẾ thuận lợi. Việc cho phép ĐỘC TÀI Chính trị được ĐỘC QUYỀN Kinh tế tạo CƠ CHẾ thuận lợi cho phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. Càng dễ dãi cho việc lan tràn Tham nhũng Lãng phí hơn nữa khi mà việc cấu kết giữa hai lãnh vực được che đậy nhập nhoèn không sáng sủa như việc ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG.
CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế đã được CSVN thực hiện trong suốt những chục năm trường và đã được sơn phết bằng những chiêu bài giả dối như Mở cửa, Đổi mới, theo Kinh tế Tự do/ Thị trường, Hội nhập Kinh tế toàn cầu... Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay là hậu quả của Tham nhũng Lãng phí lan tràn từ một CƠ CHẾ mà họ đã thực hành. Chữa Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh là phải chữa tận nguồn, trị đúng bệnh, tức là đánh thẳng vào cái CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ ấy.
Dứt khoát diệt CƠ CHẾ đánh đĩ giữa hai Độc quyền Chính trị và Kinh tế
Khi Dân Oan đòi Công lý, CSVN giải quyết không được và dùng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Trật tự ở đây có nghĩa là cúi đầu chấp nhận cái CƠ CHẾ như đống cứt để Ruồi Nhặng đẻ đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí lan tràn đến thôn quê. Khi Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho Công lý, thì CSVN cũng không thể giải quyết và đã xử dụng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Không giải quyết cho Thái Hà theo Luật pháp được bởi vì cái CƠ CHẾ đã đẻ ra Tham nhũng Lãng phí trên giải đất ấy.
Khi Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh xẩy ra, Nguyễn Tấn Dũng hô to khẩu hiệu diệt trừ Tham nhũng Lãng phí. Đó chỉ là khẩu hiệu mỵ dân. Đã bao lần đảng CSVN hô hào diệt trừ Tham nhũng Lãng phí bằng kêu gọi đảng viên hãy nêu cao tinh thần Cách Mạng. Thực ra tinh thần Cách Mạng đã chết nghẻo từ lâu rồi mà chỉ còn tính lười biếng và lòng mong mỏi ngồi mát ăn bát vàng. Đó là bản tính của con người, nhất nữa con người ấy lại có quyền độc tài ngồi cạnh đống vàng.
Không bao giờ Lãnh đạo đảng CSVN, mặc dầu biết rõ căn bệnh, dám nói rằng phải giải quyết đất đai cho Dân Oan, cho Thái Hà, cho tình trạng Lạm phát, cho Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh bằng vứt bỏ CƠ CHẾ, bằng hốt đống cứt hiện hành của đảng để Ruồi Nhặng đừng đẻ Giòi lan tràn.
Một số những Cố vấn Kinh tế cho CƠ CHẾ hiện hành, mặc dầu biết rõ căn bệnh, nhưng vì tư lợi nên trở thành nịnh thần và khi có chút can đảm vì lương tâm áy náy, thì chỉ dám nói đến CẢI CÁCH (Reform), nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ, đống cứt, chỉ nắn bóp chút ít. Một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc, đã hô hào Hòa Giài Hòa Hợp, mong liếm hớp mẩu bánh thừa quẳng xuống do CSVN, nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ hiện hành, bãi cứt có đầy Giòi, để ngửi chung. Một số Lãnh đạo Tôn giáo như Hồng y Mẫn chẳng hạn, hô hào ĐỐI THOẠI để phát triển bền vững, nghĩa là tiếp tục bãi cứt đã đầy Giòi này.
Tôi cảm phục hai Bài viết trong tuần này của Oâng NGUYỄN TRUNG (Nhà Kinh tế) phân tích khúc chiết về sự tai hại của những Tập Đoàn Kinh tế và những Tổng Công ty quốc doanh CSVN, nghĩa là phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế của Nhà Nước CSVN. Trong bài viết thứ nhất, Oâng đề cập đến sự hiện hữu của một số Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh tại những nước Tây phương. Tôi đồng ý về mô hình này trong ý hướng từ từ tư nhân hóa (Privatisation), tuy nhiên tôi xin Oâng chú thích rằng tại những nước Tây phương, có Chính trị Dân chủ, có Tự do Báo Chí , có Luật pháp minh bạch chứ không phải Lu
|
|
|
|