*VietTUDAN ---- FINinfo@
*VTD-TUẦN BÁO/ Weekly
=>Số/No.485/10.03.11
=>Số/No.484/03.03.11
=>Số/No.483/24.02.11
=>Số/No.482/17.02.11
QUAN DIEM
THOI SU/THONG TIN
KINH TE/TAI CHANH
PHONG TRAO DAU TRANH
NHAN QUYEN/DAN CHU
LUC LUONG TON GIAO
TOT DAO DEP DOI
LAP TRUONG DAU TRANH
=>Những Số ĐẶC BIỆT
*VTD-NHÂN & DÂN QUYỀN
*VTD-KINH TẾ/ TÀI CHÁNH
*VTD-CHÍNH TRỊ/ĐẢNG PHÁI
*VTD-XÃ HỘI/ LUẬT PHÁP
*VTD-TÔN GIÁO/ GIÁO HỘI
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN-LinhTinh/Varieties
VTD&FIN-ĐỘC GIẢ/Readers
VTD&FIN-GẶP GỠ/Meeting
VTD&FIN-LƯU TRỮ/Archives
 



 =========================           =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================


===============================================================
VietTUDAN ---------------------------------------------------------------THOI SU/THONG TIN
===============================================================





                            NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:

                             THỤY SĨ CẢNH CÁO GIÁN TIẾP PHÁP, MỸ
                                VỀ PHONG TỎA TÀI SẢN BẤT CHÍNH

                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                            Geneva, 14.02.2011
                                       Web: http://VietTUDAN.net

 
Hôm nay thứ Hai, 14.02.2011, từ BIEL/BIENNE (Weekend) trở về GENEVA (cách Biel/Bienne 150km), tôi định viết liền hai Bài hoàn toàn có tính cách Thời sự:


1) Bài 1:
Tỵ nạn Boat People từ Tunisie kéo sang Ý.

Trong những bài nhận định thời sự trước, chúng tôi không nói Cách Mạng Tunisie là Hoa Lài hay Hoa Hồng Valentine… một cách Trí thức văn vẻ cao sang âu yếm mùi mẫm, mà gọi một cách quê mùa của thằng chăn trâu cắt cỏ như tôi rằng đây là cuộc CÁCH MẠNG DẠ DẦY. Thực vậy, khi mà DẠ DẦY CÁ NHÂN đói veo, thì buộc lòng phải nổi dậy. Nếu không nổi dậy thì chết đói. Thêm vào đó, những người cầm quyền độc tài như Ben ALI và bè lũ cướp bóc dân chúng, khai thác tài sản quốc gia làm của riêng chuyển ra nước ngoài cất giấu. Đây là điều tạo HẬN THÙ XÃ HỘI đối với tầng lớp biển thủ giầu nứt khố này. DẠ DÀY CÁ NHÂN đói veo cộng với HẬN THÙ XÃ HỘI cực độ đã tạo động lực chính yếu cho cuộc CÁCH MẠNG hiện nay tại Tunisie, Ai Cập… Nhưng nếu những dàn xếp Chính trị quốc tế, những nhà Chính trị quốc nội muốn name quyền, nếu chỉ gán cho cuộc Cách Mạng những phạm trù trí thức cao sang như Tự do, Dân chủ, Nhân quyền để chỉ nói đến Quốc Hội, Bầu cử Tự do vân vân…, họ sẽ vẫn còn gặp những cuộc dân chúng biểu tình vì họ không thoả mãn trực tiếp điều mà dân chúng đòi hòi chính yếu.

Cuộc tỵ nạn Boat People tràn sang Ý chứng tỏ những yếu tố căn bản đưa đến cuộc Cách Mạng của dân chúng. Năm 1975, khi Cộng sản Miền Bắc chiếm trọn Miền Nam, dân tỵ nạn Boat People Việt Nam túa ra biển. Họ đi tìm TỰ DO. Cộng sản Miền Bắc nói rằng họ đi tỵ nạn vì DẠ DẦY. Đó là điều nói láo vì họ đang no đủ tại Miền Nam, thì cuộc “Giải Phóng Cộng sản “ mang chế độc độc tài đến áp đặt lên đầu họ, nên họ phải ra đi tìm TỰ DO. Cuộc Cách Mạng Tunisie, nếu nhân danh Tự do, Dân chủ, Nhân quyền mang đến cho dân trên nghuyên tắc, nhưng dân Tunisie đi tỵ nạn Boat People, vì thực chất là quyền DẠ DẦY, nghĩa là vì Kinh tế, mà phải ra đi. Dân tỵ nạn Tunisie Boat People đã thẳng thắn tuyên bố như vậy khi đến Ý.

Điều này cho phép chúng tôi khẳng định rằng những dàn xếp Chính trị quốc tế và những nhà Chính trị quốc nội phải lưu tâm chính yếu giải quyết quyền DẠ DẦY cho dân chúng, chứ không thể chỉ nói đến những phạm trù trí thức Tự do, Dân chủ, Nhân quyền mà có thể giải quyết được ngưỡng vọng thực tế của quần chúng nổi dậy.


2) Bài 2:
Thụy sĩ Phong tỏa Tài sản Ben ALI, MUBARAK:
cảnh cáo gián tiếp cho Hoa kỳ, Pháp, Anh…

Thực vậy, Thụy sĩ đã công khai Phong tỏa Tài sản của Ben Ali và Mubarak. Thụy sĩ đã chứng minh rằng – như chúng tôi đã viết trong bài đính kèm – họ HOÀN TRẢ tài sản biển thủ này cho Dân chúng (Quốc gia) có quyền trên những tài sản biển thủ bất chính ấy. Chúng tôi đã đưa tin ngày 11.02.2011 về việc Thụy sĩ phong toả tức khắc tài sản của Mubarak, khi TT.MUBARAK tuyên bố từ chức. Việc Phong tỏa này đã được đài CNN phổ biến lập đi lập lại khắp Thế giới.

Chúng tôi thấy việc Thụy sĩ nhanh chóng Phong tỏa và việc Đài CNN phổng biến khắp Thế giới mang một ý nghĩa quan trọng: gián tiếp cảnh cáo những nước đã bảo trợ Ben ALI và MUBARAK để hai nhà độc tài này đã tin tưởng đầu tư tài sản ở những nước đó. Ben ALI là con cưng của Pháp “BEN ALI MADE IN FRANCE “ và Mubarak con cưng của Hoa ký “DICTATOR (Mubarak) MADE IN USA “. Hai con cưng này trong những chục năm trường gửi gấm tài sản cất giữ tại Pháp và Hoa kỳ. Vậy Pháp và Hoa kỳ đã chính thức tuyên bố Phong toả tài sản của hai con cưng hay chưa ?

Trong lúc tôi quyết định viết bài thứ hai này, thì chiều tối hôm nay (khoảng 17g30 giờ Thụy sĩ), tôi nhận được điện thoại của Ký giả MẠC LÂM Đài RFA (Đài Á châu Tự do) hỏi tôi: “Giáo sư cho biết Thụy sĩ đã phong toả tài sản của Mubarak, vậy các nước khác có tài sản của Mubarak hay không và họ có phong tỏa hay không ?”.

Tôi xin cảm ơn Ký giả MẠC LÂM vì ông hỏi  “trúng đài“ cá nhân mà tôi đang suy nghĩ định viết hôm nay. Vì hỏi “trúng đài“ cá nhân như vậy, nên tôi đáp lời không cần suy nghĩ thêm:

=> Ben ALI cất giấu nhiều tài sản ởn bên Pháp. Chính quyền Pháp từ thời TT.MITTERAND, qua TT.CHIRAC, đến TT.SARKOZY luôn luôn thân thiện bảo trợ Ben ALI. Chính giới Pháp và Tư bản Pháp làm ăn nhiều với Tunisie, nghĩa là tòng phạm với Ben ALI. Tất nhiên Ben ALI cất giấu nhiều tài sản tại Pháp. Ben ALI mệnh danh là “MADE IN FRANCE “

=> Hosni MUBARAK đầu tư tài sản tại Mỹ. Trong số USD.40 tỉ đến USD.70 tỉ của Gia đình Mubarak, một số lớn đầu tư kinh doanh Địa ốc tại New York và Los Angeles. Sự thân thiện bảo trợ Mubarak đã từ thời TT.CARTER. TT.OBAMA đã chọn Ai Cập, đứng cạnh MUBARAK để nói chuyện về chính sách Hoa kỳ tại Trung đông và cho Thế giới Hồi Giáo. Mubarak đã được mệnh danh là “DICTATOR MADE IN USA“

Nườc Pháp và nước Mỹ không thể không biết rằng hai con cưng đã đàn áp dân chúng Tunisie, Ai Cập và biển thủ tài sản quốc gia một cách bất chính trong mấy chục năm trường để dân chúng đói khổ không đủ 2 đo-la mỗi ngày cho DẠ DẦY rỗng. Chính vì quyền DẠ DẦY này mà dân chúng nổi day. Phải chăng khi dân đói khổ nổi dậy thì Pháp và Hoa kỳ mới thức tỉnh hay sao ? Cho dù bây giờ mới thức tỉnh, thì tối thiểu cũng phải phong tỏa tài sản của hai con cưng biển thủ bất chính để hoàn lại cho dân chúng nghèo khổ.

Chính vì vậy, mà tôi trả lời cho Ký giả MẠC LÂM rằng việc Thụy sĩ nhanh chóng phong tỏa tài sản của Ben ALI và của Hosni MUBARAK là một CẢNH CÁO gián tiếp cho Pháp và Hoa kỳ. Thậm chí tôi còn nghĩ rằng đây là một phản ứng của Thụy sĩ mang tính cách “vỗ mặt “ Pháp và Hoa kỳ. Thực vậy, vào tháng 3 năm 2009, TT.OBAMA đã cực lực phản đối Thụy sĩ đã vì “Bí Mật Ngân Hàng “ (Secret Bancaire) mà làm dịp cho Công dân Mỹ trốn thuế. Tòa án Mỹ muốn xử án một số Ngân Hàng Thụy sĩ. Cũng vậy, TT.SARKOZY kêu gọi Liên Âu và G20 xếp Thụy sĩ vào “Sổ Đen “, nghĩa là thuộc những địa điểm cất giấu tiền bạc trốn thuế của những công dân các nước khác.

Ngày nay, chính dân Tunisie , Ai cập tố cáo tỏ tường Ben ALI, Hosni MUBARAK biển thủ bất chính tài sản quốc gia để cất giấu tại Pháp và Hoa kỳ, mà hai nước này không PHONG TỎA tài sản bất chính để hoàn lại cho dân Tunisie và Ai Cập, thì dân hai nước ấy và Thế giới kết tội gì cho Pháp và Hoa kỳ ? Hai nước này tòng phạm với biển thủ hay sao ?

Thụy sĩ đã bị tố cáo về việc dung dưỡng trốn thuế, nhưng nay thẳng thắn PHONG TỎA để HOÀN LẠI những tài sản bất chính, đó là việc làm cụ thể gián tiếp CẢNH CÁO Pháp và Hoa kỳ. Tội biển thủ năng hơn tội trốn thuế nhiều.

Khi trả lời câu hỏi của Ký giả MẠC LÂM như trên, tôi chỉ ngại rằng Đài RFA phát thanh từ Washington Hoa kỳ, không hiểu Ký giả MAC LÂM có ngại ngùng gì về việc trả lời thẳng thắn của tôi về Hoa kỳ hay không.

Hôm nay, tôi chỉ viết và giới thiệu vắn gọn hai Bài tôi định viết như trên mà tôi định khai triển dài với tính cách rất thời sự. Nhưng trong phạm vi của bài này nhân việc Phỏng vấn của Ký giả MAC LÂM, nên tôi chỉ viết tóm tắt để giới thiệu nội dung của hai Bài trên. Tôi sẽ khai triển hai Bài này dài hơn với những chi tiết.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 14.02.2011
Web: http://VietTUDAN.net


                                         TIN NGẮN BÌNH LUẬN
                                           TỪ 10.02-17.02.2011

                                   Nguyễn Phúc Liên/ VietTUDAN
                                            Geneva, 17.02.2011
                                      Web: http://VietTUDAN.net

Ghi lại những Tin Tức ngắn và thêm Bình Luận cá nhân khi đọc Tin trên các Diễn Đàn Internet, đọc Báo Chí, nghe Đài Phát Thanh hay xem Đài Truyền Hình. Có thể coi đây như một thứ Nhật Ký về Tin Tức.


======================>TIN CÁCH MẠNG BẮC PHI & TRUNG ĐÔNG


Libya

Hôm 15.02.2011Biểu tình lớn tại Benghazi, một thành phố lớn của Libya cách Tripoli 1000 cây số. Hai người thiệt mạng và 40 người bị thương. Luật sư Hadi SHALLUF, Thẩm phán tại Tòa án Quốc tế La Haye khẳng định về cuộc Biểu tình này cho Đài Truyền Hình Euro News. Dân Libya dự định một cuộc Biểu tình lớn ngày 16.02.2011 nhằm đòi hỏi một Hiến Pháp mới cho Libya. Ông Hasdi ABIDI, Giám đốc Tổ chức CERMAM chuyên nghiên cứu về các nước A-rập Bắc Phi khẳng định với Đài Truyền Hình Thụy sĩ TSR1 rằng dân chúng đòi chấm dứt chế độ Khadafi, Ông Hasdi ABIDI so sánh Libya giống như Bắc Triều Tiên. Để làm gỉam cường độ biểu tình, Khadafi đã ra lệnh hạ giá cả hàng hóa và thả chừng 100 tù chính trị. Theo Đài Truyền Hình Pháp A2, thì dự định Biểu ngày 17.02.2011 đòi hỏi sự ra đi của chính Khadafi sau 42 năm cai trị độc tài.


Bahrain

Biểu tình và bị đàn áp: 2 người thiệt mạng. Những cuộc biểu tình ngày 15.02.2011 tiếp tục đòi hỏi những điều sau đây:
• Một Hiến Pháp mới
• Thả tất cả các tù nhân chính trị
• Tự do ngôn luận và báo chí
• Thiết lập một hệ thống Pháp lý độc lập
Những cuộc Biểu tình tại tiểu vương quốc Bahrain làm cho Hoa kỳ lo lắng vì Hạm đội thứ 5 lấy căn cứ ở đó.


Iran

Tại Iran, cuộc tuần hành ủng hộ phong trào nổi dậy của Ai Cập và Tunisia biến thành biểu tình chống chính phủ sau khi cảnh sát dùng đến hơi cay và đạn cao su để giải tán đám đông.
Nhiều người tập trung thành các nhóm nhỏ và tiến về phía quảng trường Azadi (Tự do). Khi họ bắt đầu hô khẩu hiệu "Đả đảo độc tài", cảnh sát xông vào giải tán đám đông. Một cuộc tuần hành khác diễn ra gần quảng trường Imam Khomeini, AFP cho hay.

Một số người đốt các thùng rác trên phố. Mạng điện thoại di động bị cắt và một số khu vực nơi các cuộc biểu tình diễn ra bị mất điện. Một số nhân chứng cho biết lực lượng an ninh Iran bắn hơi cay để giải tán biểu tình. Đụng độ cũng nổ ra giữa cảnh sát và những người ủng hộ phe đối lập.

Cuộc Biểu tình hôm thứ Hai 14.02.2011 của phe đối lập không hạn hẹp ở phản đối Tổng thống đương kim nữa mà nhằm vào lật đổ chế độ. Có hai sinh viên thiệt mạng.  Hôm thứ Ba 15.02.2011, để tránh đám táng tổ chức bởi phe đối lập, phe ủng hộ Tổng thống đã dành lại xác chết và coi là của mình. Cuộc Biểu tình trở thành cuộc giành xác giữa hai phe.


Yemen

Biểu Tình 4 Ngày Liền: Hy Vọng Lật Đổ TT Saleh (02/15/2011)

Yemen Biểu Tình 4 Ngày Liền: Hy Vọng Lật Đổ TT Saleh , Phe Ủng Hộ Chính Phủ Biểu Tình Chống, Xô Xát... 3 Người Bị Thương

SANAA   -      Dân chúng Yemen xuống đường qua ngày thứ tư liên tiếp tại thủ đô để đòi thay đổi chính trị và lật đổ TT Saleh, là đồng minh chống khủng bố của Hoa Kỳ - biểu tình diễn ra giữa lúc chính phủ Obama dự định 1 kế hoạch can thiệp sâu hơn, gồm 1 chương trình huấn luyện chống khủng bố.

Sinh viên, các nhà tranh đấu dân quyền, dân biểu và cả giới luật sư mặc áo thụng đen cùng tuần hành, hô khẩu hiệu chống lại lực lượng an ninh và xác nhận yêu cầu TT từ chức, tương tự phong trào nổi dậy ở Tunisia và Ai Cập trong thời gian gần đây.

Đám đông hô lớn "Cách mạng vì tự do ngôn luận - chúng ta phải quyết định lấy".

Luật sư Hassan al-Dola tuyên bố : dân chúng biểu tình để phản đối tham nhũng và hành động gây khủng bố tinh thần của công an.

Luật sư độc lập Ahmed Hashid loan báo biểu tình sẽ tiếp diễn đến khi chế độ sụp đổ - ngoài ra, hàng chục phụ nữ bao vây bộ chỉ huy tình báo, đòi trả tự do con em.

Phóng viên địa phương và ngoại quốc đưa tin họ bị cảnh sát và phe thân chính tấn công.

Biểu tình tương tự cũng bùng nổ tại 2 thành phố Aden và Taaz với các khẩu hiệu đả kích TT Saleh chỉ hứa hẹn và không làm gì. Biểu tình nhen nhúm kể từ khi công chúng tập trung hôm Thứ Sáu để đón mừng sự ra đi của nhà lãnh đạo toàn trị Ai Cập.

Tổ chức Human Rights Watch cảnh báo : cảnh sát Yemen dùng gậy và súng điện chống lại dân biểu tình. Hôm chủ nhật, đài truyền hình chính phủ loan báo TT Saleh đã gặp ĐS Hoa Kỳ và sau đó quyết định hoãn chuyến đi Washington đã định trước cuối tháng này.

Cho tới nay, viên chức Hoa Kỳ xác nhận tình hình chính trị tại Yemen không có ảnh hưởng với chương trình huấn luyện chống khủng bố dự chi 75 triệu MK.

Jordan

Giải Tán Nội Các, Mời Cựu Thủ Tướng Lập Chính Phủ Mới

AMMAN   -     Hôm Thứ Ba, quốc vương Abdullah đã giải tán nội các tiếp theo các biểu tình tại thủ đô.

1 cựu Thủ Tướng đuợc mời tổ chức chính phủ mới để tức khắc thực hiện các cải tổ chính trị.

Quyết định của nhà vua đuợc loan báo sau các cuộc biểu tình ở nhiều nơi trong nước, theo guơng nhân dân Tunisia. Công dân kêu gọi Thủ Tướng Samir Rifai từ chức, vì năng lượng và lương thực tăng giá và cải tổ tiến triển rất chậm.

1 thông báo của hoàng cung xác nhận đơn từ chức của ông Rifai đã đuợc chấp thuận, và cho biết cựu Thủ Tướng al-Bakhit đuợc mời tổ chức nội các mới. Ông al-Bakhit từng là Thủ Tướng của vuơng quốc thời kỳ 2005-2007, và 1 thời gian làm ĐS tại Israel.

Nhà vua nhấn mạnh rằng cải tổ kinh tế là thiết yếu để nâng cao mức sống của mọi người, và mục tiêu ấy không thể đạt tới mà không cải tổ chính trị để dân thường có thể dự phần. Chỉ thị của vua Abdullah đệ Nhị đòi hỏi Thủ Tướng thẩm định tình hình để điều chỉnh các sai lầm quá khứ, đồng thời xét lại các luật lệ chi phối chính trị và bảo vệ quyền của công dân.

Ông al-Bakhit là 1 chính khách ôn hoà đã đuợc bổ nhiệm làm ĐS Jordan tại Israel.  Chưa biết khi nào ông al-Bakhit có thể trình diện các thành viên nội các.

 

==============>VIỆT NAM: TÌNH HÌNH BÁO HIỆU KHỦNG HOẢNG KINH TẾ


Sốt vàng, đô la ở CS Việt Nam

Vàng ở Việt Nam cao hơn thế giới từ 600,000 đ đến 1 triệu đồng/lượng

SÀI GÒN 16-2 (TH) .- Một phần ảnh hưởng bởi giá vàng leo thang liên tục trên thế giới, giá vàng tại Việt Nam bám theo sát nút và lại còn cao hơn hẳn một bậc. Trong khi đó, đô la bị mất giá trên thế giới thì tại Việt Nam, đô la vẫn mỗi ngày một lên giá

“Thị trường vàng và USD ngày 16.2.2011 diễn ra khá sôi động khi giá liên tục tăng nhanh. Nguồn cung vàng và USD trên thị trường ít đi”. Tờ Thanh Niên kể như vậy khi mô tả tình hình vàng và đô la “dồn dập tăng giá”.

Tổng hợp tin kinh tế từ nhiều báo ở Việt Nam, giá vàng ở Việt Nam vừa lên nhanh nên giá buổi chiều cao hơn buổi sáng.

Người có tiền đưa nhau mua vàng vì đồng bạc Việt Nam mất giá nhanh chóng. (Hình: Thanh Niên)

Giá vàng ở Sài Gòn, sáng ngày 16/2, một lượng vàng bán ra khoảng 36 triệu 630,000 đồng. Đến chiều thì tăng lên thành 36 triệu 800,000 đồng một lượng. Nội trong ngày giá bán một lượng vàng cách nhau đến 200,000 đồng, theo VNExpress.

Theo tờ Thanh Niên, cộng chung hai ngày vừa qua, giá vàng tại Việt Nam đã tăng thêm khoảng 530,000 đồng một lượng.

Theo VNExpress, trên thị trường thế giới “tính đến 17 giờ ngày 16/2 (giờ Hà Nội), mỗi ounce vàng tương đương $1,375.10 USD (đây là mức cao nhất từ đầu năm 2011). Nếu quy ra tiền Việt theo tỷ giá 21,700 đồng, mỗi lượng quy đổi hiện có giá khoảng 36 triệu đồng, không thay đổi nhiều so với mở cửa”.

Mặt khác, giá đô la trên thị trường tự do ở Sài Gòn “dao động từ 21,770 đ đến 21,920 đ/USD, còn tại Hà Nội là từ 21,750đ đến 21,900đ/USD”.

Theo tờ Đất Việt ngày Thứ Tư 16/2/2011 “Giá USD tại “chợ đen” sáng nay đã tăng tới 150 đồng để vọt lên mức “khủng” 21,900 đồng một USD. Nhiều người đang nghĩ đến mức 22,000 đồng trong ngày hôm nay.”

Những người có nhiều tiền đồng đã tìm cách thu gom tích trữ vàng và đô la vì đồng bạc Việt Nam mất giá nhanh chóng. Đồng bạc Việt Nam tiếp tục mất giá trên thị trường chợ đen dù Ngân Hàng Nhà Nước cố kềm lại bằng cách công bố hối suất chính thức (trung bình) ngày Thứ Tư là 20,698, tức thấp hơn hôm Thứ Ba 5 đồng. Giá chính thức thì như vậy nhưng ngân hàng quốc doanh vẫn bán ra với giá “kịch trần” là 20,905 một đô la và không phải ai cũng mua được.

Tờ Dân Việt nói rằng “hầu hết doanh nghiệp đều than rằng vẫn phải mua với giá cao hơn rất nhiều.”

Theo báo Thanh Niên “Trưởng phòng kinh doanh vàng của một ngân hàng cổ phần cho biết trên thị trường đang có nguồn tin một số người gom USD để thanh toán vàng nhập về. Nguyên do là vào thời điểm trước và sau tết vài ngày, giá vàng trong nước cao hơn giá thế giới từ 600.000 - 1.000.000 đồng/lượng, một số cá nhân chốt giá thế giới và vay vàng trong nước bán trước. Vì vậy, những người này phải thực hiện gom USD trên thị trường để thanh toán lượng vàng về. Trong khi những người nắm giữ USD vẫn chưa chịu bán ra nên giá USD lại được đẩy tăng lên”.

 
“Bão giá” đang rục rịch ở Việt Nam

SÀI GÒN 16-2 (TH) .- Dù giá xăng, than, điện và các loại hàng hóa trụ cột nằm trong tay sản xuất và phân phối của các hãng quốc doanh phần lớn chưa tăng giá, một số sản phẩm và dịch vụ đã bắt đầu tăng, báo hiệu một cơn “bão giá” đang ập xuống ở Việt Nam.

Ngày Thứ Ba 15/2/2011, một hội nghị đã được tổ chức ở Hà Nội giữa chính phủ và các tập đoàn, tổng công ty quốc doanh.

Trong hội nghị này, theo sự tường thuật của báo Thanh Niên các ông quốc doanh, đặc biệt là than với xăng dầu kêu lỗ. Riêng công ty nhập cảng và phân phối xăng dầu Petrolimex kêu lỗ mỗi tháng 70 tỉ đồng.

Báo Thanh niên nói rằng ông Dũng “khẳng định Chính phủ sẽ cố gắng tập trung lo ổn định vĩ mô, tỷ giá, lãi suất, lạm phát; thực hiện giá cả theo cơ chế thị trường, trong đó có giá điện, than, xăng dầu. Theo đó, tới đây sẽ điều chỉnh giá điện từng bước theo thị trường, than điều chỉnh theo giá điện.”

CPI năm 2010 của Việt Nam đã vượt xa mọi dự báo
 
Như vậy, như tin tức mấy ngày gần đây, giá điện sẽ được điều chỉnh trước từ đầu Tháng Ba. Điều chỉnh bao nhiêu chưa thấy nói nhưng tin tức cho thấy tỉ lệ điều chỉnh sẽ từ 11% đến 18% trên giá bán điện mỗi kWh. Một số nguồn tin quốc tế cho rằng giá điện sẽ lên khoảng 15%.

Rất có thể từ đầu Tháng Ba này, xăng cũng lên giá. Trong một bài viết riêng về giá xăng dầu nội địa, báo Đất Việt thuật lời các người cầm đầu hệ thống xăng dầu quốc doanh Petrolimex, Saigon Petro, hãng xăng dầu quân đội đều k::4i6:: lỗ nặng mà phải “tăng tới 3,000đ/lít mới hết lỗ”.

Các nhà nhập cảng xăng dầu vừa phải gánh chịu giá mua nhập cảng đắt theo giá quốc tế cứ tăng lên mãi. Trong khi đó, nhà nước lại vừa phá giá tiền thêm 9.3%, nhà nhập cảng lại phải trả một lượng tiền đồng nhiều hơn để có đô la nhập cảng dầu xăng. Cả hai thứ này cộng lại khiến họ lỗ rất nặng.

Sau khi đã bỏ thuế nhập cảng xăng dầu (5%) giá xăng dầu quốc tế vẫn tăng cao, đám quốc doanh than lỗ nặng, nhà cầm quyền trung ương tổ chức một cuộc họp ngày 13/1/2011 trong đó, Trần Văn Hiếu, Thứ trưởng Bộ Tài chính, nói rằng “11 doanh nghiệp xăng dầu đầu mối là những doanh nghiệp nhà nước, được Nhà nước giao vốn, tài sản thì lúc này không thể kêu lỗ mà phải thực hiện nhiệm vụ chính trị. Trong lúc này doanh nghiệp phải ổn định và giữ giá xăng dầu trong nước”, theo bản tin của tờ Pháp Luật TP ngày 14/1/2011.

Sau đó, có tin nàh cầm quyền trung ương sử dụng quĩ “bình ổn giá” đẻ bù lỗ xăng dầu.

Nhưng Vương Đình Dung, tổng giám đốc Công ty xăng dầu Quân đội nói rằng “Thực ra quyết định tăng xả quỹ bình ổn để giữ giá xăng dầu bán ra trong nước mới đây của Bộ Tài chính chỉ là giải pháp hạch toán chi phí, chứ quỹ làm gì còn. Quỹ bình ổn xăng dầu hiện chưa có nguồn mà doanh nghiệp vẫn đang phải tự trích. Còn việc kinh doanh lỗ vốn thì doanh nghiệp xăng dầu phải tự vay từ các nguồn mà bù vào. Riêng việc tăng tỷ giá USD vừa qua đã khiến chi phí phát sinh doanh nghiệp phải bỏ ra lên tới gần trăm tỷ đồng”.

Dù chưa được tăng giá, một số cây xăng đã tự động bán “nhỏ giọt” để chờ giá mới.

“Trước tin đồn xăng, dầu sẽ tăng giá, nhiều cửa hàng ở các tỉnh, thành hiện chỉ bán với số lượng rất ít, thậm chí đóng cửa cả ngày, hoặc đóng cửa sớm hơn thường lệ để chờ... tăng giá” theo báo Thanh Niên ngày 16/2/2011.

Theo tờ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam, “nhiều mặt hàng đã tăng giá đón đầu” rồi.

Lý do được nêu ra là “tránh gây sốc cho thị trường”.

Lạm phát ở Việt Nam năm 2010 là 11.75%. Một số chuyên gia ngoại quốc tin rằng mấy tháng tới đây, lạm phát có thể lên đến 15%.

Khởi đầu năm Tân Mão, người dân ở Việt Nam sẽ méo mặt vì chạy qua không kịp với vật giá gia tăng.
 
Việt Nam phá giá tiền đồng lần thứ sáu kể từ năm 2008.

Tiền đồng lên giá theo qui đổi ở thị trường chính thức sau khi ngân hàng nhà nước điều chỉnh tỷ giá, hãng Bloomberg đưa tin ngày 16/02.

Tiền đồng tăng 0.6%, với tỷ giá 20.730 VND/ USD lúc 03 giờ 45 chiều tại Hà Nội, theo giá mà Bloomberg tổng hợp từ các ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ấn định mức qui đổi 20.698 VND/USD, so với mức 20.703 VND/USD hôm 15/02, theo trang web ngân hàng.

Tuy nhiên tiền đồng giảm giá mạnh trên thị trường không chính thức hay còn gọi là chợ đen.

Đôla tại tiệm vàng tại Hà Nội qui đổi được 21.840 VND lúc 03 giờ 45 chiều 16/02 tại một số cửa hàng vàng tại Hà Nội, so với tỷ giá 21.750 VND/đôla ngày hôm qua, theo VNPT.

"Có những quan ngại trên thị trường rằng tiền đồng sẽ tiếp tục mất giá do nhu cầu đôla Mỹ vẫn còn cao, đặc biệt là các công ty mua ngoại tệ để thanh toán hợp đồng nhập khẩu", Bà Phạm Phương Lan, từ BIDV được Bloomberg trích lời.

Nhà nước Việt Nam quyết định phá giá tiền đồng 8,5% vào ngày 11/02 và cam kết quản lý tiền tệ linh hoạt hơn.

Vào hôm 15/02 Reuters có bài tìm hiểu về một số điểm liên quan tới chính sách tiền tệ của Việt Nam.

Hệ lụy phá giá

Bài báo nói Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nói việc hạ giá tiền đồng sẽ giúp kiểm soát thâm hụt thương mại, làm cho hàng nhập khẩu đắt hơn và xuất khẩu rẻ hơn.

Thế nhưng giới kinh tế gia tại Barclays Capital, Citigroup, JP Morgan và những định chế tài chính khác nói rằng họ dự kiến việc phá giá sẽ làm lạm phát trầm trọng thêm vì vào tháng Một đã lên tới 12% là mức cao nhất trong hai năm.

Kinh tế gia Matt Hildebrandt từ JP Morgan nói ông dự kiến lạm phát tại Việt Nam lên mức 14,5% trong tháng Hai so với ước tính trước đó là 12,2%. Và ông đã nâng mức dự báo lạm phát cả năm của Việt Nam trong năm 2011 từ 11,5% lên 13,9%.

Tuy nhiên giới quan sát như Dragon Capital lại cho rằng bước đánh sụt giá tiền đồng “sẽ không có tác động quá mạnh mẽ về vĩ mô".

Dẫu sao người ta cũng phải chờ tới cuối tháng Hai và cuối tháng Ba mới có thể so sánh thực tế với dự báo.

Có kết quả?

Chênh lệch giữa thị trường chợ đen và qui đổi ở ngân hàng vẫn tạo quan ngại.

Đây là lần phá giá tiền đồng lần từ sáu kể từ giữa năm 2008. Trong những lần phá giá trước tỷ giá giữ được một vào tuần và sau đó lại bị trượt tiếp.

Giới quan sát cho rằng việc điều chỉnh tỷ giá vào hôm thứ Bảy 12/02 có chỉ dấu cho thấy nhà chức trách muốn giữ cân bằng giữa cung và cầu đối với ngoại tệ.

Tuy nhiên thực tế là dự trữ ngoại hối của Việt Nam giảm xuống "còn khoảng hơn 10 tỷ đôla" so với 16 tỷ năm 2009 và điều đó có nghĩa rằng túi tiền của nhà nước không đủ nhiều để hỗ trợ cho tiền đồng.

Để ngăn tiền đồng tiếp tục mất giá, giới kinh tế gia nói giới chức phải ngưng thực trạng người ta ngóng chờ đợi phá giá và phục hồi niềm tin cho tiền tệ bằng cách cải thiện kinh tế vĩ mô.

Tương lai

Ngân hàng Nhà nước hiện không nói rõ ràng những bước mà họ sẽ thực hiện tiếp theo. Giới quan sát nói rằng con đường phía trước phải rõ ràng - nhà nước cần phải kiềm chế lạm phát hai chữ số bằng cách nâng lãi suất và giảm tín dụng.

Nhà nước cũng phải hạn chế thâm hụt tài chính và bắt đầu tái gây dựng nguồn dự trữ ngoại hối.

Một số kinh tế gia có tiếng và cả giới chức ngân hàng như Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu nói họ hy vọng rằng có sớm hạ lãi suất, nhận định mà mà giới phân tích xem như động thái điển hình về căn bệnh muốn kinh tế tăng trưởng cao, mà tăng trưởng cao có nghĩa là đẩy mạnh thêm lạm phát.

Nhưng có một nhà kinh tế cho biết, logic đằng sau ý tưởng về việc hạ lãi suất để kiềm chế lạm phát là việc cho vay nhiều hơn sẽ giúp nhà sản xuất trong nước củng cố sản xuất và giảm nhập khẩu.

Một số nhà kinh tế trong nước nói rằng Ngân hàng Nhà nước nên tăng yêu cầu dự trữ đôla để hạn chế cho vay đôla vì hiện lãi suất cho vay đôla thấp hơn lãi suất cho vay bằng tiền đồng hơn 10%.

 

================>CHỆT: CHÍNH QUYỀN KHÔNG THỂ KIỂM SOÁT ĐƯỢC
                                  1.5 TỈ NGƯỜI CHỆT SẢN XUẤT ĐỒ ĂN ĐỘC HAI


10% gạo sản xuất tại Trung Quốc bị nhiễm độc
20 triệu tấn gạo sản xuất ở có thể bị nhiễm độc (DR)
Mai Vân

Theo một công trình nghiên cứu của Đại Học Nam Kinh, được báo chí Trung Quốc tiết lộ ngày 16/02/2011, có đến 10% gạo sản xuất tại Trung Quốc bị nhiễm các chất kim loại nặng độc hại. Đây là hệ quả của tình trạng phát triển công nghiệp nhanh chóng nhưng bừa bãi trong thời gian qua.

Theo tuần báo Thế kỷ Mới, từ nhiều năm qua, một khối lượng lúa gạo rất lớn đã bị nhiễm nhiều chất kim loại nặng độc hại như cadnium chẳng hạn, được thải ra không khí và nguồn nước một cách vô tội vạ, gây ô nhiễm một diện tích khá lớn ở Trung Quốc. Vấn đề là hầu như không hề có lời cảnh báo nào về nguy cơ đến từ việc môi trường bị ô nhiễm đó. 

Chất cadnium chẳng hạn dễ gây ra những chứng bệnh ung thư. Trong các loại ngũ cốc, lúa là loại dễ hút chất cadnium nằm trong nước tưới các thửa ruộng. Nguồn nước này theo tạp chí Trung Quốc, được dẫn đến các thửa ruộng sau khi chảy qua các mỏ đồng, thiếc, chì... Từ Bắc Kinh, thông tín viên Stéphane Lagarde cho biết thêm chi tiết : 

"Các con số rất đáng sợ : 20 triệu tấn gạo, tức 10% sản lượng gạo sản xuất hàng năm tại Trung Quốc có thể bị nhiễm chất độc. Đây là kết quả một cuộc nghiên cứu về tài nguyên, môi trường của đại học Nam Kinh. Trong đợt nghiên cưú đầu tiên vào năm 2007, giới khoa học đã thu thập 91 mẫu lúa gạo tại 6 vùng.

10% các mẫu này có chứa chất cadnium, một thứ kim loại trắng, mềm, phai màu khi ra ánh sáng, rất độc, ảnh hưởng đến khớp, thận, v.v. Điều nghiêm trọng hơn nữa là một năm sau đó, trong các mẫu thu lượm ở Quảng Tây, Quảng Đông, Hồ Nam, 60% đã bị nhiễm chất độc này. Nguyên nhân đầu tiên là đất bị ô nhiễm.

Trong những ngày qua, giới chuyên gia, chính quyền địa phương cũng như Trung ương đã ra sức trấn an, giải thích rằng gạo bán ở siêu thị đến từ nhiều vùng, cho nên nguy cơ nhiễm độc rất ít. Thế nhưng, nhiều người hiện nay tỏ ra bi quan cho là tình hình ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, do không có biện pháp kiểm soát hữu hiệu. »


Đồ ăn của Tầu độc hai sinh bệnh tật lâu dài

Người đi du lịch sang Trung quốc thì không thể nào bỏ qua được những món ăn Tàu.Nếu bạn đang có dự tính làm một chuyến du lịch sang xứ này thì xin mời bạn xem bản tin dưới đây để chuẩn bị cho chuyến đi.
Nếu muốn đi xem thắng cảnh thì Trung quốc cũng chẳng đẹp gì hơn những nơi khác. Nếu muốn đi hành hương cõi Phật thì đến Ấn Độ, nơi Đức Phật hạ sanh rồi nhập Niết Bàn dưới tàn cây Bồ Đề linh nghiêm ... Cớ sao ta phải đưa thân đến Trung quốc để bị lừa, bị nhiễm độc thức ăn, nhiễm độc khí trời ? Dưới đây là một số cách làm ăn gian dối tại Trung quốc rất có hại cho người tiêu dùng
Thêm bột giặt vào “Giò Cháo Quảy" không những tiết kiệm được nhiều bột mà “gìò” trông đầy đặn bắt mắt muốn ăn.
Tiêm nước vào trong thịt heo, thịt bò, dưa hấu và cà chua: để nặng ký hơn
Thêm chất Clenbuterol, chất dược phẩm từ nhóm beta-2 chuyên trị bệnh suyễn. Các thể thao gia thường lạm dụng chất “ doping” này cho vào trong thực phẩm Cho heo ăn chất này , kết quả là heo lớn nhanh mà thịt lại ít mỡ.
Xịt Atropin trước khi  làm thịt cừu , thịt sẽ trông tươi hơn, nhìn rất đẹp mắt.
Xay loại gạo mốc rẻ tiền thành bột gạo trộn thêm Sodium-Formaldehyd-Sulfoxylat để làm bột gạo trắng hơn trông như loại bột  thượng hạng .
Trộn thêm bột talcum rẻ tiển vào bột mì rẻ tiền để có bột trắng bán có giá .
Trộn bia với nước lạnh  rất đơn giãn, nhiều lợi nhuận:
 Sàng sẩy, đánh bóng gạo mốc rồi trộn thêm  dầu dùng trong máy kỹ nghệ: Kết quả là gạo bán được giá nhưng người tiêu dùng lại mang bệnh.
Ngâm các trái mận , trái đào lông trong nước tiểu  làm trái cây trông tươi tốt mà lại tăng ký
Sấy khô nấm Tremella – một loại nấm tai mèo trắng- với Schwefeldioxid (SO2 Nấm khô sẽ trắng hơn đẹp hơn.,bán được giá nhưng có thể gâyung thư.cho người tiêu dùng
Thêm mực xạ và một vài chất hóa học khác vào nấm đen  Nấm sẽđen hơn và nặng ký hơn
      
Xịt thêm hoá chất vào kiwi trái sẽ lớn hơn kiwi bình thường
Nuôi lươn thịt vàng bằng thuốc ngừa thai. thuốc giúp  lươn lớn nhanh.
Tiết canh vịt"  được làm bằng máu bò, bột giặt và bột ngọt.
Trộn thêm chất hóa học vào loại trà tàu rẻ tiền  Trà trở thành thượng hảo hạng có giá bán xấp mười lần
Rán gà cùng với loại kem thoa làm cho ngực phụ nữ được nẩy nở  Thịt gà ăn vừai bùi lại vừa dai như thịt gà thả rong ngoài vườn.
Gom góp rồi lọc dầu ăn từ hệ thống nước thải  để bán cho người tiêu dùng với gía rẻ.
Cảnh báo của Cơ quan Quản lýThực phẩm và Dược phẩm Hoa ky (FDA) về thực phẩm và dược phẩm Trung quốc
FDA cảnh báo dân chúng không nên dùng các dược phẩm  của Trung quốc như Super Shangai, Ultra Shangai, Shangai Ultra X, Lady Shangai, và Shangai Regular là những sản phẩm được biết dưới tên Chaojimengnan Shangai. Đây là những dược phẩm bất hợp pháp chứa dược liệu cực mạnh, không đăng ký kiểm chứng, gây tính cương cứng ở người loạn cương.và tạo hứng khởi tình dục. Các lọai dược phẩm bất hợp pháp vì không có được sự chấp thuận của  FDA.
Nhiều chất liệu được dùng để chế tạo lọai thuốc gây tính cường dương nầy đã không được khai báo để  kiểm chứng hầu đảm bảo an tòan cho người tiêu dùng, vì thế có nguy cơ đưa người tiêu dùng vào tình trạng  nguy hiểm như  làm hạ huyết áp  xuống quá thấp có thể nguy hại đến tính mạng của những người đang bị bệnh tiểu đường, cao huyết áp, cholesterol cao, hay  bệnh tim mạch. Các dược phẩm kể trên đã không có ghi đầy đủ  khuyến cáo về sự nguy hiểm của thuốc  mà trái lại  được tung ra thị trường dưới dạng thuốc "bình thường" trong khi  thực sự có chứa một số dược liệu cực mạnh gây tính cường dương.
Theo  bác sĩ Janet Woodcock  phụ trách chương trình nghiên cứu khoa học và y học kiêm giám đốc điều hành Trung tâm Nghiên cứu và Đúc kết Dược phẩm CDER tại FDA thì "Các sản phẩm như thế tạo nguy hiểm lớn cho người tiêu dùng vì những chất liệu dùng để chế biến  có tính  kích thích mạnh và chưa  được kiểm chứng  theo tiêu chuẩn  của FDA, vì vậy  các lọai dược phẩm này chỉ nên được ban theo toa thuốc của bác sĩ mà thôi"                         
Kết quả thử nghiệm của FDA trên các sản phẩm Super Shangai, Ultra Shangai, Shangai Ultra X, Lady Shangai, và Shangai Regular  cho thấy là các dược phẩm này chứa một lượng lớn chất Sidenafil, thành phần tác động tích cực ở Viagra. Đây là một chất đã được FDA công nhận là thuốc làm cương cứng và cần phải được ghi chú trên nhãn hộp thuốc để cho người tiêu dùng rõ cách thức sử dụng và các tác dụng tác hại của nó.
     
FDA khuyến cáo dân chúng nên ngưng việc sử dụng các sản phẩm trên đấy. Trường hợp có vấn đề , người tiêu dùng có thể liên hệ với FDA qua chương trình Medwatch 800- FDA-1088 hay trên mạng lưới                                                
 www .fda.gov/medwatch/report.htm.
Độc hại của thực phẩm Trung quốc –do bạn TnT chuyên tới –04/07/08

Nguyễn Phúc Liên/ VietTUDAN
Geneva, 17.02.2011
Web: http://VietTUDAN.net


LẠM PHÁT CAO
ÐE DỌA KINH TẾ VIỆT NAM


Tin Paris - Theo một bài báo của ký giả của Bruno Philip trên tờ Le Monde ngày hôm qua cho rằng vì là nạn nhân của lạm phát cao, Việt Nam đã phải lấy quyết định giảm giá đồng tiền của mình. Tờ báo nhắc đây là lần thứ tư mà tiền đồng Việt Nam bị giảm giá trong vòng 15 tháng. Sở dĩ Việt Nam đã phải đi đến quyết định này là vì kinh tế Việt Nam đang chiụ hai áp lực là lạm phát mạnh và thất thu thương mại to lớn.

Quyết định phá giá vừa qua cũng minh hoạ cho những khó khăn kinh tế của quốc gia ở Ðông Nam Á, mà tất cả các chỉ số đều bật sang màu đỏ đáng báo động, với lạm phát 12.7% trong tháng Giêng, thất thu thương mại 1 tỷ đô la. Mặc dù mức tăng trưởng của năm 2010 là 6.8%, nhưng kinh tế Việt Nam đã mắc phải nhiều chứng bệnh về mặt cơ cấu, quản lý kém cỏi, thiếu kiểm soát về mặt tổng quát, mô hình kinh tế quá tập trung vào thành công của công ty nhà nước, thiếu quan tâm đến các công ty vừa và nhỏ, hành chính quan liêu nặng nề, đó là chưa kể đến nạn tham nhũng.

Theo tác giả bài báo, nếu so sánh với các nước láng giềng, Việt Nam hiện đang bị thua sút so với một số nước trong khu vực có đồng tiền mạnh và thu hút đầu tư nước ngoài một cách đều đặn và quan trọng. Nhận xét khác của Le Monde là tăng trưởng đã không đi đôi với sự tăng cường hệ thống ngân hàng. Người dân Việt Nam đã không tin tưởng chút nào vào đồng tiền của mình, họ mua vàng và đô-la để cất giữ, và vì thế tình hình có thể sẽ biến đổi tệ hại hơn trong những ngày tới.(SBTN)

Posted on 16 Feb 2011
FreeVietNews






TIỀN ÐỒNG
TRƯỢT GIÁ ÐẾN MỨC LO NGẠI


Tin Saigon - Tiền đồng Việt Nam lại tiếp tục trượt giá đến mức kỷ lục so với đồng đô-la Mỹ tại thị trường tự do. Giá một đô-la Mỹ tại thị trường tự do là 21,700 đồng vào lúc 4 giờ chiều ngày hôm nay. Việc trượt giá này xảy ra ngay sau khi ngân hàng Nhà nước cho phá giá tiền đồng vào hồi cuối tuần trước. Ngân hàng nhà nước quyết định hạ giá tiền đồng 7% hôm 11 tháng 2, với tỷ giá quy định là 20,693 đồng ăn 1 đô la. Việt Nam cũng thu hẹp biên độ của hạ tỷ giá xuống 3%.

Ngân hàng nhà nước cho biết việc hạ giá đồng bạc và thu hẹp biên độ hai tỷ giá sẽ giúp giảm thâm hụt cán cân thương mại của quốc gia. Theo các số liệu của nhà nước đưa ra trong tháng Giêng thì con số thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam là 1 tỷ đô la.(SBTN)

Posted on 16 Feb 2011
FreeVietNews








DỰ TRỮ NGOẠI TỆ VN KHÁNH TẬN


Giới thiệu và chia xẻ

Dữ trữ ngoại tệ ở CSVN đang có vấn đề trầm trọng. Các báo cáo có sự sai biệt khá lớn, không được tín cậy lắm. Nhưng đó cũng là truyền thống của VGCS. Nói gian, nói dối là nghề của chàng,  cái nguyên lý ấy không bao giờ thay đổi.

Trên thông tin BBC 21/1/2011, báo cáo cho biết là ngoại tệ dữ trự ở CSVN còn dưới 14 tỷ mỹ kim. Nhưng đến ngày 9/2/2011 lại cho biết là ngoại tệ dự trữ chỉ còn khoản 10  vào cuối năm 2010. Khi nguồn ngoại tệ dự trữ sút xuống còn 14 tỷ, các quan đảng ủy viên mafia khẳng định là còn đủ đẩ nhập cảng khoản 6-7 tuần lễ. Nếu như vậy thì nguồn ngoại tệ, mỹ kim, tính đến ngày hôm nay đã khánh tận. Trong khi đó ngân hàng Bank of America thẩm định là đến cuối quí hai, ngoại tệ ở CSVN mới khô cạn, biến mất, zero. Đảng và nhà nước VGCXS đã thực thi một chánh sách tiền tệ, ngoại hối qua nhiều báo cáo gia dối, mánh mung có tính lường gạt, lừa bịp các cơ quan World Bank, IMF. IMF đã đòi hỏi ngoại hối dự trữ của VGCS phải có ít nhất là 12 tuần lễ, tức vào khỏan 20 tỷ mỹ kim.

Cùng lúc bộ trưởng Võ Hồng Phúc, báo cáo là ngoại hối chỉ còn khỏan 10 tỷ mỹ kim vào cuối năm 2010, tức là có sự sai biệt gần 4 tỷ mỹ kim. Nói cách khác báo cáo của VC thật khó mà tin cậy. Có thể sự việc này rất phù hợp với những điều đã được chứng minh từ hơn 36 năm về trước: “Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỷ những gì cộng sản làm.” Các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp của đảng mafia và nhà nước, nhà đèn, nhà thổ tiếp tục nền kinh tế phá sản, trong ý đồ đánh cướp, ăn cắp, tham nhũng để đi tới phá sản, bán nước buôn dân như đã được chứng nghiệm.

Từ cuối năm 2010 khi tập đoàn Vinashin không có đủ 60 triệu mỹ kim để trả nợ, tôi cũng đã hoài nghi và đã đặt vấn đề về nguồn ngoại hối thâm hụt ở thiên đàng mù. Nay thì mọi sự việc đã được phơi bày, nhưng không hoàn toàn trung thực. Vì con số 10  tỳ mỹ kim dự trữ cuối năm 2010 vẫn còn quá mơ hồ trong bản báo cáo của Võ Hồng Phúc, bộ trưởng kế hoạch và đầu tư. Nếu tình hình ngoại hối, hài kịch bi đát, bi thảm như vậy, bọn lãnh đạo giòi bọ, ruồi nhặng VGCS càng phải lệ thuộc và Tàu cộng nhiều hơn, nhất là với nhu cầu nhập siêu khoản 12-15 tỷ mỹ kim từ Tàu cộng. Đây là cơ hội để lãnh đạo Hà Nội bán thêm đất vùng biên giới, bán thêm vịnh Hạ Long, bán thêm các đảo ở Hoàng Trường Sa để giữ đảng, giữ độc quyền cai trị, đàn áp, gông cùm, ngù tủ các nhà dân chủ, thành pohần bất đồng chính kiến như Ls. Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cầy, Lê thị Công Nhân, Nguỹên Văn Đài....

Bọn VGCS Ba đình cần phải quỳ lạy Hồ Cẩm đào, ôn Gia Bảo, nếu cần thái thú Nguỹên Tấn Dũng, Trọng Lú, Trương Tấn Sang phải qua chầu Hồ Cẩm Đào và làm nô tài, khuyển mã, lang sói hay làm Câu Tiển, lòn trôn ăn phẩn để được giữ đảng lâu dài. Đối với cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản hải ngoại, đây là cơ hội ngàn năm một thỏa để dứt điểm VGCS. Nên chấm dứt ngay việc gởi tiền về CSVN, dứt khoát không về CSVN để du hí, bùm bùm giá bèo, có thể mang bịnh HIV/AIDS, cancer, chết bất đắc kỳ tử vì các bịnh mới xuất hiện. Người Việt tỵ nạn hải ngoại không nên vì ham vui, vì lợi ích nhỏ mà quên sự nghiệp lớn là diệt cộng, đêm tự do, dân chủ, công lý, bình quyền đến cho toàn dân Vn. Chúng ta, Việt kiều hải ngoạ, không thể nổi dậy để đuổi giặc nội xâm VGCS đã và đang cấu kết với Tàu cộng, nhưng chúng ta có thừa can đảm, khả năng ngưntg chuyện gửi tiền về VN và chấm dứt tất cả các chuyến du lịch về VN đề tạo cơ hội cho người dân trong nước nổi dậy diệt trừ bọn VGCS bán nước buôn dân.

Khi nguồn ngoại tệ khánh tận, xã hội, chính trị sẽ rối loạn như đã xảy ra ở Tunisia, Ai Cập... Đấy là cơ hội để có bạo loạn, để nổi dậy, xuống đường biểu tình đốt phá các cơ sở công để gây áp lực cho bọn cướp Ba Đình phải khiếp đảm. Nếu toàn dân, từ xã, ấp đến quận thành, tỉnh huyện đều một lòng nổi dậy, đó cũng là ý trời. Đừng quên sức mạnh của quần chúng sẽ như vũ bảo, không một lực lượng nào dù là quân đội có thể cản trở, dập tắt được. Khi dân mang hận thù, sẽ đốt phá, tận diệt tất cả những gì của cộng sản, dính líu đến chủ nghĩa cộng sản phải triệt hạ, đốt bỏ để xây dựng lại một nước VN hoàn toàn mới không cộng sản.

DTK
http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20110209-viet-nam-du-tru-ngoai-te-chi-con-10-ty-do-la-cuoi-2010

CS Việt Nam :
Dự trữ ngoại tệ chỉ còn 10 tỷ đô la cuối 2010

Đức Tâm

Theo Reuters, trích đăng tin báo chí trong nước hôm nay, ông Võ Hồng Phúc, bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư cho biết là vào cuối năm ngoái, 2010, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam chỉ còn vào khoảng hơn 10 tỷ đô la. Thông tin này làm tăng thêm lo ngại về sự sụt giảm mức dự trữ ngoại tệ của Việt Nam.

Ông Phúc không nói rõ chi tiết. Hơn nữa, số liệu chính xác về mức độ dự trữ ngoại tệ là bí mật nhà nước tại Việt Nam.

Dự trữ ngoại tệ bắt đầu giảm trong năm 2009 vào lúc Việt Nam phải đối mặt với các khó khăn kinh tế như : đồng tiền quốc gia bị mất giá, lạm phát tăng cao, thâm thủng cán cân thương mại nghiêm trọng.

Vào cuối năm 2008, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam là vào khoảng 24 tỷ đô la. Đến tháng 12 năm 2009, Ngân hàng Nhà nước ước tính, dự trữ giảm xuống còn 16 tỷ đô la. Đầu tháng Giêng năm nay, theo thẩm định của các ngân hàng ngoại quốc, thì con số này xuống dưới 12 tỷ đô la.

Từ giữa năm 2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã 5 lần phá giá tiền đồng và theo giới chuyên gia thì sự tin tưởng vào đồng tiền quốc gia ở mức thấp.

Cuối năm ngoái, bất chấp áp lực lạm phát, chính quyền Việt Nam tuyên bố không hạ giá đồng tiền quốc gia vào trước Tết Nguyên Đán, đầu tháng hai này. Hôm qua, một chuyên gia thuộc công ty Dragon Capital, được Reuters trích dẫn, phỏng đoán là sau Tết, khi các thị trường trở lại hoạt động bình thường, có thể tiền đồng lại bị phá giá, ở mức độ thấp, nhằm giảm bớt chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá không chính thức.

Việt Nam dự tính sẽ có mức tăng trưởng từ 7 đến 7,5% trong năm nay vào lúc lạm phát trong tháng Giêng vừa qua lên tới gần 10%, thâm hụt cán cân thương mại và ngân sách tiếp tục tăng, áp lực hạ giá đồng tiền quốc gia ngày càng mạnh và dự trữ ngoại tệ ở mức thấp.

Trong bản báo cáo công bố ngày 20/01/2011, Ngân hàng Hoa Kỳ - Bank of America thẩm định là trong quý một năm nay, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam vẫn tiếp tục giảm, chỉ còn ở mức tương đương gần một tháng nhập khẩu. Đến quý hai 2011, dự trữ sẽ tụt giảm, về cơ bản coi như mức số không – zero.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/02/110209_viet_forex_reserve.shtml
 
Dự trữ ngoại hối của VN chỉ còn 10 tỷ USD

Ông Võ Hồng Phúc là Bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư

Bộ trưởng Kế hoạch-Đầu tư Võ Hồng Phúc được trích lời nói dự trữ ngoại hối của Việt Nam chỉ còn khoảng 10 tỷ đôla cuối năm 2010 từ con số 16 tỷ một năm trước đó.

Hãng thông tấn Reuters dẫn nguồn Thời báo Kinh tế Việt Nam đưa ra con số này.

Thực ra, ngay tại Đại hội Đảng XI họp hồi tháng 1/2011, Bộ trưởng Phúc đã đưa ra cảnh báo về mức dự trữ ngoại hối.

Lúc đó, ông Võ Hồng Phúc, Ủy viên Trung ương Đảng, nói: "Năm 2010, tăng tưởng của nước ta đạt 6,8%, nhưng lạm phát cao, dự trữ ngoại hối chỉ khoảng 10 tỷ đôla".

"Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chậm được cải thiện; cân đối vĩ mô chưa thực sự vững chắc."

Như vậy, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã sụt dần trong mấy năm trở lại đây, gây quan ngại lớn.

Kinh tế gia kỳ cựu Lê Đăng Doanh nhận xét: "Dự trữ ngoại tệ thấp như vậy sẽ vô cùng nguy hiểm vì chỉ còn tương đương khoảng 5-6 tuần nhập khẩu, trong khi mức tối thiểu phải có là 12 tuần theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF".

"Như vậy, việc điều chỉnh tỷ giá sẽ không tránh khỏi và sẽ diễn ra không xa vì sức chịu đựng của dự trữ ngoại tệ không cáng đáng nổi nữa. Tỷ giá như hiện nay cản trở xuất khẩu và khuyến khích nhập khẩu."

Mới đây, các nhà phân tích của Citigroup dự đoán tiền đồng Việt Nam sẽ mất giá thêm 3% trong quý I/2011.

Các chuyên gia cảnh báo việc tiền đồng mất giá, lạm phát cao sẽ đi kèm nhiều vấn đề xã hội.

Tiến sỹ Trần Văn Thọ, Giáo sư Kinh tế Đại học Waseda (Nhật Bản), nói chính phủ Việt Nam cần cân nhắc kỹ lưỡng trước việc phá giá đồng tiền hay nâng giá các mặt hàng thiết yếu.

"Tăng giá hàng hóa trong lúc này luôn đi kèm nguy cơ bất ổn xã hội."

Năm ngoái, tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam là 11,75%, cao hơn chỉ tiêu Quốc hội đề ra.

Tuy nhiên, ông Thọ cho rằng chính phủ trong nước đang có những nỗ lực lớn để giảm thâm hụt ngân sách và giảm chi tiêu công, nhưng "kết quả còn phải chờ mới rõ".

Trong một phỏng vấn mới với báo Tuổi Trẻ, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc cũng khẳng định Nhà nước đã cố gắng giảm bội chi ngân sách và "đang cố gắng những năm tới sẽ đưa trở lại mức 5%".

VIỆT NAM: GIÁ CẢ CÒN TĂNG VỌT
VÀ DÂN NGHÈO THÊM KHỔ CỰC

Sau Tết, Giá Sẽ Tăng Vọt ở VN Vì Xăng, Than, Điện Tăng Giá


Trước Tết, giá tăng. Sau Tết, giá cũng sẽ tăng. Bản tin báo Đất Việt cho biết hoàn cảnh của dân sẽ thê thảm sau ngaà Tết, theo bản tin có nhan đề “Thấp thỏm nỗi lo giá cả sau Tết.”

Bản tin viết rằng, trong thời gian qua, giá cả liên tục tăng và càng đến Tết thì giá nhảy từng tuần, từng ngày. Nỗi lo này còn đè nặng lên vai người tiêu dùng hơn nữa bởi những dự đoán giá cả sau Tết còn nhảy vọt.

Báo Đất Việt ghi lời Ông Vũ Vĩnh Phú, Chủ tịch Hiệp hội siêu thị Hà Nội, cho rằng, chắc chắn ra Tết, giá cả hàng hóa thường đối diện với cơ nguy tăng, tuy nhiên sẽ đặc biệt rõ rệt trong năm nay, vì rất nhiều nguyên nhân nhãn tiền. Chẳng hạn, giá xăng dầu chỉ được neo đến hết Tết Nguyên đán 2011, ra Tết có thể sẽ bị “thả neo”. Bên cạnh đó, gas, sữa lại đang tăng giá liên tục, than đang quyết liệt “xin” bán giá thị trường, thời tiết rét khắc nghiệt khiến rau củ quả có nguy cơ khan hiếm sau Tết. Ngoài ra, lương cơ bản tại khu vực xí nghiệp đã tăng từ tháng 1, còn cán bộ công chức bắt đầu được nâng lương cơ bản từ tháng 5 tới. Thông thường, bao nhiêu lần có quyết định tăng lương đến nay, cứ lương chưa kịp tăng thì giá cả đã nhảy trước.

Như thế, viễn ảnh lạm phát sau tết là điều tất yếu.
Bào Đất Việt viết, “Phân tích của ông Phú cho thấy, việc giá cả sau Tết còn tăng là điều thực sự đáng ngại, ảnh hưởng tới lạm phát năm 2011.”

Trong đó, nguy nhất là khi xăng dầu tăng giá, toàn bộ hệ thống vận chuyển hàng hóa sẽ buộâc tăng giá theo.

Báo Đất Việt  nói rằng, xăng dầu, một mặt hàng trọng yếu ảnh hưởng tới giá cả của gần như toàn bộ hàng hóa, theo chủ trương của Nhà nước đang được kiềm giá đến hết Tết Nguyên đán. Như vậy, chỉ cần qua ba ngày Tết, giá mặt hàng chiến lược này có thể tăng bất cứ lúc nào.

Và tăng là tất yếu, vì xăng dầu hiện bán dưới giá thành ở VN.

Báo này viết, “Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính hôm qua cho biết, để giữ bình ổn giá xăng dầu từ nay đến hết Tết Nguyên đán, quỹ bình ổn sẽ phải chi thêm khoảng 9.000 tỷ đồng nữa, một con số không hề nhỏ. Các chuyên gia lo ngại, khi giá xăng dầu cố kìm đến mức không thể chịu nổi, thì sẽ có một đợt "bùng nổ" về giá, vì giá xăng dầu thế giới liên tục tăng cao thời gian qua và các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối liên tục kêu lỗ. Giá xăng nếu bùng nổ sẽ kéo hàng loạt các mặt hàng thiết yếu tăng giá theo, với mức tăng không nhỏ.”

Không chỉ xăng dầu, giá nhiều nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất cũng đang có nguy cơ tăng sau Tết, như than, điện…
 
Báo Đất Việt viết, “Nhận định mới đây của Bộ Công thương cũng cho thấy, năm 2011, giá các nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất tiếp tục có xu hướng tăng, làm tăng chi phí đầu vào, gây áp lực đến mặt bằng giá chung trong nước...”

 





 LẠM PHÁT Ở TRUNG QUỐC TĂNG CAO


Giá trái cây ở Trung Quốc tăng gần 35% trong tháng 1, so với cùng kỳ năm ngoái

Thống kê công bố tháng 2 tại Trung Quốc cho thấy tháng trước, lạm phát ở nước này lên cao, với giá tiêu dùng tăng 4,9%, khiến chính quyền Bắc Kinh đang lo "hạ nhiệt" nền kinh tế bằng cách tăng lãi suất.

Giá thực phẩm còn tăng cao hơn, lên tới 10,3% trong tháng Một, theo số liệu công bố hôm 15/2.

Trong tháng 12 năm ngoái, giá hàng tiêu dùng tại Trung Quốc đã tăng 4,6%, sau khi đã tăng 5,1% hồi tháng 11.

Trung Quốc đã tăng lãi suất ngân hàng ba lần từ tháng 10/2010 nhằm hạ nhiệt nền kinh tế bị cho là đang tăng trưởng nóng.

Tuy nhiên, giới quan sát nói điều cần thiết hiện nay là chính quyền phải làm sao ngăn bớt nạn cho vay quá mức và tìm cách tăng lượng thực phẩm cung ứng cho thị trường.

Có tin từ vùng Sơn Đông cho BBC Tiếng Trung ở London hay rằng nhiều nhà máy bột trong tỉnh tạm ngưng hoạt động vì nông dân không muốn bán lúa mì cho họ.

Mặt khác, nhiều vùng phía Bắc của Trung Quốc vừa gặp một trận hạn hán nghiêm trọng, khiến ngũ cốc bị thiệt lại nặng.

Sau Tết Âm lịch, nhà nông vùng này giữ giá và không muốn bán hàng ra để chờ cơ hội tốt hơn dù giá ngũ cốc đã tăng tới 16%.

Chính quyền đã chi ra khoản trợ cấp một tỷ USD cho vùng bị thiên tai nhưng chủ yếu nhắm vào các biện pháp chống hạn.

Nhà kinh tế từ tập đoàn Standard Chartered, Jinny Yan nói rằng chính quyền Trung Quốc "đang lâm trận trên mọi lĩnh vực" của nền kinh tế và cảnh báo, "lạm phát vẫn chưa đến đỉnh điểm".

Lạm phát sắp vượt mức chính quyền đặt ra là 4%, và dễ lên tới 6%.

Với người dân Trung Quốc, tháng 1/2011 là thời điểm giá cả lên chóng mặt.

Theo Cục Thống kê Quốc gia, trong tháng này, giá trái cây tươi tăng tới gần 35% so với cùng kỳ năm 2010.

Giá trứng cũng tăng trên 20%.

 






VINH QUANG DÂN AI CẬP,
NHỤC NHÃ NHỮNG KẺ CÚI ĐẦU NÔ LỆ CSVN


Những gì dân chúng Ai Cập làm, người dân Việt Nam đã thực hiện nhưng Việt Nam có quá nhiều kẻ nô lệ chế độ cộng sản. Nhìn xem dân Việt qua vài tấm hình Ai Cập – Việt Nam.

1. Nói với người lính, công an.

Ai Cập ! Người lính Ai Cập lắng nghe tiếng nói, song hành với dân chúng phá tan chế độ Mubarak đã cai trị 30 năm qua. Người lính Ai Cập bảo vệ quyền lợi của người dân và cũng là quyền lợi của chính họ. Họ không đem súng ống bảo vệ quê hương để tàn sát đồng bào mình.

Thái Hà ! Người dân cũng đã tiến đến nói với người lính, công an Việt Nam hãy nhìn về quê hương và yêu thương đồng bào hãy giúp người dân Việt Nam không bị cướp mất quyền làm người. Người dân Thái Hà đang nói với người công an nhưng ai đã phá tan tiếng nói của họ ?

Ai đã bịt miệng tiếng nói người dân Thái Hà để người công an không còn nghe và trở thành những con dã thú sát hại dân Việt ?

Ai đã dùng quyền lực, quyền bính để đàn áp tiếng nói người dân ?

Ai đã loại trừ Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt khi ngài cùng lên tiếng với người dân cho xóm làng, cho Việt Nam được có Công Lý ?

Những kẻ vì quyền lợi riêng tư, bán rẽ lương tâm đi làm nô lệ cho đảng cộng sản Việt Nam bán anh em, giáo dân, giáo hội Việt nam để người dân mất đi tất cả, mất nhà cửa, mất quyền làm người…

Hỡi anh công an hãy dùng sức mạnh, súng đạn bảo vệ người dân đừng che chở cho chế độ cộng sản mà anh cũng là một nạn nhân của chế độ !

2. Ánh sáng nguyện cầu.

Trong ánh sáng đèn đêm người dân Ai Cập cùng nhau ước mong, quyết chí loại trừ chế độ độc tài chỉ đem lại lo âu, sợ hãi trong đời sống.

Thái Hà, Đồng Chiêm, Tòa Khâm Sứ, Cồn Dầu…cũng đã đốt lên ánh sáng của những cây nến, nguyện cầu cho quê hương không còn chế độ cộng sản gian ác, không đọa đày dân lành. Những cây nến vội tắt !

Ông sư quốc doanh, giám mục quốc doanh, linh mục quốc doanh… đội lốt tôn giáo xây « lâu đài tôn giáo », đi tiên phong dâp tắt những ngọn nến, những tiếng nói oan ức của tín đồ, giáo dân để bảo vệ chế độ cộng sản. Giáo hội quốc doanh đã dựng lên những « hài kịch tôn giáo » đem đến thảm kịch cho tín đồ, giáo dân. Giáo hội quốc doanh tay trong tay với chế độ cộng sản, thản nhiên trước cảnh tàn sát, đánh đập, cướp bóc người dân vô tội…và thổi tắt cây nến Công Chính.

Những cây nến Việt Nam vẫn còn và sẽ đốt lên, đốt mãi, đốt cháy sáng Việt Nam để từng người dân nhìn thấy sự tàn ác, vô nhân đạo của chế độ cộng sản đang tàn phá quê hương Việt Nam.

Hỡi từng người dân Việt, cùng nhau thắp lên những cây nến cho Hòa Bình, cho Tự Do Việt Nam !

3. Những cánh tay đưa lên.

Những cánh tay vươn cao của mỗi người dân Ai Cập đã đem lại cho họ một ngày mai tươi sáng, tự do và được làm người giữa quê hương.

Giáo dân Cồn Dầu đã can đảm vươn tay để che chở một quan tài, bảo vệ nghĩa trang nơi yên nghĩ của cha ông từ hơn thế kỷ.

Dù bị đứng giữa hai áp lực, một bênh là chính quyền cộng sản Đà Nẵng với bạo lực và một bên bị quyền lực của giám mục giáo phận nhưng giáo dân Cồn Dầu vẫn nói lên tiếng nói người dân bị đàn áp.

Dù bị tra tấn, tù đày, dù đứng trước tòa án…giáo dân vẫn nói “chúng tôi không có tội”, có nghĩa là chính chế độ cộng sản mới là kẻ có tội.

Không những anh Nguyễn Thành Năm bị đánh cho đến chết nhưng có một em bé nằm trong bụng mẹ cũng đã bị công an Đà Nẵng đánh chết. Người đàn bà mang thai vô tội bị đánh đập, bị ở tù và em bé đau đớn nằm chết trong bụng mẹ. Em là người thứ hai bị đánh chết vì … em mang tội lỗi gì ?

Em năm khóc theo vết thương da mẹ
Em quặn đau theo tiếng mẹ kêu la
Máu em đổ em vội kêu tiếng mẹ
Em rợn người nằm chết giữa tù lao

Cồn Dầu, một làng nhỏ đã ghi lên những tội ác ghê rợn của chế độ cộng sản. Một chế độ được xây dựng bằng gian manh, cướp bóc gia tài người dân trong cổ quan tài, trong từng nấm mộ, trên xác người và ngay cả một em bé chưa được sinh ra nằm chết theo da thịt đau đớn của mẹ.

Những hình ảnh Cồn Dầu để lộ một loài dã thú như Nguyễn Bá Thanh thêm một vị giám mục giáo phận Châu Ngọc Tri cũng mang trong người một dòng máu lạnh, những kẻ tán tận lương tâm trên khổ đau đồng bào, dân tộc mình. Đứng trước cảnh đau thương Cồn Dầu, trước cảnh bào thai hét gầm trong bụng mẹ là con chiên là giáo dân của mình, ông giám mục vẫn bình thản nói «Ai buồn là việc của họ, tôi luôn luôn thanh thản và an bình».

Vinh Quang Ai Cập, nhục nhã Việt Nam kẻ cúi đầu nô lệ cộng sản !

Việt nam sẽ phải chịu nhục hình, đọa đày đến khi nào ? Hỡi người dân Việt hãy tay nắm tay kết thành « vòng tay Việt Nam » cùng bóp chết chế độ cộng sản cho thế hệ hôm nay và ngày mai hãnh diện ngước mặt làm người Việt Nam. !

Ngày 15 tháng 2 năm 2011
Sao Biển

 


AI CẬP ĐỨNG LÊN
VÌ THAM NHŨNG VÀ DÂN ĐÓI

Các cuộc biểu tình ở Ai Cập đòi lật đổ Mubarak có nguyên nhân cơ bản là
nạn tham nhũng và tình trạng đói khổ của dân chúng.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh



Sau hơn một tuần đại loạn ở Cairo và một số nơi khác của Ai Cập, người ta đã thấy hơn một triệu dân đổ ra ngoài đường phố để đòi Tổng Thống Ai Cập Hosni Mubarak phải từ chức. Mubarak đã lên cầm quyền từ 30 năm qua, sau khi TT Anwar el-Sadat bị ám sát năm 1981.

Trên thế giới chưa hề thấy một ông Tống Thống nào liên tục giữ chức vụ lâu đến như vậy. Tổng Thống là do dân bầu có giới hạn theo nhiệm kỳ, Mubarak là Tổng Thống đắc cử kéo dài trong 30 năm, tự nhiên là một kẻ độc tài, mặc dù không phải độc tài phe tả như Stalin ở Nga hay phe hữu như Hitler ở Đức. Mubarak có thể coi như độc tài phe giữa, nhưng bất luận là độc tài theo chủ thuyết chính trị nào, độc tài vẫn là độc tài và khi đã là độc tài, chế độ cai trị chỉ đưa đến nạn tham nhũng, vì độc tài và tham nhũng là anh em song sinh.

Các cuộc biểu tình ở Ai Cập đòi lật đổ Mubarak có nguyên nhân cơ bản là nạn tham nhũng và tình trạng đói khổ của dân chúng.

Và đầu tuần này có tin cho biết có thể một nhà ngoại giao nổi danh quốc tế là Mohamed ElBaradei  được lựa chọn làm Tổng Thống Ai Cập. ElBaradei đã từng được giải Nobel, và cũng là người đã chống đối lệnh giới nghiêm của Mubarak, tham gia biểu tình ở trung tâm thủ đô Cairo. Mubarak đã phải lùi một bước và loan báo chỉ định một chính phủ liên hiệp mới.

Ở đây có một câu hỏi được đặt ra: Nếu Ai Cập có một chế độ độc tài như vậy, tại sao trong suốt 30 năm qua LHQ và các cường quốc cũng như dư luận quốc tế vẫn im lìm để mặc?

Câu trả lời giản dị là Ai Cập giữ một vai trò rất quan trọng cho nền kinh tế và chính trị toàn cầu. Về kinh tế Ai Cập có hải cảng Suez, trên bờ kinh đào Suez là con đường biển thông thương quan trọng nhất thế giới từ Á Đông qua Trung Đông đến Âu châu. Huyết mạch chính của kinh tế toàn thế giới cho đến nay vẫn là dầu lửa. Nếu kinh đào bị khóa lại, kinh tế toàn cầu sẽ bị nghẹt thở.

Về mặt chính trị, phần đông dân Ai Cập là người Á rập, nhưng chính quyền Ai Cập từ lâu vẫn ủng hộ Israel, nước của người Do thái. Trong cuộc đàm phán hòa bình hiện nay giữa Israel và nước Palestine của người Á rập, Ai Cập chính thức ủng hộ Israel. Dân Ai Cập đa số là Á rập, vậy tại sao người Á rập ở Ai Cập lại đứng về phe thù nghịch với người Á rập là Do thái? Về mặt này ở Ai Cập đã từng có một phong trào tranh đấu của người Á rập là tổ chức "Huynh đệ Hồi giáo", nhưng tổ chức này đã bị cấm hoạt động từ lâu, và những phần từ còn lại nếu có giao tiếp với nhau cũng không có hoạt động, đặc biệt là không hề có một phần tử nào như nhóm khủng bố al-Qaida đánh bom tự sát ở Ai Cập cho đến nay.

Nhân dịp này thiết tưởng cũng nên điểm qua một chút về lịch sử. Ai Cập là một trong những nước có nền văn hóa cổ kính nhất trên thế giới, với một di vật do bàn tay con người tạo ra. Đó là ba Kim Tự Tháp sừng sững như ba ngọn núi là những nấm mồ của vua chúa thời xưa cả chục ngàn năm trước. Thời đó dân Ai Cập chỉ là những bộ tộc nay đã mai một từ lâu. Nhưng vào thời đại trước Công nguyên, dân từ bán đảo Á rập đã qua Ai Cập sinh sống. Những người đọc kinh Cựu Ước của Do thái giáo đều đã biết sự tích Abraham đã từ Mecca (Trung Đông) đem thân nhân qua Sinai để đến Ai Cập. Từ đó dân Á Rập qua Ai Cập rất nhiều. Về sau qua các thệ hệ kế tiếp cho đến ngày nay dân Ai Cập là người Á rập.

Trở lại tình hình Ai Cập hiện nay với quyết định có vẻ nhân nhượng của Mubarak là thay đổi Nội các, theo đó sự kiện có ý nghĩa nhất là thay thế Bộ trưởng Nội Vụ Habid el-Adl vốn cầm đầu Lực lượng An ninh, người bị các đoàn biểu tình thù ghét nhất vì đã ra tay đàn áp rất tàn bạo. Ngoài ra một số những nhà kinh doanh từng giữ chức vụ trong nội các và chủ trương tự do hóa kinh doanh cũng bị thay thế. Nhưng dân Ai Cập bực tức trước thế mạnh ảnh hưởng của những tay tài phiệt bạc tỷ Ai Cập vốn là đồng minh sát cánh của Gamal Mubarak, con trai của Mubarak.

Trong Nội các mới, Mubarak đặc biệt giữ lại chức vụ Bộ trưởng Quốc Phòng Đại tướng Hussein Tantavi và Ngoại trưởng Ahmed Aboul Gheit. Từ cuối tuần trước, quân đội Ai Cập đã thay thế Cảnh sát ra tay đàn áp biểu tình. Còn về Ngoại giao người ta đã thấy Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nhiều lần công khai lên tiếng đòi Mubarak thay đổi chế độ, có nghĩa là phải thay đổi chủ trương độc tài, và phải tổ chức bầu cử tự do.

Vì những vấn đề liên hệ đến hòa bình giữa Do thái và Á rập ở Trung Đông cũng như ảnh hưởng của Mubarak đối với khối Á rập và Israel, Mỹ vẫn muốn Mubarak tiếp tục làm Tổng Thống, chỉ cần ông ta cải cách chế độ hiện hữu để Ai Cập có tự do dân chủ hơn. Chủ nghĩa độc tài dưới bất cứ hình thức nào cũng không còn được chấp nhận nữa.

Sáng thứ Ba tuần nay, gần 300,000 người đã biểu tình đòi Mubarak phải từ chức. Đây là một cuộc biểu tình ôn hòa. Quân đội Ai Cập dàn ra để giữ trật tự và đã nói truớc sẽ không nổ súng.  Xét tình hình này Mubarak rất có thể phải từ chức, không thể kéo dài để chờ cơ hội đổi mới chế độ. Đến chiều Mubarak lên TV tuyên bố ông sẽ không ra ứng cử thêm nhiệm kỳ mới vào tháng 9 năm nay, bác bỏ sự đòi hỏi ông phải từ chức ngay và đi khỏi nước. Tại quảng trường Tahrir đông chật ních người, đám biểu tình đứng trước màn hình TV rộng lớn, la ó, tháo giầy đưa lên đầu vẫy vẫy để tỏ ý miệt thị và la lên: "Cút đi, cút đi . . . "

Chiều thứ Tư lại có biến chuyển mới. Hàng chục ngàn người ủng hộ Mubarak đã tập họp trước đền Hồi giáo Mustafa Mahmoud, kể cả một số người cuỡi ngựa và lừa, chống lại những nhóm biểu tình phản đối. Xung đột dữ dội giữa hai phe đã xẩy ra, như vậy mới đúng là đại loạn.
  
Vào cuối Thế kỷ 20, chúng ta đã biết chủ nghĩa Cộng sản khuynh tả như chế độ Stalin ở Nga và chủ nghĩa bảo thủ khuynh hữu như chế độ Hitler ở Đức đã chết. Vào đầu Thế kỷ 21, chúng ta còn thấy rõ chủ nghĩa vô sản quốc tế chỉ là một thứ quái thai của lịch sử nhân loại.

Chúng tôi đã có lần ghi xã hội chủ nghĩa với bộ mặt quái đản của nó là chủ nghĩa Cộng sản đã chết, nếu có một chút rơm rác nào còn sót lại không bị cây chổi quét, đó chỉ là những nhóm nhỏ muốn lợi dụng thời cơ kiếm chác thêm đôi chút của cải để bỏ túi riêng.

Trước con mắt soi bói của thế giới bên ngoài, những người Cộng sản vẫn tổ chức bầu cử Quốc hội, nhưng thật ra họ đã ngấm ngầm sàng lọc danh sách ứng cử viên để chỉ có những đảng viên của họ được ra tranh cử.

Rút cuộc đất nước vẫn chỉ có một Quốc hội nằm trong tay thao túng của Cộng sản. Nếu không có bầu cử tự do, không thể nào có dân chủ thực sự, rút cuộc vẫn kéo dài chế độ độc tài độc đảng. Cộng sản cần kéo dài thời gian, cũng giống như một anh phi công lái phi cơ đang bay trong không gian có dấu hiệu trục trặc, nên anh cần có thời gian để có thể "hạ cánh an toàn". Đối với mấy anh Việt Cộng vào giờ thứ 25 cũng vậy, điều đó có nghĩa là vẫn an toàn giữ được của cải đã vơ vét được trong thời gian cầm quyền độc tài. Họ cần phải chờ thời cơ để hạ cánh an toàn. Nhưng chờ đến bao giờ?

 








PHƯƠNG TÂY TRUY TÌM TIỀN TỶ
CỦA GIA ĐÌNH MUBARAK
 
Ông Mubarak bị tố cáo là đã dùng những ngày cuối cùng cầm quyền để tẩu tán tài sản
Anh Quốc chịu sức ép phải 'truy lùng' tài sản của ông Hosni Mubarak sau khi Thụy Sĩ phong tỏa tài sản của gia đình ông này.

Cục trưởng Cục Phòng chống Lừa đảo của Anh, Richard Alderman, ra tín hiệu cho thấy cơ quan này đã đang tìm kiếm các tài sản của ông Mubarak và của cả tổng thống Tunisia bị lật đổ, ông Zine El Abidine Ben Ali.

Ông Alderman nói với báo The Sunday Times ở London:
"Người dân muốn chúng tôi tìm kiếm một số trong các khoản tiền này nếu chúng tôi biết thực sự có những khoản như thế [tại Anh] và cố gắng hoàn trả các khoản tiền này cho người dân các nước đó."

Trong khi đó người phụ trách chính sách ngoại giao của phe đối lập tại Anh, ông Douglas Alexander nói:

"Chính phủ cần ngay lập tức yêu cầu Cục Phòng chống Lừa đảo điều tra các tài sản mà ông Mubarak có tại Anh.

"Ít nhất 20% người Ai Cập sống dưới mức nghèo khổ $2 một ngày.

"Chúng ta cần góp phần đảm bảo rằng bất cứ đồng tiền nào chính đáng thuộc về người dân Ai Cập thì chúng ta phải trả lại cho họ."

Giấu tài sản

Con trai ông Mubarak, Gamal, quản lý một công ty đầu tư ở London

Bộ trưởng Kinh doanh Anh, Vince Cable nói ông "không biết" liệu ông Mubarak có "nhiều tài sản" tại Anh không nhưng cảnh báo chính phủ sẽ ra tay đối với bất cứ ngân hàng Anh nào dính líu tới chuyện giúp ông Mubarak tẩu tán tài sản.

Một số báo cáo buộc ông Mubarak đã dùng 18 ngày hoãn binh trước khi từ chức để giấu tài sản cá nhân.

Tờ The Guardian của Anh nói Ngân hàng Anh không thể xử lý tài sản của ông Mubarak nếu không có yêu cầu chính thức từ Liên minh Châu Âu, Liên Hiệp Quốc hay tân chính phủ của Ai Cập.

Cho tới nay chưa có yêu cầu nào như vậy.

The Guardian cũng nói người vợ gốc xứ Wales của ông Mubarak, bà Suzanne cùng hai con trai, Gamal và Alaa, đã kiếm được nhiều tiền nhờ làm ăn với các nhà đầu tư nước ngoài và các công ty kể từ khi ông Mubarak còn trong quân đội và có thể dùng ảnh hưởng để nhận hối lộ từ các công ty.

Ông Gamal quản lý một công ty đầu tư tại London và có nghi ngờ công ty này đã giúp chuyển tiền của gia đình tới những nơi bí mật.

Hiện cũng đang có những đồn đoán về chuyện ông Mubarak đang bị quản thúc tại Sharm El Sheikh.

Người ta cũng nói về chuyện liệu ông sẽ tới nước nào trong vùng Vịnh để hưởng những năm tháng cuối cùng.

Cũng nhân chính biến tại Ai Cập, báo chí Phương Tây đưa ra nhận định rằng dưới thời ông Mubarak, cựu tư lệnh không quân lên làm tổng thống, các tướng lĩnh Ai Cập trở thành các nhà tư bản giàu có.

Báo Anh cho rằng giới quân nhân Ai Cập kiểm soát 15 phần trăm nền kinh tế trị giá 270 tỷ đô la của nước này.

Ngoài các lãnh địa riêng chỉ có các sĩ quan cao cấp hưởng thụ, các thương vụ của giới quân nhân trải rộng từ xuất nhập khẩu, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch và nhất là hàng không.

Hãng hàng không quốc gia Ai Cập AirEgypt được cho là "bến đỗ an toàn" của các cựu tướng lĩnh sau khi thôi binh nghiệp.
ĐỘC TÀI THÌ THAM NHŨNG

Giới thiệu và chia xẻ
Phong trào trỗi dậy giành tự do dân chủ và nhân quyền từ Tunisia, Egypt gần đây đã làm các lãnh đạo ở Phi Châu, Đông Nam Á, Bắc Á phải suy nghĩ. Độc tài không phải chỉ tồn tại trong các nhà nước cầm quyền chính trị mà độc tài đã hiện diện khắp nơi ngay tại các cơ sở từ thiện, cộng đồng thân hữu, nhà chùa và các hội thánh, nhà thờ Baptist, Tin Lành... ngay trên nước Mỹ....

Chỉ có mô hình độc tài kiểu Việt cộng là gần gũi với cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản nhất. Họ đã có kinh nghiệm với đảng và nhà nước VGCS sau năm 1975. Do đó dưới mọi hình thức tổ chức mánh mung, mánh khóe, báo cáo lếu láo, thiếu minh bạch, thiếu chi tiết, thiết quang minh chính đại là một hình thức gian lận, che giấu, bao che để ăn cắp dưới hình thức chi tiêu lấp liếm, nhập nhằng đánh lận con đen. Nếu là người điều hành công chính, quang minh chính đại thì mọi sự việc bao giờ cũng được khai báo mỗi ngày, mỗi tuần, nhất là với hệ thống kế toán điện tín hiện tại, rất chi tiết, rất minh bạch. Tất cả mọi sự việc đều đã được áp đặt hình thành qua các điều luật, qui luật do bọn lãnh đạo giòi bọ, ruồi nhặng tự dàn dựng, vẻ rắn thêm chân để hóa rồng, hùm xám độc tài dưới cái tên như hiến pháp, nội quy, điều lệ tổ chức đã được áp đặt, cưỡng chế. Các hệ thống tổ chức dưới hình thức luật lệ, hiến pháp, nôi quy, giáo điều, qui luật tự dàn dựng, áp đặt ra là những mầm móng cội rễ của người lãnh đạo, quản nhiệm tham nhũng, ăn cắp, tẩu tán, làm thất thóat tài sản, tiền bạc, ngân quỷ một cách có hệ thống, có kiểm soát ma, hay đồng lõa kiểm sóat để chia chác quyền lực, tiền bạc, địa vị, lợi nhuận, bổng lộc.

Không thể nói như hề Nguyễn Minh Triết là vì đảng và nhà nước ngu dốt trong kỹ thuật quản lý, kế toán mà người thủ quỹ muốn  “mượn tiền” bao nhiêu cũng được và “quên hoàn trả”, nhất là thủ quỷ và kiểm sóat lại là người nhà, bạn bè, hay tín đồ thân cận của mục sư, linh mục, giáo sĩ tự dàn dựng, bầu bán gian lận. Nói cách khác độc tài sinh ra tham quyền cố vị, phát sinh hệ thống tổ chức hành chánh có nhiều lỗ hỏng để khuất lấp, che giấu mọi sự việc kiểm soát, báo cáo để dễ bề tham nhũng, trộm cắp tiền bạc, vật liệu, của cải của công, của tập thể, của tín đồ, của hội thánh dưới nhiều dạng thức điều hành, chấp sự, quản nhiệm, quản trị, lãnh đạo....

Khi phong trào tự do, dân chủ đòi quyền sống ở Tunisia, Egypt nổi dây biểu tình chống đối, đòi lật đổ hai tên tổng thống Ben Ali và Mubarak với sự đồng tình của quân đội thì cuộc đời của hai tên tổng thống độc tài tham nhũng của Tunisia và Egypt coi như đã chấm dứt. Thật là nhục nhã cho hai tên tổng thống độc tài của hai nước ơở Bắc Phi. Tình trạng trỗi dây của các nước độc tài, gia đình trị ở Phi châu đã làm cho các nước độc tài quân phiệt Miến Điện, cộng sản Triều Tiên, Việt nam, Tàu phải có những biện pháp sử dụng quân đội, công an dã man hơn để đàn áp, gông cùm, ngục tù những phần tử đối lập chống đối để duy trì tham vọng quyền lực để tiếp tục đánh cướp, ăn cắp, rút ruột công trình dự an.

Ngay tại xứ Mỹ, trong các hội đoàn, nhà thờ giáo sĩ cơ đốc trong vòng hơn 30 năm trở lại đây có không biết bao nhiều vụ scandals của các nhà truỳn giáo được ghi nhận trên báo chí, Google, sôi nổi đậm nét nhất là hai vụ liên hệ đến mục sư Jimmy Swaggart và vợ chồng mục sư  Jim và Tammy Bakker. Quí vị có thể vào Google  tìm kiếm hai danh sư truyền giáo này trên Google thì sẽ biết thêm chi tiết. Họ cũng là những người đã tốt nghiệp các trường đại học thần học đấy. Đừng bao giờ có ý nghĩ các mục sư đã tốt nghiệp các trường thần học ở Mỹ là tốt, là có danh phận đáng tín nhiệm. Ai cũng có lầm lỗi vi phạm, khi tham vọng quyền lực, tài lực đã đè nặng trên đời sống tâm linh. Đến lúc đó, họ chỉ biết tạo mọi hình thức dù phải giả hình tượng công an để theo dỏi các sinh hoạt của các nhóm nhỏ của từng hội viên để tìm cách phân hóa, chia rẻ, hay giải tán họ khi có bất lợi. Mặc dù sinh hoạt của các nhóm tín hữu nhỏ chỉ có tính cách sinh hoạt xã hội, trao đổi kiến thức và chia xẻ lời Chúa trước hay sau buổi ăn thông công. Hành vi, thái độ, cung cách hành xử cùa các vị mục sư, linh mục đã làm cho tín đồ khinh miệt, càng bị đánh giá thấp hơn về tư cách, nhân phẩm nếu tình trạng tham quyền, độc tài không được thay đổi khi họ đã mất đức tin, hy vọng và tình yêu thương của Chúa như Sứ đổ Phao-lô đã để lại trong sách I Cô-rinh-tô 13:1-13.

Bổn phận của mối công dân, thành viên, tín hữu công chính, ngay thật, có tấm lòng yêu nước, yêu Chúa, yêu lời ngay lẽ thật là phải phát biểu, bày tỏ, đấu tranh, tố cáo, tẩy chay, bài trừ những thủ đọan, hình thức đàn áp, gian dối, lừa bịp, báo cáo có tính cách áp đặt, lấp liếm hập nhằng qua hình thức kiểm soát có tính đồng loã để ăn chia. Sự chọn lựa hoàn toàn ở mỗi cá nhân như người dân Tunisia, Egypt đã làm đầy can đảm để tạo sức mạnh vũ bão của quần chúng: Ý dân cũng là Ý Trời.

Nói tóm lại chính sách độc tài, đảng trị, hay gia đình, đảng, phe nhóm trị,  dưới bất cứ thời đại, chế độ, thể chế chính trị, hội đoàn tôn giáo của bất cứ quốc gia nào trước sau cũng bị sụp đổ, bị diệt vong, biến mất một cách thảm hại, đau thương và nhục nhã.
DTK
http://baotoquoc.com/2011/02/13/d%e1%bb%99c-tai-thi-tham-nhung/

Ăn gì uống rượu không say? Ăn gian. Làm nghề gì giàu nhanh và lớn nhứt? Làm chánh trị độc tài, tham nhũng ăn cướp của nước, của dân. Trường hợpTổng Thống Mubarak cai trị độc tài Ai cập trong 30 năm, đã tham nhũng ăn cướp của nước, của dân được từ 40 đến 70 tỷ Mỹ Kim, mới bị dân chúng biểu tình lật đổ đây, là thí dụ điển hình. Từ đó có thể phỏng tính CS Hà nội độc tài ở Việt Nam gần 100 năm nếu tính Miền Bắc và Miền Nam, Bộ Chánh Trị có tới 15 người ăn cướp của nước, của dân VN dân số nhiều hơn Ai cập cả chục triệu, của nổi của chìm bất chánh của “đại cán” của CS phải gấp nhiều lần hơn.

Ai cập là một nước có khoảng 80 triệu dân đông nhứt trong Khối Á rập, ít hơn VN khoảng mười mấy triệu. Chế độ của TT Mubarak độc tài khoảng 30 năm. CS Hà nội độc tài 75 năm ở Miền Bắc và 35 năm ở Miền Nam. Độc tài chánh trị là cha sanh mẹ đẻ của tham nhũng, hối mại quyền thế, độc quyền kinh tế mà mục tiêu tối hậu là làm tiền.

Tin sơ khởi của báo Guardian của Anh trích dẫn nguồn tin không tiết lộ danh tánh ở Trung Đông, nhà độc tài Mubarak trong 30 năm cai trị, đã cướp của nước, của dân Ai cập, thu thập được một tài sản từ 40 đến 70 tỷ Mỹ Kim. Nều tính trung bình mỗi năm nhà độc tài Mubarak kiếm được trên 2 tỷ, cao hơn số tiền 1.5 tỷ Mỹ viện trở hàng năm cho Ai cập.

Người Việt có câu, “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”. TT Mubarak đã ăn cướp của nước, của dân, một cách vô tội vạ, khiến nhà độc tài Mubarak trở thành người giàu hơn những người giàu nhứt thế giới. Dù tên không có trong tạp chí Forbes, Ô Mubarak vẫn là người giàu hơn nhà kinh doanh của Mễ tài sản 54 tỷ, người kế là Bill Gates vua ngành Tin học ở Mỹ 53 tỷ.

Người Tàu có câu “phi thương bất phú”. Ông Mubarak là một nhà độc tài nên buôn dân, bán nước là mặt hàng quí hiếm nhứt nên giàu mau, giàu lớn nhứt. Ông bóc lột được 70 tỷ của 80 triệu dân Ai cập và của nước Ai cập đã có nền văn minh cổ đại rực rỡ, đang là nước đông dân nhứt trong Khối Á rập gồm 22 nước, có Kinh đào Suez mà tàu bè Đông Tây thề giới thường phải qua lại và là đồng minh ở Trung Đông thân cận với Mỹ nhứt.

Ông cầm thế sinh mạng quốc gia dân tộc cho Mỹ; Ông cướp cạn nước và dân. Riết rồi lớp trẻ Ai cập là thành phần đầu tư tốn kém cho tương lai nhứt, học hành nhiều nhứt lại là thành phần bị thiệt thòi nhứt, không việc làm, bị chén ép nhứt.

Còn tổng sản lượng quốc gia, tính trên đầu người mỗi năm chỉ $6,200. Ông đã biến Ai Cập thành nước kinh tế đứng hạng thứ 136 trên thế giới dù là nước có dân số lớn thứ 16 của thế giới. Nhưng Ngân Hàng Thế Giới cho con số còn thê thảm hơn: mỗi ngày người dân Ai cập chỉ kiếm được 2 Đô la Mỹ để sống: ngang ngửa người dân Việt.

Việc xác định số tài sản của nổi của chìm của nhà độc tài Mubarak và chứng minh y đã cướp cạn của nước và dân để tịch thu sung đương vào ngân sách quốc gia để của đất nước và nhân dân thì dùng để phục vụ đất nước và nhân dân – là một thử thách của Hội Đồng Tối Cao Quân Lực Ai cập đang tiếp quản chánh quyền sau khi Ô Mubarak từ chức tổng thống do áp lực của cuộc biểu tình 18 ngày, có 300 người chết và 2000 bị thương, bị cảnh sát, côn đồ do nhà độc tài và đảng độc tài của Mubarak mướn để chống biểu tình.

Tài sản chưa chuyển đi cất dấu ở ngoại quốc, chắc còn một số, trong kho, ngân hàng, hay các công ty ở trong nước Ai cập. Việc TT Mubarak trì hoãn ra đi viện lẽ chuyển tiếp chánh quyền suông sẽ êm thấm có thể hiều là hoãn binh chi kế của Ông để “thu vén cuối đòi như TT Võ văn Kiệt của CS VN nói” và tẩu tán cuối đời như nhà độc tài Mubarak muốn mà dân chúng biểu tình tạo áp lực quá mạnh Ông phải ra đi. Nhưng chưa thấy Quân Đội đưa vấn đề ấy ra là chuyện phải làm ngay.

Tài sản đã tẩu tán cất giấu ở ngoại quốc rồi, thì chánh quyền Thụy sĩ, quốc gia có hệ thống ngân hàng gởi tiền bí mật nhứt, nhiều nhà độc tài hay gởi ở đây, đã tuyên bố tạm thời bất động hoá tất cả những tài khoản của Mubarak ở ngân hàng. Ngân hàng Anh cũng đang xem xét làm như thế.

Nhưng đó là của nổi, còn của chìm tức tài sản mà nhà độc tài giao cho những tay chân quản lý và làm ăn thì sao? Thông thường tiền bạc của cải bất chánh của những người bất chánh thường ở dưới dạng của chìm.

Nhà độc tài trọc phú Mubarak vốn là một tướng lãnh Không Quân nên theo thói quen phi hành tính toàn kỹ và cẩn trọng. Hai người con trai của y, Gamal và Alaa, không thấy chơi trội, chơi ngông, chơi nổi ở Pháp hay những thành phố ăn chơi khác như các ông hoàng bà chúa của các nhà vua cai trị Á rập. Nhưng thân nhân gia đình bên vợ, bên chồng của Ông đều có có dinh thự ở Luân đôn, Nữu Ước, Hollywood và ở Ai cập như ở thành phố du lịch và nghỉ mát Sharm El Sheikh, nơi có tin Ô Mubarak về đó.

Tướng tá, bộ trưởng, dân biểu, lãnh tụ tôn giáo có thế lực hàng đầu đều có trong bảng lương bổng ngầm mà Mubarak trả hàng tháng dưới dạng ban ân sủng, phóng tài hoá thu nhân tâm.

Việc truy hoàn của nổi của chìm từ 40 đến 70 tỷ Mỹ Kim của Mubarak để sung đương vào ngân sách quốc gia hầu của dân phục vụ nhân dân là thước đo Hội Đồng Quân Lực Tối cao đang nắm chánh quyền quân quản có minh bạch, có chí công vô tư, có vì dân, có đáng cho dân tin cậy hay không.

Dù Ông Mubarak tuy đã hết cầm quyền, việc Hội Đồng Quân Lực, các tướng lãnh có để yên Ông ở trong nước hay ra hải ngoại, đường dây kinh tài 30 năm của Ông cũng còn ảnh hưởng. Trừ khi Ông bị bất động hoá trong để điều tra nhiều loại tội ác mà Ông đã làm trong đó có việc ăn cướp của nước, của dân.

Thủ Tướng Thái Lan hối mại quyền thế, trốn thuế, độc quyền kinh tế một vài lãnh vực, làm giàu bị lật đổ và tại đào ở ngoại quốc. Từ ngoại quốc, Ông dùng số tiền bất chánh để mua chuộc một số người trong nước tổ chức biểu tình đã gây vô vàn khó khăn cho chánh quyển mới, rất lâu.

Có cách mạng thì cũng có phản cách mạng; có đảo chánh thì cũng có chỉnh lý. Đó là điều người dân biểu tình lật đổ và chánh quyền mới ở Ai cập cần rút kinh nghiệm. Tunisia cũng gặp không ít khó khăn để bảo vệ tinh thần cách mạng, nguyện vọng của người dân trong cuộc biểu tình.

Còn ở VN thời CS, CS Hà nội đã độc tài ở Miển Bắc 75 năm và Miền Nam 35 năm. Tham nhũng trở thành quốc nạn suốt 25 năm mở cửa cho nước ngoài vào đầu tư. Số tài sản mà cán bộ đảng viên cầm cán Đảng Nhà Nước CS Hà nội đã cướp, cắp của nước và dân VN gần 90 triệu chắc chắn phài nhiều hơn 70 tỷ của nhà độc tài Mubarak. Số tư bản đỏ nằm trong Bộ Chánh Trị và Chánh Phủ và số cường hào ác bá đỏ Bí thư và Chủ Tịch Đô Tỉnh Thị gởi đi cất dấu ở ngoại quốc phải nhiều hơn của nhà độc tài Ai cập. Chắc những nhà độc tài CS này đang run trong bụng trước làn sóng biểu tình lật đổ độc tài ởTrung Đông.

Chắc những người Việt trẻ đang chiếm hơn phân nửa dân số ở VN phải nhìn lớp trẻ ở Tunisia và Ai cập quyết sanh tử với độc tài để cứu nước, cứu dân trong đó có mình.

Đầu thế kỷ 21, thiên niên kỷ thứ 3, “thanh niên là người Tổ Quốc mong cho mai sau”, dân tộc Việt là dân tộc với tinh thần bất khuất, từng chiến thắng Nguyên Mông không lý do gì cam phận bị nhốt trong gọng kềm CS độc tài đảng trị toàn diện. Nếu Trời cao có mắt, không lý do gì để 90 triệu người VN lương thiện bị CS gian ác đè đầu đè cổ quá lâu như vậy./.



TỪ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI BIỂN THỦ TIỀN BẠC
ĐẾN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN BỀN VỮNG

Từ Quyền lực và Tiền bạc: Mẫu số chung của những chế độ độc tài
đến Nhà nước Pháp quyền bền vững

Nguyễn Trung


I. Từ Quyền lực và Tiền bạc – Mẫu số chung của những chế độ độc tài

Không có gì là quá đáng nếu nói rằng thế kỷ XX là thế kỷ của những cuộc “Cách mạng”. Những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng văn hóa nghệ thuật, và những cuộc cách mạng giành độc lập của các nước thuộc địa phần lớn đều ở thế kỷ XX. Thế kỷ “Cách mạng” này đã làm thay đổi toàn bộ thế giới và nhân loại. Những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã đem đến những sản phẩm khoa học kỹ thuật hữu ích để phục vụ đời sống con người tốt hơn. Những cuộc cách mạng văn hóa nghệ thuật đã phá bỏ những hủ tục, phong cách bảo thủ để đem đến cho nhân loại những món ăn tinh thần, những cái đẹp mà những trường phái bảo thủ không có được. Còn những cuộc cách mạng giành độc lập của các nước thuộc địa đã hạ huyệt chủ nghĩa thực dân và đem Tự Do và Dân Chủ đến cho người dân ở những quốc gia thuộc địa.

Những tưởng nhân loại sẽ không còn thấy những cuộc cách mạng hay những phong trào cách mạng vĩ đại để đòi Tự Do và Dân Chủ trong thế kỷ XXI này. Bởi lẽ, một khi chủ nghĩa thực dân chuyên đi áp bức và bóc lột đã bị “hạ huyệt” thì những cuộc “cách mạng” đòi Tự Do và Dân Chủ cũng không còn đất để dụng võ. Nhưng quả là rất sai lầm với suy nghĩ trên đây.

Ngày nay, tuy chủ nghĩa thực dân đã mồ yên mả đẹp nhưng không có nghĩa là “áp bức và bóc lột” cũng được chôn theo chủ nhân của nó. Ngay sau khi những chế độ bù nhìn do chủ nghĩa thực dân dựng lên để cai trị người bản địa sụp đổ thì tên đầy tớ đồ tể “áp bức và bóc lột” đã quay 180 độ và nhanh chân chạy theo người chủ nhân mới để tiếp tục hoành hành. Không quá khó khăn để nhận ra vị chủ nhân mới của tên đầy tớ đồ tể “áp bức và bóc lột” này. Vâng. Đó là các chế độ độc tài. Dù là chế độ độc tài ở châu Âu, ở châu Phi, ở châu Á, hay ở châu Mỹ – những chế độ độc tài đều rất dễ nhận ra bởi chúng đều có một mẫu số chung . Vâng. Mẫu số chung của những chế độ độc tài là Quyền lực và Tiền bạc.

Quyền lực. Có thể nói rằng lãnh đạo của những chế độ độc tài là những ông vua của thời hiện đại. Vì cái ghế quyền lực, những lãnh đạo ở các chế độ độc tài luôn tìm mọi cách để ngồi, để trụ vững trên cái ghế quyền lực của mình. Chúng sẵn sàng nâng đỡ bọn vô lại nhưng có máu gian manh hay lập bè lập nhóm để cùng nhau bảo vệ cái ghế quyền lực của mình. Vì ghế cái quyền lực, những lãnh đạo ở các chế độ độc tài không ngần ngại nói “không” với hiền tài. Bởi một khi người hiền tài được trọng dụng thì rất khó duy trì cái ghế quyền lực trong các chế độ độc tài. Vì cái ghế quyền lực, lãnh đạo ở các chế độ độc tài sẵn sàng hại người trung lương vì người trung lương luôn đối đầu với bọn người tham lam quyền lực. Vì cái ghế quyền lực, lãnh đạo ở các chế độ độc tài không ngại liên kết với ngoại bang – hay tệ hợn là chịu thuần phục, lệ thuộc ngoại bang – để duy trì chế độ độc tài của mình. Tóm lại, các chế độ độc tài luôn tìm trăm phương ngàn kế để duy trì cái thế độc tôn lãnh đạo của mình.

Ngoài quyền lực, tiền bạc là điều không thể thiếu ở các chế độ độc tài. Có quyền ắt sẽ có tiền vì các chế độ độc tài không có chỗ cho sự giám sát của người dân. Tiền từ tham nhũng. Tiền từ bảo kê làm ăn phi pháp. Tiền từ nguồn lợi bán tài nguyên thiên nhiên của quốc gia. Tiền từ mua rẻ bán đắt sản phẩm của người dân. Tiền từ đầu tư xây dựng đất nước do quyền lực mà có.

Ngay sau khi ông Tổng thống Mubarak của Ai Cập từ chức thì Chính phủ Thụy Sĩ đã ra lệnh phong tỏa tài sản của ông Mubarak (1). Cũng theo bài báo đăng trên mạng Yahoo này thì gia tài của ông Mubarak khoảng chừng từ 40 tỉ đô la đến 70 tỉ đô la. Nếu tài sản của ông Mubarak là 40 tỉ đô là thì trong vòng 30 năm cầm quyền, ông Mubarak kiếm được 1 tỉ 300 triệu đô la một năm. Còn nếu tài sản của ông Mubarak là 70 tỉ đô la thì trong vòng 30 năm cầm quyền, ông Mubarak kiếm được 2 tỉ 300 triệu đô la một năm. Dù là 40 tỉ hay 70 tỉ, thì một năm mà kiếm được hơn 1 tỉ hay 2 tỉ đô la đều là những số tiền khổng lồ. Và tất nhiên là số tiền khổng lồ này của ông Mubarak không phải có được từ kinh doanh chân chính mà số tiền khổng lồ này có được nhờ vào cái ghế quyền lực của mình.

Ngoài ông Tổng thống Mubarak của Ai Cập, có thể điểm tên một số lãnh đạo của các chế độ độc tài khác.

- Ferdinand Marcos của Phi Luật Tân
- Bagbo của Bờ Biển Ngà (Cote d’Ivoire)
- Zein al-Abidine Ben Ali của Tunisia
- Saddam Hussein của Iraq
- Haji Muhammad Suharto của Indonesia
- Jean-Claude ‘Baby Doc’ Duvalier của Haiti
- Muammar al-Gaddafi của Libya
- Mobutu Sese Seko của Congo (hay còn gọi là Zaire)
- Augusto Pinochet của Chile

Như đã trình bày ở trên, vì quyền lực và lòng tham vô đáy để vơ vét cho đầy túi của mình, lãnh đạo các chế độ độc tài phải bắt buộc “áp bức và bóc lột” người dân của mình. Nhà tù, không cho phép tự do báo chí, không cho phép người dân phản đối, xây dựng bộ máy chính quyền để phục vụ giới lãnh đạo cùng những nhóm lợi ích thay vì phục vụ người dân. Đó là hình thức “áp bức” mà các chế độ độc tài vẫn thích dùng. Bóc lột thì tham nhũng, nhũng nhiễu người dân với những luật lệ, giấy tờ hà khắc. Mở những dự án tốn nhiều tiền nhưng lại không có hiểu quả kinh tế. Đầu tư những công trình lớn, hoành tráng nhưng lợi ích chỉ phục vụ giới có tiền thay vì phục vụ người dân nghèo trong xã hội. Nạn mua quan bán chức cũng là điều thường thấy trong các chế độ độc tài.

Như giọt nước tràn ly, tất cả những áp bức và bóc lột của lãnh đạo các chế độ độc tài sẽ khiến người dân nổi dậy phản đối. Chỉ hơn một tháng sau ngày người dân Tunisia xuống đường mà Tổng thống Ben Ali của Tunisia phải trốn chạy sang Arab Saudi. Chỉ chưa đầy một tháng mà ông Tổng thống Mubarak của Ai Cập phải từ nhiệm. Có thể nói rằng, hai cuộc cách mạng ở Tunisia và Ai Cập ở đầu thế kỷ XXI này vĩ đại hơn những cuộc cách mạng đòi Tự Do và Dân Chủ trước đây. Vĩ đại vì cả hai cuộc cách mạng này chỉ diễn ra trong một thời gian rất ngắn. Vĩ đại vì không có nhiều máu đổ thịt rơi như vẫn thường thấy trong các cuộc cách mạng trước đây. Vĩ đại vì quân đội của hai nước này biết được Sứ mạng của mình cũng như biết được Chân lý của thời đại. Ngoài ra, chúng tôi nghĩ rằng cũng nên khen hai ông lãnh đạo của Tunisia và Ai Cập. Dù gì thì trong họ vẫn còn chút “liêm sỉ” để từ bỏ quyền hành thay vì mù quáng để từ đó có thể gây ra những hậu quả khôn lường đầy nước mắt!


II. đến Nhà nước Pháp quyền bền vững

Cách đây hơn 2 thế kỷ – còn nếu nói chính xác là 234 năm. Có một cuộc cách mạng giành độc lập từ chủ nghĩa thực dân. Nhưng có lẽ cuộc cách mạng này ít được sách báo trong nước chúng ta nhắc đến, hay ca tụng vì cuộc cách mạng này không đi theo con đường của Marx và Engel (Mà không đi theo Marx và Engel cũng đúng thôi. Vì lúc đó Marx và Engel còn chưa chào đời thì đi theo thế nào được). Đó là cuộc cách mạng giành độc lập của người Mỹ, một cuộc cách mạng hết sức vĩ đại vì là sự khởi đầu nền móng vững chãi của chế độ dân chủ pháp quyền trên toàn thế giới.

Ngay sau khi nước Mỹ giành được độc lập từ Anh quốc, ông Washington đã trở thành Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Ông Washington tại nhiệm hai nhiệm kỳ và về hưu chứ không làm Tổng thống cho đến chết. Nước Mỹ giành độc lập cách đây 234 năm. 234 năm trước, ở vào cái thời làm vua, hay làm lãnh chúa là một điều bình thường cho những ai nắm được cái cơ hội ngàn vàng này. Ấy vậy mà ông Washington chỉ làm Tổng thống đúng 2 nhiệm kỳ mà thôi.

Không những vậy, trong thời gian làm Tổng thống vào thời kỳ phôi thai của nhà nước Dân chủ theo thể chế Tam quyền phân lập của nước Mỹ, ông Washington còn cổ động những người không cùng đảng phái với ông nên thành lập đảng phái đối lập. Do đó, thay vì đảng trị theo kiểu độc tài, Nhà nước Dân chủ của Mỹ đã hình thành và đứng vững trong 234 năm qua. Người dân Mỹ chưa bao giờ chứng kiến cảnh đảo chánh bao giờ. Người đắc cử Tổng thống thì có quyền hành tối thượng. Nhưng khi rời Nhà trắng thì làm dân thường. Tuyệt nhiên không có chuyện cố vấn cố véo hay quyền lực ngầm sau khi rời Nhà trắng gì cả. Các sử gia của Mỹ không cần phải tô hồng chuốt lục cho ông Washington. Ông lấy một người đàn bà góa làm vợ. Cũng chẳng sao. Ông không có con nối dõi. Cũng chẳng sao. Trong hai nhiệm kỳ làm Tổng thống, ông Washington đã có những chính sách sai lầm. Cũng chẳng sao. Bởi đó mới là ông Washington – người Cha già của nước Mỹ. Đến nay, người dân Mỹ vẫn dành cho ông Washington một chỗ đứng trang trọng trong trái tim của mình.

Sở dĩ chúng tôi hơi dài dòng vì trên thế giới này không thiếu gì người trở thành lãnh tụ của quốc gia sau khi làm cách mạng – nhất là ở vào thế kỷ XX. Những lãnh tụ cách mạng ở thế kỷ XX thường trở thành lãnh tụ và cũng thường làm lãnh đạo cho đến chết chứ không từ bỏ quyền lực của mình. Lênin cũng chết già chứ không bỏ quyền lực. Mao Trạch Đông cũng thế và không những vậy – đến lúc chết, Mao Trạch Đông vẫn sẵn lòng hại chết những ai mà ông ta nghĩ rằng sẽ làm hại cho cái ghế quyền lực của mình. Ở xứ Bắc Hàn thì có dòng họ Kim thay nhau làm lãnh đạo. Kim cha truyền cho Kim con và giờ đây Kim con đang chuyển giao quyền lực cho Kim cháu. Còn hai anh em của đồng chí Fidel Castro ở Cuba thì đến khi răng rụng mắt mờ mới dám mở miệng thừa nhận rằng “Mô hình nhà nước XHCN của Cuba đã thất bại”! Nhưng cả hai anh em nhà Cuba vẫn khư khư ôm cái ghế lãnh đạo chứ vẫn không chịu buông xuôi để cứu đất nước Cuba ra khỏi lầm than.


III. Thay cho lời kết

Theo dấu ấn của thời gian, và những gì lịch sử ghi lại, có thể khẳng định rằng chỉ có Nhà nước Pháp quyền do dân vì dân thì mới bền vững. Và cũng chỉ có Nhà nước Pháp quyền bền vững mới trường tồn.
NT

 

xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx




                             NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:

                               HẢI NGOẠI ĐÓNG GÓP CHO QUỐC NỘI:
                       THỤY SĨ PHONG TỎA TÀI SẢN BÈ ĐẢNG BEN ALI 
                                   
                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                        Geneva, 19.01.2011, 20 giờ


Trước đây Ông Matthew TRẦN hỏi tôi xem Thụy sĩ có quyền Phong tỏa Trương mục của những nhà độc tài gửi tiền cất dấu tại những Ngân Hàng Thụy sĩ hay không. Hôm nay, tôi xin trả lời với bằng chứng cụ thể.

Thứ Ba ngày 18.01.2011, Nhật báo TRIBUNE DE GENÈVE đăng trên trang nhất một bài với đầu đề TRAQUE A GENEVE DES AVOIRS DU CLAN BEN ALI (SĂN LÙNG TẠI GENEVE NHỮNG TÀI SÃN CỦA BÈ ĐẢNG BEN ALI). Dựa theo bài báo này, chúng tôi đã viết trong Bài dưới đây rằng Hội Người Tunisie tại Thụy sĩ tích cực yểm trợ cuộc Cách Mạng tại nước họ bằng hành động cụ thể:

=>  Bao vây Ngân Hàng HSBC tại Geneva vì thấy hình bóng Cháu của Ben Ali cùng với một cận vệ lai vãng đến Ngân Hàng này.

=>  Nhân danh Hội Người Tunisie, họ liên lạc với Trung ương Liên Bang Thụy sĩ tại Thủ đô BERNE để yêu cầu Phong tỏa những Tài sãn của Ben Ali và bè đảng tại các Ngân Hàng và trên Lãnh thổ Thụy sĩ.

Ngày 30.12.2010, dưới đầu đề TRÁCH NHIỆM ĐẤU TRANH QUỐC NỘI, chúng tôi đã đề nghị việc đóng góp cụ thể của người Việt Hải ngoại cho Quốc nội như sau:

“Điều đóng góp mà Quốc nội mong chúng ta làm, đó là canh chừng, tố cáo những tên THAM NHŨNG LÃNG PHÍ và con cháu chúng chuyển tiền bạc ăn cướp ra nước ngoài để sống sung sướng. Nếu có thể, yêu cầu nước ngoài chuyển những tiền ăn cướp đó trả lại cho dân Việt Nam.”

Thực vậy, người Việt Tỵ nạn sống trên 70 Quốc gia. Chúng ta có khả năng canh chừng việc này tại khắp nơi. Tại mỗi Quốc gia có người Việt Tỵ nạn sinh sống, nhất là tại những Quốc gia như Thụy sĩ, Hoa kỳ, Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Đức… có những Ngân Hàng có thể nhận Tiền ký thác, chúng ta thành lập những Ủy Ban phụ trách về vấn đề này. Ủy Ban này có thể gồm những Chuyên viên Tài chánh, Ngân Hàng và những Luật sư. Đó là việc đóng góp cụ thể cho cuộc đấu tranh tại Quốc nội.


                       CHÍNH THỨC TUYÊN BỐ PHONG TÒA TÀI SẢN

Tối hôm nay 19.01.2011, trong giờ Tin Tức lúc 19:30, Bà Tổng Thống CALMY-RAY đích thân tuyên bố trên Đài Truyền Hình TSR1 rằng THỤY SĨ QUYẾT ĐỊNH PHONG TỎA NHỮNG TRƯƠNG MỤC NGÂN HÀNG VÀ NHỮNG TÀI SẢN :

=> Của cựu Tổng Thống BAGBO (Cote d’Ivoire)

=> Của cựu Tổng Thống BEN ALI, của Gia đình Ông và của những người điều hành Chế độ của Ông.

Bà Tổng thống CALMY-RAY công bố chính thức rằng Lệnh Phong tỏa này bắt đầu có Hiệu Lực từ ngày hôm nay 19.01.2011 và kéo dài trong vòng 3 năm. Trong thời gian này, những Tài sản bị phong tỏa không thể rời khỏi Thụy sĩ và chờ đợi Luật pháp phân định. Theo Lệnh này của Trung ương Liên Bang Thụy sĩ, các Ngân Hàng phải khai trình những Trương mục liên hệ.

Đài Truyền Hình Thụy sĩ còn cho biết thêm những tin sau đây:

* Chính Bà Leila TRABELSI, vợ thứ hai của Ben ALI, thường gọi là Cô hớt tóc (La coiffeuse) đứng ở trung tâm cả một hệ thống Kinh tế đáng nghi ngờ.

* Em trai của Bà Leila TRABELSI, Bernard TRABELSI quản trị Du Lịch, Vạn Tải và Địa ốc, có lãnh vực Thương mại khổng lồ, có cả đoàn máy bay JET đậu tại Phi trường Geneva.

* Cháu trai của Bà Leila TRABELSI, tham nhũng, hiện có tòa nhà vương giả tại  Gia Nã Đại.

* Con rể của Ben ALI trở nên giầu có bất thường với những hoạt động Kinh tế mờ ám.

Thông tin của các Đài Truyền hình cho thấy hình ảnh Dân chúng biểu tình tại Tunisie, đòi hỏi dẫn độ cựu Tổng thống Ben ALI về Tunisie để xét xử và trao nộp Tài sản ăn cướp của nước Tunisie.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 19.01.2011

  
               THỤY SĨ PHONG TỎA TÀI SẢN VÀ HOÀN LẠI NGUYÊN CHỦ

                                           NGUYỄN PHÚC LIÊN
                                            Geneva, 20.01.2011


Khi tôi phổ biến Tin THỤY SĨ PHONG TỎA TÀI SẢN BÈ ĐẢNG BEN ALI  đăng dưới đây, có Vị viết hỏi tôi:

=> Đã có những trường hợp Thụy sĩ Phong tỏa trước đây hay không ?

=> Và nếu có, thì Thụy sĩ chuyển trả lại cho Quốc gia (Dân) có quyền hay không ?

Thực vậy, nếu Phong tỏa, rồi Thụy sĩ không chuyển trả, thì  việc này như là Thụy sĩ Phong tỏa để tịch thu cho mình luôn hay sao.

Tôi đã tìm thấy những trường hợp Phong tỏa trước đây và Thụy sĩ đã chuyển trả lại cho Quốc gia (Dân) có quyền đối với những Tài sản bị phong tỏa ấy. Những trường hợp này được đăng trên Nhật báo TRIBUNE DE GENEVE hôm nay, 20.01.2011, trang 3:

1) Trường hợp TT. Ferdinand MARCOS, Phi Luật Tân

Ngày 25.03.1986, Liên Bang Thụy sĩ ra lệnh Phong tỏa Tài sản của cựu Tổng thống Ferdinand MARCOS trên Lãnh thổ Thụy sĩ. Sau những thủ tục Luật pháp sáng tỏ chứng minh năm 2003, Liên Bang Thụy sĩ đã chuyển trả cho Dân Phi Luật Tân số tiền là USD.683 triệu.

2) Trường hợp Ông Sani ABACHA, Nigeria

Trương mục của Ông này đã bị Phong tỏa và Liên Bang Thụy sĩ đã chuyển trả cho Dân Nigera năm 2005 số tiền USD.500 triệu.

3) Trường hợp Ông Raul SALINAS, Mễ Tây Cơ

Ông này biển thủ tiền và chuyển qua Thụy sĩ. Trương mục bị phong tỏa và Liên Bang Thụy sĩ đã chuyển trả lại cho Dân Mễ Tây Cơ năm 2008 số tiền USD.74 triệu.


Những trường hợp trên cho thấy rằng khi Liên Bang Thụy sĩ Phong tỏa Tài sản để điều tra, thì khi Thủ tực Luật pháp chứng minh rồi, Tài sản bị phong tỏa được Liên Bang Thụy sĩ chuyển trở lại cho Quốc gia (Dân) hay Người có quyền.

Tiện đây, tôi cũng xin đưa Tin thêm về việc Phong tỏa liên quan đến  bè đảng Ben ALI như sau:

=> Chính Hội Người Tunisie tại Thụy sĩ, đại diện bởi Luật sư Christian GROBET, đã tác động chính yếu để Liên Bang Thụy sĩ cấp thời Phong tỏa Tài sản của bè đảng Ben ALI.

=> Đồng thời, Sứ quán Thụy sĩ tại Tunis đã liên lạc với Chính quyền lâm thời Tunisie hiện nay để thiết lập Danh sách 40 người liên quan đến bè đảng Ben ALI để gữi về Liên Bang Thụy sĩ .

NGUYỄN PHÚC LIÊN
Geneva, 20.01.2011

 


TIẾP TỤC KINH TẾ PHÁ SẢN

Wednesday, January 19, 2011  
Ngô Nhân Dụng


Trước ngày Đại hội XI của đảng Cộng sản Việt Nam khai mạc, hãng thông tấn AP tường thuật từ Việt Nam viết, “Mặc dù những khẩu hiệu, hình cờ đỏ búa liềm được treo khắp nơi ở Hà nội, nhưng đa số người dân Việt Nam không quan tâm đến sự kiện (Đại hội) này, vì họ phải lo vật lộn với lạm phát, với giá thực phẩm leo thang.” Cùng thời gian đó, tuần báo Economist của Anh quốc nhận xét rằng sau bao nhiêu năm đổi mới kinh tế, tại thủ đô nước Việt Nam trong các hotel sang trọng đa số khách người ngoại quốc, “thang máy đang chạy bị ngưng vì mất điện.” Và trong quán cà phê bài trí đẹp như một tiệm ở Paris, “cái máy pha cà phê expresso cũng lịch xịch một lúc rồi tắt ngúm” vì điện cúp bất ngờ. Những hình ảnh đ1o tiêu biểu cho tình trạng phá sản của chính sách kinh tế Nguyễn Tấn Dũng.

Nhưng cuối cùng, Đại hội vẫn “thành công rực rỡ,” vì những gì các ông lớn quyết định từ trước đều được thông qua vui vẻ. Tính chất Ù Lì và Trâng Tráo được thể hiện theo đúng sự xếp đặt từ trước. Ông Nguyễn Phú Trọng, mà trí thông minh đã được dân Hà Nội ghi nhận qua câu ca dao “Giầu như Phú, lú như Trọng, ..” đã được bầu lên làm tổng bí thư thay ông Nông Đức Mạnh. Dân Hà Nội coi đây là một sự tiến bộ lớn, vì ông đọc và viết chữ quốc ngữ thông thạo hơn ông tổng bí thư mãn nhiệm. Bằng cớ là ông đã viết những bài đại luận về đường lối của đảng toàn những lời hoa mỹ và trống rỗng.

Dù mất chức nhưng ông Nông Đức Mạnh vẫn thỏa mãn, vì sau khi “lãnh đạo đất nước” 10 năm ông đã thành công xếp đặt để cho cậu con trai Nông Quốc Tuấn lên. Trong đại hội trước, vừa bị vụ PMU 18 vỡ lở, lại đến cậu Tuấn bị hụt không được vào Trung Ương, ông Mạnh cay cú lắm. Năm vừa rồi, ông xếp đặt cho cậu công tử lên một chức bí thư tỉnh ủy, thế là bảo đảm cho cậu một cái ghế ủy viên Trung Ương. Cậu Tuấn thắng lợi vẻ vang hơn hai vị công tử khác. Con trai ông Nguyễn Tấn Dũng là Nguyễn Thanh Nghị và của ông Nguyễn Văn Chi,chủ nhiệm Ban Kiểm tra Trung Ương Đảng, là Nguyễn Xuân Anh, chỉ được bầu làm ủy viên dự khuyết, phải chờ ít nhất vài năm nữa mới thành chính thức. Cậu Nguyễn Thanh Nghị được đề cử trực tiếp tại đại hội mà trúng cử cái một; chứng tỏ phe ông Nguyễn Tấn Dũng rất mạnh, nói một tiếng là xong ngay, không cần thông qua các thủ tục bố trí của Trung Ương Đảng; cho thấy Bố Dũng không cần bố trí.

Sự kiện các vị công tử bắt đầu gia nhập Câu Lạc Bộ Ba Đình chứng tỏ khẩu hiệu “Đời cha gian khổ, củng cố đời con” đã được thực hiện nghiêm chỉnh, đồng bộ và toàn diện. Các công tử con cháu các quan lớn khác sẽ hăng hái, năng nổ hơn trong việc củng cố chế độ độc quyền chính trị, khai thác các nguồn lợi kinh tế quốc gia, chờ ngày họ sẽ đứng ra lãnh đạo đảng Cộng sản thừa kế các quan khi về hưu. Trước khi bắt đầu họp đại hội, các đại biểu kéo nhau vào nghiêng mình trước xác ướp của Hồ Chí Minh. Họ tỏ lòng biết ơn ông Hồ là đúng. Nếu không có ông Hồ tạo ra cái đảng Cộng sản và thiết lập chế độ độc tài toàn trị trên nước Việt Nam thì những người như họ đâu có cơ hội làm giầu và bảo đảm cho con cháu họ đâu tiếp tục ăn trên ngồi chốc như thế này?

Ông Nguyễn Tấn Dũng chắc sẽ tiếp tục ngồi trên ghế vị thủ tướng, mặc dù màn kịch truyền bóng ngoạn mục để suy tôn ông là “thủ tướng xuất sắc nhất Á châu” đã bị Nguyễn Tôn Hiệt trên mạng Tiền Vệ phanh phui trước dư luận người Việt toàn thế giới. Trong bài báo chọn ông là Nhân vật Năm 2010 trên VNExpress, người ta đã biện minh cho lựa chọn của họ bằng cách nêu lên các thành tích của ông. Trong đó, tức cười nhất là có một hàng nói rằng ông đã có công giải quyết vụ Vinashin!

Nhắc đến Vinashin là mở ra cả một hũ mắm bị hư, mùi xông lên nồng nặc, mà các người làm công cho ông Dũng vẫn cứ coi như đó là một thành thích rực rỡ. Luận điệu tung hô ông chủ này cho thấy trình độ trâng tráo của thầy trò họ đã lên tới tột đỉnh! Các đảng viên cộng sản từ lâu đã tập được thói quen vừa bịt mũi vừa hoan hô như vậy rồi. Ca ngợi ông Dũng “giải quyết” vụ Vinashin cũng không khác gì ca ngợi ông Hồ Chí Minh ngày xưa đã “sửa sai” sau vụ Cải cách Ruộng đất! Cũng không khác gì đảng Cộng sản Việt Nam bây giờ bắt dân phải nghe những lời tự ca tụng là họ đã có công trạng “đổi mới kinh tế!”

Đó là một lối lừa bịp trâng tráo, kể công để tự xóa tội! Bởi vì nếu không giết oan hàng trăm ngàn người vô tội theo chính sách Mao Trạch Đông, thì đâu có cần sửa sai? Nếu không bắt cả nước theo chính sách kinh tế vô sản chuyên chính của Stalin và Mao thì đâu đến nỗi để dân chết đói, túng quá phải quay ngược chiều 180 độ bắt đầu tư bản hóa để Đảng thoát chết – rồi nhân cơ hội cho chính các quan lớn làm giầu? Nếu không bầy ra những tập đoàn kinh tế quốc doanh, trao cho đám đàn em thân tín hoàn toàn mù chữ về kinh doanh đứng ra “quản lý” hàng tỷ đô la, thì đâu đến nỗi vỡ nợ hơn 4 tỷ, phải đem giải quyết bằng cách đánh bùn sang ao?

Nhưng ai trước cảnh đó cũng phải lo cho tương lai đất nước Việt Nam. Vì việc dùng vụ Vinashin để ca ngợi Nguyễn Tấn Dũng cho thấy bản chất ù lì trâng tráo của họ sẽ còn tiếp tục thi thố. Chủ trương kinh tế phá sản này sẽ gây những hậu quả tai hại cho kinh tế Việt Nam trong những năm tới. Tất cả chủ trương dùng quốc doanh làm chủ đạo không phải chỉ gây ra một vụ Vinashin tan tành mà còn sẽ làm cho kinh tế nước ta bế tắc. Điều này đã được chính ông cựu Chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An báo động, nhưng tất cả 1400 người trong đại hội đảng làm như ai cũng điếc không ai nghe thấy gì hết! Trên mạng lưới của đảng Cộng sản Việt Nam, trong lúc họ đang bỏ phiếu bầu Trung ương Đảng, ông Lê Hữu Nghĩa giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia vẫn dõng dạc tuyên bố rằng Đảng “giữ vững chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất !” Tức là vẫn làm kinh tế phá sản theo mô hình quốc doanh của Stalin!

Khi Vinashin loay hoay xin khất nợ không trả được 60 triệu đô la đúng kỳ hạn cho các ngân hàng, các công ty thẩm định tín dụng quốc tế đã đánh tụt trái phiếu của Việt Nam xuống hàng “junk bonds” (Trái phiếu Rác) thì tất cả các doanh nghiệp Việt Nam bị họa lây. Tập đoàn Than và Khoáng Sản (Vinacomin) không đi vay được thêm 500 triệu đô la trên thị trường quốc tế nữa. Tất cả các công ty quốc doanh và chính phủ Việt Nam từ bây giờ muốn đi vay sẽ phải trả lãi suất cao hơn vì điểm tín dụng của cả nước bị đánh thấp xuống. Tức là công quỹ sẽ hao mòn thêm. Tiền để nhà nước trả nợ là tiền đóng góp của toàn dân chứ chính các ông bà cán bộ có ai tạo ra tiền của nào đâu? Các doanh nghiệp nhà nuớc đều là của chung, của toàn dân Việt Nam. Lãi suất lên cao nghĩa là tất cả mọi người Việt Nam đều phải trả tiền lãi nhiều hơn, mỗi khi nhà nước và các công ty của nhà nước đi vay nợ! Mà không đi vay nợ không xong, vì tất cả hạ tầng cơ sở từ đường xá đến hệ thống điện, nước đều cần rất nhiều tiền đầu tư. Theo đài RFI, chuyên gia Philippes Delalande nói rằng Việt Nam sắp phải đi vay nợ rồi. Họ có thể chọn, hoặc vay của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF hoặc vay của Trung Quốc. Nói đến vay nợ Trung Quốc bây giờ thì cả nước Việt Nam sẽ giật mình!

Tất cả chỉ vì chủ trương bảo vệ “chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất” mà đảng Cộng sản đã thi hành ngay cả sau khi “đổi mới”. Trả lời đài RFI trước ngày Đại hội 11 họp, Tiến sĩ Nguyễn Quang A nhận xét rằng “Các xí nghiệp quốc doanh tạo ra chừng 26% GDP (tổng số của cải làm ra trong nước) nhưng lại sử dụng đến 40% nguồn tài chính qua vay nợ.” Tức là những anh bất tài không làm ra của cải thì lại được đưa cho rất nhiều tiền sử dụng; mà tiền vao tay họ thì cứ như nước đổ vào những cái thùng không đáy. Tất nhiên, những người có khả năng tạo ra thêm của cải sẽ không được vay, thiếu tiền phát triển. Ông Nguyễn Quang A còn lên án: “Các xí nghiệp nhà nước làm cho kinh tế vĩ mô (tức là toàn thể nền kinh tế) bị mất cân bằng một cách nghiêm trọng!” Tại sao mất cân bằng? Vì những cái thùng không đáy này chỉ có việc “rút tiền từ ngân sách nhà nước, bất chấp những nguyên tắc của một nền kinh tế tư bản.” Kinh tế tư bản thành công nhờ có hiệu năng; tức là những công ty có khả năng tạo ra nhiều của cải nhất với chi phí thấp nhất sẽ tự nhiên thu hút được nhiều tiền vốn sử dụng. Tiền đến từ những người mua cổ phần (tức góp vốn) hay cho vay nợ. Cơ cấu thị trường của kinh tế tư bản tưởng thưởng cho những người làm việc có hiệu năng. Bỏ qua nguyên tắc đó, thì dù có bắt chước các nước tư bản đặt ra đủ thứ hình thức mầu mè, nào tập đoàn kinh tế, nào thị trường chứng khoán, vân vân, nhưng rút cuộc chỉ nuôi một đám ăn hại! Còn những người có khả năng thì bị bỏ quên hay bị gạt qua bên lề! Ông Nguyễn Quang A nói đến con số “khổng lồ” 12 tỷ đô la thâm thủng trong cán cân thương mại trong năm 2010, và giải thích rằng tình trạng nhập cảng nhiều hơn xuất cảng này là “căn bệnh trầm kha bắt nguồn từ sự kém hiệu năng của các xí nghiệp nhà nước.”

Đảng cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục “bao cấp” những nhóm làm việc vô hiệu đó. Trong lúc Công ty Vinashin đang lo không tìm đâu ra được 60 triệu để trả một tý chút trong số 4 tỷ rưỡi đô la tiền nợ thì Bộ Tài Chính đã quyết định cho Vinashin không phải đóng thuế trong năm 2010; đến cuối năm 2011 mới phải tính lại. Nghĩa là vẫn nuôi bộ máy bất lực, phá sản này bằng công quỹ. Sau một năm thì không biết có gia hạn tha thuế lần nữa hay không? Không thâu thuế, tức là công quỹ bị mất tiền. Tức là toàn dân mất tiền. Để tiền đó nuôi những người bất tài do ông Nguyễn Tấn Dũng bổ nhiệm. Đó là lý do ông được bầu chọn làm, “Nhân vật Năm 2010!” hay sao?

Đảng Cộng sản bảo vệ chủ trương bảo vệ các doanh nghiệp nhà nuớc bởi vì còn những tập đoàn quốc doanh thì còn chỗ “bố trí” cho con cái các quan lớn trong Trung Ương Đảng vào đó làm chức này, chức nọ. Nếu cho kinh tế tư nhân phát triển, những doanh nhân có khả năng sẽ đánh bại các xí nghiệp của nhà nước, thì còn chỗ nào để đám công tử công tôn “thi thố tài năng quản lý” kiểu Vinashin? Công ty Vinashin lỗ lã mất hàng tỷ mỹ kim nhưng các quan chức quản lý công ty đều no nê. Mô hình Vinashin sẽ còn tiếp tục để con cháu quý vị đó sẽ được tiếp tục no nê; cho tới bao giờ đảng Cộng sản “tiến đến chủ nghĩa xã hội” mới ngưng hay sao?

Tin từ mạng lưới đảng cộng sản cho biết các đại biểu Hội nghị Trung ương 14 họp trước Đại hội XI khi biểu quyết về chủ trương “công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu” thì chỉ có 55% các đại biểu ưng thuận. Đó là một tin mừng. Ít nhất trong số 170 người cũng có hơn 60 người đủ thông mình trông thấy con đường quốc doanh là con đường phá sản; và họ có đủ dũng cảm để bác bỏ một chủ trương phá hoại kinh tế quốc dân như thế. Qua tới lúc bỏ phiếu ở đại hội thì thế cờ lật ngược, 65% đã đồng ý với chủ trương “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” mà không nhắc đến công hữu nữa. Điều này có nghĩa là đảng Cộng sản muốn mang một bộ mặt mới trên lý thuyết kinh tế. Nhưng đ1o là lý thuyết; còn những con người thi hành chính sách vẫn là những khuôn mặt cũ; đặc biệt là ông thủ tướng Vinashin Nguyễn Tấn Dũn. Cho nên đảng Cộng sản sẽ còn tiếp tục chính sách kinh tế phá sản của trong nhiều năm nữa!

Trong khi đảng Cộng sản họp hành để củng cố địa vị các công tử thì người dân Việt Nam vẫn chỉ lo đối phó với lạm phát, người nghèo phải chịu đựng giá thực phẩm gia tăng. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã điều hành việc nước hơn một nhiệm kỳ. Kết quả là ngân sách thâm thủng đến 7 phần trăm rưỡi GDP, cán cân chi phó thiếu hụt 12 tỷ trong năm, tiền dự trữ ngoại tệ chưa đủ để mua hàng nhập cảng trong 2 tháng, đồng tiền bị phá giá 3 lần trong vòng 14 tháng, dân mất tin tưởng vào đồng tiền nên chỉ tìm cách mua vàng và đô la tích trữ. Một ông thủ tướng như vậy mà vẫn được đảng Cộng sản tín nhiệm, và răm rắp bỏ phiếu cho con ông lên dự khuyết Trung Ương Đảng, có phải tất cả đảng Cộng sản không còn ai khá hơn chăng?

Wednesday, January 19, 2011  
Ngô Nhân Dụng

 





CÔNG HỮU TƯ LIỆU SẢN XUẤT

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh
Thu Hằng


Dự thảo Cương lĩnh 2011 mô tả đặc trưng của xã hội XHCN mà nước ta đang xây dựng là xã hội dựa trên “công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu”.

Vấn đề này đã thu hút nhiều ý kiến tranh luận tại diễn đàn Đại hội Đảng lần thứ XI. Pháp Luật TP.HCM phỏng vấn TS Lê Đăng Doanh để góp thêm một góc nhìn của chuyên gia kinh tế về vấn đề hệ trọng này.

TS Lê Đăng Doanh nói: “Tôi đề nghị Đại hội có sự xem xét cầu thị, dựa vào thực tế để thảo luận kỹ vấn đề này và không thông qua mệnh đề công hữu về tư liệu sản xuất (TLSX) chủ yếu để đưa vào Cương lĩnh 2011”.


Sẽ dội nước lạnh vào nhà đầu tư

Qua thảo luận tại hội trường, có hai luồng ý kiến trái chiều về việc đưa vấn đề “công hữu TLSX chủ yếu” vào Cương lĩnh 2011. Ông có ý kiến như thế nào?

+ Tôi không đồng ý với mệnh đề đặc trưng của XHCN dựa trên chế độ công hữu về TLSX chủ yếu. Mác đã nói: “Sự phát triển tự do của mỗi một người là điều kiện tự do của tất cả mọi người. Trong đó, con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột và có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân”. Đó mới là mục tiêu của XHCN chứ bản chất XHCN không phải nằm ở chỗ công hữu TLSX chủ yếu. Mác chỉ nghĩ rằng công hữu TLSX chủ yếu sẽ dẫn đến mục tiêu đó. Tức, công hữu TLSX chủ yếu chỉ là phương tiện để thực hiện XHCN chứ không phải là bản chất, là đặc trưng của XHCN.
Hơn nữa, mô hình công hữu không còn phù hợp với khoa học hiện đại, theo đó một tài sản phải có chủ sở hữu rõ ràng. Không có chủ sở hữu rõ ràng sẽ dễ dẫn đến việc cha chung không ai khóc, tài sản sẽ dễ bị xâm phạm, hao tổn…

. Theo ông thực tiễn thời gian qua đã nói lên điều gì về chế độ công hữu TLSX chủ yếu?

+ Thực tiễn đã chứng minh chế độ công hữu TLSX chủ yếu là sai lầm, rõ ràng nhất là sự sụp đổ của Liên Xô. Trong khi ta đã chuyển từ chế độ hợp tác xã sang chế độ khoán… Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi nền kinh tế của chúng ta đang thiếu vốn, thiếu khoa học công nghệ để hiện đại hóa đất nước mà tuyên bố như vậy chẳng khác nào dội gáo nước lạnh cho các nhà đầu tư nước ngoài.
 
Các nhà đầu tư nước ngoài cần được đảm bảo việc làm ăn ổn định, lâu dài ở Việt Nam.Trong ảnh: Sản xuất đồ điện chính xác của doanh nghiệp nước ngoài tại Khu chế xuất Tân Thuận. Ảnh: Hữu Luận

TLSX chủ yếu không chỉ là đất đai

. Ông cho rằng nếu chúng ta đồng tình với quan điểm công hữu về TLSX chủ yếu sẽ mâu thuẫn với con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà chúng ta đang đặt ra?

+ Đúng vậy. Là một đất nước còn nghèo và lạc hậu, muốn phát triển chúng ta phải tiếp thu công nghệ khoa học của nước ngoài mà lại bảo công hữu hóa TLSX thì khó thuyết phục được. Người ta có thể hiểu mọi việc mà chúng ta làm hiện nay chỉ là tạm thời để đến một lúc nào đó quốc hữu hóa. Nói một cách nôm na như Bộ trưởng Võ Hồng Phúc là giống như ông đang vỗ béo chúng tôi rồi đến một lúc nào đó sẽ làm thịt chúng tôi.

Người ta muốn có sự đầu tư lâu dài, ổn định mà mình tuyên bố thế thì người ta sẽ không sẵn sàng đầu tư. Chính sự tự do kinh doanh như Luật Doanh nghiệp mới đem lại sự lớn mạnh cho kinh tế Việt Nam. Nếu không có sự tham gia của toàn dân, sự sáng tạo, đầu tư của toàn dân thì làm sao có sự phồn vinh như thế này.

. Riêng việc hiểu như thế nào là TLSX chủ yếu cũng còn nhiều tranh cãi. Ông có ý kiến gì về việc này?

+ Trước kia, quan niệm TLSX chủ yếu là lao động, là đất đai. Còn trong thế giới ngày nay, TLSX chủ yếu có thêm phần mềm máy tính, là vốn, là khoa học công nghệ, là những sáng chế, phát minh… Đây đều là sản phẩm của cá nhân. Mình tuyên bố công hữu thì ai dám đầu tư vào cho mình, mình hội nhập làm sao được! Còn nói bây giờ chỉ dựa vào lao động, vào đất đai mà không có sáng chế, phát minh, phần mềm thì làm được gì!
Sở hữu xã hội là phù hợp

. Mặc dù Cương lĩnh 1991 có quy định về công hữu TLSX chủ yếu nhưng lâu nay, bằng những chính sách, pháp luật hợp lý ta vẫn thu hút đầu tư nên không có chuyện cản trở thu hút đầu tư khi thực hiện công hữu TLSX, thưa ông?

+ Đúng là Cương lĩnh 1991 có quy định nhưng lâu nay mình không nhắc lại điều đó nên người ta chỉ căn cứ vào luật pháp của mình để thực hiện. Nhưng bây giờ khơi lại, người ta sẽ nghĩ rằng họ đang nhận được một lời cảnh báo mới. Ngay cả nhà đầu tư trong nước cũng có thể nghĩ rằng Nhà nước cho phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần nhưng đến một lúc nào đó sẽ quốc hữu hóa nhà máy, vốn…

. Ông lý giải thế nào trước những ý kiến cho rằng nếu không dựa vào công hữu TLSX chủ yếu sẽ mất đi đặc trưng XHCN?

+ Tôi đã nhấn mạnh mục đích của XHCN không phải là công hữu TLSX chủ yếu, không phải là chế độ công hữu mà là sự tự do của con người, giải phóng con người. Để đạt được mục tiêu đó, ban đầu Mác tưởng chế độ công hữu là tốt nhưng sau này ông nhận ra và đã thay đổi chế độ công hữu bằng sở hữu xã hội, trong đó công ty cổ phần là hình thức chủ yếu. Thế mà bây giờ mình không dùng cái từ Mác đã sửa mà quay lại với từ Mác chưa sửa. Rõ ràng như vậy là về mặt lý luận cũng không phù hợp với Mác mà thực tế cũng không phù hợp với thế kỷ XXI.

Cho nên tôi đồng tình với cách ghi trong Nghị quyết của Đại hội X “dựa trên quan hệ sản xuất tiên tiến, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” và điều ấy là hợp lý.

. Xin cảm ơn ông.
Nguồn: http://phapluattp.vn/20110116115656215p1013c1144

 


THẤT BẠI CỦA HỆ THỐNG KINH TẾ
TRUNG ƯƠNG TẬP QUYỀN VÀ CHỈ HUY

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net
28.08.2008

 
Bài QUAN ĐIỂM thứ nhất trong loạt bài Chủ đề này trình bầy hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường mà TƯ HỮU được tôn trọng cho mỗi cá nhân và nguyên tắc KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP Chính trị vào Kinh tế được triệt để đòi hỏi. Bài QUAN ĐIỂM thứ hai này trình bầy hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy mà những người chủ trương phế bỏ TƯ HỮU cá nhân và cho phép Chính trị (thậm chí độc tài) nắm trọn mọi sinh hoạt Kinh tế.

Hai chủ trương của hai hệt thống Kinh tế đối chọi hẳn nhau. Kiểm nhận hậu quả của hai hệ thống, người ta xác nhận sự phát triển của hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường và sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy.

Bài QUAN ĐIỂM thứ hai này được trình bầy qua những khía cạnh sau đây:

=> Vài nét lịch sử của chủ trương Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy.
=> Thế giới Cộng sản thực hiện hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy
=> Những lý do thất bại của Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy
=> Trở lại chủ trương hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường


Vài nét lịch sử của chủ trương
Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy

TƯ HỮU trong hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường được coi là một sự tự nhiên dựa trên quyền tìm sống tối sơ của từng cá nhân và nguyên tắc Không Can Thiệp Chính trị, được các Lý thuyết gia đòi hỏi như điều kiện phát triển TỰ DO xử dụng TƯ HỮU làm phương tiện kiếm sống. Nếu việc xây dựng lý thuyết cho hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường mang tính cách khai triển tự nhiên, thì việc cấu trúc chủ trương Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy đã được thuyết lý dựa trên những quan niệm mang tính cách triết học.

Các lý thuyết gia của chủ trương này đã chạy ngược lên mãi thời Triết gia PLATON. Thực vậy, trong những cuốn “La République“, “Les Lois“, Platon đã nói đến “La Cité Communiste“ trong đó những người trách nhiệm làm Luật không được có gia đình và do đó không cần tư hữu cho con cháu.

Thời Trung Cổ Aâu châu, phía Thiên Chúa Giáo đã khai triển những Dòng Tu được coi là những Cộng đồng Cộng sản về Kinh tế.

Nhưng phải đợi đến đầu Thế kỷ thứ XVI, với Thomas MOORE (1477-1553), thì lý thuyết về một Chủ thuyết Xã Hội Kinh tế mới được phát triển có hệ thống. Thomas MOORE là người tôn sùng đạo Thiên Chúa. Được Vua HENRI VIII Anh quốc trọng dụng, nhưng vì cương trực phản đối lại Vua về vấn đề rắc rối vợ con, nên Oâng đã bị hành quyết. Năm 1516, cuốn sách Utopie ra đời và ông chủ trương Nhà Nước Utopie (Etat d’Utopie). Bắt đầu từ Thế kỷ XVI, Xã hội Tây phương có những xáo trộn về mọi phương diện: Tôn giáo, Tư duy, Nghệ thuật, Kinh tế, Xã hội... Oâng tìm kiếm một Thể chế có trật tự mà mẫu Cộng đồng trật tự nhất là các Dòng Tu. Giáo sư Sử học Kinh tế Jean-Marie VALARCHE đã viết: “Il (Thomas MOORE) prévoit un dirigisme absolu de l’Etat“ (Oâng (Thomas MOORE) dự trù một chủ thuyết Chỉ huy tuyệt đối của Nhà Nước).

Chúng tôi nhắc đến tác giả này vì muốn lấy ra những điểm mà Karl MARX đã chịu ảnh hưởng: ảnh hưởng của một Dòng Tu làm việc theo chỉ thị của người đứng đầu, cộng chung những sản phẩm, tiêu thụ theo nhu cầu từng người, chỉ có hệ thống phân phối giữa cung và cầu mà không có thương mại.

Từ đây, bắt đầu những cấu trúc Xã Hội Chủ Nghĩa qua những tác giả khác cho đến thời Karl MARX.

Karl Heinrich MARX sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 vùng Rhénanie, Đức, trong một gia đình gốc Do thái. Cha là Luật sư, nên Marx học Luật, sau chuyển sang Triết học theo HEGEL. Oâng chỉ làm quen và suy tư về những vấn đề Xã Hội, Kinh tế, Đấu tranh khi phải di chuyển sống ở nhiều nơi và viết báo. Sống ở một thời đại hậu bán Thế kỷ XIX có nhiều những cực đoan: Kỹ nghệ hóa vượt mức, Giới Tư sản nắm quyền hành, Cách xa Giới Chủ và Giới Thợ, Tình trạng thất nghiệp và đói nghèo, Cách Mạng 1848, những Ý tưởng Quốc gia cực đoan phát sinh. Trong sự hỗn loạn của những cực đoan ấy, Oâng lưu ý khai triển những vấn đề sau đây:

=>    Chủ thuyết Duy vật Lịch sử. Với Chủ thuyết này, Oâng nhấn mạnh đến sự vong thân tôn giáo để kết luận rằng:“Tôn giáo là cái bông ghê tởm mọc trên đống phân tư bản. Bởi vậy nếu hốt đống phân đi, thì hoa cũng tàn...“ Cũng trong Chủ thuyết này, tương quan Xã hội được chính yếu nhấn mạnh vào hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến thiết. Hạ tầng cơ sở gồm những tương quan sản xuất vật chất, thượng tầng kiến thiết gồm những phương diện Luật pháp, Chính trị quy định Xã hội.

=> Giai cấp Xã hội và Đấu tranh Giai cấp. Cái nguyên nhân tạo ra những Giai cấp Xã hội là sự đấu tranh chiếm hữu. Oâng nhìn thấy hiện tượng vô sản hóa Giai cấp Thợ thuyền. Xã hội phân chia ra hai Giai cấp chính: Giai cấp chiếm hữu và nắm quyền, Gai cấp Thợ thuyền bị khai thác và bị bóc lột. Oâng thuyết giải về tính cách Vong thân Lao động, nghĩa là một mặt đối với chính mình, người Lao động sản xuất, nhưng bị tước đoạt sản phẩm; mặt khác đối với tương giao xã hội trước người khác, người lao động biến thành cái máy làm theo quyết định của chủ bóc lột chứ không có sáng kiến tự mình.

=> Ảnh hưởng bởi Lý thuyết của David RICARDO về Giá trị sản phẩm được đo lường bằng chính Giá trị Lao động hàm ngụ trong sản phẩm. Tư sản cũng chỉ là sự tích lũy Giá trị sản phẩm từ Giá trị Lao động. Oâng chủ trương Đấu tranh Giai cấp và hệ luận là Giai cấp Lao động phải dành lấy quyền làm chủ sản phẩm của mình. Cần một cuộc nổi dậy Cách Mạng dù bằng bạo động và Giai cấp Vô sản phải nắm trọn quyền hành độc tài tổ chức Xã hội.


Thế giới Cộng sản thực hiện hệ thống Kinh tế
Trung ương Tập quyền và Chỉ huy

Nếu Karl MARX cấu trúc hệ thống mang đậm tính cách lý luận do ảnh hưởng Triết học và Lý tưởng xã hội đậm hình thức tổ chức Cộng đồng Dòng Tu theo kiểu Thomas MOORE, thì LENINE, một người Chính trị, đã lấy những ý tưởng của MARX để đấu tranh chiếm quyền hành và tổ chức cai trị xã hội.

LENINE sinh năm 1870 vùng Simbirsk, giữa Oural và Moscou. Người anh cả của Oâng thuộc một tổ chức Khủng bố, đã muốn ám sát Nga Hoàng, nhưng bị bại lộ và người anh này đã bị treo cổ. Lúc ấy Lénine mới có 17 tuổi và đã bị đi lưu đầy và sống lần lượt tại Anh, Thụy sĩ và Pháp. Năm 1905, sau khi Nga bại trận đối với Nhật, nhóm của Lénine đã phát động nổi dậy, nhưng thất bại.

Năm 1917, Nga lại thất trận đối với Đức. Nhờ tài hùng biện của Lénine và tài chiến thuật của TROTSKY, cuộc CÁCH MẠNG VÔ SẢN tháng 10 đã thành công. LENINE trở thành Nguyên Thủ Quốc gia cho đến năm 1924, năm Oâng chết.

Tổ chức cai trị Xã hội được tiếp tục và trở thành khuôn khổ độc đoán dưới thời STALINE.

Xã hội Cộng sản được tổ chức thực hiện những chủ trương của MARX:

=> Cuộc đấu tranh đẫm máu thanh trừng Giai cấp tiếp tục khắt khe và vô nhân đạo dưới thời Staline. Giai cấp Tôn giáo, Trí thức và Tư bản bị tiêu diệt.

=> Truất hữu toàn vẹn những tư hữu. Tất cả trở thành CÔNG HỮU;

=> Giai cấp VÔ SẢN nắm quyền độc tài, mà đại diện Giai cấp này là Đảng Cộng sản duy nhất, nghĩa là quyền hành cai trị Xã hội và quản trị CÔNG HỮU thuộc về Đảng Cộng sản lãnh đạo Giai cấp vô sản.

=> Vì những phương tiện sản xuất là CÔNG HỮU, nên chỉ có Nhà Nước (Đảng Cộng sản) có quyền điều hành để sản xuất Kinh tế. Không còn Kinh tế tư nhân nữa mà chỉ còn Kinh tế do Nhà Nước hoạch định qua những Kế Hoạch (Ngũ niên);

=> Thực hiện một Xã hội bình đảng, không giai cấp, nên cá nhân được bao cấp tiêu thụ theo nhu cầu;
 
=> Một cuộc Cải Cách Ruộng Đất được thực hiện. Không còn tư hữu đất đai. Những đất nông nghiệp được chia ra làm hai loại canh tác: Kolkhoz và Soukhoz. Dù canh tác thuộc loại nào chăng nữa, nông dân trở thành những Công nhân (Ouvriers agricoles)

=> Thương mại không những không được coi là sản xuất giá trị, mà còn bị coi là ăn bám sản xuất, nên bị bỏ đi. Thay vào đó, Nhà Nước tổ chức những Hợp tác xã để phân phối hàng hóa giữa sản xuất và tiêu thụ.

=> Dưới thời Staline, Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản được phát động để mang Cách Mạng Vô sản đến những nước khác. Theo đúng chủ trương đấu tranh giai cấp bằng bạo động của Karl Marx, Nga cung cấp vũ khí để làm bất ổn tại những Quốc gia khác để tạo cơ hội chiếm quyền hành.


Những lý do thất bại của
Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy

Năm 1989, Liên Xô và những nước chư hầu Cộng sản Đông Aâu lần lượt sụp đổ mà lý do chính yếu là đời sống Dân chúng quá đói nghèo, nghĩa là sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy. Thực vậy, sau khi bức tượng Bá Linh, tượng trưng phân cách giữa hai hệ thống Kinh tế, bị hạ xuống, chúng tôi đã có dịp sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến thực sự cảnh nghèo khổ của chính dân Thủ đô của Khối Cộng sản.  Nga phải mua những hộp đồ ăn đã hết hạn của những nước Tây phương. Ngôi Nhà Hàn Lâm Viện cho những Sinh viên ưu tú trống rỗng. Những Sinh viên Việt Nam sang du học đã phá tường của những phòng của Hàn Lâm Viện để mở quán chạp phô, mở quán phở, thậm chí mở quán bán thị chó. Tôi còn giữ những hình ảnh chụp cảnh làm ăn nghèo khổ này.

Hãy thử tìm hiểu những lý do thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy này.

=> Nỗ lực sản xuất Kinh tế không nhằm về phát triển Kinh tế, mà nhằm củng cố cho Đảng Cộng sản và Chính trị của Đảng. Khả năng phát triển Kinh tế Quốc gia đã bị tiêu dùng cho mục đích Chính trị. Trong suốt những năm sản xuất, Liên xô sản xuất vũ khí nhiều hơn việc sản xuất những hàng thường dùng của người lao động. Lấy một vài tỉ dụ hiện giờ : Trung Cộng tiêu tốn gần 50 tỉ Mỹ Kim cho sự vẻ vang Chế độ Chính trị của mình, hơn là phục vụ đời sống thực của Dân chúng; một số những xây cất ở Việt Nam cũng nhằm phục vụ cho Đảng và thể chế Chính trị, chứ không nhằm mục đích Kinh tế cho người Dân nghèo.
=> Khi Nhà Nước nắm giữ những chi tiêu và điều hành những Tập đoàn sản xuất công, thì việc chi tiêu chắc chắn không được căn cơ cho có hiệu lực. Câu nói “Chi tiêu tiền chùa“ hay “Cha chung không ai khóc“ cho thấy thực trạng lãng phí ắt phải xẩy ra, đó là chưa kể đến chủ tâm cắt xén của chung làm của riêng. Đây là một điều tự nhiên. Câu ngạn ngữ Kinh tế tư bản:“Làm ra tiền đã khó, nhưng chi tiêu tiền bạc còn khó hơn“. Đối với Kinh tế tư bản, khi chi tiêu, đã phải tính mình thu vào bao nhiêu lợi nhuận, nghĩa là tính cuyện làm sinh lời Kinh tế thực sự trước khi bỏ một đồng ra tiêu.  Chỉ có tiền tư hữu riêng của mỗi người, thì người đó mới căn cớ tính toán để chi tiêu cho đúng.
=> Nói về việc tiêu thụ, người lao động cũng dễ lười biếng khi thấy rằng mình cố gắng làm việc mà chỉ được hưởng đồng đều như người không chịu khó làm việc. Chính việc tư hữu những sản phẩm làm ra và được tiêu thụ là động lực kích thích sự chịu khó làm việc. Người ta nói rằng con gái Nga đẹp, nhưng thiếu nụ cười, bởi vì nụ cười của người con gái trong Kinh tế tự do có tư hữu được thưởng công, trong khi đó người con gái của Kinh tế chỉ huy có cười cả ngày cũng chỉ lĩnh được phần tiêu thụ đồng đều như người không cười. Vậy thì cười làm gì để trại quai hàm.
=> Về sản xuất tại những Soukhoz, Kolkhoz, chính hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy cũng đã phải sửa sai. Hiệu năng nông nghiệp của Soukhoz và Kolkhoz thấp xuống, Nhà Nước đã phải cấp cho mỗi Gia đình một khoảng đất tư để trồng trọt riêng cho Gia đình. Thửa đất tư có rau cỏ mọc tươi tốt, nhưng thửa ruộng công thì cây cỏ dễ khô héo. Cũng vậy con bò tư thì to béo và nhiều sữa, nhưng con bò nhà nước thì gầy còm, chỉ nhỏ giọt sữa.
=> Một tình trạng làm nản cố gắng sản xuất nữa, đó là những người cố gắng sản xuất, sản phẩm không những chỉ được bao cấp đồng đều mà còn bị chính cán bộ đảng không chân lấm tay bùn, có quyền chia cho mình phần lớn hơn để tiêu xài phung phí. Giảm cố gắng vì thấy người ngồi mát ăn bát vàng tham nhũng, hối lộ.
=> Những sinh hoạt Kinh tế quốc gia Cung, Cầu được hoạch định bằng những Kế Hoạch Ngũ Niên không được chính xác vì những người làm Kế hoạch thiên về Chính trị hơn là chuyên môn Kinh tế và vì sự phù hợp giữa Cung và Cầu có tính cách sinh động cập nhật ngắn hạn chứ không cứng nhắc dài hạn.


Trở lại chủ trương hệ thống Kinh tế
Tự do và Thị trường

Sự sụp đổ của Liên xô va các nước Cộng sản Đông Aâu vì lý do Dân chúng quá nghèo khổ là chứng minh hùng hồn cho sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy. Sụp đổ rồi, những nước này chọn hệ thống Kinh tế nào ?

Việc họ quay về hệ thống Kinh tế tự do và thị trường chứng thực một lần nữa cái uy thế phát triển Kinh tế của hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường trong việc giải quyết đời sống dân chúng. Hai điều quan trọng làm nền tảng cho hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường là quyền TƯ HỮU và CHÍNH TRỊ KHÔNG ĐƯỢC CAN THIỆP TRỰC TIẾP vào sinh hoạt Kinh tế. Đó là  nền tảng phát triển Kinh tế thực sự và lâu bền.

Chúng tôi xin trích lại chính quan điểm của Karl MARX về chủ trương Hạ Tầng Cơ Sở Kinh tế là chính yếu. Trong PREFACE A LA CRITIQUE DE L’ECONOMIE POLITIQUE, Karl MARX viết: “Les rapports de procuction correspondent à un degré de développement des forces productives matérielles, cet ensemble forme la structure économique sur laquelle s’érige la superstructure juridique et politique qui détermine certaines conditions sociales.“ (Những tương quan sản xuất tương ứng với mức độ phát triển những lực lượng sản xuất vật chất, toàn bộ này tạo hệ thống kinh tế mà trên đó được xây dựng thượng tầng kiến thiết luật pháp và chính trị để định một số những điều kiện xã hội).
Câu nói của Marx phù hợp với hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường quan niệm rằng Chính trị chỉ được coi như Môi trường Chính trị-Luật pháp cho phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat) với sinh hoạt Kinh tế. Như vậy, khi chọn hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, thì không thể lấy độc đoán Chính trị để trấn át, bó buộc Hạ Tầng cơ sở Kinh tế phải tuân theo được.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế

 


CHUYỆN CON ÔNG, CHÁU CHA

Nhà văn Trần Kỳ Trung
17-01-2011


Ở Việt Nam, chuyện “con ông, cháu cha” được bố trí ở những vị trí lãnh đạo chủ chốt trong chính quyền, cơ quan, đoàn thể gần như trở thành công khai, ai cũng nhìn thấy. Sẽ là bình thường, nếu những người này, lúc học phổ thông là học sinh xuất sắc, có nhiều thành tích trong học tập, công tác. Rồi khi tham gia chính quyền là một cán bộ tài năng, có uy tín, đạo đức tốt. Nhưng thực tế ngược lại, người tốt rất ít, trong dư luận râm ran không biết bao nhiêu chuyện về “con ông, cháu cha” học dốt, tài kém…thế mà bây giờ nghiễm nhiên, không biết biến hóa kiểu gì, rất nhanh, họ đã leo lên ở một vị trí rất cao trong chính quyền. Báo chí phê phán nhiều, dư luận lên án, người dân nhìn vào khó chịu…Nhưng rất lạ, hình như sự chuyển biến việc này theo chiều hướng tích cực không thấy, mà chuyển biết theo chiều hướng tiêu cực càng rõ, ngày một nhiều.

Trong các báo cáo của không ít đại hội Đảng từ cấp tỉnh, cho đến cấp trung ương không đề cập chuyện này, hoặc để đối phó, thì đề cập rất chiếu lệ, lên án chung chung.

Vận nước “thuận” hay “nghịch” một trong những nguyên nhân chính, cũng do việc này gây ra.
Trước hết, để “con ông, cháu cha” vào những vị trí lãnh đạo, biểu hiện của việc mất dân chủ một cách vô cùng nghiêm trọng, không thể lấy bất cứ lý do gì để biện minh. Việc lấy uy thế của mình, để bắt buộc tổ chức Đảng, chính quyền bố trí cho con cháu vào những vị trí lãnh đạo chính quyền, cơ quan, đoàn thể… thực tế đã triệt tiêu mọi ý kiến đóng góp xây dựng của quần chúng, đảng viên. Vì họ có đóng góp ý kiến, nhất là những ý kiến xây dựng, phê bình là sợ “đụng chạm” cả “bố” lẫn “con” lẫn “cháu”. Bố trí “con ông, cháu cha” vào vị trí lãnh đạo, suy cho cùng, cũng để tạo ra một ê kíp dễ đục khoét, dễ đối phó…để bảo vệ lợi ích “ nhóm”, lợi ích của một cá nhân nào đấy, không hề vì quyền lợi tập thể, chưa nói đến dân tộc.
Đưa “con ông, cháu cha” vào các vị trí lãnh đạo, không qua hình thức bầu cử dân chủ, hoặc bầu cử lấy lệ đã thực sự loại bỏ những cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt trong chính quyền. Điều đó chỉ góp phần làm cho chính quyền trị trệ, bảo thủ, quan liêu, xa dời dân, mất uy tín với dân.

Một chính quyền, nhất là chính quyền cấp xã, chính quyền gần dân nhất, dân dễ tiếp xúc nhất. Cũng qua chính quyền xã, những người lãnh đạo cấp trên từ huyện đến tỉnh, trung ương sẽ hiểu dân cần gì? Họ sống như thế nào? Cần có chính sách phù hợp lòng dân để ổn định tình hình kinh tế, xã hội… nhưng hiện tại, ở nhiều địa phương cấp xã, lớn hơn là chính quyền cấp huyện, thị xã, thành phố… không khó lắm nhìn vào một tầng lớp “con ông, cháu cha” ngự trị. Nó thiên biến vạn hóa đủ các kiểu. Trưởng, phó Phòng, Ban… bằng mọi cách những vị lãnh đạo Đảng, chính quyền ở địa phương đó cũng tìm cách đưa con cháu mình vào. Thấp hơn một tý là đồng hương, họ hàng. Điều này dẫn đến một hiện trạng, ai cũng nhìn thấy, với sự ràng buộc về dòng họ, cha con, chi phái (điều này những vùng nông thôn còn rất nặng nề), về miếng cơm manh áo…đã thủ tiêu mọi hình thức đấu tranh trong Đảng, trong chính quyền. Những tổ chức Mặt trận, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ xã… thậm chí cả công an không còn sức mạnh chính nghĩa, không phục vụ, bảo vệ nhân dân mà những tổ chức đó chỉ biết bảo vệ quyền lợi của dòng họ, cha con. Một bộ máy quản lý kiểu phong kiến lạc hậu xuất hiện với một mác nhãn mới “chính quyền nhân dân” hoặc khôi hài hơn là “cấp ủy”, “Đảng ủy”. Nó thủ tiêu cả luật pháp, hiến pháp, chỉ thị, nghị quyết… thực thi quản lý chỉ bằng luật rừng tha hồ hành dân, tự tung, tự tác, bất chấp tất cả, thỏa mãn lòng tham, gây mất uy tín nghiêm trọng đến Đảng, đến chính quyền.… Những khái niệm “dân chủ”, “đoàn kết”, “thông nhất”… lúc này chỉ còn là hình thức.

Điều nguy hiểm nữa, khi sắp xếp “con ông, cháu cha” vào vị trí lãnh đạo, nhất là vị trí lãnh đạo của Đảng, khi Đảng độc tôn lãnh đạo đất nước, dễ biến Đảng trở thành Đảng đứng trên dân, trên Quốc hội vì lúc này không phải người lãnh đạo phải lắng nghe ý kiến dân mà chủ yếu là lắng nghe “bố” nói gì, dạy gì để “con, cháu” thực hiện. Và chính quyền lẽ ra phục vụ nhân dân, thì ngược lại, phục vụ cho các “các bố” , “các ông” cấp trên. Như vậy, hố ngăn cách giữa nhân dân với Đảng, với chính phủ ngày càng nới rộng.

Có thể nói, chính sự quan liêu, hách dịch, xa rời dân do sắp xếp “con ông cháu cha” vào vị trí lãnh đạo tạo nên sự bất bình của người dân, từ đó họ sẽ phản kháng, rất dễ dẫn đến bất ổn xã hội, bất ổn chính trị.
Ở nước ta, điều nguy hại này, tôi đã thấy trước mắt.

Nguồn: Trần Kỳ Trung-Blog.









HẬU QUẢ KINH TẾ QUỐC DOANH CHỦ ĐẠO:
HAI TRANG BÁO - HAI CẢNH ĐỜI

Một xã hội sắp bị đào thải!
17-01-2011

CẢNH MỘT:
Đại gia Hà Nội chi gần chục triệu ăn sáng

VNN – Thực phẩm “bẩn” len lỏi vào từng ngõ ngách, đe dọa sức khỏe, sinh mạng của người tiêu dùng. Trước thực trạng “đụng đâu cũng thấy chất độc”, một bộ phận những người có điều kiện kinh tế khá giả đã chịu chi những khoản tiền không nhỏ để ăn uống ở các nhà hàng sang trọng nhằm đổi lấy sự an toàn. Có những người thường xuyên ăn một bát phở có giá 750.000 đồng mỗi sáng sớm, đến cuối tuần lại dẫn cả gia đình đi ăn cùng. Ước tính số tiền chi cho một bữa sáng như vậy cũng hết gần chục triệu đồng.

Ăn một bát phở giá 750.000 đồng

Kể từ nửa năm trở lại đây, anh Thắng – chủ một công ty hoạt động trong lĩnh vực bất động sản tại Hà Nội – thường đến ăn món phở khá nổi tiếng tại nhà hàng của một khách sạn trên đường Láng Hạ.

Loại phở này có 6 loại khác nhau với nhiều mức giá khác và chênh nhau tương đối lớn, gồm: Phở bò Kobe gyu ‘5’ giá 750.000 đồng/bát; phở bò Kobe ‘M’ giá 500.000 đồng/bát. “Bình dân” hơn là phở bò Wagyu Úc giá 220.000 đồng/bát. “Bình dân” hơn nữa là phở bò Mỹ giá 125.000 đồng/bát. 2 loại có giá thấp nhất là phở bò Úc ‘S’ giá 85.000 đồng/bát và phở nạm bò Mỹ giá 70.000 đồng/bát.

Tổng Giám đốc kiêm chủ nhà hàng này cho biết, loại phở giá 500.000 đồng/bát và 750.000 đồng/bát xuất hiện khoảng hơn 1 năm trở lại đây. Đặc điểm của loại thịt bò dùng cho loại phở này là khi cho vào miệng, miếng thịt sẽ tan nhanh, rất mềm, rất giòn, đậm đà và giàu dinh dưỡng. Thay vì nhà hàng nhúng thịt bò trước, khi ăn bát phở này, khách hàng sẽ tự tay nhúng lấy.
 
Thay vì nhúng từ trước, khách hàng sẽ tự tay nhúng trực tiếp thịt bào để mọi chất bổ dưỡng đều đi vào bát phở. Giá cao nhất cho một bát phở này là 750.000 đồng. 

Hiện nay, số thực khách lựa chọn loại phở đắt nhất này xuất hiện ngày càng nhiều (chính ông chủ nhà hàng này cũng không ngờ món này lại hút khách đến vậy). Song, sự lựa chọn phổ biến nhất vẫn là phở bò Mỹ giá 125.000 đồng/bát và phở bò Wagyu Úc giá 220.000 đồng/bát. Điểm đáng chú ý là trong số những thực khách sử dụng các món phở trên, có nhiều người vì nhu cầu cá nhân chứ không vì phải tiếp khách hay phải chiêu đãi đối tác, vv..
Nhiều người nghe mức giá dành cho một bát phở như trên tỏ ra khá giật mình. Có người còn hóm hỉnh “quy đổi” 1 bát phở bò Kobe gyu ‘5” giá 750.000 đồng ra thành tiền dùng để đi nhậu thì thấy: Khoản tiền 750.000 đồng có thể thoải mái cho một bữa nhậu 4 người với rượu và nhiều món ăn đa dạng!
Nhưng những người như anh Thắng lại không nghĩ vậy. Anh Thắng cho rằng, với tình hình vệ sinh thực phẩm gần như bị thả nổi hiện nay, nếu ăn uống ở những nhà hàng nhỏ lẻ, quán ăn ven đường,… không có hệ thống kiểm tra chất lượng và phát hiện độc chất thì anh không yên tâm.

Anh Thắng bày tỏ: “Tôi không nghĩ tôi đến đây vì thích chơi sang. Đơn giản là vì tôi có thể trả 750.000 đồng cho 1 bát phở mà tôi nghĩ là ngon, an toàn và tôi cảm thấy an tâm, thoải mái vì điều đó”.

Trung bình mỗi tuần anh Thắng đến nhà hàng này ăn phở 2-3 lần. Vào cuối tuần rảnh rỗi hoặc muốn xả stress, anh cũng thường đưa cả vợ, 2 con và ông bà nội ngoại đến ăn cùng, mỗi người có thể chọn loại phở theo sở thích riêng của mình.

“Tôi thấy kinh tế Việt Nam hiện nay phát triển mạnh và sản sinh ra một tầng lớp giàu có, tiền với họ không phải là vấn đề quá quan trọng. Là chủ nhà hàng này, thời gian gần đây tôi thường xuyên tiếp những gia đình 3 thế hệ đến ăn phở vào mỗi sáng cuối tuần. Cả tiền đồ uống, café, hóa đơn thanh toán cho mỗi lần ăn sáng cũng có thể là gần chục triệu đồng”, chủ nhà hàng cho biết.

Thậm chí, có những vị khách thân quen ăn thường xuyên ở đây đã trên 2 năm, ngày nào nhà hàng cũng phải giữ một chỗ đặc biệt cho vị khách này. Toàn nhà hàng có khoảng 150 chỗ ngồi, nhưng vào giờ cao điểm (7-9h sáng) đều hết sạch chỗ ngồi. Đến ngày cuối tuần, theo lời ông chủ, thì nhiều khách muốn vào ăn còn phải lái xe ô tô chạy nhiều vòng bên ngoài để tìm chỗ đậu xe vì sân nhà hàng đã chật kín xế hộp.

Càng giàu càng ăn sạch với tiền bẩn

Không chỉ ăn sáng, nhiều người giàu ở Hà Nội chọn ăn trưa hoặc ăn tối cũng ở những nơi sang trọng, đắt đỏ để đạt được cảm giác an tâm.

Bà Thùy Anh, phụ trách truyền thông của khách sạn M. cho biết, khách sạn có đặc thù là thường phục vụ ăn cho khách nước ngoài, khách tham gia hội nghị hội thảo nên đối tượng đến ăn vì nhu cầu cá nhân trước đây xuất hiện không thường xuyên. Nhưng hiện nay thì tình hình đã đổi khác.

“Dù không có một thống kê nào về việc có bao nhiêu người đến đây ăn vì nhu cầu ăn uống cá nhân thông thường nhưng đối tượng cá nhân, hộ gia đình đến đây ăn xuất hiện ngày càng nhiều”, bà Thùy Anh nói.

Để đáp ứng được xu hướng này của khách hàng, khách sạn M. đã đưa ra ngày càng nhiều món ăn thuần Việt hơn và đưa ra một số “gói” sản phẩm cho khách hàng lựa chọn.

“Cuối tuần chúng tôi có gói ăn sáng kèm ăn trưa cùng, kéo dài từ 9h sáng đến 2h chiều. Giá cho mỗi suất ăn của người lớn là 620.000 đồng, chưa để đồ uống và 10% VAT cùng các chi phí khác. Trên thực tế, rất nhiều người lựa chọn những suất ăn như thế này, số gia đình đi đến 6-7 người vào cuối tuần rất phổ biến và họ đến khá thường xuyên”, bà Thùy Anh nói.

Còn tại chuỗi nhà hàng “bình dân” hơn, một giám đốc Marketing cũng cho biết, lượng khách gia đình đến ăn tại đây cũng chiếm đến khoảng 40%. Những đối tượng đi ăn nhỏ lẻ đến rất thường xuyên.

Cẩm Quyên - VietNamnet.


CẢNH HAI
Cụ ông gần 100 tuổi đạp xích lô cảm ơn độc giả VnExpress

“Tôi vô cùng xúc động và cảm ơn các nhà hảo tâm đã quan tâm, giúp đỡ đôi vợ chồng già trong lúc tuổi cao sức yếu. Đã lâu lắm rồi vợ chồng tôi chưa có nhiều tiền để ăn Tết như thế này”, cụ Đặng Huyền, nhân vật trong chùm ảnh "Cụ ông gần 100 tuổi đạp xích lô” tâm sự.

Ngay sau khi VnExpress.net đăng phóng sự ảnh về cụ Đặng Huyền ở thôn Lưu Khánh, xã Phú Dương (Phú Vang, Thừa Thiên - Huế), có rất nhiều độc giả trong và ngoài nước gọi điện đến tòa soạn ngỏ ý muốn được giúp đỡ cụ.

Cụ ông gần 100 tuổi đạp xích lô cảm ơn độc giả VnExpress

“Tôi vô cùng xúc động và cảm ơn các nhà hảo tâm đã quan tâm, giúp đỡ đôi vợ chồng già trong lúc tuổi cao sức yếu. Đã lâu lắm rồi vợ chồng tôi chưa có nhiều tiền để ăn Tết như thế này”, cụ Đặng Huyền, nhân vật trong chùm ảnh "Cụ ông gần 100 tuổi đạp xích lô” tâm sự.

Bạn đọc tại Thừa Thiên - Huế và các tỉnh lân cận đã đến tận nhà thăm hỏi, giúp đỡ vợ chồng cụ Huyền bằng nhiều cách như: tặng tiền mặt, mua cho cụ bộ bàn ghế, chiếc chăn ấm, điện thoại bàn…. với tổng giá trị hơn 20 triệu đồng.

Ngoài ra, một số bạn đọc muốn mở tài khoản để có thể chu cấp tiền thường xuyên cho cụ, nhưng do tuổi quá cao nên cụ Huyền cho biết không thể cầm thẻ đi rút tiền tại các trạm ATM được.
 
Một bạn đọc đã giúp cụ Huyền chiếc điện thoại bàn để mọi người tiện việc hỏi han vợ chồng cụ.

Ngày 17/1, trong căn nhà nhỏ của mình, cụ bà Trần Thị Lặc ngồi cạnh chồng cứ rưng rưng nước mắt, nói: “Nhờ sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm mà mùa đông năm nay hai vợ chồng tôi có áo ấm để mặc, có chăn ấm để đắp. Vợ chồng tôi mang ơn quý ân nhân nhiều lắm!”.

Còn cụ Huyền cho biết sẽ dùng số tiền bạn đọc VnExpress giúp đỡ để lo thuốc thang cho hai vợ chồng mỗi khi đau ốm và sắm sang ít đồ ăn Tết. “Tết năm nay tôi sẽ tìm cách liên lạc với đứa con trai xa xứ để gia đình có một cái Tết sum vầy vì vợ chồng tôi đã ở tuổi gần đất xa trời rồi”, cụ Huyền nói.

Cụ Đặng Huyền (người địa phương vẫn thường gọi là cụ Huần) năm nay 99 tuổi nhưng vẫn đạp xích lô. Hai năm trở lại đây, do sức khỏe yếu nên cụ Huyền không chở khách và hàng thường xuyên nữa nhưng mỗi khi có khách nhờ chở đồ nhẹ, cụ ông vẫn nhận lời cốt để có thêm tiền lo cho bữa cơm của hai vợ chồng già.

Bén duyên với nghề đạp xích lô từ khi 30 tuổi, đến nay cụ Huần đã có 69 năm làm nghề này. Con trai bỏ quê vào Nam làm ăn, hơn 30 năm nay mất liên lạc, cuộc sống gia đình cụ chỉ biết nhờ vào đồng công đạp xích lô ít ỏi và sự đùm bọc của làng xóm.

Văn Nguyễn - VNExpress.net.

Nguyễn Xuân Diện:
Hai trang báo. Hai cảnh đời. Cảnh nào cũng buồn. Cảnh một làm người ta buốt óc. Cảnh hai làm người ta ấm lòng. Giá mà người ở cảnh một biết đến người ở cảnh hai. Giá mà người ở cảnh hai không biết đến người ở cảnh một.
Không biết ông Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế có biết đến người ở cảnh hai.
Được đăng bởi Nguyễn Xuân Diện vào lúc 21:24 
Gửi Email Bài đăng Này BlogThis! Chia sẻ lên Twitter Chia sẻ lên Facebook Chia sẻ lên Google Buzz
Nhãn: báo chí, sưu tầm, VNExpress, VNN

 


CÔNG NHÂN VN
BỊ BÓC LỘT HÀNG ĐẦU CHÂU Á

Mệnh danh đại diện của giai cấp công nhân
nhưng đảng VC đang bán mồ hôi máu mắt của công nhân giá cực rẻ
Saturday, 11 December 2010

Khoảng 5,000 công nhân hãng sản xuất giầy Sao Vàng ở Hải Phòng đình công đòi tăng lương – hình của báo Tuổi Trẻ

HÀ NỘI (TH) - Các công ty sản xuất hàng hóa đổ tới Việt Nam mở nhà máy sản xuất chỉ vì giá nhân công ở Việt Nam quá rẻ và chủ nhân mặc sức bóc lột sức lao động.
Theo bản tin báo Thanh Niên ngày Thứ Bảy, 11 tháng 12, 2010, Giám đốc Phòng Thương Mại Châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) Matthias Duhn nhận định như vậy tại một hội thảo do Cục Xúc Tiến Thương Mại, Bộ Công Thương phối hợp tổ chức ngày 10 tháng 12.

Chỉ được trả “với gần $49 USD/tháng, lương của người lao động Việt Nam chỉ xếp trên Campuchia – với $47.36 USD/tháng,” ông này nói rõ.

Bản tin tờ Thanh Niên thuật lại các con số khảo sát lương bổng công nhân tại khu vực Á Châu được nêu ra tại cuộc hội thảo nói trên cho thấy “Indonesia $82 USD/tháng, Trung Quốc $117 USD/tháng, Thái Lan $156 USD/tháng, Philippines $167 USD/tháng, Malaysia $336 USD/tháng, Ðài Loan $540 USD/tháng, Hàn Quốc $830 USD/tháng, Singapore $1,146 USD/tháng và Nhật $1,810 USD/tháng.”

“Ông Matthias Duhn nhận định, giá lao động rẻ là một trong những nguyên nhân khiến giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp ở Việt Nam thấp. Vì thế, không thể dựa vào giá lao động rẻ để đạt tới chuỗi giá trị gia tăng cao được.” Tờ Thanh Niên nói.

Vì lương chết đói, hàng trăm vụ đình công xảy ra tại Việt Nam mỗi năm để đòi tăng lương. Không những lương thấp, công nhân tại Việt Nam còn bị ép buộc làm hơn số giờ lao động qui định mà không được trả tiền phụ trội. Bữa cơm trưa được cung cấp nhưng không đủ phẩm chất để tái tạo sức lao động. Nghỉ bệnh, thai sản bị có thể bị đuổi luôn.

Các vụ ngộ độc tập thể xảy ra rất thường tại các khu công nghệ tại Việt Nam vì thực phẩm ôi thiu, mất vệ sinh.

Luật lệ lao động của nước CHXHCNVN gồm nhiều tầng nấc tròng tréo khiến cho công nhân không thể đình công “đúng luật.” Bởi vậy, các cuộc đình công tại Việt Nam đều bị coi là “bất hợp pháp.” Hệ thống công đoàn đều là các tổ chức ngoại vi của Ðảng Cộng Sản không bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Ngày 29 tháng 11, 2010 vừa qua, ông Michael Porter, giáo sư Ðại Học Harvard, khuyến cáo trong cuộc hội thảo “Cạnh tranh và Chiến lược công ty ngày nay” ở Hà Nội rằng: “Bắt chước Trung Quốc trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa giá rẻ là điều Việt Nam hoàn toàn không nên làm.”

Ðại diện Ngân Hàng Thế Giới ở Việt Nam trong cuộc họp cấp viện hôm Thứ Tư vừa qua cũng đã vạch ra cho thấy sai lầm trong chính sách kinh tế của nhà cầm quyền Hà Nội là chỉ dựa vào một lực lượng công nhân không chuyên môn giá rẻ và moi tài nguyên thiên nhiên ra bán./-

 





TỪNG VẠN CÔNG NHÂN ĐÌNH CÔNG

13,000 công nhân Bình Dương đình công đòi tăng lương

BÌNH DƯƠNG 18-12 (TH) - Có hai cuộc đình công đang xảy ra ở tỉnh Bình Dương với tổng số công nhân tham dự lên hơn 13,000 người. Lý do chính là đòi tăng lương, theo tin của hai báo Lao Ðộng và Người Lao Ðộng hôm Thứ Bảy.
 
Công nhân công ty Pouchen ở Ðồng Nai đình công hồi đầu tháng 4, 2010, đòi tăng lương. (Hình: Tuổi Trẻ)
 
Các cuộc đình công này diễn ra vào lúc vật giá gia tăng quá nhanh chóng trong khi đồng lương công nhân lại quá ít ỏi, không đủ mua những đồ ăn thuộc loại rẻ tiền nhất và trang trải các chi phí khác cho cuộc sống.

Theo tờ Lao Ðộng, hai phân bộ khác nhau của công ty sản xuất giày da Duy Hưng thuộc khu kỹ nghệ Sóng Thần 1, tỉnh Bình Dương đã đình công ngày 16 tháng 12, 2010. Công nhân đòi tăng lương thêm 300,000 đồng/tháng.

Trong khi đó, theo tờ Người Lao Ðộng, công ty Han Son Vina với khoảng 6,000 công nhân cũng đình công đòi tăng lương thêm mỗi tháng 300,000 đồng.

Các cuộc đình công của giới công nhân đòi hỏi quyền lợi lao động hiếm khi được loan tải trên báo chí. Hầu như đều bị coi là các cuộc đình công “bất hợp pháp”.

Muốn đình công, công nhân phải qua ban đại diện công đoàn, qua các cuộc thương thuyết hòa giải với giới chủ nhân. Không xong thì hòa giải với sự can thiệp của nhà cầm quyền địa phương. Sau nhiều tầng nấc ngăn trở nếu không xong thì phải xin phép đình công. Trước một thứ luật lệ lao động không bảo vệ giới công nhân trong khi hệ thống công đoàn là do đảng viên Cộng Sản nắm để giật dây và không bảo vệ người lao động, giới công nhân đã tự động biểu tình, đình công khi thấy sức chịu đựng của họ đã căng quá giới hạn.

Hồi tháng 4 vừa qua, một cuộc đình công lớn khác cũng đã xảy ra ở hãng Pouchen (sản xuất gia công giày cho hãng Nike) ở Ðồng Nai. Hồi tháng 2, khoảng 10,000 công nhân của hãng giày da Mỹ Phong đặt tại Trà Vinh đã đình công.

Lạm phát trong tháng 11 vừa qua, cao hơn 11%, theo con số thống kê của Cục Thống Kê Hà Nội. Giá cả các loại thực phẩm được báo chí trong nước liệt kê cho thấy vẫn leo thang nhanh chóng, nhất là vào dịp này, gần Tết, hàng hóa và các dịch vụ đều tăng giá. Còn đồng lương thì không tăng.

Tại một cuộc hội thảo do Cục Xúc Tiến Thương Mại, Bộ Công Thương CSVN phối hợp tổ chức ngày 10 tháng 12, giám đốc Phòng Thương Mại Châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) là ông Matthias Duhn đưa ra một số thống kê về lương chứng tỏ người công nhân Việt Nam bị bóc lột rất tàn bạo.

Theo các con số do ông nêu ra, chỉ được trả “gần $49 USD/tháng, lương của công nhân Việt Nam chỉ xếp trên Campuchia (với $47.36 USD/tháng),” ông Duhn cho biết.

Trong khi đó, công nhân tại Indonesia được trả $82 USD/tháng, Trung Quốc $117 USD/tháng, Thái Lan $156 USD/tháng, Philippines $167 USD/tháng, Malaysia $336 USD/tháng, Ðài Loan $540 USD/tháng, Hàn Quốc $830 USD/tháng, Singapore $1,146 USD/tháng và Nhật $1,810 USD/tháng.

“Trả công lao động rẻ là một trong những nguyên nhân khiến giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp ở Việt Nam thấp,” báo Thanh Niên trích lời ông Matthias Duhn phân tích. “Vì thế, không thể dựa vào giá lao động rẻ để đạt tới chuỗi giá trị gia tăng cao được.”

'Hai vạn' công nhân ở Biên Hòa đình công

Thống kê cho thấy lương trả công nhân Việt Nam gần như thấp nhất Á châu.

Nhiều ngàn công nhân tại nhà máy giày Tae Kwang Vina, khu công nghiệp Biên Hòa 2 tham gia đình công đòi tăng lương.

Một nguồn tin nói tới 20,000 người ngưng làm việc tại cơ sở gia công giày cho hãng Nike.

Công nhân của Tae Kwang Vina cho phái viên hay họ đã khiếu nại nhiều lần về lương thấp, bữa ăn trưa thiếu chất, nhưng chưa được giải quyết.

Trưa 23/12 hàng ngàn công nhân đồng loạt đình công.

Tin trên báo Thanh Niên nói tới 20,000 công nhân tại Tae Kwang Vina lãn công tập thể.

Ngoài yêu sách tăng lương, công nhân của Tae Kwang Vina còn yêu cầu được nghỉ Tết sớm.

Thay vì bắt đầu nghỉ từ 29 Tết, công nhân muốn nghỉ từ 27 hoặc 28 Tết.

Trong cùng ngày hơn 4000 công nhân công ty Namyang, tại khu công ngiệp Amata đồng loạt đình công.

Namyang là công ty Nam Hàn, chuyên sản xuất sữa bột, sản phẩm dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ sơ sinh.

Đình công đòi tăng lương xảy ra ngày càng nhiều tại Việt Nam. Nguyên nhân hàng đầu là do lương thấp. Thống kê cho thấy lương trả công nhân Việt Nam tại các dự án FDI đứng gần cuối bảng tại Á châu.

Với lương trung bình 49 USD/tháng, lương của lao động Việt Nam chỉ nhỉnh hơn Campuchia một chút, là 47,36 USD, theo Phòng Thương mại Âu châu tại Việt Nam.

Trong khi công nhân tại Indonesia được trả 82 USD/tháng, Trung Quốc 117 USD/tháng, Thái Lan 156 USD/tháng, Philippines 167 USD/tháng, Malaysia 336 USD/tháng, Ðài Loan 540 USD/tháng, Hàn Quốc 830 USD/tháng, Singapore 1.146 USD/tháng và Nhật 1.810 USD/tháng.


24,000 Vietnamese workers strike at 2 South Korean plants

24,000 Vietnamese workers strike at 2 South Korean plants
Posted: 24 December 2010 1712 hrs

HANOI - Around 24,000 workers at two South Korean plants in Vietnam have gone on strike over pay, bonuses and lunar new year holidays, company staff and news reports said on Friday.

At the Tae Kwang Vina footwear company in southern Dong Nai province, almost 20,000 employees refused to work on Thursday and Friday, a company employee told AFP, declining to be named.

She said management had agreed that the Tet lunar new year holidays could last eight days "but have not said anything regarding the requests for an increase in basic salary and Tet bonus".

Tet falls on February 3 in 2011 and is the most important holiday for Vietnamese people.

The employee said basic salary at the South Korean owned plant is now 1.3 million dong a month (US$65). This is roughly in line with what the government says is the country's average monthly income of 1.365 million dong.

Vietnamese consumers have been hit by rising inflation, which official figures released on Friday said is estimated to have risen 9.2 per cent year-on-year during 2010.

At the second South Korean owned factory, also in Dong Nai province, 4,000 workers from the Namyang garment company did not turn up for work on Thursday in a demand for higher wages, Thanh Nien newspaper said.

Company representatives were not immediately available for comment to AFP.

In principle, workers need permission 20 days ahead of time before going on strike in Vietnam, where all labour confederations are state-controlled.

- AFP/al

http://www.channelnewsasia.com/stories/afp_asiapacific_business/view/1101032/1/.html

 

 



KHI CÔNG NÔNG VIỆT NAM BẤT MÃN

Vi Anh


Công nhân và nông dân là hai thành phần chánh làm cho nước giàu dân mạnh. CS biết nên hô hào đó là liên minh công nông, là lực lượng nổng cốt do Đảng CS lãnh đạo thực hiện cái gọi là cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhưng từ khi Liên xô và các chế độ CS Đông Âu sụp đổ, để tự cứu Trung Cộng và Việt Cộng chuyển sang kinh tế thị trường. Công nhân và nông dân bị Đảng Nhà Nước CS bóc lột còn hơn thời tư bản hoang dã  mà Marx đã than nghèo kể khổ để kích động lực lượng này làm cách mạng vô sản do Marx chủ trương.  Gần một phần tư thế kỷ CS Hà nội gọi là “chuyển hệ tư duy, đổi mới kinh tế” sang “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, lương của người lao động Việt Nam  gần đây còn quá thấp, chỉ gần $49 USD/tháng, trên Campuchia với $47.36 USD/tháng thôi. Nông dân VN càng khổ hơn, có làm cho Việt Nam trở thành nước xuất cảng gạo hàng thứ nhì trên thế giới mà không có ăn vì nhà nước để cho quốc doanh kiếm lời vô cớ trên mồ hôi của nông dân. Quốc doanh độc quyền nâng giá “vật tư nông nghiệp” và kềm giá mua gạo xuất cảng. Công nhân và nông dân Việt Nam bất mãn và liên minh nông dân công nhân do CS đánh bóng bể. Khi người lao động bất mãn thì biểu tình, đình công, lãng công. Và phong trào này chỉ có tăng chớ không có giảm.
 
CS Hà Nội lo, có tăng lương theo thủ tục khẩn cấp. CS Hà Nội cũng đánh phủ đầu, trấn áp, lũng đoạn. Không ảnh hưởng gì vì đây là vấn đề cơ cấu chánh trị, lỗi của hệ thống,  không thề giải quyết bằng biện pháp hành chánh được.

 Còn nông dân khiếu  kiện thì liên tục. Dân thành thị lẫn nông thôn, lương hay giáo, bất cứ lúc nào, tứ bắc chí nam cũng có người trở thành dân oan bị đảng nhà nước cướp nhà cướp đất dưới chiêu bài qui hoạch trả rẻ như giựt.

Từ năm 2005 công nhân VN bắt đầu chống đối các công ty người ngoại quốc đầu tư ở Việt Nam cho đến bây giờ  trở thành một phong trào. Phong trào như làn sóng lan tràn từ Saigon ra Hải Phòng, Hà nội và như vết dầu loang loang ra nhiều vùng phụ cận  và các tỉnh nơi có các khu công nghiệp.

Mục tiêu đấu tranh của công nhân ban đầu gói gọn trong việc đòi tăng lương trả quá thấp, kế đó đòi thêm cải thiện điều kiện làm việc quá tồi. Nói chung hành động phản kháng còn hòa dịu, còn trong vòng tự chế và tương đối trật tự. Mục tiêu còn nằm trong vòng lao động, chưa lan ra chánh trị như mọi phong trào đấu tranh khác, đòi tự do tôn giáo, đòi bài trừ tham nhũng, v.v.

Nhưng có điều nhà nước CS và các nhà đầu tư ngoại quốc ở Việt Nam và các quan sát viên quốc tế cũng không dè. Đó là mức độ của phong trào nhân dân này. Về số lượng người,  rất đông, đông nhứt từ trước đến giờ. Về không gian, qui mô lan rộng ra khắp các công ty của người ngoại quốc, lan rộng từ Saigon đến Bình Dương, ra Hải Phòng, Hà nội, rồi bung ra các tỉnh, thường là tại ngay  những khu chế xuất người ngoại quốc tập trung đầu tư.

CS Hà Nội bối rối, thụ động và mất sáng kiến trong đối phó. Luật cấm đình công “tự phát” trở thành vô hiệu lực. Công an, cảnh sát phải huy động bọn du thủ du thực, hay lực lượng ngoài địa phương để bao vây. Công nhân không còn sợ cán bộ công đoàn cánh tay kiểm soát công nhân của Đảng nữa. Và công đoàn không đủ  cán bộ để tung ra thuyết phục và hăm he, phải nhờ cả đoàn thanh niên đi làm việc này. ”Đặc tình” trong hàng ngũ công nhân biểu tình thiếu, không có hay không dám báo cáo sợ bị trả thù, nên chỉ có thể bắt nguội nhưng công nhân la ó rồi cũng phải thả.

CS Hà Nội có khi phải thỏa mãn yêu sách của công nhân theo thủ tục khẩn cấp, ít khi thấy trong tập tục thì hành pháp lịnh của CS. Thủ Tướng Khải ký nghị định cho tăng lương và ra lịnh thi hành ngay, không cần văn bản hướng dẫn thi hành thường phải có theo tập tục pháp chế của CS.
 
Nhưng phong trào biểu tình, đình công lãng công không dứt. Công nhân, nông dân cảm thấy bị CS phản bội như nhận định của  Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, một nhà đấu tranh chánh trị lâu đời trong nước. Trong chiến tranh CS luôn tuyên truyền công nhân , nông dân là giai cấp lãnh đạo để kêu gọi hy sinh xương máu nhiều nhất. Còn trong hòa bình lại bán rẻ họ cho các chủ nhơn ông ngoại quốc làm ăn ở Việt Nam. Công xá ở Việt Nam thuộc loại rẻ nhứt  thế giới. Công nhân nhiều khi phải làm việc một ngày 10 tiếng, 12 tiếng, thậm chí 14 tiếng mà không được trả tiền phụ trội. Công nhân Miền Bắc vào ban đầu quá nghèo giá nào cũng làm, bây giờ tạm sống được, muốn “chế độ lao động tốt hơn” đúng qui luật cách mạng. Cách mạng không nổi lên thời khốn cùng, mà vào thời tương đối khá muốn tốt hơn.

Phong trào công nhân nông dân đấu tranh làm CS Hà nội mất cả ba ưu thế lôi cuốn đầu tư nước ngoài, là lương công nhân rẻ, môi trường sản xuất an ninh, mặt bằng sản xuất dễ kiếm.

Đảng CS từ Việt Nam đến Trung Quốc sợ nhứt là “quần chúng nhân dân” đang bất tuân hành dân sự, sắp nổi dậy bắt tay được với những nhà đấu tranh gốc tôn giáo, trí thức và những nhà  hoạt động cho tự do, dân chủ, nhân quyền. Những niềm tin và giá trị này  tuy  là quyền lực mềm nhưng  đánh vào chế độ CS tuy êm nhưng thấm đau cả ngũ tạng lục phủ của Đảng Nhà Nước CS. Nên TC phải  dành  mỗi năm 514 tỷ nhân dân tệ (tương 55 tỷ euro), một số tiền ngang với kinh phí quốc phòng, để bộ máy công an nội chính trấn áp nhân dân. Chắc CS Hà  nội cũng dành một kinh phí lớn để trấn áp vì ở VN công nhân biểu tình nhiều hơn, dân oan toạ kháng khiếu kiện nhiểu hơn  ở TC. Thành phần lao động đấu tranh cho quyền lợi vật chất  nổi lên trong khi những cuộc đấu tranh cho  quyền lợi tinh thần, tự do tôn giáo, tự do, dân chủ, nhân quyền Việt Nam trở thành phong trào. Cả hai phong trào đấu tranh có hay không có  liên kết  với nhau -  không nghe nói ra - nhưng ắt cả hai  đều  tạo và khai thác tối đa thời cơ này vì người ta thấy nó tăng chớ không giảm.

 Do đó có nhiều lý do vững chắc để tin biểu tình, đình công, lãng công lao động, khiếu kiện, cầu nguyện đòi đất, đòi công lý của dân oan lương và giáo  và các cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền Việt Nam sẽ còn dài dài và phát triển với qui mô lớn, trên diện rộng hơn như vụ cầu nguyện đòi đất nhà chung ở Vinh năm rồi lên đến gần nửa triệu người./.

Vi Anh

 


PHÁ SẢN
CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Tập đoàn kinh tế nhà nước: Tại sao sẽ phá sản? Có thể tái cấu trúc được không?

Trần Thành Nam

Trong bài Tập đoàn kinh tế Nhà nước: từ đâu ra và đi về đâu? tôi đã trả lời hai câu hỏi đã nêu ra, rằng tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam hình thành theo và từ mô hình các tổng công ty đầu ngành của các nước xã hội chủ nghĩa cũ vốn đã làm các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đó sụp đổ, nên cũng sẽ làm nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của Việt Nam sụp đổ.

Với bài này tôi muốn phân tích tiếp, tại sao mô hình kinh tế này sẽ sụp đổ ở Việt Nam và nếu thế thì nó sẽ sụp đổ như thế nào? Liệu có cách nào “tái cấu trúc” chúng để tránh sự sụp đổ được báo trước đó không?

Ở Việt Nam hiện nay, kinh tế Nhà nước năm 2010 chỉ góp 21% GDP nhưng chiếm trên 40% vốn đầu tư quốc gia và chỉ tạo công việc cho chưa tới 4% lực lượng lao động. Đó là các con số của Chính phủ. Còn theo ước tính của các nhà quan sát kinh tế độc lập thì, nếu tính cả các đơn vị làm kinh tế của Đảng, của các đoàn thể Công đoàn, Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, của các lực lượng vũ trang và an ninh, kinh tế Nhà nước tại Việt Nam chiếm đến trên 80% nguồn vốn đầu tư của quốc gia [?] và vì thế nó phải được coi là lực lượng kinh tế chủ đạo.

Nhìn sơ qua ai cũng thấy ngay tính không hiệu quả trầm trọng đến vô lý của mô hình kinh tế Nhà nước. Hậu quả kinh tế thua lỗ thất thoát sẽ làm nó phá sản và chính những người hỗ trợ nó là Chính phủ cũng không chịu được và càng không bao biện được. Chính phủ càng bơm nhiều vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, càng mất hết.

Hậu quả thứ hai là đạo đức kinh doanh xấu xa của mô hình kinh tế nhà nước: tính hình thức, sự hoang phí, tệ tham nhũng, nạn báo cáo giả dối, sự vô trách nhiệm tràn lan, sự kém cỏi và kém chất lượng dịch vụ, sự thiếu vắng văn hoá và đạo đức kinh doanh… tất cả tạo nên và làm cho văn hoá kinh doanh và văn hoá xã hội nói chung ngày càng xuống cấp… Càng hô hào thi đua, càng mất văn hoá hơn.

Hai hậu quả trên khi được biểu hiện kết hợp trên diện rộng, mức độ sâu xa, thời hạn lâu dài nhiều năm và trong khắp mọi ngành kinh tế với số lượng đầu tư vật chất lớn… sẽ làm nên tình trạng: về văn hoá thì cả xã hội ghê tởm và căm ghét, về kinh tế thì cả nền kinh tế bị khủng hoảng “vạ lây”, về xã hội thì làm mất hết cơ hội vươn lên cuộc sống giàu có cho đất nước, cuối cùng cả xã hội sẽ phải xoá bỏ mô hình kinh tế nhà nước này.

Tại sao hai hiện tượng “hậu quả” trên sẽ nhất định sẽ xảy ra với mô hình kinh tế nhà nước?

Đó là một phép qui nạp: vì chúng đã và đang xảy ra…, và vì mô hình kinh tế nhà nước xã hội chủ nghĩa vốn đã chứa những hạt giống, mầm mống mâu thuẫn sẽ gây đổ vỡ đó là bắt nguồn từ cơ sở triết học và lý thuyết kinh tế sinh ra chúng: lý thuyết kinh tế kế hoạch tập trung xã hội chủ nghĩa! Vâng, cha mẹ tinh thần, hay cái gen gốc, của mô hình kinh tế nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay vẫn là lý thuyết kinh tế kế hoạch tập trung xã hội chủ nghĩa!

Chúng ta lại phải giật lùi một chút đến những năm 50, xem lại về lịch sử hình thành từ đầu các hình thái tổ chức công ty nhà nước xã hội chủ nghĩa nói chung.

Chúng ta (và các nước cựu xã hội chủ nghĩa trước kia) tưởng mình đã cắt đuôi và đoạn tuyệt dứt khoát với lý thuyết kinh tế kế hoạch tập trung từ khi giải tán các Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước từ Trung ương đến địa phương! Không hề! Chúng ta đã chỉ không “làm kế hoạch tập trung” tại Trung ương hay các UBND Tỉnh, mà chỉ “lập” và “giao” chỉ tiêu cho các ngành theo đó tự làm kế hoạch thực hiện, từ Trung ương đến địa phương, mà thôi. Đó chỉ là tự dối chính mình, còn bản chất sự việc vẫn như cũ: các chỉ tiêu vẫn được xác lập từ Trung ương và rồi “phân chia”, “giao” về các địa phương, các đơn vị kinh tế chủ đạo là các tập đoàn kinh tế nhà nước, để họ “làm kế hoạch”. Các kế hoạch đó liệu có thể được chấp nhận nếu làm không theo các chỉ tiêu “trên giao”?

Bước “cải tổ” trên, mà bản chất như một trò lưu manh vặt, từng được ca ngợi như bước tiến lớn về lý luận và lý thuyết của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khắp Âu Á Mỹ! Theo tôi, dù có gọi tên thế nào, hiện nay thành phần kinh tế nhà nước của ta vẫn là kinh tế kế hoạch tập trung.

Yếu tố cơ bản sống còn trong lý thuyết kinh tế kế hoạch tập trung là đại diện và bảo vệ sở hữu nhà nước trong các mô hình kinh tế sản xuất, kinh doanh và phân phối dạng nông trường, công ty, tổng công ty, hợp tác xã mua bán…, đến nay hoàn toàn chưa được Lênin và các lý thuyết gia kinh tế xã hội chủ nghĩa sau ông giải quyết. Đó là, quyền sở hữu toàn bộ tài sản quốc gia đã được tập trung vào sở hữu nhà nước bằng bạo lực cách mạng rồi, làm sao phân chia lại quyền sở hữu nhà nước đó ra cho các đơn vị kinh tế nhà nước xã hội chủ nghĩa đây? Thành ra, các công ty Nhà nước xã hội chủ nghĩa chưa bao giờ và chưa ở đâu thực chất là một pháp nhân độc lập và có thể sống độc lập pháp lý với chủ của chúng như các công ty tư bản (corporate) được. Ví dụ: nhà nước xã hội chủ nghĩa sụp đổ thì các công ty nhà nước lập ra có còn tồn tại được không? Trong khi các công ty tư bản tồn tại pháp lý độc lập vài trăm năm sau khi chủ thành lập ra chúng đã qua đời? Hay: Vinashin có thể độc lập “chết” mà không liên can gì đến Chính phủ Việt Nam không? Không!

Lúc đầu (những năm 50, 60, 70) người ta phân chia quyền đại diện sở hữu Nhà nước theo ngành dọc cùng lúc cho các bộ ngành, Bộ Tài chính, Đảng Cộng sản và các đoàn thể cùng đại diện. Như vậy, trong một công ty hay xí nghiệp xã hội chủ nghĩa luôn luôn có 5-6 thành phần cùng đại diện quyền sở hữu nhà nước đối với các tài sản vật chất: ban giám đốc, kế toán trưởng, bí thư Đảng, Công đoàn, Thanh niên, Phụ nữ… Bên trên mỗi Công ty cũng có chừng đó các ông chủ sở hữu nhà nước cấp tổng công ty, đến các sở địa phương, rồi các bộ chủ quản, rồi Trung ương…

Hệ thống đại diện sở hữu nhà nước chồng chéo và tầng tầng lớp lớp này đã tự kiểm soát và kiềm chế bớt tham nhũng nhưng hậu quả là người ta chỉ lo bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa (mà vẫn không bảo vệ được khi 5-6 đại diện cùng thông đồng tạo nên những cái gọi là quyền lợi tập thể), nhưng không còn ai lo vì không còn sức, nhiệt huyết và thời gian làm cho tài sản nhà nước đó sinh sôi theo kế hoạch được…

Từ những năm 70,80 và 90, khi các liên hiệp xí nghiệp và tổng công ty toàn ngành hình thành, người ta đã tập trung quyền hành (thực chất là quyền đại diện sở hữu nhà nước) vào hai thành phần chính: giám đốc và đảng uỷ công ty, giai cấp lao động bị loại hẳn khỏi quyền đại diện sở hữu nhà nước hay quyền hành nói chung. Từ đó, các kế toán trưởng chỉ là cái bóng “cánh hẩu” với Đảng và chính quyền – tài chính không thể minh bạch nữa, còn các đoàn thể chỉ là “để làm cảnh” hay “lũ chầu rìa” cho vui xã hội.

Trong công ty hay tổng công ty thì người ta phải trọng tài năng và trình độ chuyên môn để làm việc, trong khi các bí thư đảng cộng sản cơ sở thì thường rất yếu kém mặt này nên thường không có uy tín và quyền lực, do đó các giám đốc tổng công ty luôn có quyền lực tuyệt đối: vừa là đại diện sở hữu nhà nước vừa là người điều hành kinh doanh và chịu trách nhiệm với nhà nước về tài sản nhà nước trong công ty của mình… hay vừa đã bóng, vừa thổi còi cho quân mình đá.

Đại diện sở hữu nhà nước lúc đầu giống như một trách nhiệm trước một ông vua. Nhưng vì ông vua này không tồn tại, không có bóng hình, không hiện ra bao giờ, lại rất dễ lừa, dễ mua chuộc, còn các “đại diện” của vua thì rất tham lam (tiền và “hoa”) và ngu dốt, thích nịnh, thỉnh thoảng đến “cưỡi rượu” xem “hoa”, nên rất dễ điều khiển… Thế là rất nhanh sau đó các giám đốc thấy mình mới chính là vua thật có toàn quyền sinh sát với công ty, số tài sản và con người mình đang quản lý…, họ nhanh chóng trở thành các “vua con”.

Còn tâm lý tham nhũng của các ông “vua con” hình thành từ “đạo đức cộng sản trong sáng” thế này: Các “vua con” chỉ được Nhà nước giao nhiệm vụ bảo toàn tài sản nhà nước thôi vì được “tin cậy”, nhưng thời gian đầu chưa có kinh nghiệm và thường ít tài năng nên thường kinh doanh bị lỗ. Vì mê chiếc ghế “vua con” và không nỡ làm thất vọng cấp trên nên đành báo cáo láo là công ty kinh doanh “huề”, rồi tính sau. Xoay xở vài năm, được nhà nước hỗ trợ đủ điều ưu ái vốn và độc quyền thị trường vì là “lực lượng chủ đạo”, có kinh nghiệm hơn, các “vua con” bắt đầu làm ăn có lãi, nhưng vẫn “phải” báo cáo “huề” để bù lại phần lỗ trước đó đã nỡ giấu nhẹm. Sau đó, việc kinh doanh có lãi tiếp thì các “vua” lại “phải tiếp tục” báo cáo “huề” để dự phòng nhỡ lỗ về sau và cho các “chi phí ngoài luồng” ngày càng tăng cao cho các đại diện “vua trên” và cho chính các “vua trên”… [Có một tình hình phổ biến không kém: Báo cáo lãi để tạm lừa cấp trên – BVN] Số tài sản để ngoài sổ sách để “dự phòng” đó “phải để tạm” trong các tài khoản do người nhà các “vua con” trông hộ ngày càng lớn thì cảm giác tự tin của “vua con” ngày càng lớn… đến một lúc “tự nhiên” “vua con” tin nó là của riêng mình, vì có ai “tranh chấp” đâu? Đó là chưa kể tài sản người ta cứ mang đến cảm ơn lòng tốt của “vua con” trong việc ban phát quyền lợi cho đám “cận thần” và “xin làm cận thần”…

Hiệu quả kinh tế phá hoại, đạo đức tồi tệ, tập trung quyền hành, tham nhũng tràn lan, tổ chức chính trị xã hội mất uy tín và tan rã… đã nhanh chóng làm sụp đổ hệ thống kinh tế rồi hệ thống nhà nước của các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu những năm 80.

Việt Nam từ những năm 90 bắt đầu thí điểm mô hình tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước với sự vô hiệu hoá hoàn toàn các tổ chức Đảng, chỉ để lại “làm vì”. Thay vào đó, Việt Nam áp dụng mô hình hội đồng quản trị để đại diện quyền sở hữu nhà nước, học từ mô hình kinh tế Tư bản thị trường, để kiểm soát Ban giám đốc.

Vẫn có ít nhất vài điều không ổn trong mô hình “thí điểm” này:

Thứ nhất, đây là mô hình được “cải tiến – hà hơi” từ lý thuyết công ty nhà nước xã hội chủ nghĩa và kinh tế kế hoạch tập trung mà châu Âu đề xướng và đã thất bại, đã là xác chết hoàn toàn, nay Việt Nam ta thí điểm “tô vẽ – hà hơi lại xác chết”, mà làm tràn lan khắp các ngành kinh tế, thì thật không khác dựng các thây ma dậy trong khắp mọi nhà!

Thứ hai, việc “tô vẽ – hà hơi xác chết” có phần vụng về: Đại diện sở hữu nhà nước trước kia nằm đông đảo trong từng công ty mà còn không kiểm soát được Ban Giám đốc, nay tách ra và giao cho Hội đồng quản trị đại diện thì phải có Luật đặc biệt tương xứng cho Hội đồng Quản trị như thanh “bảo kiếm” chứ? Thế mà Hội đồng Quản trị đã không có thanh bào kiếm là quyền hành bổ nhiệm Ban Giám đốc, lại cũng chả có luật nào tương xứng nhiệm vụ đại diện sở hữu nhà nước của Hội đồng Quản trị, mà Hội đồng Quản trị lại còn “được” Ban Giám đốc trả lương thì “há miệng mắc quai” hay chủ sở hữu nhà nước bị “làm nhục quốc thể” quá, còn kiểm soát sao được!

Thứ ba, Hội đồng Quản trị giám sát công ty và Ban Giám đốc bằng Luật Doanh nghiệp, là bằng các qui chế và tài liệu báo cáo có tính pháp lý, nhưng ở các tập đoàn và tổng công ty nhà nước Việt Nam việc báo cáo và làm việc giữa Hội đồng Quản trị với Ban Giám đốc lại có tính “nội bộ”, không minh bạch, nên công việc của Hội đồng Quản trị chỉ là hình thức và vô tác dụng. Thực tế ở Việt Nam thường là Chủ tịch Hội đồng Quản trị có quyền “bao cả sân” của Tổng Giám đốc nên coi như đá hai sân; đó là sự bắt đầu của tham nhũng như tôi đã phân tích tâm lý “vua con” ở trên, thậm chí là hiện tượng “hai vua”: Chủ tịch và Tổng Giám đốc chia nhau quyền lực. Kết quả thì vẫn là một: kinh doanh không hiệu quả, tham nhũng, thoái hoá đạo đức…

Thứ tư, đến nay 2010 thì về lý thuyết kinh tế và pháp lý quốc tế, một công ty nhà nước hay tập đoàn kinh tế nhà nước vẫn không phải một pháp nhân độc lập mà chỉ là một bộ phận phụ thuộc của một pháp nhân khổng lồ là nhà nước mà thôi.

Đến đây, câu hỏi tại sao mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước nhất định sẽ thất bại dường như đã được trả lời: tô vẽ và hà hơi không làm các “xác chết” công ty nhà nước xã hội chủ nghĩa sống thực được.

Dường như, là vì còn một nguyên nhân khách quan nữa sẽ góp phần làm nó thất bại nhanh hơn mà các tổng công ty nhà nước xã hội chủ nghĩa Châu Âu ngày xưa chưa gặp: đó là nền kinh tế thị trường cạnh tranh với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh khác. Sự cạnh tranh này sẽ đẩy các tập đoàn kinh tế nhà nước yếu kém nhất đến phá sản nhanh hơn, và các tập đoàn này sẽ kéo các tập đoàn kinh tế nhà nước khác chết theo vì chúng là bình thông nhau, cùng một chủ. Hiện tượng Vinashin là một báo hiệu “thử nghiệm” cho “cái chết đầu tiên” đó.

Với câu hỏi “Liệu có cách nào tái cấu trúc các tập đoàn kinh tế nhà nước để chúng thành công?”, câu trả lời của tôi là: Không. Chưa có. Loài người chưa nghĩ ra. Chưa có lý thuyết kinh tế xã hội chủ nghĩa nào thành công từ năm 1917 đến nay, 93 năm thử nghiệm trên 12 nước và 3 châu lục với khoảng trên ¼ dân số loài người đã tham gia.

Các công ty và tâp đoàn kinh tế nhà nước theo mô hình kinh tế kế hoạch tập trung như nước ta đang “nuôi” vẫn chỉ tiếp tục là những thây ma thí nghiệm “dũng cảm” – thây ma thì sợ gì chết nữa! Chính phủ ta vẫn nói là họ đang tiếp tục làm thí nghiệm đó thôi!? Chỉ có điều cái giá phải trả cho những thí nghiệm này rất đắt, sẽ do nền kinh tế ọp ẹp của ta phải chịu, tức là do dân Việt ta cùng trả thôi mà.

Còn một câu hỏi trong cuối bài trước dường như tôi chưa trả lời, tuy thực ra là đã trả lời ngay rồi, là: “Ai sẽ có lợi khi các tập đoàn kinh tế nhà nước cùng nhau sụp đổ?”

Tôi đã nói: “Người biết chuyện gọi đó là cuộc cách mạng ĐỔI MÀU SỞ HỮU CHỦ”, không phải như một số báo đăng lại và hiểu nhầm thành: “người biết chuyện gọi đó là cuộc cách mạng ĐỔI CHỦ SỞ HỮU”. Ở đây, chủ sở hữu chính của phần lớn các công ty nhà nước phá sản sẽ không thay đổi, họ chỉ đổi màu “áo” của mình thôi. Trước khi công ty sụp đổ họ “mặc áo” màu đỏ – đại diện sở hữu nhà nước –, sau khi công ty sụp đổ họ sẽ ra tay “cứu vớt” mua lại công ty NN thành “của mình”, lại trở thành chủ của công ty đó. Nhưng họ là các nhà tư bản mặc áo vàng, thế thôi, vẫn là họ hay con cháu họ hàng anh em chiến hữu của họ…

Đỏ là màu cách mạng – là máu dân lành. Vàng là vàng, Dân thì vẫn là dân đen…
T.T.N










KINH TẾ VN 2011
CÓ KHẢ QUAN HAY BÍ LỐI ?

Việt Hà, phóng viên RFA
2011-01-05
 
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vừa đưa ra thông điệp về phát triển kinh tế năm 2011.

Một người đang nai lưng kéo vật liệu xây dựng gần một khu công nghiệp ở ngoại thành Hà Nội hôm 03/12/2010.

Trong đó nhấn mạnh đến việc ổn định kinh tế vĩ mô, và kiềm chế lạm phát. Bài phát biểu đầu năm này được đưa ra sau khi Tổng cục thống kê Việt Nam công bố những con số đáng ngại về lạm phạt và chỉ số giá cả tăng cao tại Việt Nam. Tình hình kinh tế của Việt Nam năm 2011 có gì sáng sủa.
Kiềm chế lạm phát

Trong bài phát biểu đầu năm 2011, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đưa ra thông điệp quan trọng cho năm 2011 là tăng cường ổn định kinh tế vĩ mà và kiểm soát lạm phát, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm.

Những thông điệp mà ông thủ tướng đưa ra phần nào cho thấy một trong các chính sách ưu tiên hàng đầu mà Việt nam sẽ áp dụng trong năm 2011 đó là tìm cách kiềm chế lạm phát. Ngay trong phiên họp báo chính phủ cuối năm 2010, PHó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cũng đã khẳng định quyết tâm cao của chính phủ là ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát hiện đang ở mức 11,75% theo báo cáo mới nhất của Tổng cục Thống kê.

Nói về quyết tâm này của chính phủ, ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban giám sát Tài chính quốc gia cho biết:

"Mục tiêu chủ yếu là ổn định tỷ giá hối đoái đầu năm, sau đó kéo lạm phát xuống. Biện pháp trước mắt là chúng tôi đang duy trì lãi suất tương đối cao.

Vấn đề thứ hai là giảm chi tiêu công vì một khối lượng lớn của chi tiêu công là từ ngân hàng nhà nước sang các ngân hàng thương mại mua trái phiếu của chính phủ, rồi các ngân hàng thương mại cho vay vào khu vực công tức là các doanh nghiệp nhà nước, mà khu vực này có hiệu quả rất thấp, cho nên dẫn đến tình trạng là chỉ cần nhích 1% của GDP lên thì đòi hỏi tiền lớn, và khi cung tiền lớn thì lạm phát tăng.

Mục tiêu chủ yếu là ổn định tỷ giá hối đoái đầu năm, sau đó kéo lạm phát xuống. Biện pháp trước mắt là chúng tôi đang duy trì lãi suất tương đối cao.

Vì thế nên phải phối hợp cả chính sách tiền tệ thắt chặt một chút và giảm thâm hụt ngân sách, giảm vay từ khu vực công từ hệ thống ngân hàng."

Ngay từ cuối năm ngoái, Quỹ tiến tệ quốc tế cũng khuyến nghị Việt Nam nên duy trì mức lạm phát từ 3 đến 4% tương ứng với các nước khác trong khu vực ASEAN.

Chính vì để kiềm chế lạm phát, hồi tháng 11 vừa qua Việt Nam đã nâng lãi suất tiền đồng lên 9%.
Tuy nhiên trước đó Việt Nam đã 3 lần hạ giá đồng bạc Việt Nam, mà theo IMF thì là tác nhân quan trọng dẫn đến lạm phát gia tăng.

Trong khi đó, bên lề cuộc họp báo Chính phủ tổ chức vào chiều 31 tháng 12, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Giàu khẳng định lạm phát cao không phải do nguyên nhân tiền tệ không. Theo Tổng cục thống kê, yếu tố tiền tệ chỉ đóng góp 4,65%, còn lại là các yếu tố khác. Các yếu tố khác mà ông đưa ra có xuất phát từ nhân tố khách quan như sự bất ổn kinh tế, giá cả thế giới và một số yếu tố chủ quan nội tại của nền kinh tế.

Chính sách tiền tệ

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành thì cho rằng mặc dù chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam tăng cao trong năm 2010 nhưng không có nghĩa là lạm phát quá cao và phải thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt như chính phủ đang làm và dự định tiếp tục thực hiện trong năm tới. Theo ông nền kinh tế Việt Nam không quá nóng, và doanh nghiệp đang thiếu vốn do việc tăng lãi suất ngân hàng.
 
Ông cho rằng trong năm 2011, Việt Nam thay vì thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thì cần phải hạ lãi suất tiền đồng xuống để doanh nghiệp có thể tiếp cận được vốn, duy trì hoạt động. Ông nói:

"Doanh nghiệp hiện hoạt động cầm chừng hay phải ngưng hoạt động vì lãi suất quá cao, không dùng thêm lao động mà phải sa thải lao động. Cho nên vấn đề chính sách tiền tệ là phải hạ lãi suất xuống để doanh nghiệp có thể hoạt động được, đấy là chính sách mà năm 2011 nhà nước sẽ phải làm sao thực hiện cho được. Nếu không hạ được lãi suất thì sẽ gây ra biến động không phải là nhỏ đối với nền kinh tế."

Ông Lê Xuân Nghĩa đồng ý rằng mức lãi suất mà Việt Nam đang áp dụng là có hơi cao nhưng lại cho rằng với việc điều chỉnh nguồn tài chính từ khu vực công sang khu vực tư thì các doanh nghiệp tư nhân sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận với nguồn vốn hơn:

"Đúng là mức đó hơi cao nhưng muốn giảm nó xuống thì phải điều chỉnh phân bố nguồn lực tài chính chuyển từ khu vực công sang khu vực tư vì khu vực tư làm ăn hiệu quả hơn thì nó sẽ làm tăng sản lượng và tạo công ăn việc làm nhanh hơn."

Ngoài ra trong năm 2010, Việt Nam cũng đạt mức tăng trưởng tín dụng 25%. Việt Nam dự định sẽ hạ mức tăng trưởng tín dụng này xuống 23% để kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên các chuyên gia kinh tế lo ngại nguồn vốn này có thể đi vào thị trường bất động sản thay vì sản xuất. Do đó Việt nam có thể phải đối mặt với bong bóng nhà đất năm 2011. Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành nhận định:

Vấn đề chính sách tiền tệ là phải hạ lãi suất xuống để doanh nghiệp có thể hoạt động được, đấy là chính sách mà năm 2011 nhà nước sẽ phải làm sao thực hiện cho được.

"Bây giờ đã có hiện tượng bong bóng bất động sản rồi. Ở thành phố Hồ Chí Minh, dọc theo xa lộ đông tây hiện bây giờ không biết bao nhiêu dự án xây căn hộ, theo ước tính là 70 80 ngàn căn nhà xây lên trong năm 2011, với giá rất cao, cao ngất ngưởng là mấy chục triệu, có khi cả trăm triệu đồng một mét vuông thì bán cho ai.

Trong năm 2011 nó sẽ là một vấn đề đối với kinh tế Việt Nam, và nếu bất động sản bị xì, bị nổ thì ảnh hưởng thế nào đối với nền kinh tế vì như ngân hàng nhà nước báo cáo vừa rồi là 280 nghìn tỷ đồng vào bất động sản thì không nhỏ."

Ngoài việc đặt ra nhiệm vụ quan trọng là kiềm chế lạm phát trong năm 2011, chính phủ Việt Nam cũng đặt ra nhiệm vụ trong năm năm tới là duy trì mức tăng trưởng GDP ở mức 7 đến 7,5%. Tuy nhiên vẫn còn nhiều câu hỏi đặt ra đối với Việt Nam. Đó là làm thế nào để có thể duy trì được mức tăng trưởng cao như vậy trong khi phải kiềm chế lạm phát ở mức 3 đến 4%, và có thể phải tiếp tục hạ giá đồng Việt Nam theo như dự đoán của nhiều chuyên gia kinh tế.

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.

 


TĂNG TRƯỞNG VÀ LẠM PHÁT NGHỊCH LÝ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva 05.01.2011
Web: http://VietTUDAN.net


Bài này không phải là bài phân tích về TĂNG TRƯỞNG hay LẠM PHÁT riêng lẻ, cũng không phải là bài tìm hiểu tổng quát về TƯƠNG QUAN giữa Tăng trưởng và Lạm phát. Đây là bài nhận định một trường hợp rõ rệt như sau:

Tại Việt Nam lúc này, Lạm phát tăng 11.2% và con số Tăng trưởng do Nhà Nước CSVN đưa ra là 6.7%. Lạm phát đangh làm cho dân chúng nghèo và giới lãnh lương cố định phải thiếu hụt trầm trọng. Giới công nhân VN có lương thấp nhất Á châu là 47 đo-la mỗi tháng. Việc tăng lương công nhân nếu có cũng không theo với Lạm phát tăng vọt, như vậy công nhân càng nghèo đi. Nhà Nước CSVN nhấn mạnh về Tăng trưởng mà coi nhẹ vấn đề Lạm phát.

Những câu hõi được đặt ra để chúng tôi nhận định xoay quanh những câu hỏi ấy như sau:

(i) Giữa Tăng trưởng và Lạm phát có những liên hệ từ Tăng trưởng tạo ra Lạm phát. Nhưng Tăng trưởng chỉ có 6.7%, mà Lạm phát lên tới 11.2%, như vậy Tăng trưởng mang đến hữu ích gì cho Kinh tế ở phương diện phục vụ mức sống xã hội ?

(ii) Cho dù Nhà Nước CSVN chủ trương Tăng trưởng mạnh mà hy sinh Lạm phát, thì với mức Tăng trưởng 6.7%, Lạm phát cũng không thể vượt quá 6.7%. Ngày nay Lạm phát lên tới 11.2%, nghĩa là có 4.5% (11.2% - 6.7%) việc Lạm phát phải được phân tích ở những lý do khác ngoài lý do Tăng trưởng. Đâu là những lý do này ngoài lý do Tăng trưởng?

Để đưa ra những nhận định xoay quang hai vấn đề (i) và (ii) nêu trên đây, chúng tôi xin lần lượt bàn tới:
=> Lạm phát, Vật giá tăng, Phá giá Tiền tệ: ba vấn đề cũng là một.
=> Chạy theo Tăng trưởng để tạo Lạm phát, Tăng trưởng mất ý nghĩa
=> Ngoài lý do Tăng trưởng, tối thiểu 4.5% Lạm phát có những lý do khác

Lạm phát, Vật giá tăng, Phá giá Tiền tệ:
ba vấn đề cũng là một.

Trên mặt báo chí, người ta sử dụng những tiếng Lạm phát, Vật giá tăng hay Phá giá tiền tệ, cả ba tiếng này để chỉ một việc cụ thể đối với người dân khi cầm đồng tiền đi mua hàng hóa. Tháng trước, một tô phở giá là 2’000 đồng. Tháng này, ăn một tô phở phải trả 3’000 đồng. Người ăn phỡ than Giá tô phở tăng vọt hay gọi theo kiểu Kinh tế, đó là Lạm phát. Đối vớ người cầm tiền, họ gọi đồng tiền VN mất gía vì với 2’000 tháng trước, người ăn phở chỉ có thể ăn được 2/3 tô phở tháng này, chứ không ăn được trọn tô phổ.

Lạm phát, Vật giá tăng hay Phá giá Tiền tệ, tất cả đều dựa trên một việc cụ thể, đó là tương đương HÀNG HÓA và ĐỒNG TIỀN. Hàng hóa không thay đổi, một tô phở vẫn là một tô phở dù tháng trước hay tháng này. Nhưng lượng Tiền phải trả tương đương cho một tô phở thì thay đổi: tháng trước 2’000 đồng và tháng này 3’000 đồng. Việc thay đổi lượng tiền này gọi là Lạm phát, Vật giá tăng vọt, Đồng Tiền mất gía (Phá giá Tiền tệ).

Chạy theo Tăng trưởng để tạo Lạm phát,
Tăng trưởng mất ý nghĩa

Khi nói độ Tăng trưởng Kinh tế Quốc gia là 6.7% năm nay, điều đó có nghĩa là Kinh tế Quốc gia được giầu thêm 6.7% sánh với năm trước. Các xí nghiệp đầu tư thêm để tăng sản xuất. Việc đầu tư này là chi tiêu của các xí nghiệp vào trang thiết bị, vào nguyên vật liệu và vào nhân công thâu nhận thêm. Số nhân công nhận thêm có lương để chi tiêu. Tăng trưởng như vậy có nghĩa là tăng chi tiêu từ xí nghiệp đến dân chúng (nhân công) làm cho phía CẨU hàng hóa tăng lên khiến Giá cả hàng hóa theo đà tăng giá, nghĩa là Lạm phát, Vật giá tăng. Muốn giữ Giá cả hàng hóa ổn định khi độ Tăng trưởng làm cho Kinh tế Quốc gia giầu thêm tạo chi tiêu theo hướng Lạm phát, thì quyền lực Tiền tệ phải điều chỉnh Khối tiền lưu hành cho phù hợp với đà Tăng trưởng.

Khi nền Kinh tế Quốc gia được giầu thêm với độ tăng trưởng, thì sự phân phối việc giầu thêm này cũng phải có sự đồng đều tương đối cho các thành phần xã hội.

Nếu độ tăng trưởng của Việt Nam là 6.7% và tạo Lạm phát 6.7% làm cho dân nghèo, nông dân, công nhân và các giới lãnh lương cố định phải chịu hậu quả của Vật giá tăng vọt, thì việc tăng trưởng này mất hẳn ý nghĩa làm giầu cho Quốc gia. Hiện nay, không phải Lạm phát chỉ có 6.7% coi như hậu quả của Tăng trưởng, mà Lạm phát lên tới 11.2%. Nếu Nhà Nước CSVN cố thủ với độ Tăng trưởng mà tạo Lạm phát tới 11.2%, thì không những Tăng trưởng không có ý nghĩa gì về việc làm giầu thêm, mà còn làm cho đại đa số dân chúng sống trong cảnh khổ cực.

Độ tăng trưởng 6.7%, nếu có thực, thì để làm giầu cho ai ? Làm giầu cho một thiểu số người của đảng CSVN mà gây Lạm phát 11.2% làm khổ cho đại đa số dân chúng, thì chủ trương bám chặt lấy Tăng trưởng quả thực là bóc lột.

Nếu độ Tăng trưởng chỉ vào túi riêng nhóm đảng và nhóm này tha hồ chi tiêu làm tăng Vật giá để đại đa số dân chúng phải khổ cực sống thê thảm với việc nhóm đảng này làm tăng Vật gía, thì đây còn là khía cạnh tàn ác tội lỗi của chủ trương Tăng trưởng mà không quan tâm đến Lạm phát như hậu quả.

Trong bao nhiêu năm trường, nhóm đảng thâu vào cho mình những mức Tăng trưởng để tích lũy và tiêu xài hoang phí tạo Lạm phát. Tỉ dụ con gái của Nguyễn Tấn Dũng ăn một tô phở tháng trước với giá 2’000 đồng, nhưng tháng này giá tô phở lên 3’000, cô không quan tâm đến việc giá tô phở tăng 50%. Nhưng đối với công nhân cũng làm việc cho Tăng trưởng mà lương vẫn giữ ở mức 47 đô-la mỗi tháng, thì việc giá tô phở tăng 50% khiến công nhân này chỉ ăn được 2/3 tô phở, nghĩa là phải chịu bụng đói.

Tóm lại, Nhà Nước chủ trương Tăng trưởng để thâu giầu có cho mình mà không quan tâm đến Lạm phát, trong khi đó đại đa số dân chúng quan tâm đến Lạm phát làm mình thiếu ăn, còn Tăng trưởng thì họ không được hưởng gì.


Ngoài lý do Tăng trưởng,
tối thiểu 4.5% Lạm phát có những lý do khác

Theo nhận xét của chúng tôi, Nhà Nước nhấn mạnh đến Tăng trưởng như một cắt nghĩa cho Lạm phát, làm cớ bắt đại đa số dân chúng phải thắt lưng buộc bụng, cam chịu thiếu ăn vì Lạm phát để sống trong hy vọng đà Tăng trưởng làm cho nên Kinh tế Quốc gia giầu thêm để cùng hưởng. Đây là chủ trương đánh lạc hướng Lạm phát mà dân chúng đang phải chịu hiện nay.

Tuy vậy, việc dùng Tăng trưởng 6.7% để cắt nghĩa Lạm phát chỉ có thể cắt nghĩa tối đa Lạm phát 6.7% mà thôi. Trong khi ấy Lạm phát hiện nay là 11.2%, nghĩa là còn 4.5% (11.2% - 6.7%) Lạm phát thì cắt nghĩa bằng cách nào ?

Chúng tôi thấy những lý do sau đây cắt nghĩa Lạm phát chứ không phải chỉ có lý do Tăng trưởng mà Nhà Nước lấy ra để chữa lổi cho mình và tạo hy vọng cho dân chúng:

1) Lý do thứ nhất: Giảm hiệu lực sản xuất sánh với lượng vốn đầu tư

Những Tập đoàn Kinh tế nhà nước nắm chủ động Kinh tế quốc gia. Hiệu quả sản xuất của những Tập đoàn này yếu kém sánh với lượng vốn do nhà nước cung cấp.  Cho dù hàng hóa sản xuất có tăng lên mà Nhà Nước tính vào đà Tăng trưởng, nhưng lượng tăng sản xuất lại giảm sút sánh với lượng vốn đầu tư. Như vậy việc tương đương hàng hóa sản xuất và lượng tiền đầu tư đổ vào gây Lạm phát.

Xin lấy một tỉ dụ để cắt nghĩa Lạm phát sinh ra do sự yếu kém hiệu lực sản xuất. Một xí nghiệp sản xuất thuốc lá nhận được 100’000 đồng. Xí nghiệp sản xuất được 100 bao thuốc với số vốn này. Giá bao thuốc là 100’000 đồng/ 100 bao thuốc = 1’000 đồng. Năm nay, nhà nước tăng vốn 50’000 đồng cho xí nghiệp để giữ Tăng trưởng. Xí nghiệp sản xuất năm nay được 120 bao thuốc. Như vậy Tăng trưởng sản xuất hàng hóa của xí nghiệp là 20% (thêm 20 bao thuốc). Nhưng số vốn cung cấp bởi nhà nước là 50’000 đồng, nghĩa là tăng 50%. Năm trước, giá bao thuốc là 1’000 đồng, năm nay giá bao thuốc là 150’000 đồng/ 120 bao thuốc = 1’250 đồng. Như vậy  Giá bao thuốc tăng lên 250 đồng, nghĩa là Lạm phát 25% cho bao thuốc.

Việc kém hiệu lực sản xuất của các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh đã được nhìn nhận ngay bởi Chính phủ, nhưng Nhà Nước vẫn đổ vốn thêm cho những Tập đoàn này.

2) Lý do thứ hai: Tham nhũng Lãng phí

Tại sao Cơ chế CSVN hiện hành có nhiều Dự án. Mỗi dự án là một dịp ăn Tham nhũng. Cũng vậy, khi thi công Dự án hoặc mua bán thiết bị, vật liệu…, có những món tiền ăn riêng kèm theo đó. Những chủ Dự án khi mua thiết bị, vật liệu…, dễ dàng tăng giá mua lên để tính sổ với Nhà Nước. Món tiền  tăng giá mua được dành ra bỏ vào túi riêng. Họ còn mua những thiết bị “second hand “ từ Nga,  những nước Đông Âu hoặc Trung quốc với giá cao hơn giá thực theo thẩm định. Ông Nguyễn Ngọc Sử không trả nợ đáo hạn và muốn bán một số cơ sở của Vinashin để có tiền hòan nợ. Khi bán những cơ sở này, ông có dịp bán với giá rẻ những cơ sở và người mua tất nhiên tặng riêng ông một số tiền để “cám ơn lòng tốt bán với giá rẻ “.

Tất cả những Tham nhũng này được tính vào Giá thành hàng hóa sản xuất.  Do đó hàng hóa tăng giá (Lạm phát) trong đó có một phần số tiền tham nhũng lãng phí.

CSVN không chịu phế bỏ cái Cơ chế chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế mà lý do không phải là nghĩ đến quyền lợi Kinh tế của Đất nước, mà chính yếu là giữ lấy Cơ chế để có dịp thay phiên nhau chộp dựt tham nhũng cho riêng mỗi cá nhân. Khi có quyền chính trị và có quyền nắm kinh tế, thì người đương nhiệm phải tính toán chộp dựt một số tham nhũng để khi mình hết chức, có tiền riêng tiêu xài.

3) Lý do thứ ba: Phá giá đồng bạc Việt Nam

World Bank, IMF/FMI và cuộc Họp những Nhà Tài trợ nước ngoài đã cảnh cáo tình trạng nợ nần của các Tập đoàn Kinh tế Nhà nước. Vinashin là một tỉ dụ điển hình. Ngân sách nhà nước thiếu hụt,  Dự trữ ngoải hối đã cạn thê thảm. Các Tập đoàn Thảm định quốc tế như MOODY’S, STANDARD & POOR’S đã xuống cấp một số Công ty Việt Nam và ngay cả Trái phiếu của Nhà Nước. Với tình trạng như vậy, Việt Nam rất khó lòng vay vốn nước ngoài.

Nhưng làm thế nào để có thể tiếp tục rót vốn thêm cho những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh, xuất vốn thực hiện những Dự án hoặc có ngân quỹ cho những chi tiêu nhà nước.

Giáo sư AFTALION, một chuyên viên về Tiền tệ tại những nước chưa phát triển hoặc trên đà phát triển, đã nói rằng các Chính phủ của những nước này dễ dàng làm Lạm phát Tiền tệ, nghĩa là in tiền mới ra để chi tiêu.

Đó là hiện tượng phá giá đồng bạc Việt Nam. Thực vậy, đồng bạc Việt Nam đã bị phá giá ba lần và người ta dự phòng sẽ còn phá giá trong năm tới này. Khi đồng bạc bị phá giá, điều đó có nghĩa là phải có lượng tiền lớn hơn để có thể mua cùng một món hàng hóa. Đó là hiện tượng Lạm phát. Việc phá giá đồng bạc Việt Nam trực tiếp làm tăng Lạm phát, Vật giá tăng vọt.

Nhà nước CSVN luôn luôn tìm những lý do để bào chữa cho những việc không tốt do chính mình gây ra. Như trên đã nói, Nhà Nước CSVN chủ trương Tăng trưởng cao như nuôi hy vọng cho dân đang bị khổ cực, đồng thời cắt nghĩa Lạm phát chỉ nguyên bằng Tăng trưởng để trấn an lòng bực tức Lạm phát mà dân chúng đang phải chịu lúc này. Cũntg vậy, việc phá giá đồng bạc Việt Nam trực tiếp làm tăng Lạm phát, thì Nhà Nước lại cắt nghĩa rằng phá giá đồng bạc Việt Nam để tăng cạnh tranh hàng hóa xuất cảng để làm dân chúng hy vọng và nguôi bực tức Lạm phát trực tiếp gây ra do việc Phá giá đồng bạc.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 05.01.2011
Web: http://VietTUDAN.net

 


KIỂM SOÁT GIÁ TẠI VIỆT NAM
KHÔNG HIỆU QUẢ

Jonathan Pincus: "Kiểm soát giá cả bằng biện pháp hành chính khó mang lại hiệu quả."

 

Lạm phát trong năm 2010 của Việt Nam theo dự đoán là trên 10 phần trăm, nhóm hàng lương thực, thực phẩm tiếp tục tăng giá, dù chính phủ đưa ra nhiều biện pháp hành chính để bình ổn giá.

Ông Jonathan Pincus, trưởng khoa của Chương trình Kinh tế Fulbright tại Việt Nam cho BBC Việt Ngữ hay các kiểm soát giá cả bằng biện pháp hành chính khó mang lại hiệu quả.

Jonathan Pincus: Vâng, tôi cho rằng dùng công cụ hành chính để kiểm soát giá khó mà mang lại hiệu quả. Ở Việt Nam, hàng hóa tăng giá do một số lý do, nguyên nhân hàng đầu thuộc về chính sách tài khóa và tiền tệ. Nếu các quy định về vay mượn, về lãi xuất ngân hàng tiếp tục được điều hành một cách lỏng lẻo, nếu ngân sách quốc gia tiếp tục bị thâm thủng (chi nhiều hơn thu), rồi chính sách tiền tệ không mang tính hạn chế, cách làm như vậy sẽ gây ra lạm phát. Chúng là nguyên nhân làm cho đồng tiền của Việt Nam mất giá. Khi nhập hàng về bán ở trong nước, chúng mang theo lạm phát. Cạnh đó còn là tác động của chi phí đầu vào, ví dụ lương thực, thực phẩm thế giới cũng tăng giá thời gian gần đây.

Kiểm soát giá cả không giải quyết bất cứ một trong bốn nguyên nhân này. Nếu giới chức không cho phép nhà sản xuất tính giá thị trường đối với hàng hóa, điều xảy ra là thị trường chợ đen khi ấy sẽ khá sôi động. Một số đầu mối sẽ tích trữ hàng hóa, họ không muốn bán theo giá “đã đăng ký”. Điều này sẽ làm cho hàng hóa ở chợ đen tăng giá. Và nhà sản xuất sẽ bán hàng qua kênh chợ đen. Những thứ như vậy hay xảy ra khi giới chức tiến hành kiểm soát giá.

Tình cảnh như vậy không chỉ xảy ra tại Việt Nam. Mà ở nhiều nơi khác trên thế giới. Nhất là khi người ta dùng biện pháp hành chính để kiểm soát giá, trong khi hàng hóa đắt lên vì những lý do khác. Chính sách như vậy chỉ khuyến khích một số cơ sở, người dân tích trữ hàng hóa. Chúng sẽ làm hàng hóa tăng giá cao hơn. Và làm cho lạm phát tăng mạnh hơn.

BBC: Liệu kiểm soát giá các mặt hàng thiết yếu ở Việt Nam, trong đó có sữa bột, có vi phạm nguyên tắc tự do thương mại của WTO hay không?

Jonathan Pincus: Tôi không phải là luật sư nên tôi không rõ liệu kiểm soát giá ở việt Nam có vi phạm điều luật WTO hay không. Các quy định của WTO trong lĩnh vực này khá phức tạp. Ông hỏi liệu kiểm soát giá ở Việt Nam có vi phạm nguyên tắc thương mại công bằng của WTO hay không? Có thể có. Và có thể không. Một số người hiểu theo cả hai cách. Giải thích của chính phủ là biện pháp theo dõi giá không vi phạm quy định của WTO vì Hà Nội không phân biệt lĩnh vực kinh doanh. Hoặc công ty trong nước, công ty ngoại quốc. Cả hai khối công ty, nội và ngoại, đều được yêu cầu đăng ký, và kìm giữ giá hàng hóa, nếu lệnh kiểm soát giá được ban hành.

Đó cũng là quan điểm của chính phủ. Phòng TM và CN của Hoa Kỳ (Amcham) có thể có cái nhìn khác. Cố vấn luật pháp của họ có thể nói rằng đã xảy ra phân biệt đối xử giữa công ty trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên quan điểm của chính phủ là họ không phân biệt ai cả, mọi người đang được đối xử một cách bình đẳng.

Bản thân thông tư kiểm soát giá không mang tính phân biệt đối xử, khi đưa ra quy định chung cho nhóm mặt hàng cần kiểm soát về giá. Nhưng rất có thể cách thực hiện, cách kiểm tra lại mang tính phân biệt đối xử.

BBC: Ông đã sống ở Việt Nam trong nhiều năm. Thưa ông tại sao lạm phát năm nay lại ở mức hai con số?

Jonathan Pincus: Lý do lạm phát tăng mạnh tại VN - mà không xảy ra ở những nước khác trong vùng là chính sách tài khóa và tiền tệ có phần dễ dãi. Kết quả là thâm thủng ngoại thương ở mức cao. Rồi tiền đồng mất giá. Đây là các nguyên nhân cơ bản khiến cho hàng hóa tăng giá. Các nước khác trong vùng họ có cán cân thương mại thặng dư, đồng tiền lên giá, giá các mặt hàng thiết yếu khá ổn định. Là vì họ không bị thâm thủng mậu dịch lớn, họ có chính sách tài khóa và tiền tệ hiệu quả hơn.

 







TRUNG QUỐC VÀ HOA KỲ: THẾ VÀ LỰC

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

...Obama có nhu cầu chứng tỏ sự ôn hoà nhũn nhặn, nhưng khó chờ đợi gì hơn...

Đáp lời mời của Tổng thống Barack Obama từ tháng 11 năm kia tại Bắc Kinh, và sau nhiều trở ngại lẫn đình hoãn năm ngoái, Chủ tịch Hồ Cầm Đào chính thức viếng thăm Hoa Kỳ từ chiều Thứ Ba 18 tháng Giêng. Kể từ năm 2006, đây là lần đầu tiên mà Chủ tịch Trung Quốc thăm nước Mỹ với tư cách quốc khách khi quan hệ đôi bên lại chồng chất thêm bao vấn đề nhạy cảm, trong đó tất nhiên có hồ sơ kinh tế. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về hồ sơ này qua cuộc trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây hầu quý thính giả.

Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào chính thức thăm viếng Hoa Kỳ trong bốn ngày. Khác với lần trước vào năm 2006, lần này, có lẽ ông được đón rước trọng thể hơn, nhưng quan hệ giữa hai quốc gia lại có nhiều vấn đề khá gay gắt, trong đó tất nhiên là có hồ sơ kinh tế. Để thính giả dễ theo dõi diễn biến của chuyến thăm viếng và những mâu thuẫn trong hồ sơ kinh tế, chúng tôi xin đề nghị ông trình bày cho bối cảnh của vấn đề.

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói về bối cảnh, tôi xin trình bày sự thể khách quan trước, sau đó sẽ nói về các vấn đề riêng của từng nước, rồi mình mới đề cập tới hồ sơ kinh tế giữa hai quốc gia.
- Trước hết, Hoa Kỳ là siêu cường Á châu từ 60 năm nay, đã buôn bán với châu Á nhiều hơn với châu Âu từ gần ba chục năm nay, chính xác là từ năm 1983. Với dân Mỹ, đại lục địa này là vùng địa dư chiến lược cho quyền lợi quốc gia, nơi mà họ đầu tư trực tiếp nhiều gấp rưỡi tổng số đầu tư ngoại quốc của tất cả 24 nước Á châu, kể cả Nhật Bản, Hong Kong hay Úc Đại Lợi. Hoa Kỳ cũng tiếp nhận gần 300 tỷ đô la đầu tư của các nước Á châu, kể cả Trung Quốc hiện nay thật ra chưa sánh vào đâu.
- Với dân số là một tỷ 300 triệu, đông hơn bốn lần nước Mỹ, Trung Quốc có sản lượng gần 6.000 tỷ đô la. Dù mới chỉ bằng 40% của Mỹ thì cũng vượt qua Nhật từ năm ngoái để thành nền kinh tế thứ nhì thế giới, nếu kể về mệnh giá của đồng bạc. Trung Quốc là một cường quốc đang lên và muốn có vị trí tương xứng với thế lực kinh tế của mình, trước tiên là tại châu Á.

Việt Long: Thưa ông, như vậy, khách quan mà nói thì Hoa Kỳ là siêu cường toàn cầu và coi châu Á là khu vực chiến lược. Trung Quốc là một cường quốc mới nổi và đòi có cái thế xứng đáng với cái lực kinh tế của mình, trước tiên là tại Á châu. Thế rồi, quan hệ đôi bên xoay chuyển ra sao mà sau khi giải tỏa cho Trung Quốc mở của ra ngoài từ năm 1972, và cho xứ này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO 10 năm về trước, Hoa Kỳ lại thấy Trung Quốc là vấn đề?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Lý do thì có rất nhiều.
- Lãnh đạo Trung Quốc cho là mình có cái thế kinh tế và cái quyền chính đáng sau khi xứ sở bị lụn bại trong hơn một thế kỷ và bị liệt cường sâu xé. Tinh thần "tự kỷ ám thị" truyền thống khiến họ cho rằng các nước khác - nhất là Mỹ - có ý đồ thù nghịch khi đòi họ phải tuân thủ những nguyên tắc hành xử có thể thu hẹp khả năng của họ.
- Lãnh đạo Mỹ thuộc cả hai đảng thì trông đợi Trung Quốc là cường quốc biết điều và cùng thế giới tham gia giải quyết các vấn đề lớn của địa cầu nên muốn hợp tác trong tinh thần tích cực đó. Từ mấy năm nay, họ thấy sự thể lại không tốt đẹp như vậy, nhất là khi Hoa Kỳ còn mắc bận vào trận chiến chống khủng bố thì Trung Quốc trở thành ngang ngược hơn.
- Quốc hội Mỹ có nêu ra vấn đề, như Bắc Kinh thiếu thiện chí hợp tác trong nhiều hồ sơ của thế giới, từ việc giải trừ nguy cơ nhiệt hoá địa cầu tới việc can gián các chế độ gây bất ổn, như Iran tại Trung Đông và Bắc Hàn tại Đông Bắc Á hay nguy cơ nội chiến tại Sudan. Đã chẳng hợp tác, Bắc Kinh còn tìm lợi thế riêng khi khai thác sự bất ổn do các chế độ ấy gây ra, lẫn lợi dụng diễn đàn quốc tế, kể cả Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, để cản trở cộng đồng thế giới. Bên trong, Bắc Kinh chà đạp nhân quyền và đàn áp các khu vực như Tân Cương, Tây Tạng. Bên ngoài, Bắc Kinh bành trướng thế lực quân sự để uy hiếp các nước Á châu và còn trực tiếp đe dọa quyền lợi Mỹ bằng các nghiệp vụ tình báo, phá hoại mạng lưới điện toán, tuyên truyền và xuyên tạc.
- Loại vấn đề ấy khiến quan hệ đôi bên căng thẳng và thượng đỉnh bị trở ngại cho tới khi lãnh đạo hai nước đồng ý là phải gặp gỡ, dù để nói ra chuyện bất đồng. Lần này người ta cho rằng có ít ra năm đề mục then chốt sẽ phải được thảo luận. Thứ nhất là nhân quyền, thứ nhì là Bắc Hàn, thứ ba là Iran, thứ tư là đối thoại về quân sự và thứ năm mới là hồ sơ kinh tế.

Việt Long: Bây giờ, bước qua hồ sơ kinh tế và tiến vào loại vấn đề chủ quan của hai nước, thưa ông, mâu thuẫn ở đây là gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trước hết là vấn đề ngoại hối, nhưng không chỉ có chuyện ấy.
- Kinh tế Hoa Kỳ có sức tiêu thụ trị giá hơn 10.000 tỷ đô la một năm và là thị trường nhập khẩu số một của thế giới. Trung Quốc là nước xuất khẩu số một và bán cho Mỹ hơn 290 tỷ đô la hàng hóa mà chỉ mua về có hơn 70 tỷ nhờ đó đạt xuất siêu mạnh với Hoa Kỳ và càng ngày càng nhiều.
- Từ năm năm nay, Hoa Kỳ thấy đó là vấn đề và yêu cầu Bắc Kinh chấm dứt việc neo giá đồng bạc của họ vào Mỹ kim theo tỷ giá quá thấp làm hàng Trung Quốc thành quá rẻ nên thực tế là cạnh tranh bất chính. Vì bị áp lực, Bắc Kinh có điều chỉnh tỷ giá đồng bạc, mà chỉ được vài năm và lên chừng 20% thì kinh tế thế giới bị Tổng suy trầm 2008-2009 nên lại trở về nếp cũ là định giá đồng Nguyên rất thấp để xuất khẩu dễ hơn hầu kinh tế của họ khỏi suy sụp. Do đó, Quốc hội Mỹ mới gây áp lực suốt năm ngoái và lần này, vấn đề ngoại hối sẽ lại được đặt ra.

Việt Long: Ông nói hồ sơ kinh tế không chỉ có chuyện ngoại hối, tức là còn vấn đề khác? Thí dụ như việc Trung Quốc nay đã thành chủ nợ của Mỹ và than phiền về chính sách kinh tế Hoa Kỳ? Chẳng hạn như chính ông Hồ Cẩm Đào đã phát biểu trên nhật báo Washington Post rằng thời thống trị của đồng Mỹ kim đã chấm dứt.

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Quả là có vấn đề này thật, nhưng chỉ là ấn tượng xoay thành chính trị.
- Sau nhiều năm xuất siêu và gom vào dự trữ ngoại tệ nay đã lên tới 2.850 tỷ đô la, Trung Quốc quả là cho Mỹ vay tiền và nắm trong tay hơn 900 tỷ đô la Công khố phiếu Hoa Kỳ, chưa kể hơn 450 tỷ đầu tư vào hai doanh nghiệp bán công là Fannie May và Freddie Mac. Vì vậy, lãnh đạo xứ này nghĩ là ta nắm dao đằng chuôi và trên thế mạnh đó có thể gây áp lực về nhiều chuyện khác. Kể cả đòi triệt hạ uy thế Mỹ kim và đòi đưa đồng Nhân dân tệ lên loại ngoại tệ dự trữ. Nhưng sự thật nó lại rắc rối hơn vậy, vì cái thế của Trung Quốc chưa thể bằng cái lực của Mỹ!
- Ta biết Hoa Kỳ mắc nợ cỡ 14.000 tỷ đô la, trong đó nợ công chúng là hơn 9.000, phần còn lại là chính phủ nợ nhà nước! Phân nửa khoản 9.000 này là nợ nước ngoài; phân nửa số ngoại trái hơn 4.000 đó là nợ các nước Á châu, là hơn 2.000 tỷ. Khoản nợ với Trung Quốc chưa bằng phân nửa số đó, tức là chỉ ở khoảng 10% tổng số nợ của Mỹ với công chúng mà thôi.
- Thật ra, nếu đầu tư cách khác mà an toàn và có lời hơn thì Bắc Kinh đã chẳng mua Công khố phiếu Mỹ! Khốn nỗi, thị trường trái phiếu Mỹ có mức lưu hoạt và có độ sâu và rộng nhất so với các thị trường khác, kể cả thị trường lớn hơn mà kém giá trị là Nhật Bản. Vì vậy Bắc Kinh cho Mỹ vay thì vẫn an toàn hơn cả, nhưng vẫn gây ấn tượng, tức là làm ra vẻ, cứu giúp nước Mỹ.
- Thứ nữa, Mỹ kim vẫn là ngoại tệ phổ biến nhất, sử dụng cho 40% lượng giao dịch toàn cầu và chiếm 70% số dự trữ ngoại tệ của các nước trên thế giới nên vẫn duy trì được thế đứng của nó ít ra vài chục năm nữa. Trong khi ấy, đồng Nhân dân tệ chưa thể là ngoại tệ giao hoán phổ biến và càng khó là ngoại tệ dự trữ khi chưa được trao đổi tự do, với giá trị lên xuống theo quy luật cung cầu. Muốn như vậy thì Bắc Kinh phải thả nổi đồng bạc, như các nước yêu cầu từ lâu mà họ không dám làm! Tựu trung thì đây chỉ là chuyện tuyên truyền của lãnh đạo để ru ngủ dư luận người dân ở nhà về thế lực của quốc gia và để dọa nạt những người ít hiểu biết ở bên ngoài. Thật ra, tranh chấp kinh tế giữa hai nước nằm ở chỗ khác.

Việt Long: Như ông thấy thì những mối tranh chấp này là gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Sau nhiều thập niên tiêu thụ nhiều mà tiết kiệm ít đi, Hoa Kỳ lại bị nạn Tổng suy trầm 2008-2009 và năm qua gây bội chi quá lớn rồi vay mượn quá nhiều. Vì vậy, nước Mỹ đang bước vào chu kỳ điều chỉnh để chi tiêu dè xẻn hơn hầu còn trả nợ. Và phải xuất khẩu nhiều hơn, hết nhập khẩu dễ dàng như trước. Đó là một lẽ khách quan.
- Khi Tổng thống Obama ban bố quốc sách xuất khẩu vào tháng Ba năm ngoái, với chủ trương là bộ máy công quyền phải yểm trợ các doanh nghiệp tăng gia xuất khẩu, Bắc Kinh coi đó là điều cực bất lợi. Lý do là kinh tế Trung Quốc vẫn còn quá lệ thuộc vào xuất khẩu và vào thị trường nhập khẩu Hoa Kỳ.
- Bây giờ, trong bối cảnh bất trắc đó, Trung Quốc lại e sợ là đà tăng trưởng năm nay có thể giảm, chỉ còn hơn 8%, là điều rất nguy vì sẽ gây ra thất nghiệp và động loạn xã hội. Đã vậy, xuất khẩu năm nay có lẽ chỉ tăng 10% thay vì 30% như năm ngoái. Vì đôi bên đều cần bán hàng nhiều hơn cho nên yêu cầu đối nghịch về ngoại thương đưa hai quốc gia vào mọi loại tranh chấp kinh tế.
- Ngoài vấn đề ngoại hối, hai bên cùng tranh cãi tội vi phạm quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới và phía Hoa Kỳ còn khiếu nại nhiều chuyện. Như Trung Quốc không tôn trọng những cam kết về việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, cản trở doanh nghiệp My đầu tư vào Hoa lục trong khi vẫn nâng đỡ và trợ cấp doanh nghiệp của mình một cách bất chính. Vì những mâu thuẫn chằng chịt và phải nói là sinh tử cho cả hai, tôi trộm nghĩ là thượng đỉnh kỳ này sẽ không thể giải quyết được hết và kết quả là sẽ gây căng thẳng cho quan hệ giữa hai nước trong năm nay.

Việt Long: Thưa Chủ tịch Hồ Cầm Đào sẽ về hưu sau Đại hội 18 trong hai năm tới, cũng là khi Tổng thống Obama lại tái tranh cử, vào năm 2012 đó. Vì vậy, hai người phải chứng tỏ là mình có đạt thành quả gì từ Thượng đỉnh này chứ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là có. Ông Hồ Cẩm Đào có nhu cầu tuyên truyền về thành quả  với dân chúng và nhất là thuyết phục các lãnh tụ khác ở nhà về sự cứng rắn của mình khi đi Mỹ.
- Với dư luận Mỹ, ông cũng cần phô bày thiện chí hợp tác của Trung Quốc. Ông ta vận dụng các doanh nghiệp Mỹ đang làm ăn tại Hoa lục để nói tốt cho Trung Quốc; hứa hẹn nhiều hợp đồng lên tới cả chục tỷ để chiêu dụ doanh gia Mỹ; sẽ thăm một hãng sản xuất phụ tùng có vốn đầu tư Trung Quốc tại Chicago để nói tới sự đóng góp của Trung Quốc cho kinh tế và công nhân Mỹ, sẽ nói tới hy vọng hợp tác để phát triển công nghệ sạch, v.v... Nhưng kể về thực lực thì phần đóng góp đó của Trung Quốc chưa có gì đáng kể và thua xa nhiều nước Á châu khác, từ New Zealand nhỏ xíu tới Đài Loan, Ấn Độ, Nam Hàn đến Úc hay Nhật.
- Phần mình, Tổng thống Obama có nhu cầu chứng tỏ sự ôn hoà nhũn nhặn, nhưng khó chờ đợi gì hơn từ phía Bắc Kinh về chuyện kinh tế. Trong khi về an ninh, ông không thể nhượng bộ gì thêm khi mà đảng Cộng Hoà đã chiếm thế mạnh trong Quốc hội và đòi hỏi một lập trường cứng rắn hơn với Bắc Kinh về các hồ sơ an ninh và quân sự. Vì vậy mà thượng đỉnh này sẽ có ấn tượng hào nhoáng tưng bừng, nhưng khó san bằng những dị biệt giữa hai nước.

Việt Long: Xin cảm tạ ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

 







TRUNG QUỐC ĐỪNG NHẦM HOA KỲ YẾU THẾ   

Tác Giả: Joseph Nye Giáo sư Đại học Harvard, Hoa Kỳ    
 

Có học giả Trung Quốc đánh dấu năm 2000 là năm sức mạnh Hoa Kỳ lên tới đỉnh điểm.

Tại Trung Quốc có những người tin rằng Hoa Kỳ đang yếu thế

Khi ông Barack Obama lên làm Tổng thống Mỹ, một trong các ưu tiên của ông là cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Nhưng nay, trước khi Chủ tịch Hồ Cẩm Đào sang thăm Washington, quan hệ Mỹ - Trung đang xấu đi chứ không tốt hơn.

Các quan chức của chính quyền Mỹ cảm thấy những nỗ lực của họ nhằm vươn ra bắt tay Trung Quốc bị hất bỏ.

Điều trớ trêu là hồi năm 2007, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã nói với các đại biểu dự Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 17 rằng nước này cần đầu tư nhiều hơn vào quyền lực mềm, vào sức hấp dẫn của chính mình.

Từ quan điểm của quốc gia đang có những bước đi vươn ra, cao rộng cả về kinh tế và quân sự, đây thực là một chiến lược khôn ngoan.

Với các nỗ lực nhằm biến Trung Quốc thành một quốc gia đáng mến hơn, đi cùng với sự trỗi dậy của 'quyền lực cứng', về quân sự và kinh tế, Trung Quốc nhắm tới chỗ giảm đi lo sợ và các xu hướng nhằm cân bằng lại quyền lực Trung Quốc vốn có thể nảy sinh ra ở các nước láng giềng.

Nhưng cách hành xử của Trung Quốc thì lại trái ngược hẳn, và năm qua là một năm tồi cho chính sách ngoại giao chỉ có một nửa này của Trung Quốc.

Chủ nghĩa dân tộc đang lên

Trong nhiều năm, Trung Quốc đã làm theo lời ông Đặng Tiểu Bình, đó là giữ mình thủ thế.

Nhưng vì phục hồi kinh tế thành công sau suy thoái, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản, trở thành nền kinh tế thứ nhì thế giới.

Trình diễn mô hình tàu vũ trụ nhân Quốc kháng Trung Quốc hồi năm 2009

Cùng lúc, sự phục hồi chậm của nước Mỹ đã khiến nhiều người Trung Quốc nhầm tưởng và kết luận rằng nay Hoa Kỳ đang xuống dốc.

Cách suy tính này, cộng với chủ nghĩa dân tộc đang dâng lên tại Trung Quốc trong quá trình chuẩn bị chuyển giao quyền lực cho thế hệ lãnh đạo thứ năm vào 2012, đang khiến những người ở Trung Quốc muốn có một chính sách ngoại giao cứng rắn hơn.

Năm 2009, Trung Quốc mới chỉ tự hào là đã thành công trong quá trình thoát ra khỏi suy thoái kinh tế toàn cầu với tăng trưởng 10 phần trăm.

Nhưng nhiều người Trung Quốc tin rằng nay đã là thời điểm có một sự dịch chuyển trong cán cân quyền lực quốc tế, và rằng Trung Quốc cần phải tỏ ra ít lắng nghe các nước khác hơn, kể cả nước Mỹ.

Các học giả Trung Quốc bắt đầu viết về sự xuống dốc của Hoa Kỳ.

Một vị đưa ra năm 2000 là điểm quyền lực nước Mỹ đạt đỉnh điểm.

Người ta nay khinh thị Phương Tây, từ giới lãnh đạo cho tới giới khoa bảng và dân thường / GS Khang Hiểu Quang

Giáo sư Khang Hiểu Quang tại Đại học Nhân dân ở Bắc Kinh cho rằng: "Người ta nay khinh thị Phương Tây, từ giới lãnh đạo cho tới giới khoa bảng và dân thường".

Quan điểm này của Trung Quốc là một sai lầm nghiêm trọng và Trung Quốc chưa thể có khả năng bằng nổi Hoa Kỳ về kinh tế, quân sự cũng như quyền lực mềm trong những thập niên sắp tới.

Tuy thế, chính sự tự kiêu quá mức trong đánh giá quyền lực, cộng với cảm giá bất an trong các vấn đề nội bộ, khiến chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong hai năm qua trở nên cứng rắn hơn.

Trung Quốc đã tính toán sai khi rời xa chiến lược khôn ngoan của một cường quốc đang lên, và làm sai hẳn lời căn dặn thông thái của ông Đặng Tiểu Bình rằng nước này cần tiến lên thận trọng và "khôn khéo cúi đầu".

Nhưng cảm quan bên ngoài về Trung Quốc, cho dù sai, là điều có tác động.

Thái độ mới có của Trung Quốc đã làm chính quyền Obama phật ý.

Chuyến thăm của Tổng thống Obama sang Bắc Kinh hồi tháng 11/2009 được Trung Quốc dàn dựng và xử lý khá thô; nước này cũng phản ứng quá mức trước cuộc gặp của ông Obama với Đức Đạt Lai Lạt Ma, và trước vụ bán vũ khí cho Đài Loan đã lên kế hoạch từ lâu trước đó.

GS Joseph Nye nhiều lần sang châu Á và từng đến cả Việt Nam để thuyết giảng về 'quyền lực mềm'

Khi được hỏi vì sao họ phản ứng mạnh như vậy trước những điều trong quá khứ họ chấp nhận, một số người Trung Quốc đáp trả: "Vì trước đây chúng tôi yếu hơn".

Quan chức chính quyền Obama bắt đầu tin rằng các cố gắng nhắm tới hợp tác và hòa giải sẽ chỉ được Trung Quốc diễn giải theo hướng Hoa Kỳ đang xuống dốc.

Ứng xử lên gân của Trung Quốc cũng đang ảnh hưởng tới quan hệ của nước này với các quốc gia khác.

Chính sách tại vùng biển Nam Trung Hoa của Bắc Kinh đang khiến các nước Asean lo sợ; và thái độ quá mức của họ trước hành động của Nhật Bản trong vụ đảo Senkaku đã chấm dứt hoàn toàn hy vọng của đảng Dân Chủ Nhật, muốn có giao hảo gần với Trung Quốc hơn. Đổi lại, chính quyền Naoto Kan nay xác tín lại liên minh với Hoa Kỳ.

Bắc Kinh cũng làm phật ý Hàn Quốc vì không chịu phê phán vụ Bắc Triều Tiên bắn pháo vào hòn đảo của miền Nam.

Trung Quốc làm Ấn Độ bực bội về vụ biên giới và hộ chiếu, và chỉ làm mình tự xấu mặt ở châu Âu và các nơi khác với cách phản ứng quá trớn khi giải Nobel Hòa bình được trao cho nhà bất đồng chính kiến đang ngồi tù, ông Lưu Hiểu Ba.


Tất cả những điều này sẽ tiếp tục ra sao trong năm nay?

Có nhiều khả năng các lãnh đạo Trung Quốc sẽ giảm bớt thái độ cứng rắn đã làm họ phải trả giá đắt.

Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nêu ra mong muốn hợp tác trong lĩnh vực chống khủng bố, ngăn ngừa phổ biến vũ khí nguyên tử và cổ vũ cho năng lượng sách sẽ giúp cho việc giảm căng thẳng.

Nhưng các nhóm đặc quyền tại Trung Quốc trong ngành xuất khẩu và trong Quân Giải phóng sẽ hạn chế mọi hợp tác kinh tế và hải quân.

Quan trọng hơn, vì chủ nghĩa dân tộc đang dâng cao trong giới blogger Trung Quốc, sẽ rất khó để các nhà lãnh đạo thay đổi đường lối một cách mạnh mẽ.

Chyến thăm cấp nhà nước của ông Hồ sẽ giúp cải thiện vấn đề, nhưng bang giao hai nước sẽ vẫn còn khó khăn chừng nào người Trung Quốc còn bị căn bệnh ảo tưởng rằng Hoa Kỳ đang xuống dốc.

Giáo sư Joseph Nye giảng dạy tại Đại học Harvard và là tác giả cuốn 'The Future of Power'. Ông cũng từng giữ chức Thứ trưởng Quốc phòng và An ninh Quốc tế, và cựu Chủ tịch Hội đồng Tình báo Quốc gia của Hoa Kỳ.

 





xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
GIU LAI NHUNG BAI TRUOC DE CHUYEN VAO PHAN LUU TRU==============>
**************************************************************************************************** 


                             NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:

                                     CSVN QUỴT NỢ HAY KHÔNG ?

 
                        Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                           Geneva, 22.12.2010
                                      Web: http://VietTUDAN.net

 
Thực ra chỉ có những siêu thánh nhân, sống hoàn toàn vì tinh thần, mới không có ý tưởng quỵt nợ. Tuy vậy, nếu siêu thánh nhân cũng phải ăn uống cho thân xác mình sống, thì khi có dịp, cũng dễ dàng tìm cách quỵt nợ. Khi FREUD nói tính dâm dục là động lực, thì ngày nay trong sự khó khăn kiếm phương tiện sống, Tiền bạc còn là động lực mạnh hơn tính dâm dục. Ngồi trong phòng tối riêng lẻ với mỹ nhân mà không ai có thể soi mói (Báo chí phanh phui), tính dâm dục dễ dàng trổi dậy. Cũng vậy, có quyền lực sinh sát (Chính trị độc tài bịt miệng người khác) mà ngồi bên đống vàng, thì lòng tham Tiền bạc cũng làm thánh nhân biển thủ mấy thỏi vàng vào túi riêng vì nếu có ai nói tới, thì mình bỏ tù theo điều 88 Hình Luật Việt Nam.

Về Tiền bạc, thì không bao giờ nói đến hai chữ TIN TƯỞNG, mà tâm trí dễ nghĩ đến hai chữ LỪA ĐẢO. Có người hỏi tôi tại sao vậy ? Tôi trả lời liền rằng chính tôi không TIN TƯỞNG vào tôi về Tiền bạc, thì làm sao tôi TIN TƯỞNG vào người khác về Tiền bạc. Tôi trưng dẫn hai tỉ dụ để chứng minh lời tôi nói:

=>       Tỉ dụ thứ nhất: Buổi tối, nếu tôi ra ngoài đi uống bia, tôi chỉ bỏ vào túi chừng 20 quan Thụy sĩ, chứ không mang ví tiền đi theo với Credit Cards. Khi uống bia hết 20 quan Thụy sĩ thì về nhà ngủ. Còn nếu mang ví tiền đi và Credit Cards, thì khi hứng lên hoặc ngà ngà say,nhất là gặp nữ giới ưng ý, rút tiền ra và ký Credit Cards hoang phí vô ích. Điều này có nghĩa là chính tôi không TIN TƯỞNG vào tôi lúc ngà ngà say.

=>       Tỉ dụ thứ hai: Về tình cảm, khi đôi trai gái hoàn toàn TIN TƯỞNG nhau, thề thốt nếu một người chết, thì mình cũng chết theo cho trọn mối tình lý tưởng. Thế rồi hai người lấy nhau. Nhưng vừa làm đám cưới, thì hai người ký giấy phân chia Tiền bạc riêng lẻ (séparation des biens), nghĩa là không TIN TƯỞNG nhau về Tiền bạc, mặc dầu hoàn toàn TIN TƯỞNG nhau về tình cảm.

Chính vì việc không thể TIN TƯỞNG nhau về Tiền bạc, mà tôi muốn bàn đến vấn đề VINASHIN xin hoãn USD.60 triệu đáo hạn phải trả ngày 20.12.2010. Khi xin hoãn trả nợ, đó chỉ là lời hứa hẹn trả nợ ký bởi một bên bởi VINASHIN để yều cầu phía Chủ nợ TIN TƯỞNG vào lời hứa về Tiền bạc. Phía Chủ nợ chưa trả lời vì chưa TIN TƯỞNG vào lời hứa hẹn của Vinashin. Chúng ta không thể trách phía Chủ nợ và đòi buộc phía Chủ nợ phải TIN TƯỞNG vào lời hứa của mình.

Vấn đề QUỴT NỢ hay TRẢ NỢ Tiền bạc không còn nằm ỡ bình diện tạo niềm TIN TƯỞNG, tạo DANH DỰ suông, mà nằm ỡ chỗ tính toán QUYỀN LỢI khi QUỴT NỢ hay TRẢ NỢ.

Phía Chủ nợ chưa trả lời cho yêu cầu hoãn nợ của phía CSVN (Vinashin và Nhà Nước) vì họ đang tính toán dùng việc làm mất QUYỀN LỢI cho phía CSVN để bắt ép phải trả nợ. Phía CSVN cũng tính toán QUYỀN LỢI khi xin hoãn nợ hoặc quỵt nợ sau này.  Chúng tôi xin mượn lời của Giáo sư Jonathan PINCUS, Kinh tế gia tại Trường Harvard Kennedy ỡ Thành phố Hồ Chí Minh, tóm tắt về hậu quả QUYỀN LỢI nếu phía CSVN không trả USD.60 triệu đúng hạn :

« If Vinashin doesn’t pay, it will make it more expensive for any Vietnamese entity, government-ownered or otherwise, to get overseas financing. People in the government don’t seem to be thinking long-term about the implications of this for Vietnam’s fiancial credibility “ (Bloomberg, by Katrina NICHOLAS, 20.12.2010, from Singapore)

(Nếu Vinashin không trả, việc này sẽ làm nợ nần trở thành rất mắc mỏ cho bất cứ Công ty Việt Nam nào, quốc doanh hay không quốc doanh, về việc có được tài chánh nước ngoài. Những người trong Chính phủ dường như không nghĩ đến dài hạn về việc này đối với lòng  tin tưởng tài chánh dành cho Việt Nam).

Giáo sư Jonathan PINCUS nói về việc mất QUYỀN LỢI cho phía Việt Nam trong tương lai nếu không trả vốn đúng hạn: (i) Tín dụng nước ngoài sẽ trở thành mắc mỏ; và (ii) mất lòng Tin tưởng về Tài chánh lâu dài cho Việt Nam. Giáo sư đã đứng ở lãnh vực QUYỀN LỢI chung cho Việt Nam mà nói, nghĩa là đứng ở phạm vi mất QUYỀN LỢI cho Dân chúng Việt Nam. Phía Chủ nợ cũng tác động trên việc mất QUYỀN LỢI chung cho Việt Nam để bắt ép Vinashin hoàn vốn.

Nhưng điều quan trọng là Nguyễn Ngọc Sử, tân Tổng Giám đốc Vinashin, và Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ đồng chịu trách nhiệm, có vì QUYỀN LỢI chung của Dân chúng Việt Nam mà TRẢ NỢ hay chỉ tính QUYỀN LỢI riêng mà QUỴT NỢ. Thực vậy, chúng tôi có thể nói ngay rằng nếu vì QUYỀN LỢI chung cho Dân chúng Việt Nam, thì hai người có thể lo liệu hoàn món nợ USD.60 triệu đúng hạn để tránh nhửng thiệt hại như Giáo sư Jonathan PINCUS đã nói. Nhưng Nguyễn Ngọc Sử và Nguyễn Tấn Dũng chỉ tính toán QUYỀN LỢI riêng tư mà xin hoãn nợ để rồi QUỴT NỢ. Chúng tôi xin cắt nghĩa việc tính toán QUYỀN LỢI riêng tư mỗi người như sau:

*          QUYỀN LỢI riêng tư Nguyễn Ngọc Sử

Nguyễn Ngọc vừa được chỉ định làm Tổng Giám đốc, chưa được ăn uống riêng tư gì cả, mà đã phải nhận trách nhiệm hoàn vốn. Chính vì vậy, nếu phải hoàn vốn, thì ông cũng xin phải có thời gian để kiếm chác được gì khi hoàn vốn. Ông tính toán sẽ bán một số cơ sở của Vinashin để thâu tiền mà hoàn vốn. Ông đã nói rõ rằng trong một năm có thể bán những cơ sở thâu vào chừng USD.1 tỉ để có thể hoàn vốn. Khi bán những cơ sở này, ông chắc chắn thâu riêng cho ông một số tiền. Tỉ dụ, ông bán với giá rẻ, nhưng người mua đút vào túi ông một số tiền. Thực hiện việc bán cơ sở như vậy, ông sẽ đút túi riêng một số tiền lớn, lúc đó ông hoàn vốn mà không thương tiếc gì QUYỀN LỢI chung.

*          QUYỀN LỢI riêng của Nguyễn Tấn Dũng

Nguyễn Tấn Dũng đồng chịu trách nhiệm về số tiền USD.4.4 tỉ thất thoát của Vinashin. Trong số tiền khổng lồ này đã có phần của Nguyễn Tấn Dũng. Chính phủ Việt Nam đã bảo đảm cho việc vay USD.600 triệu, nhưng bay giờ ông muối mặt từ chối trách nhiệm hoàn nợ vì lo sợ những Tập đoàn quốc doanh khác thua lỗ cũng bắt ông phải chịu trách nhiệm. Mặt khác ông muốn từ chối trách nhiệm vì muốn còn giữ chức Thủ tướng hoặc khỏi bị truy tố. Đó là việc tính toán QUYỀN LỢI riêng tư. Ông không còn nghĩ đến những thiệt hại QUYỀN LỢI chung của cả Việt Nam mà Giáo sư Jonathan PINCUS đã nói.

 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 22.12.2010
Web: http://VietTUDAN.net





NHỮNG LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI ĐỨNG LÊN
DẸP KINH TẾ MAFIA QUỐC DOANH CSVN

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 16.12.2010
Web: http://VietTUDAN.net


Trong những tháng gần đây nhất, chúng ta nhận thấy những biến chuyển của tình hình Việt Nam trong chiều hướng đi đến những thay đổi quan trọng nhằm chính Cơ chế CSVN:

* Vỡ nợ của chủ trương Kinh tế quốc doanh. Vụ việc Vinashin chỉ là một tỉ dụ của vỡ nợ quốc gia. Việc vỡ nợ ỡ Việt Nam hiện nay là cả một hệ thống Kinh tế dồn vào cho những Tập đoàn quốc doanh mà chính những người điều hành lại có quyền lực Chính trị. Từ Trung ương đến các Tỉnh, những người điều hành chỉ tính toán thế nào để biển thủ tài sản công thành riêng cho mình. Tụt giốc Kinh tế, Lạm phát, Vật giá tăng vọt, Mất tín nhiệm trước nguồn vốn quốc tế, Ngân quỹ thiếu hụt trầm trọng và Phá giá đồng bạc, Dự trữ ngoại hối cạn đến đáy. Tất cả đều quy về một nguyên do: VI TRÙNG THAM NHŨNG LÃNG PHÍ hoành hành.

* Việc vỡ nợ toàn diện của nền Kinh tế do THAM NHŨNG LÃNG PHÍ đụng chạm đến quyền DẠ DẦY của mọi giới. Mà đụng đến nồi cơm của người ta, thì người ta tự động đứng lên dành lại miếng ăn. Chưa bao giờ chúng ta thấy những Lực Lượng đấu tranh đang hình thành mạnh như lúc này. Những Lực Lượng này không phải từ nước ngoài nhập vào để cái mồm điên đão CSVN nói rằng đây là do “thế lực thù địch ngoại lai “. Những Lực Lượng này đứng lên từ chính trong lòng Chế độ tại quốc nội do thúc đẩy bởi quyền DẠ DẦY. Lực Lượng đứng lên từ chính Quốc Hội, chính Quân đội, chính Công an, chính lớp Công chức, thậm chí chính những Lãnh đạo đảng, và tất nhiên từ mọi tầng lớp Dân nghèo.

Vấn đề thay ngôi đổi chỗ trong Đại Hội đảng kỳ tháng Giêng tới này trở thành thứ yếu. Những con giòi đục khoét vẫn là những con giòi. Điều quan trọng cũa những Lực Lượng đấu tranh cho quyền DẠ DẦY, đó là phãi dứt bỏ cái Cơ Chế chủ trương Kinh tế quốc doanh với độc tài Chính trị để giòi bọ tha hồ đục khoét làm cho tụt dốc Kinh tế khiến người ta đói.

Hội Nghị Trung Ương 12 CSVN sửa sọan cho Đại Hội đảng năm 2011 đã không tháo gỡ cho nền Kinh tế Việt Nam theo hướng Dân chủ hóa Kinh tế, mà ngược lại còn tiếp tục trói buộc nền Kinh tế trong quyền lực độc tài độc đảng Chính trị. Thực vậy, Dự thảo Cương lĩnh từ Hội Nghị Trung Ương 12 đã viết rõ rệt: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Thông tin từ Báo chí quốc nội cũng như quốc tế đang sôi động về tình trạng phá sản của nền Kinh tế quốc doanh, nghĩa là nền “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Từ tình trạng phá sản ấy, những lực lượng phải chịu hậu quả của phá sãn sẽ đứng lên lật đổ Cơ chế như điều tất yếu phải đến.

Tình trạng phá sản
của Kinh tế quốc doanh

Tình trạng phá sản quy tụ về 3 điểm chính: (i) Tụt dốc Kinh tế vĩ mô (ii) Vật giá nhẩy vọt; (iii) Phá giá Tiền tệ. Cả 3 điểm có những liên hệ hỗ tương với nhau.

(i) Tụt dốc Kinh tế vĩ mô

Vinashin chỉ là cái mụn đã âm ỉ từ lâu, nay phát ra như một tỉ dụ của sự phá sản của những Tập đoàn Kinh tế nhà nước. Đây không phải chỉ nguyên một Tập đoàn riêng lẻ phá sản, mà là một tỉ dụ cho một tình trạng phá sản của một chủ trương Kinh tế gọi là vĩ mô. Chính Nguyễn Tấn Dũng đã nhờ cậy Giáo sư Michael PORTER, Đại học Havard,  thẩm định về chủ trương Kinh tế vĩ mô nhà nước. Giáo sư đã viết Tập Phúc trình và kết luận như sau:

“Khi xem xét kỹ mô hình phát triển được áp dụng từ trước tới nay để xem có tiếp tục phù hợp với Việt Nam nữa không, câu trả lời của tôi là không”.

“Mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào việc khai thác các lợi thế có sẵn như tài nguyên và nhân công giá rẻ. “

 “Các mất cân đối vĩ mô lớn như cán cân thương mại và tài khoản vãng lai, tỷ lệ tiết kiệm – đầu tư, lạm phát và tỷ giá hối đoái có thể gây ra những hậu quả “không thể xem thường. Ít nhất, chúng tạo ra tâm lý với các nhà đầu tư rằng, rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam là rất cao. Các mất cân đối vĩ mô này có thể làm phát sinh khủng hoảng, khi niềm tin bị xói mòn và các dòng vốn nước ngoài chảy khỏi Việt Nam”.

“Việt Nam là quốc gia sẽ bị tắc ở mức thu nhập trung bình thấp và phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước có thu nhập thấp hơn đang trỗi dậy”.

Không phải chỉ mình Giáo sư Michael PORTER thấy sự tụt dốc của nền kinh tế gọi là vĩ mô này, mà cả World Bank, IMF/FMI, những Ngân Hàng quốc tế, những nhà Tư vấn cấp cao nước ngoài đều cảnh cáo Việt Nam là phải chữa trị chính những sai lầm Kinh tế vĩ mô, nếu không thì bị các nước láng giềng vượt qua.

Khi mà những Tập đoàn Thẩm định quốc tế như MOODY’S, STANDARD & POOR’S hạ điểm mức tin tưỡng các Công ty và Ngân Hàng VN, đó là họ thẩm định khả năng Kinh tế, Tín dụng trong tương lai dựa ttên những tụt dốc đang diễn ra.

(ii) Vật giá nhẩy vọt

Vật giá nhẫy vọt, Lạm phát tăng nhanh ở Việt Nam đến từ hai lý do chính:

* Giảm hiệu lực sản xuất của những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh. Khi nhận một số vốn để sản xuất hàng hóa, nếu hiệu lực sản xuất kém để lượng hàng hóa xuống, thì tất nhiên giá thành sãn xuất tăng tương đối với số vốn nhận được.
* Nhà Nước muốn bảo vệ chủ trương Kinh tế quốc doanh, nên đổ thêm vốn vào mà không kiểm điểm sự tương xứng hiệu lực của sản xuất đối với số vốn cung cấp. Khối tiền càng phồng lên, mà lượng hàng hóa yếu kém, thì Vật giá tất nhiên tăng vọt sánh với đồng tiền được thổi phồng. Điều tệ hại hơn nữa là Ngân sách Nhà nước thiếu hụt, mà cứ phải đổ tiền vào cho những Tập đoàn quốc doanh, nên đành phải in tiền thêm làm Lạm phát Tiền tệ, phá giá đồng bạc Việt Nam. Người dân Việt Nam thừa hiểu cái trò này, nên không còn tin tưởng vào đồng bạc VN nữa.

Báo chí quốc nội đang la hoảng về tình trạng Vật giá nhãy vọt đến chóng mặt:

“SÀI GÒN (TH) - Lạm phát gia tăng nhanh chóng trong mấy tháng qua, vượt qua mặt những chỉ tiêu mà Quốc Hội đề ra cũng như các biện pháp “bình ổn giá” mà nhà cầm quyền quảng cáo. Hậu quả, những người có đồng lương cố định và đại đa số quần chúng đều nghèo khó lại thêm phần khốn đốn.

Tờ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam trong một bản tin ngày 29 tháng 11, 2010 về “lo âu đường đi của giá” nói rằng, ‘luôn có trên 50% bạn đọc cho biết họ đang thực sự gặp khó khăn.’

Theo các con số do Tổng Cục Thống Kê ở Hà Nội đưa ra, lạm phát tăng nhanh nhất ba tháng trở lại đây của năm nay và là mức gia tăng tệ hại nhất trong suốt 20 tháng qua. Ðây là hệ quả của chính sách đánh sụt giá đồng nội tệ nhằm cứu ngành sản xuất xuất cảng gây ảnh hưởng dây chuyền lên cả nền kinh tế.

Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, giá cả gia tăng 11.09% trong tháng 11, 2010 so với một năm trước. Ðây là tỉ lệ lạm phát gia tăng nhiều nhất từ tháng 3, 2009 mà vào thời điểm đó lạm phát nằm ở 11.25%. Tháng 10, 2010, lạm phát là 9.66%. Nếu chỉ tính từng tháng một thì lạm phát của tháng 11 đã tăng hơn tháng mười 1.86%.

Cuối năm 2009, Quốc Hội của chế độ Hà Nội biểu quyết “chỉ tiêu lạm phát trong năm 2010 phải dưới 7%”. Nhưng đến tháng 5, 2010, thấy không kềm nổi, nhà cầm quyền trung ương “xin điều chỉnh chỉ tiêu lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI)” lên “không quá 8%”. 

“Giá của tất cả mọi loại thực phẩm mà chúng tôi mua ở các chợ địa phương đều gia tăng đáng kể so với tháng trước”. Craig Jackson, quản lý nhà hàng Al Fresco (cũng có chi nhánh ở Hà Nội) nói như vậy và phải trình bày với thức khách lý do “những bất ổn trong tỉ giá” đã làm giá thực phẩm tăng vọt.

Theo báo Người Lao Động hôm 20 tháng 11, 2010 vừa qua, các siêu thị ở Sài Gòn đã tăng giá ít nhất 10%. Gạo, một thứ căn bản của bữa ăn người Việt Nam, lên giá ít nhất cũng 4%, trong khi nhà cầm quyền khoe năm nay sẽ xuất cảng 6.5 triệu tấn gạo.

Nói chung, giá thực phẩm đã gia tăng 14.78% so với một năm trước trong đó một số thứ còn tăng đến 20.45%, theo Tổng Cục Thống Kê nói trên.

Theo tờ Người Lao Động, một số mặt hàng khác gắn liền với đời sống hàng ngày là đường và gas cũng tăng đáng kể.

Báo Người Lao Động dẫn nguồn tin từ Cục Quản Lý Giá (Bộ Tài Chính Việt Nam), nói giá bán lẻ đường trắng trong nước 15 ngày đầu tháng 11 khoảng 19,000-21,000 đồng/kg, tăng 1,000 đồng/kg so với tháng 10.”

(iii) Phá giá Tiền tệ.

Bản Tin của BBC ngày 10.12.2010 như sau:

“Tiền đồng 'đang có vấn đề rất nghiêm trọng'

Ngân hàng đầu tư Mỹ Morgan Stanley nói đồng tiền Việt Nam ‘có vấn đề rất nghiêm trọng’ trong bối cảnh kinh tế yếu và mậu dịch bị thâm hụt, báo tài chính Mỹ Bloomberg đưa tin ngày 9/12.

Thực trạng cán cân thanh toán xấu đi, nền kinh tế yếu và thâm hụt mậu dịch đang tạo "sức ép lớn đáng kể " đối với tiền đồng, Stewart Newnham, chuyên viên nghiên cứu chiến lược tiền tệ tại Morgan Stanley nói tại một hội nghị ở Tp HCM.

Kể từ hồi tháng Năm 2008, thời điểm ông Newnham nói đồng tiền Việt Nam theo gót chân “khủng hoảng tiền tệ” như Thái Lan (1997), tiền đồng đã mất giá 17% so với đôla Mỹ.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều chỉnh tỷ giá tiền đồng 2% (18.932 VND /USD) vào ngày 18 tháng Tám là lần phá giá thứ ba kể từ tháng 11 năm ngoái.

Trong tuần này Quỹ Tiền tệ Quốc tế cảnh báo nguồn dự trữ ngoại hối quốc gia của Việt Nam ở mức "thấp".

IMF cho biết dự trữ ngoại hối của Việt Nam vào cuối tháng Chín ở mức chỉ đủ trang trải cho 1,8 tháng nhập khẩu.”

Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh thâm thụt công quỹ. Nhà nước phải bơm vào bằng đồng tiền phá giá. Tất nhiên dân chúng phải mua vàng và đo-la với giá chợ đen. Đồng Tiền VN sẽ phải phá giá nữa như các nước Á châu trong cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Tiền tệ năm 1997.

Ông Stewart Newnham của Morgan Stanley, khi nói về Lạm phát phá giá đồng bạc Việt Nam, đã nhắc tới cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Tiền tệ Á châu năm 1997, khiến chúng tôi nhớ lại cách đây mấy năm, 2007, chúng tôi đã viết 5 bài liên tiếp về cuộc Khũng hoãng Tài chánh/Tiền tệ Á châu 1997, dựa trên những tài liệu của Bà Francoise NICOLAS. Chính năm 2007, chúng tôi đã sang Thái Lan quan sát tình trạng phá sản của một số Xí nghiệp chịu hậu quã của việc phá giá đồng tiền.

Về việc can thiệp Chính trị (Pouvoir politique) vào quyền lực Tiền tệ (Pouvoir monétaire), Kinh tế gia Florin AFTALION đã viết:

“L’inflation est un moyen de financement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet á court terme d’accorder des hausses de salaire et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages. «
(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy.)

Kinh tế gia Florin AFTALION nói đến « trong ngắn hạn « và « bởi những người làm chính trị “. Tại Việt Nam, thì không phải là ngắn hạn, mà đã làm ba lần rồi và có còn làm tiếp trường kỳ nữa ; rồi không phải chỉ « bởi những người làm chính trị “ suông, mà bởi một chế độ Chính trị độc tài độc đảng.

Dân chúng bài trừ và quốc tế không còn tin vào đồng Tiền VN là phải.

Xin nhắc thêm rằng tại Nam Dương, cuộc Khủng hoảng 1997 phá giá đồng tiền đã đưa đến hậu quả Chính trị là sự sụp đổ nhà độc tài SUHARTO.

Những Lực Lượng đứng lên
từ tình trạng phá sản Kinh tế quốc doanh

Chúng tôi muốn nói đến tính cách tất yếu của những Lực Lượng này. Những Lực Lượng này không phải là do khuyên giải, cổ võ mà đứng lên. Việc đứng lên là tất yếu vì quyền DẠ DẦY của mình. Không đứng lên lật đổ Cơ Chế hiện hành, thì mình chết. Tính cách tất yếu là ở chỗ đó.

Những Lực Lượng nào ?

1) Lực Lượng đại đa số quần chúng nghèo

Khi Vật giá tăng vọt, thì khối đại đa số dân nghèo phải cùng cực, thiếu ăn. Nền Kinh tế quốc doanh Mafia CSVN thâm thụt công quỹ, bóc lột sức lao động, làm đại đa số dân chúng đã nghèo mà còn bị khổ cực vì thiếu ăn. Lạm phát, vật giá tăng vọt đẩy dân nghèo vào cùng cực và phải tự đứng lên lật đổ cơ chế.

2) Lực lượng Công chức, Công an và Quân đội

Đây là những thành phần lãnh lương cố định. Khi vật giá tăng vọt, đồng tiền mất giá, thì những thành phần lãnh lương cố định thấy mình nghèo đi. Càng phá giá đồng bạc VN, càng tăng vật giá, thì những thành phần này càng bị đẩy vào tình trạng nghèo cùng cực. Họ phải đứng lên.

3) Lực lượng Lãnh đạo đảng CSVN

Những Lãnh đạo đương quyền tham nhũng, vơ vét công quỹ. Nhưng những Lãnh đạo hồi hưu không thể ngồi yên. Trâu buộc ghét trâu ăn. Lực Lượng Lãnh đạo này không phải vì bất đồng Chính kiến mà đứng lên, nhưng chính là sự phân chia tham nhũng không đồng đều. Trước khi đánh cướp Ngân Hàng, thì mọi người cấu kết. Nhưng sau khi cướp được tiền rồi mà phân chia không đồng đều, thì lấy súng bắn giết nhau. Vì trâu buộc ghét trâu ăn, nên Lực Lượng Lãnh đạo này đứng lên mà bắn nhau. Số cán bộ Cộng sản hồi hưu, lãnh tiền cố định, nay thấy mình nghèo đi vì Lạm phát và vật giá tăng vọt, sẽ tăng cường tham gia Lực Lượng này.

4) Lực Lượng trẻ Thanh niên Sinh viên

Mỗi năm, số người trẻ Thanh niên Sinh viên tại Việt Nam tăng lên 1 triệu và phải kiếm công ăn việc làm. Việc tụt dốc Kinh tế làm cho họ thất nghiệp và phải chịu cảnh vật giá tăng vọt. Trong khi ấy, họ so sánh với một thiểu số con cháu đảng ăn chơi, tiêu xài hoang phí, còn xuất ngoại. Việc so sánh trong cãnh thất nghiệp của họ sẽ tạo sự ganh tị, ghen ghét. Lớp người trẻ Thanh niên Sinh viên sẽ nhập cuộc đấu tranh để chấm dứt những người giữ quyền lực chính trị để THAM NHŨNG LÃNG PHÍ gây tụt dốc Kinh tế.

5) Lực Lượng Tôn Giáo chống Bất Công, đòi Công Lý

Lực Lượng Giáo dân Công giáo đã đứng lên khởi đầu là Tòa Khâm sứ Hà Nội, rồi Xứ Thái Hà, lan vào Tam Tòa, Đồng Chiêm. Tất cả việc đứng lên này có nguyên do là chống BẤT CÔNG cũa Nhà Nước về đất đai. Mà việc bất công này lại cũng là do THAM NHŨNG của quyền lực Chính trị trưng dụng đất đai đẻ bán hoặc khai thác cho túi riêng của mình. Chống bất công như vậy cũng đồng nghĩa là chống THAM NHŨNG. CSVN đã sử dụng một số Lãnh đạo Tôn giáo quốc doanh để nhằm diệt Lực Lượng này. Nhưng TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM (=chống BẤT CÔNG, đòi CÔNG LÝ) vẫn luôn luôn tồn tại bởi lẽ nó phát xuất từ Đức Tin và Lương Tâm của chính Giáo dân. Việc đấu tranh theo TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM này đang bùng dậy tại xứ Thái Nguyên hiện lúc này.

6) Lực Lượng Tư doanh

Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh thiếu hụt ngoại tệ để nhập siêu vì dự trữ ngoại hối của Nhà nước chỉ còn không tới hai tháng để nhập cảng. Theo Kinh tế gia Lê Đăng Doanh, thì "số ngoại tệ Việt Nam có trong dân thì không phải là ít”, nghĩa là giới Tư doanh còn có thể vận dụng ngoại tệ để nhập cảng. Chính vì điểm này mà Lực Lượng Tư doanh nắm ưu thế đứng lên đấu tranh dành lại quyền Kinh tế mà từ trước đến nay các Tập đoàn quốc doanh nắm chủ động. Giới Tư doanh có cơ hội thực hiện Dân chủ hóa Kinh tế để tiến dần đến Dân chủ hóa Chính trị như một hệ luận tất nhiên.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 6.12.2010
Web: http://VietTUDAN.net

 





VINASHIN CHỜ NHÀ BĂNG NƯỚC NGOÀI
CHO KHẤT NỢ ĐỢT ĐẦU

Nhật Minh
   
Vinashin hy vọng sẽ kiếm được tiền trả nợ từ việc bán doanh nghiệp. 
 
Đại diện của các chủ nợ là ngân hàng Thụy Sĩ Credit Suisse vẫn chưa đưa ra quyết định cuối cùng về việc có cho phép Vinashin hoãn trả khoản nợ nói trên hay không, cho dù thời điểm thanh toán (20/12) đã đến.
60 triệu USD là khoản trả nợ đầu tiên trong số tiền 600 triệu USD mà Vinashin phải trả cho đợt phát hành trái phiếu năm 2007. Đợt phát hành này được Vinashin thực hiện thông qua Credit Suisse và bắt đầu tới hạn trả vào ngày hôm nay (20/12). Theo hợp đồng, việc trả nợ sẽ được chia thành 10 lần, mỗi lần cách nhau 6 tháng.
 
Tuy nhiên, việc không có khả năng trả đúng hạn số tiền 60 triệu USD đầu tiên đã được Vinashin thông báo hồi cuối tháng 11, cùng với đề nghị được hoãn thời hạn trả nợ thêm một năm.
Trả lời phỏng vấn TTXVN cuối tuần qua, Chủ tịch Hội đồng thành viên Vinashin Nguyễn Ngọc Sự cho biết doanh nghiệp này hiện “rất khó khăn, chưa có nguồn để trả nợ”. Tuy nhiên, ông Sự cũng khẳng định nếu được gia hạn trả nợ thêm một năm, Vinashin “chắc chắn sẽ thu xếp được”.
 
Theo đại diện của Vinashin, nguồn vốn mà doanh nghiệp này có thể thu xếp trong vòng 12 tháng tới sẽ đến từ việc tái cơ cấu tập đoàn (bán dự án để thu hồi vốn, cổ phần hóa, bàn giao tàu, xử lý tồn kho…). Trong đó, Chủ tịch Vinashin đặt nhiều hy vọng vào việc chuyển nhượng 216 doanh nghiệp phải sắp xếp lại của tập đoàn. Tổng số tiền thu được từ việc bán các công ty này ước khoảng 23.000 tỷ đồng (khoảng hơn một tỷ USD).

Hy vọng là vậy nhưng theo ông Nguyễn Ngọc Sự, tính đến thời điểm này, Vinashin vẫn chưa nhận được quyết định chính thức từ phía các chủ nợ mà đại diện là Credit Suisse, về việc có được hoãn trả hay không. Lý do mà Credit Suisse đưa ra, theo ông Sự, là do ngân hàng này vẫn chưa nhận được 100% biểu quyết từ phía các nhà đầu tư nên chưa thể đưa ra quyết định cuối cùng.
 
Trong khi đó, theo hãng tin AFP, hầu hết các chủ nợ, trong đó, phần lớn là ngân hàng quốc tế hiện khá “kín tiếng” về khả năng gia hạn nợ cho Vinashin. Bản thân doanh nghiệp này cũng như Credit Suisse đều từ chối bình luận về vấn đề này khi được phía AFP liên hệ phỏng vấn.
 
Rắc rối của Vinashin đã ảnh hưởng khá nhiều tới uy tín nợ của Việt Nam thời gian gần đây. Hãng xếp hạng tín nhiệm Moody’s vừa hạ mức tín nhiệm đối với trái phiếu của Việt Nam từ mức Ba3 xuống B1. Đồng thời hãng này cũng hạ xếp hạng đối với tiền gửi ngoại tệ của 6 ngân hàng thương mại từ B1 xuống B2 do có liên quan đến các khoản nợ của Vinashin.
 
Trong khi đó, đại diện của Chính phủ Việt Nam cũng không ít lần khẳng định, khoản nợ của Vinashin (ước khoảng 86.000 tỷ đồng) sẽ do doanh nghiệp này “tự vay, tự trả”. Điều này khiến các nhà đầu tư quốc tế quan ngại về khả năng Chính phủ sẽ hạn chế can thiệp, ngay cả trong trường hợp Vinashin không được gia hạn trả nợ.

 





TẬP ĐOÀN VINASHIN ĐẾN HẠN
PHẢI TRẢ NỢ 60 TRIỆU ĐO LA
 
Tú Anh

Chi nhánh ngân hàng Thụy Sĩ Crédit Suisse tại Thành phố Bern. Crédit Suisse là định chế đã huy động khoản tín dụng 600 triệu đô la cho Vinashin vào năm 2007.


Hôm nay 20/12/2010 là ngày tập đoàn mang tai tiếng Vinashin đến hạn phải trả món nợ 60 triệu đô la. Đây là phần đầu trong món tiền 600 triệu đô la vay của nước ngoài và được chính phủ Việt Nam bảo kê. Do tình trạng gần như phá sản, Vinashin xin các chủ nợ - trong đó có ngân hàng Thụy Sĩ Crédit Suisse - cho hoãn nợ, nhưng chưa được trả lời.

Trong bối cảnh bị thất thoát nhiều tỷ đô la và gây ra tai tiếng chính trị, Vinashin đã yêu cầu chủ nợ gia hạn thêm thời gian một năm số tiền phải trả đầu tiên là 60 triệu đôla trong số 600 triệu đôla vay mượn. Theo báo Tin Tức được AFP trích dẫn, tân tổng giám đốc Nguyễn Ngọc Sử giải thích là Vinashin không đủ khả năng trả món nợ đáo hạn, đã phải xin triển hạn và « đang chờ trả lời trả lời » của chủ nợ.

Theo AFP, vào năm 2007, có sự bảo kê của chính phủ Việt Nam, ngân hàng tín dụng Thụy Sĩ Crédit Suisse đã phối hợp với nhiều cơ quan tài chính khác cho Vinashin vay tổng cộng 600 triệu đôla và phải hoàn trả trong 10 lần cách nhau mỗi sáu tháng. Hôm nay là ngày phải trả đợt đầu tiên nhưng Vinashin nói thẳng là không có tiền.

Vào sáng nay, Crédit Suisse và Vinashin đều không trả lời các câu hỏi của AFP.

Phía chính phủ Việt Nam thì cho là Vinashin phải « tự mình » trả món nợ khoảng 4,4 tỷ đôla. Dù vậy tại Việt Nam vẫn có tin đồn là chính phủ sẽ can thiệp để giúp cho tập đoàn nhà nước này.

Tình trạng nguy ngập của tập đoàn Vinashin đã đưa đến hai hệ quả. Tuần trước, cơ quan thẩm định rủi ro Standard and Poor’s lưu ý là Vinashin đã làm cho hệ thống ngân hàng và khả năng đi vay của Việt nam bị yếu đi. Cùng lúc đó, cơ quan Moody’s hạ điểm công trái phiếu của Việt Nam phần lớn là do món nợ quá to lớn của Vinashin.

Hãng tin Bloomberg trích lời chuyên gia kinh tế Mỹ Jonathan Pincus nhận định là nếu Vinashin không trả nợ thì từ nay về sau các doanh nghiệp Việt Nam, dù là của nhà nước hay tư nhân, sẽ phải trả tiền lời rất cao khi vay vốn nước ngoài.

Theo kinh tế gia trường Havard Kennedy School tại Saigon, thì chính phủ Việt Nam dường như không nghĩ đến hậu quả về lâu về dài của vụ việc này đối với uy tín của ngành tài chính Việt Nam.
RFI đặt câu hỏi với giáo sư kinh tế Nguyễn Phúc Liên, đại học Genève (Thụy Sĩ).

20/12/2010
by Tú Anh
 
Nghe (03:44) 
 
 
 
 
 

HẬU QUẢ VIỆC XIN HOÃN NỢ

Giới thiệu và chia xẻ
DAN TU KHUONG

 
“Chủ tịt” Vinashin đã phải đối diện với hậu quả của thủ đọan quịt nợ trước áp lực của chủ nợ. Đừng vội nghĩ chủ nợ sẽ trắng tay như “chủ tịt” Nguỹên Ngọc Sự đã tuyên bố công khai trên báo mạng lề phải. Làm “chủ tịt” tập đoàn Vinashin như Nguỹên Ngọc Sự thì quá ngây ngô, ngờ nghệch, nếu không muốn nói là quá ngu dốt, như ông Jonathan Pincus, kinh tế gia của đại học Harvard Kennedy ở TP. Hồ chí Minh đã nói:”Nếu Vinashin không trả nợ, điều đó sẽ làm cho tốn kém hơn đối với bất kỳ tổ chức Vietnam nào, quốc doanh hay tư doanh để có được tài trợ nước ngoài.” Kinh tế gia Jonathan Pincus còn nói thêm: “Những người trong chính phủ dường như không suy nghĩ về tác động của sự việc không trả nợ lần này có hậu quả cho sự tín nhiệm tài chính của Viêtnam.”

Quyết định không trả nợ của Nguyễn Ngọc Sự trong ý đồ thủ đọan quịt nợ sẽ làm cho doanh nghiệp CSVN mất nhiều tín dụng khi vay nợ, sẽ bị khó khăn hơn, bị lãi xuất cao hơn. Những sự việc này cũng đã được Gs. tiến sĩ Kinh tế Nguỹên Phúc Liên, và DTK đã cảnh báo trước đây. Trong ngắn hạn, CSVN sẽ gập nhiều áp lực về tài chánh, về sự tín nhiệm không những cho các doanh nghiệp đi vay mượn. Các nhà tài trợ tín dụng, ay bán trái phiếu cũng sẽ gặp khó khăn vô cùng. Chiến lược quịt nợt, giựt nợ của tập đoàn Vinashin sau  sự việc tái cấu trúc đã làm cho chủ nợ, khách hàng, và các nhà đầu tư trái phiếu sẽ bỏ chạy vì tính hian lận, bất chính, vô trách nhiệm của ban quản trị tập đoàn Vinashin vvà đảng mafia VGCS. 

DTK


Vietnam Default Swaps Soar as Lenders Await Repayment
December 20, 2010, 8:45 AM EST

By Bloomberg News


(Updates with comments from Vinashin’s Su in third paragraph.)

Dec. 20 (Bloomberg) -- The cost to insure Vietnam’s debt against default soared to its highest level in 17 months as international lenders wait for the nation’s state-run shipping company Vinashin to make a $60 million loan repayment due today.

Credit-default swaps on Vietnam government debt were quoted at 290 basis points as of 5:05 p.m. in Singapore, according to Barclays Plc. That’s the highest since July 17, 2009, prices from data provider CMA show.

Moody’s Investors Service cut the Southeast Asian nation’s credit rating on Dec. 15, citing the risk of a balance of payments crisis, and highlighted “debt distress” at Vietnam Shipbuilding Industry Group, known as Vinashin. The company, which the government says had debt of about 86 trillion dong ($4.4 billion) as of June, is waiting for a final answer from lenders to a request for a one-year delay on repayments, its chairman Nguyen Ngoc Su was quoted as saying by the Vietnam News Agency today.

If Vinashin doesn’t pay, it will “make it more expensive for any Vietnamese entity, government-owned or otherwise, to get overseas financing,” Jonathan Pincus, an economist at the Harvard Kennedy School in Ho Chi Minh City, said in a phone interview. “People in the government don’t seem to be thinking long-term about the implications of this for Vietnam’s financial credibility.”

Su told the Vietnam Economic Forum website last week that Vinashin won’t be able to make the loan repayment because of a lack of funds.

Dollar Bonds

Credit-default swaps pay the buyer face value if a borrower fails to meet its obligations, less the value of the defaulted debt. A basis point equals $1,000 annually on a swap protecting $10 million of debt. The contracts closed at 287 basis points on Dec. 17, capping their biggest weekly rise since Aug. 27, CMA prices show.

Vietnam’s dollar bonds are down 5.7 percent this month, HSBC Holdings Plc indexes show. The debt lost 2.4 percent in November, the worst monthly performance since a 4.9 percent drop in November 2009, the indexes show.

The nation’s $1 billion of 6.75 percent bonds due January 2020 were unchanged at 102.5 cents on the dollar to yield 6.382 percent today, the lowest price since June 28, according to BNP Paribas SA prices on Bloomberg.

The International Monetary Fund this month said Vietnam needs a “coherent package” of measures including higher interest rates to re-establish monetary policy credibility and slow inflation.

‘Systemic Failure’

Vinashin’s near collapse indicates a “systemic failure” in regulators’ supervision of state-owned companies, according to the Asian Development Bank.

Vinashin hired Credit Suisse Group AG to help it organize a $600 million, seven-year loan in December 2008. A lender steering committee, comprising representatives from the Swiss bank, Standard Chartered Plc and hedge fund Elliott Advisors Ltd., has been established to negotiate with the company.

KPMG LLP was appointed to provide advice and support to Vinashin while law firm Allen & Overy LLP was hired by the lender group as legal advisers.

Edward Middleton, the Hong Kong-based KPMG partner in charge of restructuring services, declined to comment in an e- mailed response to questions. David Kidd, a partner at Allen & Overy, also declined to comment.

Vinashin representatives weren’t immediately available by phone today. Credit Suisse Hong Kong-based spokesman Adam Harper and a public relations firm representing Elliott Advisors both declined to comment.

--Editors: Ed Johnson, Tom Kohn
To contact the reporters on this story: Katrina Nicholas in Singapore at knicholas2@bloomberg.net; Nicholas Heath in Hanoi at nheath2@bloomberg.net
To contact the editors responsible for this story: Will McSheehy at wmcsheehy@bloomberg.net; K. Oanh Ha in Hanoi at oha3@bloomberg.net


VINASHIN HAY SỰ PHÁ SẢN CỦA
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN

Thanh Phương


Nhìn lại thời sự Việt Nam trong năm 2010, về mặt kinh tế, bên cạnh việc đồng bạc Việt Nam bị mất giá và lạm phát tăng cao trở lại, sự kiện đáng chú ý nhất đó là tình trạng gần như phá sản của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin. Nhưng đây không chỉ là sự phá sản của riêng tập đoàn này, mà là sự phá sản khu vực kinh tế Nhà nước, nói rộng hơn là của cái gọi là “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Nợ của Vinashin hiện được thẩm định lên tới 86 ngàn tỷ đồng, tức là khoảng 4,4 tỷ đôla, tương đương với 4,5 % GDP của Việt Nam. Trên nguyên tắc, hôm nay, 20/12/2010, Vinashin phải trả món nợ đáo hạn đầu tiên trong tổng số 600 triệu đôla vay của các chủ nợ, đứng đầu là ngân hàng Thụy Sĩ Crédit Suisse. Vì không còn tiền, ban lãnh đạo mới của tập đoàn đã xin hoãn trả nợ. Nhưng các chủ nợ đã không đồng ý. Mặc dù chính phủ đã tuyên bố sẽ không đứng ra trả nợ thay cho Vinashin, nhưng ngày càng có nhiều tin đồn về khả năng chính phủ sẽ buộc phải can thiệp để cứu sống Vinashin.

Chưa biết chuyện nợ nần sẽ được giải quyết ra sao, nhưng trước mắt, theo cảnh báo của các cơ quan xếp hạng tín nhiệm, giới chuyên gia tài chính quốc tế, tình trạng của Vinashin có nguy cơ gây tác hại đến toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam và khả năng của Việt Nam vay tiền của quốc tế cho các dự án cơ sở hạ tầng, như nhận định của tiến sĩ Nguyễn Quang A, một trong những chuyên gia kinh tế hàng đầu ở Việt Nam. Nhìn vấn đề rộng hơn, theo tiến sĩ Nguyễn Quang A, Vinashin chính là biểu tượng sự thất bại của của mô hình tập đoàn kinh tế.

Về phần nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Thanh Giang cũng có nhận định tương tự, nhưng ông đặt vấn đề trong một bối cảnh chung của cái gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo ông Nguyễn Thanh Giang, nếu cứ duy trì đường lối kinh té như hiện nay, lấy kinh tế Nhà nước làm chủ đạo, sẽ có nhiều Vinashin khác lộ ra.

Nhưng theo tiến sĩ Nguyễn Quang A, sỡ dĩ giới lãnh đạo Việt Nam cố duy trì mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chủ yếu đó là do vấn đề quyền lợi hơn là ý thức hệ.

Như ông Nguyễn Thanh Giang đã nhắc ở trên, vụ Vinashin đã gây bất bình trong dư luận đến mức một số đại biểu Quốc hội, như ông Nguyễn Minh Thuyết, đã lên tiếng đòi thành lập ủy ban điều tra để làm rõ trách nhiệm của các thành viên chính phủ có liên quan, thậm chí yêu cầu tổ chức bỏ phiếu bất tín nhiệm thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Hành động của các đại biểu đó đã rất được hoan nghênh, nhưng dĩ nhiên ủy ban thường vụ Quốc hội đã không dám làm theo yêu cầu đó, bởi vì ở Việt Nam, tuy mang tiếng là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, Quốc hội chẳng có thực quyền gì cả, mọi việc đều do Bộ Chính trị quyết định. Trong vấn đề nhân sự lãnh đạo cũng vậy, Đại hội Đảng vào tháng Giêng tới không chỉ sẽ bầu ra Tổng bí thư, mà còn chọn luôn cả chức thủ tướng và chủ tịch Nước, mà trên nguyên tắc do Quốc hội bầu ra.

Theo chiều hướng đó, có thể đặt Vinashin trong bối cảnh các vụ đấu đá tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm trong Đảng, vì có dư luận cho rằng, chính ông Nguyễn Tấn Dũng là người bị nhắm tới trong vụ này. Trong những ngày qua, đã có nhiều lời đồn đoán khác nhau về kết quả hội nghị Ban Chấp hành Trung ương bàn chuyện nhân sự, nhưng hiện chưa có gì chắc chắn.

Một điều chắc chắn là càng gần đến Đại hội Đảng, chính quyền Hà Nội càng gia tăng trấn áp những tiếng nói đối lập, mà gần đây nhất là vụ bắt giữ và truy tố tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, người đã dám kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về quyết định khai thác bauxite Tây Nguyên.

Đại sứ mãn nhiệm của Mỹ, Michael Michalak vào ngày 9/12 vừa qua đã cho rằng, năm 2010 đã là năm mà không gian dành cho tranh luận công khai đã bị thu hẹp toàn diện ở Việt Nam. Theo đại sứ Mỹ, từ việc ngăn chận truy cập mạng xã hội Facebook, các vụ tấn công những trang mạng chỉ trích chính quyền, cho đến những quy định kiểm soát chặt chẽ hơn các quán cà phê Internet và các trang blog, năm nay, quyền tự do trên Internet đã có một bước thụt lùi đáng kể ở Việt Nam.

Tại hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, đại sứ Thụy Sĩ Jean-Hubert Lebet cũng cho rằng chính quyền không nên trừng phạt những người bày tỏ chính kiến một cách ôn hoà. Nhưng những lời khuyến cáo này dĩ nhiên sẽ không có tác dụng gì, vì cho tới nay, chính quyền Hà Nội vẫn khẳng định rằng những tố cáo về đàn áp tự do ngôn luận là không có cơ sở.

Dầu sao, nhìn lại năm 2010, rõ ràng nhiều tiếng nói bất đồng với chính phủ đã cất lên ngày càng nhiều và không chỉ từ phía những người có thể dễ quy chụp là phản động hay đảng viên Việt Tân, mà ngay chính những nhà cách mạng lão thành, những cựu lãnh đạo, các chuyên gia kinh tế nay cũng công khai đòi hỏi phải có thay đổi một cách căn bản về kinh tế lẫn chính trị để đất nước khỏi rơi vào bế tắc.

Mời quý vị nghe toàn bộ tạp chí với phần phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Quang A và ông Nguyễn Thanh Giang.

Tạp chí Việt Nam 20/12/2010
20/12/2010
by Thanh Phương 







 
ÁP LỰC QUỐC TẾ ĐỀU ĐANG ĐỔ XUỐNG
ĐẠI HỘI XI CỦA CỘNG ĐẢNG VIỆT NAM

 LÝ ĐẠI NGUYÊN


Nội trong tuần này, Hạviện Hoakỳ bỏ phiếu về Dự Luật đưa Việtnam vào danh sách Các Nước  Cần Quan Tâm Đặc Biệt về Tự Do Tôn Giáo – CPC, do dân biểu Ed Royce đệ trình từ gần 2 năm trước, đến hôm qua, ngày 13/12/10, Hạviện Hoakỳ mới thông báo sẽ mang Nghị Quyết HR 20 đó, ra toàn viện để biểu quyết. Dân biểu Royce gọi: “Đây là một sự chiến thắng của những người bị đàn áp tôn giáo”. Ông nhấn mạnh:“Quan trọng hơn, nghị quyết này đặt vào hồ sơ Hạviện Hoakỳ, coi rằng, sự ngược đãi về tôn giáo ở Việtnam không thế chấp nhận được. Nếu Việtnam muốn có mối quan hệ bền vững với Hoakỳ, thì Hànội phải tôn trọng các quyền tự do căn bản của dân chúng, trong đó bao gồm quyền tự do tôn giáo”.

Trong khi đó, Hoakỳ và Quốc tế cùng lên án những vi phạm quyền tự do ngôn luận và nhân quyền ở Việtnam. Phát biểu tại một diễn đàn được tổ chức tại Hànội trước ngày  Quốc Tế Nhân Quyền 10/12/2010,  đại sứ Mỹ tại Việtnam, Michael Michalak cho rằng: “Năm 2010 là năm mà không gian dành cho tranh luận công khai đã bị thu hẹp toàn diện tại Việtnam”. “Từ việc ngăn chận truy cập mạng xã hội Facebook, các vụ tấn công những trang mạng chỉ trích chính quyền, cho đến những quy định kiểm soát chặt chẽ hơn các quán cà phê internet và các trang blog, năm nay quyền tự do internet đã có một bước thụt lùi đáng kể ở Việtnam” Ông tố cáo: “Đã có hơn 24 người bị bắt giữ, và hơn 14 người xem là vi phạm pháp luật chỉ vì đã bày tỏ một cách ôn hòa chính kiến của họ”. Tại hội nghị nhóm Tư Vấn Các Nhà Tài Trợ Cho Việtnam hôm thứ Ba ngày 07/12/10, đại sứ Thụy Sĩ, Jean-Hubert Lebet cũng cho rằng: “không nên trừng phạt những người bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa”. Ông tỏ ý: “lấy làm tiếc về các vụ bắt giữ những nhà bất đồng chính kiến gần đây ở Việtnam”. Cùng ngày hôm đó, Viện Nhân Quyền thuộc hội Luật Sư Quốc Tế đã lên án Việtnam tiếp tục bắt giữ và kết án tù các nhà hoạt động nhân quyền và các luật sư theo Bộ Luật Hình Sự.

Sau  phiên họp của nhóm các nước cấp viện cho Việtnam, đã đưa ra nhận định về tình hình kinh tế ảm đạm của Việtnam, và vì món nợ khổng lồ không thể trả của Tập Đoàn Tàu Thủy Vinashin, dẫn tới làm suy yếu hệ thống ngân hàng Việtnam và ảnh hưởng đến khả năng vay nợ của cả nước. Tiếp đến, đại sứ các nước thành viên của Liên Âu- EU đã tham dự vòng Đối Thoại về Nhân Quyền giữa EU với Hànội. Theo đại sứ Anhquốc tại Hànội, tiến sĩ Antony Stokes cho BBC biết: “Trong đối thoại về Nhân Quyền giữa EU và Việtnam, tôi cho rằng, chúng tôi đã trực diện. Chúng tôi đã nói chuyện một cách công khai và thẳng thắn”. Liên quan tới vấn đề Nhân Quyền và Phát Triển Kinh Tế, đại diện của EU nhắc đến, quyền được bàn luận công khai các chính sách của chính phủ. Theo đó: “Làm sao tạo ra môi trường để người dân có thể bình luận, chỉ trích chính sách của chính phủ, báo chí có quyền đưa tin công khai. Người viết Blog không sợ bị bắt, khi đưa ra nhận định không có lợi cho chính phủ”. “ Chúng tôi kêu gọi chính phủ Việtnam bảo vệ quyền công khai tranh luận của người dân”. Ngày 13/12/2010, tại Hànội, các nhà ngoại giao Việtnam và Hoakỳ đã tiến hành cuộc đối thoại thường niên về Nhân Quyền. Đại diện phía Mỹ là trợ lý ngoại trưởng phụ trách vấn đề Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động, Ông Michael Posner. Đại diện phía Việtnam là thứ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh. Tuy nội dung chưa được tiết lộ, nhưng những tháng vừa qua, Hoakỳ đã nhiều lần chỉ trích Việtnam vi phạm nhân quyền, trong bối cảnh Washington và Hànội tìm cách tăng cường quan hệ ngoại giao và quân sự. Nhất là mùa hè vừa qua, Hoakỳ đã ủng hộ cách tiếp cận của Việtnam, nhằm giải quyết tranh chấp về chủ quyền tại Biển Đông với Trungquốc, bằng giải pháp đa phương hoá. Chống lại với giải pháp ‘song phương’ bắt nạt của Trungcộng.

Tuy Hànội ra sức vận động quốc tế hóa vấn đề tranh chấp biển Đông, nhưng rồi Việtcộng vẫn phải ngoan ngoãn theo lệnh của Bắckinh bí mật thực hiện các cuộc đàm phán song phương với Trungcộng về chủ quyền ở Hoàngsa và Trườngsa.  Báo South China Morning Post xuất bản tại Hồngkông tiết lộ, trong năm nay, Hànội và Bắckinh đã bí mật đàm phán 4 lần về biển Đông. Báo này viết: “Bắckinh từ chối thảo luận về sự chiếm đóng của họ tại quần đảo Hoàngsa” . Theo ông Vương Hàn Lĩnh, thuộc Học Viện Khoa Học Xã Hội Trungquốc thì: “Các tranh chấp về quần đảo Hoàngsa đã giải quyết xong, vì nay quần đảo này đang trong sự quản trị của Bắckinh, và Trungquốc chỉ đối thoại về tranh chấp liên quan tới quần đảo Trườngsa với Việtnam và các nước khác. Như vậy, chính quyền Việtnam còn trong tay đảng Việtcộng ngày nào, thì không hy vọng gì Việtnam thu hồi được chủ quyền ở Hoàngsa, mà cả thế giới đã chứng kiến là Trungcộng công khai xâm lăng Việtnam, đánh chiếm từ tay Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 19/01/1974. Rõ ràng là sự tiết lộ việc Trungcộng ép buộc Việtcộng phải đàm phán song phương về chủ quyền ở Hoàngsa và Trườngsa, rồi bật mí ra, Hoàngsa là của họ, đã làm cho toàn dân, toàn quân, kể cả toàn đảng xúc động và phẫn uất, nhất định tạo một ảnh hưởng đến cuộc sắp xếp nhân sự của Ban Chấp Hành Trung Ương Cộng Đảng đang họp tại Hànội. Trong khi đó áp lực quốc tế về Nhân Quyền, Tự Do Ngôn Luận, cũng như báo động về nền Kinh Tế rệu rạo và Tài Chánh lạm phát, vật giá gia tăng đến chóng mặt ở Việtnam, vô tình, hay cố ý đều xoáy vào quyết định của Đại Hội XI tới.

Trong diễn văn khai mạc hội nghị lần thứ 14 ban chấp hành Trung Ương Đảng, Nông Đức Mạnh, tổng bí thư, tuy không còn lớn tiếng đề cập tới chủ nghĩa Mác-Lê-Hồ và thực hiện Xã Hội Chủ Nghĩa như thường thấy. Mà chỉ nhắc tới “Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. Như vậy, thời kỳ quá độ hiện nay đất nước đang sống và làm việc theo Nền Kinh Tế Thị Trường Tự Do Toàn Cầu Hóa. Đúng ra là cả thế giới đã liệng bỏ thứ Xã Hội Chủ Nghiã chết tiệt vào thùng rác lịch sử rồi, ngay tại Việtnam cũng đã và đang ‘tự diễn biến hoà bình’ để vượt nó từ Đaị Hội VI, năm 1986 tới nay. Hiện giờ Việtnam đang ra sức vận động quốc tế nhìn nhận mình là Nền Kinh Tế Thị Trường. Nhất là đảng viên Việtcộng đã trở thành Tư Bản Đỏ man rợ, nhờ vào quyền lực tham nhũng, thử hỏi làm sao có thể chui trở lại chiếc túi Xã Hội Chủ Nghĩa lạc hậu, bao cấp được nữa. Dùng từ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nông Đức Mạnh và bè lũ chỉ muốn Đại Hội XI phải nuốt trôi đi những văn kiện rơm rác, nhai đi, nhai lại của các Đại Hội trước, để chấp nhận một ban lãnh đạo mới, được tiền chế bởi Trung Ương khóa X có bàn tay Bắckinh chen vào như cũ. Đã đến lúc toàn đảng, toàn quân phải loại bỏ bọn tay sai Trungcộng ra khỏi ban lãnh đạo đảng, ‘tự diễn biến hòa bình’ thành chính đảng cầm quyền lâm thời trong công cuộc Dân Chủ Hoá chế độ của đất nước. Nếu không, thì với nhu cầu dân chủ tự do của toàn dân và áp lực của quốc tế đổ xuống, chế độ Việtcộng sẽ bị chung với số phận như Liênxô mà thôi.

Little Saigon ngày 14/12/2010.

 

 

CÔNG NHÂN VN
BỊ BÓC LỘT HÀNG ĐẦU CHÂU Á

Mệnh danh đại diện của giai cấp công nhân
nhưng đảng VC đang bán mồ hôi máu mắt của công nhân giá cực rẻ
Saturday, 11 December 2010

Khoảng 5,000 công nhân hãng sản xuất giầy Sao Vàng ở Hải Phòng đình công đòi tăng lương – hình của báo Tuổi Trẻ

HÀ NỘI (TH) - Các công ty sản xuất hàng hóa đổ tới Việt Nam mở nhà máy sản xuất chỉ vì giá nhân công ở Việt Nam quá rẻ và chủ nhân mặc sức bóc lột sức lao động.

Theo bản tin báo Thanh Niên ngày Thứ Bảy, 11 tháng 12, 2010, Giám đốc Phòng Thương Mại Châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) Matthias Duhn nhận định như vậy tại một hội thảo do Cục Xúc Tiến Thương Mại, Bộ Công Thương phối hợp tổ chức ngày 10 tháng 12.

Chỉ được trả “với gần $49 USD/tháng, lương của người lao động Việt Nam chỉ xếp trên Campuchia – với $47.36 USD/tháng,” ông này nói rõ.

Bản tin tờ Thanh Niên thuật lại các con số khảo sát lương bổng công nhân tại khu vực Á Châu được nêu ra tại cuộc hội thảo nói trên cho thấy “Indonesia $82 USD/tháng, Trung Quốc $117 USD/tháng, Thái Lan $156 USD/tháng, Philippines $167 USD/tháng, Malaysia $336 USD/tháng, Ðài Loan $540 USD/tháng, Hàn Quốc $830 USD/tháng, Singapore $1,146 USD/tháng và Nhật $1,810 USD/tháng.”

“Ông Matthias Duhn nhận định, giá lao động rẻ là một trong những nguyên nhân khiến giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp ở Việt Nam thấp. Vì thế, không thể dựa vào giá lao động rẻ để đạt tới chuỗi giá trị gia tăng cao được.” Tờ Thanh Niên nói.

Vì lương chết đói, hàng trăm vụ đình công xảy ra tại Việt Nam mỗi năm để đòi tăng lương. Không những lương thấp, công nhân tại Việt Nam còn bị ép buộc làm hơn số giờ lao động qui định mà không được trả tiền phụ trội. Bữa cơm trưa được cung cấp nhưng không đủ phẩm chất để tái tạo sức lao động. Nghỉ bệnh, thai sản bị có thể bị đuổi luôn.

Các vụ ngộ độc tập thể xảy ra rất thường tại các khu công nghệ tại Việt Nam vì thực phẩm ôi thiu, mất vệ sinh.

Luật lệ lao động của nước CHXHCNVN gồm nhiều tầng nấc tròng tréo khiến cho công nhân không thể đình công “đúng luật.” Bởi vậy, các cuộc đình công tại Việt Nam đều bị coi là “bất hợp pháp.” Hệ thống công đoàn đều là các tổ chức ngoại vi của Ðảng Cộng Sản không bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Ngày 29 tháng 11, 2010 vừa qua, ông Michael Porter, giáo sư Ðại Học Harvard, khuyến cáo trong cuộc hội thảo “Cạnh tranh và Chiến lược công ty ngày nay” ở Hà Nội rằng: “Bắt chước Trung Quốc trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa giá rẻ là điều Việt Nam hoàn toàn không nên làm.”

Ðại diện Ngân Hàng Thế Giới ở Việt Nam trong cuộc họp cấp viện hôm Thứ Tư vừa qua cũng đã vạch ra cho thấy sai lầm trong chính sách kinh tế của nhà cầm quyền Hà Nội là chỉ dựa vào một lực lượng công nhân không chuyên môn giá rẻ và moi tài nguyên thiên nhiên ra bán./-

 





NỀN KINH TẾ KHẬP KHIỄNG VÌ THAM NHŨNG
CỦA “CON HỔ “ VIỆT NAM

Nền kinh tế khập khiễng của con “Hổ” Việt Nam
Amelie Bottollier-Depois  (AFP)
Lê Quốc Tuấn chuyển ngữ


Từng được ca ngợi như một “con hổ châu Á” hai thập kỷ trước, hiện nay Việt Nam đã tụt lại phía sau và cần nhiều cải cách hơn nữa để có thể đuổi kịp những nước láng giềng, các nhà đầu tư nước ngoài đã cho biết.

Cơ sở hạ tầng quá tải, lực lượng lao động kém trình độ, nạn quan liêu và tham nhũng nặng nề chỉ là một số trong những vấn nạn mà các nhà đầu tư nhắc đến.

Các hy vọng và hứa hẹn của những năm 1990, khi quốc gia cộng sản này từ bỏ một nền kinh tế có kế hoạch để theo đuổi các quy luật thị trường đã không thành hiện thực.

“Hầu hết các nhà đầu tư đều đồng ý rằng Việt Nam có tiềm năng rất lớn”, ông Adam Sitkoff, giám đốc điều hành Phòng Thương mại Mỹ Việt Nam (AmCham) cho biết.

“Tuy nhiên, đất nước này đang phải đấu tranh để đạt được các tiềm năng của mình, do cản trở của một tiến trình chậm chạp trong một danh sách những cản trở lâu năm về đầu tư”.

Theo Ngân hàng Phát triển châu Á, trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã thuộc về các nước châu Á phát triển nhanh nhất, với mức tăng trưởng trung bình hàng năm 7,1 phần trăm từ năm 1990 đến năm 2009.

Theo tiêu chuẩn của Ngân Hàng Thế giới, với thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.200 USD, quốc gia có 86 triệu người này hiện nay là một nước có “thu nhập trung bình”.

Nhưng Việt Nam vẫn còn ở rất xa so với Đài Loan, Singapore hay Nam Hàn, những nước thành công được giấc mơ cạnh tranh và đạt tốc độ tăng trưởng nhanh chóng khiến họ mang được danh hiệu các nền kinh tế “Hổ (Tiger)”.

Đất nước này có “nguy cơ rơi vào loại ‘cạm bẫy của thu nhập trung bình’, sự bất khả phát sinh từ một nền kinh tế dựa trên lao động rẻ và phương pháp sản xuất công nghệ thấp”, ông Matthias Duhn, Giám đốc điều hành Eurocham, Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam cho biết.

Những cảnh báo này đến ngay trước cuộc họp của Đại Hội Đảng Cộng sản mỗi năm năm, dự kiến sẽ tổ chức vào giữa tháng Giêng.

Quốc hội VN, một cuộc họp mờ ám như bản chất của mình, sẽ quyết định các chức vụ chính trị chủ chốt, cũng như “các chủ đề kinh tế chính” của đất nước này cho năm năm kế tiếp, ông Benoit de Treglode, giám đốc Viện Nghiên cứu đương đại Đông Nam Á (IRASEC) ở Bangkok cho biết.

Cộng đồng quốc tế đã tăng cường các lời kêu gọi cải cách trong các tuần lễ trước đại hội, hy vọng sẽ được các nhà lãnh đạo hàng đầu lắng nghe, ông nói.

Vào hôm thứ năm 2-12-2010, các lãnh đạo doanh nghiệp nước ngoài đã tái nhấn mạnh quan tâm của họ tại Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức hai lần một năm bởi Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam.

Họ đã kêu gọi đến việc phải phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cấp kỹ năng của người lao động, tinh giản bộ máy quan liêu cùng những cải cách khác.

Chủ tịch Phòng Thương Mại Mỹ cũng tuyên bố với Diễn đàn nói trên rằng: Việt Nam đã vi phạm các cam kết của mình với Tổ chức Thương mại Thế giới bằng một đạo luật kiểm soát giá mới nhắm mục tiêu vào các công ty nước ngoài.

Một số quan chức thân cận với chế độ thừa nhận nhu cầu phải cải cách.

“Quá nhiều sự chú ý đã đặt vào việc gia tăng đầu tư hơn là chất lượng, hiệu quả, năng suất và sức cạnh tranh” trích lời tuyên bố của gần đây của ông Trần Tiến Cường thuộc Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) từ Vietnam News của nhà nước.

Phòng Thương Mại châu Âu ước tính rằng Việt Nam cần khoảng 70 đến 80 tỉ đô la đầu tư về đường sắt, đường bộ và cơ sở hạ tầng cảng biển trong 5 đến 10 năm tới.

Con số này sẽ tăng đến 120 tỷ USD nếu bao gồm cả cơ sở năng lượng hạ tầng tại quốc gia thiếu điện này, bản báo cáo cho biết.

Các chướng ngại khác bao gồm tình trạng tham nhũng và bất ổn của đồng tiền Việt Nam, vốn đã bị phá giá ba lần từ cuối năm ngoái.

Những lo ngại nghiêm trọng cũng đã xuất hiện trong những tháng gần đây về tình trạng sức khỏe tài chính của các tập đoàn nhà nước lớn.

Dù Việt Nam Airlines nổi bật như một đối thủ có tầm vóc khu vực, các nhà đầu tư đang tự hỏi liệu các công ty nhà nước khác có đang ở trong hoàn cảnh của Vinashin, Tập đoàn Công nghiệp đóng tàu Việt Nam hay không.

Công ty này đã ở bờ vực phá sản với khoản nợ ít nhất là 86 nghìn tỉ đồng VN (4,4 tỷ USD).

Ông Adam Sitkoff của Phòng Thương Mại Mỹ ngỏ ý tiếc rằng khu vực quốc doanh vẫn tiếp tục đóng một vai trò chi phối trong nền kinh tế..

“Các nhà đầu tư tự hỏi, tập đoàn mở rộng nào của nhà nước sẽ là thành phần thất bại tiếp theo, hoặc sẽ bị buộc phải đưa các tài sản thua lỗ vào bảng cân đối tài chính của mình” ông đã nói.

Việt Nam luôn đưa ra các loại cải cách theo tốc độ riêng của mình – từ từ và cẩn thận.

Nhưng ông Benoit de Treglode của IRASEC cho biết các yêu cầu của cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đã tăng thêm tiếng vang trước thềm Đại hội Đảng Cộng sản.

Với một triệu thanh niên bước vào thị trường việc làm hàng năm, trong mối lo ngại đến sự duy trì quyền lực của mình, đảng cầm quyền đang “không có được vị thế để đóng lại cánh cửa” với các đề xuất của nước ngoài, ông nói.







ĐỒNG TIỀN VN
ĐANG CÓ VẤN ĐỀ RẤT NGHIÊM TRỌNG


Ngân hàng đầu tư Mỹ Morgan Stanley nói đồng tiền CS Việt Nam ‘có vấn đề rất nghiêm trọng’ trong bối cảnh kinh tế yếu và mậu dịch bị thâm hụt, báo tài chính Mỹ Bloomberg đưa tin ngày 9/12.

Thực trạng cán cân thanh toán xấu đi, nền kinh tế yếu và thâm hụt mậu dịch đang tạo "sức ép lớn đáng kể " đối với tiền đồng, Stewart Newnham, chuyên viên nghiên cứu chiến lược tiền tệ tại Morgan Stanley nói tại một hội nghị ở Tp HCM.

Kể từ hồi tháng Năm 2008, thời điểm ông Newnham nói đồng tiền Việt Nam theo gót chân “khủng hoảng tiền tệ” như Thái Lan (1997), tiền đồng đã mất giá 17% so với đôla Mỹ.

Nếu nguồn tài chính không đủ để trang trải cho nhập khẩu thì ai sẽ bù đắp vào chỗ thiếu hụt này?

Tiền đồng bị mất giá 5.2% vào năm nay theo số liệu của Bloomberg.

Tỷ giá tiền đồng so với đôla Mỹ “quá nhiều khả năng” tiến tới 23.000 đồng/đô la trong năm 2011, ông Newnham nói.

"Kể từ năm 2008, tiền đồng đã bị rơi vào vùng nguy hiểm vì kinh tế tăng trưởng kém và vẫn bị thâm hụt mậu dịch", ông Newnham nói thêm.

Thâm hụt mậu dịch

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều chỉnh tỷ giá tiền đồng 2% (18.932 VND /USD) vào ngày 18 tháng Tám là lần phá giá thứ ba kể từ tháng 11 năm ngoái.

Đây là động thái trong lúc có quan ngại việc gia tăng nhập khẩu sẽ tạo nguy cơ rằng Việt Nam sẽ thiếu tiền để bù đắp thâm hụt mậu dịch.

Vào tháng 11 mức thâm hụt mậu dịch tăng 16% (ở mức 1.25 tỷ đôla) so với mức 1.08 tỷ đôla hồi tháng Mười, theo số liệu sơ bộ Tổng cục Thống kê Việt Nam đưa ra vào ngày 25 tháng 11.

Tức là mức thâm hụt mậu dịch tổng cộng trong 11 tháng (tính tới tháng 11) là 10.66 tỷ đôla.

"Nếu nguồn tài chính không đủ để trang trải cho nhập khẩu thì ai sẽ bù đắp vào chỗ thiếu hụt này?" ông Newnham hỏi.

"Câu trả lời là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam." ông tự trả lời.

Trong tuần này Quỹ Tiền tệ Quốc tế cảnh báo nguồn dự trữ ngoại hối quốc gia của Việt Nam ở mức "thấp".

IMF cho biết dự trữ ngoại hối của Việt Nam vào cuối tháng Chín ở mức chỉ đủ trang trải cho 1,8 tháng nhập khẩu.

 



NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG VN GIA TĂNG

Vinashin đã trở thành biểu tượng của tập đoàn kinh tế Nhà nước làm tổn hại công quỹ.
DR
Thanh Phương


Trong báo cáo công bố ngày 07/12/2010 tại Hà Nội, Ngân hàng Thế giới cảnh báo là tình trạng gần như phá sản của Vinashin có thể làm tăng tỷ lệ nợ xấu trong một số ngân hàng Việt Nam. Theo báo cáo, chính phủ Việt Nam cần cập nhật thông tin về tình trạng của các công ty Nhà nước để thẩm định những rủi ro tài chính.

Công ty thẩm định tài chính Standard and Poors ngày 29/11 vừa qua đã cho biết là nợ của tập đoàn Vinashin có thể lên tới 3 % tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng Việt Nam. Công ty này còn dự đoán là trong vòng 30 ngày nữa, Vinashin sẽ không còn khả năng thanh toán nợ nước ngoài.

Trong một báo cáo được công bố hôm nay tại hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam tại Hà Nội, Ngân hàng Thế giới cảnh báo là tình trạng gần như phá sản của Vinashin có thể làm tăng tỷ lệ nợ xấu trong một số ngân hàng Việt Nam. Báo cáo cho rằng chính phủ Việt Nam cần thu thập những thông tin cập nhật về tình trạng của các công ty Nhà nước và thẩm định những rủi ro tài chính của các công ty này.

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, hệ thống ngân hàng của Việt Nam sẽ chịu nhiều áp lực trong năm nay, do các ngân hàng ngày càng khó mà duy trì mức tăng tiền ký gởi, do tiền đồng ngày càng mất giá, do các khoản ký gởi bằng tiền đồng được chuyển thành vàng hoặc đôla...

Theo cùng chiều hướng đó, hôm nay, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đưa ra nhận định rằng, mặc dù các ngân hàng Việt Nam không bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính ở các nước phát triển, nhưng các ngân hàng này gặp nhiều vấn đề từ chính trong nước. Mức tăng tín dụng trong những năm gần đây có thể làm suy thoái chất lượng tài sản của các ngân hàng Việt Nam, trong đó có các khoản vay của Vinashin và các công ty lớn của Nhà nước cũng như không phảì Nhà nước.

Crédit Suisse có thể sẽ bác yêu cầu hoãn trả món nợ đáo hạn của Vinashin

Lời cảnh báo của Ngân hàng Thế giới được đưa ra đúng vào lúc mà theo hãng tin DPA của Đức, các chủ nợ quốc tế, mà đại diện là ngân hàng Thụy Sĩ Crédit Suisse, có thể sẽ bác bỏ yêu cầu của chính phủ muốn hoãn việc trả món nợ đáo hạn 60 triệu đôla của Vinashin ngày 20/12 tới. 60 triệu đôla này nằm trong số 600 triệu đôla trái phiếu mà Vinashin phát hành năm 2007 thông qua ngân hàng Crédit Suìse.

Theo nhận định của hãng tin DPA, nếu yêu cầu hoãn trả nợ của Vinashin bị bác bỏ, điều này sẽ làm tổn hại đến uy tín của chính phủ Việt Nam và sẽ làm tăng thêm cấp độ rủi ro về đầu tư cho cả nước. Một nguồn tin từ ngân hàng Crédit Suisse cũng cho rằng sự kiện nói trên sẽ có ảnh hưởng rất xấu đến khả năng của Việt Nam huy động nguồn tín dụng ngoại quốc trong nhiều năm. Đặc biệt, nó sẽ gây khó khăn cho chính phủ Việt Nam khi họ muốn vay nợ cho các dự án cơ sở hạ tầng.

Cho dù, các chủ nợ quyết định ra sao thì vụ Vinashin đã đã gây tổn hại cho sự tín nhiệm của các nhà đầu tư vào Việt Nam, nhất là như lời đại sứ Anh tại Việt Nam, Antony Stokes, « chắc chắn sẽ có những Vinashin khác ».

 


MOODY’S CHO XUỐNG CẤP
SÁU NGÂN HÀNG VIỆT NAM


Moody's cuts ratings of six Vietnamese banks

Dec 15 (Reuters) - HANOI, Dec 15 (Reuters) - Moody's Investors Service cut the foreign currency deposit ratings of six Vietnamese banks to B2 from B1 with a ...

All the banks are based in Hanoi, except for the Asia Commercial Bank which has its headquarters in Ho Chi Minh City, Vietnam's commercial centre

High Risks
Asia Commercial Bank
Standard Chartered Plc . Bank
Development of Vietnam (BIDV)
Military Commercial Bank
Saigon Hanoi Bank
Technological & Commercial Bank (Techcombank)
HSBC Holdings Plc
Vietnam International Bank
Commonwealth Bank

 


MOODY’S HẠ ĐIỂM CÔNG TRÁI VN
 
Đức Tâm 

Hôm nay, 15/12/2010, công ty thẩm định tài chính có uy tín trên thế giới Moody’s thông báo hạ điểm đối với công trái của Nhà nước Việt Nam, từ Ba3 xuống B1, do có những rủi ro liên quan đến cán cân thanh toán, lạm phát phi mã và những khoản nợ khổng lồ của doanh nghiệp nhà nước Vinashin.

Moody’s còn dự báo « triển vọng tiêu cực », từ ngữ trong nguyên văn, đối với tình hình tài chính sắp tới tại Việt Nam.

Công ty thẩm định tài chính này giải thích sở dĩ họ quyết định hạ điểm đối với công trái Việt Nam vì, rủi ro cao về khủng hoảng cán cân thanh toán, do việc thâm hụt cán cân thương mại tăng, luống vốn tư bản chạy ra bên ngoài, mức dự trữ hối đoái xuống thấp, đồng tiền Việt Nam bị mất giá cũng như nạn lạm phát ở mức hai con số, tức là trên 10%.

Công ty Moody’s cũng nhấn mạnh tới việc chính phủ Việt Nam từ chối hỗ trợ tài chính cho Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin, trong lúc doanh nghiệp của Nhà nước này đang mắc một khoản nợ ít nhất là 86 ngàn tỷ đồng, khoảng 4,4 tỷ đô la, tương đương 4,5% tổng sản phẩm nội địa PIB của Việt Nam trong năm 2009.

Sự từ chối giúp đỡ nói trên cho thấy ít có khả năng chính phủ Việt Nam hỗ trợ Vinashin hoặc các tập đoàn khác của Nhà nước và do vậy làm tăng mối lo ngại về nguy cơ mất khả năng trả nợ đối với khu vực công, hiện vẫn chiếm ưu thế trong nền kinh tế Việt Nam.

Công ty Moody’s nhấn mạnh, việc không thanh toán được nợ của Vinashin đối với nước ngoài có thể sẽ làm tổn hại đến khả năng của Việt Nam trong việc huy động vốn trên thị trường nước ngoài với lãi suất có thể chấp nhận được để đáp ứng các nhu cầu vốn rất cao trong lĩnh vực hạ tầng cơ sở.

Theo AFP, việc tập đoàn Vinashin gần như bị phá sản đã làm suy yếu chính phủ, gây ra một vụ bê bối lớn ở Việt Nam. Các tác động tiêu cực của sự kiện này lan rộng ở nước ngoài.

Vinashin đã đề nghị được hoãn trả nợ 60 triệu đô la, đáo hạn vào ngày 20/12 năm nay. Đây là một phần trong khoản tín dụng 600 triệu đô la do một nhóm các ngân hàng, đứng đầu là Crédit Suisse, cung cấp cho Vinashin.

Hôm thứ hai vừa qua, công ty thẩm định tài chính Standard & Poor’s (SP) đã khẳng định rằng nợ của Vinashin làm suy yếu hệ thống ngân hàng và khả năng cấp tín dụng của toàn thể các cơ sở tài chính của Việt Nam.

Vẫn theo AFP, trong những năm gần đây, Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách kinh tế quan trọng nhưng vẫn chưa hợp lý hóa được sự phát triển các tập đoàn nhà nước, vốn vẫn được quản lý không minh bạch và không hợp lý.

 


STANDARD & POOR’S
HẠ ĐIỂM TẬP ĐOÀN VINACOMIN

Đức Tâm 


Hôm 06/12/2010, Standard & Poor’s, một trong những công ty tư thẩm định tài chính có uy tín trên thị trường quốc tế đã ra thông báo, hạ điểm xếp hạng tín dụng dài hạn đối với Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam – Vinacomin, từ BB xuống BB-. Theo giới phân tích, đây là hậu quả nhãn tiền, tất yếu phải xẩy ra sau khi Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy – Vinashin đứng bên bờ vực phá sản và dường như chính phủ Việt Nam không muốn can thiệp cứu giúp về tài chính.

Trong thông báo, Standard & Poor’s giải thích, việc hạ xếp hạng của Vinacomin phản ánh quan điểm của công ty thẩm định tài chính này, theo đó, khả năng chính phủ Việt Nam hỗ trợ đột xuất đặc biệt cho công ty là thấp nếu xẩy ra những khó khăn về tài chính.

Ngày 23/11 vừa qua, Vinacomin đã phải đình hoãn việc phát hành công trái huy động 500 triệu đô la, với thời hạn 10 năm và lãi suất lên tới 7,25%.

Trước đó, Standard & Poor’s đã đánh giá khả năng chính phủ Việt Nam giúp đỡ tài chính cho các doanh nghiệp nhà nước là rất cao. Tuy nhiên, những diễn biến gần đây liên quan đến việc xử lý khoản nợ khổng lồ của Vinashin đã làm cho công ty này thay đổi lập trường.

Mùa hè vừa qua, chính phủ Việt Nam đã buộc phải tuyên bố cơ cấu lại Vinashin. Nợ của tập đoàn này lên tới khoảng 4,4 tỷ đô la. Giới phân tích và các chủ tín dụng đang theo dõi chặt chẽ phản ứng của chính phủ Việt Nam vì vào ngày 20/12 sắp tới, Vinashin phải thanh toán 60 triệu đô la đáo hạn trong số 600 triệu đô la huy động trên thị trường tài chính quốc tế, với thời hạn 8 năm. Vừa qua, Vinashin đã xin đề nghị hoãn trả khoản nợ 60 triệu. Ngày mai, 07/12, các chủ nợ sẽ thảo luận về vấn đề này.

Chuyên gia Vincent Ho, thuộc công ty thẩm định tài chính Fitch, được Reuters trích dẫn, nói «chúng tôi đã cảnh báo về đề nghị của Vinashin đối với các chủ tín dụng xin hoãn trả nợ… điều này có nghĩa là tình hình không được tốt cho lắm ».

Trong khi đó, đối với ông Jonathan Pincus, phụ trách Chương trình Giảng dậy Kinh tế Fulbright ở thành phố Hồ Chí Minh thì việc hạ xếp hạng đối với Vinacomin là một thông tin vừa tốt vừa xấu.

Theo chuyên gia này, việc thông báo cho các công ty và các chủ nợ rằng chính phủ sẽ không bảo lãnh các khoản nợ sẽ buộc những người cho vay phải xem xét rất cẩn thận khi cấp tín dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam. Điều không tốt là bất kỳ doanh nghiệp nào tại Việt Nam sẽ phải trả giá cao khi đi vay trên thị trường quốc tế.

 


ÁP LỰC GIA TĂNG LÊN ỔN ĐỊNH VĨ MÔ

Vũ Minh
08/12/2010

 
Tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ CG năm nay, những lo ngại về bất ổn kinh tế vĩ mô, về vấn đề lòng tin suy giảm thậm chí được nêu ra thẳng thắn và tập trung hơn so với các kỳ hội nghị năm 2008 và 2009, khi Việt Nam phải gồng mình vật lộn với hai mục tiêu trái ngược nhau là kiềm chế lạm phát rồi chống suy giảm kinh tế.

Các bất ổn kinh tế vĩ mô quay trở lại trong những tháng cuối năm đã trở thành động lực để chính phủ và các nhà tài trợ quốc tế đặt tên cho Hội nghị CG năm nay là "Ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững".

Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Victoria Kwakwa nói: "Tôi muốn nhấn mạnh rằng, thay đổi bên lề là hoàn toàn không hiệu quả. Nó đòi hỏi một tầm nhìn rõ ràng, và cam kết chính trị mạnh để hiện thực hóa các hành động nhằm vẽ nên tiến trình phát triển mới cho Việt Nam".

Bà Kwakwa đã kết luận mạnh mẽ như trên sau khi nêu bật lên hàng loạt các thách thức phát triển đối với Việt Nam như xác định lại vai trò của chính phủ phù hợp với nền kinh tế thị trường, xây dựng các nguồn lực có lợi thế cạnh tranh mới, lựa chọn con đường phát triển bền vững hơn với môi trường,... và hơn hết, là duy trì một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định để tạo khuôn khổ cho tất cả những yêu cầu đó.

Giám đốc Ngân hàng thế giới, người giữ vai trò chủ tọa trong phiên họp CG ngày hôm nay 7/12, trước đó đã công bố hàng loạt các dấu hiệu bất ổn vĩ mô của Việt Nam trong những tháng gần đây trong báo cáo Cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam 2010 được phổ biến tại hội nghị.

Theo báo cáo này, lạm phát đứng ở mức 9,6% trong 11 tháng đầu năm và sẽ vào khoảng 11,1% trong cả năm nay. Từ góc độ lịch sử, Việt Nam luôn có tỷ lệ lạm phát cao hơn các nước láng giềng trong gần thập kỷ qua là khoảng 8,8%, so với 2,7% của Thái Lan và 5,1% của Philippines.

Đồng tiền của Việt Nam trong ba năm qua đã chịu áp lực nặng nề và đã mất giá gần một phần ba so với đo la Mỹ, trong khi tình hình càng trở nên quan ngại khi mức dự trữ ngoại hối giảm dần.

Bên cạnh đó, báo cáo nhận xét, một khối lượng lớn ngoại tệ đã được găm giữ bên ngoài hệ thống ngân hàng (lên 12,2% GDP năm 2009 và 5,9% trong 10 tháng đầu năm 2010). Có nghĩa là, báo cáo của Ngân hàng Thế giới nhận xét, vấn đề ngoại hối của Việt Nam không chỉ xuất phát từ các bất ổn kinh tế vĩ mô, mà còn là kết quả của sự suy giảm niềm tin của thị trường vào khả năng của các cơ quan hữu quan trong việc khắc phục các bất ổn đó.

Bà Kwakwa nhận định: "Bản thân mục tiêu hoạch định chính sách của Việt Nam dường như đã có thiên vị cố hữu, coi trọng mục tiêu tăng trưởng cao hơn là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô."

Nhận xét thẳng thắn của Giám đốc Ngân hàng thế giới được hầu hết các đối tác phát triển của Việt Nam chia sẻ. Trong bản tuyên bố chung của các đối tác phát triển do Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB và Austrailia dẫn đầu được phổ biến tại hội nghị, các nhà tài trợ yêu cầu chính phủ phải xem ổn định kinh tế là điều kiện tiên quyết.

Các nhà tài trợ khuyến nghị, Việt Nam phải xây dựng một chính sách tiền tệ rõ ràng trong dài hạn để có thể xếp hàng ngang với các nước láng giềng trong ASEAN về mục tiêu lạm phát đang chỉ ở mức trung bình khoảng 2-4%.

Bên cạnh đó, các nhà tài trợ quốc tế yêu cầu Chính phủ cần củng cố tài khóa bằng việc tăng cường giám sát các khoản chi tiêu công, nhất là với nhiều doanh nghiệp nhà nước lớn đang tiến hành các hoạt động đầu tư và vay nợ mang nhiều rủi ro và thiếu hiệu quả; cũng như giảm nợ công.

Tuyên bố chung của các nhà tài trợ nhấn mạnh: "Việt Nam cần gửi đi một tín hiệu rõ rằng với thị trường rằng, quốc gia nghiêm túc trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, dỡ bỏ áp lực đè nặng lên tiền đồng và duy trì tăng trưởng bền vững".

Tuy vậy, nhận định thẳng thắn nhất - như mọi khi - đến từ Quỹ tiền tệ quốc tế, cơ quan chỉ duy trì những hoạt động mang tính hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam, thay vì cung cấp các  khoản vay trị giá lớn.

Trưởng phòng Vụ Châu Á và Thái Bình Dương Quỹ Tiền tệ Quốc tế Masato Miyazaki nói: "Chúng tôi tin rằng, sự bất ổn định của các điều kiện kinh tế vĩ mô phần nhiều là do sự mất niềm tin của thị trường vào định hướng chính sách kinh tế vĩ mô. Chính phủ phải thể hiện sự quyết tâm và cam kết lâu dài về duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và đối phó với những rủi ro kinh tế vĩ mô đang gia tăng. Thực tế là bất chấp có những tuyên bố chính thức thì ngược lại, những động thái chính sách của chính phủ thường xuyên gây ấn tượng rằng chính phủ coi trọng tăng trưởng ngắn hạn hơn là sự ổn định cần thiết để duy trì tăng trưởng trong dài hạn."

Ông khuyến nghị chính phủ nên thực hiện ngay ba chính sách như sau:

Thứ nhất, thắt chặt hơn nữa chính sách tiền tệ để khôi phục lại một cách trật tự các điều kiện trên thị trường ngoại hối và kiềm chế áp lực lạm phát. Trong trung hạn, chỉ có thể có một thị trường ngoại hối ổn định nếu chính sách tiền tệ được tái định hướng nhằm đạt được mức lạm phát gần hơn với mực lạm phát trung bình 3-4% của các nước ASEAN.

Thứ hai, chính phủ cần thực hiện một kế hoạch củng cố ngân sách nhằm giảm tỷ lệ nợ công trên GDP để nâng cao niềm tin và tạo không gian tài khóa trong bối cảnh có sự lo ngại về các khoản nợ dự phòng được bảo lãnh và ngầm được bảo lãnh. Việc giảm hơn nữa thâm hụt ngân sách xuống dưới 5% GDP trong năm 2011 và khoảng 3% năm 2015 dường như sẽ đạt được nếu quá trình củng cố ngân sách được duy trì.

Và cuối cùng, IMF cho rằng, chính phủ cần tiếp tục có các cuộc cải cách nhằm đảm bảo hệ thống tài chính vững mạnh, hiệu quả và dựa trên nguyên tắc thị trường do lo ngại rằng, tín dụng tăng mạnh trên 30% trong các năm 2007 và 2009 có thể dẫn đến suy giảm chất lượng tài sản của họ, bao gồm các khoản vay cho Vinashin hay các công ty nhà nước và ngoài nhà nước lớn khác.

Trong nỗ lực tương tự, các đại sứ Hoa Kỳ, Anh, phái đoàn châu Âu, và Liên hiệp quốc... đều nhấn mạnh chính phủ cần tập trung nỗ lực ổn định kinh tế vĩ mô để vừa "giảm gánh nặng cho người nghèo", vừa "gia tăng lòng tin của các nhà đầu tư".

Những lo ngại nêu trên được nêu ra thẳng thắn và tập trung hơn so với các kỳ hội nghị CG năm 2008 và 2009, khi Việt Nam phải gồng mình vật lộn với hai mục tiêu trái ngược nhau là  kiềm chế lạm phát rồi chống suy giảm kinh tế.

Quan ngại trên lại được nêu ra trong bối cảnh hầu hết các quốc gia trong khu vực đã dần trở lại quỹ đạo phát triển, với GDP tăng cao và CPI giảm nhiều so với Việt Nam vào cuối năm 2010.

Mặc dù vậy, báo cáo của Chính phủ Việt Nam do Thứ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Cao Viết Sinh trình bày cho rằng, việc đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô là một thách thức lớn, nhưng nhờ những biện pháp điều hành linh hoạt, phù hợp nên tình hình "đã có bước cải thiện".

Bản báo có này không đề cập đến con số lạm phát lên tới 9,58% trong 11 tháng đầu năm nay mà Tổng cục thống kê công bố.

Tuy nhiên, trong thông điệp nhằm trấn an các nhà tài trợ quốc tế, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư khẳng định, chính phủ đặt mục tiêu cho năm 2011 là tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Cũng như ông Phúc, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cam kết, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành chính sách tiền tệ "chủ động, linh hoạt và thận trọng" nhằm mục tiêu hàng đầu là kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô trong năm tới.

Nhìn nhận lại khả năng điều hành tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, Thống đốc khẳng định, tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng khoảng 25-27% trong năm nay là phù hợp với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, góp phần hỗ trợ hai mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát.

Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận, lạm phát tăng cao trở lại, thâm hụt ngân sách, đầu tư công và nợ công lớn, và đặc biệt cơ chế điều hành thiên về hỗ trợ tăng trưởng là những thách thức cho Việt Nam.

 



CUỐI NĂM CHỐNG THAM NHŨNG,
ĐẦU NĂM CHỐNG CÁI GÌ ?

Pham Tran
December 9, 2010


Khi “quốc nạn” tham nhũng tiếp tục giương mắt ra cười vào mũi đảng như hiện nay, hay nghiêm trọng hơn sau Đại hội đảng XI diễn ra vào tháng 1/2011 thì đảng và nhà nước CSVN có còn xứng đáng tồn tại không ?

Chuyện dài chống tham nhũng của Việt nam càng chống càng thua và càng hô hào chống thì càng có nhiều cán bộ,đảng viên bỏ đảng chạy theo tham nhũng.

Vũ Tiến Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Tham nhũng báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) trong nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng do Ban Bí thư tổ chức tại Hà Nội ngày 30/11 như sau:

“ Mặc dù đã có nhiều cố gắng, quyết tâm nhưng đến nay, công tác PCTN chưa tạo được sự chuyển biến có tính cơ bản; Tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng và diễn biến phức tạp, tiếp tục diễn ra ở nhiều ngành, nhiều cấp; nhiều hạn chế, yếu kém trong công tác PCTN chậm được khắc phục; tham nhũng chưa được ngăn chặn và từng bước được đẩy lùi… như mục tiêu Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) đã đề ra; Tệ tham nhũng vẫn là vấn đề bức xúc và mối quan tâm lớn của toàn xã hội.” (Báo Điện tử CSVN, 30-11-1010)

Vậy Nghị quyết 3 ngày 29/7/2006” Về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”đã nói gì  với Tham nhũng ?

Hãy đọc  đọan mở đầu của Nghị quyết:

“ Trong những năm qua, nhất là từ sau Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Ðảng và Nhà nước ta đã tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Nhiều cán bộ, đảng viên giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, đi đầu trong cuộc đấu tranh này. Nhiều vụ án tham nhũng, trong đó có những vụ án lớn, phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng đã được phát hiện, xử lý.

Tuy nhiên, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, hiệu quả  thấp. Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Ðảng và chế độ ta.”

Cũng nên biết Luật Phòng, Chống Tham Nhũng đã có hiệu lực từ năm 2005, đến năm 2006,Nghị quyết 3 ra đời đã nói về những nguyên nhân đẻ ra tham nhũng như thế  này:

“ Nguyên nhân chủ yếu của những thiếu sót, khuyết điểm trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí là:

- Cơ chế, chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở, nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung.

- Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nói chung, của bộ máy nhà nước nói riêng, còn nhiều khuyết điểm, chất lượng và hiệu quả chưa cao; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của một số cơ quan, tổ chức chưa được xác định rõ ràng, cụ thể, còn trùng lặp hoặc bị phân tán.

- Nhiều tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tính nghiêm trọng, sự nguy hại của tệ tham nhũng, lãng phí, nên lãnh đạo không chặt chẽ, thiếu kiểm tra, đôn đốc, thậm chí còn nể nang, né tránh, dung túng, bao che cho tham nhũng, lãng phí; chưa thực sự dựa vào dân và chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị.

- Công tác cán bộ nói chung và việc quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức nói riêng còn nhiều yếu kém. Một bộ phận không nhỏ đảng viên, cán bộ, công chức suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống. Không ít cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả cán bộ lãnh đạo cao cấp, còn thiếu gương mẫu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức; chưa đi đầu trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong những năm tới, phải đẩy mạnh toàn diện và kiên quyết cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.”

Vậy 4 năm sau đến ngày 30 tháng 11 năm 2010 Ban Bí thư đảng đã nói với nhân dân về những”hạn chế, yếu kém trong công tác Phòng chống Tham Nhũng” như thế nào ?

Hãy đọc Báo cáo của Vũ Tiến Chiến: “5 nguyên nhân của hạn chế, yếu kém trong công tác PCTN:

(1) Quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước về PCTN chưa thực sự trở thành hành động tự giác của tất cả các ngành, các cấp, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Nguồn lực đầu tư cho công tác PCTN nhất là nguồn lực con người và sự quan tâm dành cho công tác PCTN chưa tương xứng và đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh PCTN;

(2) Năng lực và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn yếu kém, vai trò, trách nhiệm, tính gương mẫu của người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa được phát huy ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của công tác PCTN; nhận thức và ý thức còn hạn chế, thiếu chủ động trong tổ chức thực hiện. Công tác đấu tranh tự phê bình và phê bình trong nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức chưa thường xuyên, chưa đủ mạnh để tự phát hiện các hành vi tham nhũng;

(3) Cơ chế, chính sách trên nhiều lĩnh vực vẫn còn sơ hở, thiếu đồng bộ, bất cập, chưa theo kịp sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế – xã hội đất nước trong thời kỳ hội nhập và sự phát triển vượt bậc của khóa học, công nghệ trong thời kỳ đổi mới. Các quy định cụ thể về PCTN chưa được rà soát, đánh giá để điều chỉnh, bổ sung kịp thời, một số giải pháp PCTN chưa thật sự hiệu quả. Thiếu các quy định và biện pháp cần thiết cho công tác đấu tranh chống tội phạm tham nhũng, một loại tội phạm tinh vị, phức tạp và nguy hiểm;

(4) Tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên trách về PCTN chưa đủ mạnh; mô hình tổ chức BCĐ Trung ương và cấp tỉnh chưa tạo được sự thống nhất; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mới dừng lại ở quy định chung, thiếu các quy định cụ thể, quyền hạn chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao;

(5) Do hành vi tham nhũng ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên phạm vi rộng ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội; đối tượng tham nhũng là những người có chức vụ, quyền hạn, một số người có nhiều công lao, thành tích và cống hiến, vì vậy, việc phát hiện và xử lý tham nhũng còn gặp nhiều khó khăn. Các cơ chế, chính sách và hệ thống cơ quan chuyên trách về PCTN mới đi vào thực hiện, cần có thời gian mới phát huy được tác dụng, hiệu quả.

CHỐNG MÃI VẪN TRƠ RA

Như vậy thì công tác phòng,chống Tham Nhũng của đảng và Nhà nước CSVN đã đưa đất nước đi về đâu sau 5 năm có Luật chống Tham nhũng, hay vẫn dậm chận tại chỗ để  chờ phép lạ ?

Bằng chứng”ăn hại, đái nát” của đảng và nhà nước trong công tác chống tham nhũng còn được Trương Vĩnh Trọng, Phó Thủ tướng, Phó trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng thú nhận: “Hiện nay tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng và diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp. Tham nhũng chưa được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi… như mục tiêu Nghị quyết Trung ương 3 đã đề ra, tệ tham nhũng vẫn là vấn đề bức xúc, mối quan tâm lớn của toàn xã hội”.

Trong khi đó Báo ViệtNamNet (30-11-2010) còn viết: “Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống, tham nhũng nêu rõ:”Giữa quyết tâm chính trị với hành động thực tiễn trong công tác phòng chống tham nhũng còn khoảng cách đáng kể… Việc tự phát hiện hành vi tham nhũng trong từng cơ quan, tổ chức, đơn vị còn rất hạn chế, số vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện và xử lý còn thấp, chưa tương xứng với tình hình tham nhũng đang diễn ra…”.

“… Bên cạnh đó, chất lượng điều tra, truy tố, xét xử nhiều vụ án tham nhũng còn hạn chế. Một số vụ án nghiêm trọng, phức tạp xử lý chậm, kéo dài, có biểu hiện hữu khuynh, nể nang, lạm dụng việc bồi thường, khắc phục hậu quả để xử lý hành chính.

Báo cáo cũng nhấn mạnh hiện tượng”chạy chức”,”chạy quyền”,”chạy tội” chưa được quan tâm chỉ đạo làm rõ, tình trạng tham nhũng”vặt”, tham nhũng thông qua”lợi ích nhóm” chưa được quan tâm và xử lý đúng mức, sự yếu kém trong quản lý dẫn đến các sai phạm, gây thất thoát lớn tiền, tài sản của Nhà nước trong một số doanh nghiệp, trong đó có yếu tố vụ lợi… gây bức xúc, bất bình trong xã hội.”

Nhưng tất cả những lời thú tội bất lực của Ban chỉ đạo Trung ương chống tham nhũng do Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng cầm đầu có gì mới không và tại sao Dũng đã vắng mặt tại Hội nghị quan trọng này ?

Chẳng lẽ là người đứng đầu chống tham nhũng mà Dũng không có trách nhiệm gì với đất nước khi để cho cán bộ, đảng viên  dưới quyền, nhất là những kẻ có chức, có quyền tiếp tục ăn cướp  đồng tiền mồ hôi, nước mắt của người dân ?

Vụ Vinashin với con số 96.000 tỷ đồng thuộc trách nhiệm chính phủ

Việc  Ban Chỉ đạo Trung ương chống Tham nhũng đã nêu lên  5 kiến nghị cơ bản, nhưng thực chất chỉ lập lại những chỉ thị đã có từ trước nhưng không làm được, tiêu biểu như lệnh buộc các cấp lãnh đạo phải kê khai tài sản đã bị quên lãng từ lâu, hay có làm cũng rất hạn chế và hình thức vì nhân dân không được phép biết.

Nguyên văn 5 đề nghị với đảng của Hội nghị ngày 30-11-2010 như sau:

(1) Chỉ đạo khẩn trương ban hành quy định về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; nghiên cứu quy định về việc công khai tài sản ở một số chức danh chủ chốt trong diện phải kê khai tài sản, thu nhập theo quy định tại Nghị định số 37, công khai tài sản của cán bộ, công chức khi được đề bạt, bổ nhiệm và tham gia ứng cử khi bầu cử, có cơ chế để xác minh, thẩm định việc kê khai tài sản, thu nhập;
(2) Xây dựng và ban hành quy chế về trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng khi để xảy ra tham nhũng trong tổ chức đảng mình được giao nhiệm vụ quản lý; có đường lối xử lý đối với các vụ án tham nhũng để khắc phục tình trạng bị cáo phạm tội tham nhũng được hưởng án treo chiếm tỷ lệ cao và nhiều phạm nhân tham nhũng được đặc xá sớm như hiện nay;
(3) Trên cơ sở đặc thù của tội phạm tham nhũng, tiếp tục nghiên cứu áp dụng biện pháp kỹ thuật điều tra đặc biệt;
(4) Khẩn trương nghiên cứu để hoàn thiện mô hình các cơ quan có chức năng PCTN theo hướng: tất cả đều phải có cơ quan đầu mối theo dõi công tác PCTN với quy mô và hình thức phù hợp, cần tăng cường thẩm quyền và bổ sung các quy định để bảo đảm hiệu lực trong chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương, đối với Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, có thể thí điểm mô hình Trưởng Ban Chỉ đạo là Bí thư hoặc Chủ tịch HĐND (Hội đồng Nhân Dân);
(5) Nhanh chóng tiến hành tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), có thể đưa vào kỳ họp cuối 2011 để có những bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của công tác PCTN trong thời kỳ mới.

Cũng tại Hội nghị quan trọng này Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư còn báo động nguy cơ của Tham nhũng đối với tương lai của đảng: “Trong 5 năm tới, tình hình trong nước và quốc tế có cả thời cơ và thách thức lớn đan xen, trong đó có những mặt diễn biến khó lường. Tham nhũng tiếp tục vẫn là một trong những thách thức lớn, là một trong những nguy cơ mà Đảng ta luôn cảnh báo. Đây là một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài của công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Mỗi cán bộ, đảng viên trong tất cả các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở phải thực sự gương mẫu thực hiện và trực tiếp tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh này thì mới xoay chuyển được tình hình.” (Báo Điện tử Đảng, 30-11-2010)

Vậy nếu “quốc nạn” tham nhũng tiếp tục giương mắt ra cười vào mũi đảng như hiện nay, hay nghiêm trọng hơn sau Đại hội đảng XI diễn ra vào tháng 1/2011 thì  đảng và nhà nước CSVN có còn xứng đáng tồn tại không ?

Cách nay gần 5 năm, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng CSVN đã bô bô nói với  cả nước rằng: “Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng ta, nhằm xây dựng một bộ máy lãnh đạo và quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”.

Vụ tham nhũng tại PMU 18: Cán cân công lý đã đảo ngược  

Ngòai ra tại buổi Bế mạc  Kỳ Hội nghị 3 Trung ương đảng X” Về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”  ngày 29/7/2006, Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư đảng còn to mồm khoa giáo  với các Ủy viên Trung ương rằng: ”Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí đồng thời phải giữ vững ổn định chính trị để phát triển; muốn giữ vững ổn định chính trị để phát triển thì một trong những việc quan trọng là phải kiên quyết đấu tranh và đấu tranh có hiệu quả chống tham nhũng, lãng phí. Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo của mình đối với cuộc đấu tranh này, đồng thời phải huy động toàn bộ hệ thống chính trị, đặc biệt là phải dựa chắc vào nhân dân, đó là nhân tố chính yếu bảo đảm thành công.

Hội nghị Trung ương đã thảo luận, thông qua những nghị quyết quan trọng. Vấn đề có ý nghĩa quyết định là”nói thì phải làm” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên trong tư cách người cách mạng, ngay từ ngày mới thành lập Đảng.

Muốn cho các cấp”nói thì phải làm”, trước hết từng đồng chí ủy viên Trung ương chúng ta phải gương mẫu. Mỗi đồng chí ủy viên Trung ương Đảng và gia đình của mình phải là tấm gương trong xã hội về cuộc sống trong sạch, liêm khiết. Tôi tin chắc là chúng ta có thể làm được như thế, xứng đáng là đảng viên của Đảng do Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện.”
Như vậy, nếu căn cứ vào nội dung phổ biến tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng  trong nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng  vừa diễn ra tại Hà Nội ngày 30-11-2010 thì đảng CSVN nói chung và riêng cá nhân Mạnh có còn tư cách gì để lập lại câu” nói thì phải làm”?

Phạm Trần
(12/010)

 



TAI HỌA TỪ SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT
KHÔNG GIỐNG AI

Bùi Tín


Vấn đề sở hữu ruộng đất là vấn đề gay go nan giải từ hơn nửa thế kỷ nay trên đất nước ta, hiện trở thành chuyện thời sự rất bức bách.

Cải cách ruộng đất, sai lầm rồi sửa sai, rồi hợp tác hóa nông nghiệp, thủ tiêu quyền sở hữu ruộng đất, công bố ruộng đất khắp nơi là thuộc «quyền sở hữu của tòan dân» - nghĩa là thực tế không một ai có ruộng đất riêng cả. Luật Đất đai công bố năm 2003, bổ sung, sửa đổi bao lần, năm nay đã đặt trong chương trình làm luật của Quốc hội, nhằm sửa đổi lớn một lần nữa. Thế rồi lại hụt. Vì sao vậy? Vì sao 2 đạo luật hệ trọng bậc nhất là Luật Đất đai và Luật Báo chí lại bị rớt trong chương trình? Vì Bộ Chính trị nát óc, vò đầu, không tìm ra lối ra, vì các chuyên viên trợ lý xoay xở không xong, đành chơi con bài trì hoãn. Hoãn đến bao giờ? Không ai biết! Kẹt cứng chỉ vì «sở hữu toàn dân» là mơ hồ, không giống ai.

Đành xoay quanh các luật lẻ tẻ, về thuế, về thuốc men, về chăm sóc sức khỏe, về giao thông, hàng hóa, về người cao tuổi, để mọi người yên trí, Quốc hội vẫn cần mẫn làm luật.

Luật Báo chí rất gay go, ở thời đại truyền thông bén nhạy, quyền được thông tin tự do, đầy đủ là quyền của mọi công dân thế giới, ngăn chặn thông tin tư do minh bạch là một tội lỗi, bỏ tù người công dân nói lên sự thật là chuyện cộng đồng quốc tế không thể chấp nhận. Nhưng chế độ độc quyền đảng trị mâu thuẫn với tự do báo chí như nước với lửa. Bế tắc là tất nhiên.

Còn về ruộng đất. Bộ Chính trị cũng bế tắc nốt, vì yêu cầu trả lại cho nông dân quyền tư hữu ruộng đất đang trở nên rộng khắp, quyết liệt. Ăn nói làm sao khi các trí thức uyên bác nhất, các chuyên gia thượng thặng, không phải nhà nông, không sống về ruộng đất, lại lên tiếng yêu cầu đảng và nhà nước hãy cấp bách trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nhà nông, coi như điều kiện không thể thiếu để phát triển nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn, đưa nông dân vào con đường làm ăn chiều sâu kiểu nông trại quy mô lớn bền vững.

Từ hơn 2 năm trước, một nữ sinh viên ngành luật, chưa đến tuổi 20, đã để tâm nghiên cứu kỹ vấn đề ruộng đất ở nước ta, từ thời xa xưa đến thời hiện đại, từ thời phong kiến qua thời Pháp thuộc đến thời kỳ gọi là XHCN, và chỉ ra rằng đã đến lúc phải từ bỏ ngay quan điểm “ruộng đất là thuộc quyền sở hữu của toàn dân» mà em cho là “phản động » nghĩa là tai hại cho đất nước, vì nó không giống ai, nó kỳ quặc, không giống nước nào khác cả (Bài: Tôi tìm hiểu Luật Đất Đai của em Đỗ Thúy Hường, hiện có trên mạng, vào Luật Đất Đai). Thuộc “quyền sở hữu của toàn dân” là thế nào? là cả 84 triệu con người đều có quyền sở hữu tất cả các thửa ruộng, miếng đất trên lãnh thổ Việt Nam hay sao? Và khi cần mua hay bán thì trên văn tự, giấy tờ, phải có sự đồng ý, thỏa thuận, chữ ký của cả 84 triệu con người hay sao?

Em Đỗ Thúy Hường chỉ ra dã tâm của lãnh đạo đảng CS, vì tự nhận là đảng cầm quyền, nên đảng cũng tự nhận “toàn dân” là ta đây, là đảng làm đại diện, “toàn dân» là chính quyền nhân dân (thật ra là chính quyền độc đảng) chứ còn ai vào đó nữa. Thế là nghiễm nhiên những người không hề bỏ ra chút mồ hôi, xương máu nào để khai phá,vun trồng, bảo vệ ruộng đất bỗng nhiên - chỉ bằng một câu do họ ép phải ghi vào Hiến pháp - được làm chủ, tha hồ xử lý toàn bộ đất đai của đất nước, ngang nhiên tước đoạt quyền sở hữu hợp pháp từ bao đời trước của những người chủ chân chính. Lạnh lùng, ngang ngược! Thà rằng nói toạc ra là tất cả ruộng đất đều là đất công hết!

Em Đỗ Thúy Hường chỉ ra những thuật ngữ  kỳ lạ xuất hiện trong Luật Đất đai sửa đổi hiện đang được áp dụng, đó là các cụm từ “thu hồi” và “đền bù”. Sao lại «thu hồi»? Ruộng đất vốn của tôi, tôi đang lao động trên cánh đồng của tôi, nay bỗng nhiên có người đến chiếm và nói rằng bị « thu hồi». Móc túí lấy tiền của người ta bỏ vào túi mình, rồi nói là có quyền «thu hồi», thế có lạ không! Anh kêu ca thắc mắc thì đây, tôi thí cho anh ít tiền “đền bù”, tiền đền bù do tôi quyết định, anh không nhận kệ anh. Tiền gọi là “đền bù» thường chỉ bằng 1/2, 1/3, có khi 1/4, cũng có khi chỉ 1/6, hay 1/10 của giá trị thị trường, nhất là ở những nơi có vị trí chiến lược then chốt, đất quý như vàng. Hoặc đền bù bằng một mảnh đất khác, ở xa, xấu hơn, giá trị kém nhiều.

Đó, đảng CS thực hiện liên minh công nông như thế đó. Đảng tự nhận là giai cấp công nhân, coi giai cấp nông dân là đồng minh chiến lược lâu dài như vậy đó! Đảng đền ơn đáp nghĩa cho nông dân từng hy sinh người và của lớn nhất cho chiến tranh như vậy đó ! Để như có phép lạ, hàng loạt cán bộ đảng trong đảng ủy xã, trong huyện ủy, quận ủy, tỉnh ủy trong nháy mắt trở thành địa chủ, đại địa chủ, phú nông, làm chủ đất mới, nhà mới,cho phát canh thu tô, được nhân dân tặng cho danh hiệu “đảng ăn đất”, “cướp đất”, “cò đất», “sâu đất”, “mafia đất».

Đáng chú ý trong đợt góp ý kiến với các văn kiện Đại Hội XI vừa qua, nhiều trí thức, nhà nghiên cứu như tiến sỹ Nguyễn Quang A, hay như nguyên Thứ trưởng Tài nguyên – Môi trường Đặng Hùng Võ đều yêu cầu nhà nước, đảng phải trả lại dứt khoát, sòng phẳng quyền tư hữu ruộng đất cho từng hộ nông dân, cho những nhà nông chân chính.

Tại sao đảng và chính quyền đã trả lại quyền sở hữu tư nhân cho nhà kinh doanh thương nghiệp, cho nhà công nghiệp, thủ công nghiệp, cho các nhà kinh doanh dịch vụ, mà lại chỉ cấm không cho nông dân quyền tư hữu ruộng đất vốn có từ xa xưa, được tôn trọng suốt trong thời phong kiến, cả trong thời Pháp thuộc? Không có câu trả lời.

Nông dân vẫn chiếm số đông áp đảo trong dân số nước ta. Hãy quan sát nông thôn Thái Lan, Nhật Bản, hay Ấn Độ, người nông dân làm chủ triệt để ruộng đất của mình, chăm sóc từng thửa ruộng, từng luống rau, từng mảnh ao của mình như chăm nom đứa con cưng, tích lũy nhanh, tậu máy móc to lớn, hiện đại, chung sức lập trang trại ngày càng lớn, kinh doanh tổng hợp trồng trọt, chăn nuôi, thủ công nghiệp, buôn bán, làm cho nông thôn phồn vinh, giáo dục, y tế, văn hóa nông thôn khởi sắc. Chìa khóa của thành đạt là quyền sở hữu tư nhân được triệt để tôn trọng. Ở các nước ấy, không ai biết đến các biện pháp “thu hồi” và “đền bù” lạ hoắc!
 
Lại xin nhắc đến "Mười lời cảnh báo" của nhà quân sư Đặng Tiểu Bình cho đảng CS Trung Quốc hơn 12 năm trước. Trong đó, lời cảnh báo rất nghiêm khắc là “bỏ quên liên minh công nông, coi nhẹ nông thôn và nông nghiệp, sẽ là nguy cơ lâu dài tệ hại nhất, là thất bại hiển nhiên của sự nghiệp cải cách».

Đã có nhiều trí thức, nhà văn, nhà báo nước ta báo động về đại nạn ly nông, ly hương ở nước ta, nông thôn biến thành bãi rác đầy ô nhiễm của thành thị, của các vùng công nghiệp, nước sạch ngày càng hiếm, nạn cường hào mới lan tràn, các thủ tục khôi phục nhanh, an ninh càng nguy khốn, cờ bạc, hút xách, buôn người, đĩ điếm, trộm cắp lan tràn không gì ngăn nổi.

Một nguyên nhân gốc rễ là