DIEN DAN CHINH TRI VIET NAMDau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
=============================================================== VietTUDAN --------------------------------------------------------------------------QUAN DIEM ===============================================================
CHỦ ĐỀ: TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH
Bài 07:
MỨC ĐỘ ÁP DỤNG CÁCH MẠNG BẮC PHI CHO VIỆT NAM
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tê Geneva, 24.02.2011 Web : http://VietTUDAN.net
Tuần trước, chúng tôi viết bài Quan Điểm thứ 6 với đầu đề AI CẬP: ĐƯỜNG ĐI ĐẾN TỰ DO DÂN CHỦ NHIỀU CHƯỚNG NGẠI VÀ DỄ “CHỆCH HƯỚNG “. Việc chệch hướng này có thể do chính giới trẻ mang những ý niệm quá lý tưởng về những chữ Tự do, Dân chủ, Nhân quyền. Cũng có thể chính giới trí thức làm Chính trị trong nước muốn tiến nhanh đến vị trí nắm quyền hành mà đẩy đường đi theo hướng tắt bấp bênh hời hợt. Giới tính toán Chính trị quốc tế vì muốn một sự chuyển tiếp trong trật tự theo quyền lợi của mình mà chỉ trùm lên nguyện vọng của Cách Mạng quần chúng bằng giải quyết Chính trị mau chóng cho yên chuyện.
Trên các Diễn Đàn, trước cao trào Cách Mạng sôi động ở Bắc Phi và Trung Đông, chúng tôi đọc được những bài viết thôi thúc việc đứng lên của Việt Nam. Những bài viết ấy thường nhấn mạnh: BAO GIỜ ĐẾN VIỆT NAM ?
Với bài Quan Điểm thứ 7 tuần này, chúng tôi muốn phần tích những kinh nghiệm từ Bắc Phi và Trung Đông để có thể áp dụng cho Việt Nam, dưới những khía cạnh sau đây:
=> Động lực chính và nguyện vọng căn bản của Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông. => Những bài học nào mà Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông cho chúng ta thấy ? => Áp dụng mức độ nào những bài học từ Bắc Phi và Trung Đông cho Việt Nam ?
Động lực chính và nguyện vọng căn bản của Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông.
Chúng tôi đã nhiều lần phân tích về cái động lực cụ thể và chính yếu làm cho một cá nhân có đủ can đảm – hay đúng hơn liều chết – nổi dậy là cái DẠ DẦY cá nhân đó đói. Khi mà trên 40% dân chúng sống dưới mức nghèo khó với chưa đầy 2 đo-la mỗi ngày, thì khối quần chúng ấy đứng lên đòi quyền sống cho thân xác mình. Trong lúc sờ bụng thấy đói như vậy, họ lại nhìn thấy một thiểu số người cầm quyền giầu nứt khố. Đồng thời họ cũng hiểu rằng đám thiểu số cầm quyền giầu nứt khố này đã cướp bóc sức lực của họ và khai thác tài nguyên quốc gia để làm giầu riêng cho mình. Lòng GHEN TỨC và HẬN THÙ dần dần lớn lên trong người họ đối với đám thiểu số bóc lột kia. Đến một ngày nào đó tâm lý xã hội HẬN THÙ đến tột độ, cộng với DẠ DẦY đói cá nhân đến ngắc ngoải chết, thì khối quần chúng nghèo buộc phải đứng lên đứt khoát chấm dứt thiểu số giầu nứt khố bóc lột kia.
Đó là động lực chính yếu và cụ thể của Cách Mạng đứng lên đạp đổ kẻ đè đầu bóp cổ cướp bóc mình.
Đạp đổ rồi, họ phải xây dựng con đường Cách Mạng đã bắt đầu. Con đường xây dựng Cách Mạng, nếu cho đúng hướng, nghĩa là không “chệch hướng “, thì phải tôn trọng cái nguyện vọng căn bản của quần chúng. Không khó gì để thấy cái nguyện vọng căn bản của quần chúng. Thực vậy, khi DẠ DẦY họ đói mà phải liều chết đứng lên làm Cách Mạng, thì nguyện vọng gần nhất và cấp thiết nhất là phải có cái DẠ DẦY no.
Nếu giới trí thức chính trị quá xa vời với những phạm trù trừu tượng như Tự do, Dân chủ, Nhân quyền để nói rằng đó là nguyện vọng của quần chúng đói, thì quần chúng dễ thất vọng và có thể nổi xùng nói rằng: “Hỗi các ông làm Chính trị ! Các ông nhát như cáy không dám liều chết xuống đường. Bây giờ chúng tôi liều chết đuổi được đám cầm quyền cướp bóc rồi. Các ông nhẩy vào mượn DẠ DẦY đói của chúng tôi để nấu cháo Tự do, Dân chủ, Nhân quyền trừu tượng để các ông xúm lại với nhau húp mà quên cái DẠ DẦY đói của chúng tôi !”
Cuộc Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông là cuộc Cách Mạng DẠ DẦY. Chính yếu là như vậy, còn gọi là Hoa Lài, Hoa Bản Hạ hay Hoa Thối Địt, thì đó là tiếng gọi cho vui nhưng đừng quên cái DẠ DẠ đang đói mà quần chúng cần được thỏa mãn.
Tại sao Tunisie, Ai Cập rồi Libye đuởi được Độc tài rồi, nghĩa là có Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, mà dân chúng lại bỏ Tự do, Dân chủ, Nhân quyền để nhào ra biển sang Liên Âu. Họ ra đi vì lo sợ rằng người ta chỉ nhét vào DẠ DẦY họ mấy chữ trừu tượng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền thì không làm cho họ no được.
Phái đoàn Ngoại giao Liên Âu sang thăm Ai Cập mới đây và hứa gbíup USD.1 tỉ cho Ai Cập, đó là hiểu đúng nguyện vọng căn bản của Cách Mạng. Vua của Saudi Arabia trở về nước và hứa bỏ ra USD.35 tỉ để tăng lương cho công chức và nâng cấp sống cho tuổi trẻ, đó là Vua đã hiểu cái nguyện vọng căn bản của Cách Mạng vậy.
Những bài học nào mà Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông cho chúng ta thấy ?
Nhìn cụ thể cái động lực chính và nguyện vọng căn bản của Cách Mạng tại Bắc Phi và Trung Đông như trên, chúng ta mới thấy những bài học để áp dụng cho cuộc nổi dậy và lập trường xây dựng Cách Mạng ở Việt Nam. Nhưng bài học ấy gồm những điểm sau đây:
1) Đây là cuộc Cách Mạng chính yếu của dân thành thị thất nghiệp và bụng đói. Đa số ở vào lớp tuổi trẻ và trung niên. Với 2 đo-la mỗi ngày mà phải sống ở thành thị, thì cái bụng đói càng ray rứt. Thực vậy, đất đai phần lớn là cát sa mạc, nên họ không thể sống với nông nghiệp. Nếu ở vùng quê nông nghiệp, thì với 2 đo-la mỗi ngày, họ có thể giải quyết bụng đói như Cụ NGUYỄN KHUYẾN vỗ bụng rau bình bịch. Nhưng ở thành thị, thì không có rau mà vỗ. Đó là tình trạng bụng đói của dân Bắc Phi và Trung đông.
2) Thất nghiệp, lớp tuổi trẻ và trung lưu có nhiều thời giờ dành cho máy Điện tử và Internet. Những nhà độc tài cấm tự do truyền thông báo chí, thì lớp người thất nghiệp này sử dụng Internet mà Nhà nuớc độc tài khó kiểm soát hết được. Cách Mạng Điện thoại Di động đóng phần không nhỏ cho cuộc hẹn hò nổi dậy, nhất nữa họ đã có sự quy tụ thường xuyên tại thành thị gần kề nhau để tụ họp lại. Không cần phải xa xôi như Bác Tám từ đồng nội lên Sài gòn.
3) Lòng HẬN THÙ của tâm lý xã hội đã lên đến cực độ đối với những nhà độc tài và gia đình. Việc khai thác nguồn dầu lửa cho túi riêng nằm sờ sờ ở sa mạc mà ai cũng nhìn thấy mỗi ngày. Nó khác với việc khai thác hầm mỏ ở rừng núi kín đáo như trường hợp ở Việt Nam. Những nhà độc tài tích luỹ tài sản kếch xù tại Bắc Phi và Trung Đông lại sống lâu năm, kéo dài tối thiểu từ 20 năm. Trong khi ấy, tại Việt Nam, đảng Cộng sản kéo dài, nhưng những Lãnh tụ thay đổi nhau mà tham nhũng vì vậy khó nhìn thấy sự tích lũy tài sản kếch xù đập vào mắt quần chúng. Thời gian lâu năm của một nhà độc tài tích lũy tài sản cho riêng mình và gia đình làm hội tụ mạnh lòng HẬN THÙ vào một người và một gia đình. Đó là điểm cắt nghĩa lòng HẬN THÙ của quần chúng Bắc Phi và Trung Đông thành cao độ tột bực.
4) Cái lòng HẬN THÙ xã hội tột bực này khiến Lập trường của Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông dứt khoát:
* Họ phải đạp đổ hẳn kẻ độc tài, ngay cả không chấp nhận bè đảng của nhà độc tài liên hệ đến việc đứng chung với họ để cùng làm cuộc chuyển tiếp. * Tất nhiên không chấp nhận chiêu bài “đối thoại “ hay “hòa hợp hòa giải “ để chi đi đến thêm bớt vào chế độ cũ một ít thay đổi gọi là CẢI CÁCH. * Quần chúng đói khổ làm Cách Mạng nhất thiết phải đưa ra xét xử những nhà độc tài và đòi lại những tài sản mà những nhà độc tài này đã bóc lột dân chúng và khai thác tài nguyên quốc gia (dầu lửa và du lịch)
Áp dụng mức độ nào những bài học từ Bắc Phi và Trung Đông cho Việt Nam ?
Sau những chục năm trường, đảng CSVN độc tài và độc quyền bóc lột nhân lực, khai thác tài nguyên quốc gia để làm của riêng giầu nứt khố. Hố sâu giầu nghèo mỗi ngày mỗi khơi rộng. Quần chúng nghèo khó, thêm khổ cực hơn nữa vì lạm phát, vật gia tăng vọt, đồng tiền phá giá. Quần chúng mang DẠ DẦY đói, động lực chính yếu cho nổi dậy. Đồng thời quần chúng Việt Nam chứng kiến nhóm đảng Fafia CSVN giầu lên vì tham nhũng. Những chứng kiến này đã tạo được lòng HẬN THÙ của quần chúng đối với nhóm đảng Mafia CSVN. Việt Nam đã có động lực chính yếu DẠ DÀY đói và tâm lý xã hội HẬN THÙ để nổi dậy dứt bỏ Cơ chế CSVN hiện hành-
Cũng như những bài viết trong thời gian này trên các Diễn Đàn, những câu câu hỏi mà chúng tôi đặt ra : (i) Lớp người nào khởi đầu ? (ii) Khả năng sử dụng truyền thông Internet ra sao ? (iii) Vai trò Hải ngoại đóng góp gì ? (iv) Lập trường xây dựng Cách mạng dứt khoát ra sao ?
(i) Lớp người nào khởi đầu ?
Đả từ nhiều năm nay, khi Phong trào Dân Oan nổi dậy, chúng tôi đã luôn luôn nghĩ rằng chỉ có những người Dân Oan này mới đủ can đảm không sợ chết đứng lên đòi quyền sống. Nhưng trong thời Phong trào Dân Oan nổi dậy, thì cũng có Phong trào Dân chủ. Chúng tôi đã kêu gọi Phong trào trí thức Dân chủ hãy đứng chung với Phong trào Dân Oan để tổ chức nổi dậy. Nhưng Phong trào Dân chủ, có lẽ quá ngưỡng vọng vào thế “khuyến khích “ của Hoa kỳ, mà cứ ngày đêm rêu rao những từ ngữ trừu tượng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền xa rời với cuộc đấu tranh cụ thể của Dân Oan cho quyền DẠ DẦY (Stomach Right). Những phạm trù trí thức trừu tượng này của Phong trào Dân chủ không đủ sức kéo được quần chúng xuống đường. Quần chúng nghèo phải có cái gì cụ thể, gần kề họ, thì họ mới tin tưởng.
Tiếp theo Phong trào Dân Oan này, Phong trào Giáo Oan Tòa Khâm sứ Hà Nội, Giáo xứ Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm… nổi dậy đòi CÔNG LÝ. Họ đứng lên vì những miếng đất cụ thể và thấy những tham nhũng bất công của CSVN đối với những miếng đất ấy. Thêm vào đó, đây là việc đứng lên của những Giáo dân mang Đức Tin và và không ngại sợ bạo lực đàn áp, chống lại Đức Tin của họ. Chính lẽ cuộc Cách Mạng cứu nguy Dân Tộc phải lớn lên từ những Giáo dân này. Nhưng rất tiếc, một số Lãnh đạo Giáo gian quốc doanh đã tung ra chiêu bài “đối thoại “ làm tay sai cho CSVN, nhất là tâu trình thất lợi với Vatican để Vatican can thiệp vào loại trừ TGM NGÔ QUANG KIỆT để đặt tại Hà Nội một TGM quốc doanh NGUYỄN VĂN NHƠN. Đây là việc làm tòng phạm với tội ác của CSVN để dìm xuống một ngòi Cách Mạng cứu nguy Dân Tộc.
Việc làm phục vụ CSVN của cánh Lãnh đạo Tôn giáo như trên không những làm hại cho Đức Tin Giáo dân, mà còn là việc phá hoại sự đứng dậy để cứu nguy Dân Tộc khỏi ách độc tài CSVN.
Những cuộc Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông ngày này chứng minh cho đám ngợm giáo gian biết rằng lời kêu gọi đối thoại của họ chỉ làm lợi khí để độc tài tiếp tục cướp bóc bất công đối với Dân chúng.
Dầu sao Tinh Thần ĐỒNG CHIÊM đòi CÔNG LÝ của khối Công giáo vẫn còn đó và khối Dân Oan mất nhà đất vẫn mang trong lòng HẬN THÙ.
Lực lượng nổi dậy tại Việt Nam phải dựa vào Tinh thần ĐỒNG CHIÊM của khối Giáo dân Công giáo và vào Khối Dân Oan vẫn mang HẬN THÙ.
Chúng tôi ước ao rằng nhóm trí thức Chính trị đừng nổi dậy bằng miệng với những ý niệm trừu tượng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền xa vời với động lực nổi dậy chính yếu là DẠ DẦY và tinh thần chống BẤT CÔNG mà quần chúng thấy cụ thể trước mắt.
(ii) Khả năng xử dụng truyền thông Internet ra sao ?
Chúng tôi thấy rằng cái khả năng này, giới trẻ Việt Nam có thừa để tổ chức một hệ thống truyền thông mà chính CSVN khó lòng ngăn cản được. Làm thế nào mà hệ thống truyền thông của giới trẻ không phải chỉ với nhau mà còn hội nhập vào Lực lượng Dân Oan và khối Giáo dân Công giáo để điều hợp cho có Phong trào liên kết. Giới trẻ giữ phần truyền thông điều hợp, nhưng Lực lượng Dân Oan và Giáo dân Công giáo mang sức mạnh đứng lên. Khối Giáo dân Công giáo cũng là những công dân và có nhiệm vụ cứu nước.
(iii) Vai trò Hải ngoại đóng góp gì ?
Trước đây, người Việt Hải ngoại dường như chú trọng vào việc vận động dư luận và sự yểm trợ của một số Chính quyền nước ngoài. Nhưng thực tế cho thấy rằng nước ngoài dễ cho chúng ta những hy vọng thoa dịu suông, mà họ nghĩ về quyền lợi của nước họ trước hết. Chúng tôi thường viết rằng Dân tộc mình đau khổ thì hãy tin tưởng trước vào chính mình để tự cứu. Không ai thương mình bằng chính mình thương mình. Nhiều khi nước ngoài một đàng nói Nhân quyền để an ủi chúng ta, nhưng một đàng thì bắt tay với độc tài vì quyền lợi của nước họ.
Chúng tôi thấy rằng có hai việc cụ thể mà Hải ngoại có thể hỗ trợ cho Quốc nội:
=> Các Diễn Đàn hay cá nhân Việt kiều tìm mọi cách để phổ biến Thông tin Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông về cho những người thân thuộc hay các Tổ chức tại Việt Nam. Việt kiều tập trung mọi nỗ lực tấn công thông tin truyền thông về Việt Nam.
=> Việc hỗ trợ thứ hai cụ thể là Truy tìm Tài sản mà những Lãnh đạo CSVN biển thủ chuyển ra cất giấu tại nước ngoài. Phải phục hồi những tài sản bất chính này về cho Quốc gia.
(iv) Lập trường xây dựng Cách mạng dứt khoát ra sao ?
Kinh nghiệm những chục năm trường phản bội của CSVN không cho phép chúng ta tin tưởng vào sự đứng chung với đảng Cộng sản VN nữa. Vì vậy, khi cuộc Cách Mạng nổi dậy, chúng ta dứt khoát:
=> Lật đổ hẳn Chế độ CSVN hiện hành
=> Không thể nói đến “đối thoại “ vì CSVN chỉ tìm mưu “đối thọi “ chúng ta mà thôi
=> Không có chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp mà những người làm Chính trị thời cơ đưa ra để nhằm nhẩy bàn độc.
=> Xây dựng DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ để có những điều kiện đi đến DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRỊ thực sự lâu dài và bền vững.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.02.2011 Web: http://VietTUDAN.net
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx GIU LAI NHUNG BAI QUAN DIEM TRUOC DE CHUYEN VAO PHAN LUU TRU====> ***************************************************************************************************
CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ:
Bài 06:
TỶ GIÁ ĐỒNG YUAN VÀ CĂNG THẲNG THƯƠNG MẠI MỸ VÀ TẦU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 18.03.2009
Trước đây người Pháp dùng cái tên IndoChine để chỉ khu vực địa lý giữa Aán độ và Tầu, trong đó có Việt Nam. Tuần vừa rồi, chúng tôi viết bài nhận định theo dòng thời sự: ẤN ĐỘ, MỘT CƯỜNG QUỐC KINH TẾ TƯƠNG LAI Á CHÂU và chúng tôi định viết bài QUAN ĐIỂM hôm nay với những phân tích về hướng phát triển của Kinh tế Aán độ trong phạm vi chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ.
Chúng ta ở giữa hai nước đông dân số, Trung quốc và Aán độ, cả hai được xếp vào những nước bắt đầu phát triển (Pays émergents). Kinh tế Trung quốc tập trung những phát triển dưới quyền lực độc tài độc đảng, chú tâm vào xuất cảng, nghĩa là hướng ngọai. Kinh tế Aán độ tản những họat động phát triển tới dân chúng trong nước, nghĩa là hướng nội, dưới chủ trương tản quyền kinh tế hay cũng gọi là dân chủ hóa kinh tế.
Định viết bài QUAN ĐIỂM hôm nay về Ấn độ như một tỉ dụ cho chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ. Nhưng tình hình căng thẳng về vấn đề Tiền tệ và Mậu dịch giữa Hoa-kỳ và Trung quốc trở thành gay gắt sau cuộc Họp báo Chúa Nhật vừa rồi, 14.03.2010, của Thủ tướng Oân Gia Bảo tại Bắc Kinh. Oâng công kích mạnh Hoa kỳ và coi Hoa kỳ đang đi đến Che Chở Mậu Dịch (Protectionnism). Đồng thời từ Hoa Thịnh Đốn, 130 Nghị viên Quốc Hội và một số Thương Nghị sĩ viết thư yêu cầu Obama phải làm mạnh với Trung quốc về tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ, thậm chí yêu cầu xử dụng quan thuế để chế tài Trung quốc nếu Trung quốc vẫn ương ngạnh.
Tuần trước, chúng tôi đã viết một bài QUAN ĐIỂM về phạm vi này với đầu đề: TRUNG QUỐC XUỐNG NƯỚC VÌ LO SỢ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI. Chúng tôi nói Trung quốc xuống nước theo những tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, và của Dương Khiết Trì, Ngọai trưởng Trung quốc. Nhưng tuần này, Thủ tướng Oân Gia Bảo lại lên nước cứng nhắc, khiến chúng tôi tạm để một bên về Kinh tế Aán độ và viết tiếp về sự căng thẳng đấu đá giữa Trung quốc và Hoa kỳ về Tiền tệ và Thương mại.
Trong bốn ngày gần đây, thứ Hai, thứ Ba, thứ Tư và thứ Năm hôm nay, nhiều bài viết về vấn đề căng thẳng đấu đá này trên các Nhật Báo lớn quốc tế. Nguyên xem những đầu đề viết, chúng ta đã thấy tầm căng thẳng đã lên cao như thế nào và những căng thẳng này không thể giải quyết một sớm một chiều mà yên. Nó còn kéo dài. Chính vì vậy mà chúng tôi xin liệt kê những đầu đề đó để qúy độc giả thấy tầm quan trọng của căng thẳng và cũng để qúy độc giả tiện vào đọc những bài sau đây để nhận định thêm :
* Le Figaro 15.03.2010, trang 18 :
PEKIN REJETTE LES CRITIQUES AMERICAINES
* Financial Times 15.03.2010, trang 1 :
CHINA PREMIER BRANDS PRESSURE OVER RENMINBI PROTECTIONISM
* The Wall Street Journal 15.03.2010, trang 1:
CHINA TAKES AIM AT U.S. OVER ECONOMY
* Le Monde 16.03.2010, trang 16:
CHINE: LE PREMIER MINISTRE RECONNAIT L’AGGRAVATION DES INEGALITES SOCIALES
* The Wall Street Journal 16.03.2010, trang 23 :
BEIJING IS STILL THE TOP HOLDER OF U.S.DEBT
* Financial Times 16.03.2010, trang 1:
CONGRESS LETTER URGES ACTION ON RENMINBI
* Fiancial Times 17.03.2010, trang 3:
BEIJING ON OFFENSIVE OVER RENMINBI
* The Wall Street Journal 17.03.2010, trang 1 & 3:
CHINA ATTACKS QUALITY OF FOREIGN GOODS
* Le Monde 18.03.2010, trang 16:
TAUX DE CHANGE DU YUAN: PUGILAT AMERICANO-CHINOIS
* Financial Times 18.03.2010, trang 2 :
WORLD BANK OPTIMISTIC ON CHINA ?
* The Wall Street Journal 18.03.2010, trang 14:
MULTINATIONAL COMPANIES SOUR ON THEIR DEALINGS WITH CHINA.
Chỉ nguyên đọc những đầu đề trên đây, chúng ta đã mường tượng ra tầm quan trọng của đấu đá giữa Hoa kỳ và Trung quốc và những vấn đề phức tạp chạm đến nồi cơm của mỗi nước. Chúng tôi không thể đi vào những chi tiết của những bài trên đây với phạm vi một bài QUAN ĐIỂM hôm nay. Phải cần những bài QUAN ĐIỂM tiếp theo nữa để đi vào chi tiết và nhất là theo rõi công việc đấu đá cho nồi cơm mỗi nước sẽ đi về đâu, sẽ có những trừng phạt quan thuế hay không (Sanctions par Taxes douanìeres), mỗi nước đưa ra những biện pháp không giá biểu như thế nào (Mesures non-tarifaires) và những biện pháp trả thù ra sao (Mesures de représailles).
Vì vậy bài QUAN ĐIỂM hôm nay chỉ nêu ra những điểm chính căng thẳng về Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ và những dự phóng xử dụng trừng phạt quan thuế về Thương mại từ hai phía Trung quốc và Hoa kỳ.
Thái độ từ phía Trung quốc
Chúng tôi nghĩ rằng những công kích từ phía Trung quốc về vụ việc Google, về việc Hoa kỳ bán võ khí cho Đài Loan, về việc Obama gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma... dần dần rồi cũng quên đi. Nhưng vấn đề gai góc tạo căng thẳng là Trung quốc coi việc giữ Tỷ giá thấp của đồng Yuan như một chính sách Tiền tệ chung cho phát triển Kinh tế Trung quốc. Trung quốc làm việc cho xuất cảng. Nếu xuất cảng tụt dốc, thì sản xuất kinh tế Trung quốc chết. Chính sách giữ Tỷ giá đồng Yuan thấp đối với Đo-la là nhằm cạnh tranh tăng xuất cảng, nghĩa là đồng thời nuôi dưỡng sản xuất. Chính vì vậy đối với Trung quốc, khi nói đến Tiền tệ, thì cũng phải nói đến tình trạng kinh tế chung của nước này.
Một số báo chí đã thổi phồng Kinh tế Trung quốc khi chỉ nhìn những thành phố ven biển, khi thấy những “gadgets” Made in China tràn ngập ở các Siêu thị bên này, khi nghĩ rằng chế độ chính trị Trung quốc cũng giống những chế độ dân chủ Tây phương.
Chúng tôi xin lập lại đây hình ảnh tóm tắt rất xác thực về Kinh tế Mafia độc đảng Trung Cộng với tất cả những tính tóan cho quyền lợi cá nhân của độc đảng cầm quyền:
Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, viết về hiệu quả Kinh tế/Thương mại Trung quốc như sau: “It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay).
Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung cộng, ở trong lòng nền Kinh tế như trên vừa tóm tắt, “ở trong chăn”, nên biết rõ tỏ tường chăn có rận rệp như thế nào. Vì vậy trong bài diễn văn nhân Mùa Xuân kết thúc Khóa họp Quốc Hội Nhân Dân ở Bắc Kinh, Chúa Nhật 14.03.2010, ông đã nhấn mạnh đến hai điểm chính: (i) Tình hình Kinh tế có những đe dọa để dẫn đến bất ổn xã hội; (ii) Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ/Đo-la là chính sách Tiền tệ cứu vãn Kinh tế.
Tình hình Kinh tế có những đe dọa dẫn đến bất ổn xã hội, chính trị
Bình thường, thì những Lãnh đạo chính trị độc tài bưng bít không dám nói ra những khuyết điểm. Nhưng lần này, một Thủ tướng đành phải thú nhận những đe dọa cho Kinh tế Trung quốc có thể dẫn đến những bất ổn Xã hội và Chính trị. Oân Gia Bảo nói rõ rệt như sau:
“L’inflation, plus une redistribution inéquitable des revenus et la corruption pourraient affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement” (Lạm phát, thêm vào đó là một sự phân phối không đồng đều những thu nhập và tham nhũng có thể tác hại đến sự ổn định xã hội và ngay cả đến sự ổn định nhà nước” (Le Monde 16.03.2010, trang 16)
Tại sao Thủ tướng Oân Gia Bảo phải thú nhận như vậy. Một số những nhà quan sát cho rằng việc thú nhận này có lẽ được xử dụng làm cái cớ để Trung quốc nhất thiết duy trì Tỷ giá thấp đồng Yuan mong cứu nền kinh tế đang chao đảo.
=> Lạm phát (Inflation)
Trung quốc đang lo sợ lạm phát. Tháng hai vừa rồi lạm phát tăng 2.7% và Nhà nước đang lo sợ rằng lạm phát tòan năm có thể lên 2 con số. Chính Oân Gia Bảo đã nhắc lại rằng năm 1989, vụ đẫm máu tại Thiên An Môn là do lạm phát tăng lên hai con số.
=> Sự phân phối không đồng đều những thu nhập (Redistribution inéquitable des revenus)
Đúng theo hình ảnh Kinh tế Trung quốc mà Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, đã tóm tắt như trên đây. Đó là Kinh tế Mafia đảng CSTQ, bóc lột nhân lực đại đa số dân Trung quốc mà không cho họ hưởng tương xứng với thu nhập, đám Mafia đảng trở thành giầu sụ và tiền thu nhập lại chuyển ra nước ngòai đầu tư chứ không đầu tư trong nước để đa số dân nghèo có thể được hưởng. Đồng Nhân Dân Tệ là tiền của Tầu mà chính đám Mafia giầu có lại sợ giữ tiền Tầu, nên mua đồng Đo-la để trữ. Tờ Le Monde ngày 16.03.2010, trang 16 viết: “La Chine est alarmée par le fait que le fossé ville-campagne va continuer à se creuser dans la mesure òu le pays se focalise sur le développement urbain et pas du monde rural.” (Trung quốc bị báo động bởi sự việc là hố sâu thành phố—nhà quê sẽ tiếp tục tự đào sâu thêm ở mức độ nước này đặt tiêu điểm phát triển thành thị và không phải là lãnh vực nông thôn)
Cách đây 6 năm, số người giầu từ 150 triệu Đo-la, liên hệ với đảng CSTQ, là 100 người. Ngày nay con số đó đã tăng lên 1’000 người (Le Monde 16.03.2010, p.16)
=> Tham nhũng (Corruption)
Tham nhũng mọi cấp tràn lan. Không cho hối lộ, thì công việc không chạy. Đó là lời nhận xét của một doanh nhân nước ngòai làm việc với Trung quốc. Ký giả Jamil ANDERLINI từ Bắc kinh đã viết trên tờ FINANCIAL TIMES ngày 27.01.2010, trang 17, viết về con trai của Oân Gia Bảo, Oân Yunsong, và con trai của Hồ Cẩm Đào, Hồ Heifeng:
“The children of China’s Leaders enjoy unparalelled access to decision-makers and are seen as essential facilitators by foreign businesses operating in the country. But while their names can help attract investors, any public perception in China that they are trading on their family’s name can be politically devastating and details of their activities are often regarded as state secrets. Internet searches for information on NEW HORIZON and Winston WEN were blocked in China yesterday. In similar situation in July last year, the Central Propaganda Department ordered all Chinese search engines to block searches related corruption probe in Namibia involving Nuctech, the airport scanner group controlled by Hu Haifeng, 38-year-old son of Hu Jintao, China’s president“. (Những con cái của các Lãnh đạo tại Trung quốc được hưởng liên hệ không sánh được về việc liên hệ trực tiếp với những người có quyền quyết định và được coi như là những người dàn xếp chính yếu bởi nhà kinh doanh nước ngòai làm việc trọng xứ Tầu. Nhưng trong khi tên của những con cái các Lãnh tụ này có thể quyến rũ những nhà đầu tư, thì bất cứ những sự biết đến của quần chúng rằng những người con này đang làm ăn dựa trên tên gia đình của họ có thể gây tàn phá về mặt chính trị, và những chi tiết họat động của họ thường được coi là những bí mật nhà nước. Những truy tìm tin tức bằng Internet về Tập đòan New Horizon và về Winston ÔN (On Yunsong) đã được ngăn chặn lại hôm qua tại Trung quốc. Trong hòan cảnh giống như vậy vào tháng Bẩy năm ngóai, Bộ Tuyên truyền Trung ương đã ra lệnh xử dụng tất cả những phương tiện tìm kiếm đóng chặt những truy tìm bằng chứng tham nhũng ở Namibia liên hệ đến NUCTECH, Tập đòan Air Scanner dưới quyền kiểm sóat của Hồ Haifeng, con trai 38 tuổi của Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch Trung quốc).
Con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, con rể của Tướng Võ Nguyên Giáp, tại Việt Nam, nhờ quyền lực độc tài đảng, mà làm ăn giầu có, lại thêm môi giới quyền lực ăn hối lộ.
=> Tác hại đến ổn định Xã hội, ngay cả ổn định Nhà nước (Affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement)
Oân Gia Bảo đã nói trước Quốc Hội Nhân Dân rằng những sự việc trên đây đang diễn ra trong nền Kinh tế Trung quốc và sẽ đưa tới sự bất ổn Xã Hội và Chính trị. Sự nổi dậy của khối dân nghèo nếu có lạm phát làm họ thiếu ăn. Những bóc lột sức lao động đã làm giầu có cá nhân thuộc đảng CSTQ đến một lúc sẽ làm nhân công không thể chịu đựng được và nổi dậy. Sự tị hiểm, uất hận sẽ tăng lên trong giới trẻ và trí thức khi nhìn những tệ đoan, bất công trên đây. Hình ảnh nổi dậy Thiên An Môn là một tỉ dụ cụ thể lịch sử.
Thú nhận những điểm như trên đây rồi, Oâng Gia Bảo tuyên bố một điều làm cho những ai thường ca tụng “cường quốc Kinh tế Trung quốc” phải ngạc nhiên: “Cela prendra cent ans, même plus pour que la Chine devienne un pays moderne” Điều đó còn cần 100 năm, ngay cả lâu hơn nữa, để Trung quốc trở thành một nước tân tiến) (Le Monde 16.03.2010, trang 16)
Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ/Đo-la là chính sách Tiền tệ cứu vãn Kinh tế.
Sau khi thú nhận những nguy hiểm của Kinh tế Trung quốc như trên, Thủ tướng Oân Gia Bảo nhất quyết bảo vệ chính sách Tiền tệ của Trung quốc nhằm bảo vệ xuất cảng và do đó sản xuất kinh tế trong nước. Có thể việc thú nhận này là để làm bối cảnh cho ông khẳng định cứng nhắc về chính sách Tiền tệ của Trung quốc.
Trước cuộc Họp báo ngày thứ Bẩy 06.03.2010, Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã mạnh mẽ kêu gọi việc phế bỏ Đo-la để chọn một đơn vị Tiền tệ khác. Nhưng trong cuộc Họp báo này, ông đã xuống nước. Bản tin của Reuters đánh đi từ Bắc Kinh ngày 08.03.2010, tóm tắt như sau (Bản dịch Pháp ngữ của Gwénaelle BARZIC):
“Lors de la session annuelle de l’Assemblée nationale populaire (Parlement), le gouverneur de la Banque populaire de Chine Zhou Xiaochuan a déclaré que Pékin serait un jour ou l’autre contraint d’abandonner cette politique “spéciale” du yuan, qui fait partie des diverses mesures prises par les autorités pour limiter l’impact de la crise. L’expérience a montré que ces politiques ont été positives, en contribuant à la fois au resdressement de notre économie et de l’économie mondiale. Les problèmes concernant le retrait de ces politiques apparaitront tôt ou tard. Si nous devons retirer ces politiques inhabituelles et revenir à des politiques économiques ordinaires, nous devons être extrêmement prudents dans le choix du calendrier. Cela inclut également la politique de taux de change du renminbi.” (Nhân dịp họp hàng năm của Quốc Hội Nhân dân, Thống dốc Ngân Hàng nhân dân Trung quốc Chu Tiểu Xuyên đã tuyên bố rằng Bắc Kinh, một ngày nào đó, buộc phải bỏ chính sách “đặc biệt” của đồng Yuan, chính sách làm thành phần của những biện pháp quyết định bởi Nhà Nước nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của khủng hỏang. Kinh nghiệm cho thấy rằng những chính sách này là tích cực, đóng góp vào việc khôi phục nền kinh tế của chúng ta và nền kinh tế của thế giới. Những vấn đề liên quan đến việc rút lại những chính sách này sớm muộn sẽ đến. Nếu chúng ta phải rút lại những chính sách bất thường này, chúng ta phải hết sức thận trọng trong việc lựa chọn lịch trình. Điều này cũng bao gồm cả chính sách tỷ giá của đồng nhân dân tệ.)
Nhưng trong bài diễn văn của Thủ tướng Oâng Gia Bảo, Chúa Nhật 14.03.2010, ông khẳng định nhất quyết không để những nước khác chỉ tay áp lực bắt Trung quốc phải nâng tỷ giá tiền tệ:
“We oppose all countries engaging in mutual finger-pointing or taking strong measures to force other nations to appreciate their currencies. (Chúng tôi chống lại tất cả những nước chỉ tay ra lệnh hay lấy những biện pháp mạnh để buộc những nước khác phải nâng tỷ giá tiền tệ của họ) (Financial Times 15.03.2010, trang 1).
Đồng thời Oân Gia Bảo cũng tuyên bố ngược lại lời khẳng định của Thống đốc Ngân Hàng Chu Tiểu Xuyên cho rằng đồng Yuan đã có tỷ giá thấp sánh với Đo-la. Oân Gia Bảo nói:
“The Chinese currency is not undervalued” (Đồng tiền Trung quốc không đánh giá thấp xuống). (Financial Times 15.03.2010, trang 1).
Chối bỏ rằng đồng Yuan không bị đánh thấp giá xuống, Oân Gia Bảo chuyển sang thế tấn công Hoa kỳ:
“What I don’t understand is depreciating one’s own currency, and attempting to pressure other to appreciate, for the purpose of increasing exports. In my view, that is protectionism !” (Điều mà tôi không hiểu nổi là một đàng hạ tỷ giá đồng tiền của mình, và một đàng làm áp lực để bắt người khác nâng tỷ giá tiền của họ, chỉ vì mục đích làm tăng xuất cảng của mình. Theo quan điểm của tôi, đó là Che Chở Kinh tế !) ((Financial Times 15.03.2010, p.1).
Theo như việc trình bầy những nguy hiểm của nền Kinh tế Trung quốc như Oân Gia Bảo nói trong đọan trên, thì việc cứng nhắc giữ chính sách Tỷ giả Tiền tệ của Trung quốc là điều bó buộc bởi những lý do sau đây:
=> Trung quốc bị cắt giảm việc đặt mua hàng từ Hoa kỳ và Liên Aâu. Nếu bây giờ tăng Tỷ giá đồng Yuan nữa, thì Trung quốc mất thêm xuất cảng nữa.
=> Việc tăng tỷ giá đồng Yuan cũng là việc làm giảm cạnh tranh của hàng hóa Trung quốc tại những nước nghèo và đối với hàng hóa của những nước bắt đầu phát triển cùng sản xuất những hàng hóa giống như Trung quốc.
=> Một nguy hiểm nữa: những nhà Tài chánh đầu cơ khi biết đồng Yuan có khuynh hướng tăng tỷ giá, họ thẩy vốn vào Trung quốc để hưởng lợi khi đồng Yuan tăng giá lên.
=> Khi những vốn đầu cơ này vào Trung quốc, tình trạng lạm phát càng trở thành nguy cơ và tác hại đến ổn định xã hội và chính trị. Đây là điều mà Nhà Nước độc tài CSTQ sợ hãi nhất. Đảng CSTQ sẽ không chịu đựng được sức nổi dậy của 4/5 dân số nghèo Trung quốc.
Thái độ cứng rắn từ phía Hoa-kỳ
Phía Hoa kỳ cũng có những lý do phải cứng rắn đối với việc giữ tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ thấp đối với Đo-la. Tỷ giá thấp ấy đã giúp Trung quốc tăng cạnh tranh hàng hóa, nghĩa là tăng xuất cảng. Trung quốc tăng xuất cảng không phải chỉ cạnh tranh với hàng Hoa kỳ tại chính đất Mỹ, mà còn đối với những vùng Kinh tế khác nữa, như Liên Aâu, Khu vực Thái Bình Dương, Trung Đông và Nam Mỹ. Lý do thúc đẩy quyết định mạnh hơn cả và trực tiếp cho Chính quyền Obama là:
=> Tình trạng thất nghiệp ở Mỹ tăng gần 10%
=> Lương bổng theo chiều hạ xuống tại Mỹ
=> Những Công ty Liên quốc gia (Multinationales) chuyển sản xuất sang Tầu để có giá thành hạ xuống. Việc này càng làm tăng thất nghiệp tại Mỹ.
Những lý do này buộc Hoa kỳ phải cứng rắn:
=> Yêu cầu Trung quốc phải tăng tỷ giá đồng Yuan, một yếu tố chính của cạnh tranh Trung quốc.
=> Nếu Trung quốc vẫn ương ngạnh giữ cứng nhắc tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ thấp để thủ lợi, thì Hoa kỳ phải dùng những biện pháp mạnh (Mesures fortes) như tăng thuế quan nhập khẩu, xử dụng những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires) hay những Biện pháp trả đũa (Mesures de représailles.
Đây là nội dung của Lá thư của các Nghị sĩ và một số Thượng nghị sĩ yêu cầu TT.Obama phải thi hành.
Ký giả Daniel DOMBEY từ Hoa Thịnh Đốn đã viết trên tờ Financial Times ngày 16.03.2010, trang 1, như sau:
“More than 100 memebers of the US Congress yesterday called on the Obama administration to label China a currency manipulator, in a move that highlighted the pressure on Washington to take a more confrontational stance towards Beijing”
(Trên 100 thành viên của Quốc Hội Hoa kỳ đã yêu cầu Chính quyền Obama phải kêu Trung quốc là người xử dụng biến hóa tiền tệ, trong một phong trào nhấn mạnh áp lực lên Washington để lấy vị trì chạm trán mạnh hơn với Bắc Kinh)
Hai Thượng nghị sĩ Chuck SCHUMER, Dân chủ New York, và Lindsey GRAHAM, Cộng hòa South Carolina, cũng lên tiếng tố cáo:
“Beijing’s refusal to let its currency appreciate was damaging the US economic recovery and hurting American competitiviness”.
“China’s currency manipulation would be unacceptable even in good economic times. At a time of 10 per cent of unemployment, we will simply not stand for it.”
(Việc từ chối của Bắc Kinh không để tỷ do tiền của họ tăng đã làm hại việc phục hồi Kinh tế Hoa kỳ và làm tổn hại tính cạnh tranh của Mỹ)
(Việc uốn nặn điên đảo đồng tiền Trung quốc không thể chấp nhận được ngay cả trong thời nền kinh tế yên lành. Ơû thời điểm có 10% thất nghiệp, chúng ta không thể đứng khoanh tay như vậy được.) (Financial Times 17.03.2010, p.3)
Trên đây là một số áp lực từ phía Quốc Hội và hai Thượng nghị sĩ áp đặt lên Chính quyền Obama để mạnh mẽ đòi hỏi việc tăng tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ. Nhưng Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung quốc đã có phản ứng cứng nhắc về vấn đề tỷ giá đồng Yuan mà Trung quốc coi như chính sách bao trùm quốc gia chứ không chỉ nguyên bảng cân đối thương mại. “La Chine considère la question du taux de change relève des affaires politiques nationales, et pas de la balance commerciale.” (Trung quốc kể vấn đề tỷ giá hối đóai liên hệ đến những phạm vi chính trị quốc gia, chứ không chỉ nguyên bảng cân đối thương mại) (Le Monde 18.03.2010, p.16). Chính vì vậy mà Oân Gia Bảo đã trình bầy dài dòng đến tình trạng Kinh tế chung nguy hiểm của Trung quốc như chúng tôi đã đề cập đến ở phần trên đây.
Một số chuyên viên Thương mại đã hình dung cho Hoa kỳ một số những biện pháp như:
=> Hoa kỳ có thể yêu cầu IMF/FMI (Qũy Tiền Tệ Quốc tế) để đưa ra những trừng phạt về tiền tệ.
=> Hoa kỳ có thể đưa Trung quốc ra WTO/OMC (Tổ Chức Mậu Dịch Thế giới) để khiếu nại về vấn đề xử dụng tỷ giá hối đóai nâng đỡ sản xuất và thương mại.
=> Hoa kỳ cũng có thể lấy những lý do nội tại để định thuế quan cho những hàng nhập cảng từ Trung quốc. Chúng ta đi vào những biện pháp trả đũa vậy (Mesures de représailles).
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 18.03.2010
Bài MỞ ĐẦU:
CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 11.02.2010
Chúng tôi đã viết một lọat bài về CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG THỂ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH khi phần tích cái cội rễ của suy thóai Kinh tế Việt Nam là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ lan tràn, tạo cướp bóc bất công về đời sống vật chất cho Dân. Tham Nhũng, Lãng Phí phát sinh và lan tràn chỉ vì đảng CSVN duy trì một CƠ CHẾ cho phép độc tài Chính trị—Luật pháp nắm độc quyền Kinh tế để tạo nên Kinh tế Mafia đảng và gia đình.
Sau lọat bài này, chúng tôi cho xuất bản cuốn sách vào đầu năm 2009 với nhan đề là “DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN”. Đòi hỏi dứt bỏ CƠ CHẾ hiện hành không phải là một đòi hỏi Chính trị, mà là một đòi hỏi Kinh tế để phát triển Đất nước. Đại đa số người Dân chỉ muốn phát triển Kinh tế để đới sống họ không phải nghèo khổ, đói ăn.
Đầu năm 2009, Một Báo Cáo của World Bank đã đưa ra nhận định về Kinh tế Việt Nam:
“Ngân hàng Thế giới đặt câu hỏi liệu Việt Nam sẽ đi theo số phận của Liên Xô cũ hoặc thành công như Mauritius, một quốc gia nhỏ bé đã cải tổ thắng lợi.
Nhà Nước VN luôn luôn tuyên truyền rằng tăng trưởng GDP hàng năm luôn ở mức cao, thậm chí trong thời điểm kinh tế khó khăn, luôn làm nức lòng người dân. Thế nhưng, tính toán mới đây của Ngân hàng Thế giới cho thấy Việt Nam sẽ phải mất hàng chục năm, thậm chí là cả trăm năm mới có thể đuổi kịp các nước láng giềng.
Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố đầu tháng này đưa ra những thống kê gây sốc cho những ai đang kỳ vọng lớn vào “con hổ Việt Nam”. Theo đó, Việt Nam có thể mất tới hàng chục năm mới đuổi kịp Indonesia và thậm chí trăm năm nữa mới bằng được Singapore về thu nhập trên đầu người.
WB còn đưa ra một cách tính toán nữa là tính bằng đồng đôla. Theo đó, tốc độ tăng trưởng thu nhập trên đầu người tính bằng đôla của các nước Việt Nam, Indonesia, Thái Lan và Singapore tương ứng là 12,5%, 6,4%, 4,9% và 6,0%. Nếu sử dụng các con số này thì thời gian để Việt Nam theo kịp các nước trên sẽ là 15 năm với Indonesia, 22 năm bằng Thái Lan và 63 năm thì ngang với Singapore.”
Trong Bài chót Kết luận cho lọat bài Chủ đề trên đây, cũng là nội dung của cuốn sách “DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN”, chúng tôi đã nêu lên việc DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ làm nền tẳng cho DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRI-LUẬT PHÁP. Nếu có Dân chủ hóa Kinh tế thực sự, thì việc Dân chủ hóa Chính trị-Luật pháp chỉ là một Hệ luận. Chúng tôi đã nhiều lần viết rằng đảng CSVN luôn luôn nói với Dân là họ chấp nhận nền Kinh tế Tự do Thị trường, rồi thêm cái đuôi “định hướng XHCN” để trên thực tế họ vẫn giữ chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy. Không thể nào có nền Kinh tế Tự do Thị trường thực sự trong một Môi trường Chính trị-Luật pháp độc tài. Nền Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã đã thất bại.
Chúng tôi đã đưa ra tỉ dụ của hai Quốc gia có nền Dân Chủ vững chắc nhất, đó là hai nước Hoa-kỳ và Thụy sĩ. Hai nước này bắt đầu xây dựng Thể chế Chính trị của họ bằng tôn trọng triệt để việc Tự do kiếm sống của mỗi Cá nhân. Khi những Cá nhân sống trong tương giao Xã hội, thì tinh thần tôn trọng cuộc sống vật chất (Kinh tế) cá nhân vẫn được triệt để chủ trương. Việc xây dựng hệ thống quản trị Xã hội (Chính trị) và Luật pháp cho mọi người vẫn phải lấy cá nhân làm trọng tâm.
Gương xây dựng nền DÂN CHỦ tại Hoa kỳ và Thụy sĩ bắt đầu bằng giải quyết CÁ NHÂN CHỦ những phương tiện kiếm sống cụ thể mỗi ngày cho chúng ta thấy rằng phải bắt đầu việc Dân chủ hóa Kinh tế thực sự (Démocratisation Economique). Từ đó Tiến trình Dân chủ hóa Chính trị (Démocratisation Polico-Juridique) đến như một Hệ luận.
Lọat Bài Chủ đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG THỂ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH đòi hỏi phải chấm dứt CƠ CHẾ cho Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế để Đất Nước mới có cơ hội phát triển. Lọat Bài Chủ để mà chúng tôi bắt đầu viết từ hôm nay 11.02.2010 “CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ” nhằm mục đích khai triển những điểm cần thiết để việc phát triển có sự bền vững và lâu dài. Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế bắt đầu bằng giải quyết những vấn đề cụ thể và chính yếu sau đây:
=> Tôn trọng quyền TƯ HỮU các phương tiện làm ăn, mà cụ thể là quyền Tư hữu Đất đai. Nhà Nước không được quyền dưới danh nghĩa quản lý để tước đọat đất đai, nhà cửa của dân chúng.
=> Tôn trọng quyền TỰ DO làm ăn của Dân chúng. Nếu đã tôn trọng TƯ HỮU thì phải tôn trọng TỰ DO xử dụng TƯ HỮU. Nếu không thì TƯ HỮU trở thành vô nghĩa.
=> Tôn trọng TƯ HỮU, tôn trọng TỰ DO xử dụng TƯ HỮU để kiếm sống của mỗi cá nhân, thì việc tạo Môi trường Chính trị—Luật pháp Xã hội cho phù hợp (Environnement Politico-Juridique Social adéquat) phải có tiếng nói quyết định của những cá nhân thành phần Xã hội.
Tiến trình DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ đưa đến DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 11.02.2010