|  |
|  | 
| | | ========================== =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| | | =============================================================== VietTUDAN --------------------------------------------------------------THOI SU/ THONG TIN =============================================================== |
| | |
NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:
ĐÁNH THẲNG VÀO VIỆC ĂN CƯỚP CỦA CHUNG LÀM CỦA RIÊNG VÀ CHUYỂN RA NƯỚC NGOÀI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.02.2011 Web: http://VietTUDAN.net
Trong thời Cách Mạng Dạ Dầy thành công này của Tunisie, Ai Cập và Libye này, chúng tôi rất vui mừng đọc trên các Diễn Đàn những bài kêu gọi dân chúng Việt Nam đứng dậy đòi quyền sống.
Chúng tôi không viết như những khích động lời kêu gọi Quốc nội nổi dậy, nhưng viết cho Quốc nội thấy rằng dân chúng buộc lòng phải tự đứng lên, còn nếu cứ cúi đầu chịu nhục trước cướp bóc của CSVN hay chỉ nằm ngửa chờ sung rụng mà ăn, thì CSVN vẫn “kiên định“ đè đầu bóp cổ cướp bóc cho đến khi mình chết. Hãy tự chính mình, vì đói quá mà đứng dậy như dân Tunisie, Ai Cập và Libye. Dứt bỏ Cơ chế CSVN hiện hành, đó là trách nhiệm của Quốc nội.
Suốt mấy tuần nay, từ Hải ngoại, chúng tôi viết chính yếu và thực hiện tích cực về việc TRUY TÌM TÀI SẢN TỘI PHẠM CSVN nhằm yêu cầu nước ngoài đang giữ, phải phong tỏa và phục hồi cho Dân chúng VN tại Quốc nội. Trên Diễn Đàn, chúng tôi rất vui mừng thấy một số Vi hữu đưa lên bằng hình những cơ sở cụ thể của một số Lãnh đạo đương quyền. Những cơ sở này chỉ có thể có được do tham nhũng mà thôi. Chúng tôi cũng rất vui mừng xem được trên Diễn Đàn những hình ảnh dân nghèo cùng cực. Những hình ảnh này cho thấy hố sâu giữa người giầu nứt khố và kẻ nghèo kiết xác. Sự đối chọi tạo Tâm lý HẬN THÙ xã hội cần thiết cho Cách Mạng.
Bài ngắn này của chúng tôi hôm nay nhằm cắt nghĩa hai điều mà chúng tôi đã làm:
=> VĂN PHÒNG Truy tìm Tài sản Tội phạm CSVN => TIỀN THƯỞNG 5% cho ai tìm được Tài sản Tội phạm
VĂN PHÒNG Truy tìm Tài sản Tội phạm CSVN
Như chúng tôi đã nhiều lần nhấn mạnh rằng khi những vụ THAM NHŨNG LÃNG PHÍ tiền triệu, thậm chí tiền tỉ Đo-la, Nhà Nước chỉ cất chức hoặc bắt tù ít năm, nhưng không bao giờ thấy Nhà Nước đi tới thêm nữa là phải tìm ra những tiền ăn cắp đó nằm ở đâu để lấy lại cho Dân. Dân chúng không quan tâm đến việc ông này còn chức, bà nọ mất chức, mà quan tâm đến việc chính yếu là tiền bạc tham nhũng lãng phí nằm ở đâu để moi ra. Việc lập VĂN PHÒNG Truy tìm Tài sản Tội phạm CSVN mang tính cách thường xuyên đi đúng vào mối quan tâm của Dân chúng và cảnh cáo CSVN rằng việc dấu nhẹm đi những món tiền tham nhũng lãng phí để chia chác với nhau là việc bất chính. Ngoài việc đi đúng nguyện vọng dân chúng, VĂN PHÒNG TRUY TÌM TÀI SẢN TỘI PHẠM này còn nhằm những mục đích sau đây:
* Thường xuyên nhắc cho dân chúng nghèo thấy rằng nhòm Mafia CSVN đã bóc lột sức lao động của họ bán cho tư bản ngoại lai, khai thác tài nguyên quốc gia làm của riêng nhóm đảng. Những tiền cướp dựt ấy được ngầm chuyển ra nước ngoài cất giấu. Việc thường xuyên nhắc này tạo cho quần chúng nghèo tâm lý THÙ HẬN đối với nhóm đảng Mafia CSVN bóc lột. Cuộc Cách Mạng cần tâm lý HẬN THÙ xã hội này để dứt điểm hạ kẻ tội phạm, chứ không “đối thoại“ hay hòa hợp hòa giải để chúng lừa đảo nữa.
* Qua những việc Thụy sĩ phong tỏa Tài sản của Ben ALI và Hosni MUBARAK, chúng tôi thấy Kiều bào Tunisie và Ai Cập có những hồ sơ sẵn. Tỉ dụ nếu lúc này, dân chúng Việt Nam nổi dậy và dứt bỏ Cơ chế CSVN hiện hành, thử hỏi chúng ta đã sẵn sàng nhờ Luật sư, với tối thiểu những thông tin về tài sản bất chính, để yêu cầu Thụy sĩ phong tỏa hay chưa ? VĂN PHÒNG Truy tìm Tài sản Tội phạm CSVN lưu tâm thu thập những thông tin tối thiểu nhằm có hồ sơ khi cuộc Cách Mạng tại Việt Nam đứng lên.
TIỀN THƯỞNG 5% cho ai Tìm được Tài sản Tội phạm
Chúng tôi xin đăng kèm dưới đây việc KHẲNG ĐỊNH TIỀN THƯỞNG (Chi phí + Hoa hồng) cho ai tìm được Tài sản bất chính CSVN cất giấu. Việc quyết định TIỀN THƯỞNG có hai hiệu lực chính sau đây:
* Việc truy tìm ra tài sản bất chính cất giấu không phải là dễ dàng. Nhiều khi chính một số Ngân Hàng đã chỉ dẫn cho kẻ bất chính cất giấu thế nào cho kín đáo. Khi kêu gọi, khuyến khích tinh thần yêu nước, thương nòi, để cố gắng đi tìm tòi, nhiều khi tinh thần yêu nước, thương nòi ấy xìu xuống với thời gian. Lấy tỉ dụ lúc đầu của cuộc Cách Mạng vô sản. Đảng Cộng sản nại ra tinh thần Cách Mạng ra để công nhân làm việc ngày đêm. Dần dần, làm việc mệt quá, mà chưa thấy Thiên đàng Cộng sản, công nhân xười ra. Đảng lại tặng danh hiệu “anh hùng lao động “ để vì danh hiệu ấy mà làm việc. Cuối cùng huân chương “anh hùng lao động “ không phải là tiền bạc mà chỉ là cái danh hão làm mình mệt đừ. Dân lao động trở thành thực tế và đòi huân chương “anh hùng lao động“ giá bao nhiêu và hãy cho họ TIỀN THƯỞNG cụ thể để họ có tiền mua đồ ăn cho gia đình. TIỀN THƯỞNG mới chính là Kích thích (Stimulus) thực sự cho sự cố gắng làm việc. TT.BUSH đã áp dụng TIỀN THƯỞNG này mới moi được Saddam HUSSEIN từ dưới lỗ lên để kết án.
* Hiệu quả thứ hai của TIỀN THƯỞNG là chính trong nội bộ CSVN đi tố cáo nhau. Thực vậy, chỉ có người trong chăn mới biết chăn có rận ở chỗ nào. Chúng tôi lấy một tỉ dụ của dân quê Việt Nam về việc đuổi chuột mà không cần mèo bởi vì mèo không rúc vào hang chuột được mà chỉ có chuột mới chui vèo hết nganh ngóc của hang chuột. Khi bắt sống được con chuột, chỉ cần khâu hậu môn của nó lại và thả ra. Cứt chuột khô và con chuột không ỉa ra được, nên nó bí ỉa và nổi xùng. Nó bực tức mò hết hang cùng ngõ hèm để cắn các con chuột khác. Chuột cắn nhau và bỏ đi nơi khác.
Thư KHẲNG ĐỊNH TIỀN THƯỞNG này được phỗ biến rộng rãi đến tận những đảng viên, nhất là Lãnh đạo, đến giới sinh viên du học cùng chung với những sinh viên con ông cháu cha của đảng, đến các sứ quán CSVN, đến các Ngân Hàng tại Việt Nam. Chúng sẽ nghi ngờ lẫn nhau vì có những kẻ trâu buộc ghét trâu ăn mà ngầm tố cáo hoặc chỉ vì TIỀN THƯỞNG mà chỉ điểm những kẻ tham nhũng hối lộ hạng bự.
Vì TIỀN mà Chồng có thể hại Vợ hoặc Vợ có thể phản Chồng huống chi chỉ là đồng chí đồng rận.
KHẲNG ĐỊNH CHI PHÍ & HOA HỒNG CONFIRMATION OF FEE & COMMISSION CONFIRMATION DES FRAIS & COMMISSION
Những Chế độ độc tài, tỉ dụ như tại Tunisie, Egypte, Lybie… cho thấy rằng họ đã cấu kết với tư bản nước ngoài để bóc lột nhân lực và khai thác tải nguyên quốc gia để làm của riêng mình và gử những tài s3n ấy ra cất giấu tại hải ngoại. Những tài sản riêng cất giấu này được gọi là tội phạm đối với dân nghèo tại quốc gia mà những chế độ nà khai thác.
Vì vậy, những Kiều bào, gốc từ hững quốc gia bị các chế độ đó bóc lột, có nhiệm vụ TRUY TÌM NHỮNG TÀI SẢN TỘI PHẠM của các chế độ ây ấy để yêu cầu những Quốc gia hiện giữ những tài sản tội phạm hãy PHONG TOẢ và HOÀN LẠI những tài sản tội phạm cho Quốc gia sở hữu.
Những Cá nhân hay Tổ chức làm việc trong mục đích như trên đã trình bầy phải chi tiêu trong việc tìm kiếm, đồng thời đáng được thưởng công về những dịch vụ thành công.
VĂN PHÒNG TRUY TÌM TÀI SẢN TỘI PHẠM CSVN trách nhiệm thâu nhận những thành quả truy tìm của những Cá nhân hay Tổ chức làm việc như trên, nên quyết định đấui tranh để những Cá nhân hay Tổ chúc đóng góp phải có bồi thường CHI PHÍ và có HOA HỒNG.
Vì vậy, VĂN PHÒNG TRUY TÌM TÀI SẢN TỘI PHẠM CSVN khẳng định mức mức hoàn trả CHI PHÍ và tặng HOA HỒNG như sau :
Tối thiểu 5% (năm phần trăm) tính trên Trị giá Tài sản phục hồi cho Sở hữ chủ.
VĂN PHÒNG TRUYTÌM TÀI SẢN TỘI PHẠM CSVN không tham dự vào 5% (năm phần trăm này mà chỉ : => Yêu cầu phía Sở hữu chủ trích ra 5% (năm phần trăm) => Bảo đảm 5% (năm phần trăm) ấy phải được thi hành cho Cá nhân hay Tổ chức theo đúng những quy định Pháp Lý theo PHÒNG THƯƠNG MẠI PARIS (Chamber of Commerce Paris/ Quy định ICC)
Thay mặt/ For / Pour VĂN PHÒNG TRUY TÌM TÀI SẢN TỘI PHẠM CSVN BUREAU OF RESEARCH FOR CRIMINAL FORTUNES OF VIETNAMESE COMMUNISM BUREAU DE RECHERCHE DES FORTUNES CRIMINELLES DU COMMUNISME VIETNAMIEN
Dr. NGUYEN PHUC LIEN Thư ký/ Secretary/ Secrétaire
|
| | TIN NGẮN BÌNH LUẬN TỪ 17.02--24.02.2011
Nguyễn Phúc Liên/ VietTUDAN Geneva, 24.02.2011 Web: http://VietTUDAN.net
Ghi lại những Tin Tức ngắn và thêm Bình Luận cá nhân khi đọc Tin trên các Diễn Đàn Internet, đọc Báo Chí, nghe Đài Phát Thanh hay xem Đài Truyền Hình. Có thể coi đây như một thứ Nhật Ký về Tin Tức.
THỤY SĨ PHONG TỎA TÀI SẢN KADHAFI
ĐÀI TRUYỀN HÌNH THỤY SĨ TỐI NAY, 19G30 NGÀY 24.02.2011, VỪA LOAN TIN RẰNG LIÊN BANG THỤY SĨ, MẶC DẦU KADHAFI VẪN CÒN Ở TRIPOLI, ĐÃ PHONG TỎA TẤT CẢ NHỮNG TÀI SẢN CỦA ÔNG VÀ GIA ĐÌNH TRÊN LÃNH THỔ THỤY SĨ.
TÀI SẢN NÀY GỒM TIỀN MẶT TRONG CÁC NGÂN HÀNG VÀ DÂY CHUYỀN NHỮNG CÂY XĂNG TAMOIL PHÂN PHỐI DẦU LỬA TRÊN LÃNH THỔ THỤY SĨ.
NGUYỄN PHÚC LIÊN
================
Hoa kỳ và Liên Âu không thể để Kadhafi tàn sát dân
Nếu Hoa kỳ và Liên Âu để Kadhafi mướn những tên sát nhân nước ngoài giết dân Libye tàn nhẫn, thì Hoa kỳ và Liên Âu đáng cúi gục đầu xuống gặm cỏ như súc vật và mang tiếng với Thế giới là dung dưỡng tội diệt chủng. Liên Âu và Hoa kỳ đừng ngửng đầu lên ngoang ngoác nói về nhân quyền nữa.
Vì quyền lợi của Liên Âu
Liên Âu bị đe dọa bởi giá dầu lửa tăng làm mất cạnh tranh Kinh tế của mình. Đồng thời nếu để Kadhafi thắng thế giết hại dân Libye, thì làn sóng dân tỵ nạn Bắc Phi sẽ tràn sang Liên Âu. Liên Âu ở trong cái thế buộc lòng phải sử dụng biện pháp quân sự để loại trừ nhà độc tài khát máu và điên khùng Kadhafi.
Gương quân đội Libye cho quân đội Việt Nam
Khi những nhà độc tài trở thành khùng mà điều hành quân đội và công an để giết dân, thì quân đội và công an không thể yên lương tâm. Tại Việt Nam, điều đáng ngại là Trung quốc cho quân sang dưới danh nghĩa bảo vệ công nhân Tầu tại Việt Nam và những quyền lợi Kinh tế của họ đầu tư vào Việt Nam.
Biểu tình vì đói tại Bắc Triều Tiên Bình Nhưỡng mừng sinh nhật lãnh đạo Kim Jong Il, ngày 16/02/2011. Hai ngày trước đó, người dân tại 3 thành phố Jongju, Yongchon và Sonchon biểu tình vì đói .
Theo AFP, trích dẫn nguồn tin từ một tờ nhật báo của Hàn Quốc hôm nay, người dân Bắc Triều Tiên xuống đường biểu tình tại ba thành phố lớn, một điều hiếm thấy tại đất nước này, nhằm phản đối việc khan hiếm lương thực và điện.
Tờ nhật báo cho biết, biểu tình kéo dài trong vòng hai ngày trước khi diễn ra ngày lễ sinh nhật của nhà lãnh đạo Kim Jong-Il vào ngày 16 tháng hai vừa qua, tại 3 thành phố Jongju, Yongchon và Sonchon thuộc tỉnh Pyongan, phía Tây của Bắc Triều Tiên.
10.000 người Việt còn ở Libya
Gần 10.000 người Việt, đại đa số là lao động xuất khẩu, còn ở lại Libya trong khi tình trạng bất ổn leo thang.
Trong khi nhiều quốc gia tổ chức sơ tán công dân của họ khỏi khu vực bấn loạn này, các nguồn tin cho hay công nhân Việt Nam hiện được khuyến cáo chờ đợi trước khi có quyết định được đưa về nước hay không.
Họ cũng được cảnh báo ở trong nhà, tránh các địa điểm tụ tập đông người hay có biểu tình.
Ông Đào Duy Tiến, Đại sứ Việt Nam tại Libya, nói với BBC rằng tòa đại sứ vẫn đang theo dõi chặt tình hình tại chỗ:
"Chúng tôi thông tin về trong nước để những cơ quan có trách nhiệm làm việc với các công ty đưa lao động sang bên này, yêu cầu họ cung cấp đầy đủ chi tiết cho gia đình (lao động) về tình hình Libya và cách xử lý của Việt Nam."
Hiện chưa có tin người Việt nào thương vong.
"Nếu có vấn đề gì xảy ra với 10.000 con người này thì đây là chuyện rất lớn.'
Toàn văn bản hiệu triệu Cách Mạng Hoa Lài Trung Quốc
Văn bản hiệu triệu phát đi vào ngày 17 tháng 2, và nằm trên facebook nhà Vương Đán vào ngày 18 tháng 2. Không loại trừ múi giờ chênh lệnh của giờ Trung Quốc và giờ Mỹ.
Dù thế nào đi nữa, bản văn hiệu triệu này trở nên hấp dẫn và quan trọng bởi tinh thần bao dung và ôn hòa, ứng xử với các tình huống qua lời gọi.
Đứng trên một góc độ xã hội, chính nó đã buộc nhà cầm quyền Trung Quốc, Hồ Cẩm Đào tuy quyết đàn áp phong trào nhưng phải trả lời về những bức xúc của người dân trong cuộc họp vào ngay đêm hôm trước khi Hoa Lài xuống phố.
Địa điểm tụ tập tại các thành phố lớn cho cách mạng Hoa Lài ở Trung Quốc Bắc kinh: Vương Phủ Tỉnh, trước cửa McDonald Thượng Hải: Quảng trường nhân dân, cửa trước Ảnh Đô Thiên Tân: dưới Cổ Lâu Nam Kinh: Quảng trường Cổ Lâu, Cổng bách hóa trên đường Tú Thủy Tây An: Đường Bắc Đại, Cổng Gia Lạc Phúc Thành Đô: Quảng trường Thiên phủ dưới tượng Mao chủ tịch Trường Sa: Quảng trường Ngũ Nhất, Cổng Tân đại hạ Tân đại Hàng Châu: Quảng trường Vũ lâm, Cổng Hàng Châu bách hóa đại lâu Quảng Châu: Công viên nhân dân, Cổng Tinh Ba Khắc Thẩm Dương: Nam Kinh bắc giai, Khẳng Đức Cơ môn khẩu Trường Xuân: Quảng trường văn hóa, Đại lộ Tây dân chủ, Cửa siêu thị khoái lạc cấu
Những thành phố nào không có trong danh sách này, xin bạn hãy đến tập trung ở những quảng trường trung tâm của thành phố đó.
Bắc Kinh rất lo ngại cuộc Cách mạng Hoa Lài
Một số chuyên gia cho biết Bắc Kinh rất lo ngại cuộc Cách mạng Hoa Lài có thể tác động đến sự ổn định xã hội ở Trung Cộng. Kể từ khi nổ ra những cuộc biểu tình chống chính phủ, chống chế độ độc tại ở các nước như Tunisia, Ai Cập và giờ đây lan sang nhiều quốc gia khác như Algeria, Libya, Yemen, Bahrain, chính quyền Trung Cộng đã tăng cường kiểm duyệt thông tin. Báo chí không được đăng tải những tin tức về các cuộc nổi dậy trong những ngày qua. Trong một bài phát biểu hôm thứ bẩy, chủ tịch Hồ Cẩm Ðào thừa nhận nguy cơ nổi loạn xã hội gia tăng và ông kêu gọi đảng cộng sản cầm quyền phải bảo vệ sự ổn định, tăng cường kiểm soát xã hội mạng internet. Theo lãnh đạo Trung Cộng, đảng cộng sản phải giải quyết những vấn đề cấp bách có nguy cơ gây tổn hại cho sự hài hòa và ổn định của xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích của người dân và củng cố trật tự xã hội. (SBTN)
“Hồ Cẩm Đào tiếp đặc phái viên Việt Nam”
Theo tin BBC ngày 19/2/2011:
Trưởng ban Đối ngoại Trung ương CSVN Hoàng Bình Quân vừa có chuyến thăm Tầu Cộng, đã được triều kiến Hồ Cẩm Đào tại Bắc Kinh.
Hoàng Bình Quân đi Bắc Kinh với tư cách đặc phái viên của Nguyễn Phú Trọng, tân TBT đảng CS Việt gian.
Hoàng Bình Quân sang Tầu Cộng với “nhiệm vụ” trình báo về kết quả Đại hội XI của Đảng vừa qua với Bắc Kinh và chuyển lời của Nguyễn Phú Trọng mời Hồ Cẩm Đào sang thăm Việt Nam. (Mời rồng viếng nhà tôm!)
Theo tin của một số thông tấn xã thì Tầu Cộng chưa trả lời đi hay không.
Đáp lại Hồ Cẩm Đào “đề nghị” (chỉ thị) đặc phái viên Hoàng Bình Quân chuyển lời mời Nguyễn Phú Trọng “sớm” (trình diện ngay?) sang thăm chính thức Trung Quốc”, tin của TTXVC cho hay.
Tân Hoa Xã trích lời Hồ Cẩm Đào: “Đảng và chính phủ Trung Quốc coi quan hệ với Việt Nam là mối bang giao lâu dài và có tầm chiến lược.” (Để sáp nhập lãnh thổ?)
Hoàng Bình Quân cũng “chuyển lời thăm hỏi và cám ơn của tân (thái thú) Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tới lãnh đạo Trung Quốc.” (Tạ ơn thiên tử đã chọn mặt và bảo kê?)
Quân nói thêm “ban lãnh đạo mới của Việt Nam sẽ tiếp tục làm việc với Trung Quốc để phát triển quan hệ song phương.” (Ngăn chặn “phản động” chống Tầu chẳng hạn?)
Các nhà ngoại giao Libya tại Liên Hiệp Quốc kêu gọi lật đổ chế độ Kadhafi Biểu tình chống chế độ Kadhafi trước trụ sở Liên hiệp quốc, New York, 21/2/2011 (REUTERS/Andrew Burton) Tú Anh
Chế độ Libya đang bị lung lay tận gốc rễ. Bất bình với việc chế độ huy động lính đánh thuê đàn áp biểu tình và dùng máy bay chiến đấu oanh kích thường dân, Bộ trưởng Tư pháp Lybia từ chức. Cùng lúc đó, hàng loạt sĩ quan và đại sứ đào nhiệm đứng về phía biểu tình và kêu gọi lật đổ nhà độc tài Kadhafi.
Sau 41 năm cầm quyền với bàn tay sắt, đại tá Kadhafi cô độc hơn bao giờ hết. Hôm qua, nhà thần học Hồi giáo có ảnh hưởng là giáo sĩ Yussef Al-Qardaoui ra thánh lệnh và, qua đài truyền hình Al-Jazira, kêu gọi quân đội Libya « hạ sát » lãnh đạo Kadhafi, kẻ đã « ra lệnh cho binh sĩ bắn vào dân của mình ».
Nhiều nhà lãnh đạo Libya đã đào nhiệm, bỏ rơi chế độ, như trường hợp của Bộ trưởng Tư pháp Moustapha Abdel Jalil, vừa từ chức phản đối chính quyền đàn áp dân chúng.
Đây cũng là trường hợp của hai phi công lái hai chiến đấu cơ Mirage F1, võ trang tên lửa, bay qua đảo Malta vào chiều hôm qua, xin tỵ nạn chính trị.
Hàng loạt đại sứ và nhân viên ngoại giao cao cấp ở Ấn Độ, Trung Quốc, tại Liên Đoàn Ả Rập, đã từ chức.
Hôm qua, đến lượt phó đại sứ Libya tại Liên Hiệp Quốc, cùng với 6 nhà ngoại giao trong phái bộ, đã công khai kêu gọi quân đội « đứng dậy lật đổ tên bạo chúa ».
Theo tin giờ chót, hai đại sứ của Libya tại Pháp và Unesco, không từ chức, nhưng, theo một nhân viên Unesco tại Paris, hai viên chức kể trên đã tuyên bố, đứng về phía nhân dân, "trong cuộc nổi dậy chống lại chế độ độc tài hung ác".
Từ New York, thông tín viên Karim Lebhour tường thuật:
« Chính phó đại sứ Libya tại Liên Hiệp Quốc đã yêu cầu Hội Đồng Bảo An triệu tập cuộc họp khẩn cấp. Ông Ibrahim Dabbashi, cùng nhiều nhà ngoại giao khác của Libya tại Liên Hiệp Quốc, thông báo : từ nay họ đứng vào hàng ngũ của phong trào biểu tình và kêu gọi lật đổ chế Kahdafi, mà họ gọi là « tên bạo chúa ».
Ngoài phái bộ ngoại giao Libya tại NewYork, cho đến nay đã có ít nhất 6 đại sứ Libya ở nhiều nước trên thế giới đã đào thoát. Sự kiện này cho thấy mức độ rạn nứt nghiêm trọng trong chế độ Tripoli.
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-Moon cũng tuyên bố là ông « kinh hoàng » trước hành động bạo lực của chính quyền Kadhafi, đã đem trực thăng võ trang và máy bay quân sự oanh kích thường dân.
Hội đồng Bảo An có thẩm quyền đưa ra những biện pháp cụ thể để bảo vệ dân lành. Trong bối cảnh này, các nhà ngoại giao Libya kêu gọi mở các hành lang nhân đạo để cho thường dân Libya có thể chạy sang các nước láng giềng lánh nạn. Họ cũng đề nghị thành lập « vùng cấm bay » trên toàn bộ không phận của Libya, để chính quyền không thể dùng máy bay chiến đấu đàn áp biểu tình ».
Phong trào phản kháng trong thế giới Ả Rập không dừng bước
Tại Yemen, khoảng 4.000 sinh viên biểu tình ngồi trước đại học Sanaa đã đụng độ với phe thân chế độ vào sáng nay. Cuộc đụng độ khiến 5 người bị thương.
Theo AFP, phe theo chế độ đã dùng dùi cui và dao găm tấn công vào sinh viên đối lập, trước khi cảnh sát can thiệp.
Biểu tình cũng dâng cao tại vương quốc Bahrain, nơi Hoa Kỳ đặt Tổng hành dinh hạm đội 5. Người dân địa phương từ chối các nhượng bộ của chính quyền và cương quyết đòi thành lập chế độ quân chủ lập hiến với một thủ tướng phải do dân trực tiếp bầu lên.
Tại Algeria, nhiều vụ xung đột đã xảy ra giữa cảnh sát chống biểu tình và khoảng 4.000 sinh viên tìm cách tập họp trước trụ sở Bộ Giáo dục đại học chiều hôm qua, thứ Hai (21/02).
Nguyễn Phúc Liên/ VietTUDAN Geneva, 24.02.2011 Web: http://VietTUDAN.net | |
| CỰU THỐNG ĐỐC VN BỊ NÊU ĐÍCH DANH NHẬN HỐI LỘ
Vụ cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN bị tố cáo nhận hối lộ trên báo phương Tây Trọng Nghĩa
Sau báo chí Úc hồi đầu tuần, hôm nay, 26/01/2011, đến lượt hãng tin Pháp AFP và nhật báo Anh Quốc Financial Times rất có uy tín, đồng loan tải những phát hiện mới trong vụ quan chức Nhà nước Việt Nam nhận hối lộ từ một công ty Úc để cho in tiền polymer tại Việt Nam trong thời gian từ năm 2002 đến 2009. Điểm mới được tiết lộ là đích danh ông Lê Đức Thúy, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vào thời xẩy ra vụ việc bị nêu tên là một trong những người được hưởng khoản hối lộ hậu hĩnh đó.
Vụ hối lộ nghiêm trọng này đã từng được hai tờ báo Úc là The Age và Sydney Morning Herald tiết lộ lần đầu tiên vào tháng 5 năm 2009, nhưng từ đó đến nay, mối liên can của ông Lê Đức Thúy chỉ được gợi lên một cách gián tiếp qua việc con trai ông có liên hệ làm môi giới cho Công ty Securency, nguyên là một công ty con của Ngân hàng Trung ương Úc (RBA), để giành được hợp đồng in tiền polymer cho Việt Nam. Chính trong thời gian ông Thúy làm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mà Việt Nam đã quyết định từ bỏ tiền giấy để dùng tiền polymer.
Thế nhưng, ngay từ thứ hai vừa qua, ông Lê Đức Thúy bị hai tờ báo nói trên nêu đích danh là một người đã nhận hối lộ của công ty Securency. Hãng tin Pháp AFP, trích dẫn nhật báo Úc The Age, cho biết rõ là chính Công ty Securency đã chi trả tiền học phí cho con trai ông Lê Đức Thúy tại trường Đại học Durham ở Anh Quốc. Công ty này đã sử dụng một "ngân quỹ bí mật". Quỹ này được thiết lập trên cơ sở các khoản tiền "hoa hồng", chi cho ông Lương Ngọc Anh, nhân vật chính thức làm môi giới giúp cho Securency giành được hợp đồng in tiền khổng lồ tại Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2009.
Vụ hối lộ này đã được chính quyền Úc điều tra từ 20 tháng nay, và theo nhật báo Anh Financial Times vào hôm nay, thì một người thân cận với giới điều tra đã cho biết rằng Securency bị cho là đã hối lộ ông Lê Đức Thúy, bằng cách trả hàng chục ngàn đô la tiền học phí cho con trai của ông ở nước ngoài. Thông tin này đã xác nhận thêm tiết lộ do nhật báo Úc The Age đưa ra cách nay hai hôm.
Cũng theo Financial Times, nguồn tin trên khẳng định là các khoản hối lộ cho ông Thúy chỉ là một phần trong số hơn 15 triệu đô la Úc mà Securency đã chi ra, thông qua một số ngân hàng ở Thụy Sĩ, Hồng Kông và nhiều tài khoản khác.
Ông Lê Đức Thúy là người đứng đầu Ngân hàng Trung ương Việt Nam từ năm 1999 đến năm 2007, trước khi được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Giám sát Tài chính Quốc gia, một chức vụ mà ông vẫn giữ cho đến ngày nay. Lẽ dĩ nhiên, từ ông Thúy cho đến phía công ty Securency hay Ngân hàng Trung ương Úc, không bên nào chấp nhận bình luận về những lời cáo buộc kể trên.
Xin nhắc lại là công ty Securency không chỉ dính líu đến các vụ tình nghi hối lộ ở Việt Nam. Hiện nay, họ còn bị điều tra về các cáo buộc hối lộ để giành hợp đồng in tiền tại nhiều nước khác như Nigeria, Indonesia hay Malaysia. Vào cuối tháng 10 năm ngoái, cảnh sát đã câu lưu một số người tại Anh, Tây Ban Nha, Úc và Malaysia trong khuôn khổ cuộc điều tra này.
Có điều, như một số nhà quan sát đã ghi nhận, cho đến hiện nay chính quyền Việt Nam cũng như các nhân vật bị nêu tên trong vụ tai tiếng này đều im lặng, không thấy có phản ứng gì. Trái với thái độ thụ động đó, tại Malaysia, nước lân cận với Việt Nam, nơi công ty Securency cũng bị cáo buộc hối lộ, chính quyền Kuala Lumpur lại tích cực hơn, sẵn sàng hợp tác với cảnh sát Úc để truy tìm thủ phạm.
LÊ ĐỨC THÚY ĂN, CẢ NƯỚC NHỤC
Tuesday, January 25, 2011 Ngô Nhân Dụng
Ông Lê Ðức Thúy bỗng dưng nổi tiếng. Các tờ báo ở Úc Châu (Australia) đang nêu tên ông. Kể từ bây giờ khắp thế giới phải biết tên ông, và biết chuyện con ông đã được cấp học bổng đi dùi mài kinh sử ở Ðại Học Durham bên Anh Quốc. Nhiều người Việt Nam đang ở Úc cảm thấy nhục khi bạn bè hỏi về chuyện này.
Nhưng ở Việt Nam thì ông Lê Ðức Thúy đã nổi tiếng từ lâu. Năm 2006 ông đã nổi tiếng vì xin “trả lại” một ngôi nhà mặt tiền cho nhà nước, và được chấp thuận ngay. Ông có gốc lớn; từng là “trợ lý” cho Tổng Bí Thư Ðỗ Mười, trước khi lên làm thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam từ năm 1999, kế vị ông Nguyễn Tấn Dũng (chuyện có thật, ông Nguyễn Tấn Dũng cũng từng làm thống đốc Ngân Hàng Trung Ương nước Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa). Ðến năm 2007 ông mới mất chức thống đốc nhưng sang tháng 3 năm sau, ông lại được Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng bổ nhiệm làm chủ tịch Ủy Ban Giám Sát Tài Chính Quốc Gia, chức to hơn nhưng phần ăn uống bị giảm.
Ông Lê Ðức Thúy là một ủy viên Trung Ương Ðảng hai khóa, đến khóa 11 này thì ngưng, cho nên không bị sóng gió xô đẩy trong cuộc tranh hùng giữa Tư Sang và Ba Dũng trước đại hội đảng. Nhưng ông Thúy từng được hưởng rất nhiều quả thực trong thời gian ông Dũng làm thủ tướng. Ðầu năm 2005, theo một nghị định của chính phủ, ông được mua “hóa giá” một ngôi nhà trên đường Lý Thái Tổ, Hà Nội. (Hóa giá là thủ đoạn biến của công thành của tư theo định hướng xã hội chủ nghĩa). Nhà mặt tiền, diện tích đất gần 80 mét vuông. Các thủ tục hành chính về nhà đất vốn rất rắc rối, phiền phức luôn luôn kéo dài (để cho các quan chức có đủ thời gian nhận quà bánh). Hiện nay hàng triệu người Việt Nam đã sống hàng chục năm trong ngôi nhà mình dựng lên nhưng vẫn không được “cấp sổ đỏ,” tức là chưa được nhà nước công nhận quyền sở hữu, nếu chưa làm đủ những “thủ tục đầu tiên.” Nhưng đối với ông Thúy thì thời gian hóa giá lại chạy quá nhanh. Ngôi nhà này thuộc sở hữu của chính phủ; cho nên trước hết “nhà nước” phải bàn giao căn nhà cho Sở Tài Nguyên Môi Trường Nhà Ðất Hà Nội; sau đó họ mới đem “hóa giá” cho ông Thúy. Từ lúc đầu cho đến khi ông Thúy được “cấp sổ đỏ” chỉ trong vòng 40 ngày. Không những nhanh, lại còn bán rẻ nữa. Giá trị thị trường ngôi nhà có thể lên đến hàng chục tỷ đồng nhưng được định giá khoảng 600 triệu đồng; rồi lại được hưởng nhiều khoản miễn giảm cho nên ông Thúy chỉ phải móc túi trả 476 triệu đồng thôi. Tất cả đều theo định hướng xã hội chủ nghĩa cả.
Ở đời phàm ăn miếng to quá và nuốt vội quá thì thế nào cũng bị nghẹn. Nhân lúc có bàn tay bên trong xùy cho báo chí tung tin vụ Chủ Tịch Thành Phố Hà Nội Hoàng Văn Nghiên bị tố về chuyện mua nhà hóa giá, người ta cũng đem ngôi nhà của ông Lê Ðức Thúy ra bàn. Nuốt chưa được hai năm, Lê Ðức Thúy phải nhả, xin trả lại ngôi nhà Lý Thái Tổ để dùng làm công sở như cũ! (Ông Hoàng Văn Nghiên vốn đã nổi tiếng ở Hà Nội ngang với ông Nguyễn Phú Trọng; qua câu đồng dao cũ: Giầu như Phú, Lú như Trọng, Lật lọng như Nghiên,...)
Nếu chỉ có chuyện nhà đất thì ông Ủy viên Trung Ương Ðảng Lê Ðức Thúy cũng chỉ nổi tiếng trong cái chuồng gà quanh quẩn ở Hà Nội mà thôi. Từ hôm Chủ Nhật vừa rồi, ông Thúy lại nổi danh quốc tế. Nhiều người biết tiếng ông, từ Úc qua Thụy Sĩ, qua Hồng Kông, chỉ vì vụ in tiền Việt Nam bên Úc. Báo chí bên đó đã nêu tên ông Thúy và con trai ông, trong lúc cảnh sát liên bang đang điều tra vụ hối lộ của công ty thuộc Ngân Hàng Trung Ương Úc.
Vụ này ở Việt Nam được gọi là vụ in tiền polymer. Năm 2007, có những lời tố cáo Lê Ðức Thúy đem in tiền bằng polymer vì con trai ông môi giới với nhà in Securency để nhận hoa hồng. Ngày 5 tháng 6, Phó Tổng Thanh Tra Lê Tiến Hào đã nêu danh Lê Ðức Minh, con trai Thống Ðốc Lê Ðức Thúy, làm việc cho công ty Banktech mà “công ty này tham gia quá trình thực hiện bộ tiền mới và cung cấp vật tư, thiết bị cho việc in tiền.” Nhưng đoàn thanh tra “không phát hiện hành vi tham nhũng nào cả.” Báo Tuổi Trẻ viết rằng Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “đã yêu cầu thống đốc và các phó thống đốc đề cao tinh thần tự giác phê bình, tổ chức kiểm điểm... có hình thức xử lý nghiêm minh với các trường hợp sai phạm. Ðồng thời đề ra các biện pháp cụ thể để sửa chữa, khắc phục kịp thời, báo cáo kết quả lên” vân vân. Khi một ông thủ tướng cộng sản ra lệnh các quan “đề cao tự giác phê bình, tổ chức kiểm điểm, xử lý nghiêm minh, vân vân ” là coi như chìm xuồng rồi. Nhưng ở Úc, một nước tự do dân chủ cai trị bằng pháp luật thì không cho chìm xuồng dễ dàng như vậy.
Tại Úc cũng như ở Mỹ, có đạo luật cấm các doanh nghiệp không được hối lộ quan chức nước khác để được lợi thế trong việc cạnh tranh. Ðây cũng là một hệ quả của quy tắc tự do cạnh tranh mà WTO muốn các quốc gia phải bảo vệ. Cảnh Sát Liên Bang Úc đã điều tra coi công ty Securency có hối lộ ai ở Việt Nam không. Và bây giờ thì, như nhật báo Người Việt đã loan tin, báo chí bên đó họ loan tin có hối lộ thật!
Nếu cảnh sát Úc đưa vụ này ra tòa thì thế nào tòa án cũng mời ông Lê Ðức Thúy hoặc cả con trai ông qua Úc làm nhân chứng. Ðây sẽ là vụ vi phạm luật cấm hối lộ quan chức ngoại quốc đầu tiên được đem ra xử ở nước Úc. Vinh dự “tiến lên hàng đầu” này là thành tích riêng của cha con Lê Ðức Thúy mà cũng là một vinh dự chung cho cả nước Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa. Có thể so sánh nó “ngang tầm thời đại” với vụ Viện Công tố Ðịa Phương Tokyo, vào năm 2008, đã mời ông Huỳnh Ngọc Sỹ qua Nhật Bản làm chứng về vụ hối lộ của công ty Tư Vấn Quốc Tế Thái Bình Dương (PCI); khi công ty PCI được trúng thầu tư vấn trong Dự án đại lộ Ðông Tây Sài Gòn. Ông Sỹ đã từ chối vinh dự đó. Tháng 12 năm 2008, chính phủ Nhật tuyên bố đình chỉ các dự án viện trợ ODA cho Việt Nam, một mối nhục có tầm cỡ quốc gia! Mất viện trợ thì Ðảng sẽ mất chỗ làm tiền, cho nên sang năm 2010 ông Sỹ được đưa ra tòa án ở Việt Nam, lãnh bản án chung thân. Phải coi ông Sỹ đã bị hy sinh, như nhiệm vụ của một đảng viên trung kiên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đảng! Ông Nguyễn Phú Trọng từng đậu tiến sĩ triết học ở Liên Xô, chuyên ngành về Triết lý Xây dựng Ðảng; trong nhiệm kỳ của ông thế nào ông cũng chiếu cố tới công lao bảo vệ Ðảng của Huỳnh Ngọc Sỹ!
Nhưng số tiền ông Sỹ chấm mút chỉ có vài triệu đô la Mỹ, còn số tiền được báo chí Úc nói ông Lê Ðức Thúy được hưởng lên tới 15 triệu.
Theo các nhà báo lấy nguồn tin từ Cảnh Sát Liên Bang Úc thì người đứng tên nhận những món tiền này tên là Lương Ngọc Anh, và tiền được chuyển qua ngân hàng ở Thụy Sĩ và Hồng Kông. Làm thống đốc một Ngân Hàng Trung Ương thì ông Lê Ðức Thúy phải biết rằng những món tiền được chuyển qua ngân hàng, nhất là chuyển từ nước này sang nước khác, thế nào cũng có dấu vết trong máy vi tính.
Ngoài tội ăn hối lộ thiếu trình độ chuyên nghiệp để bị lộ, có lẽ đảng Cộng Sản Việt Nam còn phải xử lý nội bộ ông Lê Ðức Thúy về tội sơ suất trong nghiệp vụ đến nỗi “tiết lộ bí mật của Ðảng.” Vì ông đã để lại những dấu vết trên các trương mục ngân hàng! Nếu có ai rút tiền từ các trương mục đó đưa cho người khác, thế nào cũng còn dấu vết. Nếu điều tra tận cùng, thế nào người ta cũng biết món tiền 15 triệu Mỹ kim đó được chuyển tiếp sang những trương mục nào khác; tức là tiền bạc được dâng lên những cấp trên nào của ông Thúy, mỗi người bao nhiêu, cấp bậc nào được hưởng bao nhiêu! Tất cả các chứng cớ đó, sau này, khi nước Việt Nam có một chế độ dân chủ tự do, người ta có thể sẽ tìm ra. Danh tính của những người ăn hối lộ đó sẽ còn được lưu trữ trong máy điện toán các ngân hàng, để lưu danh cho con cháu xem. Ðúng như câu ca: Trăm năm bia đá còn mòn - Ngàn năm bia điện vẫn còn trơ trơ! Xem trong vụ Huỳnh Ngọc Sỹ thì ta thấy trình độ nghiệp vụ của các đảng viên đã được nâng cao rất nhiều: Công ty PCI không ký ngân phiếu cho ông Sỹ. Ðại diện công ty phải đem phong bì đựng tiền, hàng trăm ngàn Mỹ kim tiền mặt, đem đến tận bàn giấy để nộp cho ông Sỹ. Cứ như thế, sau này họ không có bằng cớ nào trên máy điện toán cả! Có như vậy Huỳnh Ngọc Sỹ mới thật là một đảng viên chân chính!
Trong những ngày tháng tới, Cảnh Sát Liên Bang Úc có thể sẽ tiếp tục điều tra các nhà quản trị công ty Securency. Họ có thể sẽ mời các quan chức cộng sản Việt Nam sang làm chứng. Báo chí Úc sẽ tiếp tục loan tin từng bước kết quả cuộc điều tra. Dư luận bên Úc sẽ theo dõi chuyện này trong cả năm chưa chắc đã hết. Tuy nhiên, đảng Cộng Sản Việt Nam phải rút ra một bài học kinh nghiệm, không nên tái diễn một trò đã thử dùng trong vụ Huỳnh Ngọc Sỹ. Ðó là trò “dậy khôn” một chính phủ nước khác về cách “quản lý báo chí.”
Sau khi Nhật Bản mời ông Sỹ sang Nhật làm chứng, tháng 8 năm 2008, Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Việt Nam tên là Hồ Xuân Sơn tuyên bố trâng trâng rằng: “Việt Nam đã đề nghị phía Nhật Bản trong khi vụ việc đang được điều tra, chưa có kết luận cuối cùng thì các cơ quan truyền thông đại chúng của hai nước đều không nên đưa tin, đăng bài về việc này.” Ông Hồ xuân Sơn không biết rằng ở một nước tự do như Nhật Bản, họ không có một chức quan cho ông Tô Huy Rứa hay Ðinh Thế Huynh, để được phép ra lệnh cho các báo phải nói gì! Ở Việt Nam, sau khi báo Tuổi Trẻ loan tin một đại biểu Quốc Hội yêu cầu “lập ủy ban điều tra vụ Vinashin,” chỉ cần ban Tuyên Huấn kêu các cán bộ làm báo đến “làm việc” một buổi, ngày hôm sau các báo loan tin ngược chiều lại, xóa hết những điều đăng hôm trước! Không nên có thêm một Hồ Xuân Sơn lên lớp dậy dân Úc Châu phải học tập đường lối chuyên chính vô học, bóp nghẹt báo chí! Cán bộ ăn cắp của công, trâng tráo đòi tiền hối lộ, để cả nước Nhật người ta biết, báo chí người ta yêu cầu đừng phí tiền đi viện trợ cho một đám tham quan ăn; đó đã là một mối nhục lớn. Lại còn mách nước chính phủ Nhật Bản áp dụng chính sách ngu dân bịt miệng báo chí, để cả nước người ta biết nhà báo nước mình không có tự do; lại càng nhục hơn nữa! Hai nỗi nhục này đến bao giờ mới rửa sạch?
Nhưng không biết đảng Cộng Sản Việt Nam có chịu rút lấy bài học kinh nghiệm trên đây mà thay đổi hay không. Người ta chỉ có thể tiếp nhận được bài học này mà thay đổi nếu họ cũng cảm thấy có một mối nhục thấm thía, lo lắng cho con cháu sau này sẽ bị nhục lây. Nếu người ta đã hít thở trong không khí “văn hóa mặt dầy” lâu năm thì có khi họ không còn biết thế nào là hổ thẹn nữa! Một người bạn mới gửi cho chúng tôi 10 chuyện lạ ở Việt Nam năm 2010. Xin kể lại hai chuyện đầu:
1. Một số quan chức ở tỉnh Bình Thuận giả danh “lâm tặc,” những kẻ đốn cây lậu, để được cấp đất rừng, gọi là đất “hoàn lương.” Ông Phan Dũng, giám đốc Sở Kế Hoạch Ðầu Tư tỉnh, cùng vợ là hai trong số các “lâm tặc” được cấp đất “hoàn lương” nhiều nhất.
2. Mừng đại lễ 1,000 năm Thăng Long, chính quyền quận Hà Ðông (thuộc Hà Nội) đã chặt toàn bộ cây xanh lâu năm ở hai bên quốc lộ 6 đoạn qua Hà Ðông để trồng mới 1,000 cây sao đen con với kinh phí 6 tỉ đồng. Ở đâu moi ra tiền là có mặt các chiến sĩ cộng sản!
Không có gì bảo đảm là các lãnh tụ cộng sản còn giữ được khả năng biết hổ thẹn (Tu Ố chi tâm), mà Mạnh Tử coi là đầu mối của đạo Nghĩa!
VỤ THAM NHŨNG RBA & CÁC ĐỒNG CHÍ BỊ LỘ
Lê Minh
Tiếp theo loạt bài điều tra của hai ký giả kỳ cựu Nick McKenzie và Richard Baker về vụ tham nhũng RBA và công ty con Securency, hôm nay 24/01, báo Sydney Morning Herald (SMH) đã tung tin động trời liên quan đến quan chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Khác với những bài báo trước đây, chỉ nêu danh tánh của Lương Ngọc Anh, Tổng Giám đốc Công ty CFTD và các quan chức Việt Nam một cách chung chung, thì trong bài báo ngày hôm nay, hai ký giả này đã nêu đích danh Lê Đức Thúy, cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ 1999-2007 là quan chức ngân hàng cao cấp nhất có dính líu vào vụ tham nhũng in tiền nhựa Polymer cho Việt Nam.
Bài báo điều tra lần này tiết lộ rằng công ty Securency đã phải bỏ tiền bao việc ăn học cho một trong những đứa con của Lê Đức Thúy tại Đại học Durham, một đại học hàng đầu của Anh Quốc. Phí tổn cho việc ăn học và đi lại của cậu ấm họ Lê vào cuối thời điểm của thập niên 90 chắc chắn phải lên đến cả trăm ngàn.
Trong bài tường thuật hơn 6 tháng về trước, báo The Age đã cho biết Cánh sát liên bang Úc đang đặt trọng tâm cuộc điều tra vào cung cách làm ăn của Securency với 3 quốc gia Việt Nam, Nigeria và Mã Lai, bởi vì chỉ riêng số tiền mà công ty Securency hối lộ quan chức ngân hàng 3 quốc gia này đã lên đến 20 triệu, và gần 2/3 số tiền này được chi cho Lương Ngọc Anh và các quan chức ngân hàng Việt Nam. Nhưng trong bài điều tra hôm nay, báo SMH xác định chính xác rằng các quan chức của công ty Securency đã dành riêng một khoản tiền lên đến 15 triệu đô la để chi cho các quan chức Việt Nam, mà trong đó riêng bản thân Lương Ngọc Anh đã ẵm gọn 5 triệu đô.
Như vậy khác với con số $12.5 triệu đô-la mà các nhà điều tra ban đầu đã ước tính từ 10% tiền huê hồng trên $125 triệu đô-la giá trị hợp đồng in tiền cho Việt Nam, con số chính xác nay đã được tiết lộ là $15 triệu đô, chiếm đến 3/4 của số tiền $20 triệu đô mà công ty Securency sử dụng để hối lộ quan chức ngân hàng của ba nước Việt Nam, Nigeria và Mã Lai.
Không chỉ có bản thân Lê Đức Thúy, mà trước đây ngay cả báo chí trong nước cũng đã đặt vấn đề việc Lê Đức Minh, là con trai của Lê Đức Thúy, là một giám đốc của một công ty con của Tổng công ty CFTD, do Lương Ngọc Anh làm Tổng Giám đốc khi đó, đã can dự vào “áp-phe” với công ty Securency để thực hiện hợp đồng in tiền nhựa polymer cho Ngân hàng Nhà nước VN.
Như vậy tên tuổi, cũng như tầm mức “lại quả” của cha con Lê Đức Thúy trong vụ in tiền nhựa Polymer đã quá rõ ràng, không chỉ là sự dự đoán đồn thổi hay là tưởng tượng của dự luận nữa, mà được thể hiện bằng những con số rất “ấn tượng”.
Nói đến Lê Đức Thúy thì cũng phải nói đến vị tiền nhiệm của ông Thúy là đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ông Thủ tướng họ Nguyễn này có một dạo làm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ tháng 5/98 đến tháng 12/99. Khi đó ông Nguyễn Tấn Dũng là Phó Thủ tướng, kiêm nhiệm luôn chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong khi Lê Đức Thúy là Phó Thống đốc. Ông Nguyễn Tấn Dũng giữ chức vụ này từ tháng 5/98 đến tháng 12/99 thì trao quyền lại cho Lê Đức Thúy. So với Cao Sỹ Kiêm, thì Lê Đức Thúy là người nắm giữ chức Thống đốc lâu thứ nhì (trước khi làm Phó Thống đốc, ông Thúy từng là Trợ lý của cựu TBT Đỗ Mười). Ông Thúy nắm giữ chức vụ này đến tháng 8/2007 thì bị mất chức sau khi bị Quốc hội chất vấn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc cha con Lê Đức Thúy can dự vào vụ bê bối in tiền nhựa polymer. Tuy nhiên ngay sau đó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại đẻ ra “Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia Việt Nam” (National Financial Supervisory Commission – NFSC) và cắt cử Thúy làm chủ tịch đầu tiên của cơ quan này vào tháng 3/2008. Chỉ hơn một năm sau cơ quan này được giao thêm nhiều quyền hạn và Chủ tịch Lê Đức Thúy chỉ “chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng” và “được hưởng chế độ tương đương bộ trưởng”. Nói như thế để thấy rằng “mắc xích” không chỉ có cha con Lê Đức Thúy, vì bài báo điều tra ngày hôm nay xác nhận là khoản tiền “huê hồng” đã được trả vào nhiều tài khoản ngân hàng khác nhau tại Thụy Sĩ, kể cả một tài khoản được mở tại Hồng Kông. Mặc dầu ban lãnh đạo công ty Securency đã chối phăng việc can dự vào các trò hối lộ dơ bẩn này, nhưng Cảnh sát Liên bang Úc (AFP – Australian Federal Police) nghi ngờ rằng tiền hối lộ đã chạy vòng, luồn lách trước khi đến tay các quan chức Việt Nam, hoặc thông qua thân nhân của họ, kể cả việc hối lộ dưới hình thức “bảo trợ du học”. Đó là chưa kể đến chuyện nhậu nhẹt, bao gái cho các quan chức ngân hàng, từ Thống đốc, các Phó Thống đốc cho đến các quan chức khác.
Chắc chắn rằng rằng sau lưng của ông cựu Thống đốc Lê Đức Thúy còn có nhiều kẻ khác “dính chàm” bởi vì cách đây hơn nửa năm loạt bài điều tra này đã nói đến việc công ty Securency đã từng “nhờ vả” phía Việt Nam giúp mai mối với Venezuela. Các quan chức Việt Nam đã được phía Securency trả tiền bay qua tận Venezuela để giúp thuyết phục nước này chuyển đổi tiền giấy sang tiền nhựa polymer vào khoảng năm 2007.
Quả là có chuyện này, bởi vì theo tin của TTXVN thì phái đoàn của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã đến thủ đô Caracas của Venezuela vào ngày 30/05/2007 để hội kiến với Tổng thống, Chủ tịch Quốc hội của Venezuela và nhiều quan chức, thành viên trong chính phủ. Chưa hết, vào năm sau, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng dẫn một phái đoàn sang Venezuela vào ngày 19/11/2008.
Vậy Tổng bí thư Nông Đức Mạnh và chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng như các thành viên của phái đoàn nhà nước Việt Nam trong hai chuyến viếng thăm Venezuela năm 2007 và 2008 có “cò mồi” thuyết phục nước này chuyển đổi tiền giấy sang tiền nhựa polymer hay không? Cho dù các quan chức có chối cãi thì báo chí Úc cũng đã xác nhận điều này rồi.
Lương Ngọc Anh, rồi Lê Đức Minh, Đỗ Minh Thương, nay đến Lê Đức Thúy là cán bộ cao cấp nhất được báo chí Úc xác định chính xác là “đồng chí bị lộ” trong vụ tham nhũng in tiền nhựa polymer cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Nhưng bị lộ thì cũng chưa chắc sẽ bị “xộ”, bởi vì theo lập luận của ông Tổng Thanh Tra Chính phủ Trần Văn Truyền thì chuyện tham nhũng “không hề tồn tại trên hợp đồng”, cho nên không dễ dàng gì điều tra, truy cứu được.
Đúng quá đi chứ, ai ngu dại gì tham nhũng mà lại thò tay ký vào biên bản nhận tiền. Thế cho nên mới nói, cho dù có “bị lộ” ở nước ngoài, thì cũng khó lòng “bị xộ” ở Việt Nam. Đó là chưa nói đến “Các vụ tham nhũng có yếu tố nước ngoài mới chỉ là cá biệt” (*) mà thôi.
Úc Châu, ngày 24/01/2011 L. M. Ghi chú: (*) Đây là lời trích từ bài báo đăng trên Sài Gòn tiếp thị, nhưng đã bị gỡ bỏ
| | |
| | |
THƯ HÀ NỘI
Bất cứ Người Việt Nam nào thường xuyên theo dõi hiện tình đất nước thì đều nhận thấy rất rõ rằng lòng dân trên khắp mọi miền đất nước đã quá chán ngán, căm phẫn đa số các cán bộ của Đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam đương quyền. Bất cứ cương vị cán bộ nào từ thôn, ấp, xã, phường, huyện, tỉnh, trung ương đang ngày đêm vơ vét, ăn quỵt, cướp bóc, hoành hành làm điêu đứng cả xã hội, nhân quyền và tự do tôn giáo bị vi phạm nghiêm trọng, cộng đồng dân tộc bị chia rẽ sâu sắc. Thậm chí, những người dân càng hiền lành, chất phát, lao động chân chính bao nhiêu thì lại càng bị những kẻ thống trị trấn áp, cướp giật nhà cửa đất đai, bị đẩy đến tận cùng của sự nghèo đói, oan khuất và ly tán.
Xã hội gần như là rơi vào tình trạng vô chính phủ, từ trung ương tập quyền tới địa phương cát cứ, quốc nạn tham nhũng tràn lan, tính dối trá và sợ hãi sự thật bao trùm lên cả nước. Tinh thần quốc gia dân tộc bạc nhược. Người dân sống ở đâu cũng lo sợ nhân tai, nhân họa đến từ các Cơ quan công quyền, đi đâu cũng phải lo tiền đút lót, hối lộ cho nhân viên từ hộ lý, y tá, bác sỹ trong bệnh viện đến giáo viên trong trường học, hay các ngành, các cấp, các cơ quan dịch vụ, truyền thông, công quyền. Cả dân tộc đang phải sinh tồn trong bất ổn trước sự lộng hành của lưc lượng công an, an ninh, mật vụ. Và, chưa biết bao giờ nhìn thấy được ánh sáng tương lai tốt đẹp thật sự.
Sự mua bán chức, quyền, bằng, cấp gần như công khai. Nếu muốn mua chức Cục trưởng, Vụ trưởng, Sư đoàn trưởng hay muốn được phong cấp tướng phải mất vài tỷ đồng. Chạy chức thứ trưởng phải mất 5-7 tỷ đồng. Chức Bộ trưởng phải tính tiền triệu đô la Mỹ. Dư luận ở Hà Nội biết rõ việc Ông Lê Thế Thảo chạy chức Chủ Tịch UBND Thành phố Hà Nội mất hơn 30 tỷ đồng. Rồi chuyện các Lãnh đạo cấp cao của ĐCSVN có nhiều triệu đô la Mỹ. Mỗi ủy viên trung ương Đảng CSVN hàng năm cũng vơ vét được vài chục triệu đô la Mỹ là chuyện thường. Cái danh sách tên 300 vị có chức, quyền của đảng và nhà nước CHXHCNVN đã và đang có hàng trăm triệu đôla đến hơn vài tỷ đô la Mỹ mà rất nhiều người đều biết được loan tải trên mạng internet lâu nay. Rồi chuyện Cựu Bộ trưởng Lê Ngọc
Hoàn có hơn 50 cái Vi-la khắp cả nước, có con riêng 7-8 tuổi. Và mấy ông Bộ trưởng về hưu khác cũng có con riêng nhưng báo chí cấm được viết về những hiện tượng này. Rồi chuyện ông Trịnh Trọng Quyền - Cựu bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa lập Công ty riêng cho con trai để tham gia các thầu xây dựng đường sá trong tỉnh và luôn thắng thầu (theo tin từ Cán bộ đảng viên cao cấp của ĐCSVN). Sau đó bán lại thầu ngay tức khắc lấy 5% tổng giá trị gói thầu. Rồi chuyện lãnh đạo Công ty Gang thép Thái Nguyên cho con mua lại nhà máy thép cũ như là cướp luôn cả nhà máy để bán sắt vụn kiếm tiền. Chuyện Thượng tướng, thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, UV TƯ ĐCSVN Nguyễn Huy Hiệu bị một phụ nữ đưa con đến Cơ quan Bộ Quốc Phòng đòi ông Hiệu nhận là con đẻ.
Trong nhiều năm qua, công luận Việt Nam lưu truyền sự kiện ông Đỗ Mười nhận 1 triệu USD hối lộ của một Công ty Hàn Quốc. Chuyện ông Lê Đức Anh bị xuất huyết não và nhà cầm quyền Bắc Kinh cử một phái đoàn bác sỹ đặc biệt sang cứu sống. Từ đó ông Lê Đức Anh mang nặng thâm ơn CS Trung Quốc. Hàng năm Trung Quốc vẫn cử một đoàn cán bộ y tế sang kiểm tra, bồi dưỡng sức khỏe cho ông Lê Đức Anh để bằng mọi giá giúp ông Lê Đức Anh sống lâu hơn. Đây là hành động thể hiện “Thiên Triều” bảo dưỡng một “tên Thái Thú - Chư Hầu”.
Chính ông Lê Đức Anh là người quyết định toàn bộ quá trình bình thường hóa quan hệ giữa ĐCSVN với ĐCSTQ, nó hoàn toàn bất thường tới mức:
Lãnh đạo ĐCSVN phải xin ý kiến Bắc Kinh và hướng giải quyết vấn đề để đàm phán trước khi đàm phán,,,. Đây là bằng chứng rõ ràng Lãnh đạo ĐCS Việt Nam chịu làm Chư hầu, Thái thú, đàn em, làm một tỉnh của TQ hay TQ bảo gì phải nghe nấy. Theo các vị Lão thành cách mạng từng lãnh đạo, cấp trên của ông Lê Đức Anh như ông Phạm Văn Xô (Cựu phó ban Tổ chức TƯ ĐCSVN), Đồng Văn Cống (Cựu phó Tổng Thanh tra QĐNDVN) và Nguyễn Văn Thi (Cựu chủ nhiệm hậu cần Bộ tư lệnh Miền Nam) thì ông Lê Đức Anh đã khai man lý lịch cá nhân và khai man tư cách Đảng viên đảng CS: “Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su như tự khai mà là người giúp việc thân cận cho chủ đồn điền De Lalant-một sỹ quan phòng nhì của Pháp. Ông Lê Đức Anh chưa bao giờ được kết nạp vào ĐCSVN”, ấy thế mà tự khai là Đảng viên ĐCSVN từ trước năm 1940, nay đã hơn 70 năm tuổi đảng. Ông Lê Đức Anh, ông Đỗ Mười và Nguyễn Chí Vịnh cũng đã từng cùng dựng ra vụ Sáu Sứ-Năm Châu để vu khống Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thượng tướng Trần Văn Trà cùng với tay chân định lật đổ Bộ Chính Trị và chính quyền trong dịp Đại hội 7 ĐCSVN, năm 1991. Còn vụ T4 thì ba ông trên đã dựng chuyện quy kết Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà, TT Võ Văn Kiệt, TT Phan Văn Khải, CT QH Nguyễn Văn An, bà Võ Thị Thắng,,, là tay sai của tình báo CIA-Mỹ nhằm mục đích triệt hạ uy tín các đối thủ để xây dựng Phe thân CS Trung Quốc, làm tay sai cho Bắc Kinh. Thời kỳ ông Lê Đức Thọ còn sống mỗi khi ông Lê Đức Anh là đệ tử ruột được truyền ngôi đến thăm và đi ra khỏi nhà ông Thọ đều phải đi thụt lùi không dám quay lưng vào nhà ông Lê Đức Thọ. Có ý kiến, nhận định rằng hầu như 100% các sỹ quan quân đội cao cấp của CHXHCN Việt Nam hiện nay đều rất căm ghét „cha con“ ông Lê Đức Anh - Nguyễn Chí Vịnh (con nuôi). Nhưng, hầu hết các cấp tướng lĩnh lại rất quý trọng Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Người Anh cả của QĐNDVN. Nhiều nhân sỹ, trí thức, các cựu cán bộ cao cấp của ĐCSVN và nhân dân khắp nơi phải lên tiếng, thậm chí kêu gọi “lật đổ, đảo chính quân sự” thì mới đây Lãnh đạo ĐCSVN đã phải mời Mỹ và Nga vào hợp tác với ASEAN. Ngay lập tức cách đây vài tuần trên Vietnamnet ông Lê Đức Anh có bài viết có nội dung rằng Ông là người đầu tiên bảo trợ cho quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ từ những năm 1986 qua việc cứu giúp một ông Bác Sỹ. Chuyện này có thật hay không?
Chuyện con dâu ông Lê Đức Anh là bà Nguyễn Thị Doan cũng nhờ cậy thế thần của bố chồng hiện nắm giữ chức Phó Chủ tịch nước. Qua những chứng cứ trên cho thấy rằng ông Lê Đức Anh là trụ cột cho quan hệ CS Việt Nam - CS Trung Quốc sau năm 1991. Ông Lê Đức Anh, một con người gian trá, xảo quyệt, vu khống dựng chuyện nói xấu các Đại Công Thần thời Cách mạng tháng 8 còn sống đồng thời đẩy đất nước vào tình trạng bị Trung Quốc thôn tính toàn diện, một người hoàn toàn không có tư tưởng triết lý, lý luận gì, mà chỉ có ít mưu mô quỷ quyệt. Hiện tại đất nước ta vẫn nghèo đói, chậm tiến mọi mặt. Hệ thống chính trị độc tài, tham nhũng thối nát �» Ÿ khắp mọi nơi. Lê Đức Anh đã sống và làm việc chỉ vì lợi ích cho cá nhân và chính con cháu ông ấy, chứ hoàn toàn không vì đất nước, vì dân tộc gì cả. Nhân dân Việt Nam không thể chấp nhận một “Nhà chính trị” độc ác và tàn bạo, xấu xa như vậy được. Phe đảng của ông Lê Đức Anh - Đỗ Mười thực sự đã hết thời, cần phải chấm dứt một hệ thống cai trị cổ hủ, độc quyền trên đất nước Việt Nam một cách sớm nhất!
Ông Nông Đức Mạnh có một khu trang trại rộng lớn ở tỉnh Thái Nguyên. Ông Mạnh thường xuyên đuổi vợ về quê, hàng ngày ông Mạnh sống ở Villa tại Hồ Tây có diện tích 500 m2, có „gái chân dài“ vào phục dịch hàng ngày (nguồn tin khá tin cậy cung cấp rằng Tổng Cục II bảo kê 100%).
Bên cạnh có khu Villa của em ruột cùng cha khác mẹ là Nguyễn Tất Trung có diện tích là 150m2. Cộng Sản Bắc Kinh khẳng định rằng ông Nông Đức Mạnh đã tự nhận mình là người dân tộc Choang của Trung Quốc. Trong nhiều chỉ thị của lãnh đạo đảng, ông Nông Đức Mạnh nêu v/đ “đất rừng VN chưa dùng đến thì để cho người khác thuê cũng được chứ sao?”. Hầu hết các trí thức và người dân Việt Nam ai cũng phê phán và chán ghét ông Mạnh. (Một tiến sỹ, cựu giảng viên ĐHBKHN và ĐH Mỏ Địa chất, nguyên thành viên Ban hiến kế cho Bộ chính trị nói: Ông Nông Đức Mạnh trí tuệ kém lắm, suy nghĩ và nói năng không có một chút lô-gíc nào cả.
Ý kiến của một anh nông dân, lái xe ở Nghi Lộc, Nghệ An nói: Ông Nông Đức Mạnh đầu óc tối tăm, không có sáng kiến gì, không làm được gì cho dân, cho nước. Các Cụ Lão thành thì khẳng định “ Nông Đức Mạnh đã ngả hẳn vào lòng Trung Quốc rồi”) . Ông Nông Đức Mạnh đã câu kết chặt chẽ cùng với Nguyễn Chí Vịnh là hai nhân vật quyết định cho TQ vào Tây Nguyên khai thác Bauxite nhôm tạo nên một „cửa ngõ” thuận lợi và,hợp pháp“ để cho CS Trung Quốc tiến hành xâm lược và thôn tính nước ta. Đây là một trọng tội không thể tha thứ được! Con trai ông Nông Đức Mạnh là Nông Quốc Tuấn sinh năm 1963, đã đi xuất khẩu lao động ở Đông Đức mà khi trở về VN lại làm đến chức Chủ tịch Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam, rồi Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang, để dọn đường chuẩn bị vào Bộ chính trị Trung Ương ĐCSVN, rồi kế tục ông Mạnh chăng? Mấy ngày vừa qua hàng chục nghìn người dân Bắc Giang biểu tình đòi giải quyết vụ một thanh niên bị CA đánh chết và chứng kiến Nông Đức Tuấn, Bí thư Tỉnh Ủy Bắc Giang vẫn đưa 2 đầu bếp từ Hà Nội về để nấu món thịt cừu, ăn nhậu phả phê, thiết đãi bạn bè thì thử hỏi ý thức và trí tuệ của một “chính trị gia” vì nhân dân ở chỗ nào? Vậy Phe cánh của cha, con ông Nông Đức Mạnh có xứng đáng là những “chính trị gia” và lãnh đạo đất nước có hơn 4000 năm văn hiến hay không?
Ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ Tịch Quốc Hội, là một “Lý thuyết gia” của ĐCSVN, một tiến sỹ triết học Mác-Lê-Mao nhưng nói năng không có một chút triết lý hay lý luận gì. Một Nhà chính trị phải có tư tưởng riêng, lý luận riêng, chính kiến riêng, có chí khí, có lòng dũng cảm, có nhiều sáng kiến, có tư duy lô-gíc và sâu sắc, có ý thức luôn giữ cho mình trong sạch nhất có thể và phải đạt quyền lợi của đất nước và dân tộc mình lên trên hết. Nhưng, thực tế thì ông Nguyễn Phú Trọng không làm được gì cả, ông chưa thể hiện được giá trị gì cho đất nước. Ông Nguyễn Phú Trọng còn công khai ủng hộ cho Trung Quốc vào Tây Nguyên khai thác Bauxite nhôm, ý kiến vô trách nhiệm của ông Trọng:
Quyết „Ngăn cản không cho QHVN bàn về dự án bauxite,…và lừa rối rằng:
“Dự án Bauxite có vốn đầu tư chỉ dưới 600 triệu USD”. Vậy thử hỏi ông Nguyễn Phú Trọng vì quyền lợi của đất nước và quyền lợi của dân tộc ở chỗ nào? Ông và ông Phạm Quang Nghị cũng là hai người được cử sang Trung Quốc thực tập làm Tổng bí thư của ĐCSVN khóa này. Đây rõ ràng là để bằng chứng làm tay sai cho Trung Quốc, chịu thua Trung Quốc, Trung Quốc can thiệp vào nội bộ của dân tộc Việt Nam chúng ta. Nếu hai Ông ấy là những Chính trị gia tài giỏi thì không bao giờ chấp nhận sang TQ thực tập để làm Tổng Bí Thư giả tưởng - đó là hành động nhục nhã, cúi đầu quy phục Trung Quốc! Trong dịp ĐH ĐCSVN năm 2006 ông Giả Khánh Lâm là Ủy viên BCT, CT QH Trung Quốc còn sang Hà Nội đặt một „ Bộ chỉ huy“ để theo dõi và chỉ đạo ĐH của ĐCSVN (theo tin của cán bộ cao cấp của ĐCSVN). Hiện nay còn có tin BCT ĐCSVN phải báo cáo tình hình nhân sự từ cấp tỉnh hay các cấp bí thư từ cấp quận, huyện đều phải sang Trung Quốc tập huấn chính trị. Ở các tỉnh Biên giới giáp với TQ thì phải báo cáo nhân sự từ cấp huyện trở lên đối với những huyện giáp biên giới với TQ. Vậy Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương ĐCSVN đã hoàn toàn là bù nhìn!
Ông Nguyễn Tấn Dũng nguyên là một viên cứu thương trong một đơn vị địa phương quân ở chiến khu Cà Mau. Khi còn là một người lính, với tin đồn khá chính xác là con của một Đồng chí của ông Võ Văn Kiệt (nhưng cũng có tin là con rơi của cựu Đại tướng Nguyễn Chí Thanh). Ông Nguyễn Tấn Dũng nguyên trình độ chưa học hết cấp I, sau năm 1975, học tại chức mà đỗ đạt tới cử nhân luật (không rõ từ năm nào đến năm nào, ở trường nào, ai là thầy dạy?), ông ta tự khai, thân thể mang tới 32 vết thương. Một người bạn của ông Dũng nay làm quan lớn ở tỉnh Thanh Hóa nói rằng ngày trước phải luôn giúp làm hộ bài, chép bài thế cho ông Dũng vì ông Dũng không biết gì cả. Vậy một Chính trị gia lại học dốt, để cho bạn chép bài hộ à? Nhân dân Việt Nam chưa nghe thấy ông Dũng không có tư duy riêng, cũng chẳng có lý luận gì hết. Ông chưa nói được câu nào chúng ta thấy có giá trị, thấy có lô-gíc, hoàn toàn không có tố chất chính trị gì cả. Ông lại là một người ba phải. Khi ông Võ Văn Kiệt còn sống thì ông Dũng có chỗ dựa nên còn dám chống lại Phe tay sai Trung Quốc của ông Nông Đức Mạnh. Khi ông Kiệt chết thì ông Dũng ngả hẳn theo Phe ông Nông Đức Mạnh + Nguyễn Chí Vịnh. Gần đây, ông Dũng đi ký hợp tác làm ăn với mấy địa phương trực thuộc mấy tỉnh của Trung Quốc. Rõ ràng là hành động của “một chính trị gia rừng tràm U Minh hạ”. Đất nước ta, dân tộc ta chỉ ngang hàng với một địa phương, một tỉnh của Trung Quốc hay sao? Làm như vậy TQ sẽ „phỉ nhổ“ và mặt ông Dũng - Thủ tướng CHXHCN Việt Nam . TQ chỉ xem Việt Nam như một tỉnh, một địa phương nhỏ của họ, sẽ vô cùng thiệt hại, tai hại cho các ngành, nghề giao thương, hàng hoá Việt Nam ”. Đây là một hành động thiển cận phục vụ ý đồ thôn tính nước ta của TQ. Ông Dũng lại cho xây dựng nhà thờ họ ở quê tốn tới 40 tỷ VNĐ, trong khi dân chúng đói khổ và thiếu việc làm khắp nơi, trẻ em thiếu trường, lớp học, bệnh nhân không gường nằm, người ốm đau thiếu thuốc men, dân chúng sinh sống không điện, nước. Trong nội bộ cơ quan Trung ương loan tin rằng “Doanh nghiệp nào muốn ông Dũng đến thăm thì phải chi 1, vài trăm triệu đồng cho ông Dũng và cho trợ lý của ông Dũng cũng phải 50 triệu đồng là ít”. Nghe tin con ông Dũng ở Tây Nguyên hay đứa ở lấy chồng ở Mỹ đang sống như đế vương vậy. Các quan sếp tỉnh hay cac cơ, ngành… làm gì cũng phải chạy đến hỏi con ông Dũng. Và, mỗi lần hỏi, cậy nhờ là phải có „bao thư xanh“.
Dũng vẫn tưởng trò ranh ma hơn người là gả con gái cho con của sĩ quan VNCH "kẻ thù không đội trời chung với CS“ đã vượt biên hiện đang cư ngụ ở Hoa Kỳ để làm phương tiện hay cứu cánh cho hành động ăn cướp và bỏ chạy khi lâm nguy. Nhà chính trị phải chứng tỏ mình thông minh, tài trí, cao siêu, cao thượng để nhân dân và thế giới nể phục, chứ như ông Dũng thì không ai có thể nể trọng được.
Ông Phùng Quang Thanh nghe tin đồn thổi là con cháu mấy đời của ông Phùng Khắc Khoan, cũng như các vị Ủy viên BCT ĐCSVN khác chẳng có gì đặc biệt. Từ lúc 17-18 tuổi vào bộ đội làm lính binh nhì thì làm sao có thể trở thành một chính trị gia giỏi được? Ông Thanh cho TGĐ Công ty xăng dầu Quân đội bán xăng dầu dự trữ quốc phòng để kiếm chênh lệch bỏ túi hàng trăm tỷ đồng, để khi quân đội cần xăng diễn tập thì không có mà dùng. Ông Thanh còn nhận hối lộ của một Tỉnh đội trưởng hàng tỷ đồng để được phong lên cấp tướng. Trong dịp đi thăm Trung Quốc vừa rồi Báo QĐND viết: “Đồng chí Phùng Quang Thanh lên báo cáo Đồng Chí Từ Huy Hậu”. Ông Từ Huy Hậu chỉ là một viên tướng của Trung Quốc, phó chủ tịch quân ủy TQ, ngang hàng với Thứ trưởng Bộ QP Trung Quốc mà ông Thanh là Bộ trưởng BQP Việt Nam lại phải đến “báo cáo”. Như vậy Bộ trưởng BQP Phùng Quang Thanh chỉ như một Tỉnh đội trưởng lên báo cáo với Thứ trưởng BQP? Đây là một động thái mạt nhược, ươn hèn hiếm có trong lịch sử dân tộc Việt Nam . Tổng biên tập báo QĐND và cá nhân đưa tin đó lên rõ ràng đã bị bàn tay của bọn Tay sai - Thái thú của TQ chèn ép, chỉ đạo hay tự nguyện làm tay sai cho TQ rồi.
Nhân vật, Nguyễn Chí Vịnh ai cũng biết là con Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, một đối trọng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngày xưa, thuộc phe ông Lê Duẩn-Lê Đức Thọ. Vì vậy ông Nguyễn Chí Vịnh được nhận là con nuôi của ông Lê Đức Anh. Ngày trước đi học tuy là con nhà quyền uy, giàu có nhưng vẫn đi ăn trộm, ăn cắp Kho Quân Nhu của Học viện Kỹ thuật Quân Sự nên bị đuổi học cùng với một số đồng sự khác. Ăn cắp, ăn trộm trong Trường Sĩ Quan-khi đã là người trưởng thành- là chuyện quá ti tiện, hèn mạt, xấu xa, phi đạo đức không ai có thể chấp nhận được thế mà đòi đi làm chính trị, lại còn nhăm nhe lên tới chức Tổng Bí Thư. Một tên ăn cắp thuở nào là thứ trưởng, trung tướng thì ảnh hưởng vô cùng xấu xa đến toàn bộ binh sỹ, sỹ quan QĐND Việt Nam, chưa nói tới là Ủy viên BCT hay Bộ Trưởng Bộ QP, dự định còn làm TBT ĐCSVN thì sẽ gây nguy hại đạo đức của các Đảng viên ĐCSVN còn có lương tri, nhân cách. Nhưng, CS TQ- với tư cách là nước muốn thôn tính Việt Nam và muốn biến Việt Nam ta thành nước chư hầu- lại rất cần những kẻ làm tay sai. Chỉ có những kẻ xấu xa, gian trá, dốt nát mới chịu làm tay sai-thái thú cho nước khác để phản lại lợi ích của dân tộc mình, của đồng bào mình để bản thân, gia đình vợ con được hưởng sung sướng, bổng lộc trước mắt của kẻ tay sai-thái thú.
Nguyễn Chí Vịnh như đã ghi nhận ở trên đã tham gia cùng ông Lê Đức Anh, Đỗ Mười và Nông Đức Mạnh những chuyện rất xấu xa, thiếu nhân cách. Nguyễn Chí Vịnh là người đã gọi điện cho ông Nguyễn Tấn Dũng năm nào nói ông Dũng cho TQ thắng thầu xây sân Mỹ Đình với giá 55 triệu USD, trong khi đó CHLB Đức bỏ thầu chỉ có 50 triệu USD thì thua thầu.Thức tế thì Vịnh và Dũng đã nhận “ tiền lót tay“ của nhà thầu TQ là bao nhiêu, có ai biết được? ) Nguyễn Chí Vịnh còn trực tiếp sang Trung Quốc chọn gái tên là Trương Vỹ Hoa cho ông Lê Khả Phiêu chơi bời một tuần để sinh đẻ ra một đứa con nay đã mười mấy tuổi để rồi ông Lê Khả Phiêu phải hạ bút ký Hiệp định Biên giới năm 1999.
Nguyễn Chí Vịnh là „con thoi“ „cầu nối“ giữa ông Nông Đức Mạnh với Bắc Kinh để cho TQ vào VN khai thác Bauxite. Tay chân của Nguyễn Chí Vịnh trong TC2 toàn là những kẻ hư đốn và ăn cắp năm nào ở Học viện Kỹ thuật Quân sự. Nguyễn Chí vịnh đã cung cấp cho phía Trung Quốc danh sách cán bộ lãnh đạo Việt Nam có cảm tình và không có cảm tình với Trung Quốc. Dựa vào danh sách này Trung Quốc đã mua chuộc và gây ảnh hưởng lên hàng ngũ lãnh đạo của ĐCSVN hiện nay để từng bước biến lãnh đạo ĐCSVN trở thành tay sai-thái thú. Đây rõ ràng là một hành động làm chỉ điểm cho nước ngoài, một hành động làm tay sai cho Trung Quốc, một hành động tội phạm, phản bội Tổ Quốc của Nguyễn Chí Vịnh. Nhiều nguồn tin khác nói rằng còn nhiều cá nhân khác trong nội bộ ĐCSVN làm như Nguyễn Chí Vịnh. Theo các sỹ quan quân đội cao cấp ở Hà Nội thì vừa qua 18 tỉnh cho Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông (thực chất là người TQ tất cả) thuê đất rừng đều có sự chỉ đạo của Tổng Cục 2 của Nguyễn Chí Vịnh. Với những việc làm bất hảo và phạm pháp như nêu trên Nguyễn Chí Vịnh có xứng đáng là Trung Tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng hay không? Và đây cũng là bằng chứng chứng tỏ rằng Phe đảng của ông Lê Đức Anh, Đỗ Mười và Nông Đức Mạnh chủ đích nâng đỡ Nguyễn Chí Vịnh- tên tay sai của TQ, có nhiều điều xấu xa, bất hảo- chẳng hiểu biết gì chính trị cả, mà cốt vì bảo vệ quyền lợi ích kỷ của các ông ấy. Họ không xứng đáng một chút nào là những “Nhà chính trị”, nhà lãnh đạo đất nước hay có trách nhiệm với nhân dân!
Còn các Vị Ủy viên Trung Ương ĐCSVN khác như ông Hoàng Trung Hải hay Nguyễn Thiện Nhân, các Bí thư tỉnh ủy khác thì „chỉ ngậm miệng“ ăn tiền chia chác hay cũng chỉ như cái đuôi, cái bóng của ông Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng và một số UV BCT mà thôi,Quốc Nạn tham nhũng, hối lộ, cướp bóc, trấn lột, đánh, bắn, giết người xẩy ra 24/24 trên toàn cõi Việt Nam. Xin mạn phép hỏi toàn thể 85 triệu đồng bào Việt Nam có thể mãi cúi đầu chịu đựng hết đời mình, đời con, cháu chúng ta được chăng? liệu có thể tiếp tục chấp nhận sự bất công, nghèo đói và vô vọng một khi mà các “Nhà chính trị, lãnh đạo” của hệ thống độc tài toàn trị CSVN bất tài, vô dụng đang bủa vây, khép kín, đè đầu cưỡi cổ nhân dân ta hay không? Chắc chắn là không – Toàn dân cẩn phải thức tỉnh và đứng dậy khi thấy cần thiết.
Ở CHLB Đức trong những năm 90 của Thế kỷ trước, ông Engholm- Chủ tịch đảng đối lập SPD, Thống đốc bang, Ứng cử viên tranh chức Thủ tướng với ông Helmut Kohl- bị phát hiện gian lận về việc đóng thuế thu nhập đã phải họp báo xin chấm dứt sự nghiệp chính trị, trở về làm một ông Luật sư quèn. Từ đó vĩnh viễn không bao giờ nói tới chính trị nữa. Còn ông Sharping - nguyên là một người hoạt động chính trị từ thời học sinh cấp 3, Thống đốc bang, có lần ra tranh cử Thủ tướng, là Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời Thủ tướng của CHLB Đức là Gehart Shreoder (thỉnh thoảng bây giờ Ông vẫn đến Việt Nam) - Ông ấy chỉ bị phát hiện “cầm nhầm” có 1000 EURO (một nghìn EU ) mà phải tuyên bố từ chức Bộ trưởng BQP, chấm dứt sự nghiệp chính trị về làm dân thường, không bao giờ dám xuất hiện trước công chúng nữa.
Qua những dẫn chứng như trên chúng ta có thể kết luận rằng Phe đảng của ông Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Phùng Quang Thanh, Phạm Quang Nghị, Hoàng Trung Hải, Nguyễn Chí Vịnh và các UV TƯ ĐCSVN khác hoàn toàn không xứng đáng là các “chính trị gia” của Dân Tộc ta, không xứng đáng giữ các vị trí lãnh đạo đất nước, cần phải rút lui càng sớm càng tốt! Nếu không biết điều sớm thì e rằng sẽ chuốc lấy hậu họa như ông Ceaucescu-cựu Tổng bí thư ĐCS Rumani- và Honecker- cựu Tổng bí thư ĐCS Đông Đức năm 1989, hay ông Escada-cựu Tổng thống Philippin- tham nhũng 1 triệu USD và bị kết án 20 năm tù giam. Bài học gianh ma của cựu Thủ tướng Thái lan, Thalshin không thoát khỏi “lưới trời“ đã bị tịch thu tài sản và lệnh truy nã toàn cầu… Tình hình quốc tế và khu vực hiện hiện nay đang diễn ra khá thuận lợi cho hướng đi đúng đắn của cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ, nhân quyền, công bằng và bác ái cho dân tộc Việt nam chúng ta. Lực lượng đối lập chính nghĩa với Phe đảng chóp bu cầm quyền phi nghĩa nêu trên (họ chỉ là một bộ phận nhỏ trong số đảng viên ĐCSVN) Toàn dân Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước sẽ có đủ khả năng trí tuệ, nhân tài, vật lực đối trọng đã và đang hình thành là đòi hỏi bức thiết trong nước. LL đối lập với bốn vị tướng đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung Tướng Đồng Sỹ Nguyên, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh và Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh với hàng chục tướng lĩnh khác cùng các vị Lão thành cách mạng kết hợp với các lực lượng trí thức, quân đội, cảnh sát, sinh viên, quần chúng yêu nước đang khát khao Tự Do – Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam thực sự sẽ phải cương quyết đấu tranh bằng mọi giá để giành lại vận mệnh Tổ Quốc đang lâm nguy đứng trước bờ vực thẳm, quyết tranh đấu giành nắm quyền lãnh đạo đất nước và đẩy Phe đảng cầm quyền hiện nay vào thế đối lập. Để chuẩn bị cho việc thành lập một lực lượng đối lập có mặt trên toàn quốc nhằm cạnh tranh ôn hoà với Phe đảng của ông Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Chí Vịnh thì ngay từ lúc này từ mỗi Thôn, Ấp, Bản, Khu phố hãy kết nối các công dân yêu nước có cùng chí hướng thành những nhóm nhỏ 2-5 người. LL đối lập yêu cầu Phe đảng cầm quyền hiện nay chấp nhận Tổng Tuyển Cử tự do, bầu lại Quốc Hội và Người đứng đầu đất nước trong thời gian sớm nhất. Nhân dân cả nước đều nhận thấy rằng Hiến pháp và Pháp luật hiện nay là của Phe đảng cầm quyền, chứ hoàn toàn không phải của toàn thể Nhân dân Việt Nam . Lực lượng đối lập lấy phương châm ôn hoà, đối thoại làm chủ thuyết đấu tranh. Tuy nhiên, thời gian và hiệu qủa không đạt được thì bắt buộc phải kêu gọi toàn dân xuống đường cùng các phương sách tương ứng để biểu dương sức mạnh và hào khí dân tộc. Đó là những hành động thực tế nhất để cứu nguy cho đất nước của chúng ta. Chúng tôi cũng kêu gọi tất cả lực lượng võ trang trong đó có những chiến sĩ, sĩ quan Công an, Quân đội đang tại ngũ, và lực lượng cựu chiến binh từ hai phía của hai miền Nam – Bắc trước 1975 còn có lương tri trong tình tự dân tộc, nghĩa đồng bào đồng thời kêu gọi toàn thể các Tôn giáo Việt Nam hãy tiếp tay, hỗ trợ. Đó là những hành động thực tế nhất để cứu nguy cho đất nước của chúng ta. LL đối lập xin kêu gọi toàn thể đồng bào hải ngoại, các đảng phái, chính khách, hiệp hội, phương tiện truyền thông quốc tế hãy tiếp giúp và yểm trợ cho sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam chúng tôi.
Tổ Quốc Việt Nam sẽ ghi ơn tất cả sự hy sinh, cống hiến của các Quý vị và các bạn! Độc tài cộng sản đã hết thời, Tự do dân chủ cho Việt Nam , Tổ quốc trên hết! http://www.dangnguoivietyeunguoiviet.blogspot.com/
|
LẠM PHÁT KINH TẾ QUỐC DOANH TĂNG CAO KỶ LỤC
Giá thực phẩm, nhà ở và vật liệu xây dựng tăng.
Lạm phát ở mức 12,17%, mức cao nhất kể từ đầu năm 2009, ngay trước Tết tạo thêm áp lực lên chính quyền Việt Nam phải tăng lãi suất để làm chậm tăng trưởng và hạn chế áp lực đối với tiền đồng.
Báo Wall Street Journal ngày 24/01 có bài nói nhà chức trách đang chật vật trong nỗ lực đối phó với nhiều áp lực kinh tế và làm tăng quan ngại về khả năng của chính phủ khống chế được chính sách tài chính trong bối cảnh thâm hụt mậu dịch lớn và tiền đồng mất giá.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 12,17% trong tháng Một so với cùng giai đoạn cách đây một năm, tăng nhanh hơn mức tăng 11,75% trong tháng Mười hai, và ở mức nhanh nhất kể từ tháng Hai năm 2009, Tổng cục Thống kê cho biết trong một tuyên bố hôm thứ Hai 24/01.
So với tháng Mười hai, chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,74%.
Với tốc độ lạm phát này thì việc Việt Nam muốn giữ lạm phát năm nay ở mức 7% là điều không thể
Chỉ số lạm phát của Việt Nam dựa trên số liệu trong 24 ngày đầu tiên của mỗi tháng.
Sự gia tăng chỉ số CPI trong tháng Một chủ yếu xuất phát từ giá cả cao hơn cho các dịch vụ giáo dục, thực phẩm, nhà ở và vật liệu xây dựng, Tổng cục Thống kê cho biết.
Nhu cầu về hàng tiêu dùng và vật liệu từ trước tới nay luôn tăng vào cuối năm và trước Tết Nguyên đán.
"Với tốc độ lạm phát này, việc Việt Nam giữ lạm phát năm nay ở mức 7% là điều không thể. Mức lạm phát cao cũng sẽ gây khó khăn cho các ngân hàng giảm lãi suất cho vay của họ.
Và do đó doanh nghiệp vẫn sẽ phải đối mặt với khó khăn để mở rộng sản xuất", ông Lê Thẩm Dương, kinh tế gia từ Đại học Ngân hàng tại Tp HCM cho biết.
'Ôm vàng và đô'
Dân chuyển sang trữ vàng và đôla trong lúc doanh nghiệp thiếu đôla để nhập khẩu.
Trong cuộc phỏng vấn dành cho BBC mới đây, Tiến sỹ Nguyễn Minh Phong từ Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế-Xã hội Hà Nội mô tả mục tiêu lạm phát mà Chính phủ đề ra (7%-7,5%) là "mục tiêu chính trị" và khó thực hiện.
Chính phủ Việt Nam dự báo tăng trưởng kinh tế 7% đến 7,5% trong năm nay, sau khi Đại hội Đảng vừa bế mạc nhất trí mục tiêu tăng trưởng kinh tế hàng năm 7% đến 7,5% từ năm 2011 tới năm 2015.
Thâm hụt mậu dịch năm ngoái lên tới 13,24 tỷ đôla đi kèm với giá tiêu dùng tăng cao đã làm ảnh hưởng tiêu cực tới niềm tin vào tiền đồng và khiến chính phủ phải phá giá tiền đồng ba lần từ tháng Mười năm 2009.
Ngân hàng ANZ cho biết có nguy cơ lạm phát có thể lên cao vào cuối năm nay nếu nhà nước không nâng lãi suất.
"Điều nghiêm trọng nhất là lạm phát leo thang sẽ dẫn đến mất lòng tin vào tiền đồng và người ta sẽ chuyển sang trữ đôla Mỹ và vàng".
"Điều này sẽ gây áp lực nhiều hơn đối với tiền đồng vì dự trữ ngoại hối ít ỏi của Việt Nam không thể đủ bù đắp nếu việc chuyển sang trữ vàng và đôla ở mức đồng loạt," ANZ nói.
ANZ cho biết việc tăng ngay lãi suất cho vay lên khoảng 20% sẽ ổn định kinh tế sớm hơn, trong khi cũng gây ra giảm tăng trưởng kinh tế ngắn hơn.
Ngân hàng Nhà nước nâng 1% lãi suất cơ bản cho vay bằng tiền đồng lên mức 9%, nhưng đã cam kết sẽ giới hạn mức lãi suất cho vay này ở mức tối đa là 14% vào năm 2011.
ĐẠI HỘI ĐẢNG QUYẾT TÂM ĐỔI MỚI THEO KINH TẾ TRUNG QUỐC
Nguyễn Quang Duy
Thất nghiệp và lạm phát là hai vấn đề nhức nhối nhất trong việc điều hành một quốc gia. Các chính phủ dân chủ nếu không làm tròn nhiệm vụ để lạm phát tăng, thất nghiệp nhiều thì người dân bằng lá phiếu sẽ chọn lựa những người xứng đáng hơn. Đây là ưu điểm của hệ thống dân chủ, một hệ thống ngày nay được áp dụng tại hầu hết quốc gia trên thế giới. Còn tại vài quốc gia cộng sản, khi đảng Cộng sản mất khả năng kiểm sóat kinh tế cũng dẫn đến bất ổn chính trị và cũng là lúc để người dân vùng lên giành lại chính quyền. Đã có lần nhiều đảng viên cộng sản Việt Nam phải thét to khẩu hiệu “đổi mới hay là chết”. Báo cáo khai mạc Đại hội lần này, Tổng Bí Thư cộng sản Nông Đức Mạnh cũng nhắc đi rồi nhắc lại hai từ “đổi mới”. Ông Mạnh cho biết chiến lược phát triển kinh tế trong 10 năm tới gồm ba bước đột phá là thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô. Về việc đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, ông Mạnh giải thích là “... từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và sử dụng lao động giá rẻ sang tăng trưởng chủ yếu do áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ công nghệ cao, có giá trị gia tăng và sức cạnh tranh lớn gắn với phát triển kinh tế tri thức; gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường...” Chiến lược mà ông Mạnh đọc trước Đại Hội thực ra đã được Thủ tứơng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng cho đăng trên Tạp Chí Cộng Sản (online) chừng hai tuần trước ngày khai mạc Đại Hội. Điều lạ chính là vịêc con rể của Nguyễn Tấn Dũng, ông Nguyễn Bảo Hoàng trả lời cơ quan truyền thông Reuters như sau “Ngay cả khi tôi nói rằng Việt Nam hiện ở trình độ của Trung Quốc vào những năm ’97-’98, thì Việt Nam thực sự vẫn tụt sau rất nhiều về cơ sở hạ tầng.” Ông Hòang còn cho biết ông mất ngủ vì việc quản lý và nạn tham nhũng của chế độ do cha vợ ông đang cầm quyền. Đúng như ông Hòang nhận xét mô hình “...tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và sử dụng lao động giá rẻ...” mà ông Mạnh đề cập đến chính là mô hình tăng trưởng Trung Quốc và Việt Nam đang đi sau và cố chạy để theo kịp Trung Quốc. Bài viết này xin phân tích hiện tình Việt Nam để cho thấy mô hình tăng trưởng Trung Quốc đã hòan tòan thất bại tại Việt Nam, trong khi ấy những yếu tố căn bản để xây dựng chiến lược đổi mới lần này gần như không có và do đó đảng Cộng sản đã và đang mất dần khả năng kiểm sóat nền kinh tế Việt Nam. Thiếu tài nguyên, thiếu lao động rẻ, thiếu vốn đầu tư Cho đến nay, tăng trưởng kinh tế Việt Nam dựa không ít vào việc tận dụng tài nguyên thiên nhiên, nhất là nguồn dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam . Trên thực tế nguồn tài nguyên này càng ngày càng vơi cạn. Phần khác vì đảng cộng sản Việt Nam đã quá lệ thuộc vào Trung Cộng, lại thiếu khả năng quân sự để bảo vệ thềm lục địa nên Việt Nam khó có thể tiếp tục tận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên này. Để tiếp tục tăng trưởng kinh tế đảng Cộng sản không còn lựa chọn khác hơn phải để Trung cộng khai thác Bauxit Tây Nguyên . Điều cần nói là việc khai thác không chắc mang lại lợi nhuận và gặp nhiều chống đối từ mọi tầng lớp nhân dân. Việt Nam đi sau nên các nguồn tài nguyên và môi trường chưa đến nỗi cạn kiệt. Trung Quốc thì ngược lại. Để duy trì tăng trưởng kinh tế đã phải hòan tòan lệ thuộc vào các nguồn tài nguyên ngọai quốc. Chả thế Trung Quốc phải thúc đẩy Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Vịêt Nam bằng mọi giá khai thác Bauxit Tây Nguyên . Để thu hút giới đầu tư ngọai quốc, đảng Cộng sản cho kềm hãm mức lương công nhân và ra sức quảng cáo Việt Nam có thị trường “lao động rẻ”. Mặc dù lương công nhân Việt Nam vẫn thua xa lương công nhân các quốc gia trong vùng, nhưng Việt Nam đã mất đi sức thu hút đầu tư. Thậm chí nhiều công ty ngọai quốc đã rời Việt Nam vì những yếu tố khác như tệ nạn tham nhũng, năng suất lao động thấp, giá thuê mướn đất đai cao, cơ sở hạ tầng yếu kém … và niềm tin vào khả năng ổn định kinh tế và chính trị đang mất dần. Do mức lương quá thấp và nạn lạm phát phi mã, tiền lương càng ngày càng không đủ để bồi hòan công sức lao động, nhiều công nhân bỏ việc, các xí nghiệp lâm vào tình trạng thiếu công nhân. Tình trạng thiếu công nhân lại trực tiếp ảnh hưởng đến đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Muốn có mức lương cao thì năng suất lao động cần tăng, nếu không việc tăng lương chỉ dẫn đến việc tăng chi phí lao động và tạo ra lạm phát. Tình trạng lạm phát phi mã tại Việt Nam chủ yếu phát xuất từ lý do này và là hậu quả trực tiếp của mô hình tăng trưởng Trung Quốc. Chênh lệch giàu nghèo Cũng như tại Trung Hoa , nhiều lãnh đạo cộng sản Việt Nam và gia đình đã lợi dụng chức quyền để trở thành những nhà đại tư bản hay tập đòan tư bản đỏ. Nhiều đảng viên cộng sản nhờ lợi dụng quyền thế tham nhũng cũng đã nhanh chóng trở nên giàu có. Khác với Trung Hoa một số đảng viên cao cấp đã bị xử bắn để làm gương, tại Việt Nam nếu trừng phạt đảng viên tham nhũng thì đảng sẽ không còn người kiên định lập trường chính trị và chấp nhận bán nước cho Tầu. Tình trạng tham nhũng gắn liền với quyền lực và quyền thế. Chả thế khi được báo Pháp Luật phỏng vấn, ông Nguyễn Chí Dũng, Bí thư kiêm Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Ninh Thuận, và là đại biểu Đại hội đảng cộng sản lần này cho biết: “Tôi rất đồng tình với việc đưa tiêu chí không tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí để lựa chọn nhân sự khóa này. Nhưng bây giờ tìm được người gọi là ‘sạch sẽ’ một tí thì chắc là cũng khó, cũng hiếm”. Trong khi tham nhũng lạm quyền tràn lan trong guồng máy đảng Cộng sản, thì mức lương công nhân lại quá thấp, nên khỏang cách chênh lệch giàu nghèo càng ngày càng mở rộng giữa tầng lớp công nhân và giới cầm quyền cộng sản. Mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư và bảo trợ công nghiệp bỏ mặc nông thôn cũng tạo ra một sự chênh lệch đáng kể giữa nông thôn và thành thị. Việc đảng Cộng sản biến đất nông thôn thành khu vực công nghệ, du lịch hay cư trú liên tục tạo ra những điểm nóng tại nông thôn. Nhiều tầng lớp xã hội khác như những người về hưu, quân nhân, công chức, dân nghèo thành thị, mức sống trực tiếp chịu ảnh hửơng từ nạn phát phi mã do mô hình tăng trưởng Trung Quốc gây nên. Cả Trung Quốc lẫn Việt Nam , sự bất bình đẳng và chênh lệch giàu nghèo giữa một thiểu số cầm quyền cộng sản và đại đa số dân tộc sẽ là ngòi nổ cho trái bom ổn định chính trị mà hai đảng Cộng sản bằng bạo lực đang cố công dẹp tắt. Thực chất con số thống kê Chúng ta vẫn thường nghe về con số thống kê tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) lên đến 7 hay 8%, hay bình quân mười năm qua lên đến 7,2 % /năm. Những con số trên được đem ra tuyên truyền nhằm đánh bóng chế độ. Ở đây chúng ta không bàn đến độ chính xác của con số mà chỉ xin lấy 1 ví dụ để diễn giải thực chất con số này. Sài Gòn , Hà Nội hay nhiều thành phố Việt Nam cứ mỗi lần mưa là một lần ngập lụt. Ngập lụt thì xe cộ sử dụng thêm nhiên liệu, xe hư phải sửa, phải mướn người dọn dẹp, phải vân vân … Tất cả những chi tiêu do ngập lụt đều được tính vào con số tổng sản lượng quốc gia. Ai cũng biết ngập lụt vì hệ thống cống rãnh thóat nước thiếu hay không được bảo trì đúng mức. Chúng ta thường thấy nhiều cảnh đường cống được đào lên sửa chữa rồi tráng lại vội vàng với cát và ít xi măng, chỉ cần một cơn mưa lớn là cống rãnh lại hư. Hư thì một thời gian sau lại có việc để sửa. Có việc sửa là có công ăn việc làm và có sinh họat kinh tế để tiếp tục tính vào con số tổng sản lượng quốc dân. Làm vậy thực chất là tạo công ăn việc làm giả tạo để giải quyết thất nghiệp, mà quên hẳn phẩm chất và hiệu quả công việc. Chỉ lãng phí tài lực quốc gia. Người công nhân sửa đường cũng không hiểu rằng nếu dưới một hệ thống tốt hơn, công việc họ làm có phẩm chất hơn, họ có nhiều cơ hội để lãnh một mức lương cao hơn và cuộc sống sẽ tốt hơn. Đó là chưa kể hệ thống cống rãnh thuộc vệ sinh công cộng người dân phải đựơc chính phủ phục vụ tốt nếu không đây là nguồn bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe và do đó khả năng lao động của người dân trong vùng. Có điều theo thời gian sống dưới chế độ cộng sản, người Việt dường như chấp nhận hay không còn quan tâm đến những thực tế đang xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Tư tưởng mặc kệ nó như vậy đã đang và sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến họ, gia đình và xã hội. Ví dụ nêu trên cũng chẳng khác gì chiến lược đổi mới, đổi mới, đổi mới … rồi lại đổi mới một cách nửa vời mà nhà cầm quyền cộng sản luôn đeo đuổi và tuyên truyền. Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc Cả hai đảng Cộng sản Trung Quốc – Việt Nam đều theo một mô hình tăng trưởng mà họ gọi là “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (mang màu sắc Trung Quốc )” theo đó "định hướng xã hội chủ nghĩa" là "kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo". Trước Đại Hội lần này chúng ta được chứng kiến vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước qua quyết đinh vỡ nợ của Tập Đoàn Kinh Tế Vinashin. Các công ty tài chính Moody’s và S&P’s đã phải hạ bậc tín nhiệm quốc gia và hệ lụy là chi phí vay mượn vốn quốc tế của Việt Nam cũng phải tăng, việc vay nợ sẽ gặp khó khăn hơn. Nhiều doanh nghiệp cả tư nhân lẫn nhà nước đã lên tiếng thiếu vốn kinh doanh nghĩa là thiếu khả năng kinh doanh và không thể tăng trưởng theo kế họach. Khi thiếu vốn đầu tư vào hạ tầng cơ sở, như điện lực, thì sẽ thiếu điện cho sản xuất và như thế sẽ tiếp tục thiếu thu hút đầu tư nước ngòai vào Việt Nam . Cái vòng lẩn quẩn cứ thế bám theo khả năng điều hành kinh tế của đảng Cộng sản Việt Nam . Nợ Nhắc đến Vinashin là phải nhắc đến nợ. Chỉ riêng tập đòan kinh tế này đã có khỏan nợ lên đến 5 tỷ Mỹ Kim . Tại Việt Nam , con số nợ quốc tế của các doanh nghiệp nhà nước và của nhà nước cộng sản thường chỉ được biết đến khi có vấn đề như trường hợp của Tập Đòan Kinh Tế Vinashin. Theo ước lượng chính thức từ nhà nước cộng sản, thì Việt Nam nợ Quốc Tế chừng 60 tỷ Mỹ Kim. Số thực có thể lên tới 100 tỷ. Hầu hết được vay mượn gần đây khi Việt Nam gia nhập WTO. Với một lãi xuất trung bình 7 phần trăm, hằng năm Việt Nam sẽ phải trả 7 tỷ tiền lời. Để tiếp tục vay mượn Việt Nam sẽ phải trả thêm khỏan nợ cơ bản. Như thế hằng năm ít nhất Việt Nam sẽ phải trả hằng chục tỷ Mỹ kim nợ quốc tế. Trở lại Vinashin, chỉ với 60 triệu Mỹ kim đã không có khả năng hòan trả, thì với hàng chục tỷ Mỹ kim phải trả Quốc Tế hằng năm, Việt Nam chỉ có nước đi vay nợ để trả nợ lời. Kiểu làm ăn kết hợp vừa của Công Ty Minh Phụng và vừa của Công ty nước hoa Thanh Hương ngày trước. Xin nhắc bạn đọc một điều là nợ quốc gia là nợ mà chúng ta, mà con cháu chúng ta phải trả, ngay cả khi chính quyền cộng sản đã bị giải thể. Ngược với Việt Nam , Trung Quốc lại là nước chủ nợ thế giới. Số Nợ của Trung Quốc cho thế giới vay có thể lên đến vài ngàn tỷ Mỹ kim . Trung Quốc là chủ nợ của Hoa kỳ. Trung Quốc là chủ nợ của Việt Nam . Khỏan nợ mà đảng Cộng sản Việt Nam mượn đảng Cộng sản Trung Quốc là những ký kết bí mật nhằm trói buộc Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam trong vòng quỹ đạo của Trung Quốc . Đây là nỗi đe dọa trực tiếp cho nền độc lập quốc gia dân tộc. Từ những năm 1980, cán cân thương mãi quốc tế của Trung Quốc luôn luôn thặng dư để Trung Quốc có thể trở thành chủ nợ quốc tế. Áp dụng cùng một một mô hình tăng trưởng mà một thành chủ nợ, một vỡ nợ thì đủ thấy trình độ quản lý kinh tế của Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam như thế nào. Cán cân thương mãi Áp dụng cùng một mô hình tăng trưởng, nhưng Trung Quốc ngòai khuyến khích sản xuất để xuất cảng cũng quan tâm đến sản xuất cho nhu cầu tiêu dùng nội địa. Ngược lại Việt Nam chủ yếu chỉ khuyến khích tăng gia xuất cảng. Vì vậy ngày nay nhiều sản phẩm đã phải nhập cảng từ Trung Quốc, cán cân thặng dư thương mãi nghiêng về phía Trung Quốc hằng chục tỷ Mỹ kim mỗi năm. Gần đây Bộ Chính trị ra một chiến dịch vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam ”. Chiến dịch này không gặt mấy kết quả vì người tiêu thụ chọn lựa món hàng dựa trên giá cả, phẩm chất, hình thức, … của món hàng, thay vì dựa trên “lòng yêu hàng Việt Nam ”. Nói cách khác hàng hóa Việt Nam không thể cạnh tranh với hàng hóa Trung Quốc cũng như không có khả năng đáp ứng nhu cầu nội địa. Điều buồn cười là giới lãnh đạo cộng sản lại là những người thích hàng ngọai (Tây Phương) ra mặt. Chiến lược mười năm tới Tóm lại, tình hình kinh tế Việt Nam là thiếu đầu tư ngọai quốc, thiếu tài nguyên, thiếu lao động rẻ, thiếu khả năng cạnh tranh, vỡ nợ, … đã buộc đảng Cộng sản phải đổi mới một lần nữa. Chiến lược đổi mới đã được ông Mạnh giải thích ở đầu bài chủ yếu sẽ cần vốn và chuyên viên kỹ thuật cao cấp. Nếu đảng Cộng sản vẫn tiếp tục cai trị kiểu đàn áp chính trị, vận hành thiếu minh bạch, không học hỏi cách hành xử đúng đắn (như không để vỡ nợ), giảm tham nhũng … thì Việt Nam khó có thể được tiếp tục dễ dàng vay nợ hay vận động đầu tư từ thế giới. Như vậy việc đầu tiên là “tiền đâu” để thực hiện chiến lược đột phá như Bộ Chính Trị Cộng sản đã đề ra. Gỉa thử có tiền thì guồng máy cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục đặt hồng (cộng sản) trên chuyên (chuyên môn). Nghĩa là mọi quyết định chuyên môn đều bị guồng máy đảng kiểm sóat và áp đặt. Kiến thức chuyên môn của các sinh viên đại học cũng thấp vì phải dành không ít thời gian học các môn chính trị. Số sinh viên được đào tạo trong nước thì thiếu. Số sinh viên được du học hải ngọai thì ít người quay về. Nói chung guồng máy chính trị hiện tại tạo ra một môi trường cực xấu cho nhân tài Việt Nam . Nhu cầu đổi mới chính trị Thực ra, các Chiến lược đột phá của Bộ Chính Trị do ông Mạnh đọc trước Đại Hội Đảng Cộng Sản lần này cũng chỉ là bản sao của mô hình tăng trưởng từ lâu đã được áp dụng tại Trung Quốc. Nói cách khác Đại Hội Đảng Cộng sản lần này quyết tâm đổi mới kinh tế để theo kịp Trung Quốc. Có điều Bộ Chính Trị Cộng sản không chịu tìm hiểu là so với Việt Nam, Trung Quốc đã thành công trên nhiều mặt, thế mà giới cầm quyền Trung Quốc còn phải ưu tư về nhu cầu thay đổi chính trị để sống còn. Ngày 03/10/2010 vừa qua trong cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình CNN, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo cho biết: “Nguyện vọng và đòi hỏi của dân chúng về dân chủ, tự do là một sức mạnh không thể kháng cự… Đảng Cộng sản Trung Quốc cần phải hành động theo đúng hiến pháp và pháp luật, chứ không thể đứng trên hiến pháp và pháp luật như trong thời kỳ còn là một đảng cách mạng đang đấu tranh để giành chính quyền. … “ Điều mà thể chế hiện nay cần có là một sự thay đổi lớn về các nguyên tắc, chứ không phải chỉ là những sự sửa đổi lẻ tẻ, vụn vặt. Điều này có nghĩa là những nguyên tắc từ trước tới nay của chính thể độc tài toàn trị, như những nguyên tắc của thời Mao Trạch Đông, cần phải được thay thể bởi những nguyên tắc dân chủ pháp trị. Xét theo khía cạnh này thì điều mà chúng ta cần có là một cuộc cách mạng chính trị chứ không phải là cải cách chính trị.” Trên cũng là đòi hỏi của người Việt Nam , vì thay đổi thể chế chính trị là đòi hỏi bức thiết cho sự phát triển của cả Trung Quốc lẫn Việt Nam . Kết Lại một Đại Hội đảng Cộng sản kết thúc, lại một Bộ Chính Trị được thành hình, lại một Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng được đưa ra. Hầu hết kết quả hình thức đều đã được các cơ quan truyền thông quốc tế loan báo trước. Các Chiến lược to lớn và sáng suốt được Bộ Cựu Chính Trị trao cho Bộ Tân Chính Trị thì lại tiếp tục sao chép rập khuôn của mô hình Trung Quốc. Đại Hội chỉ là trò hề chia chác quyền lợi và quyền lực của nhóm chóp bu cầm quyền. Lần này Đại Hội còn học theo đảng Cộng sản Triều Tiên khi thu xếp để con Nông Đức Mạnh và con Nguyễn Tấn Dũng tham gia Trung Ương Đảng. Trước Đại Hội khai mạc, phản ứng lời lại kêu gọi giải thể chế độ cộng sản của linh mục Nguyễn văn Lý, Thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng đã vội vã ra Công điện hỏa tốc số 2402/CĐ-TTg ra lệnh cho công an sẵn sàng bảo vệ an ninh Đại Hội. Hai nạn nhân đầu tiên của Nguyễn Tấn Dũng lại chính là Tùy viên chính trị của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ông Christian Marchant và Dân biểu Liên Bang Úc ông Luke Simpkins . Sự thật về cái gọi là ổn định chính trị của đảng Cộng sản đã được phơi bày trước thế giới. Ngày 19/1 là ngày mà giặc Tầu đã cướp Hòang Sa của Việt Nam . Lại cũng là ngày mà đảng Cộng sản tấn phong một ông vua mới, Nguyễn Phú Trọng để tiếp tục con đừơng mà Mao Trạch Đông, mà Đặng Tiểu Bình đã vạch cho Trung Quốc. Đảng Cộng sản thật càng ngày càng “hèn với giặc ác với dân”. Quyết định của Đại Hội là đảng Cộng sản vẫn tiếp tục làm tay sai cho giặc để độc quyền cai trị Việt Nam . Một quyết định càng ngày càng xa dần dân tộc. Nhưng thực tế lại chứng minh đảng Cộng sản đang mất dần khả năng kiểm sóat kinh tế, kiểm sóat chính trị. Và như tại các quốc gia tiền cộng sản Đông Âu và Liên Sô, cũng là lúc để người dân Việt Nam liên kết vùng lên giành lại chính quyền. Việt Nam phải có Tự Do Dân Chủ. Nguyễn Quang Duy Melbourne, Úc Đại Lợi 19/1/2011
| | | |
NHỮNG LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI ĐỨNG LÊN DẸP KINH TẾ MAFIA QUỐC DOANH CSVN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 16.12.2010 Web: http://VietTUDAN.net
Trong những tháng gần đây nhất, chúng ta nhận thấy những biến chuyển của tình hình Việt Nam trong chiều hướng đi đến những thay đổi quan trọng nhằm chính Cơ chế CSVN:
* Vỡ nợ của chủ trương Kinh tế quốc doanh. Vụ việc Vinashin chỉ là một tỉ dụ của vỡ nợ quốc gia. Việc vỡ nợ ỡ Việt Nam hiện nay là cả một hệ thống Kinh tế dồn vào cho những Tập đoàn quốc doanh mà chính những người điều hành lại có quyền lực Chính trị. Từ Trung ương đến các Tỉnh, những người điều hành chỉ tính toán thế nào để biển thủ tài sản công thành riêng cho mình. Tụt giốc Kinh tế, Lạm phát, Vật giá tăng vọt, Mất tín nhiệm trước nguồn vốn quốc tế, Ngân quỹ thiếu hụt trầm trọng và Phá giá đồng bạc, Dự trữ ngoại hối cạn đến đáy. Tất cả đều quy về một nguyên do: VI TRÙNG THAM NHŨNG LÃNG PHÍ hoành hành.
* Việc vỡ nợ toàn diện của nền Kinh tế do THAM NHŨNG LÃNG PHÍ đụng chạm đến quyền DẠ DẦY của mọi giới. Mà đụng đến nồi cơm của người ta, thì người ta tự động đứng lên dành lại miếng ăn. Chưa bao giờ chúng ta thấy những Lực Lượng đấu tranh đang hình thành mạnh như lúc này. Những Lực Lượng này không phải từ nước ngoài nhập vào để cái mồm điên đão CSVN nói rằng đây là do “thế lực thù địch ngoại lai “. Những Lực Lượng này đứng lên từ chính trong lòng Chế độ tại quốc nội do thúc đẩy bởi quyền DẠ DẦY. Lực Lượng đứng lên từ chính Quốc Hội, chính Quân đội, chính Công an, chính lớp Công chức, thậm chí chính những Lãnh đạo đảng, và tất nhiên từ mọi tầng lớp Dân nghèo.
Vấn đề thay ngôi đổi chỗ trong Đại Hội đảng kỳ tháng Giêng tới này trở thành thứ yếu. Những con giòi đục khoét vẫn là những con giòi. Điều quan trọng cũa những Lực Lượng đấu tranh cho quyền DẠ DẦY, đó là phãi dứt bỏ cái Cơ Chế chủ trương Kinh tế quốc doanh với độc tài Chính trị để giòi bọ tha hồ đục khoét làm cho tụt dốc Kinh tế khiến người ta đói.
Hội Nghị Trung Ương 12 CSVN sửa sọan cho Đại Hội đảng năm 2011 đã không tháo gỡ cho nền Kinh tế Việt Nam theo hướng Dân chủ hóa Kinh tế, mà ngược lại còn tiếp tục trói buộc nền Kinh tế trong quyền lực độc tài độc đảng Chính trị. Thực vậy, Dự thảo Cương lĩnh từ Hội Nghị Trung Ương 12 đã viết rõ rệt: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.
Thông tin từ Báo chí quốc nội cũng như quốc tế đang sôi động về tình trạng phá sản của nền Kinh tế quốc doanh, nghĩa là nền “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.
Từ tình trạng phá sản ấy, những lực lượng phải chịu hậu quả của phá sãn sẽ đứng lên lật đổ Cơ chế như điều tất yếu phải đến.
Tình trạng phá sản của Kinh tế quốc doanh
Tình trạng phá sản quy tụ về 3 điểm chính: (i) Tụt dốc Kinh tế vĩ mô (ii) Vật giá nhẩy vọt; (iii) Phá giá Tiền tệ. Cả 3 điểm có những liên hệ hỗ tương với nhau.
(i) Tụt dốc Kinh tế vĩ mô
Vinashin chỉ là cái mụn đã âm ỉ từ lâu, nay phát ra như một tỉ dụ của sự phá sản của những Tập đoàn Kinh tế nhà nước. Đây không phải chỉ nguyên một Tập đoàn riêng lẻ phá sản, mà là một tỉ dụ cho một tình trạng phá sản của một chủ trương Kinh tế gọi là vĩ mô. Chính Nguyễn Tấn Dũng đã nhờ cậy Giáo sư Michael PORTER, Đại học Havard, thẩm định về chủ trương Kinh tế vĩ mô nhà nước. Giáo sư đã viết Tập Phúc trình và kết luận như sau:
“Khi xem xét kỹ mô hình phát triển được áp dụng từ trước tới nay để xem có tiếp tục phù hợp với Việt Nam nữa không, câu trả lời của tôi là không”.
“Mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào việc khai thác các lợi thế có sẵn như tài nguyên và nhân công giá rẻ. “
“Các mất cân đối vĩ mô lớn như cán cân thương mại và tài khoản vãng lai, tỷ lệ tiết kiệm – đầu tư, lạm phát và tỷ giá hối đoái có thể gây ra những hậu quả “không thể xem thường. Ít nhất, chúng tạo ra tâm lý với các nhà đầu tư rằng, rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam là rất cao. Các mất cân đối vĩ mô này có thể làm phát sinh khủng hoảng, khi niềm tin bị xói mòn và các dòng vốn nước ngoài chảy khỏi Việt Nam”.
“Việt Nam là quốc gia sẽ bị tắc ở mức thu nhập trung bình thấp và phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước có thu nhập thấp hơn đang trỗi dậy”.
Không phải chỉ mình Giáo sư Michael PORTER thấy sự tụt dốc của nền kinh tế gọi là vĩ mô này, mà cả World Bank, IMF/FMI, những Ngân Hàng quốc tế, những nhà Tư vấn cấp cao nước ngoài đều cảnh cáo Việt Nam là phải chữa trị chính những sai lầm Kinh tế vĩ mô, nếu không thì bị các nước láng giềng vượt qua.
Khi mà những Tập đoàn Thẩm định quốc tế như MOODY’S, STANDARD & POOR’S hạ điểm mức tin tưỡng các Công ty và Ngân Hàng VN, đó là họ thẩm định khả năng Kinh tế, Tín dụng trong tương lai dựa ttên những tụt dốc đang diễn ra.
(ii) Vật giá nhẩy vọt
Vật giá nhẫy vọt, Lạm phát tăng nhanh ở Việt Nam đến từ hai lý do chính:
* Giảm hiệu lực sản xuất của những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh. Khi nhận một số vốn để sản xuất hàng hóa, nếu hiệu lực sản xuất kém để lượng hàng hóa xuống, thì tất nhiên giá thành sãn xuất tăng tương đối với số vốn nhận được.
* Nhà Nước muốn bảo vệ chủ trương Kinh tế quốc doanh, nên đổ thêm vốn vào mà không kiểm điểm sự tương xứng hiệu lực của sản xuất đối với số vốn cung cấp. Khối tiền càng phồng lên, mà lượng hàng hóa yếu kém, thì Vật giá tất nhiên tăng vọt sánh với đồng tiền được thổi phồng. Điều tệ hại hơn nữa là Ngân sách Nhà nước thiếu hụt, mà cứ phải đổ tiền vào cho những Tập đoàn quốc doanh, nên đành phải in tiền thêm làm Lạm phát Tiền tệ, phá giá đồng bạc Việt Nam. Người dân Việt Nam thừa hiểu cái trò này, nên không còn tin tưởng vào đồng bạc VN nữa.
Báo chí quốc nội đang la hoảng về tình trạng Vật giá nhãy vọt đến chóng mặt:
“SÀI GÒN (TH) - Lạm phát gia tăng nhanh chóng trong mấy tháng qua, vượt qua mặt những chỉ tiêu mà Quốc Hội đề ra cũng như các biện pháp “bình ổn giá” mà nhà cầm quyền quảng cáo. Hậu quả, những người có đồng lương cố định và đại đa số quần chúng đều nghèo khó lại thêm phần khốn đốn.
Tờ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam trong một bản tin ngày 29 tháng 11, 2010 về “lo âu đường đi của giá” nói rằng, ‘luôn có trên 50% bạn đọc cho biết họ đang thực sự gặp khó khăn.’
Theo các con số do Tổng Cục Thống Kê ở Hà Nội đưa ra, lạm phát tăng nhanh nhất ba tháng trở lại đây của năm nay và là mức gia tăng tệ hại nhất trong suốt 20 tháng qua. Ðây là hệ quả của chính sách đánh sụt giá đồng nội tệ nhằm cứu ngành sản xuất xuất cảng gây ảnh hưởng dây chuyền lên cả nền kinh tế.
Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, giá cả gia tăng 11.09% trong tháng 11, 2010 so với một năm trước. Ðây là tỉ lệ lạm phát gia tăng nhiều nhất từ tháng 3, 2009 mà vào thời điểm đó lạm phát nằm ở 11.25%. Tháng 10, 2010, lạm phát là 9.66%. Nếu chỉ tính từng tháng một thì lạm phát của tháng 11 đã tăng hơn tháng mười 1.86%.
Cuối năm 2009, Quốc Hội của chế độ Hà Nội biểu quyết “chỉ tiêu lạm phát trong năm 2010 phải dưới 7%”. Nhưng đến tháng 5, 2010, thấy không kềm nổi, nhà cầm quyền trung ương “xin điều chỉnh chỉ tiêu lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI)” lên “không quá 8%”.
“Giá của tất cả mọi loại thực phẩm mà chúng tôi mua ở các chợ địa phương đều gia tăng đáng kể so với tháng trước”. Craig Jackson, quản lý nhà hàng Al Fresco (cũng có chi nhánh ở Hà Nội) nói như vậy và phải trình bày với thức khách lý do “những bất ổn trong tỉ giá” đã làm giá thực phẩm tăng vọt.
Theo báo Người Lao Động hôm 20 tháng 11, 2010 vừa qua, các siêu thị ở Sài Gòn đã tăng giá ít nhất 10%. Gạo, một thứ căn bản của bữa ăn người Việt Nam, lên giá ít nhất cũng 4%, trong khi nhà cầm quyền khoe năm nay sẽ xuất cảng 6.5 triệu tấn gạo.
Nói chung, giá thực phẩm đã gia tăng 14.78% so với một năm trước trong đó một số thứ còn tăng đến 20.45%, theo Tổng Cục Thống Kê nói trên.
Theo tờ Người Lao Động, một số mặt hàng khác gắn liền với đời sống hàng ngày là đường và gas cũng tăng đáng kể.
Báo Người Lao Động dẫn nguồn tin từ Cục Quản Lý Giá (Bộ Tài Chính Việt Nam), nói giá bán lẻ đường trắng trong nước 15 ngày đầu tháng 11 khoảng 19,000-21,000 đồng/kg, tăng 1,000 đồng/kg so với tháng 10.”
(iii) Phá giá Tiền tệ.
Bản Tin của BBC ngày 10.12.2010 như sau:
“Tiền đồng 'đang có vấn đề rất nghiêm trọng'
Ngân hàng đầu tư Mỹ Morgan Stanley nói đồng tiền Việt Nam ‘có vấn đề rất nghiêm trọng’ trong bối cảnh kinh tế yếu và mậu dịch bị thâm hụt, báo tài chính Mỹ Bloomberg đưa tin ngày 9/12.
Thực trạng cán cân thanh toán xấu đi, nền kinh tế yếu và thâm hụt mậu dịch đang tạo "sức ép lớn đáng kể " đối với tiền đồng, Stewart Newnham, chuyên viên nghiên cứu chiến lược tiền tệ tại Morgan Stanley nói tại một hội nghị ở Tp HCM.
Kể từ hồi tháng Năm 2008, thời điểm ông Newnham nói đồng tiền Việt Nam theo gót chân “khủng hoảng tiền tệ” như Thái Lan (1997), tiền đồng đã mất giá 17% so với đôla Mỹ.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều chỉnh tỷ giá tiền đồng 2% (18.932 VND /USD) vào ngày 18 tháng Tám là lần phá giá thứ ba kể từ tháng 11 năm ngoái.
Trong tuần này Quỹ Tiền tệ Quốc tế cảnh báo nguồn dự trữ ngoại hối quốc gia của Việt Nam ở mức "thấp".
IMF cho biết dự trữ ngoại hối của Việt Nam vào cuối tháng Chín ở mức chỉ đủ trang trải cho 1,8 tháng nhập khẩu.”
Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh thâm thụt công quỹ. Nhà nước phải bơm vào bằng đồng tiền phá giá. Tất nhiên dân chúng phải mua vàng và đo-la với giá chợ đen. Đồng Tiền VN sẽ phải phá giá nữa như các nước Á châu trong cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Tiền tệ năm 1997.
Ông Stewart Newnham của Morgan Stanley, khi nói về Lạm phát phá giá đồng bạc Việt Nam, đã nhắc tới cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Tiền tệ Á châu năm 1997, khiến chúng tôi nhớ lại cách đây mấy năm, 2007, chúng tôi đã viết 5 bài liên tiếp về cuộc Khũng hoãng Tài chánh/Tiền tệ Á châu 1997, dựa trên những tài liệu của Bà Francoise NICOLAS. Chính năm 2007, chúng tôi đã sang Thái Lan quan sát tình trạng phá sản của một số Xí nghiệp chịu hậu quã của việc phá giá đồng tiền.
Về việc can thiệp Chính trị (Pouvoir politique) vào quyền lực Tiền tệ (Pouvoir monétaire), Kinh tế gia Florin AFTALION đã viết:
“L’inflation est un moyen de financement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet á court terme d’accorder des hausses de salaire et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages. «
(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy.)
Kinh tế gia Florin AFTALION nói đến « trong ngắn hạn « và « bởi những người làm chính trị “. Tại Việt Nam, thì không phải là ngắn hạn, mà đã làm ba lần rồi và có còn làm tiếp trường kỳ nữa ; rồi không phải chỉ « bởi những người làm chính trị “ suông, mà bởi một chế độ Chính trị độc tài độc đảng.
Dân chúng bài trừ và quốc tế không còn tin vào đồng Tiền VN là phải.
Xin nhắc thêm rằng tại Nam Dương, cuộc Khủng hoảng 1997 phá giá đồng tiền đã đưa đến hậu quả Chính trị là sự sụp đổ nhà độc tài SUHARTO.
Những Lực Lượng đứng lên từ tình trạng phá sản Kinh tế quốc doanh
Chúng tôi muốn nói đến tính cách tất yếu của những Lực Lượng này. Những Lực Lượng này không phải là do khuyên giải, cổ võ mà đứng lên. Việc đứng lên là tất yếu vì quyền DẠ DẦY của mình. Không đứng lên lật đổ Cơ Chế hiện hành, thì mình chết. Tính cách tất yếu là ở chỗ đó.
Những Lực Lượng nào ?
1) Lực Lượng đại đa số quần chúng nghèo
Khi Vật giá tăng vọt, thì khối đại đa số dân nghèo phải cùng cực, thiếu ăn. Nền Kinh tế quốc doanh Mafia CSVN thâm thụt công quỹ, bóc lột sức lao động, làm đại đa số dân chúng đã nghèo mà còn bị khổ cực vì thiếu ăn. Lạm phát, vật giá tăng vọt đẩy dân nghèo vào cùng cực và phải tự đứng lên lật đổ cơ chế.
2) Lực lượng Công chức, Công an và Quân đội
Đây là những thành phần lãnh lương cố định. Khi vật giá tăng vọt, đồng tiền mất giá, thì những thành phần lãnh lương cố định thấy mình nghèo đi. Càng phá giá đồng bạc VN, càng tăng vật giá, thì những thành phần này càng bị đẩy vào tình trạng nghèo cùng cực. Họ phải đứng lên.
3) Lực lượng Lãnh đạo đảng CSVN
Những Lãnh đạo đương quyền tham nhũng, vơ vét công quỹ. Nhưng những Lãnh đạo hồi hưu không thể ngồi yên. Trâu buộc ghét trâu ăn. Lực Lượng Lãnh đạo này không phải vì bất đồng Chính kiến mà đứng lên, nhưng chính là sự phân chia tham nhũng không đồng đều. Trước khi đánh cướp Ngân Hàng, thì mọi người cấu kết. Nhưng sau khi cướp được tiền rồi mà phân chia không đồng đều, thì lấy súng bắn giết nhau. Vì trâu buộc ghét trâu ăn, nên Lực Lượng Lãnh đạo này đứng lên mà bắn nhau. Số cán bộ Cộng sản hồi hưu, lãnh tiền cố định, nay thấy mình nghèo đi vì Lạm phát và vật giá tăng vọt, sẽ tăng cường tham gia Lực Lượng này.
4) Lực Lượng trẻ Thanh niên Sinh viên
Mỗi năm, số người trẻ Thanh niên Sinh viên tại Việt Nam tăng lên 1 triệu và phải kiếm công ăn việc làm. Việc tụt dốc Kinh tế làm cho họ thất nghiệp và phải chịu cảnh vật giá tăng vọt. Trong khi ấy, họ so sánh với một thiểu số con cháu đảng ăn chơi, tiêu xài hoang phí, còn xuất ngoại. Việc so sánh trong cãnh thất nghiệp của họ sẽ tạo sự ganh tị, ghen ghét. Lớp người trẻ Thanh niên Sinh viên sẽ nhập cuộc đấu tranh để chấm dứt những người giữ quyền lực chính trị để THAM NHŨNG LÃNG PHÍ gây tụt dốc Kinh tế.
5) Lực Lượng Tôn Giáo chống Bất Công, đòi Công Lý
Lực Lượng Giáo dân Công giáo đã đứng lên khởi đầu là Tòa Khâm sứ Hà Nội, rồi Xứ Thái Hà, lan vào Tam Tòa, Đồng Chiêm. Tất cả việc đứng lên này có nguyên do là chống BẤT CÔNG cũa Nhà Nước về đất đai. Mà việc bất công này lại cũng là do THAM NHŨNG của quyền lực Chính trị trưng dụng đất đai đẻ bán hoặc khai thác cho túi riêng của mình. Chống bất công như vậy cũng đồng nghĩa là chống THAM NHŨNG. CSVN đã sử dụng một số Lãnh đạo Tôn giáo quốc doanh để nhằm diệt Lực Lượng này. Nhưng TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM (=chống BẤT CÔNG, đòi CÔNG LÝ) vẫn luôn luôn tồn tại bởi lẽ nó phát xuất từ Đức Tin và Lương Tâm của chính Giáo dân. Việc đấu tranh theo TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM này đang bùng dậy tại xứ Thái Nguyên hiện lúc này.
6) Lực Lượng Tư doanh
Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh thiếu hụt ngoại tệ để nhập siêu vì dự trữ ngoại hối của Nhà nước chỉ còn không tới hai tháng để nhập cảng. Theo Kinh tế gia Lê Đăng Doanh, thì "số ngoại tệ Việt Nam có trong dân thì không phải là ít”, nghĩa là giới Tư doanh còn có thể vận dụng ngoại tệ để nhập cảng. Chính vì điểm này mà Lực Lượng Tư doanh nắm ưu thế đứng lên đấu tranh dành lại quyền Kinh tế mà từ trước đến nay các Tập đoàn quốc doanh nắm chủ động. Giới Tư doanh có cơ hội thực hiện Dân chủ hóa Kinh tế để tiến dần đến Dân chủ hóa Chính trị như một hệ luận tất nhiên.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 6.12.2010 Web: http://VietTUDAN.net
| | | |
THỤY ĐIỂN ĐÓNG CỮA TÒA ĐẠI SỨ Ở HÀ NỘI
Đỗ Vũ
Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam Staffan Herrström nói ngày ông nhận được tin đóng cửa đại sứ quán là 'ngày đen tối nhất' Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam, ông Staffan Herrström, xác nhận đại sứ quán Thụy Điển ở Hà Nội sẽ chấm dứt hoạt động trong năm 2011.
Trong bài blog Bấm "Những ngày đen tối ở Hà Nội" đề ngày 23/12, ông Herrström viết: "Cắt giảm ngân sách do Quốc hội quyết định đã dẫn tới việc Chính phủ chúng tôi phải đóng cửa các Đại sứ quán.Trong đó có Đại sứ quán ở Hà Nội - trong vòng năm 2011."
Vị Đại sứ, người mới nhậm chức hôm 1/9/2010, nói ông đã được thông báo trước về việc đóng cửa Đại sứ quán ở Hà Nội hôm 21/12, ngày mà ông gọi là "ngày đen tối nhất trong năm".
Ngoài Đại sứ quán ở Hà Nội, cơ quan đại diện ngoại giao của Thụy Điển ở Malaysia, Bỉ, Argentina và Angola cũng bị đóng cửa.
'Cú sốc'
Trên blog của mình ông Herrström viết: "Những người như tôi được bổ nhiệm không phải chỉ để lo những việc dễ - và có lẽ chủ yếu - là [để đối mặt] với những ngày đen tối và khó khăn như những ngày này. Tôi biết rằng quyết định của chính phủ Thụy Điển ngày hôm qua sẽ gây ra cú sốc và sự khó hiểu lớn trong thời gian dài.
Độc giả Le Thanh Forsberg:
"Chúng tôi có những nhân viên địa phương tuyệt vời và tôi cảm thấy buồn cho họ. "Ngày hôm nay...những suy nghĩ của tôi xoay quanh các đồng nghiệp tại số 2 Núi Trúc. Những thử thách đối với họ. Tương lai của họ." Những người để lại lời bình luận trên blog của Đại sứ Thụy Điển bày tỏ sự bất ngờ và ngạc nhiên.
Một độc giả, Tom Hogersson viết:
"Tôi nghĩ rằng việc đóng cửa Đại sứ quán sẽ có hậu quả nghiêm trọng đối với quan hệ Việt Nam và Thụy Điển.
"Thụy Điển đã có đại diện ở Việt Nam trong hơn 40 năm. Nay khi Việt Nam cuối cùng cũng bắt đầu phát triển và nền kinh tế đang bùng nổ, các công ty và tổ chức của Thụy Điển cần nỗ lực làm ăn tại Việt Nam."
Còn độc giả Le Thanh Forsberg từ Hoa Kỳ viết:
"Tôi biết rằng quyết định của chính phủ Thụy Điển ngày hôm qua sẽ gây ra cú sốc và sự khó hiểu lớn trong thời gian dài, không chỉ đối với phía Việt Nam mà còn cả [đối với] những người Thụy Điển đã và đang quan tâm tới sự phát triển của đất nước này."
Đọc tin này tôi buồn ghê. Một nỗi buồn mang tên Thụy Điển ở VN. Nhưng phải nhìn rõ vấn đề tìm nguyên nhân của nó. Vì sao vậy?
Thứ nhất là tại người VN của chúng ta
Những chương trình trợ giúp của SIDA, các học bổng về du học các chuyến huấn luyện về báo chí sẽ khó khăn
Chương trình nhân đạo cao đẹp của Thụy Điển đã bị VN lợi dụng một cách tồi tệ
Chỉ có con ông cháu cha mới được đến Thụy Điển và tòan là đem rắc rối cho họ
Tôi không nói chuyện các khóa học của SIDA, nhưng nói chuyện các phóng viên Vn qua đây du học Tôi biết đa số các phóng viên của báo Đại Đòan kết qua đây tu nghiệp. Tôi biết từng người
Nhưng sự kiện chấn động là năm 2001 bà Kiều Trinh, Biên tập viên của VTV qua Thụy Điển tu nghiệp 3 tuần. bà kiều Chinh hiện nay xuất hiện trên VTV rất nhiều, là con gái ông tổng Giám đốc VTV Vũ Văn Hiến. Năm 2001, bà Kiều Trinh, lợi dụng chuyến đi tu nghiệp này ăn cắp rất nhiều đồ trong siêu thị tại Kalmar centrum. Bị cảnh sát bắt giam hơn 1tuần lễ. Sau đó nhờ đường ngọai giao can thiệp bà Kiều Trinh và đòan nhà báo VN về nước nhưng hình ảnh các phóng viên Vn trong cái nhìn các phóng viên các nước khác là kẻ gian tham và trôm cắp. Năm 2006, được đi tu nghiệp tại Anh, bà Kiều Trhinh cũng ăn cắp 1 lần nữa.
Hình ảnh những lao động VN tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Hải Dương…( các tỉnh miền bắc) qua Đông Âu trước sư kiện bức tường Berlin sụp đỗ. Họ chạy trốn qua Thụy Điển và hành nghề…trộm cướp. Phải nói là người miền Bắc trốn ở đây chỉ đi ăn cắp mà thôi Khi qua đây họ tìm cách giúp người thân uqa bằng con đường hôn nhân giả dối. kéo cả dòng họ qua bên này đi…ăn cướp.
Từ lâu Thụy Điển hạn chế visa du lịch từ VN
Ngày nay bận cầm hộ chiếu VN mà nhập cảnh vào 4 nước Bắc Âu bạn sẽ cảm nhận được vì sao người ta ” cảnh giác” với người Việt đến thế. Vì những người này đây, những người VN qua đây sinh sống bằng nghề trộm cắp và trốn ở lại không về nước. Con của Giám đọc VTV mà còn đi ăn cắp thì dân thường càng nhiều hơn
Quốc thể đã bị người ta làm nhục cách trơ trẽn
Cái hộ chiếu Việt Nam bị người ta khinh khi vì những tội phạm của người Việt nam trên xứ người. Đức Cha Kiệt nói câu nói đó rất chính xác. Sẽ là rất nhục nhã khi thấy hình ảnh tội phạm VN trên xe bus, ngay cửa siêu thị, chỗ công cộng. Họ dán hình và không ghi tên là bà Kiều Trinh, hay Hiền mã lỵ ( dân hải phòng chuyên ăn cắp hàng siêu thị ở Getoborg) mà chỉ ghi là VIETNAMESE
Tôi mang ơn những người Thụy Điển, nhưng tôi lấy visa không phải ở VN . Lẽ ra tôi nên tri ân những nhâ viên ngọai giao của Thụy Điển ở một quốc gia khác chứ không phải ở VN. Tôi đi nhiều nước, nhưng tôi thấy người Thụy Điển đẹp và rất tốt bụng. Quê hương của các giải Nobel thật tuyệt vời.
Đỗ Vũ
| | | |
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx GIU LAI NHUNG BAI TRUOC DE CHUYEN VAO PHAN LUU TRU==============> **************************************************************************************************** | | | |
NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:
LINH MỤC NGUYỄN VĂN LÝ CHỮA BỆNH VÔ HẠN ĐỊNH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 18.03.2010
Trả lời Phỏng vấn của Ký giả ĐỖ HIẾU, Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ nói rõ bệnh tình của Ngài như sau:
“Tôi đã bị tai biến mạch máu não 3 lần. Lần thứ nhất là vào tháng 5-2009, lần thứ hai vào tháng 7 và lần thứ ba vào tháng 11. Ba lần thì mỗi lần lại nặng thêm, riêng lần thứ ba này thì người ta đưa lên trên Hà Nội, vào Bệnh Viện 198 của Bộ Công An. Tại đây người ta xét nghiệm thì người ta thấy có hai đoạn mạch cảnh hai bên cổ thì bị xơ vữa nhiều chỗ, nhiều tụ huyết, nhưng mà cái quan trọng hơn là ở trên hậu chẩm của não bên trái đã có một khối u rộng khoảng 2 centimet và người ta hồ nghi rằng chính vì cái khối u này nó chèn ép một số thần kinh thành ra chân phải và tay phải bị liệt.”
“Sau 4 tháng điều trị thì hiện giờ chân phải có bớt đôi chút nhưng mà vẫn chưa cử động bình thường, còn riêng tay phải thì đã có thể cầm được thìa để ăn cơm nhưng chưa cầm bàn chải đánh răng và chưa cầm bút được, nhưng vẫn có thể đưa tay lên đưa tay xuống để tập thể dục cũng được. Phục hồi lần sau thì chậm hơn lần trước, thành ra lần này đã 4 tháng rồi mà mức độ phục hồi thì nó không bằng lần thứ hai. Riêng về khối u trên não trái thì người ta cũng không nói cho mình biết u đó là u ác tính hay lành tính, và người ta cũng không muốn đụng vào để điều trị vì sợ có khi tai biến gì nguy hiểm, cho nên họ muốn để cho gia đình và Giáo Hội trách nhiệm điều trị chuyện này thì hay hơn.”
Vì bệnh tình như vậy, nên chính CSVN buộc lòng phải đưa Cha LÝ về Huế để Gia đình và Giáo Hội lo lắng chữa trị.
Tôi có một số nhận xét sau đây:
1) CSVN quyết định đưa Cha LÝ về Nhà Hưu Dưỡng Huế để Giáo Hội lo chữa trị. Đây không phải là do lòng nhân đạo mà CSVN thường rêu rao. Đây chỉ là việc tính tóan cho cái lợi của mình mà thôi. Thực vậy, chính Cha LÝ đã nói: ”người ta cũng không muốn đụng vào để điều trị vì sợ có khi tai biến gì nguy hiểm”. CSVN biết rõ rằng Lm NGUYỄN VĂN LY đã được cả Thế giới lưu tâm phản đối việc CSVN kết án tù Ngài và nhất là Lực Lượng Giáo dân Công Giáo đang lên mạnh và hòan tòan ủng hộ sự can đảm đấu tranh của Ngài. CSVN sợ rằng nếu Bệnh viện của Cộng sản chữa trị và nếu Ngài bị chết hay hòan tòan tê liệt, thì Thế giới, nhất là Lực Lượng Công Giáo sẽ đứng lên kết án CSVN đã giết Ngài như trường hợp Đức Cha NGUYỄN KIM ĐIỀN. Vì vậy chính Bác sĩ Cộng sản tại Bệnh Viện Hà Nội không dám đụng đến u máu trên đầu Ngài. CSVN sợ bị kết án là đã giết Cha LÝ. Đó là lý do tính tóan của CSVN chứ không phải là lòng nhân đạo gì cả. Nếu bệnh tình của Ngài không thuyên giảm hoặc còn gia tăng, thì CSVN sẽ nói rằng đó là trách nhiệm của Giáo Hội chữa trị.
2) Khi Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ vào tù, thì Ngài vẫn khỏe mạnh. Ngài cũng không phải là một phạm nhân, mà chỉ bị nhốt tù do sự độc ác độc tài của CSVN mà thôi. Bệnh mạch máu não mỗi ngày mỗi nặng là do việc tù tội mà phát sinh. Trách nhiệm chữa trị phải là từ phía những người tàn ác đã nhốt tù Ngài, chứ không phải là trách nhiệm từ Gia đình hay từ Giáo Hội. Trách nhiệm săn sóc sức khỏe tù nhân và chữa trị là do Nhà Nước độc tài CSVN. Vì vậy, lúc này, dù cư ngụ tại Nhà Hưu Dưỡng, nhưng phi tổn chữa trị cho bệnh của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ phải do Nhà Nước CSVN chịu. Bắt nhốt tù người ta, làm cho người ta bệnh, thì phí tổn chữa bệnh cũng phải do Nhà Nước chịu. Nhà Nước không chịu trả phí tổn chữa bệnh, mà dào cho Gia đình và Giáo Hội, đó là trò khôn lỏi, bất công. Có thể kiện Nhà Nước CSVN về trò bất công, khôn lỏi này.
3) Nhà nước CSVN nói rằng đây là việc đình chỉ ngồi tù trong 12 tháng để chữa bệnh. CSVN không dám chữa bệnh cho Lm NGUYỄN VĂN LÝ, không dám đụng tới u máu ở đầu của Ngài vì sợ nguy hiểm đến tính mạnh, thì làm sao CSVN dám quả quyết rằng chỉ chữa trong vòng 12 tháng là khỏi bệnh để rồi bắt Ngài vào tù. Về việc quyết định bệnh đã khỏi hẳn hay chưa phải là do Bác sĩ chữa trị quyết định. Nếu Bác sĩ nói rằng sau 12 tháng, bệnh của Ngài vẫn còn và dù có thuyên giảm nhưng cần tĩnh dưỡng 6 tháng hay một năm nữa, thì CSVN không có quyền bắt con bệnh vào tù. Sự quyết định về bệnh của con bệnh là do Bác sĩ chữa trị. Nếu Bác sĩ thấy rằng hai hay ba năm mà bệnh của Cha LÝ vẫn phải săn sóc, thì Công an không có quyền bắt con bệnh vào tù. Bệnh máu não của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ có thể kéo dài 5 hay 7 năm hoặc vô hạn định. Bác sĩ chữa trị mới có thẩm quyền quyết định về thời gian chữa trị.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 18.03.2010
| | | |
HẢI NGỌAI CẤM VẬN NGỌAI TỆ ĐỐI VỚI MAFIA CSVN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 25.02.2010
HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:
=> Tạm ngưng du lịch Việt Nam
=> Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết
=> Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.
Đấu tranh chống lại CSVN, chúng tôi luôn luôn đứng ở lãnh vực Kinh tế. Lực lượng đấu tranh chính yếu là tại Quốc nội. Hải ngọai yểm trợ cho Quốc nội. Có hai Mặt Trận mà Hải ngọai có thể đóng góp hữu hiệu, đó là Mặt Trận Thông Tin về Quốc nội và Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế chống lại Mafia CSVN cướp bóc Dân chúng.
Đối với Mặt Trận Thông Tin về Việt Nam, Hải ngọai phải tăng cường luôn luôn vì chúng ta có phương tiện và vì Truyền Thông hiện nay là từ trời rơi xuống mà CSVN khó lòng ngăn chặn. Đối với Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế, chúng ta phân biệt những điểm tế nhị. Chúng ta tránh những gì có thể làm hại đến đời sống làm ăn kiếm sống vất vả của Dân chúng, nhưng đối riêng với Mafia CSVN cướp bóc, thì chúng ta kêu gọi trừ diệt không thương tiếc.
Từ khi CSVN tuyên bố phá giá nội tệ, chúng tôi thấy đây là dịp mà Hải ngọai phải nắm lấy để tấn công nhóm đảng Mafia CSVN mà không ngại sợ liên hệ đến cuộc sống làm ăn vất vả của Dân chúng. Việc buộc lòng phá giá đồng bạc Việt Nam cho thấy một tình trạng khan hiếm ngọai tệ có thể đưa Cơ Chế đến phá sản. Chúng tôi muốn kêu gọi Hải ngọai đòan kết, cứng rắn xử dụng mọi biện pháp CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Cơ Chế Mafia CSVN cướp bóc.
CSVN khan hiếm ngọai tệ trầm trọng
Từ khi cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế cho đến nay, CSVN đang rơi vào tình trạng khan hiếm ngọai tệ như sau:
=> Đầu tư nước ngòai giảm 82% vì chính nước ngòai cũng đang trải qua Khủng hỏang. Ngày nay, không Nhà Nước Tây phương nào, Liên Aâu và Mỹ, không thiếu hụt Ngân sách. Tình trạng khủng hỏang đang diễn ra nguy hiểm tại một số nước Liên Aâu: Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha... Liên Aâu đang khó khăn trong việc cứu vớt những nước này, nên khó lòng nghĩ đến đầu tư vào Việt Nam xa xôi nguy hiểm. Trung Đông cũng phải quan tâm đến vấn đề Dubai.
=> Aâu, Mỹ du lịch Việt Nam giảm 70%. Xuất cảng của Việt Nam sang Liên Aâu và Hoa kỳ giảm 62%, đó là chưa kể những hàng hóa bị cấm đóan vì độc hại và những hàng bị tăng thuế nhập cảng như tôm cá vào Mỹ, đồ may mặc, da giầy vào Liên Aâu. Khi du lịch giảm, hàng xuất cảng giảm, thì làm sao có thể tăng ngọai tệ được.
=> Trong khi ấy, những hàng nhập siêu cho Việt Nam lại tăng mạnh và quá mức. Cán cân thương mại nhập/xuất mất thăng bằng. Nhập siêu tức là ngọai tệ đi ra.
Đình trệ chung về Mậu dịch Quốc tế
Nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ) ngày hôm nay 25.02.2010, trang 17, đăng những lời tuyên bố của chính Oâng Pascal LAMY, Tổng Giám đốc WTO:
“Le commerce international enregistré l’an dernier un recul sans précédent depuis la Seconde Guerre Mondiale en raison de crise 12%, et l’année 2010 s’annonce médiocre avec déjà des signes inquíetants pour la reprise économique espérée. Le commerce mondial a été victime de la crise et s’est contracté de 12% en volume en 2009”. (Thương mại quốc tế ghi nhận năm vừa rồi một sự lùi lại chưa bao giờ xẩy ra từ Thế Chiến Thứ Hai với 12% giảm, và năm 2010 báo hiệu xấu với những dấu hiệu đáng lo ngại cho việc phục hồi kinh tế như ao ước. Thương mại hòan cầu đã là nạn nhân của khủng hỏang và đã lùi 12% tính về lượng giao dịch trong năm 2009.)
Oâng nói thêm về những lý do của việc lùi chưa từng có này:
“Selon OIT, le nombre de chomeurs a atteint un niveau sans précédent de 200 millions de personnes, par conséquent le manque du pouvoir d’achat. La chute brutale des échanges commerciaux s’explique principalement par un repli de la demande des plus grandes économies, ainsi que par une raréfaction des prêts bancaires pour financer les transactions commerciales.” (Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, số thất nghiệp đã đạt tới mức chưa từng có là 200 triệu người. Việc tụt dốc tàn nhẫn của những trao đổi thương mại được giải thích chính yếu bởi việc cắt đi việc đặt mua hàng từ những nền kinh tế lớn nhất, cũng như bởi việc khan hiếm những món cho vay ngân hàng để tài trợ cho những thương vụ thương mại.)
Những tuyên bố trên đây của Oâng Tổng Giám đốc WTO chứng tỏ rằng những con số ca tụng tăng trưởng cũng như xuất cảng từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam là những khóac lác tuyên truyền mà thôi.
Phá giá đồng bạc Việt Nam là hậu quả tất nhiên
Trong bài viết dài về TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ đăng trong số này, chúng tôi đã cắt nghĩa một cách giáo khoa rằng đồng nội tệ của một quốc gia mạnh hay yếu là do Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ, do Cán Cân Chuyển Vốn vào. Chúng tôi đã viết và cắt nghĩa như sau:
Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.
Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh hay yếu?
Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.
Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giûam giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.
Tại Việt Nam, ngọai tệ không những không vào mà còn thất thóat ra ngòai nhiều. Người trong nước tăng Cầu ngọai tệ, nên tỷ giá ngọai tệ tăng. Phía Cung nội tệ tăng để mua ngọai tệ phục vụ nhập siêu. Cung nội tệ tăng, thì tỷ giá nội tệ sánh với ngọai tệ bị mất giá.
Tình trạng khan hiếm ngọai tệ và Đình trệ xuất cảng càng kéo dài bao nhiêu, thì đồng bạc Việt Nam càng phá giá bấy nhiêu. Lần phá gia trước Tết (11.02.2010) chưa phải là lần cuối, mà việc phá giá còn tiếp tục.
Bản Tin Reuters do John Ruwitch, đánh đi từ Hà Nội như sau:
“HÀ NỘI (Tin Reuters) – CS Việt Nam có nguy rơi vào vòng xoáy buộc phải phá giá đồng nội tệ liên tục ngoại trừ có các chính sách đi kèm với các biện pháp đối với thị trường ngoại hối nhằm kiểm soát lạm phát và giới hạn thâm thủng mậu dịch, ngày càng gia tăng, một cách có hiệu quả.
Lạm phát đang gia tăng trở lại và thâm thủng mậu dịch đang mở rộng làm trở ngại các cố gắng của các giới chức chính quyền nhằm thu hút đồng Mỹ kim dân chúng đang cất giữ trở lại dòng luân lưu tiền tệ và giảm thiểu sự thất thoát nguồn dự trữ ngoại tệ.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngày thứ Năm (February 11) phá giá đồng nội tệ 3,25% đồng thời áp mức tối đa đối với hối suất dành cho đồng Mỹ kim gởi tại ngân hàng. Đây là lần phá giá thứ 3 kể từ tháng 12 năm 2008, dẫn đến hối suất tham khảo hằng ngày của ngân hàng trung ương giảm hơn 11% trong hơn một năm.
Bui Kien Thanh, một cựu cố vấn cho chính phủ VN, nói rằng cả hai động thái đều không đáp ứng được nhu cầu bức thiết cho các thay đổi về chính sách mang tính rộng lớn.
“Dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước sẽ tiếp tục thu nhỏ và Ngân hàng nhà nước buộc phải có hành động nhằm bảo vệ giá trị hối đoái của đồng nội tệ,” ông Thanh nói.
“Sẽ không có sự chấm dứt đối với vòng xoáy tồi tệ này. Một phương cách mới và một chính sách tiền tệ mới là cần thiết nhằm thổi một luồng sinh khí mới vào nền kinh tế, thay cho các hành động mang tính đối phó và các luật lệ không phù hợp.”
Đồng nội tệ được kiểm soát trong một biên độ hối đoái, đã và đang chịu nhiều áp lực bị phá giá trong gần 2 năm qua khi nền kinh tế phát triển quá nóng và rồi sau đó giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Các chính sách trong quá khứ nhằm chận đứng sự tuột dốc giá trị của đồng bạc VN gần như không có hiệu quả. “
Hải ngọai hãy cứng rắn dồn sức CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Mafia CSVN
Đã bao chục năm trường, mỗi năm Hải ngọai chúng ta đã chuyển về Việt Nam cho Gia đình trung bình USD.4-6 tỉ. CSVN không biết ơn mà vẫn luôn luôn coi chúng ta là thù địch, vẫn tàn nhẫn bóc lột đàn áp Dân chúng hay những người trong Gia đình của chúng ta. Đây là dịp mà chúng ta phải dặn bảo nhau, mở Phong trào Hải ngọai CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với đám nhóm đảng Mafia CSVN tàn bạo, cướp bóc.
Lạm phát bắt đầu tăng. Với lạm phát tăng và đồng bạc phá giá, Dân chúng sẽ đứng lên !
HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:
=> Tạm ngưng du lịch Việt Nam
=> Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết
=> Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 25.02.2010
| | | |
TỪ LẠM PHÁT, TIỀN MẤT GIÁ ĐẾN DÂN NGHÈO NỔI DẬY
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 04.03.2009
Tuần trước, chúng tôi viết bài về phá giá đồng bạc Việt Nam theo tỷ giá đối với Đo-la liên quan đến tình trạng thiếu ngọai tệ của Nhà Nước CSVN. Việc tuyên bố phá giá nội tệ ngày 11.02.2010 do Ngân Hàng Nhà Nước quyết định và có thể liên tiếp những quyết định phá giá nữa là do chính những nhà Kinh tế, Tài chánh trong nước phân tích chứ không phải chúng tôi từ Hải ngọai nhận định để CSVN chống chữa với Dân rằng đó là do tuyên truyền chống Cơ Chế hiện hành bởi “thế lực thù địch” ngọai lai. Chúng tôi dựa trên tình trạng mỗi ngày nhóm Mafia CSVN càng thiếu hụt ngọai tệ để nội tệ mỗi ngày mỗi mất giá trị, nghĩa là phá giá liên tiếp.
Phá giá đồng nội tệ đi song hành với tình trạng LẠM PHÁT tăng nhanh ở Việt Nam. Viết về tình trạng tăng nhanh lạm phát, chúng tôi cũng trích dẫn chính những phân tích và nhận định của những nhà Kinh doanh, những Ngân Hàng gia, những Giáo sư Kinh tế/Tài chánh từ Quốc nội để đám Mafia CSVN không chống chế, lừa gạt được Dân chúng bằng cách cố hữu nói trên báo đài độc chiều rằng đó là do “thế lực thù địch” hải ngọai vu khống.
Tình trạng lốc xóay phá giá nội tệ và lốc xóay lạm phát, vật giá nhẩy vọt sẽ làm cho đại đa số dân nghèo, cho những nông dân, ngư dân, công nhân và công chức có thu nhập không thay đổi trở thành thiếu thốn chi tiêu, thậm chí đói ăn. Chịu đựng không nổi cảnh đã nghèo khổ lại phải đói ăn thêm vì lốc xóay phá giá nội tệ và lạm phát, vật giá tăng vọt, đại đa số Dân chúng sẽ nổi dậy chấm dứt đám Mafia CSVN cướp bóc dân và bán nước.
Chúng tôi viết những điểm sau đây:
=> Nhận định từ Quốc nội về tình trạng Lạm phát
=> Phân tích những lý do chính của Lạm phát
=> Không chịu nổi hậu quả Lạm phát, Dân chúng nghèo đói nổi dậy
Nhận định từ Quốc nội về tình trạng Lạm phát
Một số Phóng viên, Ký giả đã phỏng vấn những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế/Tài chánh tại quốc nội về tình trạng Lạm phát hiện này.
Bài đăng trên Vietnamnet do Phước Hà thực hiện Cập nhật lúc 18:37, Thứ Năm, 28/02/2008 (GMT+7)
Chỉ số tăng giá tiêu dùng hai tháng đầu năm lên đến 6,02%, đã đi được 2/3 so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra, trong khi vẫn còn 10 tháng ở phía trước. Các chuyên gia kinh tế tỏ ra không có nhiều bất ngờ và cho rằng cần có các giải pháp đồng bộ hơn để chặn đứng lạm phát.
=> Ông Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam:
Tốc độ tăng giá 2 tháng đầu năm lên tới 6,02% là quá cao. Đặc biệt, có những nguyên nhân chủ quan, trong đó có một nguyên nhân chính là ngân hàng đã bỏ lượng tiền lớn ra mua USD chưa thu về hết được, đầu tư nhưng hiệu quả còn thấp, ngân sách bội chi tăng lên.
=> Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính:
Con số 6,02% tăng cao quá. Nhìn cả một quá trình, đây là tăng cao nhất trong hơn 10 năm lại đây. Đây là một cảnh báo đối với nền kinh tế. Những tháng tới, nếu có tăng 0,5% thôi như dự báo tháng 3 của Tổ điều hành thị trường, thì cả năm cũng không thể thực hiện nghị quyết Quốc hội đề ra.
Biện pháp tiền tệ đã được thực hiện. Giá cả đang lao nhanh như thế thì những biện pháp ra chỉ có tính ngăn chặn thôi. Trong kiềm chế lạm phát, giải pháp tài chính tiền tệ có ý nghĩa quan trọng, trong đó giải pháp tiền tệ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Lạm pháp do tiền tệ !
Các ngân hàng thương mại hiện dư nợ quá lớn nên buộc phải huy động vốn, đua nhau tăng lãi suất để hút vốn về khiến cho thị trường những ngày gần đây hỗn loạn. Khi tăng lãi suất huy động lên thì cũng có tác dụng phụ là cho vay cao dẫn đến ảnh hưởng tăng trưởng. Lãi suất cao thì chi phí cao, giá thành cao thì cũng tác động đến lạm pháp.
Các ngân hàng đưa lãi suất lên cao, trong khi hoạt động của ngân hàng nước ta nguồn thu chủ yếu từ chênh lệch vay và cho vay chiếm đến 70% làm cho chi phí các ngân hàng tăng lên, năng lực tài chính yếu đi năng lực cạnh tranh giảm. Ngân hàng Nhà nước Phát hành tín phiếu với 20.300 tỷ đồng với lãi suất 7,8%, mỗi tháng lo trả 100 tỷ đồng lãi và đồng thời tăng dự trữ bắt buộc cũng phải trả thêm 100 tỷ nữa. Giải pháp tiền tệ như con dao hai lưỡi.
Chính sách tài chính phải xem lại để làm sao chi đầu tư phải hiệu quả, chi thường xuyên phải tiết kiệm, cái nào cần phải giảm, cái nào phải bỏ. Đầu tư phải hiệu quả, mua sắm tài sản công phải tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí... Chi tiêu công phải siết chặt lại, chống lãng phí, tiết kiệm tiêu dùng, tiết kiệm sản xuất - hạ giá thành sản phẩm, đầu tư hiệu quả.
=> Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam
Việc chống lạm phát năm 2008 này phải được đặt lên ưu tiên hàng đầu, hơn cả mục tiêu tăng trưởng. Vì suốt bốn năm liền lạm phát cao, cộng lại đã lên tới 40%. Điều này đồng nghĩa với việc đồng tiền mất giá, đội giá thành sản phẩm lên cao, tăng thêm dự án treo, còn đời sống người dân bị ảnh hưởng nặng.
Như vậy, về phương diện đối nội, phân phối nguồn lực đã bị lệch và tác động đến đời sống.
Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình. Nếu môi trường VN vẫn bất ổn, lòng tin của nhà đầu tư sẽ giảm đi, ảnh hưởng đến cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư bỏ đi cũng sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn.
Lạm phát ảnh hưởng cũng sẽ làm cho sức cạnh tranh trong nước giảm đáng kể.
NHNN cũng đã vừa sử dụng kết hợp cả hai loại biện pháp dài hạn và tức thì. Biện pháp hành chính như bán 20.300 tín phiếu.
Ngay sau đó NHNN lại bơm ra 39.000 tỷ đồng. Điều này khiến sự vận động của dòng tiền thành bất thường, gây hiệu ứng tiêu cực.
Bài trên RFA do Mặc Lâm thực hiện 2010-03-01
Ngân Hàng Phát Triển Châu Á vừa đưa ra thông báo tỏ ý lo ngại cho việc lạm phát tiếp theo sau suy thoái kinh tế của nhiều nước khu vực Đông Nam Á.
Việt Nam là một trong các nước được đánh giá là sẽ có tình trạng lạm phát có thể lên tới hai con số trong năm nay.
=> GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, chia sẻ them về vấn đề này:
Ngân Hàng Nhà Nước quyết định tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng USD và tiền đồng VN tăng thêm 603 đồng tương đương với 3,3%. Tôi cho rằng việc này cũng coi như một sự phá giá của đồng VN, tức là cái tình trạng nhập siêu của Việt Nam ngày nay lại càng gia tăng. Mà hiện nay, nếu theo tỷ giá này thì nó càng gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu, điều đó là điều hiển nhiên rồi.
Tôi cho rằng điều này cũng không thể nào khác được bởi vì trong tình trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay, tất cả các mặt hàng nhập ngoại đều khan hiếm cả, quỹ ngoại tệ trong nước thì cũng không có nhiều, thế thì bây giờ đành phải theo chiều hướng như đã biết.
Theo tôi thì con đường mà hiện nay Việt Nam có thể làm được là vẫn tăng tỷ giá lên để có thể găm được một ít ngoại tệ ở trong nước, và có thể có một điều kiện là làm thế nào đó cho tình trạng ngoại tệ bớt đi ra nước ngoài hơn để tăng ngoại tệ.
Chứ bây giờ mà trả nợ cho nước ngoài thì như anh biết đấy, tức là cái thực lực về tiền tệ của dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện nay cũng không phải là nhiều mà còn dùng cho nhiều mục tiêu, do đó mà việc tăng vốn ngoại tệ trong nước để mà trả nợ nước ngoài thì rất hạn chế.
Theo các chuyên gia kinh tế nhận định thì rất nhiều công trình có đầu tư lớn của nhà nước đang còn dở dang và những công trình này không thể ngừng lại được. Để giải quyết chúng nhà nước phải chấp nhận bỏ thêm một số tiền rất lớn trong ngân sách. Tôi nghĩ là bây giờ tình trạng lạm phát thì ai cũng đã nhìn thấy rõ mà cái này thì các nhà khoa học và kinh tế cũng đã cảnh báo cho chính phủ, không phải là từ bây giờ mà từ năm ngoái rồi. Đương nhiên là về tình trạng của nền kinh tế thì những khoản chi bất đắc dĩ thì nhà nước vẫn phải chi thôi.
Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ. Cái thứ hai nữa là có thể trong thời gian tới nhà nước cũng có thể phải phát hành thêm trái phiếu, có thể là công trái trong đợt tới để giảm bớt số tiền trong lưu thông. Tôi nghĩ là hai nguồn đó ở trong nước thì trong tầm tay, thế còn bây giờ như anh biết đấy, tức là các nguồn ODA hoặc FDI vào thì nhiều khi nó được sử dụng không hiệu quả lắm, mà chủ yếu là dành cho các khoản chi công nghiệp chế biến.
Còn các công nghiệp khác ở trong nước thì ODA và FDI rất là ít cho nên chúng tôi cũng chưa biết là chính phủ sẽ làm như thế nào, nhưng mà chúng tôi cũng có khuyến cáo là chính phủ nên xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi của chính phủ, không dàn trải, phải nâng cao hiệu quả. Đồng thời phải suy nghĩ đến việc phát hành công trái phiếu trong đợt tới.
Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ.
Mới đây Ngân Hàng Phát Triển Châu Á vừa đưa ra nhận định là trong năm nay Việt Nam sẽ phải đối phó với lạm phát lên đến hai con số. Tôi nghĩ là lạm phát hiện nay nó đúng trong thực tại mà chưa thống kê hết thôi, chứ còn nếu thống kê hết thì nó có thể đến 2 con số trong hiện nay rồi, bởi vì bắt đầu từ đầu tháng 3 giá điện tăng. Trước đó thì chúng ta thấy giá dầu tăng liên tục, từ đầu năm tới giờ mới được 2 tháng mà tăng 2 lần. Thế thì tình trạng lạm phát lên đến 2 con số thì tôi cho là hiện thực và nó cũng đúng tầm, đúng với điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay.
Phân tích những lý do chính của Lạm phát
Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, phát biểu một câu làm chúng tôi lưu ý đặc biệt: “Suốt bốn năm liền lạm phát cao, cộng lại đã lên tới 40%. Điều này đồng nghĩa với việc đồng tiền mất giá. Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình.“
Từ câu nói, chúng tôi rút ra ba điểm sau đây:
* Lạm phát có nghĩa là đồng tiền mất giá;
* Trong 4 năm, đồng tiền VN mất giá 40%;
* Việt Nam khác với những nước trong khu vực về Cơ Chế Chính trị-Kinh tế
Phân tích của chúng tôi dựa trên ba điểm trên đây với trích dẫn từ những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế/Tài chánh của chính Cơ Chế CSVN.
Lạm phát có nghĩa là đồng tiền mất giá
Tuần trước, chúng tôi đã viết một bài dài có tính cách giáo khoa “TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ”. Trong bài này, chúng tôi đã định nghĩa rằng đồng Tiền chỉ là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises).
Trong Chế độ BẢN VỊ KHẢ NĂNG MUA HÀNG (Régime du Pouvoir d’Achat), cái GIÁ TRỊ của một đơn vị Tiền bạc mà một người đang cầm là TƯƠNG ĐƯƠNG HÀNG HÓA HAY DỊCH VỤ mà người đó nhận được khi chuyển đồng tiền sang tay người khác. Nếu 100 Đồng VN năm 2008 mua được hai hột vịt lộn, nhưng năm 2009 chỉ được 1 hột vịt lộn, thì ta nói rằng Vật giá hay Lạm phát tăng 50%, có nghĩa Đồng Tiền VN mất giá 50%.
Lý thuyết đơn giản về chuyển biến tương quan giữa đồng tiền và tương đương hàng hàng hóa được tóm tắt trong Công thức của FISHER:
M.V ------ = P T
M : Khối lượng tiền cho vào Kinh tế; V: Tốc độ chạy nhanh chậm của đồng tiền; T: Tổng cộng Hàng hóa và Dịch vụ trong một hạn kỳ nhất định; P: Khả năng chuyên chở của đồng tiền tương đương Hàng hóa, Dịch vụ.
Công thức ấy tóm tắt cho chúng ta hai lý do chính của việc mất giá của đồng tiền hay thay đổi tương đương Hàng hóa, Dịch vụ mà người ta gọi là Lạm phát hay Vật giá tăng.
Lý do thứ nhất đến từ Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng hay giảm. Lý do do này thuộc lãnh vực Tiền bạc.
Lý do thứ hai đến từ việc sản xuất Kinh tế thực (T) giảm hay tăng, có hiệu lực hay không.
Khi Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng mà sản xuất Kinh tế thực (T) đứng yên, thì có Lạm phát. Lạm phát còn mạnh hơn nữa khi nền sản xuất Kinh tế còn giảm xuống. Khi Khối Tiền lưu hành (M.V) đứng yên, mà nền sản xuất Kinh tế thực (T) giảm, chúng ta cũng có lạm phát.
Chính sự tương đương Hàng hóa, Dịch vụ này mà các Lý thuyết gia về Tiền tệ nói đến tính cách Hội nhập Tiền tệ vào Lãnh vực Kinh tế thực. Với quan điểm Hội nhập Tiền tệ này mà người ta phân biệt Đồng Tiền thực và Đồng Tiền giả. Đồng Tiền mới được Ngân Hàng Trung Ương in ra chỉ là một tờ giấy không hơn không kém, chưa có Giá trị. Đồng Tiền đã Hội nhập, nghĩa là qua chu trình sản xuất Kinh tế thực, mới có Giá trị. Không phải Đồng Tiền mới in ra, thả vào xã hội mà không qua chu trình sản xuất Kinh tế thực, tự nhiên có Giá trị như Đồng Tiền thực đã được Hội nhập mà người Dân đang giữ trong tay. Việc in Tiền mới thả bừa vào Xã hội để đánh lận con đen giữa hai Đồng Tiền thực (đã Hội nhập) và Đồng Tiền giả (mới in ra chưa Hội nhập) là hành động ăn cướp của quyền lực Chính trị và quyền lực Tiền bạc đối với Dân.
Vào những thập niên 1980, việc đánh lận con đen này đã làm Lạm phát tới hàng 1000% tại một số nước Phi châu và Nam Mỹ. Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết về những trường hợp gian lận này:
“L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy).
Với hai lý do chính có tính các giáo khoa thuộc lãnh vực Tiền Tệ và lãnh vực sản xuất Kinh tế thực, chúng tôi phân tích cho trường hợp Lạm phát tại Việt Nam cùng với những xác nhận trong phần trên từ những Giáo sư, Cố vấn Khinh tế/Tài chánh thuộc Cơ Chế CSVN.
Trong 4 năm, đồng tiền VN mất giá 40%
Theo Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, trong 4 năm, đồng Tiền VN mất giá 40%. Điều này có nghĩa là việc mất giá của đồng tiền VN không phải là có tính cách nhất thời, giai đọan với những lý do bất thường mà Nhà Nước CSVN thường nêu ra để cắt nghĩa cho dân chúng để chữa lỗi. Lý do mất giá đồng Tiền Việt Nam mang tính cách thường xuyên và trường kỳ.
Dưới chủ trương Kinh tế tập quyền chỉ huy, chúng tôi không nói đến làm gì vì nền Kinh tế này thất bại hòan tòan. Nhưng hãy kể từ 10 năm nay, từ thời đổi mới, mở cửa và tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, thì đồng Tiền VN có thể nói là mất giá 100%, nghĩa là lạm phát, vật giá tăng 100%.
=> Lãnh vực Vốn, Tiền tệ (M.V)
Những Công ty, Tổng Công ty Nhà Nước làm việc với vốn, Tiền của quốc gia. Vốn, Tiền của quốc gia được thả lỏng cho những Công ty Nhà Nước. Những dự án thi nhau trình lên Nhà Nước để lấy vốn. Có ba lọai dự án chính:
* Những dự án thuộc ngành nghiệp chuyên môn
* Những dự án thuộc hệ thống Bộ
* Những dự án thuộc vùng, mỗi Tỉnh
Thời kỳ đầu của đổi mới, mở cửa, những dự án của những Công ty quốc doanh được coi như việc thưởng công chiến tranh. Dần dần sau này, những dự án dễ dàng được cấp vốn thường là do những con ông cháu cha có quyền trong đảng.
Việc cấp vốn là theo tiêu chuẩn liên hệ quyền hành trong đảng, chứ không tất nhiên theo tieo tiêu chuẩn cần thiết và hiệu quả Kinh tế. Ví tính cách liên hệ quyền lực trong đảng, nên việc kiểm sóat xử dụng vốn cũng không thể xiết chặt giữa các quyền lực trong đảng được bởi lẽ cùng ăn bẩn như nhau thì bỏ qua những bẩn thỉu của nhau. Những chủ dự án nếu làm ăn không thành công hay thua lỗ, thì đã có vốn nhà nước cấp phát thêm.
Đối với mỗi dự án từ vốn nhà nước, trước hết chủ dự án phải nghĩ đến cắt xén cho túi riêng mình. Sau đó việc chi tiêu trong Công ty hay Tổng Công ty cũng không được người Trách nhiệm kiểm sóat chặt chẽ bởi lẽ nếu người Trách nhiệm khắt khe kiểm sóat, thì những người dưới kiểm sóat ngược lại khắt khe với mình. Đây là cả hệ thống lãng phí vốn quốc gia.
@ Chúng tôi xin trích bài viết của Bloger Người Buôn Gió :
“Phát triển kinh tế hay tư duy nhiệm kỳ? Người Buôn Gió
Mấy chữ “tư duy nhiệm kỳ” nghe mà phát ghét. Ở đó bao hàm tất cả những cái gì là hủ bại nhất trong tính cách dân tộc, nhất là cái tính cách ăn xổi ở thì. Ăn xổi ở thì thì làm bất kỳ việc nào cũng cốt qua loa cho xong đi, để mà còn nặng túi trở về với gia đình, chăm sóc cái tổ ấm vốn đã lo đâu vào đấy trong khi đang tại chức. Cho nên mọi việc anh làm, tiếng là vì dân, nhân danh thật to tát, cuối cùng chỉ là đổ vỏ ra đấy để cho kẻ đến sau đi hót. Và chu trình cứ thế lặp đi lặp lại, trở thành một đại họa cho dân. Một thành phố Hà Nội mà càng cải tạo lại càng nhếch nhác chẳng phải vì thế thì còn gì. Nghe đâu ngài đương kim trọng thần của nhiệm kỳ này đang cố tranh thủ một mảnh đất nào đấy ở Hồ Mây, cái đích ngài cố ngắm cho trúng, chứ đâu phải là nghĩ suy về những quy hoạch tổng thể cho Hà Nội ngàn năm “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như cụ Hồ nói. Trách gì mới vài năm trước khi nước mưa biến cả thành phố thành sông thì có vị quan to đã có ngay một câu thật nổi tiếng: Dân Hà Nội bây giờ quen dựa dẫm vào Nhà nước mất rồi. Thì chính là vì dựa dẫm vào Nhà nước mà dân chúng Thủ đô chúng tôi cứ tưởng rồi sẽ có đường phố khang trang, đi lại thông thoáng hơn, nào hay bây giờ ra đường đã thấy ngay những con đường do Nhà nước cải tạo đã đang tắc ứ. Còn các khu Hà Nội mới mở từ khi Thủ đô ta giải phóng đến nay nhất là từ khi có đồng vốn vay nước ngoài để làm kinh tế thị trường, thì nhiều nơi lại còn ngõ ngách chật hẹp, chen chúc, lúc nhúc còn hơn cả Hà Nội 36 phố phường thuở xưa. Những nơi ấy xe cộ tha hồ mà tắc.”
Những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế cho Cơ Chế CSVN, không ai không nhắc đến lý do thiếu kiểm sóat chặt chẽ Tiền, Vốn của Nhà Nước.
@ Ông Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam nói đến “đầu tư nhưng hiệu quả còn thấp, ngân sách bội chi tăng lên.”
@ Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính, nhấn mạnh “Chính sách tài chính phải xem lại để làm sao chi đầu tư phải hiệu quả, chi thường xuyên phải tiết kiệm, cái nào cần phải giảm, cái nào phải bỏ. Đầu tư phải hiệu quả, mua sắm tài sản công phải tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí... Chi tiêu công phải siết chặt lại, chống lãng phí, tiết kiệm tiêu dùng, tiết kiệm sản xuất - hạ giá thành sản phẩm, đầu tư hiệu quả.”
@ GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, nói thẳng đến các Dự án và chi tiêu của Chính phủ: ”Theo các chuyên gia kinh tế nhận định thì rất nhiều công trình có đầu tư lớn của nhà nước đang còn dở dang và những công trình này không thể ngừng lại được. Để giải quyết chúng nhà nước phải chấp nhận bỏ thêm một số tiền rất lớn trong ngân sách. Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ. Còn các công nghiệp khác ở trong nước thì ODA và FDI rất là ít cho nên chúng tôi cũng chưa biết là chính phủ sẽ làm như thế nào, nhưng mà chúng tôi cũng có khuyến cáo là chính phủ nên xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi của chính phủ, không dàn trải, phải nâng cao hiệu quả.
Khi lượng Tiền, Vốn bỏ ra, thả lỏng cho những Dự án chuyên môn, cho những Dự án Bộ hay những Dự án Địa phương (Tỉnh), mà hiệu quả Kinh tế không đạt được, thì đồng Tiền không Hội nhập đầy đủ, nghĩa là không có tương đương Hàng hóa hay Dịch vụ bảo đảm Giá trị của đồng Tiền. Đồng Tiền mất giá, lạm phát đã nhiều năm trường là do sự thả lỏng này. Nhà Nước lấy Tiền, Vốn đâu mà thả lỏng ra như vậy ? Tại sao không có thể nghĩ rằng trong suốt những năm trường, Nhà Nước độc tài đã ra lệnh cho Ngân Hàng Nhà Nước in tiền mới (chưa Hội nhập Kinh tế), thả vào nền Kinh tế để đánh lận với đồng Tiền thực (đã Hội nhập Kinh tế) mà dân chúng đang giữ.
=> Lãnh vực Thực hiện hiệu quả Kinh tế (T)
Người làm Kinh tế có câu nói: “Làm ra Tiền đã khó, mà tiêu Tiền còn khó hơn”. Thực vậy, tiêu Tiền không phải là vất Tiền ra cửa sổ. Tiêu Tiền theo ý nghĩa Kinh tế là phải làm thế nào để một đồng chi ra, phải thu vào tối thiểu hơn một đồng, nghĩa là nếu không có lợi nhuận, thì thà đừng tiêu. Việt Nam cũng có câu: ”Tiêu Tiền Chùa”, nghĩa là tiêu Tiền của chung thì dễ dàng phung phí, không cần nghĩ đến hiêu quả. Phải nghĩ đến hiệu quả trước khi quyết định chi tiêu.
Những Công ty, Tổng Công ty quốc doanh không làm ăn cho có hiệu quả tương xứng vì những lý do sau đây:
* Đây là Công ty Nhà Nước, lợi nhuận làm ra do cố gắng làm việc hữu hiệu, cũng thuộc về Nha Nước. Vì vậy không cần cố gắng nhiều.
* Người đứng trách nhiệm Công ty nghĩ đến cắt xén thưởng công cho mình trước khi làm Kinh tế thực sự để sinh lợi nhuận.
* Những sản phẩm công nghệ ngày nay là sự chắp nối những linh kiện rời trong hệ thống sản xuất từng phần (sous-traitance). Những Công ty Nhà Nước khó lòng phân công với nhau để sản xuất từng phần trong mục đích giảm giá thành sản phẩm cuối cùng. Những Công ty công nghệ Nhà nước chọn những dễ dãi là nhập siêu những thành phần từ nước ngòai để đem về ráp nối chặng chót. Vì vậy sản phẩm chặng chót có giá thành cao lên vì nhập siêu những linh kiện.
* Mỗi lần nhập siêu linh kiện là mỗi lần những chủ Công ty nhà nước lại có dịp thông đồng kín đáo với người bán từ nước ngòai để tăng giá mua, cắt xén cho vào túi riêng của mình.
* Cuối cùng, nếu Công ty không làm việc cho có hiệu lực, thua lỗ, thì đã có Tiền, Vốn quốc gia bù thêm vào.
Theo Công thức tóm tắt của FISHER mà chúng tôi đưa ra trên đây, thì khi nền Kinh tế không có hiệu quả, số sản phảm (T) giảm, thì Khối Tiền lưu hành (M.V) không có Hàng hóa và Dịch vụ tương xứng. Đồng Tiền mất giá, lạm phát, đồng tiền mua được ít hàng, nghĩa là vật giá tăng.
@ Bloger Người Buôn Gió viết rất đúng về thái độ làm việc của những người trách nhiệm các Công ty Nhà Nước:” Các kế hoạch xây dựng càng xây càng hỏng, nào hầm Thủ Thiêm, đường hầm Kim Liên…; có nhà máy như Dung Quất tưởng đã vận hành từ lâu thì nay lại phát hiện thêm 100 lỗi trong khi thi công nên phải tạm ngưng, không biết sẽ còn ngưng đến bao giờ. Các đại tập đoàn đứng sau Nhà nước, tưởng lập ra là cốt tăng thêm GDP, giúp cho an sinh được cải thiện, dân đỡ khổ hơn, nào hay anh nào cũng dài mồm than lỗ, mới ra Tết mọi thứ sản phẩm của họ đã tăng giá vùn vụt, nghĩa là họ chỉ góp phần vào bĩ cực mà chẳng thấy có thái lai.”
@ Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính, nhấn mạnh như một hiệu lệnh: “Đầu tư phải hiệu quả”.
@ GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, cũng nhất thiết khuyến cáo: “Phải nâng cao hiệu quả”.
Việt Nam khác với những nước trong khu vực về Cơ Chế Chính trị—Kinh tế
Xin nhắc lại lời của Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nói: “Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình.“. Có lẽ Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, không dám nói ra một điều làm Việt Nam khác với các nước trong khu vực vì ngại sợ rằng Công an CSVN lại mời ông lên làm việc, rồi truy tố ông ra tòa theo Điều 88 Bộ Hình Luật. Riêng tôi, tôi đã nói từ lâu rằng cái Cơ Chế CSVN làm Kinh tế, gọi là nền Kinh tế Tự do và Thị trường định hướng XHCN, khác hẳn với việc làm Kinh tế Tự do và Thị trường ở những nước trong khu vực. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường của những nước trong khu vực tôn trọng Môi trường Chính trị—Luật pháp dân chủ phù hợp (Environnement Politico-Juridique démocratique adéquat), trong khi ấy Việt Nam cố thủ chủ trương Chính trị độc tài nắm trọn độc quyền Kinh tế. Cái khác là ở chỗ đó và chính cái khác này làm cho Lạm phát và đồng Tiền mất giá cao hơn nhiều sánh với những nước trong khu vực.
Kinh tế Việt Nam là Kinh tế nhóm đảng Mafia CSVN độc tài cướp bóc của cải dân chúng và quốc gia cho riêng mình, chứ không phải nền Kinh tế do Dân và cho Dân. Vì nắm giữ cả hai quyền, nên Tiền, Vốn nhà nước bỏ lỏng ra để Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng theo ý đảng và họat động Kinh tế không cần hiệu quả để không đủ sản phẩm tương xứng (T) bảo đảm cho giá trị đồng Tiền. Lạm phát, Phá giá đồng Tiền là như vậy.
Không chịu nổi hậu quả Lạm phát, Dân chúng nghèo đói nổi dậy
Khi viết về cuộc Khủng hỏang Tài chánh Á-châu năm 1997 làm đồng tiền một số lớn những nước Á châu mất giá, Bà Francoise NICOLAS đã đưa ra tỉ dụ tình trạng lạm phát đã làm dân chúng đói nghèo nổi dậy đạp đổ chế độ độc tài SUHARTO sau 32 năm cai trị.
Thực vậy khi vật giá tăng vọt, đồng tiền mà họ tiết kiệm mất giá, những người lãnh lương như công nhân, công chức thì không được tăng lương là bao nhiêu, đa số rơi vào cảnh nghèo đói. Những người giữ quyền hành Chính trị, đặc quyền làm ăn bóc lột thì giầu có, vẫn tiêu pha, nhập siêu. Việc nổi dậy của đại đa số dân chúng nghèo đói không đến từ một thế lực ngọai lai nào khuyến dụ mà từ BỤNG ĐÓI của Dạ Dầy. Sức mạnh nổi dậy trước khi bị chết đói làm họ không sợ chết nữa. Nếu họ biết rằng việc mất giá Tiền tiết kiệm và Tiền lương của họ là do sự gian lận in tiền mới ra để lừa đảo đánh lận con đen với Tiền thực của họ, thì cuộc nổi dậy còn tăng thêm thù hận đến giết lát nữa.
Chúng tôi xin trích một đọan của bài viết của Oâng VŨ QUANG VIỆT đăng trên báo Lao Động (số 197, ngày 25.8, và số 198, ngày 27.8.2007) :“Tôi rất đồng ý với các nhà kinh tế đã nhận định là ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào lạm phát có nguyên nhân in tiền nhiều quá. Tại sao lại in tiền nhiều ? Vì nhà nước chi nhiều hơn số thuế thu được. Vấn đề là nhà nước bắt ông Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu. Điều này có nghĩa là bắt NHNN in tiền. Tiền nhiều hơn hàng làm ra thì tất phải lạm phát. Thời chống lạm phát cuối những năm 1980, hầu hết mọi người trong chính phủ đều cho rằng phải tăng năng suất, phải tăng cung để giảm lạm phát. Tôi đã đặt cho các bạn ấy một câu hỏi. Thế khả năng tăng sản xuất thật một năm là bao nhiêu ? Cao nhất như Trung Quốc thì cũng chỉ 10-15% là cùng, nhưng các ông lại đang tăng tiền tới cả vài trăm phần trăm một năm. Các ông có tăng sản xuất nổi vài trăm phần trăm một năm không ?“
Để kết, chúng tôi xin lấy lời nhận định của Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám Đốc FAO, tuyên bố với báo Financial Times: ”Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.” (Nếu giá cả tiếp tục tăng, thì tôi không ngạc nhiên về việc người ta chứng kiến những nổi dậy vì đói khổ) (LE MONDE, No.19523, Thứ Tư 31.10.2007)
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 04.02.2010 | | | |
TRUNG QUỐC XUỐNG NƯỚC VÌ LO SỢ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 11.03.2010
Đầu tuần này, 08.03.2010, giới Tài chánh có những ngạc nhiên và nghi ngờ về thái độ của Trung quốc trước áp lực Tiền tệ và Thương mại Quốc tế, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu. Đài RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn chúng tôi ngay chiều 08.03.2010 về thái độ này của Trung quốc. Thực vậy, trong cuộc Họp báo thứ Bẩy 06.03.2010, những lời tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, về khả năng tăng tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ (Yuan)/Đo-la không đi theo những tuyên bố cứng nhắc của Thủ tướng Oân Gia Bảo trước đó rằng Trung quốc không nhượng bộ đối với bất cứ áp lực nào từ nước ngòai về tỷ giá Yuan/Đo-la. Trong khi ấy, cũng trong cuộc Họp báo ngày hôm sau, Chúa nhật 07.03.210, Dương Khiết Trì, Ngọai trưởng Trung quốc, nhắc ra những căng thẳng hiện nay giữa Hoa kỳ và Trung quốc với những vụ như : (i) Hoa kỳ bán vũ khí cho Đài Loan mà Trung cộng vẫn coi là một Tỉnh của mình, (ii) Hoa kỳ gặp Đức Đạt Lai Lạ Ma mà Trung quốc luôn luôn coi là người khuấy động mọi nơi nhằm tách Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ Trung quốc, (iii) Trung quốc chủ trương không trừng phạt về nguyên tử đối với Iran, một nước cung cấp dầu lửa, đứng hàng thứ ba, cho Trung quốc.
Đài RFI hỏi tôi câu cuối cùng là nếu Trung quốc chỉ hứa lần hồi, có thể để đánh lừa, thì liệu có thể xẩy ra một cuộc Chiến tranh Thương mại hay không ? Hỏi bất ngờ như vậy, tôi không dám khẳng định liền.
Hôm nay, trước khi viết bài này, tôi đọc thêm một số bài mà chính tôi đã viết trước đây về thái độ sợ sệt của Trung quốc đối với việc Che Chở Mậu dịch ngay trong những lần họp Davos, trong những dịp nhóm lại G20 và nhất là kiểm điểm lại 66 biện pháp Che Chở Mậu dịch mà các nước đã đưa ra, rồi nhớ rõ lại lời báo động gần đây nhất của ông LAMY, Tổng Giám đốc WTO, rằng lượng Mậu dịch Thế giới trong năm 2009 giảm 12%, một việc tụt dốc chưa từng có kể từ 20 năm nay.
Đọc lại những phân tích về tình trạng tụt dốc Mậu dịch Thế giới, tôi hiểu rằng nếu Trung quốc vẩn ương ngạnh tính tóan lừa đảo Thế giới, thì một cuộc Chiến tranh Thương mại rất có thể xẩy ra mà Trung quốc sẽ là nạn nhân. Có thể viễn tượng Chiến tranh Thương mại này đã làm cho Trung quốc phải tuyên bố như cuối tuần vừa rồi.
Chúng tôi đề cập những khía cạnh sau đây:
=> Những gian giảo Thương mại của TQ làm Thế giới bực mình và có biện pháp
=> Hoa kỳ bầy tỏ công khai thái độ cứng rắn
=> Phân tích thái độ xuống nước của Trung quốc
=> Trung cộng là nạn nhân của Chiến tranh Thương mại
Những gian giảo Thương mại của TQ làm Thế giới bực mình và có biện pháp
Việc gian giảo trong phẩm chất hàng hóa đã làm thương hiệu MADE IN CHINA giảm xuống khiến Trung quốc phải dùng Tài chánh trợ lực để bán hàng hóa tại những nước nghèo. Những hàng độc hại sẽ mang ảnh hưởng xấu cho sức khỏe dân nghèo trong dài hạn.
Trong nội địa Trung quốc
Nhà Nước Trung quốc đã áp dụng việc khai thác nhân công từ nông thôn một cách phi nhân bản. Những nhân công du mục này bị bóc lột. Chế độ hộ khẩu đã tước đọat quyền cư ngụ của những nhân công du mục không được trở thành những người thuộc thành thị để có thể được hưởng những quyền lợi khi đến các thành thị làm việc. Kinh tế Trung quốc tập trung vào những thành thị ven biển. Những nông dân từ nội địa ra thành thị làm công nhân và bị bóc lột sức lao động, không có những quyền lợi được hưởng của người cư ngụ tại thành thị. Những hiệu quả Kinh tế/Thương mại dành cho nhóm đảng Mafia Cộng sản và những dân thành thị được ưu đãi.
Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, viết về hiệu quả Kinh tế/Thương mại Trung quốc như sau: “It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay).
Những người tiêu thụ tại những nước giầu bắt đầu ngượng ngùng và khó chịu khi tiêu thụ hững hàng này từ sự bóc lột vô nhân bản.
Tại những nước trong vùng Á châu
Ngòai việc bóc lột nhân công như trên vừa nói, Trung quốc còn xử dụng tỷ giá hối đoái thấp của đồng Yuan để làm cho hàng hóa rẻ thêm nữa nhằm tăng cường xuất cảng. Những nước nghèo Á châu cũng làm việc cho xuất cảng và sản xuất những hàng hóa tương tự như Trung quốc. Việc tràn lan những hàng hóa rẻ tiền Trung quốc sang các nước nghèo Á châu giết chết sản xuất của những nước nghèo này. Đồng thời tỷ giá thấp đối với đồng Đo-la còn làm tăng thêm cạnh tranh của hàng Trung quốc đối với những nước nghèo chung quanh khi xuất cảng hàng hóa sang Tây phương liên hệ đến thanh khỏan Đo-la. Việc Trung quốc cố thủ giữ tỷ giá hạ đồng Yuan là lý do chính đang gây bực tức tại các nước Á châu khiến những nước chính trong khối ASEAN yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010. Ngòai ra Trung quốc còn xử dụng USD.45 tỉ cho những nước nghèo Á dông để thiết lập những cơ sở phân phối hàng, thậm chí cho hối lộ để đầu cơ. Thái độ nghi ngại của ASEAN là tất nhiên. Những nước Á châu như Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Việt Nam... đã quá am tường tính cách làm ăn của người Trung quốc.
Tại những nước Phi châu
Trung quốc xử dụng USD.42 tỉ cho một số nước Phi châu. Tại vùng này, Aâu châu đã lên tiếng gọi đây là chủ trương Tân thuộc địa của Trung quốc. Những nước Phi châu đã là cựu thuộc địa của Anh, Pháp, Bồ Đào Nha... Lục địa cổ Aâu châu cần nguyên vật liệu từ Phi châu. Cách đây chừng 25 năm, Mỹ đã có nhũng đụng độ với Pháp về quyền lợi dầu lửa tại vùng Vịnh Guinée. Mỹ cũng đành phải nhượng bộ với những cựu Thực dân Pháp lâu đời ở vùng này.
Trung quốc dễ xử dụng khí giới tiền bạc để hối lộ những chính phủ để lấy nhượng địa, tài nguyên cũng như mở những đầu cầu xuất cảng hàng hóa rẻ tiền, độc hại. Tình trạng hối lộ đã bị quốc tế công kích. Thực vậy, chính trong cuộc họp báo Chúa nhật ngày 07.03.2010 tại Bắc kinh, Dương Khiết Trì (Yang Jiechi), Ngọai trưởng Trung quốc, đã phải lên tiếng chống đỡ đối với những công kích quốc tế. Ký giả Geoff DYER từ Bắc kinh viết: “Mr.Yang also rejected criticism that China’s economic ties with Africa were encouraging more corruption and hurting labour conditions. Some people are not happy to see the development of China-Africa relations“. (Oâng Dương chối bỏ lời công kích rằng sự kết nối kinh tế của Trung quốc với Phi châu đã cổ võ tham nhũng và làm thiệt hại những điều kiện lao động. Một số người không hài lòng về việc mở rộng những liên hệ Trung quốc—Phi châu) (Financial Times 08.03.2010, p.2).
Thị trường Liên Aâu và Hoa kỳ
Đây là hai Thị trường tiêu thụ chính yếu. Từ năm 2001, khi Trung quốc nhập WTO, hàng Trung quốc, nhất là hàng may mặc, hàng da dầy, đồ chơi trẻ em, thực phẩm... lan tràn hai Thị trường này.
Trước khi xẩy ra cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, Liên Aâu và Hoa kỳ, vì hy vọng bán máy móc, những thiết bị kỹ nghệ cho Trung quốc, nên có những thả lỏng. Nhưng dần dần, nhất là trong cuộc Khủng hỏang, Liên Aâu và Hoa kỳ bắt đầu thắt chặt việc nhập cảng từ Trung quốc, cụ thể là những hàng hóa sau đây:
=> Kiểm sóat chặt chẽ và từ chối những hàng mang độc hại
=> Liên Aâu tăng thuế nhập đối với hàng may mặc và da dầy
=> Mỹ tăng thuế nhập lốp xe hơi
=> Những nước Đông Aâu và một số nước vùng Địa Trung hải bị canh tranh rất thiệt hại bởi hàng Trung quốc, nhất là hàng tiểu công nghệ.
Hoa kỳ bầy tỏ công khai thái độ cứng rắn
Từ thời TT.BUSH, vấn đề Trung quốc cố thủ xử dụng tỷ giá thấp của đồng Yuan làm lợi khí cạnh tranh thương mại đã được Hoa kỳ yêu cầu Trung quốc hủy bỏ.
Nếu trong chuyến viếng thăm Trung quốc của TT.OBAMA, thái độ của Hoa kỳ chỉ dừng ở lới khuyên nhẹ nhàng, thì trong những thời gian gần đây, Chính quyền Obama đã công khai bầy tỏ thái độ cứng rắn.
Các Ký giả Andrew BATSON, Terence POON, Shai OSTER, đã viết: “Mr.Obama told Democratic Senators earlier this year that he will “get much tougher” with China on trade issues, including the currency. The US Treasury in April called China a “currency manipulator” (Oâng Obama đã nói với những Thượng nghị sĩ Dân chủ, dịp đầu năm nay, rằng ông sẽ “cứng rắn thực sự” đối với Trung quốc về những vấn đề thương mại, gồm cả vấn đề tiền tệ. Bộ trưởng Ngân khố, tháng tư vừa rồi, đã gọi Trung quốc là người “mưu mẹo xử dụng tiền tệ”. (The Wall Street Journal 08.03.2010, p.10).
Thái độ cứng rắn này còn được tỏ lộ trong những quyết định sau đây:
=> Quyết định bán khí giới trị giá USD.6 tỉ cho Đài Loan mà Trung quốc coi là việc vi phạm chủ quyền của mình. Trung quốc vẫn coi Đài Loan là một Tỉnh thuộc chủ quyền Trung quốc.
=> TT.Obama quyết định gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma mà Trung quốc coi là người phản lọan muốn tách rời Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ Trung quốc. Hoa kỳ đã tiếp đón người thù địch của Trung quốc.
=> Đối với vấn đề nguyên tử Iran, Hoa kỳ nhất quyết đặt những trừng phạt. Những trừng phạt này động chạm đến quyền lợi dầu lửa của Trung quốc. Iran là nước quan trọng thứ ba về việc cung cấp dầu lửa cho Trung quốc.
Những sự việc trên đây cho thấy sự căng thẳng giữa hai nước Mỹ và Trung quốc. Những căng thẳng này có thể dược đàm phán dàn hòa. Nhưng điều tối quan hệ đối với Trung quốc là vấn đề làm ăn Kinh tế. Sự căng thẳng này có thể dẫn tới tình trạng Che chở Mậu dịch gay gắt mà Trung quốc đã ngại sợ từ lâu: từ những cuộc họp Davos, từ những nhóm lại của G20 mà Trung quốc luôn luôn kêu gọi tự do mậu dịch. Che Chở Kinh tế/Thương mại đã trở thành như con ma ám ảnh trong đầu óc của Trung quốc.
Ban Biên Tập Nhật Báo New York Times ngày 13 tháng 12 năm 2010 đã phác họa cái viễn tượng con ma Che Chở Kinh tế/ Thương mại đang rình rập mà nếu Trung quốc cứ ngoan cố, nó sẽ hiện ra (http://www.nytimes. com/2010/ 01/12/opinion/ 12tue1.html):
“Nền kinh tế của Trung Quốc có kết quả trong vòng 20 năm qua bằng cách mở cửa cho đầu tư từ nước ngoài và kềm giá đồng Quan (so với đồng Mỹ kim), họ đã phát triển nhờ vào sức tiêu thụ của các nước phát triển.
Nhưng đồng thời chính sách này đã mang đến nhiều yếu kém cho nền kinh tế toàn cầu. Nếu Bắc Kinh tiếp tục đường lối nói trên thì nhiều nước sẽ phải dùng đến biện pháp duy nhất là bảo hộ mậu dịch nhằm ngăn chận hàng hoá giá rẻ giả tạo từ Trung Quốc. Cuộc chiến mậu dịch một khi xảy ra rất khó kiểm soát, sẽ ảnh hưởng đến xuất cảng của mọi quốc gia và chận đứng phát triển nơi nơi.
Hàng hoá Trung Quốc đổ ào ạt ra thế giới đã đè bẹp các nhà sản xuất tại các nước đang phát triển. Việc này nếu đã tệ hại khi nền kinh tế thế giới còn phồn thịnh thì lại càng nguy hiểm hơn trong giai đoạn suy thoái hiện tại. Trong nhiều quốc gia các gói kích cầu đã không đạt được tác dụng vì tiền của chính phủ đầu tư rơi một phần nhằm mua đồ giá rẻ từ Trung Quốc nên không tạo công tạo được công ăn việc làm trong nước.
Sau khi thả nổi đồng Yuan tăng giá dần trong vòng ba năm, Bắc Kinh từ mùa hè năm 2008 đã siết đồng Nhân Dân Tuệ theo giá trị Mỹ Kim và trụt xuống so với Euro và tiền Yen, tạo áp lực nặng nề đến Âu Châu và Nhật Bản.
Chính sách “làm nghèo các nước lân bang” của Bắc Kinh khiến nền kinh tế thế giới khó phục hồi. Khi các gói kích cầu chấm dứt thì các nước sẽ phải dựa vào xuất cảng để phát triễn trong hoàn cảnh dân chúng trong nước cắt giảm chi tiêu, nhưng xuất cảng sẽ khó hơn nếu hàng hoá Trung Quốc tiếp tục đổ ồ ạt với giá rẻ mạt. Cán cân mậu dịch nghiên về Trung Quốc rõ rệt từ tháng 12-2009 sau khi sút giảm trong vòng 1 năm, và dự đoán sẽ nhảy vọt trong năm 2010.
Bắc Kinh có thể chọn lựa các chính sách lành mạnh hơn, chẳng hạn như dùng trử lượng ngoại tệ khổng lồ vào các chương trình xã hội: bảo hiểm sức khoẻ, giáo dục và lương bổng hưu trí nhằm nâng cao đời sống dân chúng.
Bắc Kinh chắc hẳn sẽ phải đối phó với biện pháp giới hạn mậu dịch nếu tiếp tục kềm giá đồng Quan. Chính quyền Obama đã phải nhượng bộ áp lực trong nước và tăng thuế lên vỏ xe hơi và ống sắt nhập cảng từ Trung Quốc. Quốc Hội Mỹ giờ này vẫn im lặng nhưng ngườì ta có thể cảm nhận tâm lý trả đủa tăng dần mọi nơi.
Ấn Độ đã nộp một chồng hồ sơ tố cáo các vi phạm mậu dịch tự do của Trung Quốc. Diễn Đàn Hợp Tác Mậu Dịch Á Châu – Thái Bình Dương mới đây kêu gọi “thả nổi giá biểu tiền tệ theo thị trường”, ý muốn ám chỉ chính sách siết giá đồng Yuan của Bắc Kinh.
Một trận chiến mậu dịch với Trung Quốc sẽ tác hại không lường và ảnh hưởng lan rộng toàn cầu. Tự chế là cần thiết, nhưng chúng tôi (Ban Biên Tập Báo New York Times) e rằng không ai có thể chờ đợi lâu hơn nữa vào Bắc Kinh thay đổi chính sách của họ“.
Ngày 14.01.2010, dưới đầu đề GIAN GIẢO KINH TẾ/THƯƠNG MAI TQ LÀM THẾ GIỚI BỰC TỨC VÀ CÓ BIỆN PHÁP, sau khi liệt kê ra những tính tóan gian trá Kinh tế/Thương mại, chúng tôi đã viết đọan kết luận như sau:
Tại cuộc Họp tại Luân Đôn của G20 đầu tháng tư 2009, vấn đề cấp bách cho G20 là Che Chở Kinh tế (Protectionism).
Chính những quốc gia thuộc G20 đã tự động lấy những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes). Tổng cộng đã đếm được 66 Biện Pháp. Đó là lời la hỏang của Oâng ZOELLICK, Chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), của Oâng STRAUSS, Tổng Giám đốc Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF/FMI), của Ong LAMY, Tổng Giám đốc Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC).
Con Ma CHE CHỞ KINH TẾ (Spectre Protectionnisme/Spectre Protectionism) hiện ra nguyên hình, chứ không phải là bóng ma chập chờn. Đó là vấn đề mà G20 phải giải quyết thực sự. Nhưng vấn đề này không thể giải quyết được.
Những nước đến cuộc Họp thượng đỉnh sẽ cao giọng nêu ý chí triệt hạ Protectionism, nhưng thực tế mỗi nước đã tự động lấy những Biện Pháp Che Chở Kinh tế rồi. Vì vậy, về vấn đề này, những thành viên đến họp G20 chỉ nói xạo. Miệng nói lớn tiếng là Tự do Mậu Dịch, nhưng lại âm thầm làm Che Chở Kinh tế.
Khi ông LAMY, Tổng Giám đốc WTO báo cho Thế giới biết là Lượng Mậu dịch Thế giới giảm 12%, chưa từng có từ 20 năm nay, thì lời cảnh cáo này chắc chắn phải làm cho Trung quốc sợ hãi.
Là người Việt Nam, chúng ta dễ hiểu cái lo sợ nhất của Trung quốc. Đó là miếng ăn. Người Trung quốc gặp nhau, họ chào nhau là “Nị ăn cơm chưa ? “ chứ không nói là “Nị có khỏe không ?“. Họ lo lắng miếng ăn trước tiên. Đụng đến thiệt hại miếng ăn họ mới sợ, chứ còn mắng chửi họ, họ cũng chỉ cười hề hề cho qua chuyện.
Phân tích thái độ xuống nước của Trung quốc
Khi trả lời câu hỏi đầu tiên của Đài RFI về tại sao lúc này, qua những cuộc Họp báo cuối tuần vừa rồi, Trung cộng tỏ ra xuống nước về tỷ giá giữa đồng Nhân Dân Tệ và Đo-la, tôi trả lời liền rằng với thái độ công khai tỏ ra cứng rắn của Hoa kỳ, Trung cộng sợ nó biến thành những quyết định Che Chở Mậu dịch dứt khóat, hay một tình trạng Chiến Tranh Thương Mại bắt đầu từ Quan thuế, rồi những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires), đến những Biện pháp trả thù (Mesures de Représailles).
Thực vậy, trước những cuộc Họp báo cuối tuần vừa rồi, người ta vẫn nhớ những lời tuyên bố ngạo mạn, đầy khinh miệt các nước khác thóat từ miệng Thủ tướng Oân Gia Bảo khi những nước khác muốn áp lực để Trung quốc tăng tỷ giá đồng Yuan: “We will not yield to any pressure... forcing us to appreciate (Yuan)” (Chúng tôi sẽ không nhượng bộ đối với mọi áp lực nào... buộc chúng tôi phải tăng tỷ giá (Nhân Dân Tệ) (Financial Times 08.03.2010, p.2).
Nhưng thứ Sáu 05.03.2010, chính Thủ tướng Oân Gia Bảo sửa lại thái độ cứng nhắc, ngạo mạn trên đây. Ký giả Andrew BATSON viết: “On Friday, Premier Wen Jiabao reaffirmed that China will continue to keep the Yuan “basically stable””. (Ngày thứ Sáu, Thủ tướng Oân Gia Bảo tái khẳng định rằng Trung quốc sẽ tiếp tục giữ đồng Yuan “ổn định một cách căn bản”. Nhưng thế nào là “ổn định một cách căn bản”? Đây là câu nói trống, nhưng dầu sao cũng để cho thấy khả năng thay đổi khi mà những quyền lực liên hệ đến đồng Yuan quyết định việc thay đổi như thế nào.
Thái độ của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc cũng đã thay đổi đối với đồng Đo-la. Chính ông đại diện Trung quốc, lớn tiếng kêu gọi Thế giới hãy truất ngôi Đo-la và thay thế vào đó bằng một Đơn vị Tiền tệ khác. Ngày 23.03.2009, Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã cho đăng lên mạng www.pbc.gov.cn lời tuyên bố như sau (theo bản dịch của Nhật báo LE MONDE ngày 10.11.2009, p.3) :
”L’objectif adéquat est donc de créer une monnaie de réserve internationale qui soit déconnectée de nation individuelle et se montre capable de rester stable sur le long terme. Comparée à la gestion séparée des réserves par chaque pays, la gestion centralisée d’une partie des réserves globales par une institution internationale de référence sera bien plus efficace pour contrer la spéculation et stabiliser les marchés financiers.” (Mục đích phù hợp là tạo ra một đồng Tiền dự trữ quốc tế tách rời ra khỏi một quốc gia riêng lẻ và có khả năng đứng bền vững trong trường kỳ. So sánh với việc quản trị riêng lẻ những dự trữ của từng quốc gia, việc quản trị tập trung những dự trữ tổng quát bởi một Tổ chức Quốc tế làm quy chiếu sẽ hữu hiệu hơn nhiều để chống lại đầu cơ và tạo bền vững cho những Thị trường Tài chánh).
Nhưng thái độ của Chu Tiểu Xuyên đã thay đổi kể từ cuộc Phát biểu ngày thứ Bẩy 06.03.2010. Đồng Yuan vẫn bám chặt lấy đồng Đo-la va có thể trở lại trạng thái thay đổi tỷ giá bình thường theo chuyển biến của Đo-la. Bản tin của Reuters đáng đi từ Bắc Kinh ngày 08.03.2010, tóm tắt như sau (Bản dịch Pháp ngữ của Gwénaelle BARZIC):
“Lors de la session annuelle de l’Assemblée nationale populaire (Parlement), le gouverneur de la Banque populaire de Chine Zhou Xiaochuan a déclaré que Pékin serait un jour ou l’autre contraint d’abandonner cette politique “spéciale” du yuan, qui fait partie des diverses mesures prises par les autorités pour limiter l’impact de la crise. L’expérience a montré que ces politiques ont été positives, en contribuant à la fois au resdressement de notre économie et de l’économie mondiale. Les problèmes concernant le retrait de ces politiques apparaitront tôt ou tard. Si nous devons retirer ces politiques inhabituelles et revenir à des politiques économiques ordinaires, nous devons être extrêmement prudents dans le choix du calendrier. Cela inclut également la politique de taux de change du renminbi.” (Nhân dịp họp hàng năm của Quốc Hội Nhân dân, Thống dốc Ngân Hàng nhân dân Trung quốc Chu Tiểu Xuyên đã tuyên bố rằng Bắc Kinh, một ngày nào đó, buộc phải bỏ chính sách “đặc biệt” của đồng Yuan, chính sách làm thành phần của những biện pháp quyết định bởi Nhà Nước nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của khủng hỏang. Kinh nghiệm cho thấy rằng những chính sách này là tích cực, đóng góp vào việc khôi phục nền kinh tế của chúng ta và nền kinh tế của thế giới. Những vấn đề liên quan đến việc rút lại những chính sách này sớm muộn sẽ đến. Nếu chúng ta phải rút lại những chính sách bất thường này, chúng ta phải hết sức thận trọng trong việc lựa chọn lịch trình. Điều này cũng bao gồm cả chính sách tỷ giá của đồng nhân dân tệ.)
Qua những lời tuyên bố này, những quan sát viên tài chánh/thương mại quốc tế thấy Chu Tiểu Xuyên tìm cách chữa nhẹ đi những chủ trương gian giảo của Trung quốc, như:
* Oâng nói rằng đây là những chính sách “đặc biệt” được quyết định để chống khủng hỏang. Thực ra đây là những chính sách thường xuyên, nhất là chính sách giữ tỷ giá đồng Yuan thấp, nhằm cạnh tranh xuất cảng đã được áp dụng từ lâu, chứ không phải chỉ đặc biệt trong thời khủng hỏang.
* Oâng cũng cố tình nói rằng những chính sách này không những có lợi cho kinh tế Trung quốc mà cho cả kinh tế thế giới nữa. Thực ra đây là những chính sách không những hòan tòan có lợi cho Trung quốc, mà còn nhằm giết những kinh tế các nước khác nữa.
Những lời tuyên bố sẽ rút lại những chính sách “đặc biệt” và bất thường để trở lại những nguyên tắc kinh tế bình thường chỉ là muốn tung ra một hy vọng, nhưng người ta không biết việc rút lại những chính sách ấy ở thời điểm nào.
Đặc biệt chính sách tiền tệ, người ta không biết sẽ tăng tỷ giá đồng Yuan khi nào và tăng bao nhiêu.
Trước những áp lực cấp bách của Thế giới, Trung quốc chỉ tung ra lời hứa như một hy vọng trống trải bởi vì không cho biết tầm mức quan trọng thay đổi như thế nào và bao giờ mới thay đổi.
Ngòai ra, đây chỉ là những lời tuyên bố của Thống đốc Ngân Hàng, còn việc quyết định thay đổi chính sách phải tùy thuộc Chính phủ, tùy thuộc những Bộ liên hệ mà chính yếu là Bộ Thương Mại. Thực vậy ông Chen Deming, Bộ trưởng Thương mại đã cho biết rằng để có thể lấy lại mức xuất cảng như trước cuộc Khủng hỏang, cần tối thiểu 3 năm nữa. Như vậy việc bỏ tỷ giá đồng Yuan thấp thiết cần để nâng đỡ xuất cảng, chưa có thể xẩy ra trong tương lai gần được.
Thế giới, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu, không thể chỉ vì một hy vọng thay đổi trống trải, không định thời điểm, không cho thấy tầm vóc, mà cứ ngồi đợi Trung quốc, hứng chịu những hậu quả thiệt thòi về thương mai hay sao.
Người ta cũng có thể hiểu rằng những tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên chỉ vì sự đe dọa Che Chở Kinh tế/Thương mại mà phải nói ra để làm giảm sự căng thẳng mậu dịch quốc tế, nhất là trước thái độ công khai cứng rắn của Hoa kỳ và Liên Aâu.
Trung cộng là nạn nhân của Chiến tranh Thương mại
Obama có thể nói “Buy America” mà không ngại sợ. Nhưng Hồ Cẩm Đào không dám nói ra câu “Buy China” vì ông luôn luôn sợ hãi Con Ma Che Chở Kinh tế/ Thương mại. Nếu những lời tuyên bố thay đổi trên đây của Trung quốc chỉ là một mưu kế làm giảm căng thẳng để rồi Trung quốc vẫn tiếp tục những chính sách thương mại thủ lợi cho mình, đồng thời làm hại cho những nước khác, thì liệu Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước thuộc vùng Kinh tế Thái Bình Dương có ngồi yên hay phải tuyên bố những biện pháp Che Chơ Kinh tế/Thương mại. Dù ý chí của Trung quốc có thành thực thay đổi đi nữa, thì một số nhà Tài chánh nhận thấy rằng Trung quốc rất khó lòng đưa ra một lịch trình tăng tỷ giá đồng Yuan của mình vì hai lý do chính yếu sau đây:
* Kinh tế Trung quốc dồn tòan lực vào xuất cảng. Việc tăng tỷ giá đồng Yuan ảnh hưởng trực tiếp đến tụt dốc xuất cảng, nhất là ở thời kỳ mà Hoa kỷ cũng như Liên Aâu giảm nhập cảng.
* Lý do thứ hai thuộc phạm vi tài chánh. Một lịch trình tăng tỷ giá đồng Yuan sẽ làm cho vốn nước ngòai ào vào Trung quốc để thu lợi do việc tăng tỷ giá đồng Yuan. Sự chênh lệch tỷ giá giữa hai thời điểm đủ cho vốn lưu động đầu tư nước ngòai ào vào để chia lợi do chênh lệch tỷ giá đồng tiền. Việc vốn nước ngòai ào vào này còn tạo ra tình trạng lạm phát mà Trung quốc rất sợ hãi.
Như vậy việc tăng tỷ giá đồng Yuan có tính cách khó khăn khách quan đứng về mặt tài chánh. Nếu vẫn khư khư giữ tỷ giá thấp, thì cái nguy hiểm là tạo một tình trạng căng thẳng quốc tế dẫn đến Che Chở Kinh tế/Thương mại. Còn nếu quyết định thực sự tăng tỷ giá, tạo hướng tăng đồng Yuan, thì vốn đầu cơ nước ngòai dồn vào để chia phần chênh lệch tỷ giá.
Dầu sao Con Ma Che Chở Kinh tế/Thương mại đã hiện ra và Oâng LAMY, Tổng Giám đốc WTO đã công bố việc tụt dốc 12% về lương mậu dịch thế giới như chúng tôi đã trình bầy trên đây. Tình trạng căng thẳng hiện nay giữa Trung quốc và Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước thuộc Khối Thái Bình Dương có thể đưa đến những Biện pháp khắt khe không giá biểu (Mesures non-tarifaires) và những Biện pháp trả đũa thương mại (Mesures de Représailles commerciales bilatérales). Đây là tình trạng Chiến tranh Thương mại. Khi mà biên giới quan thuế đóng lại, thì nạn nhân của cuộc Chiến tranh này là Trung quốc bởi lẽ Dân chúng Trung quốc thiếu Khả năng Tiêu thụ, không đủ khả năng mua tất cả những hàng hóa do chính Trung quốc sản xuất ra. Nên lưu ý rằng Khả năng tiêu thụ của 1’300 triệu dân Trung quốc chỉ tương đương với 16% số Tiêu thụ của 300 triệu dân Mỹ.
Không có tiêu thụ, thì sản xuất chết !
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 11.03.2010
| | | |
ẤN ĐỘ: CƯỜNG QUỐC KINH TẾ TƯƠNG LAI Á-CHÂU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 11.03.2010
Viết bài NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ hôm nay về khả năng phát triển Kinh tế Aán Độ, chúng tôi dựa trên những bài báo cũng hòan tòan có tính cách thời sự :
* Le Monde 09.03.2010:UNE LECON INDIENNE par Martin WOLF
* The Wall Street Journal 10.03.2010: INDIA’S MICROLENDERS TO SHARE DATA by Eric BELLMAN
* Financial Times 10.03.2010: SUGAR SUFFERS AS INDIA RAISES OUTPUT ESTIMATE by Chris BLOOD
* Financial Times 11.03.2010: PUTIN SEEKS TO BOLSTER LINK WITH NEW DELHI by James LAMONT
* The Wall Street Journal 11.03.2010: INDIA: WOMEN AND DEMOCRATY
* Le Monde 11.03.2010: EN INDE, GUERRES DES TERRES ENTRE PAYSANS ET INDUSTRIELS par Julien BOUISSOU
* Le Monde 11.03.2010: LES DEPUTES INDIENS VOTENT L’INSTAURATION D’UN QUOTA DE FEMMES AU PARLEMENT par Julien BOUISSOU
Chúng tôi chỉ viết một bài ngắn nêu lên những điểm chính yếu làm nền tảng cho khả năng phát triển Kinh tế Aán Độ. Chúng tôi sẽ viết một bài phân tích dài làm bài QUAN ĐIỂM theo Chủ đề hiện hành của chúng tôi là DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ. Thực vậy, Aán Độ lấy dân làm gốc cho phát triển và hiệu quả của phát triển là cho dân. Nền Kinh tế Aán Độ phát triển song hành với xây dựng Dân chủ. Đó là bài học qúy giá cho Chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ của chúng tôi áp dụng cho Việt Nam.
Chính Kinh tế gia Martin WOLF cũng lấy tựa đề bài viết của Oâng trong Le Monde 09.03.2010 là “UNE LECON INDIENNE“ (BÀI HỌC ẤN ĐỘ). Vào thập niên 1970, Kinh tế gia Martin WOLF là người Trách Nhiệm chính của Ngân Hàng Thế Giới tại Aán Độ. Oâng là bạn thân từ 39 năm nay của Kinh tế gia Montek Singh AHLUWALIA, Phó Chủ tịch ỦY BAN KẾ HỌACH KINH TẾ ẤN ĐỘ, đứng sau Thủ tướng MANMOHAN SINGH.
Để có thể hiểu những điểm đặc thù của Kinh tế Aán Độ, chúng tôi xin trích ra đây đọan tóm tắt rất gọn và xác thực về Kinh tế Trung quốc để độc giả so sánh:
“It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay). (Financial Times 09.03.2010, p.10)
Đó là nền Kinh tế sản xuất những “gadgets” để mau chóng xuất cảng mua vui cho những người tiêu thụ tại những xứ khác, do một nhóm đảng tổ chức thu tiền nhanh vào cho mình và rồi chuyển những tiền ấy ra đặt tại những xứ giầu Tây phương. Người dân chỉ được hưởng một phần rất nhỏ hiệu quả Kinh tế qua đồng lương bóc lột. Đó là Kinh tế Trung quốc.
Qua những bài báo liệt kê trên đây liên quan đến Phát triển Kinh tế Aán Độ, nhất là bài của Kinh tế gia Martin WOLF, chúng tôi ghi nhận những điểm như sau.
Người dân và tính tình
Dân Aán Độ ít ồn ào hơn dân Trung quốc. Người ta thường nói rằng người Aán Độ thuộc lọai người suy tư đầu óc, chiêm ngưỡng (contemplatifs). Con số bí hiểm 0 (zéro) được phát sinh từ Aán Độ chứ không phải từ A-rập. Người ta không hiểu “zéro“ là gì, mặc dầu nó hiện hữu. Có người cắt nghĩa đó là ý niệm Niết Bàn. Phật Giáo được phát sinh từ Aán Độ, một Tôn giáo lấy giải thóat cá nhân và tự mình giải thóat làm trọng. Tính chiêm ngưỡng (contemplatif) và ảnh hưởng Tôn giáo là nền tảng tính tình dân Aán Độ. Ngày nay, người ta thường nhận thấy dân Aán Độ rất giỏi về ngành điện tử.
Nền tảng Dân chủ
Dân chủ chỉ là một Nguyên Tắc giải quyết tương đối những tranh chấp khi mà những cá nhân sống chung với nhau thành một cộng đồng. Như vậy CÁ NHÂN CHỦ là nền tảng để từ đó mới xây dựng nguyên tắc dân chủ. Một xã hội nào biết tôn trọng cá nhân, thì tự động họ xây dựng nguyên tắc DÂN CHỦ. Tôn giáo tại Aán Độ đã un đúc cho dân tinh thần phải tôn trọng CÁ NHÂN CHỦ. Chúng tôi không bao giờ chấp nhận ngụy biện của Cộng sản cho rằng dân trí còn ngu nên không thể cho Dân Chủ. Thực vậy, Dân Chủ không phải là kết quả của Dân trí mà là nguyên tắc thực tiễn giải quyết giữa những cá nhân chủ khi có va chạm.
Cái tinh thần tôn trọng cá nhân luôn luôn đòi hỏi việc xây dựng hệ thống quản trị Xã hội theo nguyên tắc Dân chủ:
=> Phân quyền, tránh tập trung quyền hành để dễ dẫn đến độc tài. Aán Độ theo hệ thống phân quyền dưới thể chế Liên Bang.
=> Khi quyền hành được tản ra, thì những tranh chấp chính trị cũng đỡ hẳn tính cách gay gắt, ác độc. Một chủ trương tập quyền như Cộng sản chẳng hạn, thì đó là nguồn gốc tranh chấp, thậm chí đến thanh trừng nội bộ một các tàn nhẫn.
Xã hội Aán Độ được xây dựng, phát triển theo những nguyên tắc Dân chủ. Nó khác với Xã hội Trung quốc hiện nay.
Phát triển Kinh tế bởi cá nhân và cho cá nhân
Chính cá nhân là tác nhân Kinh tế chính và cá nhân làm kinh tế trước tiên là phục vụ cho chính mình chứ không phải hy sinh cả cuộc đời để phục vụ cho một Lý thuyết trừu tượng, một Chủ nghĩa Xã hội để những người nhân danh Chủ nghĩa mà bóc lột cá nhân. Cá nhân có sống, thì Chủ nghĩa mới có. Cá nhân chết, thì Chủ nghĩa trở thành trống rỗng. Ai cũng lo lắng đến cái bụng đói của mình trước tiên. Và rất hiếm người lo đến cái bụng đói của người khác trước khi nghĩ đến cái bụng của mình. Vậy hãy để cho mỗi cá nhân làm ăn để lo lắng trước tiên đến việc nuôi sống thân xác mình.
Một xã hội mà nền Kinh tế được tản ra cho từng cá nhân, nền kinh tế ấy mới có nhiều sáng kiến và sự thăng bằng phát triển mới bền vững và lâu dài. Nền Kinh tế được đặt trên nền tảng cá nhân, những công ty gia đình, những công ty nhóm nhỏ... mà tiến lên là nền Kinh tế phát triển có nhiều sáng kiến và bền vững nhất.
Tôn trọng cá nhân, lấy cá nhân trách nhiệm, phát triển những nguyên tắc dân chủ để giải quyến, nền Kinh tế Aán Đo,ä dù không ồn ào, yên lặng tiệm tiến, sẽ phát triển trong bền vững và lâu dài.
Một tỉ dụ điển hình mà chúng tôi thường lấy ra làm tỉ dụ, đó là sự đổi hướng của Kinh tế Ý cách đây 30 năm. Thời ấy, nền Kinh tế Ý dựa trên những đại Công ty. Tình trạng đình công xẩy ra như cơm bữa làm Kinh tế Ý tê liệt. Người Ý mang tinh thần tôn trọng gia đình cao nhất Aâu châu. Từ nền Kinh tế Đại Công ty bị tê liệt, dân Ý đã chuyển Kinh tế về hệ thống Gia đình. Mọi người trong Gia đình phải tuân theo MAMA mà làm việc, không được đình công, nếu không MAMA không cho ăn Spaghetti nữa. Nền Kinh tế đặt nền tảng trên Gia đình đã dần dần phát triển lớn mạnh đến ngày nay.
Chương trình Phát triển Kinh tế Aán Độ
Theo tinh thần trên đây lấy cá nhân làm tác nhân kinh tế chính, một Chương trình phát triển Kinh tế đã được họach định cho cả nước. Kinh tế gia Martin WOLF đã tóm tắt Chương trình ấy ở những điểm sau đây: “Les Infrastructures, l’Agriculture, la Reglementation du Travail, le Secteur Bancaire, l’Energie, l’Education et le Commerce de détail“ (Những hạ tầng cơ sở, NÔNG NGHIỆP, LUẬT LỆ LAO ĐỘNG, Lãnh vực Ngân Hàng, Năng lượng, Giáo dục và THƯƠNG MẠI NHỎ) (Le Monde 09.03.2010, p.2)
Việc xây dựng hạ tần cơ sở là lãnh vực của Nhà Nước. Chúng tôi viết chữ hoa cho một số lãnh vực để độc giả lưu ý rằng Kế họach Kinh tế này đặt trọng tâm vào người nghèo và những đơn vị Kinh tế nhỏ làm căn bản:
=> NÔNG NGHIỆP : đó là lãnh vực ưu tiên đầu tiên của Kế họach. Việc phát triển nông nghiệp là tạo cho đa số dân nghèo có đủ miếng ăn, rồi sau đó tạo cho dân nghèo có khả năng tiêu thụ để mới có thể sản xuất công kỹ nghệ phục vụ cho chính trong nội địa. Đó cũng là tạo độc lập về Kinh tế. Kinh tế Trung quốc hiện giờ không có độc lập vì nó lệ thuộc vào xuất cảng phục vụ ngọai quốc.
=> LUẬT LỆ LAO ĐỘNG: đây cũng là sự lo lắng cho khối người nghèo phải đi bán sức lao động của mình để nuôi thân. Phải có những luật lệ cho công bằng, tránh những tình trạng bóc lột lao động.
=> THƯƠNG MẠI NHỎ: đây cũng là chủ trương đi từ những đơn vị nhỏ thương mại mà tiến lên. Từ tiểu thương, rồi tiến dần lên đại thương. Săn sóc, hỗ trợ những Thương mại nhỏ để phân phối các nơi.
Hãy nhìn Kinh tế Việt Nam để thấy khác biệt giữa hai chủ trương. Trong bao chục năm trường, Nhà Nước Việt Nam bỏ rơi Nông Nghiệp, một lãnh vực mà chúng ta có cả khả năng thiên nhiên để phát triển cho 75% dân số nghèo tại nông thôn. Nhà Nước Việt Nam chỉ nhằm bán Lao động cho tài phiệt nước ngòai, rồi xuất khẩu Lao động phục vụ ngọai quốc mà không lo phát triển những Luật lệ bảo vệ công bằng cho giới Lao động. Về thương mại, mỗi thành phố chỉ chuyên lo khuếch trương Siêu thị mà ít nâng đỡ những Tiểu thương, thậm chí còn tàn nhẫn đi hốt những người nghèo buôn thúng bán mẹt ở những góc phố. Tìm cách nâng đỡ họ. Họ là những Tiểu thương đấy, để họ có chỗ buôn bán độ thân và tiến dần lên Trung thương hoặc có thể là Đại thương sau này.
Nhà nước VN chỉ lo sản xuất những “gadgets“ như quan thầy Trung quốc !
Hệ thống Tiểu Tài chánh “Microfinance“
Trong những năm làm Tài chánh cho những Dự án, chúng tôi thường đưa ra một số tỉ dụ để công kích chính những Ngân Hàng lớn. Tỉ dụ sau đây thường được đưa ra khi phải chạm trán với Ngân Hàng:
Một sinh viên trẻ mới học xong. Anh đang mang cả bầu nhiệt huyết để thực hiện Dự án mà trong suốt thời gian học anh mơ mộng. Anh viết Dự án. Xử dụng môn học Phân tích Chi tiêu Xí nghiệp (Analyse des Charges Industrielles) để tính tóan rất kỹ. Xử dụng môn Marketing và Ước lượng Thu nhập để cho thấy rằng Lợi nhuận từ mỗi chặng thực hiện Dự án là bao nhiêu. Đọc Dự án, tôi cảm phục anh sinh viên nghèo mới ra trường này.
Nhưng phải có VỐN thì mới thực hiện được Dự án. Anh can đảm đến Ngân Hàng để trình bầy Dự án với những Chi—Thu đã tính tóan kỹ.
Anh xin Ngân Hàng cho vay vốn để thực hiện Dự án của mình. Anh chấp nhận mọi kiểm sóat của Ngân Hàng. Ngân Hàng khen anh, nhưng trả lời rằng:“Vậy Bank Guarantee hay Standby Letter of Credit của anh đâu để làm Collateral cho vốn vay ?“.
Anh sinh viên nghèo chua chát ra đi và nghĩ: thực là ngược ngạo ! Để lấy được Bank Guarantee hay Standby Letter of Credit, thì anh phải có tiền đặt trong Ngân Hàng làm Deposit. Mà nếu anh đã có tiền rồi để làm Deposit, thì anh cần gì phải đến Ngân Hàng kia để xin vay. Có lẽ anh phải đi làm vất vả trong 10 năm để có tiền làm Deposit. Nhưng 10 năm sau, thì sức lực anh đã giảm, anh không muốn theo đuổi Dự án như lúc mới ra trường.
Tôi rất khâm phục ý tưởng đặc biệt của Aán Độ đã thiết lập hệ thống Microfinance, nghĩa là cho những người nghèo, những cá nhân muốn làm ăn vay. Hệ thống này đã trở thành thời danh mà vị sáng lập đã được khen tặng giải Nobel Hòa Bình.
Chương trình Phát triển Kinh tế Aán Độ đặt trọng tâm vào những người nghèo muốn làm việc: Nông dân, Lao động và Tiểu thương. Cùng với Chương trình nghĩ đến người nghèo như vậy, Aán Độ đã có sáng kiến tổ chức hệ thống Tiểu Tài chánh “Microfinance“ để giúp phương tiện làm ăn cho dân nghèo thiếu vốn như anh sinh viên trên kia. Đó là hai ngả giúp hữu hiệu cho phát triển Kinh tế từ nền tảng. Xin lưu ý: thống kê cho thấy rằng dân nghèo vay nợ làm ăn là dân hòan vốn rất chu đáo “Bon payeur“ !
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 11.03.2010
| | | |
NGĂN CHẶN TỨC KHẮC TIẾN TRÌNH CSVN GIAO NƯỚC CHO TẦU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 18.02.2009
Như trong Bài Mở Đầu cho CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ chúng tôi đã cắt nghĩa, điều kiện để có thể bắt đầu phát triển Kinh tế Đất Nước là phải dứt bỏ CƠ CHẾ CSVN hiện hành, một cơ chế cấu kết giữa dộc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế.
Khi đã dứt bỏ được cái CƠ CHẾ hiện hành để có thể bắt đầu phát triển, chúng tôi muốn khai triển những điều kiện để việc phát triển Kinh tế được bền vững và lâu dài: Dân chủ hóa Kinh tế trong một Môi trường Chính trị—Luật pháp Xã hội phù hợp (Environnement Politico—Juridique Social adéquat).
Một nền Kinh tế phát triển bền vững và lâu dài là nền Kinh tế cho một Quốc gia Việt Nam Độc lập. Nước Việt Nam đang đi đến mất Chủ quyền, thậm chí đảng CSVN, vì tham lam tiền bạc cho mỗi cá nhân đảng viên, đang đưa Đất Nước đến chỗ bị Trung quốc xâm lăng chính Lãnh Thổ và Lãnh hải. Vì vậy, nếu dứt bỏ được CƠ CHẾ CSVN hiện hành để có điều kiện bắt đầu phát triển, mà Đất Nước chúng ta lại bị xâm lăng bởi Trung quốc, thì không thể nào có thể nói là phát triển Kinh tế bền vững và lâu dài cho Quê Hương mình được. Phải ngăn chặn tức khắc Tiến trình CSVN đang giao Nước cho Tầu xâm lăng vậy.
Từ tháng 9.2009, khi thấy một đàng chủ trương của Trung quốc là dùng tiền bạc để xâm lăng không những tại Việt Nam, mà còn các nước nghèo khác tại Phi Châu, Á Châu, Trung Á, một đàng Nhà Nước Việt Nam kiệt quệ về Ngân Sách nên đói ăn vụng túng làm liều đưa lãnh thổ Việt Nam dần dần dâng hiến cho xâm lăng Trung quốc, chúng tôi đã viết một bài tương quan Chủ Nợ—Con Nợ để cho thấy CSVN mất chủ quyền, không dám hé họng khi ngư dân VN bị Tầu hà hiếp ở Biển Đông chính trong vùng biển thuộc Việt Nam. Tệ hại hơn nữa, khi nhận nợ của Trung quốc đến ngập họng rồi và khi không trả nợ được, thì Trung quốc đòi bắt cả vợ và con gái, thì CSVN cũng phải giao cho Chệt dầy vò.
Thấy tình trạng mỗi ngày mỗi lệ thuộc Trung Cộng về tiền bạc như vậy, chúng tôi lại viết một bài thứ hai gần đây cho thấy rằng trong tương lai Tầu sẽ viện cớ Kinh tế trước Thế Giới để ngang nhiên mang quân đội vào Việt Nam để bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ và những người Tầu đã lập làng mạc và những Khu Thương Mại và Công Nghệ trên lãnh thổ Việt Nam.
Những phân tích và những lo ngại của chúng tôi trên đây không phải là không có bằng chứng. Thực vậy, tại Quốc nội, hai Tướng CS ĐỒNG SỸ NGUYÊN và NGUYỄN TRỌNG VĨNH đã viết rõ về nguy hại mất nước bởi lẽ CSVN đã cho Trung Quốc thuê dài hạn những khu đất đầu nguồn để Tầu mang người sang canh tác và sinh sống. Tại Hải ngọai, Oâng BÙI TÍN, một người cũng đã từ đảng CSVN, đã phân tích thêm tình trạng nguy hiểm mất nước này.
Nếu trước đây, vì quyền hành mà Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng viết Công Hàm nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông, Hỏang Sa và Trường Sa, thì ngày nay, cả đảng CSVN chỉ vì đồng tiền đút túi làm của riêng đã mang tài sản VN đi bán, mang Lãnh thổ VN giao cho Tầu, mời gọi tư bản nước ngòai vào VN để khai thác nhân lực, xuất cảng đàn bà con gái đi phục vụ tình dục. Tất cả chì vi tiền bạc muốn vơ vét đầy túi riêng.
Chúng tôi cho đăng lại những bài dưới đây để cho thấy CSVN đang thực hiện một tiến trình giao nước cho Tầu chỉ vì tiền bạc :
=> THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC (Nguyễn Phúc Liên)
=> BIỆN MINH CỦA TQ KHI ĐEM QUÂN TRÀN VÀO CHIẾM VN (Nguyễn Phúc Liên)
=> CSVN CHO TẦU THUÊ ĐẤT ĐAI (Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh)
=> HAI TƯỚNG CS CHỈ RA NGUY HIỂM (Bùi Tín)
THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
Cách đây chừng trên 20 năm, có phong trào các nước đã Kỹ nghệ hóa MUA NỢ lại các nước nghèo chưa mở mang ở Phi Châu và Nam Mỹ. Khi Chính quyền những nước nghèo có những món nợ chồng chất, họ tìm cách bán những món nợ ấy. Phải chăng việc các nước giầu mua nợ (nhận nợ dùm) là một hành động bác ái, thương người ?
Về tiền bạc, rất hiếm người hoặc không có ai dễ dàng trở thành mạnh thường quân mà không có hậu ý. Cái hậu ý ở đây là bắt con nợ phải nhường những nguồn lợi Kinh tế lớn gấp mấy lần giá trị của món nọ mà họ mua dùm.
Tôi xin kể ra đây một tỉ dụ cụ thể để dễ hiểu. Cách đây 20 năm, tôi làm Cố vấn Tài chánh cho Group BONGO tại Congo. Sang Brazaville, tôi chứng kiến một Hợp đồng Mua Nợ giữa Nhật và Congo. Chính phủ Congo không có tiền để trả nợ. Một Công ty lớn của Nhật mua lại món nợ ấy với điều kiện là Chính phủ Congo nhường cho Công ty Nhật cả một vùng rừng phía Bắc nước Congo để Nhật khai thác gỗ qúy. Đối với Chính phủ Congo, thì đây là việc họ làm với Nhật mà Dân chúng không biết gì cả. Có thể Chính phủ còn nói với Dân rằng đây là việc khai thác tài nguyên rừng mà người Nhật làm ích lợi cho xứ sở.
Việt Nam con nợ của Tầu
Tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe trong dân gian có những chuyện con nợ nghèo quá, phải gả chính con gái nhỏ để làm vợ cho chủ nợ.
CSVN, trong những năm gần đây, thiếu hụt Ngân sách trầm trọng. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới làm cho đầu tư nước ngòai thụt xuống 82%(Tài liệu:Bài viết của phóng viên Asia Sentinel Consulting). Xuất cảng hàng hóa giảm 60%. Ngay cả giữa Trung quốc và Việt Nam, cán cân thương mại cũng thua lỗ: Năm 2008, Việt Nam xuất cảng sang Trung quốc trị giá USD.4 tỉ, trong khi đó nhập cảng từ Trung quốc tới USD.15 tỉ.
Việt Nam muốn đi vay nợ từ những nước khác, nhưng trong hòan cảnh Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, các nước khác cũng gặp khó khăn, làm sao cho vay được. Trong hòan cảnh như vậy, chỉ còn đi làm đầy tớ cho Tầu, bán cả vợ con cho Tầu để nhận làm con nợ.
Tầu là chủ nợ cho Việt Nam
Chủ nợ thường có những lo lắng về trường hợp con nợ ăn qụyt. Ơû đọan trên, chúng tôi nói rằng nhiều nước, nhất là Tây phương, rất ngại ngùng cho Việt Nam vay nợ, một phần là vì cuộc Khủng hỏang hiện nay, nhưng một phần quan trọng nữa là sợ CSVN qụyt nợ. Làm trong lãnh vực Tài chánh, chúng tôi đã nghe một số Ngân hàng gia nói rằng họ có thể cho Phi châu vay, nhưng nói đến cho Việt Nam vay, thì họ rất lo ngại. Cái lý do là nếu Việt Nam ăn qụyt, thì họ khó kiện cáo về luật lệ đối với Việt Nam.
Ngược lại, Trung quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay nợ vì họ có những thuận lợi chắc chắn sau đây:
=> Trung quốc cho Việt Nam vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bàng hàng hóa và nhân công. Trung quốc đang cần xuất cảng hàng hóa, nhân công và thiết bị dư thừa.
=> Trung quốc bắt Việt Nam phải cho những nhượng địa để khái thác tài nguyên làm bảo chứng cho những món nợ mà họ cho vay. Trung quốc nắm phần chắc Việt Nam trả nợ trước bàng tài nguyên khi cho vay bằng hàng hóa mà họ muốn xuất cảng.
=> Trong trường hợp Việt Nam lật lọng muốn ăn qụyt nợ, thì Trung quốc có quân đội mạnh đã bao vây Biển và sát trên đất liền để tràn sang bắt phải trả nợ. Trung quốc không cần phải kiện cáo luật lệ gì với Việt Nam, mà dùng sức mạnh quân sự giải quyết.
Tương quan Chủ nợ—Con nợ
Không phải chỉ có tương quan hai CƠ CHẾ mà CSVN cần Tầu che chở, mà cái tương quan tệ hại nhất là giữa Con nợ mất hết độc lập và Chủ nợ hống hách chủ trương xâm lăng Việt Nam. Tương quan này cắt nghĩa: (i) Tại sao Việt Nam dành cho Tầu khai thác tài nguyên; (ii)Tại sao mất Biển Đông, Hòang Sa/Trường Sa mà không dám than; (iii)Tại sao dành những Dự án cho Tầu; (iv)Tại sao Ngư dân Việt Nam bị Tầu bắt mà không dám nói; (v)Tại sao biết khai thác Bôxit Tây nguyên có hại mà vẫn cúi đầu để cho Tâu làm; (vi)Tại nhân công Tầu tràn vào Việt Nam trong khi đó dân nghèo VN thất nghiệp; (vii)Tại sao cấm giới trẻ VN không được tỏ lòng yêu nước; (viii) Tại sao bắt những Blogers nói đụng đến Tầu; (ix) Tại sao cấm những Trí thức Việt Nam như IDS phải câm miệng ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
BIỆN MINH CỦA TQ KHI ĐEM QUÂN TRÀN VÀO CHIẾM VN Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 04.02.2010
Trong VietTUDAN số 432 tuần trước, chúng tôi đã viết hai bài có sự liên hệ với nhau. Với bài phân tích về những cuộc nổi dậy trước đây ở Dông Aâu, chúng tôi thấy rằng việc thành công hoặc thất bại của những cuộc nổi dậy tùy thuộc chính yếu vào thái độ đàn áp đến từ Moscou.
Bài học Đông Aâu ấy cho chúng ta đề phòng lệnh đàn áp đến từ Bắc Kinh hay chính Trung quốc cho quân đội và xe tăng vào Việt Nam đàn áp Dân Việt nổi dậy. Nếu Bắc Kinh chỉ ra lệnh cho quân đội hay công an Việt Nam dùng bạo lực đàn áp, thì chúng ta không ngại sợ cho lắm bởi lẽ trong quân đội hay công an có những người không đang tâm giết chính đồng bào ruột thịt của mình và có thể cùng nổi dậy với dân để chống lệnh Trung quốc. Cuộc nổi dậy năm 1980 tại Ba-Lan và cuộc xuống đường năm 1989 tại Bá Linh cho thấy điều đó. Erich Knonecker, đồ đệ trung thành của Staline, cũng đã không dám xử dụng quân đội Đông Đức để giết chính người Đức.
Nhưng điều chúng ta ngại sợ hơn cả là chính quân đội và xe tăng Trung quốc tràn vào lãnh thổ Việt Nam để giết người Việt Nam. Trong sự liên đới Đông Nam Á và Thế giới hiện nay, việc Trung quốc tự nhiên cho quân và xe tăng đổ bộ xâm chiếm lãnh thổ Việt không phải là điều dễ làm vì quốc tế kết án. Trung quốc phải tìm ra những cái cớ để biện minh trước những nước trong vùng và trước Thế giới về việc họ xua quân và xe tăng vào Việt Nam.
Việt Nam chắc chắn không mang quân đội và vũ khí sang tấn công lãnh thổ Trung quốc để Trung quốc lấy cớ tràn quân vào Việt Nam. Những cái cớ mà Trung quốc sẽ lấy ra, đó là để đòi NỢ Việt Nam, để bảo vệ sinh mạng NGƯỜI Trung quốc đang sống ở Việt Nam và để bảo tòan TÀI SẢN của Trung quốc đặt để ở lãnh thổ Việt Nam.
1) Đòi NỢ Việt Nam
Trung quốc cho Hoa kỳ vay nợ. Họ trở thành chủ nợ, nhưng đối với con nợ Hoa kỳ, chính chủ nợ Trung quốc lại ngại sợ bởi vì Hoa kỳ có một lực lượng quân đội mạnh có thể vận chuyển nhanh chóng khắp Thế giới. Trung quốc chưa bao giờ viễn chinh và có thể bị tiêu diệt dễ dàng nếu muốn tấn công Hoa kỳ để đòi nợ.
Trường hợp con nợ Việt Nam thì khác. Việt Nam ở gần kề và bị bao vây mọi phía bởi Trung quốc: phía Đông, Tầu đã giữ Biển Đông; phía Tây, Tầu tràn qua Lào và Cao Mên dễ dàng; phía Bắc, Tầu đứng cạnh biên giới sẵn sàng tràn xuống như họ đã làm trong Lịch sử. Trong tình trạng Kinh tế hiện nay, Trung quốc dư vốn cho Việt Nam vay và khi cho Việt Nam vay thì họ không sợ mất vốn. Nhà Nước Việt Nam thiếu hụt ngân qũy và nhờ Trung quốc trợ giúp Tài chánh. Ngân Hàng dành riêng cho người Tầu đã họat động từ 4 năm nay tại Việt Nam. Phần lớn những Dự án ở Việt Nam hiện nay là do vốn Tầu cho vay và dân chúng Việt Nam phải trả góp. Trả nợ không xong, thì Tầu tràn vào đòi nợ.
2) Bảo vệ sinh mạng NGƯỜI TẦU sinh sống tại Việt Nam
Trung quốc cho vay nợ để thực hiện Dự án. Mỗi Dự án là mỗi xuất cảng công nhân Trung quốc sang Việt Nam. Những công nhân này không phải chỉ lấy vợ chồng tại Việt Nam mà ở lại, mà chính họ tìm mọi cách ở lại Việt Việt Nam để lập nghiệp. Những công nhân này sẽ mang gia đình họ từ Trung quốc sang sinh sống tại Việt Nam. Họ sẽ thiết lập những làng, những khu thương mại, những khu kỹ nghệ riêng cho họ. Khi người Tầu lập những China Towns khắp Thế giới, thì việc tiến lên những khu riêng của họ tại Việt Nam, với thái độ sợ sệt của CSVN lúc này, là việc rất dễ dàng và mau chóng. Khi đã sinh sống thành làng, thành khu thương mại, kỹ nghệ rồi, thì khi có cuộc nổi dậy tại Việt Nam, Trung quốc dễ dàng nại ra lý do bảo vệ sinh mạng người của họ để cho quân đội vào bảo vệ.
3) Bảo tòan TÀI SẢN Trung quốc đặt ở Việt Nam
Trong tuần trước, chúng tôi đã viết bài về chương trình tư nhân hóa hay Trung quốc hóa những Công ty quốc doanh Việt Nam. Người Trung quốc trực tiếp hay qua trung gian những người Tầu sống tại Việt Nam mua đa số cổ phần trong những Công ty này để nắm trọn Sản xuất cũng như Thương mại tại Việt Nam. Việc Trung quốc hóa này nhắm chính yếu vào Thương mại. Thực vậy, khi mà những cơ sở nhập cảng nằm trong tay Trung quốc, thì việc nhập cảng hàng từ Trung quốc để phân phối cho 85 triệu người Việt trở thành tự động. Khi có nổi dậy, Trung quốc có thể lấy lý do bảo tòan tài sản của họ mà cho quân tràn vào.
Tóm lại, Trung quốc không tự dưng tràn quân vào Việt Nam để bị Thế giới kết án. Nhưng họ sẽ nêu ra những lý do bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ mà cho quân vào Việt Nam đàn áp dân chúng nổi dậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 04.02.2010
CSVN CHO TẦU THUÊ ĐẤT ĐAI CSVN cho người ngoại quốc thuê rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
Về việc các tỉnh cho người nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên vốn là người có 7 năm phụ trách Chương trình 327 mà mục tiêu là phủ xanh đồi núi trọc, bảo vệ rừng, và môi trường sinh thái; còn Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989). Hai nhà cách mạng lão thành gửi cho Bauxite Việt Nam bài viết sau đây, nêu rõ hiểm họa của việc chúng ta cho Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thuê trong thời hạn 50 năm hơn 264 nghìn ha rừng đầu nguồn; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Theo chỉ thị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Kết quả cho thấy 10 tỉnh [các tác giả chỉ liệt kê 9 tỉnh, tức sót một tỉnh – người biên tập] đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305,3534 nghìn ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 nghìn ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Cho Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn đầy hiểm họa. Họ đã thuê được thì họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá thì hồ thuỷ lợi sẽ không còn nguồn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ thiếu nước không còn tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp. Năm qua nhiều tỉnh miền Trung đã hứng chịu đủ, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao?
Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Nếu chúng ta không có biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những “làng Đài Loan”, “làng Hồng Kông”, “làng Trung Quốc”. Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và còn nguy hiểm cho quốc phòng.
Chúng tôi đồng ý với 5 đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Xin nói rõ 2 đề nghị đầu:
1. Đối với một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Những tỉnh chưa ký thì đình chỉ ngay; thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng để thực hiện. Thực tế đất rừng đã giao cho đồng bào sử dụng gần hết. Nếu ký cho nước ngoài thuê sẽ đụng đến môi trường, đụng đến quyền lợi đồng bào, nhất là đồng bào miền núi, đang thiếu đất, sẽ nảy sinh nhiều vấn đề rất phức tạp.
2. Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường xây dựng bộ phận chuyên trách. Trong vòng 1 năm, chính thức giao đất, khoán rừng cho từng hộ; cấp quyền sử dụng đất vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.
Từ đây, chúng tôi đề nghị mở rộng chương trình xóa đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp tái định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đất rừng đầu hộ của đồng bào miền núi còn trên 4 ha. Tuy không nhiều, nhưng vẫn gấp 3 lần ở đồng bằng; ở đây, thực hiện được đa canh, đa con. Đặc biệt kết hợp tốt trồng rừng phòng hộ với rừng kinh tế. Lùi về trước đã có mô hình tỉnh Tuyên Quang nhân dân ta tự trồng rừng, đảm bảo nguyên liệu cho nhà máy Bãi Bằng. Vậy bây giờ có điều kiện hơn, tại sao lại giành cho nước ngoài?
Đất đai là thứ nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của nhân dân, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng. Trước mắt đề nghị Chính phủ cho đình chỉ ngay việc cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn dài hạn với diện tích lớn, dù có phải bồi thường cũng được, để tránh thảm họa cho dân cho nước.
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
HAI TƯỚNG CS CHỈ RA HIỂM HỌA Bùi Tín Paris đêm 30 Tết Canh Dần (13-2-2010)
Ngày cuối năm âm lịch, mở mạng Bauxite-info, bên những bông hoa mai vàng và lời chúc Tết đẹp là một bài viết rất "nóng" của 2 tướng ở trong nước.
Đó là trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.
Bài viết được mạng Bauxite.info giới thiệu một cách trang trọng.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên vốn là phó tổng tham mưu trưởng, từ 1967 đến 1975 là Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn dọc đường "mòn" Hồ Chí Minh, là một binh đoàn tương đương 5 sư đoàn, ngang với 2 quân đoàn, có quân số 42 ngàn quân, gồm vận tải cơ giới, công binh, phòng không, thông tin, ra-đa, bộ binh, cao xạ, kho tàng, ống dẫn dầu, giao liên, thanh niên xung phong ... rải dài hơn 1 ngàn kilômét. Sau chiến tranh ông là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng giao thông vận tải, là uỷ viên bộ chính trị trung ương đảng trước khi về hưu năm 1988.
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh vốn là uỷ viên trung ương đảng, bí thư tỉnh uỷ Thanh hoá, là đại sứ VN tại Trung quốc suốt 15 năm, từ 1974 đến 1989 (trong cuộc chiến Trung-Việt) về hưu năm 1990.
Đặc điểm của 2 tướng này là uy tín lớn trong Quân đội nhân dân, có ảnh hưởng sâu rộng trong cựu chiến binh, tướng Đồng Sỹ Nguyên có 200 ngàn binh sỹ từng dưới quyền, vẫn còn quan hệ với nhau trong "hội " cựu binh Trường Sơn; tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nổi tiếng về tính bộc trực ngay thẳng, hiện là phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt nam, có hàng triệu hội viên rải khắp nước.
Cần nói thêm 2 tướng này năm 2009 vừa qua đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối, ngăn chặn chủ trương khai thác bôxít ở Tây Nguyên của bộ chính trị hiện tại, cũng cùng lên tiếng qua mạng Bauxite.info do nhà văn hoá Nguyễn Huệ Chi chủ trương, nay lại cùng chung bài viết đề ngày 22-1-2010, nhưng chỉ xuất hiện sáng ngày 12-2-2010 trên mạng Bauxite đang bị đánh phá dữ dội. Sự chậm trễ 20 ngày cho thấy bài báo đã bị các báo lớn nhất từ chối, tẩy chay do tệ độc quyền báo chí chà đạp Hiến pháp của bộ chính trị đương quyền.
Lại cũng cần thưa thêm với độc giả trong và ngoài nước rõ, 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh, từ năm 2004, cũng có lập trường chung tố cáo mạnh mẽ, công khai vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II và T4, vụ án đã được trung ương đảng khoá IX cử ra Ban Kiểm tra Liên ngành điều tra và kết luận, Ban này đã hoàn thành báo cáo, nhưng bộ chính trị do ông Mạnh cầm đầu đã ngang nhiên "khoanh lại" để ỉm đi một cách vô nguyên tắc, nhằm bảo vệ uy tín, che dấu trọng tội của 2 ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. 2 ông này đã được gần như toàn xã hội và đa số đảng viên nhận diện như là "bạn tốt" nhất, "đồng chí tốt" nhất của thế lực bành trướng Bắc Kinh.
Trong bài viết mới này, 2 ông tướng đã báo động khẩn cấp việc cấp uỷ đảng cùng chính quyền ở 10 tỉnh đã ký kết với 10 doanh nghiệp Trung quốc đóng tại Trung quốc, Hồng kông và Đài Loan, những thoả thuận cho phép họ thuê đất và rừng để kinh doanh trong một thời gian rất dài.
Danh sách các tỉnh đó là : Lạng sơn, Quảng ninh, Cao bằng, Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng nam, Bình định, Kon tum và Bình dương.
Diện tích cho thuê tổng cộng là 264.000 hec-ta rừng phần lớn ở đầu nguồn, các tỉnh biên giới (theo báo cáo kín của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) .
Các thoả thuận đều có giá trị trong thời gian 50 năm, và sẽ kéo dài hơn sau đó. Hai viên tướng chỉ rõ hiểm họa cực lớn cho đất nước, cho cuộc sống và an ninh của nước ta, cho nền quốc phòng của quốc gia. Tướng Đồng Sỹ Nguyên sinh năm 1923, nay 87 tuổi. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, 94 tuổi.
Hai viên tướng báo động : họ sẽ tha hồ chặt phá cây rừng từ đầu nguồn, hồ sẽ cạn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ chết, mội trường sẽ bị huỷ hoại.
Hai viên tướng kết luận : đây là một cuộc tự sát của quê hương đất nước.
2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh đề nghị với đảng, nhà nước và nhân dân : - với những thỏa thuận đã lỡ (!) ký rồi, hãy thuyết phục các công ty nước ngoài khoán cho đồng bào ta ở tại chỗ khai thác đất rừng, đề phòng họ sẽ đưa lao động dân nước họ vào lập thành những làng Trung hoa, làng Hồng kông, làng Đại hàn trên đất nước ta . - với những thoả thuận đang thương lượng thì đình ngay lại !
Cuối cùng 2 ông yêu cầu đảng và nhà nước thực hiện ngay và rộng khắp việc giao khoán đất rừng cho từng hộ đồng bào ta là dân địa phương tại chỗ.
Tiết lộ và ý kiến của 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh là hết sức khẩn cấp và nghiêm trọng.
Vì ông Đồng Sỹ Nguyên khi còn là Phó thủ tướng đã chịu trách nhiệm thực hiện Chương trình 327 của chính phủ là Chương trình Quốc gia Phủ xanh đồi trọc và Bảo vệ rừng.
Bài viết của 2 ông tướng này còn cực nóng vì phơi bày một loạt việc làm chui, khuất tất, ám muội, mang tính hại nước hại dân, có thể xếp vào tội phản quốc, do chính quyền và đảng uỷ các tỉnh, huyện thực hiện thông đồng với các công ty của thế lực bành trướng với các khoản đút lót, hối lộ béo bở, được một số quan chức trong chính phủ, một số bộ trưởng lớn nhất, có thể trong cả bộ chính trị đỡ đầu, yểm trợ để kiếm phần siêu lợi khổng lồ. Họ sẽ thâm thù 2 ông tướng.
Anh Nguyễn Huệ Chi linh cảm rõ điều ấy. Anh nghĩ họ có thể bóp cho mạng của anh nghẹt thở hẳn do tin tày trời mang bí mật quốc gia cực kỳ nhạy cảm này. Anh thề sẽ hiến cho sự thật, cho nhân dân đến gịot máu cuối cùng của anh, để mạng bauxite ngang nhiên sống khỏe.
Chính vì vậy mà ngày cuối năm 30 Tết tôi cặm cụi gõ bài này và gửi lời chúc chân thành nhất đến nhóm Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng cùng hơn 4.000 anh chị trí thức đã ký kiến nghị Bôxit, cũng như đông đảo bạn yêu nước, yêu tự do trong số gần 20 triệu độc giả quen thuộc của mạng này.
Bùi Tín Paris đêm 30 Tết Canh Dần (13-2-2010)
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 18.02.2010
| | | |
NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:
CHỦ ĐỀ: GIÁO DÂN ĐỐI THỌAI VỚI HY.MẪN: CỐ TÌNH CẮT NGHĨA SAI HUẤN DỤ CỦA ĐỨC GIÁO HÒANG GIOAN-PHAOLÔ II
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 18.02.2010
Chúng tôi viết lại HUẤN DỤ CỦA ĐỨC GIÁO HÒANG GIOAN-PHAOLÔ II ở đây để cho Giáo dân thấy rằng HY.PHẠM MINH MẪN đã cố tình cắt nghĩa sai Huấn dụ của Đức Thánh Cha để đánh lừa Giáo dân rằng Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II chủ trương kiểu ĐỐI THỌAI làm lợi cho Cộng sản như Hồng y hay một vài Giám mục khác đang tiếp tay cho CSVN trong việc dẹp Phong trào Giáo dân đang đứng lên lúc này theo Đức Tin và Lương Tâm của mình.
Ngày 22.01.2002, các hãng Thông Tấn ZENIT cũng như FIDES từ Vatican đã loan tin về Huấn Dụ của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, người đã đã sống và đã hiểu những mưu mô qủy quyệt của Cộng sản, trong dịp gặp trực tiếp giữa Ngài và hàng Giám Mục Việt Nam gồm 26 Vị Giám Mục tới Vatican. Đức Thánh Cha trả lời từng điểm cho một THỈNH NGUYỆN THƯ đồng ký bởi 158 Linh mục và 24'601 Giáo dân nhân cuộc đấu tranh của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ. Ngài khuyên giải mọi người hãy can đảm đấu tranh về từng điểm một như sau:
1) Mẹ Giáo Hội VN có 6 triệu người con chưa được hưởng những quyền thiết cần cho Tự do Tôn Giáo.
Đức Thánh Cha tỏ sự vui mừng khi nghe Mẹ Giáo Hội VN có 6 triệu người con, đó là chưa kể những người cùng dòng máu Việt đang tản mác khắp nơi trên 70 nước. Đức Thánh Cha đã nghe trực tiếp lời khẳng định của Đức Cha NGUYỄN VĂN HÒA :“Giáo Hội VN hiện nay không được hưởng những quyền tự do thiết cần.“ Đức Thánh Cha mủi lòng và thương 6 triệu người con. Ngài đã nguyện xin trao phó Mẹ Việt Nam với 6 triệu người con ấy trong cánh tay can thiệp của Đức Mẹ LA VANG.
2) Giáo Hội không phải bị ràng buộc vào bất cứ một hệ thống Chính trị nào.
Trích dẫn Công Đồng Vatican II, Đức Thánh Cha đã tái khẳng định nguyên tắc căn bản rằng Giáo Hội, vì nhu cầu tôn giáo chính đáng riêng của mình, không thể pha trộn lẫn lộn với với bất cứ một tập thể chính trị nào dù bằng sự viện lẽ bất cứ lý do nào đi chăng nữa.
3) Sự thiện rất qúy báu của Tự do Tôn Giáo
Đức Thánh Cha đi vào chi tiết hơn và hòan tòan ca ngợi rằng điều tốt đẹp vô cùng qúy giá là quyền Tự do Tôn giáo. Quyền Tự do Tôn giáo này được đặc biệt quan tâm tới bởi Công Đồng Vatican II, bởi những Tuyên Ngôn và bởi những Khế Ước quốc tế, không phải chỉ cho những cá nhân mà đồng thời phải cho những Tập Thể Tôn Giáo. Đối với những cá nhân, quyền Tự do Tôn giáo này bảo đảm quyền tuyên xưng Đức Tin và quyền Hành Đạo. Đối với những Tập Thể Tôn Giáo, quyền Tự do Tôn Giáo hàm ngụ việc bảo đảm những quyền căn bản như quyền điều hành tự trị, quyền cử hành việc thờ phụng công cộng mà không bị hạn chế, quyền dậy dỗ công khai lòng tin và quyền làm chứng đức tin bằng lời nói hay bằng bản viết, quyền khai triển sức mạnh đơn thuần của học thuyết xã hội của Tập Thể, quyền cổ võ những sáng kiến trong những lãnh vực giáo dục, văn hóa, bác ái và xã hội.
4) Đức Giáo Hòang cầu nguyện và cổ võ cho lòng can đảm
Đức Giáo Hòang đã kêu gọi tất cả Cộng Đồng Công Giáo VN hãy “TIẾN RA KHƠI“ với một sức mạnh mới. “RA KHƠI“ ở đây theo ý nghĩa của Huấn Dụ là phải can đảm dứt bỏ cảnh ao tù hiện hành để cương quyết tìm một hướng đi mới không bị kềm chế, nhưng thóang đạt, thênh thang như biển khơi cho Giáo Hội. Ngài tha thiết nhờ cậy các Giám mục Việt Nam một điều:“Khi anh em (các Giám mục) trở lại Quê Hương trọng qúy của anh em, thì hãy nói cho các Linh mục, các Tu sĩ Nam, Nữ, cho những người dẫn dậy Giáo lý, cho tất cả Giáo dân và đặc biệt cho những người Trẻ rằng Tôi đang cầu nguyện cho họ và đang cổ võ họ hãy CAN ĐẢM thắng vượt những trở ngại, hãy lấy gương các Thánh và các Vị Tử Đạo đã tiên phong trước họ trên đường ĐỨC TIN và máu của những Vị ấy đang hiện diện như hạt giống của một ĐỜI SỐNG MỚI cho tòan thể qúy Quê Hương của Anh em.“
Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô nói rằng nếu Nga cho quân đội tràn vào Ba-Lan để đàn áp, thì Ngài cởi áo Giáo Hòang để về Ba-Lan cùng CHIẾN ĐẤU với Dân của Ngài. Ngài không nói là về Ba-Lan để ĐỐI THỌAI với Cộng sản Nga bởi vì Ngài đã quá biết sự giả dối của Cộng sản.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 18.02.2010
NHỮNG ĐIỂM THỜI SỰ QUAN TRỌNG ĐÁNG GHI LẠI ĐỂ NHẬN ĐỊNH
NGUYỄN PHÚC LIÊN
* Trung quốc mất ăn mất ngủ vì món tiền Hoa kỳ nợ (China losing appetite for US debt) (CNN 17.02.2010; Le Monde 18.02.2010, p.12; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.32)
* Trung quốc muốn chuyển sản xuất một số hàng sang Aán độ để dễ xuất cảng (Financial Times 17.02.2010, p.14)
* Những khó khăn Chính trị và Kinh tế Trung quốc (Financial Times 17.02.2010, p.9; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.9)
* Những triệu chứng nguy hiểm cho việc tái khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế (Le Monde 17.02.2010, p.12)
* Hoa kỳ tỏ ra cứng rắn trong vấn đề trừng phạt Iran (Le Temps 17.02.2010, p.1, p.5; The Wall Street Journal 17.02.2010, p.10)
* Bruxelles đặt những điều kiện khắt khe đối với Athens (Fiancial Times 16.02.2010, p.1; Le Monde 16.02.2010, p.15; Le Temps 16.02.2010, p.1)
* Mặc dầu bị tấn công mọi phía, một cuộc thăm dò dư luận cho thấy rằng 62% dân Thụy sĩ (68% giới trẻ) sẵn sàng bầu phiếu chủ trương Bí Mật Ngân Hàng. (Le Figaro 15.02.2010, p.22)
* Khủng hỏang Hy-lạp lan sang Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Liệu có ảnh hưởng sang Mỹ hay không ? “It began in Athens. It is spreading to Lisbon and Madrid. And America ?” (Financial Times 11.02.2010, p.9)
* Bernanke làm thế nào đưa FED ra khỏi chiến lược kích thích tài chánh. (Financial Times 10.02.2010, p.3; The Wall Street Journal 11.02.2010, p.6; Financial Times 11.02.2010, p.4)
* Đồng Euro và Khủng hỏang Tài chánh Liên Aâu. Những công kích đồng Euro. (Le Monde 10.02.2010, p.1, p.8)
* Cứu vớt phá sản Hy-lạp: Bộ trưởng Tài chánh G7 họp. Thượng đỉnh Liên Aâu họp bất thường để lấy quyết định. Những nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cũng lo sợ như Hy-lạp. (The Wall Street Journal 08.02.2010, p.5; Le Figaro 08.02.2010, p.22; Financial Times 09.02.2010, p.4; The Wall Street Journal 09.02.2010, p.4; Le Monde Economie 09.02.2010, p.2; The Wall Street Journal 10.02.2010, p.1; Financial Times 10.02.2010, p.1, p.16; Le Monde 11.02.2010, p.1, p.8; The Wall Street Journal 11.02.2010, p.1; TSR1, France 2, TF1 11.02.2010)
* Nạn sữa độc Melamine Trung quốc vẫn hòanh hành (The Wall Street Journal 09.02.2010, p.10)
* Ý-đại-lợi (Thành phố Tuscan) xiết chặt thợ may dệt Trung quốc tràn sang: ”Enough is enough !” (Financial Times 09.02.2010, p.2)
* Trung quốc lợi dụng vụ Nguyên tử Iran để tăng cường thương mại với nước này (Financial Times 09.02.2010, p.2)
* Nguyên tử Iran làm Tây phương nóng đầu và tìm cách trừng phạt. (Le Figaro 08.02.2010, p.1; Le Monde 09.02.2010, p.1; Le Monde 10.02.2010, p.2; The Wall Street Journal 10.02.2010, p.12; Financial Times 10.02.2010, p.6)
* Tiền Thụy sĩ trở thành Tiền tỵ nạn Lịch sử cho Tài chánh (Le Temps 08.02.2010, p.1)
* Trung Cộng: Con cái những lãnh tụ lớn được thăng quan tiến chức, nhất là trong cấp bậc về Kinh tế để sửa sọan cho Đại Hội đảng năm 2012. (Le Temps 08.02.2010, p.5)
* So sánh việc thóat Khủng hỏang Kinh tế giữa Hoa kỳ và Liên Âu (Le Monde 04.02.2010, p.1, p.6, p.13)
* Thượng viện Hoa kỳ và Chương trình Volcker về Kiểm sóat Ngân Hàng (Financial Times 04.02.2010, p.4; The Wall Street Journal 03.02.2010, p.1; Financial Times 03.02.2010, p.3)
* Thái độ của Hoa kỳ qua những vụ: Google, Bán Vũ khí cho Đài Loan và Obama gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng. (Le Monde 03.02.2010, p.4; Financial Times 03.02.2010, p.1; Le Monde 02.02.2010, p.6; Financial Times 01.02.2010, p.1, p.6; Le Figaro 01.02.2010, p.6)
* Thụy sĩ nhất quyết cho hai người Duy-ngô-nhĩ Tân Cương ra tù từ Guantanamo, mặc dầu Trung quốc cực lực phản đối. Tính các Độc lập của Dân Thụy sĩ khi quyết định không xây Tháp Hội đườn Hồi Giáo trên Lãnh thổ họ, mặc dầu cả Thế giới Hồi Giáo phản đối và đòi kiện ra Tòa án La Haye. (Le Temps 03.02.2010, p.9; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.7)
* Vai trò Kinh tế Đài Loan được Hoa kỳ nâng đỡ để làm giảm cao ngạo của Trung quốc Lục địa. (Financial Times 02.02.2010, p.12; Le Temps 02.02.2010, p.2, p.4)
* Thái độ của Davos 2010 dối với những công kích Tài chánh Tư bản của TT.Sarkozy (Fiancial Times 02.02.2010, p.13; Le Monde 02.02.2010, p.1)
* Davos 2010 nhận định về những Quốc gia bắt đầu phát triển, những đe dọa cho Tây phương. (Le Monde 02.02.2010, p.2; Le Figaro 01.02.2010, p.24)
* Thụy sĩ tháo gỡ những công kích về những người trốn thuế gửi tiển tại Thụy sĩ. Nhưng những người có tiền triệu, tiền tỉ tự hỏi: vậy thì cất tiền ở đâu cho vững ? (Le Temps 02.02.2010, p.8; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.1,p.3; Financial Times 01.02.2010, p.4; Le Temps 01.02.2010, p.1; The Wall Street Journal 01.02.2010, p.1; The Wall Street Journal 28.01.2010, p.23;)
* Ngân Sách Hoa kỳ và $1’600 tỉ nợ năm 2011. (Le Monde 02.02.2010, p.15; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.8)
* IMF phát biểu tại Davos 2010: Kiểm sóat Ngân Hàng phải được phối hợp chung, chứ không thể từng vùng. (The Wall Street Journal 01.02.2010, p.5)
* Davos 2010 không hồ hởi cho lắm về khả năng thóat khủng hỏang Kinh tế Thế giới. Vấn đề chính yếu vẫn còn quanh quẩn ở nợ nần ngân sách các quốc gia và điều chỉnh các Ngân Hàng. (Le Temps 01.02.2010, p.22)
* Trung quốc hờ hững việc trừng phạt nguyên tử Iran (The Wall Street Journal 01.02.2010, p.9)
* Hoa kỳ tăng cường quân sự trong vùng Vịnh Trung Đông vì Iran và Khủng bố (Le Figaro 01.02.2010, p.8)
* Nông dân Trung quốc nổi dậy ủng hộ việc chống lại tham nhũng (Le Monde 28.01.2010, p.7)
* Diễn văn của Sarkozy tại Davos muốn cải cách Tư bản chủ nghĩa. Đòi kiểm sóat Ngân Hàng, nhưng làm sao kiểm sóat được Ngân Hàng Trung quốc. Phản ứng của giới Ngân Hàng gia tại Davos. (Le Temps 28.01.2010, p.15; The Wall Street Journal 28.01.2010, p.1; Financial Times 28.01.2010, p.4)
* Tây phương đã quá thổi phồng Kinh tế Trung quốc. Thực tế thì khác. (Financial Times 28.01.2010, p.11)
NGUYỄN PHÚC LIÊN
| | | |
HÃY CÙNG ĐỨNG LÊN ĐẢM TRÁCH SỰ CỨU KHỔ TRỪ NGUY LÝ ĐẠI NGUYÊN
Trong Thông Điệp Xuân Canh Dần 2010 của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Tống, kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo đã đưa ra lời kêu gọi bức thiết đối với hàng giáo phẩm Tăng, Ni, Phật Tử trong và ngoài nước là: “hãy cùng đứng lên đảm trách sự cứu khổ trừ nguy mà Đức Phật đã trao truyền”. Ngài nhận định rằng: “Nhân dân Viêt nam, trong đó có Phật tử, phải được sống trong an lạc và tự do để phát triển. Phát triển đời sống vật chất, cũng như đời sống văn hóa và tâm linh. Vì vậy Giáo Hội phải nói lên ngưỡng vọng của 85 triệu người đòi hỏi cuộc sống nhân quyền và dân chủ để phát triển. Hơn nữa, hiện nay chủ quyền dân tộc bị uy hiếp bằng những “quyền lực cương, hay quyền lực nhu” của các manh tâm nước lớn. Phật tử là người hiểu thời thông biến, nên không thể nhắm mắt quay lưng trước các ý đồ mãi quốc. Nước mất thì đạo suỵ Cho nên giữ nước là con đường dân tộc hai nghìn năm cứu mình, cứu người, đưa quê hương thoát ly xâm lăng, nô lệ và cuồng tín”.
Ngài xác định vị thế của người Phật tử Viê.tnam trong một thế kỷ rưỡi qua là vị thế của những người dân bị trị, trong một nước lệ thuộc ngoại bang, do đó đã tạo thành cuộc vận động trường kỳ đòi tự do tôn giáo, tự do dân chủ, tự do ngôn luận, tự chủ dân tộc và an bình thế giớị Nên, vị thế của Giáo Hội Phật Giáo Viê.tnam Thống Nhất ngày nay là vị thế của một Tôn Giáo đối với chính sách sai lầm của nhà đương quyền Cô.ngsản Viê.tnam về con người, dân tộc và nhân loại, theo sứ mạng và trách nhiệm của một tôn giáo, chứ không theo cương vị chính trị của quyền lực cai trị hoặc đảng phái tranh quyền. Thông điệp viết tiếp “Tâm tư của người Phật tử ngày nay là tâm tư của kẻ bị dầy xéo từ một thế kỷ rưỡi qua, vì những thế lực ngoại lai muốn biến Viê.tnam thành chiến trường, thị trường, thay vì đạo trường. Tâm tư ấy biến thành cuộc vận động không ngưng nghỉ của Phật giáo suốt thế kỷ XX cho đến nay để phục vụ dân tộc, tổ quốc, nhân loại theo sứ mệnh tôn giáo, chứ không theo cương vị chính tri.. Vì vậy mà thái độ của Giáo hội đối với nhà đương quyền Xã Hội Chủ Nghĩa là thái độ của tôn giáo đối với những chính sách sai lầm, những khuynh loát chính trị, những lạm dụng đất nước và quần chúng”.
“Cụ thể của chính sách sai lầm, khuynh loát chính trị, lạm dụng đất nước và quần chúng vừa được một lần nữa thấy rõ trong những ngày vừa quạ Khi nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa đưa ra tòa án giả trá những phần tử ưu tú tương lai của đất nước. Những người tay không tấc sắt với tấm lòng ưu tư trước nạn ngoại xâm và đời sống không có nhân quyền dân chủ, mà nhà nước và đảng chẳng đoái hoàị Giáng xuống họ những bản án giam tù và quản thúc nặng nề, khiến dư luận trong ngoài nước công phẫn khinh miệt. Đây là bản án của chế độ Thực Dân đầu thế kỷ XX đang được tái hồi cho toàn thể dân tộc vào đầu thiên niên kỷ thứ ba”. Hơn ai hết, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, và Giáo Hội Phật Giáo Viê.tnam Thống Nhất đã, đang là người tù lương tâm, là Giáo Hội bị đặt ngoài vòng luật pháp, là nạn nhân trực tiếp của chế độ bạo trị, độc đảng, độc tài, độc ác, và thứ toà án giả trá phi pháp, cũng giống như những người ưu tú tương lai của đất nước, vì đòi hỏi dân chủ hóa chế độ, và ưu tư trước nạn ngoại xâm vừa bị án tù. Chính vị vậy, mà lời kêu gọi “Hãy cùng đứng lên đảm trách sự cứu khổ, trừ nguy” đúng là tiếng kêu trầm thống của cả một dân tộc đang vọng ra từ ngục tù Viêt cộng, buộc mọi người chúng ta phải đáp ứng.
Khi đảng và nhà cầm quyền Viêt cộng, chỉ biết tới quyền lợi của đảng trên lợi ích của dân, của nước, cộng với quán tính tàn bạo man rợ vô thiên, vô luân, vô pháp, tùy tiện của họ thì không chỉ coi người dân là đối tượng khống chế, đàn áp, bóc lột, bán buôn, mà còn coi nước là một món hàng trao đổi lấy quyền lực, quyền lợi với ngoại nhân nữạ Khi nhà cầm quyền và dân chúng nhìn nhau là đối tượng phải đối phó, thì nhà cầm quyền thường có khuynh hướng dựa vào thế lực ngoại bang, nhằm củng cố quyền hành và đàn áp dân để tồn tạị Đồng thời tìm mọi cách bưng bít thông tin đối với dân chúng và dối gạt thế giớị Nhưng thời đại thông tin điện tử cực bén của thế giới hôm nay đã theo sát những sinh hoạt của các chính quyền, nhất là đối với các chế độ nổi tiếng bưng bít thông tin, tuyên truyền méo mó như chế độ Vìêt công. Nên những bản án mà Viêt cộng kết cho những người đấu tranh dân chủ và chống Trungcộng xâm lăng vừa qua, đã làm cho dư luận thế giới đánh giá về tình trạng luật pháp và tòa án Viê.tcộng là một nền tư pháp man rợ, lạc hậu, tồi tệ nhất thế giới hiện nay, khiến cho dư luận trong, ngoài nước công phẫn, khinh miệt. Chính vì vậy mà vai trò ngoại giao của Viê.tnam trên trường quốc tế bị xem rẻ. Đúng như Ngài Quảng Độ đã nhắc trong Thông Điệp.
Giới cầm quyền Viê.tcộng không phải không biết thế. Nhưng bản chất chế độ đã là như vậy rồị Nếu không thay cả cái chế độ gọi là Mác-Lê-Hô ` chết tiệt đó đi, thì dù dân chúng có oán ghét, thế giới có khinh khi cách mấy thì cũng đành chịu thôị Không dám Dân Chủ Hóa Chế Độ thì không thể thóat khỏi cái chế độ lừa bịp, dối trá, tham ô, và bán nước, để hòng huy động sự hậu thuẫn của toàn dân và dư luận quốc tế và công cuộc dựng nuớc và cứu nước. Việc dựng nước thì Viê.tcộng đã tỏ ra hoàn toàn bất lực. Vì họ đã chọn sai đường. Từ tiến lên chủ nghiã xã hội mơ hồ, đã rơi tuột xuống chủ nghĩa tư bản man rơ.. Vì không có con đường nào đưa nhân loại tới được thứ chủ nghĩa xã hội hoang tưởng của Marx-Engels. Nên Liên xô và thế giới Công sản đã xụp đổ. Trung cộng và Viêt cộng biến chất thành thứ tư bản quái đản không giống ai. Nhưng Trung cộng là một nước lớn, lại được Hoa kỳ ráng sức thổi lên thành hàng cường quốc kinh tế, để thành con ‘ngáo ộp’ hù thiên ha.. Sẵn đà đó, Trung cộng khơi lại truyền thống Đế Quốc Đại Hán nơi tinh thần của người dân Trung hoa, mở ra hy vọng Bành Trướng khắp vùng, khiến cho người dân Trung hoa quên đi cảnh bị đảng khống chế bóc lột.
Nhưng Viêt nam lại ở thế nước nhỏ, mà Viêt cộng vốn cam tâm làm đàn em cho Trung cộng, từng dâng đất, biển, đảo, quyền khai thác tài nguyên và cho Trung cộng đem người vào khai thác. Đồng thời bỏ ngỏ thị trường cho hàng hóa Trung cộng tràn vào bóp chết nền kinh tế non yểu của người Việt. Nguy hiểm hơn nữa theo sự tố cáo của 2 viên tướng về hưu của Viêt cộng là Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh thì 10 tỉnh đầu nguồn Viêt nam như Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kontum, Bình Dương đã cho 10 doanh nghiệp Trung cộng, Hồng Kông, Đài Loan thuê dài hạn 50 năm để trồng rừng nguyên liệu, rồi có thể ai cấm được họ cho lập làng Trung hoa khai khẩn ở đây lâu dài, biến đất Việt thành đất Hoạ Theo 2 tướng Nguyên, Vĩnh thì “Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan tới an ninh nhiều mặt của quốc giạ Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của còn làm lại được. còn mất đất là mất hẳn”. Như vậy mà toàn dân trong, ngoài nước không “cùng đứng lên cứu khổ, trừ nguy” thì đợi đến bao giờ?
Little Saigon ngày 16/02/2010.
VIỆT NAM PHÁ GIÁ ĐỒNG BẠC
VN phá giá đồng bạc vào ngày 28 Tết Thứ Tư, 10 tháng 2 2010
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND áp dụng kể từ ngày 11/2/2010 là 18.544 đồng ăn 1 đôla Mỹ.
Hôm thứ Tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam loan báo định giá lại đồng tiền lần thứ nhì kể từ tháng 11, giảm giá tiền đồng thêm hơn 3% nhằm giữ cân đối trên thị trường ngoại hối và kiểm soát thâm hụt thương mại.
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND áp dụng kể từ ngày thứ Năm, 11 tháng 2, tức 28 Tết, sẽ là 18.544 đồng ăn 1 đôla Mỹ, tức là giảm giá 3,25% theo cách tính của IMF. Trước đó, 1 đôla Mỹ chỉ đổi được 17.941 đồng.
Thông báo của ngân hàng này cho biết mục đích của việc điều chỉnh tỷ giá là nhằm “cân đối hài hoà cung - cầu ngoại tệ, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô.”
Ngoài ra, cũng kể từ ngày 11 tháng 2, lãi suất tiền gửi tối đa bằng đôla Mỹ của tổ chức kinh tế, ngoại trừ tổ chức tín dụng, tại tổ chức tín dụng sẽ có mức tối đa là 1% một năm.
Theo tin Reuters, các biện pháp này nhằm đưa thêm đôla ra ngoài thị trường.
Ðồng bạc Việt Nam đã chịu áp lực từ nhiều tháng qua, một phần là do thiếu đôla, một phần vì sự thiếu tin tưởng vào đồng bạc Việt Nam, do thâm hụt thương mại và có thể lạm phát. Việt Nam ước lượng thâm hụt thương mại trong tháng 1 là 1,3 tỉ đôla và lạm phát là 7,62%.
Việc điều chỉnh tỷ giá xảy ra vào giáp Tết, khi có nhiều nhu cầu về tiền mặt và thanh khoản ngân hàng.
Hôm thứ Hai, ngân hàng HSBC báo cáo áp lực đối với tiền đồng sẽ kéo dài nếu không có hành động.
Nguồn: Wall Street Journal, Reuters, http://www.sbv. gov.vn/vn/ home/tintuc. jsp
ÔM BÁM HỆ THỐNG ĐỘC QUYỀN
Ngô Nhân Dụng
Việt Nam mới giảm giá đồng tiền so với đô la Mỹ, lần thứ hai kể từ tháng 11 năm ngoái. Kể từ tháng 6, năm 2008, thì đây là lần thứ tư đồng bạc Việt Nam bị phá giá. Đồng tiền bị áp lực của thị trường chợ đen đẩy xuống, trong khi hối suất chính thức là 17,941 đồng lấy một đô la thì chợ đen trả gần 19,250 đồng. Chính quyền cộng sản muốn thu đô la vào hệ thống ngân hàng; tăng giá Mỹ kim để những người có đô la đem tiền Mỹ tới đổi cho các ngân hàng thương mại, thay vì đem đổi chợ đen được giá lời hơn. Sau khi bị phá giá hai lần trong ba tháng, bây giờ ở các ngân hàng giá chính thức đồng đô la cũng lên tới 19,100 đồng.
Nhưng liệu đảng Cộng Sản có đạt được mục đích gom đô la vào trong các ngân hàng hay không? Tổng giám đốc Ngân hàng Sacombank cho biết trong năm 2009 đã chuyển gần một tỷ đô la (850 triệu) tiền do người Việt ở nước ngoài gửi về, nhưng chỉ có 10% số tiền đó được những người nhận tiền bán lại cho ngân hàng này - tức là 90% những đồng đô la gửi về Việt Nam ra đi theo con đường tìm về chợ đen. Nhà nước cộng sản hoàn toàn bất lực không thể ngăn cấm chợ đen. Không thể đem công an ra đứng chỉ đường bắt đô la Mỹ phải đi theo chỉ đạo của đảng. Những người tổ chức chợ đen mạnh hơn cả công an, họ có thể chính là công an cùng với những kẻ nắm đầu công an!
Việc tăng hối suất của đồng đô la cho bằng giá chợ đen khó thu tiền Mỹ về cho các ngân hàng. Vì khi có những người cần đi mua đô la ở chợ đen vì những lý do riêng, họ sẽ sẵn sàng trả giá cao, thì sẽ có người bán đô la ở chợ đen. Những lý do riêng đó là gì? Có hàng ngàn lý do khác nhau trong một nền kinh tế mờ mờ ảo ảo, đa số những người kiếm nhiều tiền nhất không phải vì họ làm ăn, kinh doanh giỏi, thành công, mà vì những lý do khác! Những người đó có đủ lý do để che giấu những đồng tiền kiếm được, mà một cách giấu rất tiện là đổi lấy đô la Mỹ rồi đem chuyển dần dần ra nước ngoài mà không phải đi qua hệ thống ngân hàng chính thức.
Người ta càng ngần ngại đem tiền Mỹ đến gửi tại ngân hàng, vì lãi suất cho tiền đô la ký thác chỉ có 1%. Khi còn nhu cầu đổi tiền chợ đen thì rất nhiều người sẽ sẵn sàng đóng vai “ngân hàng đen,” tức là giữ đồng đô la, để chờ ngày đem ra đổi, biết thế nào giá cũng sẽ tăng lên. Họ chỉ cần nhìn vào cung cách quản lý nền kinh tế của đảng Cộng Sản Việt Nam là đoán được rằng giá đồng đô la sẽ còn tăng nữa.
Có nhiều lý do khiến đồng bạc Việt Nam xuống giá. Khi mối đe dọa lạm phát vẫn còn treo trên đầu mọi người, thì đứng trước viễn ảnh giá sinh hoạt sẽ tăng tâm lý chung của người dân là có đồng nào đem tiêu xài ngay, kẻo mai mốt tiền sẽ mất giá. Riêng tâm lý lo sợ đó cũng khiến lạm phát trở thành sự thật; vì khi mọi người thi đua đi mua sắm thì giá cả tất phải tăng lên! Hàng nhập cảng vào Việt Nam, dù hàng tiêu thụ hay các nguyên liệu dùng vào việc sản xuất, hầu hết phải trả bằng đô la Mỹ. Dù giá các món hàng đó không thay đổi trong thị trường quốc tế, nhưng khi đô la Mỹ lên giá đối với tiền Việt Nam thì tự nhiên đối với những người dân tiêu dùng tiền Việt các món hàng nhập cảng đều tăng giá hết. Khi nhà nước tăng giá đô la Mỹ, người dân sẽ thấy là mối lo lạm phát của mình có cơ sở vững chắc, họ càng tin tưởng thế nào lạm phát cũng còn lên nữa. Lạm phát ở Việt Nam năm 2007 có lúc đã lên tới 60% một năm, năm 2008 giảm xuống còn 23%; năm ngoái đã giảm được xuống dưới 7%, nhưng các nhà kinh tế tiên đoán năm nay lạm phát sẽ lên trên 7%.
Như vậy thì giảm giá đồng bạc Việt Nam đối với đô la Mỹ để làm gì nếu số đô la thu vào các ngân hàng chưa chắc đã tăng mà mối lo lạm phát càng thêm nặng? Chúng ta khó biết những động cơ nào đưa tới các quyết định kinh tế của một nhà nước cộng sản. Họ thường quyết định trong vòng bí mật, với những lý do bí mật.
Có một hồi ở bên Nga người ta làm luật cấm không cho dùng xe với bánh lái bên tay phải (Chỉ ở những nước luật đi đường bắt lái xe phía bên trái, như ở Anh Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, thì bánh lái mới đặt bên tay phải; còn ở Việt Nam, Pháp, Mỹ, Nga, vân vân, dân lái xe đi bên phải thì bánh lái đặt bên trái). Sau khi đã làm luật cấm các loại xe bánh lái bên phải một thời gian, thì chính phủ Nga lại đổi luật, cho phép những chiếc xe nhập cảng từ Nhật Bản, Anh Quốc được lưu hành!
Tại sao họ quyết định cấm, rồi lại quyết định tha? Chỉ có thể giải thích rằng có một ông quan nào đó ra lệnh cấm để tất cả những chiếc xe cũ mua từ Nhật Bản đem về bị mất giá. Khi các xe đó xuống giá, ông và đồng đảng đi mua các loại xe đó cất đi. Bao giờ mua đủ, các ông đổi luật, giá xe tăng lên trở lại, một vốn bốn lời trong mấy tháng!
Rất khó tiên đoán được kinh tế các nước cộng sản, vì những quyết định của quan chức không căn cứ vào các quy luật thông thường. Quy luật quan trọng nhất của họ là chỉ quyết định điều gì khi chính bản thân mình, gia đình mình, và các đồng đảng ăn chia đều hưởng lợi.
Tham nhũng bằng cách ép người ta đưa tiền cho mình là loại tham nhũng tép riu, dành cho các chú công an, cảnh sát đứng đầu đường. Đưa tiền trong bao thư ở văn phòng như trong vụ xa lộ xuyên Sài Gòn cũng là chuyện nhỏ. Hành động tham nhũng làm ra tiền nhiều nhất và chắc chắn nhất là thay đổi thủ tục, luật lệ và đưa ra các quyết định chính sách kinh tế. Ăn tiền kiểu đó hoàn toàn hợp pháp, mà lại chứng tỏ chính quyền “năng động” điều chính chính sách luôn luôn!
Nhưng thay đổi các chính sách nhỏ giọt theo lối cò con đó có ích lợi gì trong việc quản lý kinh tế nước ta hay không? Ông Trần Xuân Giá, một cựu bộ trưởng Kế Hoạch Đầu Tư mới nói với tờ Thời Báo Kinh Tế rằng nhà nước cộng sản phải thay đổi toàn diện, vì “Cả tư duy và mô hình tăng trưởng hiện nay đã không còn phù hợp.” Ông Giá nhận xét, “GDP tăng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư ngày càng kém, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm tăng cao,...” Tình trạng phí phạm, mất mát đó là do hệ thống cai trị độc quyền của đảng Cộng Sản, không thể nào sửa được vì sửa là đụng tới toàn thể hệ thống cai trị.
Một mô hình được chế độ cộng sản áp dụng từ thời Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt tới nay, là tập trung tài nguyên quốc dân cho các doanh nghiệp nhà nước sử dụng, với những tổng công ty và các tập đoàn kinh tế mà các đảng viên cộng sản nắm giữ. Đó là công cụ để đảng Cộng Sản chiếm độc quyền kinh tế thời xưa, nay vẫn còn giữ lại và củng cố cho lớn hơn. Những đại công ty này chỉ tạo được công ăn việc làm cho dưới 20% tổng số người lao động, nhưng được các ngân hàng của nhà nước trao cho 40% đến 45% tổng số vốn cho vay! Còn các xí nghiệp tư nhân, tạo công việc làm cho 80% người lao động thì bị ép khi cần vay vốn. Những người sử dụng vốn kém nhất thì lại được ưu đãi cho vay vốn; còn những người có khả năng, biết đem tiền đầu tư tạo ra nhiều của cải hơn thì phải đúng bên lề. Vì vậy, năng suất của cả nền kinh tế rất thấp, so với các nước khác.
Một chỉ số do năng suất chung của một nền kinh tế là tỷ lệ giữa số tiền cần đầu tư để tạo ra một đơn vị của cải mới. Nếu muốn tạo ra thêm một đồng trong Tổng Sản lượng Nội Địa mà anh cần 50 xu đầu tư, thì hiệu năng của anh thấp hơn một người chỉ dùng 10 xu cũng tạo thêm được một đồng trong GDP. Chỉ số 50% hay 10% trên đây gọi tên là ICOR (Incremental Capital Output Ratio); chỉ số này càng thấp chứng tỏ nền kinh tế càng có hiệu năng cao.
Chỉ số ICOR của Việt Nam rất cao, trung bình là 5.2, tức là cần 5.2 xu đầu tư mới tạo thêm được một đồng của cải mới trong GDP. Nam Hàn, vào các thập niên 1960, 70 có chỉ số ICOR là 3, chỉ cần 3 xu đầu tư cũng tăng thêm được một đồng của cải mới. Trong thời gian đó, kinh tế Nam Hàn tăng lên với tỷ số 7, 9% một năm, còn Việt Nam mấy năm nay chỉ tăng với tốc độ 7.7%. Thái Lan trong giai đoạn kinh tế đang lên như vậy cũng tăng nhanh hơn, 8.1% một năm, mà chỉ số ICOR cũng tốt hơn Việt Nam, chỉ có 4.1.
Tại sao kinh tế Việt Nam hiệu năng yếu kém như vậy? Không phải vì người Việt Nam làm việc kém thông mình hay là vốn tính lười biếng. Lý do chính là hệ thống kinh tế độc quyền của đảng Cộng Sản chỉ ăn bám vào nền kinh tế chứ không đóng góp cho Tổng Sản Lượng Nội Địa bằng số tài nguyên mà họ rút ra dùng.
Trước đây các nước Nga và Đông Âu sụp đổ cũng vì tình trạng đó. Nhưng nay đảng Cộng Sản Việt Nam không lo, dù kinh tế yếu kém, các cán bộ và lãnh tụ vẫn ăn no và làm giầu. Ai muốn xin cho dân được hưởng thêm chút quyền dân chủ tự do thì bắt bỏ tù!
Ngoài ra, bọn tham quan ô lại khiến cho các nhà kinh doanh tư ai cũng phải đóng thêm những thứ thuế ngoài lề, tức là tiền hối lộ. Tham nhũng, hối lộ là những cản trở nặng nề cho sự phát triển kinh tế.
Tại sao đảng Cộng Sản cứ bám lấy các doanh nghiệp nhà nước và bảo vệ hệ thống thư lại tham nhũng rút ruột kinh tế cả nước? Bởi vì họ không biết một đường nào khác ngoài hệ thống cai trị từ thời Hồ Chí Minh để lại. Rời bỏ hệ thống cai trị độc quyền thì không những các lãnh tụ cộng sản sợ bị mất tiền, mất quyền, mà còn lo mất mạng và con cháu bị mang họa nữa. Cho nên ngay bây giờ đã có phong trào chuyển của cải ra nước ngoài, chuyển cả gia đình, con cháu sang các nước Âu, Mỹ, Úc. Những người Việt làm ăn lương thiện có chút tiền nhìn vào cảnh đó cũng lo đi sang các nước Âu, Mỹ sinh sống. Làm sao chuyển tiền bạc từ Việt Nam ra ngoài? Phải đổi lấy đô la Mỹ. Đó là lý do chợ đen đô la không thể nào biến mất được. Nó đáp ứng nhu cầu của một chế độ vào lúc xế chiều ai cũng muốn chuyển tiền đi!
NGÔ NHÂN DỤNG
| | | |
NHẬP SIÊU TỪ TẦU CHIẾM 90% HÀNG NHẬP
CS Việt Nam vẫn bất lực trước trình trạng nhập siêu từ Trung Cộng Thanh Phương Bài đăng ngày 08/02/2010 Cập nhật lần cuối ngày 08/02/2010 15:53 TU
Nền kinh tế Việt Nam còn hai nguy cơ lớn : lạm phát có thể tăng trở lại và nhập siêu vẫn ở mức cao. Với hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc- ASEAN, mức nhập siêu này sẽ còn cao hơn nữa. Phân tích của chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang A.
Xưởng may hàng xuất khẩu của Việt Nam
Theo số liệu do Tổng cục Thống kê công bố vào cuối năm ngoái, nhập siêu, tức là thâm thủng mậu dịch, của Việt Nam trong năm 2009 đã lên tới hơn 12 tỷ đôla, tuy thấp hơn so với mức 18 tỷ đôla của năm 2008, nhưng vẫn là vượt quá chỉ tiêu đề ra. Điều đáng nói hơn hết đó là trong năm qua, nhập siêu từ Trung Quốc nay đã chiếm tỷ lệ tới gần 90% tổng nhập siêu của Việt Nam.
Như vậy là kể từ năm 2001, mức nhập siêu từ Trung Quốc đã tăng đều đặn mà Việt Nam vẫn chưa có giải pháp nào khả dĩ hạn chế được mức nhập siêu đó.
Về những nguyên nhân khiến nhập siêu từ Trung Quốc ngày càng tăng, tác giả Mạnh Quân trong một bài báo đăng trên trang web của tờ Sài Gòn Tiếp Thị ngày 1/2 cho biết : trước hết, hàng Việt Nam xuất sang Trung Quốc thường là những mặt hàng mà Trung Quốc dư khả năng sản xuất, nên khó mà cạnh tranh nổi. Các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như than, dầu thô, thì lại đang có xu hướng giảm.
Cũng theo tác giả Mạnh Quân, về nhập khẩu, một số mặt hàng từ Trung Quốc là những mặt hàng mà Việt Nam chưa sản xuất được. Hàng Trung Quốc lại rẻ và gần Việt Nam, nên nhiều doanh nghiệp thích mua hàng từ đây.
Tác giả bài báo trích dẫn một số chuyên gia của Hiệp hội Cơ khí cho biết là trong tổng lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, các mặt hàng cơ khí, máy móc chiếm tỷ lệ rất lớn. Cho nên, một trong những giải pháp chống nhập siêu từ Trung Quốc có thể là phải đầu tư thêm cho việc sản xuất hàng cơ khí, máy móc nộI địa để thay thế hàng nhập khẩu.
Trong vấn đề này, không chỉ có trách nhiệm của chính phủ mà của cả doanh nghiệp Việt Nam, như nhận định chung của tiến sĩ Nguyễn Quang A. Trả lời phỏng vấn qua điện thoại từ Sài Gòn vào thứ 5 tuần trước, ông Nguyễn Quang A trước hết cho rằng với hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc- ASEAN, mức nhập siêu này sẽ còn cao hơn nữa :
Nhưng ở trên, chúng tôi chỉ mới đề cập chủ yếu tình trạng nhập siêu qua giao thương chính ngạch, còn trên thực tế, có thể nói là hiện nay hàng hoá Trung Quốc tràn ngập Việt Nam bằng con đường tiểu ngạch và đáng ngại hơn cả là hàng lậu, giả của Trung Quốc chiếm chủ yếu trong số hàng lậu, hàng giả đi vào thị trường Việt Nam.
Tờ báo trên mạng vnexpress ngày 21 tháng 1 vừa qua trích lời Phó Chi cục Quản lý thị trường Thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Xuân Đài cho biết là các mặt hàng Trung Quốc, chủ yếu là vải, quần áo, đồ chơi trẻ em, điện thoại di động, đồ điện gia dụng, phụ tùng xe các loại,... , tràn lan trên thị trường thành phố. Các hàng hoá này được phân phối qua một hệ thống rất chặt chẻ từ Trung Quốc, qua các tỉnh biên giới, rồi đến Sài Gòn.
Bên cạnh đó, dư luận ở Việt Nam trong thời gian gần đây còn được báo động liên tục về những hàng giả đặc biệt gây độc hại như trà sữa trân châu polymer, hoa quả chứa chất bảo quản gây ung thư, sữa nhiễm melamine, v.v. . . Nhưng hết mặt hàng độc hại này thì lại xuất hiện mặt hàng độc hại made in China khác, không bao giờ dứt. Việt Nam có một biên giới khá dài với Trung Quốc, nên rất khó mà ngăn chận sự xâm nhập của những thứ độc hại này.
Hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc-ASEAN đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2010. Riêng bốn nước nghèo nhất khu vực là Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Miến Điện, thì đến 2015 mới áp dụng hiệp định, tức là kể từ thời điểm đó, 90% hàng nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ có thuế suất từ 0 đến 5%.
Như vậy là trong 5 năm nữa, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối đầu với sự cạnh tranh khốc liệt hơn của hàng hóa Trung Quốc. Liệu trong thời gian 5 năm đó, họ có nâng cao được năng lực cạnh tranh hay không, điều đó dĩ nhiên tùy thuộc một phần vào chính họ, nhưng chủ yếu vẫn là phải tạo ra được một môi trường thuận lợi cho giới doanh nghiệp, với sự hỗ trợ tích cực của chính phủ, như phía Trung Quốc đã làm từ nhiều năm qua. Mặt khác, Việt Nam hãy còn thiếu hàng rào kỹ thuật để bảo vệ thị trường nội địa khỏi những hàng giả, hàng độc hại từ phía Trung Quốc.
Trong vấn đề này, có lẽ cũng nên khơi dậy tinh thần dân tộc, không phải là khuyến khích chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhưng phải làm cho mọi người thức tỉnh về nguy cơ hàng hóa nội địa bị hàng Trung Quốc đè bẹp, phải nỗ lực vận động người Việt Nam phải dùng hàng Việt Nam. Nhưng bản thân hàng Việt Nam cũng phải được sản xuất đàng hoàng, đúng tiêu chuẩn, giá phải chăng, thì mới hy vọng thu hút được người tiêu dùng trong nước.
| | | |
KINH TẾ VN: ”CÀNG TĂNG TRƯỞNG CÀNG NGHÈO”!
http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2010/02/100210_ tranxuangia_ warnings. shtml
Lối tăng trưởng chạy theo con số, theo ông Trần Xuân Giá, sẽ 'chỉ làm cho VN nghèo đi.'
Ông Trần Xuân Giá, cựu Bộ trưởng Kế Hoạch Đầu tư, tỏ ý quan ngại về cách điều hành kinh tế tại Việt Nam.
Trên bài phỏng vấn đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, cựu quan chức chính phủ, từng điều hành một trong những bộ quan trọng nhất nước, nhận định: “Cả tư duy và mô hình tăng trưởng hiện nay đã không còn phù hợp."
“Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy các khuyết điểm của nền kinh tế được nữa,” ông Trần Xuân Giá nói.
“Nếu không, càng tăng trưởng, có thể chúng ta sẽ càng nghèo đi.”
Một số trí thức trong nước đã từng quan tâm đến chủ đề này. Ông Nguyễn Trần Bạt, Giám đốc Công ty Tư vấn Đầu tư InvestConsult cho hay nhiều năm trước ông đã quan ngại đến cách làm kinh tế tại Việt Nam.
"Tôi đã nói điều này cách đây 10 năm. Trong một số bài báo, tôi cảnh báo tâm lý tăng trưởng bằng mọi giá. Tôi viết từ rất sớm. Hiện nay nó đẻ ra một cái thực tế mà (cựu) bộ trưởng phải lên tiếng. Chúng tôi, với tư cách là người trí thức bình thường, đã từng lên tiếng trước đó, cảnh báo trước đó, không chỉ cho Việt Nam. Mà cho tất cả các quốc gia kiểu Việt Nam.”
Trong bài phỏng vấn đăng trên tuần báo kinh tế có uy tín từ Hà Nội, ông Trần Xuân Giá tự xếp mình vào nhóm những người bi quan về kinh tế Việt Nam.
Bi quan
Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy các khuyết điểm của nền kinh tế được nữa
Bên cạnh thừa nhận một số thành tích như, “năm 2009 không rơi vào suy thoái, ngăn chặn được nguy cơ phá sản ở nhiều doanh nghiệp, kiểm soát được lạm phát ở mức 6,88%,” vân vân, cựu quan chức chính phủ nói đến một số lĩnh vực Việt Nam đang phải trả giá.
Đó là “sự phục hồi của kinh tế Việt Nam diễn ra không đồng đều, chưa vững chắc, tạo nên bức tranh sáng tối lẫn lộn.”
Các khó khăn đang tiềm ẩn trong kinh tế Việt Nam, theo ông Trần Xuân Giá, là tỷ giá hối đoái, và lạm phát; chi tiêu công gia tăng; nhập siêu sẽ tăng do giá nguyên liệu trên thế giới tăng, môi trường bị phá hoại nặng nề.
Trước một số ý kiến nhắc đến cuộc khủng hoảng tài chính thế giới như là nguyên nhân khiến cho kinh tế Việt Nam chao đảo trong năm 2008, ông Trần Xuân Giá chỉ ra, ngay cả trước thời kỳ khủng hoảng (2007 cho đến trước quý 3/2008) Việt Nam đã bộc lộ nhiều khó khăn.
“Nguyên nhân suy giảm của kinh tế Việt Nam không chỉ đến từ bên ngoài. Quan trọng nhất là những nguyên nhân nội tại. Nền kinh tế Việt Nam khi ấy gặp không ít khó khăn.
“Lạm phát cao, nhập siêu lớn. Những yếu kém cơ bản đó nằm ngay trong cả cơ cấu lẫn cơ chế kinh tế của Việt Nam.”
Cựu bộ trưởng, hiện tham gia điều hành hội đồng quản trị của ngân hàng ACB, sau đó liệt kê những thiếu sót cơ bản của kinh tế trong nước.
“GDP tăng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư ngày càng kém, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm tăng cao,
"Công nghệ chậm đổi mới, cơ cấu kinh tế, cơ cấu xuất khẩu chưa thoát khỏi lạc hậu, thị trường trong nước kém phát triển, kinh tế vĩ mô còn nhiều yếu tố bấp bênh, tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao, môi trường cạnh tranh chưa bình đẳng, lành mạnh.”
Ông Nguyễn Trần Bạt từ công ty InvestConsult lo ngại lối tăng trưởng kiểu “sùng bái con số’’ sẽ đưa Việt Nam đến một kết cục không hay.
“Ăn kẹo mãi thì sẽ bội thực đường. Giấy kẹo nó rơi xuống chân mình nó cao đến mức nó làm tắc thở cái người ngồi, hoặc đứng ăn kẹo.
“Cho nên là tăng trưởng theo kiểu như thế này chính là một trong những biện pháp giết chết một cách chắn chắn nhất tương lai, không chỉ tương lai kinh tế, mà nhiều tương lai khác của Việt Nam.”
http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2010/02/100210_ tranxuangia_ warnings. shtml
VIỆT NAM BỊ ĐÁNH THUẾ TÔM NHẬP KHẨU MỸ
Việt Nam kiện Hoa Kỳ trước Tổ chức Thương mại Thế giới về thuế đánh trên tôm nhập khẩu Trên nguyên tắc, Hoa Kỳ và Việt Nam có 60 ngày để đàm phán song phương nhằm tìm giải pháp cho vụ tranh chấp. Nếu không đạt thỏa hiệp, lúc đó Việt Nam có thể yêu cầu Tổ chức Thương mại Thế giới thành lập một ủy ban để phán quyết trên hồ sơ thuế đánh trên tôm nhập khẩu.
Theo hãng tin Anh Reuters, chính quyền Việt Nam đã khởi kiện Mỹ tại WTO về những biện pháp đánh thêm thuế chống bán phá giá mà Hoa Kỳ áp dụng đối với tôm nhập khẩu từ Việt Nam. Đây là vụ tranh tụng đầu tiên của Việt Nam trước Tổ chức Thương mại Thế giới từ khi được kết nạp vào định chế này cách nay ba năm.
Theo hãng Reuters, khi quyết định kiện Hoa Kỳ, Việt Nam muốn bảo vệ một sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của mình. Theo số liệu chính thức, tôm đông lạnh đã mang về cho Việt Nam khoảng 1,67 tỷ đô la trong năm vừa qua, tăng gần 10 % về khối lượng và 3% về trị giá so vớI 2008. Lượng xuất khẩu của Việt Nam có thể còn cao hơn thế nữa nếu không bị mức thuế chống phá giá do Hoa Kỳ áp đặt, lên đến 26%.
Đối với hãng Reuters, đơn kiện của Việt Nam sẽ đối kháng chính quyền Hà Nội với một số đông người Mỹ gốc Việt là chủ trại nuôi tôm ở Hoa Kỳ, tại các tiểu bang ven biển phía Nam từ Texas, Louisiana, Mississipi, cho đến Alabama, Georgia và Florida. Phái bộ Việt Nam bên cạnh Tổ chức Thương mại Thế giới ở Genève (Thụy Sĩ) chưa có bình luận gì về nguồn tin do Reuters đưa ra, và những chi tiết cụ thể liên quan đến vụ tranh tụng chưa được công bố.
Tuy nhiên, theo tìm hiểu của Reuters, Việt Nam hiện đang thực hiện bước đầu tiên của tiến trình, tức là yêu cầu Hoa Kỳ đàm phán song phương trên vấn đề này. Một phát ngôn viên của Văn phòng Đại Diện Thương mại Mỹ xác nhận là đang xem xét đề nghị thương thảo của Việt Nam, nhưng cũng không cho biết thêm chi tiết.
Trên nguyên tắc, hai bên có 60 ngày để đàm phán song phương nhằm tìm giải pháp cho vụ tranh chấp. Nếu không đạt thỏa hiệp, lúc đó Việt Nam có thể yêu cầu Tổ chức Thương mại Thế giới thành lập một ủy ban để phán quyết trên hồ sơ này.
CATFISH NHẬP TỪ VIỆT NAM CÓ NHIỄM THUỐC TRỪ SÂU VÀ TRỤ SINH
Tin Hoa Thịnh Ðốn - Báo Washington Post cho hay cơ quan Quản Trị Thuốc và Thực phẩm FDA Hoa Kỳ vừa đưa ra một quan ngại về vấn đề an toàn thực phẩm, theo đó họ khám phá thấy có những độc chất cấm lưu hành như thuốc trừ sâu và trụ sinh bên trong cơ thể của một số cá catfish nhập cảng từ Việt Nam. Tuy nhiên, ghi nhận cho thấy chưa có ai thiệt mạng do ăn phải những cá này. Một bản thảo về qui định cho thấy Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ USDA quyết định rằng loài cá này của Việt Nam nên được thêm vào trong chương trình mới, quyết định mà có nhiều khả năng sẽ bị các nhà nhập cảng chống đối quyết liệt. Bản thảo này cũng nói rằng chương trình điều phối catfish có thể cứu được 36 sinh mạng hằng năm. Nếu qui định này được công bố như dự tính trong tháng này, các nhà sản xuất catfish nước ngoài tiên liệu sẽ có nổ lớn.(SBTN)
Posted on 17 Feb 2010
| | | |
THAM VỌNG TQ VỀ BIỂN ĐÔNG LÀM CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG LO NGẠI
Tham vọng của Trung Quốc giành chủ quyền trên biển Đông khiến các nước láng giềng lo ngại Anh Vũ Bài đăng ngày 24/01/2010 Cập nhật lần cuối ngày 24/01/2010 17:02 TU
Tuần báo The Economist có bài viết về thái độ của Trung Quốc áp đặt chủ quyền trên biển. Theo tờ báo, Trung Quốc gọi vùng biển tiếp giáp với họ là vùng "Biển bình yên", nhưng trên thực tế, các vụ tranh chấp lãnh thổ của họ với các láng giềng đang làm vùng biển yên bình đó đang dậy sóng.
Những tranh chấp chủ quyền trên biển giữa Trung Quốc với một số nước láng giềng của họ vẫn tồn tại từ lâu nay mà chưa tìm được hướng giải quyết. Thời gian gần đây, Trung Quốc lại làm dấy lên các tranh cãi bằng những hành động quả quyết về chủ quyền của mình ở những khu vực có tranh chấp trên biển.
Tuần báo The Economist tuần này có bài viết về thái độ khăng khăng áp đặt chủ quyền trên biển của nước lớn này. Theo tờ báo, Trung Quốc gọi vùng biển tiếp giáp với họ là vùng "Biển bình yên", thế nhưng thực tế, các vụ tranh chấp lãnh thổ của họ với các láng giềng đang làm vùng biển yên bình đó đang dậy sóng.
Từ nhiều tuần qua, Nhật Bản và Việt Nam đã lên tiếng phản đối những hành động xâm lấn trên biển của Trung Quốc ở những khu vực đang còn tranh cãi. Điều khiến nước có tiếp giáp biển với Trung Quốc phải lo ngại là Bắc Kinh đang càng ngày càng tỏ ra ngang ngược đòi khẳng định chủ quyền của mình trên những khu vực đang tranh chấp. Nguyên nhân khiến các cuộc tranh chấp càng trở nên gay gắt hơn đó là nguồn tài nguyên dầu mỏ, khí đốt đang nằm sâu dưới đáy các vùng biển đó.
Tờ báo nhận thấy, cách đây hai năm, sau những tranh cãi dài dài, Trung Quốc và Nhật Bản cũng đã đi đến ký kết một thỏa thuận về một khu vực đang tranh cãi trên vùng biển Hoa Đông. Người ta có cảm giác như cuộc đấu khẩu dài hơi về các tranh chấp trên vùng biển này giữa hai nước đã có thể chấm dứt được rồi. Thế nhưng giờ đây cuộc tranh cãi giữa hai nước lại trở lại như mới.
Báo chí Nhật Bản đã đưa tin, hôm 17 tháng giêng vừa rồi Ngọai trưởng Nhật Katsuya Okada trong một cuộc gặp người đồng sự Trung Quốc Dương Khiết Trì đã cảnh báo rằng Nhật Bản sẽ có « biện pháp » nếu như Trung Quốc tự ý đơn phương cho khai thác mỏ khí đốt Xuân Hiểu mà tiếng Nhật gọi là Shirakaba.
The Economist Xuân Hiểu nằm ở trong khu đặc quyền kinh tế của Trung Quốc trên biển Hoa Đông nhưng Nhật cho rằng khu vực này nằm giữa đường phân chia hai nước, cũng chỉ cách khu đặc quyền kinh tế của Nhật có 4 cây số. Nhật lo ngại việc khai thác khí đốt ở Xuân Hiểu sẽ hút khí đốt trên phần khai thác của mình. Hiệp định ký năm 2008 giữa hai nước quy định đây là khu vực cùng khai thác chung.
Hôm 19 tháng giêng vừa qua, bô Ngọai giao Trung Quốc đã ra tuyên bố có nhắc lại thời kỳ lạnh nhạt trong quan hệ hai nước và đồng thời cho rằng những đòi hỏi của Nhật Bản là có ý đồ chính trị nhằm làm mất ổn định trong khu vực.
Một khu vực khác trên biển Đông cũng đang được Trung Quốc đòi áp đặt chủ quyền. Bài báo đề cập đến quần đảo Hòang Sa. Nơi từ lâu nay đang là khu vực tranh chấp với Việt Nam.
Tháng 12 năm ngóai bất chấp sự phản đối của Việt Nam, Trung Quốc lại đưa ra kế họach thúc đẩy phát triển du lịch tại quần đảo Hoàng Sa, đã được Bắc Kinh cho sát nhập vào huyện đảo Hải Nam.
Tờ báo nhận thấy trước những tham vọng của Bắc Kinh những lo ngại của các nước có tiếp giáp biển với Trung Quốc lại càng lên cao khi có vụ va chạm giữa tàu hải quân và Trung Quốc với tàu chiến Mỹ trên biển Đông. Hôm 13 tháng giêng vừa qua, chỉ huy hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đã báo cáo trước Quốc Hội nước này rằng hải quân Trung Quốc đang tăng cừong đáng kể các cuộc tuần tra trên biển Đông và đang tỏ rõ quyết tâm chiếm lấy những hòn đảo đang có tranh chấp ở đây.
OBAMA QUYẾT ĐỊNH GẶP ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
(Tuệ Giang dịch) Tòa Bạch Ốc: Tổng thống Obama sẽ hội kiến với Đức Đạt Lai Lạt Ma bất chấp sự phản đối của Trung cộng
Washington/Beijing, Feb 3 (PTI)
Bác bỏ sự phản đối mạnh mẽ của Trung Cộng, tổng thống Barack Obama sẽ gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma, Tòa Bạch Ốc cho biết như trên khi đề cập mối lo ngại về ảnh hưởng của nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng có thể đe dọa sự tổn hại quan hệ Trung-Mỹ vốn đã bị căng thẳng bởi thương vụ bán vũ khí cho Đài Loan.
Ông Bill Burton, tùy viên báo chí của Toà Bạch Ốc nói rằng: "Tổng thống đã nói với các nhà lãnh đạo Trung Cộng trong chuyến đi thăm của ông năm ngoái rằng ông sẽ gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma, và ông đã dự định như vậy ."
"Đức Đạt Lai Lạt Ma là một vị lãnh đạo tôn giáo, văn hóa được cả thế giới kính trọng và tổng thống sẽ gặp Ngài trong tinh thần đó" Ông nói thêm: " Tuy nhiên, Toà Bạch Ốc chưa công bố ngày giờ cho cuộc gặp gỡ đầu tiên.
Đức Đạt Lai Lạt Ma, năm nay 74 tuổi, vị lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, sẽ đến Hoa Kỳ trong chuyến viếng thăm 10 ngày vào cuối tháng này và Ngài sẽ lưu lại Hoa Thịnh Đốn từ ngày 17 cho tới 19.
Phản ứng lời tuyên bố của Toà Bạch Ốc, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Cộng, Ma Zhaoxu cho biết: " Bắc Kinh cực lực phản đối bất cứ cuộc gặp gỡ nào giữa Đạt Lai Lạt Ma và tổng thống Obama".
Ông tuyên bố: "Trung Quốc cũng phản đối mạnh mẽ về chuyến viếng thăm Hoa Kỳ và sự liên hệ giữa các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ và Đại Lạt Ma dưới bất kỳ hình thức nào. Lập trường của chúng tôi trước sau như một".
Ông nói thêm: "Chúng tôi yêu cầu Hoa Kỳ nhận ra tính nhạy cảm của các vấn đề liên quan đến Tây Tạng và xử lý thận trọng các vấn đề đó để bảo vệ mối quan hệ Trung-Mỹ khỏi bị suy yếu thêm. Người phát ngôn Trung Cộng nhấn mạnh điều đó trong cuộc viếng thăm của tổng thống tại Trung Quốc vào tháng 11 qua.
Chủ tịch Trung Quốc, Hồ Cẩm Đào, nhấn mạnh lập trường phản đối bất cứ cuộc họp nào từ phía Bộ Ngoại Giao hay các viên chức chính phủ với Đạt Lai Lạt Ma. Bên cạnh đó, Hồ yêu cầu trong những điều khoản rõ ràng với tổng thống Obama là không nên xu theo các phe nhóm ly khai hoạt động ủng hộ sự độc lập của Tây Tang ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ.
Quyết định gặp gỡ giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và tổng thống Obama diễn ra song song với những cuộc đàm phán vô hiệu quả giữa các nhà lãnh đạo Trung Cộng và phái đoàn của Đức Dalai Lama, đây là lần thứ chín kể từ năm 2002 và là lần đầu tiên sau hơn một năm.
Bắc Kinh thừa nhận rằng các cuộc đàm phán đã không mang lại tiến triển nào về vấn đề nóng bỏng của Tây Tạng. Đức Đạt Lai Lạt, người trốn chạy sang Ấn Độ vào năm 1959 sau cuộc nổi dậy thất bại chống Trung Cộng cai trị tại Tây Tạng nói rằng, ông chỉ đòi hỏi các quyền lợi cho người Tây Tạng, nhưng Bắc Kinh cáo buộc ông về tư tưởng ly khai.
Trước đó Trung Cộng đã đe doạ cắt đứt các quan hệ quân sự và trừng phạt các công ty Hoa Kỳ về thương vụ bán vũ khí cho Đài Loan, gồm tên lửa Patriot và những quân dụng khác. Bắc Kinh coi Đài Loan như là một tỉnh phản loạn và bắt buộc phải sát nhập với Hoa Lục thậm chí bằng vũ lực. Hoa Kỳ và Trung Quốc vẫn còn đang lục đục về việc kiểm duyệt Google search engine tiếng Trung Hoa.
Posted by Giao Trinh Room Dieu Phap at 1:34 AM 0 comments
TẠI SAO HOA KỲ VÀ TRUNG QUỐC SẼ ĐỤNG ĐỘ ? Ngày 08-02-2010, giờ 01:37
Đó là câu hỏi mà ký mục gia Gideon Rachman của tờ Financial Times đưa ra khi nhận xét về việc Google quyết định đối đầu với Bắc Kinh và nói là sẽ sẵn sàng rút lui nếu chính quyền không chịu giảm thiểu việc kiểm duyệt.
Ông Rachman không lạ gì với Á Châu. Trước khi tham gia làm ký mục gia cho tờ Financial Times, ông đã từng là phóng viên thường trú của tờ The Economist ở Bangkok . Hơn thế, sau đó ông về làm chủ biên Á Châu của tờ tạp chí kinh tế nổi tiếng của Anh Quốc này. Ông cũng từng là phóng viên thường trú của tờ The Economist tạiWashington và Brussels . Là một người hiểu rõ cả Ðông lẫn Tây, cả Âu lẫn Á, cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc, những nhận xét của ông đáng để chúng ta chú ý.
Theo ông, cuộc đụng độ giữa Google và Trung Quốc không phải chỉ là về số phận của một công ty, dầu cho đó là một công ty vô cùng hùng mạnh. Việc công ty quyết định rút ra khỏi Trung Quốc, trừ phi chính phủ thay đổi chính sách về kiểm duyệt, là dấu hiệu cho sự việc là liên hệ Mỹ-Trung sẽ ngày càng đi vào cơn sóng gió.
Theo ông, vụ này còn đáng chú ý hơn nữa vì nó cho thấy những giả định trên đó tất cả chính sách Hoa Kỳ đối với Trung Quốc được đặt nền tảng kể từ sau cuộc thảm sát Thiên An Môn năm 1989 là đã hoàn toàn sai. Hoa Kỳ đã chấp nhận, và ngay cả chào đón, sự hình thành của một Trung Quốc như là một cường quốc kinh tế bởi vì các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ tin là cởi mở kinh tế rồi sẽ dẫn đến cởi mở chính trị tại Trung Quốc.
Nếu định đề đó thay đổi, chính sách của Hoa Kỳ với Trung Quốc cũng sẽ phải thay đổi. Chào đón một cường quốc đang lên tại Á Châu mà rồi sẽ trở thành một nền dân chủ tự do là một điều có thể chấp nhận được. Bảo trợ cho sự lớn mạnh của một chế độ Leninist độc đảng, mà có thể trở thành đối thủ địa lý chính trị duy nhất của Hoa Kỳ, lại là điều khác hẳn. Kết hợp việc này với sự thất vọng chính trị của một nền kinh tế đang chịu thất nghiệp đến hai con số vốn hiện đang đổ cho là vì chính sách dìm giá tiền tệ của Trung Quốc thì chúng ta rõ ràng có một công thức cho một phong trào bài Trung Quốc.
Cả hai tổng thống Bill Clinton và George Bush đều tin tưởng là mậu dịch tự do, đặc biệt trong thời đại Internet, sẽ làm cho Trung Quốc đương nhiên có thay đổi chính trị. Khi đến thăm Trung Quốc năm 1998, ông Clinton tuyên bố “Trong thời đại tin học, khi thành công kinh tế dựa trên tư tưởng, tự do cá nhân là điều căn bản cho sự vĩ đại của bất cứ một quốc gia nào.” Một năm sau, ông Bush cũng đưa ra cùng một luận điệu “Tự do kinh tế tạo thói quen tự do. Và thói quen tự do tạo trông đợi dân chủ... Buôn bán tự do với Trung Quốc thì rồi thời gian sẽ thuộc về chúng ta.” Ngay cả các cố vấn của hai vị tổng thống cũng nghĩ vậy. Ông Robert Wright, một trong những nhà tư tưởng được ông Clinton rất mê, đã lý luận là nếu Trung Quốc ngăn chặn tự do tiếp cận Internet, “cái giá phải trả sẽ là thất bại kinh tế thảm hại”.
Nhưng cho đến nay thực tế cho thấy sự tin tưởng đó là không tưởng. Trung Quốc tiếp tục kiểm duyệt cả truyền thông cũ lẫn mới, và mặc dầu vậy họ nào có bị “thảm bại kinh tế” đâu. Ngược lại, Trung Quốc nay là nền kinh tế lớn thứ nhì trên thế giới và là quốc gia xuất cảng lớn nhất thế giới, với một dự trữ ngoại tên lên đến trên 2,000 tỷ đô la. Nhưng tất cả những sự tăng trưởng kinh tế này không cho thấy có dấu hiệu gì thúc đẩy thay đổi chính trị mà ông Bush và ông Clinton trông đợi. Ngược lại, chính phủ Bắc Kinh còn có vẻ siết chặt hơn nữa. Ngoài những vụ đàn áp các nhà dân chủ như vụ bỏ tù 11 năm ông Lưu Hiểu Ba, người mà tội duy nhất là tìm cách phổ biến một hiến chương kêu gọi dân chủ đa nguyên, Bắc Kinh đã ngang nhiên lập một bức tường lửa “vạn lý trường thành” để bao vậy dân chúng của họ ra khỏi mạng Internet toàn cầu.
Trong hoàn cảnh đó, ông Rachman tin là việc Google có quyết định đối đầu với chính phủ Trung Quốc là một báo động sớm là Hoa Kỳ đã bắt đầu chán phải đối phó với Trung Quốc độc tài. Nhưng áp lực lớn nhất sẽ không phải từ các nhà kinh doanh. Google là một trường hợp khá đặc thù, hoạt động trong một ngành kinh doanh rất chính trị hóa. Nếu Google quyết định thực sự rút khỏi Trung Quốc, sẽ không có hàng đoàn các đại công ty Hoa Kỳ đùng đùng rút theo. Ngược lại các nhà kinh doanh rồi đây sẽ là những người cố gắng vận động để duy trì liên hệ với Bắc Kinh, bởi thị trường Trung Quốc quá lớn để có thể bị bỏ qua được.
Áp lực rút lui sẽ là từ các nghiệp đoàn, các vị diều hâu trong ngành an ninh, các chính trị gia, đặc biệt là tại Quốc Hội. Cho đến nay, chính sách Trung Quốc của chính phủ Obama đã dựa trên truyền thống của hai chính phủ tiền nhiệm. Ngay đến bài diễn văn chính của tổng thống trong chuyến công du vừa qua cũng lập lại luận điệu cố hữu, kể cả lời nói nay đã thành tập tục, đó là Hoa Kỳ chào đón sự thăng tiến của Trung Quốc. Nhưng sau khi bài diễn văn của ông tại Thượng Hải bị kiểm duyệt và sau khi ông bị một viên chức cấp thứ trưởng lên tiếng dạy bảo ở Hội Nghị Copenhagen, hẳn ông Obama ngày nay sẽ không cảm thấy nồng nhiệt bao nhiêu với Bắc Kinh.
Và bàn diễn văn hôm thứ năm của Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã cho ta thấy sự đổi ý đó. Với một giọng điệu phỏng theo bài diễn văn nổi tiếng của cố Thủ Tướng Winston Churchill của Anh, bà ngoại trưởng nói “Một bức màn sắt thông tin mới đang hạ xuống trên hầu khắp thế giới.” Ðó là luận điệu của ông Churchill khi ông nói đến bức màn sắt của Liên Xô đổ xuống Âu Châu. Bà Clinton khẳng định “Chúng tôi bảo vệ một Internet độc nhất nơi toàn thể nhân loại được đồng đều tiếp cận kiến thức và tư tưởng.” Những lời kêu gọi phải cứng rắn hơn với Trung Quốc sẽ lan ra từ các nghiệp đoàn đến các ngành an ninh, qua Quốc Hội trong năm bầu cử, khiến chủ thuyết bảo hộ mậu dịch nay đang trở thành ngày một phổ biến và được ưa chuộng. Bắc Kinh nên bắt đầu lo là vừa.
Một cuộc chiến tranh mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là một điều có thể đưa thế giới trở lại cuộc khủng hoảng chính trị và đẩy thế giới vào một giai đoạn căng thẳng mới. Nếu nó có xảy ra thì cả hai bên đều chịu một phần lỗi. Hoa Kỳ, vì đã quá ngây thơ về liên hệ giữa tự do mậu dịch và dân chủ. Nhưng Trung Quốc còn phần lỗi hơn khi đã khiêu khích về chính sách tiền tệ và về nhân quyền.
Ông Rachman kết luận “Nếu họ (Trung Quốc) muốn tránh một cuộc đụng độ trầy vi tróc vảy với Hoa Kỳ thì họ nên thay đổi chính sách.” Có điều ông Rachman không nói đến là việc thay đổi chính sách cũng khó lắm thay. Bắc Kinh cho đến nay vẫn tin chắc là chế độ của họ không thể tồn tại nếu cho người dân tự do. Thành ra, cuộc đụng độ, mà có lẽ cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều không muốn, không thể nào tránh nổi.
Lê Phan
OBAMA VÀ TRUNG QUỐC
Lê Văn
Song song với các biến cố mới xảy ra như Hoa Kỳ -HK- vừa quyết định bán hơn 6.4 tỉ đô la võ khi tối tân cho Đài Loan thì tiếp ngay sau đó Tổng thống HK Obama tuyên bố sẽ tiếp kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng vào cuối tháng 2 sắp tới đang gây nên các căng thẳng nghiêm trọng với Trung quốc -TQ.
Mặc dầu TQ lớn tiếng phản đối, ngoại trưởng Hillary Clinton cho rằng việc bán vũ khí hiện đại cho Đài loan không có gì đi ngược lại quan điểm “Một Nước Trung Quốc” như chủ trương của chính phủ Mỹ và chính phủ TQ bấy lâu naỵ Theo ngoại trưởng Clinton, thì việc tăng cường vũ khí cho Đài Loan nhầm củng cố cho Đài loan trong việc nói chuyện với TQ được thuận tiện hơn, dễ dàng hơn.
TQ cảnh cáo nếu ông Obama tiếp Đức Datlai Lama thì sẽ gây tổn thương cho quan hệ song phương giữa Mỹ-Trung. Liền sau đó Tòa Bạch Ốc cho hay là Tổng thống Obama dứt khoác sẽ có buổi họp với Đức DaLai-Lama bất chấp lời cảnh cáo của TQ. Một viên chức Hoa kỳ, ông Bill Bulton nói rằng Tổng thống Obama đã nói với các lãnh đạo Bắc kinh là sau chuyến thăm TQ, Tổng thống Obama sẽ có buổi tiếp xúc với Đức ĐaLai Lamạ Trong khi đó các giới chức Hoa kỳ nói rằng điều quan trọng là duy trì quan hệ tốt đẹp cả TQ lẫn Chính Phủ Lưu vong Tây Tạng. Nghĩa là đối với Hoa kỳ, Đức Datlai Lama và Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào có tầm vóc quan trọng ngang nhau.
Các quyết định đó được coi như là sự tái khẳng định một chính sách mới của HK tại Á châu, một chính sách đối đầu đa dạng từ thương mại đến nhân quyền và cả chính trị lẫn quân sư..
Một điểm đáng chú ý khác là Hội đồng Đối Ngoại Hoa Kỳ - Council on Foreign Relations (CFR) tại New York- một tổ chức có ảnh hưởng lớn mạnh đối với chính sách đối ngoại của Mỹ vừa cảnh báo rằng ..."Nền tảng chính trị tại IRAN đang tiến gần đến sự thay đổi sâu xắc & triệt để chưa từng thấy từ khi chế độ Sa Hoàng bị lật đổ cách đây hơn 30 năm" ... "Iran may be closer to profound political change than at any time since the revolution that ousted the shah 30 years agọ" và kết luận là... không những chỉ có thế lực cứng rắn Tân Bảo Thủ tại Hoa Thịnh Đốn kiên quyết chủ trương thay đổi chế độ tại Tehran ("regime change" in Tehran) mà nay các thế lực thực tiễn cũng phải thừa nhận rằng đây là một cơ hội không thể cho vuột xẩy được ("Even a realist should recognize that it's an opportunity not to be missed,"
Ông Richard Haass, chủ tịch Council on Foreign Relations - tổ chức được biết qui tụ các thế lực tài phiệt của Mỹ & Do Thái, một người được coi như là có quan điểm thực tiễn (realists) giống như cựu cố vấn An Ninh Quốc Gia Brent Scowcroft hay cựu Bộ trưởng Ngoại giao Colin Powell, qua nhận định trên nay được coi như đã thay đổi quan điểm rất triệt để về đối sách của HK với IRAN (Haass' change of heart) .
Đi sâu hơn, ông Robert Kagan thuộc tổ chức Carnegie Endowment for International Peace ở Hoa Thịnh Đốn đã nhiệt liệt cỗ võ và không dấu giếm gì khi viết trên tờ Washington Post rằng thực hiện việc đổi chế độ tại Tehran ... chính là cơ may một lần trong đời mà Tổng thống Obama có được, trong vài tháng tới đây để làm cho thế giới nầy được thực sự an toàn hơn ("President Obama has a once-in-a-generatio n opportunity over the next few months to help make the world a dramatically safer placẹ")
Từ lập trường hầu như đồng nhứt của hai thế lực lớn nầy, chúng ta có thể trông đợi những biến cố mới sẽ xảy ra tại Iran trong những ngày sắp tớị
Tại Paris hôm 29/1/10, trong buổi họp bàn về kế hoạch và biện pháp chế tài Iran, Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố không úp mở: “ …Trung quốc sẽ bị cô lập về ngoại giao và có thể bất ổn về kinh tế nếu Trung Quốc không nhất trí với thế giới những biện pháp trừng phạt mới gay gắt hơn chống lại Iran trong việc ngăn ngừa xứ này chế tạo và phát triển vũ khí nguyên tử..” Một động thái đáng chú ý khác là tỉ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ đang ở trên mức 10% và chưa thấy có chiều hướng suy giảm trong tương lai gần, nạn thâm thủng ngân sách ở mức kỷ lục , tiết kiệm cá nhân ngày càng giảm, mức cầu theo đó mà yếu đi, do đó ngân sách cho các chương trình kích thích kinh tế bị giới hạn... để phá vở vòng lẩn quẩn nầy các biện pháp đầu tiên là phải hạn chế nhập khẩu ( bảo vệ hàng nội địa) và tăng xuất khẩu (tạo việc làm) mà mấu chốt của vấn đề là tăng thuế nhập khẩu và điều chỉnh tỉ xuất hối đoái tiền tệ (giá thành sản xuất.)
Hôm thứ Tư ngày 4/2/2010, Tổng thống Obama đề ra chính sách kinh tế mới của Hoa kỳ, tăng cường xuất khẩu, đòi hỏi các quốc gia trên thế giới theo đúng qui luật của WTO, chống lại chế độ bảo hộ mậu dịch. Và Tổng Obama nói thẳng với TQ và các nước khác là chính phủ TQ và chính phủ các nước khác phải mở rộng thị trường đón nhận nhiều hơn hàng xuất khẩu của của các nước khác, nhất là hàng xuất khẩu của Hoa kỳ cũng như Hoa kỳ đã và đang mở rông nhập khẩu các mặt hàng xuất khẩu của TQ cũng như của các nước khác. Cũng trong ngày thứ Tư vừa qua, Tổng thống Obama kêu gọi các quốc gia trên thế giới phải xét lại tỉ giá đồng tiền của họ với đồng Dollar của Hoa kỳ. Tổng thống Obama than phiền có một số quốc gia xử trì không công bằng với đồng Dollar của Chính phủ Hoa kỳ, họ kiềm hãm tỉ giá đồng tiền của họ một cách vô lý và phản lại qui luật mậu dịch, họ cố tình làm cho các mặt hàng nhập khẩu đất nước họ, nhất là hàng xuất khẩu của Hoa kỳ, gặp nhiều khó khăn không bán được vì giá quá caọ Mặc dầu Tổng thống Obama không chỉ mặt đặt tên, nhưng thế giới ai cũng biết Trung Quốc là một trong những quốc gia đó.
Các căng thẳng thương mại đang nổ ra giữa HK và TQ, bán võ khí tối tân cho Đài Loan, coi Đức ĐaLai Lama như một nguyên thủ quốc gia cùng lúc đó một kế hoạch tấn công Bắc Hàn do hai chuyên gia về Bắc hàn Bruce Bennett thuộc Rand Corporation và Jennifer Lind của Dartmouth College cùng phác họa mới đây (Rand: 400,000 troops needed to secure N. Korea and its 'loose nukes' By Donald Kirk Monday, January 25, 2010) là phải cần đến ít nhứt 400,000 quân Mỹ-Hàn để đánh chiếm Bắc Hàn trong trường hợp nước cộng sản nầy bất ngờ xụp đổ nhằm chiếm giữa các cơ sơ nguyên tử và giải giới toàn bộ bộ đội cộng sản Bắc hàn. Bộ trưởng Quốc phòng Kim Tae-young mới đây tuyên bố là Nam hàn sẽ ra tay trước đánh phủ đầu Bắc hàn nếu có chỉ dấu rõ ràng là Bắc hàn chuẩn bị tấn công bằng vũ khí hạt nhân. (if we detected that it has a clear intention to attack with nuclear weapons".). Hai chuyên gia trên nhấn mạnh rằng nhiều chỉ dấu cho thấy hầu như đã chắc là các thang điểm chỉ dấu sự đỗ vỡ đã đến vì đang có sự khủng hoảng lảnh đạo và nền kinh tế Bắc hàn đang đến hồi kiệt quệ
Các viễn ảnh có thể xảy ra:
Một là các quốc gia nằm trong vòng ảnh hưởng trực tiếp của HK và TQ ngày càng phải chịu áp lực nặng nề hơn từ cả hai phía trong mọi lảnh vực từ thương mại đến quân sự lẫn chính trị đặc biệt là Việt Nam một quốc gia cộng sản chỉ còn chỗ dựa ở Trung cộng để tồn tại, chánh quyền thì mục ruỗng thối nát, dùng quyền cai trị để trục lợi, can tội bán nước quì lụy giặc ngoại xâm chỉ còn biết dùng bạo lực trấn áp để tồn tại đang bị nhân dân chán ghét cực độ, nội bộ chia rẽ tranh chấp chỉ chờ ngày bùng nổ ... sự đối đầu giữa HK và TQ đang là các chất xúc tác cực mạnh, những tác động tất yếu thúc đẩy làm biến thể chế độ vô phương cứu vãn.
Hai là TQ biết rõ ràng là sự xụp đổ của Bắc hàn không thể tránh khỏi nhưng không muốn thấy sự sụp đổ đó sẽ gây ra các nguy hiểm cho TQ và một điều mà TQ lo âu nhứt có lẽ là hậu quả sự xụp đổ của Bắc hàn sẽ châm ngòi cho cuộc trổi dậy toàn diện của dân tộc Tân cương và Tây Tạng đó cũng chính là nguồn cảm hứng vô tận, cơ hội ngàn năm đang đến cho chính nhân dân TQ, Việt Nam, Miến Điện, Lào, Cambodia cùng đứng lên giành lại tự do dân chủ cho chính mình ...
Lê Văn
| | | |
ÂU CHÂU BẤT TRẮC
Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA
... khủng hoảng Hy Lạp có thể lan ra toàn khối Euro và chấn động cho cả Liên hiệp Âu Châu...
Vừa bước vào năm mới, kinh tế thế giới đã có đầy dấu hiệu bất trắc. Đầu máy kinh tế mạnh nhất là Hoa Kỳ thì thất nghiệp còn cao, lại bị bội chi quá nặng nên liệu tăng thuế có giải quyết nổi vấn đề không? Kinh tế Nhật Bản thì chưa ra khỏi suy trầm, Trung Quốc lại đang có triệu chứng nóng máy tương tự như mươi năm về trước. Nhưng, bất trắc nhất là hoàn cảnh Âu Châu với vụ khủng hoảng Hy Lạp có thể lan ra toàn khối Euro và gây chấn động cho cả Liên hiệp Âu Châu. Những bất trắc ấy khiến các thị trường chứng khoán thế giới đều tuột giá nặng. Vì vậy, Diễn đàn Kinh tế Đài RFA xin tìm hiểu riêng về hoàn cảnh nguy ngập của Âu Châu, mà mắt bão là các nước miền Nam. Phần trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa về đề tài này sẽ do Việt Long thực hiện sau đây.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa.Thưa ông, đáng lẽ ra, trong một chương trình chào đón Xuân Canh Dần, chúng ta có thể đề cập tới một vài tiết mục tươi vui. Nhưng như ông hay nói, kinh tế vốn là một "khoa học u ám" và tình hình bất trắc của các nền kinh tế mạnh nhất thế giới lại đang gây lo âu cho những người phải quyết định về chính sách, cho nên, chúng tôi đành phải đề cập tới đề tài này.
Trong những bất trắc nổi bất nhất, thì ngoài trường hợp của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc, thế giới đang chú ý đến Âu Châu, gồm có 27 nước Liên hiệp Âu Châu, 16 nước trong khối tiền tệ thống nhất của đồng Euro và bốn nước tại miền Nam Âu Châu, trong đó có Hy Lạp ở mép bờ khủng hoảng và có thể vỡ nợ. Chúng tôi đề nghị là ta sẽ đặc biệt nói về sự nguy ngập này của Âu Châu. Ông nghĩ sao về việc đó?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta rất nên tìm hiểu tình hình Âu Châu vì có thể rút tỉa nhiều bài học cho Á Châu và cả Việt Nam. Nói về Âu Châu thì ta có thể đi từ trong ra ngoài, từ tình hình của Hy Lạp tới các nước miền Nam và cả khối Euro rồi Liên hiệp Âu Châu, trong đó có đầu máy mạnh nhất là quốc gia đang gánh nhiều trách nhiệm nhất là nước Đức. Hoặc ngược lại, ta đi từ bối cảnh chung của toàn khối Liên Âu trước khi tiến vào trung tâm của mắt bão tại miền Nam và khả năng cứu vãn của nước Đức, với hậu quả vừa kinh tế vừa chính trị cho cả lục địa này.
Việt Long: Theo thông lệ thì xin đề nghị ông trình bày bối cảnh sâu xa, trước khi nói về trường hợp Hy Lạp. Lý do là theo như ông vừa trình bày, khủng hoảng Hy Lạp không là hiện tượng đơn lẻ và các giải pháp cứu vãn có thể ảnh hưởng đến cả khối Euro, đến đồng Euro, và toàn thể cơ chế Liên hiệp Âu Châu...
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi xin được nói rằng đây là một đề tài nhức đầu nên cần xin lỗi trước quý thính giả khi phải tổng hợp lại cho ngắn gọn trong thời lượng của chương trình.
- Trước hết, Âu Châu phạm sai lầm khi tưởng rằng mình bị lây khủng hoảng từ Hoa Kỳ vào năm 2008. Vụ khủng hoảng tài chính tại Mỹ là cái duyên đã mở bung cái nhân là sự bất trắc tích lũy từ đã lâu trong cơ chế kinh tế Âu Châu. Như một người bị thương hàn mà cứ đổ lỗi cho một cơn lạnh đến từ bên ngoài. Tôi xin giải thích chuyện ấy:
- Tự thân thì kinh tế và hệ thống tài chính ngân hàng của Âu Châu đã có nhiều chứng tật như Hoa Kỳ, mà còn nguy ngập hơn. Cụ thể là cũng có bong bóng đầu tư về địa ốc, có nạn tín dụng thứ cấp đầy rủi ro. Quan trọng hơn cả là sự bất cẩn của các ngân hàng khi cấp phát tín dụng và còn đi vay với phân lời rẻ để đầu tư vào nơi có triển vọng sinh lời cao hơn.
- Có hai lý do của sự bất cẩn là thứ nhất tinh thần lạc quan của Tây Âu khi tiến vào phát triển Đông Âu vừa mới được giải phóng sau khi Liên Xô tan rã. Lý do thứ hai tinh thần ỷ lại của nhiều nước trong khối tiền tệ thống nhất là khối Euro nhờ sức mạnh kinh tế và giá trị đồng bạc của nước Đức, trở thành xương sống cho đồng Euro. Các ngân hàng Tây Âu phía Bắc thì đầu tư vào ba nước Cộng hoà Baltic ở mạn Bắc. Các ngân hàng Tây Âu ở phía Nam thì đầu tư vào Đông Âu và khu vực Balkan tại miền Nam.
Việt Long: Câu chuyện quả là rắc rối và có nguyên ủy từ lâu rồi.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa vâng, nhưng đó mới chỉ là bối cảnh chung khiến hệ thống ngân hàng Tây Âu đã trải mỏng phương tiện vào nhiều khu vực rủi ro. Vấn đề còn phức tạp hơn thế vì cơ chế điều tiết lại gặp mâu thuẫn là Ngân hàng Trung ương Âu châu chỉ có thể quyết định về chính sách tiền tệ và tín dụng khi có sự đồng ý của tất cả 27 hội viên; trong đó lại có 16 thành viên đã thống nhất tiền tệ là khối Euro. Mâu thuẫn thứ hai về cơ chế là thỏa ước Maastricht năm 1992 lại không cho phép, tôi xin nói lại, là không cho phép xứ nào tung tiền cấp cứu xứ khác, cụ thể là nước Đức giàu mạnh không thể tiếp tục trợ cấp các nước kia như Đức đã làm khi chuộc lại Đông Đức và nâng đỡ các nước kém phát triển để họ tiến vào việc thống nhất tiền tệ.
- Nói cho gọn thì nhiều xứ nghèo yếu đã kiếm lời nhờ sự bảo trợ đã trở thành thói quen của Đức. Bây giờ, mấy xứ bất cẩn đó có thể vỡ nợ khi các ngân hàng bị phá sản, là trường hợp đã xảy ra cho xứ Ireland ở miền Bắc và nay là bốn nước ở miền Nam quanh Địa trung hải được gọi chung dưới hỗn danh "Club Med", là hệ thống du lịch lấy tên từ biển Địa trung hải, Mediterranean Sea! Bốn xứ đó là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý Đại Lợi và Hy Lạp. Đà khủng hoảng còn đe dọa các xứ khác, kể cả Pháp và Bỉ. Cùng với Đức, tất cả đều nằm trong khối Euro và đấy mới là vấn đề.
Việt Long: Bức tranh toàn cảnh mới khiến người ta thấy tầm nghiêm trọng của vấn đề. Nhưng vì sao các quốc gia trên lại có thể bất cẩn trong đầu tư và chi thu đến như vậy? Vì ỷ vào sức yểm trợ của kinh tế Đức hay sao?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói chung, các nước Âu châu có tinh thần gọi là "xã hội chủ nghĩa" khi ban phát phúc lợi xã hội cho dân chúng, thực chất là chủ trương bao cấp, còn mạnh hơn Hoa Kỳ cho tới khi có Chính quyền Barack Obama. Một số quốc gia thì còn tăng chi quá đáng. Thí dụ như năm 2008, ngân sách Hy Lạp mất gần 20% của Tổng sản lượng GDP chỉ riêng cho các khoản chi xã hội ấy, là kết quả của 10 năm tăng chi liên tục. Của Pháp thì tỷ lệ này lên tới 17,5%, của Ý là 17,7%. Đấy là các quốc gia có mức công chi và bội chi cao nhất Âu Châu vì mục tiêu xã hội của họ. Khi tăng chi quá số thu và bị bội chi thì Nhà nước phải đi vay, càng muốn vay nhiều thì càng phải trả phân lời cao.
- Nhưng vay ai bây giờ, và với phân lời nào thì đủ cho giới đầu tư thấy an toàn mà tiếp tục mua công khố phiếu của họ? Vì vậy, trị giá trái phiếu của các xứ này mà bị đánh sụt là giới đầu tư hốt hoảng, là chuyện xảy ra từ cuối năm ngoái cho Hy Lạp. Xứ này lại còn cạo sửa thống kê để hạ thấp số bội chi cho phù hợp với tiêu chuẩn của Liên Âu nên càng mất tín nhiệm trên thị trường vay mượn. Lồng vào đó là tình trạng sổ sách bấp bênh của các ngân hàng đã đầu tư quá mạnh vào khu vực Balkan và bị lỗ quá nặng.
- Kết cuộc thì thế giới đang tự hỏi xem quốc gia này có bị vỡ nợ hay chăng? Nghĩa là sẽ lại như xứ Iceland năm ngoái đã chính thức thông báo là xin tạm hoãn trả nợ quốc trái. Cuối năm ngoái, dân Hy Lạp biểu tình vì đòi phúc lợi nên chính quyền thuộc đảng trung hữu bị đổ. Đảng trung tả lên thay càng hết dám giảm chi mà chỉ nghĩ đến giải pháp tăng thuế, làm sản xuất càng dễ suy sụp. Thành thử, Hy Lạp bị ép ở hai mặt là động loạn xã hội bên trong, khi các chủ nợ gõ cửa đòi nợ ở bên ngoài, nên chưa biết sẽ xoay trở ra sao. Tình trạng này mà kéo dài thì các nước kia sẽ bị vạ lây.
Việt Long: Nói riêng về Hy Lạp thì xứ này có những giải pháp thoát hiểm nào, chứ chẳng lẽ cứ ngồi chờ chết sao?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Họ có giải pháp tôi xin ví von là "chuyển bại thành liệt" vì tinh thần vô trách nhiệm của chính quyền và tính ỷ lại của dân chúng. Nói ngắn gọn thì Hy Lạp sẽ trông chờ quốc tế và tự đánh mất chủ quyền. Về các giải pháp thì thứ nhất, Hy Lạp có thể hạ quyết tâm chấn chỉnh chi thu. Cụ thể là giảm chi ít ra phân nửa với hậu quả là thất nghiệp tăng gấp đôi, tới hơn 20%, và các chính phủ sẽ nối nhau rụng như sung. Vì vậy, chẳng chính quyền nào dám làm cách mạng như thế, nhất là chính quyền trung tả hiện nay. Giải pháp thứ hai, là tự bước ra khỏi khối Euro để có toàn quyền in bạc trả nợ với hậu quả là lạm phát phi mã, các khoản công trái sụt giá. Tiền Hy Lạp mà mất giá thì cũng có lợi cho xuất cảng và trước khi gia nhập khối Euro nhiều xứ khác cũng đã áp dụng biện pháp đó. Nhưng bây giờ thì khó vì khi ấy ai dám cho xứ này vay tiền nữa, với phân lời bao nhiêu mới đủ? Giải pháp thứ ba là chính phủ đành tuyên bố vỡ nợ và sẽ không tìm ra chủ nợ mới, mà cũng chẳng thể buôn bán ngay với các nước trong khối Âu Châu vì chẳng xứ nào muốn bán hàng cho Hy Lạp để thu về giấy lộn vô giá trị. Hy Lạp coi như sẽ tiêu diệt nền kinh tế của mình.
Việt Long: Xin hỏi ngay ông một câu rất thời sự là tình trạng tăng chi rồi đi vay cũng là hoàn cảnh bất trắc của Hoa Kỳ ngày nay. Vụ Hy Lạp không làm nước Mỹ và dân Mỹ suy nghĩ sao? Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi còn nhớ lời phát biểu rất chính đáng của một kinh tế gia nổi tiếng Hoa Kỳ là ông Larry Summers. Rằng "không thể là siêu cường khi là một xứ ngập nợ!" Nhưng ông ta nói vậy trước khi làm Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia cho Tổng thống Obama! Thực tế thì Hoa Kỳ có ưu thế mà xứ khác cho là bất công, là vai trò ngoại tệ dự trữ của đồng Mỹ kim. Nghịch lý là khi Mỹ bị khủng hoảng rồi tăng chi vô trách nhiệm năm ngoái thì vẫn tiếp tục có người mua công khố phiếu Hoa Kỳ nhiều hơn, vì dù lời ít thì vẫn an toàn hơn công khố phiếu của nhiều xứ khác! Dù sao, vụ Hy Lạp cũng là một hồi chuông cảnh báo có lợi cho chính trường và dư luận Hoa Kỳ. - Trở lại chuyện Hy Lạp thì khi xứ này cân nhắc ba giải pháp cùng tự sát như vậy, các nước Âu Châu cũng phải suy nghĩ hơn thiệt và bàn tính về giải pháp tung tiền cấp cứu. Lý do là nếu phân lời trái phiếu Hy Lạp vọt lên trời thì lần lượt các nước khác - theo thứ tự về mức độ nguy kịch là Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý Đại Lợi và Pháp - đều mắc cạn vì lãi suất sẽ tăng và họ sẽ lại gặp bài toán kiểu Hy Lạp. Vì vậy, người ta chỉ còn giải pháp thứ tư là cấp cứu quốc tế. Việt Long: Có phải là giải pháp ấy nghĩa là các nước khác đưa tiền cho Hy Lạp chuộc nợ với điều kiện là từ nay xứ này sẽ phải chấn chỉnh chi thu hay không? Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thật ra, giải pháp này cũng không đơn giản. - Xưa kia, khi Mexico hay Argentina bị khủng hoảng và gặp nguy cơ phá sản thì Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và Hoa Kỳ đã tung tiền và phối hợp cấp cứu. Ngày nay, Hoa Kỳ ưu tiên lo chuyện nhà, lại trong một năm có bầu cử nên nhiều phần sẽ bó tay. Điển hình là Tổng thống Obama từ chối không tham dự hội nghị thượng đỉnh giữa Âu Châu và Hoa Kỳ tại Madrid vào tháng Năm này. Còn lại thì Quỹ Tiền tệ IMF cũng khó là giải pháp vì hai lý do. Thứ nhất, cơ chế này sẽ đặt điều kiện chẩn chỉnh rất khắt khe và càng dễ gây ra khủng hoảng chính trị như đã xảy ra cho Indonesia năm 1989. Thứ hai, nhiều hội viên ngoài Âu Châu ngồi trong Hội đồng Thống đốc để quyết định về chín sách của IMF chưa chắc đã đồng ý với việc cấp cứu một thành viên của khối Euro sau này sẽ cạnh tranh với họ.
Việt Long: Như vậy, suy đi tính lại thì có lẽ chỉ còn cường quốc kinh tế Âu Châu cuối cùng là nước Đức mà thôi? Có phải vậy không? Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là nhiều phần sẽ như vậy sau khi nước Đức đã một mình chuộc lại Đông Đức, và yểm trợ nhiều xứ khác. Lần này, chắc chắn là Đức sẽ phải có điều kiện rõ ràng hơn về luật lệ và dù sao sẽ tăng cường vai trò quốc tế của mình, là điều chúng ta sẽ tìm hiểu sau khi ăn Tết mà chúng tôi xin cầu chúc là thật vui vẻ, an lành tới toàn thể quý thính giả.
Việt Long: Xin cám ơn ông Nguyễn Xuân Nghĩa.
| | | |
NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:
BẦU DÂN BIỂU MỸ GỐC VIỆT ĐỂ LÀM VIỆC CHO QUYỀN LỢI MỸ HAY VIỆT ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 21.01.2010
Trong gần một tháng nay, vấn đề bầu người Mỹ gốc Việt vào Quốc Hội Liên Bang mang tính cách thời sự: (i) DB TRẦN THÁI VĂN ra ứng cử cùng một đơn vị với Bà DB Liên Bang Loretta SANCHEZ, một chiến hữu đồng minh đã cùng chúng ta đấu tranh cụ thể cho Dân chủ, Nhân quyền tại Quê Hương Việt Nam; (ii) DB Liên Bang CAO QUANG ÁNH về Việt Nam và tuyên bố những câu làm một số người Việt Quốc nội cũng như Hải ngọai không hài lòng cho lắm.
Không muốn bàn về những vấn đề có tính cách nội bộ của những khu vực Người Việt tại Hoa kỳ, nhưng chúng tôi đã viết hai bài về trường hợp DB Trần Thái Văn chỉ vì Dân Biểu quyết định ra tranh cử nhằm lọai Bà Loretta SANCHEZ, một chiến hữu đồng minh chống CSVN đang cai trị tại Quê Hương VN. Mà Quê Hương Việt Nam liên hệ đến cuộc đấu tranh của cả khối người Việt Hải ngọai trên Thế giới, chứ không riêng cho vùng Nam Cali.
Hai bài mà chúng tôi đã viết hoặc những bài khác mà chúng tôi sẽ viết về vấn đề này chính yếu xoay quanh câu hỏi: BẦU DÂN BIỂU MỸ GỐC VIỆT ĐỂ LÀM VIỆC CHO QUYỀN LỢI MỸ HAY VIỆT ? Trả lời câu hỏi ấy, cử tri mới nhìn rõ quyết định lựa chọn.
Dân Biểu Mỹ làm việc cho Chính trị Mỹ
Nếu những cử tri Mỹ gốc Việt thấy rằng mình đã QUÊN Việt Nam và kể Hoa kỳ là Quốc gia chính yếu cho quyền lợi của mình lúc này tại nước Mỹ, thì việc lựa chọn Dân biểu là theo tiêu chuẩn khả năng làm việc cho quyền lợi nước Mỹ. Quyền lợi nước Mỹ theo Chính trị Mỹ hiện nay đối với CSVN có thể sẽ đi ngược lại quyền lợi của 85 triệu Dân Việt Nam. Nếu vì quyền lợi Mỹ, Kinh tế hay Quốc phòng chẳng hạn, mà Chính trị Mỹ là bắt tay với đảng CSVN, thì Chính trị ấy có thể coi là tòng phạm với quyền lực độc tài để đàn áp Dân chúng Việt Nam. Trong trường hợp này, nếu cử tri Mỹ gốc Việt chỉ nhằm quyền lợi Mỹ mà chọn người, thì không những cử tri ấy đã quên gốc Việt của mình mà còn là tòng phạm với CSVN để tiếp tục gây tội ác trên Dân tộc.
Lấy tỉ dụ cụ thể trường hợp của Dân Biểu Liên Bang Cao Quang Aùnh với những lời tuyên bố trong dịp Oâng về Việt Nam vừa rồi. Đối với biến cố phá đập Thánh Giá tại Đồng Chiêm, Oâng tuyên bố: “Tôi nghĩ đây không phải là việc làm của chính quyền, mà của một trong những người cấp nhỏ.” Câu nói có thể là vì làm theo Chính trị Mỹ, Oâng muốn tránh va chạm làm mích lòng chính quyền Trung ương CSVN. Oâng Aùnh còn tuyên bố thêm: "Dù còn bất đồng ý kiến trong một số vấn đề, nhưng tôi hy vọng hai bên sẽ hiểu nhau hơn và cùng làm việc cho tương lai của hai nước“. Câu nói này cũng theo Chính trị Mỹ là muốn hợp tác với CSVN được coi như “nước Việt Nam“. Đứng về phía Chính trị Mỹ, thì chúng ta không trách Oâng Joseph Cao vì Oâng đã là Mỹ và làm việc cho quyền lợi Mỹ, mà quên cái gốc Việt mang lòng ray rứt trước những khổ đau của 85 triệu dân quốc nội.
Dân Biểu Mỹ gốc Việt làm việc chính yếu cho Việt Nam
Đây là trường hợp mặc dầu là Dân Biểu Mỹ, nhưng mượn vị trí Mỹ mà làm việc chính yếu cho quyền lợi Việt Nam. Quyền lợi Việt Nam ở đây cũng được hiểu theo hai khía cạnh: (i) quyền lợi của những người gốc Việt Nam thuộc đơn vị đã bầu cho mình tại Mỹ; hay (ii) quyền lợi của khối Dân tộc Việt Nam tại Quốc nội.
(i) Quyền lợi Việt Nam tại Mỹ
Nếu vị Dân Biểu Mỹ gốc Việt quên khối Dân 85 triệu tại Quốc nội, mà chỉ làm việc cho những người Mỹ gốc Việt tại một đơn vị ở Mỹ, thì chúng tôi cũng không có quyền trách móc gì. Có lẽ chúng ta chỉ than rằng vị đó sớm quên Quê Hương hoặc vì những quyền lợi riêng tư gì đó mà cố tình quên Quê Hương, tránh va chạm với bạo quyền CSVN hiện hành có thể làm họ mất quyền lợi riêng tư cho chính họ hoặc gia đình họ liên quan đến Việt Nam.
(ii) Quyền lợi Việt Nam tại Quốc nội
Quyền lợi Việt Nam tại Quốc nội là việc đấu tranh cho khối Dân 85 triệu được hưởng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, cho khối người nghèo khỏi bị bóc lột thêm nữa bởi nhóm Mafia CSVN tham nhũng vơ vét tài sản, cho Lãnh thổ và Lãnh hải Việt Nam khỏi bị bán từng phần cho Trung quốc. Những cử tri Mỹ gốc Việt, nếu còn nghĩ đến khối dân Việt Nam 85 triệu đang đau khổ, Đất Nước đang bị xâm chiếm, thì chọn Dân Biểu theo tiêu chuẩn này.
Chính vì việc đấu tranh cho khối Dân 85 triệu tại Quốc nội, cho Đất Nước được tòan vẹn, mà khi viết hai bài về trường hợp đơn vị 47 Nam Cali, chúng tôi thấy rằng việc chọn Bà Loretta SANCHEZ là đúng lý. Bà đã là một chiến hữu can đảm và lâu năm đấu tranh cho quyền lợi của 85 triệu người Dân Việt Nam.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 21.01.2010
| | | |
VỤ XỬ 4 NHÀ DÂN CHỦ TẠI SÀI GÒN
Kim Ha Lúc 9:15 sáng ngày 20/1/2010 giờ Việt Nam
Bất kể các thủ thuật răn đe của công an và không khí căng thẳng bao trùm, hiện nay chúng tôi đã thấy một vài nhóm bạn hữu kéo đến ủng hộ các anh Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long, tức 4 nhà dân chủ bị đem ra tuyên án hôm nay.
Thật trái ngược với tuyên bố của tòa án rằng đây là buổi xử công khai, đủ loại công an sắc phục và thường phục được huy động để bao vây toàn bộ khu vực và kiểm soát từ xa. Các xe lớn bị xét hỏi từ khi còn cách tòa án khoảng 1km. Các xe nhỏ hơn không được đến gần hơn 500m. Ngay bên ngoài cổng tòa án tại số 131 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa nhiều toán công an đứng rải rác và một số khác được dấu trong các xe tải lớn quanh đó.
Chúng tôi cũng được biết công an đã phải thực tập trấn áp đám đông từ vài ngày trước. Các phóng viên ngoại quốc cũng bị răn đe không được chụp hình. Điều này đã khiến nhiều ký giả phản đối. Và có lẽ để cố gắng tạo tối đa khó khăn cho các ký giả ngoại quốc và các đại diện sứ quán nước ngoài vào giờ chót, các thông cáo chung của nhà cầm quyền chỉ ghi đây là “phiên tòa xét xử TRẦN HUỲNH DUY THỨC & ĐỒNG PHẠM bị truy tố tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Tên của các anh Nguyễn Tiến Trung và Lê Công Định, hai người mà thế giới biết đến nhiều nhất, không được viết ra.
Chúng tôi đã kiểm chứng được chỉ có chị Ngọc Khánh và thân mẫu của chị là 2 người thân duy nhất của luật sư Lê Công Định được vào dự phiên tòa. Chị Ngọc Khánh đã có mặt từ sáng sớm với ước mong được nói với chồng vài câu trước giờ xử nhưng hoàn toàn bị cách ly.
Đài Chân Trời Mới sẽ tiếp tục cập nhật các diễn biến và tường trình tại trang blog http://radiochantro imoi.wordpress. com
XỬ NHỮNG NHÀ DÂN CHỦ
Đàn áp không phải là Công lý Việt Long, phóng viên RFA 2010-01-19
Ngày 20 và 21 tháng 1 năm 2010, chính quyền VN sẽ xét xử nhiều nhà tranh đấu vì nhân quyền như LS Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa… Luật sư Trần Thanh Hiệp đưa ra nhận định trước các phiên tòa. Tòa án nhân Hà Nội vừa mới xử lại và giữ nguyên bản án sơ thẩm phạt 4 năm tù giam, kỹ sư Phạm Văn Trội, 3 năm tù giam đối với nhà văn Trần Đức Thạch và nhà giáo Vũ Hùng về tội tuyên truyền chống Nhà nước.
Ngày 20-01-2010 tòa án nhân dân cấp sơ thẩm thành phố Sài Gòn sẽ xử vụ các nhận vật trí thức trong đó có Luật sư Lê Công Định, kỹ sư Nguyễn Tiến Trung bị truy tố về tội âm mưu lật đổ chính quyền.
Và ngày 21-01-2010 tòa án nhân dân Hải Phòng cũng mở phiên xử phúc thẩm để xử lại vụ 6 nhân vật khác về tội tuyên truyền chống Nhà nước, trong đó nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa bị coi là chủ mưu, được yêu cầu cho biết nhận xét của ông về những phiên xử hàng loạt nói trên.
Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân Quyền, trụ sở đặt tại Paris, nói rằng ông rất quan tâm trước bước leo thang đàn áp rất đáng quan ngại hiện nay của bộ máy cầm quyền Hà Nội.
Sau đây xin mời quý vị theo dõi cuộc trao đổi giữa Việt Long của đài Á Châu Tự Do và Luật sư Hiệp.
Leo thang đàn áp
Cơ quan điều tra khởi đầu đã làm tình làm tội để ép buộc các bị can nhận tội trước báo chí là đã phạm vào điều 88 Bô luật hình sự. Nhưng phút chót các cơ quan này lại đổi tội danh.
Việt Long: Trong những phiên xử tại Việt Nam như vừa được trình bày, có lẽ công luận đang chờ theo dõi diễn tiến vụ xử 4 nhân vật được quốc tế biết đến nhiều, mà hồ sơ tội trạng đã được thiết lập chiếu điều 79 Bộ luật hình sự xử lý tội âm mưu lật đổ chính quyền. Cảm tưởng của luật sư ra sao về các mặt nhân quyền, công lý ở Việt Nam trước những phiên xử dồn dập như vậy?
LS Trần Thanh Hiệp: Quang cảnh náo nhiệt trong sinh hoạt tư pháp vừa được nêu lên đó mang nhiều ý nghĩa vừa đã rất rõ vừa lại chưa rõ. Theo tôi, có một điều đã rất rõ đó là tình trạng căng thẳng này trong xã hội bắt nguồn từ sự chống đối đường lối cai trị của nhà cầm quyền ngày càng gia tăng và càng tỏ ra không còn là việc nhỏ nữa, không thể bỏ qua hay giải quyết bằng biện pháp hành chánh được mà phải nhờ đến tòa án. Nếu luật pháp mà tốt nghĩa là thuận lòng người và tòa án là trọng tài vô tư thì mức độ căng thẳng sẽ sút giảm vì công lý được thực hiện.
Nhưng việc tòa phúc thẩm Hà Nội trong vụ Phạm Văn Trội-Trần Đức Thạch vẫn giữ nguyên những mức hình phạt của tòa dưới mặc dù các đương sự đã kháng cáo cho thấy là công lý vẫn chưa xuất hiện. Tất nhiên còn phải đợi thêm kết quả của hai vụ sắp xử thì mới rút ra được những kết luận đầy đủ. Vậy trong khi chờ đợi thì tôi có thể nói rằng công lý vẫn ở đằng trước và cho đến phiên xử vừa qua của tòa phúc thẩm Hà Nội thì cuộc đàn áp đối lập ở Việt Nam vẫn tiếp tục qua những bước leo thang mới.
Việt Long: Tòa trên chỉ y án tòa dưới thì luật sư cũng cho là leo thang sao?
LS Trần Thanh Hiệp: Tuy tôi đã thận trọng để nói rằng có những bước leo thang đàn áp mới nhưng thật ra cũng đã có leo thang trong vụ án Phạm Văn Trội-Trần Đức Thạch. Tòa phúc thẩm không leo lên một bậc mới nhưng đã đứng ở bậc cũ mà tòa dưới đã leo, tức là tòa này đã bướcthêm một bước leo thang đàn áp đối với những người dân hoạt động dân chủ ôn hòa. Tôi sẽ xin bàn sau nếu có cơ hội, về vụ án Nguyễn Xuân Nghĩa sắp xử trong những ngày tới.
Nhưng trong vụ Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Hùynh Duy Thức tuy chưa xử nhưng đã có leo thang đàn áp rồi. Cơ quan điều tra khởi đầu đã làm tình làm tội để ép buộc các b
|
|
|
|