*VietTUDAN ---- FINinfo@
*VTD-TUẦN BÁO/ Weekly
=>Số/No.485/10.03.11
=>Số/No.484/03.03.11
QUAN DIEM
THOI SU/THONG TIN
KINH TE/TAI CHANH
PHONG TRAO DAU TRANH
NHAN QUYEN/DAN CHU
LUC LUONG TON GIAO
TOT DAO DEP DOI
LAP TRUONG DAU TRANH
=>Số/No.483/24.02.11
=>Số/No.482/17.02.11
=>Những Số ĐẶC BIỆT
*VTD-NHÂN & DÂN QUYỀN
*VTD-KINH TẾ/ TÀI CHÁNH
*VTD-CHÍNH TRỊ/ĐẢNG PHÁI
*VTD-XÃ HỘI/ LUẬT PHÁP
*VTD-TÔN GIÁO/ GIÁO HỘI
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN-LinhTinh/Varieties
VTD&FIN-ĐỘC GIẢ/Readers
VTD&FIN-GẶP GỠ/Meeting
VTD&FIN-LƯU TRỮ/Archives
 



 ==========================    =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM      Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                      Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne          Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================    =================================


===============================================================
VietTUDAN ---------------------------------------------------------------KINH TE/ TAI CHANH
===============================================================



                              NHỮNG CHỦ ĐỀ PHỔ BIẾN TRONG
                                        http://VietTUDAN.net

   Để đọc những Bài, xin quý Vị bấm (click) vào những Chủ Đề sau đây:


*  Chủ đề Thời sự:

===> TỪ CÁCH MẠNG ĐÒI QUYỀN DẠ DẦY TUNISIE… TỚI VIỆT NAM

*  Chủ đề đang khai triển:

===> TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH

 

*    Những Số báo VietTUDAN ĐẶC BIỆT với Chủ đề:

===> ĐỊNH MỆNH TỰ HỦY DIỆT ĐỘC TÀI  (gồm 9 Bài)

===> HOÀNG SA & TRƯỜNG SA  (gồm 31 Bài)


*    Về NHÂN & DÂN QUYỀN

===> TỪ QUYỀN DẠ DẦY ĐẾN LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ  (gồm 12 Bài)

===> TỪ CÁCH MẠNG ĐÒI QUYỀN DẠ DẦY TUNISIE… TỚI VIỆT NAM


*    Về KINH TẾ/ TÀI CHÁNH

===> ĐÒI HỎI CỦA NỀN KINH TẾ TỰ DO THỊ TRƯỜNG  (gồm 6 Bài)

===> TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ  (gồm 9 Bài)

===> VẤN ĐỀ VIỆT NAM VÀO WTO/OMC  (gồm 8 Bài)

===> SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH  (gồm 15 Bài)

===> KHỦNG HOẢNG TC/KT 2007/08: THỜI SỰ & NHẬN ĐỊNH  (gồm 10 Bài)

===> DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG TC/KT THẾ GIỚI 2007/08  (gồm 12 Bài)

===> HẬU QUẢ KHỦNG HOẢNG TC/KT CHO TQ & VN  (gồm 07 Bài)

===> CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TQ: BÀI TRỪ HÀNG TẦU  (gồm 25 Bài)

===> DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN  (gồm 22 Bài)

===> DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ  (gồm 20 Bài)

===> CĂNG THẲNG THƯƠNG MẠI/ TIỀN TỆ GIỮA MỸ-TẦU

===> ĐỘC CHIÊU QE2 USD.600 TỈ CỦA FED HẠ TẦU CỨU MY


*    Về CHÍNH TRỊ/ ĐẢNG PHÁI

===> HÒA GIẢI HÒA HỢP

===> CHÍNH TRỊ UYỂN CHUYỂN BUSH & VIỆT NAM

===> KHỐI 8406 VÀ PHONG TRÀO DÂN CHỦ

===> ĐẢNG THĂNG TIẾN VIỆT NAM

===> ĐỘC TÀI QUỐC DOANH HÓA MỌI TỔ CHỨC DÂN SỰ

===> KHÔNG CÓ CẠNH TRANH, ĐỘC TÀI TỰ HỦ HÓA


*    Về XÃ HỘI/ LUẬT PHÁP

===> LUẬT PHÁP LẤY NỀN TẢNG ĐỒNG THUẬN DÂN CHỦ

===> KHÔNG CÓ ƯU TIÊN CÁ NHÂN TRƯỚC LUẬT PHÁP


*    Về TÔN GIÁO/ GIÁO HỘI

===> LM.NGUYỄN VĂN LÝ:”TỰ DO TÔN GIÁO HAY LÀ CHẾT“

===> ĐÁM NGỢM GIÁO GIAN QUỐC DOANH TAY SAI CSVN

===> PHÁP LỆNH TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO CỦA CSVN:”XIN-CHO“

===> GIÁM MỤC VN: TRÙM CHĂN HAY CHIA RẼ LÃNH ĐẠO

===> TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM TỪ ĐỨC TIN GIÁO DÂN

===> TGM.NGÔ QUANG KIỆT: CHỦ CHĂN CAN ĐẢM

 



                                      ĐAI HỘI ĐẢNG CSVN CAN ĐẢM
                                      QUYẾT ĐỊNH ĐI VÀO TỬ HUYỆT


                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                               Geneva, 27.01.2011
                                         Web: http://VietTUDAN.net


Hội Nghị Trung Ương 12 CSVN sửa sọan cho Đại Hội đảng năm 2011 đã không tháo gỡ cho nền Kinh tế Việt Nam theo hướng Dân chủ hóa Kinh tế, mà ngược lại còn tiếp tục trói buộc nền Kinh tế trong quyền lực độc tài độc đảng Chính trị.

Thực vậy, Dự thảo Cương lĩnh từ Hội Nghị Trung Ương 12 đã viết rõ rệt:

                             “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Đại Hội đảng kỳ trước đã quyết định cho phép đảng viên làm Kinh tế. Khi mà đảng viên giữa quyền độc tài Chính trị từ Trung ương đến Tỉnh, Quận..., thì khi có quyền làm Kinh tế, những đảng viên này giữ ưu tiên làm ăn cho cá nhân mình hay gia đình mình.

Một đàng thì Nhà Nước đưa ra và tài trợ những Công ty, Tổng Công ty nhà nước để nắm chủ đạo nền Kinh tế với quyền lực độc đảng,  một đàng thì những cá nhân đảng viên , với quyền Chính trị trong tay, nắm những họat động kinh tế gọi là tư doanh, nhưng với quyền thao túng chính trị độc đóan quyết định đặc quyền đối với những tư doanh không phải là đảng viên CSVN. Đảng và Nhà Nước CSVN còn nắm trọn trong tay Đất đai và những tài nguyên Quốc gia (Ressources naturelles) và nguồn nhân lực (Ressources humaines).

Như vậy, cả một hệ thống sử dụng quyền lực Chính trị độc tài để nắm trọn nền Kinh tế Quốc gia:

=> Hệ thống Công ty, Tổng Công ty, dưới danh nghĩa Tập đòan Kinh tế Nhà Nước, có quyền chủ đạo Kinh tế, nghĩa là những Tập đòan tư doanh không gồm đảng viên CSVN phải tùy thuộc những Tập đòan Kinh tế nhà nước gọi là chủ đạo.

=> Những cá nhân đảng viên CSVN, với quyền Chính trị độc đóan từ Trung ương đến Địa phương, tất nhiên dành những ưu tiên làm Kinh tế đối với những cá nhân tư doanh không phải là đảng viên CSVN.


Một hệ thống Kinh tế như vậy, do quyền lực Chính trị độc tài thống trị, từ cá nhân đảng viên đến những tập đòan dưới danh nghĩa nhà nước, mang đến những yếu kém, nếu không nói là phá họai, được tóm tắt ở những điểm sau đây:

* Thiếu hiệu năng  bởi vì những tác nhân Kinh tế thiếu khả năng hay thiếu cố gắng sáng tạo, mà chỉ dùng quyền lực nắm những ưu tiên Kinh tế thu lợi cho cá nhân.

* Thiếu tính tóan căn cơ Tài chánh trong họat động kinh tế để có kết quả tương xứng. Nếu thua lỗ, thì có Tài chánh nhà nước bù đắp.

* Lãng phí ngân sách vì đây là tiêu tiền rồi tính sổ cho nhà nước chịu. Mà tiền nhà nước lại là tiền từ dân. 

* Lợi dụng quyền lực Chính trị và quyền chủ đạo Kinh tế để ăn hối lộ, làm tham nhũng. Vì là độc đảng, nên hối lộ, tham nhũng được đảng che chở cho nhau.


Những điểm tóm tắt về những yếu kém hay phá họai Kinh tế trên đây được chứng minh bằng những gương Lịch sử để dẫn đến kết luận rằng phải tản quyền Kinh tế nếu muốn phát triển trong bền vững và lâu bền. Chính vì vậy mà trong suốt những năm trường viết về Kinh tế Việt Nam, chúng tôi luôn luôn kêu gọi DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN hiện hành để Việt Nam có thể phát triển.

Đảng CSVN nhộn nhịp sửa soạn Đại Hội Dảng kỳ XI. 22 nhà Trí thức, cựu Lãnh đạo, cựu đảng viên đóng góp làm thế nào để tháo gỗ cho trình trạng đình trệ của nền Kinh tế Việt Nam, uyển chuyển hội nhập với tiến triển xã hội dân sự Việt Nam đã nhiều năm tiếp cận với bên ngoài vào theo kịp những tương giao kinh tế/ thương mại của Thế giới được toàn cấu hóa. Chúng tôi chú tâm theo rõi những đóng góp này.

Nhưng từ khi thấy Hội Nghị Trung ương 12 đảng CSVN quyết định

                             “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”,

thì tôi không thèm đọc những gì viết về Đại Hội đảng kỳ XI nữa. Đây là quyết định giữ lại nguyên đống phân để những giòi bọ THAM NHŨNG LÃNG PHÍ tha hồ sinh ra tràn lan đục khoét. Điều quan trọng là hốt đi đống phân, tức là cái Cơ chế CSVN hiện hành. Mà đã quyết định giữ lại đống phân, thì việc họp Đại Hội đảng để lựa chọn thay đổi chỗ cho những con giòi không có gì phải tha thiết mà theo rõi. Con giòi nào cũng giống con giòi nào.  Con giòi Nguyễn Phú Trọng làm Tổng bí thư hay con giòi Nguyễn Tấn Dũng là Thủ tướng thì cũng là những con giòi giống hệt nhau, cần gì phải để ý phân biệt chúng trong đống phân Cơ chế. Nếu phải quan tâm, là phải hốt đi đống phân, chứ không phải quan tâm đến con giòi này rúc chỗ nào, con giòi kia rúc chỗ khác.

Sự góp ý của 22 Trí thức, cựu lãnh đạo hay cựu đảng viên mà ông BÙI TÍN coi là túi khôn để đảng nghe mà uyển chuyển sữa đổi cho phù hợp, thì tôi vẫn không coi đây là túi khôn mà là túi nguy hiểm cho Quê Hương Việt Nam bởi vì nếu đảng lắng nghe mà sữa đổi, thì đảng CSVN vẫn còn kéo dài thời gian nữa với cái Cơ chế độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế, nghĩa là đống phân còn đó, chỉ xịt chút nước thơm theo lời góp ý cho đỡ thối mà thôi.
  
Hội Nghị trung ương 12 đảng đã quyết định chắc nịch:

                              “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Đại Hội đảng XI khen tặng nhau là đảng ta “KIÊN ĐỊNH “ giữ đúng

                              “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”

như Hội Nghị trung ương 12 CSVN đã chỉ dậy. Đây là một quyết định TỰ SÁT và tôi ca tụng đảng CSVN đã can đảm chọn con đường tự sát để Đất Nước và Dân Tộc Việt Nam được nhờ.  Còn nếu Đại Hội nghe theo cái “túi khôn “ của 22 nhà Trí thức, cựu đảng viên, cựu lãnh đạo, mà uyển chuyển kéo dài cái đống phân Cơ chế hiện hành, thì Dân Tộc và Đất Nước Việt Nam còn phải kéo dài những khổ cực nữa.

Thực vậy, trước Đại Hội đảng, Kinh tế VN tụt dốc trầm trọng, Lạm phát tới 11.7%, Vật giá tăng vọt, Phá giá Tiền tệ, Kinh tế quốc doanh thua lỗ, quốc tế đánh hạ điểm tin tưởng Tín dụng cho Việt Nam. Việc tụt dốc Kinh tế này lại nằm trong tình trạng các Thị trường Liên Aâu và Hoa kỳ cạn kiệt Mãi lực mà xuất cảng của Việt Nam tùy thuộc vào đó.

Đồng thời cuộc Cách Mạng của Tunisie và đang lan rộng ra các nước độc tài phải là sự cảnh cáo gần kề cho Việt Nam.

Cái đống phân Cơ chế CSVN đã cạn kiệt. Đảng và Đại Hội đảng phải biết rằng đây là đống phân đã khô. Nhưng những con giòi THAM NHŨNG LÃNG PHÍ vẫn còn KIÊN ĐỊNH giữ lại đống phân khô mà chui rúc. Chính vì điểm này mà tôi khen Đại Hội đảng CSVN can đảm.

Đầu năm CON MÈO, cũng vào dịp mà Đại Hội đảng CSVN vừa chấm dứt, tôi xin chào mừng và cám ơn đảng CSVN đã can đảm KIÊN ĐỊNH chọn con đường ngắn nhất vào TỬ HUYỆT để Đất Nước và Dân Tộc Việt Nam đỡ khổ.

Các Lực Lượng Quốc nội Việt Nam sẽ đứng lên giúp cho sự lựa chọn KIÊN ĐỊNH của đảng CSVN mau vào lỗ MỒ càng sớm càng hay.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva 27.01.2011
Web: http://VietTUDAN.net

 





                            TĂNG TRƯỞNG VÀ LẠM PHÁT NGHỊCH LÝ

                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                             Geneva 05.01.2011
                                       Web: http://VietTUDAN.net


Bài này không phải là bài phân tích về TĂNG TRƯỞNG hay LẠM PHÁT riêng lẻ, cũng không phải là bài tìm hiểu tổng quát về TƯƠNG QUAN giữa Tăng trưởng và Lạm phát. Đây là bài nhận định một trường hợp rõ rệt như sau:

Tại Việt Nam lúc này, Lạm phát tăng 11.2% và con số Tăng trưởng do Nhà Nước CSVN đưa ra là 6.7%. Lạm phát đangh làm cho dân chúng nghèo và giới lãnh lương cố định phải thiếu hụt trầm trọng. Giới công nhân VN có lương thấp nhất Á châu là 47 đo-la mỗi tháng. Việc tăng lương công nhân nếu có cũng không theo với Lạm phát tăng vọt, như vậy công nhân càng nghèo đi. Nhà Nước CSVN nhấn mạnh về Tăng trưởng mà coi nhẹ vấn đề Lạm phát.

Những câu hõi được đặt ra để chúng tôi nhận định xoay quanh những câu hỏi ấy như sau:

(i) Giữa Tăng trưởng và Lạm phát có những liên hệ từ Tăng trưởng tạo ra Lạm phát. Nhưng Tăng trưởng chỉ có 6.7%, mà Lạm phát lên tới 11.2%, như vậy Tăng trưởng mang đến hữu ích gì cho Kinh tế ở phương diện phục vụ mức sống xã hội ?

(ii) Cho dù Nhà Nước CSVN chủ trương Tăng trưởng mạnh mà hy sinh Lạm phát, thì với mức Tăng trưởng 6.7%, Lạm phát cũng không thể vượt quá 6.7%. Ngày nay Lạm phát lên tới 11.2%, nghĩa là có 4.5% (11.2% - 6.7%) việc Lạm phát phải được phân tích ở những lý do khác ngoài lý do Tăng trưởng. Đâu là những lý do này ngoài lý do Tăng trưởng?

Để đưa ra những nhận định xoay quang hai vấn đề (i) và (ii) nêu trên đây, chúng tôi xin lần lượt bàn tới:

=> Lạm phát, Vật giá tăng, Phá giá Tiền tệ: ba vấn đề cũng là một.
=> Chạy theo Tăng trưởng để tạo Lạm phát, Tăng trưởng mất ý nghĩa
=> Ngoài lý do Tăng trưởng, tối thiểu 4.5% Lạm phát có những lý do khác


Lạm phát, Vật giá tăng, Phá giá Tiền tệ:
ba vấn đề cũng là một.

Trên mặt báo chí, người ta sử dụng những tiếng Lạm phát, Vật giá tăng hay Phá giá tiền tệ, cả ba tiếng này để chỉ một việc cụ thể đối với người dân khi cầm đồng tiền đi mua hàng hóa. Tháng trước, một tô phở giá là 2’000 đồng. Tháng này, ăn một tô phở phải trả 3’000 đồng. Người ăn phỡ than Giá tô phở tăng vọt hay gọi theo kiểu Kinh tế, đó là Lạm phát. Đối vớ người cầm tiền, họ gọi đồng tiền VN mất gía vì với 2’000 tháng trước, người ăn phở chỉ có thể ăn được 2/3 tô phở tháng này, chứ không ăn được trọn tô phổ.

Lạm phát, Vật giá tăng hay Phá giá Tiền tệ, tất cả đều dựa trên một việc cụ thể, đó là tương đương HÀNG HÓA và ĐỒNG TIỀN. Hàng hóa không thay đổi, một tô phở vẫn là một tô phở dù tháng trước hay tháng này. Nhưng lượng Tiền phải trả tương đương cho một tô phở thì thay đổi: tháng trước 2’000 đồng và tháng này 3’000 đồng. Việc thay đổi lượng tiền này gọi là Lạm phát, Vật giá tăng vọt, Đồng Tiền mất gía (Phá giá Tiền tệ).


Chạy theo Tăng trưởng để tạo Lạm phát,
Tăng trưởng mất ý nghĩa

Khi nói độ Tăng trưởng Kinh tế Quốc gia là 6.7% năm nay, điều đó có nghĩa là Kinh tế Quốc gia được giầu thêm 6.7% sánh với năm trước. Các xí nghiệp đầu tư thêm để tăng sản xuất. Việc đầu tư này là chi tiêu của các xí nghiệp vào trang thiết bị, vào nguyên vật liệu và vào nhân công thâu nhận thêm. Số nhân công nhận thêm có lương để chi tiêu. Tăng trưởng như vậy có nghĩa là tăng chi tiêu từ xí nghiệp đến dân chúng (nhân công) làm cho phía CẨU hàng hóa tăng lên khiến Giá cả hàng hóa theo đà tăng giá, nghĩa là Lạm phát, Vật giá tăng. Muốn giữ Giá cả hàng hóa ổn định khi độ Tăng trưởng làm cho Kinh tế Quốc gia giầu thêm tạo chi tiêu theo hướng Lạm phát, thì quyền lực Tiền tệ phải điều chỉnh Khối tiền lưu hành cho phù hợp với đà Tăng trưởng.

Khi nền Kinh tế Quốc gia được giầu thêm với độ tăng trưởng, thì sự phân phối việc giầu thêm này cũng phải có sự đồng đều tương đối cho các thành phần xã hội.

Nếu độ tăng trưởng của Việt Nam là 6.7% và tạo Lạm phát 6.7% làm cho dân nghèo, nông dân, công nhân và các giới lãnh lương cố định phải chịu hậu quả của Vật giá tăng vọt, thì việc tăng trưởng này mất hẳn ý nghĩa làm giầu cho Quốc gia. Hiện nay, không phải Lạm phát chỉ có 6.7% coi như hậu quả của Tăng trưởng, mà Lạm phát lên tới 11.2%. Nếu Nhà Nước CSVN cố thủ với độ Tăng trưởng mà tạo Lạm phát tới 11.2%, thì không những Tăng trưởng không có ý nghĩa gì về việc làm giầu thêm, mà còn làm cho đại đa số dân chúng sống trong cảnh khổ cực.

Độ tăng trưởng 6.7%, nếu có thực, thì để làm giầu cho ai ? Làm giầu cho một thiểu số người của đảng CSVN mà gây Lạm phát 11.2% làm khổ cho đại đa số dân chúng, thì chủ trương bám chặt lấy Tăng trưởng quả thực là bóc lột.

Nếu độ Tăng trưởng chỉ vào túi riêng nhóm đảng và nhóm này tha hồ chi tiêu làm tăng Vật giá để đại đa số dân chúng phải khổ cực sống thê thảm với việc nhóm đảng này làm tăng Vật gía, thì đây còn là khía cạnh tàn ác tội lỗi của chủ trương Tăng trưởng mà không quan tâm đến Lạm phát như hậu quả.

Trong bao nhiêu năm trường, nhóm đảng thâu vào cho mình những mức Tăng trưởng để tích lũy và tiêu xài hoang phí tạo Lạm phát. Tỉ dụ con gái của Nguyễn Tấn Dũng ăn một tô phở tháng trước với giá 2’000 đồng, nhưng tháng này giá tô phở lên 3’000, cô không quan tâm đến việc giá tô phở tăng 50%. Nhưng đối với công nhân cũng làm việc cho Tăng trưởng mà lương vẫn giữ ở mức 47 đô-la mỗi tháng, thì việc giá tô phở tăng 50% khiến công nhân này chỉ ăn được 2/3 tô phở, nghĩa là phải chịu bụng đói.

Tóm lại, Nhà Nước chủ trương Tăng trưởng để thâu giầu có cho mình mà không quan tâm đến Lạm phát, trong khi đó đại đa số dân chúng quan tâm đến Lạm phát làm mình thiếu ăn, còn Tăng trưởng thì họ không được hưởng gì.


Ngoài lý do Tăng trưởng,
tối thiểu 4.5% Lạm phát có những lý do khác

Theo nhận xét của chúng tôi, Nhà Nước nhấn mạnh đến Tăng trưởng như một cắt nghĩa cho Lạm phát, làm cớ bắt đại đa số dân chúng phải thắt lưng buộc bụng, cam chịu thiếu ăn vì Lạm phát để sống trong hy vọng đà Tăng trưởng làm cho nên Kinh tế Quốc gia giầu thêm để cùng hưởng. Đây là chủ trương đánh lạc hướng Lạm phát mà dân chúng đang phải chịu hiện nay.

Tuy vậy, việc dùng Tăng trưởng 6.7% để cắt nghĩa Lạm phát chỉ có thể cắt nghĩa tối đa Lạm phát 6.7% mà thôi. Trong khi ấy Lạm phát hiện nay là 11.2%, nghĩa là còn 4.5% (11.2% - 6.7%) Lạm phát thì cắt nghĩa bằng cách nào ?

Chúng tôi thấy những lý do sau đây cắt nghĩa Lạm phát chứ không phải chỉ có lý do Tăng trưởng mà Nhà Nước lấy ra để chữa lổi cho mình và tạo hy vọng cho dân chúng:

1) Lý do thứ nhất: Giảm hiệu lực sản xuất sánh với lượng vốn đầu tư

Những Tập đoàn Kinh tế nhà nước nắm chủ động Kinh tế quốc gia. Hiệu quả sản xuất của những Tập đoàn này yếu kém sánh với lượng vốn do nhà nước cung cấp.  Cho dù hàng hóa sản xuất có tăng lên mà Nhà Nước tính vào đà Tăng trưởng, nhưng lượng tăng sản xuất lại giảm sút sánh với lượng vốn đầu tư. Như vậy việc tương đương hàng hóa sản xuất và lượng tiền đầu tư đổ vào gây Lạm phát.

Xin lấy một tỉ dụ để cắt nghĩa Lạm phát sinh ra do sự yếu kém hiệu lực sản xuất. Một xí nghiệp sản xuất thuốc lá nhận được 100’000 đồng. Xí nghiệp sản xuất được 100 bao thuốc với số vốn này. Giá bao thuốc là 100’000 đồng/ 100 bao thuốc = 1’000 đồng. Năm nay, nhà nước tăng vốn 50’000 đồng cho xí nghiệp để giữ Tăng trưởng. Xí nghiệp sản xuất năm nay được 120 bao thuốc. Như vậy Tăng trưởng sản xuất hàng hóa của xí nghiệp là 20% (thêm 20 bao thuốc). Nhưng số vốn cung cấp bởi nhà nước là 50’000 đồng, nghĩa là tăng 50%. Năm trước, giá bao thuốc là 1’000 đồng, năm nay giá bao thuốc là 150’000 đồng/ 120 bao thuốc = 1’250 đồng. Như vậy  Giá bao thuốc tăng lên 250 đồng, nghĩa là Lạm phát 25% cho bao thuốc.

Việc kém hiệu lực sản xuất của các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh đã được nhìn nhận ngay bởi Chính phủ, nhưng Nhà Nước vẫn đổ vốn thêm cho những Tập đoàn này.

2) Lý do thứ hai: Tham nhũng Lãng phí

Tại sao Cơ chế CSVN hiện hành có nhiều Dự án. Mỗi dự án là một dịp ăn Tham nhũng. Cũng vậy, khi thi công Dự án hoặc mua bán thiết bị, vật liệu…, có những món tiền ăn riêng kèm theo đó. Những chủ Dự án khi mua thiết bị, vật liệu…, dễ dàng tăng giá mua lên để tính sổ với Nhà Nước. Món tiền  tăng giá mua được dành ra bỏ vào túi riêng. Họ còn mua những thiết bị “second hand “ từ Nga,  những nước Đông Âu hoặc Trung quốc với giá cao hơn giá thực theo thẩm định. Ông Nguyễn Ngọc Sử không trả nợ đáo hạn và muốn bán một số cơ sở của Vinashin để có tiền hòan nợ. Khi bán những cơ sở này, ông có dịp bán với giá rẻ những cơ sở và người mua tất nhiên tặng riêng ông một số tiền để “cám ơn lòng tốt bán với giá rẻ “.

Tất cả những Tham nhũng này được tính vào Giá thành hàng hóa sản xuất.  Do đó hàng hóa tăng giá (Lạm phát) trong đó có một phần số tiền tham nhũng lãng phí.

CSVN không chịu phế bỏ cái Cơ chế chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế mà lý do không phải là nghĩ đến quyền lợi Kinh tế của Đất nước, mà chính yếu là giữ lấy Cơ chế để có dịp thay phiên nhau chộp dựt tham nhũng cho riêng mỗi cá nhân. Khi có quyền chính trị và có quyền nắm kinh tế, thì người đương nhiệm phải tính toán chộp dựt một số tham nhũng để khi mình hết chức, có tiền riêng tiêu xài.

3) Lý do thứ ba: Phá giá đồng bạc Việt Nam

World Bank, IMF/FMI và cuộc Họp những Nhà Tài trợ nước ngoài đã cảnh cáo tình trạng nợ nần của các Tập đoàn Kinh tế Nhà nước. Vinashin là một tỉ dụ điển hình. Ngân sách nhà nước thiếu hụt,  Dự trữ ngoải hối đã cạn thê thảm. Các Tập đoàn Thảm định quốc tế như MOODY’S, STANDARD & POOR’S đã xuống cấp một số Công ty Việt Nam và ngay cả Trái phiếu của Nhà Nước. Với tình trạng như vậy, Việt Nam rất khó lòng vay vốn nước ngoài.

Nhưng làm thế nào để có thể tiếp tục rót vốn thêm cho những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh, xuất vốn thực hiện những Dự án hoặc có ngân quỹ cho những chi tiêu nhà nước.

Giáo sư AFTALION, một chuyên viên về Tiền tệ tại những nước chưa phát triển hoặc trên đà phát triển, đã nói rằng các Chính phủ của những nước này dễ dàng làm Lạm phát Tiền tệ, nghĩa là in tiền mới ra để chi tiêu.

Đó là hiện tượng phá giá đồng bạc Việt Nam. Thực vậy, đồng bạc Việt Nam đã bị phá giá ba lần và người ta dự phòng sẽ còn phá giá trong năm tới này. Khi đồng bạc bị phá giá, điều đó có nghĩa là phải có lượng tiền lớn hơn để có thể mua cùng một món hàng hóa. Đó là hiện tượng Lạm phát. Việc phá giá đồng bạc Việt Nam trực tiếp làm tăng Lạm phát, Vật giá tăng vọt.

Nhà nước CSVN luôn luôn tìm những lý do để bào chữa cho những việc không tốt do chính mình gây ra. Như trên đã nói, Nhà Nước CSVN chủ trương Tăng trưởng cao như nuôi hy vọng cho dân đang bị khổ cực, đồng thời cắt nghĩa Lạm phát chỉ nguyên bằng Tăng trưởng để trấn an lòng bực tức Lạm phát mà dân chúng đang phải chịu lúc này. Cũntg vậy, việc phá giá đồng bạc Việt Nam trực tiếp làm tăng Lạm phát, thì Nhà Nước lại cắt nghĩa rằng phá giá đồng bạc Việt Nam để tăng cạnh tranh hàng hóa xuất cảng để làm dân chúng hy vọng và nguôi bực tức Lạm phát trực tiếp gây ra do việc Phá giá đồng bạc.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 05.01.2011
Web: http://VietTUDAN.net





                                     TRUNG QUỐC TÍNH TOÁN GÌ
                         KHI MUỐN GIÚP VÀ ĐẦU TƯ VÀO LIÊN ÂU ?

                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                           Geneva 13.01.2011
                                     Web: http://VietTUDAN.net


Liên Âu hiện đang gặp hai vấn đề tài chánh và Tiền tệ. Về Tài chánh, một số nước thuộc Liên Âu như Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan, Tây Ban Nha…  gặp tình trạng nợ công chồng chất và phải cầu cứu giúp đỡ để tránh tình trạng vỡ nợ. Về Tiền tệ, đồng Euro tụt dốc có thể gây chia rẽ trầm trọng trong khối các nướx sử dụng đồng tiền duy nhất Euro.

Giữa lúc khó khăn giải quyết như vậy, Trung quốc tỏ ý muốn giúp đỡ hai nước Hy Lạp và Tây Ban Nha về nợ nần, đồng thời dự tính đầu tư hoặc mua một số Công ty thuộc những nước này. Đây có phải là lòng tốt thương nhau muốn giúp đỡ hay Trung quốc tính toán những điều có lợi cho mình ?

Thực ra trong mọi việc tương giao trợ lực quốc tế, ngay với khuôn khổ gọi là bác ái, chúng tôi không tin rằng qua việc tặng những món tiền mà không có như tính toán lấy lại lợi cho mình. Vì vậy, chúng tôi đi theo hướng tìm hiểu xem việc đề nghị giúp đỡ Hy Lạp hay Tây Ban Nha có những tính toán thủ lợi nào cho Trung quốc. Người ta cũng ngạc nhiên rằng nếu Trung quốc có số tiền bạc dự trữ trên USD.2’500 tỉ, tại sao không đầu tư nội địa để lo lắng nâng cao đời sống của trên 1 tỉ 500 triệu dân của họ đang chịu cãnh nghèo cực, mà lại đem tiền đi giúp đỡ tha nhân Hy Lạp và Tây Ban Nha. Phải có những hậu ý tính toán thủ lợi nào đó.

Những nghi ngại của
chính phía Âu châu

Chúng tôi xin đưa ra đây những trường hợp nghi ngờ về ẩn ý của Trung quốc. Những nghi ngờ này được đưa ra qua báo chí hoặc qua đài truyền hình:

1) Trung quốc muốn tặng “Cheval de Troie»

Thứ Năm, 06.01.2011, trong giờ Tin Tức lúc 19:30, xướng ngôn viên Darius của Đài Truyền Hình Thụy sĩ Pháp thoại, khi nói đến ý định của Trung quốc muốn giúp đỡ giải quyết những khó khăn của Aâu châu, đã nói rằng đó là Trung quốc muốn tặng « Cheval de Troie« . Đây là câu chuyện cổ Hy Lạp được kể trong Odyssée. Thành Troie bị vây hãm trong suốt 10 năm bởi Hy Lạp. Cuối cùng quân lính Hy Lạp làm như rút binh, nhưng để lại một con Ngựa bằng gỗ khổng lồ. Trong con ngựa này, có một số lính Hy Lạp trốn ở trong bụng. Dân thành Troie kéo con ngựa gỗ vào trong thành. Đến đêm lính Hy Lạp từ bụng con ngựa chui ra và mở cữa thành Troie. Thế là quân đội Hy Lạp vào được thành và chiến thắng. « Cheval de Troie«  đã trở nên một thành ngữ trong tiếng Pháp để nói rằng trong quà tặng có chứa những độc ý chiến thuật làm nguy hại cho người ham nhận.

Mặc dầu không bình phẩm minh nhiên về việc tỏ ý giúp đỡ của Trung quốc, mà chỉ cần nhắc tới « Cheval de Troie « , thì thính giả cũng hiểu rằng đây là lời phê bình tế nhị nói đến những tính toán thủ lợi của Trung quốc.

2) Trung Quốc đã đánh cắp bí mật của Renault như thế nào ?

Cũng trong tuần vừa rồi, tờ báo Le Figaro cũng đăng tải việc nghi ngờ Trung quốc hối lộ để lấy những bí mật của hãng sản xuất xe hơi Renault. Dựa theo Bản Tin bằng tiếng Pháp, Oâng Trọng Thành đã viết ra Bản Tin bằng tiếng Việt như sau :

« Phụ trương kinh tế của nhật báo Le Figaro hôm nay chạy trên trang nhất hàng tựa «Trung Quốc đã tiến hành do thám Renault như thế nào ? ». Tờ báo cung cấp các thông tin  mới nhất về vụ gián điệp công nghiệp tại hãng xe hơi Pháp nối tiếng này. Theo tiết lộ từ các cuộc điều tra tư nhân, hai trong số ba viên chức cao cấp của Renault có tài khoản tại các ngân hàng Thụy Sĩ và Lichtenstein, mà nơi cung cấp tiền là một công ty Trung Quốc. Tại Lichtenstein, người ta đã phát hiện được 150 ngàn euro, còn tài khoản tại Thụy Sĩ có 500 ngàn.

Theo một nguồn thông tin ẩn danh, số tiền này đến từ một doanh nghiệp Trung Quốc, có trụ sở tại Bắc Kinh, mang tên Power Grid Corporation. Đây là một công ty lớn trong lĩnh vực phân phối điện. Khoản tiền mờ ám kể trên, được nghi là để trả công cho những người đánh cắp bí mật của Renault, rất có thể đã được chuyển qua một loạt các cơ sở trung gian tại Thượng Hải và Malta.”

Từ Bắc Kinh, Trung quốc cũng đã sử dụng gián điệp, hối lộ tiền bạc để mua những bí ẩn nghề nghiệp của Âu châu. Nếu bỏ tiền giúp đỡ hoặc đầu tư vào Liên Âu, thì Trung quốc tha hồ khám phá những bí ẩn nghề nghiệp của Liên âu vậy.

3) Châu Âu muốn kiểm soát đầu tư của các công ty Trung Quốc

Cũng theo Ông Trọng Thành, thì Âu Châu muốn kiểm soát đầu tư của các Công ty Trung quốc. Bản tin như sau:

“Nhật báo kinh tế Les Echos hôm nay, chạy tựa trên trang nhất “Bruxelles muốn ngăn chặn việc Trung Quốc mua các công ty Châu Âu”. Trả lời phỏng vấn nhật báo Handelsbaltt của Đức, Ủy viên Châu Âu về Công nghiệp Antonio Tajani đã cho biết nỗi lo ngại về của ông trước ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc.

Cụ thể là các doanh nghiệp Trung Quốc ngày càng có khả năng mua được “các doanh nghiệp Châu Âu sở hữu các công nghệ then chốt trong các lĩnh vực quan trọng”. Theo Ủy viên công nghiệp Châu Âu, tuy đây là một hoạt động đầu tư kinh tế, nhưng “ẩn đằng sau đó là một chiến lược chính trị”, chính vì thế “Châu Âu cũng cần phải phản ứng lại về mặt chính trị”.

Dựa trên mô hình của Ủy ban phụ trách các đầu tư nước ngoài của Hoa Kỳ, ông Antonio Tajani dự kiến thành lập một cơ quan kiểm soát các đầu tư tại Châu Âu. Mặc dù hiện tại, Ủy ban Châu Âu chưa nhận được các đề xuất lập pháp mới, làm cơ sở cho sự ra đời của một cơ quan như vậy, nhưng, theo một chuyên gia Châu Âu am hiểu về tình hình, chắc chắn Ủy viên Châu Âu về Công nghiệp đã phải có lý do mới đưa ra một đề xuất như vậy”

4) Nhiều nước Âu châu ngăn cấm những “China Town”

Tại Âu châu, chỉ có “China Town” ở Luân Đôn và Paris. Chúng tôi biết rằng ba Quốc gia Âu châu đặc biệt ngăn cấm việc mở những “China Town” ở bất cứ thành phố nào của họ. Lý do ngăn cấm là họ không muốn một “quốc gia “ trong một quốc gia với tất cả những phức tạp mà họ phải tiêu tốn tiền bạc để kiểm soát những bí ẩn “vô luật lệ “ bên trong những “China Town “ ở thành phố của họ. Tại nước Đức, có rất nhiều thành phố lớn, nhưng người Tầu không thể thành lập được “China Town”. Tại Ý cũng vậy, chúng ta không tìm thấy những khu Tầu như ở Luân Đôn và Paris.

Riêng tại Thụy sĩ, một nhân viên thuộc ủy ban Tỵ nạn đã cho chúng tôi biết rằng ngay tứ đầu khi  nhận những người Tỵ nạn Việt Nam mà họ biết trong đó có nhiều người gốc Tầu, Thụy sĩ  tản nghững người Tỵ nạn ra nhiều nơi để tránh việc tụ họp lại một khu trong thành phố. Họ muốn tránh những tụ họp thành “China Town”.

Qua sự việc ngăn cản “China Town” này, chúng ta hiểu rằng một số nước Âu châu chắc chắn nghi ngờ rằng nếu trường hợp Trung quốc đầu tư vào Liên Âu, thì sẽ có những gian lận, không sòng phằng trong nền Kinh tế của họ.

Qua Thương mại, Trung quốc đã thâu Mãi lực Thị trường Liên Âu về cho mình. Bây giờ lại dùng chính những tiền thâu được ấy, Trung quốc muốn thâu về cho mình những bí quyết ngành nghiệp, những chất xám của Liên Âu.

Nhận định của chúng tôi về
việc Trung quốc muốn bỏ tiền vào Liên Âu

Nhận định của chúng tôi bắt đầu từ câu hỏi: Trung quốc có khối Tiền dự trữ lớn, đồng thời cũng có khối người nghèo khổng lồ cần phải đầu tư vào đó để cải thiện đời sống. Tại sao không đầu tư tại nội địa, mà phải mang Tiền đi làm việc giúp đỡ dân nước ngoài ?

Chúng tôi có những cắt nghĩa như sau đây:

1) Việc thu vào được nhiều Tiền không phải là cho dân mà cho những cá nhân thuộc đảng CSTQ. Đây là Kinh tế Mafia nhóm đảng, chứ không phải Kinh tế của nước Tầu. Nói Trung quốc có dự trữ Tiền bạc nhiều thì không trúng, mà phải nói rằng dự trữ Tiền bạc đó là của nhóm đảng hay những tư nhân con cháu đảng. Nước Trung quốc vẫn nghèo, chỉ có nhóm đảng CSTQ là trở thành triệu phú, tỉ phú.

Nhóm đảng triệu phú, tỉ phú này tất nhiên không nghĩ đến đời sống nghèo khổ của dân chúng Tầu, mà chĩ nghĩ đến cất giữ tiền riêng của mình cho kỹ. Họ cũng là người Tầu, nhưng lại không muốn cất giữ Tiền bạc tại Trung quốc vì sợ một ngày nào đó, khi có thay đổi quyền lực hay dân chúng đứng dậy lật đổ họ, họ sẽ mất hết Tiền bạc đã ăn cắp được.

Để có thể cất giữ an toàn tài sản, nhóm đảng Mafia CSTQ luôn luôn muốn chuyển Tiền bạc ra nước ngoài. Để có thể chuyển ra một cách danh chính ngôn thuận, phải tìm cách đầu tư, mua những Công ty ngoại quốc, thâm chí dưới hình thức giúp đỡ Tài chánh.

Nếu Liên Âu chấp nhận cho việc Trung quốc đầu tư hay mua các Công ty tại Liên Âu, đó là việc tiếp nhận những món Tiền mà nhóm đảng Fafia cướp bóc của dân Trung quốc để đem ra nước ngoài xin “tỵ nạn “, đó là tiếp nhận những món tiền biển thủ phi nhân. Một đàng thì Âu châu rêu rao thanh trừng việc rửa tiền bẩn, một đàng thì lại tiếp nhận những món tiền của nhóm đảng Mafia CSTQ để rửa sạch dùm họ.

Trường hợp Việt Nam cũng vậy. Nhiều những lãnh đạo đảng CSVN bóc lột, tham nhũng để có tiền triệu. Qua những Việt kiều, họ tìm cách đầu tư ở những cơ sở làm ăn tại California chẳng hạn. Họ không dám để Tiền ăn cướp được tại Việt Nam vì lo ngại đến một ngày nào đó, Dân nổi dậy, họ mất cả chì lẫn chài.

2) Lý do thứ hai liên hệ đến chính nền Kinh tế Trung quốc. Thực vậy, nền Kinh tế Trung quốc dựa trên xuất cảng, nhất là cho hai Thị trường lớn Hoa kỳ và Liên Âu. Nếu nền Kinh tế lệ thuộc vào xuất cảng, thì Trung quốc rất lo ngại về những Biện pháp Che chỡ Mậu dịch. Sau cuộc Khủng hoảng, Mãi lực của hai Thị trường này giảm xuống. Những Biện pháp Che chở Mậu dịch đã là con ma đe dọa Trung quốc hàng ngày.

Để có thể tránh những Biện pháp Che chở Mậu dịch này, thì việc sản xuất của Trung quốc phải đặt một đầu cầu tại chính hai Thị trường Hoa kỳ và Liên Âu. Thực vậy, đối với những Tập đoàn sản xuất Liên quốc gia (Multinationales), việc đặt một đầu cầu ở một quốc gia là biện pháp tránh những cản ngăn quan thuế.

Trung quốc tha thiết đầu tư hoặc mua lại những Công ty thuộc Liên Âu là nhằm đặt một đầu cầu cho xuất cảng của họ vào thị trường Liên Âu này. Ngày mà Hong Kong còn thuộc Anh quốc, những sản xuất của Quảng Đông đã đặt đầu cầu tại Hong Kong để có thể xuất cảng sang cả Thị trường chung Âu châu vì Hong Kong thuộc nước Anh, mà nước Anh lại thuộc thuộc Thị trường chung Âu châu này.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 13.01.2011
Web: http://VietTUDAN.net


NHỮNG LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI ĐỨNG LÊN
DẸP KINH TẾ MAFIA QUỐC DOANH CSVN

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 16.12.2010
Web: http://VietTUDAN.net


Trong những tháng gần đây nhất, chúng ta nhận thấy những biến chuyển của tình hình Việt Nam trong chiều hướng đi đến những thay đổi quan trọng nhằm chính Cơ chế CSVN:

* Vỡ nợ của chủ trương Kinh tế quốc doanh. Vụ việc Vinashin chỉ là một tỉ dụ của vỡ nợ quốc gia. Việc vỡ nợ ỡ Việt Nam hiện nay là cả một hệ thống Kinh tế dồn vào cho những Tập đoàn quốc doanh mà chính những người điều hành lại có quyền lực Chính trị. Từ Trung ương đến các Tỉnh, những người điều hành chỉ tính toán thế nào để biển thủ tài sản công thành riêng cho mình. Tụt giốc Kinh tế, Lạm phát, Vật giá tăng vọt, Mất tín nhiệm trước nguồn vốn quốc tế, Ngân quỹ thiếu hụt trầm trọng và Phá giá đồng bạc, Dự trữ ngoại hối cạn đến đáy. Tất cả đều quy về một nguyên do: VI TRÙNG THAM NHŨNG LÃNG PHÍ hoành hành.

* Việc vỡ nợ toàn diện của nền Kinh tế do THAM NHŨNG LÃNG PHÍ đụng chạm đến quyền DẠ DẦY của mọi giới. Mà đụng đến nồi cơm của người ta, thì người ta tự động đứng lên dành lại miếng ăn. Chưa bao giờ chúng ta thấy những Lực Lượng đấu tranh đang hình thành mạnh như lúc này. Những Lực Lượng này không phải từ nước ngoài nhập vào để cái mồm điên đão CSVN nói rằng đây là do “thế lực thù địch ngoại lai “. Những Lực Lượng này đứng lên từ chính trong lòng Chế độ tại quốc nội do thúc đẩy bởi quyền DẠ DẦY. Lực Lượng đứng lên từ chính Quốc Hội, chính Quân đội, chính Công an, chính lớp Công chức, thậm chí chính những Lãnh đạo đảng, và tất nhiên từ mọi tầng lớp Dân nghèo.

Vấn đề thay ngôi đổi chỗ trong Đại Hội đảng kỳ tháng Giêng tới này trở thành thứ yếu. Những con giòi đục khoét vẫn là những con giòi. Điều quan trọng cũa những Lực Lượng đấu tranh cho quyền DẠ DẦY, đó là phãi dứt bỏ cái Cơ Chế chủ trương Kinh tế quốc doanh với độc tài Chính trị để giòi bọ tha hồ đục khoét làm cho tụt dốc Kinh tế khiến người ta đói.

Hội Nghị Trung Ương 12 CSVN sửa sọan cho Đại Hội đảng năm 2011 đã không tháo gỡ cho nền Kinh tế Việt Nam theo hướng Dân chủ hóa Kinh tế, mà ngược lại còn tiếp tục trói buộc nền Kinh tế trong quyền lực độc tài độc đảng Chính trị. Thực vậy, Dự thảo Cương lĩnh từ Hội Nghị Trung Ương 12 đã viết rõ rệt: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Thông tin từ Báo chí quốc nội cũng như quốc tế đang sôi động về tình trạng phá sản của nền Kinh tế quốc doanh, nghĩa là nền “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Từ tình trạng phá sản ấy, những lực lượng phải chịu hậu quả của phá sãn sẽ đứng lên lật đổ Cơ chế như điều tất yếu phải đến.

Tình trạng phá sản
của Kinh tế quốc doanh

Tình trạng phá sản quy tụ về 3 điểm chính: (i) Tụt dốc Kinh tế vĩ mô (ii) Vật giá nhẩy vọt; (iii) Phá giá Tiền tệ. Cả 3 điểm có những liên hệ hỗ tương với nhau.

(i) Tụt dốc Kinh tế vĩ mô

Vinashin chỉ là cái mụn đã âm ỉ từ lâu, nay phát ra như một tỉ dụ của sự phá sản của những Tập đoàn Kinh tế nhà nước. Đây không phải chỉ nguyên một Tập đoàn riêng lẻ phá sản, mà là một tỉ dụ cho một tình trạng phá sản của một chủ trương Kinh tế gọi là vĩ mô. Chính Nguyễn Tấn Dũng đã nhờ cậy Giáo sư Michael PORTER, Đại học Havard,  thẩm định về chủ trương Kinh tế vĩ mô nhà nước. Giáo sư đã viết Tập Phúc trình và kết luận như sau:

“Khi xem xét kỹ mô hình phát triển được áp dụng từ trước tới nay để xem có tiếp tục phù hợp với Việt Nam nữa không, câu trả lời của tôi là không”.

“Mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào việc khai thác các lợi thế có sẵn như tài nguyên và nhân công giá rẻ. “

 “Các mất cân đối vĩ mô lớn như cán cân thương mại và tài khoản vãng lai, tỷ lệ tiết kiệm – đầu tư, lạm phát và tỷ giá hối đoái có thể gây ra những hậu quả “không thể xem thường. Ít nhất, chúng tạo ra tâm lý với các nhà đầu tư rằng, rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam là rất cao. Các mất cân đối vĩ mô này có thể làm phát sinh khủng hoảng, khi niềm tin bị xói mòn và các dòng vốn nước ngoài chảy khỏi Việt Nam”.

“Việt Nam là quốc gia sẽ bị tắc ở mức thu nhập trung bình thấp và phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước có thu nhập thấp hơn đang trỗi dậy”.

Không phải chỉ mình Giáo sư Michael PORTER thấy sự tụt dốc của nền kinh tế gọi là vĩ mô này, mà cả World Bank, IMF/FMI, những Ngân Hàng quốc tế, những nhà Tư vấn cấp cao nước ngoài đều cảnh cáo Việt Nam là phải chữa trị chính những sai lầm Kinh tế vĩ mô, nếu không thì bị các nước láng giềng vượt qua.

Khi mà những Tập đoàn Thẩm định quốc tế như MOODY’S, STANDARD & POOR’S hạ điểm mức tin tưỡng các Công ty và Ngân Hàng VN, đó là họ thẩm định khả năng Kinh tế, Tín dụng trong tương lai dựa ttên những tụt dốc đang diễn ra.

(ii) Vật giá nhẩy vọt

Vật giá nhẫy vọt, Lạm phát tăng nhanh ở Việt Nam đến từ hai lý do chính:

* Giảm hiệu lực sản xuất của những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh. Khi nhận một số vốn để sản xuất hàng hóa, nếu hiệu lực sản xuất kém để lượng hàng hóa xuống, thì tất nhiên giá thành sãn xuất tăng tương đối với số vốn nhận được.
* Nhà Nước muốn bảo vệ chủ trương Kinh tế quốc doanh, nên đổ thêm vốn vào mà không kiểm điểm sự tương xứng hiệu lực của sản xuất đối với số vốn cung cấp. Khối tiền càng phồng lên, mà lượng hàng hóa yếu kém, thì Vật giá tất nhiên tăng vọt sánh với đồng tiền được thổi phồng. Điều tệ hại hơn nữa là Ngân sách Nhà nước thiếu hụt, mà cứ phải đổ tiền vào cho những Tập đoàn quốc doanh, nên đành phải in tiền thêm làm Lạm phát Tiền tệ, phá giá đồng bạc Việt Nam. Người dân Việt Nam thừa hiểu cái trò này, nên không còn tin tưởng vào đồng bạc VN nữa.

Báo chí quốc nội đang la hoảng về tình trạng Vật giá nhãy vọt đến chóng mặt:

“SÀI GÒN (TH) - Lạm phát gia tăng nhanh chóng trong mấy tháng qua, vượt qua mặt những chỉ tiêu mà Quốc Hội đề ra cũng như các biện pháp “bình ổn giá” mà nhà cầm quyền quảng cáo. Hậu quả, những người có đồng lương cố định và đại đa số quần chúng đều nghèo khó lại thêm phần khốn đốn.

Tờ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam trong một bản tin ngày 29 tháng 11, 2010 về “lo âu đường đi của giá” nói rằng, ‘luôn có trên 50% bạn đọc cho biết họ đang thực sự gặp khó khăn.’

Theo các con số do Tổng Cục Thống Kê ở Hà Nội đưa ra, lạm phát tăng nhanh nhất ba tháng trở lại đây của năm nay và là mức gia tăng tệ hại nhất trong suốt 20 tháng qua. Ðây là hệ quả của chính sách đánh sụt giá đồng nội tệ nhằm cứu ngành sản xuất xuất cảng gây ảnh hưởng dây chuyền lên cả nền kinh tế.

Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, giá cả gia tăng 11.09% trong tháng 11, 2010 so với một năm trước. Ðây là tỉ lệ lạm phát gia tăng nhiều nhất từ tháng 3, 2009 mà vào thời điểm đó lạm phát nằm ở 11.25%. Tháng 10, 2010, lạm phát là 9.66%. Nếu chỉ tính từng tháng một thì lạm phát của tháng 11 đã tăng hơn tháng mười 1.86%.

Cuối năm 2009, Quốc Hội của chế độ Hà Nội biểu quyết “chỉ tiêu lạm phát trong năm 2010 phải dưới 7%”. Nhưng đến tháng 5, 2010, thấy không kềm nổi, nhà cầm quyền trung ương “xin điều chỉnh chỉ tiêu lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI)” lên “không quá 8%”. 

“Giá của tất cả mọi loại thực phẩm mà chúng tôi mua ở các chợ địa phương đều gia tăng đáng kể so với tháng trước”. Craig Jackson, quản lý nhà hàng Al Fresco (cũng có chi nhánh ở Hà Nội) nói như vậy và phải trình bày với thức khách lý do “những bất ổn trong tỉ giá” đã làm giá thực phẩm tăng vọt.

Theo báo Người Lao Động hôm 20 tháng 11, 2010 vừa qua, các siêu thị ở Sài Gòn đã tăng giá ít nhất 10%. Gạo, một thứ căn bản của bữa ăn người Việt Nam, lên giá ít nhất cũng 4%, trong khi nhà cầm quyền khoe năm nay sẽ xuất cảng 6.5 triệu tấn gạo.

Nói chung, giá thực phẩm đã gia tăng 14.78% so với một năm trước trong đó một số thứ còn tăng đến 20.45%, theo Tổng Cục Thống Kê nói trên.

Theo tờ Người Lao Động, một số mặt hàng khác gắn liền với đời sống hàng ngày là đường và gas cũng tăng đáng kể.

Báo Người Lao Động dẫn nguồn tin từ Cục Quản Lý Giá (Bộ Tài Chính Việt Nam), nói giá bán lẻ đường trắng trong nước 15 ngày đầu tháng 11 khoảng 19,000-21,000 đồng/kg, tăng 1,000 đồng/kg so với tháng 10.”

(iii) Phá giá Tiền tệ.

Bản Tin của BBC ngày 10.12.2010 như sau:

“Tiền đồng 'đang có vấn đề rất nghiêm trọng'

Ngân hàng đầu tư Mỹ Morgan Stanley nói đồng tiền Việt Nam ‘có vấn đề rất nghiêm trọng’ trong bối cảnh kinh tế yếu và mậu dịch bị thâm hụt, báo tài chính Mỹ Bloomberg đưa tin ngày 9/12.

Thực trạng cán cân thanh toán xấu đi, nền kinh tế yếu và thâm hụt mậu dịch đang tạo "sức ép lớn đáng kể " đối với tiền đồng, Stewart Newnham, chuyên viên nghiên cứu chiến lược tiền tệ tại Morgan Stanley nói tại một hội nghị ở Tp HCM.

Kể từ hồi tháng Năm 2008, thời điểm ông Newnham nói đồng tiền Việt Nam theo gót chân “khủng hoảng tiền tệ” như Thái Lan (1997), tiền đồng đã mất giá 17% so với đôla Mỹ.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều chỉnh tỷ giá tiền đồng 2% (18.932 VND /USD) vào ngày 18 tháng Tám là lần phá giá thứ ba kể từ tháng 11 năm ngoái.

Trong tuần này Quỹ Tiền tệ Quốc tế cảnh báo nguồn dự trữ ngoại hối quốc gia của Việt Nam ở mức "thấp".

IMF cho biết dự trữ ngoại hối của Việt Nam vào cuối tháng Chín ở mức chỉ đủ trang trải cho 1,8 tháng nhập khẩu.”

Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh thâm thụt công quỹ. Nhà nước phải bơm vào bằng đồng tiền phá giá. Tất nhiên dân chúng phải mua vàng và đo-la với giá chợ đen. Đồng Tiền VN sẽ phải phá giá nữa như các nước Á châu trong cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Tiền tệ năm 1997.

Ông Stewart Newnham của Morgan Stanley, khi nói về Lạm phát phá giá đồng bạc Việt Nam, đã nhắc tới cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Tiền tệ Á châu năm 1997, khiến chúng tôi nhớ lại cách đây mấy năm, 2007, chúng tôi đã viết 5 bài liên tiếp về cuộc Khũng hoãng Tài chánh/Tiền tệ Á châu 1997, dựa trên những tài liệu của Bà Francoise NICOLAS. Chính năm 2007, chúng tôi đã sang Thái Lan quan sát tình trạng phá sản của một số Xí nghiệp chịu hậu quã của việc phá giá đồng tiền.

Về việc can thiệp Chính trị (Pouvoir politique) vào quyền lực Tiền tệ (Pouvoir monétaire), Kinh tế gia Florin AFTALION đã viết:

“L’inflation est un moyen de financement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet á court terme d’accorder des hausses de salaire et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages. «

(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy.)

Kinh tế gia Florin AFTALION nói đến « trong ngắn hạn « và « bởi những người làm chính trị “. Tại Việt Nam, thì không phải là ngắn hạn, mà đã làm ba lần rồi và có còn làm tiếp trường kỳ nữa ; rồi không phải chỉ « bởi những người làm chính trị “ suông, mà bởi một chế độ Chính trị độc tài độc đảng.

Dân chúng bài trừ và quốc tế không còn tin vào đồng Tiền VN là phải.

Xin nhắc thêm rằng tại Nam Dương, cuộc Khủng hoảng 1997 phá giá đồng tiền đã đưa đến hậu quả Chính trị là sự sụp đổ nhà độc tài SUHARTO.


Những Lực Lượng đứng lên
từ tình trạng phá sản Kinh tế quốc doanh

Chúng tôi muốn nói đến tính cách tất yếu của những Lực Lượng này. Những Lực Lượng này không phải là do khuyên giải, cổ võ mà đứng lên. Việc đứng lên là tất yếu vì quyền DẠ DẦY của mình. Không đứng lên lật đổ Cơ Chế hiện hành, thì mình chết. Tính cách tất yếu là ở chỗ đó.

Những Lực Lượng nào ?

1) Lực Lượng đại đa số quần chúng nghèo

Khi Vật giá tăng vọt, thì khối đại đa số dân nghèo phải cùng cực, thiếu ăn. Nền Kinh tế quốc doanh Mafia CSVN thâm thụt công quỹ, bóc lột sức lao động, làm đại đa số dân chúng đã nghèo mà còn bị khổ cực vì thiếu ăn. Lạm phát, vật giá tăng vọt đẩy dân nghèo vào cùng cực và phải tự đứng lên lật đổ cơ chế.

2) Lực lượng Công chức, Công an và Quân đội

Đây là những thành phần lãnh lương cố định. Khi vật giá tăng vọt, đồng tiền mất giá, thì những thành phần lãnh lương cố định thấy mình nghèo đi. Càng phá giá đồng bạc VN, càng tăng vật giá, thì những thành phần này càng bị đẩy vào tình trạng nghèo cùng cực. Họ phải đứng lên.

3) Lực lượng Lãnh đạo đảng CSVN

Những Lãnh đạo đương quyền tham nhũng, vơ vét công quỹ. Nhưng những Lãnh đạo hồi hưu không thể ngồi yên. Trâu buộc ghét trâu ăn. Lực Lượng Lãnh đạo này không phải vì bất đồng Chính kiến mà đứng lên, nhưng chính là sự phân chia tham nhũng không đồng đều. Trước khi đánh cướp Ngân Hàng, thì mọi người cấu kết. Nhưng sau khi cướp được tiền rồi mà phân chia không đồng đều, thì lấy súng bắn giết nhau. Vì trâu buộc ghét trâu ăn, nên Lực Lượng Lãnh đạo này đứng lên mà bắn nhau. Số cán bộ Cộng sản hồi hưu, lãnh tiền cố định, nay thấy mình nghèo đi vì Lạm phát và vật giá tăng vọt, sẽ tăng cường tham gia Lực Lượng này.

4) Lực Lượng trẻ Thanh niên Sinh viên

Mỗi năm, số người trẻ Thanh niên Sinh viên tại Việt Nam tăng lên 1 triệu và phải kiếm công ăn việc làm. Việc tụt dốc Kinh tế làm cho họ thất nghiệp và phải chịu cảnh vật giá tăng vọt. Trong khi ấy, họ so sánh với một thiểu số con cháu đảng ăn chơi, tiêu xài hoang phí, còn xuất ngoại. Việc so sánh trong cãnh thất nghiệp của họ sẽ tạo sự ganh tị, ghen ghét. Lớp người trẻ Thanh niên Sinh viên sẽ nhập cuộc đấu tranh để chấm dứt những người giữ quyền lực chính trị để THAM NHŨNG LÃNG PHÍ gây tụt dốc Kinh tế.

5) Lực Lượng Tôn Giáo chống Bất Công, đòi Công Lý

Lực Lượng Giáo dân Công giáo đã đứng lên khởi đầu là Tòa Khâm sứ Hà Nội, rồi Xứ Thái Hà, lan vào Tam Tòa, Đồng Chiêm. Tất cả việc đứng lên này có nguyên do là chống BẤT CÔNG cũa Nhà Nước về đất đai. Mà việc bất công này lại cũng là do THAM NHŨNG của quyền lực Chính trị trưng dụng đất đai đẻ bán hoặc khai thác cho túi riêng của mình. Chống bất công như vậy cũng đồng nghĩa là chống THAM NHŨNG. CSVN đã sử dụng một số Lãnh đạo Tôn giáo quốc doanh để nhằm diệt Lực Lượng này. Nhưng TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM (=chống BẤT CÔNG, đòi CÔNG LÝ) vẫn luôn luôn tồn tại bởi lẽ nó phát xuất từ Đức Tin và Lương Tâm của chính Giáo dân. Việc đấu tranh theo TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM này đang bùng dậy tại xứ Thái Nguyên hiện lúc này.

6) Lực Lượng Tư doanh

Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh thiếu hụt ngoại tệ để nhập siêu vì dự trữ ngoại hối của Nhà nước chỉ còn không tới hai tháng để nhập cảng. Theo Kinh tế gia Lê Đăng Doanh, thì "số ngoại tệ Việt Nam có trong dân thì không phải là ít”, nghĩa là giới Tư doanh còn có thể vận dụng ngoại tệ để nhập cảng. Chính vì điểm này mà Lực Lượng Tư doanh nắm ưu thế đứng lên đấu tranh dành lại quyền Kinh tế mà từ trước đến nay các Tập đoàn quốc doanh nắm chủ động. Giới Tư doanh có cơ hội thực hiện Dân chủ hóa Kinh tế để tiến dần đến Dân chủ hóa Chính trị như một hệ luận tất nhiên.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 6.12.2010
Web: http://VietTUDAN.net



                                   CSVN KHÔNG TRẢ NỢ ĐÁO HẠN
                         VÀ HẬU QUẢ CHO CẢ DÂN CHÚNG VIỆT NAM


                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                            Geneva, 20.12.2010
                                      Web : http://VietTUDAN.net

 
Ngày 16.12.2010, chúng tôi viết bài với đầu đề VINASHIN QUỴT NỢ NƯỚC NGOÀI !(?). Món nợ nước ngoài tổng cộng là USD.600 triệu. Ngày hôm nay 20.12.2010, theo thời biểu hoàn vốn, thì Vinashin phải trả USD.60 triệu, nhưng Vinashin xin hoãn và phía Tài chánh nước ngoài chưa trả lời chấp thuận hay không.

Hôm nay, chúng tôi nhận được được hai Bản Tin do Đài RFI gửi cho :

1)         Bản Tin của BLOOMBERG, ngày 20.12.2010, do Bà Katrina NICOLAS từ Singapore, với đầu đề VIETNAM DEFAULT SWAPS SOAR AS LENDERS AWAIT $60 MILLION VINASHIN REPAYMENT.

2)         Bản Tin của AFP, ngày 20.12.2010, từ Hà Nội đánh đi.

Chúng tôi xin viết về nội dung của hai Bản Tin này để độc giả tiện theo rõi những gì đang xẩy ra, nhất là tầm ảnh hưởng tai hại cũa việc không trã nợ đáo hạn không phải cho riêng Vinashin mà cho cã tương lai Kinh tế, Thương mại Việt Nam.


Bản chất món nợ và
Thời biểu hoàn vốn

Tập đoàn nhà nước VINASHIN là phía xin vay USD.600 triệu. Phía xin vay nhờ CREDIT SUISSE giúp đỡ để kêu gọi cho vay số tiền là USD.600 triệu vào năm 2007. CREDIT SUISSE kêu gọi trong nghiệp đoàn của mình (Syndicat bancaire) gồm Standard Chartered Bank và Tập đoàn vốn Elliott Advisors Ltd. để cùng góp số vốn cho vay là USD.600. Thời hạn vay là 7 năm. Số vốn này phải hoàn lại trong vòng 5 năm, mỗi 6 tháng trả USD.60 triệu, bắt đầu lần trả đầu tiên là ngày 20.12.2010.

Vinashin không đủ tín nhiệm để vay món nợ, nên món nợ này phải được bảo đảm bởi Chính phủ Việt Nam. Thực vậy, Bản Tin của AFP từ Hà Nội viết rõ rệt như sau:

“… un emprunt de 600 millions syndiqué par le Crédit Suisse et garanti par le gouvernement vietnamien. «

(… món vay 600 triệu được được tổ chức bởi Crédit Suisse và được bảo đảm bởi chính phủ Việt Nam).

 Đối với việc trả lần đầu USD.60 triệu này, Vinashin làm đơn xin hoãn lại một năm, lấy lý do Tập đoàn Vinashin thua lỗ USD.4.4 tỉ và ở trong tình trạng gần như vỡ nợ. Lý do này cũng được hiểu như lời đe dọa quỵt nợ của Vinashin.

Bản Tin của Bloomberg viết :

“The Company (Vinashin) which the government says had debt of about 86 trillion dong (USD.4.4 billion) as of June, won’t be able  to make the loan repayment because of lack of funds, Chairman Nguyen Ngoc Su told the Vietnam Economic Forum website last week “.

(Công ty (Vinashin) mà chính phủ nói là đã có món nợ chừng 86 ngàn tỉ đồng (USD.4.4 tỉ) vào tháng 6, nên không thể hoàn trả do thiếu thiếu vốn, Chủ tịch Nguyễn Ngọc Sử đã nói như vậy tuần rồi cho Hội Nghị Kinh tế Việt Nam).

Theo Bản Tin của AFP, món nợ được bảo đảm bởi chính phủ Việt Nam (garanti par le gouvernement vietnamien), thì Nghiệp đoàn Ngân hàng Crédit Suisse mới tổ chức và ưng thuận cho vay. Nếu Tập đoàn Nhà nước Vinashin vỡ nợ, không trả được, thì Chính phủ Việt Nam phải chịu trách nhiệm hoàn trả đúng hạn, trừ trường hợp Nhà Nước Việt Nam cũng tuyên bố vỡ nợ để xin hoãn nợ.

Khi đã bảo đảm cho món nợ này, mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố Nhà Nước không chịu trách nhiệm hoàn nợ, đó là điều quá ngỗ nghịch, cối chầy như tuyên bố qụyt nợ vậy.
 

Hậu quả của việc
xin hoãn trả USD.60 triệu lần đầu

Những hậu quả này không phải cho riêng Tập đoàn Vinashin, mà cho cả những Tập đoàn nhà nước khác cũng như cho Kinh tế, Thương mại chung của cả nước Việt Nam. Chúng tôi nói về những hậu quả trước ngày 20.12.2010, rồi tức khắc trong ngày hôm nay 20.12.2010, và sau này cho tương lai tín dụng của Việt Nam.

Hậu quả trước 20.12.2010

Tình trạng thua lỗ USD.4.4 tỉ đã làm cho giới Tài chánh quốc tế đánh giá rất thấp về nền Kinh tế Việt Nam trong tay độc quyền của các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh. Thêm vào đó, Ngân sách Nhà nước thiếu hụt trầm trọng, kho dự trữ ngoại hối chỉ còn bảo đảm nhập cảng trong vòng hơn một tháng. Gần hơn cả, khi nói về hoàn nợ USD.60 triệu, thì Chủ tịch Nguyễn Ngọc Sử tuyên bố Công ty hầu như vỡ nợ, nghĩa là hé cho thấy tình trạng như quỵt nợ. Nhưng điều quan trọng hơn cả là Thủ tướng tuyên bố Chính phủ không chịu trách nhiệm hoàn vốn mặc dầu đã bảo đảm cho món nợ này (garanti par le gouvernement vietnamien).

Những tuyên bố này cho thấy ý định muốn QUỴT NỢ.

Vì vậy, trước ngày 20.12.2010, giới Tài chánh và các Tập đoàn Thẩm định Tín dụng như MOODY’S, STANDARD & POOR’S đã đồng loạt hạ điểm các Công ty quốc doanh Việt Nam. Việc hạ điểm này không những đối với các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh, mà còn cả đến những nợ nần Nhà nước vì họ biết rằng những Tập đoàn Kinh tế này cũng chính là Nhà Nuớc.

Bản Tin của AFP từ Hà Nội viết:

“L’agence de notation STANDARD & POOR’S a souligné la semaine dernìere que la situation de Vinashin fragilisait  le système bancaire et les capacités de crédit de l’ensemble du pays communiste. Tandis que MOODY’S dégradait la note des obligations  d’Etat vietnamiennes, en raison notamment des dettes abysssales des conglomérats d’Etat. »

(Chi nhánh định điểm STANDARD & POOR’S đã chú thích tuần vửa rồi rằng tình trạng của Vinashin đã làm mong manh hệ thống ngân hàng và những khả năng vay vốn của toàn thể nước cộng sản. Trong khi ấy, MOODY’S đã hạ điểm những công trái phiếu Nhà Nước Việt Nam chỉ vì lý do chính yếu là những nợ nần tận đáy của những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh) 

Hậu quả tuyên bố chính ngày hôm nay, 20.12.2010

Theo Tập đoàn Royal Bank of Scotland, tin từ Singapore cho biết là lúc 13g18, điểm căn bản để bảo vệ nợ của Nhà Nước Việt Nam đã tăng lên 295 điểm. Mỗi điểm được tính phải trả là USD.1'000 cho việc bảo đảm mỗi món nợ USD.10 triệu, nghĩa là cứ USD.10 triệu, phải trả thêm tiền bảo đảm là : 295 x USD.1'000.- = USD.295'000.-. Nếu món nợ là USD.60 triệu chưa kịp trả, thì phải chịu : USD.295'000 x 6 = 1'770'000.-

Trong ngày hôm nay cho đến lúc này, theo Bản Tin của Bloomberg từ Singapore, mọi phía yên tiếng và chờ đợi nhau, khước từ mọi bình luận. Tập đoàn KPMG Hồng Kông đã được chỉ định cố vấn cho Con nợ Vinashin, trong khi ấy Tập đoàn Luật ALLEN & OVERY đã được ủy nhiệm bởi phía Chủ nợ như cố vấn Luật pháp. Ông Edward MIDDLETON thuộc phía Tập đoàn Hồng Kông KPMG đã từ chối không trả lời. Cũng vậy, Ông David KIDD thuộc Tập đoàn Luật pháp ALLEN & OVERY cũng từ chối bình phẩm. Ngay cả phát ngôn viên CREDIT SUISSE Hong Kong và Ông Adam HARPER đại diện Chủ vốn ELLIOTT Advisers cũng từ chối bình phẩm.

Bản Tin của AFP từ Hà Nội cũng nói về sự yên lặng từ hai phía :

« Ni Crédit Suisse ni Vinashin n’ont répondu lundi aux questions de AFP »

(Cả Crédit Suisse, cả Vinashin đều đã không trả lời ngày thứ hai cho những câu hõi của AFP). 

Mỗi bên như đang giữ thế : làm thế nào QUỴT NỢ (?) và làm thế nào ĐÒI ĐƯỢC NỢ. Tình trạng căng thẳng giữ thế này sẽ làm mất tin tưởng vào khả năng vay vốn của Việt Nam.

Hậu quả sau 20.12.2010 nếu Việt Nam
không tôn trọng hoàn nợ đáo hạn.

Nhận định về hậu quả của việc Vinashin không hoàn nợ đúng hạn, Giáo sư Jonathan PINCUS, Kinh tế gia tại Trường Harvard Kennedy ỡ Thành phố Hồ Chí Minh đã nói :

« If Vinashin doesn’t pay, it will make it more expensive for any Vietnamese entity, government-ownered or otherwise, to get overseas financing. People in the government don’t seem to be thinking long-term about the implications of this for Vietnam’s fiancial credibility “ (Bloomberg, by Katrina NICHOLAS, 20.12.2010, from Singapore)

(Nếu Vinashin không trả, việc này sẽ làm nợ nần trở thành rất mắc mỏ cho bất cứ Công ty Việt Nam nào, quốc doanh hay không quốc doanh, về việc có được tài chánh nước ngoài. Những người trong Chính phủ dường như không nghĩ đến dài hạn về việc này đối với lòng tin tưởng tài chánh dành cho Việt Nam).

 Bản Tin của AFP còn nhắc lại lời từ chối của Nhà Nước không nhận trách nhiệm hoàn vốn trong khi lúc vay vốn thì Nhà Nước đã long trọng bảo đảm việc hoàn vốn (“emprunt de USD.600 millions garanti par le gouvernement vietnamien”). Bản Tin viết:

“Le gouvernement a insisté sur le fait que le groupe devrait payer lui-même ses dettes ».

(Chính phủ đã nhấn mạnh rằng chính Tập đoàn phải trả những nợ nần của mình)

Việc mất tín nhiệm Tài chánh không phải chỉ liên hệ đến việc VAY VỐN (Project Financing) nước ngoài, mà nó còn liên hệ đến Kinh doanh của các Công ty trong tương lai đối với các bạn hàng. Thực vậy, những giao dịch thương mại linh kiện sản xuất hay hàng hóa trao đổi cần có Tín dụng ngắn hạn (Commodity Finances). Khi mất tin tưởng về nợ nần, thì những bạn hàng đòi hỏi phải trả tiền mặt mới giao hàng. Nếu có cho tín dụng ngắn hạn về hàng hóa, thì người cung cấp hàng hóa tăng giá bán để bù trừ vào nguy hiểm tín dụng. Đây là những hậu quả thiệt hại lâu dài về hoạt động Kinh tế, Thương mại cho Việt Nam.
 

Ông tân Tổng Giám đốc Nguyễn Ngọc Sử, mới nhận chức, chưa ăn được gì, nay phải gồng mình trả nợ cho Ông cựu Tổng Giám đốc đã làm mất USD.4.4 tỉ. Nguyễn Tấn Dũng đồng chịu trách nhiệm về món nợ khổng lồ này, liệu Ông tân Thủ tướng khác nhận chức thay cho Nguyễn Tấn Dũng, có nhận trách nhiệm hoàn món nợ này thay cho cựu Thủ tướng Dũng hay không.

Họ tìm cách đổ trách nhiệm cho nhau để thoái thác hoàn nợ mà không nghĩ rằng hậu quả quỵt nợ sẽ đổ lên đầu Dân chúng Việt Nam.

 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 20.12.2010
Web : http://VietTUDAN.net




                                     CSVN QUỴT NỢ HAY KHÔNG ?

 
                        Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                           Geneva, 22.12.2010
                                      Web: http://VietTUDAN.net

 
Thực ra chỉ có những siêu thánh nhân, sống hoàn toàn vì tinh thần, mới không có ý tưởng quỵt nợ. Tuy vậy, nếu siêu thánh nhân cũng phải ăn uống cho thân xác mình sống, thì khi có dịp, cũng dễ dàng tìm cách quỵt nợ. Khi FREUD nói tính dâm dục là động lực, thì ngày nay trong sự khó khăn kiếm phương tiện sống, Tiền bạc còn là động lực mạnh hơn tính dâm dục. Ngồi trong phòng tối riêng lẻ với mỹ nhân mà không ai có thể soi mói (Báo chí phanh phui), tính dâm dục dễ dàng trổi dậy. Cũng vậy, có quyền lực sinh sát (Chính trị độc tài bịt miệng người khác) mà ngồi bên đống vàng, thì lòng tham Tiền bạc cũng làm thánh nhân biển thủ mấy thỏi vàng vào túi riêng vì nếu có ai nói tới, thì mình bỏ tù theo điều 88 Hình Luật Việt Nam.

Về Tiền bạc, thì không bao giờ nói đến hai chữ TIN TƯỞNG, mà tâm trí dễ nghĩ đến hai chữ LỪA ĐẢO. Có người hỏi tôi tại sao vậy ? Tôi trả lời liền rằng chính tôi không TIN TƯỞNG vào tôi về Tiền bạc, thì làm sao tôi TIN TƯỞNG vào người khác về Tiền bạc. Tôi trưng dẫn hai tỉ dụ để chứng minh lời tôi nói:

=>       Tỉ dụ thứ nhất: Buổi tối, nếu tôi ra ngoài đi uống bia, tôi chỉ bỏ vào túi chừng 20 quan Thụy sĩ, chứ không mang ví tiền đi theo với Credit Cards. Khi uống bia hết 20 quan Thụy sĩ thì về nhà ngủ. Còn nếu mang ví tiền đi và Credit Cards, thì khi hứng lên hoặc ngà ngà say,nhất là gặp nữ giới ưng ý, rút tiền ra và ký Credit Cards hoang phí vô ích. Điều này có nghĩa là chính tôi không TIN TƯỞNG vào tôi lúc ngà ngà say.

=>       Tỉ dụ thứ hai: Về tình cảm, khi đôi trai gái hoàn toàn TIN TƯỞNG nhau, thề thốt nếu một người chết, thì mình cũng chết theo cho trọn mối tình lý tưởng. Thế rồi hai người lấy nhau. Nhưng vừa làm đám cưới, thì hai người ký giấy phân chia Tiền bạc riêng lẻ (séparation des biens), nghĩa là không TIN TƯỞNG nhau về Tiền bạc, mặc dầu hoàn toàn TIN TƯỞNG nhau về tình cảm.

Chính vì việc không thể TIN TƯỞNG nhau về Tiền bạc, mà tôi muốn bàn đến vấn đề VINASHIN xin hoãn USD.60 triệu đáo hạn phải trả ngày 20.12.2010. Khi xin hoãn trả nợ, đó chỉ là lời hứa hẹn trả nợ ký bởi một bên bởi VINASHIN để yều cầu phía Chủ nợ TIN TƯỞNG vào lời hứa về Tiền bạc. Phía Chủ nợ chưa trả lời vì chưa TIN TƯỞNG vào lời hứa hẹn của Vinashin. Chúng ta không thể trách phía Chủ nợ và đòi buộc phía Chủ nợ phải TIN TƯỞNG vào lời hứa của mình.

Vấn đề QUỴT NỢ hay TRẢ NỢ Tiền bạc không còn nằm ỡ bình diện tạo niềm TIN TƯỞNG, tạo DANH DỰ suông, mà nằm ỡ chỗ tính toán QUYỀN LỢI khi QUỴT NỢ hay TRẢ NỢ.

Phía Chủ nợ chưa trả lời cho yêu cầu hoãn nợ của phía CSVN (Vinashin và Nhà Nước) vì họ đang tính toán dùng việc làm mất QUYỀN LỢI cho phía CSVN để bắt ép phải trả nợ. Phía CSVN cũng tính toán QUYỀN LỢI khi xin hoãn nợ hoặc quỵt nợ sau này.  Chúng tôi xin mượn lời của Giáo sư Jonathan PINCUS, Kinh tế gia tại Trường Harvard Kennedy ỡ Thành phố Hồ Chí Minh, tóm tắt về hậu quả QUYỀN LỢI nếu phía CSVN không trả USD.60 triệu đúng hạn :

« If Vinashin doesn’t pay, it will make it more expensive for any Vietnamese entity, government-ownered or otherwise, to get overseas financing. People in the government don’t seem to be thinking long-term about the implications of this for Vietnam’s fiancial credibility “ (Bloomberg, by Katrina NICHOLAS, 20.12.2010, from Singapore)

(Nếu Vinashin không trả, việc này sẽ làm nợ nần trở thành rất mắc mỏ cho bất cứ Công ty Việt Nam nào, quốc doanh hay không quốc doanh, về việc có được tài chánh nước ngoài. Những người trong Chính phủ dường như không nghĩ đến dài hạn về việc này đối với lòng  tin tưởng tài chánh dành cho Việt Nam).

Giáo sư Jonathan PINCUS nói về việc mất QUYỀN LỢI cho phía Việt Nam trong tương lai nếu không trả vốn đúng hạn: (i) Tín dụng nước ngoài sẽ trở thành mắc mỏ; và (ii) mất lòng Tin tưởng về Tài chánh lâu dài cho Việt Nam. Giáo sư đã đứng ở lãnh vực QUYỀN LỢI chung cho Việt Nam mà nói, nghĩa là đứng ở phạm vi mất QUYỀN LỢI cho Dân chúng Việt Nam. Phía Chủ nợ cũng tác động trên việc mất QUYỀN LỢI chung cho Việt Nam để bắt ép Vinashin hoàn vốn.

Nhưng điều quan trọng là Nguyễn Ngọc Sử, tân Tổng Giám đốc Vinashin, và Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ đồng chịu trách nhiệm, có vì QUYỀN LỢI chung của Dân chúng Việt Nam mà TRẢ NỢ hay chỉ tính QUYỀN LỢI riêng mà QUỴT NỢ. Thực vậy, chúng tôi có thể nói ngay rằng nếu vì QUYỀN LỢI chung cho Dân chúng Việt Nam, thì hai người có thể lo liệu hoàn món nợ USD.60 triệu đúng hạn để tránh nhửng thiệt hại như Giáo sư Jonathan PINCUS đã nói. Nhưng Nguyễn Ngọc Sử và Nguyễn Tấn Dũng chỉ tính toán QUYỀN LỢI riêng tư mà xin hoãn nợ để rồi QUỴT NỢ. Chúng tôi xin cắt nghĩa việc tính toán QUYỀN LỢI riêng tư mỗi người như sau:

*          QUYỀN LỢI riêng tư Nguyễn Ngọc Sử

Nguyễn Ngọc vừa được chỉ định làm Tổng Giám đốc, chưa được ăn uống riêng tư gì cả, mà đã phải nhận trách nhiệm hoàn vốn. Chính vì vậy, nếu phải hoàn vốn, thì ông cũng xin phải có thời gian để kiếm chác được gì khi hoàn vốn. Ông tính toán sẽ bán một số cơ sở của Vinashin để thâu tiền mà hoàn vốn. Ông đã nói rõ rằng trong một năm có thể bán những cơ sở thâu vào chừng USD.1 tỉ để có thể hoàn vốn. Khi bán những cơ sở này, ông chắc chắn thâu riêng cho ông một số tiền. Tỉ dụ, ông bán với giá rẻ, nhưng người mua đút vào túi ông một số tiền. Thực hiện việc bán cơ sở như vậy, ông sẽ đút túi riêng một số tiền lớn, lúc đó ông hoàn vốn mà không thương tiếc gì QUYỀN LỢI chung.

*          QUYỀN LỢI riêng của Nguyễn Tấn Dũng

Nguyễn Tấn Dũng đồng chịu trách nhiệm về số tiền USD.4.4 tỉ thất thoát của Vinashin. Trong số tiền khổng lồ này đã có phần của Nguyễn Tấn Dũng. Chính phủ Việt Nam đã bảo đảm cho việc vay USD.600 triệu, nhưng bay giờ ông muối mặt từ chối trách nhiệm hoàn nợ vì lo sợ những Tập đoàn quốc doanh khác thua lỗ cũng bắt ông phải chịu trách nhiệm. Mặt khác ông muốn từ chối trách nhiệm vì muốn còn giữ chức Thủ tướng hoặc khỏi bị truy tố. Đó là việc tính toán QUYỀN LỢI riêng tư. Ông không còn nghĩ đến những thiệt hại QUYỀN LỢI chung của cả Việt Nam mà Giáo sư Jonathan PINCUS đã nói.

 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 22.12.2010
Web: http://VietTUDAN.net

 




VIỆT NAM:
VỠ NỢ KINH TẾ & LẠM PHÁT

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 09.12.2010
Web : http://VietTUDAN.net


Tuần trước, chúng tôi viết bài với đầu đề TRUNG QUỐC: LẠM PHÁT VÀ HẬU QUẢ, nghĩa là Lạm phát là cái nguyên nhân đem đến những Hậu quả nguy hại cho Kinh tế Trung quốc. Tuần này viết về Lạm phát tại Việt Nam, chúng tôi lại chọn đầu đề VIỆT NAM: TỤT DỐC KINH TẾ VÀ LẠM PHÁT, nghĩa là chính việc tụt dốc Kinh tế là cái nguyên nhân đang đẩy Lạm phát đến chóng mặt.

Những gì xẫy ra tại Việt Nam thường đi ngược lại với những nước chung quanh. Đúng như lời Phạm Văn Đồng tuyên bố trước Quốc Hội một cách long trọng: “Những gì các nước khác không làm được, thì ta làm được. Đầu năm tới, Nhà Nước sẽ cung cấp cho dân Hà Nội mỗi buổi sáng một cốc SỮA TRÂU !” (Trích lại lời Giáo sư Tiến sĩ Toán CHỬ VĂN ĐÔNG tại Varsovie). Ngườ ta thường cho dân uống sữa bò, thì ta cho dân uống sữa trâu mới đặc biệt.

Bài này lần lượt bàn những điểm sau đây:
=> Một vài ý niệm giáo khoa về Lạm phát
=> Tình trạng tụt dốc Kinh tế tại Việt Nam
=> Lạm phát và những nguyên nhân
=> Phải đánh thẳng vào Chủ trương Kinh tế quốc doanh


Một vài ý niệm giáo khoa về Lạm phát

Xin các bậc thức giả cho phép tôi nhắc lại một vài ý niệm giáo khoa về Lạm phát để làm cái sườn cho chúng tôi cắt nghĩa những lý do Lạm phát, Vật giá leo thang tại Việt Nam.

Lạm phát, Vật giá leo thang là một sự so sánh giữa Lãnh vực đồng Tiền, phương tiện trao đỗi hàng hóa,  và Lãnh vực Kinh tế thực gồm những hàng hóa được sản xuất ra và trao đổi. Lượng Tiền lưu hành trong dân gian và Lượng hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của dân gian cùng song hành. Khi so sánh hai Lượng song hành ấy, người ta định một Chỉ số tổng quát cho tương đương giữa đơn vị Tiền tệ và đơn vị Hàng hóa tiêu thụ.  Vật giá có nghĩa là sự so sánh tương đương này. Khi nói Tỷ giá Hối đoái là nói sự tương đương giữa hai đồng Tiền, còn nói Vật giá là nói sự tương đương giữa đơn vị một đồng Tiền với đơn vị Hàng hóa Tiêu thụ.

Để tóm tắt sự tương đương ấy, chúng tôi lấy lại Công thức của FISHER ở dạng đơn giản nhất:

  M.V
----------  =  P
     T

“H” là Khối lượng Tiền. “V” là tốc độ lưu hành (tốc độ nhanh làm lượng Tiền nhiều lên trong khoãng thời gian nhất định). “T” bao gồm tất cả lượng hàng hóa thực trao đổi trong khoảng thời gian nhất định của lượng Tiền lưu hành. “P” là Chỉ giá tổng quát Tiêu thụ, kết quả của so sánh giữa Khối lượng Tiền lưu hành và Khối lượng hàng hóa trao đổi ở trong một khoảng thời gian nhất định.

Khi “P” tăng, người ta gọi là Lạm phát hay Vật giá leo thang, nghĩa là phải dùng nhiều đơn vị đồng Tiền mới có được cùng đơn vị hàng hóa trước đây. Nhìn một cách đơn giản theo Công thức, thì khi “P” tăng, người ta thấy những trường hợp sau đây:

(i) Trường hợp thứ nhất:
Lượng Tiền lưu hành tăng và Lượng hàng hóa đứng yên

Đây là trường hợp Lạm phát Tiền tệ, mà người ta thường gọi lá phá giá đồng bạc. Tỉ dụ một Nhà Nước độc tài độc đoán in thêm tiền mới cho vào lưu hành chung với tiền đang sử dụng của dân gian.

(ii) Trường hợp thứ hai:
Lượng hàng hóa giảm và Lương Tiền lưu hành đúng yên

Đây là trường hợp tụt dốc Kinh tế thực, nghĩa là khả năng cung cấp hàng hóa cho trao đổi bị sút kém đi. Tỉ dụ hiệu năng sản xuất hàng hóa kém sánh với khối tiền lưu hành đang được sử dụng. Trong Đệ nhị Thế chiến, các đồng tiền Âu châu mất hẳn giá vì  không có hoạt động sản xuất hàng hóa Kinh tế: đồng Franc Pháp cũ, đồng Mark Đức cũ, đồng Lire Ý, đồng Yen Nhật.

(iii) Trướng hợp thứ ba:
Lượng Tiền lưu hành tăng và Lượng hàng hóa giảm

Đây là trường hợp mà hai lực làm Lạm phát hợp lại để làm Lạm phát trở thành phi mã (Inflation galoppante) và Vật giá leo thang chóng mặt ! Tỉ dụ trước đây, thời mà Đệ Tam quốc tế Cộng sản mở những Mặt Trận Giải Phóng (Front de Libération) tại những nước Phi châu và Nam Mỹ. Hoạt động sản xuất hàng hóa đình trệ hoặc bị phá hoại, trong khi ấy Nhà Nước đương quyền phải trả lương Lính và Công chức, nên in Tiền mới ra làm Khối lưu hành Tiền tệ được thổi phồng lên. Lạm phát ở Ba Tây có lúc lên tới 1’600%.

Chúng tôi cũng xin chú thích thêm rằng không phải mọi Lạm phát đều xấu. Người ta phân biệt Lạm phát vui sướng (Inflation heureuse) và Lạm phát buồn cực (Inflation malheureuse). Lạm phát vui sướng khi mà một nước có phát triển Kinh tế đều đặn, dân chúng có thu nhập tăng, nên chi tiêu nhiều hơn khiến giá hàng hóa tăng lên. Trong trường hợp này, Ngân Hàng Trung ương chỉ cần điều chỉnh khối Tiền lưu hành cho phù hợp với đà tăng trưởng hàng hóa. Lạm phát buồn cực là khi dân nghèo bị vật giá lại tăng vọt, khiến dạ dầy đói.

Lạm phát ở Việt Nam hiện nay là loại Lạm phát gì và ở trường hợp nào trong ba trường hợp trên đây ?


Tình trạng tụt dốc Kinh tế tại Việt Nam

Chúng tôi không hiện diện ở Việt Nam để chứng kiến cảnh tụt dốc Kinh tế. Nhưng có những nhân vật quốc tế đáng tin cậy họp chính tại Hà Nội và nói với Nhà Nước CSVN về mô hình Kinh tế nguy hiểm và nguy cớ tụt dốc mau chóng của Kinh tế Việt Nam. Chúng tôi xin trích đăng lại những tuyên bó của các nhân vật ấy.

Nhân vật thứ nhất mà chúng tôi trích dẫn là Giáo sư Michael PORTER, người được chính Nguyễn Tấn Dũng nhờ cậy nghiên cứu và thẩm định về mô hình Kinh tế VN cũng như tương lai của nó. Giáo sư đưa ra nhận định rõ rệt:

“Khi xem xét kỹ mô hình phát triển được áp dụng từ trước tới nay để xem có tiếp tục phù hợp với Việt Nam nữa không, câu trả lời của tôi là không”.

“Mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào việc khai thác các lợi thế có sẵn như tài nguyên và nhân công giá rẻ. “

“Nhiều chính sách vĩ mô có thể kích thích tăng trưởng trong ngắn hạn, nhưng lại không có tác dụng, hoặc thậm chí có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng năng suất dài hạn của Việt Nam”.

“Các mất cân đối vĩ mô lớn như cán cân thương mại và tài khoản vãng lai, tỷ lệ tiết kiệm – đầu tư, lạm phát và tỷ giá hối đoái có thể gây ra những hậu quả “không thể xem thường. Ít nhất, chúng tạo ra tâm lý với các nhà đầu tư rằng, rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam là rất cao. Các mất cân đối vĩ mô này có thể làm phát sinh khủng hoảng, khi niềm tin bị xói mòn và các dòng vốn nước ngoài chảy khỏi Việt Nam”.

“Nếu Việt Nam không vượt qua được cách thức tăng trưởng hiện nay, quốc gia sẽ bị tắc ở mức thu nhập trung bình thấp và phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước có thu nhập thấp hơn đang trỗi dậy”.

Giáo sư kết luận:

“Tôi sẽ rất buồn nếu báo cáo này chỉ được để trên giá sách. Tôi hy vọng phó Thủ tướng sẽ giao các cơ quan nhà nước sử dụng báo cáo này trong quá trình hoạch định chính sách”.

Nhân vật thứ hai mà chúng tôi trích dẫn là Ông Adam SITKOFF, Giám đốc Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam. Theo Ông, việc Lạm phát hiện nay chỉ là sự phát hiện của một tình trạng tụt dốc Kinh tế có tính cách vĩ mô. Chính vì vậy mà trong Diễn đàn Doanh nghiệp họp tại Hà Nội hôm 2/12, Ông Adam Sitkoff nhấn mạnh muốn chính phủ ổn định kinh tế vĩ mô thì tốt hơn.

Trả lời Phỏng vấn cho BBC, Ông nói:

“Có hai chủ đề chúng tôi nêu ra trong cuộc họp diễn đàn doanh nghiệp ngày 2/12 tại Hà Nội. Đó là chính phủ cần để ý duy trì ổn định kinh tế vĩ mô tốt hơn. Đề ra chính sách hữu hiệu để kiềm chế tỷ lệ lạm phát – vốn đang khá cao. Hiện lạm phát đang ảnh hưởng đến đời sống và sức mua của người dân. Thứ hai là chúng tôi muốn thấy chính phủ nghiêm túc thúc đẩy cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước. Sau vụ khủng hoảng tại Vinashin, chúng tôi quan sát thấy các tập đoàn kinh tế nhà nước khác phải nhận bớt nợ và bị gán tài sản của Vinashin. Cách giải quyết các khoản nợ của Vinashin vẫn còn chưa minh bạch.

Cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ tin rằng chính phủ nên giảm bớt can thiệp vào quá trình làm ăn và kinh doanh của doanh nghiệp. Cạnh đó trong lúc tỷ lệ tư hữa hóa được đẩy mạnh, doanh nghiệp nhà nước vẫn kiểm soát hầu hết các loại hình kinh doanh quan trọng ở Việt Nam. Chúng tôi muốn thấy điều này thay đổi. Chính phủ nên tập trung vào các tiêu chuẩn kế toán, hạch toán được quốc tế công nhận liên quan đến cách tính thuế và thu thuế, để góp phần loại trừ tham nhũng. Hành động thường xuyên bơm thêm vốn cho doanh nghiệp quốc doanh đang ngập trong nợ nần không phải là cách dùng tiền thuế của dân tốt nhất.”

Vụ Tập đoàn quốc doanh VINASHIN thua lỗ tới USD.4.4 tỉ đang lan tràn sang các Tập đoàn quốc doanh khác, khiến giới Ngân Hàng quốc tế nhìn thấy tình trạng đe dọa vỡ nợ của nền Kinh tế quốc doanh. Các Tổ chức thẩm định quốc tế như MOODY, STANDARD & POOR’S đều đồng loạt hạ giá những Tập đoàn Kinh tế nhà nước để khả năng vay vốn của Việt Nam đi đến cho bế tắc rất gần đây.

Việc VINASHIN xin khất nợ USD.60 triệu với những lời lẽ như hé lộ ý tưởng dựt nợ tạo ảnh hưởng rất xấu cho tương lai tài chánh Việt Nam.

Trong khi các Tập đoàn Kinh tế Nhà nước tụt dốc, bị đe dọa vỡ nợ, tạo một viễn tượng bí lối vay vốn tương lai, thì khả năng Tài chánh của chính Nhà Nước đang đi vào kiệt quệ. Chúng tôi xin trích ngay Báo chí quốc nội:

“Lời báo động của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế được đưa ra hôm 07/12 tại Hội nghị thường niên các nhà tài trợ cho Việt Nam, diễn ra trong 2 ngày (7-8/12) tại Hà Nội. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, tính đến tháng 9 vừa qua, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã xuống đến mức chỉ còn bảo đảm được không đầy 2 tháng nhập khẩu.

Trong tham luận tại hội nghị, ông Masato Miyazaki, đại diện cho Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, không cho biết số liệu cụ thể về dự trữ ngoại tệ của Việt Nam, mà chỉ ghi nhận rằng: “Dự trữ quốc tế của Việt Nam đã ổn định trong năm nay nhưng vẫn còn ở mức thấp, khoảng 1,8 tháng nhập khẩu tính đến tháng Chín năm nay”.

Cũng theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, mức dự trữ vào tháng 12 năm ngoái chỉ bảo đảm được không đầy 2,5 tháng nhập khẩu mà thôi.”


Lạm phát và những nguyên nhân

Như trên chúng tôi đã nói, việc tụt dốc của nền Kinh tế vĩ mô tại Việt Nam mới là chính yếu. Tình trạng Lạm phát, Vật giá nhẩy vọt hiện nay chỉ là sự phát hiện nổi lên tác hại đến đời sống dân chúng. Báo chí quốc nội không thể không đăng tãi tình trạng Lạm phát buồn cực này (Inflation malheureuse), hậu quả của tụt dốc cả một bộ máy Kinh tế nhà nước. Chúng tôi xin trích đăng Báo chí quốc nội.

“SÀI GÒN (TH) - Lạm phát gia tăng nhanh chóng trong mấy tháng qua, vượt qua mặt những chỉ tiêu mà Quốc Hội đề ra cũng như các biện pháp “bình ổn giá” mà nhà cầm quyền quảng cáo. Hậu quả, những người có đồng lương cố định và đại đa số quần chúng đều nghèo khó lại thêm phần khốn đốn.

Tờ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam trong một bản tin ngày 29 tháng 11, 2010 về “lo âu đường đi của giá” nói rằng, ‘luôn có trên 50% bạn đọc cho biết họ đang thực sự gặp khó khăn.’

Theo các con số do Tổng Cục Thống Kê ở Hà Nội đưa ra, lạm phát tăng nhanh nhất ba tháng trở lại đây của năm nay và là mức gia tăng tệ hại nhất trong suốt 20 tháng qua. Ðây là hệ quả của chính sách đánh sụt giá đồng nội tệ nhằm cứu ngành sản xuất xuất cảng gây ảnh hưởng dây chuyền lên cả nền kinh tế.

Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, giá cả gia tăng 11.09% trong tháng 11, 2010 so với một năm trước. Ðây là tỉ lệ lạm phát gia tăng nhiều nhất từ tháng 3, 2009 mà vào thời điểm đó lạm phát nằm ở 11.25%. Tháng 10, 2010, lạm phát là 9.66%. Nếu chỉ tính từng tháng một thì lạm phát của tháng 11 đã tăng hơn tháng mười 1.86%.

Cuối năm 2009, Quốc Hội của chế độ Hà Nội biểu quyết “chỉ tiêu lạm phát trong năm 2010 phải dưới 7%”. Nhưng đến tháng 5, 2010, thấy không kềm nổi, nhà cầm quyền trung ương “xin điều chỉnh chỉ tiêu lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI)” lên “không quá 8%”. 

“Giá của tất cả mọi loại thực phẩm mà chúng tôi mua ở các chợ địa phương đều gia tăng đáng kể so với tháng trước”. Craig Jackson, quản lý nhà hàng Al Fresco (cũng có chi nhánh ở Hà Nội) nói như vậy và phải trình bày với thức khách lý do “những bất ổn trong tỉ giá” đã làm giá thực phẩm tăng vọt.

Theo báo Người Lao Động hôm 20 tháng 11, 2010 vừa qua, các siêu thị ở Sài Gòn đã tăng giá ít nhất 10%. Gạo, một thứ căn bản của bữa ăn người Việt Nam, lên giá ít nhất cũng 4%, trong khi nhà cầm quyền khoe năm nay sẽ xuất cảng 6.5 triệu tấn gạo.

Nói chung, giá thực phẩm đã gia tăng 14.78% so với một năm trước trong đó một số thứ còn tăng đến 20.45%, theo Tổng Cục Thống Kê nói trên.

Theo tờ Người Lao Động, một số mặt hàng khác gắn liền với đời sống hàng ngày là đường và gas cũng tăng đáng kể.

Báo Người Lao Động dẫn nguồn tin từ Cục Quản Lý Giá (Bộ Tài Chính Việt Nam), nói giá bán lẻ đường trắng trong nước 15 ngày đầu tháng 11 khoảng 19,000-21,000 đồng/kg, tăng 1,000 đồng/kg so với tháng 10.”

Chúng tôi trở lại Công thức của FISHER trình bầy với tính cách tóm gọn giáo khoa ở đoạn đầu để nhìn những lý do căn bản tạo tình trạng Lạm phát, Vật giá leo thang hiện nay ở Việt Nam:

(i) Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh được Nhà Nước rót vào cho phồng lên số vốn, nghĩa là đã cho những Tập đoàn này lượng tiền lưu hành lớn (M.V tăng)

(ii)  Nhà Nước đứng ra như bảo đảm cho những Tập đoàn này vay vốn nước ngoài, càng làm phồng lên khối Tiền lưu hành (M.V tăng)

(iii) Nhà Nước thiếu hụt Ngân sách, nhưng Nhà Nước độc tài đã phá giá đồng bạc Việt Nam, in Tiền mới rót vào lưu hành vá đặc biệt rót cho các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh để dân chúng hứng chịu cảnh Lạm phát Tiền tệ này (M.V tăng)

(iv) Trong khi ấy, các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh tham nhũng, lãng phí, không sản xuất hàng hóa cho tương xứng với số vốn nhận được. Không có hiệu năng Kinh tế, nghĩa là giảm sút hẳn sản xuất hàng hóa. Việc này làm giảm lượng hàng hóa trao đổi “T” trong Công thức của Fisher. Thổi phồng vốn lưu hành Tiền tệ và tụt dốc sản xuất hàng hóa, các Tập đoàn Kinh tế nhà nước đã hiệp hai lực (“M.V” tăng và “T” giảm) làm cho Lạm phát phi mã (Inflation galoppante) và Vật giá vọt lên chóng mặt.

Chính vì hiểu cái nguồn gốc phát sinh Lạm phát và Vật giá tăng vọt như vậy mà các nhân vật quốc tế họp tại Hà Nội đã khuyên Nguyễn Tấn Dũng phãi thay đổi mô hình Kinh tế vĩ mô nền tảng, chứ không chỉ nguyên hô hào dùng dầu cù là thoa bóp Lạm phát và Vật giá nhất thời. Phải trị từ cội nguồn Lạm phát.

Chính vì cái cội nguồn này mà chúng tôi thấy có sự khác biệt giữa Lạm phát Trung quốc và Lạm phát Việt Nam:

* Lạm phát Trung quốc một phần do độc chiêu QE2 $600 tỉ làm cho lượng vốn quốc tế đầu cơ dồn vào để kiếm lợi nhuận cao. Trong khi ấy, vốn đầu cơ quốc tế không vào Việt Nam vì sợ vào không những không có lợi nhuận mà còn sợ mất vốn vì Kinh tế sắp vỡ nợ.

* Tỷ giá Đo-la xuống tại Trung quốc để tự động đẩy Tỷ giá đồng Yuan lên. Nhưng tại Việt Nam, Tỷ giá tiền Đồng VN lại tăng lên VN$.2’000 đối với Đo-la, nghĩa là giá đồng Tiền VN xuống mà giá đồng Đo-la lại lên. Dân Việt Nam và giới Hối đoái không còn tin tưởng ở Đồng bạc Việt Nam đã phá giá 3 lần trong một năm.

Thật đúng như lời Phạm Văn Đồng là những gì nước khác làm không được thì nước ta làm được, nhưng làm ngược chiều.


Phải đánh thẳng vào
Chủ trương Kinh tế quốc doanh

Đã từ nhiều năm nay, chúng tôi luôn luôn kêu gọi rằng phải đánh thẳng vào Chủ trương Kinh tế quốc doanh. Việc tụt dốc Kinh tế VN, việc xuất hiện Lạm phát buồn cực (Inflation malheureuse) lúc này chính là do Nhà Nước sử dụng những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh để nắm độc quyền Kinh tế Quốc gia như chúng ta đã thấy hậu quả được trình bầy trong những phần trên đây.

VINASHIN, VINACOMIN… chỉ là những Tập đoàn Kinh tế Nhà nước chường ra cái tên. Nhưng có một thứ Vi trùng không mang tên làm ruỗng những Tập đoàn ấy. Đó là Vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ chui xuyền qua đãng và các Tập đoàn để đục khoét làm tụt hậu Kinh tế Quốc gia. Những con Vi trùng này cố thủ giữ Chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế để chúng chui rúc ẩn danh giữa hai quyền lực này mà đi đêm, đánh đĩ với nhau đẻ ra cả ổ Vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ thi nhau đục khoét Kinh tế Quốc gia.

Đó là lý do coat lõi điếm đàng thâm cung bí sử mà những nhân vật quốc tế chỉ nói bóng gió, chứ không dám nói huỵch toẹt ra.

Tôi xin phép nói hụyh toẹt ra rằng phải DỨT BỎ CHÍNH CÁI CƠ CHẾ CSVN ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ NẮM ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để THAM NHŨNG LÃNG PHÍ thì mới có thể phát triển Kinh tế Việt Nam được.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 02.12.2010
Web : http://VietTUDAN.net


TRUNG QUỐC:
LẠM PHÁT & HẬU QUẢ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 02.12.2010
Web : http://VietTUDAN.net



Nội dung bài Quan Điểm này đã được Đài RFI phỏng vấn ngày thứ Tư  01.12.2010, để phát thanh về Việt Nam.

Theo Kinh tế gia Wang Tao, làm việc cho UBS tại Bắc Kinh, trước những đề nghị của các Chuyên gia quốc tế về những Biện pháp Tài chánh, Tiền tệ để giải quyết Lạm phát và tăng vật giá, Bắc Kinh vẫn từ chối những biện pháp ấy vì sợ nguy hiểm xẩy đến cho những Kỹ nghệ xuất cảng và lo lắng nạn thất nghiệp cho chục triệu nhân công:

«Pékin, malgré les pressions intenses de ses partenaires commerciaux, refuse toute hausse importante qui mettrait en danger ses industries exportatrices et des dizaines de millions d'emplois.» (PEKIN, 24 nov 2010 (AFP) (Par Boris CAMBRELENG)
(Bắc Kinh, mặc dầu những áp lực của những bạn hàng thương mại của mình, từ chối mọi việc tăng lên quan trọng (như lãi suất, tỷ giá đồng yuan) có thể đưa đến nguy hiểm cho những kỹ nghệ xuất cảng và cho những chục triệu công nhân).

Trong bài này, chúng tôi trình bầy
=> Tình hình Lạm phát như thế nào hiện nay  
=> Những lý do nào đưa đến Lạm phát
=> Những Biện pháp chống đỡ Lạm phát
=> Những hậu quả Lạm phát cho Kinh tế Trung quốc


Tình trạng Lãm phát như thế nào hiện nay

Theo hai bài viết từ Bắc Kinh của Ký giả Harold THIBAULT đăng trên Nhật báo quốc tế Le Monde 19.11.2010; theo Bản Tin của Thông Tấn AFP bởi Boris CAMBRELENG đánh đi từ Bắc Kinh ngày 24.11.2010; và theo bài viết với tựa đề LES ALGUES, SYMBOLES DE L’INFLATION GALOPANTE EN CHINE (Rau câu, biểu tượng của Lạm phát nhẩy vọt tại Trung quốc) của Tác giả WEI GU (bản dịch của Christine LAHUEC) đăng trên Le Monde 30.11.2010, thì Tình hình Lạm phát tại Trung quốc được tóm tắt bằng những con số được đưa ra như sau:   :
* Trong tháng 10, vật giá nhẩy vọt 4.4%. Đó là con số chính thức tuyên bố, nhưng theo những nhà quan sát Kinh tế Trung quốc, thì việc nhẩy vọt vật giá phải là 7%.

* Vật giá những thực phẩm chính cho dân chúng tăng 62.4% trong một năm

* Tăng giá McDonald’s… và Siêu thị: Giá tại 1135 Tiệm ăn McDonald’s  tăng từ 0.5 Yuan tới 1 Yuan. Các Tiêm ăn Kentucky Fried Chicken cũng tăng như vậy. Việc tăng giá cũng nhìn thấy rõ tại các Siêu thị.

* Viviane WEI, bà mẹ của một gia đình, được phỏng vấn ngay trước Siêu thị Carrefour (Pháp) ở phía Tây Thượng Hải, than phiền về giá tỏi và gừng tăng hơn một nửa giá của tháng trước.

* Theo bài của Wei Gu đăng trên Le Monde 30.11.2010, Rau Câu, món ăn chính của dân Trung quốc,  tăng giá 20% trong tháng 10 vừa rồi vì đầu cơ, khan hiếm công hái, xa bờ biển làm chi phí thêm tìm kiếm do các công nghệ của những thành phố ven biển tàn phá. 


Những lý do nào đưa đến Lạm phát

1) Lý do Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) bị thổi phồng gây ra Lạm phát, vật giá tăng vọt (Inflation).

Ba nguồn làm thổi phồng Khối Tiền lưu hành như sau:

a) Biện pháp Quantitative Easing $600 tỉ để mua Treasury Bonds  nhằm hạ lãi suất dài hạn khiến những khối vố đầu tư quốc tế đổ dồn vào các nước Á châu, nhất là Trung quốc để kiếm lợi nhuận cao hơn.

«L’afflux de capitaux étrangers (spéculatifs), líe notamment à la stratégie monétaire extrêmement souple menée par la Réserve Fédérale américaine (FED), a renforcé cette tendance» (Le Monde 19.11.2010, page 1)

(Làn sóng những vốn đầu cơ từ ngoài vào, liên quan chính yếu đến chiến thuật tiền tệ cực kỳ mềm dẻo chủ trương bởi Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang Mỹ (FED), đã tăng cường khuynh hướng này (vật giá tăng vọt))

Theo Bản Tin AFP đánh đi từ KUALA LUMPUR Mã Lai, ngày 30.11.2010: Họp Bộ trưởng Tài chánh ASEAN khẳng định về Ngoại tệ nóng vào các nước ASEAN và Trung quốc do ảnh hưởng của Chính sách Tài chánh FED rót $600 tỉ vào lưu hành có thể làm cho lượng $581 năm 2009 tăng mạnh lên  $825 tỉ cho đến hết năm nay 2010.

b) Chính Nhà Nước Trung quốc công khai thổi phồng số vốn vào lưu hành : Nhằm giữ đà tăng trưởng Kinh tế cũ, Nhà nước Trung quốc đã xuất quá nhiều vốn cho các Công ty nhà nước. Năm 2009, Nhà nước bơm vốn cho các Công ty trong năm 2009 là Rmb9’600 tỉ ($1’450 tỉ):

“Bank lending ballooned to a record Rmb9’600bn ($1’450bn) as China rushed to reflate its economy after the financial crisis” (Financial Times 22.11.2010, page 2)

(Ngân hàng cho vay thổi phồng vốn cho vay kỷ lục Rmb9’600 tỉ ($1’1450 tỉ) trong năm 2009 khi Trung quốc vội vàng phát động Kinh tế sau cuộc Khủng hoảng Tài chánh)

c) Nhưng số vốn quan trọng là các Ngân Hàng Thương mại đã ngầm cho các Công ty vay mà chính Nhà nước không kiểm soát được. Tiến sĩ James KYNGE gọi đây là hệ thống Tài chánh đường hầm “subterranean world of finance “ hay “underground financial system “.

Theo những con số cung cấp từ Use-Trust, một Tổ chức Tư vấn Kỹ nghệ, thì số vốn ngầm rót ra trong hai Tam Cá Nguyệt 2 và 3 tổng cộng là Rmb3’934.13 tỉ ($624.46 tỉ):

“According to Use-Trust, a trust industry consultancy, the volume of bank trust lending conducted off the balance sheets of banks totalled Rmb2’005.26bn ($318.29bn) in the third quarter of this year, up from Rmb1’928.87 ($306.17bn) in the second quarter” (Financial Times 22.11.2010, page 2)

(Theo Use-Trust, một Tổ chức Tư vân Kỹ nghệ, thì số lượng vốn ngân hàng cho vay ngoài bảng cân đối kế toán tổng cộng là Rmb2’005.26 tỉ ($318.29 tỉ) trong Tam cá nguyệt thứ ba của năm nay và Rmb1’928.87 tỉ ($306.17 tỉ) trong Tam cá nguyệt thứ hai)

Ngay những ngân hàng nhà nước cũng cho vay đường hầm vì là cơ hội tham nhũng, ăn hối lộ. Mặc dầu dưới sự kiểm soát của Ủy Ban Điều Chỉnh Ngân Hàng Trung quốc, những Ngân Hàng nhà nước cũng đi đường hầm cho vay chui. Con số cho vay chui lên tới tối thiểu Rmb2’000 tỉ ($320 tỉ):

“The off-balance-sheet lending by state banks this year was said to have reached at least Rmb2’000bn ($320 tỉ) (Financial Times 22.11.2010, page 2)

(Số vốn cho vay ngoại bảng can đối kế toán bởi các Ngân hàng nhà nước năm nay được nói đã đạt tới tối thiểu Rmb2’000 tỉ ($320 tỉ)

Ba nguồn làm tăng Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) như trên đã tóm tắt đang làm Lạm phát, Vật giá tăng vọt tại Trung quốc:

“It is the pressures caused by such ballooning money supply… that are the prime causes of inflation.” (Financial Times 22.11.2010, page 2)

(Đó là những áp lực gây ra từ việc cung cấp tiền căng phồng len như vậy đã là những nguyên cớ chính yếu tạo Lạm phát hiện nay.)

2) Lý do vật giá thực phẩm tăng vọt hơn các hàng khác

Hai lý do sau đây làm giá thực phẩm tăng hơn các hàng khác:

a) Chú trọng hàng công nghệ xuất cảng và lãng quên thực phẩm cho dân. Việc lạm phát chính yếu là trên các thực phẩm. Vật giá tăng tổng thể 4.4%, nhưng đặc biệt đối với 18 thực phẩm chính yếu, vật giá tăng trong năm vừa rồi tới 62.4%. Người ta không khó hiểu về lý do tăng giá vọt của thực phẩm. Trung quốc sãn xuất chính yếu những hàng công nghệ (produits manufacturés) nhằm xuất cảng chứ không nhằm phục vụ dân Trung quốc. Về nông nghiệp, nếu sản xuất được gì, thì những Công ty chế biến thực phẩm như đóng hộp, phơi khô, lại cũng nhằm xuất cảng. Do đó thực phẩm ăn liền cho dân chúng bị khan hiếm trong khi ấy Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) bị thổi phồng lên. Hậu quả là vật giá thực phẩm tăng vọt tới 62.4%.

b) Giá công nhân tăng 15%. Những nông dân ra tỉnh vì vậy khan hiếm người làm. Giá công hái cà chua tăng 25% theo bài của Wei Gu trên Le Monde 30.11.2010. Lấy tỉ dụ rau câu, món ăn phổ biến tại TQ. Những vùng ven biển bị chiếm cho công nghệ: xây cảng, nhà cữa. Phải đi xa ra biển mới hái được rau câu, nên chi phí tốn kém và do đó giá bán tăng lên. Rau câu phơi khô còn bị đầu cơ vì giữ được lâu.


Những Biện pháp chống đỡ Lạm phát

Trong Kinh tế, người ta phân biệt hai loại Lạm phát, Vật giá tăng, đó là Lạm phát vui sướng (Inflation heureuse) và Lạm phát khổ cực (Inflation malheureuse). Lạm phát vui sướng khi mà nền Kinh tế phát triển, dân thu nhập nhiều và tăng tiêu thụ. Ngân hàng Trung ương chỉ cần điều chỉnh khối tiền lưu hành cho phù hợp với phát triển Kinh tế. Còn đối với Lạm phát khổ cực (Inflation malheureuse), khi mà khối tiền lưu hành bị thổi phồng lên hoặc là sản xuất bị yếu kém đi. Những người có số thu nhập cố định, gặp trường hợp Lạm phát này, sẽ thấy mình nghèo đi và phải chi tiêu khổ cực.

Công thức đơn giản của FISCHER tóm tắt hai lý do tăng lạm phát khổ cực này:

  M.V
--------   =    P
    T

P là chỉ số tổng quát giá tiêu thụ. M.V là lượng Tiền lưu hành. T là lượng hàng hóa sản xuất thực. Vậy nếu lượng Tiền lưu hành (M.V) bị thổi phồng lên, thì chỉ số tổng quát giá tiêu thụ (P) cũng tăng vọt lên. Cũng vậy, nếu sản xuất (T) bị yếu kém đi mà lượng Tiền lưu hành giữ nguyên, thì chỉ số tổng quát giá tiêu thụ (P) cũng tăng vọt lên.
 
Tại Trung quốc, vật giá tăng vọt hiện nay, nhất là về thực phẩm, đó là tình trạng Lạm phát khổ cực. Nhà nước có tăng lương, nhưng chính yếu là cho Quân đội, Công an, Công chức, đó là cho những lực lượng giữ trật tự xã hội để bảo vệ chế độ. ¾  dân chúng Trung quốc trong nội địa và số công nhân làm việc cho Kinh tế thì lại không được hưởng những thành quả Kinh tế tương xứng mà Trung quốc xuất cảng thu nhập vào. Đây là tình trạng phân phối không đồng đều thu nhập Kinh tế mà chính Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã phải công khai nói ra trước Quốc Hội trong tháng 6/2010 vừa rồi.

Những Biện pháp chống đỡ Lạm phát là cho tình trạng Lạm phát khổ cực này (Inflation malheureuse) như sau:

1) Những biện pháp cấp thời.

Ngày 17.11.2010, Thủ tướng ÔN GIA BẢO đã đưa ra một số biện pháp cấp thời chống Lạm phát (Inflation), như:

=> Kiểm soát giá cả (Controle des Prix), nghĩa là đặt Giá Trần nhà (Prix plafond). Đây là biện pháp sẽ gây tất yếu cho Chợ Đen và Đầu Cơ như thời ở Nga trước đây. Những con buôn Tầu rất lành nghề về Chợ Đen và Đầu Cơ làm thực phẩm càng khan hiếm và Giá hàng luôn luôn theo đà tăng.

=> Từ kho Dự trữ, Nhà nước quyết định cho ra 62’000 tấn thịt heo và 210’000 tấn đường. Nhưng đối với 1 tỉ 300 triệu dân Tầu, thì hai lượng thịt và đường cho ra này chỉ như muối bỏ bể.

2) Những biện pháp Tài chánh

Đây là những biện pháp do những nhà Tài chánh, Ngân Hàng quốc tế đề nghị (theo Bản Tin AFP bởi Boris CAMBRELENG đánh đi từ Bắc Kinh ngày 24.11.2010). Biện pháp Tài chánh này nhằm rút nhỏ lại Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) bằng (a) Tăng Lãi suất chỉ đạo; (b) Bắt các Ngân Hàng Thương mại tăng Dự trữ tại Ngân Hàng Trung ương. Nhưng những Biện pháp Tài chánh này không dễ dàng thực hiện vì những lý do sau đây:

a) Biện pháp tăng Lãi suất chỉ đạo

Nếu dùng Biện pháp tăng Lãi suất chỉ đạo lên để làm cho Giá thuê vốn thành mắc mỏ và do đó các Công ty giảm vay vốn đầu tư, thì Trung quốc lại lo ngại giảm đà Tăng trưởng và tăng Thất nghiệp vì không đầu tư thêm nữa, các Công ty thải thợ.

b) Các Biện pháp làm giảm Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) 

=> Đối với số vốn đầu cơ quốc tế ập vào do ảnh hưởng của của Quantitative Easing $600 tỉ của FED, thì Trung quốc khó lòng ngăn chặn vì sợ thiếu vốn nước ngoài. Có thể đặt thuế cho số vốn này như trường hợp Ba Tây đã áp dụng từ hai tháng nay để làm giảm việc ập vào của vốn đầu cơ quốc tế.

=> Đối với hệ thống cho vay đường hầm “subterranean world of finance“ hay “underground financial system“, bắt các Ngân Hàng thương mại tăng Dự trữ đặt tại Ngân Hàng Trung ương, thì Trung quốc gặp phải khó khăn là không kiểm soát được số tín dụng đường hầm này. Cái căn nguyên của việc tín dụng đường hầm là tham nhủng, hối lộ. Đây là việc khó khăn thực hiện kiểm soát vì chính Ngân Hàng Nhà nước cũng tham nhũng, hối lộ để cho vay vốn đường hầm.


Những hậu quả Lạm phát cho Kinh tế Trung quốc

Hậu quả này do chính những chuyên viên Kinh tế Bắc kinh lo sợ trước Họp G20 Nam Hàn và do chính Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã nói trong cuộc họp riêng vố Tổng thống Obama tại Hội nghị Seoul. Hậu quả gồm 5 điểm sau đây:

(1) Đặt mua hàng Trung quốc bị giảm vì những lý do:

=> Lạm phát làm giá thành sản xuất cao

=> Tỷ giá đồng Yuan buộc phải lên vì Đo-la hạ, nên không hỗ trợ được cạnh tranh xuất cảng.

=> Đo-la giảm, hàng Mỹ trở thành cạnh tranh tại các Thị trường khác.

=> Mãi lực Tiêu thụ Liên Âu và Hoa kỳ xuống. Đây là lý do quan trọng cho việc giảm đặt mua hàng Trung quốc ở hai Thị trường chính mà Trung quốc đã lợi dụng làm giầu cho mình và đồng thời làm giảm Mãi lực Tiêu thụ của hai Thị trường này.

(2) Đặt mua hàng giảm thì các Công ty thải thợ, thất nghiệp tăng tại Trung quốc

(3) Thêm vào đó, một số Công ty nước ngoài thấy không có lợi nữa và sẽ chuyển sản xuất sang các nước khác có lợi hơn

(4) Đo-la xuống, nghĩa là Đồng Yuan tăng Tỷ giá, thì tình trạng Lạm phát cũng tăng làm Dân chúng bất bình.

(5) Lạm phát tăng làm Dân nghèo bất bình. Thất nghiệ tăng làm công nhân bất bình. Cả hai sẽ dẫn đến xáo trộn Xã hội và Chính trị

Khi viết về cuộc Khủng hoảng Tài chánh Á châu năm 1997, Bà Francoise NICOLAS đã nhấn mạnh đến hậu quả làm căng thẳng xã hội để đi đến BẠO LOẠN dân chúng làm thay đổi quyền lực Chính trị như trường hợp của Nam Dương thời ấy.

Cách đây 3 năm, nhân vật giá thực phẩm Thế giới tăng, Ong Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp Quốc, nói về hậu quả BẠO LOẠN quần chúng từ  Lạm phát lên Chính trị:

”Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“
(Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói).


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 02.12.2010
Web : http://VietTUDAN.net

 




TQ BÍ LỐI TRƯỚC NẠN VẬT GIÁ LEO THANG.
CÒN VN: VẬT GIÁ TĂNG CHÓNG MẶT !

Tú Anh

Phải chăng phép lạ kinh tế Trung Quốc đã bị lạm phát đánh vào nhược điểm ? Từ nhiều tháng nay, người dân Trung Quốc bàng hoàng khi thấy giá nhu yếu phẩm cũng như các loại thực phẩm bình thường không thể thiếu trong bữa cơm đột nhiên mỗi ngày mỗi leo thang hơn 62% trong vòng một năm.

Tỷ lệ lạm phát trong tháng 10 được công bố là 4,4% nhưng Viện Khoa học Xã hội nói đến mức độ nghiêm trọng, hơn 7% thống kê chính thức. Thừa nhận thất bại không kềm được lạm phát ở 3% mỗi năm, và do lo sợ bất ổn định xã hội, Bắc Kinh vội vã trấn an dân chúng bằng một vài biện pháp tình thế như mở kho dự trữ thịt, đường và ra lệnh chính quyền địa phương kiểm soát giá cả.

Giới phân tích cảnh báo các « giải pháp tình thế » này không hiệu quả. Theo giới truyền thông Tây phương thì phép lạ kinh tế Trung Quốc đang bị nạn lạm phát phi mã đe dọa.

Từ một năm nay, những thức ăn hàng ngày từ hành tỏi, rau đậu, dầu ăn đến rong biển tất cả đều trở thành quý hiếm. Theo số liệu chính thức công bố hồi trung tuần tháng 11/2010, thì tỷ số lạm phát trong tháng 10 là 4,4% trong khi Viện Khoa học Xã hội thẩm định là trong năm năm qua, tỷ lệ lạm phát thực cao hơn con số do nhà nước cung cấp đến 7%.

Thực phẩm lên giá đe dọa dạ dày dân chúng. Giá một phần ăn ở nhà trường tăng đột biến 125%, từ 0,2 lên 0,5 nhân dân tệ.Cảnh tượng học sinh một trường trung học ở Quý Châu bày tỏ lòng phẫn nộ bằng hành động đập nát nhà ăn (cantine) của trường đang được lan truyền từ nhiều ngày qua trên mạng internet. Vụ bạo động này không phải là hình thức duy nhất minh họa sự bất an của dân chúng.Cổng thông tin điện tử Thiên Nhai tổ chức cuộc trưng cầu ý kiến xem Hán tự nào được bầu làm từ ngữ nói lên được ý nghĩa của năm 2010 sắp hết. Chưa chi mà từ « Trướng » đã đứng đầu danh sách. Viết với bộ « thủy », chữ « trướng » mang nghĩa « lên cao ».

Trước chiều hướng giá cả leo thang với vận tốc phi mã, Bắc Kinh đã phải thừa nhận là chỉ tiêu giới hạn lạm phát trong năm 2010 khoảng 3% là không thể thực hiện được. Thường trực lo âu « bất ổn xã hội », chính phủ Trung Quốc tung lúa mì, dầu ăn, đường từ các kho dự trữ ra bán. Thủ tướng Ôn Gia Bảo chỉ thị kiểm soát giá cả. Truyền thông nhà nước quy trách nhiệm cho đầu cơ.

Tuy nhiên các biện pháp « chữa cháy » trên đây không trấn an được dư luận. Giới chuyên gia cảnh báo là các biện pháp hành chánh tạm thời sẽ không mang lại kết quả mà còn tạo thêm vấn đề. Giáo sư Patrick Chovanec, đại học Thanh Hoa giải thích là « giải pháp kiểm soát giá cả không giải quyết căn nguyên nguồn cội của vấn đề mà còn tạo ra phản tác dụng cho kinh tế ». Nhà kinh tế Louis Kuijs của Ngân hàng Thế giới làm việc tại Bắc Kinh khuyến cáo Trung Quốc phải tiến hành các biện pháp « siết chặt chính sách tiền tệ » trong bối cảnh lượng tiền mặt lưu hành tăng đến 70% trong vòng một năm .

Những nguyên nhân sâu xa nào làm cho lạm phát tại Trung Quốc gia tăng ? Vì sao các biện pháp do chính phủ đề ra bị chỉ trích là không thể thành công, và chính quyền Trung Quốc chưa đủ quyết tâm thực hiện các giải pháp triệt để nhất ?

RFI đặt câu hỏi với giáo sư kinh tế Nguyễn Phúc Liên, đại học Genève, Thụy Sĩ.

Giáo sư Nguyễn Phúc Liên :
« Một trong những nguyên nhân gây lạm phát tại Trung Quốc là lượng tiền lưu hành quá lớn. Một phần là do đầu cơ , một phần lớn là do chính các ngân hàng Trung Quốc, vì tham nhũng, cho vay theo kiểu « đường hầm», một phần nữa là do nhà nước rót tiền vào đầu tư để duy trì chỉ tiêu tăng trưởng. Thêm vào đó, giá thực phẩm leo thang vì chính sách của nhà nước là tập trung xuất khẩu không phục vụ (dạ dày) của người dân.. . Bây giờ kiểm soát nguồn tài chính thì e mất vốn đầu tư nước ngoài, tăng trưởng kinh tế sẽ yếu, công ty sa thải công nhân, thất nghiệp tăng…nhà nước sợ lộn xộn, bất ổn xã hội… do đó họ tiến thoái lưỡng nan, họ bị bí lối ». 

 





THẤT NGHIỆP MỸ GIẢM HAY KHÔNG?
BAO NHIÊU % VÀ VỚI TỐC ĐỘ NÀO ?

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 08.12.2010
Web: http://VietTUDAN.net


Chiều tối hôm qua, Đài CNN còn đưa ra con số 9.8% thất nghiệp tại Mỹ, nghĩa là con số gần 10% vẫn đứng nguyên, trong khi ấy Chính sách rót $600 tỉ của QE2 đã bắt đầu tạo ảnh hưởng Quốc tế hơn một tháng nay kể từ ngày quyết định của FED, 03.11.2010.

Cuộc bầu thay đổi đa số từ đảng Dân Chủ sang đảng Cộng Hòa tại Quốc Hội Mỹ, nghĩa là thất bại của TT.Obama, cũng do con số thất nghiệp này.

Mục đích chính của Quyết định QE 2 $600 tỉ

FED dưới sự điều hành của Chủ tịch Ben BERNANKE đã được giao trách nhiệm chính yếu là hạ con số THẤT NGHIỆP tại Mỹ bằng phương tiện Tiền Tệ, Tài chánh. Trong tầm tay của mình, Giáo sư Tiến sĩ Ben BERNANKE có hai khí giới để thực hiện: (i) Hạ Lãi suất Chỉ đạo; (ii) Điều hành tăng giảm Khối Tiền lưu hành.

Khí giới thứ nhất là Lãi suất Chỉ đạo thì đã hết đạn rồi, nghĩa là Lãi suất ấy đã được hạ đến gần 0%. Chỉ còn khí giới thứ hai là làm tăng giảm Khối Tiền lưu hành.

Quyết định QE2 rót $600 tỉ vào Lưu hành với tốc độ nhân Tiền mà FED quen sử dụng như ảo thuật là việc FED bó buộc phải làm. Tất nhiên mục đích chính của quyết định rót Tiền này là phải hạ THẤT NGHIỆP tại Hoa kỳ mà FED đã nhận trọng trách.

Nếu Quyết định QE2 $600 tỉ rót vào Lưu hành có tác động đến Thế giới, nhất là Trung quốc, về Tỷ giá Hối đoái và về Cán Cân Mậu dịch, thì đó không phải là mục đích chính mà chỉ là những tác động giai đoạn để đi đến mục đích chính là hạ THẤT NGHIỆP tại Mỹ.

Nhưng bao giờ người ta mới thấy dấu hiệu mức thất nghiệp hạ ? và hạ xuống đến mức độ nào? rồi tốc độ hạ nhanh hay chậm ? Đó là những câu hỏi mà FED, Chính quyền Obama, Dân Mỹ, nhất là dân thất nghiệp, phải đặt ra và chờ mong câu trả lời.

Tác động của QE2 $600 tỉ
nhằm tiến tối mục đích hạ THẤT NGHIỆP
 
Ngày 03.11.2010, khi các Chuyên viên FED họp để lấy quyết định cuối cùng là rót $600 tỉ vào Lưu hành, chắc chắn đã tính toán những tầm ảnh hưởng tác động giai đoạn có tính cách chiến thuật để đạt mục đích tối hậu của mình. Những tác động giai đoạn này ảnh hưởng lên Kinh tế/Tài chánh nội địa Hoa kỳ cũng như lên toàn Thế giới. 

=> Tác động tính toán lên Kinh tế / Tài chánh nội địa Hoa kỳ

* FED sữ dụng $600 tỉ để mua Trái phiếu Ngân khố Mỹ nhằm hạ lãi suất dài hạn xuống. Việc này nhằm thúc đẩy số vốn đầu cơ lưu hành quốc tế dồn vào mua những Cổ phiếu ngắn hạn. FED biết rằng Dân chúng Hoa kỳ giữ lượng Cổ phiếu đến USD.7’000 tỉ. Khi giá những Cổ phiếu này tăng lên, thì Dân chúng Hoa kỳ thấy mình giầu lên và dành một phần cho chi tiêu. Mãi lực dân Mỹ tăng do Cổ phiếu tăng giá. Dân chúng tiêu dùng, thì Sản xuất mới tăng được. Các xí nghiệp thuê Nhân công để tăng Sản xuất, thì Thất nghiệp sẽ giảm.
* Một mặt khác, khi FED rót $600 tỉ vào Lưu hành, các Xí nghiệp thấy số vốn ở Thị trường tăng lên với Lãi suất thấp gần 0%, nên dễ dàng vay vốn để đầu tư vào những chương trình Sản xuất của mình. Hậu quả vay được vốn rẻ đầu tư là thu nhận thêm Nhân công và do đó Thất nghiệp giảm xuống.
* FED cũng tính toán rằng với $600 tỉ hoặc nhân lên thêm rót vào lượng Tiền tệ lưu hành, thì Tỷ giá đồng Đo-la tất nhiên giảm xuống. Xin lưu ý là Đo-la giảm tới mức nào, thì đó là việc FED có khả năng quyết định cho phù hợp. Khi Tỹ giá Đo-la hạ, thì hàng hóa Hoa kỳ được nâng đỡ trong việc xuất cảng trên Thị trường quốc tế. Nếu xuất cảng Hoa kỳ tăng, thì tất nhiên Sản xuất tăng và do đó các Xí nghiệp thu nhận thêm Nhân công, thất nghiệp giảm xuống.

=> Tác động tính toán lên Kinh tế / Tài chánh quốc tế

Đã từ những thập niên, Kinh tế Á châu, từ Nhật, Đài Loan, Nam Hàn, Tân Gia Ba… đả nhờ Mãi lực cao của Dân chúng Hoa kỳ mà làm giầu cho mình. Điển hình nhất là Trung quốc, sản xuất và xuất cảng nhằm chính yếu vào khai thác Thị trường Hoa kỳ.

Mãi lực Hoa kỳ bị khai thác đến nỗi bay giờ phải kiệt quệ làm dân chúng Mỹ thất nghiệp trầm trọng. Chính TT.Obama đã phải công khai chỉ trích về điểm khai thác này tại Hội nghị G20 Seoul và Hội nghị APEC tại Nhật.

Chúng tôi đã có lần viết rằng TT.Obama không thể ngồi ôm khối thất nghiệp dân chúng Mỹ mà than khóc trước những kẻ làm cho mình kiệt quệ và còn lên mặt hống hách ương ngạnh. Chính thái độ ôm thất nghiệp mà chỉ than khóc đã làm cho TT.Obama và đảng Dân chủ thất bại mới đây. Hoa kỳ có quyền phản công lại.

Nếu Quyết định QE2 $600 tỉ có những tác động phản công lại trên Thị trường quốc tế, nhất là ở Trung quốc, thì đó cũng chỉ là luật nhân quả do chính một số nước Á châu, nhất là Trung quốc, đã gây ra cái nhân không sòng phẳng.

Những tác động hậu quả tính toán trên Thị trường quốc tế như sau:

* Tác động trực tiếp từ giảm giá đồng Đo-la. Đồng Đo-la hạ giá xuống khiến Tỷ giá đồng Yuan tự động phải lên. Như vậy, tác động này làm cho Trung quốc giảm việc gian lận dùng Tỷ giá đồng Yuan thấp để xuất cảng hàng sang Hoa kỳ làm cán cân Mậu dịch Mỹ thiếu hụt đến USD.46 tỉ trong tháng 10 vừa rồi. Khi Trung quốc giảm xuất cảng, thì đó cũng có nghĩa là hàng Mỹ có khả năng tăng xuất cảng để từ đó tăng Sản xuất tại Mỹ và hạ được thất nghiệp của mình. Cũng vậy, vì đồng Đo-la hạ xuống, những nước xuất cãng khác của Á châu cũng chịu ảnh hưởng tác động này như Trung quốc.

* Tác động gián tiếp qua những vốn đầu cơ lưu động. Khi làm cho Lãi suất Hoa kỳ xuống do Quyết định rót $600 tỉ, những vốn đầu cơ lưu động đổ dồn vào những nước bắt đầu phát triển để kiếm lợi nhuận cao hơn. Tác động này tạo tình trạng Lạm phát, nhất là Trung quốc mà chúng tôi đã có dịp viết một bài dài trong tuần vừa rồi. Cái hậu quả là nền Kinh tế mang Lạm phát thiếu cạnh tranh, giảm tăng trưởng, giãm xuất cảng. Như vậy gián tiếp Hoa kỳ tăng tính cạnh tranh của mình về xuất cảng và Sản xuất. Tất nhiên tác động này góp phần vào việc làm giảm thất nghiệp tại Hoa kỳ.

Qua những tác động liệt kê ra trên đây, về kinh tế / Tài chánh nội địa Mỹ cũng như trên Thế giới, chúng ta thấy rằng khi quyết định QE2 rót $600 tỉ vào lưu hành, FED đã tính toán nhất quán nhằm mục đích chính là hạ THẤT NGHIỆP tại Mỹ, nhiệm vụ được trao phó. Nhưng FED có đạt được mục đích hay không và bao giờ mới đạt được ?


Những khó khăn trong việc giảm thất nghiệp
ở những nước tiền tiến đã kỹ nghệ hóa

Trong suốt phần trình bầy trên đây, tất cả những tính toán sử dụng tác động Tiền tệ và Tài chánh giai đoạn của FED là đi tới tăng SẢN XUẤT để từ đó các xí nghiệp THU NHẬN NHÂN CÔNG. Việc giảm THẤT NGHIỆP chỉ là hậu quả của quyết định thu nhận thêm nhân công của các xí nghiệp hay không. Quyền quyết định Tiền tệ và Tài chánh là quyền của FED, nhưng quyền quyết định thu nhận nhân công là quyền của xí nghiệp sản xuất. Chính vì việc FED không giữ chủ động trong việc quyết định thu nhận nhân công mà mục đích của QE2 $600 tỉ rót vào lưu hành vốn có thể không đạt được mục đích theo mong ước của FED. Những khó khăn trong việc giảm được thất nghiệp còn tùy thuộc vào quyết định của các xí nghiệp mà mục đích tối hậu của họ là nhằm đạt tới LỢI NHUẬN TỐI ĐA. Các xí nghiệp nhằm mục đích hoàn toàn Kinh tế, trong khi ấy mục đích giải quyết THẤT NGHIỆP của FED còn mang thêm khía cạnh Xã Hội, Chính trị. Chúng tôi xin cắt nghĩa những khó khăn đó như sau.

Công thức tổng quát về SẢN XUẤT:     Q  =  f(K, L, t)
Q là Lượng Sản Xuất. f có nghĩa là tùy thuộc. K là Vốn sử dụng. L là Nhân Lực. T là Kỹ thuật hội nhập vào hai Yếu tố K và L.  Mục đích xản xuất của xí nghiệp là LỢI NHUẬN TỐI ĐA, chứ không tất nhiên là sản xuất lượng nhiều hay ít. Công thức trên đây đứng về phía tính toán chi tiêu cho Giá thành. Vì tính cách cạnh tranh xít xao ở Thị trường, nên Giá bán trở thành rất khó khăn để quản trị, các xí nghiệp tìm mọi cách sử dụng Chi tiêu cho K, L và t để hạ Giá thành làm biên độ LỢI NHUẬN tăng.

=> Khó khăn thứ nhất: Lựa chọn sử dụng giữa K (Vốn) và Nhân Lực (L)

Việc lựa chọn này tùy thuộc Loại hàng hóa sản xuất của Xí nghiệp. Đối với những hàng hóa thuộc loại phức tạp và cao cấp dùng dài hạn, Xí nghiệp lựa chọn sử dụng Vốn (L) vào những thiết bị sản xuất toàn hảo. Nhưng đối với những hàng hóa thường dùng mỗi ngày có tính cách ngắn hạn, Xí nghiệp lựa chọn sử dụng Nhân lực, nhất là Nhân lực không chuyên nghiệp và rẻ tiền. Tỉ dụ ngành sản xuất may mặc được chuyển về những nước có nhân lực rẻ tiền.

Đứng về quan điểm quản trị Chi tiêu như vậy của các Xí nghiệp, nếu Chính sách QE2 $600 tỉ nhằm tăng sản xuất tại Hoa kỳ, thì chưa tất nhiên việc tăng sản xuất dẫn đến việc Xí nghiệp nhận thêm nhân công Mỹ để giảm thất nghiệp. Một số Xí nghiệp Mỹ có thể sử dụng vốn từ FED để tăng cường thiết bị sản xuất những hàng cao cấp hoặc sang các nước có nhân công rẻ tiền để sản xuất những hàng thường dùng mỗi ngày.

=> Khó khăn thứ hai: Hiện đại hóa Xí nghiệp (t)

Kỹ thuật hội nhập (t) là yếu tố chủ chốt cho Sản xuất tại những nước tiền tiến đã kỹ nghệ hóa. Nó hội nhập vào hai Yếu tố Vốn (K) và Nhân Lực (L).

Con vật, như con voi, có sức mạnh biết bao lần hơn con người. Nhưng con voi không có tiến triển, trong khi ấy con người, nhờ trí thông minh, có những phát minh và luôn luôn muốn áp dụng phát minh để khắc phục sức mạnh thiên nhiên phục vụ làm tăng cường sức mạnh cho sức yếu thân xác của mình.

Từ tình trạng phải dùng bắp thịt để làm việc kiếm ăn nuôi sống thân xác, con người đã phát minh những cách thế để bắt thiên nhiên làm việc kiếm cơm cho mình.

Trong Kinh tế, người ta gọi HIỆN ĐẠI HÓA XÍ NGHIỆP là áp dụng những phát minh Khoa học vào Tiến trình Sản Xuất. Trong Công thức Sản xuất, Yếu tố (t) tượng trưng cho việc áp dụng những phát minh Khoa học, gọi là Tiến triển Kỹ thuật (Progrès Technologique) hội nhập vào hai Yếu tố Sản xuất là Vốn (K) và Nhân Lực (L).

Các nước tiền tiến đã kỹ nghệ hóa luôn luôn phải theo rõi những Phát minh khoa học (Inventions scientifiques) và áp dụng chúng vào Tiến trình sản xuất, nếu không sẽ bị đào thải.

Nước Mỹ ở vào thượng đỉnh những nước tiền tiến đã kỹ nghệ hóa. Việc Hiện đại hóa Sản xuất có ba mức độ:

1) Mức độ Cơ Giới hóa (Mécanisation)
Đây là mức độ dùng Cơ giới (Mécanique) để hỗ trợ cho Bắp thịt. Tỷ dụ dùng Máy cầy thay cho người kéo cầy.

2) Mức độ Tự động hóa Cơ giới (Automatisation de la Mécanique).
Đây là mức độ đặt vào Cơ giới một Bộ phận làm cho Cơ giới tự phát động và tự ngưng làm việc. Người ta bắt đầu gọi đó là thêm cho Cơ giới một bộ óc thô sơ. Tỉ dụ Máy giặt tự bắt đầu ở thời điểm nào đó, rồi tự ngưng khi giặt xong.

3) Mức độ Rô-bô (Robotisation)
Cái bộ óc thô cho Tự động hóa Cơ giới được kiện toàn đến nỗi nhiều người gọi đó là Trí thông minh nhân tạo (intelligence artificielle).

Xem như  thế, Hiện đại hóa sản xuất qua ba mức độ trên là việc giải thoát con người khỏi sự hiện diện nơi sản xuất. Nhưng mỗi mức độ giải thoát con người là mỗi lần làm con người mất việc làm : (1) Máy cầy đẩy nông dân phải đến những khu kỹ nghệ để làm công nhân nhà máy; (2) Máy giặt tự động hóa thải chị giúp việc khỏi phải canh chứng ; (3) Rô-bô khuân vác thải người công nhân cũng như Máy Điện tính thải cô thư ký.

Tóm lại, Hiện đại hóa Sản xuất đi theo khuynh hướng thải thợ tại những nước tiền tiến.

Hoa kỳ là nước tiền tiến đã kỹ nghệ hóa cao độ. Điều đó có nghĩa là khuynh hướng thải Nhân lực cũng cao độ. Chính vì vậy mà khi Chính sách Tiền tệ và Tài chánh QE 2 $600 tỉ nhằm tác động tăng SẢN XUẤT cho Xí nghiệp đã Hiện đại hóa tại Mỹ chưa tất nhiên dẫn đến việc nhận thêm Nhân Lực để giảm THÁT NGHIỆP như FED mong muốn.

Nước Mỹ vừa trải qua một cuộc Khủng hoảng Kinh tế làm Sản xuất giảm. Các xí nghiệp đã thải thợ để mức độ THẤT NGHIỆP lên tới 9.8%. Điều đó có nghĩa là những Nhà Máy Thiết bị sản xuất cũng bị « thất nghiệp « . Nếu ngày nay, vì tác động của QE2 $600 tỉ mà Xí nghiệp tăng Sản xuất, thì họ nghĩ trước tiên đến việc cho nhà máy thiết bị « thất nghiệp« chạy lại cho hết năng lực trước khi thâu nhận thêm nhân công làm giảm thất nghiệp như FED mong muốn.

Đây là khó khăn rất lớn tại Hoa kỳ trong việc làm giảm thất nghiệp.


Góp ý để Kết luận :
Che Chở Mậu dịch là quyền tự vệ

Tự do Mậu dịch là điều đáng quý vì trên mặt Lý thuyết từ những Oâng Tổ Cổ điển Anh quốc như Adam Smith, David Ricardo, Stuart Mill…, tự do mậu dịch mang lại lợi ích cho cả hai phía trao đổi. Nhưng nếu mình ở thế yếu bị khai thác, thì tự do mậu dịch là thí thân để người khác lợi dụng. Tự do mậu dịch là Lý tưởng khi mà hai phía có lực Kinh tế đồng đều.  Nhưng khi thấy mình yếu chưa đủ lực, thì mình có quyền tự vệ xin hoãn binh, nghĩa là mình Che Chở mình (Protectionnisme) cho đến khi đủ lực.

Ngày 30.11.2010, Thượng viện Hoa kỳ chấp thuận DỰ LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM, đó là bước khởi sự cho những Biện pháp không giá biểu (Mesures non tarifaires douanìeres) đẻ Che Chở Mậu dịch mà những ký kết trong khuôn khổ Tổ Chức Mậu dịch Thế giới (WTO / OMC) không có quyền can thiệp.

Những tác động của Chính sách QE2 $600 tỉ về Tiền tệ và Tài chánh của FED phải được bổ túc bởi những Biện pháp Không giá biểu quan thuế để ngăn chặn sự ích kỷ của những Xí nghiệp chỉ tìm LỢI NHUẬN TỐI ĐA nhất thời.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 08.12.2010
Web: http://VietTUDAN.net 


PHẢI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH
ĐỂ GIẢI THOÁT DÂN TỘC

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 15.09.2010
Web : http://vietTUDAN.net


Bài này tóm tắt, nhưng có lẽ khá dài, về sự hình thành  một Lập trường và Quan điểm Đấu tranh nhằm Phát triển Kinh tế Đất Nước và Giải thoát Dân tộc khỏi một bạo quyền đã do Hồ Chí Minh, đầy tớ của Cộng sản Quốc tế, thiết lập nó và đặt để trên Dân tộc Việt Nam bằng bạo lực.

Chúng tôi nói là tóm tắt bởi vì chỉ là một bài báo lấy lại ý chính đã viết trong hai cuốn sách với nhan đề DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN và DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ.Cả hai được xuất bản bởi NXB DAY&NIGTH, Ventura, California, USA năm 2009 và năm 2010.

Nhưng bài tóm tắt có lẽ khá dài vì phải kể cho gẫy gọn sự hình thành một Lập trường và Quan điểm Đấu tranh từ năm 1965 cho đến nay, tức là 45 năm. Chúng tôi nói sự hình thành, nghĩa là Lập trường và Quan điểm Đấu tranh không phải là một Mệnh lệnh giáo điều cho mọi người, nhưng là từ cá nhân sống với tuổi tác, với những biến chuyển thời cuộc từ năm 1965 tới nay. Như vậy việc hình thành Lập trường và Quan điểm này là chính cuộc sống của chúng tôi qua thời gian với những gì xẩy ra cho Quê Hương trong suốt quãng dài thời gian ấy.

Chúng tôi sẽ nói tới những điểm sau đây :
=> Từ bản chất, mỗi người tìm sống cho cá nhân
=> Sự thất bại của Chủ trướng Kinh tế Tập quyền Chỉ huy
=> Sự thật về chủ trương Kinh tế của Cơ Chế CSVN hiện hành
=> Thủ phạm của Tham nhũng, Lãng phí chính là Cơ Chế CSVN
=> Phải dứt vỏ Cơ Chế CSVN nếu muốn Phát triển Kinh tế và giải thoát Dân tộc


Từ bản chất, mỗi người tìm sống cho cá nhân

Mỗi con vật, mà con người trước hết là con vật, đều mang bản năng phải tự kiếm sống để thân xác mình tồn tại. Khi con vật hay con người mới sinh ra, cha mẹ chịu trách nhiệm nuối dưỡng cho đến khi có đủ sức tự kiếm ăn nuôi sống mình. Khi sống thành xã hội, thì con vật hay con người không phải là ỷ nại vào xã hội để mà sống mà chỉ tìm sự nương tựa lẫn nhau để cuộc tìm sống cá nhân có hiệu lực hơn, chứ Tổ chức quyền lực xã hội không thay thế sinh hoạt tìm sống cá nhân. Chủ trương Quyền lực Tổ chức xã hội bao thầu việc tìm sống cho mỗi cá nhân trở thành không tưởng (Utopique) hoặc chỉ là chiêu bài che đậy để giữ quyền lực lợi dụng sức cố gắng cá nhân tìm sống.

Tìm cách nuôi sống thân xác cá nhân

Việc mỗi cá nhân tìm cách nuôi sống thân xác riêng của mình là nền tảng cho hệ thống sinh hoạt Kinh tế. Việc kiếm sống cá nhân đòi hỏi phải có PHƯƠNG TIỆN làm ăn. Ở đây, chúng ta đặt ra vấn đề TƯ HỮU những phương tiện kiếm sống. Mỗi con vật, tùy thức ăn phù hợp cho thân xác, mà biến hóa, tạo ra những phương tiện kiếm ăn riêng của mình. Đây là tư hữu tự nhiên. Con chim hút nhụy hoa, cần có mỏ dài. Con sư tử dạng chân ra đái để báo hiệu vùng đất săn thuộc tư hữu của mình. Người nông dân có tư hữu cái liềm để cắt cỏ; anh ngư phủ có tư hữu tấm lưới để bắt cá. Không thể tước đoạt những tư hữu PHƯƠNG TIỆN kiếm sống cá nhân.

TƯ HỮU là nền tảng phát sinh hệ thống Kinh tế. Thực vậy, TƯ HỮU là điều tự nhiên. Mà khi những phương tiện kiếm sống thuộc TƯ HỮU, thì hệ luận trực tiếp là phải có TỰ DO xử dụng phương tiện, nếu không tư hữu không còn ý nghĩa.

Mỗi cá nhân tự kiếm sống nuôi thân xác mình là điều tự nhiên và bó buộc. Phương tiện kiếm sống là tư hữu, cách thế kiếm sống là do cá nhân quyết định trong một Môi trường sống chung (Environnement Politico-Juridique) đòi hỏi phải có TỰ DO SINH HOẠT KINH TẾ cho mỗi cá nhân. Nguyên tắc TỰ DO SINH HOẠT KINH TẾ là một điều tự nhiên, chứ không đến từ một cấu trúc lý thuyết, từ một ý thức hệ nào. Một ý thức hệ, cấu trúc từ suy tư của đầu óc, để bó buộc sự tự nhiên từ bản năng thân xác, đó là một điều không thể chấp nhận.

Khi Quyền lực Chính trị, nhất là quyền độc tài của một nhóm người, nhân danh một ý thức hệ, can thiệp TRỰC TIẾP vào tư hữu và vào quyết định kiếm sống cá nhân, đó là điều không thể chấp nhận. Dùng quyền lực Chính trị độc tài, dành độc quyền quản trị Kinh kế dù trực tiếp hay gián tiếp qua những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước, mà không bao cấp cho cuộc sống thân xác cá nhân, đó là việc vi phạm vào bản năng tự nhiên kiếm sống của từng người. Một CƠ CHẾ như vậy đối với Kinh tế là một CƠ CHẾ VÔ LƯƠNG. Chúng tôi nói VÔ LƯƠNG bởi vì nếu cơ chế còn bao cấp, thì còn có lương tâm. 

Nguyên tắc đòi hỏi bởi những ông tổ Lý thuyết Kinh tế

Từ nền tảng cá nhân buộc phải kiếm sống cho thân xác mình, từ bản năng tự nhiên TƯ HỮU phương tiện kiếm sống, từ hệ luận trực tiếp là TỰ DO xử sụng phương tiện và từ tính cách ĐỘC LẬP quyết định sinh hoạt Kinh tế của mỗi cá nhân, những ông tổ Lý thuyết gia đã xây dựng hệ thống Kinh tế nhấn mạnh thiết yếu là KHÔNG ĐƯỢC CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ. Cái nguyên tắc thiết yếu này nhằm:

=> Bảo vệ sự TỰ DO và tính cách ĐỘC LẬP của cá nhân trong sinh hoạt Kinh tế kiếm sống cho chính thân xác của từng người (chứ không phải của ý niệm xã hội)

=> Phát huy sáng kiến kiếm sống cá nhân và đẩy mạnh hiệu năng sinh hoạt kinh tế

=> Tạo sự phát triển Kinh tế chung qua Thị trường Tự do trao đổi với sự cạnh tranh hiệu năng của những cá nhân tham dự Thị trường.

Từ nguyên tắc này, những Lý thuyết gia xây dựng hệ thống Kinh tế đã đồng nhất về vị trí của Nhà Nước chỉ là Trung Lập hay Cảnh Sát (Etat Neutre ou Etat Gendarme).

Qua những Thế hệ, những Lý thuyết gia sau đây giữ vững Nguyên tắc Tự do và Độc lập cá nhân trong sinh hoạt Kinh tế:

1) Thế hệ những Nhà Kinh tế Cổ điển Anh (les Classiques Anglais). Đây cũng là những Ông Tổ sáng lập nền Kinh tế Tự do và Thị trường: Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL (Thế kỷ 17)

2) Thế hệ những Nhà Kinh tế Tân Cổ điển (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20):Alfred MARSHALL, PARETTO, WALRAS

3) Nhà Toán học và Kinh tế gia lừng danh KEYNES sau cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-1930. Ông tổ của Economie du Marche lấy phía Cầu (Demande) hướng dẫn phía Cung (Offre).

4) Thế hệ học trò của KEYNES, hậu Keynes (Post-keynesiens): Paul SAMUELSON (Giải Nobel Kinh tế 1970), FRIEDMANN. Đây là nhưng Giáo sư Kinh tế và Cố vấn cho Hoa kỳ. Họ dậy tại Trường Kinh tế Harvard.


Sự thất bại của
Chủ trướng Kinh tế Tập quyền Chỉ huy

Nhìn cá nhân tìm sống một cách tự nhiên như trên, với những biện luận của các ông Tổ Lý thuyết Kinh tế, một hệ thống Kinh tế Trự do và Thị trường được thành hình. Nhưng đầu thế Kỷ 20, hệ thống Kinh tế Tập quyền và Chỉ huy được thiết lập và có tham vọng bao thầu cho sinh hoạt Kinh tế cá nhận.

Vài nét lịch sử của chủ trương
Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy

TƯ HỮU trong hệ thống Kinh tế được coi là một sự tự nhiên dựa trên quyền tìm sống tối sơ của từng cá nhân và nguyên tắc Không Can Thiệp Chính trị, được các Lý thuyết gia đòi hỏi như điều kiện phát triển TỰ DO xử dụng TƯ HỮU làm phương tiện kiếm sống. Nếu việc xây dựng lý thuyết cho hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường mang tính cách khai triển tự nhiên, thì việc cấu trúc chủ trương Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy đã được thuyết lý dựa trên những quan niệm mang tính cách triết học.

Các lý thuyết gia của chủ trương này đã chạy ngược lên mãi thời Triết gia PLATON. Thực vậy, trong những cuốn “La République“, “Les Lois“, Platon đã nói đến “La Cité Communiste“ trong đó những người trách nhiệm làm Luật không được có gia đình và do đó không cần tư hữu cho con cháu.

Thời Trung Cổ Aâu châu, phía Thiên Chúa Giáo đã khai triển những Dòng Tu được coi là những Cộng đồng Cộng sản về Kinh tế.

Nhưng phải đợi đến đầu Thế kỷ thứ XVI, với Thomas MOORE (1477-1553), thì lý thuyết về một Chủ thuyết Xã Hội Kinh tế mới được phát triển có hệ thống. Thomas MOORE là người tôn sùng đạo Thiên Chúa. Được Vua HENRI VIII Anh quốc trọng dụng, nhưng vì cương trực phản đối lại Vua về vấn đề rắc rối vợ con, nên Oâng đã bị hành quyết. Năm 1516, cuốn sách Utopie ra đời và ông chủ trương Nhà Nước Utopie (Etat d’Utopie). Bắt đầu từ Thế kỷ XVI, Xã hội Tây phương có những xáo trộn về mọi phương diện: Tôn giáo, Tư duy, Nghệ thuật, Kinh tế, Xã hội... Oâng tìm kiếm một Thể chế có trật tự mà mẫu Cộng đồng trật tự nhất là các Dòng Tu. Giáo sư Sử học Kinh tế Jean-Marie VALARCHE đã viết: “Il (Thomas MOORE) prévoit un dirigisme absolu de l’Etat“ (Oâng (Thomas MOORE) dự trù một chủ thuyết Chỉ huy tuyệt đối của Nhà Nước).

Chúng tôi nhắc đến tác giả này vì muốn lấy ra những điểm mà Karl MARX đã chịu ảnh hưởng: ảnh hưởng của một Dòng Tu làm việc theo chỉ thị của người đứng đầu, cộng chung những sản phẩm, tiêu thụ theo nhu cầu từng người, chỉ có hệ thống phân phối giữa cung và cầu mà không có thương mại.

Từ đây, bắt đầu những cấu trúc Xã Hội Chủ Nghĩa qua những tác giả khác cho đến thời Karl MARX.

Karl Heinrich MARX sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 vùng Rhénanie, Đức, trong một gia đình gốc Do thái. Cha là Luật sư, nên Marx học Luật, sau chuyển sang Triết học theo HEGEL. Oâng chỉ làm quen và suy tư về những vấn đề Xã Hội, Kinh tế, Đấu tranh khi phải di chuyển sống ở nhiều nơi và viết báo. Sống ở một thời đại hậu bán Thế kỷ XIX có nhiều những cực đoan: Kỹ nghệ hóa vượt mức, Giới Tư sản nắm quyền hành, Cách xa Giới Chủ và Giới Thợ, Tình trạng thất nghiệp và đói nghèo, Cách Mạng 1848, những Ý tưởng Quốc gia cực đoan phát sinh. Trong sự hỗn loạn của những cực đoan ấy, Oâng lưu ý khai triển những vấn đề sau đây:

=>    Chủ thuyết Duy vật Lịch sử. Với Chủ thuyết này, Oâng nhấn mạnh đến sự vong thân tôn giáo để kết luận rằng:“Tôn giáo là cái bông ghê tởm mọc trên đống phân tư bản. Bởi vậy nếu hốt đống phân đi, thì hoa cũng tàn...“ Cũng trong Chủ thuyết này, tương quan Xã hội được chính yếu nhấn mạnh vào hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến thiết. Hạ tầng cơ sở gồm những tương quan sản xuất vật chất, thượng tầng kiến thiết gồm những phương diện Luật pháp, Chính trị quy định Xã hội.

=> Giai cấp Xã hội và Đấu tranh Giai cấp. Cái nguyên nhân tạo ra những Giai cấp Xã hội là sự đấu tranh chiếm hữu. Oâng nhìn thấy hiện tượng vô sản hóa Giai cấp Thợ thuyền. Xã hội phân chia ra hai Giai cấp chính: Giai cấp chiếm hữu và nắm quyền, Gai cấp Thợ thuyền bị khai thác và bị bóc lột. Oâng thuyết giải về tính cách Vong thân Lao động, nghĩa là một mặt đối với chính mình, người Lao động sản xuất, nhưng bị tước đoạt sản phẩm; mặt khác đối với tương giao xã hội trước người khác, người lao động biến thành cái máy làm theo quyết định của chủ bóc lột chứ không có sáng kiến tự mình.

=> Ảnh hưởng bởi Lý thuyết của David RICARDO về Giá trị sản phẩm được đo lường bằng chính Giá trị Lao động hàm ngụ trong sản phẩm. Tư sản cũng chỉ là sự tích lũy Giá trị sản phẩm từ Giá trị Lao động. Oâng chủ trương Đấu tranh Giai cấp và hệ luận là Giai cấp Lao động phải dành lấy quyền làm chủ sản phẩm của mình. Cần một cuộc nổi dậy Cách Mạng dù bằng bạo động và Giai cấp Vô sản phải nắm trọn quyền hành độc tài tổ chức Xã hội.

Thế giới Cộng sản thực hiện hệ thống Kinh tế
Trung ương Tập quyền và Chỉ huy

Nếu Karl MARX cấu trúc hệ thống mang đậm tính cách lý luận do ảnh hưởng Triết học và Lý tưởng xã hội đậm hình thức tổ chức Cộng đồng Dòng Tu theo kiểu Thomas MOORE, thì LENINE, một người Chính trị, đã lấy những ý tưởng của MARX để đấu tranh chiếm quyền hành và tổ chức cai trị xã hội.

LENINE sinh năm 1870 vùng Simbirsk, giữa Oural và Moscou. Người anh cả của Oâng thuộc một tổ chức Khủng bố, đã muốn ám sát Nga Hoàng, nhưng bị bại lộ và người anh này đã bị treo cổ. Lúc ấy Lénine mới có 17 tuổi và đã bị đi lưu đầy và sống lần lượt tại Anh, Thụy sĩ và Pháp. Năm 1905, sau khi Nga bại trận đối với Nhật, nhóm của Lénine đã phát động nổi dậy, nhưng thất bại.

Năm 1917, Nga lại thất trận đối với Đức. Nhờ tài hùng biện của Lénine và tài chiến thuật của TROTSKY, cuộc CÁCH MẠNG VÔ SẢN tháng 10 đã thành công. LENINE trở thành Nguyên Thủ Quốc gia cho đến năm 1924, năm Oâng chết.

Tổ chức cai trị Xã hội được tiếp tục và trở thành khuôn khổ độc đoán dưới thời STALINE.

Xã hội Cộng sản được tổ chức thực hiện những chủ trương của MARX:

=> Cuộc đấu tranh đẫm máu thanh trừng Giai cấp tiếp tục khắt khe và vô nhân đạo dưới thời Staline. Giai cấp Tôn giáo, Trí thức và Tư bản bị tiêu diệt.

=> Truất hữu toàn vẹn những tư hữu. Tất cả trở thành CÔNG HỮU;

=> Giai cấp VÔ SẢN nắm quyền độc tài, mà đại diện Giai cấp này là Đảng Cộng sản duy nhất, nghĩa là quyền hành cai trị Xã hội và quản trị CÔNG HỮU thuộc về Đảng Cộng sản lãnh đạo Giai cấp vô sản.

=> Vì những phương tiện sản xuất là CÔNG HỮU, nên chỉ có Nhà Nước (Đảng Cộng sản) có quyền điều hành để sản xuất Kinh tế. Không còn Kinh tế tư nhân nữa mà chỉ còn Kinh tế do Nhà Nước hoạch định qua những Kế Hoạch (Ngũ niên);

=> Thực hiện một Xã hội bình đảng, không giai cấp, nên cá nhân được bao cấp tiêu thụ theo nhu cầu;
 
=> Một cuộc Cải Cách Ruộng Đất được thực hiện. Không còn tư hữu đất đai. Những đất nông nghiệp được chia ra làm hai loại canh tác: Kolkhoz và Soukhoz. Dù canh tác thuộc loại nào chăng nữa, nông dân trở thành những Công nhân (Ouvriers agricoles)

=> Thương mại không những không được coi là sản xuất giá trị, mà còn bị coi là ăn bám sản xuất, nên bị bỏ đi. Thay vào đó, Nhà Nước tổ chức những Hợp tác xã để phân phối hàng hóa giữa sản xuất và tiêu thụ.

=> Dưới thời Staline, Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản được phát động để mang Cách Mạng Vô sản đến những nước khác. Theo đúng chủ trương đấu tranh giai cấp bằng bạo động của Karl Marx, Nga cung cấp vũ khí để làm bất ổn tại những Quốc gia khác để tạo cơ hội chiếm quyền hành.

Những lý do thất bại của
Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy

Năm 1989, Liên Xô và những nước chư hầu Cộng sản Đông Aâu lần lượt sụp đổ mà lý do chính yếu là đời sống Dân chúng quá đói nghèo, nghĩa là sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy. Thực vậy, sau khi bức tượng Bá Linh, tượng trưng phân cách giữa hai hệ thống Kinh tế, bị hạ xuống, chúng tôi đã có dịp sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến thực sự cảnh nghèo khổ của chính dân Thủ đô của Khối Cộng sản.  Nga phải mua những hộp đồ ăn đã hết hạn của những nước Tây phương. Ngôi Nhà Hàn Lâm Viện cho những Sinh viên ưu tú trống rỗng. Những Sinh viên Việt Nam sang du học đã phá tường của những phòng của Hàn Lâm Viện để mở quán chạp phô, mở quán phở, thậm chí mở quán bán thị chó. Tôi còn giữ những hình ảnh chụp cảnh làm ăn nghèo khổ này.

Hãy thử tìm hiểu những lý do thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy này.

=> Nỗ lực sản xuất Kinh tế không nhằm về phát triển Kinh tế, mà nhằm củng cố cho Đảng Cộng sản và Chính trị của Đảng. Khả năng phát triển Kinh tế Quốc gia đã bị tiêu dùng cho mục đích Chính trị. Trong suốt những năm sản xuất, Liên xô sản xuất vũ khí nhiều hơn việc sản xuất những hàng thường dùng của người lao động. Lấy một vài tỉ dụ hiện giờ : Trung Cộng tiêu tốn gần 50 tỉ Mỹ Kim cho sự vẻ vang Chế độ Chính trị của mình, hơn là phục vụ đời sống thực của Dân chúng; một số những xây cất ở Việt Nam cũng nhằm phục vụ cho Đảng và thể chế Chính trị, chứ không nhằm mục đích Kinh tế cho người Dân nghèo.

=> Khi Nhà Nước nắm giữ những chi tiêu và điều hành những Tập đoàn sản xuất công, thì việc chi tiêu chắc chắn không được căn cơ cho có hiệu lực. Câu nói “Chi tiêu tiền chùa“ hay “Cha chung không ai khóc“ cho thấy thực trạng lãng phí ắt phải xẩy ra, đó là chưa kể đến chủ tâm cắt xén của chung làm của riêng. Đây là một điều tự nhiên. Câu ngạn ngữ Kinh tế tư bản:“Làm ra tiền đã khó, nhưng chi tiêu tiền bạc còn khó hơn“. Đối với Kinh tế tư bản, khi chi tiêu, đã phải tính mình thu vào bao nhiêu lợi nhuận, nghĩa là tính cuyện làm sinh lời Kinh tế thực sự trước khi bỏ một đồng ra tiêu.  Chỉ có tiền tư hữu riêng của mỗi người, thì người đó mới căn cớ tính toán để chi tiêu cho đúng.

=> Nói về việc tiêu thụ, người lao động cũng dễ lười biếng khi thấy rằng mình cố gắng làm việc mà chỉ được hưởng đồng đều như người không chịu khó làm việc. Chính việc tư hữu những sản phẩm làm ra và được tiêu thụ là động lực kích thích sự chịu khó làm việc. Người ta nói rằng con gái Nga đẹp, nhưng thiếu nụ cười, bởi vì nụ cười của người con gái trong Kinh tế tự do có tư hữu được thưởng công, trong khi đó người con gái của Kinh tế chỉ huy có cười cả ngày cũng chỉ lĩnh được phần tiêu thụ đồng đều như người không cười. Vậy thì cười làm gì để trại quai hàm.

=> Về sản xuất tại những Soukhoz, Kolkhoz, chính hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy cũng đã phải sửa sai. Hiệu năng nông nghiệp của Soukhoz và Kolkhoz thấp xuống, Nhà Nước đã phải cấp cho mỗi Gia đình một khoảng đất tư để trồng trọt riêng cho Gia đình. Thửa đất tư có rau cỏ mọc tươi tốt, nhưng thửa ruộng công thì cây cỏ dễ khô héo. Cũng vậy con bò tư thì to béo và nhiều sữa, nhưng con bò nhà nước thì gầy còm, chỉ nhỏ giọt sữa.

=> Một tình trạng làm nản cố gắng sản xuất nữa, đó là những người cố gắng sản xuất, sản phẩm không những chỉ được bao cấp đồng đều mà còn bị chính cán bộ đảng không chân lấm tay bùn, có quyền chia cho mình phần lớn hơn để tiêu xài phung phí. Giảm cố gắng vì thấy người ngồi mát ăn bát vàng tham nhũng, hối lộ.

=> Những sinh hoạt Kinh tế quốc gia Cung, Cầu được hoạch định bằng những Kế Hoạch Ngũ Niên không được chính xác vì những người làm Kế hoạch thiên về Chính trị hơn là chuyên môn Kinh tế và vì sự phù hợp giữa Cung và Cầu có tính cách sinh động cập nhật ngắn hạn chứ không cứng nhắc dài hạn.

Nga và Đông Aâu can đảm dứt bỏ
Kinh tế Tập quyền Chỉ huy
để trở về với Kinh tế Tự do cá nhân

Sự sụp đổ của Liên xô va các nước Cộng sản Đông Aâu vì lý do Dân chúng quá nghèo khổ là chứng minh hùng hồn cho sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy. Sụp đổ rồi, những nước này chọn hệ thống Kinh tế nào ?

Việc họ quay về hệ thống Kinh tế tự do và thị trường chứng thực một lần nữa cái uy thế phát triển Kinh tế của hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường trong việc giải quyết đời sống dân chúng. Hai điều quan trọng làm nền tảng cho hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường là quyền TƯ HỮU và CHÍNH TRỊ KHÔNG ĐƯỢC CAN THIỆP TRỰC TIẾP vào sinh hoạt Kinh tế. Đó là  nền tảng phát triển Kinh tế thực sự và lâu bền.

Chúng tôi xin trích lại chính quan điểm của Karl MARX về chủ trương Hạ Tầng Cơ Sở Kinh tế là chính yếu. Trong PREFACE A LA CRITIQUE DE L’ECONOMIE POLITIQUE, Karl MARX viết: “Les rapports de procuction correspondent à un degré de développement des forces productives matérielles, cet ensemble forme la structure économique sur laquelle s’érige la superstructure juridique et politique qui détermine certaines conditions sociales.“ (Những tương quan sản xuất tương ứng với mức độ phát triển những lực lượng sản xuất vật chất, toàn bộ này tạo hệ thống kinh tế mà trên đó được xây dựng thượng tầng kiến thiết luật pháp và chính trị để định một số những điều kiện xã hội).

Câu nói của Marx phù hợp với hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường quan niệm rằng Chính trị chỉ được coi như Môi trường Chính trị-Luật pháp cho phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat) với sinh hoạt Kinh tế. Như vậy, khi chọn hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, thì không thể lấy độc đoán Chính trị để trấn át, bó buộc Hạ Tầng cơ sở Kinh tế phải tuân theo được.
Sự thật về chủ trương Kinh tế của
Cơ Chế CSVN hiện hành

Kinh tế Tự do và Thị trường định hướng XHCH của Việt Nam không thể gọi là hệ thống với nền tảng Lý luận, mà chỉ là một sự vá víu loang lổ để CSVN thủ lợi riêng.

Lừa đảo dân với Kinh tế vá váy đụp
để giữ Quyền lực và bóc lột Kinh tế

Chúng tôi thường ví việc vá víu này như việc CSVN đi vá VÁY ĐỤP của những bà nhà quê Miền Bắc thời nghèo khó Pháp thuộc.  Marx-Lénine vẽ mẫu và may cho XHCH một chiếc VÁY lý tưởng bắt Dân mặc. Dân mặc không được vì chiếc váy không hợp, còn dầy vò thắt bụng dân đến đau đớn. Váy đã cũ kỹ không mặc được nữa. Dân Nga và Đông Aâu cởi phăng nó ra vất đi để tự mình đi kiếm may váy mới.

Tại Việt Nam, Cộng sản vẫn bắt Dân mặc chiếc váy cũ kỹ và rách ấy. Dân buộc phải mặc mà không được la lên. Nếu la lên than vãn thì Công an đế phang cho mấy dùi cui điện. Nhưng chính CSVN thấy đến chỗ cùng rồi bởi vì thấy dân mặc váy cũ rách nát để lòi cả “cụ h...“ ra ngoài, nên đảng phải Mở Cửa để mong kiếm đo-la của Đế quốc Tư bản Mỹ, kẻ thù của Marx-Lénine-Staline. Cách đây 4 năm, từ Phan Văn  Khải đến Nông Đức Mạnh đồng loạt tuyên bố chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường cốt kiếm những miếng vải GIN mới toanh của Mỹ hoặc những nước Tự do khác để về vá chiếc váy nâu sồng bị rách để lòi cả “cụ h...“ ra ngoài. Nhưng vì chiếc váy được vẽ mẫu bởi Marx-Lénine và còn đeo tòng teng nhãn hiệu Xã Hội Chủ Nghĩa, nên CSVN đã gọi chiếc VÁY ĐỤP ấy là Kinh tế Tự do Thị trường Định hướng XHCN.

Chúng tôi phân tích bài này dưới hình ảnh chiếc VÁY ĐỤP nâu sồng rách nát được vá bằng những miếng vải Tự do lòe loẹt còn mang nhãn hiệu XHCN.

Chúng tôi đi tìm lý do của việc vá váy đụp như thế nào:

=> Lý do thứ nhất: Không giữ nổi Bao Cấp cho dân, nên đành Mở Cửa và chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

Thất bại của Kinh tế Chỉ huy không thể nào cho phép Nhà Nước giữ được việc Bao Cấp cho dân. CSVN đành phải Mở Cửa để cứu đói và chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường để mỗi người đi kiếm sống cho mình. Nhưng nếu hoàn toàn tuân theo nền tảng của hệ thống Kinh tế này, thì dân phải có TƯ HỮU và có TỰ DO cá nhân làm ăn. Nhưng nếu có TƯ HỮU và có TỰ DO, thì chính cái CÁ NHÂN TƯ HỮU và TỰ DO này phải đi đến nguyên tắc DÂN CHỦ để giải quyết những tranh chấp những quyền lợi cá nhân khi làm ăn chung đụng.

=> Lý do thứ hai: Lo sợ sự lớn mạnh của Kinh tế tư nhân dẫn đến thể chế phù hợp với nguyên tắc Dân chủ.

Theo học thuyết Marx-Lénine, CSVN không thể không biết quan điểm lý luận của Karl MARX về chủ trương Hạ Tầng Cơ Sở Kinh tế là chính yếu. Trong PREFACE A LA CRITIQUE DE L’ECONOMIE POLITIQUE, Karl MARX viết: “Les rapports de procuction correspondent à un degré de développement des forces productives matérielles, cet ensemble forme la structure économique sur laquelle s’érige la superstructure juridique et politique qui détermine certaines conditions sociales.“ (Những tương quan sản xuất tương ứng với mức độ phát triển những lực lượng sản xuất vật chất, toàn bộ này tạo hệ thống kinh tế mà trên đó được xây dựng thượng tầng kiến thiết luật pháp và chính trị để định một số những điều kiện xã hội).

Với quan điểm này, thì khi Tư doanh giữ vững những quan hệ làm ăn theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, thì buộc lòng họ phải đòi hỏi thượng tầng kiến thiết Chính trị và Luật pháp cho phù hợp, nghĩa là không được độc tài mà phải tôn trọng nguyên tắc Dân chủ mới giải quyết được quyền lợi Kinh tế cá nhân tự do.

Quan điểm của Marx phù hợp với Biện chứng cuộc sống của dân quê Việt Nam thường nói:“Nhất sĩ (Chính trị) nhì nông (Kinh tế), hết gạo chạy rông, thì nhất nông (Kinh tế) nhì sĩ (Chính trị)“.  Có lần tôi đã nói với một đảng viên cao cấp CSVN rằng Hà Nội cứ việc cố thủ lấy độc quyền Chính trị (Thủ đô Chính trị), nhưng hãy để cho Sài gòn tự do làm Kinh tế (Thủ đô Kinh tế), thì có ngày Thủ đô Chính trị Hà Nội phải xách bị vào quỳ gối ăn xin và lệ thuộc vào Thủ đô Kinh tế Sài gòn bởi vì lúc ấy là nhất nông nhì sĩ rồi. Hãy nhớ tại Aâu châu hàng Quý tộc đả phải bán tước hiệu quý tộc cho những người làm ăn (bourgeois) để có gì đỡ đói.

=> Lý do thứ ba: Giữ lấy nhãn hiệu XHCN (Xã Hội Chủ Nghĩa)

Đói quá, phải Mở Cửa và phải đắng cay tuyên bố theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường mà CSVN đã chửi bới thậm tệ bao thế hệ là bóc lột, khai thác và còn đấu tố giết hại bao nhiêu người. Mà nếu cho TƯ HỮU, nghĩa là không còn CÔNG HỮU, thì làm thế nào đảng CSVN còn có lý do giữ lại Điều 4 Hiến Pháp. Chính vì vậy mà cần phải tìm cách giữ lại những tiếng Xã Hội Chủ Nghĩa để có cớ giữ Điều 4. Nhưng chẳng lẽ gọi nền Kinh tế là KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, thì thối tha ngược ngạo chịu không nổi bởi vì nền tảng lý luận của hai nền Kinh tế trái ngược nhau. Vì vậy mà Bộ Chính Trị mới thêm hai chữ ĐỊNH HƯỚNG như trò hề.

ĐỊNH HƯỚNG có nghĩa là sau này lại trở về với Xã Hội Chủ Nghĩa. Cho cá nhân bỏ TƯ HỮU ra làm Kinh tế theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Sau khi tư nhân làm ăn thịnh vượng, có nhiều TƯ HỮU rồi, thì Nhà Nước lại truất hữu, biến TƯ HỮU làm CÔNG HỮU theo Xã Hội Chủ Nghĩa. Hai chữ ĐỊNH HƯỚNG XHCN có nghĩa như vậy. Sao mà ngu thế: bảo tư nhân làm ăn rồi sau đó tước đoạt tư hữu, thì bố đứa nào dám cố gắng bỏ tài sản ra làm ăn cho CSVN ăn cướp sau này theo ĐỊNH HƯỚNG XHCN.

=> Lý do thứ tư: Phải nhập nhoèn gian lận ngược ngạo 

CSVN cố thủ giữ lấy độc tài Chính trị, nhưng lại sợ chính quan điểm của Marx về Infrastructure économique (Hạ tầng cơ sở kinh tế) sẽ quyết định Superstructure Politique et Juridique (Thượng tầng kiến thiết Chính trị và Luật pháp), nghĩa là CSVN sẽ mất quyền độc tài. Nhưng vì đói ăn do hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy, nên đành phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nguồn đưa đến lật đổ độc tài của Superstructure Politique et Juridique.

CSVN sống trong lo lắng, nên đành phải nhập nhoèn gian lận vá víu (vá VÁY ĐỤP) để biện minh cối chầy về lý thuyết. Hai chữ ĐỊNH HƯỚNG và chắp nối che đậy việc nhập nhoèn gian lận trái ngược về Chính trị và Kinh tế. Tiếng Tây gọi là Les Magouilles politiques et économiques contradictoires :

* Nhà Nước kêu gọi Tư nhân bỏ vốn làm ăn theo Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng lại dành những ưu tiên làm ăn miếng ngon cho con cháu đảng hoặc những ai đút lót tiền tham nhũng. Đây là việc vi phạm tự do của Thị trường. 

* Nhà Nước dùng Tiền bạc của chung để lập hệ thống Tổng Công ty, Công ty quốc doanh với những đặc quyền Kinh tế, Thương mại mà những Tư doanh phải chịu lụy những đặc quyền quốc doanh này mới có thể làm ăn. Hệ thống đặc quyền này buộc phải có bởi lẽ những lãnh đạo Chính trị, ngoài liên hệ gia đình, còn phải lệ thuộc giới làm ăn của đảng vì giới này lại có quyền chế tài về chính trị theo hệ thống đảng.

* Tư nhân kinh doanh phải chịu hệ thống hành chánh rất nặng nề và chậm chạp. Đây là tệ nạn mà CSVN không thể nào cải thiện. Đảng CSVN thu nhiều đảng viên. Đảng phải bầy vẽ ra hệ thống hành chánh phức tạp để có chỗ làm việc cho đảng viên, nếu không thì họ bỏ đảng. Hệ thống hành chánh là nguồn của chậm trễ kinh tế và nguồn của ăn bẩn, đút lót tiền bạc

* Tài nguyên quốc gia bị khai thác, bán tháo trong đặc quyền của những người liên hệ của đảng: con cháu đảng viên cao cấp, trung ương và địa phương...

* Nhân lực Việt Nam, Lao động do Nhà Nước quyết định để bán cho tư bản ngoại lai làm ăn tại chỗ hoặc xuất cảng. Một hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường phải có những Nghiệp đoàn Lao động hay những Nghiệp đoàn chuyên nghiệp độc lập để bảo vệ tư hữu hiển nhiên nhất là nhân lực và chất xám.

* Nguồn vốn đầu tư nước ngoài được hướng dẫn cho hệ thống liên doanh với những Công ty quốc doanh liên hệ với đảng.

* Những dự án xây dựng hạ tầng cơ sở được quyết định bừa bãi theo tiêu chuẩn liên hệ Chính trị, thậm chí được coi như việc thưởng công cho những đảng viên đã có công với đảng.

* Nhà Nước, từ Trung ương đến Địa phương nắm giữ quyền trưng dụng và cấp phát Đất đai dưới những chiêu bài như Khu chế xuất, Công nghệ hóa...

* Tài chánh, Tiền tệ, Ngân Hàng nằm trong tay đảng. Những lạm phát tiền tệ là do sự quyết định độc đoán của Chính trị đảng. Người dân không thấy, nhưng chịu hậu quả về lạm phát tiền tệ này.

Dầu tuyên bố long trọng là theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng Chính trị độc tài đã can thiệp trực tiếp vào sinh hoạt Kinh tế.

Dân phải can đảm xé bỏ
chiếc váy đụp chứ đừng vá thêm nữa

CSVN cố thủ giữ lấy chiếc váy đụp và tìm cách gian lận vá víu chiếc váy ấy để bắt dân mặc với hai chủ đích:

=> Giữ lại quyền Chính trị độc tài độc đảng theo Điều 4 của Hiến Pháp

=> Gian lận nắm lấy Kinh tế cho đảng và cho con cháu của đảng.

Nhà Nước luôn luôn kêu gọi TRẬT TỰ dưới chiêu bài Phát triển Kinh tế bền vững và vĩ mô. Nhân danh hai chữ TRẬT TỰ, Nhà Nước cho quyền mình được đàn áp tất cả những ai lên tiếng than vãn những nhập nhoèn gian lận vá víu để đảng duy trì hai chủ đích nêu trên đây. Theo quan điểm của Marx, một Hạ tầng cơ sở Kinh tế gồm những nhập nhoèn gian lận như vậy không thể nào cho phát sinh một Thượng tầng kiến thiết Chính trị và Luật pháp sáng sủa công minh được.

Dân phải dứt khoát vứt bỏ chiếc váy đụp ấy để từ đó mới có thể phát triển bền vững được.

Thủ phạm của Tham nhũng, Lãng phí
chính là Cơ Chế CSVN

Tham nhũng, Lãng phí là một thói tật trong mọi xã hội . Chính cái môi trường tổ chức xã hội  chế tài tham nhũng, lãng phí, làm cho có sự khác biệt giữa xã hội này với xã hội kia.

Tham nhũng Lãng phí là
thói tật trong mọi xã hội

Mỗi lần nói đến Tham nhũng Lãng phí, thì một số người muốn bênh đỡ CSVN, đã bào chữa rằng Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội chứ không phải chỉ nguyên ở Việt Nam hiện nay.

Chúng tôi không phủ nhận câu nói ấy. Thực vậy, cái thói tật của con người là lười biếng. Tôi vẫn khẳng định tôi là con người lười biếng, thích ngồi mát mà ăn được bát vàng. Nếu không làm việc, mà vẫn được trả lương để sống, thì tôi chấp nhận liền. Vì muốn thân xác mình sống, được thỏa mãn những nhu cầu, thì phải nai lưng ra làm việc. Làm việc vất và đổ mồ hôi là bản án cho mỗi cá nhân sinh ra và muốn sống. Đấu tranh Kinh tế là cuộc đấu tranh gay gắt nhất vì mọi người sống buộc lòng phải đấu tranh.

Trong cuộc đấu tranh gay gắt này, con người mang bản tính lười biếng, dễ tính toán đủ mọi cách để có thể ngồi mát ăn bát vàng, thậm chí giết người khác để cướp lấy của. Tham nhũng Lãng phí là thói tật gần như bản tính của con người mang cái nọc lười biếng và khi có dịp ngồi cạnh đống vàng. Chúng tôi không phủ nhận là Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội mà mỗi người phải tranh chấp kiếm sống. Nhưng cái khác biệt là ở những xã hội khác nhau có những CƠ CHẾ đề phòng bản tính Tham nhũng Lãng phí và có những CƠ CHẾ cho phép phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí.

Ví Tham nhũng Lảng phí là những con Giòi do Ruồi Nhặng đẻ ra. Hễ có Ruồi Nhặng là có Giòi. Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, đó là bản tính. Đâu cũng có Ruồi Nhặng. Vấn đề ở đây không phải là cấm bản tính Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, mà là làm vệ sinh để Ruồi Nhặng khó lòng có chỗ đẻ ra Giòi. Nếu cứ để đống phân chình ình ra đó mà không hốt đi, thì Ruồi Nhặng tha hồ đậu trên đống phân mà đẻ ra Giòi.

Cũng vậy, đống phân để chình ình là CƠ CHẾ cho phép bản tính lười biếng, ngồi mát ăn bát vàng tha hồ đẻ ra và lan tràn Giòi Tham nhũng Lãng phí. Thậm chí không những không muốn hốt đống phân CƠ CHẾ, mà còn tìm mọi cách để bao che cho Giòi Bọ.

Tóm tắt của đoạn này là điều quan trọng không phải cái tính Tham nhũng Lãng phí nằm ở mỗi người trong bất cứ một xã hội nào, nhưng là ở chỗ xã hội đã chọn một CƠ CHẾ để Tham nhũng Lảng phí phát sinh mạnh lan tràn và được bao che cho một nhóm người.

CƠ CHẾ CSVN Đánh đĩ giữa
Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế

Ba tiếng quan trọng ở đây là ĐỘC TÀI Chính trị, ĐỘC QUYỀN Kinh tế và việc ĐÁNH ĐĨ giữa hai lãnh vực này.

Xử dụng tiếng ĐÁNH ĐĨ không phải là chúng tôi có ý nói tục để mạ lỵ một CƠ CHẾ, nhưng vì tiếng đó diễn tả xác thực tình trạng cấu kết trong bóng tối, không minh bạch và mang tính nhập nhoèn giấu diếm không lương thiện giữa hai lãnh vực. Tiếng ĐÁNH ĐĨ cho thấy một sự giả hình, lươn lẹo cấu kết bất chính. 

Thực vậy, nhìn về lãnh vực Kinh tế, CSVN nói là chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường, nhưng lại dùng những Tập đoàn Kinh tế, những Tổng Công ty thuộc Nhà Nước (đảng CSVN) để nắm Độc quyền Kinh tế dưới chiêu bài chỉ đạo Kinh tế. Những Tập đoàn, Tổng Công ty này lại được quyết định về điều hành theo liên hệ nhóm đảng và thân thuộc gia đình. Nhà Nước một đàng nói cho đẹp về phương diện Chỉ đạo Kinh tế mạnh, nhưng một đàng lại xậm xụi nắm giữ những Tập đoàn, những Tổng Công ty theo liên hệ gia đình và nhóm đảng. Giả hình, che đậy nắm quyền lợi cho gia đình và nhóm đảng, đó là việc đánh đĩ, việc điếm đàng vậy.

Nhìn sang lãnh vực Chính trị và Luật pháp, đảng CSVN cũng nhập nhoèn nói một đàng làm một nẻo. CSVN tạo cơ quan Lập pháp (Quốc Hội) dưới danh nghĩa Dân chủ, nhưng theo việc ngụy tạo độc đoán của đảng mình. Luật pháp được đặt ra cho phép đủ thứ Tự do, nhưng lại thực hành độc đoán và xử dụng sức mạnh để đàn áp những than vãn khiếu nại.  Đó là việc đánh đĩ, điếm đàng.

Một CƠ CHẾ cho phép Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế là cơ hội làm phát sinh Tham nhũng Lãng phí. Nếu Chính trị còn ĐỘC TÀI và Kinh tế còn ĐỘC QUYỀN trong tay một đảng duy nhất, thì Tham nhũng Lãng phí tha hồ lan tràn không cản được. Thực vậy, như chúng tôi đã trình bầy trong đoạn đầu của bài này, Tham nhũng Lãng phí thuộc bản tính của con người và có ở mọi xã hội, nhưng Tham nhũng Lãng phí phát sinh và lan tràn mạnh ở một xã hội khi mà xã hội ấy cho phép một CƠ CHẾ thuận lợi. Việc cho phép ĐỘC TÀI Chính trị  được ĐỘC QUYỀN Kinh tế  tạo CƠ CHẾ thuận lợi cho phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. Càng dễ dãi cho việc lan tràn Tham nhũng Lãng phí hơn nữa khi mà việc cấu kết giữa hai lãnh vực được che đậy nhập nhoèn không sáng sủa như việc ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG.

CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế đã được CSVN thực hiện trong suốt những chục năm trường và đã được sơn phết bằng những chiêu bài giả dối như Mở cửa, Đổi mới, theo Kinh tế Tự do/ Thị trường, Hội nhập Kinh tế toàn cầu... Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay là hậu quả của Tham nhũng Lãng phí lan tràn từ một CƠ CHẾ mà họ đã thực hành. Chữa Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh là phải chữa tận nguồn, trị đúng bệnh, tức là đánh thẳng vào cái CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ ấy.

Vinashin: tỉ dụ cụ thể thời sự của Cơ Chế CSVN

Một Thể Chế có Ý thức hệ biện minh. Khi không còn Ý thức hệ, thì Thể Chế chỉ là một guồng máy cai trị không hồn gọi là CƠ CHẾ.

Nhân chi sơ, tính dâm dục (Freud). Cũng vậy, nhân chi sơ, tính ham muốn chiếm hữu phương tiên nuôi sống thân xác cho riêng mình (La survie corporelle). Không thể diệt những tính đó ở mỗi cá nhân. Sự phát hiện bất chính của những tính đó là tùy thuộc môi trường bao quanh cá nhân cho phép. CƠ CHẾ của CSVN chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế là một môi trường cho cho phép và khuyến kích THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ bất chính.

Thủ phạm vụ Vinashin không phải là từ cá nhân, mà là từ CƠ CHẾ cho phép và khuyến khích THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, rồi còn bao che cho nhau để cùng chia phần THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ bất chính.

Tác giả NGUYỄN TRUNG viết:

Tham nhũng: cơ chế
Chạy chức: cơ chế
Bằng giả: cơ chế
Công an đánh chết người: cơ chế
Xử lý môi trường yếu kém: cơ chế
Chất lượng và hiệu quả công trình kém: cơ chế
Chính phủ không quản lý được các tỉnh trong việc thuê đất rừng đầu nguồn: cơ chế.
Quan chức kiêm một lúc nhiều nhiệm vụ (như Chủ tịch tỉnh & Đại biểu QH) nên làm việc chả ra đâu vào đâu mà theo như lời ông Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ tịch QH là “Cõng em thì khỏi xay lúa”: cơ chế
Người có thực tài không được nhận vào những chức vụ quan trọng của Chính phủ: cơ chế

Tiến sĩ NGUYỄN QUANG A viết :

Trong khi trả lời báo chí trong cuộc họp báo tối 4-8-2010, Phó thủ tướng thường trực đã có một câu rất đáng chú ý, “yếu kém này là do cơ chế”. Có thể hiểu câu này theo nhiều cách. Lỗi là tại cơ chế, không phải của ai cả, làm sao mà phạt, mà bỏ tù cơ chế được? Tôi hy vọng đây không phải là cách hiểu và diễn giải của các nhà lãnh đạo. Mà giả có hiểu như thế thì cũng vẫn có thể hỏi tiếp: ai tạo ra cái cơ chế ấy? Ai điều hành cái cơ chế ấy? Và phải dẫn đến câu trả lời: phải xóa bỏ tận gốc rễ cái cơ chế ấy đi. Cũng phải quy trách nhiệm cho những người tạo ra và vận hành nó nữa.

Gs. Ts. NGUYỄN PHÚC LIÊN viết :

KẾT LUẬN của hai Tập Chủ đề là đòi hỏi DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN hiện hành để có thể phát triển Kinh tế bền vững và lâu dài cho ĐẤT NƯỚC và DÂN TỘC VIỆT NAM. Chúng tôi không dùng hai chữ CHỐNG CỘNG nữa bởi vì chính đảng CSVN đã không còn giữ Ý thức hệ Cộng sản, mà chỉ còn giữ lại một CƠ CHẾ độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế để vơ vết tài nguyên Quốc gia và bóc lột Nhân Lực VN vào túi riêng của mình.

KẾT LUẬN của chúng tôi là, trên mặt LÝ THUYẾT cũng như theo QUAN SÁT THỰC TẾ, phải DỨT BỎ cái Cơ Chế CSVN hiện hành cấu kết giữa CÔN ĐỒ ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và KẺ CƯỚP ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để bắt đầu phát triển Kinh tế thực sự. Dứt bỏ Cơ Chế này và thực hiện DÂN CHỦ HOÁ KINH TẾ, thì việc phát triển Kinh tế mới BỀN VỮNG và LÂU DÀI cho Quê Hương.


Phải dứt vỏ Cơ Chế CSVN
nếu muốn Phát triển Kinh tế và giải thoát Dân tộc

Cơ Chế là căn nguyên phá hoại phát triển Kinh tế và trói buộc Dân tộc dưới thống trị độc quyền. Phải dứt bỏ chính cái căn nguyên ấy bỏi vì còn Cơ Chế thì còn giòi bọ THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Những kẻ chủ trương bảo tồn Cơ Chế như đảng CSVN thì không thể nào diệt được Tham Nhũng, Lãng phí.

Gìoi  Cơ chế không thể diệt được giòi tham nhũng,
phải có Dân mới diệt được

Khi Dân Oan đòi Công lý, CSVN giải quyết không được và dùng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Trật tự ở đây có nghĩa là cúi đầu chấp nhận cái CƠ CHẾ như đống cứt để Ruồi Nhặng đẻ đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí lan tràn đến thôn quê. Khi Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho Công lý, thì CSVN cũng không thể giải quyết và đã xử dụng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Không giải quyết cho Thái Hà theo Luật pháp được bởi vì cái CƠ CHẾ đã đẻ ra Tham nhũng Lãng phí trên giải đất ấy.

Khi Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh xẩy ra, Nguyễn Tấn Dũng hô to khẩu hiệu diệt trừ Tham nhũng Lãng phí. Đó chỉ là khẩu hiệu mỵ dân. Đã bao lần đảng CSVN hô hào diệt trừ Tham nhũng Lãng phí bằng kêu gọi đảng viên hãy nêu cao tinh thần Cách Mạng. Thực ra tinh thần Cách Mạng đã chết nghẻo từ lâu rồi mà chỉ còn tính lười biếng và lòng mong mỏi ngồi mát ăn bát vàng. Đó là bản tính của con người, nhất nữa con người ấy lại có quyền độc tài ngồi cạnh đống vàng.

Không bao giờ Lãnh đạo đảng CSVN, mặc dầu biết rõ căn bệnh, dám nói rằng phải giải quyết đất đai cho Dân Oan, cho Thái Hà, cho tình trạng Lạm phát, cho Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh bằng vứt bỏ CƠ CHẾ, bằng hốt đống phân hiện hành của đảng để Ruồi Nhặng đừng đẻ Giòi lan tràn.

Một số những Cố vấn Kinh tế cho CƠ CHẾ hiện hành, mặc dầu biết rõ căn bệnh, nhưng vì tư lợi nên trở thành nịnh thần và khi có chút can đảm vì lương tâm áy náy, thì chỉ dám nói đến CẢI CÁCH (Reform), nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ, đống cứt, chỉ nắn bóp chút ít. Một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc, đã hô hào Hòa Giài Hòa Hợp, mong liếm hớp mẩu bánh thừa quẳng xuống do CSVN, nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ hiện hành, bãi phân có đầy Giòi, để ngửi chung. Một số Lãnh đạo Tôn giáo như Hồng y Mẫn chẳng hạn, hô hào ĐỐI THOẠI để phát triển bền vững, nghĩa là tiếp tục bãi phân đã đầy Giòi này.

Tôi xin trả lời rằng CSVN không dám hốt bãi phân CƠ CHẾ. Chính khối Dân nghèo 75% Dân số Việt Nam sẽ đứng lên gùm cổ CSVN phải dứt bỏ CƠ CHẾ, nghĩa là buộc họ phải hốt bãi phân đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí.

31 cựu tướng và lão niên của đảng CSVN lên tiếng,
nhưng phải đi đến tận căn nguyên

Điều đáng chú ý và có lẽ cho thấy dấu hiệu đáng mừng trong những ngày cuối tháng 8 vừa qua là 31 cựu tướng và lão niên thuộc đảng CSVN ký đơn lên tiếng đòi Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng, và Nguyễn Sinh Hùng, Phó Thủ tướng, phải từ chức vì trách nhiệm những tham nhũng và lãng phí chính yếu của Vinashin.

Chúng tôi đặt câu hỏi việc đòi trừng phạt Dũng và Hùng như vậy có nhằm diệt tận gốc bệnh nội tạng tham nhũng lãng phí hiện hành hay chỉ là thoa bóp, “cạo gió“ ngoài da ?

Với những trình bầy từ đầu đến giờ, chúng tôi đưa ra quan điểm dứt khoát  nhằm chữa bệnh nội tạng tham nhũng lãng phí tận gốc, chứ không chấp nhận chỉ thoa bóp, “cạo gió“ ngoài da.

Yêu cầu trừng phạt của 31 cựu tướng và lão niên CSVN

Nhân vụ Vinashin, Tin tức từ quốc nội trong cuối tháng 8 cho biết tóm lược như sau:

“HÀ NỘI (TH) - 31 cựu tướng lãnh và đảng viên Cộng Sản lão thành đã cùng ký tên tố cáo Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ Tướng Nguyễn Sinh Hùng là các người “trốn trách nhiệm” và “hạn chế dân chủ”. Đồng thời, tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam, Vũ Văn Hiến, bị một thuộc cấp tố cáo đích danh nhiều tội với các dẫn chứng cho thấy ông này “tham nhũng, cố ý làm trái, tư lợi, trả thù các người khiếu nại tố cáo”...

Những ngày cuối tháng 8 năm 2010, có tất cả 31 người trong đó có một số tướng lãnh từng lên tiếng về các vấn đề thời sự sống còn của đất nước thời gian gần đây, đã đứng tên chung trong một đơn kiến nghị gửi “Bộ Chính Trị và các ủy viên trung ương đảng”.

Lá đơn cáo buộc ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng đang nhăm nhe cái ghế tổng bí thư đảng Cộng Sản, là người phải chịu trách nhiệm trực tiếp về sự sụp đổ của tập đoàn “quả đấm thép” Vinashin mà Phạm Thanh Bình, chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn “chỉ là người chịu trách nhiệm gián tiếp”.

“Trong khi không có tiền để xây một cái cầu nhỏ cho con em đồng bào dân tộc đi học, phải leo dây qua sông, nhiều lúc rớt xuống sông. Không xây thêm được một số trường mầm non công để đồng bào phải xếp hàng dài, chen chúc chạy thi nhau để xin một chỗ cho con... và còn bao nhiêu công việc bức thiết khác. Thủ tướng cơ cấu lại Vinashin để trốn tránh trách nhiệm”. Lá đơn gửi Bộ Chính Trị đề ngày 29 tháng 8 năm 2010 viết.

Ông Nguyễn Sinh Hùng, phó thủ tướng, không những bị qui tội đồng phạm với ông Dũng, lại còn bị cáo buộc là “có xu hướng áp đặt và hạn chế dân chủ” khi Quốc Hội thảo luận trước khi biểu quyết bác bỏ dự án đường sắt cao tốc.”

Theo chúng tôi, việc đòi hỏi trừng phạt hay chữa trị bệnh tham nhũng lãng phí như trên chỉ mới là thoa bóp, “cạo gió“ ngoài da. Chúng tôi xin cắt nghĩa tại sao ở đoạn dưới đây.

Vi trùng bệnh nội tạng tham nhũng lãng phí vẫn nằm đó và nẩy sinh

Trong suốt cuốn sách của chúng tôi nhan đề DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN, xuất bản 2009 do NXB DAY & NIGHT, Ventura, California, chúng tôi chứng minh rằng chính cái Cơ Chế CSVN là nguồn gốc căn bệnh nội tạng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ.

Tuần vừa rồi, khi viết quan điểm về sự phát hiện bệnh tham nhũng, lãng phí của Vinashin, chúng tôi đã nói rằng thủ phạm bệnh tình này là cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành, chứ không phải từ cá nhân nào.

Thủ phạm vụ Vinashin không phải là từ cá nhân, mà là từ CƠ CHẾ cho phép và khuyến khích THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, rồi còn bao che cho nhau để cùng chia phần THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ bất chính.”

Vì vậy, 31 cựu tướng và lão niên thuộc đảng CSVN chỉ đòi hạ bệ những cá nhân Dũng & Hùng, đó chỉ là thoa bóp, “cạo gió“ ngoài da cho căn bệnh nội tạng của Cơ Chế. Dũng và Hùng xuống chức, thì sẽ có những Dũng & Hùng khác thay thế, vẫn mang “nhân chi sơ, tính tham nhũng“, vẫn có sẵn cái môi trường, CƠ CHẾ CSVN hiện hành thuận lợi, để có thể làm tham những lãng phí hơn Dũng & Hùng hiện nay. Không thể chỉ nêu “tinh thần Cách Mạng“ không tưởng (utopique) và lỗi thời mà diệt được tham nhũng. Thánh nhân mà nhốt chung trong môi trường che kín với mỹ nhân, thì tính dâm chi sơ cũng nổi dậy để tay chân sờ soạng. Quân tử mà có quyền độc tài sinh sát người khác để khóa miệng mà ngồi bên đống vàng, thì bụng tham chi sơ dễ làm quân tử nhặt mấy thỏi vàng dấu vào túi riêng cho bản thân mình.

Phải cắt bỏ chính cái gốc của căn bệnh nội tạng.

Quan điểm của chúng tôi là phải cắt bỏ cái gốc của căn bệnh nội tạng, tức là dứt bỏ chính cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành để diệt trừ THAM NHŨNG LÃNG PHÍ.

Không phải chỉ nguyên chúng tôi nói căn bệnh nội tạng là Cơ Chế, mà tác giả NGUYỄN TRUNG cũng như Tiến sĩ NGUYỄN QUANG A đã khẳng định thủ phạm Tham Nhũng Lãng Phí là do Cơ Chế. Các Cựu Tướng và Lão Niên đã lên tiếng, đó là dấu hiệu đáng mừng, nhưng mới thoa bóp, “cạo gió “ ngoài da. Xin các Cựu Tướng và Lão Niên mạnh tay thêm, cắt vứt bỏ cái Cơ Chế hiện hành căn nguyên của căn bệnh nội tạng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ.

Lấy lại tỉ dụ bình dân một đống phân. Cơ Chế CSVN hiện hành ví như đống phân, một môi trường để những giòi tham nhũng lúc nhúc. Nếu 31 cựu tướng và lão niên chỉ nhặt ra có hai con giòi lớn là Dũng và Hùng, mà vẫn để đống phân nằm chình ình, thì những con giòi khác có môi trường phân lớn lênh, sinh ra ruồi nhặng và đẻ thêm đàn giòi con cháu nhung nhúc khác. Nếu ruồi nhặng lại đến từ Trung quốc, gặp đống phân, chúng đẻ thêm giòi để đống phân trở thành phân Trung quốc.

Vậy, để có thể giết hết đám giòi tham nhũng, không thể bắt từng con, rồi để lại đống phân, mà phải hốt đống phân đi, lấy nước Javel rửa sạch, thì mới mong giòi tham nhũng lãng phí không có môi trường sinh ra và lan tràn.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 15.09.2010
Web: http://vietTUDAN.net




DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN
VÌ TƯƠNG LAI KINH TẾ ĐẤT NƯỚC

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 06.08.2010
Web : http://vietTUDAN.net


KẾT LUẬN của hai Tập Chủ đề là đòi hỏi DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN hiện hành để có thể phát triển Kinh tế bền vững và lâu dài cho ĐẤT NƯỚC và DÂN TỘC VIỆT NAM. Bài đính kèm dưới đây là tóm tắt lập trường đòi hỏi của chúng tôi. Chúng tôi không dùng hai chữ CHỐNG CỘNG nữa bởi vì chính đảng CSVN đã không còn giữ Ý thức hệ Cộng sản, mà chỉ còn giữ lại một CƠ CHẾ độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế để vơ vết tài nguyên Quốc gia và bóc lột Nhân Lực VN vào túi riêng của mình.
 
Phản ứng của
người được ưu đãi của Cơ Chế

Khi phổ biến bài đính kèm dưới đây trên Diễn Đàn, chúng tôi nhận được phản hồi sau đây, có thể từ Quốc nội hay từ Hải ngoại bởi một trong những thành phần con ông cháu cha được du học do tiền tham nhũng của bố mẹ thuộc đảng CSVN.

Re: [TinhThuong36] CSVN: CÔN ĐỒ CHÍNH TRỊ VÀ KẺ CƯỚP KINH TẾ
Thursday, August 5, 2010 6:36 AM
From: "Son Cao Van" soncv78@yahoo.com
To: "NGUYEN PHUC LIEN" wimimpactdrlien@yahoo.com

chào ngài Tiến Sy

Xin thưa với ngài, ngài biết biết gì về đất nước chúng tôi nà nói năng linh tính.

Thưa ngài, cái mà ngài muốn vất bỏ:CNCS là thành quả của cha ông chúng tôi đã đổ xương máu để giành lại từ từ ngoại bang, đã cho chúng tôi được ăn học và mở mang với nước ngoài. Cuộc sống của chúng tôi tuy chưa bằng với các nước phát triển song với tôi nhũng cái gì được thừa hưởng không thua kém gì với các nước phát triển: tiền - tài- danh vọng đủ cả. Cuộc sống của tôi và gia đình không kém gì các ngài, ra ngoài xã hội có thể ngẩng cao đầu với mọi người. Nhũng cái đó ai cho ? Tôi ko hiểu ngài sinh ra ở đâu, cội nguồn ở đâu mà ngài nỡ lên án, hận thù với đất mẹ Việt Nam đến thế. Nếu ngài là người có lương tri, xin ngài ít nhất đừng gửi mail cho tôi với các nội dung như trên để hàng ngày tôi phải dọn chúng như những rác rưởi ko mong đợi
Chào ngài.

Xin Ông “Son Cao Van“ nhìn lại và thấy Cơ Chế đã được xây dựng bằng xương máu dân lành vô tội bị đảng CSVN giết chết, đạp lên thân xác họ để bước tới chiếm đoạt quyền hành cho đảng. Hãy nhìn dân chết trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất, hãy nhìn những nấm mồ tập thể Tết Mậu Thân, hãy nhìn cuộc tàn sát huynh đệ tương tàn do Hồ Chí Minh làm tay sai cho Cộng sản Quốc tế để mở cuộc xâm chiếm Miền Nam yên lành, hãy nhìn những triệu người bất chấp chết chóc trên biển cả hay trong rừng núi bỏ nước ra đi vì thấy rõ cái ác độc côn đồ của Cơ Chế CSVN.

Được hưởng ưu đãi của đảng và Cơ Chế bóc lột này, Ông “Son Cao Van“ tất nhiên không muốn Dứt Bỏ Cơ Chế hiện hành. Nhưng trong tương lai, Dân Oan, Dân nghèo sẽ đứng lên DỨT BỎ cái Cơ Chế này và chính cá nhân Ông, con cháu của Tham nhũng.


Gửi tới tuổi trẻ,
tương lai Dân Tộc và Đất Nước

Trong ảnh hưởng tuyên truyền của CSVN và bên cạnh thái độ của lớp người hoạt đầu Chính trị nhằm nhẩy bàn độc lượm nhặt những mẩu bánh thẩy ra do CSVN, một số bạn trẻ có thể nghĩ rằng chúng tôi, vì hận thù quá khứ, nhất thiết đòi DỨT BỎ Cơ Chế này, mà không muốn “hòa giải hòa hợp “ lừa bịp. Những người đã lớn tuổi, đã quá kinh nghiệm với CSVN, cũng nhìn về tương lai Dân Tộc và Đất Nước. Họ muốn tương lai Đất Nước không còn Cơ Chế CSVN hiện hành, thì lớp tuổi trẻ mới có thể chung lưng xây dựng Đất Nước được. Còn Cơ Chế CSVN, thì việc nỗ lực xây dựng của lớp tuổi trẻ chỉ là phục vụ cho một nhóm đảng xử dụng bạo lực để bóc lột. Riêng cá nhân tôi, rời Việt Nam năm 1965, với 45 sống xa Quê Hương, nhưng tôi nhất thiết chống cái Cơ Chế CSVN hiện hành, không phải là vì hận thù quá khứ, nhưng VÌ TƯƠNG LAI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VN TRONG BỀN VỮNG VÀ LÂU DÀI.

Chúng tôi xin gửi đến bạn đọc hai Tập Chủ đề in thành sách. Hai Tập này là Lập trường dứt khoát của chúng tôi đối với Cơ Chế CSVN hiện hành. Chúng tôi in thành sách. Đây không phải là quảng cáo để quý bạn trẻ mua, vì chúng tôi gửi nguyên bản đến quý bạn để quý bạn đọc mà không cần mua. Điều quan trọng là quý bạn trẻ đọc để giữ vững lập trường rằng phải DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH ĐỂ PHÁT TRIÊN ĐẤT NƯỚC TRONG BỀN VỮNG VÀ LÂU DÀI.

Đính kem (Attachments):

1) Tập Chủ đề 1:             DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN
                                     Nhà Xuất Bản DAY & NIGHT
                                     Ventura, California, USA 2009

NỘI DUNG TẬP TÀI LIỆU:

Bài MỞ ĐẦU:
   CHO THUỐC CHỮA TRỊ ĐÚNG CĂN BỆNH
Bài 01:
   NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP
   CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ
Bài 02:
   THẤT BẠI CỦA HỆ THỐNG KINH TẾ TRUNG ƯƠNG
   TẬP QUYỀN VÀ CHỈ HUY
Bài 03:
   KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN
   CHỈ LÀ BỊP BỢM VÔ LƯƠNG
Bài 04:
   THAM NHŨNG LÃNG PHÍ LÀ HẬU QUẢ
   CỦA VIỆC ĐÁNH ĐĨ GIỮA
   ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ & ĐỘC QUYỀN KINH TẾ
                Phụ bản 1:
                                BIẾN ĐỘNG TÀI CHÁNH HOA KỲ VÀ
                                QUAN ĐIỂM CỦA NHÀ NƯỚC MỸ
                Phụ bản 2:
                                US$ 700 TỈ CỨU VỚT WALL STREET
                                CỦA CHÍNH QUYỀN BUSH
Bài 05:
   LẠM PHÁT TIỀN TỆ (INFLATION MONETAIRE)
   CỦA MỘT NHÀ NƯỚC ĐỘC TÀI
                Phụ Bản 03:
                                CẢNH CÁO TỘI HÌNH CSVN:
                                ĐỪNG LÀM LẠM PHÁT TIỀN TỆ ĂN CƯỚP NỮA
Bài 06:
   SỰ YẾU KÉM NĂNG SUẤT (FAIBLE PRODUCTIVITE) 
   CỦA NHỮNG CÔNG TY QUỐC DOANH
Bài 07:
   TẤT CẢ MỌI CAN THIỆP NHÀ NƯỚC LÀM PHÁT SINH
   ĐẦU CƠ, CHỢ ĐEN VÀ CHI PHÍ TỐN KÉM
                Phụ Bản 04:
                                KHỦNG HOẢNG KINH TẾ KHẨN TRƯƠNG
                                TẠI TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM (Phần I)
                Phụ Bản 05:
                                KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRUNG QUỐC:
                                TỪNG NGÀN XÍ NGHIỆP DẸP TIỆM (Phần II)
Bài 08:
   NĂNG SUẤT CAO (PRODUCTIVITE ELEVEE)
   CỦA NỀN KINH TẾ TƯ DOANH
                Phụ Bản 06:
                                NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI
                Phụ Bản 07:
                                TỪ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ LAN SANG
                                KHỦNG HOẢNG XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ
                Phụ Bản 08:
                                CẤU KẾT GIỮA CHÍNH TRỊ VÀ KINH TẾ
                                ĐẺ RA QUÁI THAI THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ
Bài 09:
   THỊ TRƯỜNG LÀ YẾU TỐ ĐIỀU HỢP CỦA NỀN KINH TẾ
Bài 10:
   CHÍNH TRỊ VÀ LUẬT PHÁP
   CHỈ LÀ MÔI TRƯỜNG CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
                Phụ Bản 9:
                                ĂN CƯỚP TRẮNG TRỢN CỦA CƠ CHẾ ĐỘC TÀI:
                                KÍCH CẦU BẰNG LẠM PHÁT TIỀN TỆ?
Bài 11:
   YÊU CẦU NHỮNG BIỆN PHÁP CỤ THỂ
   TIẾN ĐẾN DỨT BỎ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH
                Phụ Bản 10:
                                CHỐNG THAM NHŨNG
                                CHỨ KHÔNG CHỐNG KINH TẾ VIỆT NAM
Bài 12:
   DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ
   DẪN ĐẾN DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRỊ
   DÉMOCRATISATION ECONOMIQUE => DEMOCRATISATION POLITIQUE 
 


2) Tập Chủ đề 2:             DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ
                                     Nhà Xuất Bản DAY & NIGHT
                                     Ventura, California, USA 2010
NỘI DUNG:

Bài 00:
   CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ
Bài 01:
   TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM
   TRONG TÒAN CẢNH NỔI DẬY ĐÒI CÔNG LÝ
Bài 02:
   NGĂN CHẶN TỨC KHẮC
   TIẾN TRÌNH CSVN GIAO NƯỚC CHO TẦU
Bài 03:
   ĐỒNG YUAN ĐỘC ĐÓAN:
   MẶT TRẬN XÂM LĂNG TIỀN TỆ
Bài 04:
   TỪ LẠM PHÁT, PHÁ GIÁ NỘI TỆ 
   ĐẾN DÂN CHÚNG NGHÈO ĐÓI NỔI DẬY
Bài 05:
   TRUNG QUỐC XUỐNG NƯỚC 
   VÌ LO SỢ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI
Bài 06:
   TỶ GIÁ ĐỒNG YUAN VÀ 
   CĂNG THẲNG THƯƠNG MẠI MỸ VÀ TẦU
Bài 07:
   MỸ VÀ TẦU 
   TRONG THẾ ĐẤU ĐÁ THƯƠNG MẠI BÓ BUỘC
Bài 08:
   ẤN ĐỘ CƯỜNG QUỐC KINH TẾ TƯƠNG LAI: 
   MỘT BÀI HỌC DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ
Bài 09:
   KINH TẾ ĐỘC TÀI “ĐỊNH HƯỚNG BÓC LỘT XH”   
   LO SỢ LỰC LƯỢNG DÂN NGHÈO BẠO LỌAN
Bài 10:
   HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 12 CSVN:
   TIẾP TỤC KINH TẾ TẬP QUYỀN NHÓM ĐẢNG
Bài 11:
   TIỀN TỆ VÀ THƯƠNG MẠI:
   TRUNG QUỐC CÓ NHỮNG BẾ TẮC RIÊNG
Bài 12:
   HIỆU QUẢ CỦA HAI NỀN KINH TẾ:
   ẤN ĐỘ DÂN CHỦ VÀTẦU ĐẢNG CHỈ HUY
Bài 13:
   TRUNG CỘNG VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NHÂN:
   THỢ THUYỀN NỔI DẬY ĐÒI CÔNG LÝ
Bài 14:
   KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TQ ?
   NHỮNG YẾU TỐ CHÍNH DẪN TỚI
Bài 15:
   TUYÊN BỐ NÂNG TỈ GIÁ ĐỒNG YUAN:
   MỘT CHƯƠNG TRÌNH LƯU MANH
   (PLAN MACHIAVELIQUE) ?
                Phụ bản cho Bài 15:
                                TÍNH CÁCH LƯU MANH CỦA QUYẾT ĐỊNH MỚI
                                VỀ TỈ GIÁ ĐỒNG YUAN
Bài 16:
   NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP
   CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ
Bài 17: Bài KẾT LUẬN:
   CSVN: CÔN ĐỒ ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ VÀ
   KẺ CƯỚP ĐỘC QUYỀN KINH TẾ
Bài 18: Bài PHỤ BẢN TỔNG QUÁT:
   TIỀN TỆ VÀ
   NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ

Quý bạn trẻ, những người không phải trải qua cuộc chiến xâm lăng Miền Nam của Cộng sản, không có những dấu vết hận thù, nhưng quý bạn có những dằn vặt cho tương lai, cần nhìn thấy rõ rằng việc phát triển Đất Nước nhanh hay chậm là tùy thuộc việc DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH sớm hay muộn. Quý bạn chỉ cần ghi lại (download ) nguyên bản của hai Tập sách, chứ không cần mua, để đọc và thấy cái Cơ Chế này cần phải được DỨT BỎ như thế nào vì chính quyền lợi tương lai của quý bạn. Đối với chúng tôi, Quý Bạn Trẻ đọc những Tập sách Chủ đề này và nhất quyết đấu tranh DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐÁT NƯỚC BỀN VỮNG VÀ LÂU DÀI cho tương lai, đó là điều quý báu vô giá rồi.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 06.08.2010
Web: http://vietTUDAN.net 


TĂNG TỐC QE$600 TỈ
CỨU MỸ HẠ TẦU

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.11.2010
Web: http://VietTUDAN.net
 

Khi FED xuất chưởng QE2 $600 ngày 03.11.2010, thì giới Tài chánh chuyên môn của Bắc Kinh thấy sợ hãi liền vì họ biết từ lâu cái quyền lực nhân tiền của FED bằng tăng tốc độ quay tiền (Accélération de la vitesse de rotation de la monnaie). Nói đến FED, họ coi như những ông thần ảo thuật nhân tiền. Trong gần 20 năm làm việc với Tập đoàn Tài chánh Mỹ có Trụ sở tại Zurich, PAPADAKIS INVESTMENT WORLD Co.Inc., tôi đã có dịp nhìn thấy những Chứng nhận Vốn ngân hàng (Bank Proofs of Funds) từng tiền tỉ phát hành bởi Ngân Hàng Trung quốc (Bank of China) gửi qua Tập đoàn để nhờ liên hệ với FED mà nhân tiền. Giới Tài chánh chuyên môn từ Bắc Kinh, Hồng Kông biết cái quyền lực nhân tiền của FED như ảo thuật. Với $600 tỉ, FED có thể nhân lên gấp hai, gấp ba… vân vân… tùy nhu cầu phải hành động.


Trung quốc chỉ nhằm lợi dụng
Mãi lực của Dân Mỹ
để làm giầu cho riêng mình

Khi mới đắc cử, TT.Obama sang Trung quốc và đã tuyên bố nịnh Tầu như trên Thế giới chỉ có hai đối tác chính là Mỹ và Tầu để hướng dẫn cân bằng phát triển Kinh tế Thế giới. Nhưng trong chuyến đi Á châu mới đây, sau khi đảng Dân chủ mất nhiều ghế và chính Ông bị công kích về việc thụt lùi của Hoa kỳ về Kinh tế, TT.Obama đã không có quyền nói ngoại giao mơn trớn Trung quốc nữa, mà đã thẳng thừng công kích các nước Á đông, nhất là Trung quốc đã lợi dụng Mãi lực của Dân Mỹ mà làm giầu cho mình. Ông tuyên bố tại Hội nghị Thượng đỉnh G20 Seoul và Hội Nghị APEC Nhật:

“Không quốc gia nào nên chỉ dựa tăng trưởng vào việc xuất khẩu hàng sang Mỹ.

Các nước có thặng dư lớn phải có các bước đi nhằm thúc đẩy nhu cầu nội địa. Điều này rõ ràng là ám chỉ tới Trung Quốc.

Không nước nào nên cho rằng con đường dẫn tới thịnh vượng của họ chỉ dựa vào việc xuất khẩu hàng sang Mỹ.

Nhìn về phát triển, không nước nào nên cho rằng con đường tới thịnh vượng của họ chỉ dựa vào việc xuất khẩu hàng sang Mỹ.

Cạnh tranh lành mạnh không cần phải gây ra rạn nứt giữa các quốc gia.”

Câu nói chót này ám chỉ Trung quốc đã cho tiền của mình bám xà nẹo lấy Đo-la và sử dụng gian giảo Tỷ giá đồng Yuan thấp đối với Đo-la để làm cạnh tranh bất chính cho xuất cảng.

Nếu nhìn lại phát triển Kinh tế Nhật, Đài Loan, Nam Hàng, thì các nước này đã nhờ Mãi lực lớn của Thị trường Hoa kỳ mà làm giầu. Ngày nay trong những chục năm trường, Trung quốc làm việc cho xuất cảng sang Mỹ chính yếu, lại thêm gian giảo sử dụng tỷ giá đồng Yuan thấp để cạnh tranh.

TT.Obama không phải là nhà Kinh tế, chuyên viên Marketing, nhưng những cố vấn của ông đã yêu cầu ông phải nói ra sự thật. Lời nói của Ford còn đó: “Tôi trả lương cao cho Thợ để họ mua xe hơi tôi sản xuất“ nghĩa là phải cộng tác tạo mãi lực cho chính khác hàng của mình. Sau Thế Chiến thứ II, Âu châu kiệt quệ, chính Hoa kỳ phải bỏ ra $173 tỉ để tái thiết Âu châu, làm cho Mãi lực Âu châu cao lên, thì Mỹ mới có thể bán hàng sang Âu châu được.

Trung quốc chỉ nhằm khai thác Mãi lực dân Mỹ cho đến kiệt quệ, trong khi đó lại không tạo Mãi lực cho chính dân của mình để Mỹ có thể xuất cảng hàng sang bán ở Trung quốc.

Nếu chủ trương Kinh tế Trung quốc chỉ nhằm ích kỷ hại người, thì những hậu quả sẽ xẩy đến cho chính Kinh tế Trung quốc. Thực vậy nếu làm Kinh tế mà chỉ lo vơ vét, làm cho khách hàng trở thành nghèo kiết xác, thì Trung quốc sẽ bán hàng cho ai. Kinh tế Hoa kỳ đang bị đe dọa bởi tụt giá (Déflation) vì thiếu Mãi lực tiêu thụ. Thất nghiệp gần tới 10%, dân không có lương, thì tất nhiên không có mãi lực như trước. Chính Trung quốc phải lãnh nhận hậu quả này vì Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào hai Thị trường lớn là Hoa kỳ và Liên Âu. Mỹ và các nước Liên Âu nợ nần, thất nghiệp tăng.

Hệ luận của tình trạng này là phải ra Độc chiêu để cứu mình và hạ tính ích kỷ gian giảo của Trung quốc.


FED phải đi tới cùng của Độc chiêu QE
 
Trước khi đi tham dự cuộc Họp thượng đỉnh G20 Séoul, theo CNN, New York Times, Hồ Cẩm Đào đã được các chuyên viên Tài chánh Bắc Kinh nói cho biết ảnh hưởng của Độc chiêu QE2:

“Các chuyên gia có tiếng tại Trung Quốc vừa cho biết việc Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) quyết định tung 600 tỉ USD mua lại trái phiếu chính phủ Mỹ là một đòn độc với Trung Quốc.

Việc FED tung 600 tỉ USD mua lại trái phiếu được cho là một đòn độc với Trung Quốc.

Các chuyên gia có tiếng tại Trung Quốc đã nhận định rằng hành động trên sớm muộn sẽ khiến cho Trung Quốc vấp phải nhiều vấn đề nan giải.

Trước tiên, tỉ giá đồng nhân dân tệ (NDT) có khả năng tăng vượt tầm kiểm soát của Trung Quốc. Xu thế NDT tiếp tục tăng giá là khó có thể đảo ngược. NDT tăng giá là cản trở rất lớn đối với xuất khẩu của nước này.

Quyết định của FED cũng khiến cho việc thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô của Trung Quốc đang đứng trước nhiều thách thức to lớn.”

Như chúng tôi đã nhận xét về cuộc Họp thượng đỉnh G20, đó là cuộc họp G2 giữa Mỹ và Tầu. Các nước khác không thể công kích Mỹ để làm cho Mỹ căng thẳng mà quyết định đi đến Che Chở Mậu dịch (Protectionnisme). Trung quốc cũng hiểu như vậy và tỏ thái độ như nhận lỗi của mình. Trong cuộc Họp riêng giữa TT.Obama và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Trung quốc không còn giọng hống hách như Thủ tướng Ông Gia Bảo đã bất lịch sự đối với TT.Obama như trong cuộc Họp về Hâm Nóng Bầu khí tại Thụy Điển, bằng cách không thèm đến cuộc Họp riêng do TT.Obama mời.

Trong cuộc Họp riêng tại Seoul, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào chỉ than thở cho hậu quả Độc chiêu của Mỹ lên Kinh tế Tầu. Theo tiết lộ của Đài CNBC đêm 12.11.2010, ngày kết thúc cuộc Họp thương đỉnh, ông than với TT.Obama rằng Trung quốc không thể tăng Tỷ giá đồng Yuan theo hướng thúc đẩy tăng lên hiện giờ bởi vì việc tăng Tỷ giá đồng Yuan sẽ làm hỗn loạn Kinh tế Trung quốc:

=> Giá hàng hóa lên cao và do đó những Đặt mua hàng Trung quốc bị giảm

=> Đặt mua hàng giảm thì các Công ty thải thợ, thất nghiệp tăng tại Trung quốc

=> Thêm vào đó, một số Công ty nước ngoài thấy không có lợi nữa và sẽ chuyển sản xuất sang các nước khác có lợi hơn

=> Đồng Yuan tăng vọt Tỷ giá, thì tình trạng Lạm phát cũng tăng làm Dân chúng bất bình.

=> Lạm phát tăng làm Dân chúng bất bình. Thất nghiệ tăng làm công nhân bất bình. Cả hai sẽ dẫn đến xáo trộn Xã hội và Chính trị

Hồ Cẩm Đào chỉ than cho hậu quả của Độc chiêu QE trên nước mình, mà không nghĩ rằng chính sách triền miên hạ Tỷ giá đồng Yuan đang gây hậu quả rất đau lòng cho Kinh tế Hoa kỳ hiện nay với  tình trạng Thất nghiệp lên tới 10% và với lo lắng tình trạng Tụt giá (Déflation) của những năm 1930.

Thực tình, tôi lo lắng TT.Obama mang nhiều tình cảm, với nhãn hiệu Nobel Hòa bình, có thể trở thành mủi lòng trước những than thở đau lòng của Hồ Cẩm Đào. Tôi ngầm mong TT.Obama không vì xung động tình cảm trước những than vãn của Hồ Cẩm Đào mà nhượng bộ. Hãy để cho GsTs Ben BERNANKE, gốc Do Thái, lạnh lùng cho Độc chiêu QE bẻ gẫy tính kiêu ngạo của Trung quốc cho đến cùng.

Hãy thương nước Mỹ trước đã, trước khi xung động tình cảm thương Trung quốc, kẻ  đã gian giảo lợi dụng Mỹ cho đến tình trạng ngày hôm nay.


Luật nhân quả đang hoành hành lên
Gian giảo Kinh tế Trung quốc

Phải thương mình trước đã. Còn đứng trước đối phương cạnh tranh, nếu đối phương quỵ ngã sau khi đã gian giảo hại mình và nếu việc qụy ngã này không hại gì cho mình, thì để cho kẻ đã hại mình ngã quỵ chết luôn.

Chúng tôi đã viết nhiều những chi tiết về mục đích đạt tới và tầm ảnh hưởng của Độc chiêu QE2. Hôm nay, chúng tôi chỉ nói đến một số mục đích và những ảnh hưởng điển hình.

=> Mục đích của Chiêu QE cho Hoa kỳ.

Giáo sư Tiến sĩ Ben BERNANKE được một số nhà Kinh tế cho cái tên là “Mr.Helicopter” bởi vì Giáo sư chủ trương rải tiền như Helicopter thả truyền đơn cho Dân chúng có tiền tiêu mà kích thích sản xuất.

* Nhân tiền lên để mua Trái phiếu Ngân khố với chủ đích hạ Lãi suất dài hạn. Việc hạ Lãi suất này sẽ làm cho các Vốn đầu cơ dồn sang các nước khác để tìm Lợi nhuận cao. Chính việc hạ Lãi suất dài hạn này còn làm cho các nhà đầu tư đổ dồn vào những Cổ phiếu ngắn hạn khiến những Cổ phiếu này tăng giá. Theo con số Thống kê Hoa kỳ, thì Dân chúng Mỹ giữ số lượng USD.7’000 tỉ dành cho Cổ phiếu. Khi giá Cổ phiếu lên cao, thì Dân chúng thấy mình giầu hơn và tăng Mãi lực tiêu thụ tại Mỹ.

* Làm cho Thị trường Tài chánh có dồi dào vốn để các Công ty dễ dàng vay tiền đầu tư. Đây là khía cạnh làm giảm thiểu Thất nghiệp tại Mỹ.

* Rót những lượng tiền nhân lên từ $600 tỉ vào lưu hành làm giảm giá đồng Đo-la. Như vậy hàng Hoa kỳ dễ dàng xuất cảng hơn và do đó các Công ty tăng sản xuất và nhận thêm thợ làm giảm Thất nghiệp.

=> Tầm ảnh hưởng của Độc chiêu QE lên các nước khác

Như trên chúng tôi đã nói, vấn đề chính yếu là cứu mình, còn tầm ảnh hưởng lên các nước khác, nhất là Trung quốc, thì để họ lo giải quyết những vấn đề của họ.
* Khi nhân tiền lên từ $600 tỉ để mua Trái phiếu Ngân khố làm giảm Lãi suất dài hạn, thì những khối vốn đầu cơ chạy vòng vòng trên Thế giới bỏ Thị trường Hoa kỳ và dồn vào những nước có độ tăng trưởng mạnh như Trung quốc hoặc nhóm những nước bắt đầu phát triển để kiếm Lợi nhuận cao. Aûnh hưởng này đang xẩy ra:
“Stock Markets across Asia have been boosted by hot money inflows from European and American Investors “ (Financial Times 23.11.2010, page 26)   
(Những Thị trường Chứng khoán khắp Á châu đã được phồng lên bằng việc chảy vào bằng tiền nóng do những nhà đầu tư Âu châu và Hoa kỳ).

Hậu quả của việc chảy vào này làm tăng Lạm phát. Cái hậu quả này đang làm cho Trung quốc nát cái đầu với những biện pháp cứu chữa tạm thời.  Lạm phát tăng vọt sẽ chuyển sang những xáo trộn Xã hội và Chính trị. Đối với Trung quốc, nếu Độc chiêu QE có thể làm cho Dân nghèo bạo loạn, thì đó cũng là việc làm phúc đức của Độc chiêu QE. Thay vì đòi hỏi Nhân quyền chỉ làm công việc kêu gọi suông, thì hãy làm cho Dân chúng bạo loạn lật đổ độc tài để dành lấy Dân chủ và thực hiện những quyền của con người đã bị độc tài cướp đoạt. Đây là việc thiện mà Độc chiêu QE phải tiếp tục đẩy mạnh làm sứ mạng của mình cho Dân nghèo bị bóc lột
* Khi đồng Đo-la hạ giá tràn vào, điều đó có nghĩa là làm cho tỷ giá đồng Yuan phải tăng đối với Đo-la. Đây là phương pháp bắt ép Trung quốc phải tăng tỷ giá đồng Yuan với hậu quả làm giảm xuất cảng. Như vậy Cán Cân Mậu dịch Hoa kỳ đối với Trung quốc cũng giảm thua lỗ. Không cần phải khuyên Trung quốc nữa, mà cứ tiếp tục tăng cường chưởng lực cho Độc chiêu QE. Cứ làm mà không cần nói nữa. TT.Obama đã cảnh cáo về việc Trung quốc và các nước Á châu lợi dụng Mãi lực Dân Hoa kỳ mà làm giầu riêng cho mình. Dùng Độc chiêu QE mà chặn đứng tính ích kỷ này của Trung quốc.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.11.2010
Web: http://VietTUDAN.net


 



GIÁ ĐO-LA CÒN HẠ TỚI MỨC NÀO ?
KHI NHÂN LÊN CƯỜNG ĐỘ ĐỘC CHIÊU QE2 $600 TỈ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 17.11.2010
Web: http://VietTUDAN.net


Cuộc Họp thường niên 8-9/10/2010 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF/FMI) tại Washington gồm 178 Đại diện Tài chánh các nước được giao trách nhiệm tìm giải quyết cho Chiến tranh Tiền tệ manh nha đã zừ lâu, nhưng hiện ra rõ từ tháng 9/2010 khi FED có ý định xử dụng QE (Quantitative Easing/ Planche à Billet/Rót Tiền mới vào Lưu hành). Tỷ giá Đo-la giảm xuống làm giao động Tiền tệ các nước khác theo chiều hướng tăng khiến Ngân hàng Trung ương các nước phải can thiệp để hạ tỷ giá nhằm giữ tính cạnh tranh Thương mại. Giới Ngân Hàng và Tài chánh  chờ đợi xem FED quyết định cho rót vào Lưu hành số lượng bao nhiêu Đo-la.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế không đủ thẩm quyền giải quyết Chiến tranh Tiền tệ này và đã dào lại nhiệm vụ cho cuộc Họp thượng đỉnh G20 tại Nam Hàn.

Ngày 22-23/10/2010, các Bộ trưởng Tài chánh và Thống đốc Ngân Hàng của G20 họp tại GYEONGJY (Nam Hàn) để tìm giải quyết sửa soạn cho quyết định của cuộc Họp thượng đỉnh G20 tại SEOUL vào những ngày 11-12/11/2010.

Tình hình trở thành rất căng thẳng vì mỗi nước tính toán những quyền lợi Kinh tế, Thương mại riêng rẽ cho mình. Sự căng thẳng càng trầm trọng hơn nữa khi Trung quốc tuyên bố  không thể tăng Tỷ giá đồng Yuan vì lo sợ thụt lùi Kinh tế tạo căng thẳng Xã hội và đưa đến nguy cơ cho Cơ chế Chính trị hiện hành.

Trong tình trạng căng thẳng như vậy, cuộc Họp G20 Gyeongjy đã cố tình đề nghị giải quyết “lạc đề“ là bàn về việc điều chỉnh Cán Cân Thăng bằng Mậu dịch Quốc tế. Chúng tôi gọi là “lạc đề“ vì lý do chính của Chiến tranh Tiền tệ là quyết định độc đoán và gian giảo của Trung quốc cố thủ giữ Tỷ giá đồng Yuan thấp để hỗ trợ bất chính cho Xuất cảng hàng hóa của mình.

Cuộc Họp thượng đỉnh G20 Seoul 11-12/11.2010 tiếp tục thảo luận việc “lạc đề“ cố tình này. Thậm chí TT.Obama còn ve vuốt Trung quốc là có thiện chí hứa tăng dần dần Tỷ giá đồng Yuan.

Kết quả Họp G20 đi về đâu ? Các nhà quan sát đồng loạt nói Họp Thượng đỉnh G20 Seoul không đi đến một giải pháp chung thiết thực giải quyết Chiến tranh Tiền tệ, mà chỉ căng miếng vải bọc lấy những sôi sục Tiền tệ để tránh phần nào sự bùng cháy chuyển sang Chiến Tranh Thương Mại.

Việc lạc đề này có thể là một chiến thuật đánh trống lảng của Mỹ bởi vì FED đã thực sự xuất Chưởng độc QE2 với $600 tỉ. Đây là độc chưởng đánh thẳng vào Chiến tranh Tiền tệ, không một chút gì nương rẹ.

Sức chưởng đang lan tràn. Khi viết về độc chiêu QE2, chúng tôi đã tránh nói về sự biến hóa tăng cường độ của FED qua giới hạn $600 tỉ.  Một số Chuyên viên Tài chánh quen với những biến hóa lượng tiền của FED cũng đã nhắc tới điểm này, nhưng khi viết, chúng tôi cố tình không động chạm tới. Ngay trong cuộc Phỏng vấn của Đài RFI thứ Sáu 12.11.2010, ngày kết thúc cuộc Họp thượng đỉnh Seoul, chúng tôi cũng mới giả thiết rằng nếu FED quyết định cho biến hóa QE2 với $600 tỉ, thì đồng Đo-la có thể còn hạ thấp hơn mức độ mà người ta ước tính cho việc rót vỏn vẹn số lượng $600 tỉ.


Chú thích giáo khoa về một vài ý niệm Tiền tệ

Khi viết và phổ biến loạt bài về Chiến tranh Tiền tệ và độc chiêu QE (Quantitative Easing), một số độc giả viết hỏi tôi về Tỷ giá, về Vàng, về Bretton Woods là gì mà lúc này người ta nhắc tới, về tương quan Cán Cân Thương mại với Tỷ giá đồng nội tệ. Chúng tôi xin phép các Vị thức giả về Tiền tệ cho phép tôi viết tóm lược một số ý niệm có tính cách giáo khoa về Tiền tệ.

* Tiền tệ có chức năng làm trung gian trao đổi hàng hóa.   

Đồng tiền của một nước – chính thức là Giấy Bạc đã được cho vào lưu hành – mang những tính chất căn yếu sau đây:

=> Tính khan hiếm (Rareté): không thể mọi người lượm Giấy Bạc như là lượm lá mùa thu rơi đầy trong rừng. Đồng tiền lượm được như lá mùa thu không còn giá trị nội tại nữa.

=> Tính dài hạn trong thời gian (Durabilité dans le temps): đồng tiền phải tồn tại lâu ngày, chứ không như rau cỏ để chừng một tuần bị héo úa vất đi. Tính cách lâu dài này cho phép người cầm đồng tiền tích trữ tài sản trong thời gian (stockage des valeurs dans le temps). Chính vì điểm này mà khi một đồng tiền quá thay đổi, người dân tìm đến vàng không thay đổi giá trị trong thời gian.

=> Tính phổ quát (Universalité): đồng tiền càng được quý chuộng khi nó mang tính cách phổ quát, nghĩa là nhiều người xử dụng nó. Tỷ dụ đồng Đo-la phổ quát hơn đồng Yuan vì có nhiều người nhận việc thanh toán thương mại bằng Đo-la, chứ chưa nhận đồng Yuan. Mang tiền Đồng Việt Nam đi mua hàng ở Thụy sĩ, người ta không nhận, trong khi đó người ta nhận tiền Euro. Việc nước khác chấp nhận một đồng tiền không phải là do sức mạnh quyền lực áp đặt mà do sự chấp nhân từ dân chúng. Thụy sĩ là một nước nhỏ, không có quyền lực như Trung quốc, nhưng đồng tiền Thụy sĩ có thể được chấp nhận tại bất cứ nước nào.

Trở lại chức năng của Tiền là làm trung gian trao đổi hàng hóa. Với chức năng này, khối tiền lưu hành không phải chỉ nguyên có những tờ Giấy Bạc phát hành do Ngân Hàng Trung ương, mà còn bao gồm tất cả những Văn Bản do Ngân Hàng tư nhân, do Bảo Hiểm phát hành có khả năng trao đổi hàng hóa. Những Văn Bản này lưu hành, tỉ như : PN (Promissory Note), Bảo Lãnh Ngân Hàng (Bank Guarantee/ Standby Letter of Credit), Bảo Hiểm Đời sống (Life Insurance) hoặc thế giới Credit Cards… Những phương tiện trao đổi hàng hóa này chỉ cần 20% Cash Deposit, thì người ta có thể phát hành Văn Bản thanh trả tới 100%. Đây là phương tiện thổi phồng khối Tiền tệ đang lưu hành và dễ đưa đến Lạm phát, chứ không cần rót thêm lượng tiền vào lưu hành. Chính vì điểm này, chúng tôi sẽ nói về những biến hóa nhân lượng độc chiêu QE $600 tỉ của FED.

* Tỷ giá Hối đoái

Giá đồng Tiền nội tệ được định giá một cách độc lập từ mỗi nước. Tùy Chế độ Bản vị Tiền tệ, mà đồng tiền mỗi nước định giá trị độc lập cho đồng tiền của mình. Nhưng khi đem đối chọi giữa hai đồng tiền, thì phải định giá trị của đồng tiền này đối với đồng tiền kia. Tỷ giá có nghĩa là so sánh (Tỷ) giá trị của một đồng tiền với giá trị của đồng tiền nước khác.

Trong Chế độ Bản vị Vàng (Régime Etalon-Or), nghĩa là đồng Tiền mỡi nước đước định giá độc lập tương đương với bao nhiêu cân lượng vàng. Khi so sánh hai cân lượng vàng, người ta biết Tỷ giá hai đồng Tiền. Trong chế độ Bản vị gián tiếp Đo-la—Vàng (Régime Etalon-Devise Dollar-Vàng), Tỷ giá hai đồng tiền được định theo số lượng Đo-la mà mỗi đồng nội tệ đã được quyết định một cách độc lập. Với Chế độ này, Tỷ giá giữa hai đồng nội tệ trở thành bấp bênh vì nó lệ thuộc vào lượng Đo-la lưu hành. Năm 1971, TT.NIXON đã hủy bỏ tính hóan chuyển Đo-la sang Vàng, vì vậy Tỷ giá các đồng tiền càng tùy thuộc vào Chính sách Tiền tệ của Hoa kỳ. Từ năm đó, đồng nội tệ mỗi nước được định theo khả năng tương đương hàng hóa. Hàng hóa dồi dào hay khan hiếm lại tùy thuộc tình trạng lên xuống Kinh tế của mỗi nước. Tỷ giá các đồng Tiền càng trở thành bấp bênh, trôi nổi (Flottant) 

* Bretton Woods là gì ?

Trong những tháng Chiến tranh Tiền tệ, xáo trộn Tỷ giá các đồng Tiền mới đây và nhất là giá Vàng tăng vọt, người ta nhắc nhiều đến Bretton Woods.

Bretton Woods là Hội nghị Quốc tế về Tiền bạc năm 1944. Đó là giao điểm chuyển tiếp từ Chế độ Bản vị Vàng (Régime Etalon-Or) sang Chế độ Bản Vị Đô-la—Vàng (Régime Etalon-Devise ($)-Vàng. Trong thời gian Thế Chiến thứ II, các nước Âu châu, trừ Thụy sĩ, mất hết Vàng để làm bảo chứng cho định nghĩa nội tệ. Hoa kỳ còn giữ được kho Vàng khổng lồ, nên mời cuộc Họp Bretton Woods năm 1944 để quyết định hai việc quan trọng:

=> Đồng Đo-la vẫn được định nghĩa giá trị trên Bản vị Vàng. Tiền của những nước không còn Vàng, thì định nghĩa nội tệ qua trung gian đồng Đo-la. Xin lưu ý là Hội nghị Bretton Woods không độc đoán bó buộc các nước phải chấp nhận Đo-la làm trung gian với Vàng. Họ có thể lấy đồng Swiss Franc làm trung gian vì Thụy sĩ còn vàng. Nhưng số lượng Vàng của Thụy sĩ không đủ cho khối lượng Tiền lưu hành phổ quát khắp Thế giới, nên các nước nhận đồng Đo-la làm trung gian với Vàng là Bản vị.

=> Thành lập Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF/FMI). Khởi đầu Quỹ Tiền tệ Quốc tế chỉ là một Quỹ tương trợ Tiền tệ (Entre-Aide monétaire), nghĩa là những nước yếu về Tiền tệ có thể nhờ Quỹ cho vay một số Tiền để hỗ trợ. Trong những năm trường, Hoa kỳ đã đóng góp vào Quỹ này tới 80%. Dần dần, Quỹ tăng Hội viên và tăng đóng góp của những nước khác.

Ngày nay, một số nước có ý định chống lại thống trị của đồng Đo-la và những trôi nổi bấp bênh của Tỷ giá, nên nhắc lại Bretton Woods 1944 nhằm lấy Vàng làm Bản vị cho vững, đồng thời muốn thiết lập một loại Tiền khác với Đo-la. Ý tưởng này được Trung quốc cổ võ với nhã ý chiều chuộng mơn trớn của TT.Sarkozy. Trước cuộc Họp G20 Séoul, Hồ Cẩm Đào sang Paris thăm và ký kết những Hợp đồng trị giá USD.16 tỉ với TT.Sarkozy. Phải chăng đây là một thứ hối lộ nhẹ nhàng. TT.Sarkozy là Chủ tịch của G20 bắt đầu sau cuộc Họp G20 Séoul.

Chúng tôi đã viết một bài về ĐỒNG ĐO-LA VẪN THỐNG TRỊ vì những lý do sau đây:

(i) Như trên chúng tôi đã nói về những cá tính của một đồng Tiền trong đó Tính Phổ Quát (Universalité) là quan trọng. Một quyền lực không thể ấn định tính Phổ quát, mà phải là do Dân chấp nhận hay không. Hiện nay Dân vẫn chấp nhận Đo-la 80% cho những thanh trả Thương mại Thế giới.

(ii) Nếu dùng Vàng làm Bản vị, thì ai có thể cung cấp lượng Vàng bằng Hoa kỳ. Vả lại không thể có lượng Vàng khổng lồ bao trùm mọi Lưu hành và Dự trữ Tiền tệ Thế giới. Chính TT.Nixon đã phải từ chối nhiệm vụ này từ năm 1971.

(iii) Một điểm bế tắc nữa là nếu lấy Bản vị là Vàng cho đồng Tiền, thì phải cấm Thị trường buôn bán Vàng. Thực vậy, định nghĩa đồng tiền trên bản vị vàng, thì không thể mỗi ngày mỗi định lại bản vị, nghĩa là bản vị mang tính cách cố định tối thiểu trong một thời gian, trong khi đó Thị trường buôn bán Vàng thì thay đổi như chong chóng mỗi ngày theo luật Cung—Cầu.

* Tương quan Cán Cân Thương Mại và Tỷ giá Hối đoái

Năm 1971, TT.Nixon tuyên bố không còn việc hoán chuyển đồng Đo-la sang Vàng nữa như cuộc Họp Bretton Woods 1944 quyết định Chế độ Bản Vị Đo-la – Vàng (Régime Etalon-Devise $-Vàng). Tại sao vậy ? Lý do là Pháp, với TT.De Gaulle, yêu cầu Mỹ phải chuyển Vàng đổi lấy khối Euro-Dollar mà Pháp đang giữ. Đồng thời khối A-rập, vì Chiến tranh với Do Thái mà Mỹ hỗ trợ, nên yêu cầu Mỹ phải chuyển Vàng đổi lấy Petro-Dollar họ giữ. Hoa kỳ không thể nào có đủ khối vàng để thỏa mãn yêu sách có tính cách Chính trị này, nên TT.Nixon tuyến bố chấm dứt hóan chuyển Đo-la sang Vàng.

Từ đó, Tỷ giá các đồng Tiền trôi nổi trong Chế độ Khả năng tương đương hàng hóa (Régime du Pouvoir d’Achat de la Monnaie).

Đồng tiền của của mỗi nước lên giá hay xuống giá tùy khối lượng hàng hóa tương đương bảo chứng. Tất nhiên trong Chế độ Tiền tệ này, thì giá trị nội tệ tùy thuộc Cán Cân Thương Mại thặng dư hay thiếu hụt và tùy thuộc Kho Dự trữ ngoại tệ (Đo-la chính yếu) nhiều hay ít. Các nước thi nhau dự trử ngoại tệ Đo-la làm bảo chứng cho giá trị đồng nội tệ.

Cán Cân Thương Mại của Đức thặng dư nên đồng Mark Đức tăng giá trị. Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ thường thiếu hụt, nhưng đồng Franc Thụy sĩ đứng vữ vì những người muốn cất giữ tiền bạc đã chuyển thẳng ngoại tệ vào Thụy sĩ để bù cho việc thiếu hụt Cán Cân Thương Mại.

Trước cuộc Họp Thượng đỉnh G20 Séoul, Bà Thủ tướng Đức Angela MERKEL đã thẳng thắn khẳng định rằng Tỷ giá đồng Yuan không thể thấp tới 40% đới với Đo-la vì những lý do sau đây:

=> Trung quốc có Cán Cân Thương Mại thặng dư đã nhiều năm nay

=> Trung quốc có kho dự trữ ngoại tệ (US.Dollar) khổng lồ tới USD.2’500 tỉ

=> Ngược lại, Hoa kỳ (đồng Đo-la) có Cán Cân Thương Mại thiếu hụt đối với chính Trung quốc.

Vì vậy Bà kết luận rằng việc Tỷ giá đồng Yuan thấp đối với Đo-la chỉ là độc đoán, chứ không theo luật tự điều chỉnh của Thị trường Hối đoái tương quan với Cán Cân Thương Mại và Khối Dự trữ ngoại tệ.


Quyết định xuất Độc chiêu QE2 với $600 tỉ

Nếu hai cuộc Họp G20 tại GYEONGJY và tại SEOUL chỉ nói lạc đề để làm giảm tình trạng căng thẳng của Chiến tranh Tiền tệ, thì  FED với tư cách độc lập về những biện pháp Tiền tệ đã lạnh lùng xuất độc thủ QE (Quantitative Easing) rót $600 tỉ vào lưu hành vì quyền lợi của Mỹ, mặc cho Trung quốc tiếp tục ương ngạnh cố chấp.

Với 9 Phiếu thuận trên 1, FED cho xuất chưởng Đo-la ngày 03.11.2010.

1) Hoàn cảnh xuất chiêu QE2

Hoa kỳ đang ở trong hoàn cảnh lo sợ một cuộc Khủng hoảng Kinh tế lớn. Có những chỉ số làm lo ngại Khủng hoảng Kinh tế như những năm 1930:

=> Phía Tiêu thụ có chiều Giảm giá (Déflation). Vào những năm 1930, Hoa kỳ gặp phải Đường xoắn Tụt giá không ngừng được (Spirale déflationniste). Khi Giảm giá như vậy, thì Sản xuất không bán được và các Công ty thải thợ. Tăng thất nghiệp có nghĩa là khả năng Tiêu thụ càng giảm để kéo theo Giảm giá nữa. Tình trạng này đã chứng kiến cảnh các xí nghiệp phải thiêu hủy hàng hóa. Nếu quý vị xem các Phim Charlot, thì thấy Charlot triền miên thất nghiệp vào những năm Khủng hoảng này. Nhìn về Phía Sản xuất, người ta thấy triệu chứng ngưng đầu tư hiện nay.

=> Thất nghiệp tăng gần 10%. Thất nghiệp không phải chỉ là vấn đề Xã hội, mà là vấn đề Kinh tế bởi vì nhiều người không có Lương, thì khả năng Tiêu thụ xuống. Mà nếu Tiêu thụ xuống, thì Sản xuất cũng theo đó mà giảm để càng đẩy phía Tiêu thụ giảm xuống nữa. Chính Tiêu thụ hướng dẫn kích thích Sản xuất.

=> Trong khi ấy Cán Cân Mậu Dịch thua lỗ trong tháng 9 vừa rồi tới USD.46 tỉ, nghĩa là Hoa kỳ không thể nhằm Mãi lực của các nước ngoài để tăng xuất cảng. Không những thế Trung quốc vẫn lưu manh, ương ngạnh giữ Tỷ giá đồng Yuan thấp đối với Đo-la để cho hàng hóa tràn vào Hoa kỳ nhằm moi những đồng xu cuối cùng của dân Hoa kỳ. Hoa kỳ yêu cầu Trung quốc tăng Mãi lực của khối người 1 tỉ 300 triệu của họ để Hoa kỳ có thể xuất cảng hàng hóa sang khối dân này. Nhưng Trung quốc không những không làm, mà còn tìm cách ngăn chặn hàng ngoại nhập vào. Tỉ dụ cụ thể là Trung quốc tăng thuế nhập cảng thịt gà đông lạnh của Mỹ lên tới 105%. Hoa kỳ cũng đã làm áp lực để Trung quốc tăng Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ, nhưng Trung quốc ương ngạnh đưa ra những lời hứa gian manh. Ts BERNANKE thấy rằng Hoa kỳ nắm 80% thanh khoản thương mại Thế giới, nên không cần phải áp lực hay năn nỉ Trung quốc về Tỷ giá đồng Yuan nữa, mà tự mình quyết định hạ giá Đo-la để tăng xuất cảng của Hoa kỳ, như vậy làm giảm việc mất thăng bằng Cán Cân Mậu Dịch.

Với hòan cảnh như trên, FED đưa ra để biện minh cho việc xuất chưởng QE2 của mình

2) Mục đích nhằm tới của QE2

Như trên đã nói, QE có nghĩa là in tiền mới ra và rót vào Khối lượng Tiền tệ đang lưu hành. Vào những năm 1930, KEYNES, Nhà Toán học kiêm Kinh tế gia, đã chủ trương những Công trình Xây dựng công lớn lao (Grands Travaux Publics) như xây cất những Công viên Quốc gia, Cầu cống , Đường sá, Dinh thự hành chánh, Đập nước. Những công trình này nhằm làm giảm số người thất nghiệp, đồng thời khi những người này có lương, thì Mãi lực Tiêu thụ tăng và đó đó các Công ty sản xuất bắt đầu tăng đầu tư. Như vậy mới có thể chặn đứng Đường xoáy Tụt giá được (Spirale déflationniste). Làm thế nào để có Tiền chi tiêu cho những Công trình lớn xây dựng ? KEYNES đề nghị Chính sách Tài chánh “Déficit Budgétaire“, nghĩa là Nhà nước vay nợ để tài trợ cho những Công trình. Nhưng ngày nay, nợ nần của Hoa kỳ đã chồng chất, không thể vay nợ nữa để chuyển món nợ ấy cho Thế hệ con cháu phải trả.

Ngân Hàng Trung ương thường dùng hai phương tiện để ảnh hưởng tới nền Kinh tế thực, đó là Lãi suất Chỉ đạo và Rót Tiền mới vào Kinh tế.

Về Lãi suất, thì Ts Ben BERNANKE đã xử dụng rồi. Lãi suất Chỉ đạo của Hoa kỳ hiện giờ đã xuống gần đến số không. Hạ Lãi suất chỉ đạo làm  cho giảm Tiết kiệm, nghĩa là cổ võ Tiêu thụ. Lãi suất cũng là cái Giá của vay vốn. Khi lãi suất hạ, thì các Công ty được cổ võ vay vốn đầu tư. Vì Lãi suất chỉ đạo Hoa kỳ đã xuống gần số không, nên Ts BERNANKE không thể hạ hơn nữa, nghĩa là không thể xử dụng Phương tiện Lãi suất để ảnh hưởng tới Kinh tế.

Chỉ còn Phương tiện thứ hai là Ngân Hàng Trung ương in tiền mới, rót vào lưu hành, nhằm những Mục đích sau đây:

=> Tăng phương tiện Tiêu thụ cho dân chúng, nghĩa là tăng Phía Cầu để Kích thích phía Sản xuất. Các Công ty có số lượng vốn lưu hành tăng lên, do đó dễ dàng tăng đầu tư.

=> Khi tăng Mãi lực Tiêu thụ cho dân chúng và tăng vốn Đầu tư cho các Công ty, thì Kinh tế trước hết không quản ngại việc Giảm giá (Déflation) hiện đang đe dọa, đồng thời làm xoay chiều Sản xuất theo hướng đi lên.

=> Khi Kinh tế tránh được hướng Giảm giá (Déflation) và chuyển Kinh tế theo hướng đi lên, thì việc rót thêm Tiền vào lưu hành này đạt được Mục đích tối quan trọng lúc này là làm giảm Thất nghiệp xuống.

=> Đứng về phương diện cán cân thương mại quốc tế, thì QE2 cũng có tác dụng lên Tỷ giá Hối đoái. Đồng Đo-la hạ giá xuống, nghĩa là Hoa kỳ dễ xuất cảng, đồng thời làm giảm hiệu lực của việc ương ngạnh gian manh giữ Tỷ giá đồng Yuan thấp đối với Đo-la. Đây là cách thế nhằm Cân bằng Cán Cân Mậu dịch quốc tế của Hoa kỳ.

3) Chương trình thực hiện chiêu QE2

Khi quyết định xuất chiêu QE2 ngày 03.11.2010 rồi, FED đưa ra chương trình thực hiện gồm những điểm sau đây:

=> Lượng Tiền mới Đo-la rót vào Lưu hành là USD.600 tỉ. FED không nói rõ sau lượng USD.600 tỉ, còn rót thêm lượng khác nữa hay không. Có lẽ việc tăng thêm lượng hay không còn tuỳ thuộc hiệu quả đạt những Mục đích trên đây như thế nào.

=> Số lượng USD.600 tỉ được xử dụng mua những Trái phiếu Ngân khố Nhà nước từ nay cho đến tháng 6/2011, với tốc độ mỗi tháng mua USD.75 tỉ Trái khoán.

=> FED canh chừng độ Lạm phát. Nếu Giảm giá (Déflation) nguy hiểm, thì Lạm phát (Inflation) cũng nguy hiểm không ít. Rót Tiền mới vào Lưu hành chắc chắn sẽ tạo Lạm phát. Nhưng FED lý luận rằng Kinh tế Mỹ hiện giờ đang sợ Giảm giá (Déflation), nên nếu có Tăng giá (Lạm phát), thì đó cũng là đối lực kìm hãm Giảm giá (Déflation). FED cũng cho thấy tình trạng Lạm phát hiện giờ còn khá nhỏ, nên không đáng ngại sợ về phương diện này cho lắm. Trước những lo ngại nguy hiểm Lạm phát mà Oâng Thomas HOENIG cũng như một số nhà Kinh tế lo ngại, FED tuyên bố đã có chương trình dự phòng điều chỉnh.

Với quyết định xuất chiêu QE2 này tung ra, FED không hề nhắc đến một câu than phiền cho sự ương ngạnh lưu manh của Trung quốc về Tỷ giá đồng Yuan. Trung quốc cũng không giám than rằng hạ giá Đo-la, tức là giảm nhẹ món nợ mà Hoa kỳ đang vay Trung quốc. FED cũng không có một câu về cuộc Họp thượng đỉnh G20 Séoul  ngày 12-13/11/2010 sắp tới này xem có đưa ra giải quyết cho Chiến Tranh Tiền Tệ hay không.

Không cần phải nhấn mạnh như lậy lục Trung quốc nữa, bởi vì FED giữ đàng chuôi của Khối Tiền Đo-la khổng lồ chiếm 80% những thanh toán Thương mại quốc tế. Làm chủ môn “Nhất Dương Chỉ“ QE (Quantative Easing) thì chỉ cần xuất chiêu khi đối phương cối chầy ương ngạnh. Đối phương ráng mà chịu.  Có tiền mà cho con nợ sức vóc mạnh khỏe vay (Quân đội mạnh nhất Thế giới), thì chủ nợ cũng mất ngủ lo lắng đêm ngày xem món nợ có bị mất hay không.

Tại cuộc Họp thượng đỉnh Séoul, vì sự quyết tâm lạnh lùng xuất độc chiêu QE này, mặc dầu TT.Obama, Bộ trưởng Geithner và những nguyên thủ G20 đánh lạc đề nhằm tránh căng thẳng chuyển Chiến tranh Tiền tệ sang Chiến tranh Thương Mại, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã họp riêng với TT.Obama để trở lại vấn đề ray rứt chính yếu là độc chiêu QE của FED. Thay vì công kích, mà có công kích thì Hoa kỳ vẫn đi tới, Hồ Cẩm Đào chỉ than thở về hâu quả của độc chiêu lên Kinh tế Trung quốc. Ông than thở:

=>     Giá hàng hóa lên cao và do đó những Đặt mua hàng Trung quốc bị giả
=>      Đặt mua hàng giảm thì các Công ty thải thợ, thất nghiệp tăng tại Trung quốc
=>      Thêm vào đó, một số Công ty nước ngoài thấy không có lợi nữa và sẽ chuyển sản xuất sang các nước khác có lợi hơn
=>      Đồng Yuan tăng vọt Tỷ giá, thì tình trạng Lạm phát cũng tăng làm Dân chúng bất bình.
=>      Lạm phát tăng làm Dân chúng bất bình. Thất nghiệ tăng làm công nhân bất bình. Cả hai sẽ dẫn đến xáo trộn Xã hội và Chính trị

Trước khi nghĩ thương hại đến Kinh tế Trung quốc, thì Hoa kỳ phải nghĩ đến tình trạng Thất nghiệp tại Mỹ, tình trạng thiếu hụt cán cân Thương Mại và mối đe dọa Tụt giá của những năm 1930. Ai thương hại cho nước Mỹ đây ? Hãy vì mình mà đẩy độc chiêu QE đến cùng.


Những ủng hộ cho độc chiêu QE của FED

Hai bài báo ngày 16.11.2010, bốn ngày sau cuộc Họp G20 Séoul, từ hai học giả nổi tiếng viết để biện minh cho quyết định của Giáo sư Tiến sĩ Ben BERNANKE.

Bài thứ nhất từ Tiến sĩ Martin WOLF với đầu đề POURQUOI LA FED A RAISON (Bản dịch ra tiếng Pháp bởi Gilles BERTON) (TẠI SAO FED CÓ LÝ) đăng trên Le Monde 16.11.2010, p.2). Tiến sĩ Martin WOLF đã từng là Tổng Giám đốc Wold Bank tại Ấn Độ. Hiện nay Tiến sĩ là Bình luận gia trưởng cho tờ Financial Times.

Bài thứ hai từ Giáo sư Tiến sĩ Alan S.BLINDER với đầu đề IN DEFENSE OF BEN BERNANKE (ĐỂ BÊNH VỰC CHO BEN BERNANKE) đăng trên tờ The Wall Street Journal 16.11.2010, p.17.  Ts Alan S.BLINDER là Giáo sư Kinh tế tại Đại học Princeton.

Tiến sĩ Martin WOLF, sau khi nhắc lại mục đích của QE là để thực hiện hai trách nhiệm được nước Mỹ trao phó cho FED: (i) Giải quyết 10% Thất nghiệp và (ii) Canh chứng tình trạng Lạm phát, đã công kích chính Bộ trưởng Tài chánh Đức đã chỉ trích Hoa kỳ là “Currency Manipulator” trong khi ấy Hoa kỳ nói Trung quốc là “Currency Manipulator”. Theo Ts Martin WOLF, thì Trung quốc đã ương ngạnh kéo dài tình trạng “Currency Manipulator” để phục vụ một cách bất chính cho xuất cảng. Vì thái độ ương ngạnh bất chính của Trung quốc mà FED phải quyết định QE để cứu nước của mình.

Về những công kích tại chính Hoa kỳ, Ts Martin WOLF tóm tắt gọn lại rằng đó là những người lo lắng cho rủi ro Lạm phát. Theo Tiến sĩ, thì việc Lạm phát còn có thể điều chỉnh, trong khi ấy hoa kỳ đang lo ngại tình trạng tuột giá (Déflation) làm tê liệt Kinh tế Mỹ như những năm 1930. Chính hướng lên giá (Inflation) là đối lực ghìm lại tụt giá (Déflation).

Tiến sĩ Martin WOLF cũng phản biện lại những than thở từ nước ngoài về việc hạ giá Đo-la sẽ làm thiệt hại những Dự trữ ngoại tệ (Đo-la) trên thế giới. Theo Tiến sĩ, Hoa kỳ không bao giời khuyên các nước khác thu dồn Dự trữ Đo-la, nhất là không yêu cầu Ngân Hàng Trung quốc phải dự trữ khối lượng Đo-la tới 2500 tỉ.

Ngược lại, với chủ trương khuyến cáo Trung quốc xử dụng thu nhập Đo-la, thay vì dự trữ, thì phân phối làm tăng Mãi lực nội địa cho Dân chúng. Như vậy, các nước khác mới có thể xuất cảng sang Trung quốc.

Biện pháp QE2 là bắt ép Trung quốc phải tăng Tỷ giá đồng Yuan và hướng Trung quốc về việc làm tăng Mãi lực cho dân chúng.

Giáo sư Tiến sĩ Alan S.BLINDER cũng cùng những lý luận như trên để bênh đỡ chính sách Tiền tệ QE2. Giáo sư không ngần ngại công kích Bộ trưởng Tài chánh Đức là người công kích với những lời nói thô lỗ:

“But calling QE2 “currency manipulation “ is a grotesque abuse of language…
“More important, the U.S. is a soverign nation with a right to its own monetary policy.” (The Wall Street Journal 16.11.2010, p.17)
(Gọi QE2 là “gian giảo xử dụng đồng tiên “ là một sự lạm dụng thô lỗ về ngôn ngữ…
(Quan trọng hơn nữa, Hoa kỳ là một Quốc gia có quyền tối thượng với quyền quyết định cho Chính sách Tiền tệ riêng của mình).


Khả năng của FED biến hóa độc chiêu QE2

Khối lượng tiền thả vào lưu hành có thể được nhân lên nhiều hơn gấp bội. Nói đến lưu hành là nói đến tốc độ chạy nhanh hay chậm. Lợi nhuận tăng cao hay thấp là tùy thuộc vào chu trình hoàn thành chu trình ngắn hay dài. Đồng lương trả cuối tháng có tốc độ chi dùng chậm hơn là cũng cùng một số lương ấy mà được chia ra trả mỗi tuần. Đó là tốc độ quay của đồng tiền (Vitesse de Rotation de la Monnaie).

Như trong phần đầu chú thích về phát hành Văn Bản thanh toán Thương mại từ những Ngân Hàng tư, các Ngân Hàng chỉ cần giữ 20 Cash Deposit, có thể phát hành phương tiện thanh toán thương mại tới 100%, nghĩa là chỉ cần 20 triệu giữ trong Ngân Hàng, phương tiện thanh toán thương mại được phát hành lên tới 100 triệu. Nếu Phương tiện thanh toán ấy được chiết khấu để có Cash Deposit, thì với Cash 20%, Ngân Hàng khác lại nhân lên 100%. Cứ tiếp nối như vậy mà một chuỗi Ngân Hàng nhân lên làm thổi phồng những phương tiện thanh toán thương mại.

Lợi nhuận từ một số vốn hạn định không tùy thuộc hẳn vào lãi suất cao hay thấp, mà còn tuỳ thuộc vào tốc độ quy nhanh hay chậm để làm cho số vốn cố định sinh lời.  Hãy lấy một tỉ dụ như sau:

Với số vốn 100 đồng và với lãi suất 10% hàng năm. Nếu tốc độ quay số vốn là một năm, thì cuối năm số vốn ấy thu vào lợi nhuận 10 đồng. Nhưng nếu người có vốn cho vay hàng tháng chỉ với lãi suất 2%, thì cuối năm người có vốn thu vào 24 đồng. Cho dù lãi suất chỉ có 1%, nhưng người cho vay tìm cách cho chu trình rút lại hàng tuần, thì cuối năm họ thu vào được: 12 tháng x 4 tuần x 1% = 48 đồng.

Khả năng tăng tốc độ quay của chu trình đồng tiền ngày nay được thực hiện rất mau mắn với tốc độ điện tử. Ơû thời kỳ dùng truyền thông bằng Telex, tốc độ quay chậm. Tiếp theo đó là Telefax làm chu trình mau hẳn lên. Ngày nay Telefax được thay bằng E-Mail, độ quay chu trình càng mau hơn.

Trong những thập niên gần đây, một số trong giới Tài chánh chuyên môn thường nghe đến những tiếng như Rollover Programs, rồi High Yield Investment Programs. Thực hư như thế nào, ít ai tuyên bố. Nhưng có một điều khi động chạm đến vấn đề này, người ta thường nói đến quyền của FED: nào là Fed Traders… Người ta nói đến FED như những người làm ảo thuật nhân Tiền.

Có những điểm chắc chắn, chứ không phải ảo thuật, mà chúng tôi có thể khẳng định về FED nhân Độc chiêu QE2 $600 tỉ tung ra:
=> Số tiền $600 rót vào lưu hành từ nay cho đến hết tháng 6/2011. 
=> Việc tăng tốc độ quay chu trình lưu hành tiền thuộc quyền quyết định của FED
=> Sau khi rót xong $600 tỉ, FED không nói là có rót thêm nữa hay không, nghĩa là việc tăng lượng tiền rót thêm có thể xẩy ra.
=> Nếu FED chỉ cần tăng tốc độ quay lên gấp đôi, thì lượng tiền $600 tỉ sẽ trở thành $1’200 tỉ.
=> Trên số tiền $600 tỉ này, FED có thể cho hệ thống Ngân Hàng thổi phồng lên những phương tiện thanh toán xử dụng cho các Công ty.

Không cần phải nói đến ảo thuật nhân tiền, mà chỉ cần nghĩ đến những khả năng có thực mà FED có thể xử dụng như vừa liệt kê trên đây, chúng ta cũng thấy những uyển chuyển nhân số lượng $600 lên gấp nhiều lần.  Việc xuống giá đồng Đo-la theo đó mà phỏng đoán.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 17.11.2010
Web: http://VietTUDAN.net

 


TẦU THAN PHIỀN MỸ CHƠI ĐÒN ĐỘC
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 08.11.2010
Web: http://VietTUDAN.net 
 

Mới đây, theo CNN, New York Times, Trung quốc than phiền về Đòn Độc QE2 (Quanttitative Easing) USD.600 Tỉ mà FED với Chủ tịch Ben BERNANKE quyết định tung ra ngày 03.11.2010.
 
Theo CNN, New York Times, Trung quốc than phiền như sau:
 
“Mỹ chơi đòn độc, Trung Quốc yêu cầu giải thích
 
Các chuyên gia có tiếng tại Trung Quốc vừa cho biết việc Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) quyết định tung 600 tỉ USD mua lại trái phiếu chính phủ Mỹ là một đòn độc với Trung Quốc.
 
Việc FED tung 600 tỉ USD mua lại trái phiếu được cho là một đòn độc với Trung Quốc.
 
Các chuyên gia có tiếng tại Trung Quốc đã nhận định rằng hành động trên sớm muộn sẽ khiến cho Trung Quốc vấp phải nhiều vấn đề nan giải.
 
Trước tiên, tỉ giá đồng nhân dân tệ (NDT) có khả năng tăng vượt tầm kiểm soát của Trung Quốc. Xu thế NDT tiếp tục tăng giá là khó có thể đảo ngược. NDT tăng giá là cản trở rất lớn đối với xuất khẩu của nước này.
 
Quyết định của FED cũng khiến cho việc thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô của Trung Quốc đang đứng trước nhiều thách thức to lớn.
 
Trước tình hình đó, Trung Quốc cho biết FED cần phải giải thích quyết định mua trái phiếu.”
 
Hiện nay, Độc Chiêu Đo-la đã tung ra, không thể thu hồi. Mỗi ngày Máy In Tiền in ra USD.18 Triệu. Máy In chạy ngày đêm và không thể ngưng.
 
Thái độ ương ngạnh và gian manh của Trung quốc về Tỷ giá đồng Yuan khiến Chủ tịch Ben BERNANKE phải xuất chiêu. Trung quốc hãy tự hỏi mình về tính ương ngạnh và gian kế giữ Tỷ giá đồng Yuan thấp sánh với Đo-la thủ lợi của mình.
 
Ngày 16.10.2010, chúng tôi viết bài
“FED ĐỘNG THỦ: ĐO-LA XUỐNG MẠNH “
 
Chúng tôi đã viết về “FED ĐỘNG THỦ: ĐO-LA XUỐNG MẠNH “ bởi vì Trung quốc ương ngạnh và gian giảo vẫn treo vào cổ Đo-la đồng tiền Yuan của mình  với Tỷ giá triền miên thấp nhằm hỗ trợ xuất cảng. Xuất cảng sang Mỹ nhiều làm Cán Cân Thương Mại của Mỹ thua lỗ USD.46 tỉ trong tháng 9 vừa rồi và do đó người Mỹ không có công ăn việc làm với 10% thất nghiệp.
  
Mỹ lại nợ Trung quốc rất nhiều bằng chính đồng Đo-la.
 
Kết luận bài ngắn ngày 16.10.2010, chúng tôi đã viết:  
“Hoa kỳ có lý để làm cú Đo-la vì Thế giới không bắt ép được Tầu tăng tỷ giá đồng Yuan. Đồng Đo-la xuống có nghĩa món nợ của Mỹ đối Tầu bằng Đo-la nhẹ gánh đi. FED có quyền phát hành Tiền tệ Đo-la của họ. Giới Tài chánh và Tiền tệ của Mỹ phần lớn là Do Thái. Những cáo già Tiền tệ và Tài chánh Do Thái này dám làm những cú Tiền tệ.”
  
Ngày 02.11.2010, chúng tôi viết bài
“FED XUẤT ĐỘC CHIÊU ĐO-LA“
 
Trong bài này, chúng tôi phân tích về việc trì hoãn của Ông GEITHNER trước những ương ngạnh và gian giảo quá đáng của Trung quốc về Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ. Chúng tôi trích một đoạn như sau:  
“Khuôn mặt của Oâng GEITHNER dài, trẻ trung và “bô trai “. Đã từ lâu Quốc Hội Mỹ đòi hỏi Oâng phải thêm vào Bản Phúc Trình cái tên cho Trung quốc là “CURRENCY MANIPULATOR”, nhưng Oâng vẫn lần hồi hoãn phúc trình đến lần thứ ba rồi.
 
Oâng Ben BERNANKE có khuôn mặt chữ điền, lại thêm bộ râu và là gốc Do Thái. Chắc Trung quốc sợ Giáo sư Ben BERNANKE hơn là sợ Bộ trưởng GEITHNER với bộ mặt bảnh trai văn chương thơ phú.
 
Oâng BERNANKE có tầm ảnh hưởng đến khối tiền khổng lồ Đo-la không những trong nội địa Hoa kỳ mà còn cả Thế giới. Trong Chiến Tranh Tiền Tệ hiện nay phát xuất từ ương ngạnh gian giảo của Trung quốc về Tiền tệ, phải để cho Oâng Ben BERNANKE hạ độc thủ bằng xuất độc chiêu Đo-la thì đúng lý hơn.”
  
Ngày 04.11.2010, chúng tôi viết bài
“FED XÚAT CHIÊU ĐO-LA NGÀY 03.11.2010”.
 
Chúng tôi xin trích một đoạn tóm tắt:
 
“=>   Lượng Tiền mới Đo-la rót vào Lưu hành là USD.600 tỉ. FED không nói rõ sau lượng USD.600 tỉ, còn rót thêm lượng khác nữa hay không. Có lẽ việc tăng thêm lượng hay không còn tuỳ thuộc hiệu quả đạt những Mục đích trên đây như thế nào.  

=>     Số lượng USD.600 tỉ được xử dụng mua những Trái phiếu Ngân khố
 
Không cần phải nhấn mạnh như lậy lục Trung quốc nữa, bởi vì FED giữ đàng chuôi của Khối Tiền Đo-la khổng lồ chiếm 80% những thanh toán Thương mại quốc tế. Làm chủ môn “Nhất Dương Chỉ“ QE (Quantative Easing) thì chỉ cần xuất chiêu khi đối phương cối chầy ương ngạnh. Đối phương ráng mà chịu.  Có tiền mà cho con nợ sức vóc mạnh khỏe vay (Quân đội mạnh nhất Thế giới), thì chủ nợ cũng mất ngủ lo lắng đêm ngày xem món nợ có bị mất hay không.”
 
Độc chiêu QE2 không phải chỉ vỏn vẹn có số lượng tiền mới USD.600 Tỉ rót vào lưu hành. Độc chiêu này còn có những biến hóa độc hơn nữa.
 
Không phải mới đây, theo CNN, New York Times, Trung quốc thắc mắc muốn chất vấn Giáo sư Tiến sĩ Ben BERNANKE. Ngày 01.11.2010, hai ngày trước khi FED chính thức tuyên bố xuất Độc Chiêu, Giáo sư Marie De VERGES đã viết:
 
“Hors des frontieres américaines, la Chine, premier créancier des Etats-Unis, dénonce une création monétaire “hors de contrôle “” (Le Monde 01.11.2010, page 12)
 
(Ngoài biên giới Mỹ, Trung quốc, chủ nợ hàng đầu của Hoa kỳ, tố cáo việc tạo tiền tệ “ngoài kiểm soát “”  

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 08.11.2010
Web: http://VietTUDAN.net 
 

 




ĐO-LA VẪN THỐNG TRỊ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
UNICODE: http://viettudan.net
Geneva, 25.02.2009


Trong thời thống trị của đồng Đo-la từ Hội Nghị Bretton Woods 1944 cho đến ngày nay, chúng ta đã thấy những lời đứng lên muốn cải cách hệ thống Tiền tệ. Ngòai Staline gọi hệ thống Tiền tệ là “Impérialisme du Dollar”, còn TT. Charles De GAULLE lên tiếng vì sợ tình trạng bếp bênh cho Euro-Dollar, còn khối A-rập xử dụng Pétro-Dollar làm áp lực với Hoa-kỳ để bênh đỡ Palestine.

Nhật báo LE MONDE ngày 10.11.2009, p.2, đã trích đăng lại lời công kích của TT.De GAULLE như sau:

“Ngày 4 tháng Hai năm 1965, Charles De GAULLE, Tổng thống Pháp, tuyên bố trong một cuộc họp rằng:”Nhiều quốc gia chấp nhận, theo nguyên tắc, đồng Đo-la như giá trị vàng để thanh tóan những chênh lệch trong Bảng Cân Bằng Thanh tóan Quốc tế. Đây là điều làm cho Hoa kỳ nhận nợ một cách như cho không đối với ngọai quốc vì chính Hoa kỳ phát hành phương tiện thanh trả cho chính mình. Nhìn những hậu quả có thể làm khủng hỏang, chúng tôi nghĩ rằng phải kịp thời tìm phương tiện ngăn chặn trường hợp như vậy. Chúng tôi nhận định rằng những giao dịch thương mại quốc tế cần phải được thiết lập trên một căn bản tiền tệ không có những nghi ngại và không mang dấu vết của một nước đặc biệt nào.”

Lời tuyên bố đã gây một “tiểu chiến tranh tiền tệ” giữa TT.De GAULLE và TT.Richard NIXON.

Chế độ BẢN VỊ—US$---VÀNG (Etalon—Devise US$--Vàng) vẫn được tiếp tục cho đến ngày nay (Xin đọc bài TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ đăng trong số này).


Những đòi hỏi mới của Trung quốc

Kinh tế Trung quốc đặt trọng tâm vào xuất cảng và đã xuất cảng thật nhiều để thu vào tồn trữ một khối Đo-la khổng lồ mà chúng ta có thể gọi là khối Sino-Dollar dưới hình thức cho Hoa-kỳ nhận nợ. Mỹ công khai nhận nợ, nhưng Trung quốc đã xậm xụi quyết định độc đóan về Tỷ giá hạ thấp đồng Yuan đối với Đo-la tới 50% nhằm phục vụ cho hàng xuất cảng của mình. Nhân cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế 2007/09, được cổ võ bởi TT.Nicolas SARKOZY và một số nước bắt đầu phát triển, Trung quốc đứng lên công kích hệ thống thanh trả Thương mại quốc tế lấy đồng US$ làm căn bản. Trung quốc lo lắng cho sự bấp bênh lên xuống của đồng US$ mà mình đang tích trữ một khối khổng lồ, nhất cho chính Hoa-kỳ nhận nợ. CNN ngày 17.02.2010 đã chạy hàng chữ trên Truyền Hình:”CHINA LOSING APPETITE FOR US DEBT !”.

Ngược lại, Hoa kỳ, ngay từ thời TT.BUSH, đã luôn luôn yêu cầu Trung quốc nâng giá đồng Yuan lên cho đúng với Tỷ giá của Thị trường. Nhưng Trung quốc vẫn cố chấp độc đóan quyết định Tỷ giá đồng Yuan thấp đối với Đo-la để giữ tính cạnh tranh xuất cảng của hàng hóa của mình. Trung quốc cũng bất chấp những than vãn về điểm này từ những nước khác cũng làm việc cho xuất cảng.

Trung quốc kêu gọi kiểm sóat chặt chẽ hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh quốc tế, nhưng ai cũng biết rằng không thể nào kiểm sóat Ngân Hàng/Tài chánh của chính Trung quốc độc đóan, được coi là “bí mật quân sự”. Trung quốc muốn kéo vây cánh nhằm thay thế đồng US$ bằng một Đơn Vị Tiền mới. Ngày 23.03.2009, Oâng Zhou XIAO-CHUAN, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã cho đăng lên mạng www.pbc.gov.cn lời tuyên bố như sau (theo bản dịch của Nhật báo LE MONDE ngày 10.11.2009, p.3) :

”L’objectif adéquat est donc de créer une monnaie de réserve internationale qui soit déconnectée de nation individuelle et se montre capable de rester stable sur le long terme. Comparée à la gestion séparée des réserves par chaque pays, la gestion centralisée d’une partie des réserves globales par une institution internationale de référence sera bien plus efficace pour contrer la spéculation et stabiliser les marchés financiers.” (Mục đích phù hợp là tạo ra một đồng Tiền dự trữ quốc tế tách rời ra khỏi một quốc gia riêng lẻ và có khả năng đứng bền vững trong trường kỳ. So sánh với việc quản trị riêng lẻ những dự trữ của từng quốc gia, việc quản trị tập trung những dự trữ tổng quát bởi một Tổ chức Quốc tế làm quy chiếu sẽ hữu hiệu hơn nhiều để chống lại đầu cơ và tạo bền vững cho những Thị trường Tài chánh).


Phản ứng Quốc tế thế nào đối với
việc Tuyên Chiến Tiền Tệ này

Như chúng tôi đã nhấn mạnh về tính cách PHỔ QUÁT (Universalité) cắt nghĩa trong bài mang tính cách giáo khoa TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ, Tiền tệ là một sự chấp nhận tự do và là tư hữu hòan tòan của mỗi cá nhân. Quyền lực Tiền tệ mang tính độc lập với quyết định Chính trị. Chúng tôi rất ngại ngùng xử dụng nhũng tiếng “Chiến Tranh Tiền Tệ” được tuyên bố bởi những người điều hành Chính trị. Không một cá nhân nào tư hữu Tiền bạc muốn để cho Nhà Nước “chiến tranh tiền tệ” để mình mất tiền. Một đồng tiền được chấp nhận hay không phải là do đồng thuận của từng cá nhân tư hữu.

Đồng Đo-la từ năm 1944 đến nay đã lan tràn khắp Thế giới đến nỗi một đứa con nít cũng biết nói:”One Dollar, please !” . Nó chưa biết nói: “One Yuan, please !”

Ký giả Cécile PRUDHOMME, dưới đầu đề :”Ni l’Euro ni Yuan ne parviendront, à moyen terme, à remplacer le Billet vert comme pivot du système financier international. UNE DOMINATION CONTESTÉE, MAIS PAS MENACÉE !” (Cho cả Euro, cả Yuan cũng chưa, trong trung hạn, thay thế Giấy bạc xanh đang làm mốc cho hệ thống Tài chánh quốc tế. MỘT SỰ THỐNG TRỊ BỊ PHẢN ĐỐI, NHƯNG KHÔNG BỊ ĐE DỌA !) (Le Monde 10.03.2009, p.2).

Ký giả đã trích ngay ra lời của TT.NIXON trả lời cho TT.De GAULLE: ”Le Dollar est notre monnaie, et votre problème !” (Đồng Đo-la là đồng tiền của chúng tôi, còn vấn đề là thuộc về các ông !”. Thực vậy, Hoa kỳ không hề dùng quân đội bắt ép người khác phải chấp nhận đồng Đo-la. Việc người khác chấp nhận Đo-la là việc đồng thuận tự do vậy.

Ký giả đưa ra những con số cho thấy tầm quan trọng của Đo-la đã ăn rễ sâu rộng hiện nay:”Theo điều tra của Ngân Hàng Thanh Tóan Quốc tế (BRI), đồng Đo-la đại diện 86.3% ở Thị trường Hối đóai, nơi trao đổi mỗi ngày USD.3’200 tỉ. 37% cho đồng Euro Liên Âu, 16.5% cho đồng Yen Nhật và 15% cho đồng Bảng Anh.”. Một sự hiện diện như vậy với cả một bộ máy tổ chức điều hành Hối đóai không thể một sớm một chiều thay thế.

Đối với Liên Aâu, mặc dầu Sarkozy hớn hở cổ võ cho đề nghị thay đổi, nhưng Oâng Jean-Claude TRICHET, Thống đốc Ngân Hàng Liên Aâu, ngày 8.10.2009, đã tuyên bố: ”Mon prédécesseur et moi-même avons toujours dit que nous ne faisions pas campagne pour une utilisation internationale de l’euro” (Vị tiền nhiệm và chính tôi đã luôn luôn nói rằng chúng tôi không cổ động cho việc xử dụng quốc tế cho đồng Euro).

Thái độ của Nhật cũng ủng hộ việc duy trì đồng Đo-la. Oâng Hiroshisa FUJII, Bộ trưởng Tài chánh Nhật, đã tuyên bố ngày 27.10.2009: “Le dollar demeurait une devise solide et il était de ce fait naturel que le billet vert reste pour le Japon une monnaie de réserve. Il est clair que le dollar est encore la plus forte monnaie du monde”. (Đồng Đo-la đã đứng như một đồng tiền chắc chắn và vì lẽ tất nhiên đó, tờ giấy bạc xanh còn đứng đối với nước Nhật làm đồng tiền dự trữ. Tỏ tường rằng đồng Đo-la còn là đồng tiền mạnh nhất Thế giới)

Trước thái độ còn tin tưởng và ủng hộ đồng Đo-la như vậy của Liên Aâu và của Nhật, Trung quốc tìm tòi những con đường khác để lấn dần đất của đồng Đo-la.


Tìm XÂM LĂNG ĐỒNG YUAN
đối với một số nước nghèo

Nhật báo Le Monde Economie ngày 23.02.2010, trang 1, cho đăng bài nói về việc Trung quốc mang đồng Yuan của mình đi tìm xâm lăng tại những nước nghèo.

Trung quốc đã tìm xâm lăng trong lãnh vực tiền tệ với những lý do nổi xùng thuộc lãnh vực Chính trị. Đây không hẳn là Chiến Tranh Tiền tệ, va chạm giữa hai đồng Tiền Yuan và Đo-la, thuần túy thuộc lãnh vực Tiền tệ. Nhật báo Le Monde nêu ra những lý do: ”La confrontation sino-américaine gagne en intensité. Ventes d’armes à Taiwan, visite du dalai-lama à Washington: l’administration Obama donne des gages de fermeté à l’égard de Pékin.” (Việc va chạm Tầu—Mỹ tăng độ mạnh. Bán vũ khí cho Đài Loan, cuộc viếng thăm của Đức Dalai-Lama tại Hoa Thịnh Đốn: Chính quyền Obama tỏ thái độ cứng rắn đối với Bắc Kinh). 

Trung quốc đã ký kết những Liên đối mậu dịch cho phép thanh khỏan thương mại bằng đồng Yuan như sau:

=> Những hiệp ước mậu dịch ký kết với Hong Kong, Hàn Quốc, Malaysia, Bêlarus, Indonesia và Argentina năm 2009 cho phép các nước này xử dụng đồng Yuan trong các vụ mua bán.

=> Đồng Yuan Trung Quốc được phép xử dụng ngoài nước: tại Lào, Việt Nam, Mông Cổ và Nga từ năm 2003.

=> Trong vòng 5 năm, các hợp đồng ký kết bằng đồng yuan đã tăng thêm và chiếm 30% khối trao đổi mậu dịch giữa Trung Quốc và ASEAN .

Trung quốc tìm những con đường nhỏ này để cạnh tranh đồng Yuan đối với đồng Đo-la tại một số nước nghèo. Nhưng thử hỏi một số người tư hữu tài sản có muốn giữ tài sản mình bằng đồng Yuan hay không ? Đồng Yuan là Tiền tệ của Trung quốc, được quyết định Tỷ gia một cách độc tài, dưới luật lệ Tiền bạc không có tự do cho chính những Sỡ hữu chủ tài sản. Chọn giữ đồng Yuan nguy hiểm hay chọn giữ đồng Đo-la trong khuôn khổ luật pháp triệt để tôn trọng tư hữu cá nhân ?

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.02.2010

 







xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
GIU LAI NHUNG BAI VE KINH TE DE CHUYEN SANG PHAN LUU TRU =========> 
****************************************************************************************************


                                                    TIỀN TỆ VÀ
                                    NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ

 
                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                             Geneva, 24.02.2010

 

Nội dung bài này mang tính cách giáo khoa: chúng tôi trình bầy những quan niệm về Tiền tệ và định vị trí, vai trò của nó trong mọi lãnh vực họat động Kinh tế. Ngân Hàng là trái tim, Tiền tệ là mạch máu cho sức khỏe Kinh tế.

Chúng ta cần những quan niệm giáo khoa rõ rệt để có chung một tiếng nói, một nhận định về những tranh chấp, thậm chí chiến tranh, giữa các đồng Tiền: đồng Đo-la Mỹ, đồng Euro, đồng Bảng Anh, đồng Yen Nhật, đồng Franc Thụy sĩ, đồng Yuan Trung quốc. Trong những Thế kỷ trước, đồng Florin Hòa Lan đã một thời nắm ưu thế; tiếp đến là đồng Bảng Anh lên kế vị; và từ Hội Nghị Tiền tệ Bretton Woods năm 1944, đồng Đo-la Mỹ tràn lan khắp Thế giới mà Staline gọi là “Impérialisme du Dollar” (Đế quốc Đo-la).

Trong suốt thời kỳ thống trị của Đo-la đến ngày nay, có nhiều những cuộc nổi dậy chống Đo-la. Aâu châu được tái thiết sau Thế Chiến II và phát triển Kinh tế, bán hàng hóa cho các cựu thuộc địa, thu tiền vào bằng Đo-la tích lũy tại Aâu châu thành khối Euro-Dollar. Các nước A-rập Trung đông bán dầu lửa và tích lũy Đo-la thành khối Petro-Dollar. Cuộc nổi dậy đầu tiên là từ TT.De GAULLE nhân danh Euro-Dollar khi Oâng muốn bắt tay với Nga. Cuộc nổi dậy thứ hai nhân danh Petro-Dollar từ những nước A-rập nhằm bênh đỡ cho Palestine.

Ngày nay, nhân cuộc Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh/Kinh tế 2007-90 bắt đầu từ Hoa kỳ, lan ra khắp Thế giới ở những nơi nào mang ảnh hưởng ưu thế của Đo-la, một số Quốc gia đặt lại vai trò thống trị của Đo-la.  Được sự cổ võ của TT.Sarkozy và một vài Quốc gia trong khối G20, Trung quốc lên tiếng mạnh nhất chống lại Đo-la.

Thực vậy, Trung quốc tích lũy khối Đo-la khổng lồ, có thể gọi là Sino-Dollar. Là chủ nợ bằng Đo-la đối với Hoa-kỳ, nhưng cứ nganh ngánh mất ăn mất ngủ khi mà đồng Đo-la chuyển biến lên xuống. Đồng tiền liền với khúc ruột mà ! CNN ngày 17.02.2010 chạy hàng chữ trên Đài “China losing appetite for US debt”. Các báo Le Monde ngày hôm sau 18.02.2010, p.12; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.32, cũng lên tiếng phụ họa về cảnh ăn không ngon, ngủ không yên này của Trung quốc. Trung quốc lên tiếng đòi hỏi lần lượt những vấn đề sau đây:

*        Kiểm sóat chặt chẽ hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh mà đồng Đô-la giữ ưu thế

*        Thay thế đồng Đo-la bằng một Đơn vị Tiền tệ chung nào đó trong khuôn khổ IMF

*        Hiện nay, Trung quốc dùng Thương mại để bành trướng đồng YUAN xâm lăng ra nước ngòai (Xin đọc bài Quan Điểm đăng trong số VietTUDAN 436/25.02.2010).

Những vấn đề Tranh chấp, thậm chí Chiến tranh, về Tiền tệ trên đây khiến chúng tôi thấy cần viết những quan niệm giáo khoa về Tiền tệ nói chung để chúng ta có cùng một tiếng nói khi nhận định về các Tranh chấp.

Chúng tôi xin trình bầy lần lượt những điểm:

=>     Phát minh và chuyển biến của Tiền tệ
=>     Những Chế độ Tiền tệ và định Tỷ giá
=>     Những Thị trường liên quan đến Tiền tệ
=>     Cán cân Thương mại và đồng Tiền mạnh
=>     Làm thế nào Tiền đẻ ra Tiền
 

Phát minh và chuyển biến của Tiền tệ

Không ai nhai nuốt đồng 100 Đo-la để khỏi đói, mà dùng đồng 100 Đô mua đồ ăn để ăn thì bụng mới không đói được. Như vậy đồng tiền chỉ là thứ yếu, là phương tiện để mua hàng hóa phục vụ cho những nhu cầu của con người. Hàng hóa thực của sản xuất Kinh tế là chính yếu, còn đồng tiền là phụ. Chính vì vậy, đồng tiền được định nghĩa là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises) hay “Phương tiện chuyên chở trao đổi hàng hóa” (Moyen de véhiculer les échanges des marchandises).

Xem những câu định nghĩa như vậy, thì chính việc phát triển trao đổi hàng hóa (Thương mại) đòi hỏi việc phát minh ra Tiền tệ và sự Chuyển biến của Tiền tệ cho phù hợp với đà phát triển Thương mại nội địa hay quốc tế. Phát minh và Chuyển biến Tiền tệ qua những giai đọan như sau:

1)      Trao đổi hiện vật (Echange de Troc)

Trao đổi hiện vật, nghĩa là hàng hóa trao đổi lấy hàng hóa. Một người có dư  5 con gà, nhưng lại muốn có cái ghế để ngồi. Họ mang 5 con gà để đổi lấy cái ghế. Nhưng một người khác chỉ có dư 4 con gà, mà lại muốn cái ghế. Việc trao đổi gà lấy ghế trở thành bế tắc. Chẳng lẽ chặt cái ghế ra làm 5 phần và họ chỉ lấy 4 phần của cái ghế.

Cái bế tắc đầu tiên cho trao đổi hiện vật là việc phân chia hàng hóa thành những thành phần nhỏ. Chính cái bế tắc thương mại này đã đòi hỏi phải phát minh ra một phương tiện có thể phân chia ra càng nhỏ càng hay. “La DIVISIBILITE pousse le Commerce à inventer la Monnaie” (Tính cách khả phân đẩy Thương mại đến phát minh Tiền tệ).

2)      Tiền-Hàng hóa (Monnaie-Marchandise)

Ý tưởng đầu tiên là chọn một lọai hàng hóa mang tính cách khả phân tốt nhất. Một số bộ lạc Phi châu đã chọn Răng Sư tử làm đơn vị trao đổi các hàng hóa khác. Tại Á châu, dân chúng chọn Đấu Gạo làm Đơn Vị trị giá việc trao đổi hàng hóa. Xem việc chọn lựa này, vì tính cách khả phân, Tiền tệ còn mang tính Khan hiếm (Rareté) và tính Phổ quát ( Universalité). Thực vậy, Răng Sư Tử không phải là dễ kiếm, do đó Tiền mới qúy. Nếu chọn những viên sỏi làm Tiền, thì ai cũng kiếm được. Cũng vậy, chọn Đấu Gạo làm Tiền trung gian Thương mại, đó là nhấn mạnh tính Phổ quát (Universalité) của hàng hóa lựa chọn. Ở Á châu, Gạo là phổ quát nhất, ai cũng chấp nhận.

Tóm lại, một đồng Tiền phải mang tính Khả phân (Divisibilité) để dễ dàng làm trung gian trao đổi; một đồng Tiền phải mang tính Khan hiếm (Rareté) để tự nó mang một giá trị; một đồng tiền phải mang tính Phổ quát (Universalité) nghĩa là mọi người cùng công nhận.

3)      Tiền Kim lọai (Monnaie Métallique)

Hàng hóa mỗi ngày mỗi nhiều. Những tác nhân Kinh tế mỗi ngày mỗi giầu có thêm và người ta nghĩ đến Tiết kiệm, tích lũy hàng hóa cho tuổi già hay cho con cháu sau này. Tiền bạc trở thành một phương tiện tích lũy tài sản. Nếu chọn Tiền bạc bằng một hàng hóa nào đó, thì hàng hóa dễ trở thành hư hỏng, mất giá trị trong thời gian. Đây là tính cách thứ tư mà người ta đòi hỏi Tiền tệ phải có, đó là tính Kéo dài (Durabilité) trong thời gian. Không ai muốn tiết kiệm tiền bạc mà trong thời gian bị hư hỏng, mất giá. Tính cách Kéo dài (Durabilité) này đã thúc đẩy việc lựa chọn Kim lọai làm Tiền tệ. Đầu tiên là chọn Sắt, nhưng Sắt dễ bị rỉ. Người ta chọn Đồng khó bị rỉ hơn. Nhưng Đồng dễ kiếm, phạm vào tính Hiếm có (Rareté). Người ta chọn Bạc vừa khó bị hư hỏng vừa hiếm có hơn Đồng. Cuối cùng VÀNG được chọn lựa như Tiền tệ Kim lọai chót. Thực vậy, Tiền Vàng mang đủ 4 tính chất : Khả phân (Divisibilité) thành cân lượng thật nhỏ; Hiếm có (Rareté) nên tự nó có giá trị nội tại (Valeur en soi); Phổ quát (Universalité) vì cả Thế giới, ai cũng chấp nhận vàng; Kéo dài (Durabilité) vì vàng không bị rỉ.

Hiện nay, giữa các đồng Tiền, VÀNG vẫn là nơi ẩn náu (Refuge) khi các Tiền tệ bị giao động.

4)      Tiền Giấy

Những bế tắc Thương mại đã thúc đẩy phát minh Tiền tệ. Ở thời kỳ Thương mại hiện vật (Commerce de Troc), tính cách bất khả phân hàng hóa khiến người ta phát minh ra Tiền tệ trung gian mang tính khả phân tối đa.

Ở thời kỳ phát triển Thương mại Quốc tế từ Trung Cổ Aâu châu, một bế tắc nữa khiến người ta phải phát minh ra Tiền Giấy. Thực vậy, Trung Cổ Aâu châu là thời kỳ phân chia đất đai cho các Lãnh chúa. Mỗi vùng nhỏ có một Lâu đài Lãnh chúa quy tụ dân chúng chung quanh thành những Thành phố. Mỗi vùng tổ chức những Chợ Phiên của Thành phố để trao đổi hàng hóa, tỉ dụ Chợ Phiên Bruxelles, Chợ Phiên Milano, Chợ Phiên Munich... Thương gia từ Thành phố Milano muốn mua hàng hóa ở Chợ Phiên Bruxelles. Mua hàng, phải trả Tiền. Nhưng nếu Tiền tệ là Kim lọai, Vàng chẳng hạn, thì phải chở Vàng từ Milano đến Bruxelles để trả. Chở Vàng từ Milano đi Bruxelles, vượt qua rặng núi Alpes, thì sợ ăn cướp, không có an ninh giữa một thời giặc giã của các Lãnh Chúa.

Cái bế tắc của thời kỳ phát triển Thương mại quốc tế này là An ninh (Sécurité) cho Tiền bạc khi mang Tiền đi xa để mua hàng. Việc phát minh qua những giai đọan như sau:

=>     Chứng minh thư ký thác (Certificat de Dépôt)

Vàng không được chở đi, mà chỉ được ký thác tại một Nhà Ký Thác (Maison de Dépôt). Nhận và giữ vàng của Thương gia, Cơ sở Ký thác cho Thương gia một Tờ Giấy chứng minh số vàng ký thác. Thương gia từ Milano chỉ cần mang Tờ Giấy Chứng Minh Ký thác sang Bruxelles, đế trình Chứng Minh thư tại một Cơ sở Ký thác khác tại đây để đổi thành vàng mà mua hàng. Như vậy khi chỉ mang một Tờ Giấy Chứng Minh Thư Ký thác từ Milano sang Bruxelles, Thương gia có An ninh (Sécurité) hơn là chuyên chở qua rặng núi Alpes trùng điệp cả một lượng vàng nặng chĩu.

Chứng Minh Thư Ký Thác (Certificat de Dépôt) là hình thức đầu tiên của Tiền Giấy ngày nay. Những Cở Sở Ký Thác (Maison de Dépôt) trở thành những Ngân Hàng ngày nay.

Xin chú thích thêm rằng trên Tờ Chứng Minh Thư Ký thác, luôn luôn có hai Chữ Ký. Qúy vị lưu ý rằng trên các Tờ Giấy Bạc hiện nay vẫn giữ hai Chữ Ký. Các Giấy tờ Ngân Hàng đụng chạm đến Tiền bạc phải có hai Chữ Ký. Vấn đề đặt ra là làm thế nào Cơ Sở Ký Thác tại Bruxelles nhận ra Tờ Chứng Minh Thư Ký thác là thật hay giả.  Ở thời kỳ này, vấn đề kiểm chứng (Vérification) bằng truyền thông chưa có. Việc kiểm chứng ở thời kỳ này đặt trên cơ sở liên hệ Gia đình với những bí mật giao hẹn trước với nhau trong Gia đình. Đây là điểm cắt nghĩa tại sao ngành Ngân Hàng được bành trướng phần lớn giữa những người Do-thái. Thực vậy, những liên hệ Gia đình Do-thái ở khắp Aâu châu và họ phát triển những Cơ sở quản trị Tiền tệ.

=>     Tiền Giấy phát hành từ Ngân Hàng Trung Ương
         (Billet de Banque émis par la Banque Centrale)

Có hai biến cố dẫn đến việc phát hành Tiền Giấy duy nhất của Ngân Hàng Trung ương hay Ngân Hàng Quốc gia, Ngân Hàng Phát Hành (Banque Centrale, Banque Nationale, Banque d’Emission). Biến cố thứ nhất là các Lãnh chúa bị dẹp và thành lập những Quốc gia rộng lớn. Biến cố thứ hai là các Chứng Minh Ký Thác trở thành nhiều và phức tạp, hầu như chỉ dành cho những Thương gia chuyên biệt, trong khi dó đại da số Dân chúng cần phương tiện Tiền tệ mua bán.

Hai biến cố trên đây khiến các Quốc gia thành lập MỘT Ngân Hàng Trung ương để in ra MỘT lọai Chứng Minh Ký Thác, TIỀN GIẤY duy nhất cho Quốc gia, để dân chúng nhận biết và xử dụng làm Phương tiện trao đổi hàng hóa.

Ngân Hàng Trung ương hay Ngân Hàng Quốc gia được giao hai nhiệm vụ chính yếu:

*        Phát hành Tiền tệ (Emission des Billets de Banque)
*        Điều hành khối tiền cho vào phát triển Kinh tế/ Thương mại cho phù hợp (Gestion adéquate de la Masse monétaire mise en circulation dans  l’Economie et le Commerce).

Hai nhiệm vụ này được thực hiện theo đòi hỏi Kinh tế/Thương mại của Dân chúng có tính cách lâu dài, chứ không tùy thuộc những quyết định nhất thời mang mầu sác Chính trị của Nhà Nước cai trị. Ơû khía cạnh này, chúng ta có thể nói Quyền lực Tiền tệ mang tính cách độc lập với Quyền lực Chính trị (L’autorité monétaire est indépendante du pouvoir politique).

5)      Phát hành Tiền tệ Tư nhân (Emission monétaire privée)

Theo như định nghĩa lúc ban đầu về Tiền tệ, đồng tiền được định nghĩa là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises) hay “Phương tiện chuyên chở trao đổi hàng hóa” (Moyen de véhiculer les échanges des marchandises). Như vậy, tất cả mọi Phương tiện ngòai TIỀN MẶT (Tiền Giấy phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương) có thể được xử dụng để mua bán hàng hóa đều có thể được gọi là Tiền tệ.

Tính cách Phổ quát (Universalité) của tờ Giấy Bạc phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương làm mất An ninh (Sécurité). Thực vậy, cầm một xấp Giấy Bạc 100 Đô ra phất phơ khoe khoang trước các Cô trong Bar, có thể bị giết khi ra khỏi Bar như chơi. Cái lý do là thằng ăn cướp, cô bán Bar hay mình có thể xử dụng những tờ Giấy Bạc 100 Đô như nhau. Chúng ta mất An ninh khi cầm tờ Giấy Bạc. Vì vậy, mọi người muốn Ký thác những tờ Giấy Bạc ấy tại Ngân Hàng tư để chỉ lấy những Chứng Minh Thư Ký thác (giống như Ký thác Vàng trước đây) để có những Carnet de Chèques, Credit Cards, Promissory Notes, Stanby Letter of Credit, Bank Guarantees... mà mua bán hàng hóa.

Đây là việc phát hành Tiền tệ của lãnh vực Tư nhân. Việc phát hành này không những chỉ dựa trên TIỀN MẶT hiện có và ký thác, mà còn bao trùm cả tiền bạc khả thể (Monnaie virtuelle) ước mong nhận được trong lai.  Lãnh vực tương lai này đã tạo thành Kỹ Nghệ Tài chánh của giới nắm giữ Tiền tệ. Nhưng tương lai giống như bài hát “Que sera sera” bấp bênh. Giới phát hành Tiền tệ tương lai đã tạo nên những Khủng hỏang. 


Những Chế độ Tiền tệ và định Tỷ giá

Đại thể, Tiền tệ đã trải qua những Chế độ (Régimes Monétaires) quy định mà mục đích là làm cho những người giữ Tiền có một sự chắc chắn nào đó về tài sản tiết kiệm của mình. Làm thế nào mà những người tiết kiệm dưới hình thức Tiền tệ có thể thấy tài sản của mình ít bị mất?

Chúng tôi trình bầy ba chế độ sau đây cho đến nay:

1)      Chế độ BẢN VỊ VÀNG (Etalon-Or)

Mỗi quốc gia, hòan tòan độc lập, định giá Tiền tệ riêng của mình dựa trên Cân lượng Vàng tương đương cho Đơn vị Tiền. Tỉ dụ một Quan Thụy sĩ, CHF.1 = 0.020gr Or fin; một Đo-la Mỹ, USD.1 = 0.040gr Or fin.

Tất cả những Quốc gia định giá trị Tiền bạc của mình dựa trên cân lượng vàng thuộc về Chế độ Bản Vị Vàng.

Trong cùng một Chế độ như vậy, các nước mới có thể định Tỷ giá Tiền tệ giữa hai nước. Theo tỉ dụ trên đây, thì hối suất giữa đồng Đo-la Mỹ và Quan Thụy sĩ sẽ là:

Tỷ giá Đo-la Mỹ/Quan Thụy sĩ:  

                     0.040 gr Or fin
USD.1.-   =     -------------------    =    CHF.2.-
                     0.020 gr Or fin                      

 
Trong Chế độ Bản Vị Vàng, Tỷ giá Tiền tệ mang tính cách khách quan và khó lòng thay đổi vì dựa trên cân lượng vàng không thay đổi trừ khi một quốc gia tự ý định lại cân lượng vàng cho đồng Tiền của mình. Trong Chế độ này, người ta cấm luôn Thị trường Vàng song hành với Tiền tệ. Người giữ Tiền bạc chắc chắn về giá trị đổng tiền bởi lẽ có sự hóan chuyển (Convertibilité) Tiền thành Vàng.

2)      Chế độ BẢN VỊ-TIỀN TRUNG GIAN-VÀNG
         (Etalon-Devise-Or)

Chế độ trên đây kéo dài khá lâu. Nhưng Thế Chiến II đã buộc phải thay đổi Chế độ Tiền tệ. Thực vậy, Thế Chiến II đã làm các nước Aâu-châu mất hết Vàng để bảo đảm cho việc định giá trị Tiền bạc của mình. Chỉ có đồng Đo-la Mỹ và đồng Quan Thụy sĩ còn đủ vàng bảo chứng cho Tiền tệ của mình.

Những đồng Quan Pháp, Mark Đức, Lire Ý... hòan tòan mất giá.

Trước tình trạng này, Hoa kỳ kêu gọi Hội Nghị Bretton Woods về Tiền tệ năm 1944 để định lại giá trị về Tiền tệ. Hội Nghị quyết định ba điều:

1)      Chế độ Tiền tệ vẫn lấy cân lượng Vàng làm gốc   

2)      Lấy một đồng Tiền trung gian còn Vàng bảo đảm giá trị. Đồng Đo-la Mỹ được chọn

3)      Thiết lập Qũy Hỗ Trợ Tiền bạc, đó là IMF hiện nay

Theo quyết định của Hội Nghị, thì Tiền mỗi nước được định theo giá trị đồng Đo-la Mỹ để rồi qua đó mới có hóan chuyển sang cân lượng vàng.

Tỉ dụ một Quan Pháp được định giá trị là USD.20 cents; một Quan Thụy sĩ được định giá trị là USD.80 cents.

Từ đó, Tỷ giá giữa đồng Quan Pháp và đồng Quan Thụy sĩ được định như sau:

Tỷ giá Quan Thụy sĩ/ Quan Pháp:  

                    USD.80 cents
CHF.1.-   =     -----------------    =   FF.4.-
                    USD.20 cents

 
Như vậy, Tỷ giá Tiền tệ giữa các nước vẫn không bấp bênh vì định nghĩa đồng Đo-la vẫn dựa trên cân lượng vàng. Nhưng tính hóan chuyển gián tiếp sang vàng thay đổi nếu Hoa kỳ thay đổi định giá cân lượng vàng cho đồng Tiền của mình. Thế giới bắt đầu cảm thấy một sự lệ thuộc vào quyết định giá trị của đồng Đo-la. Nếu Hoa kỳ tự ý tái quyết định cân lượng vàng cho đồng Đo-la, thì Thế giới phải tuân theo khi muốn hóan chuyển Tiền của mình thành vàng.

Chính vì cảm thấy sự lệ thuộc này, mà Staline đã gọi đây là “Impérialisme du Dollar” (Đế quốc Đo-la), mà TT. De GAULLE đã phản đối nhân danh Euro-Dollar, mà các nước giữ Pétro-Dollar lên tiếng.

3)      Chế độ BẢN VỊ KHẢ NĂNG MUA HÀNG
         (Régime du Pouvoir d’Achat)

Mặc dầu vàng vẫn được dùng dưới hình thức Lingot để bảo đảm Tiền tệ, nhưng Dân chúng xa vời với vấn đề định giá tương đương vàng cho Đơn vị Tiền tệ của mỗi nước. Điều thiết thân hơn hết của Dân chúng là tương đương hàng hóa mà họ có thể mua được với một Đơn vị Tiền tệ mà họ đang giữ.

Trên thực tế, Dân chúng chấp nhận một Chế độ Tiền tệ được dịnh nghĩa dựa trên Khả năng hóan chuyển sang hàng hóa mà họ xử dụng hàng ngay.

Tỉ dụ tại Mỹ, USD.1.- có thể mua được 600gr khoai tây và tại Thụy sĩ CHF.1.- có thể mua được 400gr khoai tây.

Tỷ giá giữa Đo-la Mỹ và Quan Thụy sĩ:  

                    600gr khoai tây
USD.1.-  =      --------------------   =   CHF.1.50
                     400gr khoai tây

 
Đây là Tỷ giá thực tiễn nhất mà người Dân chấp nhận cho đời sống của họ. Nhưng Tỷ giá này lại không mang tính cách cố định như dựa trên so sánh cân lượng vàng hàm chứa trong định nghĩa Tiền tệ của mỗi nước. Tỷ giá dựa trên khả năng đổi lấy hàng hóa thay đổi không lường vì tình trạng sản xuất Kinh tế mỗi nước có những thay đổi theo mùa, theo năm. Khả năng phát triển Kinh tế đều đặn của một nước là nền tảng bảo đảm cho giá trị vững bền của đồng Tiền của nước đó.

Với Chế độ Bản Vị Khả năng Mua hàng (Régime du Pouvoir d’Achat) tình trạng Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế hiện nay đã làm cho các nước lo lắng vì giữ quá nhiều Dự trữ Tiền tệ bằng Đo-la. Trung quốc giữ khối Đo-la khổng lồ, ăn không ngon, ngủ không yên là phải.

Trên đây, chúng tôi lấy tỉ dụ một mặt hàng là khoai tây. Trong tính tóan tổng quát cho Quốc gia, người ta kể mọi mặt hàng tiêu thụ tính thành một Chỉ số Tổng quát được tóm gọn trong Công thức sau đây của FISHER:

    M.V
  -----------    =    P
      T

M : Khối Tiền tệ cho vào nền Kinh tế; V: Tốc độ lưu hành Tiền tệ; T: Sản xuất/ Thương mại hàng hóa trong một thời kỳ nhất định; P: Mức độ Tổng quát những Giá cả (Niveau Général des Prix). Chính dựa trên thay đổi của P mà người ta nói đến Lạm phát mà lý do có thể là tăng Khối Tiền lưu hành hay là giảm Khả năng Sản xuất/Thương mại mà những Cơ quan trách nhiệm điều hành Khối Tiền chưa có những biện pháp điều chỉnh kịp thời.

Cũng ở trong Chế độ Bản Vị Khả năng Mua hàng này mà một số Quốc gia, nhất là những Nhà Nước độc tài, khi gặp thiếu hụt Ngân sách, dễ dàng in Tiền mới cho vào Khối Tiền M để làm Lạm phát hòan tòan có tính cách Tiền tệ. Đây là một tội ác đối với Dân chúng đang tích giữ Tiền bạc có khả năng mua hàng thực sự. Đồng Tiền mới in ra chưa được chuyển qua hệ thống sản xuất Kinh tế để có tương đương hàng hóa. Nhà Nước độc tài tung đồng Tiền mới ra để tiêu dùng lẫn lộn với đồng Tiền cũ đã có khả năng tương đương hàng hóa. Đây là việc làm mất giá cho đồng Tiền cũ.

Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết: “L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy).

 
Những Thị trường liên quan đến Tiền tệ

Chúng tôi muốn phân biệt bốn Thị trường sau đây rất gần nhau, cùng khởi nguồn từ đồng Tiền: Thị trường Tiền tệ, Thị trường Tài chánh (Vốn), Thị trường Chứng khóan, Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng. Mỗi Thị trường nhằm thu Lợi nhuận từ những phương diện khác nhau.

=>     Thị trường Tiền tệ

Nói đến Thị trường là nói đến hai phía Cung và Cầu. Thị trường Tiền tệ có phía Cung một đồng Tiền để bán và phía Cầu cùng đồng Tiền ấy để mua. Nếu phía Cung đồng Tiền nhiều hơn, thì đồng Tiền ấy giảm giá trị, nghĩa là dùng một đồng Tiền khác để mua, thì mua được lượng nhiều hơn (Valeur nominale). Cũng vậy, nếu trên Thị trường có nhiều người Cầu, thì đồng Tiền trở thành mắc giá và khi dùng đồng Tiền khác để mua, thì lượng mua được sẽ ít hơn. Đây là vấn đề chênh lệc Tỷ giá do Cung và Cầu.

Nếu Thị trường hòan tòan tự do thay đổi theo Cung, Cầu, thì lượng Tiền trao đổi sẽ làm cân bằng Tỷ giá. Nhưng nếu Tỷ giá có sự can thiệp cứng nhắc của một quyền lực ngọai tại, thì Thị trường Tiền tệ sẽ có hai giá: Giá chính thức bó buộc và Giá chợ đen lén lút. Đây là trường hợp Thị trường Tiền tệ tại Trung quốc và tại Việt Nam giữa đồng Đo-la và đồng Tiền của mỗi Quốc gia.

=>     Thị trường Tài chánh (Vốn)

Nếu Thị trường Tiền tệ nhằm vào chênh lệc Tỷ giá, thì Thị trường Tài chánh nhằm vào Lãi suất. Lãi suất, cái Giá của Thị trường, tăng giảm là do Cung và Cầu Vốn. Phía Cầu Vốn là những Công ty làm việc trong lãnh vực Kinh tế thực. Phía Cung Vốn là những Ngân Hàng, những Tập thể Tài chánh. Các Công ty tìm vay Vốn với Giá rẻ, nghĩa là Lãi suất thấp. Trong khi ấy, những Ngân Hàng, những Tập đòan Tài chánh tìm nơi cho thuê Vốn với Lãi suất cao.

Trong thời Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế 2007/09, các Ngân Hàng Trung ương hạ Lãi suất chỉ đạo xuống thấp, nghĩa là làm cho Giá thuê vốn trở thành rẻ để những Công ty có thể thuê Vốn dễ dàng mà họat động khôi phục nền Kinh tế thực.

=>     Thị trường Chứng khóan

Thị trường Chứng khóan cũng là Thị trường Tài chánh. Thị trường Tài chánh chính hiệu trên đây là sự va chạm giữa phía Công ty Cầu Vốn và phía có Tiền Cung Vốn. Nguồn lợi là Lãi suất.

Thị trường Chứng Khóan cũng là Thị trường Tài chánh, nhưng là nơi gặp gỡ các Thương gia mua bán những Giá trị các Công ty ghi tên trên Thị trường. Nguồn thu lợi chính yếu là chênh lệch lên xuống Giá trị các Công ty ghi trên Thị trường. Những người tham dự vào Thị trường Chứng khóan có khuynh hướng tác động đầu cơ để làm cho Giá cả Thị trường lên xuống mà lấy lợi.

Thị trường này cho những lợi nhuận cao và mau mắn. Đây là Thị trường vĩ đại quay vòng quanh Thế giới 24/24 giờ. Khủng hỏang khởi nguồn từ Subprime Mortgage Credits làm cho Thị trường Chứng khóan xẹp xuống đen tối, nhưng rồi trong một thời gian ngắn các Thị trường Chứng khóan sôi động lại vì số vốn tham dự vào Thị trường này khổng lồ để các Ngân Hàng và Tập đòan Tài chánh thi nhau thu lợi nhuận từ chênh lệc Giá trị các Công ty niêm yết.

=>     Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng.

Có lẽ đây là Thị trường không được công khai phổ biến cho lắm, nhưng vẫn hiện diện như trợ lực cho Thị trường Tài chánh. Thực vậy, để có thể vay được Vốn, phải có thế chấp bảo đảm cho việc hòan vốn. Thế chấp thường được đòi hỏi là những Bank Guarantees, Standby Letter of Credit phát hành do những Ngân Hàng đáng tin cậy. Việc xếp hạng tin cậy giữa các Ngân Hàng khác nhau. Tỉ dụ nếu Bảo Lãnh của Bank of America có giá trị tin tưởng 95%, thì Bảo Lãnh phát hành bởi Banco Da Brazil chỉ mang tin tưởng được 60% chẳng hạn. Sự chênh lệc tin tưởng này lại làm phát sinh ra những Phát hành Tái Bảo Lãnh.

Những Công ty vay Vốn vào Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng này để mua bán những Thế chấp làm Collateral mà vay Vốn.
 

Cán cân Thương mại và đồng Tiền mạnh

Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.

Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh ?

Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.

Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giàm giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.

Trung quốc, do xuất cảng, thu vào nhiều Đo-la tất nhiên đồng Yuan phải trở thành mắc hơn. Nhưng Nhà Nước độc tài Trung Cộng đã cố tình giữ giá đồng Yuan hạ để nâng dỡ cho xuất cảng mà thôi.
 

Làm thế nào Tiền đẻ ra Tiền

Vớiõ 4 Thị trường liên hệ đến Tiền bạc như chúng tôi đã trình bầy trên đây, giới Ngân Hàng và Tài chánh có nhiều phương tiện để làm ăn thu Lợi nhuận mà chưa chắc đã cần phải qua lãnh vực họat động Kinh tế thực.

Giới Ngân Hàng và Tài chánh nắm giữ khối hiện Kim khổng lồ, đồng thời họ lại có khả năng phát hình tư nhân Tín dụng, tương lai Kim (Monnaie virtuelle) để đầu tư kiếm lời. Người ta nói đến sự tách rời ra của giới Ngân Hàng và Tài chánh để lập một KỸ NGHỆ TÀI CHÁNH riêng với những Sản phẩm Tài chánh đặc biệt để làm sinh lời. Sản phẩm Subprime Mortgage Credit là một trong những tỉ dụ.

Khi làm việc về Tài chánh, chúng tôi đã gặp những Khách hàng đặt câu hỏi: khi bỏ Tiền vào, Ngân Hàng chỉ cho lợi nhuận hàng năm tối đa 5%, tại sao Ngân Hàng xử dụng Tiền của chúng tôi để làm ăn thu và lợi nhuận 50% chẳng hạn ?

Lợi nhuận cao ! HYI :High Yield Investment ! Tiền đẻ ra Tiền !

Năm 2004, chúng tôi đã viết một tỉ dụ đơn giản bằng tiếng Anh để cắt nghĩa Lợi nhuận cao. Chúng tôi xin tóm tắt bằng tiếng Việt tỉ dụ ấy: TỈ DỤ MỘT ÔNG CHÀ GIÀ CHO VAY KIẾM LỜI Ở GÓC CHỢ BẾN THÀNH.

Oâng Chà Già có 100 đồng làm vốn để cho vay kiếm lời. Oâng ra đứng ở góc Chơ Bến Thành. Khách hàng xin vay của Oâng là những Bà buôn thúng bán mẹt, chồng chết vì chiến tranh, nên mua buôn bán lẻ rau cỏ tại mấy góc phố. Mỗi buổi sáng Oâng cho một Bà vay 100 đồng với điều kiện là chiều tối trả lại vốn và thêm Tiền lời là 0.50 xu. Đối với các Bà cần vốn mua hàng buôn bán độ nhật, thì giá thuê vốn 0.50 là quá rẻ.

Oâng Chà Già làm việc 5 ngày một Tuần. Như vậy mỗi Tuần Oâng thu vào được 2.5 đồng. Mỗi Tháng 4 Tuần, Oâng thu vào được 10 đồng Tiền lời. Oâng làm việc một Năm 10 tháng, còn để 2 tháng đi nghỉ hè. Như vậy một năm làm việc 10 tháng, ông thu Lợi nhuận vào là 100 đồng.

   0.50 mỗi ngày
x 5 ngày mỗi tuần
x 4 tuần mỗi tháng 
x 10 tháng mỗi năm
= 100 đồng Lợi nhuận trong một năm, nghĩa là Lợi nhuận 100% hàng năm cho số vốn đầu tư.

Đó là Lợi nhuận cao có thể thực hiện được. Đây không phài là điều mơ mộng hão huyền mà là sự tính tóan cụ thể mà ai cũng thấy. Nếu có lúc nào đó, chúng ta khẳng định có thể kiếm Lợi nhuận đầu tư là 100%, nhiều người cho rằng chúng ta nói khùng điên. Nhưng thực tế có thể làm được như tỉ dụ Oâng Chà Già.

Không có gì là bí ẩn để cắt nghĩa Lợi Nhuận cao. Lợi nhuận là việc thu vào cái kết quả sau một CHU TRÌNH KHAI THÁC (Cycle d’Exploitation). Một Chu Trình Khai Thác được định nghĩa là từ khi mua sắm nguyên vật liệu, rồi biến chế thành sản phẩm và chấm dứt ở việc bán sản phẩm để thu vào được số thặng dư đối với chi tiêu. Chu trình Khai Thác mang thời gian dài ngắn khác nhau tùy theo ngành nghiệp và sản phẩm. Tỉ dụ Chu trình Khai Thác nông nghiệp như trồng Cà Chua có thể kéo dài 2 tháng, từ khi mua cây con cho đến khi cây lớn ra trái và đem trái đi bán.

Nguyên tắc thu vào lợi nhuận cao và mau là phải rút ngắn CHU TRÌNH KHAI THÁC, hay nói cách khác là TĂNG TỐC ĐỘ QUAY của Chu Trình (Accélération de la Vitesse de Rotation). Chúng ta càng quay mau, thì lợi nhuận càng vào nhiều

Đối với Chu Trình Mua/Bán ở các Thị trường Tiền tệ, Thị trường Tài chánh và Chứng khóan, các Ngân Hàng/Tập đòan Tài Chánh có thể rút rất ngắn lại một Chu Trình thực hiện Thương vụ. Việc thu ngắn Chu trình Thương vụ Tài chánh mỗi ngày mỗi dễ dàng do phương tiện truyền thông điện tử mau chóng. Chỉ trong một tiếng đồng hồ, những Traders có thể hòan thành một Chu trình Thương vụ Tài chánh để thu vào Lợi nhuận.

Nếu Oâng Chà Già trên đây muốn tăng vận tốc Chu trình cho vay của Oâng, Oâng có thể cho vay một ngày hai lần cho hai Bà buôn thúng bán mẹ. Như vậy Lợi nhuận hàng năm của Oâng sẽ tăng gấp đôi mặc dầu Oâng chỉ thu vào có 0.50 xu mỗi lần cho vay.
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 24.02.2010

 




                              TRUNG QUỐC HÓA TÀI SẢN QUỐC GIA VN  


                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                             Geneva, 28.01.2010
                                    UNICODE: http://VietTUDAN.net


Kinh tế Trung quốc và Kinh tế Việt Nam thóat thai từ Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy. Chủ trương Kinh tế này còn mang một khía cạnh nhân đạo, đó là Bao Cấp và đồng hưởng Xã hội. Để có thể thực hiện Chủ trương Kinh tế ấy, thì Nhà Nước tập trung quyền lực Chính trị độc tài về mình, đồng thời giữ luôn độc quyền phác họa những kế họach Kinh tế gồm Sản xuất và phân phối Tiêu thụ.

Kinh tế nhóm đảng Mafia: Một người làm quan, cả họ được nhờ

Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy và Bao cấp Xã hội đã thất bại vì tiền bạc chung bị thất thóat và bao cấp xã hội làm người ta lười biếng. Do đó, Trung quốc cũng như Việt Nam tuyên bố chuyển mình sang Chủ trương Kinh tế Tự và Thị trường. Nhưng Chủ trương Kinh tế Tự do và Thị trường THỰC SỰ đòi hỏi phải có một Môi trường Chính trị-Pháp lý phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat): Tư hữu những phương tiện sản xuất và tiêu thụ, Tự do tư doanh, Tự do thương lượng và ký kết giao kèo, Luật pháp bảo đảm những quyền sinh họat Kinh tế phải do những cá nhân đồng quyết định (Dân chủ).

Trung quốc và Việt Nam nói rằng chấp nhận Chủ trương Kinh tế Tự do và Thị trường cho mọi tác nhân Kinh tế, nhưng đã đặt hệ thống Kinh tế trong một Môi trường Chính trị-Luật pháp cũ của Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy: độc đảng giữ trọn quyết định trên những phương tiện sản xuất, độc đảng nắm đất đai và tài nguyên quốc gia, độc đảng giữ trọn những sinh họat kinh tế/ thương mại qua những Công ty quốc doanh, Luật pháp liên quan đến sinh họat Kinh tế do độc đảng thiết lập và cá nhân phải tuân phục. Đảng đã thêm vào cái đuôi “định hướng XHCN“ để lấy cớ giữ trọn cái Mội trường Chính trị-Pháp lý bảo đảm cho độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế, đồng thời làm một việc bất nhân nữa là không nhận trách nhiệm bao cấp và đồng hưởng xã hội.

Đó chính là bóc lột của nhóm đảng Mafia mà kết quả là nhóm đảng Mafia trở thành giầu nứt khố và đại đa số dân chúng bị bóc lột đến nghèo kiết xác. Không có CÔNG LÝ ở một lọai Kinh tế như vậy, tất nhiên cũng không thể có HÒA BÌNH xã hội.

Sự phản kháng của đại đa số Dân chúng tại Trung quốc cũng như tại Việt Nam đang lên mạnh để đòi hỏi CÔNG LÝ và do đó HÒA BÌNH cho cá nhân và xã hội. Trước sự phản kháng lên mạnh này, nhóm đảng Mafia đã trở thành giầu có sau những chục năm bóc lột, cảm thấy rằng không thể ngồi yên thụ hưởng, nên dường như đang tìm cách cất giấu tiền bạc dưới một chiêu bài nào đó.

Việc chuyển tài sản ra nước ngòai để cất giấu là sự tất nhiên. Giới Ngân Hàng Thụ sĩ nói nhỏ với nhau rằng họ sẽ nhận được việc chuyển từ Trung quốc sang Thụy sĩ số tài sản tới USD.180 tỉ. Chúng tôi cũng đọc tin thấy rằng Việt Nam đang định “tư nhân hóa“ một số Công ty quốc doanh lớn. Đây cũng là chiêu bài để nhóm đảng Mafia cất giấu tài sản tại chính quốc nội.

Không phải chỉ nguyên chúng tôi nhận định về Kinh tế nhóm đảng Mafia Trung quốc và Việt Nam. Có nhiều người đã viết. Chúng tôi xin trích đăng một số tỉ dụ.

Nhà phân tích Bill Hayton nói về
Kinh tế Mafia gia đình tại Việt Nam

Việt Nam sẽ đi về đâu? Chắc chắn là sẽ không bình yên. Báo Foreign Policy (foreignpolicy. com) hôm 21-1-2010 có bài viết nhan đề “Vietnam’s New Money” (Đồng Tiền Mới của VN) cho thấy một viễn ảnh u ám của kinh tế và xã hội VN, và dịch tóm tắt như sau.

Nhà  phân tích Bill Hayton mở đầu bài viết bằng hình ảnh ngày 16-11-2008, kể về đám cưới của 2 doanh nhân tại khách sạn sang trọng Caravelle ở Sài Gòn: Chú rể là Nguyễn Bảo Hoàng, 36 tuổi, quản trị công ty đầu tư IDG Ventures Vietnam, và cô dân là Nguyễn Thanh Phượng, 27 tuổi, chủ tịch quỹ đầu tư VietCapital. Hai công ty của cô dâu chú rể kết hợp quản trị 150 triệu đô la các khoản đầu tư ở VN.

Cô Phượng là con gái Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng. Chú rể là Việt kiều công dân Mỹ, con của một gia đình chạy khỏi VN năm 1975 để trốn chế độ CS, bây giờ trở về để cưới con của một trong những người quyền lực nhất nước.

Đám cưới này biểu hiện cho thấy Đảng CSVN vẫn khống chế cả khu vực công lẫn tư. Nhiều hãng tư thực ra nguyên là hãng quốc doanh cũ (SOE) hay vẫn còn thuôc quyền nhà nước quản lý, và hầu hết vẫn điều hành bởi các đảng viên.

Hầu hết những người chỉ huy kinh tế tư doanh hiện này là do đảng chỉ định, hay gia đình họ, hay bạn bè của họ. Giới thượng lưu CSVN đang biến chủ nghĩa tư bản VN trở thành một kinh doanh gia đình. Và nếu phiên tòa xử 4 nhà dân chủ tuần này về tội lật đổ chính phủ có dấu hiệu nào, thì tình hình củng cố quyền lực đảng là diễn biến kinh sợ cho tương lai VN.

Có nhìều điển hình về mối quan hệ gia tộc  và tiền bạc, quyền lực tại VN: một trong những người giàu nhất VN là Trương Gia Bình, chủ tịch công ty tin học lớn nhất VN, hãng FPT. Bình cùng là ngưòi duy nhất tại VN thường được nhắc với nhãn hiệu “cựu phò mã” bởi vì Bình từng kết hôn với con gaí cuả tướng Võ Nguyên Giáp.

Một thí dụ khác là Đinh Thị Hoa, người VN đầu tiên tốt nghiệp MBA, cao học kinh doanh, tại Đaị Học Harvard. Khi về VN, Hoa  lập công ty có tên là Galaxy. Trông thì đúng là mô hình kinh tế tư doanh. Nhưng Galaxy là một trong nhiều công ty thuộc sở hữu của con cái các lãnh tụ đảng. Khi WB cấp học bổng cho Hoa, cha của Hoa là Thứ Trưởng Ngoaị Giao.

Việc kết hợp tài sản của cả nước vào tay các gia đình quyền thế tại VN đang bóp méo nền kinh tế này: kinh tế sẽ  đi theo ý muốn của một số ít người, chứ không đi theo nhu cầu của đa số dân. Và mạng lưới chủ nghĩa xã hội bè cánh chia chác kinh tế đang trở thành một đe dọa cho ổn định tương lai VN. VN có cơ nguy gặp số phận của nhiều đứa con cưng trước kia của WB -- bùng nổ kinh tế, rồi sẽ sụp đổ.

Các hãng quốc doanh lớn nhất được hưởng nguồn tài trợ tiền không minh bạch cho các dự án tài chánh với rất ít hợp lý về kinh tế. Vào tháng 6-2008, tới 28 hãng quốc doanh xài 1.5 tỉ đô để thiết lập hay mua cổ phần trong các công ty quản lý tiền đầu tư, các hãng chứng khoán, các ngân hàng thương mại và các hãng bảo hiểm. Có 3/4 công ty tài chánh VN hiện sở hữu của các hãng quốc doanh lớn nhất (còn gọi là tổng công ty).

Với tiền dễ dàng xài như thế, nên mới xảy ra hiện tượng các hãng quốc doanh phải hối lộ khách hàng, cán bộ và thanh tra để nhắm mắt cho vi phạm luật. Câu hỏi là, vào thời khoảng khủng hoảng, Đảng CSVN có thể trừng phạt chính các đảng viên của họ không để  đưa kinh tế đen naỳ trở lại vòng kiểm soát. Nhưng bao lâu nữa mới có thể làm thế?

Vụ kết án các nhà dân chủ tuần này có phaỉ là dấu hiệu cho thấy mạng lưới tham nhũng của đảng, của quyền lực và của đặc quyền hiện đã ra ngoaì vòng kiểm soát?

Tim JOHNSTON viết về tư nhân hóa
các Tổng Công ty Việt Nam

Ngày 06.01.2010, từ Bangkok, Ký giả Tim JOHNSTON, dưới đề mục TƯ NHÂN HÓA (PRIVATISATION) đăng trên FINANCIAL TIMES trang 15, đã viết về việc Nguyễn Tấn Dũng sắp cho tư nhân hóa hai Tổng Công ty lớn của Nhà Nước, đó là PETROLIMEX và VIETNAM STEEL CORP.

Petrolimex, trước đây gọi là Vietnam National Petroleum Corp., chính yếu nhập cảng dầu lửa cho cả nước. Hiện Petrolimex có tất cả 6'000 trạm phân phối xăng dầu trên tòan quốc.

Vietnam Steel Corp. là Tổng Công ty sản xuất và cung ứng sắt thép cho Việt Nam.
Phải chăng đây là tiến trình tư nhân hóa Kinh tế hay chỉ vì những lý do sau đây:

=> Tổng Công ty Nhà Nước lãng phí, thua lỗ mà Ngân qũy Nhà Nước thiếu hụt không còn sức bù thêm tài chánh nữa.

=> Một chiêu bài để con cháu đảng giầu có mua lại Công ty nhà nước làm tư hữu và giấu tài sản. Đây có thể gọi là gia đình hóa, hay nhóm đảng hóa tài sản quốc gia.

=> Trung quốc có nhiều tiền muốn chuyển ra nước ngòai. Nếu Trung quốc mua lại đa số phần hùn Petrolimex, thì họ giữ quyền kiểm sóat xăng nhớt tại Việt Nam. Đây sẽ nằm trong chương trình xâm lăng Kinh tế vậy.

=> Cũng vậy, nếu Trung quốc mua đa số phần hùn trong Tổng Công ty Sắt Thép Việt Nam, họ có thể biến Tổng Công ty này thành một chi nhánh Sắt Thép của họ đã khá mạnh trên Thế giới.

Tác giả Tim Johnston nhận định rằng: “The appetite for investment in Vietnam is quite low!“ (Sự ham muốn đầu tư vào Việt Nam còn hòan tòan thấp). Bỏ vốn đầu tư vào một Tổng Công ty vẫn lệ thuộc ở một hệ thống Luật pháp độc tài, độc đảng, đó là liều lĩnh.
Chúng tôi cũng nghĩ rằng giới Việt kiều có thể về thăm Quê Hương, giúp vốn cho người nhà làm ăn nhỏ, nhưng chưa dám bỏ số vốn lớn để hùn vào Petrolimex hoặc Vietnam Steel Corp.

Đại đa số dân chúng thì nghèo khổ, làm sao có tiền hùn vốn mua Petrolimex hoặc Vietnam Steel Corp. Chỉ có nhóm đảng Mafia, đã cướp bóc được nhiều tiền, cánh nhóm đảng Mafia Trung quốc, có thể bỏ vốn mua để cất giấu tài sản.

Jamil ANDERLINI viết về những Công ty của
con Thủ tướng ÔN GIA BẢO và con Chủ tịch HỒ CẨM ĐÀO

Một sự trùng hợp hy hữu. Cũng trong thời gian này, Tác giả Tim ANDERLINI từ Bắc Kinh, cũng dưới đề mục tài sản tư, viết đăng trên tờ FINANCIAL TIMES ngày hôm qua 27.01.2010, trang 17,  một bài về những Công ty của con trai Thủ tướng Oâng Gia Bảo và của con trai Chủ tịch Hồ Cẩm Đào. Con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, con rể của Tướng Võ Nguyên Giáp, tại Việt Nam, nhờ quyền lực độc tài đảng, mà làm ăn giầu có, thì tại Trung quốc, con trai Thủ tướng Oân Gia Bảo và con trai Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, cũng dựa quyền thế sinh sát độc đóan của đảng mà làm ăn thâu tóm tài sản.

ÔN YUNSONG, cũng gọi là Winston ÔN, con trai của Thủ tướng Oâng Gia Bảo, có Công ty tư nhân về tài chánh NEW HORIZON có thể đầu tư tiền tỷ Đo-la. Chúng tôi xin dịch một đọan viết của Tác giả Jamil ANDERLINI:

“Một Tập đòan Tài chánh được thành lập bởi con trai của Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung quốc, đã cùng với một số nhà đầu tư nước ngòai sắp đầu tư số lượng USD.1 tỷ vào lục địa Trung quốc.“

“ÔN Yunsong, cũng được gọi là Winston ÔN, là con trai độc nhất của Thủ tướng Trung quốc, có Tập đòan Tài chánh NEW HORIZON với vốn lúc đầu USD.750 triệu và sắp tăng lên USD.1 tỷ trong những tuần tới.“

Về những bí mật làm việc của những con cái các Lãnh đạo của đảng Cộng sản, Tác giả Jamil ANDERLINI viết: “The children of  China’s Leaders enjoy unparalelled access to decision-makers and are seen as essential facilitators by foreign businesses operating in the country. But while their names can help attract investors, any public perception in China that they are trading on their family’s name can be politically devastating and details of their activities are often regarded as state secrets. Internet searches for information on NEW HORIZON  and Winston WEN were blocked in China yesterday.“ (Những con cái của các Lãnh đạo tại Trung quốc được hưởng liên hệ không sánh được về việc liên hệ trực tiếp với những người có quyền quyết định và được coi như là những người dàn xếp chính yếu bởi nhà kinh doanh nước ngòai làm việc trọng xứ Tầu. Nhưng trong khi tên của những con cái các Lãnh tụ này có thể quyến rũ những nhà đầu tư, thì bất cứ những sự biết đến của quần chúng rằng những người con này đang làm ăn dựa trên tên gia đình của họ có thể gây tàn phá về mặt chính trị, và những chi tiết họat động của họ thường được coi là những bí mật nhà nước. Những truy tìm tin tức bằng Internet về Tập đòan New Horizon và về Winston ÔN đã được ngăn chặn lại hôm qua tại Trung quốc) (FINANCIAL TIMES 27.01.2010, trang 17).
 
Về riêng con trai của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Tác giả Jamil ANDERLINI cũng viết như sau:“In similar situation in July last year, the Central Propaganda Department ordered all Chinese search engines to block searches related corruption probe in Namibia involving Nuctech, the airport scanner group controlled by Hu Haifeng, 38-year-old son of Hu Jintao, China’s president“. (Trong hòan cảnh giống như vậy vào tháng Bẩy năm ngóai, Bộ Tuyên truyền Trung ương đã ra lệnh xử dụng tất cả những phương tiện tìm kiếm đóng chặt những truy tìm bằng chứng tham nhũng ở Namibia liên hệ đến NUCTECH, Tập đòan Air Scanner dưới quyền kiểm sóat của Hồ Haifeng, con trai 38 tuổi của Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch Trung quốc) (FINANCIAL TIMES 27.01.2010, trang 17).

Kinh tế nhóm đảng Mafia Trung quốc và Việt Nam đang tìm cách giấu cất tài sản bằng tư nhân hóa hay gia đình hóa những Công ty quốc doanh vậy.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 28.01.2010





                            JAMES S.CHANOS DỰ ĐÓAN HIỆN TÌNH
                                         KINH TẾ TRUNG CỘNG

                                                    ĐÀO NHƯ


Theo báo New York Times hôm 8/1/2010, James S Chanos, năm nay 51 tuổi, một trong những người Mỹ đầu tư tại Trung cộng. Chanos sở hữu một tài khoản đồ sộ 6 tỷ Mỹ kim, và ông có thể sử dụng đầu tư bất cứ nơi nào trên đất nước Trung cộng. Do đó ông là người có cái nhìn thấu đáo vào tận những gốc khuất của nền kinh tế TC, những ưu cũng như khuyết điểm của nó. James S. Chanos tuần vừa rồi  đưa ra lời báo  động các nhà đầu tư thế giới phải hiểu rằng nền kinh tế TC hiện nay đang có những rủi ro to lớn có thể đưa đến một cuộc khủng hoảng kinh tế mới ngay cả sư sụp đổ của nền kinh tế của đất nước này.
  
Theo Chanos, trong hiện tại không ai chối cải được sức hút như khối nam châm khổng lồ của nền kinh tế TC vì các nhà đầu tư thế giới bị ‘mà mắt’ bởi những dữ kiện của thống kê về chỉ số Stock nội địa của TC.

Nguy cơ của nền kinh tế Trung cộng hiện nay được tạo nên do gói kích cầu $586 tỷ usd. Thoạt tiên gói kích cầu này có mục đích rõ ràng, ngoài mục đích củng cố và nâng cao xuất khẩu, nó còn dùng để kích thích tiêu dùng của người dân. Người dân TC có tiền vay từ ngân hàng với lãi xuất thắp, họ mua sắm, tậu nhà cửa, xây dựng doanh nghiệp mới. Bằng cách này thì thị trường tín dụng sẽ phục hồi nhanh, và thị trường địa ốc cũng sẽ vận hành tốt trở lại.

Chính phủ Trung công hy vọng nhờ thế họ chấn hưng nền kinh tế TC và đẩy mạnh tiến trình phục hưng kinh tế thế giới. Nhưng gói kích cầu của những năm 2008-09 quá lớn và các nguồn tiền này đựợc lùa vào Wall Street, thị trường địa ốc, tạo ra tình trạng cho vay và mua nhà với những điều kiện quá dễ dàng và nhiều quá vượt mức kiểm soát. Hơn nữa thấy thị trường địa ốc TC ăn nên làm ra, các nhà đầu tư thế giới lao vào bỏ ra số vốn rất lớn đầu cơ vào thị trường này. Do đó thị trường địa ốc và tín dụng của TC tăng nhanh, phình lớn, cổ phiếu ở Wall Street tăng mạnh, tạo ra tình trạng “bong bóng kinh tế”. Có lần xuất hiện trong chương trình CNBC, Chanos cảnh cáo:

“Hiện tượng bong bóng tín dụng là thấy rõ nhất tại thị trường tín dụng TC…Không đâu có bong bóng tín dụng phình đại như TC hôm nay” Bubbles are best identified by credit excesses, not evaluation excesses…And there’s no credit bigger than credit excess in China”

Thị trường tín dụng, và địa ốc đang phì đại một cách nguy hiểm vì cả hai thị trường này đang vận hành không đúng theo qui luật, tăng trưởng vượt kiểm soát. Hơn thế nữa, trong cuộc phỏng vấn với tờ báo Politico hồi tháng 11-2009, Chanos còn cảnh cáo là hiện tại TC sản xuất một khối lượng lớn các mặt hàng họ không thể bán ra được. Số hàng này đang tồn kho chờ ngày quá date. Jim Grant, người bạn lâu năm của Chanos, chủ biên tập san tài chánh Grant’s Interest Rate Observer, cũng cảnh cáo, nền kinh tế Trung cộng bị quấy nhiễu và phiền toái rất nhiều trong mấy chục năm qua bởi điều mà ông ta gọi là Quyền Lực Thứ Ba, và Thứ Tư họ lợi dụng gói kích cầu. Hiện nay tại các ngân hàng TC, mức độ bad loans đã là 20% và sau gói kích cầu có thể cao hơn thế nữa. Trong tương lai gần, xem chừng nền kinh tế tài chánh TQ có thể sẽ đi vào con đường mòn của nền kinh tế Hoa Kỳ đã kinh qua vào những năm 2007-2008: thị trường tín dụng phì đại và vỡ, thị trường địa ốc, Freddie Mac, Fannie Mae sụp đổ lôi theo nhiều ngân hàng lớn khác khiến chánh phủ Hoa Kỳ phải kịp thời ra tay chống đỡ.

Sở dĩ những việc tiên đoán của James S. Chanos về hiện tượng bong bóng hiện tại của nền kinh tế TC có sức thuyết phục đối với một số nhà kinh tế phương Tây và các nhà đầu tư thế giới là vì trong quá khứ Chanos đã tiên đoán đúng với nhiều bằng chứng xác thực về sự sụp đổ của tập đoàn Enron và sau đó là Tyco International, Boston Market restaurant chain, Home builders và nhiều ngân hàng lớn của thế giới…

Chanos cảnh cáo nhiều lần các nhà đầu tư hải ngoại trên thế giới khị bỏ tiền vào đầu tư ở TC, họ chỉ dựa vào, hầu như “tuân theo” những dữ kiện về chỉ số Stock nội địa của TC. Nhưng với Chanos, không bao giờ bị“mà mắt” vì những dữ kiện hời hợt dó, ông đầu tư theo phương hướng, chính sách của ông. Nghiên cứu đầu tư của ông tại TC bao giờ cũng tập trung vào sự tìm hiểu tường tận về khả năng xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyên viên kỹ thuật, phối trí nhân lực, nhân công, giao thông vận tải, khả năng phát triển công nghệ sản xuất cement, than, sắt, thép và các nguồn quặng khoáng chất. Theo Chanos, khả năng phát triển công nghệ này và đào tạo nhân công ở Trung cộng  còn rất yếu, thiếu sáng tạo.

Trong khi đó Jim Rodgers, sáng lập viên của Quantum Fund với George Soros, đang sống tại Singapore, thì cho rằng những dự đoán của Chanos về hiện tượng bong bóng của nền kinh tế TC hôm nay cần phải xét lại vì Jim Rodgers cho rằng những dự đoán của Chanos thiếu cơ sở, và sự quan hệ của Chanos với nền kinh tế TC chưa đủ bề dày để cho phép Chanos đưa ra những dự đoán trên. Theo Jim Rodgers thì hiện tại thị trường tín dụng và địa ốc của TC chưa bao giờ có hiện tượng bong bóng. Nhiều đồng nghiệp và bạn bè của Chanos cũng công nhận là Chanos mới bắt đầu tìm hiểu đi sâu vào nền kinh tế TC trong một vài năm gần đây. Chanos hiện vẫn thường email tham khảo học hỏi ý kiến của những người sành về kinh tế TC. Chanos và nhóm bạn bè của ông cũng đang đối mặt với các nhà đầu tư tên tuổi trên thế giới: Warren Buffet, Will Beer L.. Ross Jr...họ không mấy tin tưởng vào lập luận của nhóm Chanos.

Trong lúc đó, có một nhóm chuyên gia kinh tế người Hoa công nhận hiện tượng bong bóng trên nền kinh tế của TC đang mỗi ngày một hiện rõ hơn. Xa hơn nữa, năm 2001 Gordon G. Chang, chuyên viên kinh tế tại Hoa Kỳ, đã từng tiên đoán về nền kinh tế TC sẽ đi vào khủng hoảng trầm trọng.

James S Chanos, một trong ba người con trai của một gia đình làm nghề giặt ủi tại Milwaukee . Chanos tốt nghiệp Yale như là một sinh viên PreMed. Nhưng sau đó Chanos chuyển sang kinh tế lý do là Chanos có nhiều đam mê và khuynh hướng về nghiên cứu kinh tế. Chanos khởi đầu sư nghiệp gia nhập thị trường chứng khoán- phố Wall-Wall Street . Tại Wall Street ông học hỏi rất nhiều về điều hành Stock và sự quan hệ giữa đầu tư và Stock. Chính Wall Street là con đường đưa James S. Chanos đến sự thành công hôm nay.

Chính những năm làm việc tại đây ông đã đưa ra sự tiên đoán chính xác về sư sụp đổ của tập đoàn Enron và sau đó là Tyco International, Boston Market restaurant chain, Freddie Mac, Fannie Mae và nhiều financial disasters khác, nhất là những ngân hàng tầm cỡ của thế giới. Chanos sẽ có buổi thuyết trình với đề tài “Contrarian Investor Sees Economic Crash in China ” tại viện đại học Oxford - Anh quốc cuối tháng Jan này.

Chúng ta thử chờ xem và theo dõi kết quả của buổi thuyết trình này nhất là phản ứng của của Trung cộng, của thế giới và của viện Đại học Oxford đối với quan điểm của James S Chanos. Từ đó hy vọng chúng ta có cái nhìn chính xác hơn về những dự đoán của Chanos về nền kinh tế Trung cộng hôm nay./.

Đào Như
Bs Đào Trong Thể
10/Jan/2010
Oak park , Ill. USA

  







                                   TƯ NHÂN HÓA, GIA ĐÌNH HÓA
                                        HAY TRUNG QUỐC HÓA 
                                        TÀI SẢN QUỐC GIA VN

 
                       Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                           Geneva, 28.01.2010
                                 UNICODE: http://VietTUDAN.net

 

Kinh tế Trung quốc và Kinh tế Việt Nam thóat thai từ Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy. Chủ trương Kinh tế này còn mang một khía cạnh nhân đạo, đó là Bao Cấp và đồng hưởng Xã hội. Để có thể thực hiện Chủ trương Kinh tế ấy, thì Nhà Nước tập trung quyền lực Chính trị độc tài về mình, đồng thời giữ luôn độc quyền phác họa những kế họach Kinh tế gồm Sản xuất và phân phối Tiêu thụ.


Kinh tế nhóm đảng Mafia:
Một người làm quan, cả họ được nhờ

Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy và Bao cấp Xã hội đã thất bại vì tiền bạc chung bị thất thóat và bao cấp xã hội làm người ta lười biếng. Do đó, Trung quốc cũng như Việt Nam tuyên bố chuyển mình sang Chủ trương Kinh tế Tự và Thị trường. Nhưng Chủ trương Kinh tế Tự do và Thị trường THỰC SỰ đòi hỏi phải có một Môi trường Chính trị-Pháp lý phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat): Tư hữu những phương tiện sản xuất và tiêu thụ, Tự do tư doanh, Tự do thương lượng và ký kết giao kèo, Luật pháp bảo đảm những quyền sinh họat Kinh tế phải do những cá nhân đồng quyết định (Dân chủ).

Trung quốc và Việt Nam nói rằng chấp nhận Chủ trương Kinh tế Tự do và Thị trường cho mọi tác nhân Kinh tế, nhưng đã đặt hệ thống Kinh tế trong một Môi trường Chính trị-Luật pháp cũ của Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy: độc đảng giữ trọn quyết định trên những phương tiện sản xuất, độc đảng nắm đất đai và tài nguyên quốc gia, độc đảng giữ trọn những sinh họat kinh tế/ thương mại qua những Công ty quốc doanh, Luật pháp liên quan đến sinh họat Kinh tế do độc đảng thiết lập và cá nhân phải tuân phục. Đảng đã thêm vào cái đuôi “định hướng XHCN“ để lấy cớ giữ trọn cái Mội trường Chính trị-Pháp lý bảo đảm cho độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế, đồng thời làm một việc bất nhân nữa là không nhận trách nhiệm bao cấp và đồng hưởng xã hội.

Đó chính là bóc lột của nhóm đảng Mafia mà kết quả là nhóm đảng Mafia trở thành giầu nứt khố và đại đa số dân chúng bị bóc lột đến nghèo kiết xác. Không có CÔNG LÝ ở một lọai Kinh tế như vậy, tất nhiên cũng không thể có HÒA BÌNH xã hội.

Sự phản kháng của đại đa số Dân chúng tại Trung quốc cũng như tại Việt Nam đang lên mạnh để đòi hỏi CÔNG LÝ và do đó HÒA BÌNH cho cá nhân và xã hội. Trước sự phản kháng lên mạnh này, nhóm đảng Mafia đã trở thành giầu có sau những chục năm bóc lột, cảm thấy rằng không thể ngồi yên thụ hưởng, nên dường như đang tìm cách cất giấu tiền bạc dưới một chiêu bài nào đó.

Việc chuyển tài sản ra nước ngòai để cất giấu là sự tất nhiên. Giới Ngân Hàng Thụ sĩ nói nhỏ với nhau rằng họ sẽ nhận được việc chuyển từ Trung quốc sang Thụy sĩ số tài sản tới USD.180 tỉ. Chúng tôi cũng đọc tin thấy rằng Việt Nam đang định “tư nhân hóa“ một số Công ty quốc doanh lớn. Đây cũng là chiêu bài để nhóm đảng Mafia cất giấu tài sản tại chính quốc nội.

Không phải chỉ nguyên chúng tôi nhận định về Kinh tế nhóm đảng Mafia Trung quốc và Việt Nam. Có nhiều người đã viết. Chúng tôi xin trích đăng một số tỉ dụ.
 

Nhà phân tích Bill Hayton nói về
Kinh tế Mafia gia đình tại Việt Nam

Việt Nam sẽ đi về đâu? Chắc chắn là sẽ không bình yên. Báo Foreign Policy (foreignpolicy. com) hôm 21-1-2010 có bài viết nhan đề “Vietnam’s New Money” (Đồng Tiền Mới của VN) cho thấy một viễn ảnh u ám của kinh tế và xã hội VN, và dịch tóm tắt như sau.

Nhà  phân tích Bill Hayton mở đầu bài viết bằng hình ảnh ngày 16-11-2008, kể về đám cưới của 2 doanh nhân tại khách sạn sang trọng Caravelle ở Sài Gòn: Chú rể là Nguyễn Bảo Hoàng, 36 tuổi, quản trị công ty đầu tư IDG Ventures Vietnam, và cô dân là Nguyễn Thanh Phượng, 27 tuổi, chủ tịch quỹ đầu tư VietCapital. Hai công ty của cô dâu chú rể kết hợp quản trị 150 triệu đô la các khoản đầu tư ở VN.

Cô Phượng là con gái Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng. Chú rể là Việt kiều công dân Mỹ, con của một gia đình chạy khỏi VN năm 1975 để trốn chế độ CS, bây giờ trở về để cưới con của một trong những người quyền lực nhất nước.

Đám cưới này biểu hiện cho thấy Đảng CSVN vẫn khống chế cả khu vực công lẫn tư. Nhiều hãng tư thực ra nguyên là hãng quốc doanh cũ (SOE) hay vẫn còn thuôc quyền nhà nước quản lý, và hầu hết vẫn điều hành bởi các đảng viên.

Hầu hết những người chỉ huy kinh tế tư doanh hiện này là do đảng chỉ định, hay gia đình họ, hay bạn bè của họ. Giới thượng lưu CSVN đang biến chủ nghĩa tư bản VN trở thành một kinh doanh gia đình. Và nếu phiên tòa xử 4 nhà dân chủ tuần này về tội lật đổ chính phủ có dấu hiệu nào, thì tình hình củng cố quyền lực đảng là diễn biến kinh sợ cho tương lai VN.

Có nhìều điển hình về mối quan hệ gia tộc  và tiền bạc, quyền lực tại VN: một trong những người giàu nhất VN là Trương Gia Bình, chủ tịch công ty tin học lớn nhất VN, hãng FPT. Bình cùng là ngưòi duy nhất tại VN thường được nhắc với nhãn hiệu “cựu phò mã” bởi vì Bình từng kết hôn với con gaí cuả tướng Võ Nguyên Giáp.

Một thí dụ khác là Đinh Thị Hoa, người VN đầu tiên tốt nghiệp MBA, cao học kinh doanh, tại Đaị Học Harvard. Khi về VN, Hoa  lập công ty có tên là Galaxy. Trông thì đúng là mô hình kinh tế tư doanh. Nhưng Galaxy là một trong nhiều công ty thuộc sở hữu của con cái các lãnh tụ đảng. Khi WB cấp học bổng cho Hoa, cha của Hoa là Thứ Trưởng Ngoaị Giao.

Việc kết hợp tài sản của cả nước vào tay các gia đình quyền thế tại VN đang bóp méo nền kinh tế này: kinh tế sẽ  đi theo ý muốn của một số ít người, chứ không đi theo nhu cầu của đa số dân. Và mạng lưới chủ nghĩa xã hội bè cánh chia chác kinh tế đang trở thành một đe dọa cho ổn định tương lai VN. VN có cơ nguy gặp số phận của nhiều đứa con cưng trước kia của WB -- bùng nổ kinh tế, rồi sẽ sụp đổ.

Các hãng quốc doanh lớn nhất được hưởng nguồn tài trợ tiền không minh bạch cho các dự án tài chánh với rất ít hợp lý về kinh tế. Vào tháng 6-2008, tới 28 hãng quốc doanh xài 1.5 tỉ đô để thiết lập hay mua cổ phần trong các công ty quản lý tiền đầu tư, các hãng chứng khoán, các ngân hàng thương mại và các hãng bảo hiểm. Có 3/4 công ty tài chánh VN hiện sở hữu của các hãng quốc doanh lớn nhất (còn gọi là tổng công ty).

Với tiền dễ dàng xài như thế, nên mới xảy ra hiện tượng các hãng quốc doanh phải hối lộ khách hàng, cán bộ và thanh tra để nhắm mắt cho vi phạm luật. Câu hỏi là, vào thời khoảng khủng hoảng, Đảng CSVN có thể trừng phạt chính các đảng viên của họ không để  đưa kinh tế đen naỳ trở lại vòng kiểm soát. Nhưng bao lâu nữa mới có thể làm thế?

Vụ kết án các nhà dân chủ tuần này có phaỉ là dấu hiệu cho thấy mạng lưới tham nhũng của đảng, của quyền lực và của đặc quyền hiện đã ra ngoaì vòng kiểm soát?
 

Tim JOHNSTON viết về tư nhân hóa
các Tổng Công ty Việt Nam

Ngày 06.01.2010, từ Bangkok, Ký giả Tim JOHNSTON, dưới đề mục TƯ NHÂN HÓA (PRIVATISATION) đăng trên FINANCIAL TIMES trang 15, đã viết về việc Nguyễn Tấn Dũng sắp cho tư nhân hóa hai Tổng Công ty lớn của Nhà Nước, đó là PETROLIMEX và VIETNAM STEEL CORP.

Petrolimex, trước đây gọi là Vietnam National Petroleum Corp., chính yếu nhập cảng dầu lửa cho cả nước. Hiện Petrolimex có tất cả 6'000 trạm phân phối xăng dầu trên tòan quốc.

Vietnam Steel Corp. là Tổng Công ty sản xuất và cung ứng sắt thép cho Việt Nam.

Phải chăng đây là tiến trình tư nhân hóa Kinh tế hay chỉ vì những lý do sau đây:

=>     Tổng Công ty Nhà Nước lãng phí, thua lỗ mà Ngân qũy Nhà Nước thiếu hụt không còn sức bù thêm tài chánh nữa.

=>     Một chiêu bài để con cháu đảng giầu có mua lại Công ty nhà nước làm tư hữu và giấu tài sản. Đây có thể gọi là gia đình hóa, hay nhóm đảng hóa tài sản quốc gia.

=>     Trung quốc có nhiều tiền muốn chuyển ra nước ngòai. Nếu Trung quốc mua lại đa số phần hùn Petrolimex, thì họ giữ quyền kiểm sóat xăng nhớt tại Việt Nam. Đây sẽ nằm trong chương trình xâm lăng Kinh tế vậy.

=>     Cũng vậy, nếu Trung quốc mua đa số phần hùn trong Tổng Công ty Sắt Thép Việt Nam, họ có thể biến Tổng Công ty này thành một chi nhánh Sắt Thép của họ đã khá mạnh trên Thế giới.

Tác giả Tim Johnston nhận định rằng: “The appetite for investment in Vietnam is quite low!“ (Sự ham muốn đầu tư vào Việt Nam còn hòan tòan thấp). Bỏ vốn đầu tư vào một Tổng Công ty vẫn lệ thuộc ở một hệ thống Luật pháp độc tài, độc đảng, đó là liều lĩnh.

Chúng tôi cũng nghĩ rằng giới Việt kiều có thể về thăm Quê Hương, giúp vốn cho người nhà làm ăn nhỏ, nhưng chưa dám bỏ số vốn lớn để hùn vào Petrolimex hoặc Vietnam Steel Corp.

Đại đa số dân chúng thì nghèo khổ, làm sao có tiền hùn vốn mua Petrolimex hoặc Vietnam Steel Corp. Chỉ có nhóm đảng Mafia, đã cướp bóc được nhiều tiền, cánh nhóm đảng Mafia Trung quốc, có thể bỏ vốn mua để cất giấu tài sản.
 

Jamil ANDERLINI viết về những Công ty của
con Thủ tướng ÔN GIA BẢO
và con Chủ tịch HỒ CẨM ĐÀO

Một sự trùng hợp hy hữu. Cũng trong thời gian này, Tác giả Tim ANDERLINI từ Bắc Kinh, cũng dưới đề mục tài sản tư, viết đăng trên tờ FINANCIAL TIMES ngày hôm qua 27.01.2010, trang 17,  một bài về những Công ty của con trai Thủ tướng Oâng Gia Bảo và của con trai Chủ tịch Hồ Cẩm Đào. Con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, con rể của Tướng Võ Nguyên Giáp, tại Việt Nam, nhờ quyền lực độc tài đảng, mà làm ăn giầu có, thì tại Trung quốc, con trai Thủ tướng Oân Gia Bảo và con trai Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, cũng dựa quyền thế sinh sát độc đóan của đảng mà làm ăn thâu tóm tài sản.

ÔN YUNSONG, cũng gọi là Winston ÔN, con trai của Thủ tướng Oâng Gia Bảo, có Công ty tư nhân về tài chánh NEW HORIZON có thể đầu tư tiền tỷ Đo-la. Chúng tôi xin dịch một đọan viết của Tác giả Jamil ANDERLINI:

“Một Tập đòan Tài chánh được thành lập bởi con trai của Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung quốc, đã cùng với một số nhà đầu tư nước ngòai sắp đầu tư số lượng USD.1 tỷ vào lục địa Trung quốc.“

“ÔN Yunsong, cũng được gọi là Winston ÔN, là con trai độc nhất của Thủ tướng Trung quốc, có Tập đòan Tài chánh NEW HORIZON với vốn lúc đầu USD.750 triệu và sắp tăng lên USD.1 tỷ trong những tuần tới.“

Về những bí mật làm việc của những con cái các Lãnh đạo của đảng Cộng sản, Tác giả Jamil ANDERLINI viết: “The children of  China’s Leaders enjoy unparalelled access to decision-makers and are seen as essential facilitators by foreign businesses operating in the country. But while their names can help attract investors, any public perception in China that they are trading on their family’s name can be politically devastating and details of their activities are often regarded as state secrets. Internet searches for information on NEW HORIZON  and Winston WEN were blocked in China yesterday.“ (Những con cái của các Lãnh đạo tại Trung quốc được hưởng liên hệ không sánh được về việc liên hệ trực tiếp với những người có quyền quyết định và được coi như là những người dàn xếp chính yếu bởi nhà kinh doanh nước ngòai làm việc trọng xứ Tầu. Nhưng trong khi tên của những con cái các Lãnh tụ này có thể quyến rũ những nhà đầu tư, thì bất cứ những sự biết đến của quần chúng rằng những người con này đang làm ăn dựa trên tên gia đình của họ có thể gây tàn phá về mặt chính trị, và những chi tiết họat động của họ thường được coi là những bí mật nhà nước. Những truy tìm tin tức bằng Internet về Tập đòan New Horizon và về Winston ÔN đã được ngăn chặn lại hôm qua tại Trung quốc) (FINANCIAL TIMES 27.01.2010, trang 17).

Về riêng con trai của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Tác giả Jamil ANDERLINI cũng viết như sau: “In similar situation in July last year, the Central Propaganda Department ordered all Chinese search engines to block searches related corruption probe in Namibia involving Nuctech, the airport scanner group controlled by Hu Haifeng, 38-year-old son of Hu Jintao, China’s president“. (Trong hòan cảnh giống như vậy vào tháng Bẩy năm ngóai, Bộ Tuyên truyền Trung ương đã ra lệnh xử dụng tất cả những phương tiện tìm kiếm đóng chặt những truy tìm bằng chứng tham nhũng ở Namibia liên hệ đến NUCTECH, Tập đòan Air Scanner dưới quyền kiểm sóat của Hồ Haifeng, con trai 38 tuổi của Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch Trung quốc) (FINANCIAL TIMES 27.01.2010, trang 17). 
 

Kinh tế nhóm đảng Mafia Trung quốc và Việt Nam đang tìm cách giấu cất tài sản bằng tư nhân hóa hay gia đình hóa những Công ty quốc doanh vậy.
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 28.01.2010



                             QUỐC TẾ ÁP LỰC LÊN TRUNG QUỐC 
                                           VỀ TỶ GIÁ TIỀN TỆ 


                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                           Geneva, 21.01.2010
                                 UNICODE: http://VietTUDAN.net



Trong suốt những năm phát triển Kinh tế, Trung quốc đã cố thủ giữ tỷ giá đồng Yuan thấp gắn liền với Đo-la, phương tiện thanh tóan thương mại Quốc tế. Trung quốc cố tình xử dụng quyền lực độc đóan Chính trị để giữ tỷ giá đồng Yuan thấp hơn bình thường trong mục đích hạ giá hàng hóa để cạnh tranh xuất cảng. Thời Tổng thống BUSH đã có nhiều những thảo luận và áp lực lên Trung quốc để nâng cao tỷ giá đồng Yuân tới mức độ bình thường, nhưng Trung quốc vẫn tìm cách ngụy biện mà không thực hiện.

Những đòi hỏi Quốc tế hiện nay

Trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 430 tuần trước, 14.01.2010, chúng tôi đã viết về việc Quốc tế trở nên bực tức đối với những gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc đến nỗi phải nghĩ đến những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures du Protectionnisme). Một trong những tức bực nhất của Quốc tế là vấn đề Trung quốc chai lỳ cố thủ xử dụng tỷ giá thấp của đồng Yuan.

Ngày 28.12.2009, từ Bắc Kinh, Geoff BYER đã đăng một bài trên tờ FINANCIAL TIMES với đầu đề CHINA DISMISSES CURRENCY PRESSURE (Trung quốc từ chối không kể đến áp lực tiền tệ). Tác giả thuật lại trong một bài phỏng vấn của Tân Hoa xã hôm qua, Oâng Gia Bảo đã nói rõ: “Chúng tôi sẽ không thỏa mãn cho những áp lực dưới bất cứ hình thức nào ép buộc chúng tôi phải nâng tỷ giá tiền tệ. Như tôi đã nói với một số bạn hữu ngọai quốc: một mặt các ông đòi hỏi chúng tôi tăng tỷ giá tiền tệ, một mặt các ông lại đưa ra mọi biện pháp Che chở Kinh tế (Protectionnisme)!“ (trang 14)

Cùng ngày 28.12.2009, trong tờ THE WALL STREET JOURNAL, hai Tác giả James T. AREDDY và Shen HONG cũng viết rằng Oân Gia Bảo cũng đã từ chối những công kích của ngọai quốc về chính sách tiền tệ của Trung quốc, áp lực chúng tôi phải nâng tỷ giá đồng Yuan (trang 3).

Đầu năm 2010, những Quốc gia chính trong khối ASEAN, vì lý do Trung quốc cố thủ giữ tỷ giá đồng Yuan hạ, nên yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010.

Ngày 06.01.2010, Tác giả Julie DESNE từ Thượng Hải, viết trên tờ FIGARO rõ ràng về áp lực của Hoa kỳ và Liên Aâu đối với Trung quốc, rằng: “Washington et Bruxelles n’ont de cesse de dénoncer un yuan sous-évalue qui maintient les exportations chinoises anormalement bon marché, aggravant les déficits américain et européen face à la Chine.“ (Hoa Thịnh Đốn và Bruxelles không ngừng tố cáo tỷ giá đồng Yuan cố ý giữ hạ để giữ những xuất cảng của Trung quốc với giá hàng thấp không bình thường, khiến những cán cân thương mại Mỹ và Liên Aâu thua lỗ đối với Trung quốc) (trang 24)

Nâng tỷ giá đồng Yuan lên bao nhiêu ? Oâng Zhang BIN, một trong những Kinh tế gia Trung quốc làm việc cho Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội (CASS) của Nhà Nước Trung quốc, đã công khai đề nghị rằng Bác Kinh nên nâng tỷ giá đồng Yuan lên 10% (FIGARO 06.01.2010, trang 24). Nhà Nước Trung quốc có nghe theo lời khuyến cáo này không, đó là chuyện khác.

Cắt nghĩa ảnh hưởng tỷ giá tiền tệ
trên giá cả hàng hóa xuất cảng

Chúng tôi sẽ có dịp viết chi tiết và dài về “Chiến tranh Tiền tệ“ mà Trung quốc đã nêu ra nhân việc xuống giá của đồng Đo-la trong khi ấy Trung quốc cũng như một số Quốc gia đang phát triển giữ khối Đo-la Dự trữ lớn. Thống đốc Ngân Hàng Trung Quốc thậm chí công khai kêu gọi thay đồng Đo-la bằng một lọai tiền tệ khác.

Trong phạm vị bài QUAN ĐIỂM này, chúng tôi chỉ cắt nghĩa những liên hệ trực tiếp tỷ giá tiền tệ đến giá cả hàng xuất cảng.

=> Từ Hội Nghị Tiền tệ Thế giới tại Bretton Woods năm 1944, Hệ thống Tiền tệ được bảo đảm dựa trên trung gian đồng Đo-la bởi vì Aâu châu đã mất hết vàng trong Thế Chiến II khả dĩ bảo đảm cho giá trị đồng tiền mỗi nước, trong khi ấy chỉ còn Đo-la có vàng làm bảo chứng giá trị. Hội nghị Bretton Woods chấp nhận Régime Etalon-Devise ($)-Or.  Đồng Đo-la trở thành phương tiện thanh tóan Thương mại tòan cầu và là qũy Dự trữ trong các Ngân Hàng. Như vậy, khi xuất cảng hàng hóa, các nhà xuất cảng mỗi nước đều yêu cầu người mua phải thanh tóan bằng đồng Đo-la.

=> Aâu châu được tái thiết và Kinh tế phát triển. Xuất cảng hàng hóa, các nước Aâu châu đòi trả tiền bằng Đo-la. Khối sản xuất Dầu lửa cũng đòi việc thanh tóan bằng Đo-la. Nhật bản, Đài Loan tiến mạnh và xuất cảng, cũng thu Đo-la vào. Nhưng mỗi nước Aâu châu, Trung đông và Viễn đông lại có tiền riêng của mỗi nước để làm phương tiện thương mại trong nội địa: đồng Bảng Anh, đồng Quan Pháp, đồng Mark Đức, đồng Yen... Vì vậy mà tỷ giá giữa đồng tiền mỗi nước và đồng Đo-la phải được thiết lập. Tỷ giá giữa hai đồng tiền của hai nước cũng được thiết lập qua trung gian đồng Đo-la. Tỉ dụ FF.1 (Franc Pháp) tương đương với  USD.0.25 cents và DM.1 (Mark Đức) tương đương với USD.0.50 cents. Nhờ qua trung gian đồng Đo-la, người ta thiết lập tỷ giá giữa Mark Đức và Franc Pháp: DM.1 = (USD.0.50 cents/ USD.0.25 cents) = FF.2.

=> Khi mà Đồng Đo-la lan tràn trên Thế giới, thì lượng vàng làm căn bản định nghĩa bảo chứng Đo-la không được bảo đảm. Bỏ Régime Etalon-Devise-Or, hệ thống Tiền tệ chỉ được bảo đảm dựa trên Khả năng Kinh tế của mỗi nước trong hệ thống gọi là Régime du Pouvoir d’Achat của đồng tiền. Kinh tế Hoa kỳ vẫn giữ sức mạnh quán quân Thế giới và đồng Đo-la vẫn được chấp nhận như phương tiện thanh tóan Thương mại Thế giới. Khi đồng tiền không được bảo đảm theo định nghĩa dựa trên lượng vàng nữa, mà chỉ dựa trên sức mạnh Kinh tế, thì tỷ giá giữa mỗi đồng tiền đối với Đo- và tỷ giá giữa các đồng tiên quốc gia đối với nhau có những thay đổi tùy theo sức mạnh Kinh tế mỗi quốc gia.

=> Ở đọan trên, chúng tôi nói đến Khả năng Kinh tế quốc gia dựa trên đó một đồng tiền quốc gia được thẩm định giá trị và do đó tạo lý do thứ nhất cho sự thay đổi (Flexibilité) của tỷ giá giữa đồng tiền quốc gia và Đo-la và giữa các đồng tiền quốc gia với nhau. Trong đọan này, chúng tôi nói đến lý do thứ hai của sự thay đổi tỷ giá đối với một ngọai tệ (Đo-la) dựa trên CUNG và CẦU ở Thị trường Tiền tệ giữa đồng tiền quốc gia và ngọai tệ ở một nước. Tại một quốc gia, có việc nhập ngọai tệ do xuất cảng và việc xuất ngọai tệ do nhập cảng. Cụ thể là phương tiện thanh tóan xuất nhập cảng là đồng Đo-la. Như vậy có Thị trường trao đổi giữa đồng tiền quốc gia với ngọai tệ Đo-la do Xuất Nhập cảng làm thay đổi CUNG và CẦU đo-la và đồng tiền quốc gia trên Thị trường. Khi CUNG và CẦU thay đổi ở Thị trường Tiền tệ, thì tỷ giá giữa đồng tiền quốc gia và đồng Đo-la có có những bấp bênh  thay đổi (Flexible et Flottant).  Đây là lý do thứ hai làm thay đổi tỷ giá giữa ngọai tệ và tiền quốc gia.

=> Thị trường Tiền tệ mỗi quốc gia như nói trên đây tùy thuộc cán cân Thương mại mỗi nước, nghĩa là thặng dư Xuất-Nhập cảng hay thiếu hụt Xuất-Nhập cảng. Nói thặng dư Xuất-Nhập cảng nghĩa là Xuất cảng lớn hơn Nhập cảng và ngược lại thiếu hụt Xuất-Nhập cảng nghĩa là Nhập cảng cao hơn xuất cảng. Xuất cảng cao hơn Nhập cảng tức là quốc gia thu vào nhiều Đo-la (ngọai tệ chính thanh tóan Xuất-Nhập cảng). Nhập cảng cao hơn Xuất cảng tức là quốc gia cho ra ngòai nhiều Đo-la. Chi tiêu trong nước bằng tiền quốc gia. Vì vậy khi Xuất cảng nhiều và thu vào nhiều Đo-la, thì những nhà xuất cảng phải đổi Đo-la ra để chi tiêu trong nước, tức là phía CẦU đồng tiền quốc nội phải tăng. Khi tăng CẦU tiền quốc nội, thì giá trị tiền quốc nội trở thành mắc giá sánh với Đo-la. Tỷ giá giữa đồng tiền quốc nội sánh với Đo-la phải tăng. Nhưng nếu Nhập cảng nhiều hơn Xuất cảng, thì phía CẦU Đo-la tăng, vì vậy Đo-la mắc giá hơn tiền quốc nội. 

=> Theo nguyên tắc CUNG và CẦU ở Thị trường Tiền tệ quốc nội trên đây, Trung quốc Xuất cảng nhiều hơn Nhập cảng, thì họ thu vào nhiều Đo-la hơn là chi tiêu Đo-la ra nước ngòai. Các nhà Xuất cảng phải đổi Đo-la ra đồng Yuan, tiền quốc gia, để chi tiêu trong nước. Phía CẦU đồng Yuan phải tăng, nghĩa là đồng Yuan phải lên giá sánh với Đo-la. Đó là tỷ giá tự nhiên giữa đồng Yuan và đồng Đo-la. Trong bao nhiêu năm Xuất cảng hàng hóa, Trung quốc thu vào số lượng lớn Đo-la và phải chi tiêu trong nước bằng đồng Yuan, tiền quốc gia. Những nhà Xuất cảng hàng Trung quốc tăng phía CẦU đồng Yuan để chi tiêu ở Trung quốc. Tỷ giá đồng Yuan phải lên cao. Đó là tỷ giá được gọi là tự nhiên theo luật CUNG và CẦU của đồng tiền quốc nội ở Thị trường Tiền tệ nếu có tự do.

=> Nhưng khuynh hướng tăng tỷ giá giữa đồng Yuan và Đo-la tại Trung quốc đã bị sự ngăn chặn bởi quyền lực Chính trị.  Người ta gọi đây là sự can thiệp Nhà Nước độc đóan vào Luật CUNG và CẦU ở một Thị trường. Khi khuynh hướng tự nhiên là tỷ giá giữa đồng Yuan và đồng Đo-la phải cao hơn, thì Nhà Nước ấn định một tỷ giá thấp hơn. Đây là việc đặt “Giá trần nhà“ (Prix plafond) để ngăn chặn khuynh hướng tăng giá. Việc ngăn chặn với “giá trần nhà“ này luôn luôn tạo ra Chợ Đen và là nguồn gốc của sự ăn bẩn, hối lộ, đặc quyền.

=> Tại sao Nhà Nước Trung quốc làm công việc đặt “Giá trần nhà“ để ngăn chặn khuynh hướng tăng tỷ giá tự nhiên giữa dồng Yuan và đồng Đo-la ? Lý do là để làm hạ giá hàng hóa Trung quốc xuất cảng. Thực vậy, ở Thị trường Thương mại hàng hóa, phương tiện cạnh tranh chính yếu là giá cả hàng hóa. Mục đích của họat động Kinh tế là thu vào Lợi nhuận tối đa. Lợi nhuận là độ lớn giữa Giá bán và Giá thành. Ơû Thị trường cạnh tranh gay gắt, người ta rất khó tăng Giá bán, nhưng có thể hạ Giá thành để làm tăng độ lớn của Lợi nhuận. Kinh tế gia Paul SAMUELSON nói ra như một định luật:“Trên thị trường cạnh tranh dài hạn, Lợi nhuận có khuynh hướng triệt tiêu“. Nhưng có những Xí nghiệp vẫn sống vì thu được Lợi nhuận vì họ biết quản trị Giá thành thấp.  Hàng hóa Trung quốc thuộc chính yếu những hàng hóa xử dụng thường ngày cho đại đa số quần chúng nghèo, không cần phẩm chất cao. Sản xuất những hàng hóa này không cần phải chi tiêu thiết bị Kỹ thuật đắt giá, mà chỉ xử dụng chính yếu Nhân lực. Trung quốc xử dụng độc đóan Chính trị để khai thác khối Nhân lực lớn với tiền lương rẻ mạt. Đồng thời, một cách hạ giá thành sản xuất nữa là tăng số lượng sản xuất, điều mà Trung quốc có thể làm.

=> Khi xử dụng quyền Chính trị Nhà Nước để giữ tỷ giá đồng Yuan hạ dối với Đo-la, đó là việc họ hạ thêm giá hàng xuất cảng để quyến rũ những nhà mua hàng từ nước ngòai có đựơc đồng Yuân hạ để mua hàng, chi tiêu tại Trung quốc. Đây cũng là việc hấp dẫn những Xí nghiệp Liên quốc gia (Multinationales) xử dụng vốn Đo-la, mua được đồng Yuan với giá rẻ để sản xuất hoặc xuất cảng ra nước ngòai bán thu vào Đo-la mắc giá. Mức độ Lợi nhuận tăng rộng từ giá hạ sản xuất tại Trung quốc với chi tiêu đồng Yuan rẻ, đến giá xuất cảng thương mại với giá Đo-la cao.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 21.01.2010

 



                                       GIAN GIẢO KINH TẾ TQ
                         LÀM THẾ GIỚI BỰC TỨC VÀ CÓ BIỆN PHÁP


                        Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                          Geneva, 14.01.2010
                                UNICODE: http://VietTUDAN.net

 

Những gian lận Kinh tế/ Thương mại của Trung quốc dần dần xuất hiện. Trong tình trạng phát triển Kinh tế bình thường hoặc hồ hởi, người ta dễ bỏ qua những gian lận ấy. Nhưng ngày nay, sau việc khó khăn phục hồi Kinh tế hậu Khủng hỏang, nhất là tình trạng thất nghiệp tăng mạnh khắp nơi, những gian lận ấy được phanh phui ra và những biện pháp chế tài gian lận sẽ được đặt ra và áp dụng.


Những gian lận Kinh tế/ Thương mại Trung quốc

Trong Hội Nghị Copenhague vừa qua, người ta thấy thái độ quá lì lợm của Trung quốc làm nguyên nhân chính cho bế tắc những đàm phán của Hội Nghị. Thái độ khăng khăng của Trung quốc gồm hai điểm: (i) thứ nhất là Trung quốc nhất định bám sát Ký kết Kyoto theo đó thì các nước đã kỹ nghệ hóa phải tài trợ cho những nước chưa phát triển để giảm thiểu thải khí độc trong đó có Trung quốc là nước được hưởng tài trợ này; (ii) thứ hai là Trung quốc nhất định không cho phép bất cứ những thanh tra, kiểm điểm nào đến từ nước ngòai hay một tổ chức nào gồm một số nước được trao trách nhiệm kiểm sóat, thanh tra thực hiện việc giảm thiểu khí độc.

Trung quốc nại ra vấn đề Chủ quyền Quốc gia để nhất định không nhượng bộ điểm thứ hai trên đây. Hoa kỳ, qua Ngọai trưởng Hilary CLINTON, đã nhấn mạnh đòi hỏi thanh tra này bởi lẽ Trung quốc đứng đầu trong việc thải khí độc, mà nếu không có kiểm điểm việc thực hiện, thì những cố gắng gỉam thiểu khí của các nước khác trở thành vô ích.

Thái độ cố thủ của Trung quốc đã cho các nước khác dự đóan một sự gian lận nào đó mà Trung quốc không muốn cho ai biết.

Thực ra sự nghi ngờ về lòng ngay thẳng của Trung quốc ở lãnh vực Kinh tế/ Thương mại đã có một số biểu lộ với chứng cớ từ đã một số năm nay. Hình ảnh về gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc mỗi ngày mỗi hiện ra rõ hơn qua những sự việc sau đây:

1)      Thương hiệu MADE IN CHINA mỗi ngày mỗi giảm xuống qua những kiểm chứng có tính cách khoa học đối với một số những hàng hóa Trung quốc:    

*        Thực phẩm, sữa, bánh kẹo mang nhiều lượng mélanine có hại cho sức khỏe. Một số những thực phẩm được sản xuất thiếu những điều kiện vệ sinh đòi hỏi.

*        Hàng nông nghiệp mang dấu vết tồn tại của những chất sát trùng hoặc những hóa chất nguy hại.

*        Những đồ chơi cho trẻ con mang nước sơn có thể sinh bệnh, nhất là khi trẻ con cho vào miệng ngậm.

*        Hàng công nghệ đẹp mã, với giá rẻ, nhưng chất liệu xử dụng không tốt và dễ hư hỏng trong một thời gian rất ngắn.

*        Những thuốc giả đem bán tại những nước nghèo, nhất là tại Phi châu, không những không chữa được bệnh mà có thể gây thêm những bệnh khác.

*        Một số những vật liệu xây cất cũng được sản xuất với chất liệu kém, khiến những công trình xây cất nhằm dài hạn bị hư hỏng trước hạn kỳ dự trù.

2)      Những xí nghiệp, những nhà máy sản xuất nhằm sản xuất cấp thời để xuất cảng hàng h&oacut