*VietTUDAN ---- FINinfo@
*VTD-TUẦN BÁO/ Weekly
=>Số/No.485/10.03.11
=>Số/No.484/03.03.11
QUAN DIEM
THOI SU/THONG TIN
KINH TE/TAI CHANH
PHONG TRAO DAU TRANH
NHAN QUYEN/DAN CHU
LUC LUONG TON GIAO
TOT DAO DEP DOI
LAP TRUONG DAU TRANH
=>Số/No.483/24.02.11
=>Số/No.482/17.02.11
=>Những Số ĐẶC BIỆT
*VTD-NHÂN & DÂN QUYỀN
*VTD-KINH TẾ/ TÀI CHÁNH
*VTD-CHÍNH TRỊ/ĐẢNG PHÁI
*VTD-XÃ HỘI/ LUẬT PHÁP
*VTD-TÔN GIÁO/ GIÁO HỘI
*VTD-TUSACH/LIBRARY/BIBL
=>01:Lịch Sử Kháng Chiến VN
=>02:Dứt Bỏ CS để Phát Triển
=>03:Khủng Hoảng TCKT 07/08
=>04:Việt Nam Hội Nhập WTO
=>05:Dân Chủ Hóa Kinh Tế
=>06:Dân Nổi Dậy Dứt Bỏ CSVN
=>07:Dân Oan Ức Nổi Dậy
=>08:Cách Mạng Hiến Pháp VN
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN-LinhTinh/Varieties
VTD&FIN-ĐỘC GIẢ/Readers
VTD&FIN-GẶP GỠ/Meeting
VTD&FIN-LƯU TRỮ/Archives
 



 ==========================    =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM      Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                      Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne          Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================   =================================

                           

===============================================================
VietTUDAN --------------------------------------------------------------THOI SU/THONG TIN
===============================================================




                             NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:

                                    CHÍNH TRỊ TÌM CÁCH PHÂN HÓA
                                       CUỘC CÁCH MẠNG DẠ DẦY

                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                             Geneva, 03.02.2011
                                        Web: http://VietTUDAN.net


Khi dân chúng Ai Cập nổi dậy vì quyền DẠ DẦY và vì tâm lý xã hội HẬN THÙ đối với nhà độc tài MUBARAK, người ta ngại sợ rằng cuộc Cách Mạng này có thể có những phức tạp vì vị trí Chính trị của Ai Cập ở Trung Đông và vì nhà độc tài MUBARAK là con cưng của Hoa kỳ được gọi là “DICTATOR MADE IN USA“. Thực vậy, trong bài Quan Điểm về NHỮNG NHÀ ĐỘC TÀI “MADE IN USA, FRANCE, CHINA“, chúng tôi đã mào đầu như sau:
 
“Chúng tôi đã viết bài về cuộc nổi dậy của dân chúng Tunisie vì quyền DẠ DẦY. Từ quyền Dạ Dầy ấy, dân chúng mang tâm lý xã hội chung là HẬN THÙ đối với những nhà độc tài đã bóc lột dân để mình giầu nứt khố và làm cho dân nghèo kiết xác. Đó là mẫu số chung làm dân chúng NHẤT TRÍ đòi dứt bỏ những nhà độc tài. Nhưng nếu những nhà độc tài ấy được “MADE IN…” và được che chở do tính toán Chính trị, thì đó là nguồn gây ra những phức tạp bởi bản chất Chính trị là pghức tạp do tính toán mưu mẹo cố thủ giữ lấy quyền hành. Chúng tôi viết bài này với đầu đề NHỮNG NHÀ ĐỘC TÀI “MADE IN USA, FRANCE, CHINA“ như là nguồn tính toán Chính trị có thể gây phức tạp cho cuộc Cách Mạng DẠ DẦY.”

Đêm nay, xem các Đài Truyền Hình TSR1 (Thụy sĩ), TF1 (Pháp), A2 (Pháp), Euro News và CNN, chúng tôi nhận thấy thực sự những phức tạp Chính trị đang tìm cách phân hóa lực lượng Cách Mạng, đánh lạc dân chúng khỏi mẫu số chung nền tảng đoàn kết và có ý hướng che chở cho nhà độc tài “Made in USA” !

Các Đài Truyền Hình đưa tin và lo sợ một sự tính toán giữa Hoa kỳ, Do thái và MUBARAK có thể đưa đến những đổ máu tại Ai Cập trong những ngày tháng tới. Mẫu số chung đứng lên vì quyền DẠ DẦY và vì tâm lý HẬN THÙ độc tài bóc lột không được nhắc tới nữa, mà những nhà bình luận nói nhiều đến những tính toán Chính trị từ trên xuống để áp đặt lên cuộc Cách Mạng chính đáng của dân chúng.

Những tuyên bố từ ba nước được các Đài Truyền Hình trình bầy cho thấy một sự nhịp nhàng dàn xếp nào đó giữa ba nước:

=> Từ Do Thái, Thủ tướng Benyamin NETANYAHOU nhấn mạnh với quốc tế hôm thứ Ba 01.02.2011: “Israel considère que la communauté internationale doit exiger de tout gouvernement égyptien qu’il respecte le traité de paix avec Israel “ (Do Thái đòi hỏi rằng cộng đồng quốc tế yêu cầu bất cứ chính quyền nào của Ai Cập phải tôn trọng hiệp ước hòa bình với Do Thái) (Nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ) 02.02.2011, trang 2)

=> Từ Ai Cập, tối đêm 01.02.2011, TT.MUBARAK nói ngắn trên đải truyền hình hai điểm:

* Ông tự quyết định không ra ứng cử Tổng Thống vào tháng 9 tới này. Dầu sao ông cũng đã làm Tổng Thống trong 30 năm rồi và bay giờ đã 82 tuổi.

* Ông vẫn giữ quyền đến tháng 9 năm nay để làm cuộc Chuyển triếp Chính trị cho Ai Cập (Transition politique)

=> Từ Hoa kỳ, sau khi Mubarack tuyên bố giữ quyền, thì TT.OBAMA cũng tuyên bố là việc Chuyển tiếp Chính trị của Ai Cập phải được thực hiện trong “Trật Tự“ (Orderly Transition). Tuyên bố Chuyển tiếp trong “Trật Tự“ như vậy có nghĩa là TT.OBAMA lựa chọn việc giữ tại quyền TT.Mubarak cho đến tháng 9. Tờ Financial Times 02.02.2011 viết ở trang nhất như sau: “Frank WISNER, a former US diplomat sent by the Obama administration to Cairo, met Mr.Mubarak to convey the White House’s call for an orderly transition.” (Frank WISNER, một nhà cựu ngoại giao của Hoa kỳ được gửi bởi chính quyền Obama tới Cairo, đã gặp ông Mubarak để chuyển yêu cầu của Tòa Bạch Ốc về việc Chuyển tiếp trong “Trật Tự “).

Như vậy đây là sự lựa chọn giữ lại Mubarak tại quyền cho đến tháng 9. Ông John KERRY, Chủ tịch của Ủy Ban ngoại giao Mỹ, đã nói rằng ông Mubarak chỉ cần tuyên bố đơn giản là ông không ở tại quyền cho đến cuộc bầu cử tháng 9 : “John Kerry, chairman of US foreign relations committee said the Egyptian president  should declare he would not stand for the September presidential elections” (Financial Times 02.02.2011, p.1).

Đây là giải quyết thoả mãn đòi hỏi chính đáng của dân chúng và tránh những đổ máu có thể của Ai Cập. Nhưng một sự dàn xếp để Mubarak giữ quyền cho đến tháng 9 làm cho nhiều người lo ngại  đổ máu trong những ngày tháng tới.

Nhà độc tài Mubarak như vậy là còn 9 tháng nữa để xếp đặt Chính trị cho Ai Cập. Tại sao người ta không nghĩ rằng ông có đủ thời gian để thanh toán, thủ tiêu đối lập trong nước.

Quân đội Ai Cập hứa với dân rằng quân đội không xử dụng vũ khí đàn áp dân vì thấy nguyện vọng của dân là chính đáng. Nhưng trong ngày 02.02.2011, quân đội đã kêu gọi trên Đài Truyền hình Ai Cập, yêu cầu dân biểu tình hãy trở về nhà, nghĩa là đừng biểu tình nữa. Nhưng cũng trong ngày 02.02.2011, một đoàn người biểu tình xoay chiều ủng hộ Mubarak. Hai đoàn người biểu tình đã xô sát làm một người chết và 50 người bị thương. Đổ máu bắt đầu tức khắc chứ không cần phải chờ đợi trong những tháng tới.  Quân đội đã can thiệp vào. Người ta có thể nghĩ rằng có sự thảo luận giữa Quân đội và Mubarak để Quân đội can thiệp nắm quyền và vẫn giữ lại Mubarak.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 03.02.2011
Web: http://VietTUDAN.net



                                            TIN NGẮN BÌNH LUẬN
                                              TỪ 27.01-03.02.2011

                                       Nguyễn Phúc Liên/ VietTUDAN
                                               Geneva, 03.02.2011
                                         Web: http://VietTUDAN.net


Ghi lại những Tin Tức ngắn và thêm Bình Luận cá nhân khi đọc Tin trên các Diễn Đàn Internet, đọc Báo Chí, nghe Đài Phát Thanh hay xem Đài Truyền Hình. Có thể coi đây như một thứ Nhật Ký về Tin Tức.



Tất cả phục vụ từ Nhân dân, trừ Tiền thuộc Nhà Nước

Sừng sữ tại Hà Nội, một tòa nhà đề hàng chữ lớn : KHO BẠC NHÀ NƯỚC. Thực vậy, nào là các Ủy Ban Nhân Dân, Công an Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, mà Kho bạc lại không phải là Nhân Dân, mà là Nhà Nước. Cách đây 15 năm, khi Tiến sĩ PHÙNG KHẮC KẾ đang làm Giám đốc Tín dụng tại Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, tô đã chú thích với Tiến sĩ về điểm này. Các Ngân Hàng Trung ương trên Thế giới đều gọi là NGÂN HÀNG QUỐC GIA (Banque Nationale/ National Bank), mà Việt Nam lại gọi thẳng thong là NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM (Banque d’Etat du Vietnam/ State Bank of Vietnam). Tiền là của Nhân dân, của Quốc gia, chứ đâu thuộc Nhà Nước.

Thì ra Nhân dân chỉ phục vụ để Nhà Nước Cộng sản thâu Tiền vào làm của riêng Nhà Nước. Khi gọi là Tiền Nhà Nước, thì Nhà Nước tha hồ in tiền mới phá giá đồng Tiền.

Việt Nam sắp bùng nổ như Tunisia

Hôm Thứ Sáu, báo Asia Times với bài viết nhan đề “Vietnam as Tunisia in Waiting” (Việt Nam sắp bùng nổ như Tunisia) của nhà bình luận Adam Boutzan, trong đó nói rằng các bất công xã hội tại VN có thể dẫn tới các cuộc biểu tình lật đổ nhà nước.

Bài báo nói rằng thành phần trẻ thành thị VN có học đông, nhưng việc làm như ý thì không cung cấp đủ, và họ biết rằng tiếng nói của họ không được ai nghe.

VN có dân số 86 triệu người, nhưng có tới 1.2 triệu công an -- một lực lượng đầy tham nhũng đang củng cố cho một chế độ độc tài toàn trị.

Bài báo nói rằng hãy hình dung khi kinh tế đột nhiên khựng lại, hay khi một sinh viên VN tốt nghiệp đaị học mà không kiếm việc được và phải mở sạp vệ đường bán dưa hấu. Hãy hình dung khi công an tới bắt anh này vì bán không giấy phép và tịch thu dưa hấu. Haỹ hình dung anh phản đối cường quyền và bị hạ nhục. Chuyện đó có thể xảy ra tại VN. Và hãy hình dung khi nhà trí thức bán dạo kia ra đứng trước trụ sở đảng địa phương và tưới xăng tự thiêu.

Việt Nam! Việt Nam! Hãy đứng lên
 
Ngày 17-08-2009 một dân oan ở Bà Rịa, Vũng tàu, tên là Trần Thị Ngọc Anh đã ra Hà Nội từ 20-05-2009 (gần 3 tháng) để khiếu kiện. Ngày 18-06-2009 dân oan Trần Thị Ngọc Anh đã mua 4 lít xăng tưới từ đầu đến chân để tự thiêu, được bà con dân oan ngăn kịp thời. Khi được hỏi lý do tự thiêu, dân oan Trần Thị Ngọc Anh trả lời: “đi kêu oan bị xua đuổi như chó!”
 
Tuần vừa qua nhà báo Lê Hoàng Hùng, 30 năm làm báo chống tham nhũng lãng phí, tham gia giúp 68 dân oan đòi đất bị tập đoàn Việt gian Cộng Sản thu mua hằng trăm hecta cho đến 2000 hecta đất trồng lúa với giá rẻ như bèo để làm khu công nghiệp cho nhà máy thép Long An. Là một nhà báo của tờ “Lao Động”, Lê Hoàng Hùng tham gia giúp 68 dân oan khiếu kiện, nên ngày 19-01-2011 Lê Hoàng Hùng đã bị “kẻ lạ mặt” đột nhập vào nhà đổ hóa chất lên thân thể Lê Hoàng Hùng và bật lửa thiêu sống nạn nhân. Dù nạn nhân bị phỏng (bỏng) 49% thân thể, nghĩa là có thể cứu sống và chửa phỏng được bằng y khoa hiện đại. Nhưng vì “đảng” muốn bịt miệng nạn nhân, nên tình trạng gây “nhồi tim” vài lần để khai tử nạn nhân. Kết quả nhà báo Lê Hoàng Hùng chết mười ngày sau đó, tức là vào ngày hôm qua (29-1-2011). Ai là thủ phạm thì dân oan đều biết rõ, nhưng quyền lực của tập đoàn Việt Gian Cộng Sản luôn luôn thi hành chính sách bao che lẫn nhau phủ bênh huyện, huyện bênh tỉnh, nên công an chờ cho để “lâu cứt trâu hóa bùn” với lời tuyên bố là “còn trong vòng điều tra”. Những người dân oan thương tiếc cho cái chêt oan ức của anh Hùng và họ biết là từ khi tập đoàn Việt Gian Cộng sản thành hình cho đến nay, giá trị của người dân không bằng con cá lá rau, và đảng Việt Gian Cộng sản nhất quyết “bần cùng hóa người dân Việt bằng mọi phương tiện”.

Cô gái bị đánh gãy tay. (Báo Lao Ðộng)
 
QUẢNG BÌNH - Rủ nhau vào rừng hái lá giong gói bánh chưng ngày Tết, không may bị kiểm lâm bắt gặp, ba cư dân Quảng Bình bị một trận đòn no nê.Theo báo Lao Ðộng, vụ việc xảy ra gần 10 ngày nay và chỉ được phát giác sáng 25 tháng 1 từ lá đơn tố cáo của các nạn nhân. Họ gồm hai thanh niên tên Trương Văn Thanh 24 tuổi; Thái Xuân Duẫn 19 tuổi và cô gái tên Trương Thị Anh 24 tuổi đều cư ngụ tại Minh Hóa, Quảng Bình.

Cả ba cho biết đã bị 7 nhân viên kiểm lâm Vườn Quốc Gia Phong Nha-Kẻ Bàng vây đánh tới tấp đến nỗi mang thương tích khắp mình mẩy. Trương Văn Thanh còn bị đánh gãy tay. Các cán bộ kiểm lâm còng cả ba người đưa về đồn giam giữ và đòi gia đình đến lãnh về sau khi nộp phạt.
 
Tiếc rằng cán bộ kiểm lâm chỉ làm “được chuyện” với dân lành. Còn gặp lâm tặc thì ríu ríu chịu thua “cho phải phép.”cô gái tên Trương Thị Anh 24 tuổi cư ngụ tại Minh Hóa, Quảng Bình.


Chính quyền Cam Bốt lo ngại

Thủ tướng Hun Sen lên tiếng cảnh cáo dân chúng và đối lập đừng tổ chức xuống đường đòi dân chủ và chống tham ô như ở Tunisia và Ai Cập. Thái độ của vị thủ tướng lâu đời nhất châu Á gây chú ý trong giới phân tích trong và ngoài nước.

Sớm hay muộn người dân xú Chùa Tháp cũng sẽ đứng lên làm cách mạng dạ dầy thôi. Hy vọng sẽ không lâu khi đó người Việt tỵ nạn cs VN hãy cùng dân CAMBODIA ở Mỹ xuống đường biểu tình ủng hộ cuộc cách mạng dạ dầy ở CAMBODIA để  cuộc cách mạng "Dạ Dầy" lan sang VN nhanh hơn.Mong ước thay !!!)

Từ thủ đô Phnom Penh, thông tín viên Phạm Phan tường trình.
"Trong bài nói chuyện trên đài phát thanh nhà nước mới đây, thủ tướng Hun Sen nói mục đích của ông “không chỉ làm suy yếu phe đối lập mà còn phải tiêu diệt họ nữa”. Đây là phát biểu mới nhất của người cầm đầu nhà nước khiến công luận lo ngại quyền tự do trong xã hội bị đe dọa khi thời gian bầu cử Quốc hội sẽ diễn ra trong vòng hai năm nữa. Ông Hun Sen, 59 tuổi, trước đây ông nói sẽ tiếp tục cầm quyền đến 90 tuổi, trong khi đó lại dọn đường cho con trai trưởng ông lên kế vị.

Theo tổ chức nhân quyền địa phương Licadho những tiếng nói bất đồng không còn được cơ hội phát biểu và các thảo luận chính trị trên diễn đàn bây giờ bị giới hạn rất nhiều, khiến người dân cảm thấy khó thở trong môi trường chính trị sẵn sàng dùng cảnh sát đàn áp.


Quốc hội Miến Điện, một nhà tù trá hình

Theo La Croix, ngày hôm qua, hơn 1100 nghị sĩ mới được bầu đã họp lần đầu tiên tại thủ đô Miến Điện Nappyidaw và tại 14 hội đồng khu vực. Tuy nhiên, lực lượng đối lập cho rằng quốc hội mới vẫn nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của giới quân sự. Đặc phái viên của La Croix cho biết, những cuộc họp của các dân biểu Miến Điện, là nơi báo giới không được phép lui tới, diễn ra trong vòng bí mật hoàn toàn.

Theo một nhà hoạt động chính trị Miến Điện, ngay trước ngày họp, các đại biểu quốc hội vẫn chưa hề có trong tay lịch làm việc chính thức. Họ không được phép mang theo điện thoại di động hay máy tính. Ở Rangoun, an ninh còn kiểm soát cả bút viết của dân biểu để xem xem họ có gài máy ghi âm vào hay không. Quốc hội mới thực sự là một nhà tù.

Tại Quốc hội mới, tập đoàn quân sự đã tự dành trước cho mình ¼ số ghế. Sau cuộc bầu cử rất đáng ngờ, đảng của giới quân sự chiếm đến 76% số ghế của Quốc hội. Phe đối lập chỉ là một nhúm nhỏ trong Quốc hội mới. U Khin Maung Swe, lãnh đạo của đảng Sức mạnh Dân chủ Quốc gia (NDF), với 16 ghế, giờ đây phát biểu một cách hết sức dè dặt, khác hẳn với phong cách tự do vốn có của ông.

Trong Quốc hội mới, các nghị sĩ đối lập chỉ hy vọng, một số kiến nghị sẽ được chính phủ xem xét, ví dụ như việc ân xá cho hơn 2000 tù nhân chính trị. Trả lời phỏng vấn La Croix, mẹ của một tù chính trị tin rằng đề nghị của nhóm nghị sĩ NDF sẽ được chính phủ mới chấp nhận. Bà không dám nghĩ đến kịch bản tồi tệ nhất : Quốc hội mới sẽ chỉ được tập đoàn quân sự sử dụng làm nơi để biểu quyết thông qua các quyết định làm sẵn, và là một « miếng mồi » để nhử những ai vẫn còn đặt hy vọng vào việc, chế độ này có thể tự chuyển hóa thành dân chủ.

Trung Quốc : Thời tiết khắc nghiệt hoành hành

Về thời sự Châu Á, Le Monde chú ý đến thời tiết khắc nghiệt hoành hành ở Trung Quốc, vừa bị hạn hán, vừa bị giá rét. Đặc biệt miền Đông Bắc, các tỉnh Sơn Đông, Hà Bắc, Liêu Ninh bị rét cóng, mùa màng bị đe doạ.

Theo Le Monde từ ngày 25/01/2011, cho đến giờ không có một giọt mưa ở Bắc Kinh, khiến thủ đô thiếu nưóc nghiêm trọng,các biện pháp bắn mây đã không mang lại kết quả gì, và lần đầu tiên từ nửa thế kỷ nay, không thấy tuyết rơi ở Bắc Kinh, trong lúc mà năm trước, thành phố lâm vào cảnh tuyết ngập chưa từng thấy từ 50 năm nay. Không chỉ Bắc Kinh thiếu nước, tỉnh Sơn Đông cũng bị thiếu nước, đến giờ 240.000 người không đủ nước sử dụng, chinh quyền phải chở nước cung cấp, nếu hạn hán kéo dài thì đến cả triệu người không có nước dùng.

Ngoài nạn hạn hán, giá rét cũng đổ xuống Sơn Đông và cả Hà Bắc, Liêu Ninh gây ra thiệt hại kinh tế khác : hải cảng cũng như một phần ở vịnh Bột Hải, Sơn Đông, bị đóng băng, các dàn khoan dầu tại đây tạm ngưng hoạt động, cũng như việc chuyển vận hàng hoá, không kể đến ngành nuôi thủy sản.

Điều đáng lo ngại là thiệt hại mùa màng không nhỏ, giá lương thực sẽ còn lên cao. Theo Le Monde, hậu quả không chỉ ở ở Trung Quốc, vì nếu Bắc Kinh phải giới hạn xuất khẩu thì giá ngũ cốc sẽ tăng trên thị trường thế giới.


Tòa án Trung Quốc gây phẫn nộ dư luận
 
Tòa án Triết Giang , trong phiên xử hôm nay 01/02/2011 cho rằng cái chết của trưởng làng Trại Kiều hồi Giáng sinh năm ngoái là một tai nạn. Người tài xế xe bồn, không bằng lái, gây « tai nạn » bị kết án 3 năm 6 tháng tù giam. Phán quyết này gây bất bình trong giới sử dụng internet vì họ tin chắc rằng chính quyền dàn dựng tai nạn để thủ tiêu một các bộ địa phương đứng về phía dân làng chống âm mưu cướp đất.

Theo kết luận của thẩm phán tòa án thành phố Nhạc Thanh, tỉnh Triết Giang thì vụ án xe tải cán chết ông Tiền Vân Hồi, trưởng thôn Trại Kiều cuối năm vừa qua là một tai nạn. Tài xế Bí Lương Ngọc lãnh án 3 năm rưỡi tù giam với tội danh ngộ sát. Phán quyết được công bố trực tiếp trên đài truyền hình nhà nước CCTV.

Theo AFP, giới sử dụng mạng thông tin điện tử ngay lập tức tố cáo « trò hề công lý, che giấu sự thật ». Trước phản ứng mạnh của dư luận, nhiều diễn đàn trao đổi ý kiến đã bị đóng cửa có lẽ do quyết định của kiểm duyệt ngăn chận mọi công kích chống nhà nước.

Vụ trưởng thôn Trại Kiều bị xe cán trong bối cảnh địa phương này tranh đấu chống cưỡng chế trưng dụng đất đai gây không khí tranh luận sôi động trên mạng thông tin điện tử tại Trung Quốc. Với chức vụ tương đương với chủ tịch ủy ban nhân dân xã, ông Tiền Vân Hồi sau nhiều lần phản ảnh lên cấp trên mà không có hồi âm, ông đã đứng về phía dân làng, cùng ký kiến nghị đòi công lý. Bản thân ông bị bắt giam ba lần từ năm 2005 cho đến khi bị xe tải cán qua người.

Từ khi ông chết, dân sử dụng mạng kiên trì điều tra tìm hiểu sự thật, ghi lại lời nhân chứng và phổ biến tấm ảnh nạn nhân bị bánh xe cán lên ngực. Công luận càng phẫn nộ thêm khi cảnh sát thông báo nạn nhân mang máy quay phim trước khi bị xe cán. Đoạn phim này được đài truyền hình nhà nước CCTV chiếu đi chiếu lại nhiều lần. Theo cảnh sát thì tài xế tìm cách hãm phanh, thắng xe lại nhưng không tránh được tai nạn. Giới sử dụng mạng tức khắc tố cáo cảnh sát « ngụy tạo bằng chứng ».

Bắc Triều Tiên hành quyết hai công dân nhặt truyền đơn
 
Những người tại Hàn Quốc chống chế độ Bình Nhưỡng thường xuyên cho bong bóng mang theo truyền đơn từ vùng phi quân sự bay qua thả bên Bắc Triều Tiên.

Một sĩ quan và một phụ nữ đã bị xử bắn trong tháng 01/2011 tại Bắc Triều Tiên vì đã cất giữ truyền đơn và đô la do các tổ chức Hàn Quốc gởi bằng bong bóng bay ngang qua vĩ tuyến 38. Cả hai nạn nhân bị xử bắn ngày 3/01/2011 tại một nơi không xa Bình Nhưỡng. Thân nhân của họ bị nhốt vào trại tù cải tạo lao động.

Theo AFP, vào hôm nay tại Seoul, ông Choi Sung Yong đứng đầu một tổ chức tranh đấu tại Seoul cho biết một sĩ quan quân đội Bắc Triều Tiên và một phụ nữ 45 tuổi đã bị mang ra đấu tố và bị xử bắn trước 500 người tại Sariwon, cách Bình Nhưỡng 45 cây số về phía nam. Hai người này bị kết án tử hình vì giữ trong túi một số truyền đơn và vài đô la do các tổ chức nhân quyền Hàn Quốc gởi sang bằng bong bóng bay.

Theo phân tích của nhà tranh đấu này thì chính quyền Kim Jong Il dường như muốn « cảnh cáo » dân chúng Bắc Triều Tiên , siết chặt kiểm soát tư tưởng trong bối cảnh chuyển giao quyền lực cho Kim Jong Un.


Chính quyền Teheran treo cổ hai người chống chế độ

Sáng nay, 24/01/2011, chính quyền Iran đã cho treo cổ hai người từng tham gia các cuộc biểu tình phản đối việc tổng thống Iran, Mahmoud Ahmadinejad tái đắc cử trong cuộc tuyển cử hồi tháng sáu 2009. Jafar Kazemi và Mohammad Ali Hajaghaei thuộc phong trào đấu tranh Moudjahidine Nhân dân, là hai nạn nhân đầu tiên bị kết án tử hình với lý do đã « tích cực tham gia phong trào vũ trang chống chế độ ».

Theo Tư pháp Iran, hai người này đã tham gia các cuộc biểu tình phản đối kết quả bầu cử tổng thống cách nay hai năm. Cả hai đã bị bắt vào tháng 9/2009. Vào tháng 5 năm ngoái cùng với bốn nhân vật khác, cả hai ông Kazemi và Hajaghaei đã bị kết án tử hình. 
Bản cáo trạng nhắm vào các ông Kezmi và Hajaghaei ghi rõ : trong các cuộc biểu tình phải đối kết quả bầu cử, hai người này đã phát hình ảnh và á phích quảng cáo cho phong trào đấu tranh Moudjahidine Nhân dân, đã thu hình, ghi băng các cuộc xung đột giữa lực lượng an ninh với đoàn nguời biểu tình.

Hàng chục người đã thiệt mạng và nhiều ngàn người trong thành phần đối lập đã bị bắt trong đợt nổi dậy sau cuộc bầu cử tổng thống Iran 2009.
 
Mohamed Bouazizi căm phẫn và tự đốt chính mình

Cuộc nổi dậy của nhân dân Tunisia đã tống khứ tên Tổng Thống độc tài gian ác Zine al-Abidine Ben Ali, tên này đã ngồi lì trên ghế cai trị độc tài, tham nhũng trong suốt 23 năm qua. Chỉ trong vòng 4 tuần lễ, người dân Tunisia bắt đầu bằng cuộc tự thiêu ngày 17-01-2011 của một thanh niên 26 tuổi tên Mohamed Bouazizi. Mohamed Bouazizi là một sinh viên nhưng bị thất nghiệp, anh đành phải bán hàng rong để kiếm sống, bị cảnh sát của tên độc tài Ben Ali xua đuổi. Đến lúc quá căm phẫn anh Mohamed Bouazizi không còn sợ hãi nữa và anh đã quyết định đi đến tự đốt chính mình để phản đối chính quyền hà khắc. Kết quả như chúng ta đã thấy và nhân dân Tunisia họ đã tuyên bố họ “không còn sợ hãi”, họ đã chịu đựng sự “sợ hãi” mỏi mòn trong 23 năm qua. Và ngày nay là lúc chính họ phải tự đứng dậy để gỡ bỏ ách thống trị độc tài, gian ác. Và có thể nói rằng: “Tunisia! đang làm một cuộc cách mạng không có lãnh tụ”.

Mubarak đang đánh lá bài cuối cùng

Ai Cập là chủ đề thời sự tiếp tục nổi cộm, chiếm trang nhất hầu hết các báo hôm nay cũng như các bài xã luận. Hình ảnh toàn là cảnh người biểu tình ở Cairo trong các ngày qua, với cảnh người leo lên cả chiến xa của quân đội, trong lúc lính đứng yên nhìn đám đông xuống đường. Câu hỏi chung là tổng thống Ai Cập còn cầm cự được đến bao giờ ?

Nếu La Croix chạy một tựa khách quan nói đến ‘Cuộc đối mặt’, giữa chính quyền và đường phố, vì nhượng bộ của tổng thống Mubarak không giảm được cơn tức giận của người Ai Cập, Libération cũng như l’Humanité nhắc lại nguyện vọng của dân chúng chạy tựa ‘ Moubarak hãy cút đi’. Le Figaro nhận thấy ‘Washington gia tăng sức ép trên Moubarak’, les Echos như tóm lược tình hình : Ai Cập, Nhà Nước dưới sức ép của đường phố và phương Tây. Le Monde ghi nhận : ‘Quyền lực của Mubarak đang chao đảo’. Câu hỏi chung là tổng thống Ai Cập còn cầm cự được đến bao giờ ?

Libération nhận thấy là ngày tàn sắp đến, l’Humanité trong một tranh biếm hoạ, vẽ một con chim cháy trụi lông, trên lá cờ Ai Cập thay vào con chim ó thường thấy, với dòng tựa ‘mùi cháy khét đối với ông Mubarak’. Le Figaro đánh giá trong một hàng tựa trang quốc tế là ông Hosni Mubarak đang đánh lá bài cuối cùng của mình.

Trước tiên tác giả bài viết Tangi Salaun ở Cairo, trích dẫn nhận định của người dân, đánh giá ông Mubarak đã hết thời. Cho dù ông còn có thể nắm quyền trong một thời gian nữa, nhưng ông không còn uy quyền gì nữa, mất hết uy tín, không còn được ai lắng nghe và tin tưởng.

Diễn văn của ông hoàn toàn thất bại. Bây giờ dù ông có tuyên bố gì đi nữa thì đã quá trễ hoặc là quá ít đối với dân chúng. Tác giả bài báo ghi nhận là ông Mubarak trong mấy ngày qua đã vừa hứa hẹn cải tổ xoa diụ quần chúng, vừa răn đe, nhưng không hề nói đến điều quan trọng nhất đối người dân Ai câp : việc ông ra đi sau 30 cầm cương đất nước.

Chúng tôi sẽ không đợi ông ta ngồi đó cho đến tháng Chín

Nhiều người biểu tình khẳng định họ sẽ "không rời quảng trường về nhà, chừng nào Mubarak từ chức" và hô vang khẩu hiệu "hoặc tổng thống, hoặc nhân dân".

"Chúng tôi sẽ không đợi ông ta ngồi đó cho đến tháng Chín", một người biểu tình nam giới nói với phóng viên đài chúng tôi tại quảng trường trung tâm.

"Ông ta phải ra đi ngay, không điều kiện, chúng tôi sẽ không chấp nhận thêm, vì nếu không chỉ vài tháng, ông ta sẽ lại trở lại như cũ," một phụ nữ quả quyết nói thêm.

Đã có lúc chúng tôi bị ông ta làm cho sợ hãi. Nhưng nay đã khác, chúng tôi không sợ nữa, chúng tôi mạnh hơn ông ta. Ông ta phải ra đi
Người phản đối ông Mubarak

"Mubarak nghĩ ông ta sẽ ngồi trên ghế tổng thống cả đời," một thanh niên cầm khẩu hiệu 'Nhân dân đòi chính quyền ra đi' nói với BBC.

"Đã có lúc chúng tôi bị ông ta làm cho sợ hãi. Nhưng nay đã khác, chúng tôi không sợ nữa, chúng tôi mạnh hơn ông ta. Ông ta phải ra đi."

Nhân vật đối lập Mohamed ElBaradei

Người Ai Cập biểu tình tại Cairo bất chấp lệnh giới nghiêm của chính phủ được áp đặt đã ba đêm liên tiếp, và đẩy mạnh đòi hỏi của họ là Tổng thống Hosni Mubarak phải từ chức sau 30 năm cầm quyền.

Nhân vật đối lập Mohamed ElBaradei đã nói với hằng ngàn người biểu tình tại Quảng trường Tahrir ở thủ đô rằng họ “không thể trở lui” sau khi đã phát động cuộc nổi dậy chống ông Mubarak.

Một đám đông khoảng 5 ngàn người đã reo hò khi ông ElBaradei kêu gọi chấm dứt chế độ này để cho một nước Ai Cập mới của “tự do và nhân phẩm” có thể xuất hiện. Quảng trường Tahrir đã trở thành trung tâm cho những cuộc biểu tình chống ông Mubarak một cách triệt để.

Những người biểu tình cũng bất chấp lệnh giới nghiêm của chính phủ tại các thành phố khác, trong đó có thành phố cảng Alexandria ở miền Bắc, nơi hằng ngàn người tiếp tục cuộc tuần hành kéo dài cả giờ.

Phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Robert Gibbs
 
Phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Robert Gibbs đã nhiều lần được yêu cầu giải thích về những gì Tòa Bạch Ốc trông đợi nhìn thấy qua các hành động của chính phủ Ai Cập và liệu Tổng thống Obama có tin rằng Tổng thống Hosni Mubarak của Ai Cập là người sẽ thực hiện các cải cách mà dân chúng Ai Cập sẽ chấp nhận là chính đáng hay không.

Ông Gibbs đã đề cập tới nhận định Ngoại trưởng Hillary Clinton đưa ra hôm Chủ nhật, kêu gọi một sự chuyển đổi trong trật tự. Tòa Bạch Ốc cho biết Tổng thống Obama sau đó nói với các nhà lãnh đạo thế giới, qua các cuộc điện đàm, rằng Ai Cập cần chuyển sang một chính phủ đáp ứng được nguyện vọng của dân chúng.

Phát ngôn viên của Tổng thống Obama nói rằng chỉ có nhân dân Ai Cập mới có thể quyết định được tương lai chính trị của nước họ ra sao.

Ông Gibbs nói: “Đó không phải là chuyện mà đất nước chúng ta hay chính phủ của chúng ta quyết định. Tôi không nghĩ là những người muốn có tự do hơn lại đi tìm người khác giúp họ lựa chọn xem phải thay đổi những gì và thay đổi ra sao.” (Mở lỗi tai ra nghe 86 triệu người VN trong nước muốn có tự do phải mình tự giành lấy không ai giúp đâu đừng ngồi đó chờ sung rụng)

Ông Gibbs từ chối không trả lời câu hỏi liệu Tổng thống Obama có kêu gọi thẳng Tổng thống Mubarak từ chức hay không. Ông nói thêm rằng cần phải có những cuộc thương thảo có ý nghĩa với nhiều thành phần khác nhau của nhân dân Ai Cập, trong đó có các tổ chức đối lập.

Khi được hỏi về việc thông tấn xã AP trích thuật lời một giới chức chính quyền không nêu tên nói rằng Hoa Kỳ đang hối thúc ông Mubarack xúc tiến những cải cách chính yếu, trong đó có việc mở các cuộc bầu cử tổng thống khả tín vào tháng 9, ông Gibbs nói rằng những thông điệp công khai hay riêng tư dành cho Tổng thống Mubarak đều giống nhau.

Nguyễn Phúc Liên/ VietTUDAN
Geneva, 03.02.2011
Web: http://VietTUDAN.net

 


TUNISIE NGÀY NAY, VIỆT NAM NGÀY MAI

Vi Anh


Nếu thuần tuý xét nguyên do gần xa thúc đẩy dân chúng Tunisia nổi dậy biểu tình lật đổ chế độ độc tài ở Tunisia, thì thấy những gì chế độ CS Hà nội độc tài đảng trị toàn diện đã gây cho VN quá tệ lậu để người dân Việt phải làm cuộc cách mạng lật đổ độc tài CS.

Độc tài CS còn làm ác nghiệt hơn. Nào là tước đoạt nhân quyển và dân quyền, chà đạp quyền tự do, dân chủ, tự do tôn giáo của người dân; nào là tham nhũng tràn lan thành quốc nạn, coi dân như cỏ rác, cưỡng bức trưng thu đất đai của người dân, huỷ hoại mội trường; nào là vay nợ ngoại quốc đời sau phải trả còng lưng; nào là  lạm phát tăng trên đà phi mã, thất nghiệp tăng liên tục. Đã bao năm nông dân thị dân VN đau khổ vô cùng, đã hết chịu nổi. 

Thời gian độc tài gia đình trị của độc tài Ben Ali ở Tunisia chỉ có 23 năm, còn ở VN, CS Hà nội đã độc tài đảng trị toàn diện ngoài Bắc gần 75 năm, trong Nam hơn 35 năm cộng lại cả thế kỷ.

Gia đình vợ con và thân nhân bè bạn của nhà độc tài Ben Aki chiếm những chức vụ hành chánh, những lãnh vực kinh tế ngon ăn. Nhưng đâu bằng CS. Thời tiến lên xã hội chủ nghĩa, kinh tế chỉ huy, tập trung, cán bộ đảng viên CS nắm hết. CS trị dân bằng bao tử. Thời mở cửa kinh tế, cán bộ đảng viên cấu kết cùng tài phiệt ngoại quốc bóc lột người lao động như thời tư bản hoang dã.

Người dân VN đại đa số cũng như  dân chúng Tunisia đều không được hưởng lợi từ sự tăng trưởng kinh tế - rất nghèo khổ, khốn cùng. Hố sâu ngăn cách nghèo giàu, thành thị nông thôn sâu rộng không thể tả được, xã hội lúc nào cũng chực chờ nổ chụp băng một cuộc cách mạng xã hội.

Độc tài Ben Ali  cũng như CS không  đa nguyên, đa đảng, không tự do bầu cử, đặt đối lập ra ngoài vòng pháp luật, dàn dựng dân chủ trá hình, ăn gian bầu cử như Đảng cử dân bầu trong chế độ CS..

Còn hơn ở Tunisia, CS triệt tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet, dùng truyền thông làm bộ máy tuyên truyền cho chế độ thôi. Người dân không còn nơi nào để bày tỏ sự bất bình đối với chề độ, chỉ còn một còn đường là lật đổ, vứt bỏ nó đi.

Ở VNCS còn hơn nữa. Ai bất đồng chánh kiến sẽ bị trấn áp, khủng bố đen trắng xám, cho du đảng hành hung, cho công an bắt và hình sự hoá thủ tục để bỏ tù bằng một bản án do Đảng CS tiền chế. Độc tài ở Tunisia và Ai cập coi thành phần chống đối là những người bất mãn. Còn Việt Công buộc “lực lượng thù địch.”

Sức ép càng nhiều sức bật càng cao;  nên người ta thấy sự chống đối nhà cầm quyền, của người  dân Việt trong thời Việt  trước khi nổi dây,  mạnh và nhìều hơn ở Tunisia. Người Việt gọi là đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền

Người dân Việt làm một cuộc quốc tế vận mạnh hơn Tunisia. Vấn đề nhân quyền VN đi vào Quốc Hội Liên Âu, Mỹ, Úc nhờ  người Việt có  một số người và gia đình tỵ nạn CS  định cư ở các cường quốc Tây Phương như Mỹ,  Úc.
 
Độc tài Ben Ali ở Tunisia và Moubarak ở Ai cập thân thiện và đồng minh,  gắn bó với Mỹ và Tây Phương nhiều hơn  độc tài CS Hà nội. Pháp, Mỹ , Ngân hàng Thế giới và  Quỹ Tiền tệ Quốc tế ủng hộ nhà cầm quyền Tunis, Cairo hơn Hà nội và Bắc Kinh. Tây Phương xem mô hình kinh tế Tunis là tuyệt vời. Mỹ xem Ben Ali, Moubarak  là đồng minh trung thành, cốt lõi trong công cuộc chống khủng bố, và giải quyết xung đột của Do thái ở Trung Đông. Mỹ viện trợ hào phóng cho Moubarak, mỗi năm 1 tỷ rười Đô, suốt 30 năm liền.

Thế nhưng khi người dân đứng lên, nói lên tiếng nói chánh nghĩa, đổi thay chánh phủ, không có cường quốc tự do, dân chủ nào dám đương trường đứng ta binh chế độ độc tài. Dù Mỹ rất cần chế độ Moubarak trong vấn đề Trung Đông, chống khủng bố Hồi Giáo cực đoan, TT Obama cũng không dám binh người và chế độ nhân dân đang chống.

Và khi chánh phủ mới của Tunisia yêu cầu thì Cảnh sát Quốc tế Interpol, nước Thụy sĩ, Canada, các nước Liên Âu đều giúp chánh quyền mới của Tunisia truy nã TT Ben Ali, vợ và những người thân tại đào ở ngoại quốc và phong toả tài sản của họ tẩu tán cất dấu ở các nước.

Còn CS Hà nội chỉ là đối tác với Mỹ và Liên Âu nếu bị người dân nổi dậy lật đổ thì các chánh quyền tự do, dân chủ ắt càng phải dè  dặt hơn với CS .

Cuối cùng tình hình và hoàn cảnh mỗi một quốc gia dân tộc mỗi khác. Nhưng mong muốn tự do là ước vọng chung của muôn người, mọi người đều muốn được tự do. Dân chúng trong chế độ CS còn bị áp bức bóc lột hơn ở Tunisia nữa. Nhưng sự kiểm soát người dân của CS vô cùng chặt chẽ. CS là chế độ thường dùng khủng bố nhà nước để trấn áp nhân dân mình, đông lạnh người dân trong nỗi sợ.
 
Nhưng trước phong trào dân chúng đứng lên biểu tình lật đổ độc tài điểm ở Tunisia, lan sang Ai cập và phát huy tại các nước như Algerie, Jordanie, TC và Việt Cộng rất lo sợ. TQ có khoảng 450 triệu người dùng Internet mà Internet là xa lộ nối kết những người dân biểu tình ờ  Tunisia và Ai cập. TC tăng cường kiểm soát Internet. Bất cứ ai ở TQ truy cập về Ai cập  đều không được. Báo đài của Đảng thì lên án cuộc nổi dậy của người dân, đi một  tin ngắn gọn  nói cuộc biểu tình chống chính phủ Ai Cập  làm 125 người chết, hàng ngàn người bị thương trong tuần lễ và  cảnh báo là các cuộc nổi dậy của dân chúng có nguy cơ gây ra hỗn loạn xã hội.

Còn Việt Cộng thì công bố quyết định biến Bộ Chỉ huy Quân sự TP Hồ Chí Minh thành Bộ Tư lệnh TP Hồ Chí Minh nhằm "tăng cường sức mạnh vũ trang" để đối phó với các "lực lượng thù địch". Hai đô thị lớn nhất Việt Nam như vậy đang được bảo vệ bằng hai bộ tư lệnh. Bộ tư lịnh tương đương với quân đoàn có từ ba đến  bốn sư đoàn cơ hữu, mỗi sư đoàn cấp số 20,000 người. Chỉ thủ đô chánh trị Hà nội và kinh tế Saigon có bộ tư lịnh thôi.

Con Hunsen một bộ đội người Việt gốc Miên được CS Hà nội “ bố trí” làm thủ tướng, trở thành người thủ tướng lâu đời nhứt Á châu lên “ báo đài” nói, “chẳng những sẽ làm yếu đối lập mà còn diệt trắng nữa”./. ( Vi Anh)









TÌNH HÌNH AI CẬP BÙNG NỔ
VÀ NHỮNG HỆ LỤY
 
Đình Nguyễn             
January 31, 2011


Biểu tình tại Ai Cập chưa đến mức vượt ra ngoài kiểm soát nhưng đang gây ra thách thức thực sự đối với chế độ Tổng thống Mubarak. Nếu kịch bản Tunisia tái diễn tại đây sẽ gây ra những tác động lớn cho cả khu vực.  Liệu có đổ vỡ dây chuyền ở Trung Đông?
    
Chính trị Ai Cập nóng nhất trong 30 năm

Các cuộc biểu tình đòi Tổng thống Hosni Mubarak từ chức đang tiếp diễn khắp Ai Cập và đây là làn sóng nổi dậy dữ dội nhất ở nước này kể từ năm 1977. Có khoảng 1.000 người biểu tình bị bắt vì cảnh sát tuyên bố hoạt động của họ là bất hợp pháp. Người tuần hành không chịu nhượng bộ nhưng với sự gắt gao của lực lượng an ninh, họ gặp khó khăn trong việc tập hợp lực lượng.     

Biểu tình kèm theo đụng độ vẫn xảy ra tại một số thành phố, đặc biệt là ở Suez. Tuy nhiên nhìn chung cuộc sống thường nhật tại phần lớn Ai Cập vẫn diễn ra bình thường. Đa phần người dân bận rộn với cuộc mưu sinh không tham gia biểu tình. Có sự bất mãn ngày càng lan rộng với chính phủ, nhưng mới chỉ có vài nghìn người hiện thực hoá sự tức giận đó bằng cách xuống đường.
   
Một đặc điểm nữa của biểu tình tại Ai Cập là dù xuất hiện ở nhiều nơi, đây vẫn là hoạt động không có lãnh đạo trung tâm. Chủ yếu người tuần hành được tập trung thông qua các lời kêu gọi trên những trang xã hội như Facebook và Twitter, chứ không phải sau những cuộc tập hợp của các nhà chính trị.
   
Trong khi đó, phong trào Hồi giáo có ảnh hưởng nhất Ai Cập và đang bị cấm hoạt động là Muslim Brotherhood chưa có động thái nhập cuộc để ủng hộ người biểu tình. Đây có thể được coi là lợi thế đối với chính phủ, vì họ là phong trào chính trị có khả năng tập hợp lực lượng đủ lớn để làm cách mạng theo kiểu Tunisia. 
  
Chính phủ Ai Cập ban đầu đối phó với biểu tình theo kiểu truyền thống khi chỉ coi đây là mối đe doạ về an ninh. Nhưng tới cuối tuần này, hàng loạt cuộc họp khẩn diễn ra. Tiếp theo đó là những cách đối phó ở tầm vĩ mô về kinh tế và chính trị, như tăng lương, tạo thêm công ăn việc làm và những biện pháp khác xoa dịu những bất mãn về kinh tế trong người dân. Đặc biệt, sáng nay Tổng thống Hosni Mubarak tuyên bố giải tán chính phủ đồng thời hứa hẹn cải cách chính trị.


Ảnh hưởng của tình hình Ai Cập

Nếu cuộc biểu tình rầm rộ của người Ai Cập biến thành một cuộc cách mạng, thì tác động của sự kiện này đối với thế giới Ảrập cũng như chính sách của phương Tây tại Trung Đông sẽ thực sự lớn. Đây là quốc gia đông dân nhất thế giới Ảrập nên đóng vai trò chủ chốt trong các chính sách chung của những nước này.     

So với đất nước Tunisia nhỏ bé về diện tích, Ai Cập có vị thế hoàn toàn khác. Không chỉ thế giới Ảrập, mà cả phương Tây, Israel và Iran cũng có mối quan tâm đặc biệt đến tình hình nước này. Trên hết, Ai Cập có chế độ nổi tiếng về khả năng kiểm soát chính trị, nên việc sụp đổ là điều chưa từng được tính đến.
   
Theo giới phân tích, nền tảng vững khiến Ai Cập dù đang lâm vào bất ổn với làn sóng biểu tình bạo loạn khắp cả nước, những cấu trúc kinh tế và chính trị cơ bản của nước này sẽ vấn tồn tại, ngay cả khi có hay không Tổng thống Hosni Mubarak, người đã cầm quyền suốt 3 thập kỷ qua. 
 
Nếu chế độ Mubarak sụp đổ, sự kiện này sẽ ảnh hưởng đến tất cả những quốc gia và vấn đề chính trong khu vực. Đối với các nước Ả rập có truyền thống lãnh đạo cầm quyền dài, thì sự ra đi của ông Mubarak sẽ “dữ dội” hơn nhiều so với sự sụp đổ của chế độ Ben Ali tại Tunisia. Còn đối với những người biểu tình thì đây sẽ là cú hích lớn, khuyến khích thêm quan điểm rằng khu vực đang bước vào kỷ nguyên “quyền lực nhân dân” và hiệu ứng domino tại Trung Đông có thể xảy ra.
   
Tiến trình hoà bình Trung Đông cũng sẽ chịu tác động dữ dội vì kịch bản sụp đổ, do Ai Cập là nước Ảrập đầu tiên ký hiệp ước hoà bình với Israel. Phương Tây cũng sẽ lâm vào tình huống khó xử và lo ngại tình trạng mất ổn định tại Trung Đông cũng như sự trỗi dậy của chủ nghĩa cực đoan. Trong khi đó nền kinh tế cũng chịu ảnh hưởng trên quy mô khu vực và thậm chí toàn cầu nếu giá dầu tăng cao.
   
Nhân tố quyết định

Tuy nhiên, đến nay số phận của Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak vẫn chỉ là giả thiết, vì ông vẫn tại vị bất chấp làn sóng biểu tình lan rộng. Trong bối cảnh đó, vũ khí chủ chốt của ông trong việc đối phó với nổi dậy chính là quân đội và lực lượng an ninh. Đây là những nhân tố quyết định việc chế độ Mubarak có tiếp tục tồn tại hay không tại Ai Cập.     

Hai nhân tố quyết định này cũng không hoàn toàn giống nhau. Quân đội Ai Cập nhìn chung được người dân nước này tôn trọng và đặc biệt được nhớ đến với hai cuộc chiến với Israel năm 1967 và 1973. Hiện quân đội nước này có khoảng 340.000 người, do tướng thân Mỹ Mohammad Tantawi chỉ huy. 
  
Còn lực lượng cảnh sát chống bạo động Amn al-Markazi thuộc Bộ Nội vụ thì có nhiều “duyên nợ” với người biểu tình vì họ trực tiếp đối mặt trong các sự kiện trước đây. Theo BBC, lực lượng này có khoảng 330.000 người và chủ yếu được trả lương thấp. Chính họ đã từng nổi dậy vì lương thấp những năm đầu khi Tổng thống Mubarak mới lên cầm quyền và bị đặt dưới sự kiểm soát của quân đội. 
  
Ông Mubarak lệnh cho quân đội triển khai trên đường phố Cairo đêm qua với mục đích hỗ trợ cho cảnh sát chống bạo động đang bị người biểu tình áp đảo về số lượng. Nhưng nhiều người biểu tình lại hy vọng quân đội sẽ đứng về phía họ hoặc hành động kiềm chế hơn so với cảnh sát vốn rất mạnh tay. Do đó những đoàn xe quân sự đã nhận được sự chào đón của người dân. 
  
Cho đến nay, Tổng thống Mubarak vẫn nhận được sự ủng hộ của các lực lượng vũ trang gồm cả quân đội và cảnh sát, đồng nghĩa với việc ông vẫn nắm quyền lãnh đạo đất nước. Nhưng diễn biến hiện nay là thách thức lớn nhất đối với ông trong suốt 30 năm cầm quyền. Dù vẫn nắm trong tay nhân tố quyết định, nhưng nếu biểu tình tiếp tục leo thang thì có khả năng những tiếng nói có ảnh hưởng trong quân đội sẽ yêu cầu ông từ chức, và lúc đó tình hình sẽ thay đổi hoàn toàn.  

 Đình Nguyễn 

 



NGƯỜI BIỂU TÌNH AI CẬP THỀ TĂNG ÁP LỰC

John Simpson
BBC News từ Alexandria

 
Các cuộc biểu tình tại thành phố Alexandria - cũng giống như ở Cairo - hoàn toàn diễn ra một cách hòa bình vào ngày thứ Bảy và Chủ Nhật sau diễn biến bạo lực hôm thứ Sáu tuần trước, khi cảnh sát nổ súng, làm chết khoảng 30 người phản đối ở thành phố này.

Hai trong số những người bị hạ sát được chôn cất vào ngày Chủ Nhật, và hàng ngàn người đã tham dự tang lễ của họ.

Có một số khác biệt ở Alexandria - với tư cách của một thành phố quy mô trung bình. Nhưng so với Cairo, nhân tố tôn giáo ở đây lại mạnh mẽ hơn rất nhiều.

Mặc dù vậy, có nhiều điểm chung giữa hai thành phố, đó là sự phẫn nộ đối với Tổng thống Hosni Mubarak có cùng mức độ như nhau.

Ở hai thành phố này, chiến thuật của ông Mubarak cũng giống nhau: quân đội được giao nhiệm vụ đối phó với người biểu tình, hơn là giao cho lực lượng cảnh sát rất bị căm ghét sau vụ nổ súng của họ vào dân hôm thứ Sáu.

Chiến thuật của quân đội dường như là để cho các cuộc biểu tình tự nguội đi, hơn là để ngăn chặn chúng bằng sức mạnh.

Cho đến nay tại Alexandria - cũng như ở Cairo và các nơi khác - hệ thống này đã vận hành, nhưng những mối nguy hiểm luôn luôn hiện diện.

Kịch bản 'tốt nhất'
 
Những người biểu tình phản đối cầu nguyện dưới đường phố ngay trước các xe tăng của quân đội.

Có vẻ rõ ràng rằng người Mỹ đã khẩn cấp cảnh báo Tổng thống Mubarak không để xảy ra thêm các vụ giết người nữa.

Liệu ông ta có thể tồn tại trước tiếng nói của phe đối lập trên đường phố hay không?

Ông ta có vẻ còn cương quyết không chịu đào thoát như Tổng thống Ben Ali của Tunisia đã làm, và người Mỹ cũng không muốn thấy như thế.

Các khoảng trống quyền lực sẽ tạo ra các nguy hiểm rất lớn thực sự.

Từ quan điểm của Hoa Kỳ, kịch bản tốt nhất có thể diễn ra sẽ là một kết cục hòa bình cho các cuộc biểu tình, ông Mubarak nghỉ hưu trong khi một phần nào đó (ít nhất) của hệ thống quyền lực mà ông ta đã tạo ra, hy vọng sẽ giảm đi tệ tham nhũng.

Điều này không thực dễ dàng và có thể sẽ không đáp ứng được những người biểu tình vốn lên án ông Mubarak cùng toàn bộ thể chế của ông ta và muốn hạ bệ nó.

Mặc dù vậy, có lẽ việc loại bỏ các thuộc hạ thân cận cũng như những đồng minh lâu nay của ông này sẽ giúp giải quyết được vấn đề.

Nhiều yếu tố khác nữa cũng phụ thuộc vào bản thân những người biểu tình: nếu họ tiếp tục kiên quyết - một cuộc chuyển giao dễ dàng cho đồng minh thân cận của ông Mubarak sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.

Mặc dù vậy, nếu việc thiếu hụt hàng hóa trong các cửa hàng, trong lúc nạn cướp bóc xảy ra tràn lan và ước muốn chung trở lại cuộc sống bình thường có thể dần dần dẫn tới chấm dứt các cuộc biểu tình.

Khi đó thể chế - nếu không phải là chính ông tổng thống - có thể lại sống sót với quyền lực.
John Simpson là phóng viên kỳ cựu của BBC News, người từng có mặt tại các điểm nóng thời kỳ chuyển đổi thể chế ở Đông Âu trong thập niên 1980-90, và sau này trong đợt 'giải phóng Kabul', và gần đây là Miến Điện.









TRUYỀN THÔNG CÁCH MẠNG AI CẬP

Mansoura Ez-Eldin

Mùi hương “cách mạng hoa nhài” đã toả nhanh đến Ai Cập. Sau cuộc truất phế thành công nhà độc tài Tunisia Zine el-Abidine Ben Ali, trên Facebook xuất hiện lời kêu gọi xuống đường làm cách mạng Ai cập, bắt đầu vào ngày 25 tháng Giêng. Tuy nhiên dân chúng ở đây đã chế giễu những người trẻ này khi họ dùng Twitter và Facebook để đưa ra những lời kêu gọi xuống đường: có đời nào cách mạng được châm ngòi vào ngày giờ đã định trước? Hay cách mạng đã biến thành hẹn hò lãng mạn?…
 
Cairo. Vào ngày thứ Sáu, “ngày phẫn nộ”, tôi xuống đường cùng bao người khác. Bạn bè và tôi tham gia cuộc biểu tình ôn hoà xuất phát từ giáo đường Hồi giáo Amr Ibn-al-As ở phố cổ Cairo gần nhà thờ Thánh George. Chúng tôi bắt đầu hô vang không ngừng khẩu hiệu “Nhân dân muốn chế độ sụp đổ!” và cảnh sát bắn hơi cay mù mịt đón chào chúng tôi. Chúng tôi bắt đầu la to: “Ôn hoà, Ôn hoà” nhằm cố gắng chứng minh với cảnh sát chúng tôi không thù oán, chúng tôi chỉ đòi lại tự do của mình. Điều ấy chỉ càng làm cho cảnh sát thêm hung bạo. Rồi từ đấy cuộc đụng độ bắt đầu lan ra các con đường nhỏ trong khu phố cổ đa phần theo Công giáo.

Tôi cùng người bạn ẩn tránh trong đường hẻm nhỏ, ở đây mọi người ai cũng niềm nở chào hỏi chúng tôi. Dân dịa phương ở đây báo cho chúng tôi biết đừng cố gắng vượt thoát đến ga điện ngầm, mà chỉ cho chúng tôi đường thoát khác; ngay cả nhiều người trong họ cũng tham gia các cuộc biểu tình. Cuối cùng, một ngưòi lái xe hơi của mình đưa chúng tôi đến nơi an toàn.

Rõ ràng, mùi hương “cách mạng hoa nhài” đã toả nhanh đến Ai Cập. Sau cuộc truất phế thành công nhà độc tài Tunisia Zine el-Abidine Ben Ali, trên Facebook xuất hiện lời kêu gọi xuống đường làm cách mạng Ai cập, bắt đầu vào ngày 25 tháng Giêng. Tuy nhiên dân chúng ở đây đã chế giễu những người trẻ này khi họ dùng Twitter và Facebook để đưa ra những lời kêu gọi xuống đường: có đời nào cách mạng được châm ngòi vào ngày giờ đã định trước? Hay cách mạng đã biến thành hẹn hò lãng mạng?

Những câu hỏi như thế xuất hiện rất nhiều trên các mạng xã hội; nhưng ngay cả những người hoài nghi, trong đó có tôi, đã trở nên hy vọng khi các lời kêu gọi xuống đường tiếp tục lan rộng trên mạng. Trong nháy mắt, thế hệ Twitter và Facebook đã tập hợp thành công hàng trăm ngàn người trên khắp cả nước cho sự nghiệp chung của thế hệ mình. Đa số họ là những người trẻ chưa từng tích cực về chính trị, và họ không thuộc về giới đối lập chính trị truyền thống. Không như chế độ tuyên bố, tổ chức Huynh Đệ Hồi Giáo không đứng đằng sau cuộc cách mạng toàn dân này. Những người khởi xướng và tổ chức cuộc cách mạng này đã căm giận sôi sục từ lâu trước sự hành xử dã man của cảnh sát và trước sự trấn áp và tra tấn chế độ Hosni Mubarak thi hành.

Và, ngay từ đầu, chính quyền quyết định áp dụng tối đa vũ lực và sự tàn bạo để đối phó lại nhân dân với niềm hy vọng là kinh nghiệm Tunisia sẽ không được lập lại. Giờ đây suốt hàng mấy ngày trời, hơi cay đã trở thành dưỡng khí người Ai Cập phải hít vào. Hơi cay trong không khí nhiều đến nỗi có những báo cáo về trẻ nhỏ và người già nghẹt thở vì hơi độc ấy lan toả vào nhà họ. Lực lượng an ninh ở Cairo đầu tiên bắn đạn cao su vào người biểu tình, rồi tiến đến xử dụng đạn thật, qua đó cướp đi sinh mạng của hàng chục người.

Ở Suez, nơi các cuộc biểu tình diễn ra rất dữ dội, ngay từ ngày đầu cảnh sát đã dùng đạn thật bắn vào thường dân. Người bạn của tôi sống ở đấy đã gởi tôi tin nhắn, vào sáng thứ Năm, thành phố trông như thể mới vừa trải qua cuộc chiến tranh rất tàn khốc: phố xá bị đốt cháy tan tành, xác người nằm la liệt khắp nơi; rồi bạn tôi kết luận nghiêm túc, chúng tôi sẽ chẳng bao giờ biết được có bao nhiêu người đã ngã xuống trước làn đạn của cảnh sát ở Suez.

 
Quảng Trường Tự Do (Cairo)
 
Hôm thứ Sáu, sau khi thoát ra được phố cổ Cairo, các bạn của tôi và tôi tiến về Quảng Trường Tự Do, tâm điểm của thành phố hiện đại và nơi diễn ra các cuộc biểu tình lớn nhất. Trên đường đi chúng tôi hoà vào một cuộc biểu tình khác, gồm chủ yếu những người trẻ tuổi, đang tiến qua trung tâm thành phố. Từ đằng xa, chúng tôi đã có thể nghe tiếng vang rền như sấm động phát đi từ cuộc biểu tình đang diễn ra ở Quảng Trường Tự Do, và thỉnh thoảng được điểm nhịp bằng những tiếng đạn rít lên và tiếng người la thất thanh. Từng phút, từng phút hết sức cẩn trọng trôi qua, những người biểu tình chúng tôi dần dần chiếm ưu thế, và số lượng chúng tôi càng lúc càng tăng lên. Mọi người chia sẻ với nhau những chai Coca- Cola để lấy nước soda vỗ lên mặt nhằm tránh những biến chứng do tiếp xúc với hơi cay. Nhiều người mang khẩu trang, còn những người khác rắc giấm lên khăn choàng đầu của họ.

Những người chủ cửa hàng phân phát những chai nước khoáng cho người biểu tình, còn những người dân thường phân phát thực phẩm đều đặn. Từ các cửa sổ và ban công phụ nữ và trẻ em nghiêng người ra để cùng hô khẩu hiệu với những người xuống đường. Tôi chắc chắn không bao giờ quên hình ảnh một phụ nữ quý tộc vừa lái chiếc xe sang trọng qua những đường phố nhỏ hẹp vừa cổ vũ những người biểu tình hãy giữ vững tinh thần, và nói với họ rằng chẳng bao lâu từ các nơi khác nhau trong thành phố hàng chục ngàn người khác sẽ sớm gia nhập với họ.

Sau vài cố gắng không thành để vượt qua những trạm kiểm soát an ninh để đến Quảng Trường Tự Do, chúng tôi ngồi nghỉ ở quán cà phê. Ngồi kế bên chúng tôi là ba sĩ quan từ Lực Lượng An Ninh trung ương của chế độ. Họ có vẻ hoàn toàn bình thản, như thể họ chẳng mảy may bận tâm gì đến bao tiếng đạn rít lên và tiếng la hét bên ngoài, hay đến số người Ai Cập thương vong được Al Jazeera tường thuật đang phát ra từ chiếc ti vi ở trong quán. Họ và các đồng nghiệp của họ có mặt khắp thành phố để theo dõi đồng bào mình.

Vào tối thứ Sáu cảnh tượng hỗn loạn tăng lên theo từng giờ. Những đồn cảnh sát và trụ sở của Đảng Dân Chủ Quốc Gia cầm quyền bị đốt cháy khắp nơi trên cả nước. Tôi đã khóc khi biết tin 3000 người tình nguyện đã tạo ra vành đai người bao quanh viện bảo tàng quốc gia để bảo vệ nơi này khỏi bị cảnh cướp bóc và phá hoại. Những ai tình nguyện làm những chuyện như thế chắc chắn là người học cao và có văn hoá, chứ không phải những kẻ cắp hay bọn phá hoại như họ đã bị tố cáo bởi chính những kẻ phá hoại và ăn cắp Ai Cập trong suốt bao thế hệ.

Do giới nghiêm nên tôi không thể về nhà được, tôi đành qua đêm tại nhà người bạn gần toà nhà Quốc Hội và bộ Nội Vụ, một trong những nơi sóng gió nhất trong thành phố. Tối hôm đó, tiếng đạn rít lên liên tục. Từ cửa sổ chúng tôi theo dõi cảnh sát bắn mà không sợ bị kết tội vào những người biểu tình và vào trạm bán xăng gần đấy có lẽ như mong xảy ra vụ nổ. Bất chấp tất cả những điều này và bất chấp lệnh giới nghiêm, những cuộc biểu tình không chấm dứt, mà còn sôi sục kéo dài thêm ra do dân chúng tức giận khi thấy tổng thống Mubarak chậm phát biểu trước nhân dân, và vài giờ sau đó, họ lại càng tức giận hơn khi ông ta cuối cùng đọc một bài diễn văn rất đáng bị lên án.

Vào sáng thứ Bảy, tôi rời nhà bạn tôi để đi về nhà mình. Tôi bước qua những mảnh thuỷ tinh vương vãi trên đường phố, và tôi có thể ngủi được hậu quả của những đám cháy hoành hoành suốt đêm qua. Quân đội, được chế độ điều đến để dẹp tan các cuộc biểu tình, hiện diện ở khắp mọi nơi. Tôi lúc đầu cố gắng đi băng qua Quảng Trường Tự Do để chính mắt mình xem viện bảo tàng có an toàn hay không. Một người qua đường cho tôi hay quân đội giờ đang cấm mọi người đi vào quảng trường và họ đang bắn súng. Thoáng chút lo lắng, tôi hỏi anh ta: “Thế quân đội đang bắn vào những người biểu tình ư ?” Anh trả lời tự tin: “Tất nhiên là không rồi. Quân đội Ai Cập chưa bao giờ bắn vào người dân Ai Cập nào, và bây giờ chắc chắn sẽ không bắn dân”. Cả hai chúng tôi đều công khai bày tỏ mong muốn điều đó là sự thật, mong muốn quân đội đứng về phía nhân dân.

Binh lính hiện đang canh chừng các cuộc biểu tình vì lực lượng cảnh sát đã hoàn toàn biến mất trên đường phố, như thể muốn khiêu khích dân chúng phải chọn lựa giữa sự hiện diện của cảnh sát và cảnh hỗn loạn! Khắp thành phố băng đảng vũ trang mọc lên như nấm tìm cách đánh cướp các cửa hàng và xông vào nhà dân khủng bố. (Đêm thứ Bảy, một băng đảng mưu cướp tại toà nhà nơi tôi ở, nhưng chúng không thể đột nhập vào được). Những người dân địa phương tình nguyện đã lập ra những uỷ ban để đương đầu với bọn tội phạm, trong tâm trạng rất bức xúc là chế độ cầm quyền cố tình gây ra cảnh hỗn loạn này.

Vào cuối ngày thứ Bảy, khi đi dọc theo bờ sông Nile về hướng đường Corniche, tôi đi ngang qua con đường nhỏ trong khu Phố Vườn giàu có, tại đây tôi bắt gặp một phụ nữ đang khóc. Tôi hỏi bà chuyện gì đã xảy ra, bà cho biết con trai bà, nhân viên của khách sạn sang trọng, đã bị trúng đạn của cảnh sát ở ngay cổ họng dù anh không tham gia biểu tình. Giờ đây người con bị tê liệt đang nằm ở trong bệnh viện, còn bà đang trên đường đi đến khách sạn để xin phép cho con được nghỉ bệnh. Tôi ôm bà và cố gắng an ủi, rồi bà nói qua dòng nước mắt: “Chúng ta không thể nào im lặng trước những chuyện đã xảy ra. Im lặng là tội ác. Máu của những người đã ngã xuống không thể nào bị chảy phí đi”.

Tôi đồng ý. Im lặng là tội ác. Dù chế độ vẫn tiếp tục tấn công chúng tôi liên tục bằng đạn và hơi cay, tiếp tục ngăn chặn truy cập mạng và cắt điện thoại di động của chúng tôi, chúng tôi nhất định tìm đủ mọi cách để truyền tiếng nói của mình ra khắp nơi thể giới, và nhất định tìm đủ mọi cách để giành lại tự do và công bằng.

Mansoura Ez-Eldin

(Nguyên tác tiếng Ả Rập, bản dịch sang tiếng Anh của Ghenwa Hayek, trên New York Times, ngày 31/01/2011)

Nguồn: bản dịch của Trần Quốc Việt đăng trên Dân Làm Báo, ngày 02/02/2011

Mansoura Ez-Eldin là tác giả các tiểu thuyết Mê cung của Maryam và Bên kia thiên đường.

 







DÂN AI CẬP RỬA NHỤC

Ngô Nhân Dụng


Cuộc cách mạng ở Ai Cập bùng nổ vì người dân không chịu sống mãi trong nhục nhã. Với dân số 84 triệu người tương đương với Việt Nam, lợi tức theo đầu người là 5,650 đô la, cao gấp hai lần người Việt Nam, nhưng 40% dân số vẫn sống với dưới 2 đô la một ngày.

Trong khi đó giới trưởng giả tổ chức một đám cưới linh đình, riêng tiền mua hoa đã tốn 50,000 đô la, và áo cưới đặt mang từ Paris qua. Bất công xã hội trầm trọng là một mối nhục, không phải chỉ cho những người nghèo khó mà cho cả các thanh niên, sinh viên thuộc giới trung lưu.

Trong hai lần đến Ai Cập mấy năm vừa qua, ký giả này đã chứng kiến những thanh niên có học nhưng thất nghiệp, đi quanh đám du khách gạ bán những thứ hàng thủ công chỉ đáng một vài đô la Mỹ. Khi không ai mua, chàng thanh niên bèn hỏi có gì cho mình hay không! Những trẻ em đang tuổi đi học nhưng lang thang đi ngửa tay xin tiền. Khi không xin được tiền, các em đều biết ngỏ lời xin những thứ lặt vặt như cây bút cài trên áo, hay cái túi xách tay để trống! Du khách có cảm tưởng mình đến một quốc gia chuyên nghề ăn xin! Kỹ nghệ du lịch mang lại món ngoại tệ lớn nhất, chiếm một phần 8 Tổng Sản Lượng Nội Ðịa. Trên mỗi xe buýt chở du khách có một công an mặc thường phục đi kèm. Người hướng dẫn du lịch nói một câu “phạm húy” về một vụ đất lở làm sập những ngôi nhà nghèo nàn mà chính quyền muốn che giấu, và nói có hàng triệu người mỗi đêm về ngủ trong nghĩa địa, buổi tối hôm đó anh ta bị mất việc. Ông tổng thống Ai Cập không bị mang tiếng ăn cắp của công, nhưng ông đã nuôi dưỡng một chế độ công an bảo vệ cho cảnh bất công và tham nhũng tràn lan. Giống như những nhà độc tài khác, ông đang tính cho con ông chuẩn bị lên nối ngôi!

Nhưng người dân Ai Cập đã hết kiên nhẫn. Biến cố xẩy ra bất ngờ và được châm ngòi từ những sự kiện rất nhỏ.

Ngày 6 tháng 6 năm 2010, anh Khaled Said, 28 tuổi, bị công an mặc thường phục đánh cho tới chết. Hình ảnh đầu và mặt anh đầy thương tích được truyền đi từ thành phố Alexandria qua Internet tới khắp cộng đồng mạng của thanh niên Ai Cập. Ai thấy cũng phẫn uất. Một thanh niên khác ở Cairo, anh Shadi Taha, 32 tuổi, nói mọi người phải bày tỏ thái độ bằng một cuộc biểu tình.

Ðề nghị này được truyền đi trên Facebook và Twitter. Nhiều người góp ý kiến với Taha trên mạng; sau cùng, họ đồng ý chọn biểu tình vào ngày 25 tháng 1 năm 2011. Vì đó là Ngày Công An, mỗi năm Tổng Thống Hosni Mubarak thường tới Công trường Tahrir, Tự Do, đọc diễn văn khen ngợi và ghi công các công an đã bảo vệ chế độ trong ngày này. Qua Facebook và Twitter là lời kêu gọi: Ngày 25 hãy kéo tới Công trường Tahrir!

Nhưng ý định biểu tình là một ảo tưởng. Ai Cập có mấy đảng đối lập yếu ớt; nhiều đảng chính trị bí mật, họ đã thành lập một Liên Hiệp Ðòi Cải Tổ. Nhưng chưa bao giờ họ tổ chức được một cuộc biểu tình! Chế độ Mubarak đã cai trị Ai Cập suốt 30 năm, với gần nửa triệu quân đội, với guồng máy công an chằng chịt, ở thành phố trung bình cứ 10 người dân là có một công an. Shadi Taha không hy vọng sẽ có được một trăm người tới biểu tình vào ngày 25 tháng 1!

Cho tới khi, một chuyện tình cờ xảy ra, ở cách Cairo mấy ngàn cây số. Ngày 17 tháng 12 năm 2010, tại nước Tunisia một sinh viên tốt nghiệp nhưng không có việc làm, anh Mohamed Bouazizi, 26 tuổi, bị công an bắt về tội đi bán rau và trái cây không giấy phép (và không hối lộ để được bỏ qua). Anh bị một bà chị công an 45 tuổi tát tai, bị đem về bót đánh nữa, cái xe rau của anh bị phá. Ngày 4 tháng 1, 2011, Mohamed Bouazizi chịu nhục nhã không nổi, đổ xăng tự thiêu ở thị xã Sidi Bouzid. Cái chết của anh làm nổ bùng một làn sóng phẫn nộ. Thanh niên, sinh viên, học sinh đi biểu tình khắp các thành phố. Mười ngày sau, ông Tổng Thống Tunisia Zine El Abidine Ben Ali phải bỏ trốn, sau 23 năm cầm quyền.

Biến cố ở Tunisia đã khích động giới thanh niên khắp thế giới Ả Rập. Thanh niên xuống đường biểu tình ở khắp nơi đòi tự do: Jordan, Algeria, Yemen. Tổng Thống Ali Abdullah nước Yemen lúc đầu bắt giam các nhà báo, sau phải trả tự do cho bà Tawakul Karman, người đã lập Hội các Nhà báo Phụ nữ không bị xiềng xích. Sinh viên Ðại Học Sana'a biểu tình đòi chấm dứt 32 năm độc tài của ông Ali Abdullah. Quốc vương Jordan Abdullah II cách chức chính phủ thay đổi thủ tướng để xoa dịu lòng dân. Nhà độc tài xứ Syria tuyên bố sẽ cải tổ chính trị cho dân được tự do hơn. Ở những nước xa xôi, tiếng vang cũng dội tới. Chính quyền Bắc Kinh kiểm duyệt tất cả những tin trên mạng có tên nước Ai Cập. Chính quyền Campuchia cũng lo ngại. Trong một cuộc biểu tình chống chính phủ ở Nga, thường xuyên tổ chức mỗi ngày 31 trong năm để nhắc nhở điều 31 trong Hiến Pháp về các quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận, một lãnh tụ đối lập cựu thị trưởng Moscow đã ví Thủ Tướng Vladimir Putin như ông Mubarak!

Không ở đâu phong trào phản kháng mạnh mẽ như ở Ai Cập. Chế độ Mubarak sẽ sụp đổ. Vì các sinh viên, thanh niên, học sinh Ai Cập đã xuống đường, và cha mẹ, anh chị của họ đã phục hồi được lòng tự trọng, dám đương đầu với chế độ độc tài. Hơn 250,000 người xuống đường ở Cairo ngày hôm qua, nông dân, sinh viên, công nhân, nhà giáo, phụ nữ che khăn kín đầu theo lối cổ và các phụ nữ đi giầy cao gót theo lối mới; họ từ nhiều nơi kéo về, chen vai nhau, cùng hát những bài ca ái quốc và hô khẩu hiệu chống chế độ độc tài tham nhũng.

Các nhà báo nước ngoài ngạc nhiên vì tình trạng ôn hòa trong những cuộc biểu tình suốt tuần qua. Người dân Ai Cập đã biểu lộ được sự trưởng thành của họ. Một xã hội công dân đã bắt đầu xuất hiện trong một sớm một chiều tại Ai Cập. Người dân tự động tổ chức cùng theo đuổi những mục tiêu xa hay gần. Xa là lật đổ chế độ độc tài, việc huy động dễ dàng hơn. Gần, là việc giữ trật tự, an ninh, cần phải có một ý thức công dân rất cao mới thành tựu được. Trong cuộc biểu tình nhiều thanh niên đeo băng tình nguyện giữ trật tự. Từ tuần trước, khi tất cả cảnh sát, công an bỏ trốn, các khu phố tự tổ chức việc canh gác để ngăn ngừa cướp bóc. Lời kêu gọi cuộc biểu tình đầu tiên được truyền đi trên Internet, nhưng sau đó các nhóm thanh niên 2 hay 3 người đã đi phân phát các tờ truyền đơn nhỏ, với một thông điệp ngắn gọn: Hãy tới Công trường Tự Do ngày 25 tháng 1, 2011!

Những hiện tượng trên cho thấy trình độ trưởng thành của dân Ai Cập.

Người Ai Cập phải chờ đợi một thế hệ mới có cơ hội ngẩng đầu lên. Một giáo viên, Sahar Ahmad, 41 tuổi, nói sau 22 năm dạy học bà hy vọng cuộc cách mạng sẽ giúp nước Ai Cập có một nền giáo dục khá hơn. Khi quốc gia được dân chủ hóa, bà hy vọng chính gia đình bà cũng dân chủ hơn. Tamer Adly, một tài xế xe buýt chở những người biểu tình từ xa về Cairo nói anh đã chán ngấy cảnh nhục nhã bị công an đòi hối lộ và sai bảo anh như sai đầy tớ. Khi người dân đứng dậy, chế độ công an toàn trị đã tan rã trong mấy ngày, đó là một tấm gương cho tất cả các chế độ độc tài khắp thế giới! Nhưng cho đến phút chót, đám công an vẫn cố kiếm ăn thêm trong chuyến tầu chót. Với 18,000 người ngoại quốc kẹt ở phi trường Cairo tìm đường ra, công an canh gác vẫn đòi người ta đưa tiền mới cho vào phi trường!

Xã hội công dân Ai Cập đã từng bị kềm hãm không cho phát triển vì chính quyền ngăn cản. Cả nước có 5 đảng đối lập chính thức, nhưng có hàng chục đảng bí mật. Tổ chức lâu đời nhất và đông người tham dự là Huynh Ðệ Hồi Giáo, tuy chủ trương ôn hòa bất bạo động nhưng vẫn bị cấm đoán. Anh Shadi Taha, một người khởi xướng cuộc biểu tình đầu tiên, là người thuộc đảng Al-Ghad của ông Ayman Nour, một đại biểu Quốc Hội và ứng cử viên tổng thống, đã từng bị chế độ Mubarak bỏ tù 5 năm, năm 2009 mới được tự do vì lý do sức khỏe. Ông vốn là một luật sư, một nhà báo, 46 tuổi, đã tranh đấu chống tham nhũng và đòi cải tổ chính trị.

Dưới thể chế độc quyền chính trị của Mubarak, các tổ chức công dân không có cơ hội phát triển. Tuy nhiên, chính quyền Mubarak cũng cho phép báo chí tư nhân ra đời, và nhiều hiệp hội tư hoạt động, so với các nước cộng sản còn tự do hơn nhiều. Chính phủ Mỹ có một chính sách viện trợ trực tiếp cho các tổ chức tư nhân, nhưng bị giới hạn không được cổ động việc thay đổi chính trị. Những tổ chức họat động có hiệu quả nhất đều liên hệ đến tôn giáo, và họ đều từ chối không nhận tiền đóng góp từ nước ngoài. Huynh Ðệ Hồi Giáo đã thành lập một mạng lưới xã hội và y tế, nhưng luôn luôn bị công an nhòm ngó.

Ðiều mà người ta lo ngại nhất hiện nay là sau khi chế độ Mubarak sụp đổ, Huynh Ðệ Hồi Giáo sẽ trở thành lực lượng lớn nhất và tổ chức chặt chẽ nhất, và họ có thể bị những người Hồi Giáo quá khích xâm nhập. Tổ chức Hồi Giáo này không đứng ra tổ chức các cuộc biểu tình, và trong những ngày đầu tiên họ không tham dự. Tuy nhiên nếu có những phần tử quá khích len lỏi vào thì không biết họ có thể lợi dụng lòng nhiệt tín của người dân mà cướp lấy cuộc cách mạng hay không!

Chúng ta biết tại Iran năm 1979 phong trào chống Sa hoàng cũng do các đoàn thể nhân dân không tôn giáo bắt đầu với mục tiêu thiết lập nền dân chủ. Nhưng sau đó giới giáo sĩ đã dần dần chiếm lấy cuộc cách mạng này, chỉ 4 năm sau họ đã đặt nước Iran dưới một chế độ thần quyền đọc đoán.

Ðiều đáng lo cho người Mỹ là chính quyền cách mạng sắp lên có thể thù ghét nước Mỹ sau 30 năm ủng hộ chế độ Mubarak, với số tiền viện trợ 1 tỷ rưỡi đô la một năm, trong đó 1.3 tỷ dành cho quân đội. Trong tuần qua, chính phủ Mỹ đã tìm cách chứng tỏ họ đứng về phía người dân Ai Cập. Bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã nói từ tuần trước yêu cầu ông Mubarak hãy “chuyển giao” quyền hành cho dân. Hôm qua, Tổng Thống Barack Obama đã cử một đặc sứ sang Cairo và trực tiếp gọi điện thoại cho ông Mubarak khuyên nên rút lui.

Vùng Trung Ðông đang sóng gió, báo hiệu một thời kỳ mới. Hai lần trước, Trung Ðông đã thay đổi, là năm 1952 khi các sĩ quan lật đổ một ông vua thối nát và năm 1979 khi dân Iran lật đổ một ông vua khác.

Người đang được chú ý nhất tại Ai Cập là ông Mohamed ElBaradei, người cầm đầu Ủy Ban Nguyên Tử Lực Liên Hiệp Quốc trong hơn 10 năm, vốn được tiếng không phải là “người của Mỹ.” Năm 2003, ông và ông Hans Blix đã cầm đầu một phái đoàn thăm Iraq trước khi Mỹ tấn công nước này. Hai người đã khuyên không nên tấn công Iraq vì không có chứng cớ là xứ này đang chế bom nguyên tử. Nếu ông ElBaradei nắm chính quyền với thái độ độc lập và ôn hòa, nước Mỹ hy vọng có thể tiếp tục chính sách hòa bình ở Trung Ðông. Nhưng chính các nước Ả Rập trong vùng này đang chuyển mình. Một giai đoạn mới bắt đầu trong lịch sử Trung Ðông và lịch sử các nước Hồi Giáo.

Một thầy tử vi ở Hồng Kông đã tiên đoán năm Tân Mão sẽ nhiều biến động khắp thế giới do giới thanh niên khởi xướng. Cuộc biến động đầu tiên đã mở màn.


 




MUBARAK KHÔNG RA TRANH CỬ NỮA
  
Thứ Ba, 01 tháng 2 2011

Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak tuyên bố sẽ không ra tranh cử lần nữa chấm dứt 30 năm cầm quyền
Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak đã tuyên bố trên đài truyền hình tối hôm thứ Ba ông sẽ không ra tranh cử lần nữa vào tháng 9, chấm dứt 30 năm cầm quyền. Ông nói, “Tôi đã cạn cuộc đời phục vụ nhân dân” và cho biết ông rời chức vụ để giữ đất nước được ổn định.

Bài nói chuyện được thu sẵn được phát đi trên đài truyền hình nhà nước giữa lúc hàng vạn người biểu tình tiếp tục xuống đường đòi Tổng thống từ chức.

Hằng trăm ngàn người tiếp tục tụ tập tại quảng trường Tahrir, Giải Phóng, một địa điểm lịch sử.

Lời loan báo của Tổng thống dường như chẳng làm dịu được sự phẫn nộ của quần chúng, chỉ muốn ông đi ngay.

Trước khi có lời loan báo, người biểu tình ra thời hạn chót là cuối tuần này để ông ra đi.

Tại các thành phố khác như Suez, Mansoura và Alexandria cũng có hàng vạn người biểu tình.

Người biểu tình ở thủ đô Cairo hát bài “Vĩnh biệt Mubarak” và khi có những máy bay trực thăng bay ngang, đoàn biểu tình hô to “Hãy mang ông ta đi cùng”. Các hình nộm của Tổng thống được treo khắp các trụ đèn giao thông.

 

ẢNH HƯỞNG CÁCH MẠNG DẠ DẦY
LAN RẤT MAU

Ðộc tài Syria nay cũng nói đến ‘cải cách’

DAMASCUS (WSJ) - Tổng thống Syrian, Bashar al-Assad, người thừa hưởng quyền tổng thống từ cha mình, duy trì chế độ độc tài cầm quyền từ bốn thập niên nay, mới đây cho hay ông sẽ đưa ra các hành động cải cách chính trị tại quốc gia này, một chỉ dấu cho thấy cuộc nổi dậy của dân chúng ở Ai Cập đang buộc chính quyền khắp vùng Trung Ðông phải nhìn lại cách cai trị của mình.

Tổng Thống Assad cho tờ The Wall Street Journal hay trong cuộc phỏng vấn là các cuộc biểu tình ở Ai Cập, Tunisia và Yemen đang đưa đến “một thời đại mới” ở vùng Trung Ðông và các nhà lãnh đạo Ả Rập phải có thêm hành động nhằm đáp ứng các mong mỏi về chính trị và kinh tế của người dân.

“Nếu người ta không nhìn thấy nhu cầu của cải cách trước khi có những gì xảy ra ở Ai Cập và Tunisia, thì đã quá trễ để có hành động cải cách gì,” ông Assad cho hay tại Damascus, trong khi người biểu tình ở Ai Cập tràn ngập đường phố Cairo đòi hỏi Tổng Thống Hosni Mubarak phải từ chức.

Ông Assad, người lên kế vị chức tổng thống của cha mình, luôn kiểm soát chặt chẽ đất nước Syria và không để cho có sự chống đối nào. Chế độ của ông duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Iran và các nhóm dân quân như Hezbollah ở Lebanon và Hamas ở trong lãnh thổ Palestine.

Tuy phần lớn các vụ bất ổn trong vùng Trung Ðông đang xảy ra trong các quốc gia đồng minh với Washington, sự kiện ông Assad có lời phát biểu như trên cho thấy ảnh hưởng dây chuyền của tình trạng bất ổn tại Ai Cập đang làm cho giới lãnh đạo Trung Ðông phải suy nghĩ, dù là bạn hay thù với Mỹ.

Thái độ của Syria cũng là điều đáng quan tâm vì trong khi mối quan hệ giữa ông Assad và Mỹ tiếp tục căng thẳng, chính phủ Obama đang có những nỗ lực nhằm lôi kéo ông Assad xa ra khỏi Iran và đến gần Washington hơn.

Tổng Thống Assad trong cuộc phỏng vấn cho hay rằng vì lập trường chống Mỹ và cuộc đối đầu với Israel nên ông có sự ủng hộ nhiều hơn của quần chúng trong nước, do vậy có thời giờ để tiến hành các cải cách cần thiết.
(V.Giang)


Emir (vua) Koweit lo sợ dân nôỉ loạn

Emir (vua) Koweit lo sợ dân nôỉ loạn nên đã khôn ngoan hô^m 28.1.:
+ xóa hết nợ dân
+ cho dân 5 tỷ dollars (3580 USD / 1 người)
+ cung cấp lương thực miển phí cho dân đến 31.3.2012 (13 tháng)
 

CS cao cấp đua nhau "ĐẤU GIÁ NHÀ"

Tin tư Sàigon cho biết:

Từ 2 tuần nay, các cán bộ CS cao cấp đua nhau "ĐẤU GIÁ NHÀ" bọn chúng
 
Tại sao dùng phương thức "Đấu gía nhà" mà không bán nhường cho thân nhân hay bán đức cho người ngoài ?

Theo 1 số luật gia thì khi bán đấu gía thì khi chủ củ (tức chúng ta khi vượt biên... hay đoàn tựu gia đình, giao nhờ "Chánh phủ quãn lý "...) sẽ khó đòi lại hay mua lại hơn.Dĩ nhiên đây là những cuộc đấu gía cuội, bán cho người nhà (bà con xa,...) để giử của giùm chúng 1 thời gian...

Một số những Đãng Viên cao cấp đó đã thu dọn đi qua các nơi (quận, tỉnh...) khác an toàn, mà dân chúng không còn nhận diện ra chúng là "có nợ máu nhân dân)
 
Vậy thời gian CS sẽ bị Dân làm thịt sẽ không còn bao xa ...
Hơĩ đám Chó Săn hung hăng vơí Dân Lành, hãy mở mắt nhìn Chủ tụi bây đang trốn chạy như chuột cống kìa
Hiển


CSVN ĐỒNG MINH ĐÁNG XẤU HỔ CỦA MỸ

Ngoại trưởng Hillary Clinton từng nhiều lần tới Việt Nam trong đó có chuyến thăm cùng Tổng thống Bill Clinton hồi năm 2000

Tạp chí có tiếng Foreign Policy - Chính sách Ngoại giao - đã đưa Việt Nam vào danh sách "các đồng minh đáng xấu hổ nhất" của Hoa Kỳ nhân các diễn biến ở Ai Cập nơi Tổng thống Hosni Mubarak là người được Hoa Kỳ hậu thuẫn.

Trong phần nêu danh Việt Nam, tạp chí nói 'lãnh đạo' Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng chính phủ mới vừa được bổ nhiệm thêm nhiệm kỳ thứ hai bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng duy nhất được pháp luật cho phép bổ nhiệm các nhà lãnh đạo từ hàng ngũ của chính đảng này.

Bấm Foreign Policy trích báo cáo của Human Rights Watch nói "Việt Nam đã tăng cường trấn áp nhân quyền trong năm qua, bỏ tù những người bảo vệ quyền con người, blogger và những người vận động chống tham nhũng".

Bên cạnh đó, tạp chí cũng nói các nhóm tôn giáo bị sách nhiễu nhiều lần trong khi sự tàn bạo của cảnh sát và các trường hợp tử vong khi bị cảnh sát giam xảy ra thường xuyên.

Về kiểm soát internet, Chính sách Ngoại giao nhận định:

"Cũng giống Trung Quốc, Việt Nam dựng tường lửa internet, chặn các trang web mà họ phản đối và đòi các nhà cung cấp dịch vụ và các quán cafe internet cài đặt phần mềm theo dõi người dùng".

'Hỗ trợ của Hoa Kỳ'

Foreign Policy nói "Ba mươi lăm năm sau cuộc chiến Việt Nam và 15 năm sau ngày quan hệ ngoại giao được tái lập, quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chưa bao giờ gần gũi hơn hiện nay."

"Ý thức được sự trỗi dậy của Trung Quốc, hai nước đã tăng cường quan hệ quốc phòng bao gồm tập trận quân sự và một hợp đồng hạt nhân dân sự tiềm năng."

Ý thức được sự trỗi dậy của Trung Quốc, hai nước đã tăng cường quan hệ quốc phòng bao gồm tập trận quân sự và một hợp đồng hạt nhân dân sự tiềm năng.

Tạp chí Foreign Policy

Nhưng tạp chí cũng nói trong tháng Một năm nay, Hoa Kỳ đã phải phản đối khi một nhà ngoại giao của họ ở Việt Nam bị vật xuống đất và khiêng đi khi đến thăm một linh mục bất đồng chính kiến có tiếng ở Huế.

Những nước khác có tên trong danh sách tám "đồng minh đáng xấu hổ nhất" khác nữa của Hoa Kỳ ngoài Ai Cập còn có Kazakhstan, Jordan, Ethiopia, Saudi Arabia, Uganda, Uzbekistan và Yemen.

Tại Kazakhstan, Tổng thống Nursultan Nazarbayev, cựu lãnh tụ Đảng Cộng sản, đã cai trị đất nước này từ năm 1991 mà không có cải tổ chính trị.

Ở Jordan, Vua Abdullah II lên ngôi từ năm 1993 và hệ thống bầu cử ở nước này được cho là "có lỗ hổng nghiêm trọng".

Foreign Policy nói chương trình cải cách kinh tế của Vua Abdullah đã dẫn tới mức tăng GDP ổn định nhưng cũng giống như ở Ai Cập, phát triển kinh tế đã không giúp người nghèo bớt khổ và thất nghiệp có thể cao tới 30%.

Vị Vua Jordan đã vừa phải bổ nhiệm thủ tướng mới hôm thứ Ba và ra lệnh "cải tổ chính trị thực sự" sau khi phe Hồi giáo đối lập biểu tình trong nhiều tuần đòi chính phủ từ chức.

Các nước còn lại trong danh sách đều bị tố cáo có chính sách bóp ngẹt không gian cho bất đồng chính trị và những chỉ trích độc lập, áp dụng các hình thức tra tấn và tham nhũng tràn lan.

Tại Saudi Arabia, chỉ riêng trong năm 2009 đã có tới 2000 người bị bắt về các cáo buộc chính trị trong khi chín triệu phụ nữ bị cấm làm một số việc nhất định, không được lái xe và cũng có luật buộc họ phải phục tùng chồng.

Yếu tố Ai Cập

Người biểu tình ở Ai Cập đòi đích danh ông Hosni Mubarak từ chức

Danh sách "các đồng minh đáng xấu hổ nhất" của Hoa Kỳ được Foreign Policy cập nhật sau các diễn biến ở Ai Cập, nơi người dân đã vùng lên đòi đích danh Tổng thống Hosni Mubarak từ chức.

Tờ Washington Post nói Hoa Kỳ từ lâu đã không coi cải tổ chính trị là ưu tiên hàng đầu trong quan hệ với Ai Cập.

Lý do là họ cần sự hỗ trợ của nước này để đạt được hòa bình giữa Israel và Palestine.

Họ cũng ngần ngại kêu gọi thay đổi chính trị ở Cairo sau khi phe Hồi giáo Hamas thắng cử tại Palestine trong năm 2006.

Washington Post nói về cuối nhiệm kỳ của Tổng thống George Bush, Ai Cập tự tin tới độ họ nói với Ngoại trưởng khi đó, bà Condoleezza Rice rằng bà không thể sang thăm Ai Cập nếu bà không bỏ hạn chế mà quốc hội đưa ra đối với khoản viện trợ quân sự 100 triệu đô la Mỹ.
Cuối cùng bà Rice đã phải thực hiện điều này.

Trong quan hệ với Việt Nam, các chuyên gia cũng nói Hoa Kỳ đã giảm nhẹ ưu tiên cho nhân quyền khi quan hệ kinh tế và quân sự phát triển.
Washington cũng muốn lôi kéo Việt Nam ngả về phía họ trong lúc Trung Quốc đang ngày càng tỏ ra mạnh dạn hơn.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/02/110201_embarrassing_allies.shtml

 

GIỚI TRẺ VN NGHĨ GÌ
VỀ SỰ KIỆN CHÍNH TRỊ AI CẬP

Khánh An, phóng viên RFA
2011-01-31


Giữa lúc cả dân tộc Việt Nam đang chuẩn bị cho dịp Tết Tân Mão 2011 thì tình hình thời sự thế giới cũng đang nóng bỏng với những diễn biến đang xảy ra tại Ai Cập.
 
Người Maroc biểu tình đòi lật đổ chính phủ của Tổng thống Hosni Mubarak bên ngoài đại sứ quán Ai Cập tại Rabat ngày 31 tháng 1 năm 2011.

Sự kiện này diễn ra theo sau cuộc nổi dậy lật đổ chính quyền độc tài thành công của người dân Tunisia trước đó.

Trong kỳ Café Wifi cuối năm này, Khánh An có dịp gặp lại một số khách mời của chương trình trong năm qua để tìm hiểu xem sự kiện thời sự nóng bỏng trên có khiến các bạn trẻ tại Việt Nam quan tâm không, đặc biệt ngay tại thời điểm mà nhà nhà đang chuẩn bị chào năm mới như hiện nay.

Khánh An: Nào bây giờ thì  mời quý vị và các bạn đến Hà Nội và gặp gỡ Tuấn, một khách mời trong chủ đề “1000 năm Thăng Long – Hà Nội” trước đây. Xin chào Tuấn, bạn đang làm gì đó, chuẩn bị ăn Tết có vui không?

Tuấn: Vui lắm, đang gói bánh chưng với gia đình đây. Gói để lấy không khí Tết ấy mà. Ra mua ở ngoài cũng không thành vấn đề nhưng mà muốn cả nhà cùng nhau gói bánh chưng cho vui và gặp mặt nhau nữa.

Khánh An: Trên thế giới đang diễn ra một sự kiện rất nóng, đó là sự kiện Ai Cập. Không biết Tuấn có nghe tin về sự kiện này không?

Tuấn: Mấy vụ đánh bom, chiến tranh đúng không?

Khánh An: Không phải, Ai Cập là vụ biểu tình đó, không biết bạn có nghe không?

Tuấn: Có. Tuấn thỉnh thoảng vẫn hay lên BBC để cập nhật thông tin ở trên mạng?

Khánh An: Ừ, Khánh An định hỏi xem các bạn ở Việt Nam có quan tâm đến những tin tức trên thế giới không, hay là do mùa này là mùa Tết nên các bạn lo bánh chưng, bánh tét nhiều hơn? (cười)

Tuấn: Về mấy vấn đề đấy thì không biết mọi người thế nào nhưng mà Tuấn vẫn cập nhật thường xuyên, vẫn xem trên thời sự, xem báo mạng và có trao đổi với một số bạn bè nữa. 

Tin từ báo chí

Khánh An: Vâng. Cám ơn bạn. Bây giờ thì Khánh An mời quý vị vào Nha Trang để gặp một nhân vật khá nổi tiếng ở đây là blogger Mẹ Nấm, tức Như Quỳnh. Quỳnh cũng làm một khách mời của Café Wifi trong chủ đề “Giới trẻ với blog và mạng xã hội”. Chào Quỳnh, khỏe không?

Như Quỳnh: Khỏe, mới vừa đi Đà Nẵng về.
 
Cảnh sát chống bạo động Ai Cập theo dõi mọi người cầu nguyện bên ngoài nhà thờ Hồi giáo ở Cairo, sau cuộc bạo động lật đổ chính quyền hôm 28/1/2011.

Khánh An: Đang nói về Ai Cập, Khánh An muốn hỏi xem các bạn ở Việt Nam các bạn có biết tình hình đó không và các bạn nghĩ như thế nào vì đây là sự kiện nóng lắm?

Như Quỳnh: Nhưng mà ở Việt Nam có thấy “nóng” gì đâu?! Thật sự ai quan tâm thì mới thấy thôi chứ Quỳnh nói thật là mọi người cứ nói là cuộc cách mạng hoa lài chừng nào lan đến Việt Nam, Quỳnh nói thật với Khánh An, Facebook nó chặn kinh lắm. Quỳnh ra Đà Nẵng, vào bao nhiêu quán mà không vào được Facebook. Quỳnh thì Quỳnh đọc tin trên báo thì nó cũng đưa tin giống như là bạo loạn thôi, chứ hoàn toàn không có lật đổ chính quyền đâu, không có cuộc cách mạng mới đâu, chỉ là bạo loạn và mất ổn định thôi, sau đó là tái thiết lập và thiết lập chính phủ mới giống như ở Thái Lan, đưa tin trung dung lắm, cũng có đưa tin vì chẳng lẽ CNN đưa tin ầm ầm mà Việt Nam không đưa thì cũng kỳ, nhưng đưa theo kiểu cho biết thế thôi.

Nhưng ở thời điểm này thì Khánh An biết rồi, người ta lo thịt mỡ dưa hành củ kiệu các thứ, ai mà chú ý đến “cuộc cách mạng hoa lài”, nếu không phải là xài facebook thì cũng khó.
Khánh An: Vâng. Cảm ơn bạn. Và tiếp theo, Khánh An mời quý vị gặp lại Thái Học, khách mời trong chương trình chủ đề về Đại hội Đảng 11. Xin chào Thái Học, Tết đến rồi, bạn có chương trình gì vui không?

Báo chí đưa tin giống như là bạo loạn thôi, chứ hoàn toàn không có lật đổ chính quyền đâu, sau đó là tái thiết lập và thiết lập chính phủ mới giống như ở Thái Lan...

Thái Học: Thiệt ra thì không khí ở đây cũng buồn lắm Khánh An. Nhóm bạn thân của mình thì nó lại không quan tâm đến vấn đề thời sự. Còn nhóm bạn trên mạng thì mỗi người mỗi nơi, đâu có biết mặt đâu.

Khánh An: Các bạn có theo dõi vụ Ai Cập không?

Thái Học: Có, vụ Ai Cập, Tunisia, có. Nhưng mà ở bên này, phần lớn facebook còn bị chặn nặng lắm. Thành phần lên (facebook) được rất ít.

Khánh An: Nhưng các bạn không theo dõi được vụ này ở trên báo chí bình thường à?

Thái Học: Ôi, làm gì có. Mình cũng đang thắc mắc đây. Cho nên mình nhận được tin nào là mình đưa lên tường (Wall) của mình hết. Còn ở ngoài ti vi lại có nhưng đưa một tin làm giật mình. Mình coi ti vi luôn, là có 15.000 người biểu tình thôi mà có tới 20.000 cảnh sát. Ti vi đưa vậy đó, à đúng rồi, báo có đưa luôn nhưng mà người ta đưa ra giống như để dằn mặt chứ không phải đưa ra để cần sự ủng hộ.

Khánh An: Vâng. Bây giờ thì Khánh An mời quý vị gặp lại Hải, sinh viên Luật, đã từng tham gia Café Wifi trong chủ đề “Giới trẻ với tình hình đất nước”. Xin chào Hải, bạn chuẩn bị đón Tết chưa?

Hải: Cũng chuẩn bị sơ sơ à, cũng lên kế hoạch ăn chơi dữ lắm (cười).

Khánh An: Khánh An định hỏi Hải là bạn có nghe biết về những tin về Ai Cập hay Tunisia không?

Hải: Mình coi thời sự thì cũng thấy là tại vì bây giờ bên đó bão giá đang lên nên họ biểu tình để yêu cầu chính phủ giải thể để thành lập một chính phủ mới, cũng là về chính phủ, giá cả…

Khánh An: Cái đó là bạn theo dõi ở đâu?

Hải: Mình theo dõi chủ yếu là truyền hình vì về quê thì không có mạng, không đọc báo được, chủ yếu là coi truyền hình.

Khánh An: Và bây giờ là gương mặt cuối cùng, bạn Hà Thanh, trong chủ đề “Kỳ vọng của giới trẻ trước Đại hội Đảng”. Chào Hà Thanh, không khí Tết ở quê bạn hiện nay thế nào?

Hà Thanh: Ở đây là quê nên người ta sắm sửa Tết cũng sung túc lắm.

Khánh An: Và câu hỏi tiếp theo mà Khánh An muốn hỏi các bạn là những thông tin chi tiết từ báo chí, truyền hình trong nước về cuộc cách mạng ở Tunisia và biểu tình đang diễn ra tại Ai Cập hiện nay là như thế nào? Các bạn có được những thông tin cập nhật thường xuyên không?

Thanh: Báo chí truyền thống thì cũng có nhắc tới, như ở trên ti vi, tin tức thế giới, chỉ đưa tin tương tự như cuộc biểu tình ở Thái Lan thôi. Thường thì báo chí Việt Nam đưa tin về những cuộc biểu tình ở những nước khác thì đưa một cách khiến người ta có cảm giác là người Việt Nam may mắn khi không gặp phải những cuộc biểu tình “dầu sôi lửa bỏng” như vậy. Việt Nam còn may mắn, yên bình.

Giống như ở Thái Lan, chủ yếu người ta đưa tin xoáy quanh chuyện biểu tình, bạo động, rồi những tin tiêu cực như số người thiệt mạng, số thương vong này nọ. Nhưng người ta không phân tích sâu cái lý do, nguồn gốc tại sao có cuộc biểu tình và cuộc biểu tình đó nó thể hiện quyền tự do dân chủ của người dân nước đó như thế nào. Người ta không có phân tích rõ những cái đó.

Liên tưởng đến VN

Khánh An: Cảm ơn các bạn. Như vậy, sau khi theo dõi thông tin từ báo chí trong và ngoài nước thì  nhận định riêng của các bạn về tình hình ở Ai Cập là thế nào và các bạn có thấy có sự liên hệ nào với tình hình ở Việt Nam không?

Các thành viên của Tổng thống Hosni Mubarak bảo vệ ông bên ngoài đài truyền hình quốc gia tại Cairo ngày 28/1/2011.

Thái Học: Theo mình nhận định thì (tình hình) đang rất là nóng. Một số bạn trên mạng, không biết là người trong nước hay nước ngoài, nói là “ngọn lửa này bao giờ lan truyền tới Việt Nam?” thì mình có nói với thiên hạ là “làm gì có, không cháy tới Việt Nam nổi đâu” (cười). Có bao nhiêu người nhận được thông tin đó đâu mà cháy tới Việt Nam.

Bởi vì bao nhiêu người nếu nhận tin tức từ báo hay truyền hình thì không có cảm hứng đâu, nhận được tin trên đài thì thấy sợ thôi, mình nghĩ là chắc chắn người ta đưa theo hướng đó. Còn mình thấy ở bên đó, cái cảm hứng người ta nhận được là từ trên mạng, đa số là trên facebook. Nhưng mà facebook như mình nói hôm qua vẫn còn bị chặn và người xài facebook ở Việt Nam chưa chắc nhiều, đa số là ở TPHCM và Hà Nội thôi, chứ đâu phải là cả nước đâu. Cho nên cái đó mình thấy còn lâu lắm, chưa tới đâu, chưa tới Việt Nam mình đâu. 

Hải: Mình cũng thấy là nếu mà nhà nước mà không có chính sách thì mình nghĩ sẽ có một ngày nào đó Việt Nam có thể nào giống như Ai Cập không? Bất ổn về chính trị, an ninh thì rất là khó tại vì khi biểu tình như vậy thì kết quả có liền không. Nếu cứ kéo dài thì đời sống của mình sẽ rất khó khăn. Cho nên mình nghĩ là cần phải có chính sách kịp thời.

Tuấn: Theo Tuấn thì việc đó (biểu tình) ảnh hưởng rất nhiều đến chính đất nước Ai Cập. Nó làm đình trệ kinh tế, sản xuất… sẽ ảnh hưởng rất nhiều. Nhưng mà mặt lợi của việc đó là người dân được hưởng lợi. Họ sẽ phải xem xét lại và người dân được hưởng lợi, bởi vì quá bất công và họ không chịu được và phải đứng lên, không khác gì Việt Nam những năm về trước cũng có những cuộc nổi dậy, đòi lại công bằng cho dân… Cái đó thì Tuấn cũng chỉ hiểu và biết được tới đấy thôi.
... chưa chắc gì ở Việt Nam có cuộc lật đổ như vậy vì có lẽ với người Việt Nam, cái sức chịu đựng hơn những nước đó.

Thanh: Cái thứ nhất là nếu như có được những điều kiện tương tự như vậy thì chưa chắc gì ở Việt Nam có cuộc lật đổ như vậy tại vì hiện giờ ở Việt Nam cũng có đôi chút giống nhưng mà có lẽ người Việt Nam cái sức chịu đựng hơn những nước đó, ví dụ như ở những nước đó họ cấm tự do báo chí, kiểm duyệt gắt gao, tương tự như Việt Nam, rồi ở những nước đó thì mấy tay độc tài cũng cấm những đảng phái khác hoạt động… Nói chung là có những điều kiện tương tự như Việt Nam nhưng theo mình nghĩ thì còn lâu lắm.

Khánh An: Vâng, xin cảm ơn các bạn trong chương trình hôm nay nói riêng và tất cả các khách mời của Café Wifi trong năm qua đã đóng góp tiếng nói, quan điểm, mối ưu tư, trăn trở của quý vị đối với những vấn đề liên quan đến cuộc sống của thanh niên nói riêng và tình hình đất nước nói chung. Khánh An xin cảm ơn và kính chúc quý vị và các bạn một năm mới Tân Mão an vui và thành công.


TỪ TUNISIA QUA  YEMEN, ĐẾN AI CẬP,
BAO GIỜ ĐẾN CỘNG SẢN VIỆT NAM?

Thiện Ý

        Trong tuần qua, hàng chục ngàn người dân Ai Cập ở nhiều thành phố, kể cả thủ đô Cairo đã biểu tình chống  chính phủ đòi  Tổng Thống Ai Cập Hosni Mubarak, người đã trị vì đất nước Ai Cập 30 năm qua, phải từ chức. Cảnh sát tỏ ra bất ngờ trước sự giận dữ của đám đông, do vậy đoàn biểu tình đã tiến lại được gần tòa nhà quốc hội ở Cairo. Biểu tình còn xảy ra ở nhiều khu vực khác trên cả nước, như thành phố Ismailiya ở phía đông và hải cảng Alexandria ở miền Bắc.
        Cảnh sát chống bạo động đã xử dụng vòi rồng và lựu đạn cay cùng các vũ khí chống biểu tình đưa đến những cuộc đụng độ đổ máu. Đến nay, sau sáu ngày bạo động, đã có hàng trăm  người biểu tình bị chết và bị thương, hàng ngàn người bị bắt. Một số xe của cảnh sát có cả xe bọc thép và cơ quan chính phủ, trụ sở của đảng cầm quyền đã bị quần chúng biểu tình đốt cháy. Các cuộc  biểu tình của các giới người dân Ai Cập đã có chiều hướng gia tăng cường đô xung đột và mức độ lan rông khắp nơi với hậu quả khó lường. Chính quyền của Tổng Thống Mubarak đã ban hành  lênh giới nghiêm ở những nơi có biểu tình.
         Người ta được biết biểu tình là chuyện hiếm thấy xẩy ra tại Ai Cập, nơi mà Tổng Thống Mubarak và đảng Dân Chủ Quốc Gia của ông cai trị chuyên chế suốt hơn 30 năm qua và những người bất đồng chính kiến bị đối xử một cách không nhân nhượng, chỉ thua cường độ đàn áp các nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam dưới quyền thống trị độc tôn của đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều thập niên qua. Trước đây vào năm 2005 cũng đã có cuộc biểu tình lớn nhưng đã bị nhà cầm quyền dập tắt. Cuộc biểu tình lần này xuất phát từ các nhà hoạt động cho dân chủ kêu gọi quần chúng nổi dậy trong một thông điệp phổ biến trên mạng internet và đã được hàng chục ngàn người dân Ai Cập hưởng ứng .
        Theo tường thuật và hình ảnh của các hãng thông tấn quốc tế, được phổ biến rộng rãi trên màn ảnh truyền hình khắp thế giới, cho thấy những người tham gia biểu tình không chỉ thuộc giới thanh niên sinh viên nam mà cả phụ nữ, người buôn bán nhỏ; thậm chí cả công chức mang cặp và mặc veston, thắt cà vạt cũng tham dự biểu tình lần này. Mục đích của các cuộc biểu tình là đòi dân chủ, cải tổ chính trị và nhất là đòi Tổng Thống Mubarak phải từ chức vì là nguồn gốc chính yếu của tình trạng bức bách về chính trị, bất công xã hội và đời sống kinh tế khó khăn của nhân dân Ai Cập.
          Nguyện vọng của  người dân Ai Cập được thể hiện qua những biểu ngữ, khẩu hiệu được hô vang trong các cuộc biểu tình, trong đó có việc gọi đích danh Tổng Thống Mubarak là nhà độc tài và đòi ông từ chức lập tức. Vào thứ sáu tuần trước (28-1-2011) Tổng Thống Hosni Mubarak đã giải tán nội các, bổ nhiệm ông Omar Suleiman, phụ trách cơ quan tình báo Ai Cập vào chức  Phó Tổng Thống, một chức vụ bị bỏ trống từ khi Ông Mubarak nắm quyền Tổng Thống Ai Cập vào năm 1981, từ vị thế Phó Tổng Thống, vào thời điểm tổng thống Anouar el Sadate bị ám sát. Đồng thời Tổng Thống Mubarak cũng đã chỉ định tướng Ahmed Shafik, nguyên bộ trưởng bộ Hàng không làm thủ tướng thàng lập nội các mới. Nội các cũ do ông Ahmed Nazif đã bị tổng thống Mubarak giải tán hôm thứ sáu,28/01/2011.Tân phó tổng thống và tân thủ tướng Ai Cập đều là những người thân cận của tổng thống Hosni Mubarak.
         Tất cả nỗ lực cải tổ chính phủ này dường như vẫn không đáp ứng được yêu sách của quần chúng biểu tình, họ không muốn một sự cải tổ vá víu, mà muốn thay đổi hoàn toàn chế độ, với sự ra đi của cá nhân ông Mubarak và đảng cầm quyền chuyên chế, thay vào một chế độ dân chủ.
     Theo nhận xét của giới báo chí, sở dĩ lần biểu tình này có sự tham gia đông đảo,  với quyết tâm cao và không khoan nhượng là vì nhân dân Ai Cập được thúc đẩy từ sự thành công của “Cuộc cách mạng Hoa Nhài”  nổ ra ở Tunisia, cũng là một nước Hội giáo Châu Phi vào đầu tháng này, đã lật đổ được chế độ độc tài  của Tổng Thống Ben Ali. Nhiều người biểu tình ở Ai Cập tuyên bố sẽ tiếp tục cho tới khi lật đổ được chính quyền Mubarak. Chính cuộc “cách mạng Hoa Nhài” ở Tunisia thành công này cũng đã là cảm hứng cho nhân dân một nước Hồi giáo khác là Yemen xuống đường biểu tình rầm rộ ở thủ đô Sanaa,  đòi Tổng Thống  Ali Absullah Saleh phải từ chức cũng sau hơn 30 năm nắm quyền cai trị độc tài.
     Như vậy là chỉ trong một tháng đầu năm 2011 đã có các cuộc biểu tình qui mô lớn của nhân dân ở ba nước Hồi giáo là Tunisia, Yemen và Ai Cập. Tất cả các cuộc xuống đường này đều có nguyên nhân và mục tiêu giống nhau.
      Nguyên nhân là vì  nhân dân cả ba nuớc đều bị thống trị bởi ba nhà độc tài cầm đầu ba đảng độc tôn, cai trị độc quyền kéo dài trong nhiều thập niên. Hệ quả là các nhân quyền và dân quyền căn bản bị hạn chế hoặc bị tước đoạt, kinh tế bất ổn, giá cả leo thang, tỷ lệ thất nghiệp lớn, tham nhũng tràn lan và xã hội đây rẫy bất công, sự cách biết giầu nghèo sâu sắc với thiểu số chức quyền giầu có thống trị trên tuyệt đại đa số nhân dân lao động nghèo khổ. Hệ quả này đã gây bất mãn, phẫn nộ trong mọi tầng lớp nhân dân ở cả ba nước .
      Và do đó mục tiêu tối hậu của các cuộc xuống đường biểu tình của nhân dân ba nước Tunisia, Yemen và Ai cập đều giống nhau là nhằm lật đổ những nhà độc tài đứng đầu nhà nước  và cả các đảng hậu thuẫn cầm quyền ở cả ba nước, để thay thế bằng những người cầm quyền và đảng phái chính trị biết  tôn trọng các quyền tự do, dân chủ, nhân quyền và nhân quyền,  trong một chế độ dân chủ đa nguyên, một xã hội công bằng, đời sống kinh tế ổn định và bảo đảm hơn cho nhân dân lao động nghèo. Mục tiêu tối hậu này đã thành đạt tại Tunisia, một trong ba nước đã và đang muốn giành lại chính quyền bằng sức mạnh của quần chúng nhân dân qua các cuộc xuống đường biểu tình lật đổ chính phủ phản dân chủ.
       Tân chính phủ Tunisia nói là  họ sẽ công nhận các đảng chính trị bị cấm hoạt động, gồm cả tổ chức Hồi giáo…, đồng thời ân xá toàn bộ tù nhân chính trị.Loan báo này được đưa ra khi nội các Tunisia họp phiên đầu tiên, gần một tuần sau khi tổng thống Zine al-Abidine Ben Ali bỏ nước ra đi trước làn sóng phản đối của dân. Điều này có nghĩa là sau cuộc “Cách Mạng Hoa Nhài” thành công Tunisia sẽ đi theo chiều hướng chế độ dân chủ đa nguyên đáp đúng ý nguyện của nhân dân, phù hợp với xu thế thời đại: dân chủ hoá chế độ độc tài các kiểu và thị trường tự do hoá về kinh tế trên phạm vi toàn cầu.
       Trông người lại nghĩ đến ta. Nhân dân Việt Nam tự hỏi: Bao giờ Việt Nam sẽ có cơ hội thực hiện một biến động như thế, để nhân dân Việt Nam bằng sức mạnh “Tức nước vỡ bờ” của mình, vùng lên quật ngã tập đoàn thống trị độc tôn độc quyền là đảng cộng sản Việt Nam, để giành lại quyền làm chủ đất nước, trong một chế độ tư do, dân chủ thực sự?
        Lời giải đáp đã có ngay trong câu tự hỏi, rằng Việt Nam rồi cũng phải có một ngày như thế, nếu như…Cộng đảng Việt Nam vẫn ngoan cố. Bởi vì tiền đề dẫn đến sự nổi dậy của quần chúng thực tế đã có ở Việt Nam từ lâu, không khác mà còn có phần vượt trội các nước Tunisia, Yemen và Ai Cập, về cường độ và mức độ của các nguyên nhân dẫn đến tình trạng “Tức nước vỡ bờ”.

         Thế nhưng, sở dĩ ở Việt Nam “đã tức nước” mà “chưa vỡ bờ” là vì tập đoàn đảng trị Cộng sản Việt Nam đã khôn lanh quỷ quyệt thực hiện chính sách “mềm nắn rắn buông”, biết “lùi kịp thời” để thoát hiểm trước áp lực của  nhân dân và đòi hỏi của quốc tế, để kéo dài tuổi thọ cho chế độ độc tài toàn trị cộng sản, đồng nghĩa với kéo dài thời gian cho một tập đoàn thống trị khai thác lợi nhuận độc quyền, bảo vệ các ưu quyền đặc lợi của giai cấp thống trị. Nhờ đó, mức độ “tức nước” của người dân khi gần đến biên độ “vỡ bờ”, thì nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tìm cách “dừng bơm thêm hay xả bớt nước”bằng chiêu bài “hoãn binh chi kế”. Thực hiện chính sách khôn lanh này, có lẽ là hơn ai hết, họ đã thuộc nằm lòng quy luật đấu tranh giai cấp với luận điểm Marxist- Leninnist về tình thế cách mạng chín mùi, rằng:
         Khi mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị phát triển thành mâu thuẫn đối kháng với mọi giai cấp trong xã hội, là lúc “tình thế cách mạng chín mùi”, cuộc cách mạnh của quần chúng nổ ra nhất định thắng lợi. Vì khi đó giai cấp thống trị hoàn toàn bị cô lập, đến ngay các lực lượng nòng cốt bảo vệ giai cấp thống trị là quân đội, công an mật vụ cũng đứng về phía nhân dân, buông vũ khí không còn giám bắn vào người dân nữa.
         Luận điểm này đã như một quy luật được thực tế chứng minh qua sự sụp đổ tan tành từ nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên Liên Xô, kéo theo sự tiêu vong của cả hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Luận điểm này cũng đã manh nha trong các cuộc biểu tình của nhân dân Ai Cập hiện nay, với sự tham gia của hầu hết giai cấp bị trị trong xã hội đang có nguy cơ biến thành mâu thuẫn đối kháng (một mất một còn) của toàn xã hội với giai cấp cầm quyền, và một số nơi biểu tình và nhà tù cảnh sát, quân đội đã bỏ nhiệm sở, tù nhân tự phóng thích….Phải chăng “tình thế cách mạng sắp chín mùi” ở Ai Cập, để cuộc cách mạng của quần chúng nhất định sẽ giành được thắng lợi nay mai?
       Có thể nhờ thấm nhuần luận điểm đã như một quy luật về đấu tranh giai cấp Marxist-Lennist trên đây, cùng những bài học thực tiễn về sức mạnh của quần chúng nhân dân, mà Cộng đảng Việt Nam mới có được kinh nghiệm, thủ đoạn kéo dài được sự tồn tại, không chỉ 30 năm như các nhà độc tài ở các nước đang có sự nổi dậy của quần chúng, mà đã kéo dài chế độ độc tài toàn trị CS, áp bức, bất công hơn nửa thế kỷ qua (1954-1975 trên nửa nước và từ 1975- 2011 trên cả nước).
       Tuy nhiên, kéo dài được tuổi thọ cho chế độ, không có nghĩa là không có ngày tận vong, tập đoàn thống trị độc tài, độc tôn và độc quyền CSVN cũng thừa biết điều này. Có điều, rồi dây liệu tập đoàn thống trị này có đủ khôn ngoan để chọn “một cái chết êm ả trong môi trường mật ngọt” (tự nguyện tự giác trao trả lại quyền làm chủ thực sự cho nhân dân) hay chấp nhận “Một cái chết đau đớn trong môi trường mật đắng” ( bằng sức mạnh vùng lên của quần chúng nhân dân bị áp bức, bóc lột tận qua lâu đến tận cùng).
     Câu trả lời chính xác xin dành cho những người lãnh đạo chóp bu chế độ giả hiệu “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” bao gồm: Bộ tứ  Nguyễn Phú Trọng, , Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, các thành viên Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, Ban Chấp Hành Trung Ương đảng “Cộng Sản Việt Nam” (giả danh)
       Để góp ý thêm cho câu trả lời và hành động phù hợp với thực tiễn của tập đoàn thống trị Cộng sản Việt Nam, xin được lấy cái nhìn của kinh tế gia, nhà nghiên cứu chính trị nổi tiếng của Pháp là Jacques Attali, trong bài viết tựa đề "Tunisia, rồi sau đó?" đăng trên tờ L'Express hôm 19/01/2011, bình luận về sự kiện ở Tunesia mà ông gọi là “Cuộc cách mạnh hoa nhài”, rằng những gì xảy ra tại Tunisia không phải là điều bất ngờ. Cả thế giới biết rằng thực tế trong ít nhất hai mươi năm nay, làn sóng dân chủ đã tràn qua cả thế giới. lý do không phải bởi các diễn biến chính trị, mà chính vì nền kinh tế thị trường. Đất nước Tunisia, chuyển sang kinh tế thị trường, chỉ có thể trở thành một quốc gia dân chủ. Attali viết, “sau đó sẽ là các trường hợp của Ai Cập, của Việt Nam, Trung Quốc, các nước hạ Sahara ở châu Phi; và sau nữa có thể tới Algeria rồi Syria…”.
       Bởi vì, cũng đúng  như chúng tôi đã nhiều lần dùng thuật ngữ “Môi trường mật ngọt kinh tế thị trường” để lý giải về quá trình  tiêu vong của “chế độ độc tài toàn trị cộng sản” tại Việt Nam theo ý nghĩa câu tục ngữ Việt Nam có giá trị như quy luật “Mật ngọt chết ruồi”. Nghĩa là “Con ruồi cộng sản Việt Nam” đã và đang sa vào và sẽ chết dần trong môi trường “ mật ngọt kinh tế thị trường theo định hướng tư bản chủ nghĩa”.
         Vì chính trong môi trường này: các cán bộ đảng viên cộng sản đã và đang được “Tư sản hoá” (thành các nhà tư bản đỏ, các đại gia…)- Nhà nước cộng sản đã và đang được “Tư bản hoá” (Giải tư các ông ty quốc doanh…) và chế độ độc tài toàn trị đã và đang được “dân chủ hoá” từng bước ( Nhà cầm quyền đã phải trả dần các quyền dân chủ, dân sinh, nhân quyền…).
         Vấn để chỉ còn là ở cuối quá trình “diễn biến hoà bình” này, tập đoàn thống trị Cộng sản Việt Nam có biết khôn ngoan hơn, tự nguyện tự giac trả lại đúng lúc toàn bộ quyền làm chủ cho nhân dân (chế độ dân chủ đa nguyên, đa đảng), hay phải để nhân dân nổi giận dùng bạo lực của quần chúng để đạp đổ bạo quyền, giành lại quyền làm chủ, như nhân dân các nước Tunisia, Yeman và Ai Cập đang làm.

Thiện Ý
Houston, ngày 31 tháng 1 năm  2011

 



                         NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:

                          TĂNG TRƯỞNG VÀ LẠM PHÁT NGHỊCH LÝ

                          Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                             Geneva 05.01.2011
                                      Web: http://VietTUDAN.net


Bài này không phải là bài phân tích về TĂNG TRƯỞNG hay LẠM PHÁT riêng lẻ, cũng không phải là bài tìm hiểu tổng quát về TƯƠNG QUAN giữa Tăng trưởng và Lạm phát. Đây là bài nhận định một trường hợp rõ rệt như sau:

Tại Việt Nam lúc này, Lạm phát tăng 11.2% và con số Tăng trưởng do Nhà Nước CSVN đưa ra là 6.7%. Lạm phát đangh làm cho dân chúng nghèo và giới lãnh lương cố định phải thiếu hụt trầm trọng. Giới công nhân VN có lương thấp nhất Á châu là 47 đo-la mỗi tháng. Việc tăng lương công nhân nếu có cũng không theo với Lạm phát tăng vọt, như vậy công nhân càng nghèo đi. Nhà Nước CSVN nhấn mạnh về Tăng trưởng mà coi nhẹ vấn đề Lạm phát.

Những câu hõi được đặt ra để chúng tôi nhận định xoay quanh những câu hỏi ấy như sau:

(i) Giữa Tăng trưởng và Lạm phát có những liên hệ từ Tăng trưởng tạo ra Lạm phát. Nhưng Tăng trưởng chỉ có 6.7%, mà Lạm phát lên tới 11.2%, như vậy Tăng trưởng mang đến hữu ích gì cho Kinh tế ở phương diện phục vụ mức sống xã hội ?
(ii) Cho dù Nhà Nước CSVN chủ trương Tăng trưởng mạnh mà hy sinh Lạm phát, thì với mức Tăng trưởng 6.7%, Lạm phát cũng không thể vượt quá 6.7%. Ngày nay Lạm phát lên tới 11.2%, nghĩa là có 4.5% (11.2% - 6.7%) việc Lạm phát phải được phân tích ở những lý do khác ngoài lý do Tăng trưởng. Đâu là những lý do này ngoài lý do Tăng trưởng?

Để đưa ra những nhận định xoay quang hai vấn đề (i) và (ii) nêu trên đây, chúng tôi xin lần lượt bàn tới:
=> Lạm phát, Vật giá tăng, Phá giá Tiền tệ: ba vấn đề cũng là một.
=> Chạy theo Tăng trưởng để tạo Lạm phát, Tăng trưởng mất ý nghĩa
=> Ngoài lý do Tăng trưởng, tối thiểu 4.5% Lạm phát có những lý do khác

Lạm phát, Vật giá tăng, Phá giá Tiền tệ:
ba vấn đề cũng là một.

Trên mặt báo chí, người ta sử dụng những tiếng Lạm phát, Vật giá tăng hay Phá giá tiền tệ, cả ba tiếng này để chỉ một việc cụ thể đối với người dân khi cầm đồng tiền đi mua hàng hóa. Tháng trước, một tô phở giá là 2’000 đồng. Tháng này, ăn một tô phở phải trả 3’000 đồng. Người ăn phỡ than Giá tô phở tăng vọt hay gọi theo kiểu Kinh tế, đó là Lạm phát. Đối vớ người cầm tiền, họ gọi đồng tiền VN mất gía vì với 2’000 tháng trước, người ăn phở chỉ có thể ăn được 2/3 tô phở tháng này, chứ không ăn được trọn tô phổ.

Lạm phát, Vật giá tăng hay Phá giá Tiền tệ, tất cả đều dựa trên một việc cụ thể, đó là tương đương HÀNG HÓA và ĐỒNG TIỀN. Hàng hóa không thay đổi, một tô phở vẫn là một tô phở dù tháng trước hay tháng này. Nhưng lượng Tiền phải trả tương đương cho một tô phở thì thay đổi: tháng trước 2’000 đồng và tháng này 3’000 đồng. Việc thay đổi lượng tiền này gọi là Lạm phát, Vật giá tăng vọt, Đồng Tiền mất gía (Phá giá Tiền tệ).

Chạy theo Tăng trưởng để tạo Lạm phát,
Tăng trưởng mất ý nghĩa

Khi nói độ Tăng trưởng Kinh tế Quốc gia là 6.7% năm nay, điều đó có nghĩa là Kinh tế Quốc gia được giầu thêm 6.7% sánh với năm trước. Các xí nghiệp đầu tư thêm để tăng sản xuất. Việc đầu tư này là chi tiêu của các xí nghiệp vào trang thiết bị, vào nguyên vật liệu và vào nhân công thâu nhận thêm. Số nhân công nhận thêm có lương để chi tiêu. Tăng trưởng như vậy có nghĩa là tăng chi tiêu từ xí nghiệp đến dân chúng (nhân công) làm cho phía CẨU hàng hóa tăng lên khiến Giá cả hàng hóa theo đà tăng giá, nghĩa là Lạm phát, Vật giá tăng. Muốn giữ Giá cả hàng hóa ổn định khi độ Tăng trưởng làm cho Kinh tế Quốc gia giầu thêm tạo chi tiêu theo hướng Lạm phát, thì quyền lực Tiền tệ phải điều chỉnh Khối tiền lưu hành cho phù hợp với đà Tăng trưởng.

Khi nền Kinh tế Quốc gia được giầu thêm với độ tăng trưởng, thì sự phân phối việc giầu thêm này cũng phải có sự đồng đều tương đối cho các thành phần xã hội.

Nếu độ tăng trưởng của Việt Nam là 6.7% và tạo Lạm phát 6.7% làm cho dân nghèo, nông dân, công nhân và các giới lãnh lương cố định phải chịu hậu quả của Vật giá tăng vọt, thì việc tăng trưởng này mất hẳn ý nghĩa làm giầu cho Quốc gia. Hiện nay, không phải Lạm phát chỉ có 6.7% coi như hậu quả của Tăng trưởng, mà Lạm phát lên tới 11.2%. Nếu Nhà Nước CSVN cố thủ với độ Tăng trưởng mà tạo Lạm phát tới 11.2%, thì không những Tăng trưởng không có ý nghĩa gì về việc làm giầu thêm, mà còn làm cho đại đa số dân chúng sống trong cảnh khổ cực.

Độ tăng trưởng 6.7%, nếu có thực, thì để làm giầu cho ai ? Làm giầu cho một thiểu số người của đảng CSVN mà gây Lạm phát 11.2% làm khổ cho đại đa số dân chúng, thì chủ trương bám chặt lấy Tăng trưởng quả thực là bóc lột.

Nếu độ Tăng trưởng chỉ vào túi riêng nhóm đảng và nhóm này tha hồ chi tiêu làm tăng Vật giá để đại đa số dân chúng phải khổ cực sống thê thảm với việc nhóm đảng này làm tăng Vật gía, thì đây còn là khía cạnh tàn ác tội lỗi của chủ trương Tăng trưởng mà không quan tâm đến Lạm phát như hậu quả.

Trong bao nhiêu năm trường, nhóm đảng thâu vào cho mình những mức Tăng trưởng để tích lũy và tiêu xài hoang phí tạo Lạm phát. Tỉ dụ con gái của Nguyễn Tấn Dũng ăn một tô phở tháng trước với giá 2’000 đồng, nhưng tháng này giá tô phở lên 3’000, cô không quan tâm đến việc giá tô phở tăng 50%. Nhưng đối với công nhân cũng làm việc cho Tăng trưởng mà lương vẫn giữ ở mức 47 đô-la mỗi tháng, thì việc giá tô phở tăng 50% khiến công nhân này chỉ ăn được 2/3 tô phở, nghĩa là phải chịu bụng đói.

Tóm lại, Nhà Nước chủ trương Tăng trưởng để thâu giầu có cho mình mà không quan tâm đến Lạm phát, trong khi đó đại đa số dân chúng quan tâm đến Lạm phát làm mình thiếu ăn, còn Tăng trưởng thì họ không được hưởng gì.

Ngoài lý do Tăng trưởng,
tối thiểu 4.5% Lạm phát có những lý do khác

Theo nhận xét của chúng tôi, Nhà Nước nhấn mạnh đến Tăng trưởng như một cắt nghĩa cho Lạm phát, làm cớ bắt đại đa số dân chúng phải thắt lưng buộc bụng, cam chịu thiếu ăn vì Lạm phát để sống trong hy vọng đà Tăng trưởng làm cho nên Kinh tế Quốc gia giầu thêm để cùng hưởng. Đây là chủ trương đánh lạc hướng Lạm phát mà dân chúng đang phải chịu hiện nay.

Tuy vậy, việc dùng Tăng trưởng 6.7% để cắt nghĩa Lạm phát chỉ có thể cắt nghĩa tối đa Lạm phát 6.7% mà thôi. Trong khi ấy Lạm phát hiện nay là 11.2%, nghĩa là còn 4.5% (11.2% - 6.7%) Lạm phát thì cắt nghĩa bằng cách nào ?

Chúng tôi thấy những lý do sau đây cắt nghĩa Lạm phát chứ không phải chỉ có lý do Tăng trưởng mà Nhà Nước lấy ra để chữa lổi cho mình và tạo hy vọng cho dân chúng:

1) Lý do thứ nhất: Giảm hiệu lực sản xuất sánh với lượng vốn đầu tư

Những Tập đoàn Kinh tế nhà nước nắm chủ động Kinh tế quốc gia. Hiệu quả sản xuất của những Tập đoàn này yếu kém sánh với lượng vốn do nhà nước cung cấp.  Cho dù hàng hóa sản xuất có tăng lên mà Nhà Nước tính vào đà Tăng trưởng, nhưng lượng tăng sản xuất lại giảm sút sánh với lượng vốn đầu tư. Như vậy việc tương đương hàng hóa sản xuất và lượng tiền đầu tư đổ vào gây Lạm phát.

Xin lấy một tỉ dụ để cắt nghĩa Lạm phát sinh ra do sự yếu kém hiệu lực sản xuất. Một xí nghiệp sản xuất thuốc lá nhận được 100’000 đồng. Xí nghiệp sản xuất được 100 bao thuốc với số vốn này. Giá bao thuốc là 100’000 đồng/ 100 bao thuốc = 1’000 đồng. Năm nay, nhà nước tăng vốn 50’000 đồng cho xí nghiệp để giữ Tăng trưởng. Xí nghiệp sản xuất năm nay được 120 bao thuốc. Như vậy Tăng trưởng sản xuất hàng hóa của xí nghiệp là 20% (thêm 20 bao thuốc). Nhưng số vốn cung cấp bởi nhà nước là 50’000 đồng, nghĩa là tăng 50%. Năm trước, giá bao thuốc là 1’000 đồng, năm nay giá bao thuốc là 150’000 đồng/ 120 bao thuốc = 1’250 đồng. Như vậy  Giá bao thuốc tăng lên 250 đồng, nghĩa là Lạm phát 25% cho bao thuốc.

Việc kém hiệu lực sản xuất của các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh đã được nhìn nhận ngay bởi Chính phủ, nhưng Nhà Nước vẫn đổ vốn thêm cho những Tập đoàn này.

2) Lý do thứ hai: Tham nhũng Lãng phí

Tại sao Cơ chế CSVN hiện hành có nhiều Dự án. Mỗi dự án là một dịp ăn Tham nhũng. Cũng vậy, khi thi công Dự án hoặc mua bán thiết bị, vật liệu…, có những món tiền ăn riêng kèm theo đó. Những chủ Dự án khi mua thiết bị, vật liệu…, dễ dàng tăng giá mua lên để tính sổ với Nhà Nước. Món tiền  tăng giá mua được dành ra bỏ vào túi riêng. Họ còn mua những thiết bị “second hand “ từ Nga,  những nước Đông Âu hoặc Trung quốc với giá cao hơn giá thực theo thẩm định. Ông Nguyễn Ngọc Sử không trả nợ đáo hạn và muốn bán một số cơ sở của Vinashin để có tiền hòan nợ. Khi bán những cơ sở này, ông có dịp bán với giá rẻ những cơ sở và người mua tất nhiên tặng riêng ông một số tiền để “cám ơn lòng tốt bán với giá rẻ “.

Tất cả những Tham nhũng này được tính vào Giá thành hàng hóa sản xuất.  Do đó hàng hóa tăng giá (Lạm phát) trong đó có một phần số tiền tham nhũng lãng phí.

CSVN không chịu phế bỏ cái Cơ chế chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế mà lý do không phải là nghĩ đến quyền lợi Kinh tế của Đất nước, mà chính yếu là giữ lấy Cơ chế để có dịp thay phiên nhau chộp dựt tham nhũng cho riêng mỗi cá nhân. Khi có quyền chính trị và có quyền nắm kinh tế, thì người đương nhiệm phải tính toán chộp dựt một số tham nhũng để khi mình hết chức, có tiền riêng tiêu xài.

3) Lý do thứ ba: Phá giá đồng bạc Việt Nam

World Bank, IMF/FMI và cuộc Họp những Nhà Tài trợ nước ngoài đã cảnh cáo tình trạng nợ nần của các Tập đoàn Kinh tế Nhà nước. Vinashin là một tỉ dụ điển hình. Ngân sách nhà nước thiếu hụt,  Dự trữ ngoải hối đã cạn thê thảm. Các Tập đoàn Thảm định quốc tế như MOODY’S, STANDARD & POOR’S đã xuống cấp một số Công ty Việt Nam và ngay cả Trái phiếu của Nhà Nước. Với tình trạng như vậy, Việt Nam rất khó lòng vay vốn nước ngoài.

Nhưng làm thế nào để có thể tiếp tục rót vốn thêm cho những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh, xuất vốn thực hiện những Dự án hoặc có ngân quỹ cho những chi tiêu nhà nước.

Giáo sư AFTALION, một chuyên viên về Tiền tệ tại những nước chưa phát triển hoặc trên đà phát triển, đã nói rằng các Chính phủ của những nước này dễ dàng làm Lạm phát Tiền tệ, nghĩa là in tiền mới ra để chi tiêu.

Đó là hiện tượng phá giá đồng bạc Việt Nam. Thực vậy, đồng bạc Việt Nam đã bị phá giá ba lần và người ta dự phòng sẽ còn phá giá trong năm tới này. Khi đồng bạc bị phá giá, điều đó có nghĩa là phải có lượng tiền lớn hơn để có thể mua cùng một món hàng hóa. Đó là hiện tượng Lạm phát. Việc phá giá đồng bạc Việt Nam trực tiếp làm tăng Lạm phát, Vật giá tăng vọt.

Nhà nước CSVN luôn luôn tìm những lý do để bào chữa cho những việc không tốt do chính mình gây ra. Như trên đã nói, Nhà Nước CSVN chủ trương Tăng trưởng cao như nuôi hy vọng cho dân đang bị khổ cực, đồng thời cắt nghĩa Lạm phát chỉ nguyên bằng Tăng trưởng để trấn an lòng bực tức Lạm phát mà dân chúng đang phải chịu lúc này. Cũntg vậy, việc phá giá đồng bạc Việt Nam trực tiếp làm tăng Lạm phát, thì Nhà Nước lại cắt nghĩa rằng phá giá đồng bạc Việt Nam để tăng cạnh tranh hàng hóa xuất cảng để làm dân chúng hy vọng và nguôi bực tức Lạm phát trực tiếp gây ra do việc Phá giá đồng bạc.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 05.01.2011
Web: http://VietTUDAN.net


TRÁCH NHIỆM ĐẤU TRANH
TỪ QUỐC NỘI

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 30.12.2010
Web : http://VietTUDAN.net

 

Năm 2001, VietTUDAN ra đời tham dự vào cuộc đấu tranh nhân câu nói can đảm của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ chính trong lòng chế độ độc tài đàn áp Tôn giáo: “TỰ DO TÔN GIÁO HAY LÀ CHẾT“. Lúc đầu, trong suốt những năm trường cho đến khi PHÁP LỆNH TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG trở thành hiệu lực, chủ đề chính của báo VietTUDAN là Tự do Tôn giáo. Với Pháp Lệnh Tôn giáo Tín ngưỡng, CSVN đã trói buộc các Tôn giáo như là Tôn Giáo quốc doanh để hậu thuẫn cho Cơ chế độc tài nắm trọn quyền Kinh tế để khai thác Tài nguyên và Nhân lực Việt Nam cho túi riêng đảng.

Nhưng từ khi Phong trào Dân Oan nổi dậy và bị đàn áp, chúng tôi nhận thấy rằng việc DỨT BỎ Cơ chế CSVN hiện hành phải từ Lãnh vực Kinh tế mới có thể huy động được đại đa số quần chúng để cứu nguy Đất Nước. Quốc nạn Việt Nam cần phải cứu nguy là Trung quốc xâm lăng và việc cướp bóc bất công của cải chung thành của riêng đảng. Một nền Kinh tế mà chủ ý cướp bóc như vậy  không thể tồn tại lâu dài. Đất nước Việt Nam chúng ta không thể phát triển bền vững về Kinh tế. Nhìn những con số do Nhà Nước đưa ra, ngoại quốc tưởng rằng Việt Nam đang tiến đến vị trí một con “Hổ“ Kinh tế mới của Á châu. Nhưng thực chất, trong con hổ đó, vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ đang đục khoét để xác hổ thành bệnh tật.

Không những con “Hổ“ Kinh tế bị bệnh tật nội tạng do vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ đục khoét xương tuỷ, mà CSVN muốn ăn xổi ở thì, đã tạo một con “Hổ“ tùy thuộc vào nước ngoài, không sống độc lập. Thực vậy, Kinh tế Trung quốc và Việt Nam tùy thuộc vào xuất cảng ra nước ngoài mà chính yếu là hai Thị trường Hoa kỳ và Liên Âu. CSVN cũng như  CSTQ chỉ nhằm lợi dụng Mãi lực của Hoa kỳ và Liên Âu, chứ không lo lắng làm tăng Mãi lực cho dân chúng nội địa. Ngày nay, Hoa kỳ cũng như Liên Âu phải thắt lưng buộc bụng, dân thất nghiệp tăng cao càng làm Mãi lực của họ giảm xuống nữa. Chính vì vậy con “Hổ“ VN đã bị bệnh nội tạng vì trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ, lại còn thiếu ăn do việc giảm đặt mua hàng từ Hoa kỳ và Liên Âu.

Kể từ khi Phong trào Dân Oan nổi dậy, báo VietTUDAN dồn toàn lực về phương diện Kinh tế đang bị ốm yếu do trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ.

Trong năm cuối của 10 tuổi báo VietTUDAN và trong những tháng chót của năm 2010, chúng tôi nhìn thấy con hổ Kinh tế ấy bị bệnh thực sự và quỵ chân nằm xuống: LẠM PHÁT, VẬT GIÁ TĂNG VỌT, NGÂN SÁCH THIẾU HỤT TRẦM TRỌNG, DỰ TRỮ NGOẠI HỐI CẠN KIỆT, ĐỒNG TIỀN VIỆT NAM PHÁ GIÁ XUỐNG DỐC, MẤT TIN TƯỞNG CỦA GIỚI ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÌ THÁI ĐỘ HÈN HẠ MUỐN QUỴT NỢ, NHỮNG TẬP ĐOÀN QUỐC DOANH BỊ CÁC TỔ CHỨC THẨM ĐỊNH QUỐC TẾ HẠ ĐIỂM.

Ai chịu hậu quả của tình trạng Kinh tế ấy ?

Chắc chắn không phải là đám vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ đã đục khoét xương tủy con hổ Kinh tế Việt Nam để chuyển ra nước ngoài cho chúng và con cháu chúng sống sung sướng. Cái hậu quả thê thảm Kinh tế này đang đè lên đầu toàn dân Việt Nam: NÔNG DÂN, CÔNG NHÂN, CÔNG CHỨC, QUÂN ĐỘI, CÔNG AN, TUỔI TRẺ và ngay TÀI SẢN, PHƯƠNG TIỆN HỮU HÌNH SINH HOẠT,  CỦA CÁC TÔN GIÁO.

Đây là sự BẤT CÔNG KINH TẾ không thể chối cãi mà hậu quả là toàn dân Việt ở Quốc nội phải chịu.

Do đó, toàn dân Việt, nạn nhân của những BẤT CÔNG KINH TẾ, phải đứng lên DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN hiện hành để cứu nguy Đất Nước. Việc đứng lên của toàn dân là tất yếu, không đứng lên thì chính mình chết. Cơ chế CSVN đang quỵ xuống vì trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ hoành hành. Cơ chế ấy phải dục đi để có thể cứu nền Kinh tế Việt Nam và bảo toàn Lãnh thổ.

Trách nhiệm đấu tranh DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ngày nay nằm trong tay Quốc nội. Quốc nội buộc phải đứng lên vì nếu cứ im lìm như nằm ngửa chờ sung rụng, thì chính mình cũng chết.

Người Việt Hải ngoại mong muốn đóng góp với việc đấu tranh chính tại Quốc nội. Việc đóng góp bằng cách vận động dư luận nước ngoài dường như đã lỗi thời vì hai lý do:

* Nước ngoài dễ hứa suông mà không dám hành động cụ thể. Họ tính toán quyền lợi của họ và nhiều khi còn tòng phạm với tội ác CSVN áp đặt lên chính dân chúng Việt Nam.

* Họ có thể trả lời cho chúng ta rằng đây là việc của các anh. Các ánh không tự đứng lên, thì chúng tôi không muốn giúp nữa. Chúng tôi không muốn giúp kẻ yếu đánh vật ! Hãy tự giải thoát mình, chúng đừng chờ chúng tôi đến giải thoát dùm !

Có lẽ điều đóng góp mà Quốc nội mong chúng ta làm, đó là canh chừng, tố cáo những tên THAM NHŨNG LÃNG PHÍ và con cháu chúng chuyển tiền bạc ăn cướp ra nước ngoài để sống sung sướng. Nếu có thể, yêu cầu nước ngoài chuyển những tiền ăn cướp đó trả lại cho dân Việt Nam.

Báo VietTUDAN bắt đầu từ 2011 sẽ đặt toàn lực vào việc toàn dân Quốc nội đứng lên để DỨT BỎ cái Cơ chế CSVN thổ phỉ này.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 20.12.2010
Web : http://VietTUDAN.net

 






“CHỐNG GIẶC TẦU, DÂN LÀ CHỦ…ĐA ĐẢNG”

LÝ ĐẠI NGUYÊN

 

Một bản tin địa phương, không được các cơ quan thông tấn quốc tế loan tải, nhưng đối với người Việt trong và ngoài nước, nó lại là sự kiện hết sức trọng đại, mang giá trị lịch sử của một cuộc đột khởi từ tâm hồn tuổi trẻ Việtnam. Họ không chịu gục mặt, cúi đầu mãi trước cuờng quyền bạo lực, luôn đầy đọa toàn dân, cướp công chiến đấu dành độc lập cho dân tộc của bao nhiêu thế hệ, để nay cho bọn cầm đầu Việtcộng nhẫn tâm dâng núi, rừng, biển, đảo, tài nguyên quốc gia, lẫn chủ quyền dân tộc cho giặc Tầu xâm lăng. Đây là tiếng hịch truyền xuất quân của những chủ nhân ông đích thực của ngàn đời dân tộc, là những cánh én báo hiệu của mùa xuân giống nòi đã đến. Bước đầu dấn thân của tuổi trẻ cùng với toàn dân, nương theo sức mạnh tự do dân chủ thời đại và sự hậu thuẫn của toàn cầu, đứng lên đòi lại quyền làm chủ vận mạng của chính mình, mở ra phong trào đấu tranh Toàn Dân, Toàn Diện cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Toàn Vẹn Đất Nước, Chủ Quyền Dân Tộc Việtnam.

Theo nguồn tin FNA đánh đi từ Huế vào 14giờ chiều cùng ngày rằng: “Sáng nay, Chủ Nhật 02 tháng 01 năm 2011, từ lúc 5giờ sáng, đã có gần 40 thanh niên tụ tập, như tập thể dục trước nhà Văn Hoá thành phố, trên đường Hùng Vương, cách cầu Trường Tiền khoảng 500 mét. Họ đưa cao các biểu ngữ “Chống Giặc Tầu”. “Dân là Chủ”. Việtnam Đa nguyên, Đa đảng” và hát lớn những hùng ca như “Nối Vòng Tay Lớn”. “Dậy mà Đi”.“Dân chúng tụ tập mỗi ngày, mỗi đông lên khoảng từ 300 đến 350 người, gồm Giảngviên các trường Đại học, cùng Họcsinh, Sinhviên các trường đại học và cao đẳng Huế, cùng khá đông đảo dân chúng điạ phương để biểu tình “Chống giặc Tầu” đòi giải thể đảng cộng sản, thiết lập chế độ dân chủ đa nguyên, đa đảng. Họ đã kéo nhau đi bộ đến trước trụ sở UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế, bên bờ Nam sông Hương, gần cầu Phú Xuân, trước kỳ đài Phú Văn Lâu, kinh thành Huế. Công an đàn áp, giải tán đám đông. Có 3 thanh niên bị công an bắt, nhưng đã được thả ngay sau đó. Các sinh viên cho biết đây chỉ là cuộc tập dượt lần đầu. Nhưng lãnh đạo Sở CA. đã thổi phòng lên thành 3 ngàn đến 3 ngàn rưởi người biểu tình và chỉ thị cho nhân viên điều tra những ai cầm đầu”.

Cuộc xuống đường của tuổi trẻ ở Huế, ngay trước ngày Đại Hội Cộng Đảng XI sẽ được diễn ra từ 11 đến 19/01/2011 này, theo báo Asahi Shimbun Nhậtbản thì: “Nguyễn Phú Trọng 66 tuổi, một nhân vật thân Trungquốc dự kiến sẽ trở thành Tổng Bí Thư đảng Cộngsản Việtnam”. Ông này đã được dân gian Việtnam đặt cho tục danh là “Nguyễn Lú Nặng” vì ông ta vốn có bằng tiến sĩ chính trị học, chuyên ngành xây dựng đảng ở Liênxô, trở thành Ủy viên Bộ Chính Trị năm 1997. Từ 2000 đến 2006 bí thư thành ủy Hànội. Chủ tịch ủy ban văn kiện Đại Hội Đảng kỳ X, với những văn bản tối mò, lòng thòng, lòng vòng, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lê-Hồ, tiến lên Xã Hội Chủ nghĩa đã chết tiệt tại Liênxô và Đông Âu, bị cả nhân loại nguyền rủa và quẳng vào sọt rác lịch sử. Đúng là Nguyễn Lú Nặng! Từ 2006 Trọng được làm chủ tịch Quốc Hội cho đến nay. Với nhiệm vụ được quan thầy Trungcộng trao phó là không để một Đạo Luật nào đem lại tự do công bằng, dân chủ công lý cho Việtnam. Nay lại được dự định đưa lên nắm quyền lực tối cao để dễ cho Trungcộng sai khiến. Bảo sao không gây sự chán ghét của đại đa số đảng viên còn liêm sỉ, sự căm phẫn của toàn quân và toàn dân. Nhưng vì tất cả chưa có được tín hiệu chung để nhất loạt hành động, nên vẫn phải câm nín. Nay tuổi trẻ Huế của Việtnam đã phát ra tín hiệu chung, đó cũng là tín hiệu của toàn dân tộc “Chống Giặc Tầu”. Dân Là Chủ”. “Việtnam Đa Nguyên , Đa Đảng” và đây cũng là tối hậu thư gửi tới Đại Hội XI. Nếu đảng không “tự diễn biến hòa bình” từ cộng sản chuyển sang Dân Chủ Hoá chế độ thì khó tránh khỏi sự trừng phạt của toàn dân. Đừng có hy vọng gì vào ‘chính sách đu giây’ hiện nay giữa Tầu và Mỹ để nắm giữ chính quyền nữa.

Đối với Trungcộng thì dù Việtcộng có đưa Nguyễn Phú Trọng hay một kẻ nào khác lên làm Tổng Bí Thư để Trungcộng dễ sai bảo, hòng làm đẹp lòng họ, thì Việtnam vẫn mất đứt đuôi quần đảo Hoàngsa và những gì Nông Đức Mạnh đã hiến dâng cho Tầucộng. Theo báo South China Morning Post tiết lộ: “Trong năm nay, Hànội và Bắckinh đã bí mật đàm phán 4 lần về Biển Đảo”. “Bắckinh từ chối thảo luận về sự chiếm đóng của họ tại quần đảo Hoàngsa”. Hiện giờ Trungcộng đang dàn dựng một cuộc biểu diễn đại quy mô về khắp mặt, nhất là về mặt quân sự để áp đảo tinh thần tổng thống Mỹ, Barack Obama và bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Robert Gates trong cuộc gặp thượng đỉnh giữa Barack Obama- Hồ Cẩm Đào vào ngaỳ 19/01/2011. Tuần sau ông Gates tới Bắckinh để hội đàm về quân sự cấp cao, nhằm tạo niềm tin và giảm thiểu những ngờ vực hai bên. Nhất là Mỹ và Tầu cùng muốn kiềm chế căng thẳng ở Đông Bắc Á. Bình luận từ báo chí Anh cho rằng: “Một số giới chức Trungquốc tin ‘Obama là một tổng thống yếu’ và đây là cơ hội cho Trungquốc giành lấy thời cơ”. Các phân tích gia Hoakỳ nói: “Nếu Trungquốc tin như vậy thì đó là một sai lầm lớn về nhận định ngoại giao của họ”. Câu hỏi được đặt ra là liệu Hồ Cẩm Đào có dùng chuyến thăm này để nắn gân Hoakỳ, hay là đồng ý mở ra định hướng mới cho quan hệ song phương bắt đầu từ năm nay?

Nói gì thì nói, cuộc bang giao giữa Tầu-Mỹ, dù có tốt đẹp cách mấy, thì đó vẫn là cuộc chung sống “Đồng Sàng Dị Mộng”. Nuớc Tầu khi còn là quốc gia độc tài chuyên chế, còn dùng yếu tố dân tộc độc tôn, để lừa mị dân chúng làm họ quên đi thực tế phủ phàng, là đảng cộng sản đang ‘tự diễn biến’ thành Khối Tư Bản Man Rợ Cực Quyền cả về Chính Trị lẫn Kinh Tế, còn toàn dân chỉ là lớp bị trị làm công cụ phục vụ cho Đảng Quyền, với tham vọng Đế Quốc Đại Hán. Thế nên, họ vẫn thấy Mỹ, là ‘kỳ đà cản mũi’. Trong khi đó thì Mỹ vì nhu cầu phát triển toàn diện của đất nước mình, với vị thế siêu cường kinh tế , chính trị và quân sự, quyết tiến hành Thị Trường Tự Do Toàn Cầu Hoá và Dân Chủ Hóa Toàn Cầu, Mỹ không để cho Trungcộng tự tung, tự tác bành trướng thế lực chính trị kinh tế ra khắp Á châu. Bởi thế Mỹ dùng lý cớ Trungcộng đòi làm chủ khắp Biển Đông, và chia đôi Thái Bình Dương để trở lại Đông Nam Á và Áchâu, cùng với khối ASEAN, Nhậtbản, NamHàn, Ấnđộ và Úc, đồng thời mở đường cho Nga và Liên Âu cùng vào khu vực quanh Trungcộng, giúp các nước ở đó có sức mạnh toàn cầu để tự tin, tự chủ, tự dân chủ hoá chế độ, phát triển kinh tế, tăng cường quốc phòng, nhằm vô hiệu hóa tham vọng Đế Quốc của Bắckinh. Chẳng biết phúc hay họa, mà Việtnam trước sau gì cũng vẫn là trung điểm của chiến lược toàn cầu trên. Vì đây là chiến lược phòng thủ đa phương, đa cực, không nhằm tiêu diệt đối phương. Bởi thế, không có chỗ đứng cho chính sách đu giây, chỗ ngồi cho những tên đầy tớ ngoại bang, mà buộc các nước phải Dân Chủ Hoá, tôn trọng nhân quyền, dựa vào toàn dân, để có sức mạnh tự chủ dân tộc, cùng đứng ngang tầm với nhau trong hệ thống phòng thủ chung. Xin hãy xem hành động của giới trẻ ở Huế mới đây là lời chúc lành đầu năm 2011 cho dân tộc.

Little Saigon ngày 04/01/2011.

 

THANH NIÊN HUẾ BIỂU TÌNH
KÊU GỌI DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN

350 Thanh Niên Huế Biểu Tình: Kêu gọi Dân Chủ Đa Nguyên


Thanh niên Huế tập biểu tình.... Bản tin sau là từ trang web Chúa Cứu Thế (www.chuacuuthe.com).
Bản tin ghì từ thông tấn FNA, viết như sau.

VRNs (03.12.2011) – Sài Gòn – Từ Huế, lúc 14:00, ngày 02/01/2011, bản tin FNA phát đi cho biết như sau: Sáng Chủ nhật nay, từ lúc 5h00 sáng tinh mơ, gần 40 thanh niên tụ tập như tập thể dục trước Nhà Văn Hóa Thành phố trên đường Hùng Vương cách cầu Trường Tiền khoảng 500 mét, họ đưa cao các biểu ngữ CHỐNG GIẶC TÀU, DÂN LÀ CHỦ, VIỆT NAM ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG… và hát vài bài ca như “Nối Vòng Tay Lớn”, “Dậy Mà Đi ! Hỡi Đồng Bào Ơi !”… Dân tụ tập lại càng lúc càng đông khoảng từ 300 đến 350 người gồm Giảng viên, Sinh viên các trường Đại học & Cao đẳng tại Huế và Dân thường, để biểu tình CHỐNG GIẶC TÀU và ĐÒI GIẢI THỂ ĐCS, THIẾT LẬP CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG. Họ đã kéo nhau đi bộ đến trước Trụ sở UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế bên bờ Nam sông Hương, ngay gần cầu Phú Xuân và trước Kỳ đài Phú Văn Lâu trước Kinh Thành Huế. CA đàn áp, giải tán đám đông. Đám đông chia tay nhau khoảng lúc 6 giờ sáng, hẹn gặp lại nhau một ngày rất gần. Tin ban đầu đã có 3 thanh niên bị bắt và đã được thả ngay sau đó.

Các sinh viên cho biết họ mới chỉ làm như tập dượt lần đầu đùa vui thôi. Nhưng có lãnh đạo sở CA đã thồi phồng lên thành 3 ngàn đến 3,5 ngàn Dân biểu tình và chỉ thị cho nhân viên điều tra những ai cầm đầu…

Vì cuộc biểu tình kiểu bỏ túi này xảy ra quá sớm, nên rất ít người Dân Huế biết cuộc Biểu tình Mini này. Hầu như đa số Dân Huế không hề biết.”

http://www.dangnguoivietyeunguoiviet.blogspot.com


NGƯỜI DÂN KHÔNG CÒN SỢ HÃI CSVN NỮA

Dân thôn An Dương, Huế chuẩn bị tổ chức Trai đàn chẩn tế Anh Hùng Tử Sĩ VNCH
Wednesday, 5 January 20111
Những ngày cuối tháng Ba, 1975, cuộc rút khỏi Vùng I Chiến Thuật của quân đội VNCH đã để lại trên chiến trường hàng ngàn chiến sĩ. Tại bãi biển Thuận An, tỉnh Thừa Thiên – Huế, người dân đã chứng kiến hàng trăm thi hài tử sĩ VNCH, nhiều nhất là lính Thủy Quân Lục Chiến, trôi bềnh bồng trên sóng nước lạnh lùng.

Sau cuộc chiến, người dân làng thôn An Dương đã thu lượm tất cả những thi hài này và chôn ngay tại bãi biển Thuận An. Tưởng rằng con tạo đã an bài cho các vong linh tử sĩ, nhưng đến năm 1985 một cơn bão lụt kinh hồn đi qua nơi xứ nghèo này và thủy triều đã tàn phá một số mộ chôn lấp sơ sài nơi đây.

Rồi đến năm 1999 lại thêm một trận bão khiến một số hài cốt đã bị cuốn ra khơi. Cuộc sống người dân làng chài khó khăn trăm bề, họ chỉ biết vun vén những gì còn sót lại và cầu mong một ngày nào đó được đưa những tử sĩ nằm lại nơi đây về một nơi đàng hoàng hơn để hương khói, để tri ân…

Chuyện nay…

Chị Tố Thuận, hiện cư ngụ tại Sacramento, California, là dân thôn An Dương. Trong một chuyến về thăm quê tháng 7 năm 2010, chị đã không cầm được nước mắt khi nghe người thân kể lại câu chuyện này. Việc cải táng và di dời những bộ hài cốt tử sỉ quá tầm tay người dân ở đây, và không thể đành lòng nhìn những nấm mồ xiêu lạc sẽ mất dấu vì thời gian, càng không thể để người thân chôn vùi ước nguyện.

Lăng thờ 132 tử sĩ VNCH được dân làng An Dương xây dựng với sự giúp đỡ của chị Tố Thuận và đồng bào hải ngoại. (Hình chụp từ video)

Quay về Mỹ, chị Tố Thuận tự bỏ tiền và vận động một số người thân, gia đình, bè bạn giúp đỡ gởi về quê 8,000 Mỹ kim để họ thực hiện lời ước nguyện. Được sự đồng ý của địa phương, dân làng An Dương đã di dời các hài cốt của những người lính VNCH từ ngoài bãi biển vào trong đất liền.

Trong buổi gặp gỡ giữa chị Tố Thuận, nhà văn Huy Phương, anh Vũ Nhân với một số anh em phóng viên, chị cho biết dân làng chỉ gom được 132 bộ hài cốt, trong đó chỉ còn lại 8 thẻ bài và một căn cước của tử sĩ.

Trong khu đất mới, 132 mộ phần này được chia làm 4 khu, ở giữa là lăng và bia thờ chung. mỗi bộ hài cốt được đặt vào một quách riêng và được dánh dấu. Riêng chỉ những hài cốt có thẻ bài là có tên.

Hiện số thẻ bài và căn cước tử sĩ đang được nhà văn Huy Phương tạm lưu giữ. Căn cứ vào số quân nhân trên thẻ bài, chúng tôi xin ghi lại chi tiết để gia đình tử sĩ dễ nhận ra thân nhân của mình:

1. Nguyễn Văn Vân, sinh năm 1954. SQ 74/144-016. Loại máu O.

2. Tiếc Dục, sinh năm 1955. SQ 75/145-256. Loại máu A.

3. Trần Ngọc Anh, sinh năm 1954. SQ 74/108-532. Loại máu O.

4. Lê Văn Phương, sinh năm 1953. SQ 73/156-263. Loại máu O.

5. Trần văn Được, sinh năm 1954. SQ 74/164-292. Loại máu A+B.

6. Đinh Văn Kiêm, sinh năm 1943. SQ 63/121-486. Loại máu O.

7. Ngô Đắc Hùng, sinh năm 1955. SQ 75/206-046. Loại máu O.

8. Nguyễn Văn Dục, sinh năm 1937. SQ 57/000-706. Loại máu O.

9. Hồ Thành Bảy, sinh ngày 20/1/1931 tại Phong Dinh. Cha: Hồ Văn Miên. Mẹ: Nguyễn Thị Chon. Địa chỉ: Xã Tân Bình, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định.

Dân thôn An Dương đặt 132 bộ hài cốt tử sĩ VNCH vào 4 ngôi mộ chung tại nơi yên nghỉ mới. (Hình chụp từ video)

Cũng buổi tâm tình với anh chị Tố Thuận, anh Vũ Nhân tức Jimmy Vũ một nhà hoạt động trẻ đang phát động chiến dịch “Uống Nước Nhớ Nguồn” trên toàn thế giới và nhà văn Huy Phương người phụ trách chương trình “Huynh Đệ Chi Binh” trên đài truyền hình SBTN cho biết các dân làng thôn An Dương có một ước nguyện là tổ chức một trai đàn chẩn tế cho chư vị âm linh, cô hồn trong cuộc chiến, nhất là những tử sĩ đã bỏ mình nơi bãi biển An Dương trong tháng ba năm 1975.

Chương trình tổ chức Lễ Trai Đàn Chẩn Tế Cầu Siêu dự trù khởi sự từ ngày 28 Tháng 1 đến ngày 1 Tháng 2 (tức từ 21 tháng chạp năm Canh Dần và sẽ bế mạc ngày 25 tháng Chạp).

Cũng theo lời chị Tố Thuận cho biết dân làng cần trợ giúp rất nhiều trong việc Trai Đàn Cầu Siêu cho các vong linh tử sĩ này, chị Tố Thuận xin đồng hương tiếp một tay cho dân làng làm tròn nghĩa cử cao đẹp này.

Anh Jimmy Vũ cũng chia sẻ:

“Chúng cháu vô cùng xúc động và cảm kích trước việc làm của dân làng thôn An Dương cùng với những người có tấm lòng nhân ái đã trợ giúp cô Tố Thuận trong việc di dời, cải táng những ngôi mộ tập thể của các chiến sĩ QLVNCH, trước tấm gương cao đẹp đầy tình người này của đồng bào thôn An Dương, chúng cháu thiết nghĩ chúng ta nên tiếp công góp sức trong công việc tìm kiếm hài cốt của những chiến sĩ QLVNCH vị quốc vong thân để bảo vệ miền Nam Việt Nam trong những ngày tháng đau thương nhất của dân tộc, năm 1975. Thân xác của những anh hùng này đã vùi sâu trong lòng đất lạnh không một nấm mồ, không một mộ bia, nay thì xương đã tàn, cốt đã mục theo dòng thời gian 35 năm trôi qua trong quên lãng. ‘Uống nước nhớ nguồn’, chúng cháu tha thiết kêu gọi tấm lòng từ tâm nhân ái của quí vị và các bạn khắp nơi, xin hãy đóng góp tài lực, hãy làm một nghĩa cử cao đẹp bằng cái tâm chân thành và trong sáng hướng về việc tìm kiếm và cải táng các ngôi mộ anh hùng tử sĩ VNCH nằm trên bãi biển hoang vu hay trong rừng sâu tận cùng biên giới.”

Những tấm thẻ bài tử sĩ VNCH còn sót lại. Một số thẻ không đọc được tên. (Hình chụp từ video)

Mọi việc góp sức, góp công trong việc tìm kiếm và cải táng tử sĩ quân dân cán chính VNCH xin vui lòng liên lạc cô Tố Thuận địa chỉ như sau:

5601 48th Ave. Sacramento CA 95823 phone 916-273-2989

Hay liên lạc với anh Jimmy Vũ, phone 559-273-1782.

Email: Jimmyvu07@sbcglobal.net; locqvu@ucdavis.edu; sinhviencovang@gmail.com

Theo tin mới nhận được từ nhà văn Huy Phương, cựu Thiếu Tá Phạm Cang (Iowa), Tổng hội Trưởng Tổng Hội Thủy Quân Lục Chiến đã nhờ chị Tố Thuận gởi về dân làng An Dương số tiền 2,000 Mỹ kim do các chiến hữu Thủy Quân Lục Chiến đóng góp cho lễ trai đàng chẩn tế các tử sĩ VNCH vào ngày 28 tháng 1 sắp tới.
 Nguồn: Lưu Sơn / Viêt Herald


 

22 TRÍ THỨC THẲNG THẮN CÔNG KÍCH

 
Họ đã nói gì mà chế độ sợ hãi cấm phổ biến?

P0: GS Trần Phương (cựu Phó CT Hội đồng Bộ trưởng- PTT, cựu Ủy viên BCHTW Đảng, Chủ tịch Hội KHKTVN): Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11

http://www.youtube.com/watch?v=f7L72GTN2nE

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/p0-gs-tran-phuong-hoi-thao-gop-y-van.html

P1:  Đào Công Tiến - Đào Công Tiến (cựu Phó CT Hội đồng Bộ trưởng- PTT, cựu Ủy viên BCHTW Đảng, Chủ tịch Hội KHKTVN):  Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11 

http://www.youtube.com/watch?v=zxXok6WHprg

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/tran-phuong-ao-cong-tien-hoi-thao-gop-y.html

"cái hiện hữu siêu quyền lực đó đang làm phá vỡ dân quyền, phá vỡ dân chủ xã hội"

P2:  Việt Phương - Nguyễn Trung: Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11 

Việt Phương (cựu Thư ký Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cựu thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Viện Nghiên cứu phát triển IDS)


"Làm sao mà những các cái chuyện 40, 50 năm nữa lại đưa ra thành như là chủ trương khẳng định của Đảng để mà lãnh đạo cả cái dân tộc này. Mang dự báo trở thành chủ trương. Đấy là một cái điều không đúng."

Nguyễn Trung (cựu Đại sứ VN tại Thái Lan, cựu thành viên Ban nghiên cứu củaThủ tướng, Viện Nghiên cứu Phát triển IDS)

 http://www.youtube.com/watch?v=l9ks_Ay58tg

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/viet-phuong-nguyen-trung-hoi-thao-gop-y.html
"thế chúng ta theo Triều Tiên à, theo Bắc Triều Tiên à?"

P3:  PGS Võ Đại Lược (cựu Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính trị Thế giới, cựu Thành viên ban Nghiên cứu của Thủ tướng):  Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11

http://www.youtube.com/watch?v=AU6vvBI_axk

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/pgs-vo-ai-luoc-hoi-thao-gop-y-van-kien.html

"Việt Nam chúng ta đây cũng du nhập kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản chứ, chúng ta không nên xem họ là thối nát"

P4:  GS-TSKH Nguyễn Mại (cựu Phó chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài):  Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11 

http://www.youtube.com/watch?v=guXjm4jTzQw

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/gs-tskh-nguyen-mai-hoi-thao-gop-y-van.html

"Biến Quốc hội ít nhất thành một cơ quan chủ yếu là lập pháp, và cái chức năng đấy phải được thay đổi và vai trò dân chủ của xã hội của nhân dân."

P5:  Vũ Khoan (cựu Phó Thủ tướng, cựu Ủy viên TƯ Đảng):  Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11  

http://www.youtube.com/watch?v=v3Edm72d6CI

http://www.youtube.com/watch?v=InmhOcqkQQk

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/vu-khoan-5-hoi-thao-gop-y-van-kien-ai.html

 "Ngay cái chuyện dùng nhân dân tệ để thanh toán nhiều người nhìn nó một cách rất đơn giản. Biết bao nhiêu cái phức tạp."

P6:  Vũ Quốc Tuấn (cựu thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng, cựu trợ lý của cố Thủ tướng  từ 1985 đến 1994, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề VN):  Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11
http://www.youtube.com/watch?v=G1n0FrjOjfo 

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/vu-quoc-tuan-6-hoi-thao-gop-y-van-kien.html

"Đảng cầm quyền là thế nào? Cầm quyền của ai? Ai giao cho anh cầm cái quyền đó mà anh cầm quyền?"

P7:  PGS-TS Trần Đình Thiên (Viện trưởng Viện Kinh tế VN): Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11

http://www.youtube.com/watch?v=1o9v_hOviXQ 

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/p7-pgs-ts-tran-inh-thien-hoi-thao-gop-y.html

"Những khái niệm lớn của loài người là dân chủ, là nhà nước pháp quyền, là xã hội dân sự."

P8:  TS Lê Đăng Doanh – Nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng, Viện Nghiên cứu phát triển IDS:  Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11

http://www.youtube.com/watch?v=xXPrMXwrz_U

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/p8-ts-le-ang-doanh-hoi-thao-gop-y-van.html

"Tất cả các nội dung mà liên quan đến cái việc phát huy quyền dân chủ của người dân thì đều đã không thực hiện. Và cái điều này chắc chắn không phải là sự tình cờ."

P9:  GS Nguyễn Đình Hương – Nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá Giáo dục Thanh Thiếu niên Nhi đồng của Quốc hội: Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11

http://www.youtube.com/watch?v=60rQqNu9_zk 

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/p9-gs-nguyen-inh-huong-hoi-thao-gop-y.html

  P10: GS Lê Du Phong: Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11


http://www.youtube.com/watch?v=WKKn0opC_QE

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/p10-gs-le-du-phong-hoi-thao-gop-y-van.html
“Người ta không có CHXN mà vẫn độc lập dân tộc chứ có mất độc lập dân tộc đâu? Thế thì chỉ có CHXN mới bảo đảm vững chắc, nói như thế quá xem thường lịch sử."

P11:  GS Trần Phương (phát biểu lần 2): Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11

http://www.youtube.com/watch?v=K6F9TOirClY

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/p10-gs-tran-phuong-phat-bieu-lan-2-hoi.html

P12:  GS Trần Phương (phát biểu lần 3): Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11

http://www.youtube.com/watch?v=V1SLpY3vunU

 http://www.youtube.com/watch?v=vkl3p_cAek0

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/p11-gs-tran-phuong-phat-bieu-lan-3-hoi.html

"Ông bịp thiên hạ với cái chữ CNXH của ông." ..."Nếu nói rộng ra một tí là ông bịp những người không hiểu biết. ..."Cho nên cái gọi là “chủ nghĩa cộng sản” cũng là ảo tưởng, cái gọi là CNXH thực chất cũng thất bại rồi.

 P13:  Nguyễn Trung (Phát biểu lần 2) - cựu Đại sứ VN tại Thái Lan, cựu thành viên Ban nghiên cứu củaThủ tướng, Viện Nghiên cứu Phát triển IDS: Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11

http://www.youtube.com/watch?v=d3GppLSv5BY 

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/p12-nguyen-trung-phat-bieu-lan-2-hoi.html

"90% những công trình kinh tế mới bây giờ là Trung Quốc trúng và đấu thầu, chứ không qua đầu tư." ..."không thể bỏ qua được vì đây là vấn đề an ninh, vấn đề sống còn của quốc gia."

P14:  GS Đào Xuân Sâm – Nguyên Trưởng khoa Quản lý kinh tế Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, từng là thành viên nhóm tư vấn của cố TBT Trường Chinh trước Đại hội Đảng lần thứ VI, cựu thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng: Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11

http://www.youtube.com/watch?v=EJWrOT_ddrg

http://www.youtube.com/watch?v=Kg3erQkP784

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/p13-gs-ao-xuan-sam-hoi-thao-gop-y-van.html

"Từ nhiệm kỳ lãnh đạo Đại hội VI đã bắt đầu đi vào con đường suy đồi rồi, rất khó gỡ."

P15:  GS Phan Văn Tiệm: Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11

http://www.youtube.com/watch?v=ItklushnZdw

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/14-gs-phan-van-tiem-hoi-thao-gop-y-van.html

"Chúng ta là CS tả khuynh một thế kỷ nay, tiêu diệt (CNTB) đến bao giờ?"

P16:  Phạm Chi Lan - Nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng, Viện Nghiên cứu phát triển IDS: Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11

http://www.youtube.com/watch?v=R1AIS_xNe9U

http://www.youtube.com/watch?v=IQ9yjXewnQg 

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/p15-ba-pham-chi-lan-hoi-thao-gop-y-van.html

"Trong thế giới hiện nay người ta có muốn chơi với những người ngu muội hay không, người ta có muốn chơi với người giả dối hay không?"

P17:  Bà Dương Thu Hương - Nguyên Phó Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước: Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11

http://www.youtube.com/watch?v=ml9T5EhFqDg
http://www.youtube.com/watch?v=_6YHMQQHtB4

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/p16-ba-duong-thu-huong-hoi-thao-gop-y.html

"Láng giềng chúng ta sang đây xây dựng làng xã thành phố rồi, mà nó không mang tên China Town đâu, chưa mang tên thôi nhưng mà nó sẽ mang tên"... "Công nhân Trung Quốc sang lại lấy vợ Việt Nam cắm đất đây luôn, sát ngay Hà Nội luôn"

P18:  TS Lưu Bích Hồ (phần 1): Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11

http://www.youtube.com/watch?v=lWb6UBjZIF8
http://www.youtube.com/watch?v=zCuyc-8n7wY
http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/p17-ts-luu-bich-ho-phan-1-hoi-thao-gop.html

P19:  TS Lưu Bích Hồ (phần 2): Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11

http://www.youtube.com/watch?v=3fUutRGluPs
http://www.youtube.com/watch?v=3S7fQi7nfx4
http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/p17-ts-luu-bich-ho-phan-2-hoi-thao-gop.html

"Đảng không thể đứng trên nhà nước được."

P20: GS Trần Phương (phần cuối): Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11
 
http://www.youtube.com/watch?v=i3YW124xWp8

http://vietleaks.blogspot.com/2010/12/p19-gs-tran-phuong-phan-cuoi-hoi-thao.html

"Tôi nói thật là chúng ta tự lừa dối chúng ta, thực ra là phải nói như thế. Và chúng ta tự lừa dối chúng ta và đồng thời chúng ta lừa dối người khác. Tôi nghĩ là cái tệ hại đó phải chấm dứt, phải sửa. Nhưng mà ai sửa? Những người cầm quyền bây giờ họ chẳng có thì giờ họ nghĩ đến chuyện đó đâu, họ cứ miễn là một nhiệm kỳ này họ cứ ngồi đấy, còn nhiệm kỳ sau thì họ về hưu rồi. Tuỳ, thằng nào tiếp tục thì tiếp tục. Cho nên tôi nghĩ rằng đấy là lời bình luận của mình thôi. Bây giờ, không biết là, bốn rưỡi rồi không biết là có được xin phép mấy câu kết luận không?" ..."Có thể mười năm sau người ta bảo, ừ, rất tiếc cái đám trí thức đó có nhiều cái ý đúng mà người ta không tiếp nhận, vậy thôi. Đó là chuyện của lịch sử nhưng ít ra để nói rằng, cái giới trí thức của nước này cũng không ngu đến mức nó tự lừa dối nó đâu. Có phải không ạ? Chứ còn hy vọng rằng người ta nghe như giới trí thức này và nhiều trí thức khác. Nếu ông hy vọng như thế thì ông hơi ảo tưởng đấy. Tôi nghĩ rằng nếu ta làm được cái điều mà như chúng ta vừa nói cũng đã tốt rồi. Ít ra chúng ta chứng tỏ với xã hội rằng chúng ta có trách nhiệm đối với xã hội. Khi người ta yêu cầu mình góp ý kiến mình sẵn sàng nói, nói thẳng cái ý kiến của mình dù có thể đó là sai. Đó là được! Tôi nghĩ là nếu chúng ta đạt cái điều này thì cũng tự an ủi mình là mình không phí thì giờ. Có phải như vậy không?

____________________________________

http://www.youtube.com/VietLeaks

http://vietleaks.blogspot.com/

Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11, Do Hội Khoa học Kinh tế và Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia thuộc Bộ Khoa học - Đầu tư tổ chức. Với sự tham dự của nhiều trí thức, đảng viên cao cấp, đại diện Văn phòng Trung ương Đảng, Hội đồng Lý luận Trung ương.

http://www.youtube.com/view_play_list?p=7E66A65D03E13D00  

http://www.youtube.com/watch?v=zxXok6WHprg&feature=&p=7E66A65D03E13D00&index=0&playnext=1

 


CÔNG NHÂN VN
BỊ BÓC LỘT HÀNG ĐẦU CHÂU Á

Mệnh danh đại diện của giai cấp công nhân
nhưng đảng VC đang bán mồ hôi máu mắt của công nhân giá cực rẻ
Saturday, 11 December 2010

Khoảng 5,000 công nhân hãng sản xuất giầy Sao Vàng ở Hải Phòng đình công đòi tăng lương – hình của báo Tuổi Trẻ

HÀ NỘI (TH) - Các công ty sản xuất hàng hóa đổ tới Việt Nam mở nhà máy sản xuất chỉ vì giá nhân công ở Việt Nam quá rẻ và chủ nhân mặc sức bóc lột sức lao động.

Theo bản tin báo Thanh Niên ngày Thứ Bảy, 11 tháng 12, 2010, Giám đốc Phòng Thương Mại Châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) Matthias Duhn nhận định như vậy tại một hội thảo do Cục Xúc Tiến Thương Mại, Bộ Công Thương phối hợp tổ chức ngày 10 tháng 12.

Chỉ được trả “với gần $49 USD/tháng, lương của người lao động Việt Nam chỉ xếp trên Campuchia – với $47.36 USD/tháng,” ông này nói rõ.

Bản tin tờ Thanh Niên thuật lại các con số khảo sát lương bổng công nhân tại khu vực Á Châu được nêu ra tại cuộc hội thảo nói trên cho thấy “Indonesia $82 USD/tháng, Trung Quốc $117 USD/tháng, Thái Lan $156 USD/tháng, Philippines $167 USD/tháng, Malaysia $336 USD/tháng, Ðài Loan $540 USD/tháng, Hàn Quốc $830 USD/tháng, Singapore $1,146 USD/tháng và Nhật $1,810 USD/tháng.”

“Ông Matthias Duhn nhận định, giá lao động rẻ là một trong những nguyên nhân khiến giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp ở Việt Nam thấp. Vì thế, không thể dựa vào giá lao động rẻ để đạt tới chuỗi giá trị gia tăng cao được.” Tờ Thanh Niên nói.

Vì lương chết đói, hàng trăm vụ đình công xảy ra tại Việt Nam mỗi năm để đòi tăng lương. Không những lương thấp, công nhân tại Việt Nam còn bị ép buộc làm hơn số giờ lao động qui định mà không được trả tiền phụ trội. Bữa cơm trưa được cung cấp nhưng không đủ phẩm chất để tái tạo sức lao động. Nghỉ bệnh, thai sản bị có thể bị đuổi luôn.

Các vụ ngộ độc tập thể xảy ra rất thường tại các khu công nghệ tại Việt Nam vì thực phẩm ôi thiu, mất vệ sinh.

Luật lệ lao động của nước CHXHCNVN gồm nhiều tầng nấc tròng tréo khiến cho công nhân không thể đình công “đúng luật.” Bởi vậy, các cuộc đình công tại Việt Nam đều bị coi là “bất hợp pháp.” Hệ thống công đoàn đều là các tổ chức ngoại vi của Ðảng Cộng Sản không bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Ngày 29 tháng 11, 2010 vừa qua, ông Michael Porter, giáo sư Ðại Học Harvard, khuyến cáo trong cuộc hội thảo “Cạnh tranh và Chiến lược công ty ngày nay” ở Hà Nội rằng: “Bắt chước Trung Quốc trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa giá rẻ là điều Việt Nam hoàn toàn không nên làm.”

Ðại diện Ngân Hàng Thế Giới ở Việt Nam trong cuộc họp cấp viện hôm Thứ Tư vừa qua cũng đã vạch ra cho thấy sai lầm trong chính sách kinh tế của nhà cầm quyền Hà Nội là chỉ dựa vào một lực lượng công nhân không chuyên môn giá rẻ và moi tài nguyên thiên nhiên ra bán./-

 






TỪNG VẠN CÔNG NHÂN ĐÌNH CÔNG

13,000 công nhân Bình Dương đình công đòi tăng lương

BÌNH DƯƠNG 18-12 (TH) - Có hai cuộc đình công đang xảy ra ở tỉnh Bình Dương với tổng số công nhân tham dự lên hơn 13,000 người. Lý do chính là đòi tăng lương, theo tin của hai báo Lao Ðộng và Người Lao Ðộng hôm Thứ Bảy.
 
Công nhân công ty Pouchen ở Ðồng Nai đình công hồi đầu tháng 4, 2010, đòi tăng lương. (Hình: Tuổi Trẻ)
 
Các cuộc đình công này diễn ra vào lúc vật giá gia tăng quá nhanh chóng trong khi đồng lương công nhân lại quá ít ỏi, không đủ mua những đồ ăn thuộc loại rẻ tiền nhất và trang trải các chi phí khác cho cuộc sống.

Theo tờ Lao Ðộng, hai phân bộ khác nhau của công ty sản xuất giày da Duy Hưng thuộc khu kỹ nghệ Sóng Thần 1, tỉnh Bình Dương đã đình công ngày 16 tháng 12, 2010. Công nhân đòi tăng lương thêm 300,000 đồng/tháng.

Trong khi đó, theo tờ Người Lao Ðộng, công ty Han Son Vina với khoảng 6,000 công nhân cũng đình công đòi tăng lương thêm mỗi tháng 300,000 đồng.

Các cuộc đình công của giới công nhân đòi hỏi quyền lợi lao động hiếm khi được loan tải trên báo chí. Hầu như đều bị coi là các cuộc đình công “bất hợp pháp”.

Muốn đình công, công nhân phải qua ban đại diện công đoàn, qua các cuộc thương thuyết hòa giải với giới chủ nhân. Không xong thì hòa giải với sự can thiệp của nhà cầm quyền địa phương. Sau nhiều tầng nấc ngăn trở nếu không xong thì phải xin phép đình công. Trước một thứ luật lệ lao động không bảo vệ giới công nhân trong khi hệ thống công đoàn là do đảng viên Cộng Sản nắm để giật dây và không bảo vệ người lao động, giới công nhân đã tự động biểu tình, đình công khi thấy sức chịu đựng của họ đã căng quá giới hạn.

Hồi tháng 4 vừa qua, một cuộc đình công lớn khác cũng đã xảy ra ở hãng Pouchen (sản xuất gia công giày cho hãng Nike) ở Ðồng Nai. Hồi tháng 2, khoảng 10,000 công nhân của hãng giày da Mỹ Phong đặt tại Trà Vinh đã đình công.

Lạm phát trong tháng 11 vừa qua, cao hơn 11%, theo con số thống kê của Cục Thống Kê Hà Nội. Giá cả các loại thực phẩm được báo chí trong nước liệt kê cho thấy vẫn leo thang nhanh chóng, nhất là vào dịp này, gần Tết, hàng hóa và các dịch vụ đều tăng giá. Còn đồng lương thì không tăng.

Tại một cuộc hội thảo do Cục Xúc Tiến Thương Mại, Bộ Công Thương CSVN phối hợp tổ chức ngày 10 tháng 12, giám đốc Phòng Thương Mại Châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) là ông Matthias Duhn đưa ra một số thống kê về lương chứng tỏ người công nhân Việt Nam bị bóc lột rất tàn bạo.

Theo các con số do ông nêu ra, chỉ được trả “gần $49 USD/tháng, lương của công nhân Việt Nam chỉ xếp trên Campuchia (với $47.36 USD/tháng),” ông Duhn cho biết.

Trong khi đó, công nhân tại Indonesia được trả $82 USD/tháng, Trung Quốc $117 USD/tháng, Thái Lan $156 USD/tháng, Philippines $167 USD/tháng, Malaysia $336 USD/tháng, Ðài Loan $540 USD/tháng, Hàn Quốc $830 USD/tháng, Singapore $1,146 USD/tháng và Nhật $1,810 USD/tháng.

“Trả công lao động rẻ là một trong những nguyên nhân khiến giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp ở Việt Nam thấp,” báo Thanh Niên trích lời ông Matthias Duhn phân tích. “Vì thế, không thể dựa vào giá lao động rẻ để đạt tới chuỗi giá trị gia tăng cao được.”


'Hai vạn' công nhân ở Biên Hòa đình công

Thống kê cho thấy lương trả công nhân Việt Nam gần như thấp nhất Á châu.

Nhiều ngàn công nhân tại nhà máy giày Tae Kwang Vina, khu công nghiệp Biên Hòa 2 tham gia đình công đòi tăng lương.

Một nguồn tin nói tới 20,000 người ngưng làm việc tại cơ sở gia công giày cho hãng Nike.

Công nhân của Tae Kwang Vina cho phái viên hay họ đã khiếu nại nhiều lần về lương thấp, bữa ăn trưa thiếu chất, nhưng chưa được giải quyết.

Trưa 23/12 hàng ngàn công nhân đồng loạt đình công.

Tin trên báo Thanh Niên nói tới 20,000 công nhân tại Tae Kwang Vina lãn công tập thể.

Ngoài yêu sách tăng lương, công nhân của Tae Kwang Vina còn yêu cầu được nghỉ Tết sớm.

Thay vì bắt đầu nghỉ từ 29 Tết, công nhân muốn nghỉ từ 27 hoặc 28 Tết.

Trong cùng ngày hơn 4000 công nhân công ty Namyang, tại khu công ngiệp Amata đồng loạt đình công.

Namyang là công ty Nam Hàn, chuyên sản xuất sữa bột, sản phẩm dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ sơ sinh.

Đình công đòi tăng lương xảy ra ngày càng nhiều tại Việt Nam. Nguyên nhân hàng đầu là do lương thấp. Thống kê cho thấy lương trả công nhân Việt Nam tại các dự án FDI đứng gần cuối bảng tại Á châu.

Với lương trung bình 49 USD/tháng, lương của lao động Việt Nam chỉ nhỉnh hơn Campuchia một chút, là 47,36 USD, theo Phòng Thương mại Âu châu tại Việt Nam.

Trong khi công nhân tại Indonesia được trả 82 USD/tháng, Trung Quốc 117 USD/tháng, Thái Lan 156 USD/tháng, Philippines 167 USD/tháng, Malaysia 336 USD/tháng, Ðài Loan 540 USD/tháng, Hàn Quốc 830 USD/tháng, Singapore 1.146 USD/tháng và Nhật 1.810 USD/tháng.


24,000 Vietnamese workers strike at 2 South Korean plants

24,000 Vietnamese workers strike at 2 South Korean plants
Posted: 24 December 2010 1712 hrs

HANOI - Around 24,000 workers at two South Korean plants in Vietnam have gone on strike over pay, bonuses and lunar new year holidays, company staff and news reports said on Friday.

At the Tae Kwang Vina footwear company in southern Dong Nai province, almost 20,000 employees refused to work on Thursday and Friday, a company employee told AFP, declining to be named.

She said management had agreed that the Tet lunar new year holidays could last eight days "but have not said anything regarding the requests for an increase in basic salary and Tet bonus".

Tet falls on February 3 in 2011 and is the most important holiday for Vietnamese people.

The employee said basic salary at the South Korean owned plant is now 1.3 million dong a month (US$65). This is roughly in line with what the government says is the country's average monthly income of 1.365 million dong.

Vietnamese consumers have been hit by rising inflation, which official figures released on Friday said is estimated to have risen 9.2 per cent year-on-year during 2010.

At the second South Korean owned factory, also in Dong Nai province, 4,000 workers from the Namyang garment company did not turn up for work on Thursday in a demand for higher wages, Thanh Nien newspaper said.

Company representatives were not immediately available for comment to AFP.

In principle, workers need permission 20 days ahead of time before going on strike in Vietnam, where all labour confederations are state-controlled.

- AFP/al
http://www.channelnewsasia.com/stories/afp_asiapacific_business/view/1101032/1/.html

 






CUỘC MẠN ĐÀM VỚI LM.NGUYỄN VĂN LÝ


Sau khi nhận được Lời Kêu Gọi... của người tù lương tâm Linh mục Nguyễn Văn Lý tại Nhà Chung giáo phận Huế, VN, Chúng tôi, Liên Minh Dân Chủ Việt Nam liên lạc và được sự đồng ý của linh mục Nguyễn Văn Lý nên chúng tôi vừa tổ chức một cuộc mạn đàm vào ngày 30-12-2010 trên hệ thống viễn thông với sự tham dự của một số chiến hữu ở Âu châu, Canada và Hoa Kỳ với LM Nguyễn Văn Lý vào lúc 6 giờ sáng VN. Cuộc mạn đàm này lúc đầu gặp một vài trở ngại vì không liên lạc được với Cha như đã hẹn nên đã phải nhờ một vài anh em tại Huế đến Nhà Chung để tìm hiểu nguyên nhân, được biết Cha đang phải tiếp khách ...Rốt cuộc chúng tôi liên lạc được và thực hiện cuộc mạn đàm với thời lượng hơn 1 tiếng đồng hồ. 

Cuộc mạn đàm với linh mục Nguyễn Văn Lý
của Liên Minh Dân Chủ Việt Nam


Xin giới thiệu với Cha, hôm nay chúng con gồm các anh em dự thính ở các nơi từ Âu châu, Canada và Hoa Kỳ, và 3 anh Minh (TX) , anh Thanh (LA), anh Diệp (CA) sẽ trực tiếp thưa chuyện với Cha. Về chương trình thì xin đề nghị với Cha là có 3 phần. Phần thứ nhất, anh em xin được thăm hỏi Cha; phần thứ hai, sẽ nói về đơn tố cáo và lời kêu gọi mà Cha đã gởi đi; phần thứ ba, là phần trao đổi linh tinh, anh em ở đây là chỗ gần gũi thân tình, cứ tự do hỏi và Cha cũng có quyền tự do trả lời hay không trả lời, không có gì phải ngại cả...Tất cả sẽ được phát thanh trên đài của LMDCVN. 

Dạ, điểm thứ nhất là anh chị em ở khắp nơi đều được thấy hình ảnh của cha bị bịt miệng trong phiên tòa của Cộn Sản Hà Nội đã được treo khắp nơi ở hải ngoại (ngay cả trong gia đình) trong nhiều tháng. Các anh em có điều gì hỏi Cha thì anh em cứ tự nhiên.

                                                                      oOo

Hỏi: Kính thưa Cha, con là Minh ở Texas. Kính thưa cha, con xin phép có câu hỏi liên quan đến lời kêu gọi của cha. Kính thưa cha, qua các diễn tiến trước ngày Đại hội Đảng CSVN trong những ngày tháng tháng qua với những sự góp ý của 22 nhà trí thức cũng là những đảng viên kỳ cựu từng giữ những chức vụ quan trọng của chế độ CS,  kể cả ông Nguyễn Văn An, nguyên Chủ Tich Quộc Hội và là thành viên Bộ Chính Trị, cũng đòi hỏi dân chủ hóa, nhưng thành phần lãnh đạo Đảng CSVN hiện nay đã để ngoài tai. Vậy lời kêu gọi toàn dân đứng lên giải thể chế độ CS, thiết lập một chế độ tự do dân chủ đa đảng, của cha, chắc chắn nhà cầm quyền CSVN sẽ tìm cách xách nhiễu và bách hại cha, vậy Cha nghĩ gì và làm gì để đối phó với những tình huống xấu nhất?

Cha Lý: Mình kêu gọi đây là mà mình kêu gọi lẽ phải giữa quốc dân và công lịnh quốc tế. Họ (CS) không nghe lời tức là họ ngoan cố, càng bộc lộ giữa quốc dân. Đây là một hình thức gây áp lực, chứ không phải như vậy là họ nghe lời mình. Phần thứ hai, tức là   phần chủ động của chúng ta. Thực sự chúng ta phải tìm cách tranh thủ sự đồng tình của lực lượng công an, bộ đội và công viên chức nhà nước..... Thật sự hiện giờ  họ đang phân hóa, đang chuyển đổi. Những người có chức tước, ... đang nhận mình bị cô lập, những người có thành tâm thiện chí thì đang hướng về phía chúng ta ngày càng đông, do vậy chúng ta nên tranh thủ sự đồng tình của họ. Còn những người trong bộ chính trị, trong đảng, chúng ta phải đặt họ vào tình trạng bị áp lực càng ngày càng mạnh, không muốn nghe chúng ta cũng không được. Phần thứ tư trở đi là phần chủ động của chúng ta. Chúng ta phải cố gắng hết sức để làm.  Bây giờ nếu như không bắt đầu cũng không được. Và khi nào thì bắt đầu? Đây là thời điểm thuận lợi vì từ trong nội bộ của họ cũng đã có nhiều người lện tiếng, dưới dạng này hay dạng khác. Một số lên tiếng đòi cải tổ để đảng phải trong sạch hơn, một số lên tiếng đòi chuyển đổi nội bộ của người CS... Chúng ta phải tận dụng điều đó, không phải để chia rẽ họ, mà để dùng lẽ phải, sự thật để mà kiên quyết nhận định. Về phiá chúng ta phải kiên trì để gây áp lực liên tục, dưới dạng này dạng khác. Riêng phần tôi, tôi chỉ là một thành viên trong 86 triệu dân, trong 90 triệu dân VN kể cả hải ngoại. Tôi nghĩ như vậy! Còn bây giờ có những ai, có lý lẽ uyển chuyển hơn thì cứ tiếp tục, có sáng kiến gì thì đóng góp vào. Còn nếu chúng ta cứ chờ đợi thời cơ thuận tiện hơn thì có lẽ... Theo tôi nghĩ thì trong lúc này, đây là thời điểm thuận tiện lắm rồi. Nếu không thì mình sẽ mất thêm 5, 10 năm nữa. Còn trong hiện tại, quý vị có bao nhiêu biện pháp thì quý vị triển khai hết, còn riêng tôi thì tôi chỉ lấy sự chân tình của tôi, lẽ phải của tôi, và sự bảo vệ của Thiên Chúa, chứ tôi không có sự “bảo vệ dân” của đảng. Và tôi sẵn sàng đi nhận nhiệm sở mới trong một trại giam nào đó. Nếu họ đưa tôi về nhiệm sở cũ ngoài Bắc, thì tôi sẽ tiếp tục về nhiệm sở đó… Tôi đã dùng trại giam để làm nơi tu tỉnh… Tôi sẵn sàng bị bắt từng giây, từng phút. Ngay bây giờ, nếu họ dẫn tôi đi thì tôi sẵn sàng.

Hỏi: Dạ, con muốn hỏi thêm một câu hỏi nữa, thưa Cha. Nếu như lời kêu gọi của cha được đảng viên Đảng Cộng Sản và toàn dân hưởng ứng thì bước kế tiếp, Cha có kế hoạch gì để ứng phó với tình hình mới hay không?

LM Lý: Như tôi vừa trả lời, kế hoạch của chúng ta là đi từng bước. Với lời kêu gọi như vậy chúng ta phải xem xét tình tình đối phương chuyển động như thế nào. Trong nội bộ của chúng ta, tôi nghĩ cũng không có sự hưởng ứng nhanh đâu... Còn trong nước thì có bao nhiêu nỗ lực, chúng ta phải thi thố ra hết. Còn kế hoạch của chúng ta như thế nào cũng không tiện nói ra đây làm gì, vì hiện nay đường dây điện thoại chúng ta đang sử dụng đây cũng bị nghe lén cơ mà...

Hỏi: Dạ, con là Diệp ở Nam Cali. Con xin phép được hỏi Cha một vấn đề. Thưa cha, thông thường một bộ máy cai trị của chính quyền độc tài không vận hành một cách bình thường. Người dân bề ngoài thì có vẻ tuân phục chính quyền, nhưng nếu có một biến động nào đó xảy ra thì toàn dân sẽ nổi dâỵ. Điều này đã xảy ra tại nhiều nước độc tài và gần đây thì ở các quốc gia cộng sản Đông Âu và Nga Sô. Thưa Cha, trong kinh nghiệm tranh đấu của Cha, Cha có nghĩ rằng diễn tiến này có thể đủ điều kiện để xảy ra tại Việt Nam ngày hôm nay hay không, thưa Cha?

LM Lý:  Theo một số giáo sư đại học nói với tôi, cho rằng khoảng 8 tháng nữa thì xong, đó là những người lạc quan. Một số khác thì nhận định rằng đến cuối năm. Thật ra không ai nhận định được chính xác hoàn toàn được đâu, người lạc quan thì lạc quan quá, người bi quan thì bi quan quá nhưng một điều chắc chắn là toàn dân sẽ hưởng ứng. Năm 2011 này sẽ là một năm biến động. Còn chuyện người dân có mạnh dạn tham gia nhiều hay ít thì còn tùy theo cấp điều hành từng địa phương. Chắc chắn những giáo xứ có những linh mục hăng say thì giáo dân sẽ ủng hộ gần hết, còn những giáo xứ mà linh mục ngăn cấm hay ù lì thì giáo dân không biết dựa vào ai, vào đâu để tham gia.... Các tôn giáo khác cũng thế. Nếu các Thượng tọa, Đại đức mà mạnh dạn lên, kết tụ nhân dân lại thì hăng hái lên... Phía các mục sư cũng vậy. Rồi đến các đại học, hiện nay các giáo sư, giáo viên dần dần tham gia cũng đông. Riêng ở  đây   cho đến hôm qua, tức là cách đây 24 tiếng, có 10 mục sư, 5 linh mục, 13 luật sư, 10 giáo viên đại học, 5 tiến sĩ, 3 giáo sư. Đây là những người đã lên tiếng tham gia hưởng ứng lời tố cáo và kêu gọi. Thật ra cũng còn tùy theo tình hình từng nơi mà sẽ có đông người hay ít. Có những vùng rất phấn khởi..., trong những ngày này họ đã lên tiếng và trả lời. Còn ngày giờ xuất phát như thế nào thì còn tùy tình hình, chứ không phải đơn giản nói là ngày 12 này như trong lời kêu gọi. Và bây giờ thì tùy theo quý vị, qúy vị thấy ngày nào là thích hợp. Tôi đã phát động như vậy rồi, thì các bạn, các đoàn thể cứ theo tình hình, hoàn cảnh của mình mà làm. Còn như các bạn ... Giả sử như thế! Còn như quý vị nào thấy đây là chuyện vô tư, chuyện chung của đất nước, ông Lý cũng chẳng làm gì cho danh vọng của ông cả, ông cũng sẵn sàng bị vô tù... thì họ tham gia. Còn lại... cho mọi người tự động theo sáng kiến của tổ chức mình, nếu như tổ chức nào đã có nhân sự, có quyền lực… Một điều chắc chắn là năm 2011 sẽ là một năm biến động. Còn kết qủa như thế nào,..  Còn nhiều yếu tố chúng ta chưa tiên liệu bây giờ được.

 Hỏi:  Xin chào Cha, con là Thanh ở Louisiana. Theo sự trình bày lạc quan của Cha thì chỉ 8 tháng, đó là niềm vui mà tất cả người dân mong đợi. Thưa Cha, nếu giả thuyết như nhà cầm quyền CSVN thấy rằng người dân đã chán chê sự lãnh đạo của Đảng CSVN và đảng này thấy rằng họ không thể tiếp tục quyền lực được, thì đương nhiên, họ không thể một sớm một chiều bước xuống mà trao quyền cho toàn dân. Cho nên trước khi cáo chung, họ có thể dựng ra một chiêu bài nào đó dưới hình dạng đối lập để thay đổi, cho mọi người thấy bề mặt họ chấp nhận đa đảng, để tiếp tục lừa dối thế giới như họ đã từng làm. Vậy chúng ta phải làm thế nào để không mắc bẫy của họ, để cho dân chúng có thể phân biệt được và phương thức tranh đấu tốt nhất, theo Cha, mà chúng ta có thể hóa giải được âm mưu này của bọn họ?

LM Lý:  Khi họ đã chấp nhận đưa ra nguyên tắc đa nguyên đa đảng, thì tức khắc người chúng ta phải có mặt để tranh cử. Nếu bây giờ họ đưa ra rồi chính họ tự cài, tự đóng lại, thì làm sao có thể qua mặt được tất cả mọi người? Ngay trong nội bộ của họ hiện nay cũng có những người thật sự có mưu đồ, họ tự quan sát họ biết. Không lẽ trong đảng họ tự đưa ra rồi họ tự đạo diễn? Mà đã có nguyên tắc thì phải có luật. Nếu trong việc bầu cử, ứng cử, nói chung là trong việc tranh cử, nếu họ chỉ đưa ra những điều thuận lợi cho họ không thì chúng ta lại tiếp tục đấu tranh. Không lẽ hơn 90 triệu dân chúng ta lại chịu mắc mưu? Cho nên không sao, chuyện đó có thể xảy ra nhưng chúng ta sẽ nhận ra được liền. Nhưng có một trường hợp này không biết có xảy ra không, là họ tạo những bạo loạn, cho chiến sĩ của họ và đồng bào hy sinh một số (ví dụ như chết khoảng vài chục hay một trăm) họ lấy cớ đó để xiết chặt...lấy cớ rằng phải duy trì đất nước khỏi tê liệt. Trong trường hợp như thế, họ lại xiết quân đội lại, và toàn dân nữa. Chúng ta phải tỉnh táo nhận ra rằng họ làm như vậy, tạo ra bạo loạn để lấy cớ duy trì độc đảng. Do vậy chúng ta phải tranh đấu bất bạo động, nếu có manh nha bạo động là họ có cớ để đổ sự bạo động cho chúng ta ngay. Để phần bạo động cho cộng sản.

Hỏi: Thanh: Thưa Cha, xin có thêm câu hỏi nữa. Bây giờ chúng ta xét đến thái độ của Trung cộng trong vấn đề liên hệ đối ngoại với VN. Thưa Cha, theo cục diện tình hình thế giới sau những năm toàn cầu hoá gần đây, người ta có thể khẳng định Trung cộng sẽ dùng vũ khí chính của họ, đi kèm chính sách ngoại giao là kinh tế và tài chánh, chứ không phải chiến tranh và bạo lực, ngay cả đối với VN và các nước Đông Á, kể cả vấn đề Biển Đông. Do đó âm mưu Hán hóa VN mà Trung cộng đang muốn thực hiện, chắc chắn sẽ bằng phương pháp tiệm tiến, tức là họ sẽ duy trì sự độc quyền lãnh đạo của ĐCSVN dưới sự thống lãnh của TC. Như vậy bằng mọi giá, cả Trung cộng và Việt cộng sẽ  tiếp tục đường lối độc tôn độc đảng , tức là họ sẽ dùng bạo lực để đàn áp người dân và nếu có sự chống đối thì họ sẽ không ngần ngại đàn áp một cách tàn bạo. Như vậy, theo phương phức đấu tranh của chúng ta, nếu chúng ta tiến một bước thì họ lại đàn áp một bước mạnh hơn, sẽ không nhường nhịn bước nào. Với cuộc chiến dằng dai như vậy, trong vòng 8 tháng làm sao chúng ta có thể đạt được sự mong muốn tốt đẹp hơn ngoài việc phải có bạo lực của người dân?

LM Lý:  8 tháng này là do là những người lạc quan nói, chứ không phải chúng tôi nói. Chúng ta phải vất vả trong năm 2011, và trong những năm tới. Năm nay là bắt đầu.      Bây giờ về phía Trung cộng, chắc chắn là họ thích đàn áp. Chúng ta tính trên thực tế,  xảy ra một cuộc chiến như lần trước chúng ta phải hy sinh đến sinh mạng, bây giờ giả như để chuyển đổi được chế độ này mà chúng ta bị đàn áp phải hy sinh vài trăm người, giá đó vẫn rẻ. Nhưng chúng ta...      Nếu dùng phương pháp bạo động, sự hy sinh có thể lên đến hàng triệu. Nếu chúng ta dùng phương pháp bất bạo động mà bị đàn áp, chúng ta chấp nhận hy sinh từ vài chục đến hàng trăm. Cuộc chiến nào mà chẳng phải hy sinh? Còn hơn là chúng ta chọn bạo động thì số nạn nhân hy sinh cao hơn nhiều. Nêú chúng ta sa vào đấu tranh bạo động, đó là con đường bế tắc của dân tộc. Chúng ta chấp nhận những người bị người ta nổ súng, cứa cổ... làm cho chế độ này mau sụp đổ hơn. Họ càng đàn áp bạo động chừng nào thì ngay chính họ càng mau sụp đổ chừng ấy. Nên chúng ta không sợ Trung cộng chen vào kích động cho những người CSVN đàn áp bạo động với chúng ta. Thứ hai, trong nội bộ đảng CSVN cũng có khuynh hướng mong muốn chúng ta chiến thắng.  Bằng chứng trong 10 ngày nay, từ khi tôi làm lá đơn tố cáo đó, thì ở đây mọi sự vẫn bình yên, cổng Nhà Chung vẫn mở và mọi người ra vô bình thường. Tuy có một số người e ngại, nhưng là do tính họ e ngại thôi chứ sự thực mọi việc vẫn bình thường. Đến nỗi có người ngạc nhiên sao mọi việc lại bình thường như vậy? Điều này nói lên rằng, tận trong nội bộ của họ chưa có phương án giải quyết, không ai ra lịnh gì cả, moị người án binh bất động. Có những khuynh hướng muốn làm khó làm dữ, cũng có khuynh hướng muốn can ngăn. Như vậy nội bộ của họ đã có những người lên tiếng hoan nghênh chúng ta. Do đó xin quý vị cứ yên tâm, là trong những ngày tới, không phải khuynh hướng thích dùng bạo lực của CS luôn thắng đâu. Tôi xin hết lời.

 - Xin cám ơn Cha.

 


PHÁ SẢN
CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Tập đoàn kinh tế nhà nước: Tại sao sẽ phá sản? Có thể tái cấu trúc được không?

Trần Thành Nam


Trong bài Tập đoàn kinh tế Nhà nước: từ đâu ra và đi về đâu? tôi đã trả lời hai câu hỏi đã nêu ra, rằng tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam hình thành theo và từ mô hình các tổng công ty đầu ngành của các nước xã hội chủ nghĩa cũ vốn đã làm các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đó sụp đổ, nên cũng sẽ làm nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của Việt Nam sụp đổ.

Với bài này tôi muốn phân tích tiếp, tại sao mô hình kinh tế này sẽ sụp đổ ở Việt Nam và nếu thế thì nó sẽ sụp đổ như thế nào? Liệu có cách nào “tái cấu trúc” chúng để tránh sự sụp đổ được báo trước đó không?

Ở Việt Nam hiện nay, kinh tế Nhà nước năm 2010 chỉ góp 21% GDP nhưng chiếm trên 40% vốn đầu tư quốc gia và chỉ tạo công việc cho chưa tới 4% lực lượng lao động. Đó là các con số của Chính phủ. Còn theo ước tính của các nhà quan sát kinh tế độc lập thì, nếu tính cả các đơn vị làm kinh tế của Đảng, của các đoàn thể Công đoàn, Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, của các lực lượng vũ trang và an ninh, kinh tế Nhà nước tại Việt Nam chiếm đến trên 80% nguồn vốn đầu tư của quốc gia [?] và vì thế nó phải được coi là lực lượng kinh tế chủ đạo.

Nhìn sơ qua ai cũng thấy ngay tính không hiệu quả trầm trọng đến vô lý của mô hình kinh tế Nhà nước. Hậu quả kinh tế thua lỗ thất thoát sẽ làm nó phá sản và chính những người hỗ trợ nó là Chính phủ cũng không chịu được và càng không bao biện được. Chính phủ càng bơm nhiều vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, càng mất hết.

Hậu quả thứ hai là đạo đức kinh doanh xấu xa của mô hình kinh tế nhà nước: tính hình thức, sự hoang phí, tệ tham nhũng, nạn báo cáo giả dối, sự vô trách nhiệm tràn lan, sự kém cỏi và kém chất lượng dịch vụ, sự thiếu vắng văn hoá và đạo đức kinh doanh… tất cả tạo nên và làm cho văn hoá kinh doanh và văn hoá xã hội nói chung ngày càng xuống cấp… Càng hô hào thi đua, càng mất văn hoá hơn.

Hai hậu quả trên khi được biểu hiện kết hợp trên diện rộng, mức độ sâu xa, thời hạn lâu dài nhiều năm và trong khắp mọi ngành kinh tế với số lượng đầu tư vật chất lớn… sẽ làm nên tình trạng: về văn hoá thì cả xã hội ghê tởm và căm ghét, về kinh tế thì cả nền kinh tế bị khủng hoảng “vạ lây”, về xã hội thì làm mất hết cơ hội vươn lên cuộc sống giàu có cho đất nước, cuối cùng cả xã hội sẽ phải xoá bỏ mô hình kinh tế nhà nước này.

Tại sao hai hiện tượng “hậu quả” trên sẽ nhất định sẽ xảy ra với mô hình kinh tế nhà nước?

Đó là một phép qui nạp: vì chúng đã và đang xảy ra…, và vì mô hình kinh tế nhà nước xã hội chủ nghĩa vốn đã chứa những hạt giống, mầm mống mâu thuẫn sẽ gây đổ vỡ đó là bắt nguồn từ cơ sở triết học và lý thuyết kinh tế sinh ra chúng: lý thuyết kinh tế kế hoạch tập trung xã hội chủ nghĩa! Vâng, cha mẹ tinh thần, hay cái gen gốc, của mô hình kinh tế nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay vẫn là lý thuyết kinh tế kế hoạch tập trung xã hội chủ nghĩa!

Chúng ta lại phải giật lùi một chút đến những năm 50, xem lại về lịch sử hình thành từ đầu các hình thái tổ chức công ty nhà nước xã hội chủ nghĩa nói chung.

Chúng ta (và các nước cựu xã hội chủ nghĩa trước kia) tưởng mình đã cắt đuôi và đoạn tuyệt dứt khoát với lý thuyết kinh tế kế hoạch tập trung từ khi giải tán các Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước từ Trung ương đến địa phương! Không hề! Chúng ta đã chỉ không “làm kế hoạch tập trung” tại Trung ương hay các UBND Tỉnh, mà chỉ “lập” và “giao” chỉ tiêu cho các ngành theo đó tự làm kế hoạch thực hiện, từ Trung ương đến địa phương, mà thôi. Đó chỉ là tự dối chính mình, còn bản chất sự việc vẫn như cũ: các chỉ tiêu vẫn được xác lập từ Trung ương và rồi “phân chia”, “giao” về các địa phương, các đơn vị kinh tế chủ đạo là các tập đoàn kinh tế nhà nước, để họ “làm kế hoạch”. Các kế hoạch đó liệu có thể được chấp nhận nếu làm không theo các chỉ tiêu “trên giao”?

Bước “cải tổ” trên, mà bản chất như một trò lưu manh vặt, từng được ca ngợi như bước tiến lớn về lý luận và lý thuyết của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khắp Âu Á Mỹ! Theo tôi, dù có gọi tên thế nào, hiện nay thành phần kinh tế nhà nước của ta vẫn là kinh tế kế hoạch tập trung.

Yếu tố cơ bản sống còn trong lý thuyết kinh tế kế hoạch tập trung là đại diện và bảo vệ sở hữu nhà nước trong các mô hình kinh tế sản xuất, kinh doanh và phân phối dạng nông trường, công ty, tổng công ty, hợp tác xã mua bán…, đến nay hoàn toàn chưa được Lênin và các lý thuyết gia kinh tế xã hội chủ nghĩa sau ông giải quyết. Đó là, quyền sở hữu toàn bộ tài sản quốc gia đã được tập trung vào sở hữu nhà nước bằng bạo lực cách mạng rồi, làm sao phân chia lại quyền sở hữu nhà nước đó ra cho các đơn vị kinh tế nhà nước xã hội chủ nghĩa đây? Thành ra, các công ty Nhà nước xã hội chủ nghĩa chưa bao giờ và chưa ở đâu thực chất là một pháp nhân độc lập và có thể sống độc lập pháp lý với chủ của chúng như các công ty tư bản (corporate) được. Ví dụ: nhà nước xã hội chủ nghĩa sụp đổ thì các công ty nhà nước lập ra có còn tồn tại được không? Trong khi các công ty tư bản tồn tại pháp lý độc lập vài trăm năm sau khi chủ thành lập ra chúng đã qua đời? Hay: Vinashin có thể độc lập “chết” mà không liên can gì đến Chính phủ Việt Nam không? Không!

Lúc đầu (những năm 50, 60, 70) người ta phân chia quyền đại diện sở hữu Nhà nước theo ngành dọc cùng lúc cho các bộ ngành, Bộ Tài chính, Đảng Cộng sản và các đoàn thể cùng đại diện. Như vậy, trong một công ty hay xí nghiệp xã hội chủ nghĩa luôn luôn có 5-6 thành phần cùng đại diện quyền sở hữu nhà nước đối với các tài sản vật chất: ban giám đốc, kế toán trưởng, bí thư Đảng, Công đoàn, Thanh niên, Phụ nữ… Bên trên mỗi Công ty cũng có chừng đó các ông chủ sở hữu nhà nước cấp tổng công ty, đến các sở địa phương, rồi các bộ chủ quản, rồi Trung ương…

Hệ thống đại diện sở hữu nhà nước chồng chéo và tầng tầng lớp lớp này đã tự kiểm soát và kiềm chế bớt tham nhũng nhưng hậu quả là người ta chỉ lo bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa (mà vẫn không bảo vệ được khi 5-6 đại diện cùng thông đồng tạo nên những cái gọi là quyền lợi tập thể), nhưng không còn ai lo vì không còn sức, nhiệt huyết và thời gian làm cho tài sản nhà nước đó sinh sôi theo kế hoạch được…

Từ những năm 70,80 và 90, khi các liên hiệp xí nghiệp và tổng công ty toàn ngành hình thành, người ta đã tập trung quyền hành (thực chất là quyền đại diện sở hữu nhà nước) vào hai thành phần chính: giám đốc và đảng uỷ công ty, giai cấp lao động bị loại hẳn khỏi quyền đại diện sở hữu nhà nước hay quyền hành nói chung. Từ đó, các kế toán trưởng chỉ là cái bóng “cánh hẩu” với Đảng và chính quyền – tài chính không thể minh bạch nữa, còn các đoàn thể chỉ là “để làm cảnh” hay “lũ chầu rìa” cho vui xã hội.

Trong công ty hay tổng công ty thì người ta phải trọng tài năng và trình độ chuyên môn để làm việc, trong khi các bí thư đảng cộng sản cơ sở thì thường rất yếu kém mặt này nên thường không có uy tín và quyền lực, do đó các giám đốc tổng công ty luôn có quyền lực tuyệt đối: vừa là đại diện sở hữu nhà nước vừa là người điều hành kinh doanh và chịu trách nhiệm với nhà nước về tài sản nhà nước trong công ty của mình… hay vừa đã bóng, vừa thổi còi cho quân mình đá.

Đại diện sở hữu nhà nước lúc đầu giống như một trách nhiệm trước một ông vua. Nhưng vì ông vua này không tồn tại, không có bóng hình, không hiện ra bao giờ, lại rất dễ lừa, dễ mua chuộc, còn các “đại diện” của vua thì rất tham lam (tiền và “hoa”) và ngu dốt, thích nịnh, thỉnh thoảng đến “cưỡi rượu” xem “hoa”, nên rất dễ điều khiển… Thế là rất nhanh sau đó các giám đốc thấy mình mới chính là vua thật có toàn quyền sinh sát với công ty, số tài sản và con người mình đang quản lý…, họ nhanh chóng trở thành các “vua con”.

Còn tâm lý tham nhũng của các ông “vua con” hình thành từ “đạo đức cộng sản trong sáng” thế này: Các “vua con” chỉ được Nhà nước giao nhiệm vụ bảo toàn tài sản nhà nước thôi vì được “tin cậy”, nhưng thời gian đầu chưa có kinh nghiệm và thường ít tài năng nên thường kinh doanh bị lỗ. Vì mê chiếc ghế “vua con” và không nỡ làm thất vọng cấp trên nên đành báo cáo láo là công ty kinh doanh “huề”, rồi tính sau. Xoay xở vài năm, được nhà nước hỗ trợ đủ điều ưu ái vốn và độc quyền thị trường vì là “lực lượng chủ đạo”, có kinh nghiệm hơn, các “vua con” bắt đầu làm ăn có lãi, nhưng vẫn “phải” báo cáo “huề” để bù lại phần lỗ trước đó đã nỡ giấu nhẹm. Sau đó, việc kinh doanh có lãi tiếp thì các “vua” lại “phải tiếp tục” báo cáo “huề” để dự phòng nhỡ lỗ về sau và cho các “chi phí ngoài luồng” ngày càng tăng cao cho các đại diện “vua trên” và cho chính các “vua trên”… [Có một tình hình phổ biến không kém: Báo cáo lãi để tạm lừa cấp trên – BVN] Số tài sản để ngoài sổ sách để “dự phòng” đó “phải để tạm” trong các tài khoản do người nhà các “vua con” trông hộ ngày càng lớn thì cảm giác tự tin của “vua con” ngày càng lớn… đến một lúc “tự nhiên” “vua con” tin nó là của riêng mình, vì có ai “tranh chấp” đâu? Đó là chưa kể tài sản người ta cứ mang đến cảm ơn lòng tốt của “vua con” trong việc ban phát quyền lợi cho đám “cận thần” và “xin làm cận thần”…

Hiệu quả kinh tế phá hoại, đạo đức tồi tệ, tập trung quyền hành, tham nhũng tràn lan, tổ chức chính trị xã hội mất uy tín và tan rã… đã nhanh chóng làm sụp đổ hệ thống kinh tế rồi hệ thống nhà nước của các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu những năm 80.

Việt Nam từ những năm 90 bắt đầu thí điểm mô hình tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước với sự vô hiệu hoá hoàn toàn các tổ chức Đảng, chỉ để lại “làm vì”. Thay vào đó, Việt Nam áp dụng mô hình hội đồng quản trị để đại diện quyền sở hữu nhà nước, học từ mô hình kinh tế Tư bản thị trường, để kiểm soát Ban giám đốc.

Vẫn có ít nhất vài điều không ổn trong mô hình “thí điểm” này:

Thứ nhất, đây là mô hình được “cải tiến – hà hơi” từ lý thuyết công ty nhà nước xã hội chủ nghĩa và kinh tế kế hoạch tập trung mà châu Âu đề xướng và đã thất bại, đã là xác chết hoàn toàn, nay Việt Nam ta thí điểm “tô vẽ – hà hơi lại xác chết”, mà làm tràn lan khắp các ngành kinh tế, thì thật không khác dựng các thây ma dậy trong khắp mọi nhà!

Thứ hai, việc “tô vẽ – hà hơi xác chết” có phần vụng về: Đại diện sở hữu nhà nước trước kia nằm đông đảo trong từng công ty mà còn không kiểm soát được Ban Giám đốc, nay tách ra và giao cho Hội đồng quản trị đại diện thì phải có Luật đặc biệt tương xứng cho Hội đồng Quản trị như thanh “bảo kiếm” chứ? Thế mà Hội đồng Quản trị đã không có thanh bào kiếm là quyền hành bổ nhiệm Ban Giám đốc, lại cũng chả có luật nào tương xứng nhiệm vụ đại diện sở hữu nhà nước của Hội đồng Quản trị, mà Hội đồng Quản trị lại còn “được” Ban Giám đốc trả lương thì “há miệng mắc quai” hay chủ sở hữu nhà nước bị “làm nhục quốc thể” quá, còn kiểm soát sao được!

Thứ ba, Hội đồng Quản trị giám sát công ty và Ban Giám đốc bằng Luật Doanh nghiệp, là bằng các qui chế và tài liệu báo cáo có tính pháp lý, nhưng ở các tập đoàn và tổng công ty nhà nước Việt Nam việc báo cáo và làm việc giữa Hội đồng Quản trị với Ban Giám đốc lại có tính “nội bộ”, không minh bạch, nên công việc của Hội đồng Quản trị chỉ là hình thức và vô tác dụng. Thực tế ở Việt Nam thường là Chủ tịch Hội đồng Quản trị có quyền “bao cả sân” của Tổng Giám đốc nên coi như đá hai sân; đó là sự bắt đầu của tham nhũng như tôi đã phân tích tâm lý “vua con” ở trên, thậm chí là hiện tượng “hai vua”: Chủ tịch và Tổng Giám đốc chia nhau quyền lực. Kết quả thì vẫn là một: kinh doanh không hiệu quả, tham nhũng, thoái hoá đạo đức…

Thứ tư, đến nay 2010 thì về lý thuyết kinh tế và pháp lý quốc tế, một công ty nhà nước hay tập đoàn kinh tế nhà nước vẫn không phải một pháp nhân độc lập mà chỉ là một bộ phận phụ thuộc của một pháp nhân khổng lồ là nhà nước mà thôi.

Đến đây, câu hỏi tại sao mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước nhất định sẽ thất bại dường như đã được trả lời: tô vẽ và hà hơi không làm các “xác chết” công ty nhà nước xã hội chủ nghĩa sống thực được.

Dường như, là vì còn một nguyên nhân khách quan nữa sẽ góp phần làm nó thất bại nhanh hơn mà các tổng công ty nhà nước xã hội chủ nghĩa Châu Âu ngày xưa chưa gặp: đó là nền kinh tế thị trường cạnh tranh với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh khác. Sự cạnh tranh này sẽ đẩy các tập đoàn kinh tế nhà nước yếu kém nhất đến phá sản nhanh hơn, và các tập đoàn này sẽ kéo các tập đoàn kinh tế nhà nước khác chết theo vì chúng là bình thông nhau, cùng một chủ. Hiện tượng Vinashin là một báo hiệu “thử nghiệm” cho “cái chết đầu tiên” đó.

Với câu hỏi “Liệu có cách nào tái cấu trúc các tập đoàn kinh tế nhà nước để chúng thành công?”, câu trả lời của tôi là: Không. Chưa có. Loài người chưa nghĩ ra. Chưa có lý thuyết kinh tế xã hội chủ nghĩa nào thành công từ năm 1917 đến nay, 93 năm thử nghiệm trên 12 nước và 3 châu lục với khoảng trên ¼ dân số loài người đã tham gia.

Các công ty và tâp đoàn kinh tế nhà nước theo mô hình kinh tế kế hoạch tập trung như nước ta đang “nuôi” vẫn chỉ tiếp tục là những thây ma thí nghiệm “dũng cảm” – thây ma thì sợ gì chết nữa! Chính phủ ta vẫn nói là họ đang tiếp tục làm thí nghiệm đó thôi!? Chỉ có điều cái giá phải trả cho những thí nghiệm này rất đắt, sẽ do nền kinh tế ọp ẹp của ta phải chịu, tức là do dân Việt ta cùng trả thôi mà.

Còn một câu hỏi trong cuối bài trước dường như tôi chưa trả lời, tuy thực ra là đã trả lời ngay rồi, là: “Ai sẽ có lợi khi các tập đoàn kinh tế nhà nước cùng nhau sụp đổ?”

Tôi đã nói: “Người biết chuyện gọi đó là cuộc cách mạng ĐỔI MÀU SỞ HỮU CHỦ”, không phải như một số báo đăng lại và hiểu nhầm thành: “người biết chuyện gọi đó là cuộc cách mạng ĐỔI CHỦ SỞ HỮU”. Ở đây, chủ sở hữu chính của phần lớn các công ty nhà nước phá sản sẽ không thay đổi, họ chỉ đổi màu “áo” của mình thôi. Trước khi công ty sụp đổ họ “mặc áo” màu đỏ – đại diện sở hữu nhà nước –, sau khi công ty sụp đổ họ sẽ ra tay “cứu vớt” mua lại công ty NN thành “của mình”, lại trở thành chủ của công ty đó. Nhưng họ là các nhà tư bản mặc áo vàng, thế thôi, vẫn là họ hay con cháu họ hàng anh em chiến hữu của họ…

Đỏ là màu cách mạng – là máu dân lành. Vàng là vàng, Dân thì vẫn là dân đen…
T.T.N

 




LẤY KINH TẾ QUỐC DOANH
LÀM CHỦ ĐẠO LÀ SAI
 

VN có mức tăng trưởng khá cao nhưng đi kèm là lạm phát.

Năm 2010 là năm Việt Nam chứng kiến một số vấn đề kinh tế liên quan tới chính sách vĩ mô với thực trạng lạm phát cao, lãi suất cho vay tăng vọt, chênh lệch tỷ giá trong và ngoài ngân hàng, nhập siêu, dự trữ ngoại hối giảm xuống mức thấp và thâm hụt ngân sách ở mức đáng lo ngại.

BBC Việt ngữ phỏng vấn kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa từ Nam California để lấy đánh giá về nỗ lực chống lạm phát, sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước và vai trò của các tổng công ty tại Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Nghĩa: Chúng ta nên nhớ lại bối cảnh từ năm 2008 Việt Nam bị lạm phát nặng. Lúc đó Việt Nam vừa chống lạm phát nhưng đồng thời khi đó cũng bị ảnh hưởng bởi thực trạng tổng suy trầm về kinh tế trên toàn cầu nên Việt Nam đã bơm tín dụng rất mạnh (thông qua các chương trình kích thích kinh tế) theo kiểu giống như Trung Quốc. Vì vậy cũng tạo ra áp lực về lạm phát.

Thứ hai hệ thống quản lý của Việt Nam chưa hoàn chỉnh, tức là hệ thống tài chính và ngân hàng không được vững mạnh để chịu một liều thuốc quá lớn như vậy. Người ta chỉ nhìn thấy góc độ làm sao về tăng trưởng cao chứ không để ý tới lạm phát, đặc biệt là lạm phát về lương thực là vấn đề ảnh hưởng rất nhiều tới tầng lớp nghèo.

Điểm cũng đáng chú ý là Việt Nam cũng đã phá giá tiền đồng vài lần trong năm 2010 và khoảng cách chênh lệch giữa giá chợ đen và tỷ giá chính thức cho tiền đồng với đôla cũng gây thêm sức ép lên tiền đồng. Đây cũng là yếu tố góp phần thêm lạm phát bởi có nhiều mặt hàng liên hệ với đồng đôla.
 
Đảng độc quyền đang chuẩn bị cho kỳ ̣Đại hội XI ở Hà Nội

BBC: Thưa ông, Economist Intelligence Unit hồi tháng 12/2010 có bài nói mô hình tăng trưởng do khu vực nhà nước đóng vai trò chủ đạo của Việt Nam không thể thích ứng được với thực tế biến động mạnh của nền kinh tế toàn cầu, ông nghĩ sao?

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Nghĩa: Cách nhà chức trách Việt Nam ứng phó với nạn lạm phát thể hiện sự lúng túng trong quản lý kinh tế vĩ mô. Tức là vừa muốn hãm phanh (chống lạm phát) nhưng lại vừa muốn đạp ga (đẩy mạnh tăng trưởng cao). Đó là việc hết sức khó với bất kỳ quốc gia nào, huống chi là Việt Nam với trình độ quản lý rất thấp. Giới chức trong ngành ngân hàng hay tiền tệ của Việt Nam mỗi ông lại phát biểu theo một cách. Nó có những mâu thuẫn với nhau và cho thấy cách đối phó không đủ linh động và nhất là thông tin của giới có trách nhiệm về kinh tế lại không đủ bén nhậy và hơn nữa không thông tin cho thị trường biết rõ ràng. Cơn sốt vàng thồi tháng 11 năm 2010 cho thấy khả năng quản lý là rất kém, nhất là về vĩ mô.

BBC: Tại các nền kinh tế phát triển, người ta dùng ngân hàng trung ương để can thiệp, điều tiết kinh tế vĩ mô. Ông đánh giá vai trò Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thế nào?

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Nghĩa: Thứ nhất về tư cách pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không có tính độc lập như các ngân hàng trung ương tại các nơi khác trên thế giới. Thứ hai có thể có năng lực kỹ thuật ở bên trong mặc dù giới chức chuyên về ngân hàng của Việt Nam cũng có khả năng cao cơn trước thời trước Đổi Mới. Ông Thống đốc Ngân Hàng có thể có khả năng nhưng không loại trừ việc ông không được quyền quyết định do có thể có ý kiến từ Bộ Tài Chính hay cơ quan khác thuộc Đảng chẳng hạn.

Chúng ta thấy rằng hệ thống đưa ra quyết định lại không chịu trách nhiệm đối với thị trường và tiến trình đưa ra quyết định không minh bạch lại càng làm người ta e ngại. Kết quả đưa ra nhiều khi có sự mâu thuẫn trong hệ thống. Khả năng ứng đối đã không linh động mà nhiều khi người ta nghĩ lại còn có tính mờ ám bởi một quyết định này có thể lại có lợi cho một số cơ quan hay tổng công ty của nhà nước kia, thì cái đó càng làm thị trường mất niềm tin và khả năng ứng phó của nhà nước Việt Nam.

BBC: Ông đánh giá thế nào việc những ưu đãi trong đó có vốn mà nhà nước dành cho các tập đoàn nhà nước hay các tổng công ty quốc doanh?

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Nghĩa: Lãnh đạo bị mắc cái bệnh có thể nói là vĩ cuồng, nghĩ tới những chuyện rất lớn trong khi chưa ra khỏi nền kinh tế nông nghiệp. Lấy khu vực doanh nghiệp nhà nước và các tập đoàn quốc doanh đóng vai trò chủ đạo là điều hoàn toàn sai lầm. Hệ thống quản lý vĩ mô đã lỏng lẻo và yếu kém, trong khi lại tập trung phương tiện của quốc gia để trao cho một số tập đoàn kiểm soát kém và không ai chịu trách nhiệm cả. Cái này là cái bế tắc lớn.

Những người lãnh đạo các tập đoàn bằng phương tiện quốc gia này họ đều là đảng viên. Điều xảy ra là mỗi một phe lại được ưu đãi kinh doanh một lĩnh vực. Tức là trở lại việc Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra một mô hình có vẻ là đa nguyên để mỗi phe trong đảng có các cơ sở kinh doanh và khai thác tài nguyên của quốc gia cho mục tiêu riêng. Thành ra chúng ta thấy có rất nhiều đại gia hay còn gọi là các ông tư bản đỏ mà trong khi đó sức mạnh thật của kinh tế đất nước hay người dân vẫn còn rất nghèo.

Trong thời gian chuẩn bị Đại hội XI của đảng cầm quyền ở Hà Nội, BBC sẽ tiếp tục giới thiệu các quan điểm khác nhau về kinh tế và chính trị Việt Nam.





CON TẦU KHỔNG LỒ VINASHIN
ĐANG BỊ NGẬP NƯỚC
 
Mai Vân

Nhìn lại những sự kiện đánh dấu 2010, nhật báo Pháp Le Monde chú ý đến một sự kiện ở Việt Nam, trên bình diện kinh tế : "Tập đoàn Vinashin, con tàu khổng lồ đang bị ngập nước", tít bài báo dài gần cả trang báo bên trong. Bên trên dòng tựa, Le Monde giải thích ngắn gọn nguyên nhân khiến Vinashin bị nạn : tham ô, thâm lạm công quỹ, quản lý kém cỏi đã tác hại đến tập đoàn đóng tàu nhà nước, một biểu tượng phát triển kinh tế của Việt Nam.

Mở đầu bài báo, đặc phái viên Le Monde, Bruno Philip, cho là Vinashin, là 3 âm tiết mà có lẽ là giới lãnh đạo Việt Nam đọc lên một cách chua chát, trong khi mà tình trạng phá sản của tập đoàn làm giới tài chính quốc tế và giới đầu tư lo ngại hậu quả đối với kinh tế của một trong những ‘con rồng’ năng động nhất Đông Nam Á.

Theo Le Monde, gọi Vinashin là một trong những "soái hạm" của Việt Nam, thì không có từ ngữ nào thích hợp hơn đối với tập đoàn đã từng là hiện thân của mô hình phát triển mà ban lãnh đạo đảng Cộng sản hiện nay đã chọn lựa.

Bài báo nhắc lại những khoản nợ của Vinashin : 4,4 tỷ đô la, bằng 4,5% GDP Việt Nam năm 2009. Tập đoàn đã phải khất nợ, nhà nưóc phải tài trợ để Vinashin trả lương cho công nhân viên. Tóm lại thì khó khăn Vinashin nhiều đến nỗi mà nó đe doạ sức khoẻ của cả nền kinh tế Việt Nam, cho dù tăng trưởng năm 2010 vẫn cao.

Le Monde trở lại những nguyên nhân đã đưa Vinashin xuống ‘điạ ngục‘ : Quản lý công quỹ kém cỏi, thiếu kiểm tra, không minh bạch, cán bộ cấp cao thiếu năng lực, nạn bè phái, tham nhũng. Việt Nam đã đi theo mô hình phát triển của Hàn Quốc, mà mục tiêu là thành lập những đại tập đoàn ‘chaebol’, để thúc đẩy phát triển, và nhà nước vẫn giữ được các công ty lớn.

Bài báo trích dẫn những số liệu, từ năm 1989 đến nay số lượng công ty nhà nước có giảm : từ 12.000 nay còn 4.000. Thế nhưng tuy chỉ còn chiếm hơn 1/3 kinh tế Việt Nam, các đại tập đoàn này đã phình to ra rất nhiều trong những năm gần đây, vì đã được khuyến cáo nên đa dạng hoá hoạt động. Cũng như các tập đoàn khác như Điện lực Việt Nam đã đầu tư vào điện thoại di động, hay Petro Việt Nam vào ngành du lịch, Vinashin đã đầu tư vào ngành khách sạn, bảo hiểm v.v...

Có điều, Le Monde trích dẫn bà Phạm Chi Lan, đã đánh giá là "sai lầm của Vinashin là đã phát triển quá nhanh quá nhiều hoạt động khác nhau. Mô hình chaebol của Hàn Quốc có hấp dẫn, nhưng lãnh đạo Vinashin đã không hiểu là hoạt động như thế nào".

Hậu quả chính trị của vụ Vinashin : Thủ tướng Việt Nam bị suy yếu ?

Ngoài hậu quả kinh tế, hiển nhiên hồ sơ Vinashin còn có hậu quả chính trị, và người gánh chiụ hậu quả là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhiều nhà quan sát nước ngoài đã nhận thấy ông và giới thân cận đã bị suy yếu do vụ Vinashin.

Theo Bruno Philip, tác giả bài báo, ông Nguyễn Tấn Dũng là gương mặt thể hiện sự trẻ hoá của guồng máy lãnh đạo từ khi ông được đề cử vào năm 2006. Phong cách của ông khác hẳn với các người tiền nhiệm, ông Dũng không ngần ngại đứng ra phiá trước, nhanh chóng chiếm vị trí trọng tâm để khẳng định với lãnh đạo quốc tế và giới đầu tư ông là người lãnh đạo chính phủ.

Dù bị ảnh hưởng trong vụ Vinashin, nhưng theo bài báo trên Le Monde, trong một hệ thống như ở Việt Nam, với tổ chức cơ cấu theo phe nhóm, thì hồ sơ Vinashin sẽ có nhũng hệ quả trước mắt khó lường. Tuy nhiên, Bruno Philip cho là theo nhiều nguồn tin, ông Nguyễn Tấn Dũng chưa thua trận. Ông đã công khai công nhận trách nhiệm của mình trong vụ Vinashin và có thể sẽ tiếp tục giữ chiếc ghế hoặc cũng có thể được cử làm tổng bí thư, với quyền hạn chính trị lớn hơn, nhưng không trực tiếp nắm kinh tế.

Quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam bị xiết chặt

Ngoài cái gai kinh tế Vinashin, Le Monde còn chú ý đến vấn đề nhân quyền, tự do ngôn luận ở Việt Nam trong năm qua. Dưới tựa đề không "lạm dụng quyền tự do dân chủ", bài báo liệt kê những vụ bắt giam nhà báo, luật sư, nhà hoạt động nhân quyền... Le Monde ước tính là có ít nhất 25 người đã bị bắt.

Việc kiểm soát Internet ngày càng gắt gao hơn. Le Monde nêu bật trường hợp Vietnamnet, bị phạt vì đã phạm một lỗi lớn là đã chạy một tựa về nạn tham nhũng, dựa theo kết quả nghiên cứu mà tổ chức Minh bạch Quốc Transparency International cho thực hiện. Bản nghiên cứu nêu bật nạn tham nhũng trong n,gành công an : 82% người được hỏi xem công an là những người tham nhũng nhất trong giới viên chức nhà nước.

Bài báo trích dẫn nhận định của một chuyên gia Pháp về Việt Nam, Benoit de Tréglodé, là chế độ không cảm thấy bị đe doạ. Nhưng đó là những dấu hiệu đãu tranh nội bộ giữa các phe phái khác nhau, để giữ vị trí của một phe nhóm.

tags: Pháp - Việt Nam - Điểm báo 

 






CON TẦU QUỐC DOANH CHÌM LUÔN
 
VI ANH


Báo Pháp hay dùng danh từ ẩn dụ, tượng hình và truyền cảm hơn báo Mỹ viết quá lạnh lùng lý trí, khô khan sự kiện. Nhơn cú sốc của xì căn đan Tập Đoàn Vinashin của Đảng Nhà Nước CS Việt Nam suýt vỡ nợ, thiếu ngoại quốc 4 tỷ 4 Đô la, tương đương với 4.5% tổng sản lượng nội địa VN, nợ đáo hạn tiền lời 60 triệu Đô là mà không có tiền để trả, làm cho Việt Nam mất nhiều uy tín kinh tế tài chánh. Nhựt báo Le Monde của Pháp mô tả “Tập đoàn Vinashin, con tàu khổng lồ đang bị ngập nước”. Tập Đoàn Vinashin là một trong vài ba tập đoàn kinh tế quốc doanh lớn nhứt của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Nhà Nước CS VN. Trời cao có mắt nên xui khiến CS Hà nội lấy tên Vinashin để đặt cho tập đoàn này để nó ngập nước sắp chìm làm cho con tàu kinh tế quốc doanh của CS Hà nội có thể chìm theo luôn.

Chữ ‘Vina’ là chữ tắt đầu tượng trưng cho chữ Việt Nam. Chữ ‘shin’ phó thường dân Việt Nam, nhứt là phó thường dân “Nam bộ” ít ai phát âm rõ khi nói có chữ s và x nên nghe chữ ‘shin’ như sink là chìm.

Xì căn đan Vinashin làm cho uy tín tái chánh VN trên trường quốc tế xuông thê thảm. Hai công ty thẩm định tài chính quốc tế là Standard & Poor’s và Moody’s đã hạ điểm tín nhiệm về tài chính đối với Việt Nam. Trong tháng 12 vừa qua đã hạ điểm đối với các trái phiếu dài hạn của Việt Nam, từ Ba3 xuống mức B1 (có nghĩa là không nên đầu tư). Giá của hợp đồng bảo hiểm cho việc muộn trả nợ của Việt Nam đã tăng lên đến mức cao nhất kể từ 18 tháng vừa qua. Mua danh ba vạn bán danh ba đồng, muốn phục hồi niềm tin tài chánh cho VN trên thế giới là thiên nan vạn nan.

Còn lập lại sự ổn định tài chánh trong nội địa VN cũng hết sức khó trong hoàn cảnh đồng bạc Việt Nam bị mất giá nhiều lần trong năm và tỷ lệ lạm phát tăng cao có thể trở thành phi mã không biết lúc nào. Đảng Nhà Nước CS Hà nội mất khả năng kiểm soát tiển tệ. Chỉ tính riêng trong tháng 12, giá cả tăng 11,8% so với cùng thời kỳ này năm ngoái và cao hơn 2% so với tháng 11. Vàng tăng giá 30%, đôla tăng giá 10%. Ngân hàng Thế giới đánh giá lạm phát tại Việt Nam vẫn thường xuyên cao hơn các nước láng giềng.

Xì căn đan Vinashin là đề tài các phe phái trong Đảng CS đấu đá với nhau sanh tử trong giai đọan đại hội đảng vốn là thời gian các phe phái tranh chấp chức vụ, quyến lợi kịch liệt. Vì CS là một đảng khép kín muốn lên thì phải hạ đối thủ theo qui luật một mất, một cón, ai thắng ai, chớ không có lối thoát qua thoả hiệp, tương nhượng.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bị phe chống đối muốn biến thành con dê tế thần trong vụ Vinashin. Lần đầu tiên trong lịch sử của cái gọi là Quốc Hội, một vài “đại biểu nhân dân” yêu cầu Quốc hội mở cuộc điều tra và bất tín nhiệm Thủ Tướng. Điều đó cho thấy phe của Thủ Tướng Dũng bị suy yếu vì vụ Vinashin. Và điều đó cũng cho thấy phe chống TT Dũng muốn dùng vụ Vinashin để hạ Ông Dũng.

Nhưng chưa thấy dấu hiệu TT Dũng thua vì dù sao Ông cũng là người sáng giá, giỏi làm ra nhiều tiền, nhiều quyền cho Đảng mà hầu hết phe bảo thủ, đối mới, thân Tàu, thân Mỹ, bắc, trung, nam gì, tất cả đều được hưởng.

Nên dù TT Dũng tuyên bố nhận trách nhiệm trước quốc hội, Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội cũng đã gạt đề nghị điều tra TT Dũng. Dù TT Dũng nói ngân sách không trả, Vinashin phải tự lo trả nơ, TT Dũng vẫn tĩnh bơ cho Vinashin hoãn thuế để trả tìền lời cho ngoại quốc và cho Vinashin vay ngân hàng nhà nước không tìền lời để có tiền trả nợ lương cho công nhân. Làm thế đâu có khác gì dùng ngân sách trả nợ cho Vinashin; hay nói cách khác bắt dân phải trả số nợ cho Vinashin bằng tiền của dân đóng thuế vào ngân sách.

Trong khi đó, có tin trong đại hội Ban Chấp Hành Trung Ương, Ông sẽ tiếp tực làm thủ tướng 5 năm nữa hay lên chức Tổng bí Thư không chừng.

Dù thất bại của Tập đoàn Vinashin không những là thất bại kinh tế, tài chánh mà là một thất bại chánh trị của Đảng Nhà Nước CS Hà nội. Hậu quả vụ Vianshin có thể làm chìm cô chế kinh tế quốc doanh mà Đảng vẫn coi là “chủ đạo”, xương sống , và định hướng xã hội chủ nghĩa của nên kinh tế thị trường.

Nhưng quốc doanh dù rã bè tre, thì CS Hà nội cũng không bãi bỏ vì uy tín của Đảng và vì quyền lợi của đảng viên. Tập đoàn Vinashin thất bại vì quản trị kinh doanh kém cỏi. Cái bịnh đó, khuyết điểm đó không chỉ riêng Vinashin. Đối với CS, đó là cái “tội tổ tiên” của kinh tế chỉ huy của CS. Quốc doanh, tập thể cha chung chết không ai khóc, người nào cũng trốn trách nhiệm dưới cây dù tập thể. Nên quản trị công quỹ tồi tệ, lơi lỏng kiểm soát, không minh bạch, cán bộ cấp cao thiếu năng lực mà thích ôm đồm, nạn bè phái, tham nhũng là những sai trái thông thường. Đối với CS sai thì sửa, sửa lại sai, sai thì sữa nữa.

Khi chuyển sang kinh tế thị trường, do áp lực quốc tế về tiêu chí thị trường với vai trò tư nhân là chánh yếu, CS Hà nội có giải tư. Từ năm 1989 có 12.000 công ty quốc doanh nay còn 4.000. Nhưng CS Hà nội giải tư trá hình, chỉ bán cổ phần Đảng cho đảng viên, cán bộ, công nhân viên và cơ quan ngoại vi của đảng, nhà nước. Quyền quyết định tối hậu về kinh doanh của các công ty giải tư này cũng nằm trong tay chi bộ, đảng đoàn, đảng bộ của Đảng CS.

Dù giải tư còn 4000 công ty quốc doanh chính danh, thì quốc doanh chính danh cũng chiếm hơn 1/3 kinh tế Việt Nam. Các tập đoàn quốc doanh này như Vinashin về ngành tàu biển, Điện lực VN về điện năng và Petro VN về dầu khí phình ra, hoạt động ngoài chức“ chức năng” một cách vô tổ chức và tùy tiện vì quyền lợi phe đảng hơn là hiệu năng kinh tế.

Lời lổ cán bộ đảng viên không lo, có Đảng Nhà nước dùng ngân sách quốc gia do dân đóng thuế rót xuống để bù lổ. Có quốc doanh làm nhiệm vụ mật rửa tiền công do ngân sách rót xuống để cấp vốn, bù lổ thành tiền túi của cán bộ đảng viên lãnh đạo cơ quan và đút lót lên trên. /.

VI ANH

 





THỨ HẠNG TÍN DỤNG CỦA VIỆT NAM

Việt Long, phóng viên RFA
2010-12-29


Công ty lượng giá tín dụng S&P's hạ thấp giá trị trái phiếu chính phủ bằng ngoại tệ cũng như tiền đồng của Việt Nam xuống tới mức mà giới tài chính quốc tế gọi là "junk bonds", loại trái phiếu sọt rác.

Bảng hiển thị mức lãi suất tiền đồng và đô la Mỹ tại Hà Nội hôm 16/12/2010. Moody's hạ mức tín dụng trái phiếu chính phủ Việt Nam vào ngày 15, do nguy cơ của cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán, lạm phát tăng cao và các khoản nợ của Vinashin.

Trước đó 8 ngày, công ty Moody's cũng có động thái tương tự. Vì đâu ra nông nỗi này?  Việt-Long phỏng vấn Tiến sĩ Vũ Quang Việt, chuyên viên kinh tế của Ngân hàng Thế Giới, làm việc tại New York.

Công ty Standard&Poor's, thường được gọi tắt là S&P's, hôm 23 tháng 12 nêu những mối quan ngại về hệ thống ngân hàng Việt Nam dưới quyền chỉ đạo của ngân hàng Nhà nước Việt Nam, và hạ thấp hạng bậc giá trị trái phiếu Nhà nước bằng ngoại tệ từ BB xuống BB-. Trái phiếu bằng nội tệ, tức tiền đồng Việt Nam, bị tụt hạng từ BB+ xuống BB.
 
Trước đó 8 ngày, công ty Moody's cũng đánh sụt hạng trái phiếu chính phủ của Việt Nam từ Ba3 xuống B1, với triển vọng không sáng sủa giống như sự lượng giá của S&P's.

Các tổ chức quốc tế đánh giá mức thâm hụt ngân sách của Việt Nam cao hơn nhiều so với con số được Việt Nam đưa ra.

Hai công ty lượng giá này đề cập đến nguyên do là chính sách thiếu nhất quán của Ngân hàng Nhà nước và vụ Vinashin không trả được phần nợ đáo hạn.

Để quan sát sự kiện này trong bối cảnh quốc tế, xin nhắc lại rằng hôm 17 tháng 12 Moody's đánh tụt hạng công trái, tức trái phiếu chính phủ, của Ireland từ AA2 trừ xuống BAA1, còn trên hạng 'sọt rác' ba nấc. Hạng AA2 trừ trước đó là hạng cao thứ ba trong bảng xếp hạng của Moody's. Nền kinh tế Ireland và Bồ Đào Nha đã làm cả châu Âu điên đảo, họp hành liên miên để cứu gỡ.
 
Công trái của Bồ Đào Nha cũng bị Moody's duyệt xét lại hôm 21 tháng 12, hăm he hạ bực. Moody's kể ra những bấp bênh về lâu dài của nền kinh tế xứ này, nói rằng hạng A1 cho công trái dài hạn và Prime-1 cho công trái ngắn hạn của xứ này có thể không còn xứng với những hạng bực đó,tuy rằng khả năng trả nợ của xứ Bồ không có vấn đề gì.
 
Lạm phát tín dụng

Không ai muốn đem so sánh nền kinh tế của Việt Nam với hai xứ châu Âu kia, nhưng nêu ra những dữ kiện đó có thể giúp nhìn rõ mức độ khó khăn mà Việt Nam gặp phải trong lĩnh vực kinh tế tài chính. 
 
Và khó khăn nào khiến Việt Nam bị đánh tụt xuống hạng thấp đến thế? Tiến sĩ Vũ Quang Việt, chuyên viên của Ngân hàng Thế Giới cho rằng chính sách ngân hàng của Việt Nam không phải là nguyên do chính yếu, và trách nhiệm duy nhất đem đổ vào Ngân hàng Nhà nước như các công ty quốc tế dẫn giải thì cũng không hẳn là đúng, mà còn những món cho vay khổng lồ do thống đốc Ngân hàng Nhà nước phải chi ra, mà trách nhiệm thuộc về nhiều cấp cao hơn:

"Nguyên do rộng hơn là chuyện ngân hàng. Trong năm qua, mục tiêu Việt Nam đặt ra là đạt tốc độ tăng trưởng GDP rất cao, dùng chính sách kích cầu. Các tổ chức quốc tế đánh giá mức thâm hụt ngân sách của Việt Nam cao hơn nhiều so với con số được Việt Nam đưa ra.

Vậy nên để chi tiêu, chính phủ phải vay mượn, buộc ngân hàng phải chi tiền. Theo báo cáo thì năm 2010 có thể thâm hụt 7%, năm 2009 có thể là 9%. Nhưng quốc tế đánh giá thâm hụt hơn thế nhiều vì có những chi tiêu ngoài ngân sách.

Muốn kiềm chế lạm phát, chính phủ phải cắt giảm đầu tư công và cắt giảm vay mượn nước ngoài.

Chi tiêu nhiều thì phải vay mượn, đòi hỏi ngân hàng phải in tiền. Năm nay chưa có số liệu nhưng năm 2009 tổng số ngoại tệ vay tăng 43%. Trong 4 năm nợ nước ngoài tăng từ 26 tỉ đến 37 tỉ đô la. Không riêng chính phủ mà các tập đoàn Nhà nước cũng vay mượn. 4 năm qua họ mượn từ 4 tỉ lên 9 tỉ, là những món không được Nhà nước bảo lãnh, giống như nợ của Vinashin (cũng không bảo lãnh) mà không trả được.
Vay mạnh như vậy thì phải có chính phủ đồng ý, chính phủ đòi hỏi như thế. Trên báo chí Việt Nam thì có người như Ủy ban tài chính đổ tội cho ngân hàng đã chi tín dụng, nhưng theo tôi thấy thì cơ bản do chính phủ kích cầu. Còn những đồng tiền họ mượn mà không đưa vào Việt Nam, mua hàng để đưa vào, thì cũng phải tính toàn bộ cho vốn vay của Việt Nam thì mới tính được cho tín dụng dùng cho đầu tư.

Thì năm qua, chính phủ Việt Nam tăng 40% tổng số đầu tư. Đầu tư cực kỳ phí phạm, lớn nhất thế giới, để tăng đà tăng trưởng, nhưng đà tăng trưởng càng ngày càng tụt, vì làm ăn bê tha không có chất lượng. Hiện nhiều công trình làm nửa chừng rồi không có tiền nữa.

Vấn đề chính là đầu tư nhiều thì càng ăn được nhiều, sẽ để tiền ở nước ngoài. Vấn đề lạm phát của Việt Nam là do tiền tệ ra nhiều quá. Đặc biệt là tín dụng ra nhiều, mà còn có thể nhiều hơn thế vì nằm ở phía ngoài, như tôi đã nói." 
   
Nguyên do và khắc phục

Hỏi về nguyên do của việc lạm phát tín dụng này, và chứng cứ cụ thể để ông có thể nói là tín dụng tuôn ra nhiều hơn con số thường được biết đến, tiến sĩ Vũ Quang Việt cho biết:

"Tại sao tín dụng ra như vậy? Là do chính phủ. Tôi đã đọc những quyết định của Thủ tướng chính phủ, phó Thủ tướng chính phủ đặc trách kinh tế, ký cho Vinashin vay, đòi hỏi ngân hàng này ngân hàng kia phải cho Vinashin vay bao nhiêu tiền. Đó là những ngân hàng Nhà nước thì làm sao bảo không cho được?

Đây là vấn đề kích cầu của chính phủ, muốn chạy theo đà tăng trưởng cao bất chấp chất lượng, tình hình kinh tế như thế nào."

Vấn đề lạm phát của Việt Nam là do tiền tệ ra nhiều quá, đặc biệt là tín dụng.

Vậy trong tình trạng lưỡng nan hiện nay, lạm phát rập rình trong khi tín dụng mất giá, nợ nước ngoài không trả được, Việt Nam phải đặt ưu tiên cho vấn đề khống chế lạm phát mà không còn chú trọng đến đà tăng trưởng. Hỏi phải có giải pháp nào, chuyên viên kinh tế Vũ Quang Việt của Ngân hàng Thế Giới nêu ra một trong những giải pháp mà ông quan tâm, nhưng cũng không tỏ ý lạc quan lắm:

"Tôi nghĩ muốn kiềm chế lạm phát, chính phủ phải cắt giảm đầu tư công và cắt giảm vay mượn nước ngoài. Nhưng có thể họ nói cắt nhưng ngày mai không cắt, đành chịu. Ngân sách của chính phủ do Quốc hội quyết định đều không có giá trị gì với chính phủ hiện tại.

Ví dụ ngân sách của Mỹ, chính phủ muốn chi đồng nào thì phải được ký giấy, như ngân sách cho phép chi chỗ này bao nhiêu chỗ kia bao nhiêu, chứ không thể chi hơn ngân sách do Quốc hội quyết định. Nhưng Việt Nam luôn luôn chi quá ngân sách do Quốc hội quyết định. Quốc hội không có giá trị gì cả.... "

Copyright © 1998-2010
Radio Free Asia. All rights reserved.

 


KHÓ KHĂN VAY VỐN NƯỚC NGOÀI
CỦA CÁC TẬP ĐOÀN VN

Các tập đoàn Việt Nam gặp khó khăn hơn khi vay nợ nước ngoài do vụ Vinashin
Thụy My
 


Nhật báo tài chính Anh Financial Times hôm nay cho biết, sau vụ tập đoàn Vinashin hoãn chi trả đợt đầu món nợ đáo hạn, nhiều công ty khác của Việt Nam đang gặp khó khăn khi đi vay nợ trên thị trường quốc tế. Trả lời phỏng vấn RFI, chủ tịch tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai cho biết là theo ngân hàng Crédit Suisse, việc huy động vốn sẽ khó khăn hơn.
 
Tờ báo trích lời ông Đoàn Nguyên Đức, chủ tịch tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, một trong những tập đoàn tư nhân lớn nhất Việt Nam, nói rằng công ty của ông đang chuẩn bị phát hành cổ phiếu để huy động 200 triệu đô la trên thị trường Singapore, nhưng có lẽ phải trả lãi đắt hơn so với các công ty của những nước đang phát triển khác tại châu Á.
 
Cũng theo Financial Times, ông Đoàn Nguyên Đức cho biết Hoàng Anh Gia Lai đang đợi cổ phiếu công ty mình được đánh giá, nhưng nhìn chung các công ty Việt Nam dự định bán cổ phiếu ra thị trường quốc tế có lẽ phải chấp nhận trả cổ tức khoảng 9% hoặc hơn nữa, so với trước đây chỉ là 7%.
 
Trước khi xảy ra vụ Vinashin, trái phiếu thời hạn 10 năm của Việt Nam trước đây lãi cao nhất chỉ có 6,9%. Giá cả tiêu dùng hiện tăng 11,75% so với cùng kỳ năm ngoái, và lãi suất trong những tháng gần đây đã tăng ở mức kỷ lục, khiến nhiều công ty trong nước phải trả lãi suất vay bằng tiền đồng đến 20% một năm.
Theo Financial Times, đó là lý do khiến các công ty lớn như Hoàng Anh Gia Lai muốn vay nợ nước ngoài. Tuy vậy, một số tập đoàn quốc doanh đã phải hoãn lại kế hoạch bán cổ phiếu ra nước ngoài. Chẳng hạn như PetroVietnam, vốn dự định huy động 1 tỉ đô la, và Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam, đã đình chỉ kế hoạch bán ra 500 triệu đô la cổ phiếu.
Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại viễn liên, ông Đoàn Nguyên Đức cho biết đang tổ chức giới thiệu cổ phiếu Hoàng Anh Gia Lai trên ba thị trường tài chính nước ngoài, vì cần ngoại tệ để đầu tư vào Lào và Cam Bốt, tuy nhiên ngân hàng tư vấn của Hoàng Anh Gia Lai là Crédit Suisse, cũng đồng thời là chủ nợ của Vinashin đã báo trước là việc huy động vốn có phần khó khăn hơn trước.
 
T. M.

 





KIỂM SOÁT GIÁ TẠI VIỆT NAM
KHÔNG HIỆU QUẢ

Jonathan Pincus: "Kiểm soát giá cả bằng biện pháp hành chính khó mang lại hiệu quả."

Lạm phát trong năm 2010 của Việt Nam theo dự đoán là trên 10 phần trăm, nhóm hàng lương thực, thực phẩm tiếp tục tăng giá, dù chính phủ đưa ra nhiều biện pháp hành chính để bình ổn giá.

Ông Jonathan Pincus, trưởng khoa của Chương trình Kinh tế Fulbright tại Việt Nam cho BBC Việt Ngữ hay các kiểm soát giá cả bằng biện pháp hành chính khó mang lại hiệu quả.

Jonathan Pincus: Vâng, tôi cho rằng dùng công cụ hành chính để kiểm soát giá khó mà mang lại hiệu quả. Ở Việt Nam, hàng hóa tăng giá do một số lý do, nguyên nhân hàng đầu thuộc về chính sách tài khóa và tiền tệ. Nếu các quy định về vay mượn, về lãi xuất ngân hàng tiếp tục được điều hành một cách lỏng lẻo, nếu ngân sách quốc gia tiếp tục bị thâm thủng (chi nhiều hơn thu), rồi chính sách tiền tệ không mang tính hạn chế, cách làm như vậy sẽ gây ra lạm phát. Chúng là nguyên nhân làm cho đồng tiền của Việt Nam mất giá. Khi nhập hàng về bán ở trong nước, chúng mang theo lạm phát. Cạnh đó còn là tác động của chi phí đầu vào, ví dụ lương thực, thực phẩm thế giới cũng tăng giá thời gian gần đây.

Kiểm soát giá cả không giải quyết bất cứ một trong bốn nguyên nhân này. Nếu giới chức không cho phép nhà sản xuất tính giá thị trường đối với hàng hóa, điều xảy ra là thị trường chợ đen khi ấy sẽ khá sôi động. Một số đầu mối sẽ tích trữ hàng hóa, họ không muốn bán theo giá “đã đăng ký”. Điều này sẽ làm cho hàng hóa ở chợ đen tăng giá. Và nhà sản xuất sẽ bán hàng qua kênh chợ đen. Những thứ như vậy hay xảy ra khi giới chức tiến hành kiểm soát giá.

Tình cảnh như vậy không chỉ xảy ra tại Việt Nam. Mà ở nhiều nơi khác trên thế giới. Nhất là khi người ta dùng biện pháp hành chính để kiểm soát giá, trong khi hàng hóa đắt lên vì những lý do khác. Chính sách như vậy chỉ khuyến khích một số cơ sở, người dân tích trữ hàng hóa. Chúng sẽ làm hàng hóa tăng giá cao hơn. Và làm cho lạm phát tăng mạnh hơn.

BBC: Liệu kiểm soát giá các mặt hàng thiết yếu ở Việt Nam, trong đó có sữa bột, có vi phạm nguyên tắc tự do thương mại của WTO hay không?

Jonathan Pincus: Tôi không phải là luật sư nên tôi không rõ liệu kiểm soát giá ở việt Nam có vi phạm điều luật WTO hay không. Các quy định của WTO trong lĩnh vực này khá phức tạp. Ông hỏi liệu kiểm soát giá ở Việt Nam có vi phạm nguyên tắc thương mại công bằng của WTO hay không? Có thể có. Và có thể không. Một số người hiểu theo cả hai cách. Giải thích của chính phủ là biện pháp theo dõi giá không vi phạm quy định của WTO vì Hà Nội không phân biệt lĩnh vực kinh doanh. Hoặc công ty trong nước, công ty ngoại quốc. Cả hai khối công ty, nội và ngoại, đều được yêu cầu đăng ký, và kìm giữ giá hàng hóa, nếu lệnh kiểm soát giá được ban hành.

Đó cũng là quan điểm của chính phủ. Phòng TM và CN của Hoa Kỳ (Amcham) có thể có cái nhìn khác. Cố vấn luật pháp của họ có thể nói rằng đã xảy ra phân biệt đối xử giữa công ty trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên quan điểm của chính phủ là họ không phân biệt ai cả, mọi người đang được đối xử một cách bình đẳng.

Bản thân thông tư kiểm soát giá không mang tính phân biệt đối xử, khi đưa ra quy định chung cho nhóm mặt hàng cần kiểm soát về giá. Nhưng rất có thể cách thực hiện, cách kiểm tra lại mang tính phân biệt đối xử.

BBC: Ông đã sống ở Việt Nam trong nhiều năm. Thưa ông tại sao lạm phát năm nay lại ở mức hai con số?

Jonathan Pincus: Lý do lạm phát tăng mạnh tại VN - mà không xảy ra ở những nước khác trong vùng là chính sách tài khóa và tiền tệ có phần dễ dãi. Kết quả là thâm thủng ngoại thương ở mức cao. Rồi tiền đồng mất giá. Đây là các nguyên nhân cơ bản khiến cho hàng hóa tăng giá. Các nước khác trong vùng họ có cán cân thương mại thặng dư, đồng tiền lên giá, giá các mặt hàng thiết yếu khá ổn định. Là vì họ không bị thâm thủng mậu dịch lớn, họ có chính sách tài khóa và tiền tệ hiệu quả hơn.

 






THAN VÀ DẦU THÔ VN SẼ BỊ CẠN KIỆT

Than, dầu thô VN sẽ ‘cạn kiệt’ năm 2025
Than và dầu thô cạn kiệt ảnh hưởng lớn đến công suất phát điện của Việt Nam.

Việt Nam đối diện với nguy cơ thiếu trầm trọng nhiên liệu thô dùng cho phát điện trong 15 năm tới, một chuyên gia về quản lý năng lượng cảnh báo.

Ông Nguyễn Bá Vinh, điều phối viên Dự án dự án nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VN dự đoán tài nguyên than đá, dầu khí của VN sớm cạn kiệt, một khi ''phong trào'' xây nhiệt điện vẫn tiếp tục.

Sau 5 năm thực hiện, dự án tiết kiệm điện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa kết thúc năm 2010, với tài trợ từ Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP).

Than đá, dầu DO là nhiên liệu chính của hệ thống nhiệt điện tại Việt Nam.

Theo ông Vinh, khả năng thiếu hụt điện trong tương lai là khá lớn nếu Việt Nam không có chính sách tiết kiệm và phát triển năng lượng bền vững.

“Việt Nam khi ấy sẽ đứng trước nguy cơ thiếu hụt năng lượng ngày càng lớn, phải phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu ngày một tăng,” vị quản đốc chương trình tiết kiệm năng lượng nói.

Nghèo tài nguyên?

Trong khi đó một phó thủ tướng Việt Nam thừa nhận Việt Nam không có nhiều năng lượng thô như nhiều người nghĩ.

Tài nguyên nước, năng lượng, đất và khoáng sản đang dần thiếu và khan hiếm
 
Hoàng Trung Hải - Phó TT :
“Tài nguyên nước, năng lượng, đất và khoáng sản đang dần thiếu và khan hiếm,” phó thủ tướng Hoàng Trung Hải nói tại hội nghị tổng kết ngành tài nguyên-môi trường năm 2010.

Báo Việt Nam đưa tin ông Hải quan ngại với việc sử dụng lãng phí tài nguyên khoáng sản ở trong nước.

“Nguồn khoáng sản của Việt Nam không có nhiều nhưng quản lý và sử dụng còn rất lãng phí,

“Nguồn thu từ xuất khẩu nguyên liệu thô không đáng bao nhiêu,” tờ Tuổi Trẻ trích lời người lãnh đạo chính phủ phụ trách năng lượng và công nghiệp.

Và phó thủ tướng Việt Nam nói đến khả năng dừng hẳn xuất khẩu khoáng sản thô trong tương lai.

“Chúng ta đang cố gắng hạn chế việc xuất khẩu khoáng sản thô và tiến tới việc dừng hẳn xuất khẩu khoáng sản thô.”

Ông Hải kêu gọi áp dụng công nghệ "chế biến sâu" đối với khoáng sản, tuy nhiên không nói rõ Việt Nam sẽ dùng loại công nghệ gì. Hay kỹ thuật nhập từ nước nào.

Nóng bỏng

Xuất khẩu nguyên liệu thô từng là đề tài thời sự nỏng bỏng trên các trang báo trong nước. Dư luận quan ngại về tầm nhìn thiển cận của một số tỉnh thành khi cấp giấy phép khai thác khoáng sản.

Một số dự án dùng kỹ thuật thô sơ, lạc hậu, cốt moi đất lên để bán, trong khi không có giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường.

Trước phản ứng mạnh mẽ của dư luận, tháng Ba năm ngoái tỉnh Nghệ An đã đình chỉ hoạt động khai thác khoáng sản đối với doanh nghiệp vi phạm môi trường, khai thác không đúng thiết kế, không đủ thủ tục pháp lý.
Cạnh đó Nghệ An cũng tạm dừng cấp giấy phép khai thác mới một số khoáng sản để “kiểm tra, rà soát, chấn chỉnh, lập lại trật tự”.
Tỉnh Cao Bằng cũng vừa ra quyết định ngưng cấp giấy phép khai thác khoáng sản từ nay cho đến năm 2013.







NHÌN LẠI KINH TẾ VN NĂM 2010

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2011-01-03

Trong loạt tổng kết về năm 2010, một đề tài không thể thiếu chính là tình hình kinh tế Việt Nam.

Sau hai năm thế giới bị tổng suy trầm thì cùng các nước Đông Á ngoài Nhật Bản, Việt Nam đã sớm đạt mức tăng trưởng khá cao và năm 2010 là thời điểm mà Tổng sản lượng Nội địa xứ này đã vượt cái mốc đáng chú ý là đạt 100 tỷ Mỹ kim một năm. Nhưng kinh tế Việt Nam cũng có nhiều rủi ro rất đáng quan ngại. Qua phần thực hiện của Vũ Hoàng, sau đây là tổng kết của nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, người phụ trách tiết mục Diễn đàn Kinh tế.

Những điểm tích cực

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Cùng một nhóm các quốc gia Đông Á, Việt Nam đã sớm ra khỏi nạn suy trầm toàn của hai năm 2008-2009 và đạt tốc độ tăng trưởng khá ngoạn mục là gần 7% một năm. Nhìn lại thì tình hình trong năm 2010 quả là không đến nỗi tệ. Nhưng vì sao đến cuối năm thì dư luận mọi nơi bắt đầu tỏ vẻ ngờ vực và e ngại nhiều rủi ro cho Việt Nam?

Cuộc sống người dân tương đối không bị ảnh hưởng quá nặng của nạn suy trầm như tại nhiều quốc gia khác. Đấy là một điểm tích cực rất đáng chú ý cho toàn năm 2010.

Nguyễn Xuân Nghĩa: “Thưa khi kinh tế thế giới bị suy trầm thì đà sa sút của Việt Nam lại không quá nặng vì kinh tế vẫn tăng trưởng hơn 5% vào năm 2009, là năm mà lợi tức bình quân một đầu người đã vượt cái ngưỡng tâm lý là 1.000 Mỹ kim một năm.

Như nhiều quốc gia khác khi thấy kinh tế toàn cầu bị đình đọng, Việt Nam cũng ban hành biện pháp kích thích, chủ yếu là tăng chi để đẩy mạnh đầu tư trong khu vực công và bơm thêm tín dụng vào hệ thống ngân hàng. Nhờ vậy mà kinh tế sớm phục hồi và đáng chú ý nhất là sức đẩy của tiêu thụ nội địa có phần nào bù đắp cho đầu máy xuất khẩu vì sự co cụm của các thị trường tiêu thụ trên thế giới. Nhìn như vậy thì ta thấy là cuộc sống người dân tương đối không bị ảnh hưởng quá nặng của nạn suy trầm như tại nhiều quốc gia khác. Đấy là một điểm tích cực rất đáng chú ý cho toàn năm 2010. Tuy nhiên....”

Vũ Hoàng: Khi ông nhắc tới "tuy nhiên"... thì nghĩa là chúng ta phải thấy ra mặt trái của vấn đề khiến dư luận quan ngại?

Nguyễn Xuân Nghĩa: “Thưa đúng vậy. Thứ nhất là khi nhìn vào vế cung thì lực đẩy của đà tăng trưởng ấy đến từ một lượng đầu tư rất lớn, phải nói là quá lớn, chủ yếu lại do tăng chi của chính phủ để dồn vào doanh nghiệp nhà nước. Với hiệu năng kém, chỉ bằng một phần tám của khu vực tư doanh, lượng đầu tư ấy là một lãng phí. Nền kinh tế này sống bằng thuốc bổ, mà là loại thuốc tốn kém vì phải đầu tư hơn 40% mà để chỉ tăng sản lượng được gần 7% thì Việt Nam mệt sức gấp đôi các xứ khác. Đó là một lẽ đáng lo nếu muốn nghĩ đến việc cạnh tranh cùng thiên hạ, dù mới chỉ là cạnh tranh để thu hút đầu tư nước ngoài.

Thứ hai là trong năm qua, Việt Nam cũng chính thức nhận được tiền tươi do người Việt bên ngoài gửi về, ít ra là tám tỷ đô la, tức là 8% của tổng sản lượng. Như vậy, còn phải tính đến liều thuốc bổ miễn phí đó chứ? Sự kiện ấy cho thấy thực chất của đà tăng trưởng 7%, một con số ảo. 

Thứ ba, nói về đầu tư nước ngoài, thì năm qua, Việt Nam hụt mất cơ hội huy động đầu tư với ngạch số sút giảm hẳn so với hai năm trước. Lý do không chỉ hoàn cảnh sa sút của thiên hạ mà còn vì sự yếu kém và bất trắc của môi trường đầu tư đã đánh sụt niềm tin của thiên hạ.”

Những bất trắc

Vũ Hoàng: Nói về những bất trắc đó thì chúng ta thấy là trong tháng cuối năm, các công ty thẩm định trái phiếu của Việt Nam đều đánh sụt mức tin tưởng. Trái phiếu Việt Nam không là một khí cụ đầu tư hấp dẫn mà trở thành "junk bonds" hay giấy lộn. Vì sao kinh tế xứ này đạt mức tăng trưởng ngoạn mục mà các công ty như Moody's hay Standard & Poor's lại nghi ngờ?

VN bị nhập siêu quá nặng vì xuất khẩu tăng không mạnh và nhập khẩu thì vẫn quá nhiều để duy trì nhịp độ sản xuất. Hậu quả là khối dự trữ ngoại tệ của VN bị bào mỏng.

Nguyễn Xuân Nghĩa: “Đó là bất trắc về cơ cấu kinh tế vĩ mô, thứ nhất là sự thiếu quân bình, thứ hai là khả năng đối phó quá yếu của chính quyền.

Thiếu quân bình đầu tiên là Việt Nam bị bội chi đáng ngại khi tăng chi để đầu tư một cách tốn kém và vất vả như tôi vừa trình bày. Mất cân xứng thứ hai là Việt Nam bị nhập siêu quá nặng vì xuất khẩu tăng không mạnh và nhập khẩu thì vẫn quá nhiều để duy trì nhịp độ sản xuất. Hậu quả là khối dự trữ ngoại tệ của Việt Nam bị bào mỏng, nay chỉ còn có 14 tỷ đô la dằn lưng thì không thể ứng phó với biến động thị trường. Và thị trường thấy như vậy thì càng sợ và gây sức ép lên đồng bạc, với giá tự do đã vượt giá chính thức tới 15%. Kinh tế Việt Nam đang bị rung chuyển về ngoại hối. Lý do ở đây không phải là vì Việt Nam định tỷ giá đồng bạc quá cao mà vì cán cân vãng lai bị thiếu hụt ngoại tệ quá nặng.”

Vũ Hoàng: Ông vừa nhắc đến hai nguyên nhân bất trắc là sự thiếu cân đối vĩ mô và khả năng đối phó quá yếu của chính quyền. Như vậy, tình hình năm 2010 rất đáng chú ý ở khả năng ứng phó này?

Nguyễn Xuân Nghĩa: “Lãnh đạo Việt Nam chỉ nhìn vào con số tăng trưởng sản xuất là gần 7% rồi coi đó là vinh mà không thấy nỗi cực là phải đầu tư hơn 40% sản lượng mới đạt con số ấy. Và vì tiết kiệm nội địa chỉ ở khoảng 30% thì phải nhập tư bản bên ngoài quãng 10% nữa mới đủ. Tức là đi vay thuốc bổ để chạy đua với thiên hạ! Cho nên phải nhìn ra phẩm chất và hiệu năng rất kém của đầu tư mà tìm cách cải thiện. Đó là chuyện kém khả năng cải tổ cơ cấu 25 năm sau đổi mới.
 
Chuyện thứ hai là khả năng ổn định vật giá. Việt Nam có "truyền thống" bị lạm phát cao hơn các lân bang và vừa bị một trận vào đầu năm 2008 thì lại lãnh nạn suy trầm toàn cầu nên ào ạt bơm tiền kích thích kinh tế, bây giờ lại thấy lạm phát bùng nổ vì vật giá đã tăng quá hai số. Khi kinh tế đã hội nhập vào thế giới thì Việt Nam sẽ còn nhập khẩu lạm phát nữa. Các cơ quan hữu trách về chính sách tiền tệ đang bị những thách đố quá khả năng đối phó và nguy cơ lạm phát càng dội ngược vào giá trị bấp bênh của đồng bạc khiến vấn đề ngoại hối càng nguy kịch. Tức là sau khi đã tưởng thoát nạn suy trầm Việt Nam sẽ phải vừa nâng lãi suất vừa phá giá đồng bạc.”

Những biến cố

Vũ Hoàng: Hồi nãy, ông có ví von là Việt Nam đi vay thuốc bổ để chạy đua khi phải nhập vào một lượng tư bản bằng 10% sản lượng để đầu tư được hơn 40% hầu có mức tăng trưởng là 7%. Chuyện đi vay khiến ta liên tưởng đến biến cố trong năm là vụ Vinashin vỡ nợ.

Nguyễn Xuân Nghĩa: “Vụ Vinashin chỉ là mặt nổi của nhiều sai lầm còn trầm trọng hơn mà ta sẽ còn thấy sau này.

Trước hết là chuyện vay mượn. Gánh nặng công trái, là nợ nần của khu vực công, đã lên tới mức đáng ngại là hơn phân nửa tổng sản lượng. Trong số đó, ngoại trái là nợ ngoại quốc lại chiếm tới 60%. Nói cho dễ hiểu, khi dân Việt Nam sản xuất ra trăm tỷ thì nhà nước đi vay hơn 51 tỷ, trong số đó hơn 31 tỷ là nợ nước ngoài. Đấy là một vấn đề đáng chú ý cho năm 2010.

Nguy kịch hơn vậy là, do thủ thuật kế toán, Việt Nam không tính trong gánh nặng công trái đó các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước, sở dĩ đi vay được là nhờ có nhà nước đứng sau lưng. Nếu tính cho đúng thì gánh nợ ấy còn cao hơn nhiều, có thể là 40 tỷ nữa, tức là so với sản lượng quốc dân của cả năm được 100 tỷ, nhà nước đi vay 51 tỷ và còn phải trả nợ cho con em là các doanh nghiệp của nhà nước quãng 40 tỷ. Vị chi là hơn 90 tỷ!

Việt Nam không tính trong gánh nặng công trái đó các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước, sở dĩ đi vay được là nhờ có nhà nước đứng sau lưng.

Thế rồi đi vay để làm gì? Để thực hiện các dự án đầu tư của khu vực công có hiệu năng rất thấp hay để doanh nghiệp nhà nước đốt pháo bông theo kiểu Vinashin thì có phi lý và bất công không? Những ai có lợi trong chuyện vay mượn như kẻ vén tay áo sô thế này?”

Vũ Hoàng: Tổng kết lại thì đằng sau con số tăng trưởng ngoạn mục là rất nhiều vấn đề u ám của năm 2010. Ông kết luận như thế nào?

Nguyễn Xuân Nghĩa: “Cả thế giới có thiện cảm với Việt Nam và mong người dân có cuộc sống khá giả hơn nhưng chỉ một thiểu số rất nhỏ là được như vậy mà thôi, nay thế giới bỗng chột dạ!

Năm 2010 là năm mà đảng Cộng sản chuẩn bị Đại hội khóa 11 nên phải thi thố tài năng. Tài năng ấy đã được kiểm chứng rành rành - và bị thế giới hạ điểm liên tục - vậy mà sự thể vẫn chưa thấm vào các văn kiện cho Đại hội đảng! Người ta vẫn vi vu chuyện trên mây mà không nhìn vào thực tế bi đát của dân chúng. Đáng lẽ, người ta nên rút tỉa bài học của năm 2010 để cải tiến khả năng và cải tổ lại cơ chế kinh tế, chấm dứt chuyện hoang phí vô lường là các tập đoàn và tổng công ty nhà nước và giải phóng sức sản xuất của tư doanh.

Nếu có phải dự đoán thì qua năm 2011, đảng Cộng sản sẽ thành một "đảng đa nguyên", gồm nhiều phe phái tranh giành để chia chác quyền lợi kinh tế theo cái kiểu phi lý và bất công đó, cho tới khi bùng nổ khủng hoảng.”

Vũ Hoàng: Xin cám ơn Ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

 










xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
GIU LAI NHUNG BAI TRUOC DE CHUYEN VAO PHAN LUU TRU==============>
**************************************************************************************************** 


                                NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:

                                               CŨNG CHỈ TẠI VISA
                                            VỀ THĂM QUÊ HƯƠNG

 
                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                               Geneva, 25.03.2010
 

Tôi muốn viết bài này rất ngắn dưới hình thức đưa ra những tỉ dụ cụ thể. Xuyên qua những tỉ dụ ấy người ta thấy ngay rằng cái lý do khiến lập trường chống Cộng của ngay một số người đã từng chống Cộng lâu năm trở thành yếu hơn chỉ vì họ ngại sợ cái VISA về thăm Quê Hương. Nghị Quyết 36 không có gì là thần thánh làm suy yếu ý chí chống Cộng của người Việt tỵ nạn ở Hải ngọai. Cái bí quyết làm suy yếu nằm chính trong bụng những người Việt tỵ nạn vì thương nhớ Quê Hương và muốn về thăm mà cái chìa khóa là cái VISA.
 

Xin rút khỏi danh sách gửi báo.

Tôi ra tuần báo VietTUDAN. Tôi có những người bạn đã từng quyết liệt chống CSVN từ lâu. Tôi có địa chỉ E-Mail của những người bạn này và tôi cho vào danh sách gửi báo. Tất nhiên lập trường chống Cộng của VietTUDAN là dứt khóat lọai bỏ Cơ Chế CSVN hiện hành. Sau một ít số báo gửi đến bạn bè, thấy có những người bạn gọi điện thọai đến nói lòng vòng, thậm chí còn góp ý kiến với tôi rằng bây giờ mình phải xử dụng Hòa Giải Hòa Hợp với CSVN như một chiến thuật giai đọan. Tôi hiểu lập trường của người bạn đã từng cương quyết chống Cộng với tôi trước đây. Tôi trả lời cho bạn tôi rằng tôi hiểu chiến thuật Hòa Giải Hòa Hợp và tôi nói ngay với bạn tôi rằng thôi nếu ngại sợ lập trường cứng rắn của tôi, thì tôi lấy dùm tên anh ta ra khỏi danh sách gửi báo. Thế là anh mừng húm và hết nhắc đến chiến thuật Hòa Giải Hòa Hợp. Đó chỉ là vì cái VISA mà làm cho bạn chống Cộng của tôi phải nát óc nghĩ ra những mưu kế lòng vòng che đậy để xin tôi bỏ tên ra khỏi danh sách gửi báo.
 

Những bạn Linh mục không dám
treo Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ 

Tôi có những người bạn trước đây cùng học ở Chủng viện và nay làm Linh mục quản xứ tại Hải ngọai. Có người nói cho biết rằng trong những sinh họat của Cộng đồng Giáo dân tại xứ, Linh mục ấy đề nghị không treo Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Linh mục cắt nghĩa cho Giáo dân rằng Tôn Giáo không làm Chính trị. Tôi biết rõ lòng chống Cộng của Linh mục bạn ấy.  Tôi gọi điện thọai đến và muốn biện luận với Linh mục về quan điểm Tôn Giáo không làm Chính trị. Linh mục không dám biện luận quan điểm ấy mà chỉ nói: “Liên, cậu hiểu tôi !”. Tôi cười nói: “Tôi hiểu. Có phải Cha sợ không được cái VISA về thăm Việt Nam vì treo Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Thôi, xin Cha đừng nói lòng vòng Tôn Giáo không làm Chính trị để che đậy !”
 

Dân biểu Mỹ gốc Việt có thể phát biểu
không quyết liệt về Lập trường chống Cộng

Trong thời gian hiện giờ, khi bàn về Lập trường chống Cộng trong tương lai của một vài ứng cử viên Quốc hội tại Mỹ, tôi thường nhắc tới cái VISA trong tương lai có thể làm ứng cử viên này dè dặt khi phải tuyên bố Lập trường chống Cộng. Ở thời gian tranh cử, có thể ứng cử viên hứa nhất quyết chống Cộng quyết liệt để lấy phiếu của cử tri Mỹ gốc Việt. Nhưng khi đã đắc cử rồi, vị dân biểu sẽ tìm những lý do bên lề để tránh né việc phải tuyên bố quyết liệt Lập trường chống Cộng. Mỗi lần thấy ông tuyên bố chống Cộng “nửa nạc nửa mỡ”, thì hãy hỏi thẳng vào cái tim đen của ông: “Có phải ông dành kẽ hở để mong dễ dàng có cái VISA về thăm Quê Hương phải không.”
 

VISA xuất ngọai

Trong những tỉ dụ trên, chúng tôi nói đến cái VISA về thăm Quê Hương.  Đối với những người tại Quốc nội, giấy phép xuất ngọai cũng là lý do chính để một số người phải né tránh không dám phát biểu lên sự thật khi chính mình phải mang trách nhiệm nói lên sự thật ấy. Chúng tôi nhớ lại cách đây gần hai năm, có phong trào những vị Lãnh đạo Tôn Giáo xuất ngọai xin tiền. Tại Hoa kỳ, Giáo dân đã dùng “lá bùa” để hù những vị Lãnh đạo Tôn Giáo ấy, đó là mang Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ để xin chụp hình kỷ niệm với những Vị Lãnh đạo Tôn Giáo. Đứng chụp hình chung kỷ niệm với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ để rồi Giáo dân đưa lên các Diễn Đàn Internet tòan cầu, đó là điều các Vị ngại sợ. Không phải các Vị ấy sợ chính Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ mà các Vị ngại sợ vì những tấm hình ấy làm cho các Vị không được VISA xuất ngọai trong tương lai nữa.
 

Qua những tỉ dụ trên đây, chúng ta có thể kết luận rằng nếu ai ở nước ngòai muốn bầy tỏ LẬP TRƯỜNG DỨT KHÓAT LỌAI BỎ CSVN, thì phải dứt khóat với chính mình là CHỈ VỀ VIỆT NAM KHI CƠ CHẾ CSVN BIẾN KHỎI LÃNH THỔ VN.
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.03.2010
 





                                                   HẢI NGỌAI

                                           CẤM VẬN NGỌAI TỆ
                                          ĐỐI VỚI MAFIA CSVN


                        Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                            Geneva, 25.02.2010

 

HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:

=>     Tạm ngưng du lịch Việt Nam

=>     Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết

=>     Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.

 
Đấu tranh chống lại CSVN, chúng tôi luôn luôn đứng ở lãnh vực Kinh tế. Lực lượng đấu tranh chính yếu là tại Quốc nội. Hải ngọai yểm trợ cho Quốc nội. Có hai Mặt Trận mà Hải ngọai có thể đóng góp hữu hiệu, đó là Mặt Trận Thông Tin về Quốc nội và Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế chống lại Mafia CSVN cướp bóc Dân chúng.

Đối với Mặt Trận Thông Tin về Việt Nam, Hải ngọai phải tăng cường luôn luôn vì chúng ta có phương tiện và vì Truyền Thông hiện nay là từ trời rơi xuống mà CSVN khó lòng ngăn chặn. Đối với Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế, chúng ta phân biệt những điểm tế nhị. Chúng ta tránh những gì có thể làm hại đến đời sống làm ăn kiếm sống vất vả của Dân chúng, nhưng đối riêng với Mafia CSVN cướp bóc, thì chúng ta kêu gọi trừ diệt không thương tiếc.

Từ khi CSVN tuyên bố phá giá nội tệ, chúng tôi thấy đây là dịp mà Hải ngọai phải nắm lấy để tấn công nhóm đảng Mafia CSVN mà không ngại sợ liên hệ đến cuộc sống làm ăn vất vả của Dân chúng. Việc buộc lòng phá giá đồng bạc Việt Nam cho thấy một tình trạng khan hiếm ngọai tệ có thể đưa Cơ Chế đến phá sản. Chúng tôi muốn kêu gọi Hải ngọai đòan kết, cứng rắn xử dụng mọi biện pháp CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Cơ Chế Mafia CSVN cướp bóc.
 

CSVN khan hiếm ngọai tệ trầm trọng

Từ khi cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế cho đến nay, CSVN đang rơi vào tình trạng khan hiếm ngọai tệ như sau:

=>     Đầu tư nước ngòai giảm 82% vì chính nước ngòai cũng đang trải qua Khủng hỏang. Ngày nay, không Nhà Nước Tây phương nào, Liên Aâu và Mỹ, không thiếu hụt Ngân sách. Tình trạng khủng hỏang đang diễn ra nguy hiểm tại một số nước Liên Aâu: Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha... Liên Aâu đang khó khăn trong việc cứu vớt những nước này, nên khó lòng nghĩ đến đầu tư vào Việt Nam xa xôi nguy hiểm. Trung Đông cũng phải quan tâm đến vấn đề Dubai.

=>     Aâu, Mỹ du lịch Việt Nam giảm 70%. Xuất cảng của Việt Nam sang Liên Aâu và Hoa kỳ giảm 62%, đó là chưa kể những hàng hóa bị cấm đóan vì độc hại và những hàng bị tăng thuế nhập cảng như tôm cá vào Mỹ, đồ may mặc, da giầy vào Liên Aâu. Khi du lịch giảm, hàng xuất cảng giảm, thì làm sao có thể tăng ngọai tệ được.

=>     Trong khi ấy, những hàng nhập siêu cho Việt Nam lại tăng mạnh và quá mức. Cán cân thương mại nhập/xuất mất thăng bằng. Nhập siêu tức là ngọai tệ đi ra.
 

Đình trệ chung về Mậu dịch Quốc tế

Nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ) ngày hôm nay 25.02.2010, trang 17, đăng những lời tuyên bố của chính Oâng Pascal LAMY, Tổng Giám đốc WTO:

“Le commerce international enregistré l’an dernier un recul sans précédent depuis la Seconde Guerre Mondiale en raison de crise 12%, et l’année 2010 s’annonce médiocre avec déjà des signes inquíetants pour la reprise économique espérée. Le commerce mondial a été victime de la crise et s’est contracté de 12% en volume en 2009”. (Thương mại quốc tế ghi nhận năm vừa rồi một sự lùi lại chưa bao giờ xẩy ra từ Thế Chiến Thứ Hai với 12% giảm, và năm 2010 báo hiệu xấu với những dấu hiệu đáng lo ngại cho việc phục hồi kinh tế như ao ước. Thương mại hòan cầu đã là nạn nhân của khủng hỏang và đã lùi 12% tính về lượng giao dịch trong năm 2009.)

Oâng nói thêm về những lý do của việc lùi chưa từng có này:

“Selon OIT, le nombre de chomeurs a atteint un niveau sans précédent de 200 millions de personnes, par conséquent le manque du pouvoir d’achat. La chute brutale des échanges commerciaux s’explique principalement par un repli de la demande des plus grandes économies, ainsi que par une raréfaction des prêts bancaires pour financer les transactions commerciales.” (Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, số thất nghiệp đã đạt tới mức chưa từng có là 200 triệu người. Việc tụt dốc tàn nhẫn của những trao đổi thương mại được giải thích chính yếu bởi việc cắt đi việc đặt mua hàng từ những nền kinh tế lớn nhất, cũng như bởi việc khan hiếm những món cho vay ngân hàng để tài trợ cho những thương vụ thương mại.)

Những tuyên bố trên đây của Oâng Tổng Giám đốc WTO chứng tỏ rằng những con số ca tụng tăng trưởng cũng như xuất cảng từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam là những khóac lác tuyên truyền mà thôi.
 

Phá giá đồng bạc Việt Nam là hậu quả tất nhiên

Trong bài viết dài về TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ đăng trong số này, chúng tôi đã cắt nghĩa một cách giáo khoa rằng đồng nội tệ của một quốc gia mạnh hay yếu là do Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ, do Cán Cân Chuyển Vốn vào. Chúng tôi đã viết và cắt nghĩa như sau:

Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.

Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh hay yếu?

Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.

Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giûam giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.

Tại Việt Nam, ngọai tệ không những không vào mà còn thất thóat ra ngòai nhiều.  Người trong nước tăng Cầu ngọai tệ, nên tỷ giá ngọai tệ tăng. Phía Cung nội tệ tăng để mua ngọai tệ phục vụ nhập siêu. Cung nội tệ tăng, thì tỷ giá nội tệ sánh với ngọai tệ bị mất giá.

Tình trạng khan hiếm ngọai tệ và Đình trệ xuất cảng càng kéo dài bao nhiêu, thì đồng bạc Việt Nam càng phá giá bấy nhiêu. Lần phá gia trước Tết (11.02.2010) chưa phải là lần cuối, mà việc phá giá còn tiếp tục.

Bản Tin Reuters do John Ruwitch, đánh đi từ Hà Nội như sau:

“HÀ NỘI (Tin Reuters) – CS Việt Nam có nguy rơi vào vòng xoáy buộc phải phá giá đồng nội tệ liên tục ngoại trừ có các chính sách đi kèm với các biện pháp đối với thị trường ngoại hối nhằm kiểm soát lạm phát và giới hạn thâm thủng mậu dịch, ngày càng gia tăng, một cách có hiệu quả.

Lạm phát đang gia tăng trở lại và thâm thủng mậu dịch đang mở rộng làm trở ngại các cố gắng của các giới chức chính quyền nhằm thu hút đồng Mỹ kim dân chúng đang cất giữ trở lại dòng luân lưu tiền tệ và giảm thiểu sự thất thoát nguồn dự trữ ngoại tệ.

Ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngày thứ Năm (February 11) phá giá đồng nội tệ 3,25% đồng thời áp mức tối đa đối với hối suất dành cho đồng Mỹ kim gởi tại ngân hàng. Đây là lần phá giá thứ 3 kể từ tháng 12 năm 2008, dẫn đến hối suất tham khảo hằng ngày của ngân hàng trung ương giảm hơn 11% trong hơn một năm.

Bui Kien Thanh, một cựu cố vấn cho chính phủ VN, nói rằng cả hai động thái đều không đáp ứng được nhu cầu bức thiết cho các thay đổi về chính sách mang tính rộng lớn.

“Dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước sẽ tiếp tục thu nhỏ và Ngân hàng nhà nước buộc phải có hành động nhằm bảo vệ giá trị hối đoái của đồng nội tệ,” ông Thanh nói.

“Sẽ không có sự chấm dứt đối với vòng xoáy tồi tệ này. Một phương cách mới và một chính sách tiền tệ mới là cần thiết nhằm thổi một luồng sinh khí mới vào nền kinh tế, thay cho các hành động mang tính đối phó và các luật lệ không phù hợp.”

Đồng nội tệ được kiểm soát trong một biên độ hối đoái, đã và đang chịu nhiều áp lực bị phá giá trong gần 2 năm qua khi nền kinh tế phát triển quá nóng và rồi sau đó giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.


Các chính sách trong quá khứ nhằm chận đứng sự tuột dốc giá trị của đồng bạc VN gần như không có hiệu quả. “
 

Hải ngọai hãy cứng rắn dồn sức
CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Mafia CSVN

Đã bao chục năm trường, mỗi năm Hải ngọai chúng ta đã chuyển về Việt Nam cho Gia đình trung bình USD.4-6 tỉ. CSVN không biết ơn mà vẫn luôn luôn coi chúng ta là thù địch, vẫn tàn nhẫn bóc lột đàn áp Dân chúng hay những người trong Gia đình của chúng ta. Đây là dịp mà chúng ta phải dặn bảo nhau, mở Phong trào Hải ngọai CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với đám nhóm đảng Mafia CSVN tàn bạo, cướp bóc.

Lạm phát bắt đầu tăng. Với lạm phát tăng và đồng bạc phá giá, Dân chúng sẽ đứng lên !


HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:

=>     Tạm ngưng du lịch Việt Nam

=>     Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết

=>     Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.

 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.02.2010





                               NHỮNG ĐIỂM THỜI SỰ QUAN TRỌNG

                                    ĐÁNG GHI LẠI ĐỂ NHẬN ĐỊNH

 
                                           NGUYỄN PHÚC LIÊN

 
*        Vấn để giữ tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ thấp đối với Đo-la đã có từ lâu, nhưng Mỹ và Thế giới đã không có những áp lực mạnh đối với Trung quốc. Nhưng ngày nay, với cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, Mỹ và Thế giới thấy rằng mình thiệt hại quá nhiều. Việc Trung quốc cứ tiếp tục giữ tỷ giá đồng Yuan thấp sẽ mất cân bằng chính nền Kinh tế tòan cầu. Mỹ quyết định tăng cường áp lực và có thể đi đến Chiến tranh Thương mại đối với Trung quốc. Đây là vấn đề quan trọng và chúng tôi đã viết 3 bài liên tiếp. Chúng tôi liệt kê ra đây những bài liên hệ để độc giả tiện tham khảo:

-        Le Figaro 15.03.2010, trang 18 :

         PEKIN REJETTE LES CRITIQUES AMERICAINES

-        Financial Times 15.03.2010, trang 1 :

CHINA PREMIER BRANDS PRESSURE OVER RENMINBI PROTECTIONISM

-        The Wall Street Journal 15.03.2010, trang 1:

         CHINA TAKES AIM AT U.S. OVER ECONOMY

-        Le Monde 16.03.2010, trang 16:

CHINE: LE PREMIER MINISTRE RECONNAIT L’AGGRAVATION DES INEGALITES SOCIALES

-        The Wall Street Journal 16.03.2010, trang 23 :

         BEIJING IS STILL THE TOP HOLDER OF U.S.DEBT

-        Financial Times 16.03.2010, trang 1:

         CONGRESS LETTER URGES ACTION ON RENMINBI

-        Fiancial Times 17.03.2010, trang 3:

         BEIJING ON OFFENSIVE OVER RENMINBI

-        The Wall Street Journal 17.03.2010, trang 1 & 3:

         CHINA ATTACKS QUALITY OF FOREIGN GOODS

-        Web Alternatives Economiques par Jacques ADDA, Article Web 17.03.2010:

         LA DOUBLE FACE DU YUAN

-        Le Monde 18.03.2010, trang 16:

         TAUX DE CHANGE DU YUAN: PUGILAT AMERICANO-CHINOIS

-        Financial Times 18.03.2010, trang 2 :

         WORLD BANK OPTIMISTIC ON CHINA ?

-        The Wall Street Journal 18.03.2010, trang 14:

MULTINATIONAL COMPANIES SOUR ON THEIR DEALINGS WITH CHINA.

-        Financial Times 22.03.2010, trang 6:

         CHINA’S US TRADE ALLIES LOSING FIGHT WITH HAWKS

-        Le Figaro 22.03.2010, trang 25:

         COMMERCE: LA CHINE DEFIE LES OCCIDENTAUX

-        The Wall Street Journal 23.03.2010, trang 10 :

         WEN MEETS WITH BUSINESS

-        The Wall Street Journal 24.03.2010, trang 9:

         RARE CHINA DEFICIT COULD BACK POLICY

-        Financial Times 24.03.2010, trang 8:

         ARBITRARY CHINA

 *       Việc phát triển Kinh tế Aán độ không ồn ào và đi những bước chắc chắn. Đó là sự phát triển theo một Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế. Nếu Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng, thì Kinh tế Trung quốc mất tính Độc lập. Người ta gọi đây là Kinh tế hướng ngọai. Trong khi ấy, Kinh tế Aán độ tản quyền và hướng nội, nghĩa là tạo một mãi lực lâu dài cho Dân chúng quốc nội. Nền Kinh tế như vậy giữ được tính các Độc lập của Kinh tế Quốc gia. Một số Chuyên gia Kinh tế nhìn ở sự phát triển của Aán độ lên một Cường quốc Kinh tế Á châu. Chúng tôi thấy đây là mẫu mực phát triển Kinh tế nên áp dụng cho Việt Nam. Vì tính cách quan trọng của sự phát triển Kinh tế Aán độ, nên chúng tôi liệt kê những bài liên hệ để độc giả tiện tham khảo:

-        Le Monde 09.03.2010 :

         UNE LECON INDIENNE par Martin WOLF       

-        The Wall Street Journal 10.03.2010:

         INDIA’S MICROLENDERS TO SHARE DATA by Eric BELLMAN

-        Financial Times 10.03.2010:

SUGAR SUFFERS AS INDIA RAISES OUTPUT ESTIMATE by Chris BLOOD

-        Financial Times 11.03.2010:

PUTIN SEEKS TO BOLSTER LINK WITH NEW DELHI by James LAMONT

-        The Wall Street Journal 11.03.2010:

         INDIA: WOMEN AND DEMOCRATY

-        Le Monde 11.03.2010:

EN INDE, GUERRES DES TERRES ENTRE PAYSANS ET INDUSTRIELS par Julien BOUISSOU

-        Le Monde 11.03.2010:

LES DEPUTES INDIENS VOTENT L’INSTAURATION D’UN QUOTA DE FEMMES AU PARLEMENT par Julien BOUISSOU

 

*       EMF/FME: Qũy Tiền Tệ Liên Âu với vai trò như IMF/FMI

(Financial Times 09.03.2010, p.1, p.4; The Wall Street Journal 09.03.2010, p.36)

*       Hậu quả những Biện pháp Che Chở Mậu dịch của nhóm G20. Lượng mậu dịch Thế giới giảm 12%.

         (Financial Times 09.03.2010, p.6)

*       Thu thập Kinh tế Trung quốc không phải cho Dân của nước này

         (Financial Times 09.03.2010, p.10)     

*       Trung quốc xuống nước. Sự ương ngạnh, gian giảo, tính tóan thủ lợi có thể dẫn đến Chiến tranh Thương mại mà Trung quốc là nạn nhận

(Financial Times 09.03.2010, p.2; The Wall Street Journal, 08.03.2010, p.10; Financial Times 08.03.2010, p.2; REUTERS, Pékin 08.03.2010)

*       Những khó khăn Chính trị và Kinh tế Trung quốc

(Financial Times 17.02.2010, p.9; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.9)

*       Những triệu chứng nguy hiểm cho việc tái khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế

         (Le Monde 17.02.2010, p.12)

*       Bruxelles đặt những điều kiện khắt khe đối với Athens

(Fiancial Times 16.02.2010, p.1; Le Monde 16.02.2010, p.15; Le Temps 16.02.2010, p.1)

*       Khủng hỏang Hy-lạp lan sang Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Liệu có ảnh hưởng sang Mỹ hay không ? “It began in Athens. It is spreading to Lisbon and Madrid. And America ?”

         (Financial Times 11.02.2010, p.9)

*       Đồng Euro và Khủng hỏang Tài chánh Liên Aâu. Những công kích đồng Euro.

         (Le Monde 10.02.2010, p.1, p.8)

*       Bernanke làm thế nào đưa FED ra khỏi chiến lược kích thích tài chánh.

(Financial Times 10.02.2010, p.3; The Wall Street Journal 11.02.2010, p.6; Financial Times 11.02.2010, p.4)

*       Nạn sữa độc Melamine Trung quốc vẫn hòanh hành

         (The Wall Street Journal 09.02.2010, p.10)

*       Ý-đại-lợi (Thành phố Tuscan) xiết chặt thợ may dệt Trung quốc tràn sang:”Enough is enough !”

         (Financial Times 09.02.2010, p.2)

*       Trung quốc lợi dụng vụ Nguyên tử Iran để tăng cường thương mại với nước này

         (Financial Times 09.02.2010, p.2)

*       Nguyên tử Iran làm Tây phương nóng đầu và tìm cách trừng phạt.

(Le Figaro 08.02.2010, p.1; Le Monde 09.02.2010, p.1; Le Monde 10.02.2010, p.2; The Wall Street Journal 10.02.2010, p.12; Financial Times 10.02.2010, p.6)

*       Tiền Thụy sĩ trở thành Tiền tỵ nạn Lịch sử cho Tài chánh

         (Le Temps 08.02.2010, p.1)

*       Trung Cộng: Con cái những lãnh tụ lớn được thăng quan tiến chức, nhất là trong cấp bậc về Kinh tế để sửa sọan cho Đại Hội đảng năm 2012.

         (Le Temps 08.02.2010, p.5)

*       So sánh việc thóat Khủng hỏang Kinh tế giữa Hoa kỳ và Liên Âu

         (Le Monde 04.02.2010, p.1, p.6, p.13)

*       Thái độ của Hoa kỳ qua những vụ: Google, Bán Vũ khí cho Đài Loan và Obama gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng.

(Le Monde 03.02.2010, p.4; Financial Times 03.02.2010, p.1; Le Monde 02.02.2010, p.6; Financial Times 01.02.2010, p.1, p.6; Le Figaro 01.02.2010, p.6)

*       Vai trò Kinh tế Đài Loan được Hoa kỳ nâng đỡ để làm giảm cao ngạo của Trung quốc Lục địa.    

         (Financial Times 02.02.2010, p.12; Le Temps 02.02.2010, p.2, p.4)

*       Thái độ của Davos 2010 dối với những công kích Tài chánh Tư bản của TT.Sarkozy

         (Fiancial Times 02.02.2010, p.13; Le Monde 02.02.2010, p.1)

*       Thụy sĩ tháo gỡ những công kích về những người trốn thuế gửi tiển tại Thụy sĩ. Nhưng những người có tiền triệu, tiền tỉ tự hỏi: vậy thì cất tiền ở đâu cho vững ?

(Le Temps 02.02.2010, p.8; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.1,p.3; Financial Times 01.02.2010, p.4; Le Temps 01.02.2010, p.1; The Wall Street Journal 01.02.2010, p.1; The Wall Street Journal 28.01.2010, p.23;)

*       Nông dân Trung quốc nổi dậy ủng hộ việc chống lại tham nhũng

         (Le Monde 28.01.2010, p.7)

*       Tây phương đã quá thổi phồng Kinh tế Trung quốc. Thực tế thì khác.

         (Financial Times 28.01.2010, p.11)

 NGUYỄN PHÚC LIÊN
Geneva 27.03.2010


CUỘC GẶP Ở VIỆT NAM CỦA
LM.NGUYÊN VĂN LÝ VÁ PHÓ ĐẠI SỨ HOA KỲ

Bản tin ngày 24-03-2010




            Vào lúc 13g15 ngày hôm qua, 23-03-2010, Bà phó đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Virginia E. Palmer, cùng với một thông dịch viên tên Đức đã đến thăm gặp linh mục Nguyễn Văn Lý, đang được tạm tha để điều trị tại Nhà Chung Tổng Giáo phận Huế, 64 Phan Đình Phùng, Huế. Đưa hai vị này tới là hai nhân viên sở ngoại vụ tỉnh Thừa Thiên Huế và hai nhân viên công an.

            Sau khi chào hỏi, cha Lý mời bà phó đại sứ và thông dịch viên vào phòng. Hai nhân viên ngoại vụ ra ngồi chờ ngoài sân còn hai nhân viên công an đứng bên ngoài phòng linh mục, sát cửa để nghe lén (và có thể là ghi âm lén. xem hình 1).

            Bà phó đại sứ cho biết mục đích thăm viếng: vấn an sức khỏe của linh mục Lý và hỏi cho biết tòa đại sứ lẫn chính phủ Hoa Kỳ có thể giúp linh mục như thế nào trong lúc này?

            1- Về tình trạng sức khỏe, cha Lý mô tả tương đối rõ ràng: cao huyết áp, tai biến mạch máu não, xơ vữa động mạch cảnh, xuất hiện khối u sau ót… Cha còn nói thêm: Xin quý vị hoàn toàn yên tâm là nhà cầm quyền Việt Nam không dám đưa tôi vào lại trại giam sau 12 tháng tạm tha này, vì sau lúc bị tai biến lần 3 (15-11-2009) , khi đang trong quá trình cấp cứu, tôi đã tuyên bố với họ rằng nếu tôi bị tai biến lần 4 thì sẽ khước từ cấp cứu và điều trị. Cho nên sang năm, nếu họ lại muốn đưa tôi vào trại giam, tôi sẵn sàng vào, nhưng họ phải biết rằng tôi sẽ khước từ điều trị và cấp cứu nếu bị tai biến lại.

            Tiếp đó linh mục Lý xin cảm ơn tòa đại sứ, tòa lãnh sự, chính phủ, quốc hội, bộ ngoại giao Hoa Kỳ cùng một số chính khách Mỹ như thượng nghị sĩ Sam Brownback, dân biểu Chris Smith, dân biểu Loretta Sanchez…. vì đã quan tâm đến hoàn cảnh của linh mục và đã vận động cho linh mục trong thời gian qua. Cha Lý cho biết tiếp: nay thì có một số chính khách quốc tế, một số tòa đại sứ, một số tổ chức ở nước ngoài đã ngỏ ý đưa tôi ra ngoại quốc chữa bệnh rồi sẽ đưa về. Điều này phù hợp với ý định của nhà cầm quyền Việt Nam. Vì biết tôi còn 5 năm tù giam và 5 năm quản chế nữa, nên họ (nhà cầm quyền) đã khuyên tôi cứ chấp thuận ra ngoại quốc điều trị cho khỏe hẳn, để khoảng 80 tuổi rồi hãy trở về (chú thích: Lm Lý hiện nay được 64 tuổi). Xin cảm ơn tất cả Quý vị vì hảo ý đó, nhưng như thế là vô tình đi vào kế hoạch của nhà cầm quyền Cộng sản (Bà phó đại sứ cười). Nay giáo phận Huế và gia đình muốn tôi điều trị tại chỗ (tòa TGM Huế).

            2- Về những việc gì mà chính phủ và tòa đại sứ Hoa Kỳ muốn giúp linh mục Lý hiện giờ, thì cha cho biết:

a-   Quý vị cố gắng tập trung giúp UNESCO, Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế biết rõ sự thật về ông Hồ Chí Minh (chú thích: linh mục Lý từng gọi HCM là tay gian ác, tên lừa bịp siêu cao thủ). Đừng úp mở chuyện này mà kéo dài sự sai lầm rất tai hại cho dân tộc tôi. Tôi thấy mình có nhiệm vụ trả lại sự thật nguyên vẹn về ông Hồ cho đồng bào Việt Nam (chú thích: đây cũng là điều mà một linh mục khác là cha Nguyễn Hữu Lễ đã làm qua cuốn phim tài liệu “Sự thật về HCM” và cũng là một trong ba tôn chỉ của bán nguyệt san Tự do Ngôn luận mà linh mục Lý là đồng sáng lập: vạch trần mặt thật HCM).

b-   Quý vị vận động làm sao để chúng tôi có tự do ngôn luận. Quý vị cần nói to, nói rõ, nói ngắn, nói chính xác giữa Liên Hiệp quốc rằng Việt Nam chưa có thứ tự do này. Đây là điều rất quan trọng. Chúng tôi muốn các tờ báo của chúng tôi như Tổ quốc, Tự do Dân chủ, Tự do Ngôn luận được bày bán công khai (chú thích: ban biên tập báo Tổ Quốc thời gian gần đây bị sách nhiễu và hăm dọa, đặc biệt là tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang và bác sĩ Phạm Hồng Sơn). Nếu chưa được thế thì ít nhất quý vị hãy nói với nhà nước Việt Nam rằng đừng bắt những ai đọc các tài liệu như vậy. Chúng tôi thấy có nhiệm vụ trước mắt là làm sao cho người dân được tiếp cận các loại thông tin trung thực về tự do dân chủ mà không bị bắt bớ, không bị quấy nhiễu. Quý vị hãy nói to trước các diễn đàn quốc tế là Việt Nam lạc hậu vô cùng về tự do ngôn luận, thua thời Các Mác tại Anh cách đây 160 năm, thua thời nhóm Nguyễn Ái Quốc tại Paris cách đây gần 100 năm, thua thời cụ Huỳnh Thúc Kháng tại An Nam cách đây hơn 80 năm. Tất cả họ đều làm báo phê phán chế độ đương thời mà không hề bị bắt!

           Trước câu lưu ý của bà phó đại sứ (“Hàng năm, bản báo cáo của chúng tôi về nhân quyền tại Việt Nam đều có đề cập đến chuyện ấy”), linh mục Lý trả lời: Nói dài, nói nhiều có khi không hữu ích và hiệu quả bằng nói ngắn và nói rõ giữa các diễn đàn toàn cầu: Tự do ngôn luận tại Việt Nam thua cộng đồng quốc tế cả hàng trăm năm!

c-   Quý vị cố gắng giúp chúng tôi tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội cộng sản năm 2011 cho thật hiệu quả. Đây là một hình thức dân chủ giả hiệu và áp đặt, hoàn toàn không giống như các cuộc bầu cử Quốc hội ở những nước dân chủ tự do. Giúp như thế là quý vị giúp tôi chữa lành khối u sau ót tôi đây này ! Phần Khối 8406 của chúng tôi thì cũng sẽ lên kế hoạch tẩy chay nó cách quyết liệt. (Chú thích: trước cuộc bầu cử Quốc hội năm 2007, Khối 8406 và nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền đã có nhiều văn thư kêu gọi tẩy chay nó cũng như nhiều thành viên đã thực sự tẩy chay nó trong chính ngày nó được tổ chức, 20-05-2007).

            3- Linh mục Lý cũng nhân cơ hội trình bày cho bà phó đại sứ rõ nguyên tắc đấu tranh bất bạo động của các chiến sĩ hòa bình dân chủ tại Việt Nam: Một chiến sĩ hòa bình dân chủ nếu biết cách đấu tranh bất bạo động thì sẽ mạnh gấp nhiều quân đoàn. Cộng sản hiện nay không còn dám cắt lưỡi các nhà đấu tranh bất bạo động như thời linh mục Jerzy Popieluszko bên Ba Lan hồi 1984 vì CS sợ họ. Chiến sĩ hòa bình nói, đối phương cũng sợ; viết, đối phương cũng sợ; khóc, đối phương cũng sợ; cười, đối phương cũng sợ; im lặng, đối phương cũng sợ; sau cùng chết thì đối phương càng sợ (Bà phó đại sứ ngắt lời: Không chết đâu! không chết đâu!). Trên đấu trường, hai đấu sĩ nhìn nhau. Các chiến sĩ hòa bình dân chủ nhìn thẳng đối phương là hàng chục triệu cán bộ, hằng mấy triệu đảng viên với tấm lòng không sợ hãi thì đối phương phải hãi sợ họ. Tại sao người chiến sĩ dân chủ không sợ? Vì họ không đi tìm gì cả ngoài tình thương, sự thật và lẽ phải! Tình thương, sự thật và lẽ phải này như lửa. Nhà tù với số lượng bao nhiêu và với tường dày bao nhiêu cũng chỉ là giấy, không gói được lửa! Trong trại giam lửa vẫn bừng cháy, ra ngoài lại càng bừng cháy. Một bạo quyền độc đoán thì phải thua ngọn lửa ấy mà thôi!

            Người chiến sĩ hòa bình dân chủ phải vô úy (không sợ hãi), vô cầu (không xin xỏ), vô thủ (không cần đề phòng, vì đấu tranh công khai, quang minh chính đại, ai rình nghe cũng mặc), vô ngã (không tìm cái lợi cho mình), vô biệt (không phân biệt quốc gia hay cộng sản, da trắng hay da vàng, Phật giáo hay Công giáo, ai đứng về phía lẽ phải và sự thật đều là đồng minh của mình). Khi có ngũ vô này rồi thì tức khắc có đệ lục vô, không nhắm nhưng sẽ phải đến, đó là vô địch! (Bà phó đại sứ cười vang khoái chí). Tôi chỉ có hai bàn tay trắng, nhưng tôi biết mình vô địch vì nơi tôi không có hận thù. Đời tôi đã 64 tuổi nhưng tôi chưa ghét một người nào cả. Mấy lần bị cán bộ CS bắt giam, tôi đều nói: Các anh sợ mà bắt giam tôi thôi, nhưng đố các anh ghét tôi được! Tôi có làm chi phương hại, xúc phạm hay nguyền rủa các anh đâu mà các anh ghét. Trái lại tôi chỉ đọc kinh cầu nguyện cho các anh.

            Tôi đi tù như vậy là 5 lần, riêng dưới chế độ này là 4 lần. Mỗi lần vừa vào tù, tôi đều quỳ cúi xuống hôn đất mà thầm nói: “Con xin nhận nhiệm sở mới” Nhiệm sở mới này không phải đức Giám mục bổ nhiệm tôi đến mà là Chúa Giêsu Kitô. Vì thế tôi coi ban giám thị, cán bộ trại và mọi tù nhân trong trại đều là giáo hữu mà tôi có bổn phận cầu nguyện và rao giảng Tin Mừng cho. (Chú thích: trong một lần tâm sự trước đây, linh mục Lý có cho biết ở trong tù cha luôn cầu nguyện cho các tay đồ tể của nhân loại như Lênin, Stalin, Hitler, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Pôn Pốt, Saddam Hussein, Bin Laden… Họ cần lời cầu nguyện vì họ bị nhân loại quên lãng do căm thù)… Đêm đầu tiên ở trại giam tôi ngủ bình thản như ở nhà, vì tôi coi trại là văn phòng, là nhiệm sở của tôi, tôi phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ ở đó cho tốt. Sang năm, nếu họ đưa tôi vào lại trại thì tôi thoải mái, sẵn sàng (Bà Phó đại sứ cười). Như mọi chiến sĩ dân chủ hòa bình, tôi có tình thương, sự thật và lẽ phải nên không sợ. Nhưng đằng sau lưng tôi là cả Triều thần Thiên quốc, có Thiên Chúa, có Đức Mẹ, có các thánh, rồi có hàng triệu các thai nhi bị trục giết mỗi năm mà tôi luôn bênh vực (chú thích: trong các lần linh mục gặp gỡ cán bộ công an hay viết kiểm điểm về… chế độ). Các em ủng hộ tôi, chuyển cầu cho tôi thì đảng CS làm chi tôi được!!!         

Kết thúc, bà phó đại sứ Hoa Kỳ nói: “Tôi từng mong ước gặp được linh mục. Nay thấy linh mục trẻ trung, vui vẻ, ăn nói rất mạnh mẽ và rõ ràng. Rất hân hạnh. Xin hết lòng cảm ơn!”

            Cuộc gặp gỡ kết thúc vào lúc 14g30 cùng ngày.
            Nhóm Phóng viên FNA. 

 









LS.LÊ THỊ CÔNG NHÂN HÃY ĐẤU TRANH
CỤ THỂ CÙNG VỚI DÂN OAN


Ls.CÔNG NHÂN nói: "Tôi là luật sư, trước đây khi giúp đỡ những người dân oan, chúng tôi gọi nhau là chiến sĩ. Sau đó, tôi bị bắt oan, bị án oan và tù oan thì trở thành dân oan Lê Thị Công Nhân, vì vậy xin chia sẻ với các dân oan ở đây và toàn thể giáo dân, cộng đoàn những vất vả đã phải chịu thời gian qua".


Kính gửi  L.S Lê Thi Công Nhân-
 
Chúng tôi là những người ở Miền Tây xa xôi , thiếu thông tin, biết tin muộn, Các Anh Chị ở Hải Ngoại ký tên thăm hỏi và đồng hành cùng Luật sư LTCN.

Chúng tôi dẫu muộn màng, xin được gởi đến LS lời chào mừng trở lại với Mái Ấm Gia Đình trong tình thương của Đồng Bào trong và Ngoài nước và Tập thể Dân Oan chúng tôi đã rất vui mừng khi nghe được Tiếng Nói và Hình Ảnh của LS ..
                         
Luật sư thân mến,

Mặc dù Niềm Tin và hoàn cảnh cuộc sống có khác biệt vì chúng tôi là những Phật Tử ,Tín Hữu Cao Đài ,Hòa Hảo ,Tin Lành, Ki Tô Hữu.., Nhưng cũng giống như LS vì cùng là Nạn Nhân khổ đau của lòng tham không đáy ,của sự xấu ác do bạo quyền CS gây ra !, hầu hết người dân ở chế độ X H C N này - trừ bọn C A-Cán Bộ, Đảng Viên CS !!! - trực tiếp hay gián tiếp đều là NẠN NHÂN của Tập Đoàn lãnh đạo Vô Thần!, phi đạo đức, không Tôn giáo!!!, vì không có Đức Tin Tôn Giáo, nên bọn lãnh đạo C.S mặc sức ra tay tàn ác, chà đạp Nhân quyền, tước mất của cải Ruộng Đất của chúng tôi, đó là Mồ Hôi Nước Mắt - Một Nắng Hai Sương - của Cha Ông chúng tôi để lại, chúng tôi đã cố gắng tằn tiện giữ gìn, mong muốn  truyền lại cho Con Cháu!

  Nhưng nhà cầm quyền CS, từ Trung Ương, đến Địa Phương Xã Ấp, đã rập khuôn hùa nhau, ra mưu thâm-kế độc, bưng bít dư luân trong và ngoài nước, núp dưới chiêu bài gọi là " độc lập "chủ quyền nọ kia, không cho Thế Giới và các Nước Yêu chuộng Tự Do, can thiệp vào nội bộ của XHCN_v.c ( ! ) do đó tập đoàn CS mặc sức "đẻ" ra những Lề Luật hết sức phi nhân, hà khắc đè đầu cưỡi cổ Người Dân ..!

Không ít những Bà Con Dân Oan chúng tôi, đã bỏ Mạng trên bước đường đeo đuổi Khiếu Nại, chúng tôi đã Khóc nhau, những giọt Nước Mắt tủi nhục, cay đắng trước sự vô cảm của Cán Bộ CS.
 
Bà con Dân Oan  chúng tôi đã vô cùng Tuyệt Vọng, và phẫn nộ khi nhìn chúng hớn hở, khi thấy Bà con chúng tôi Mất đi Người Thân,
Chúng tôi đã hết sức bất ngờ : Trước sự hèn hạ của tập đoàn Lãnh Đạo CS khi đối diện trước vấn nạn Quốc Gia, trước kẻ thù Phương Bắc, đối với lãnh hải và Đất Đai của Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Tập đoàn lãnh đảo CS vn chẳng những không chống đỡ lại còn cam tâm dâng nạp thêm Đất Rừng Tây Nguyên mặc sức cho Tàu cộng, mướn Đất, khai thác Quặng Mỏ Bô Xít... Gây ảnh hưởng Ngiêm Trọng đến tài sản Quốc Gia, cũng như đòi sống Đồng Bào sắc tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
 
Nếu thạt sự chúng là Đại Diện của nhân dân VN, thì cũng KHÔNG có quyền yêu nước một cách độc quyền như thế. và chúng đã KHÔNG tàn ác với trên dưới 80 triệu Dân Đen như thế này, mà điển hình là tập thể Dân Oan Miền Tây - nói riêng - và Đồng Bào Dan Oan miền Bắc, nói chung đều là nạn nhân của Bạo Quyền CS!, bọn chúng đã thẳng tay vơ vét cướp lấy những Ruộng Vườn Nhà Cửa Đất Đai, dồn Người Dân đến bước... đường cùng!, làm cho Con Em chúng tôi  thất học.. lang thang đầu đường xó chợ .. trong khi đó thì con em của chúng nhờ vào số tài sản mà Cha Ông của chúng cướp được, đã ra Nước Ngoài Du Học, Ăn Chơi, phè phỡn du hý, nhờ vào số Tài Sản kếch xù của cha ông chúng đang gửi ở những Nhà Băng Hải Ngoại

Thử hỏi lương cán bộ "Đày Tớ" bao nhiêu ...một năm?!, mà con em của chúng ra Nước Ngoài "đốt" Tiền như vậy !!!
 
Trong câu hỏi đã sẵn CÓ ..."câu trả lòi"     
  
Bọn chúng đã thụ hưởng trên sự đau khổ của Dân Oan trên toàn Đất Nước VN

Xin LS trong các cuộc tiếp xúc với Báo Đài thay mặt nhóm Dân Oan mất nhà cửa Ruộng Đất ở VN, nhờ LS góp tiếng bênh vực cho chúng tôi đang khốn khổ ở Quê Hương, mòn mỏi đi khiếu kiện trước nhà cầm quyền vô cảm CS
 
Vì họ đã trí trá, ngụy biện kéo dài thời gian, làm cho chúng tôi kiệt sức, đã có Gia Đình có Người CHẾT đang khi đeo đuổi cuôc khiếu kiện vô vọng với tập đoàn CSVN
 
Nhưng nếu may ra có được những vị LS nào, nhà Đấu Tranh Dân Chủ nào, Quí Mục-Sư, Linh Mục và Hòa Thượng nào "dám" bênh vực lên Tiếng Nói giúp chúng tôi, đều dã trở thành Nạn Nhân của Tập Đoàn Quân Phiệt CS
 
Chúng tôi rất Biết Ơn cuộc tranh đấu của nữ LS LÊ THỊ CÔNG NHÂN. Nay xin được Đồng Hành cùng các Anh Chị Thiện Tri Thức, Các Hội Đoàn Tôn Giáo trong Nước cũng như Hải Ngoại thúc đẩy nhà cầm quyền CS sớm từ bỏ tham vọng độc quyền cai trị, cần thiết phải có cuộc Bầu Cử Tự Do - dưới sự giám sát của LHQ - để Người Dân được quyền chọn lựa các Đảng Phái thích hợp, biết chăm lo đời sống Người Dân, để chúng tôi Cảm Nhận được Quyền Sống tối thiểu của Con Người vì chúng tôi không còn chút Niềm Tin nào  với "Đảng CSVN!!!
 
Xin chân thành Cám Ơn & Chúc sức khỏe L.S
  
                                       
Kính Thư
                                                       
Thay mặt nhóm Dân Oan Kiên Giang

- Trần Thị Lùn( Hon-Dat )
- 4 Vinh & nhóm TQ.Hai ( Cần Thơ )
- 7 Luong & Danh(Mỹ Xuyen-AnGiang )
- Lai.M-Hiếu & Nhóm 3 Trinh-5 Nhuần( Tiền Giang)
- 7Hoa-3 Tiem,Thong,Lai. , Manh&Duyen(Bến Tre)
- Nhóm 5 Ro^,7 ca'hấp &Bà Con Dân Oan Phan Thiết
- Nhóm Bảo,Khánh,Hoàng- Hoa,Tuyết-Đào-Nhung (Bình Thạnh)   - và Bà con Dân Oan Tân Hiệp -Tỉnh Long An

 








THỦ TƯỚNG HÕAN BINH

Tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ
gửi cho BBC từ Hà Nội


Kính thưa Quí vị,

Một tên biểu sao nghe vậy của đảng ta, hắn đâu giám làm gì sai trái khi tập thể lãnh đạo, cá nhân trách nhiệm. Sự kiện này đã chứng tỏ cái gian trá của đảng CSVN, khi đảng này đã tuân thủ theo lệnh từ Bắc Kinh để bán đất và bán dân tộc làm nô lệ cho phương Bắc. Đảng CSVN chính là TRần Ích Tắc ngày xưa.

Thủ tướng "hoãn binh"?

Ngày 9/3/2010 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có công văn số 405/TTg-KTN về việc “rà soát kiểm tra việc triển khai thực hiện các dự án nước ngoài đầu tư trong lĩnh vực lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản”.

Công văn gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Thông tin và Truyền thông và tất cả các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương; được đưa ra hơn một tháng sau khi hai Tướng Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh cảnh báo trên trang mạng Bauxite Việt Nam của giới trí thức Việt Nam yêu nước về “hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia”, xuất phát từ việc 10 tỉnh của Việt Nam trong có có các tỉnh giáp giới Trung Quốc cho người Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông thuê trên 264 nghìn ha đất rừng đầu nguồn.

Công văn nêu rõ: “có nơi đã cho thuê cả diện tích đất có rừng tự nhiên; quy hoạch cho các dự án thuê đất vào những vùng nhạy cảm đã phải thu hồi lại".

"Trước tình hình trên, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ ngành liên quan lập đoàn công tác tiến hành rà soát kiểm tra, đánh giá và báo cáo Thủ tướng về việc cấp giấy chứng nhận đầu tư và thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản".

"Trong thời gian thực hiện việc rà soát kiểm tra, đánh giá, UBND các tỉnh không được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới và không ký hợp đồng cho thuê đối với các dự án đầu tư nước ngoài trong phạm vi các lĩnh vực nêu trên”.

Phải nói động thái này của người đứng đầu Chính phủ đã làm cho hai vị Tướng và nhiều người trong và ngoài nước cho dù vẫn còn dè dặt tin rằng đây là sự khởi đầu tích cực cho việc chấm dứt hiểm họa đối với an ninh và quốc phòng của Việt Nam.

Tuy nhiên người viết bài này lại có quan điểm ngược lại, cho rằng đây chỉ là “kế hoãn binh” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tức việc ban hành công văn trên cốt “hạ nhiệt” chủ nghĩa yêu nước hay chủ nghĩa dân tộc của người Việt - thế lực duy nhất có thể cuốn phăng Chính phủ nói riêng, chế độ chính trị hiện hành nói chung, chứ không nhằm giải quyết những vấn đề nghiêm trọng liên quan đến sinh mệnh của quốc gia như mọi người trông đợi.

Quyết định không có tính chế tài

Có nhiều căn cứ để khẳng định điều này.

Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chỉ có hai loại văn bản do Thủ tướng ký: Nghị định nhân danh Chính phủ và Quyết định nhân danh cá nhân Thủ tướng. Nghĩa là ngoài hai văn bản này ra thì các văn bản khác, trong đó có công văn, do Thủ tướng ký không có tính chế tài thi hành.

Để nói, nếu thực sự Thủ tướng Dũng muốn xử lý vụ bê bối siêu nghiêm trọng này thì chí ít phải ban hành Quyết định, điều mà ông này đã không làm.

Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh có liên quan, nói gì đến Bộ Quốc phòng, đã không hề được lãnh đạo tỉnh tham khảo và tất nhiên càng không được mời thẩm định các dự án cho thuê rừng.

Thứ hai, công văn không hề ấn định thời điểm mà các bộ có liên quan phải “bắt tay vào cuộc” cũng như thời điểm kết thúc việc rà soát, kiểm tra, đánh giá việc cấp giấy chứng nhận đầu tư và thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực lâm nghiệp.

Điều này cho thấy không có việc Thủ tướng Dũng buộc các tỉnh dừng ngay tức khắc việc cấp giấy chứng nhận đầu tư mới và ký hợp đồng cho thuê đối với người nước ngoài.

Thm nữa, trong Công văn không có những thuật ngữ như “xung yếu”, “an ninh quốc gia”, “quốc phòng” được đề cập trong thư của các Tướng Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh” nên về hình thức công văn của Thủ tướng Dũng không nhằm giải quyết lo ngại chính của hai vị lão Tướng là lo ngại về an ninh, quốc phòng.

Cứ cho những “vùng nhạy cảm” được sử dụng trong Công văn ám chỉ những vùng xung yếu về an ninh, quốc phòng thì thành phần rà soát các dự án cho người nước ngoài thuê rừng đương nhiên không thể thiếu Bộ Quốc phòng. Thế nhưng, như chúng ta đã thấy, trong địa chỉ đến của Công văn không có Bộ Quốc Phòng.

Cuối cùng, đây mới là bản chất của vấn đề: chính Chính phủ đã gián tiếp “bật đèn xanh” cho người Trung Quốc và gốc Hoa thuê rừng đầu nguồn của Việt Nam như trên đã đề cập.

Thực vậy, Khoản 2 Điều 11 Luật Quốc phòng quy định việc quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và khu vực trọng điểm về quốc phòng phải được Bộ Quốc phòng và cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ phối hợp thẩm định thế nhưng trên thực tế, Bộ Quốc phòng đã bị gạt ra rìa quy trình cấp phép cho các dự án cho thuê rừng.

Bằng chứng là ngay các Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh có liên quan, nói gì đến Bộ Quốc phòng, đã không hề được lãnh đạo tỉnh tham khảo và tất nhiên càng không được mời thẩm định các dự án cho thuê rừng.

Cái “giật mình” kèm theo khẳng định của đại tá Hoàng Công Hàm, Phó chỉ huy trưởng, Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn trước báo chí vào ngày 15/3 vừa qua:“Họ chưa qua một cấp nào của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh thẩm định cấp dự án nhất là về rừng dọc biên giới. Tất cả các dự án lớn như thế thì chắc chắn phải báo cáo Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Chúng tôi không được báo cáo thì làm sao chúng tôi tham mưu được. Dự án trồng rừng 50 năm có người nước ngoài là ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng rồi”hẳn không cần thêm lời bình.

Điều 3 Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ hướng dẫn Luật bảo vệ và phát triển rừng quy định Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thay mặt Chính phủ lập và quản lý hồ sơ giao, cho thuê rừng và đất để trồng rừng. Vậy không lẽ với tư cách là người lập và quản lý hồ sơ rừng mà Chính phủ lại không hề hay biết hàng trăm nghìn ha rừng đầu nguồn đã được cho người Trung Quốc và gốc Hoa khác thuê, không những thế với thời hạn đến 50 năm?

“Con voi" – hàng trăm nghìn ha rừng đầu nguồn, mà tuyệt đại đa số ở những khu vực trọng điểm về quốc phòng, khó có thể “chui lọt lỗ kim – cấp phép” nếu không được Chính phủ mà trước hết là Thủ tướng Dũng chấp thuận, trực tiếp hoặc gián tiếp!

Suy cho cùng, nếu không có việc chuẩn bị Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 11 họp vào đầu năm sau, 2011, thì “kế hoãn binh” này không chắc được thi hành.

Ngay cả trong trường hợp cực chẳng đã Thủ tướng Dũng phải biến “hoãn binh” thành “động tác thật” nhằm mục đích tranh cử thì sau Đại hội 11 Đảng cộng sản Việt Nam, nếu ông Dũng vẫn còn ở vị trí quyền lực, không có gì đảm bảo rằng mọi chuyện rồi lại không y như cũ; nghĩa là lại đặt Việt Nam ở tình thế cực kỳ nguy hiểm về an ninh, quốc phòng bằng việc cho phép các tỉnh tiếp tục cho người Trung Quốc và gốc Hoa khác thuê rừng đầu nguồn ở những khu vực xung yếu về quốc phòng.
Tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ
gửi cho BBC từ Hà Nội

 



                                            MỸ—HOA DÀN TRẬN


                                              Nguyễn Xuân Nghĩa


...Yếu tố kinh tế trong trận đấu...


Mở đầu cho loạt bài về những mâu thuẫn thậm chí xung đột sắp tới giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, chúng ta cần nhìn lại quan hệ của hai nước trên đại thế.

Người ta thường cho là Hoa Kỳ chi tiêu bừa phứa, lại còn mắc nợ nặng nề sau vụ khủng hoảng tài chánh năm 2008 và nạn suy trầm kinh tế năm 2008-2009. Trong khi đó, Trung Quốc tiết kiệm tối đa và làm chủ một lượng dự trữ ngoại tệ tương đương với 2.400 tỷ Mỹ kim mà đa số được lưu giữ dưới dạng đầu tư vào thị trường Mỹ. Vì vậy, Hoa Kỳ thành quốc gia khách nợ và Trung Quốc là quốc gia chủ nợ, cho nên hai nước đều cần nhau, với thế thượng phong thuộc về chủ nợ.

Nhận xét ấy thật ra phiến diện và không phản ảnh đúng sự thể, nhưng cứ được nhiều "học giả" Mỹ lưu truyền, với sự hoan hỉ của Bắc Kinh và sự sốt sắng phiên dịch của truyền thông Việt ngữ.
Trước hết, như tại nhiều quốc gia khác trên địa cầu từ khi có tự do giao dịch kinh tế, Hoa Kỳ có gặp chu kỳ suy trầm từ cuối năm 2007 và bị khủng hoảng tài chánh năm 2008 sau vụ bể bóng đầu tư trên thị trường gia cư từ năm 2006. Vụ khủng hoảng ấy lan rộng khiến nước Mỹ bị coi là thủ phạm của mọi tai họa kinh tế ở nơi khác. Điều ấy không chính xác nếu ta thấy là Âu Châu chưa ra khỏi suy trầm và đang mấp mé khủng hoảng tài chánh vì những chứng tật riêng. Lại càng không chính xác khi ta nhìn qua đầu máy kinh tế thứ nhì là Nhật Bản, bị suy trầm và khủng hoảng từ hai chục năm trước sau vu bể bóng gia cư địa ốc và cổ phiếu năm 1990.

Chẳng những điều ấy không chính xác mà lại không đầy đủ: Trung Quốc có góp phần cho vụ khủng hoảng năm 2008 tại Mỹ, là điều thiên hạ ít biết vì không quan tâm đến kinh tế quốc tế.

Nhắc lại thì Hoa Kỳ có trách nhiệm trong sự bất cẩn vì tinh thần hồ hởi sảng truyền thống của nước Mỹ, nên nhập cảng ào ạt và vay mượn lung tung. Bên kia Thái bình dương, Trung Quốc là nơi mà dân chúng có tâm lý bất an cũng truyền thống nên thắt lưng buộc bụng và tiết kiệm rất cao. Họ còn bị nhà nước thắt lưng buộc bụng để xuất cảng bằng mọi giá cho nhà nước thu về ngoại tệ, lập ra một kho tài sản tung hoành trên thế giới.

Đáng lẽ, kho tài sản ấy đã có thể được đầu tư vào bên trong để nâng cao mức sống toàn dân. Hoặc nhà nước Bắc Kinh đã có thể nâng cao hối suất đồng bạc của mình (đồng Nguyên, hay Nhân dân tệ) để nâng lợi tức người dân. Nhưng lãnh đạo Bắc Kinh không tính như thế. Họ giữ hối suất thấp - nôm na là giàng giá đồng Nhân dân tệ vào đồng Mỹ kim theo tỷ giá cố định và giả tạo - để chiếm ưu thế nhờ xuất cảng với giá rẻ. Rồi có ngoại tệ trong tay, họ đầu tư ngược vào Mỹ để kiếm lời trên một thị trường an toàn hơn là... thị trường Hoa Lục.

Kết quả, đúng hơn, phải nói là hậu quả, là Trung Quốc tạo ra một nguồn tiền lưu hoạt cực lớn, tới cả ngàn tỷ Mỹ kim, được chảy vào thị trường Mỹ.

Nguồn tiền ấy có góp phần làm giảm lãi suất tại Mỹ và thổi lên bong bóng đầu tư. Lãi suất càng hạ, dân Mỹ càng phóng tay chi tiêu nên càng bị nhập siêu về ngoại thương và càng đưa ngoại tệ vào tay Bắc Kinh để lại thổi qua Mỹ. Nói ví von thì dân Mỹ lạc quan như trẻ thơ thích chơi ma túy, Bắc Kinh là người cung cấp!

Sau khi bị Mỹ phàn nàn về việc định giá đồng bạc quá thấp, Bắc Kinh sợ bị trả đũa nên từ tháng Bảy năm 2005 đến tháng Bảy năm 2008, đã tiệm tiến nâng tỷ giá đồng Nguyên khoảng 20% - ghi cho dễ nhớ, thực tế là gần 21%. Thế rồi khi thấy kinh tế thế giới bị suy trầm, từ tháng Bảy năm 2008, Bắc Kinh lại ấn định đồng bạc theo hối suất thấp, rồi tung kế hoạch kích thích kinh tế và khuyến khích xuất cảng bằng trợ giá.

Để tiếp thục thu thêm ngoại tệ về làm dự trữ.

Nói vắn tắt, Bắc Kinh có góp phần gây ra khủng hoảng tài chánh toàn cầu vì tiếp tục bơm tiền.  Và nay còn đình chỉ khả năng điều chỉnh của thế giới - của Mỹ và các nước công nghiệp khác.
Chuyện điều chỉnh ấy là như thế nào?

Là Trung Quốc không nên tiếp tục cạnh tranh nhờ tiền rẻ để xuất cảng ra ngoài mà phải nâng cao khả năng tiêu thụ nội địa - nâng cao lượng nhập cảng - bằng cách tăng hối suất đồng bạc. Tức là phải cho người dân được hưởng công lao sản xuất của mình và nhập cảng nhiều hơn từ các xứ khác hầu quân bình lại cán cân ngoại thương của thế giới. Việc điều chỉnh ấy là cần thiết cho thế giới và cho chính Trung Quốc. Nhưng dù lãnh đạo Bắc Kinh có muốn như vậy từ lâu, họ vẫn không làm được vì những chứng tật ngay trong cơ chế kinh tế chính trị của Trung Quốc.

Trong khi ấy, Bắc Kinh thực tế dựa vào khối ngoại tệ dự trữ làm đảm bảo cho hệ thống tiền tệ và ngân hàng của Trung Quốc! Nếu không, xứ này sẽ bị khủng hoảng. Khi nhìn lại toàn cảnh như vậy, ta thấy Bắc Kinh cũng cần Hoa Kỳ và mong là dân Mỹ sớm ra khỏi suy trầm để tiếp tục cấp cứu kinh tế Hoa Lục bằng cách lại tiêu xài như Mỹ và nhập cảng tưng bừng!

Vì không hiểu điều ấy, hoặc vì gian ý - từ các cơ sở đầu tư có quan hệ với thị trường Hoa Lục và các học giả hay chính khách Mỹ được Trung Quốc viện trợ, hà hơi tiếp sức - người ta mới lưu truyền lý luận rằng Hoa Kỳ là khách nợ nên không thể cưỡng chống Trung Quốc hoặc lớn tiếng đả kích Bắc Kinh về chuyện hối suất đồng Nguyên. Nhiều người còn uyên bác cảnh báo là nếu Mỹ tiếp tục tăng chi vô trách nhiệm hoặc tiêu xài phóng túng thì đồng Mỹ kim sẽ mất ưu thế của một ngoại tệ dự trữ. Bắc Kinh cũng nương theo đó mà từ năm 2008 bắn tiếng dọa nạt là họ sẽ đánh gục đồng đô la hoặc sẽ đưa đồng Nguyên lên hàng "ngoại tệ dự trữ".

Một nét khôi hài phản ảnh sự mù lòa kinh tế hoặc gian manh chính trị. Lý do là muốn thành một ngoại tệ dự trữ có khả năng lưu hành toàn cầu thì đồng Nhân dân tệ phải được thả nổi đã! Là chuyện Bắc Kinh chưa thể làm được!

Trên đây là vài điểm khái quát về tình hình đôi bên, về "tương quan lực lượng" giữa hai cường quốc. Nó không đơn giản như nhiều người nghĩ. Và sẽ còn trở thành phức tạp hơn khi Tổng thống Barack Obama và Lưỡng viện Quốc hội đều khẳng định nhu cầu gia tăng xuất cảng để tạo thêm việc làm - và còn nêu đích danh thủ phạm là Trung Quốc khi lũng đoạn thị trường bằng đồng Nguyên.

Vì vậy mà hai nước đang dàn trận cho một cuộc đấu trí toàn diện, nhưng đều mong là không đi tới đấu lực.
 
Trong vụ đấu trí, Trung Quốc có một ưu điểm... tiền kiếp. Đó là lời khuyên trong Binh pháp Tôn tử "Không đánh mà khuất phục được người mới là sáng suốt nhất". Cả một nền văn hóa về mưu lược chính trị đã thấm nhuần triết lý đó. Muốn thế, phải dụng mưu - kể cả làm chuyện dối trá - phải đánh đòn ngoại giao để tranh thủ người này, ly gián người kia, chứ dụng binh rồi đánh thành mới lả dở nhất. Từ đó, và cho đến ngày nay, lãnh đạo Bắc Kinh vẫn có "chiến lược kỳ biến" là gây ra nhận thức giả tạo về ta (Trung Quốc) và về địch (Hoa Kỳ trong trường hợp này) và cả mưu "gây ấn tượng" (tốt về ta và xấu về địch) ngay trong hàng ngũ địch. Đấy là phần vụ của tuyên truyền và nghệ thuật "lobby" rất phổ biến trong xã hội Hoa Kỳ, có khi còn nhắm vào thành phần có trách nhiệm về tình báo, ngoại giao và chính sách ứng phó với Bắc Kinh.

Ngược lại, Hoa Kỳ cũng có ưu điểm của một xã hội trẻ, cởi mở và đa nguyên, nơi mọi chuyện đều đưọc tranh luận công khai, mọi thông tin đều trình bày minh bạch. Và quan trọng nhất là ưu thế tự do kinh tế khiến mọi chuyện trái phải, lợi hại đều thường xuyên được thẩm xét và thay đổi.

Nhưng đấy là chuyện văn hoá chính trị lâu dài.

Chuyện trước mắt là thực lực kinh tế và trí tuệ của hai hình thái xã hội khác nhau. Một thí dụ thời sự là Hoa Kỳ mắc nợ ngập đầu làm các chính trị gia tranh luận thường xuyên nhưng chẳng vì vậy mà chính quyền tan rã. Trong khi ấy, và đây cũng là một tiết mục thời sự, Trung Quốc đang mất dần ưu thế xuất siêu vì thặng dư về xuất nhập cảng bị thu hẹp. Tức là xuất cảng không tăng kịp đà nhập cảng.

Hôm 22 vừa qua, nước Mỹ mải tranh luận chuyện cải tổ chế độ bảo dưỡng y tế nên không chú ý đến lời báo động của Bộ trưởng Thương Mại Bắc Kinh là Trần Đức Minh, rằng số thặng dư mậu dịch giảm 22 tỷ trong hai tháng đầu năm nay. Sau hai năm bơm tiền kích thích kinh tế và khuyến khích xuất cảng, ưu thế ngoại thương của Trung Quốc đang sụt vì nhập cảng tăng hơn 63% mà xuất cảng chỉ thêm có 31,4%. Hoa Kỳ vốn dĩ đã quen với chuyện ấy nên không thấy là lãnh đạo Bắc Kinh đang rất lúng túng vì ảnh hưởng chính trị sẽ lên tới trung ương. Mà do tình hình kinh tế chưa khả quan, số nhập cảng Âu-Mỹ-Nhật chưa tăng, chiều hướng bất lợi này còn tiếp tục và Bắc Kinh không có đất lùi. Mâu thuẫn Mỹ-Hoa vì vậy càng dễ bùng nổ.

Trong khi đó, khi nhìn lại toàn cục thì bong bóng đầu tư tại Mỹ là hiện tượng tự phát, khiến nhiều người có lợi và nhiều nhà đầu tư phá sản khi bóng bể. Tại Trung Quốc, bong bóng đầu tư là kết quả của chánh sách quản lý kinh tế quốc dân và đem lại mối lời lớn cho đảng viên cán bộ hay tay chân thân tộc. Ngày bóng bể thì dân nghèo lại bị thiệt hại hơn cả và tiền tiết kiệm gửi ngân hàng có khi là giấy lộn. Vì vậy, khi Trung Quốc đang ngồi lên một bong bóng đầu tư vĩ đại, lãnh đạo Bắc Kinh không thể không lo sợ.

Kết cuộc là trong trận đấu trí này, Trung Quốc không chiếm thế thượng phong.

Và nếu, theo giả thuyết giả tưởng của kịch bản "do âm mưu của Mỹ", nếu bong bóng Hoa Lục cứ tiếp tục căng phồng như thế này, Trung Quốc sẽ lại gặp tai họa như Nhật Bản hai chục năm trước. Với kết quả chính trị kinh hoàng hơn nhiều. Vì xứ này không có dân chủ!

NGUYỄN XUÂN NGHĨA

 


                                             TỶ GIÁ ĐỒNG YUAN VÀ
                                         CĂNG THẲNG THƯƠNG MẠI 
                                                       MỸ VÀ TẦU

 
                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                        UNICODE: http://viettudan.net
                                                 Geneva, 18.03.2009

 
Trước đây người Pháp dùng cái tên IndoChine để chỉ khu vực địa lý giữa Aán độ và Tầu, trong đó có Việt Nam. Tuần vừa rồi, chúng tôi viết bài nhận định theo dòng thời sự: ẤN ĐỘ, MỘT CƯỜNG QUỐC KINH TẾ TƯƠNG LAI Á CHÂU và chúng tôi định viết bài QUAN ĐIỂM hôm nay với những phân tích về hướng phát triển của Kinh tế Aán độ trong phạm vi chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ.

Chúng ta ở giữa hai nước đông dân số, Trung quốc và Aán độ, cả hai được xếp vào những nước bắt đầu phát triển (Pays émergents).  Kinh tế Trung quốc tập trung những phát triển dưới quyền lực độc tài độc đảng, chú tâm vào xuất cảng, nghĩa là hướng ngọai. Kinh tế Aán độ tản những họat động phát triển tới dân chúng trong nước, nghĩa là hướng nội, dưới chủ trương tản quyền kinh tế hay cũng gọi là dân chủ hóa kinh tế.

Định viết bài QUAN ĐIỂM hôm nay về Ấn độ như một tỉ dụ cho chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ. Nhưng tình hình căng thẳng về vấn đề Tiền tệ và Mậu dịch giữa Hoa-kỳ và Trung quốc trở thành gay gắt sau cuộc Họp báo Chúa Nhật vừa rồi, 14.03.2010, của Thủ tướng  Oân Gia Bảo tại Bắc Kinh. Oâng công kích mạnh Hoa kỳ và coi Hoa kỳ đang đi đến Che Chở Mậu Dịch (Protectionnism). Đồng thời từ Hoa Thịnh Đốn, 130 Nghị viên Quốc Hội và một số Thương Nghị sĩ viết thư yêu cầu Obama phải làm mạnh với Trung quốc về tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ, thậm chí yêu cầu xử dụng quan thuế để chế tài Trung quốc nếu Trung quốc vẫn ương ngạnh.

Tuần trước, chúng tôi đã viết một bài QUAN ĐIỂM về phạm vi này với đầu đề: TRUNG QUỐC XUỐNG NƯỚC VÌ LO SỢ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI. Chúng tôi nói Trung quốc xuống nước theo những tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, và của Dương Khiết Trì, Ngọai trưởng Trung quốc. Nhưng tuần này, Thủ tướng Oân Gia Bảo lại lên nước cứng nhắc, khiến chúng tôi tạm để một bên về Kinh tế Aán độ và viết tiếp về sự căng thẳng đấu đá giữa Trung quốc và Hoa kỳ về Tiền tệ và Thương mại.

Trong bốn ngày gần đây, thứ Hai, thứ Ba, thứ Tư và thứ Năm hôm nay, nhiều bài viết về vấn đề căng thẳng đấu đá này trên các Nhật Báo lớn quốc tế. Nguyên xem những đầu đề viết, chúng ta đã thấy tầm căng thẳng đã lên cao như thế nào và những căng thẳng này không thể giải quyết một sớm một chiều mà yên. Nó còn kéo dài. Chính vì vậy mà chúng tôi xin liệt kê những đầu đề đó để qúy độc giả thấy tầm quan trọng của căng thẳng và cũng để qúy độc giả tiện vào đọc những bài sau đây để nhận định thêm :

*        Le Figaro 15.03.2010, trang 18 :

         PEKIN REJETTE LES CRITIQUES AMERICAINES

*        Financial Times 15.03.2010, trang 1 :

         CHINA PREMIER BRANDS PRESSURE OVER RENMINBI PROTECTIONISM

*        The Wall Street Journal 15.03.2010, trang 1:

         CHINA TAKES AIM AT U.S. OVER ECONOMY

*        Le Monde 16.03.2010, trang 16:

         CHINE: LE PREMIER MINISTRE RECONNAIT L’AGGRAVATION
         DES  INEGALITES SOCIALES

*        The Wall Street Journal 16.03.2010, trang 23 :

         BEIJING IS STILL THE TOP HOLDER OF U.S.DEBT

*        Financial Times 16.03.2010, trang 1:

         CONGRESS LETTER URGES ACTION ON RENMINBI

*        Fiancial Times 17.03.2010, trang 3:

         BEIJING ON OFFENSIVE OVER RENMINBI

*        The Wall Street Journal 17.03.2010, trang 1 & 3:

         CHINA ATTACKS QUALITY OF FOREIGN GOODS

*        Le Monde 18.03.2010, trang 16:

         TAUX DE CHANGE DU YUAN: PUGILAT AMERICANO-CHINOIS

*        Financial Times 18.03.2010, trang 2 :

         WORLD BANK OPTIMISTIC ON CHINA ?

*        The Wall Street Journal 18.03.2010, trang 14:

          MULTINATIONAL COMPANIES SOUR ON THEIR DEALINGS WITH CHINA.

 

Chỉ nguyên đọc những đầu đề trên đây, chúng ta đã mường tượng ra tầm quan trọng của đấu đá giữa Hoa kỳ và Trung quốc và những vấn đề phức tạp chạm đến nồi cơm của mỗi nước. Chúng tôi không thể đi vào những chi tiết của những bài trên đây với phạm vi một bài QUAN ĐIỂM hôm nay. Phải cần những bài QUAN ĐIỂM tiếp theo nữa để đi vào chi tiết và nhất là theo rõi công việc đấu đá cho nồi cơm mỗi nước sẽ đi về đâu, sẽ có những trừng phạt quan thuế hay không (Sanctions par Taxes douanìeres), mỗi nước đưa ra những biện pháp không giá biểu như thế nào (Mesures non-tarifaires) và những biện pháp trả thù ra sao (Mesures de représailles).

Vì vậy bài QUAN ĐIỂM hôm nay chỉ nêu ra những điểm chính căng thẳng về Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ và những dự phóng xử dụng trừng phạt quan thuế về Thương mại từ hai phía Trung quốc và Hoa kỳ.
 

Thái độ từ phía Trung quốc

Chúng tôi nghĩ rằng những công kích từ phía Trung quốc về vụ việc Google, về việc Hoa kỳ bán võ khí cho Đài Loan, về việc Obama gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma... dần dần rồi cũng quên đi. Nhưng vấn đề gai góc tạo căng thẳng là Trung quốc coi việc giữ Tỷ giá thấp của đồng Yuan như một chính sách Tiền tệ chung cho phát triển Kinh tế Trung quốc. Trung quốc làm việc cho xuất cảng. Nếu xuất cảng tụt dốc, thì sản xuất kinh tế Trung quốc chết. Chính sách giữ Tỷ giá đồng Yuan thấp đối với Đo-la là nhằm cạnh tranh tăng xuất cảng, nghĩa là đồng thời nuôi dưỡng sản xuất. Chính vì vậy đối với Trung quốc, khi nói đến Tiền tệ, thì cũng phải nói đến tình trạng kinh tế chung của nước này.

Một số báo chí đã thổi phồng Kinh tế Trung quốc khi chỉ nhìn những thành phố ven biển, khi thấy những “gadgets” Made in China tràn ngập ở các Siêu thị bên này, khi nghĩ rằng chế độ chính trị Trung quốc cũng giống những chế độ dân chủ Tây phương.

Chúng tôi xin lập lại đây hình ảnh tóm tắt rất xác thực về Kinh tế Mafia độc đảng Trung Cộng với tất cả những tính tóan cho quyền lợi cá nhân của độc đảng cầm quyền:

Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, viết về hiệu quả Kinh tế/Thương mại Trung quốc như sau: “It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay).

Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung cộng, ở trong lòng nền Kinh tế như trên vừa tóm tắt, “ở trong chăn”, nên biết rõ tỏ tường chăn có rận rệp như thế nào. Vì vậy trong bài diễn văn nhân Mùa Xuân kết thúc Khóa họp Quốc Hội Nhân Dân ở Bắc Kinh, Chúa Nhật 14.03.2010, ông đã nhấn mạnh đến hai điểm chính: (i) Tình hình Kinh tế có những đe dọa để dẫn đến bất ổn xã hội; (ii) Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ/Đo-la là chính sách Tiền tệ cứu vãn Kinh tế.

Tình hình Kinh tế có những đe dọa
dẫn đến bất ổn xã hội, chính trị

Bình thường, thì những Lãnh đạo chính trị độc tài bưng bít không dám nói ra những khuyết điểm. Nhưng lần này, một Thủ tướng đành phải thú nhận những đe dọa cho Kinh tế Trung quốc có thể dẫn đến những bất ổn Xã hội và Chính trị. Oân Gia Bảo nói rõ rệt như sau:

“L’inflation, plus une redistribution inéquitable des revenus et la corruption pourraient affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement” (Lạm phát, thêm vào đó là một sự phân phối không đồng đều những thu nhập và tham nhũng có thể tác hại đến sự ổn định xã hội và ngay cả đến sự ổn định nhà nước” (Le Monde 16.03.2010, trang 16)

Tại sao Thủ tướng Oân Gia Bảo phải thú nhận như vậy. Một số những nhà quan sát cho rằng việc thú nhận này có lẽ được xử dụng làm cái cớ để Trung quốc nhất thiết duy trì Tỷ giá thấp đồng Yuan mong cứu nền kinh tế đang chao đảo.

=>     Lạm phát (Inflation)

Trung quốc đang lo sợ lạm phát. Tháng hai vừa rồi lạm phát tăng 2.7% và Nhà nước đang lo sợ rằng lạm phát tòan năm có thể lên 2 con số. Chính Oân Gia Bảo đã nhắc lại rằng năm 1989, vụ đẫm máu tại Thiên An Môn là do lạm phát tăng lên hai con số.

=>     Sự phân phối không đồng đều những thu nhập
         (Redistribution inéquitable des revenus)

Đúng theo hình ảnh Kinh tế Trung quốc mà Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, đã tóm tắt như trên đây. Đó là Kinh tế Mafia đảng CSTQ, bóc lột nhân lực đại đa số dân Trung quốc mà không cho họ hưởng tương xứng với thu nhập, đám Mafia đảng trở thành giầu sụ và tiền thu nhập lại chuyển ra nước ngòai đầu tư chứ không đầu tư trong nước để đa số dân nghèo có thể được hưởng. Đồng Nhân Dân Tệ là tiền của Tầu mà chính đám Mafia giầu có lại sợ giữ tiền Tầu, nên mua đồng Đo-la để trữ. Tờ Le Monde ngày 16.03.2010, trang 16 viết: “La Chine est alarmée par le fait que le fossé ville-campagne va continuer à se creuser dans la mesure òu le pays se focalise sur le développement urbain et pas du monde rural.” (Trung quốc bị báo động bởi sự việc là hố sâu thành phố—nhà quê sẽ tiếp tục tự đào sâu thêm ở mức độ nước này đặt tiêu điểm phát triển thành thị và không phải là lãnh vực nông thôn)

Cách đây 6 năm, số người giầu từ 150 triệu Đo-la, liên hệ với đảng CSTQ, là 100 người. Ngày nay con số đó đã tăng lên 1’000 người (Le Monde 16.03.2010, p.16)

=>     Tham nhũng (Corruption)

Tham nhũng mọi cấp tràn lan. Không cho hối lộ, thì công việc không chạy. Đó là lời nhận xét của một doanh nhân nước ngòai làm việc với Trung quốc. Ký giả Jamil ANDERLINI từ Bắc kinh đã viết trên tờ FINANCIAL TIMES ngày 27.01.2010, trang 17, viết về con trai của Oân Gia Bảo, Oân Yunsong, và con trai của Hồ Cẩm Đào, Hồ  Heifeng:

“The children of  China’s Leaders enjoy unparalelled access to decision-makers and are seen as essential facilitators by foreign businesses operating in the country. But while their names can help attract investors, any public perception in China that they are trading on their family’s name can be politically devastating and details of their activities are often regarded as state secrets. Internet searches for information on NEW HORIZON and Winston WEN were blocked in China yesterday. In similar situation in July last year, the Central Propaganda Department ordered all Chinese search engines to block searches related corruption probe in Namibia involving Nuctech, the airport scanner group controlled by Hu Haifeng, 38-year-old son of Hu Jintao, China’s president“. (Những con cái của các Lãnh đạo tại Trung quốc được hưởng liên hệ không sánh được về việc liên hệ trực tiếp với những người có quyền quyết định và được coi như là những người dàn xếp chính yếu bởi nhà kinh doanh nước ngòai làm việc trọng xứ Tầu. Nhưng trong khi tên của những con cái các Lãnh tụ này có thể quyến rũ những nhà đầu tư, thì bất cứ những sự biết đến của quần chúng rằng những người con này đang làm ăn dựa trên tên gia đình của họ có thể gây tàn phá về mặt chính trị, và những chi tiết họat động của họ thường được coi là những bí mật nhà nước. Những truy tìm tin tức bằng Internet về Tập đòan New Horizon và về Winston ÔN (On Yunsong) đã được ngăn chặn lại hôm qua tại Trung quốc. Trong hòan cảnh giống như vậy vào tháng Bẩy năm ngóai, Bộ Tuyên truyền Trung ương đã ra lệnh xử dụng tất cả những phương tiện tìm kiếm đóng chặt những truy tìm bằng chứng tham nhũng ở Namibia liên hệ đến NUCTECH, Tập đòan Air Scanner dưới quyền kiểm sóat của Hồ Haifeng, con trai 38 tuổi của Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch Trung quốc).

Con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, con rể của Tướng Võ Nguyên Giáp, tại Việt Nam, nhờ quyền lực độc tài đảng, mà làm ăn giầu có, lại thêm môi giới quyền lực ăn hối lộ.

=>     Tác hại đến ổn định Xã hội, ngay cả ổn định Nhà nước
         (Affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement)

Oân Gia Bảo đã nói trước Quốc Hội Nhân Dân rằng những sự việc trên đây đang diễn ra trong nền Kinh tế Trung quốc và sẽ đưa tới sự bất ổn Xã Hội và Chính trị. Sự nổi dậy của khối dân nghèo nếu có lạm phát làm họ thiếu ăn. Những bóc lột sức lao động đã làm giầu có cá nhân thuộc đảng CSTQ đến một lúc sẽ làm nhân công không thể chịu đựng được và nổi dậy. Sự tị hiểm, uất hận sẽ tăng lên trong giới trẻ và trí thức khi nhìn những tệ đoan, bất công trên đây. Hình ảnh nổi dậy Thiên An Môn là một tỉ dụ cụ thể lịch sử.

Thú nhận những điểm như trên đây rồi, Oâng Gia Bảo tuyên bố một điều làm cho những ai thường ca tụng “cường quốc Kinh tế Trung quốc” phải ngạc nhiên: “Cela prendra cent ans, même plus pour que la Chine devienne un pays moderne” Điều đó còn cần 100 năm, ngay cả lâu hơn nữa, để Trung quốc trở thành một nước tân tiến) (Le Monde 16.03.2010, trang 16)

Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ/Đo-la
là chính sách Tiền tệ cứu vãn Kinh tế.

Sau khi thú nhận những nguy hiểm của  Kinh tế Trung quốc như trên, Thủ tướng Oân Gia Bảo nhất quyết bảo vệ chính sách Tiền tệ của Trung quốc nhằm bảo vệ xuất cảng và do đó sản xuất kinh tế trong nước. Có thể việc thú nhận này là để làm bối cảnh cho ông khẳng định cứng nhắc về chính sách Tiền tệ của Trung quốc.

Trước cuộc Họp báo ngày thứ Bẩy 06.03.2010, Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã mạnh mẽ kêu gọi việc phế bỏ Đo-la để chọn một đơn vị Tiền tệ khác. Nhưng trong cuộc Họp báo này, ông đã xuống nước. Bản tin của Reuters đánh đi từ Bắc Kinh ngày 08.03.2010, tóm tắt như sau (Bản dịch Pháp ngữ của Gwénaelle BARZIC):

“Lors de la session annuelle de l’Assemblée nationale populaire (Parlement), le gouverneur de la Banque populaire de Chine Zhou Xiaochuan a déclaré que Pékin serait un jour ou l’autre contraint d’abandonner cette politique “spéciale” du yuan, qui fait partie des diverses mesures prises par les autorités pour limiter l’impact de la crise. L’expérience a montré que ces politiques ont été positives, en contribuant à la fois au resdressement de notre économie et de l’économie mondiale. Les problèmes concernant le retrait de ces politiques apparaitront tôt ou tard. Si nous devons retirer ces politiques inhabituelles et revenir à des politiques économiques ordinaires, nous devons être extrêmement prudents dans le choix du calendrier. Cela inclut également la politique de taux de change du renminbi.” (Nhân dịp họp hàng năm của Quốc Hội Nhân dân, Thống dốc Ngân Hàng nhân dân Trung quốc Chu Tiểu Xuyên đã tuyên bố rằng Bắc Kinh, một ngày nào đó, buộc phải bỏ chính sách “đặc biệt” của đồng Yuan, chính sách làm thành phần của những biện pháp quyết định bởi Nhà Nước nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của khủng hỏang. Kinh nghiệm cho thấy rằng những chính sách này là tích cực, đóng góp vào việc khôi phục nền kinh tế của chúng ta và nền kinh tế của thế giới. Những vấn đề liên quan đến việc rút lại những chính sách này sớm muộn sẽ đến. Nếu chúng ta phải rút lại những chính sách bất thường này, chúng ta phải hết sức thận trọng trong việc lựa chọn lịch trình. Điều này cũng bao gồm cả chính sách tỷ giá của đồng nhân dân tệ.)

Nhưng trong bài diễn văn của Thủ tướng Oâng Gia Bảo, Chúa Nhật 14.03.2010, ông khẳng định nhất quyết không để những nước khác chỉ tay áp lực bắt Trung quốc phải nâng tỷ giá tiền tệ:

“We oppose all countries engaging in mutual finger-pointing or taking strong measures to force other nations to appreciate their currencies. (Chúng tôi chống lại tất cả những nước chỉ tay ra lệnh hay lấy những biện pháp mạnh để buộc những nước khác phải nâng tỷ giá tiền tệ của họ) (Financial Times 15.03.2010, trang 1).

Đồng thời Oân Gia Bảo cũng tuyên bố ngược lại lời khẳng định của Thống đốc Ngân Hàng Chu Tiểu Xuyên cho rằng đồng Yuan đã có tỷ giá thấp sánh với Đo-la. Oân Gia Bảo nói:

“The Chinese currency is not undervalued” (Đồng tiền Trung quốc không đánh giá thấp xuống). (Financial Times 15.03.2010, trang 1).

Chối bỏ rằng đồng Yuan không bị đánh thấp giá xuống, Oân Gia Bảo chuyển sang thế tấn công Hoa kỳ:

“What I don’t understand is depreciating one’s own currency, and attempting to pressure other to appreciate, for the purpose of increasing exports. In my view, that is protectionism !” (Điều mà tôi không hiểu nổi là một đàng hạ tỷ giá đồng tiền của mình, và một đàng làm áp lực để bắt người khác nâng tỷ giá tiền của họ, chỉ vì mục đích làm tăng xuất cảng của mình. Theo quan điểm của tôi, đó là Che Chở Kinh tế !) ((Financial Times 15.03.2010, p.1).

Theo như việc trình bầy những nguy hiểm của nền Kinh tế Trung quốc như Oân Gia Bảo nói trong đọan trên, thì việc cứng nhắc giữ chính sách Tỷ giả Tiền tệ của Trung quốc là điều bó buộc bởi những lý do sau đây:

=>     Trung quốc bị cắt giảm việc đặt mua hàng từ Hoa kỳ và Liên Aâu. Nếu bây giờ tăng Tỷ giá đồng Yuan nữa, thì Trung quốc mất thêm xuất cảng nữa.

=>     Việc tăng tỷ giá đồng Yuan cũng là việc làm giảm cạnh tranh của hàng hóa Trung quốc tại những nước nghèo và đối với hàng hóa của những nước bắt đầu phát triển cùng sản xuất những hàng hóa giống như Trung quốc.

=>     Một nguy hiểm nữa:  những nhà Tài chánh đầu cơ khi biết đồng Yuan có khuynh hướng tăng tỷ giá, họ thẩy vốn vào Trung quốc để hưởng lợi khi đồng Yuan tăng giá lên.

=>     Khi những vốn đầu cơ này vào Trung quốc, tình trạng lạm phát càng trở thành nguy cơ và tác hại đến ổn định xã hội và chính trị. Đây là điều mà Nhà Nước độc tài CSTQ sợ hãi nhất. Đảng CSTQ sẽ không chịu đựng được sức nổi dậy của 4/5 dân số nghèo Trung quốc.
 

Thái độ cứng rắn từ phía Hoa-kỳ

Phía Hoa kỳ cũng có những lý do phải cứng rắn đối với việc giữ tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ thấp đối với Đo-la. Tỷ giá thấp ấy đã giúp Trung quốc tăng cạnh tranh hàng hóa, nghĩa là tăng xuất cảng. Trung quốc tăng xuất cảng không phải chỉ cạnh tranh với hàng Hoa kỳ tại chính đất Mỹ, mà còn đối với những vùng Kinh tế khác nữa, như Liên Aâu, Khu vực Thái Bình Dương, Trung Đông và Nam Mỹ. Lý do thúc đẩy quyết định mạnh hơn cả và trực tiếp cho Chính quyền Obama là:

=>     Tình trạng thất nghiệp ở Mỹ tăng gần 10%

=>     Lương bổng theo chiều hạ xuống tại Mỹ

=>     Những Công ty Liên quốc gia (Multinationales) chuyển sản xuất sang Tầu để có giá thành hạ xuống. Việc này càng làm tăng thất nghiệp tại Mỹ.

Những lý do này buộc Hoa kỳ phải cứng rắn:

=>     Yêu cầu Trung quốc phải tăng tỷ giá đồng Yuan, một yếu tố chính của cạnh tranh Trung quốc.

=>     Nếu Trung quốc vẫn ương ngạnh giữ cứng nhắc tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ thấp để thủ lợi, thì Hoa kỳ phải dùng những biện pháp mạnh (Mesures fortes) như tăng thuế quan nhập khẩu, xử dụng những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires) hay những Biện pháp trả đũa (Mesures de représailles.

Đây là nội dung của Lá thư của các Nghị sĩ và một số Thượng nghị sĩ yêu cầu TT.Obama phải thi hành.

Ký giả Daniel DOMBEY từ Hoa Thịnh Đốn đã viết trên tờ Financial Times ngày 16.03.2010, trang 1, như sau:

“More than 100 memebers of the US Congress yesterday called on the Obama administration to label China a currency manipulator, in a move that highlighted the pressure on Washington to take a more confrontational stance towards Beijing

 (Trên 100 thành viên của Quốc Hội Hoa kỳ đã yêu cầu Chính quyền Obama phải kêu Trung quốc là người xử dụng biến hóa tiền tệ, trong một phong trào nhấn mạnh áp lực lên Washington để lấy vị trì chạm trán mạnh hơn với Bắc Kinh)

Hai Thượng nghị sĩ Chuck SCHUMER, Dân chủ New York, và Lindsey GRAHAM, Cộng hòa South Carolina, cũng lên tiếng tố cáo:

Beijing’s refusal to let its currency appreciate was damaging the US economic recovery and hurting American competitiviness”.

China’s currency manipulation would be unacceptable even in good economic times. At a time of 10 per cent of unemployment, we will simply not stand for it.”

(Việc từ chối của Bắc Kinh không để tỷ do tiền của họ tăng đã làm hại việc phục hồi Kinh tế Hoa kỳ và làm tổn hại tính cạnh tranh của Mỹ)

(Việc uốn nặn điên đảo đồng tiền Trung quốc không thể chấp nhận được ngay cả trong thời nền kinh tế yên lành. Ơû thời điểm có 10% thất nghiệp, chúng ta không thể đứng khoanh tay như vậy được.) (Financial Times 17.03.2010, p.3)

Trên đây là một số áp lực từ phía Quốc Hội và hai Thượng nghị sĩ  áp đặt lên Chính quyền Obama để mạnh mẽ đòi hỏi việc tăng tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ. Nhưng Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung quốc đã có phản ứng cứng nhắc về vấn đề tỷ giá đồng Yuan mà Trung quốc coi như chính sách bao trùm quốc gia chứ không chỉ nguyên bảng cân đối thương mại. “La Chine considère la question du taux de change relève des affaires politiques nationales, et pas de la balance commerciale.” (Trung quốc kể vấn đề tỷ giá hối đóai liên hệ đến những phạm vi chính trị quốc gia, chứ không chỉ nguyên bảng cân đối thương mại) (Le Monde 18.03.2010, p.16). Chính vì vậy mà Oân Gia Bảo đã trình bầy dài dòng đến tình trạng Kinh tế chung nguy hiểm của Trung quốc như chúng tôi đã đề cập đến ở phần trên đây.

Một số chuyên viên Thương mại đã hình dung cho Hoa kỳ một số những biện pháp như:

=>     Hoa kỳ có thể yêu cầu IMF/FMI (Qũy Tiền Tệ Quốc tế) để đưa ra những trừng phạt về tiền tệ.

=>     Hoa kỳ có thể đưa Trung quốc ra WTO/OMC (Tổ Chức Mậu Dịch Thế giới) để khiếu nại về vấn đề xử dụng tỷ giá hối đóai nâng đỡ sản xuất và thương mại.

=>     Hoa kỳ cũng có thể lấy những lý do nội tại để định thuế quan cho những hàng nhập cảng từ Trung quốc. Chúng ta đi vào những biện pháp trả đũa vậy (Mesures de représailles).
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 18.03.2010



                                         TRUNG QUỐC XUỐNG NƯỚC
                                                        VÌ LO SỢ
                                          CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI

 

                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                          UNICODE: http://viettudan.net
                                                Geneva, 11.03.2010


 
Đầu tuần này, 08.03.2010, giới Tài chánh có những ngạc nhiên và nghi ngờ về thái độ của Trung quốc trước áp lực Tiền tệ và Thương mại Quốc tế, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu. Đài RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn chúng tôi ngay chiều 08.03.2010 về thái độ này của Trung quốc. Thực vậy, trong cuộc Họp báo thứ Bẩy 06.03.2010, những lời tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, về khả năng tăng tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ (Yuan)/Đo-la không đi theo những tuyên bố cứng nhắc của Thủ tướng Oân Gia Bảo trước đó rằng Trung quốc không nhượng bộ đối với bất cứ áp lực nào từ nước ngòai về tỷ giá Yuan/Đo-la. Trong khi ấy, cũng trong cuộc Họp báo ngày hôm sau, Chúa nhật 07.03.210, Dương Khiết Trì, Ngọai trưởng Trung quốc, nhắc ra những căng thẳng hiện nay giữa Hoa kỳ và Trung quốc với những vụ như : (i) Hoa kỳ bán vũ khí cho Đài Loan mà Trung cộng vẫn coi là một Tỉnh của mình, (ii) Hoa kỳ gặp Đức Đạt Lai Lạ Ma mà Trung quốc luôn luôn coi là người khuấy động mọi nơi nhằm tách Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ Trung quốc, (iii) Trung quốc chủ trương không trừng phạt về nguyên tử đối với Iran, một nước cung cấp dầu lửa, đứng hàng thứ ba, cho Trung quốc.

Đài RFI hỏi tôi câu cuối cùng là nếu Trung quốc chỉ hứa lần hồi, có thể để đánh lừa, thì liệu có thể xẩy ra một cuộc Chiến tranh Thương mại hay không ? Hỏi bất ngờ như vậy, tôi không dám khẳng định liền.

Hôm nay, trước khi viết bài này, tôi đọc thêm một số bài mà chính tôi đã viết trước đây về thái độ sợ sệt của Trung quốc đối với việc Che Chở Mậu dịch ngay trong những lần họp Davos, trong những dịp nhóm lại G20 và nhất là kiểm điểm lại 66 biện pháp Che Chở Mậu dịch mà các nước đã đưa ra, rồi nhớ rõ lại lời báo động gần đây nhất của ông LAMY, Tổng Giám đốc WTO, rằng lượng Mậu dịch Thế giới trong năm 2009 giảm 12%, một việc tụt dốc chưa từng có kể từ 20 năm nay.

Đọc lại những phân tích về tình trạng tụt dốc Mậu dịch Thế giới, tôi hiểu rằng nếu Trung quốc vẩn ương ngạnh tính tóan lừa đảo Thế giới, thì một cuộc Chiến tranh Thương mại rất có thể xẩy ra mà Trung quốc sẽ là nạn nhân. Có thể viễn tượng Chiến tranh Thương mại này đã làm cho Trung quốc phải tuyên bố như cuối tuần vừa rồi.

Chúng tôi đề cập những khía cạnh sau đây:

=>     Những gian giảo Thương mại của TQ làm Thế giới bực mình và có biện pháp

=>     Hoa kỳ bầy tỏ công khai thái độ cứng rắn 

=>     Phân tích thái độ xuống nước của Trung quốc

=>     Trung cộng là nạn nhân của Chiến tranh Thương mại

 

Những gian giảo Thương mại của TQ
làm Thế giới bực mình và có biện pháp

Việc gian giảo trong phẩm chất hàng hóa đã làm thương hiệu MADE IN CHINA giảm xuống khiến Trung quốc phải dùng Tài chánh trợ lực để bán hàng hóa tại những nước nghèo. Những hàng độc hại sẽ mang ảnh hưởng xấu cho sức khỏe dân nghèo trong dài hạn.

Trong nội địa Trung quốc

Nhà Nước Trung quốc đã áp dụng việc khai thác nhân công từ nông thôn một cách phi nhân bản. Những nhân công du mục này bị bóc lột. Chế độ hộ khẩu đã tước đọat quyền cư ngụ của những nhân công du mục không được trở thành những người thuộc thành thị để có thể được hưởng những quyền lợi khi đến các thành thị làm việc. Kinh tế Trung quốc tập trung vào những thành thị ven biển. Những nông dân từ nội địa ra thành thị làm công nhân và bị bóc lột sức lao động, không có những quyền lợi được hưởng của người cư ngụ tại thành thị. Những hiệu quả Kinh tế/Thương mại dành cho nhóm đảng Mafia Cộng sản và những dân thành thị được ưu đãi.

Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, viết về hiệu quả Kinh tế/Thương mại Trung quốc như sau: “It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay).

Những người tiêu thụ tại những nước giầu bắt đầu ngượng ngùng và khó chịu khi tiêu thụ hững hàng này từ sự bóc lột vô nhân bản.

Tại những nước trong vùng Á châu

Ngòai việc bóc lột nhân công như trên vừa nói, Trung quốc còn xử dụng tỷ giá hối đoái thấp của đồng Yuan để làm cho hàng hóa rẻ thêm nữa nhằm tăng cường xuất cảng. Những nước nghèo Á châu cũng làm việc cho xuất cảng và sản xuất những hàng hóa tương tự như Trung quốc. Việc tràn lan những hàng hóa rẻ tiền Trung quốc sang các nước nghèo Á châu giết chết sản xuất của những nước nghèo này. Đồng thời tỷ giá thấp đối với đồng Đo-la còn làm tăng thêm cạnh tranh của hàng Trung quốc đối với những nước nghèo chung quanh khi xuất cảng hàng hóa sang Tây phương liên hệ đến thanh khỏan Đo-la. Việc Trung quốc cố thủ giữ tỷ giá hạ đồng Yuan là lý do chính đang gây bực tức tại các nước Á châu khiến những nước chính trong khối ASEAN yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010. Ngòai ra Trung quốc còn xử dụng USD.45 tỉ cho những nước nghèo Á dông để thiết lập những cơ sở phân phối hàng, thậm chí cho hối lộ để đầu cơ. Thái độ nghi ngại của ASEAN là tất nhiên. Những nước Á châu như Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Việt Nam... đã quá am tường tính cách làm ăn của người Trung quốc.

Tại những nước Phi châu

Trung quốc xử dụng USD.42 tỉ cho một số nước Phi châu. Tại vùng này, Aâu châu đã lên tiếng gọi đây là chủ trương Tân thuộc địa của Trung quốc. Những nước Phi châu đã là cựu thuộc địa của Anh, Pháp, Bồ Đào Nha... Lục địa cổ Aâu châu cần nguyên vật liệu từ Phi châu. Cách đây chừng 25 năm, Mỹ đã có nhũng đụng độ với Pháp về quyền lợi dầu lửa tại vùng Vịnh Guinée. Mỹ cũng đành phải nhượng bộ với những cựu Thực dân Pháp lâu đời ở vùng này.

Trung quốc dễ xử dụng khí giới tiền bạc để hối lộ những chính phủ để lấy nhượng địa, tài nguyên cũng như mở những đầu cầu xuất cảng hàng hóa rẻ tiền, độc hại. Tình trạng hối lộ đã bị quốc tế công kích. Thực vậy, chính trong cuộc họp báo Chúa nhật ngày 07.03.2010 tại Bắc kinh, Dương Khiết Trì (Yang Jiechi), Ngọai trưởng Trung quốc, đã phải lên tiếng chống đỡ đối với những công kích quốc tế. Ký giả Geoff DYER từ Bắc kinh viết: “Mr.Yang also rejected criticism that China’s economic ties with Africa were encouraging more corruption and hurting labour conditions. Some people are not happy to see the development of China-Africa relations“. (Oâng Dương chối bỏ lời công kích rằng sự kết nối kinh tế của Trung quốc với Phi châu đã cổ võ tham nhũng và làm thiệt hại những điều kiện lao động. Một số người không hài lòng về việc mở rộng những liên hệ Trung quốc—Phi châu) (Financial Times 08.03.2010, p.2).

Thị trường Liên Aâu và Hoa kỳ

Đây là hai Thị trường tiêu thụ chính yếu. Từ năm 2001, khi Trung quốc nhập WTO, hàng Trung quốc, nhất là hàng may mặc, hàng da dầy, đồ chơi trẻ em, thực phẩm... lan tràn hai Thị trường này.

Trước khi xẩy ra cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, Liên Aâu và Hoa kỳ, vì hy vọng bán máy móc, những thiết bị kỹ nghệ cho Trung quốc, nên có những thả lỏng. Nhưng dần dần, nhất là trong cuộc Khủng hỏang, Liên Aâu và Hoa kỳ bắt đầu thắt chặt việc nhập cảng từ Trung quốc, cụ thể là những hàng hóa sau đây:

=>     Kiểm sóat chặt chẽ và từ chối những hàng mang độc hại

=>     Liên Aâu tăng thuế nhập đối với hàng may mặc và da dầy

=>     Mỹ tăng thuế nhập lốp xe hơi

=>     Những nước Đông Aâu và một số nước vùng Địa Trung hải bị canh tranh rất thiệt hại bởi hàng Trung quốc, nhất là hàng tiểu công nghệ.

 
Hoa kỳ bầy tỏ công khai thái độ cứng rắn 

Từ thời TT.BUSH, vấn đề Trung quốc cố thủ xử dụng tỷ giá thấp của đồng Yuan làm lợi khí cạnh tranh thương mại đã được Hoa kỳ yêu cầu Trung quốc hủy bỏ.

Nếu trong chuyến viếng thăm Trung quốc của TT.OBAMA, thái độ của Hoa kỳ chỉ dừng ở lới khuyên nhẹ nhàng, thì trong những thời gian gần đây, Chính quyền Obama đã công khai bầy tỏ thái độ cứng rắn.

Các Ký giả Andrew BATSON, Terence POON, Shai OSTER, đã viết: “Mr.Obama told Democratic Senators earlier this year that he will “get much tougher” with China on trade issues, including the currency. The US Treasury in April called China a “currency manipulator” (Oâng Obama đã nói với những Thượng nghị sĩ Dân chủ, dịp đầu năm nay, rằng ông sẽ “cứng rắn thực sự” đối với Trung quốc về những vấn đề thương mại, gồm cả vấn đề tiền tệ. Bộ trưởng Ngân khố, tháng tư vừa rồi, đã gọi Trung quốc là người “mưu mẹo xử dụng tiền tệ”. (The Wall Street Journal 08.03.2010, p.10).

Thái độ cứng rắn này còn được tỏ lộ trong những quyết định sau đây:

=>     Quyết định bán khí giới trị giá USD.6 tỉ cho Đài Loan mà Trung quốc coi là việc vi phạm chủ quyền của mình. Trung quốc vẫn coi Đài Loan là một Tỉnh thuộc chủ quyền Trung quốc.

=>     TT.Obama quyết định gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma mà Trung quốc coi là người phản lọan muốn tách rời Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ Trung quốc. Hoa kỳ đã  tiếp đón người thù địch của Trung quốc. 

 =>     Đối với vấn đề nguyên tử Iran, Hoa kỳ nhất quyết đặt những trừng phạt. Những trừng phạt này động chạm đến quyền lợi dầu lửa của Trung quốc. Iran là nước quan trọng thứ ba về việc cung cấp dầu lửa cho Trung quốc.

Những sự việc trên đây cho thấy sự căng thẳng giữa hai nước Mỹ và Trung quốc. Những căng thẳng này có thể dược đàm phán dàn hòa. Nhưng điều tối quan hệ đối với Trung quốc là vấn đề làm ăn Kinh tế. Sự căng thẳng này có thể dẫn tới tình trạng Che chở Mậu dịch gay gắt mà Trung quốc đã ngại sợ từ lâu: từ những cuộc họp Davos, từ những nhóm lại của G20 mà Trung quốc luôn luôn kêu gọi tự do mậu dịch. Che Chở Kinh tế/Thương mại đã trở thành như con ma ám ảnh trong đầu óc của Trung quốc. 

Ban Biên Tập Nhật Báo New York Times ngày 13 tháng 12 năm 2010 đã phác họa cái viễn tượng con ma Che Chở Kinh tế/ Thương mại đang rình rập mà nếu Trung quốc cứ ngoan cố, nó sẽ hiện ra (http://www.nytimes. com/2010/ 01/12/opinion/ 12tue1.html):

“Nền kinh tế của Trung Quốc có kết quả trong vòng 20 năm qua bằng cách mở cửa cho đầu tư từ nước ngoài và kềm giá đồng Quan (so với đồng Mỹ kim), họ đã phát triển nhờ vào sức tiêu thụ của các nước phát  triển.

Nhưng đồng thời chính sách này đã mang đến nhiều yếu kém cho nền kinh tế toàn cầu. Nếu Bắc Kinh tiếp tục đường lối nói trên thì nhiều nước sẽ phải dùng đến biện pháp duy nhất là bảo hộ mậu dịch nhằm ngăn chận hàng hoá giá rẻ giả tạo từ Trung Quốc. Cuộc chiến mậu dịch một khi xảy ra rất khó kiểm soát, sẽ ảnh hưởng đến xuất cảng của mọi quốc gia và chận đứng phát triển nơi nơi.

Hàng hoá Trung Quốc đổ ào ạt ra thế giới đã đè bẹp các nhà sản xuất tại các nước đang phát triển. Việc này nếu đã tệ hại  khi nền kinh tế thế giới còn phồn thịnh thì lại càng nguy hiểm hơn trong giai đoạn suy thoái hiện tại. Trong nhiều quốc gia các gói kích cầu đã không đạt được tác dụng vì tiền của chính phủ đầu tư rơi một phần nhằm mua đồ giá rẻ từ Trung Quốc nên không tạo công tạo được công ăn việc làm trong nước.

Sau khi thả nổi đồng Yuan tăng giá dần trong vòng ba năm, Bắc Kinh từ mùa hè năm 2008 đã siết đồng Nhân Dân Tuệ theo giá trị Mỹ Kim và trụt xuống so với Euro và tiền Yen, tạo áp lực nặng nề đến Âu Châu và Nhật Bản.

Chính sách “làm nghèo các nước lân bang” của Bắc Kinh khiến nền kinh tế thế giới khó phục hồi. Khi các gói kích cầu chấm dứt thì các nước sẽ phải dựa vào xuất cảng để phát triễn trong hoàn cảnh dân chúng trong nước cắt giảm chi tiêu, nhưng xuất cảng sẽ khó hơn nếu hàng hoá Trung Quốc tiếp tục đổ ồ ạt với giá rẻ mạt. Cán cân mậu dịch nghiên về Trung Quốc rõ rệt từ tháng 12-2009 sau khi sút giảm trong vòng 1 năm, và dự đoán sẽ nhảy vọt trong năm 2010.

Bắc Kinh có thể chọn lựa các chính sách lành mạnh hơn, chẳng hạn như dùng trử lượng ngoại tệ khổng lồ vào các chương trình xã hội: bảo hiểm sức khoẻ, giáo dục và lương bổng hưu trí nhằm nâng cao đời sống dân chúng.

Bắc Kinh chắc hẳn sẽ phải đối phó với biện pháp giới hạn mậu dịch nếu tiếp tục kềm giá đồng Quan. Chính quyền Obama đã phải nhượng bộ áp lực trong nước và tăng thuế lên vỏ xe hơi và ống sắt nhập cảng từ Trung Quốc. Quốc Hội Mỹ giờ này vẫn im lặng nhưng ngườì ta có thể cảm nhận tâm lý trả đủa tăng dần mọi nơi.

Ấn Độ đã nộp một chồng hồ sơ tố cáo các vi phạm mậu dịch tự do của Trung Quốc. Diễn Đàn Hợp Tác Mậu Dịch Á Châu – Thái Bình Dương mới đây kêu gọi “thả nổi giá biểu tiền tệ theo thị trường”, ý muốn ám chỉ chính sách siết giá đồng Yuan của Bắc Kinh.

Một trận chiến mậu dịch với Trung Quốc sẽ tác hại không lường và ảnh hưởng lan rộng toàn cầu. Tự chế là cần thiết, nhưng chúng tôi (Ban Biên Tập Báo New York Times) e rằng không ai có thể chờ đợi lâu hơn nữa vào Bắc Kinh thay đổi chính sách của họ“.

Ngày 14.01.2010, dưới đầu đề GIAN GIẢO KINH TẾ/THƯƠNG MAI TQ LÀM THẾ GIỚI BỰC TỨC VÀ CÓ BIỆN PHÁP, sau khi liệt kê ra những tính tóan gian trá Kinh tế/Thương mại, chúng tôi đã viết đọan kết luận như sau:

Tại cuộc Họp tại Luân Đôn của G20 đầu tháng tư 2009, vấn đề cấp bách cho G20 là Che Chở Kinh tế (Protectionism).

Chính những quốc gia thuộc G20 đã tự động lấy những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes). Tổng cộng đã đếm được 66 Biện Pháp. Đó là lời la hỏang của Oâng ZOELLICK, Chủ tịch  Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), của Oâng STRAUSS, Tổng Giám đốc Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF/FMI), của Ong LAMY, Tổng Giám đốc Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC).

Con Ma CHE CHỞ KINH TẾ (Spectre Protectionnisme/Spectre Protectionism) hiện ra nguyên hình, chứ không phải là bóng ma chập chờn. Đó là vấn đề mà G20 phải giải quyết thực sự. Nhưng vấn đề này không thể giải quyết được.

Những nước đến cuộc Họp thượng đỉnh sẽ cao giọng nêu ý chí triệt hạ Protectionism, nhưng thực tế mỗi nước đã tự động lấy những Biện Pháp Che Chở Kinh tế rồi. Vì vậy, về vấn đề này, những thành viên đến họp G20 chỉ nói xạo. Miệng nói lớn tiếng là Tự do Mậu Dịch, nhưng lại âm thầm làm Che Chở Kinh tế.

Khi ông LAMY, Tổng Giám đốc WTO báo cho Thế giới biết là Lượng Mậu dịch Thế giới giảm 12%, chưa từng có từ 20 năm nay, thì lời cảnh cáo này chắc chắn phải làm cho Trung quốc sợ hãi.

Là người Việt Nam, chúng ta dễ hiểu cái lo sợ nhất của Trung quốc. Đó là miếng ăn. Người Trung quốc gặp nhau, họ chào nhau là “Nị ăn cơm chưa ? “ chứ không nói là “Nị có khỏe không ?“. Họ lo lắng miếng ăn trước tiên. Đụng đến thiệt hại miếng ăn họ mới sợ, chứ còn mắng chửi họ, họ cũng chỉ cười hề hề cho qua chuyện.
 

Phân tích thái độ xuống nước của Trung quốc

Khi trả lời câu hỏi đầu tiên của Đài RFI về tại sao lúc này, qua những cuộc Họp báo cuối tuần vừa rồi, Trung cộng tỏ ra xuống nước về tỷ giá giữa đồng Nhân Dân Tệ và Đo-la, tôi trả lời liền rằng với thái độ công khai tỏ ra cứng rắn của Hoa kỳ, Trung cộng sợ nó biến thành những quyết định Che Chở Mậu dịch dứt khóat, hay một tình trạng Chiến Tranh Thương Mại bắt đầu từ Quan thuế, rồi những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires), đến những Biện pháp trả thù (Mesures de Représailles).       

Thực vậy, trước những cuộc Họp báo cuối tuần vừa rồi, người ta vẫn nhớ những lời tuyên bố ngạo mạn, đầy khinh miệt các nước khác thóat từ miệng Thủ tướng Oân Gia Bảo khi những nước khác muốn áp lực để Trung quốc tăng tỷ giá đồng Yuan: “We will not yield to any pressure... forcing us to appreciate (Yuan)” (Chúng tôi sẽ không nhượng bộ đối với mọi áp lực nào... buộc chúng tôi phải tăng tỷ giá (Nhân Dân Tệ) (Financial Times 08.03.2010, p.2).

Nhưng thứ Sáu 05.03.2010, chính Thủ tướng Oân Gia Bảo sửa lại thái độ cứng nhắc, ngạo mạn trên đây. Ký giả Andrew BATSON viết: “On Friday, Premier Wen Jiabao reaffirmed that China will continue to keep the Yuan “basically stable””. (Ngày thứ Sáu, Thủ tướng Oân Gia Bảo tái khẳng định rằng Trung quốc sẽ tiếp tục giữ đồng Yuan “ổn định một cách căn bản”.  Nhưng thế nào là “ổn định một cách căn bản”?  Đây là câu nói trống, nhưng dầu sao cũng để cho thấy khả năng thay đổi khi mà những quyền lực liên hệ đến đồng Yuan quyết định việc thay đổi như thế nào.

Thái độ của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc cũng đã thay đổi đối với đồng Đo-la. Chính ông đại diện Trung quốc, lớn tiếng kêu gọi Thế giới hãy truất ngôi Đo-la và thay thế vào đó bằng một Đơn vị Tiền tệ khác. Ngày 23.03.2009, Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã cho đăng lên mạng www.pbc.gov.cn lời tuyên bố như sau (theo bản dịch của Nhật báo LE MONDE ngày 10.11.2009, p.3) :

”L’objectif adéquat est donc de créer une monnaie de réserve internationale qui soit déconnectée de nation individuelle et se montre capable de rester stable sur le long terme. Comparée à la gestion séparée des réserves par chaque pays, la gestion centralisée d’une partie des réserves globales par une institution internationale de référence sera bien plus efficace pour contrer la spéculation et stabiliser les marchés financiers.” (Mục đích phù hợp là tạo ra một đồng Tiền dự trữ quốc tế tách rời ra khỏi một quốc gia riêng lẻ và có khả năng đứng bền vững trong trường kỳ. So sánh với việc quản trị riêng lẻ những dự trữ của từng quốc gia, việc quản trị tập trung những dự trữ tổng quát bởi một Tổ chức Quốc tế làm quy chiếu sẽ hữu hiệu hơn nhiều để chống lại đầu cơ và tạo bền vững cho những Thị trường Tài chánh).

Nhưng thái độ của Chu Tiểu Xuyên đã thay đổi kể từ cuộc Phát biểu ngày thứ Bẩy 06.03.2010. Đồng Yuan vẫn bám chặt lấy đồng Đo-la va có thể trở lại trạng thái thay đổi tỷ giá bình thường theo chuyển biến của Đo-la. Bản tin của Reuters đáng đi từ Bắc Kinh ngày 08.03.2010, tóm tắt như sau (Bản dịch Pháp ngữ của Gwénaelle BARZIC):

“Lors de la session annuelle de l’Assemblée nationale populaire (Parlement), le gouverneur de la Banque populaire de Chine Zhou Xiaochuan a déclaré que Pékin serait un jour ou l’autre contraint d’abandonner cette politique “spéciale” du yuan, qui fait partie des diverses mesures prises par les autorités pour limiter l’impact de la crise. L’expérience a montré que ces politiques ont été positives, en contribuant à la fois au resdressement de notre économie et de l’économie mondiale. Les problèmes concernant le retrait de ces politiques apparaitront tôt ou tard. Si nous devons retirer ces politiques inhabituelles et revenir à des politiques économiques ordinaires, nous devons être extrêmement prudents dans le choix du calendrier. Cela inclut également la politique de taux de change du renminbi.” (Nhân dịp họp hàng năm của Quốc Hội Nhân dân, Thống dốc Ngân Hàng nhân dân Trung quốc Chu Tiểu Xuyên đã tuyên bố rằng Bắc Kinh, một ngày nào đó, buộc phải bỏ chính sách “đặc biệt” của đồng Yuan, chính sách làm thành phần của những biện pháp quyết định bởi Nhà Nước nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của khủng hỏang. Kinh nghiệm cho thấy rằng những chính sách này là tích cực, đóng góp vào việc khôi phục nền kinh tế của chúng ta và nền kinh tế của thế giới. Những vấn đề liên quan đến việc rút lại những chính sách này sớm muộn sẽ đến. Nếu chúng ta phải rút lại những chính sách bất thường này, chúng ta phải hết sức thận trọng trong việc lựa chọn lịch trình. Điều này cũng bao gồm cả chính sách tỷ giá của đồng nhân dân tệ.)

Qua những lời tuyên bố này, những quan sát viên tài chánh/thương mại quốc tế thấy Chu Tiểu Xuyên tìm cách chữa nhẹ đi những chủ trương gian giảo của Trung quốc, như:

*        Oâng nói rằng đây là những chính sách “đặc biệt” được quyết định để chống khủng hỏang. Thực ra đây là những chính sách thường xuyên, nhất là chính sách giữ tỷ giá đồng Yuan thấp, nhằm cạnh tranh xuất cảng đã được áp dụng từ lâu, chứ không phải chỉ đặc biệt trong thời khủng hỏang.

*        Oâng cũng cố tình nói rằng những chính sách này không những có lợi cho kinh tế Trung quốc mà cho cả kinh tế thế giới nữa. Thực ra đây là những chính sách không những hòan tòan có lợi cho Trung quốc, mà còn nhằm giết những kinh tế các nước khác nữa.

Những lời tuyên bố sẽ rút lại những chính sách “đặc biệt” và bất thường để trở lại những nguyên tắc kinh tế bình thường chỉ là muốn tung ra một hy vọng, nhưng người ta không biết việc rút lại những chính sách ấy ở thời điểm nào.

Đặc biệt chính sách tiền tệ, người ta không biết sẽ tăng tỷ giá đồng Yuan khi nào và tăng bao nhiêu.

Trước những áp lực cấp bách của Thế giới, Trung quốc chỉ tung ra lời hứa như một hy vọng trống trải bởi vì không cho biết tầm mức quan trọng thay đổi như thế nào và bao giờ mới thay đổi.

Ngòai ra, đây chỉ là những lời tuyên bố của Thống đốc Ngân Hàng, còn việc quyết định thay đổi chính sách phải tùy thuộc Chính phủ, tùy thuộc những Bộ liên hệ mà chính yếu là Bộ Thương Mại. Thực vậy ông Chen Deming, Bộ trưởng Thương mại đã cho biết rằng để có thể lấy lại mức xuất cảng như trước cuộc Khủng hỏang, cần tối thiểu 3 năm nữa. Như vậy việc bỏ tỷ giá đồng Yuan thấp thiết cần để nâng đỡ xuất cảng, chưa có thể xẩy ra trong tương lai gần được.

Thế giới, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu, không thể chỉ vì một hy vọng thay đổi trống trải, không định thời điểm, không cho thấy tầm vóc, mà cứ ngồi đợi Trung quốc, hứng chịu những hậu quả thiệt thòi về thương mai hay sao.

Người ta cũng có thể hiểu rằng những tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên chỉ vì sự đe dọa Che Chở Kinh tế/Thương mại mà phải nói ra để làm giảm sự căng thẳng mậu dịch quốc tế, nhất là trước thái độ công khai cứng rắn của Hoa kỳ và Liên Aâu. 
 

Trung cộng là nạn nhân
của Chiến tranh Thương mại

Obama có thể nói “Buy America” mà không ngại sợ. Nhưng Hồ Cẩm Đào không dám nói ra câu “Buy China” vì ông luôn luôn sợ hãi Con Ma Che Chở Kinh tế/ Thương mại. Nếu những lời tuyên bố thay đổi trên đây của Trung quốc chỉ là một mưu kế làm giảm căng thẳng để rồi Trung quốc vẫn tiếp tục những chính sách thương mại thủ lợi cho mình, đồng thời làm hại cho những nước khác, thì liệu Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước thuộc vùng Kinh tế Thái Bình Dương có ngồi yên hay phải tuyên bố những biện pháp Che Chơ Kinh tế/Thương mại. Dù ý chí của Trung quốc có thành thực thay đổi đi nữa, thì một số nhà Tài chánh nhận thấy rằng Trung quốc rất khó lòng đưa ra một lịch trình tăng tỷ giá đồng Yuan của mình vì hai lý do chính yếu sau đây:

*        Kinh tế Trung quốc dồn tòan lực vào xuất cảng. Việc tăng tỷ giá đồng Yuan ảnh hưởng trực tiếp đến tụt dốc xuất cảng, nhất là ở thời kỳ mà Hoa kỷ cũng như Liên Aâu giảm nhập cảng.

*        Lý do thứ hai thuộc phạm vi tài chánh. Một lịch trình tăng tỷ giá đồng Yuan sẽ làm cho vốn nước ngòai ào vào Trung quốc để thu lợi do việc tăng tỷ giá đồng Yuan. Sự chênh lệch tỷ giá giữa hai thời điểm đủ cho vốn lưu động đầu tư nước ngòai ào vào để chia lợi do chênh lệch tỷ giá đồng tiền. Việc vốn nước ngòai ào vào này còn tạo ra tình trạng lạm phát mà Trung quốc rất sợ hãi.

Như vậy việc tăng tỷ giá đồng Yuan có tính cách khó khăn khách quan đứng về mặt tài chánh. Nếu vẫn khư khư giữ tỷ giá thấp, thì cái nguy hiểm là tạo một tình trạng căng thẳng quốc tế dẫn đến Che Chở Kinh tế/Thương mại. Còn nếu quyết định thực sự tăng tỷ giá, tạo hướng tăng đồng Yuan, thì vốn đầu cơ nước ngòai dồn vào để chia phần chênh lệch tỷ giá.

Dầu sao Con Ma Che Chở Kinh tế/Thương mại đã hiện ra và Oâng LAMY, Tổng Giám đốc WTO đã công bố việc tụt dốc 12% về lương mậu dịch thế giới như chúng tôi đã trình bầy trên đây. Tình trạng căng thẳng hiện nay giữa Trung quốc và Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước thuộc Khối Thái Bình Dương có thể đưa đến những Biện pháp khắt khe không giá biểu (Mesures non-tarifaires) và những Biện pháp trả đũa thương mại (Mesures de Représailles commerciales bilatérales).  Đây là tình trạng Chiến tranh Thương mại. Khi mà biên giới quan thuế đóng lại, thì nạn nhân của cuộc Chiến tranh này là Trung quốc bởi lẽ Dân chúng Trung quốc thiếu Khả năng Tiêu thụ, không đủ khả năng mua tất cả những hàng hóa do chính Trung quốc sản xuất ra. Nên lưu ý rằng Khả năng tiêu thụ của 1’300 triệu dân Trung quốc chỉ tương đương với 16% số Tiêu thụ của 300 triệu dân Mỹ.

Không có tiêu thụ, thì sản xuất chết !
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 11.03.2010





                                       TỪ LẠM PHÁT, TIỀN MẤT GIÁ
                                          ĐẾN DÂN NGHÈO NỔI DẬY

 
                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                        UNICODE: http://viettudan.net
                                               Geneva, 04.03.2009

 

Tuần trước, chúng tôi viết bài về phá giá đồng bạc Việt Nam theo tỷ giá đối với Đo-la liên quan đến tình trạng thiếu ngọai tệ của Nhà Nước CSVN. Việc tuyên bố phá giá nội tệ ngày 11.02.2010 do Ngân Hàng Nhà Nước quyết định và có thể liên tiếp những quyết định phá giá nữa là do chính những nhà Kinh tế, Tài chánh trong nước phân tích chứ không phải chúng tôi từ Hải ngọai nhận định để CSVN chống chữa với Dân rằng đó là do tuyên truyền chống Cơ Chế hiện hành bởi “thế lực thù địch” ngọai lai. Chúng tôi dựa trên tình trạng mỗi ngày nhóm Mafia CSVN càng thiếu hụt ngọai tệ để nội tệ mỗi ngày mỗi mất giá trị, nghĩa là phá giá liên tiếp.

Phá giá đồng nội tệ đi song hành với tình trạng LẠM PHÁT tăng nhanh ở Việt Nam. Viết về tình trạng tăng nhanh lạm phát, chúng tôi cũng trích dẫn chính những phân tích và nhận định của những nhà Kinh doanh, những Ngân Hàng gia, những Giáo sư Kinh tế/Tài chánh từ Quốc nội để đám Mafia CSVN không chống chế, lừa gạt được Dân chúng bằng cách cố hữu nói trên báo đài độc chiều rằng đó là do “thế lực thù địch” hải ngọai vu khống.

Tình trạng lốc xóay phá giá nội tệ và lốc xóay lạm phát, vật giá nhẩy vọt sẽ làm cho đại đa số dân nghèo, cho những nông dân, ngư dân, công nhân và công chức có thu nhập không thay đổi trở thành thiếu thốn chi tiêu, thậm chí đói ăn. Chịu đựng không nổi cảnh đã nghèo khổ lại phải đói ăn thêm vì lốc xóay phá giá nội tệ và lạm phát, vật giá tăng vọt, đại đa số Dân chúng sẽ nổi dậy chấm dứt đám Mafia CSVN cướp bóc dân và bán nước.

Chúng tôi viết những điểm sau đây:

=>     Nhận định từ Quốc nội về tình trạng Lạm phát

=>     Phân tích những lý do chính của Lạm phát

=>     Không chịu nổi hậu quả Lạm phát, Dân chúng nghèo đói nổi dậy

 

Nhận định từ Quốc nội về
tình trạng Lạm phát

Một số Phóng viên, Ký giả đã phỏng vấn những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế/Tài chánh tại quốc nội về tình trạng Lạm phát hiện này.

Bài đăng trên Vietnamnet do Phước Hà thực hiện
Cập nhật lúc 18:37, Thứ Năm, 28/02/2008 (GMT+7)

Chỉ số tăng giá tiêu dùng hai tháng đầu năm lên đến 6,02%, đã đi được 2/3 so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra, trong khi vẫn còn 10 tháng ở phía trước. Các chuyên gia kinh tế tỏ ra không có nhiều bất ngờ và cho rằng cần có các giải pháp đồng bộ hơn để chặn đứng lạm phát.

=>     Ông Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam:

Tốc độ tăng giá 2 tháng đầu năm lên tới 6,02% là quá cao. Đặc biệt, có những nguyên nhân chủ quan, trong đó có một nguyên nhân chính là ngân hàng đã bỏ lượng tiền lớn ra mua USD chưa thu về hết được, đầu tư nhưng hiệu quả còn thấp, ngân sách bội chi tăng lên. 

=>     Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính:

Con số 6,02% tăng cao quá. Nhìn cả một quá trình, đây là tăng cao nhất trong hơn 10 năm lại đây. Đây là một cảnh báo đối với nền kinh tế. Những tháng tới, nếu có tăng 0,5% thôi như dự báo tháng 3 của Tổ điều hành thị trường, thì cả năm cũng không thể thực hiện nghị quyết Quốc hội đề ra.

Biện pháp tiền tệ đã được thực hiện. Giá cả đang lao nhanh như thế thì những biện pháp ra chỉ có tính ngăn chặn thôi. Trong kiềm chế lạm phát, giải pháp tài chính tiền tệ có ý nghĩa quan trọng, trong đó giải pháp tiền tệ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Lạm pháp do tiền tệ !

Các ngân hàng thương mại hiện dư nợ quá lớn nên buộc phải huy động vốn, đua nhau tăng lãi suất để hút vốn về khiến cho thị trường những ngày gần đây hỗn loạn. Khi tăng lãi suất huy động lên thì cũng có tác dụng phụ là cho vay cao dẫn đến ảnh hưởng tăng trưởng. Lãi suất cao thì chi phí cao, giá thành cao thì cũng tác động đến lạm pháp. 

Các ngân hàng đưa lãi suất lên cao, trong khi hoạt động của ngân hàng nước ta nguồn thu chủ yếu từ chênh lệch vay và cho vay chiếm đến 70% làm cho chi phí các ngân hàng tăng lên, năng lực tài chính yếu đi năng lực cạnh tranh giảm. Ngân hàng Nhà nước Phát hành tín phiếu với 20.300 tỷ đồng với lãi suất 7,8%, mỗi tháng lo trả 100 tỷ đồng lãi và đồng thời tăng dự trữ bắt buộc cũng phải trả thêm 100 tỷ nữa. Giải pháp tiền tệ như con dao hai lưỡi.

Chính sách tài chính  phải xem lại để làm sao chi đầu tư phải hiệu quả, chi thường xuyên phải tiết kiệm, cái nào cần phải giảm, cái nào phải bỏ. Đầu tư phải hiệu quả, mua sắm tài sản công phải tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí... Chi tiêu công phải siết chặt lại, chống lãng phí, tiết kiệm tiêu dùng, tiết kiệm sản xuất - hạ giá thành sản phẩm, đầu tư hiệu quả.

=>     Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

Việc chống lạm phát năm 2008 này phải được đặt lên ưu tiên hàng đầu, hơn cả mục tiêu tăng trưởng. Vì suốt bốn năm liền lạm phát cao, cộng lại đã lên tới 40%. Điều này đồng nghĩa với việc đồng tiền mất giá, đội giá thành sản phẩm lên cao, tăng thêm dự án treo, còn đời sống người dân bị ảnh hưởng nặng.

Như vậy, về phương diện đối nội, phân phối nguồn lực đã bị lệch và tác động đến đời sống.

Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình. Nếu môi trường VN vẫn bất ổn, lòng tin của nhà đầu tư sẽ giảm đi, ảnh hưởng đến cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư bỏ đi cũng sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn.

Lạm phát ảnh hưởng cũng sẽ làm cho sức cạnh tranh trong nước giảm đáng kể.

NHNN cũng đã vừa sử dụng kết hợp cả hai loại biện pháp dài hạn và tức thì. Biện pháp hành chính như bán 20.300 tín phiếu.

 

Ngay sau đó NHNN lại bơm ra 39.000 tỷ đồng. Điều này khiến sự vận động của dòng tiền thành bất thường, gây hiệu ứng tiêu cực.


Bài trên RFA do Mặc Lâm thực hiện
2010-03-01

Ngân Hàng Phát Triển Châu Á vừa đưa ra thông báo tỏ ý lo ngại cho việc lạm phát tiếp theo sau suy thoái kinh tế của nhiều nước khu vực Đông Nam Á.

Việt Nam là một trong các nước được đánh giá là sẽ có tình trạng lạm phát có thể lên tới hai con số trong năm nay.

=>     GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, chia sẻ them về vấn đề này:

Ngân Hàng Nhà Nước quyết định tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng USD và tiền đồng VN tăng thêm 603 đồng tương đương với 3,3%. Tôi cho rằng việc này cũng coi như một sự phá giá của đồng VN, tức là cái tình trạng nhập siêu của Việt Nam ngày nay lại càng gia tăng. Mà hiện nay, nếu theo tỷ giá này thì nó càng gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu, điều đó là điều hiển nhiên rồi.

Tôi cho rằng điều này cũng không thể nào khác được bởi vì trong tình trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay, tất cả các mặt hàng nhập ngoại đều khan hiếm cả, quỹ ngoại tệ trong nước thì cũng không có nhiều, thế thì bây giờ đành phải theo chiều hướng như đã biết.

Theo tôi thì con đường mà hiện nay Việt Nam có thể làm được là vẫn tăng tỷ giá lên để có thể găm được một ít ngoại tệ ở trong nước, và có thể có một điều kiện là làm thế nào đó cho tình trạng ngoại tệ bớt đi ra nước ngoài hơn để tăng ngoại tệ.

Chứ bây giờ mà trả nợ cho nước ngoài thì như anh biết đấy, tức là cái thực lực về tiền tệ của dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện nay cũng không phải là nhiều mà còn dùng cho nhiều mục tiêu, do đó mà việc tăng vốn ngoại tệ trong nước để mà trả nợ nước ngoài thì rất hạn chế.

Theo các chuyên gia kinh tế nhận định thì rất nhiều công trình có đầu tư lớn của nhà nước đang còn dở dang và những công trình này không thể ngừng lại được. Để giải quyết chúng nhà nước phải chấp nhận bỏ thêm một số tiền rất lớn trong ngân sách. Tôi nghĩ là bây giờ tình trạng lạm phát thì ai cũng đã nhìn thấy rõ mà cái này thì các nhà khoa học và kinh tế cũng đã cảnh báo cho chính phủ, không phải là từ bây giờ mà từ năm ngoái rồi. Đương nhiên là về tình trạng của nền kinh tế thì những khoản chi bất đắc dĩ thì nhà nước vẫn phải chi thôi.

Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ. Cái thứ hai nữa là có thể trong thời gian tới nhà nước cũng có thể phải phát hành thêm trái phiếu, có thể là công trái trong đợt tới để giảm bớt số tiền trong lưu thông. Tôi nghĩ là hai nguồn đó ở trong nước thì trong tầm tay, thế còn bây giờ như anh biết đấy, tức là các nguồn ODA hoặc FDI vào thì nhiều khi nó được sử dụng không hiệu quả lắm, mà chủ yếu là dành cho các khoản chi công nghiệp chế biến.

Còn các công nghiệp khác ở trong nước thì ODA và FDI rất là ít cho nên chúng tôi cũng chưa biết là chính phủ sẽ làm như thế nào, nhưng mà chúng tôi cũng có khuyến cáo là chính phủ nên xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi của chính phủ, không dàn trải, phải nâng cao hiệu quả. Đồng thời phải suy nghĩ đến việc phát hành công trái phiếu trong đợt tới.

Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ.

Mới đây Ngân Hàng Phát Triển Châu Á vừa đưa ra nhận định là trong năm nay Việt Nam sẽ phải đối phó với lạm phát lên đến hai con số. Tôi nghĩ là lạm phát hiện nay nó đúng trong thực tại mà chưa thống kê hết thôi, chứ còn nếu thống kê hết thì nó có thể đến 2 con số trong hiện nay rồi, bởi vì bắt đầu từ đầu tháng 3 giá điện tăng. Trước đó thì chúng ta thấy giá dầu tăng liên tục, từ đầu năm tới giờ mới được 2 tháng mà tăng 2 lần. Thế thì tình trạng lạm phát lên đến 2 con số thì tôi cho là hiện thực và nó cũng đúng tầm, đúng với điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay.

 
Phân tích những lý do chính của Lạm phát

Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, phát biểu một câu làm chúng tôi lưu ý đặc biệt: “Suốt bốn năm liền lạm phát cao, cộng lại đã lên tới 40%. Điều này đồng nghĩa với việc đồng tiền mất giá. Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình.“

Từ câu nói, chúng tôi rút ra ba điểm sau đây:

*        Lạm phát có nghĩa là đồng tiền mất giá;

*        Trong 4 năm, đồng tiền VN mất giá 40%;

*        Việt Nam khác với những nước trong khu vực về Cơ Chế Chính trị-Kinh tế

Phân tích của chúng tôi dựa trên ba điểm trên đây với trích dẫn từ những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế/Tài chánh của chính Cơ Chế CSVN.

Lạm phát có nghĩa là đồng tiền mất giá

Tuần trước, chúng tôi đã viết một bài dài có tính cách giáo khoa “TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ”. Trong bài này, chúng tôi đã định nghĩa rằng đồng Tiền chỉ là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises).

Trong Chế độ BẢN VỊ KHẢ NĂNG MUA HÀNG (Régime du Pouvoir d’Achat), cái GIÁ TRỊ của một đơn vị Tiền bạc mà một người đang cầm là TƯƠNG ĐƯƠNG HÀNG HÓA HAY DỊCH VỤ mà người đó nhận được khi chuyển đồng tiền sang tay người khác. Nếu 100 Đồng VN năm 2008 mua được hai hột vịt lộn, nhưng năm 2009 chỉ được 1 hột vịt lộn, thì ta nói rằng Vật giá hay Lạm phát tăng 50%, có nghĩa Đồng Tiền VN mất giá 50%.

Lý thuyết đơn giản về chuyển biến tương quan giữa đồng tiền và tương đương hàng hàng hóa được tóm tắt trong Công thức của FISHER:

M.V
------   =   P
  T

M : Khối lượng tiền cho vào Kinh tế; V: Tốc độ chạy nhanh chậm của đồng tiền; T: Tổng cộng Hàng hóa và Dịch vụ trong một hạn kỳ nhất định; P: Khả năng chuyên chở của đồng tiền tương đương Hàng hóa, Dịch vụ.

Công thức ấy tóm tắt cho chúng ta hai lý do chính của việc mất giá của đồng tiền hay thay đổi tương đương Hàng hóa, Dịch vụ mà người ta gọi là Lạm phát hay Vật giá tăng.

Lý do thứ nhất đến từ Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng hay giảm. Lý do do này thuộc lãnh vực Tiền bạc.

Lý do thứ hai đến từ việc sản xuất Kinh tế thực (T) giảm hay tăng, có hiệu lực hay không.

Khi Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng mà sản xuất Kinh tế thực (T) đứng yên, thì có Lạm phát. Lạm phát còn mạnh hơn nữa khi nền sản xuất Kinh tế còn giảm xuống. Khi Khối Tiền lưu hành (M.V) đứng yên, mà nền sản xuất Kinh tế thực (T) giảm, chúng ta cũng có lạm phát.

Chính sự tương đương Hàng hóa, Dịch vụ này mà các Lý thuyết gia về Tiền tệ nói đến tính cách Hội nhập Tiền tệ vào Lãnh vực Kinh tế thực. Với quan điểm Hội nhập Tiền tệ này mà người ta phân biệt Đồng Tiền thực và Đồng Tiền giả. Đồng Tiền mới được Ngân Hàng Trung Ương in ra chỉ là một tờ giấy không hơn không kém, chưa có Giá trị. Đồng Tiền đã Hội nhập, nghĩa là qua chu trình sản xuất Kinh tế thực, mới có Giá trị. Không phải Đồng Tiền mới in ra, thả vào xã hội mà không qua chu trình sản xuất Kinh tế thực, tự nhiên có Giá trị như Đồng Tiền thực đã được Hội nhập mà người Dân đang giữ trong tay. Việc in Tiền mới thả bừa vào Xã hội để đánh lận con đen giữa hai Đồng Tiền thực (đã Hội nhập) và Đồng Tiền giả (mới in ra chưa Hội nhập) là hành động ăn cướp của quyền lực Chính trị và quyền lực Tiền bạc đối với Dân.

Vào những thập niên 1980, việc đánh lận con đen này đã làm Lạm phát tới hàng 1000% tại một số nước Phi châu và Nam Mỹ. Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết về những trường hợp gian lận này:

“L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy).

Với hai lý do chính có tính các giáo khoa thuộc lãnh vực Tiền Tệ và lãnh vực sản xuất Kinh tế thực, chúng tôi phân tích cho trường hợp Lạm phát tại Việt Nam cùng với những xác nhận trong phần trên từ những Giáo sư, Cố vấn Khinh tế/Tài chánh thuộc Cơ Chế CSVN.

Trong 4 năm, đồng tiền VN mất giá 40%

Theo Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, trong 4 năm, đồng Tiền VN mất giá 40%. Điều này có nghĩa là việc mất giá của đồng tiền VN không phải là có tính cách nhất thời, giai đọan với những lý do bất thường mà Nhà Nước CSVN thường nêu ra để cắt nghĩa cho dân chúng để chữa lỗi. Lý do mất giá đồng Tiền Việt Nam mang tính cách thường xuyên và trường kỳ.

Dưới chủ trương Kinh tế tập quyền chỉ huy, chúng tôi không nói đến làm gì vì nền Kinh tế này thất bại hòan tòan. Nhưng hãy kể từ 10 năm nay, từ thời đổi mới, mở cửa và tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, thì đồng Tiền VN có thể nói là mất giá 100%, nghĩa là lạm phát, vật giá tăng 100%.

=>     Lãnh vực Vốn, Tiền tệ (M.V)

Những Công ty, Tổng Công ty Nhà Nước làm việc với vốn, Tiền của quốc gia. Vốn, Tiền của quốc gia được thả lỏng cho những Công ty Nhà Nước. Những dự án thi nhau trình lên Nhà Nước để lấy vốn. Có ba lọai dự án chính:

*        Những dự án thuộc ngành nghiệp chuyên môn

*        Những dự án thuộc hệ thống Bộ

*        Những dự án thuộc vùng, mỗi Tỉnh

Thời kỳ đầu của đổi mới, mở cửa, những dự án của những Công ty quốc doanh được coi như việc thưởng công chiến tranh. Dần dần sau này, những dự án dễ dàng được cấp vốn thường là do những con ông cháu cha có quyền trong đảng.

Việc cấp vốn là theo tiêu chuẩn liên hệ quyền hành trong đảng, chứ không tất nhiên theo tieo tiêu chuẩn cần thiết và hiệu quả Kinh tế. Ví tính cách liên hệ quyền lực trong đảng, nên việc kiểm sóat xử dụng vốn cũng không thể xiết chặt giữa các quyền lực trong đảng được bởi lẽ cùng ăn bẩn như nhau thì bỏ qua những bẩn thỉu của nhau. Những chủ dự án nếu làm ăn không thành công hay thua lỗ, thì đã có vốn nhà nước cấp phát thêm.

Đối với mỗi dự án từ vốn nhà nước, trước hết chủ dự án phải nghĩ đến cắt xén cho túi riêng mình. Sau đó việc chi tiêu trong Công ty hay Tổng Công ty cũng không được người Trách nhiệm kiểm sóat chặt chẽ bởi lẽ nếu người Trách nhiệm khắt khe kiểm sóat, thì những người dưới kiểm sóat ngược lại khắt khe với mình. Đây là cả hệ thống lãng phí vốn quốc gia.

@      Chúng tôi xin trích bài viết của Bloger Người Buôn Gió :

“Phát triển kinh tế hay tư duy nhiệm kỳ?
Người Buôn Gió

Mấy chữ “tư duy nhiệm kỳ” nghe mà phát ghét. Ở đó bao hàm tất cả những cái gì là hủ bại nhất trong tính cách dân tộc, nhất là cái tính cách ăn xổi ở thì. Ăn xổi ở thì thì làm bất kỳ việc nào cũng cốt qua loa cho xong đi, để mà còn nặng túi trở về với gia đình, chăm sóc cái tổ ấm vốn đã lo đâu vào đấy trong khi đang tại chức. Cho nên mọi việc anh làm, tiếng là vì dân, nhân danh thật to tát, cuối cùng chỉ là đổ vỏ ra đấy để cho kẻ đến sau đi hót. Và chu trình cứ thế lặp đi lặp lại, trở thành một đại họa cho dân. Một thành phố Hà Nội mà càng cải tạo lại càng nhếch nhác chẳng phải vì thế thì còn gì. Nghe đâu ngài đương kim trọng thần của nhiệm kỳ này đang cố tranh thủ một mảnh đất nào đấy ở Hồ Mây, cái đích ngài cố ngắm cho trúng, chứ đâu phải là nghĩ suy về những quy hoạch tổng thể cho Hà Nội ngàn năm “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như cụ Hồ nói. Trách gì mới vài năm trước khi nước mưa biến cả thành phố thành sông thì có vị quan to đã có ngay một câu thật nổi tiếng: Dân Hà Nội bây giờ quen dựa dẫm vào Nhà nước mất rồi. Thì chính là vì dựa dẫm vào Nhà nước mà dân chúng Thủ đô chúng tôi cứ tưởng rồi sẽ có đường phố khang trang, đi lại thông thoáng hơn, nào hay bây giờ ra đường đã thấy ngay những con đường do Nhà nước cải tạo đã đang tắc ứ. Còn các khu Hà Nội mới mở từ khi Thủ đô ta giải phóng đến nay nhất là từ khi có đồng vốn vay nước ngoài để làm kinh tế thị trường, thì nhiều nơi lại còn ngõ ngách chật hẹp, chen chúc, lúc nhúc còn hơn cả Hà Nội 36 phố phường thuở xưa. Những nơi ấy xe cộ tha hồ mà tắc.”

Những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế cho Cơ Chế CSVN, không ai không nhắc đến lý do thiếu kiểm sóat chặt chẽ Tiền, Vốn của Nhà Nước.

@      Ông Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam nói đến “đầu tư nhưng hiệu quả còn thấp, ngân sách bội chi tăng lên.” 

@      Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính, nhấn mạnh “Chính sách tài chính  phải xem lại để làm sao chi đầu tư phải hiệu quả, chi thường xuyên phải tiết kiệm, cái nào cần phải giảm, cái nào phải bỏ. Đầu tư phải hiệu quả, mua sắm tài sản công phải tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí... Chi tiêu công phải siết chặt lại, chống lãng phí, tiết kiệm tiêu dùng, tiết kiệm sản xuất - hạ giá thành sản phẩm, đầu tư hiệu quả.”

@      GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, nói thẳng đến các Dự án và chi tiêu của Chính phủ: ”Theo các chuyên gia kinh tế nhận định thì rất nhiều công trình có đầu tư lớn của nhà nước đang còn dở dang và những công trình này không thể ngừng lại được. Để giải quyết chúng nhà nước phải chấp nhận bỏ thêm một số tiền rất lớn trong ngân sách. Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ. Còn các công nghiệp khác ở trong nước thì ODA và FDI rất là ít cho nên chúng tôi cũng chưa biết là chính phủ sẽ làm như thế nào, nhưng mà chúng tôi cũng có khuyến cáo là chính phủ nên xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi của chính phủ, không dàn trải, phải nâng cao hiệu quả.

Khi lượng Tiền, Vốn bỏ ra, thả lỏng cho những Dự án chuyên môn, cho những Dự án Bộ hay những Dự án Địa phương (Tỉnh), mà hiệu quả Kinh tế không đạt được, thì đồng Tiền không Hội nhập đầy đủ, nghĩa là không có tương đương Hàng hóa hay Dịch vụ bảo đảm Giá trị của đồng Tiền.  Đồng Tiền mất giá, lạm phát đã nhiều năm trường là do sự thả lỏng này. Nhà Nước lấy Tiền, Vốn đâu mà thả lỏng ra như vậy ? Tại sao không có thể nghĩ rằng trong suốt những năm trường, Nhà Nước độc tài đã ra lệnh cho Ngân Hàng Nhà Nước in tiền mới (chưa Hội nhập Kinh tế), thả vào nền Kinh tế để đánh lận với đồng Tiền thực (đã Hội nhập Kinh tế) mà dân chúng đang giữ.

=>     Lãnh vực Thực hiện hiệu quả Kinh tế (T)

Người làm Kinh tế có câu nói: “Làm ra Tiền đã khó, mà tiêu Tiền còn khó hơn”. Thực vậy, tiêu Tiền không phải là vất Tiền ra cửa sổ. Tiêu Tiền theo ý nghĩa Kinh tế là phải làm thế nào để một đồng chi ra, phải thu vào tối thiểu hơn một đồng, nghĩa là nếu không có lợi nhuận, thì thà đừng tiêu. Việt Nam cũng có câu: ”Tiêu Tiền Chùa”, nghĩa là tiêu Tiền của chung thì dễ dàng phung phí, không cần nghĩ đến hiêu quả. Phải nghĩ đến hiệu quả trước khi quyết định chi tiêu.

Những Công ty, Tổng Công ty quốc doanh không làm ăn cho có hiệu quả tương xứng vì những lý do sau đây:

*        Đây là Công ty Nhà Nước, lợi nhuận làm ra do cố gắng làm việc hữu hiệu, cũng thuộc về Nha Nước. Vì vậy không cần cố gắng nhiều.

*        Người đứng trách nhiệm Công ty nghĩ đến cắt xén thưởng công cho mình trước khi làm Kinh tế thực sự để sinh lợi nhuận.

*        Những sản phẩm công nghệ ngày nay là sự chắp nối những linh kiện rời trong hệ thống sản xuất từng phần (sous-traitance). Những Công ty Nhà Nước khó lòng phân công với nhau để sản xuất từng phần trong mục đích giảm giá thành sản phẩm cuối cùng. Những Công ty công nghệ Nhà nước chọn những dễ dãi là nhập siêu những thành phần từ nước ngòai để đem về ráp nối chặng chót. Vì vậy sản phẩm chặng chót có giá thành cao lên vì nhập siêu những linh kiện.

*        Mỗi lần nhập siêu linh kiện là mỗi lần những chủ Công ty nhà nước lại có dịp thông đồng kín đáo với người bán từ nước ngòai để tăng giá mua, cắt xén cho vào túi riêng của mình.

*        Cuối cùng, nếu Công ty không làm việc cho có hiệu lực, thua lỗ, thì đã có Tiền, Vốn quốc gia bù thêm vào.

Theo Công thức tóm tắt của FISHER mà chúng tôi đưa ra trên đây, thì khi nền Kinh tế không có hiệu quả, số sản phảm (T) giảm, thì Khối Tiền lưu hành (M.V) không có Hàng hóa và Dịch vụ tương xứng. Đồng Tiền mất giá, lạm phát, đồng tiền mua được ít hàng, nghĩa là vật giá tăng.

@      Bloger Người Buôn Gió viết rất đúng về thái độ làm việc của những người trách nhiệm các Công ty Nhà Nước:” Các kế hoạch xây dựng càng xây càng hỏng, nào hầm Thủ Thiêm, đường hầm Kim Liên…; có nhà máy như Dung Quất tưởng đã vận hành từ  lâu thì nay lại phát hiện thêm 100 lỗi trong khi thi công nên phải tạm ngưng, không biết sẽ còn ngưng đến bao giờ. Các đại tập đoàn đứng sau Nhà nước, tưởng lập ra là cốt tăng thêm GDP, giúp cho an sinh được cải thiện, dân đỡ khổ hơn, nào hay anh nào cũng dài mồm than lỗ, mới ra Tết mọi thứ sản phẩm của họ đã tăng giá vùn vụt, nghĩa là họ chỉ góp phần vào bĩ cực mà chẳng thấy có thái lai.”

@      Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính, nhấn mạnh như một hiệu lệnh: “Đầu tư phải hiệu quả”.  

@      GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, cũng nhất thiết khuyến cáo: “Phải nâng cao hiệu quả”.
 

Việt Nam khác với những nước trong khu vực
về Cơ Chế Chính trị—Kinh tế

Xin nhắc lại lời của Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nói: “Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình.“. 
Có lẽ Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, không dám nói ra một điều làm Việt Nam khác với các nước trong khu vực vì ngại sợ rằng Công an CSVN lại mời ông lên làm việc, rồi truy tố ông ra tòa theo Điều 88 Bộ Hình Luật. Riêng tôi, tôi đã nói từ lâu rằng cái Cơ Chế CSVN làm Kinh tế, gọi là nền Kinh tế Tự do và Thị trường định hướng XHCN, khác hẳn với việc làm Kinh tế Tự do và Thị trường ở những nước trong khu vực. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường của những nước trong khu vực tôn trọng Môi trường Chính trị—Luật pháp dân chủ phù hợp (Environnement Politico-Juridique démocratique adéquat), trong khi ấy Việt Nam cố thủ chủ trương Chính trị độc tài nắm trọn độc quyền Kinh tế. Cái khác là ở chỗ đó và chính cái khác này làm cho Lạm phát và đồng Tiền mất giá cao hơn nhiều sánh với những nước trong khu vực.

Kinh tế Việt Nam là Kinh tế nhóm đảng Mafia CSVN độc tài cướp bóc của cải dân chúng và quốc gia cho riêng mình, chứ không phải nền Kinh tế do Dân và cho Dân. Vì nắm giữ cả hai quyền, nên Tiền, Vốn nhà nước bỏ lỏng ra để Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng theo ý đảng và họat động Kinh tế không cần hiệu quả để không đủ sản phẩm tương xứng (T) bảo đảm cho giá trị đồng Tiền. Lạm phát, Phá giá đồng Tiền là như vậy. 
 

Không chịu nổi hậu quả Lạm phát,
Dân chúng nghèo đói nổi dậy

Khi viết về cuộc Khủng hỏang Tài chánh Á-châu năm 1997 làm đồng tiền một số lớn những nước Á châu mất giá, Bà Francoise NICOLAS đã đưa ra tỉ dụ tình trạng lạm phát đã làm dân chúng đói nghèo nổi dậy đạp đổ chế độ độc tài SUHARTO sau 32 năm cai trị.

Thực vậy khi vật giá tăng vọt, đồng tiền mà họ tiết kiệm mất giá, những người lãnh lương như công nhân, công chức thì không được tăng lương là bao nhiêu, đa số rơi vào cảnh nghèo đói. Những người giữ quyền hành Chính trị, đặc quyền làm ăn bóc lột thì giầu có, vẫn tiêu pha, nhập siêu. Việc nổi dậy của đại đa số dân chúng nghèo đói không đến từ một thế lực ngọai lai nào khuyến dụ mà từ BỤNG ĐÓI của Dạ Dầy. Sức mạnh nổi dậy trước khi bị chết đói làm họ không sợ chết nữa.  Nếu họ biết rằng việc mất giá Tiền tiết kiệm và Tiền lương của họ là do sự gian lận in tiền mới ra để lừa đảo đánh lận con đen với Tiền thực của họ, thì cuộc nổi dậy còn tăng thêm thù hận đến giết lát nữa.

Chúng tôi xin trích một đọan của bài viết của Oâng VŨ QUANG VIỆT đăng trên báo Lao Động (số 197, ngày 25.8, và số 198, ngày 27.8.2007) :“Tôi rất đồng ý với các nhà kinh tế đã nhận định là ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào lạm phát có nguyên nhân in tiền nhiều quá. Tại sao lại in tiền nhiều ? Vì nhà nước chi nhiều hơn số thuế thu được. Vấn đề là nhà nước bắt ông Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu. Điều này có nghĩa là bắt NHNN in tiền. Tiền nhiều hơn hàng làm ra thì tất phải lạm phát. Thời chống lạm phát cuối những năm 1980, hầu hết mọi người trong chính phủ đều cho rằng phải tăng năng suất, phải tăng cung để giảm lạm phát. Tôi đã đặt cho các bạn ấy một câu hỏi. Thế khả năng tăng sản xuất thật một năm là bao nhiêu ? Cao nhất như Trung Quốc thì cũng chỉ 10-15% là cùng, nhưng các ông lại đang tăng tiền tới cả vài trăm phần trăm một năm. Các ông có tăng sản xuất nổi vài trăm phần trăm một năm không ?“

Để kết, chúng tôi xin lấy lời nhận định của Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám Đốc FAO, tuyên bố với báo Financial Times: ”Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.” (Nếu giá cả tiếp tục tăng, thì tôi không ngạc nhiên về việc người ta chứng kiến những nổi dậy vì đói khổ) (LE MONDE, No.19523, Thứ Tư 31.10.2007)
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 04.02.2010






                                                       ẤN ĐỘ:
                         CƯỜNG QUỐC KINH TẾ TƯƠNG LAI Á-CHÂU


                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                            Geneva, 11.03.2010

 

Viết bài NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ hôm nay về khả năng phát triển Kinh tế Aán Độ, chúng tôi dựa trên những bài báo cũng hòan tòan có tính cách thời sự :

*        Le Monde 09.03.2010:UNE LECON INDIENNE par Martin WOLF  

*        The Wall Street Journal 10.03.2010: INDIA’S MICROLENDERS TO SHARE DATA by Eric BELLMAN

*        Financial Times 10.03.2010: SUGAR SUFFERS AS INDIA RAISES OUTPUT ESTIMATE by Chris BLOOD

*        Financial Times 11.03.2010: PUTIN SEEKS TO BOLSTER LINK WITH NEW DELHI by James LAMONT

*        The Wall Street Journal 11.03.2010: INDIA: WOMEN AND DEMOCRATY

*        Le Monde 11.03.2010: EN INDE, GUERRES DES TERRES ENTRE PAYSANS ET INDUSTRIELS par Julien BOUISSOU

*        Le Monde 11.03.2010: LES DEPUTES INDIENS VOTENT L’INSTAURATION D’UN QUOTA DE FEMMES AU PARLEMENT par Julien BOUISSOU

 
Chúng tôi chỉ viết một bài ngắn nêu lên những điểm chính yếu làm nền tảng cho khả năng phát triển Kinh tế Aán Độ. Chúng tôi sẽ viết một bài phân tích dài làm bài QUAN ĐIỂM theo Chủ đề hiện hành của chúng tôi là DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ. Thực vậy, Aán Độ lấy dân làm gốc cho phát triển và hiệu quả của phát triển là cho dân. Nền Kinh tế Aán Độ phát triển song hành với xây dựng Dân chủ. Đó là bài học qúy giá cho Chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ của chúng tôi áp dụng cho Việt Nam.

Chính Kinh tế gia Martin WOLF cũng lấy tựa đề bài viết của Oâng trong Le Monde 09.03.2010 là “UNE LECON INDIENNE“ (BÀI HỌC ẤN ĐỘ). Vào thập niên 1970, Kinh tế gia Martin WOLF là người Trách Nhiệm chính của Ngân Hàng Thế Giới tại Aán Độ. Oâng là bạn thân từ 39 năm nay của Kinh tế gia Montek Singh AHLUWALIA, Phó Chủ tịch  ỦY BAN KẾ HỌACH KINH TẾ ẤN ĐỘ, đứng sau Thủ tướng MANMOHAN SINGH.

Để có thể hiểu những điểm đặc thù của Kinh tế Aán Độ, chúng tôi xin trích ra đây đọan tóm tắt rất gọn và xác thực về Kinh tế Trung quốc để độc giả so sánh:

“It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay). (Financial Times 09.03.2010, p.10)

Đó là nền Kinh tế sản xuất những “gadgets” để mau chóng xuất cảng mua vui cho những người tiêu thụ tại những xứ khác, do một nhóm đảng tổ chức thu tiền nhanh vào cho mình và rồi chuyển những tiền ấy ra đặt tại những xứ giầu Tây phương.  Người dân chỉ được hưởng một phần rất nhỏ hiệu quả Kinh tế qua đồng lương bóc lột. Đó là Kinh tế Trung quốc.

Qua những bài báo liệt kê trên đây liên quan đến Phát triển Kinh tế Aán Độ, nhất là bài của Kinh tế gia Martin WOLF, chúng tôi ghi nhận những điểm như sau.
 

Người dân và tính tình

Dân Aán Độ ít ồn ào hơn dân Trung quốc. Người ta thường nói rằng người Aán Độ thuộc lọai người suy tư  đầu óc, chiêm ngưỡng (contemplatifs). Con số bí hiểm 0 (zéro) được phát sinh từ Aán Độ chứ không phải từ A-rập. Người ta không hiểu “zéro“ là gì, mặc dầu nó hiện hữu. Có người cắt nghĩa đó là ý niệm Niết Bàn. Phật Giáo được phát sinh từ Aán Độ, một Tôn giáo lấy giải thóat cá nhân và tự mình giải thóat làm trọng. Tính chiêm ngưỡng (contemplatif) và ảnh hưởng Tôn giáo là nền tảng tính tình dân Aán Độ. Ngày nay, người ta thường nhận thấy dân Aán Độ rất giỏi về ngành điện tử.

 
Nền tảng Dân chủ

Dân chủ chỉ là một Nguyên Tắc giải quyết tương đối những tranh chấp khi mà những cá nhân sống chung với nhau thành một cộng đồng. Như vậy CÁ NHÂN CHỦ là nền tảng để từ đó mới xây dựng nguyên tắc dân chủ. Một xã hội nào biết tôn trọng cá nhân, thì tự động họ xây dựng nguyên tắc DÂN CHỦ. Tôn giáo tại Aán Độ đã un đúc cho dân tinh thần phải tôn trọng CÁ NHÂN CHỦ. Chúng tôi không bao giờ chấp nhận ngụy biện của Cộng sản cho rằng dân trí còn ngu nên không thể cho Dân Chủ. Thực vậy, Dân Chủ không phải là kết quả của Dân trí mà là nguyên tắc thực tiễn giải quyết giữa những cá nhân chủ khi có va chạm.

Cái tinh thần tôn trọng cá nhân luôn luôn đòi hỏi việc xây dựng hệ thống quản trị Xã hội theo nguyên tắc Dân chủ:

=>     Phân quyền, tránh tập trung quyền hành để dễ dẫn đến độc tài. Aán Độ theo hệ thống phân quyền dưới thể chế Liên Bang.

=>     Khi quyền hành được tản ra, thì những tranh chấp chính trị cũng đỡ hẳn tính cách gay gắt, ác độc. Một chủ trương tập quyền như Cộng sản chẳng hạn, thì đó là nguồn gốc tranh chấp, thậm chí đến thanh trừng nội bộ một các tàn nhẫn.

Xã hội Aán Độ được xây dựng, phát triển theo những nguyên tắc Dân chủ. Nó khác với Xã hội Trung quốc hiện nay.
 

Phát triển Kinh tế bởi cá nhân và cho cá nhân

Chính cá nhân là tác nhân Kinh tế chính và cá nhân làm kinh tế trước tiên là phục vụ cho chính mình chứ không phải hy sinh cả cuộc đời để phục vụ cho một Lý thuyết trừu tượng, một Chủ nghĩa Xã hội để những người nhân danh Chủ nghĩa mà bóc lột cá nhân. Cá nhân có sống, thì Chủ nghĩa mới có. Cá nhân chết, thì Chủ nghĩa trở thành trống rỗng. Ai cũng lo lắng đến cái bụng đói của mình trước tiên.  Và rất hiếm người lo đến cái bụng đói của người khác trước khi nghĩ đến cái bụng của mình. Vậy hãy để cho mỗi cá nhân làm ăn để lo lắng trước tiên đến việc nuôi sống thân xác mình.

Một xã hội mà nền Kinh tế được tản ra cho từng cá nhân, nền kinh tế ấy mới có nhiều sáng kiến và sự thăng bằng phát triển mới bền vững và lâu dài. Nền Kinh tế được đặt trên nền tảng cá nhân, những công ty gia đình, những công ty nhóm nhỏ... mà tiến lên là nền Kinh tế phát triển có nhiều sáng kiến và bền vững nhất.

Tôn trọng cá nhân, lấy cá nhân trách nhiệm, phát triển những nguyên tắc dân chủ để giải quyến, nền Kinh tế Aán Đo,ä dù không ồn ào, yên lặng tiệm tiến, sẽ phát triển trong bền vững và lâu dài.

Một tỉ dụ điển hình mà chúng tôi thường lấy ra làm tỉ dụ, đó là sự đổi hướng của Kinh tế Ý cách đây 30 năm. Thời ấy, nền Kinh tế Ý dựa trên những đại Công ty. Tình trạng đình công xẩy ra như cơm bữa làm Kinh tế Ý tê liệt. Người Ý mang tinh thần tôn trọng gia đình cao nhất Aâu châu. Từ nền Kinh tế Đại Công ty bị tê liệt, dân Ý đã chuyển Kinh tế về hệ thống Gia đình. Mọi người trong Gia đình phải tuân theo MAMA mà làm việc, không được đình công, nếu không MAMA không cho ăn Spaghetti nữa. Nền Kinh tế đặt nền tảng trên Gia đình đã dần dần phát triển lớn mạnh đến ngày nay. 
 

Chương trình Phát triển Kinh tế Aán Độ

Theo tinh thần trên đây lấy cá nhân làm tác nhân kinh tế chính, một Chương trình phát triển Kinh tế đã được họach định cho cả nước. Kinh tế gia Martin WOLF đã tóm tắt Chương trình ấy ở những điểm sau đây: “Les Infrastructures, l’Agriculture, la Reglementation du Travail, le Secteur Bancaire, l’Energie, l’Education et le Commerce de détail“ (Những hạ tầng cơ sở, NÔNG NGHIỆP, LUẬT LỆ LAO ĐỘNG, Lãnh vực Ngân Hàng, Năng lượng, Giáo dục và THƯƠNG MẠI NHỎ) (Le Monde 09.03.2010, p.2)

Việc xây dựng hạ tần cơ sở là lãnh vực của Nhà Nước. Chúng tôi viết chữ hoa cho một số lãnh vực để độc giả lưu ý rằng Kế họach Kinh tế này đặt trọng tâm vào người nghèo và những đơn vị Kinh tế nhỏ làm căn bản:

=>     NÔNG NGHIỆP : đó là lãnh vực ưu tiên đầu tiên của Kế họach. Việc phát triển nông nghiệp là tạo cho đa số dân nghèo có đủ miếng ăn, rồi sau đó tạo cho dân nghèo có khả năng tiêu thụ để mới có thể sản xuất công kỹ nghệ phục vụ cho chính trong nội địa. Đó cũng là tạo độc lập về Kinh tế. Kinh tế Trung quốc hiện giờ không có độc lập vì nó lệ thuộc vào xuất cảng phục vụ ngọai quốc.

=>     LUẬT LỆ LAO ĐỘNG: đây cũng là sự lo lắng cho khối người nghèo phải đi bán sức lao động của mình để nuôi thân. Phải có những luật lệ cho công bằng, tránh những tình trạng bóc lột lao động.

=>     THƯƠNG MẠI NHỎ: đây cũng là chủ trương đi từ những đơn vị nhỏ thương mại mà tiến lên. Từ tiểu thương, rồi tiến dần lên đại thương. Săn sóc, hỗ trợ những Thương mại nhỏ để phân phối các nơi.

Hãy nhìn Kinh tế Việt Nam để thấy khác biệt giữa hai chủ trương. Trong bao chục năm trường, Nhà Nước Việt Nam bỏ rơi Nông Nghiệp, một lãnh vực mà chúng ta có cả khả năng thiên nhiên để phát triển cho 75% dân số nghèo tại nông thôn. Nhà Nước Việt Nam chỉ nhằm bán Lao động cho tài phiệt nước ngòai, rồi xuất khẩu Lao động phục vụ ngọai quốc mà không lo phát triển những Luật lệ bảo vệ công bằng cho giới Lao động. Về thương mại, mỗi thành phố chỉ chuyên lo khuếch trương Siêu thị mà ít nâng đỡ những Tiểu thương, thậm chí còn tàn nhẫn đi hốt những người nghèo buôn thúng bán mẹt ở những góc phố. Tìm cách nâng đỡ họ. Họ là những Tiểu thương đấy, để họ có chỗ buôn bán độ thân và tiến dần lên Trung thương hoặc có thể là Đại thương sau này.

Nhà nước VN chỉ lo sản xuất những “gadgets“ như quan thầy Trung quốc !
 

Hệ thống Tiểu Tài chánh “Microfinance“

Trong những năm làm Tài chánh cho những Dự án, chúng tôi thường đưa ra một số tỉ dụ để công kích chính những Ngân Hàng lớn. Tỉ dụ sau đây thường được đưa ra khi phải chạm trán với Ngân Hàng:

Một sinh viên trẻ mới học xong. Anh đang mang cả bầu nhiệt huyết để thực hiện Dự án mà trong suốt thời gian học anh mơ mộng. Anh viết Dự án. Xử dụng môn học Phân tích Chi tiêu Xí nghiệp (Analyse des Charges Industrielles) để tính tóan rất kỹ. Xử dụng môn Marketing và Ước lượng Thu nhập  để cho thấy rằng Lợi nhuận từ mỗi chặng thực hiện Dự án là bao nhiêu. Đọc Dự án, tôi cảm phục anh sinh viên nghèo mới ra trường này.

Nhưng phải có VỐN thì mới thực hiện được Dự án. Anh can đảm đến Ngân Hàng để trình bầy Dự án với những Chi—Thu đã tính tóan kỹ.

Anh xin Ngân Hàng cho vay vốn để thực hiện Dự án của mình. Anh chấp nhận mọi kiểm sóat của Ngân Hàng. Ngân Hàng khen anh, nhưng trả lời rằng:“Vậy Bank Guarantee hay Standby Letter of Credit của anh đâu để làm Collateral cho vốn vay ?“.

Anh sinh viên nghèo chua chát ra đi và nghĩ: thực là ngược ngạo ! Để lấy được Bank Guarantee hay Standby Letter of Credit, thì anh phải có tiền đặt trong Ngân Hàng làm Deposit. Mà nếu anh đã có tiền rồi để làm Deposit, thì anh cần gì phải đến Ngân Hàng kia để xin vay. Có lẽ anh phải đi làm vất vả trong 10 năm để có tiền làm Deposit. Nhưng 10 năm sau, thì sức lực anh đã giảm, anh không muốn theo đuổi Dự án như lúc mới ra trường.

Tôi rất khâm phục ý tưởng đặc biệt của Aán Độ đã thiết lập hệ thống Microfinance, nghĩa là cho những người nghèo, những cá nhân muốn làm ăn vay. Hệ thống này đã trở thành thời danh mà vị sáng lập đã được khen tặng giải Nobel Hòa Bình.

Chương trình Phát triển Kinh tế Aán Độ đặt trọng tâm vào những người nghèo muốn làm việc: Nông dân, Lao động và Tiểu thương. Cùng với Chương trình nghĩ đến người nghèo như vậy, Aán Độ đã có sáng kiến tổ chức hệ thống Tiểu Tài chánh “Microfinance“ để giúp phương tiện làm ăn cho dân nghèo thiếu vốn như anh sinh viên trên kia. Đó là hai ngả giúp hữu hiệu cho phát triển Kinh tế từ nền tảng. Xin lưu ý: thống kê cho thấy rằng dân nghèo vay nợ làm ăn là dân hòan vốn rất chu đáo “Bon payeur“ !
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN,  Kinh tế
Geneva, 11.03.2010

 




                            NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:
 
                                                   HẢI NGỌAI
                                           CẤM VẬN NGỌAI TỆ
                                          ĐỐI VỚI MAFIA CSVN


                        Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                            Geneva, 25.02.2010

 

HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:

=>     Tạm ngưng du lịch Việt Nam

=>     Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết

=>     Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.

 
Đấu tranh chống lại CSVN, chúng tôi luôn luôn đứng ở lãnh vực Kinh tế. Lực lượng đấu tranh chính yếu là tại Quốc nội. Hải ngọai yểm trợ cho Quốc nội. Có hai Mặt Trận mà Hải ngọai có thể đóng góp hữu hiệu, đó là Mặt Trận Thông Tin về Quốc nội và Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế chống lại Mafia CSVN cướp bóc Dân chúng.

Đối với Mặt Trận Thông Tin về Việt Nam, Hải ngọai phải tăng cường luôn luôn vì chúng ta có phương tiện và vì Truyền Thông hiện nay là từ trời rơi xuống mà CSVN khó lòng ngăn chặn. Đối với Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế, chúng ta phân biệt những điểm tế nhị. Chúng ta tránh những gì có thể làm hại đến đời sống làm ăn kiếm sống vất vả của Dân chúng, nhưng đối riêng với Mafia CSVN cướp bóc, thì chúng ta kêu gọi trừ diệt không thương tiếc.

Từ khi CSVN tuyên bố phá giá nội tệ, chúng tôi thấy đây là dịp mà Hải ngọai phải nắm lấy để tấn công nhóm đảng Mafia CSVN mà không ngại sợ liên hệ đến cuộc sống làm ăn vất vả của Dân chúng. Việc buộc lòng phá giá đồng bạc Việt Nam cho thấy một tình trạng khan hiếm ngọai tệ có thể đưa Cơ Chế đến phá sản. Chúng tôi muốn kêu gọi Hải ngọai đòan kết, cứng rắn xử dụng mọi biện pháp CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Cơ Chế Mafia CSVN cướp bóc.
 

CSVN khan hiếm ngọai tệ trầm trọng

Từ khi cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế cho đến nay, CSVN đang rơi vào tình trạng khan hiếm ngọai tệ như sau:

=>     Đầu tư nước ngòai giảm 82% vì chính nước ngòai cũng đang trải qua Khủng hỏang. Ngày nay, không Nhà Nước Tây phương nào, Liên Aâu và Mỹ, không thiếu hụt Ngân sách. Tình trạng khủng hỏang đang diễn ra nguy hiểm tại một số nước Liên Aâu: Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha... Liên Aâu đang khó khăn trong việc cứu vớt những nước này, nên khó lòng nghĩ đến đầu tư vào Việt Nam xa xôi nguy hiểm. Trung Đông cũng phải quan tâm đến vấn đề Dubai.

=>     Aâu, Mỹ du lịch Việt Nam giảm 70%. Xuất cảng của Việt Nam sang Liên Aâu và Hoa kỳ giảm 62%, đó là chưa kể những hàng hóa bị cấm đóan vì độc hại và những hàng bị tăng thuế nhập cảng như tôm cá vào Mỹ, đồ may mặc, da giầy vào Liên Aâu. Khi du lịch giảm, hàng xuất cảng giảm, thì làm sao có thể tăng ngọai tệ được.

=>     Trong khi ấy, những hàng nhập siêu cho Việt Nam lại tăng mạnh và quá mức. Cán cân thương mại nhập/xuất mất thăng bằng. Nhập siêu tức là ngọai tệ đi ra.
 

Đình trệ chung về Mậu dịch Quốc tế

Nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ) ngày hôm nay 25.02.2010, trang 17, đăng những lời tuyên bố của chính Oâng Pascal LAMY, Tổng Giám đốc WTO:

“Le commerce international enregistré l’an dernier un recul sans précédent depuis la Seconde Guerre Mondiale en raison de crise 12%, et l’année 2010 s’annonce médiocre avec déjà des signes inquíetants pour la reprise économique espérée. Le commerce mondial a été victime de la crise et s’est contracté de 12% en volume en 2009”. (Thương mại quốc tế ghi nhận năm vừa rồi một sự lùi lại chưa bao giờ xẩy ra từ Thế Chiến Thứ Hai với 12% giảm, và năm 2010 báo hiệu xấu với những dấu hiệu đáng lo ngại cho việc phục hồi kinh tế như ao ước. Thương mại hòan cầu đã là nạn nhân của khủng hỏang và đã lùi 12% tính về lượng giao dịch trong năm 2009.)

Oâng nói thêm về những lý do của việc lùi chưa từng có này:

“Selon OIT, le nombre de chomeurs a atteint un niveau sans précédent de 200 millions de personnes, par conséquent le manque du pouvoir d’achat. La chute brutale des échanges commerciaux s’explique principalement par un repli de la demande des plus grandes économies, ainsi que par une raréfaction des prêts bancaires pour financer les transactions commerciales.” (Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, số thất nghiệp đã đạt tới mức chưa từng có là 200 triệu người. Việc tụt dốc tàn nhẫn của những trao đổi thương mại được giải thích chính yếu bởi việc cắt đi việc đặt mua hàng từ những nền kinh tế lớn nhất, cũng như bởi việc khan hiếm những món cho vay ngân hàng để tài trợ cho những thương vụ thương mại.)

Những tuyên bố trên đây của Oâng Tổng Giám đốc WTO chứng tỏ rằng những con số ca tụng tăng trưởng cũng như xuất cảng từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam là những khóac lác tuyên truyền mà thôi.
 

Phá giá đồng bạc Việt Nam là hậu quả tất nhiên

Trong bài viết dài về TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ đăng trong số này, chúng tôi đã cắt nghĩa một cách giáo khoa rằng đồng nội tệ của một quốc gia mạnh hay yếu là do Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ, do Cán Cân Chuyển Vốn vào. Chúng tôi đã viết và cắt nghĩa như sau:

Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.

Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh hay yếu?

Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.

Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giûam giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.

Tại Việt Nam, ngọai tệ không những không vào mà còn thất thóat ra ngòai nhiều.  Người trong nước tăng Cầu ngọai tệ, nên tỷ giá ngọai tệ tăng. Phía Cung nội tệ tăng để mua ngọai tệ phục vụ nhập siêu. Cung nội tệ tăng, thì tỷ giá nội tệ sánh với ngọai tệ bị mất giá.

Tình trạng khan hiếm ngọai tệ và Đình trệ xuất cảng càng kéo dài bao nhiêu, thì đồng bạc Việt Nam càng phá giá bấy nhiêu. Lần phá gia trước Tết (11.02.2010) chưa phải là lần cuối, mà việc phá giá còn tiếp tục.

Bản Tin Reuters do John Ruwitch, đánh đi từ Hà Nội như sau:

“HÀ NỘI (Tin Reuters) – CS Việt Nam có nguy rơi vào vòng xoáy buộc phải phá giá đồng nội tệ liên tục ngoại trừ có các chính sách đi kèm với các biện pháp đối với thị trường ngoại hối nhằm kiểm soát lạm phát và giới hạn thâm thủng mậu dịch, ngày càng gia tăng, một cách có hiệu quả.

Lạm phát đang gia tăng trở lại và thâm thủng mậu dịch đang mở rộng làm trở ngại các cố gắng của các giới chức chính quyền nhằm thu hút đồng Mỹ kim dân chúng đang cất giữ trở lại dòng luân lưu tiền tệ và giảm thiểu sự thất thoát nguồn dự trữ ngoại tệ.

Ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngày thứ Năm (February 11) phá giá đồng nội tệ 3,25% đồng thời áp mức tối đa đối với hối suất dành cho đồng Mỹ kim gởi tại ngân hàng. Đây là lần phá giá thứ 3 kể từ tháng 12 năm 2008, dẫn đến hối suất tham khảo hằng ngày của ngân hàng trung ương giảm hơn 11% trong hơn một năm.

Bui Kien Thanh, một cựu cố vấn cho chính phủ VN, nói rằng cả hai động thái đều không đáp ứng được nhu cầu bức thiết cho các thay đổi về chính sách mang tính rộng lớn.

“Dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước sẽ tiếp tục thu nhỏ và Ngân hàng nhà nước buộc phải có hành động nhằm bảo vệ giá trị hối đoái của đồng nội tệ,” ông Thanh nói.

“Sẽ không có sự chấm dứt đối với vòng xoáy tồi tệ này. Một phương cách mới và một chính sách tiền tệ mới là cần thiết nhằm thổi một luồng sinh khí mới vào nền kinh tế, thay cho các hành động mang tính đối phó và các luật lệ không phù hợp.”

Đồng nội tệ được kiểm soát trong một biên độ hối đoái, đã và đang chịu nhiều áp lực bị phá giá trong gần 2 năm qua khi nền kinh tế phát triển quá nóng và rồi sau đó giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.


Các chính sách trong quá khứ nhằm chận đứng sự tuột dốc giá trị của đồng bạc VN gần như không có hiệu quả. “
 

Hải ngọai hãy cứng rắn dồn sức
CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Mafia CSVN

Đã bao chục năm trường, mỗi năm Hải ngọai chúng ta đã chuyển về Việt Nam cho Gia đình trung bình USD.4-6 tỉ. CSVN không biết ơn mà vẫn luôn luôn coi chúng ta là thù địch, vẫn tàn nhẫn bóc lột đàn áp Dân chúng hay những người trong Gia đình của chúng ta. Đây là dịp mà chúng ta phải dặn bảo nhau, mở Phong trào Hải ngọai CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với đám nhóm đảng Mafia CSVN tàn bạo, cướp bóc.

Lạm phát bắt đầu tăng. Với lạm phát tăng và đồng bạc phá giá, Dân chúng sẽ đứng lên !


HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:

=>     Tạm ngưng du lịch Việt Nam

=>     Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết

=>     Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.

 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.02.2010


NHỮNG ĐIỂM THỜI SỰ QUAN TRỌNG
ĐÁNG GHI LẠI ĐỂ NHẬN ĐỊNH

NGUYỄN PHÚC LIÊN

 

* Trung quốc mất ăn mất ngủ vì món tiền Hoa kỳ nợ (China losing appetite for US debt)
 
(CNN 17.02.2010; Le Monde 18.02.2010, p.12; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.32)

* Trung quốc muốn chuyển sản xuất một số hàng sang Aán độ để dễ xuất cảng
 
(Financial Times 17.02.2010, p.14)

* Những khó khăn Chính trị và Kinh tế Trung quốc
 
(Financial Times 17.02.2010, p.9; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.9)

* Những triệu chứng nguy hiểm cho việc tái khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế
 
(Le Monde 17.02.2010, p.12)

* Hoa kỳ tỏ ra cứng rắn trong vấn đề trừng phạt Iran
 
(Le Temps 17.02.2010, p.1, p.5; The Wall Street Journal 17.02.2010, p.10)

* Bruxelles đặt những điều kiện khắt khe đối với Athens
 
(Fiancial Times 16.02.2010, p.1; Le Monde 16.02.2010, p.15; Le Temps 16.02.2010, p.1)

* Mặc dầu bị tấn công mọi phía, một cuộc thăm dò dư luận cho thấy rằng 62% dân Thụy sĩ (68% giới trẻ) sẵn sàng bầu phiếu chủ trương Bí Mật Ngân Hàng.
 
(Le Figaro 15.02.2010, p.22)

* Khủng hỏang Hy-lạp lan sang Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Liệu có ảnh hưởng sang Mỹ hay không ? “It began in Athens. It is spreading to Lisbon and Madrid. And America ?”
 
(Financial Times 11.02.2010, p.9)

* Bernanke làm thế nào đưa FED ra khỏi chiến lược kích thích tài chánh.
 
(Financial Times 10.02.2010, p.3; The Wall Street Journal 11.02.2010, p.6; Financial Times 11.02.2010, p.4)

* Đồng Euro và Khủng hỏang Tài chánh Liên Aâu. Những công kích đồng Euro.
 
(Le Monde 10.02.2010, p.1, p.8)

* Cứu vớt phá sản Hy-lạp: Bộ trưởng Tài chánh G7 họp. Thượng đỉnh Liên Aâu họp bất thường để lấy quyết định. Những nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cũng lo sợ như Hy-lạp.
 
(The Wall Street Journal 08.02.2010, p.5; Le Figaro 08.02.2010, p.22; Financial Times 09.02.2010, p.4; The Wall Street Journal 09.02.2010, p.4; Le Monde Economie 09.02.2010, p.2; The Wall Street Journal 10.02.2010, p.1; Financial Times 10.02.2010, p.1, p.16; Le Monde 11.02.2010, p.1, p.8; The Wall Street Journal 11.02.2010, p.1; TSR1, France 2, TF1 11.02.2010)

* Nạn sữa độc Melamine Trung quốc vẫn hòanh hành
 
(The Wall Street Journal 09.02.2010, p.10)

* Ý-đại-lợi (Thành phố Tuscan) xiết chặt thợ may dệt Trung quốc tràn sang: ”Enough is enough !”
 
(Financial Times 09.02.2010, p.2)

* Trung quốc lợi dụng vụ Nguyên tử Iran để tăng cường thương mại với nước này
 
(Financial Times 09.02.2010, p.2)

* Nguyên tử Iran làm Tây phương nóng đầu và tìm cách trừng phạt.
 
(Le Figaro 08.02.2010, p.1; Le Monde 09.02.2010, p.1; Le Monde 10.02.2010, p.2; The Wall Street Journal 10.02.2010, p.12; Financial Times 10.02.2010, p.6)

* Tiền Thụy sĩ trở thành Tiền tỵ nạn Lịch sử cho Tài chánh
 
(Le Temps 08.02.2010, p.1)

* Trung Cộng: Con cái những lãnh tụ lớn được thăng quan tiến chức, nhất là trong cấp bậc về Kinh tế để sửa sọan cho Đại Hội đảng năm 2012.
 
(Le Temps 08.02.2010, p.5)

* So sánh việc thóat Khủng hỏang Kinh tế giữa Hoa kỳ và Liên Âu
 
(Le Monde 04.02.2010, p.1, p.6, p.13)

*  Thượng viện Hoa kỳ và Chương trình Volcker về Kiểm sóat Ngân Hàng
 
(Financial Times 04.02.2010, p.4; The Wall Street Journal 03.02.2010, p.1; Financial Times 03.02.2010, p.3)

* Thái độ của Hoa kỳ qua những vụ: Google, Bán Vũ khí cho Đài Loan và Obama gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng.
 
(Le Monde 03.02.2010, p.4; Financial Times 03.02.2010, p.1; Le Monde 02.02.2010, p.6; Financial Times 01.02.2010, p.1, p.6; Le Figaro 01.02.2010, p.6)

* Thụy sĩ nhất quyết cho hai người Duy-ngô-nhĩ Tân Cương ra tù từ Guantanamo, mặc dầu Trung quốc cực lực phản đối. Tính các Độc lập của Dân Thụy sĩ khi quyết định không xây Tháp Hội đườn Hồi Giáo trên Lãnh thổ họ, mặc dầu cả Thế giới Hồi Giáo phản đối và đòi kiện ra Tòa án La Haye.
 
(Le Temps 03.02.2010, p.9; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.7)

* Vai trò Kinh tế Đài Loan được Hoa kỳ nâng đỡ để làm giảm cao ngạo của Trung quốc Lục địa. 
 
(Financial Times 02.02.2010, p.12; Le Temps 02.02.2010, p.2, p.4)

* Thái độ của Davos 2010 dối với những công kích Tài chánh Tư bản của TT.Sarkozy
 
(Fiancial Times 02.02.2010, p.13; Le Monde 02.02.2010, p.1)

* Davos 2010 nhận định về những Quốc gia bắt đầu phát triển, những đe dọa cho Tây phương.
 
(Le Monde 02.02.2010, p.2; Le Figaro 01.02.2010, p.24)

* Thụy sĩ tháo gỡ những công kích về những người trốn thuế gửi tiển tại Thụy sĩ. Nhưng những người có tiền triệu, tiền tỉ tự hỏi: vậy thì cất tiền ở đâu cho vững ?
 
(Le Temps 02.02.2010, p.8; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.1,p.3; Financial Times 01.02.2010, p.4; Le Temps 01.02.2010, p.1; The Wall Street Journal 01.02.2010, p.1; The Wall Street Journal 28.01.2010, p.23;)

* Ngân Sách Hoa kỳ và $1’600 tỉ nợ năm 2011. 
 
(Le Monde 02.02.2010, p.15; Tribune de Geneve 02.02.2010, p.8)

* IMF phát biểu tại Davos 2010: Kiểm sóat Ngân Hàng phải được phối hợp chung, chứ không thể từng vùng.
 
(The Wall Street Journal 01.02.2010, p.5)

* Davos 2010 không hồ hởi cho lắm về khả năng thóat khủng hỏang Kinh tế Thế giới. Vấn đề chính yếu vẫn còn quanh quẩn ở nợ nần ngân sách các quốc gia và điều chỉnh các Ngân Hàng.
 
(Le Temps 01.02.2010, p.22)

* Trung quốc hờ hững việc trừng phạt nguyên tử Iran
 
(The Wall Street Journal 01.02.2010, p.9)

* Hoa kỳ tăng cường quân sự trong vùng Vịnh Trung Đông vì Iran và Khủng bố
 
(Le Figaro 01.02.2010, p.8)

* Nông dân Trung quốc nổi dậy ủng hộ việc chống lại tham nhũng
 
(Le Monde 28.01.2010, p.7)

* Diễn văn của Sarkozy tại Davos muốn cải cách Tư bản chủ nghĩa. Đòi kiểm sóat Ngân Hàng, nhưng làm sao kiểm sóat được Ngân Hàng Trung quốc. Phản ứng của giới Ngân Hàng gia tại Davos.
 
(Le Temps 28.01.2010, p.15; The Wall Street Journal 28.01.2010, p.1; Financial Times 28.01.2010, p.4)

* Tây phương đã quá thổi phồng Kinh tế Trung quốc. Thực tế thì khác.
 
(Financial Times 28.01.2010, p.11)


NGUYỄN PHÚC LIÊN



                                                    TIỀN TỆ VÀ
                                    NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ

 
                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                             Geneva, 24.02.2010

 

Nội dung bài này mang tính cách giáo khoa: chúng tôi trình bầy những quan niệm về Tiền tệ và định vị trí, vai trò của nó trong mọi lãnh vực họat động Kinh tế. Ngân Hàng là trái tim, Tiền tệ là mạch máu cho sức khỏe Kinh tế.

Chúng ta cần những quan niệm giáo khoa rõ rệt để có chung một tiếng nói, một nhận định về những tranh chấp, thậm chí chiến tranh, giữa các đồng Tiền: đồng Đo-la Mỹ, đồng Euro, đồng Bảng Anh, đồng Yen Nhật, đồng Franc Thụy sĩ, đồng Yuan Trung quốc. Trong những Thế kỷ trước, đồng Florin Hòa Lan đã một thời nắm ưu thế; tiếp đến là đồng Bảng Anh lên kế vị; và từ Hội Nghị Tiền tệ Bretton Woods năm 1944, đồng Đo-la Mỹ tràn lan khắp Thế giới mà Staline gọi là “Impérialisme du Dollar” (Đế quốc Đo-la).

Trong suốt thời kỳ thống trị của Đo-la đến ngày nay, có nhiều những cuộc nổi dậy chống Đo-la. Aâu châu được tái thiết sau Thế Chiến II và phát triển Kinh tế, bán hàng hóa cho các cựu thuộc địa, thu tiền vào bằng Đo-la tích lũy tại Aâu châu thành khối Euro-Dollar. Các nước A-rập Trung đông bán dầu lửa và tích lũy Đo-la thành khối Petro-Dollar. Cuộc nổi dậy đầu tiên là từ TT.De GAULLE nhân danh Euro-Dollar khi Oâng muốn bắt tay với Nga. Cuộc nổi dậy thứ hai nhân danh Petro-Dollar từ những nước A-rập nhằm bênh đỡ cho Palestine.

Ngày nay, nhân cuộc Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh/Kinh tế 2007-90 bắt đầu từ Hoa kỳ, lan ra khắp Thế giới ở những nơi nào mang ảnh hưởng ưu thế của Đo-la, một số Quốc gia đặt lại vai trò thống trị của Đo-la.  Được sự cổ võ của TT.Sarkozy và một vài Quốc gia trong khối G20, Trung quốc lên tiếng mạnh nhất chống lại Đo-la.

Thực vậy, Trung quốc tích lũy khối Đo-la khổng lồ, có thể gọi là Sino-Dollar. Là chủ nợ bằng Đo-la đối với Hoa-kỳ, nhưng cứ nganh ngánh mất ăn mất ngủ khi mà đồng Đo-la chuyển biến lên xuống. Đồng tiền liền với khúc ruột mà ! CNN ngày 17.02.2010 chạy hàng chữ trên Đài “China losing appetite for US debt”. Các báo Le Monde ngày hôm sau 18.02.2010, p.12; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.32, cũng lên tiếng phụ họa về cảnh ăn không ngon, ngủ không yên này của Trung quốc. Trung quốc lên tiếng đòi hỏi lần lượt những vấn đề sau đây:

*        Kiểm sóat chặt chẽ hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh mà đồng Đô-la giữ ưu thế

*        Thay thế đồng Đo-la bằng một Đơn vị Tiền tệ chung nào đó trong khuôn khổ IMF

*        Hiện nay, Trung quốc dùng Thương mại để bành trướng đồng YUAN xâm lăng ra nước ngòai (Xin đọc bài Quan Điểm đăng trong số VietTUDAN 436/25.02.2010).

Những vấn đề Tranh chấp, thậm chí Chiến tranh, về Tiền tệ trên đây khiến chúng tôi thấy cần viết những quan niệm giáo khoa về Tiền tệ nói chung để chúng ta có cùng một tiếng nói khi nhận định về các Tranh chấp.

Chúng tôi xin trình bầy lần lượt những điểm:

=>     Phát minh và chuyển biến của Tiền tệ
=>     Những Chế độ Tiền tệ và định Tỷ giá
=>     Những Thị trường liên quan đến Tiền tệ
=>     Cán cân Thương mại và đồng Tiền mạnh
=>     Làm thế nào Tiền đẻ ra Tiền
 

Phát minh và chuyển biến của Tiền tệ

Không ai nhai nuốt đồng 100 Đo-la để khỏi đói, mà dùng đồng 100 Đô mua đồ ăn để ăn thì bụng mới không đói được. Như vậy đồng tiền chỉ là thứ yếu, là phương tiện để mua hàng hóa phục vụ cho những nhu cầu của con người. Hàng hóa thực của sản xuất Kinh tế là chính yếu, còn đồng tiền là phụ. Chính vì vậy, đồng tiền được định nghĩa là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises) hay “Phương tiện chuyên chở trao đổi hàng hóa” (Moyen de véhiculer les échanges des marchandises).

Xem những câu định nghĩa như vậy, thì chính việc phát triển trao đổi hàng hóa (Thương mại) đòi hỏi việc phát minh ra Tiền tệ và sự Chuyển biến của Tiền tệ cho phù hợp với đà phát triển Thương mại nội địa hay quốc tế. Phát minh và Chuyển biến Tiền tệ qua những giai đọan như sau:

1)      Trao đổi hiện vật (Echange de Troc)

Trao đổi hiện vật, nghĩa là hàng hóa trao đổi lấy hàng hóa. Một người có dư  5 con gà, nhưng lại muốn có cái ghế để ngồi. Họ mang 5 con gà để đổi lấy cái ghế. Nhưng một người khác chỉ có dư 4 con gà, mà lại muốn cái ghế. Việc trao đổi gà lấy ghế trở thành bế tắc. Chẳng lẽ chặt cái ghế ra làm 5 phần và họ chỉ lấy 4 phần của cái ghế.

Cái bế tắc đầu tiên cho trao đổi hiện vật là việc phân chia hàng hóa thành những thành phần nhỏ. Chính cái bế tắc thương mại này đã đòi hỏi phải phát minh ra một phương tiện có thể phân chia ra càng nhỏ càng hay. “La DIVISIBILITE pousse le Commerce à inventer la Monnaie” (Tính cách khả phân đẩy Thương mại đến phát minh Tiền tệ).

2)      Tiền-Hàng hóa (Monnaie-Marchandise)

Ý tưởng đầu tiên là chọn một lọai hàng hóa mang tính cách khả phân tốt nhất. Một số bộ lạc Phi châu đã chọn Răng Sư tử làm đơn vị trao đổi các hàng hóa khác. Tại Á châu, dân chúng chọn Đấu Gạo làm Đơn Vị trị giá việc trao đổi hàng hóa. Xem việc chọn lựa này, vì tính cách khả phân, Tiền tệ còn mang tính Khan hiếm (Rareté) và tính Phổ quát ( Universalité). Thực vậy, Răng Sư Tử không phải là dễ kiếm, do đó Tiền mới qúy. Nếu chọn những viên sỏi làm Tiền, thì ai cũng kiếm được. Cũng vậy, chọn Đấu Gạo làm Tiền trung gian Thương mại, đó là nhấn mạnh tính Phổ quát (Universalité) của hàng hóa lựa chọn. Ở Á châu, Gạo là phổ quát nhất, ai cũng chấp nhận.

Tóm lại, một đồng Tiền phải mang tính Khả phân (Divisibilité) để dễ dàng làm trung gian trao đổi; một đồng Tiền phải mang tính Khan hiếm (Rareté) để tự nó mang một giá trị; một đồng tiền phải mang tính Phổ quát (Universalité) nghĩa là mọi người cùng công nhận.

3)      Tiền Kim lọai (Monnaie Métallique)

Hàng hóa mỗi ngày mỗi nhiều. Những tác nhân Kinh tế mỗi ngày mỗi giầu có thêm và người ta nghĩ đến Tiết kiệm, tích lũy hàng hóa cho tuổi già hay cho con cháu sau này. Tiền bạc trở thành một phương tiện tích lũy tài sản. Nếu chọn Tiền bạc bằng một hàng hóa nào đó, thì hàng hóa dễ trở thành hư hỏng, mất giá trị trong thời gian. Đây là tính cách thứ tư mà người ta đòi hỏi Tiền tệ phải có, đó là tính Kéo dài (Durabilité) trong thời gian. Không ai muốn tiết kiệm tiền bạc mà trong thời gian bị hư hỏng, mất giá. Tính cách Kéo dài (Durabilité) này đã thúc đẩy việc lựa chọn Kim lọai làm Tiền tệ. Đầu tiên là chọn Sắt, nhưng Sắt dễ bị rỉ. Người ta chọn Đồng khó bị rỉ hơn. Nhưng Đồng dễ kiếm, phạm vào tính Hiếm có (Rareté). Người ta chọn Bạc vừa khó bị hư hỏng vừa hiếm có hơn Đồng. Cuối cùng VÀNG được chọn lựa như Tiền tệ Kim lọai chót. Thực vậy, Tiền Vàng mang đủ 4 tính chất : Khả phân (Divisibilité) thành cân lượng thật nhỏ; Hiếm có (Rareté) nên tự nó có giá trị nội tại (Valeur en soi); Phổ quát (Universalité) vì cả Thế giới, ai cũng chấp nhận vàng; Kéo dài (Durabilité) vì vàng không bị rỉ.

Hiện nay, giữa các đồng Tiền, VÀNG vẫn là nơi ẩn náu (Refuge) khi các Tiền tệ bị giao động.

4)      Tiền Giấy

Những bế tắc Thương mại đã thúc đẩy phát minh Tiền tệ. Ở thời kỳ Thương mại hiện vật (Commerce de Troc), tính cách bất khả phân hàng hóa khiến người ta phát minh ra Tiền tệ trung gian mang tính khả phân tối đa.

Ở thời kỳ phát triển Thương mại Quốc tế từ Trung Cổ Aâu châu, một bế tắc nữa khiến người ta phải phát minh ra Tiền Giấy. Thực vậy, Trung Cổ Aâu châu là thời kỳ phân chia đất đai cho các Lãnh chúa. Mỗi vùng nhỏ có một Lâu đài Lãnh chúa quy tụ dân chúng chung quanh thành những Thành phố. Mỗi vùng tổ chức những Chợ Phiên của Thành phố để trao đổi hàng hóa, tỉ dụ Chợ Phiên Bruxelles, Chợ Phiên Milano, Chợ Phiên Munich... Thương gia từ Thành phố Milano muốn mua hàng hóa ở Chợ Phiên Bruxelles. Mua hàng, phải trả Tiền. Nhưng nếu Tiền tệ là Kim lọai, Vàng chẳng hạn, thì phải chở Vàng từ Milano đến Bruxelles để trả. Chở Vàng từ Milano đi Bruxelles, vượt qua rặng núi Alpes, thì sợ ăn cướp, không có an ninh giữa một thời giặc giã của các Lãnh Chúa.

Cái bế tắc của thời kỳ phát triển Thương mại quốc tế này là An ninh (Sécurité) cho Tiền bạc khi mang Tiền đi xa để mua hàng. Việc phát minh qua những giai đọan như sau:

=>     Chứng minh thư ký thác (Certificat de Dépôt)

Vàng không được chở đi, mà chỉ được ký thác tại một Nhà Ký Thác (Maison de Dépôt). Nhận và giữ vàng của Thương gia, Cơ sở Ký thác cho Thương gia một Tờ Giấy chứng minh số vàng ký thác. Thương gia từ Milano chỉ cần mang Tờ Giấy Chứng Minh Ký thác sang Bruxelles, đế trình Chứng Minh thư tại một Cơ sở Ký thác khác tại đây để đổi thành vàng mà mua hàng. Như vậy khi chỉ mang một Tờ Giấy Chứng Minh Thư Ký thác từ Milano sang Bruxelles, Thương gia có An ninh (Sécurité) hơn là chuyên chở qua rặng núi Alpes trùng điệp cả một lượng vàng nặng chĩu.

Chứng Minh Thư Ký Thác (Certificat de Dépôt) là hình thức đầu tiên của Tiền Giấy ngày nay. Những Cở Sở Ký Thác (Maison de Dépôt) trở thành những Ngân Hàng ngày nay.

Xin chú thích thêm rằng trên Tờ Chứng Minh Thư Ký thác, luôn luôn có hai Chữ Ký. Qúy vị lưu ý rằng trên các Tờ Giấy Bạc hiện nay vẫn giữ hai Chữ Ký. Các Giấy tờ Ngân Hàng đụng chạm đến Tiền bạc phải có hai Chữ Ký. Vấn đề đặt ra là làm thế nào Cơ Sở Ký Thác tại Bruxelles nhận ra Tờ Chứng Minh Thư Ký thác là thật hay giả.  Ở thời kỳ này, vấn đề kiểm chứng (Vérification) bằng truyền thông chưa có. Việc kiểm chứng ở thời kỳ này đặt trên cơ sở liên hệ Gia đình với những bí mật giao hẹn trước với nhau trong Gia đình. Đây là điểm cắt nghĩa tại sao ngành Ngân Hàng được bành trướng phần lớn giữa những người Do-thái. Thực vậy, những liên hệ Gia đình Do-thái ở khắp Aâu châu và họ phát triển những Cơ sở quản trị Tiền tệ.

=>     Tiền Giấy phát hành từ Ngân Hàng Trung Ương
         (Billet de Banque émis par la Banque Centrale)

Có hai biến cố dẫn đến việc phát hành Tiền Giấy duy nhất của Ngân Hàng Trung ương hay Ngân Hàng Quốc gia, Ngân Hàng Phát Hành (Banque Centrale, Banque Nationale, Banque d’Emission). Biến cố thứ nhất là các Lãnh chúa bị dẹp và thành lập những Quốc gia rộng lớn. Biến cố thứ hai là các Chứng Minh Ký Thác trở thành nhiều và phức tạp, hầu như chỉ dành cho những Thương gia chuyên biệt, trong khi dó đại da số Dân chúng cần phương tiện Tiền tệ mua bán.

Hai biến cố trên đây khiến các Quốc gia thành lập MỘT Ngân Hàng Trung ương để in ra MỘT lọai Chứng Minh Ký Thác, TIỀN GIẤY duy nhất cho Quốc gia, để dân chúng nhận biết và xử dụng làm Phương tiện trao đổi hàng hóa.

Ngân Hàng Trung ương hay Ngân Hàng Quốc gia được giao hai nhiệm vụ chính yếu:

*        Phát hành Tiền tệ (Emission des Billets de Banque)
*        Điều hành khối tiền cho vào phát triển Kinh tế/ Thương mại cho phù hợp (Gestion adéquate de la Masse monétaire mise en circulation dans  l’Economie et le Commerce).

Hai nhiệm vụ này được thực hiện theo đòi hỏi Kinh tế/Thương mại của Dân chúng có tính cách lâu dài, chứ không tùy thuộc những quyết định nhất thời mang mầu sác Chính trị của Nhà Nước cai trị. Ơû khía cạnh này, chúng ta có thể nói Quyền lực Tiền tệ mang tính cách độc lập với Quyền lực Chính trị (L’autorité monétaire est indépendante du pouvoir politique).

5)      Phát hành Tiền tệ Tư nhân (Emission monétaire privée)

Theo như định nghĩa lúc ban đầu về Tiền tệ, đồng tiền được định nghĩa là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises) hay “Phương tiện chuyên chở trao đổi hàng hóa” (Moyen de véhiculer les échanges des marchandises). Như vậy, tất cả mọi Phương tiện ngòai TIỀN MẶT (Tiền Giấy phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương) có thể được xử dụng để mua bán hàng hóa đều có thể được gọi là Tiền tệ.

Tính cách Phổ quát (Universalité) của tờ Giấy Bạc phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương làm mất An ninh (Sécurité). Thực vậy, cầm một xấp Giấy Bạc 100 Đô ra phất phơ khoe khoang trước các Cô trong Bar, có thể bị giết khi ra khỏi Bar như chơi. Cái lý do là thằng ăn cướp, cô bán Bar hay mình có thể xử dụng những tờ Giấy Bạc 100 Đô như nhau. Chúng ta mất An ninh khi cầm tờ Giấy Bạc. Vì vậy, mọi người muốn Ký thác những tờ Giấy Bạc ấy tại Ngân Hàng tư để chỉ lấy những Chứng Minh Thư Ký thác (giống như Ký thác Vàng trước đây) để có những Carnet de Chèques, Credit Cards, Promissory Notes, Stanby Letter of Credit, Bank Guarantees... mà mua bán hàng hóa.

Đây là việc phát hành Tiền tệ của lãnh vực Tư nhân. Việc phát hành này không những chỉ dựa trên TIỀN MẶT hiện có và ký thác, mà còn bao trùm cả tiền bạc khả thể (Monnaie virtuelle) ước mong nhận được trong lai.  Lãnh vực tương lai này đã tạo thành Kỹ Nghệ Tài chánh của giới nắm giữ Tiền tệ. Nhưng tương lai giống như bài hát “Que sera sera” bấp bênh. Giới phát hành Tiền tệ tương lai đã tạo nên những Khủng hỏang. 


Những Chế độ Tiền tệ và định Tỷ giá

Đại thể, Tiền tệ đã trải qua những Chế độ (Régimes Monétaires) quy định mà mục đích là làm cho những người giữ Tiền có một sự chắc chắn nào đó về tài sản tiết kiệm của mình. Làm thế nào mà những người tiết kiệm dưới hình thức Tiền tệ có thể thấy tài sản của mình ít bị mất?

Chúng tôi trình bầy ba chế độ sau đây cho đến nay:

1)      Chế độ BẢN VỊ VÀNG (Etalon-Or)

Mỗi quốc gia, hòan tòan độc lập, định giá Tiền tệ riêng của mình dựa trên Cân lượng Vàng tương đương cho Đơn vị Tiền. Tỉ dụ một Quan Thụy sĩ, CHF.1 = 0.020gr Or fin; một Đo-la Mỹ, USD.1 = 0.040gr Or fin.

Tất cả những Quốc gia định giá trị Tiền bạc của mình dựa trên cân lượng vàng thuộc về Chế độ Bản Vị Vàng.

Trong cùng một Chế độ như vậy, các nước mới có thể định Tỷ giá Tiền tệ giữa hai nước. Theo tỉ dụ trên đây, thì hối suất giữa đồng Đo-la Mỹ và Quan Thụy sĩ sẽ là:

Tỷ giá Đo-la Mỹ/Quan Thụy sĩ:  

                     0.040 gr Or fin
USD.1.-   =     -------------------    =    CHF.2.-
                     0.020 gr Or fin                      

 
Trong Chế độ Bản Vị Vàng, Tỷ giá Tiền tệ mang tính cách khách quan và khó lòng thay đổi vì dựa trên cân lượng vàng không thay đổi trừ khi một quốc gia tự ý định lại cân lượng vàng cho đồng Tiền của mình. Trong Chế độ này, người ta cấm luôn Thị trường Vàng song hành với Tiền tệ. Người giữ Tiền bạc chắc chắn về giá trị đổng tiền bởi lẽ có sự hóan chuyển (Convertibilité) Tiền thành Vàng.

2)      Chế độ BẢN VỊ-TIỀN TRUNG GIAN-VÀNG
         (Etalon-Devise-Or)

Chế độ trên đây kéo dài khá lâu. Nhưng Thế Chiến II đã buộc phải thay đổi Chế độ Tiền tệ. Thực vậy, Thế Chiến II đã làm các nước Aâu-châu mất hết Vàng để bảo đảm cho việc định giá trị Tiền bạc của mình. Chỉ có đồng Đo-la Mỹ và đồng Quan Thụy sĩ còn đủ vàng bảo chứng cho Tiền tệ của mình.

Những đồng Quan Pháp, Mark Đức, Lire Ý... hòan tòan mất giá.

Trước tình trạng này, Hoa kỳ kêu gọi Hội Nghị Bretton Woods về Tiền tệ năm 1944 để định lại giá trị về Tiền tệ. Hội Nghị quyết định ba điều:

1)      Chế độ Tiền tệ vẫn lấy cân lượng Vàng làm gốc   

2)      Lấy một đồng Tiền trung gian còn Vàng bảo đảm giá trị. Đồng Đo-la Mỹ được chọn

3)      Thiết lập Qũy Hỗ Trợ Tiền bạc, đó là IMF hiện nay

Theo quyết định của Hội Nghị, thì Tiền mỗi nước được định theo giá trị đồng Đo-la Mỹ để rồi qua đó mới có hóan chuyển sang cân lượng vàng.

Tỉ dụ một Quan Pháp được định giá trị là USD.20 cents; một Quan Thụy sĩ được định giá trị là USD.80 cents.

Từ đó, Tỷ giá giữa đồng Quan Pháp và đồng Quan Thụy sĩ được định như sau:

Tỷ giá Quan Thụy sĩ/ Quan Pháp:  

                    USD.80 cents
CHF.1.-   =     -----------------    =   FF.4.-
                    USD.20 cents

 
Như vậy, Tỷ giá Tiền tệ giữa các nước vẫn không bấp bênh vì định nghĩa đồng Đo-la vẫn dựa trên cân lượng vàng. Nhưng tính hóan chuyển gián tiếp sang vàng thay đổi nếu Hoa kỳ thay đổi định giá cân lượng vàng cho đồng Tiền của mình. Thế giới bắt đầu cảm thấy một sự lệ thuộc vào quyết định giá trị của đồng Đo-la. Nếu Hoa kỳ tự ý tái quyết định cân lượng vàng cho đồng Đo-la, thì Thế giới phải tuân theo khi muốn hóan chuyển Tiền của mình thành vàng.

Chính vì cảm thấy sự lệ thuộc này, mà Staline đã gọi đây là “Impérialisme du Dollar” (Đế quốc Đo-la), mà TT. De GAULLE đã phản đối nhân danh Euro-Dollar, mà các nước giữ Pétro-Dollar lên tiếng.

3)      Chế độ BẢN VỊ KHẢ NĂNG MUA HÀNG
         (Régime du Pouvoir d’Achat)

Mặc dầu vàng vẫn được dùng dưới hình thức Lingot để bảo đảm Tiền tệ, nhưng Dân chúng xa vời với vấn đề định giá tương đương vàng cho Đơn vị Tiền tệ của mỗi nước. Điều thiết thân hơn hết của Dân chúng là tương đương hàng hóa mà họ có thể mua được với một Đơn vị Tiền tệ mà họ đang giữ.

Trên thực tế, Dân chúng chấp nhận một Chế độ Tiền tệ được dịnh nghĩa dựa trên Khả năng hóan chuyển sang hàng hóa mà họ xử dụng hàng ngay.

Tỉ dụ tại Mỹ, USD.1.- có thể mua được 600gr khoai tây và tại Thụy sĩ CHF.1.- có thể mua được 400gr khoai tây.

Tỷ giá giữa Đo-la Mỹ và Quan Thụy sĩ:  

                    600gr khoai tây
USD.1.-  =      --------------------   =   CHF.1.50
                     400gr khoai tây

 
Đây là Tỷ giá thực tiễn nhất mà người Dân chấp nhận cho đời sống của họ. Nhưng Tỷ giá này lại không mang tính cách cố định như dựa trên so sánh cân lượng vàng hàm chứa trong định nghĩa Tiền tệ của mỗi nước. Tỷ giá dựa trên khả năng đổi lấy hàng hóa thay đổi không lường vì tình trạng sản xuất Kinh tế mỗi nước có những thay đổi theo mùa, theo năm. Khả năng phát triển Kinh tế đều đặn của một nước là nền tảng bảo đảm cho giá trị vững bền của đồng Tiền của nước đó.

Với Chế độ Bản Vị Khả năng Mua hàng (Régime du Pouvoir d’Achat) tình trạng Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế hiện nay đã làm cho các nước lo lắng vì giữ quá nhiều Dự trữ Tiền tệ bằng Đo-la. Trung quốc giữ khối Đo-la khổng lồ, ăn không ngon, ngủ không yên là phải.

Trên đây, chúng tôi lấy tỉ dụ một mặt hàng là khoai tây. Trong tính tóan tổng quát cho Quốc gia, người ta kể mọi mặt hàng tiêu thụ tính thành một Chỉ số Tổng quát được tóm gọn trong Công thức sau đây của FISHER:

    M.V
  -----------    =    P
      T

M : Khối Tiền tệ cho vào nền Kinh tế; V: Tốc độ lưu hành Tiền tệ; T: Sản xuất/ Thương mại hàng hóa trong một thời kỳ nhất định; P: Mức độ Tổng quát những Giá cả (Niveau Général des Prix). Chính dựa trên thay đổi của P mà người ta nói đến Lạm phát mà lý do có thể là tăng Khối Tiền lưu hành hay là giảm Khả năng Sản xuất/Thương mại mà những Cơ quan trách nhiệm điều hành Khối Tiền chưa có những biện pháp điều chỉnh kịp thời.

Cũng ở trong Chế độ Bản Vị Khả năng Mua hàng này mà một số Quốc gia, nhất là những Nhà Nước độc tài, khi gặp thiếu hụt Ngân sách, dễ dàng in Tiền mới cho vào Khối Tiền M để làm Lạm phát hòan tòan có tính cách Tiền tệ. Đây là một tội ác đối với Dân chúng đang tích giữ Tiền bạc có khả năng mua hàng thực sự. Đồng Tiền mới in ra chưa được chuyển qua hệ thống sản xuất Kinh tế để có tương đương hàng hóa. Nhà Nước độc tài tung đồng Tiền mới ra để tiêu dùng lẫn lộn với đồng Tiền cũ đã có khả năng tương đương hàng hóa. Đây là việc làm mất giá cho đồng Tiền cũ.

Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết: “L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy).

 
Những Thị trường liên quan đến Tiền tệ

Chúng tôi muốn phân biệt bốn Thị trường sau đây rất gần nhau, cùng khởi nguồn từ đồng Tiền: Thị trường Tiền tệ, Thị trường Tài chánh (Vốn), Thị trường Chứng khóan, Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng. Mỗi Thị trường nhằm thu Lợi nhuận từ những phương diện khác nhau.

=>     Thị trường Tiền tệ

Nói đến Thị trường là nói đến hai phía Cung và Cầu. Thị trường Tiền tệ có phía Cung một đồng Tiền để bán và phía Cầu cùng đồng Tiền ấy để mua. Nếu phía Cung đồng Tiền nhiều hơn, thì đồng Tiền ấy giảm giá trị, nghĩa là dùng một đồng Tiền khác để mua, thì mua được lượng nhiều hơn (Valeur nominale). Cũng vậy, nếu trên Thị trường có nhiều người Cầu, thì đồng Tiền trở thành mắc giá và khi dùng đồng Tiền khác để mua, thì lượng mua được sẽ ít hơn. Đây là vấn đề chênh lệc Tỷ giá do Cung và Cầu.

Nếu Thị trường hòan tòan tự do thay đổi theo Cung, Cầu, thì lượng Tiền trao đổi sẽ làm cân bằng Tỷ giá. Nhưng nếu Tỷ giá có sự can thiệp cứng nhắc của một quyền lực ngọai tại, thì Thị trường Tiền tệ sẽ có hai giá: Giá chính thức bó buộc và Giá chợ đen lén lút. Đây là trường hợp Thị trường Tiền tệ tại Trung quốc và tại Việt Nam giữa đồng Đo-la và đồng Tiền của mỗi Quốc gia.

=>     Thị trường Tài chánh (Vốn)

Nếu Thị trường Tiền tệ nhằm vào chênh lệc Tỷ giá, thì Thị trường Tài chánh nhằm vào Lãi suất. Lãi suất, cái Giá của Thị trường, tăng giảm là do Cung và Cầu Vốn. Phía Cầu Vốn là những Công ty làm việc trong lãnh vực Kinh tế thực. Phía Cung Vốn là những Ngân Hàng, những Tập thể Tài chánh. Các Công ty tìm vay Vốn với Giá rẻ, nghĩa là Lãi suất thấp. Trong khi ấy, những Ngân Hàng, những Tập đòan Tài chánh tìm nơi cho thuê Vốn với Lãi suất cao.

Trong thời Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế 2007/09, các Ngân Hàng Trung ương hạ Lãi suất chỉ đạo xuống thấp, nghĩa là làm cho Giá thuê vốn trở thành rẻ để những Công ty có thể thuê Vốn dễ dàng mà họat động khôi phục nền Kinh tế thực.

=>     Thị trường Chứng khóan

Thị trường Chứng khóan cũng là Thị trường Tài chánh. Thị trường Tài chánh chính hiệu trên đây là sự va chạm giữa phía Công ty Cầu Vốn và phía có Tiền Cung Vốn. Nguồn lợi là Lãi suất.

Thị trường Chứng Khóan cũng là Thị trường Tài chánh, nhưng là nơi gặp gỡ các Thương gia mua bán những Giá trị các Công ty ghi tên trên Thị trường. Nguồn thu lợi chính yếu là chênh lệch lên xuống Giá trị các Công ty ghi trên Thị trường. Những người tham dự vào Thị trường Chứng khóan có khuynh hướng tác động đầu cơ để làm cho Giá cả Thị trường lên xuống mà lấy lợi.

Thị trường này cho những lợi nhuận cao và mau mắn. Đây là Thị trường vĩ đại quay vòng quanh Thế giới 24/24 giờ. Khủng hỏang khởi nguồn từ Subprime Mortgage Credits làm cho Thị trường Chứng khóan xẹp xuống đen tối, nhưng rồi trong một thời gian ngắn các Thị trường Chứng khóan sôi động lại vì số vốn tham dự vào Thị trường này khổng lồ để các Ngân Hàng và Tập đòan Tài chánh thi nhau thu lợi nhuận từ chênh lệc Giá trị các Công ty niêm yết.

=>     Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng.

Có lẽ đây là Thị trường không được công khai phổ biến cho lắm, nhưng vẫn hiện diện như trợ lực cho Thị trường Tài chánh. Thực vậy, để có thể vay được Vốn, phải có thế chấp bảo đảm cho việc hòan vốn. Thế chấp thường được đòi hỏi là những Bank Guarantees, Standby Letter of Credit phát hành do những Ngân Hàng đáng tin cậy. Việc xếp hạng tin cậy giữa các Ngân Hàng khác nhau. Tỉ dụ nếu Bảo Lãnh của Bank of America có giá trị tin tưởng 95%, thì Bảo Lãnh phát hành bởi Banco Da Brazil chỉ mang tin tưởng được 60% chẳng hạn. Sự chênh lệc tin tưởng này lại làm phát sinh ra những Phát hành Tái Bảo Lãnh.

Những Công ty vay Vốn vào Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng này để mua bán những Thế chấp làm Collateral mà vay Vốn.
 

Cán cân Thương mại và đồng Tiền mạnh

Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.

Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh ?

Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.

Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giàm giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.

Trung quốc, do xuất cảng, thu vào nhiều Đo-la tất nhiên đồng Yuan phải trở thành mắc hơn. Nhưng Nhà Nước độc tài Trung Cộng đã cố tình giữ giá đồng Yuan hạ để nâng dỡ cho xuất cảng mà thôi.
 

Làm thế nào Tiền đẻ ra Tiền

Vớiõ 4 Thị trường liên hệ đến Tiền bạc như chúng tôi đã trình bầy trên đây, giới Ngân Hàng và Tài chánh có nhiều phương tiện để làm ăn thu Lợi nhuận mà chưa chắc đã cần phải qua lãnh vực họat động Kinh tế thực.

Giới Ngân Hàng và Tài chánh nắm giữ khối hiện Kim khổng lồ, đồng thời họ lại có khả năng phát hình tư nhân Tín dụng, tương lai Kim (Monnaie virtuelle) để đầu tư kiếm lời. Người ta nói đến sự tách rời ra của giới Ngân Hàng và Tài chánh để lập một KỸ NGHỆ TÀI CHÁNH riêng với những Sản phẩm Tài chánh đặc biệt để làm sinh lời. Sản phẩm Subprime Mortgage Credit là một trong những tỉ dụ.

Khi làm việc về Tài chánh, chúng tôi đã gặp những Khách hàng đặt câu hỏi: khi bỏ Tiền vào, Ngân Hàng chỉ cho lợi nhuận hàng năm tối đa 5%, tại sao Ngân Hàng xử dụng Tiền của chúng tôi để làm ăn thu và lợi nhuận 50% chẳng hạn ?

Lợi nhuận cao ! HYI :High Yield Investment ! Tiền đẻ ra Tiền !

Năm 2004, chúng tôi đã viết một tỉ dụ đơn giản bằng tiếng Anh để cắt nghĩa Lợi nhuận cao. Chúng tôi xin tóm tắt bằng tiếng Việt tỉ dụ ấy: TỈ DỤ MỘT ÔNG CHÀ GIÀ CHO VAY KIẾM LỜI Ở GÓC CHỢ BẾN THÀNH.

Oâng Chà Già có 100 đồng làm vốn để cho vay kiếm lời. Oâng ra đứng ở góc Chơ Bến Thành. Khách hàng xin vay của Oâng là những Bà buôn thúng bán mẹt, chồng chết vì chiến tranh, nên mua buôn bán lẻ rau cỏ tại mấy góc phố. Mỗi buổi sáng Oâng cho một Bà vay 100 đồng với điều kiện là chiều tối trả lại vốn và thêm Tiền lời là 0.50 xu. Đối với các Bà cần vốn mua hàng buôn bán độ nhật, thì giá thuê vốn 0.50 là quá rẻ.

Oâng Chà Già làm việc 5 ngày một Tuần. Như vậy mỗi Tuần Oâng thu vào được 2.5 đồng. Mỗi Tháng 4 Tuần, Oâng thu vào được 10 đồng Tiền lời. Oâng làm việc một Năm 10 tháng, còn để 2 tháng đi nghỉ hè. Như vậy một năm làm việc 10 tháng, ông thu Lợi nhuận vào là 100 đồng.

   0.50 mỗi ngày
x 5 ngày mỗi tuần
x 4 tuần mỗi tháng 
x 10 tháng mỗi năm
= 100 đồng Lợi nhuận trong một năm, nghĩa là Lợi nhuận 100% hàng năm cho số vốn đầu tư.

Đó là Lợi nhuận cao có thể thực hiện được. Đây không phài là điều mơ mộng hão huyền mà là sự tính tóan cụ thể mà ai cũng thấy. Nếu có lúc nào đó, chúng ta khẳng định có thể kiếm Lợi nhuận đầu tư là 100%, nhiều người cho rằng chúng ta nói khùng điên. Nhưng thực tế có thể làm được như tỉ dụ Oâng Chà Già.

Không có gì là bí ẩn để cắt nghĩa Lợi Nhuận cao. Lợi nhuận là việc thu vào cái kết quả sau một CHU TRÌNH KHAI THÁC (Cycle d’Exploitation). Một Chu Trình Khai Thác được định nghĩa là từ khi mua sắm nguyên vật liệu, rồi biến chế thành sản phẩm và chấm dứt ở việc bán sản phẩm để thu vào được số thặng dư đối với chi tiêu. Chu trình Khai Thác mang thời gian dài ngắn khác nhau tùy theo ngành nghiệp và sản phẩm. Tỉ dụ Chu trình Khai Thác nông nghiệp như trồng Cà Chua có thể kéo dài 2 tháng, từ khi mua cây con cho đến khi cây lớn ra trái và đem trái đi bán.

Nguyên tắc thu vào lợi nhuận cao và mau là phải rút ngắn CHU TRÌNH KHAI THÁC, hay nói cách khác là TĂNG TỐC ĐỘ QUAY của Chu Trình (Accélération de la Vitesse de Rotation). Chúng ta càng quay mau, thì lợi nhuận càng vào nhiều

Đối với Chu Trình Mua/Bán ở các Thị trường Tiền tệ, Thị trường Tài chánh và Chứng khóan, các Ngân Hàng/Tập đòan Tài Chánh có thể rút rất ngắn lại một Chu Trình thực hiện Thương vụ. Việc thu ngắn Chu trình Thương vụ Tài chánh mỗi ngày mỗi dễ dàng do phương tiện truyền thông điện tử mau chóng. Chỉ trong một tiếng đồng hồ, những Traders có thể hòan thành một Chu trình Thương vụ Tài chánh để thu vào Lợi nhuận.

Nếu Oâng Chà Già trên đây muốn tăng vận tốc Chu trình cho vay của Oâng, Oâng có thể cho vay một ngày hai lần cho hai Bà buôn thúng bán mẹ. Như vậy Lợi nhuận hàng năm của Oâng sẽ tăng gấp đôi mặc dầu Oâng chỉ thu vào có 0.50 xu mỗi lần cho vay.
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 24.02.2010



VIỆT NAM PHÁ GIÁ ĐỒNG BẠC

VN phá giá đồng bạc vào ngày 28 Tết
Thứ Tư, 10 tháng 2 2010


Tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND áp dụng kể từ ngày 11/2/2010 là 18.544 đồng ăn 1 đôla Mỹ.

Hôm thứ Tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam loan báo định giá lại đồng tiền lần thứ nhì kể từ tháng 11, giảm giá tiền đồng thêm hơn 3% nhằm giữ cân đối trên thị trường ngoại hối và kiểm soát thâm hụt thương mại.

Tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND áp dụng kể từ ngày thứ Năm, 11 tháng 2, tức 28 Tết, sẽ là 18.544 đồng ăn 1 đôla Mỹ, tức là giảm giá 3,25% theo cách tính của IMF. Trước đó, 1 đôla Mỹ chỉ đổi được 17.941 đồng.

Thông báo của ngân hàng này cho biết mục đích của việc điều chỉnh tỷ giá là nhằm “cân đối hài hoà cung - cầu ngoại tệ, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô.”

Ngoài ra, cũng kể từ ngày 11 tháng 2, lãi suất tiền gửi tối đa bằng đôla Mỹ của tổ chức kinh tế, ngoại trừ tổ chức tín dụng, tại tổ chức tín dụng sẽ có mức tối đa là 1% một năm.

Theo tin Reuters, các biện pháp này nhằm đưa thêm đôla ra ngoài thị trường.

Ðồng bạc Việt Nam đã chịu áp lực từ nhiều tháng qua, một phần là do thiếu đôla, một phần vì sự thiếu tin tưởng vào đồng bạc Việt Nam, do thâm hụt thương mại và có thể lạm phát. Việt Nam ước lượng thâm hụt thương mại trong tháng 1 là 1,3 tỉ đôla và lạm phát là 7,62%.

Việc điều chỉnh tỷ giá xảy ra vào giáp Tết, khi có nhiều nhu cầu về tiền mặt và thanh khoản ngân hàng.

Hôm thứ Hai, ngân hàng HSBC báo cáo áp lực đối với tiền đồng sẽ kéo dài nếu không có hành động.

Nguồn: Wall Street Journal, Reuters, http://www.sbv. gov.vn/vn/ home/tintuc. jsp

 









PHÁ GIÁ ĐỒNG BẠC VIỆT NAM

Phá giá đồng nội tệ không cải thiện nền kinh tế CS Việt Nam
John Ruwitch : Nhà Quê dịch



HÀ NỘI (Tin Reuters) – CS Việt Nam có nguy rơi vào vòng xoáy buộc phải phá giá đồng nội tệ liên tục ngoại trừ có các chính sách đi kèm với các biện pháp đối với thị trường ngoại hối nhằm kiểm soát lạm phát và giới hạn thâm thủng mậu dịch, ngày càng gia tăng, một cách có hiệu quả.

Lạm phát đang gia tăng trở lại và thâm thủng mậu dịch đang mở rộng làm trở ngại các cố gắng của các giới chức chính quyền nhằm thu hút đồng Mỹ kim dân chúng đang cất giữ trở lại dòng luân lưu tiền tệ và giảm thiểu sự thất thoát nguồn dự trữ ngoại tệ.

Ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngày thứ Năm (February 11) phá giá đồng nội tệ 3,25% đồng thời áp mức tối đa đối với hối suất dành cho đồng Mỹ kim gởi tại ngân hàng. Đây là lần phá giá thứ 3 kể từ tháng 12 năm 2008, dẫn đến hối suất tham khảo hằng ngày của ngân hàng trung ương giảm hơn 11% trong hơn một năm.

Bui Kien Thanh, một cựu cố vấn cho chính phủ VN, nói rằng cả hai động thái đều không đáp ứng được nhu cầu bức thiết cho các thay đổi về chính sách mang tính rộng lớn.

“Dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước sẽ tiếp tục thu nhỏ và Ngân hàng nhà nước buộc phải có hành động nhằm bảo vệ giá trị hối đoái của đồng nội tệ,” ông Thanh nói.

“Sẽ không có sự chấm dứt đối với vòng xoáy tồi tệ này. Một phương cách mới và một chính sách tiền tệ mới là cần thiết nhằm thổi một luồng sinh khí mới vào nền kinh tế, thay cho các hành động mang tính đối phó và các luật lệ không phù hợp.”

Đồng nội tệ được kiểm soát trong một biên độ hối đoái, đã và đang chịu nhiều áp lực bị phá giá trong gần 2 năm qua khi nền kinh tế phát triển quá nóng và rồi sau đó giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Các chính sách trong quá khứ nhằm chận đứng sự tuột dốc giá trị của đồng bạc VN gần như không có hiệu quả.

Người dân có thói quen cất giữ Mỹ kim, tuy nhiên các giới chức chính phủ đã gia tăng mức báo động về việc cất giấu ngoại tệ trong khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã giảm thiểu lượng cung ứng ngoại tệ cho nền kinh tế.

Lạm phát gia tăng khi nền kinh tế phục hồi và thâm thủng mậu dịch càng nới rộng sẽ có thể là lý do khiến người dân cất giữ Mỹ kim, giới phân tích nhận xét. Một khi các lo lắng về kinh tế vĩ mô vẫn tồn tại, đồng nội tệ sẽ tiếp tục bị áp lực mất giá, các kinh tế gia nhận định.

DBS có trụ sở tại Singapore nhận xét vào ngày thứ Năm (February 11) rằng việc phá giá đồng nội tệ được mong đợi sẽ xảy ra – và sau đó sẽ xảy ra liên tục.

“Về căn bản, việc phá giá đồng nội tệ không nên xem là một ngạc nhiên, nhiều cuộc phá giá có nhiều khả năng diễn ra trong năm nay.” DBS nhận xét

Lạm phát, nổi sợ còn nguyên sơ đối với người dân vốn đã trải qua lạm phát phi mã vào thập kỷ 80 của thế kỷ trước, đang gia tăng trở lại.

Sau khi có khuynh hướng thuyên giảm trong năm 2009 với lúc thấp nhất chỉ 2% vào tháng 8, lạm phát tăng mạnh lên 7,6% vào tháng giêng để vượt qua chỉ tiêu của chính phủ đề ra là 7%.

Chiến lược gia tiền tệ của ngân hàng HSBC Daniel Hui nhận định rằng lạm phát sẽ lên đến hai chỉ số vào quí 2 của năm nay.

Thâm thủng mậu dịch đã bùng phát trong những năm gần đây từ 5 tỉ Mỹ kim vào năm 2006 lên đến 18 tỉ Mỹ kim vào năm 2008. Suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn đến thâm thủng mậu dịch giảm xuống 12 tỉ Mỹ kim vào năm 2009, tuy nhiên con số thâm thủng vào tháng Giêng năm nay đã vượt quá 1 tỉ Mỹ kim.

Ngân hàng trung ương bảo rằng hy vọng những biện pháp gần đây của ngân hàng trung ương sẽ cân bằng cán cân cung cầu tiền tệ và sẽ ổn định nền kinh tế.

Phản ứng của thị trường

Việc phá giá đẩy biên độ giao dịch lên đến 19.100 đồng đổi một Mỹ kim, một sự khác biệt không đáng kể so với hối suất trên thị trường tự do.

Hối suất trên thị trường tự do vẫn vượt khỏi biên độ giao dịch vào ngay thứ Năm (February 11), điều này phản ánh nhiều dự đoán là đồng bạc Việt Nam sẽ tiếp tục mất giá.

Trên thực tế, chỉ tiêu của DBS vào cuối năm 2010 là 19.640 đồng đổi một Mỹ kim, dự đoán đồng nội tệ mất giá thêm 2,8%. Một chuyên gia ngoại hối kỳ cựu tại một ngân hàng Việt Nam nói rằng ông ta dự đoán hối suất sẽ lên đến 20.000 đồng vào cuối năm 2010, giảm 4,5%.

Tại các thị trường giao dịch ngoài Việt Nam, đồng bạc Việt Nam được giao dịch 20.194/21.194 vào ngày 11 tháng 2, điều này nói rằng đồng bạc sẽ mất giá hơn 5%.

Việc áp mức tối đa đối với hối suất dành cho đồng Mỹ kim gởi tại ngân hàng là cố gắng sau cùng của ngân hàng trung ương nhằm kích thích đồng Mỹ kim chảy vào dòng luân lưu của hệ thống ngân hàng. Các viên chức chính phủ phàn nàn việc cất giữ ngoại tệ trong dân chúng trong năm vừa qua và ra lệnh các công ty nhà nước đồng loạt bán Mỹ kim (nhằm dẫn đến hối suất đồng bạc giảm xuống khiến dân chúng gởi tiền vào ngân hàng nhiều hơn – NQ).

Vào đầu tháng hai, ngân hàng trung ương cho biết rằng nhiều công ty quốc doanh lớn đã bán ra hơn 450 triệu Mỹ kim cho các ngân hàng kể từ tháng 12 nhằm giảm thiểu sự thiếu hụt đồng Mỹ kim.

Số ngoại tệ bán ra chiếm chưa đến một phần tư trong số 1,9 tỉ Mỹ kim mà 7 công ty quốc doanh, vốn có lệnh phải bán Mỹ kim, đang gởi tại các ngân hàng vào cuối tháng 11, theo báo VNExpress, trích dẫn dữ liệu của ngân hàng trung ương.

Người Việt Nam vốn có thói quen cất giữ đồng Mỹ kim và vàng những khi nền kinh tế bất ổn và lạm phát phi mã trong quá khứ vẫn còn hằn sâu trong ký ức của người dân.

Ông Hui thuộc ngân hàng HSBC và kinh tế gia Wellian Wiranto nhận định trong bản báo cáo gởi cho khách hàng rằng lãi suất cần gia tăng nhằm giảm thiểu sự chờ đợi lạm phát gia tăng và mong muốn cất giữ Mỹ kim, nếu không sự mong muốn sẽ không giảm đi.

“Trên thực tế, rủi ro của việc tăng lãi suất cuối cùng sẽ làm gia tăng sự mong đợi về việc mất giá của đồng nội tệ trong tương lai, và kích thích mạnh lượng cầu đối với đồng Mỹ kim,” hai vị nhận xét.

Ngân hàng trung ương tăng lãi suất cơ bản 100 điểm (1% - NQ) vào tháng 12 lên 8% và chính phủ khuyến cáo rằng chính sách tiền tệ sẽ dần được siết chặt trong năm nay (tăng lãi suất – NQ).

Thống đốc ngân hàng Nguyễn Văn Giàu phát biểu với Reuters rằng lãi suất sẽ không gia tăng trước Tết Nguyên đán. Tuy nhiên các kinh tế gia và chuyên viên ngân hàng dự đoán rằng lãi suất sẽ gia tăng vào tháng 3 một khi cao điểm trong việc thanh khoản đồng nội tệ mang tính thời vụ gây ra bởi dịp Tết thuyên giảm.

Ngân hàng HSBC dự đoán rằng lãi suất căn bản sẽ gia tăng lên đến 4% trong năm nay đến 12%.

Việc phá giá của ngân hàng trung ương, được thông báo vào ngày thứ Tư (February 10), gây bất ngờ đối với thị trường.

Các nhà buôn bán ngoại tệ đã bán ra Mỹ kim vào những ngày gần Tết nhằm tận dụng việc lên giá mang tính ngắn hạn của tỉ lệ hối suất cho đồng nội tệ, được đẩy lên cao do nhu cầu sử dụng đồng nội tệ trong dịp Tết bắt đầu vào cuối tuần này.

Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam Cộng sản là bí mật quốc gia, tuy vậy dữ liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho biết rằng lượng dự trữ ngoại tệ giảm 21% xuống 18,8 tỉ Mỹ kim từ cuối năm 2008 đến cuối tháng 8 năm 2009.

Các quy định của Ngân hàng trung ương chỉ cho phép đồng nội tệ được giao dịch trong biên độ 3% đối với đồng Mỹ kim – tăng hoặc giảm.

Lạm phát tăng từ đầu năm

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của TP Hồ Chí Minh trong tháng Hai lên cao nhất trong vòng 17 tháng qua, gây quan ngại về lạm phát.

Theo Cục Thống kê TPHCM, CPI trong tháng Hai này 2010 tăng tới 1,68% so với tháng trước và tính chung hai tháng đầu năm, CPI của thành phố tăng gần 3%.

Giá của 10/11 nhóm mặt hàng tăng mạnh, chỉ trừ bưu chính viễn thông là lại giảm 1,3% do các nhà cung cấp đua nhau khuyến mãi trong dịp Tết.

Các mặt hàng dịch vụ ăn uống, giải trí - du lịch, lương thực thực phẩm đều tăng.

Hai tháng đầu 2010, CPI của TP HCM tăng 2,97%, cao hơn nhiều cùng kỳ năm ngoái và gây lo ngại về tình trạng lạm phát có thể gia tăng tại đô thị lớn nhất Việt Nam.

Cũng theo Cục Thống kê thành phố, trong tháng 01/2009, CPI tại đây chỉ tăng 0,04% và tháng 02/2009 tăng 1,31%.

Tuy nhiên, đầu năm 2009 tình trạng lạm phát đã khiến chính phủ phải chỉ đạo kiềm chế sớm. Sáu tháng đầu năm ngoái, CPI tăng tới 10,27%.

Chưa thể dự báo tỷ lệ lạm phát sẽ là bao nhiêu trong năm nay, nhưng các kinh tế gia đã bắt đầu lên tiếng cảnh báo rằng nó có thể cao hơn mục tiêu 7% trong cả năm.

Giá xăng và giá điện đã được nâng lên và trước đó Nhà nước đã ph̉ai điều chỉnh tỷ giá hối đoái hai lần trong ba tháng.




                                            NGĂN CHẶN TỨC KHẮC
                              TIẾN TRÌNH CSVN GIAO NƯỚC CHO TẦU


                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                       UNICODE: http://viettudan.net
                                              Geneva, 18.02.2009

 

Như trong Bài Mở Đầu cho CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ chúng tôi đã cắt nghĩa, điều kiện để có thể bắt đầu phát triển Kinh tế Đất Nước là phải dứt bỏ CƠ CHẾ CSVN hiện hành, một cơ chế cấu kết giữa dộc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế.

Khi đã dứt bỏ được cái CƠ CHẾ hiện hành để có thể bắt đầu phát triển, chúng tôi muốn khai triển những điều kiện để việc phát triển Kinh tế được bền vững và lâu dài: Dân chủ hóa Kinh tế trong một Môi trường Chính trị—Luật pháp Xã hội phù hợp (Environnement Politico—Juridique Social adéquat).

Một nền Kinh tế phát triển bền vững và lâu dài là nền Kinh tế cho một Quốc gia Việt Nam Độc lập. Nước Việt Nam đang đi đến mất Chủ quyền, thậm chí đảng CSVN, vì tham lam tiền bạc cho mỗi cá nhân đảng viên, đang đưa Đất Nước đến chỗ bị Trung quốc xâm lăng chính Lãnh Thổ và Lãnh hải. Vì vậy, nếu dứt bỏ được CƠ CHẾ CSVN hiện hành để có điều kiện bắt đầu phát triển, mà Đất Nước chúng ta lại bị xâm lăng bởi Trung quốc, thì không thể nào có thể nói là phát triển Kinh tế bền vững và lâu dài cho Quê Hương mình được. Phải ngăn chặn tức khắc Tiến trình CSVN đang giao Nước cho Tầu xâm lăng vậy.   


Từ tháng 9.2009, khi thấy một đàng chủ trương của Trung quốc là dùng tiền bạc để xâm lăng không những tại Việt Nam, mà còn các nước nghèo khác tại Phi Châu, Á Châu, Trung Á, một đàng Nhà Nước Việt Nam kiệt quệ về Ngân Sách nên đói ăn vụng túng làm liều đưa lãnh thổ Việt Nam dần dần dâng hiến cho xâm lăng Trung quốc, chúng tôi đã viết một bài tương quan Chủ Nợ—Con Nợ để cho thấy CSVN mất chủ quyền, không dám hé họng khi ngư dân VN bị Tầu hà hiếp ở Biển Đông chính trong vùng biển thuộc Việt Nam. Tệ hại hơn nữa, khi nhận nợ của Trung quốc đến ngập họng rồi và khi không trả nợ được, thì Trung quốc đòi bắt cả vợ và con gái, thì CSVN cũng phải giao cho Chệt dầy vò.

Thấy tình trạng mỗi ngày mỗi lệ thuộc Trung Cộng về tiền bạc như vậy, chúng tôi lại viết một bài thứ hai gần đây cho thấy rằng trong tương lai Tầu sẽ viện cớ Kinh tế trước Thế Giới để ngang nhiên mang quân đội vào Việt Nam để bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ và những người Tầu đã lập làng mạc và những Khu Thương Mại và Công Nghệ trên lãnh thổ Việt Nam.

Những phân tích và những lo ngại của chúng tôi trên đây không phải là không có bằng chứng. Thực vậy, tại Quốc nội, hai Tướng CS ĐỒNG SỸ NGUYÊN và NGUYỄN TRỌNG VĨNH đã viết rõ về nguy hại mất nước bởi lẽ CSVN đã cho Trung Quốc thuê dài hạn những khu đất đầu nguồn để Tầu mang người sang canh tác và sinh sống. Tại Hải ngọai, Oâng BÙI TÍN, một người cũng đã từ đảng CSVN, đã phân tích thêm tình trạng nguy hiểm mất nước này.

Nếu trước đây, vì quyền hành mà Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng viết Công Hàm nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông, Hỏang Sa và Trường Sa, thì ngày nay, cả đảng CSVN chỉ vì đồng tiền đút túi làm của riêng đã mang tài sản VN đi bán, mang Lãnh thổ VN giao cho Tầu, mời gọi tư bản nước ngòai vào VN để khai thác nhân lực, xuất cảng đàn bà con gái đi phục vụ tình dục. Tất cả chì vi tiền bạc muốn vơ vét đầy túi riêng.

Chúng tôi cho đăng lại những bài dưới đây để cho thấy CSVN đang thực hiện một tiến trình giao nước cho Tầu chỉ vì tiền bạc :

=> THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC
     (Nguyễn Phúc Liên)

=> BIỆN MINH CỦA TQ KHI ĐEM QUÂN TRÀN VÀO CHIẾM VN
     (Nguyễn Phúc Liên)

=> CSVN CHO TẦU THUÊ ĐẤT ĐAI
     (Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh)

=> HAI TƯỚNG CS CHỈ RA NGUY HIỂM
     (Bùi Tín)


THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM
TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 24.09.2009

Cách đây chừng trên 20 năm, có phong trào các nước đã Kỹ nghệ hóa MUA NỢ lại các nước nghèo chưa mở mang ở Phi Châu và Nam Mỹ. Khi Chính quyền những nước nghèo có những món nợ chồng chất, họ tìm cách bán những món nợ ấy. Phải chăng việc các nước giầu mua nợ (nhận nợ dùm) là một hành động bác ái, thương người ?

Về tiền bạc, rất hiếm người hoặc không có ai dễ dàng trở thành mạnh thường quân mà không có hậu ý. Cái hậu ý ở đây là bắt con nợ phải nhường những nguồn lợi Kinh tế lớn gấp mấy lần giá trị của món nọ mà họ mua dùm.

Tôi xin kể ra đây một tỉ dụ cụ thể để dễ hiểu. Cách đây 20 năm, tôi làm Cố vấn Tài chánh cho Group BONGO tại  Congo. Sang Brazaville, tôi chứng kiến một Hợp đồng Mua Nợ  giữa Nhật và Congo. Chính phủ Congo không có tiền để trả nợ. Một Công ty lớn của Nhật mua lại món nợ ấy với điều kiện là Chính phủ Congo nhường cho Công ty Nhật cả một vùng rừng phía Bắc nước Congo để Nhật khai thác gỗ qúy. Đối với Chính phủ Congo, thì đây là việc họ làm với Nhật mà Dân chúng không biết gì cả. Có thể Chính phủ còn nói với Dân rằng đây là việc khai thác tài nguyên rừng mà người Nhật làm ích lợi cho xứ sở.


Việt Nam con nợ của Tầu

Tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe trong dân gian có những chuyện con nợ nghèo quá, phải gả chính con gái nhỏ để làm vợ cho chủ nợ.

CSVN, trong những năm gần đây, thiếu hụt Ngân sách trầm trọng. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới làm cho đầu tư nước ngòai thụt xuống 82%(Tài liệu:Bài viết của phóng viên Asia Sentinel Consulting). Xuất cảng hàng hóa giảm 60%. Ngay cả giữa Trung quốc và Việt Nam, cán cân thương mại cũng thua lỗ: Năm 2008, Việt Nam xuất cảng sang Trung quốc trị giá USD.4 tỉ, trong khi đó nhập cảng từ Trung quốc tới USD.15 tỉ.

Việt Nam muốn đi vay nợ từ những nước khác, nhưng trong hòan cảnh Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, các nước khác cũng gặp khó khăn, làm sao cho vay được. Trong hòan cảnh như vậy, chỉ còn đi làm đầy tớ cho Tầu, bán cả vợ con cho Tầu để nhận làm con nợ.


Tầu là chủ nợ cho Việt Nam

Chủ nợ thường có những lo lắng về trường hợp con nợ ăn qụyt. Ơû đọan trên, chúng tôi nói rằng nhiều nước, nhất là Tây phương, rất ngại ngùng cho Việt Nam vay nợ, một phần là vì cuộc Khủng hỏang hiện nay, nhưng một phần quan trọng nữa là sợ CSVN qụyt nợ. Làm trong lãnh vực Tài chánh, chúng tôi đã nghe một số Ngân hàng gia nói rằng họ có thể cho Phi châu vay, nhưng nói đến cho Việt Nam vay, thì họ rất lo ngại. Cái lý do là nếu Việt Nam ăn qụyt, thì họ khó kiện cáo về luật lệ đối với Việt Nam.

Ngược lại, Trung quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay nợ vì họ có những thuận lợi chắc chắn sau đây:

=> Trung quốc cho Việt Nam vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bàng hàng hóa và nhân công. Trung quốc đang cần xuất cảng hàng hóa, nhân công và thiết bị dư thừa.

=> Trung quốc bắt Việt Nam phải cho những nhượng địa để khái thác tài nguyên làm bảo chứng cho những món nợ mà họ cho vay. Trung quốc nắm phần chắc Việt Nam trả nợ trước bàng tài nguyên khi cho vay bằng hàng hóa mà họ muốn xuất cảng.

=> Trong trường hợp Việt Nam lật lọng muốn ăn qụyt nợ, thì Trung quốc có quân đội mạnh đã bao vây Biển và sát trên đất liền để tràn sang bắt phải trả nợ. Trung quốc không cần phải kiện cáo luật lệ gì với Việt Nam, mà dùng sức mạnh quân sự giải quyết.


Tương quan Chủ nợ—Con nợ

Không phải chỉ có tương quan hai CƠ CHẾ mà CSVN cần Tầu che chở, mà cái tương quan tệ hại nhất là giữa Con nợ mất hết độc lập và Chủ nợ hống hách chủ trương xâm lăng Việt Nam. Tương quan này cắt nghĩa: (i) Tại sao Việt Nam dành cho Tầu khai thác tài nguyên; (ii)Tại sao mất Biển Đông, Hòang Sa/Trường Sa mà không dám than; (iii)Tại sao dành những Dự án cho Tầu; (iv)Tại sao Ngư dân Việt Nam bị Tầu bắt mà không dám nói; (v)Tại sao biết khai thác Bôxit Tây nguyên có hại mà vẫn cúi đầu để cho Tâu làm; (vi)Tại nhân công Tầu tràn vào Việt Nam trong khi đó dân nghèo VN thất nghiệp; (vii)Tại sao cấm giới trẻ VN không được tỏ lòng yêu nước; (viii) Tại sao bắt những Blogers nói đụng đến Tầu; (ix) Tại sao cấm những Trí thức Việt Nam như IDS phải câm miệng ?

                                                  Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                  Geneva, 24.09.2009

 

BIỆN MINH CỦA TQ
KHI ĐEM QUÂN TRÀN VÀO CHIẾM VN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 04.02.2010

Trong VietTUDAN số 432 tuần trước, chúng tôi đã viết hai bài có sự liên hệ với nhau. Với bài phân tích về những cuộc nổi dậy trước đây ở Dông Aâu, chúng tôi thấy rằng việc thành công hoặc thất bại của những cuộc nổi dậy tùy thuộc chính yếu vào thái độ đàn áp đến từ Moscou.

Bài học Đông Aâu ấy cho chúng ta đề phòng lệnh đàn áp đến từ Bắc Kinh hay chính Trung quốc cho quân đội và xe tăng vào Việt Nam đàn áp Dân Việt nổi dậy. Nếu Bắc Kinh chỉ ra lệnh cho quân đội hay công an Việt Nam dùng bạo lực đàn áp, thì chúng ta không ngại sợ cho lắm bởi lẽ trong quân đội hay công an có những người không đang tâm giết chính đồng bào ruột thịt của mình và có thể cùng nổi dậy với dân để chống lệnh Trung quốc.  Cuộc nổi dậy năm 1980 tại Ba-Lan và cuộc xuống đường năm 1989 tại Bá Linh  cho thấy điều đó. Erich Knonecker, đồ đệ trung thành của Staline, cũng đã không dám xử dụng quân đội Đông Đức để giết chính người Đức.

Nhưng điều chúng ta ngại sợ hơn cả là chính quân đội và xe tăng Trung quốc tràn vào lãnh thổ Việt Nam để giết người Việt Nam. Trong sự liên đới Đông Nam Á và Thế giới hiện nay, việc Trung quốc tự nhiên cho quân và xe tăng đổ bộ xâm chiếm lãnh thổ Việt không phải là điều dễ làm vì quốc tế kết án. Trung quốc phải tìm ra những cái cớ để biện minh trước những nước trong vùng và trước Thế giới về việc họ xua quân và xe tăng vào Việt Nam.

Việt Nam chắc chắn không mang quân đội và vũ khí sang tấn công lãnh thổ Trung quốc để Trung quốc lấy cớ tràn quân vào Việt Nam. Những cái cớ mà Trung quốc sẽ lấy ra, đó là để đòi NỢ Việt Nam, để bảo vệ sinh mạng NGƯỜI Trung quốc đang sống ở Việt Nam và để bảo tòan TÀI SẢN của Trung quốc đặt để ở lãnh thổ Việt Nam.


1) Đòi NỢ Việt Nam

Trung quốc cho Hoa kỳ vay nợ. Họ trở thành chủ nợ, nhưng đối với con nợ Hoa kỳ, chính chủ nợ Trung quốc lại ngại sợ bởi vì Hoa kỳ có một lực lượng quân đội mạnh có thể vận chuyển nhanh chóng khắp Thế giới. Trung quốc chưa bao giờ viễn chinh và có thể bị tiêu diệt dễ dàng nếu muốn tấn công Hoa kỳ để đòi nợ.

Trường hợp con nợ Việt Nam thì khác. Việt Nam ở gần kề và bị bao vây mọi phía bởi Trung quốc: phía Đông, Tầu đã giữ Biển Đông; phía Tây, Tầu tràn qua Lào và Cao Mên dễ dàng; phía Bắc, Tầu đứng cạnh biên giới sẵn sàng tràn xuống như họ đã làm trong Lịch sử. Trong tình trạng Kinh tế hiện nay, Trung quốc dư vốn cho Việt Nam vay và khi cho Việt Nam vay thì họ không sợ mất vốn. Nhà Nước Việt Nam thiếu hụt ngân qũy và nhờ Trung quốc trợ giúp Tài chánh. Ngân Hàng dành riêng cho người Tầu đã họat động từ 4 năm nay tại Việt Nam. Phần lớn những Dự án ở Việt Nam hiện nay là do vốn Tầu cho vay và dân chúng Việt Nam phải trả góp. Trả nợ không xong, thì Tầu tràn vào đòi nợ.


2) Bảo vệ sinh mạng NGƯỜI TẦU sinh sống tại Việt Nam

Trung quốc cho vay nợ để thực hiện Dự án. Mỗi Dự án là mỗi xuất cảng công nhân Trung quốc sang Việt Nam.  Những công nhân này không phải chỉ lấy vợ chồng tại Việt Nam mà ở lại, mà chính họ tìm mọi cách ở lại Việt Việt Nam để lập nghiệp. Những công nhân này sẽ mang gia đình họ từ Trung quốc sang sinh sống tại Việt Nam. Họ sẽ thiết lập những làng, những khu thương mại, những khu kỹ nghệ riêng cho họ. Khi người Tầu lập những China Towns khắp Thế giới, thì việc tiến lên những khu riêng của họ tại Việt Nam, với thái độ sợ sệt của CSVN lúc này, là việc rất dễ dàng và mau chóng. Khi đã sinh sống thành làng, thành khu thương mại, kỹ nghệ rồi, thì khi có cuộc nổi dậy tại Việt Nam, Trung quốc dễ dàng nại ra lý do bảo vệ sinh mạng người của họ để cho quân đội vào bảo vệ.


3) Bảo tòan TÀI SẢN Trung quốc đặt ở Việt Nam

Trong tuần trước, chúng tôi đã viết bài về chương trình tư nhân hóa hay Trung quốc hóa những Công ty quốc doanh Việt Nam. Người Trung quốc trực tiếp hay qua trung gian những người Tầu sống tại Việt Nam mua đa số cổ phần trong những Công ty này để nắm trọn Sản xuất cũng như Thương mại tại Việt Nam. Việc Trung quốc hóa này nhắm chính yếu vào Thương mại. Thực vậy, khi mà những cơ sở nhập cảng nằm trong tay Trung quốc, thì việc nhập cảng hàng từ Trung quốc để phân phối cho 85 triệu người Việt trở thành tự động. Khi có nổi dậy, Trung quốc có thể lấy lý do bảo tòan tài sản của họ mà cho quân tràn vào.

Tóm lại, Trung quốc không tự dưng tràn quân vào Việt Nam để bị Thế giới kết án. Nhưng họ sẽ nêu ra những lý do bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ mà cho quân vào Việt Nam đàn áp dân chúng nổi dậy.

                                                     Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                     Geneva, 04.02.2010



CSVN CHO TẦU THUÊ ĐẤT ĐAI
CSVN cho người ngoại quốc thuê rừng là tự sát và làm hại cho đất nước.
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên
và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
 

Về việc các tỉnh cho người nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên vốn là người có 7 năm phụ trách Chương trình 327 mà mục tiêu là phủ xanh đồi núi trọc, bảo vệ rừng, và môi trường sinh thái; còn Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989). Hai nhà cách mạng lão thành gửi cho Bauxite Việt Nam bài viết sau đây, nêu rõ hiểm họa của việc chúng ta cho Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thuê trong thời hạn 50 năm hơn 264 nghìn ha rừng đầu nguồn; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.

Theo chỉ  thị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ  trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Kết quả cho thấy 10 tỉnh [các tác giả chỉ liệt kê 9 tỉnh, tức sót một tỉnh – người biên tập] đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305,3534 nghìn ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 nghìn ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.

Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Cho Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn đầy hiểm họa. Họ đã thuê được thì họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá thì hồ thuỷ lợi sẽ không còn nguồn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ thiếu nước không còn tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp. Năm qua nhiều tỉnh miền Trung đã hứng chịu đủ, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao?


Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước.
 
Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá  hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Nếu chúng ta không có  biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những “làng Đài Loan”, “làng Hồng Kông”, “làng Trung Quốc”. Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và còn nguy hiểm cho quốc phòng.

Chúng tôi  đồng ý với 5 đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Xin nói rõ 2 đề nghị  đầu:

1.  Đối với một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Những tỉnh chưa ký thì đình chỉ ngay; thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng để thực hiện. Thực tế đất rừng đã giao cho đồng bào sử dụng gần hết. Nếu ký cho nước ngoài thuê sẽ đụng đến môi trường, đụng đến quyền lợi đồng bào, nhất là đồng bào miền núi, đang thiếu đất, sẽ nảy sinh nhiều vấn đề rất phức tạp.

2.  Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường xây dựng bộ phận chuyên trách. Trong vòng 1 năm, chính thức giao đất, khoán  rừng cho từng hộ; cấp quyền sử dụng đất vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.

Từ đây, chúng tôi đề nghị mở rộng chương trình xóa đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp tái  định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đất rừng đầu hộ của đồng bào miền núi còn trên 4 ha. Tuy không nhiều, nhưng vẫn gấp 3 lần ở đồng bằng; ở đây, thực hiện được đa canh, đa con. Đặc biệt kết hợp tốt trồng rừng phòng hộ với rừng kinh tế. Lùi về trước đã có mô hình tỉnh Tuyên Quang nhân dân ta tự trồng rừng, đảm bảo nguyên liệu cho nhà máy Bãi Bằng. Vậy bây giờ có điều kiện hơn, tại sao lại giành cho nước ngoài?

Đất đai là thứ nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của nhân dân, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng. Trước mắt đề nghị Chính phủ cho đình chỉ ngay việc cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn dài hạn với diện tích lớn, dù có phải bồi thường cũng được, để tránh thảm họa cho dân cho nước.

                                                               Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên
                                                               và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

 

HAI TƯỚNG CS CHỈ RA HIỂM HỌA
Bùi Tín 
Paris  đêm 30 Tết Canh Dần   (13-2-2010)  
 

Ngày cuối năm âm lịch, mở mạng Bauxite-info, bên những bông hoa mai vàng và lời chúc Tết đẹp là một bài viết rất "nóng" của 2  tướng ở trong nước.

Đó là trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.

Bài viết được mạng Bauxite.info giới thiệu một cách trang trọng.

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên vốn là phó tổng tham mưu trưởng, từ 1967 đến 1975 là Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn dọc đường "mòn" Hồ Chí Minh, là một binh đoàn tương đương 5 sư đoàn, ngang với 2 quân đoàn, có quân số 42 ngàn quân, gồm vận tải cơ giới, công binh, phòng không, thông tin, ra-đa, bộ binh, cao xạ, kho tàng, ống dẫn dầu, giao liên, thanh niên xung phong ... rải dài hơn 1 ngàn kilômét. Sau chiến tranh ông là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng giao thông vận tải, là uỷ viên bộ chính trị trung ương đảng trước khi về hưu năm 1988.

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh vốn là uỷ viên trung ương đảng, bí thư tỉnh uỷ Thanh hoá, là đại sứ VN tại Trung quốc suốt 15 năm, từ 1974 đến 1989 (trong cuộc chiến Trung-Việt) về hưu năm 1990.

Đặc điểm của 2 tướng này là uy tín lớn trong Quân đội nhân dân, có ảnh hưởng sâu rộng trong cựu chiến binh, tướng Đồng Sỹ Nguyên có 200 ngàn binh sỹ từng dưới quyền, vẫn còn quan hệ với nhau trong "hội " cựu binh Trường Sơn; tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nổi tiếng về tính bộc trực ngay thẳng, hiện là phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt nam, có hàng triệu hội viên rải khắp nước.

Cần nói thêm 2 tướng này năm 2009 vừa qua đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối, ngăn chặn chủ trương khai thác bôxít ở Tây Nguyên của bộ chính trị hiện tại, cũng cùng lên tiếng qua mạng Bauxite.info do nhà văn hoá Nguyễn Huệ Chi chủ trương, nay lại cùng chung bài viết đề ngày 22-1-2010, nhưng chỉ xuất hiện sáng ngày 12-2-2010 trên mạng Bauxite đang bị đánh phá dữ dội. Sự chậm trễ 20 ngày cho thấy bài báo đã bị các báo lớn nhất từ chối, tẩy chay do tệ độc quyền báo chí chà đạp Hiến pháp của bộ chính trị đương quyền.

Lại cũng cần thưa thêm với độc giả trong và ngoài nước rõ, 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh, từ năm 2004, cũng có lập trường chung tố cáo mạnh mẽ, công khai vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II và T4, vụ án đã được trung ương đảng khoá IX cử ra Ban Kiểm tra Liên ngành điều tra và kết luận, Ban này đã hoàn thành báo cáo, nhưng bộ chính trị do ông Mạnh cầm đầu đã ngang nhiên "khoanh lại" để ỉm đi một cách vô nguyên tắc, nhằm bảo vệ uy tín, che dấu trọng tội của 2 ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. 2 ông này đã được gần như toàn xã hội và đa số đảng viên nhận diện như là "bạn tốt" nhất, "đồng chí tốt" nhất của thế lực bành trướng Bắc Kinh.

Trong bài viết mới này, 2 ông tướng đã báo động khẩn cấp việc cấp uỷ đảng cùng chính quyền ở 10 tỉnh đã ký kết với 10 doanh nghiệp Trung quốc đóng tại Trung quốc, Hồng kông và Đài Loan, những thoả thuận cho phép họ thuê đất và rừng để kinh doanh trong một thời gian rất dài.

Danh sách các tỉnh đó là : Lạng sơn, Quảng ninh, Cao bằng, Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng nam, Bình định, Kon tum và Bình dương.

Diện tích cho thuê tổng cộng là 264.000 hec-ta rừng phần lớn ở đầu nguồn,   các tỉnh biên giới (theo báo cáo kín của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) .

Các thoả thuận đều có giá trị trong thời gian 50 năm, và sẽ kéo dài hơn sau đó. 
Hai viên tướng chỉ rõ hiểm họa cực lớn cho đất nước, cho cuộc sống và an ninh của nước ta, cho nền quốc phòng của quốc gia. Tướng Đồng Sỹ Nguyên sinh năm 1923, nay 87 tuổi. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, 94 tuổi.

Hai viên tướng báo động : họ sẽ tha hồ chặt phá cây rừng từ đầu nguồn, hồ sẽ cạn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ chết, mội trường sẽ bị huỷ hoại.

Hai viên tướng kết luận : đây là một cuộc tự sát của quê hương đất nước. 

2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh đề nghị với đảng, nhà nước và nhân dân :  - với những thỏa thuận đã lỡ (!) ký rồi, hãy thuyết phục các công ty nước ngoài khoán cho đồng bào ta ở tại chỗ khai thác đất rừng, đề phòng họ sẽ đưa lao động dân nước họ vào lập thành những làng Trung hoa, làng Hồng kông, làng Đại hàn trên đất nước ta .
-  với  những thoả thuận đang thương lượng thì đình ngay lại !

Cuối cùng 2 ông yêu cầu đảng và nhà nước thực hiện ngay và rộng khắp việc giao khoán đất rừng cho từng hộ đồng bào ta là dân địa phương tại chỗ.

Tiết lộ và ý kiến của 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh là hết sức khẩn cấp và nghiêm trọng.

Vì ông Đồng Sỹ Nguyên khi còn là Phó thủ tướng đã chịu trách nhiệm thực hiện Chương trình 327 của chính phủ là Chương trình Quốc gia Phủ xanh đồi trọc và Bảo vệ rừng.

Bài viết của 2 ông tướng này còn cực nóng vì phơi bày một loạt việc làm chui, khuất tất, ám muội, mang tính hại nước hại dân, có thể xếp vào tội phản quốc, do chính quyền và đảng uỷ các tỉnh, huyện thực hiện thông đồng với các công ty của thế lực bành trướng với các khoản đút lót, hối lộ béo bở, được một số quan chức trong chính phủ, một số bộ trưởng lớn nhất, có thể trong cả bộ chính trị đỡ đầu, yểm trợ để kiếm phần siêu lợi khổng lồ. Họ sẽ thâm thù 2 ông tướng.

Anh Nguyễn Huệ Chi linh cảm rõ điều ấy. Anh nghĩ họ có thể bóp cho mạng của anh nghẹt thở hẳn do tin tày trời mang bí mật quốc gia cực kỳ nhạy cảm này. Anh thề sẽ hiến cho sự thật, cho nhân dân đến gịot máu cuối cùng của anh, để mạng bauxite ngang nhiên sống khỏe.

Chính vì vậy mà ngày cuối năm 30 Tết tôi cặm cụi gõ bài này và gửi lời chúc chân thành nhất đến nhóm Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng cùng hơn 4.000 anh chị trí thức đã ký kiến nghị Bôxit, cũng như đông đảo bạn yêu nước, yêu tự do trong số gần 20 triệu độc giả quen thuộc của mạng này.

                                                           Bùi Tín 
                                                           Paris  đêm 30 Tết Canh Dần   (13-2-2010) 


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 18.02.2010



RỪNG ĐIÊU TÀN THÌ TỔ QUỐC SUY VONG


Sau 75 bọn VGCS đã sử dụng bác sĩ, tiến sĩ, kỹ sư giáo sư, dược sĩ, tiến sĩ để phá rừng đốt bỏ để xây dựng vùng kinh tế mới cho dân Saigon Chợn lớn bị đánh phá, cướp của đuổi đi. DTK là một trong những người tù cải tạo trong đám tù chính trị trong tập thể trí thức miền nam đời thứ hai đã bị VGCS đánh cướp, cũng đã từng phá rừng ở hai vùng rừng núi Katum và Long Khánh gần ba năm. Về sau, nhờ có thày dùi, công tác nặng hơn, vì  cây rừng phải được cưa thành củi, và tải ra các đường mòn để xe chở đi bán cho dân. Chính sách lớn của đảng cướp mafia dưới sự lãnh đạo của tên đồ tề vô học Lê Duẫn đã đưa đến cường quyền bằng bạo lực, áp đặt cưỡng bức trí thức miền nam phải lao động khổ sai daì hạn. Sau ba năm, có thể nói tất cả đã đào tẩu bằng mọi cách, mọi giá, trừ những người không may mắn đã bị bắt nhiều lần, phải chấp nhận với số mạng ở lại. Nhưng thân xác họ dù ở trong ngục tù lớn, tư duy họ vẫn bất khuất, kiền cường, không làm việc cho bọn quỉ đỏ như bọn trí thức ếch riêu quốc doanh xu thời, chỉ biết lòn trôn, liếm giầy, ăn bẩn.

Phá rừng ồ ạt là một điều ngu xuẫn. Tươc hết đã lãng phí tài nguyên gỗ quí, và gỗ có thể làm bột giấy, ngay cả làm dấm. Phá rừng ồ ạt sẽ gây ra hiệu quả lụt lội khi có mưa lũ. Những thảm họa lũ lụt này đã xảy ra khiếp đảm sau 75. Phá rừng còn có tai hại là làm mất đi lớp đất màu mở quí giá đã được hình thành qua nhiều năm tháng.

Đem đất rừng của 10 tỉnh ở cận biên giới Tau cộng để cho tư bản Tàu cộng, Đài Loan, Đại Hàn thuê dài hạn 50 năm là một điều ngu xuẩn,  chưa từng thấy có bọn giòi bọ, ruồi nhặng nào lại ngu xuẩn, đần độn đến như vậy, chỉ có bọn  lãnh đạo côn đồ, ma cô, giòi bọ, ruồi nhặng bán nước buôn dân mới có thể nghĩ tới việc hàmh xử  ngu ngốc thảm hại như vậy. Cho tư bản Tàu cộng, tàu Đài Loan thuê daì hạn, không có kiểm soát là một tai hại lớn. Vì coi như đã mất đi quyền kiểm sóat, quản lý trên 15%. lãnh thổ toàn quốc.Chỉ cần khai thác gỗ khi phá rừng người thuê có khả năng trả tiền thuê năm mươi năm và có mức lời tối thiểu 25%. Bọn chính ủy địa phương vì ngu dốt không biết giá trí của cây rừng, chỉ biết ăn bẩn vài trăm ngàn mỹ kim mà ngu quá lợn, ký họp đồng cho thuê dài hạn.

Tư bản Tàu cộng, Tàu Taiwan, Đại Hàn chỉ khai thác gổ trong các lãnh vực kỹ nghệ đồ gỗ gỗ,  kỹ nghệ bột giấy, xây dựng nhà tiền chế, kỹ nghệ đường sắt, bàn ghế. Họ có thể sử dụng lá rừng, rễ cây để làm phân organic, cùng với lớp đất mầu mở ngàn năm. Để canh tác hoa màu, ngủ cốc, cao su, trà, cà phê. tiêu.... Điểm quan trọng khác là người thuê đất có quyền khai thác đất đá kỹ nghệ silicate ở vùng rừng núi mà VN chưa hề biết tới chưa kể các quặng kim loại khác. Năm mươi năm, nửa thế kỹ là một tời gian dài, sau khi thuê đất rừng dài hạn, họ sẽ toàn quyền khai thác sau hơn bốn mươi năm. Họ còn có thể gia hạn thời gian thuê dài hơn. Dưới lòng đất của mười tình đầy rừng núi là một sự bí mật tiềm ẩn nhiều quí kim, quặng mỏ.

Mặt khác, khi họ thuê dài hạn không có kiểm soát, ai biết được là họ không trồng cần sa, nha phiến? Còn một vấn nạn khác là ô nhiễm môi trường do đốt rừng. Nói chung tư bản ngoại quốc thường thuê đất dài hạn cho những công doanh nghiếp nguy hiễm, có nhiều ô nhiễm hóa độc, khoáng nặng như đã có kinh nghiệm về các công ty sản xuất bột ngọc, hóa chất như Vedan, Vifong, luyện kim, bauxite... Đảng mafia VGCS vẫn chưa giải quyết được vấn nạn về các dòng sông chết, bauxite Tây Nguyên hiện tại. Phải chăng đây cũng là chính sách lớn của đảng và nhà nước để biến VN thành một bãi ô nhiễm tự do cho tư bản đỏ Tàu, và tư bảnTaiwan, Nam Hàn.....Kinh nghiệm vụ Bauxite Tây Nguyên đã phơi bầy, là đảng  cướp mafia Ba Đình hoàn toàn bất lực, bị động, bị Tầu cộng vô hiệu hóa, mất quyền kiểm soát ngay trên đất VN. Trên nguyên tắc, các nước tư ản không được đem nhân công vào VN, ngoại trừ một số kỹ sư chuyên viên rất có giới hạn, cùng nhưng máy móc thiết bị khi mang vào, nhưng không được mang ra.

Cho ngoại quốc, nhất là anh a Tàu thuê rừng để khai thác dài hạn 50 năm là một điều tai hại cho VN trong tương lai, khi anh ba Tàu cộng lại ở ngay biên giới đã thường xuyên quấy phá, xâm lấn, gây chiến. Ai sẽ kiểm soát, nếu Tàu cộng điều binh, chuyển vận quân lương, quân cụ, vũ khí, nhân lực để sẵn sàng cho một cuộc chiến xâm chiếm phủ đầu, nội công ngoại kích. Miền bắc Việt nam sẽ mất trong vòng ba tuần là nhiều. Nếu tính về quân cụ, vũ khí Tàu cộng hùng mạnh hơn CSVN nhiều, nhất là về hải, không quân.

Cho Tàu cộng thuê rừng để khai thác ở mười tỉnh gần biên giới là đảng và các b́ị́ thư tỉnh ủy đã đồng thuận cho hàng trăm, hàng ngàn con ngựa thành TroJan vào lãnh địa, giang sơn VN rồi còn gì. Như vậy còn đâu là: Nam quốc sơn hà nam đế cư? Chẳng lễ các đảng ủy viên Ba Đình, Hà Nội ra chuồng heo ở? Hay vạch các đống phân bò chui rút vào?Đấy không phải là hành động của con người, mà là hành động của con vật bốn chân. Những con hồng mã Trojan mang cở năm sao vàng này sẽ là mối hiễm hoạ cho toàn dân VN như sống lại với lịch sử ngàn năm bị Tàu đô hộ.. Ngàn hàng con ngựa thành Trojan ở Tây nguyên chưa đủ suy vong sao, lại còn muốn có thêm trăm ngàn con ngựa Trojan Tàu cộng khác? chẳng lẽ các tỉnh ủy viên đảng VGCS muốn thi đua bán nước, buôn dân với ọn tam đầu chế Ǹng Đức Ṃanh, Nguỹên Tấn Dũng, Nguỹên Minh Triết ở Ba Đỉnh?

Những tên phản quốc, bán nước bán dân như Hồ dâm tặc, Lê Duẫn, Phạm văn Đồng, Trường Chinh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh, Nguỹên Minh Triêt, Nguỹên Tấn Dũng đã quá ô nhục cho đảng cướp mafia VGCS đời đời rồi. Đừng để cho Việt nam phải tắm máu như Cambodia trong những năm tháng sắp tới. Bọn VGCS phải từ bỏ quyền lực, tự giải thể ngay lập tức, và tự đào tẩu ra khỏi lãnh thổ VN càng sớm chừng nào tốt chừng đó. Vì người dân VN không bao giờ tha thứ cho những kẻ tội đồ bán nước buôn dân.

DTK
Rừng điêu tàn thì tổ quốc suy vong
Babui












ẢO ẢNH CHẾT NGƯỜI
CỦA KINH TẾ TRUNG QUỐC

“Ảo ảnh chết người” của kinh tế Trung Quốc
Việt Long & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2010-02-17


Trong khi nền kinh tế toàn cầu vẫn chưa hồi phục hoàn toàn sau khủng hoảng, thì nền kinh tế Trung Quốc lại đạt tốc độ tăng trưởng cao, thành tích này có dự báo điều bất thường?

Thời gian chuẩn bị đón Xuân Canh Dần, Trung Quốc công bố nhiều chỉ số thống kê ngoạn mục về tốc độ tăng trưởng và, lần thứ hai trong vòng một tháng, lại quyết định nâng mức dự trữ pháp định của các ngân hàng nhằm ngăn chặn nguy cơ lạm phát.

Ảo ảnh

Trong khi thế giới vẫn e sợ suy trầm toàn cầu mà nền kinh tế này lại có triệu chứng nóng máy và có thể đạt tốc độ tăng trưởng sản xuất trên 10% vào năm 2010 thì tất nhiên là dư luận coi đó là điều đáng chú ý. Nhưng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa lại gọi đây là những "ảo ảnh chết người". Ông giải thích như sau, qua phần trao đổi cùng Việt Long trong tạp chí chuyên đề Diễn đàn Kinh tế.

Trở lại thực tế kinh tế thì tôi thiển nghĩ rằng các thống kê vừa qua cho thấy những ảo ảnh chết người của kinh tế Trung Quốc.

Việt Long: Hôm Thứ Ba mùng hai tháng Hai, Trung Quốc thông báo kết cấu của tốc độ tăng trưởng kinh tế 8,7% trong năm 2009. Mười ngày sau thì họ quyết định tăng mức dự trữ pháp định của các ngân hàng nhằm kềm hãm lượng tín dụng và chặn trước nguy cơ lạm phát khi đà tăng trưởng sản xuất trong năm 2010 này có thể sẽ vượt 10%. Giữa bối cảnh suy trầm toàn cầu mà kinh tế Trung Quốc lại tăng trưởng quá 10% và lo ngại lạm phát thì rõ là xứ này đã vượt xa các nước khác. Điều ấy có đúng hay không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Sau khi ăn Tết xong và trở lại thực tế kinh tế thì tôi thiển nghĩ rằng các thống kê vừa qua cho thấy những ảo ảnh chết người của kinh tế Trung Quốc và người Việt Nam rất nên tìm hiểu về các ảo ảnh này. Trước khi trình bày chuyện ấy, tôi xin được nói thêm vài chi tiết khác cũng rất đáng chú ý.

Hôm 28 tháng Giêng, Cục Thống kê Quốc gia của Bắc Kinh loan báo nỗ lực cải cách phương thức thu thập và khai thác thống kê vì trong năm 2009 đã có 13.500 vụ đúc kết thống kê sai lạc. Đây là lần thứ tư mà Trung Quốc muốn cải tổ thống kê mà nhiều phần vẫn không có kết quả vì một lý do chính trị. Đó là vì mọi đảng viên cán bộ chỉ chịu trách nhiệm với thượng cấp ở trên hơn là với thuộc cấp ở dưới hay với dân chúng, cho nên họ đều có xu hướng tô hồng thống kê trong quản hạt trước khi đưa lên trên và ở trên cùng thì tổng kết thành con số ảo. Một thí dụ mà diễn đàn này đã trình bày từ năm ngoái là Tổng sản lượng kinh tế Trung Quốc vào năm 2007 lên tới ngạch số tương đương với hơn 3.600 tỷ Mỹ kim, trong khi nếu mà cộng lại kết số tổng sản lượng của tất cả các tỉnh và thành phố thì ta có con số khác, là 4.000 tỷ đô la, một mức sai biệt khổng lồ là 340 tỷ đô la, gần 10%. Khi độ sai lệch lại cao như thế thì ta nên trừ bì, là gia giảm, mức độ khả tín của thống kê Trung Quốc.

Thứ hai, mùng hai tháng Hai vừa qua, cơ quan quốc tế thẩm định giá trị tín dụng là hãng Fitch đã hạ thấp mức điểm của hai ngân hàng Trung Quốc và giải thích là trình độ quá bất trắc của các ngân hàng khi ào ạt bơm tín dụng và cho vay theo diện chính sách nên ngân hàng thiếu vốn và rủi ro tín dụng gia tăng. Thực tế thì lượng tín dụng ngân hàng tại Trung Quốc đã tăng hơn 30% trong năm 2009 và xứ này là nơi có bong bóng đầu cơ lớn nhất trong các nước Á châu.

Trái bóng địa ốc có thể sẽ bể, là điều diễn đàn này cũng đã nói tới trong chương trình ngày 13 tháng Giêng.

Thứ ba, hôm mùng một tháng Hai, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã phát biểu rằng Trung Quốc đang gặp nhiều bất trắc trên các thị trường quốc tế mà ở nhà thì lại bị các vấn đề thất quân bình và phát triển không bền vững. Khi ấy, ta mới để ý đến sự kiện các giới chức lãnh đạo Bắc Kinh đều lên tiếng báo động về nhiều vấn đề trong nội bộ để chuẩn bị thảo luận tại Hội nghị Hiệp thương Chính trị rồi Đại hội Đại biểu Quốc hội vào các ngày mùng ba và mùng năm của tháng tới. Nói chung thì lãnh đạo xứ này ưu lo về tình hình kinh tế, xã hội và chính trị nhiều hơn là dư luận bên ngoài thường nghĩ vì họ thấy ra những ảo ảnh sinh tử của chế độ.

Xuất khẩu “âm”

Việt Long: Nếu vậy thì xin ông trình bày trước tiên điều ông gọi là ảo ảnh trong đà tăng trưởng kinh tế Trung Quốc là 8,7% vào năm 2009. Con số này thật ra rất lớn nếu ta so sánh với Hoa Kỳ chẳng hạn, là siêu cường, chỉ đạt tốc độ có 0,8% mà thôi.

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tốc độ 8,7% trong một năm suy trầm toàn cầu và nối tiếp tốc độ 9% của năm 2008 thì quả nhiên là con số đầy ấn tượng! Nhưng khi đi vào chi tiết ta thấy ngay sự thật u ám nằm bên dưới. Đà tăng trưởng bình quân 8,7% này là kết số của ba thành tố gồm có đầu tư là 8%, tiêu thụ là 4,6% và xuất khẩu là -3,9%. Nôm na là 8,7% = 8% + 4,6% - 3,9%.

Xưa nay, xuất khẩu vẫn là đầu máy tăng trưởng của Trung Quốc mà bây giờ lại đóng góp một số âm cho đà tăng trưởng, là -3,9%, mà tiêu thụ chỉ có 4,6% nên không bù đắp nổi. Vì vậy, nhà nước nhảy vào cấp cứu như bơm nước biển đề hồi sinh một cơ thể rũ liệt. Nói cách khác, tốc độ tăng trưởng rồng cọp của Trung Quốc thực tế lệ thuộc tới 92% (là 8% của tổng số 8,7%) vào đầu tư của khu vực công. Không có đầu tư của nhà nước là chẳng có tăng trưởng.
Xưa nay, xuất khẩu vẫn là đầu máy tăng trưởng của Trung Quốc mà bây giờ lại đóng góp một số âm cho đà tăng trưởng, là -3,9%, mà tiêu thụ chỉ có 4,6% nên không bù đắp nổi.

Việt Long: Chúng ta đều biết khi kinh tế bị suy trầm thì xứ nào cũng phải tìm cách kích thích. Hoặc là qua hạ lãi suất hay in tiền bơm vào kinh tế, hoặc qua tăng chi hay giảm thuế, chủ yếu là để bù đắp cho sự thiếu hụt tiêu thụ của tư nhân. Nếu vậy thì lãnh đạo Bắc Kinh cũng áp dụng các biện pháp bình thường ấy, thế thì vì sao ông lại gọi là ảo ảnh?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Chuyện ấy không bình thường vì nhà nước mà không đẩy là cỗ xe sẽ dừng mà kinh tế Trung Quốc lại như cỗ xe đạp, nếu không lăn bánh là sẽ đổ vì thất nghiệp tăng và động loạn xã hội sẽ bùng nổ.

Đã thế Trung Quốc lại có hệ suất đầu tư rất tệ, tức là phải đầu tư rất nhiều thì mới sản lượng mới tăng được một đơn vị. Người ta hay dùng "chỉ số đầu tư phụ trội" gọi tắt theo Anh ngữ là ICOR để đo lường hệ suất ấy. Thí dụ như nếu xứ nào phải đầu tư ba đơn vị mới gia tăng sản lượng được một đơn vị thì có chỉ số Incremental Capital Output Ratio bằng số ba. Nếu đầu tư bằng 5% của tổng sản lượng với một chỉ số ICOR là 3 chẳng hạn thì sản lượng sẽ tăng được năm chia cho ba, bằng 1,66%. Suy ngược lại, khi sản lượng Trung Quốc tăng 8,7% là nhờ đầu tư tới 92% tổng sản lượng GDP thì chỉ số ICOR của xứ này phải là 10,6, là một hệ suất đầu tư thật tốn kém vì quá lớn!

Chẳng những vậy, nếu nhìn kỹ hơn thì... lượng biến thành phầm, và phẩm chất rất tồi. Trung Quốc thường chủ động bơm tiền qua hai ngả công chi và tín dụng, rồi gọi đó là đầu tư. Nhưng chủ yếu là nhà nước cấp phát tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước, gọi là thuộc diện chính sách, và cho các dự án xây dựng thuộc phạm vi phân bố và chia chác của địa phương. Tất cả để duy trì khả năng sản xuất và chính yếu là tuyển dụng để tránh nạn thất nghiệp và động loạn xã hội. Nhưng hệ thống ống bơm ấy lại... theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó bơm vào nơi úng thủy và thổi lên bong bóng đầu tư.

Hậu quả xã hội của chế độ kinh tế ấy là hình thức tái phân lợi tức, và lại tái phân phối trước tiên cho một thiểu số có chức có quyền. Người dân lầm than thì chỉ còn một ngả là hỳ hục ráp chế hàng xuất cảng để kiếm được chút tiền vụn ở dưới. Khả năng tiêu thụ rất thấp - chỉ có 4,6% - phản ảnh điều ấy. Vì thế ta cần nhìn ra cái chất ảo của đà tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.
 
Lạm phát?

Việt Long: Tuy nhiên, vì sao lãnh đạo xứ này lại e sợ lạm phát đến nỗi phải hạn chế tín dụng. Nếu hạn chế tín dụng thì làm sao còn có tăng trưởng theo lối đẩy xe đạp như ông vừa nói?
 
Nguyễn Xuân Nghĩa: Đây lại là một ảo ảnh khác của kinh tế Trung Quốc.

Sau khi tiến hành cải cách từ ba chục năm trước, Trung Quốc quả là đã bị ba trận lạm phát. Đó là vào năm 1985 với vật giá tăng 10%; rồi vào năm 1988-1989 khi vật giá tăng 20% và gây khủng hoảng chính trị với vụ tàn sát Thiên an môn ngày bốn tháng Sáu năm 1989 khiến mấy ngàn người bị giết; rồi vào năm 1993-1994 với giá cả tăng vọt đến 25%. Rút kinh nghiệm kinh tế và chính trị của quá khứ, lãnh đạo Bắc Kinh rất e sợ lạm phát....

Việt Long: Chúng tôi nhớ lại là từ những năm 2003 rồi 2005, ông thường báo động là kinh tế Trung Quốc có thể bị nóng máy và đã có lúc quyết định cấm cho vay trong nhiều tháng liền mà sau đó, lạm phát vẫn không bùng nổ. Dường như là sau đợt lạm phát 1993-1994, cấu trúc kinh tế xứ này có thay đổi nên có khi bị giảm phát chứ hết bị lạm phát rồi. Điều ấy có đúng không?
 
Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa điều ấy rất đúng vì cơ cấu kinh tế đã có thay đổi.

Thời Mao Trạch Đông, thành phần doanh nghiệp nhà nước chiếm tới 90% tổng sản lượng GDP. Qua thời cải cách từ năm 1979 về sau, doanh nghiệp nhà nước được giải phóng trong đầu tư và được các ngân hàng cũng của nhà nước tài trợ tín dụng rất dồi dào để bành trướng thị phần và tuyển dụng thêm công nhân viên, từ 78 triệu lên 100 triệu người.

Nhưng, ách tắc trong cơ chế đã khiến số cung bị hạn chế mà số cầu gia tăng nhờ tín dụng và lương bổng nên mới gây nhiều đợt lạm phát. Nạn tham nhũng trong khu vực nhà nước và vật giá gia tăng trên đầu người dân mới dẫn tới khủng hoảng chính trị. Sau đấy, cơ chế sản xuất có thay đổi và thực tế là có cải thiện mới dẫn tới thời kỳ ta có thể gọi là sản xuất thừa và chất vào kho. Vì vậy, đúng là người ta có chứng kiến hiện tượng giảm phát hơn là lạm phát như ông vừa nói. Giảm phát là khi hàng họ giảm giá mà bán vẫn không chạy chính là vì hiện tượng sản xuất thừa và gây ra ấn tượng tăng trưởng cao.

Vì thật ra xứ này vẫn có những lệch lạc trong cơ chế nên lãnh đạo của họ vẫn sợ lạm phát bùng nổ từ ba khu vực, đó là năng lượng, địa ốc và nhất là lương thực.
 
Việt Long: Thế thì vì sao bây giờ lãnh đạo Bắc Kinh lại sợ lạm phát?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Vì thật ra xứ này vẫn có những lệch lạc trong cơ chế nên lãnh đạo của họ vẫn sợ lạm phát bùng nổ từ ba khu vực, đó là năng lượng, địa ốc và nhất là lương thực.
Thứ nhất về năng lượng thì Trung Quốc áp dụng chế độ kiểm soát giá cả để dân chúng khỏi bị khốn đốn vì giá xăng dầu hay khí đốt, nhất là trong hai năm 2007 và 2008 khi giá năng lượng và thương phẩm tăng vọt trên thế giới. Nhưng chính là chế độ kiểm soát mới gây ra nhiều lệch lạc trên thị trường, thứ nhất là vì doanh nghiệp về năng lượng không muốn bị lỗ khi nhập vào với giá cao và bán ra với giá quy định của nhà nước; và thứ hai là vì giá năng lượng được trợ cấp nên giới tiêu thụ khỏi cần tần tiện. Tình trạng lệch lạc ấy gây rất nhiều tốn kém kinh tế nhưng là cái giá mà nhà nước phải trả để khỏi gặp động loạn và họ canh chừng giá năng lượng rất kỹ.
Thứ hai, vì đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân nhưng do nhà nước thống nhất quản lý và Trung Quốc là một xứ rất rộng mà lại thiếu đất canh tác, chỉ bằng một phần ba của bình quân của thế giới. Chế độ quản lý của nhà nước dẫn tới nạn bóc lột nông dân và khiếu kiện về đất đai khi ngân sách thuế khóa của các tỉnh lại thu được bình quân là 40% nhờ bán quyền sử dụng đất. Cũng vì mối lợi của đảng viên cán bộ ở địa phương cho nên xứ này cứ hay bị nạn bong bóng đầu cơ về địa ốc. Mặc dù mới đây, Quốc vụ viện tức là Hội đồng Chính phủ vừa rà lại đạo luật về đất đai để tránh nạn cướp đất và không bồi thường thỏa đáng, nhưng bất ổn xã hội vẫn còn nguyên vẹn vì luật lệ sẽ khó được đảng viên cán bộ áp dụng nghiêm chỉnh.
Thứ ba và quan trọng nhất, Trung Quốc là nơi mà người dân thường thiếu ăn vì có diện tích canh tác rất hẹp cho một dân số quá đông nên lương thực là yếu tố thổi bùng chỉ số giá cả. Thiên tai hay dịch bệnh cũng sẵn sàng ảnh hưởng tới sản lượng lương thực mà lương thực lại chiếm tới một phần ba ngân sách chi tiêu của các hộ gia đình, nên giá mà tăng là dân sẽ khổ và nổi loạn.
Cho nên, nếu có nhìn ra nguy cơ động loạn ấy từ chuyện vật giá và lồng trong khung cảnh của một nền kinh tế không có kích thích là sản xuất đình đọng và thất nghiệp sẽ tăng thì ta mới thấy ra ảo ảnh phồn vinh và phú cường của xứ này.

 




NHẬP SIÊU TỪ TẦU CHIẾM 90% HÀNG NHẬP

CS Việt Nam vẫn bất lực trước trình trạng nhập siêu từ Trung Cộng
  Thanh Phương
Bài đăng ngày 08/02/2010 Cập nhật lần cuối ngày  08/02/2010 15:53 TU



Nền kinh tế Việt Nam còn hai nguy cơ lớn : lạm phát có thể tăng trở lại và nhập siêu vẫn ở mức cao. Với hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc- ASEAN, mức nhập siêu này sẽ còn cao hơn nữa. Phân tích của chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang A.

Xưởng may hàng xuất khẩu của Việt Nam

Theo số liệu do Tổng cục Thống kê công bố vào cuối năm ngoái, nhập siêu, tức là thâm thủng mậu dịch, của Việt Nam trong năm 2009 đã  lên tới hơn 12 tỷ đôla, tuy thấp hơn so với mức 18 tỷ đôla của năm 2008, nhưng vẫn là vượt quá chỉ tiêu đề ra. Điều đáng nói hơn hết đó là trong năm qua, nhập siêu từ Trung Quốc nay đã chiếm tỷ lệ tới gần 90% tổng nhập siêu của Việt Nam.

Như vậy là kể từ năm 2001, mức nhập siêu từ Trung Quốc đã tăng đều đặn mà Việt Nam vẫn chưa có giải pháp nào khả dĩ hạn chế được mức nhập siêu đó.

Về những nguyên nhân khiến nhập siêu từ Trung Quốc ngày càng tăng, tác giả Mạnh Quân trong một bài báo đăng trên trang web của tờ Sài Gòn Tiếp Thị ngày 1/2 cho biết : trước hết, hàng Việt Nam xuất sang Trung Quốc thường là những mặt hàng mà Trung Quốc dư khả năng sản xuất, nên khó mà cạnh tranh nổi. Các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như than, dầu thô, thì lại đang có xu hướng giảm.

Cũng theo tác giả Mạnh Quân, về nhập khẩu, một số mặt hàng từ Trung Quốc là những mặt hàng mà Việt Nam chưa sản xuất được. Hàng Trung Quốc lại rẻ và gần Việt Nam, nên nhiều doanh nghiệp thích mua hàng từ đây.

Tác giả bài báo trích dẫn một số chuyên gia của Hiệp hội Cơ khí cho biết là trong tổng lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, các mặt hàng cơ khí, máy móc chiếm tỷ lệ rất lớn. Cho nên, một trong những giải pháp chống nhập siêu từ Trung Quốc có thể là phải đầu tư thêm cho việc sản xuất hàng cơ khí, máy móc nộI địa để thay thế hàng nhập khẩu.

Trong vấn đề này, không chỉ có trách nhiệm của chính phủ mà của cả doanh nghiệp Việt Nam, như nhận định chung của tiến sĩ Nguyễn Quang A. Trả lời phỏng vấn qua điện thoại từ Sài Gòn vào thứ 5  tuần trước, ông Nguyễn Quang A trước hết cho rằng với hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc- ASEAN, mức nhập siêu này sẽ còn cao hơn nữa :

Nhưng ở trên, chúng tôi chỉ mới đề cập chủ yếu tình trạng nhập siêu qua giao thương chính ngạch, còn trên thực tế, có thể nói là hiện nay hàng hoá Trung Quốc tràn ngập Việt Nam bằng con đường tiểu ngạch và đáng ngại hơn cả là hàng lậu, giả của Trung Quốc chiếm chủ yếu trong số hàng lậu, hàng giả đi vào thị trường Việt Nam.

Tờ báo trên mạng vnexpress ngày 21 tháng 1 vừa qua trích lời Phó Chi cục Quản lý thị trường Thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Xuân Đài cho biết là các mặt hàng Trung Quốc, chủ yếu là vải, quần áo, đồ chơi trẻ em, điện thoại di động, đồ điện gia dụng, phụ tùng xe các loại,... , tràn lan trên thị trường thành phố. Các hàng hoá này được phân phối qua một hệ thống rất chặt chẻ từ Trung Quốc, qua các tỉnh biên giới, rồi đến Sài Gòn.

Bên cạnh đó, dư luận ở Việt Nam trong thời gian gần đây còn được báo động liên tục về những hàng giả đặc biệt gây độc hại như trà sữa trân châu polymer, hoa quả chứa chất bảo quản gây ung thư, sữa nhiễm melamine, v.v. . . Nhưng hết mặt hàng độc hại này thì lại xuất hiện mặt hàng độc hại made in China khác, không bao giờ dứt. Việt Nam có một biên giới khá dài với Trung Quốc, nên rất khó mà ngăn chận sự xâm nhập của những thứ độc hại này.

Hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc-ASEAN đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2010. Riêng bốn nước nghèo nhất khu vực là Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Miến Điện,  thì đến 2015 mới áp dụng hiệp định, tức là kể từ thời điểm đó, 90% hàng nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ có thuế suất từ 0 đến 5%.

Như vậy là trong 5 năm nữa, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối đầu với sự cạnh tranh khốc liệt hơn của hàng hóa Trung Quốc. Liệu trong thời gian 5 năm đó, họ có nâng cao được năng lực cạnh tranh hay không, điều đó dĩ nhiên tùy thuộc một phần vào chính họ, nhưng chủ yếu vẫn là phải tạo ra được một môi trường thuận lợi cho giới doanh nghiệp, với sự hỗ trợ tích cực của chính phủ, như phía Trung Quốc đã làm từ nhiều năm qua. Mặt khác, Việt Nam hãy còn thiếu hàng rào kỹ thuật để bảo vệ thị trường nội địa khỏi những hàng giả, hàng độc hại từ phía Trung Quốc.

Trong vấn đề này, có lẽ cũng nên khơi dậy tinh thần dân tộc, không phải là khuyến khích chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhưng phải làm cho mọi người thức tỉnh về nguy cơ hàng hóa nội địa bị hàng Trung Quốc đè bẹp, phải nỗ lực vận động người Việt Nam phải dùng hàng Việt Nam. Nhưng bản thân hàng Việt Nam cũng phải được sản xuất đàng hoàng, đúng tiêu chuẩn, giá phải chăng, thì mới hy vọng thu hút được người tiêu dùng trong nước.











KINH TẾ VN:
”CÀNG TĂNG TRƯỞNG CÀNG NGHÈO”!

http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2010/02/100210_ tranxuangia_ warnings. shtml


Lối tăng trưởng chạy theo con số, theo ông Trần Xuân Giá, sẽ 'chỉ làm cho VN nghèo đi.'

Ông Trần Xuân Giá, cựu Bộ trưởng Kế Hoạch Đầu tư,
tỏ ý quan ngại về cách điều hành kinh tế tại Việt Nam.

Trên bài phỏng vấn đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, cựu quan chức chính phủ, từng điều hành một trong những bộ quan trọng nhất nước, nhận định: “Cả tư duy và mô hình tăng trưởng hiện nay đã không còn phù hợp."

“Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy các khuyết điểm của nền kinh tế được nữa,” ông Trần Xuân Giá nói.

“Nếu không, càng tăng trưởng, có thể chúng ta sẽ càng nghèo đi.”

Một số trí thức trong nước đã từng quan tâm đến chủ đề này. Ông Nguyễn Trần Bạt, Giám đốc Công ty Tư vấn Đầu tư InvestConsult cho hay nhiều năm trước ông đã quan ngại đến cách làm kinh tế tại Việt Nam.

"Tôi đã nói điều này cách đây 10 năm. Trong một số bài báo, tôi cảnh báo tâm lý tăng trưởng bằng mọi giá. Tôi viết từ rất sớm. Hiện nay nó đẻ ra một cái thực tế mà (cựu) bộ trưởng phải lên tiếng. Chúng tôi, với tư cách là người trí thức bình thường, đã từng lên tiếng trước đó, cảnh báo trước đó, không chỉ cho Việt Nam. Mà cho tất cả các quốc gia kiểu Việt Nam.”

Trong bài phỏng vấn đăng trên tuần báo kinh tế có uy tín từ Hà Nội, ông Trần Xuân Giá tự xếp mình vào nhóm những người bi quan về kinh tế Việt Nam.

Bi quan

Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy các khuyết điểm của nền kinh tế được nữa

Bên cạnh thừa nhận một số thành tích như, “năm 2009 không rơi vào suy thoái, ngăn chặn được nguy cơ phá sản ở nhiều doanh nghiệp, kiểm soát được lạm phát ở mức 6,88%,” vân vân, cựu quan chức chính phủ nói đến một số lĩnh vực Việt Nam đang phải trả giá.

Đó là “sự phục hồi của kinh tế Việt Nam diễn ra không đồng đều, chưa vững chắc, tạo nên bức tranh sáng tối lẫn lộn.”

Các khó khăn đang tiềm ẩn trong kinh tế Việt Nam, theo ông Trần Xuân Giá, là tỷ giá hối đoái, và lạm phát; chi tiêu công gia tăng; nhập siêu sẽ tăng do giá nguyên liệu trên thế giới tăng, môi trường bị phá hoại nặng nề.

Trước một số ý kiến nhắc đến cuộc khủng hoảng tài chính thế giới như là nguyên nhân khiến cho kinh tế Việt Nam chao đảo trong năm 2008, ông Trần Xuân Giá chỉ ra, ngay cả trước thời kỳ khủng hoảng (2007 cho đến trước quý 3/2008) Việt Nam đã bộc lộ nhiều khó khăn.

“Nguyên nhân suy giảm của kinh tế Việt Nam không chỉ đến từ bên ngoài. Quan trọng nhất là những nguyên nhân nội tại. Nền kinh tế Việt Nam khi ấy gặp không ít khó khăn.

“Lạm phát cao, nhập siêu lớn. Những yếu kém cơ bản đó nằm ngay trong cả cơ cấu lẫn cơ chế kinh tế của Việt Nam.”

Cựu bộ trưởng, hiện tham gia điều hành hội đồng quản trị của ngân hàng ACB, sau đó liệt kê những thiếu sót cơ bản của kinh tế trong nước.

“GDP tăng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư ngày càng kém, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm tăng cao,

"Công nghệ chậm đổi mới, cơ cấu kinh tế, cơ cấu xuất khẩu chưa thoát khỏi lạc hậu, thị trường trong nước kém phát triển, kinh tế vĩ mô còn nhiều yếu tố bấp bênh, tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao, môi trường cạnh tranh chưa bình đẳng, lành mạnh.”

Ông Nguyễn Trần Bạt từ công ty InvestConsult lo ngại lối tăng trưởng kiểu “sùng bái con số’’ sẽ đưa Việt Nam đến một kết cục không hay.

“Ăn kẹo mãi thì sẽ bội thực đường. Giấy kẹo nó rơi xuống chân mình nó cao đến mức nó làm tắc thở cái người ngồi, hoặc đứng ăn kẹo.

“Cho nên là tăng trưởng theo kiểu như thế này chính là một trong những biện pháp giết chết một cách chắn chắn nhất tương lai, không chỉ tương lai kinh tế, mà nhiều tương lai khác của Việt Nam.”

http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2010/02/100210_ tranxuangia_ warnings. shtml

 









DANH SÁCH NHỮNG THỰC PHẨM BỊ CẤM

Thu, 2/25/10, tam le <tiengtam
 

Những thực phẩm kém phẩm chất (có thể nguy hại đến sức khỏe) nhập cảng từ Việt Nam mà FDA đang cấm.

Người Việt Hải Ngoại cần lưu ý những thực phẩm kém phẩm chất nhập cảng từ Việt Nam.

Mới đây Cơ Quan An Toàn Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã từ chối, không cho nhập cảng vào Hoa Kỳ, 27 lô hàng mà phần lớn là thực phẩm đã chế biến, sản xuất từ Việt Nam vì lý do thiếu an toàn sức khỏe.

Những loại thực phẩm này không chỉ nhập cảng vào Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada) mà còn được nhập cảng vào tất cả những quốc gia nơi có người Việt Tị Nạn sinh sống như những nước tại Âu châu, Nhật, Úc, v.v...

Nhận thấy rằng đây là vấn đề vô cùng lớn lao liên hệ đến sức khỏe của hàng triệu người Việt trên khắp thế giới, và tại Việt nam, nên chúng tôi chuyển ngữ và khẩn cấp gửi thông tin nầy đến tất cả qúy vị, đặc biệt lưu ý các bà nội trợ, các nhà hàng. Các đấng mày râu lo chuyện nước non, chuyện quốc gia đại sự, cũng cần lưu tâm lưu ý qúy phu nhân, qúy vị sẽ không thực thi được trọn vẹn lý tưởng của mình một khi sức khỏe bản thân và gia đình có... vấn đề. Riêng bà con nhân dân trong nước và những người Việt hải ngoại về thăm thân nhân, cũng xin hết sức cảnh giác, đau ốm, ngộ độc thực phẩm và đi khám, chữa bệnh ở Việt Nam là cả một vấn đề không thể coi thường, đừng để cho đến khi quá muộn.

Dưới đây là danh sách các công ty và địa chỉ, các loại thực phẩm bị FDA từ chối nhập cảng vào Hoa Kỳ, lý do vi phạm các điều khoản quy định về an toàn dược-thực phẩm.

1- Aquatic Products Trading Company, Tôm đông lạnh cỡ lớn có đầu, trộn lẫn các chất dơ bẩn và độc tố có hại cho sức khỏe (FILTHY, SALMONELLA), vi phạm các điều khoản 601(b), 801(a)(3), 402(a)(3), 402(a)(1)

2- Mai Linh Private Enterprise, Vũng Tàu, Thịt cua đông lạnh, có hóa chất phụ gia chloramphenicol (CHLORAMP) không an toàn cho sức khỏe, điều khoản 402(a)(2)(c) (i), 801(a)(3), theo định nghĩa của điều 21 U.S...C. 348;

3- Batri Seafood Factory, Bến Tre, Chả cua đông lạnh, có hóa chất phụ gia chloramphenicol không an toàn cho sức khỏe, điều khoản 402(a)(2)(c) (i), 801(a)(3), theo định nghĩa của điều 21 U.S.C. 348;

4- Nam Hai Company Ltd, có 2 sản phẩm vi phạm:
a) Thịt cua nấu chín đông lạnh, có trộn lẫn độc tố gây ngộ độc, độc chất salmonella và hóa chất phụ gia chloramphenol (POISONOUS, CHLORAMP, SALMONELLA,) gây tai hại cho sức khỏe, vi phạm các điều khoản 402 (a) (1), 801(a)(3), 601(a), 402(a)(2)(c) (i), 402(a)(1) theo định nghĩa của luật 21 U.S.C. 348;

b) Lươn đông lạnh, có độc chất salmonella, và nhãn ghi giả mạo (FALSE, SALMONELLA,) một loại sản phẩm khác gây hiểu lầm cho người tiêu thụ, vi phạm các điều khoản 403(a)(3), 801(a)(3), 502 (a), 402 (a) (1);

5- ACECOOK VIETNAM CO...., LTD, Mì lẩu Thái có hương vị hải sản, chế biến có lẫn lộn các chất dơ bẩn và không ghi các thành phần cấu tạo nên sản phẩm (LIST INGRE, FILTHY,) vi phạm các điều khoản 403 (i) ( 2), 801 (a) (3), 601 (b) 402 (a) (3) ;

6- Olam Vietnam Ltd, thị xã Gia Nghĩa, có 7 lô hàng bị ngăn chặn gồm Tiêu đennguyên hạt và Tiêu đen xay đều có chứa độc chất Salmonella, vi phạm các điều khoản 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;

7- Don Nguyen, 3 sản phẩm thô là Đậu khấu (Cardamon), Cam thảo (Licorice) và Quế

8- Van Nhu Seafoods Limited Company (VN Seafoods Co.), Nha Trang, Cá sòng ngân (Mackerel) cắt khúc đông lạnh, chế biến dơ bẩn, lẫn lộn các chất hỗn tạp, điều khoản vi phạm 601(b), 801(a), 402(a)(3);

9- Nam Phong Trading Co, Tiêu bột chứa độc chất Salmonella, theo điều khoản 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;

10- Lucky Shing Enterprise Co Ltd, Bột ngũ cốc ăn liền vi phạm rất nhiều điều khoản bị nghiêm cấm gồm có: Thiếu thông tin đầy đủ (NOT LISTED) về sản phẩm theo đòi hỏi của các điều 502 (o), 801 (a) (3), 510 (j), 510 (k);

Không ghi thành tố gây rủi ro bệnh tật hiện diện trong sản phẩm dưỡng sinh (UNSFDIETLB) , theo các điều 402 (f) (1) (A);

Giả mạo sản phẩm (FALSE) gây hiểu lầm, điều 403 (a) (1), 502 (a);

Trên nhãn thiếu thông tin đặc biệt về thực phẩm dinh dưỡng (DIETARY,) theo điều 403 (j);

Nhãn không ghi phần tiếng Anh (NO ENGLISH,) 403 (f), 502 (c), vi phạm các điều luật 21 CRF 101. 15 (c), 801.15 (c) (1) và 201.15 (c) (1);

Thực phẩm dưỡng sinh nầy (được coi) là một loại dược phẩm mới nhưng CHƯA có đơn xin thử nghiệm để được chấp thuận (UNAPPROVED, ) theo điều 505 (a);

11- Nhan Hoa Co., Ltd, Cá đông lạnh, chứa độc tố Salmonella, vi phạm điều 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;

12- United Seafood Packer Co. Ltd, Thịt (Fillet) cá lưỡi kiếm đông lạnh, chứa độc chất gây ngộ độc (poisonous), vi phạm điều khoản 402 (a) (1), 801 (a) (3), 601 (a);

13- Seapimex Vietnam, có 7 lô hàng về Chả cua đông lạnh, có hóa chất phụ gia Chloramphenol không an toàn sức khỏe theo định nghĩa của điều luật 21 U.S.C. 348, vi phạm các điều khoản 402 (a) (2) (c) (i), 801 (a) (3) ;

14- MY THANH CO., LTD, có 5 lô hàng gồm 4 sản phẩm:
Cá hồng snapper (?) đông lạnh bị từ chối nhập cảng, vi phạm các điều:

Ghi không đúng tên sản phẩm mà là dưới tên một loại sản phẩm khác (WRONG IDEN, vì không biết hay nhằm đánh lừa người tiêu thụ ? Điều này chỉ có công ty sản xuất mới có thể trả lời !) theo điều 403 (b), 803 (a) (3);

Thiếu ghi chú về trọng lượng hay số lượng (LACKS N/C) theo điều 403 (e) (2), 502 (b) (2);

Nhãn sai (LABELING) về vị trí, hình thức và nội dung theo điều 4 (a), 801 (a) (3);

Dưa muối và Nước chấm chay (nước tương: Vegetarian dipping sause) có các vi phạm:

Không đăng ký là loại sản phẩm đóng hộp có độ acid thấp (NEEDS FCE) theo đòi hỏi của điều luật 21 CFR 801.25 (c) (1) hoặc 801.35 (c) (1), vi phạm điều 402 (a) (4), 801 (a) (3);

Không ghi chú thông tin về tiến trình sản xuất (NO PROCESS,) theo đòi hỏi của điều luật 21 CFR 801.25 (c) (2) hoặc 801.35 (c) (2), vi phạm điều 402 (a) (4), 801 (a) (3);

Cá sòng ngâm muối (mắm cá sòng) vi phạm:

Độc chất Histamine vượt quá liều lượng chấp nhận, gây hại cho sức khỏe theo các điều 402 (a) (1), 801 (a) (3);

Sản phẩm dơ bẩn, có chứa các chất dơ bẩn hỗn tạp (FILTHY) theo các điều 601 (b), 801 (a) (3), 402 (a) (3);

15- Kien Giang Ltd, t/p HCM, có 2 sản phẩm là Cá nhồng (barracuda) và cá mang giổ (?, Perch,) đông lạnh, dơ bẩn, trong sản phẩm có tạp chất vi phạm các điều 601 (b), 801 (a) (3), 402 (a) (3) ;

16- Vinh Sam Private Trade Trade Enterprise, Tuy Hòa, Cá lưỡi kiếm tươi, có độc tố gây ngộ độc, vi phạm các điều 402 (a) (1), 801 (a) (3), 601 (a) ;

17- Tu Hung Trading Company aka Doanh Nghiep Tntm Tu Hung, có 3 sản phẩm:

a) Bánh hạnh nhân, nhãn không ghi các thành phần nguyên liệu tạo nên sản phẩm (LIST INGRE,) vi phạm các điều 403 (i) (2), 801 (a) (3);

b) Bánh chay: Không đủ phẩm chất (STD QUALITY,) như được ghi trên nhãn, vi phạm điều 403 (h) (1), 801 (a) (3)

Nhãn hiệu giả mạo (FALSE,) không ghi đúng nguyên liệu hay ghi sai lạc gây nhầm lẫn cho người tiêu thụ, vi phạm điều 502 (a), 801 (a) (3);

c) Bánh tráng mè: Không ghi đúng tên theo định nghĩa, tính chất và tiêu chuẩn của sản phẩm (STD IDENT,) theo điều 401, do đó vi phạm các điều 403 (g) (1), 801 (a) (3) ;
Nhãn hiệu không ghi các tố chất chính yếu gây dị ứng (ALLERGEN,) hiện diện trong sản phẩm theo đòi hỏi của các điều 403 (w), 403 (w) (1), 801 (a) (3) ;

18- Trung Nguyen Coffee Enterprise (Cà phê Trung Nguyên), Cà phê bột uống liền "3 in 1" (túi có 20 gói), đã vi phạm các điều:

Không ghi thành phần nguyên liệu tạo ra sản phẩm (LIST INGRE,) 403 (i) (2) ;

Nhãn hiệu giả mạo hay ghi chú sai lạc (FALSE,) vi phạm các điều 403 (a) (1), 801 (a) (3), 502 (a) ;

Sản phẩm không cung cấp đầy đủ thông tin về các thành phần dinh dưỡng và chất béo (TRANSFAT,) có trong sản phẩm theo đòi hỏi của điều 21 CRF 101.9 (c), vi phạm điều 403 (q), 801 (a) (3) ;

19- Dragon Waves Frozen Food Factory Co. Ltd, Nha Trang, Cá ngừ (cắt thành từng miếng) đông lạnh, sản phẩm dơ bẩn, nhiều tạp chất gây ngộ độc, cùng với độc chất Histamine vượt quá liều lượng chấp nhận, vi phạm các điều 402 (a) (1), 402 (a) (3), 601 (b), và 801 (a) (3);

20- Thang Loi Frozen Food Enterprise, Tôm đông lạnh, có độc chất Salmonella, vi phạm điều 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;

21- Hai Dang International Trading Services Co. Ltd, t/p HCM, hóa chất hay dược liệu Lidocaine (dùng trong thực phẩm [?], có thành phần hóa học là C14H22N2O,) đã vi phạm 2 điều:

Không liệt kê thông tin đầy đủ về sản phẩm (NOT LISTED,) theo đòi hỏi của các điều 502 (o), 801 (a) (3), 510 (j), hoặc 510 (k);

Dược liệu mới chưa xin phép kiểm nghiệm để được chấp thuận xử dụng (UNAPPROVED, ) vi phạm điều 505 (a), 801 (a) (3);

22- Chinh Dat Co., Ltd, Bao tử cá sấy khô, sản phẩm dơ bẩn, nhiều tạp chất, vi phạm các điều 402 (a) (3),601 (b), và 801 (a) (3) ;

23- Vinh Hiep Co., Ltd, t/p HCM, có 2 sản phẩm:
Thịt hào (ngêu, sò) hấp chín đông lạnh, và Mực đông lạnh, là các sản phẩm dơ bẩn, nhiều tạp chất, vi phạm các điều 402(a)(3), 601(b), và 801(a)(3);

24- Vifaco Nong Hai San-Xay, thịt ốc hấp chín đông lạnh, chứa độc chất Salmonella, vi phạm điều 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;

25- Vuong Kim Long Co. Ltd, có 3 sản phẩm về bún khô, loại đặc biệt, sợi lớn, sợi nhỏ, sản phẩm dơ bẩn và loại phẩm màu không an toàn, vi phạm các điều 601(b), 801(a)(3), 402(a)(3), 402(c), 501(a)(4)(B) .

Trên đây chỉ liệt kê điển hình một số công ty, một số sản thực phẩm bị từ chối nhập cảng vào Hoa Kỳ nội trong năm mà thôi. Còn bao nhiêu công ty khác, bao nhiêu sản phẩm khác đã "lọt sàng" trước đó và sau nầy? Còn bao nhiêu sản phẩm từ Việt Nam đã vượt ra ''biển lớn" vào Canada , Âu châu, Nhật, Úc v.v... và v.v...? Bao nhiêu triệu tấn thực phẩm có các chất độc hại đã "nằm vùng" (và hoành hành) trong bao tử người Việt sống ở nước ngoài và tất nhiên cả và người dân trong nước?

Thỉnh thoảng trong nước, báo chí có loan tin học sinh, công nhân hay người dân bình thường, thấp cổ bé miệng bị ngộ độc thức ăn, nhưng không thấy thống kê số người ngộ độc hay tử v ong. Tình trạng thông tin hay thống kê nầy đối người Việt sống ở nước ngoài trên toàn thế giới lại càng hiếm hoi, có thể nói là hầu như chưa nghe thấy (vì không ai thông báo hay loan tin chứ không hẳn là không có).
 (Cinnamon) ghi sai nhãn về hình thức và nội dung được quy định theo các điều khoản 4(a), 801(a)(3);

 



VÔ HIỆU HÓA
TẦU TUẦN TRA NGƯ CHÍNH (TTNC)

Nguyễn Ðạt Thịnh



Tầu “tuần tra ngư chính” là một thứ vũ khí vô cùng lợi hại trên cả hai bình diện chiến thuật và chiến lược. Trên địa hạt chiến thuật nó đắc dụng trong cuộc hải chiến với ngư dân Việt Nam, nên vừa hoàn tất cuộc chiếm đóng vùng biển Hoàng Sa, và đang quay mũi tầu tiến về tấn công ngư dân Việt Nam trên vùng biển Trường Sa để giữ độc quyền ngư trường này cho ngư dân Trung Hoa.Và trên địa hạt chiến lược tầu “tuần tra ngư chính” đang vô hiệu hóa Ðệ Thất Hạm Ðội chực sẵn ngoài Thái Bình Dương để chờ can thiệp vào Biển Ðông nếu chiến tranh xẩy ra tại đó.

Bộ Nông nghiệp Trung Quốc tuyên bố sẽ tăng cường tầu tuần tra
ngư chính, "bảo vệ nghề cá" tại Trường Sa.

Ðã chứng minh cái lợi hại của nó, tầu “tuần tra ngư chính”  đáng được mệnh danh là TTNC để ghi  vào cuốn “từ điển quân sự” trong mục vũ khí; đại loại như súng không giật được ghi trong từ điển bằng 3 chữ SKZ, hay khẩu súng trường lính Mỹ sử dụng trong thời Thế Chiến II, được thự danh dưới cái tên M1.

Khẩu súng này là một hình ảnh khó quên đối với quân nhân Việt Nam, vì những đặc tính cười ra nước mắt: nó dài thước mốt, nặng 5.3 ký mà Hoa Kỳ lấy trong kho vũ khí phế thải ra, võ trang cho người lính Việt Nam cao thước rưỡi, nặng 53 kí.

Họ kéo lê khẩu súng vừa quá dài, vừa quá nặng trong những cuộc hành quân lê thê tháng này sang tháng khác.

Nếu khẩu AK ngày truớc đã là lợi khí giúp Việt Cộng thắng thế khi quân nhân VNCH còn trang bị bằng M1, thì hôm nay TTNC là thứ lợi khí đang giúp Trung Cộng thực hiện cuộc tấn chiếm Biển Ðông vô cùng êm ả, thành tích mà hàng không mẫu hạm hay khu trục hạm không làm nổi.

Chứng minh điển hình: nếu một chiến hạm Trung Cộng đụng đắm, hay bắn chìm một ngư thuyền Việt Nam thì diễn biến này đã vô cùng ồn ào, đã bị thế giới lên án, bị hội ngư dân Việt Nam đưa ra tòa án quốc tế đòi bồi thường, và hy vọng Việt Cộng dám đứng ra bênh vực ngư dân Việt Nam bằng những khí cụ quân sự như tầu chiến, phản lực cơ, biến Biển Ðông thành chiến trường mà Hoa Kỳ có môi trường để nhẩy vào can thiệp khi hải lực Trung Cộng chưa theo kịp hải lực Hoa Kỳ.

Nhưng TTNC êm re đụng chìm ngư thuyền Việt Nam, khủng bố ngư phủ Việt Nam, khiến họ khiếp sợ không dám vào ngư trường Hoàng Sa đánh bắt nữa mà không tạo ra một phản ứng quân sự nào cả. Cái lợi hại của TTNC là ở chỗ đó.

Hôm thứ Ba mùng 9 tháng Hai TTNC mở kỷ nguyên mới cho cuộc Nam Tiến của Tầu, và tạo ra nỗi khổ riêng cho ngư phủ Việt Nam và nỗi nhục chung cho dân tộc Việt Nam.

Kỷ nguyên khổ nhục mới được tên tầu phù Ngưu Thuấn, thứ trưởng bộ Nông Nghiệp Trung Cộng mở màn bằng câu tuyên bố Trung Cộng sẽ tăng cường TTNC để "bảo vệ nghề cá" tại Trường Sa.

Nỗi khổ riêng của ngư phủ là mất thêm ngư trường. Thuấn nói đưa thêm TTNC đến Trường Sa “bảo vệ nghề cá”; 4 chữ nghe hiền lành, và mang tính che chở này đang làm vài chục ngàn ngư dân Việt Nam lo lắng, khiếp sợ: họ đã từng biết Trung Cộng “bảo vệ nghề cá” bằng cách bắn giết, bắt bớ, bóp cổ, đánh đập, giam giữ ngư dân Việt Nam, phá hủy, tịch thu ngư thuyền, ngư cụ, và đòi vợ con, thân nhân ngư dân chạy tiền chuộc chồng, chuộc ghe về.

Và nỗi nhục chung của dân tộc Việt Nam là trong lúc TTNC tiến chiếm vùng biển Việt Nam, báo chí Việt Nam, nhà nước Việt Cộng vẫn hớn hở ca tụng quan thầy Trung Cộng.

Từ hơn một năm nay TTNC Trung Cộng quần quanh Hoàng Sa mà không gặp một sức kháng cự nào; giờ này, sau khi xua đuổi ngư dân Việt Nam tránh né vùng biển Hoàng Sa, Trung Cộng đưa TTNC xuống xa hơn nữa về phía Nam để tranh dành ngư trường Trường Sa, cấm không cho ngư dân Việt Nam đánh bắt tại đó nữa.

Đài Phát thanh Trung Cộng (CRI) loan báo hôm thứ Ba 02/09 là Ngưu Thuấn nói sẽ "kịp thời điều chỉnh tư duy về khai thác và quản lý nghề cá" ở khu vực Trường Sa, quần đảo mà Trung Cộng gọi là Nam Sa.

Ngưu nói "căn cứ theo tình hình mới, cần tăng cường TTNC bảo vệ nghề cá trên vùng biển Nam Sa, giữ gìn lợi ích biển quốc gia". Dĩ nhiên hai chữ “quốc gia” của Ngưu là để chỉ quốc gia Tầu.

Dù bị trói trong “tình thân” Hoa-Việt, báo quốc nội không dám phân biệt Tầu, Việt; nhưng VietnamNet vẫn phải viết là lời tuyên bố của Ngưu chắc chắn sẽ gây quan ngại cho các quốc gia đã cùng Trung Cộng tuyên bố chủ quyền và khai thác nguồn lợi hải sản tại Trường Sa như Việt Nam và Philippines; nhận xét này nghe khách quan như chuyện mất thêm biển vì TTNC chỉ liên quan đến người nước ngoài.

Ðài Trung Cộng tường thuật việc Ngưu Thuấn tham dự lễ kỷ niệm 15 năm "xây dựng và bảo vệ" bãi Mỹ Tế ở Nam Sa hôm 09/02; lợi dụng dịp này hắn nói, “Vùng biển Nam Sa là ngư trường truyền thống của ngư dân Trung Quốc, rất nhiều ngư dân Hải Nàm, Quảng Đông và Quảng Tây đã đời đời kiếp kiếp đánh bắt cá tại đây; sở Ngư chính Hải Nam canh giữ bãi Mỹ Tế và tuần tiễu thi hành pháp luật tại Nam Sa đã phát huy vai trò nổi bật trong việc giữ gìn quyền lợi biển quốc gia và trật tự sản xuất nghề cá, bảo vệ môi trường tài nguyên nghề cá ở Nam Sa và quyền lợi hợp pháp của ngư dân.”

Tôi hoàn toàn không hiểu lý do khiến giọng điệu của VietnamNet nghe “hồ hởi” vui mừng về việc Trung Cộng chiếm thêm vùng biển Trường Sa. Câu văn của tờ báo Việt Nam thiếu một chữ “TẦU” để trở thành  “… bảo vệ môi trường tài nguyên nghề cá ở Nam Sa và quyền lợi hợp pháp của ngư phủ TẦU.” Thiếu chữ TẦU là đánh mất Việt Nam ngay tại Hà Nội.

VietnamNet còn viết, “Đúng 15 năm trước, tháng Hai năm 1995, Trung Quốc đã cho xây cơ sở nhà sàn trên bãi Mỹ Tế (Mischief Reef, tiếng Việt là Đá Vành khăn), bắt đầu chiếm bãi đá này cho dù có phản đối từ Philippines là nước giữ kiểm soát bãi đá này từ trước.

Không xa, cũng tại Trường Sa, có đảo đá Gạc Ma (Johnson South Reef) mà Trung Quốc chiếm từ tay Việt Nam sau trận hải chiến ngày 14/03/1988 làm 70 lính hải quân Việt Nam thiệt mạng.”

Lời văn vẫn vô tư như việc 70 người lính hải quân bị Tầu giết là lính nước khác.

Dù đuổi ngư phủ Việt Nam ra khỏi Hoàng Sa từ một năm nay, và sắp đuổi chúng ta  ra khỏi Trường Sa, nhưng Tầu vẫn nói không bắt nạt nước nhỏ, người phát ngôn Tầu, Mã Triều Húc tuyên bố, “Trung Quốc không bao giờ bắt nạt người khác, không bao giờ can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, hiện nay không xưng bá, sau này phát triển cũng mãi mãi không xưng bá,” chỉ cấm ngư dân Việt Nam đánh, bắt cá trong vùng biển Việt Nam thôi.

Chúng nhũn nhặn không xưng bá, nhưng chúng vẫn được bọn trùm Việt Cộng coi chúng như bá phụ. Việt Cộng tùng phục đến mức việc “cai trị” Việt Nam không còn là bận tâm của Hồ Cẩm Ðào hay những quan chức lớn của Tầu nữa, mà chỉ là việc của thứ trưởng Ngưu Thuấn, và của thái thú Quốc Tường. Ngưu Thuấn chỉ cần tuyên bố một câu là ranh giới lãnh hải thay đổi, ngư dân Việt Nam chết đói.

Thuấn bô bô nói: năm nay - 2010 - được Trung Cộng công bố là năm hữu nghị Hoa-Việt; trong lúc Mã Húc vuốt ve bảo Hà Nội cứ yên tâm, vì “Logic cường quyền chính trị bị Trung Cộng coi là vô lý, thiếu căn bản.”

Húc cứ nói, Thuấn cứ nói, Hà Nội cứ nín; và ngư dân Việt Nam cứ tiếp tục bị thủy thủ Tầu trên TTNC bắt, đánh, bóp cổ, giam giữ.

Trở lại với lợi khí TTNC để thử bàn về một thứ vũ khí khắc kỵ, chế ngự được TTNC, không cho chúng làm bá chủ Biển Ðông nữa.

Thiết tưởng việc này cũng không khó đến mức không làm được: luật biển của Liên Hiệp Quốc ấn định cho Việt Nam có một vùng lãnh hải quanh lãnh thổ, và một vùng kinh tế hải phận rộng đến 200 hải lý cách bờ biển. Trung Cộng cũng đang áp dụng luật đó, sử dụng TTNC như một thứ cảnh sát kinh tế trong hải phận kinh tế mà chúng nói là của chúng.

Việt Cộng cũng có quyền dùng cảnh sát biển, như Hoa Kỳ dùng Coast Guard để bảo vệ vùng biển của họ; công tác đầu tiên của CSB (Cảnh sát biển) là bắt những ngư thuyền Trung Cộng đang hành nghề chỉ cách bờ biển Việt Nam 40 hải lý, như nhiều lần ngư phủ Việt Nam đã tố cáo.

CSB cũng lại là những chiến hạm sơn trắng như TTNC; hơn thế nữa Việt Cộng có thể trang bị cho CSB thêm những dụng cụ quay phim, những ăng ten truyền hình để trực tiếp truyền đi khắp thế giới hình ảnh CSB bắt bớ ngư phủ Trung Hoa hành nghề trong hải phận Việt Nam. Ði xa hơn nữa, Việt Cộng còn có thể mời phóng viên ngoại quốc cùng đi trên tầu CSB để họ chứng kiến việc làm hợp pháp của CSB.

Lực lượng biên phòng của những tỉnh Quảng Ngãi, Thừa Thiên thường xuyên báo động là hàng trăm ngư thuyền Trung Cộng đánh bắt chỉ cách bờ biển Việt Nam vài chục hải lý, thì việc bắt giữ 100 ngư thuyền Trung Cộng phạm pháp có thể làm trong một ngày.

Những ngư phủ Trung Cộng bị bắt cũng sẽ bị giam, bị đưa ra tòa xử phạt, và toàn bộ diễn tiến sẽ diễn ra công khai với sự quan sát của truyền thông quốc tế.

Phản ứng này sẽ đưa Trung Cộng vào thế há miệng mắc quai, vì Việt Cộng, theo đúng ám số chuyên nghiệp, chỉ làm những việc Trung Cộng đã làm; và cái thế không thể phản đối này sẽ đưa Trung Cộng vào bàn hội nghị để phải chấp nhận tình trạng “dễ người, dễ ta; khó người, khó ta”.

Sơn trắng một chục chiếc tiểu hạm là việc Việt Cộng biết làm, trang bị máy quay phim, máy truyền hình cho những tầu CSB Việt Cộng cũng biết làm, mời phóng viên ngoại quốc tháp tùng tầu CSB cũng vẫn không phải là việc làm quá sức Việt Cộng.

Ðiều chúng không làm được là thiếu tự chủ, giữ cho tay thôi bắt chuồn chuồn, miệng thôi không đánh bồ cạp vì run nữa.

Thế võ “gậy ông đập lưng ông” không hề là sáng kiến của kẻ viết bài này, nó chỉ là một trang của bí kíp Kim Dung, mà kẻ cầm bút đã luợm mót trong võ tầu. Nhưng xin bảo đảm công dụng của nó: nếu hôm nay Việt Cộng cả gan công bố việc sơn trắng một loạt tiểu hạm để thành lập đội CSB, thì chỉ ngày mai TTNC sẽ ngưng hoạt động.

Vác toàn bộ sức nặng của quả đất không phải là việc khó, có khó chăng là tìm chỗ đặt chân xuống để đứng vững hầu sử dụng hai tay nâng quả đất lên. Ðất đứng của Việt Cộng hầu giải quyết thế thua thiệt ngoài Biển Ðông là quảng trường Diên Hồng, nhưng chúng lại không biết quảng trường này nằm ở đâu.

Chúng đang đứng giữa quảng trường Thiên An Môn, và đó là nguyên nhân không vô hiệu hóa TTNC được.

Nguyễn Ðạt Thịnh

 
****************************************************************************************************
****************************************************************************************************




                            NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:
 

                   RÚT RA TỪ KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH:
                                                   Bài học 3:

                                    THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG
                                    CỦA NHỮNG CUỘC NỔI DẬY 
                                               TẠI ĐÔNG ÂU

 
                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                          Geneva, 28.01.2010

 

 Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.

=>     Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO

=>     Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN

=>     Bài học 3: THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG CUỘC NỔI DẬY TẠI ĐÔNG ÂU  

Ngày 12.11.2009, chúng tôi đã viết Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO. Đức Tin Tôn Giáo, nơi tụ họp cầu nguyện và sự cứng rắn của Giáo quyền thực sự đã góp phần rất lớn trong việc làm sụp đổ Cộng sản trong những năm 1989-91. Những đóng góp này hòan tòan thuộc phạm vi bổn phận Công dân trước những độc ác tội lỗi đang chồng chất lên xã hội, cho những người sống quanh mình và cho chính bản thân mình. Đây là vấn đề tự vệ cho mình và hợp tác với những người đồng cảnh ngộ để tự vệ tập thể cho có hiệu lực hơn. Đây không phải là việc làm Chính trị mà là quyền tự vệ cho cuộc sống.

Ngày 19.11.2009, chúng tôi viết Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN không phải cho riêng Nga mà cho cả các nước chư hầu Đông Aâu. Phá Tôn Giáo, phá đời sống tinh thần và chỉ tôn vinh vật chất, thì khi Kinh tế (vật chất) tồi tàn, con người Cộng sản trở thành tha hóa, cá nhân sống với những tranh giành miếng ăn không còn tôn trọng danh dự và công lý. Tình trạng Kinh tế và tha hóa Xã hội như vậy trở thành Định Mệnh sụp đổ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Khi nói ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ Cộng sản, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hai khía cạnh:

*        Một số những bài viết nói đến lý do dân chúng đấu tranh cho Tự do, Dân chủ như là yếu tố chính làm sụp đổ chế độ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Đối với quan điểm của chúng tôi, cái nhìn đưa về tình trạng KINH TẾ tồi tệ, một thất bại của chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy, là lý do căn bản đạp đổ Cộng sản.

*        Việc sụp đổ Cộng sản là một ĐỊNH MỆNH, nghĩa là đây không phải là ý chí cải cách của chính cá nhân GORBATCHEV tại Nga và kéo theo Đông Âu. Nó là Định Mệnh phải xẩy ra, cho dù chính Gorbatchev muốn cản cũng không được.

Hai Bài học trên đây đang diễn ra tại Việt Nam. Lực Lượng Tôn Giáo, đặc biệt là Công Giáo, lớn mạnh. Tinh thần đấu tranh của Lực Lượng Công Giáo càng ngày càng trở thành cương quyết do chính những đàn áp vô lý của CSVN tạo nên. Kinh tế Việt Nam là sự bóc lột sức lao động của dân, là sự cướp bóc tài sản quốc gia cho túi riêng của nhóm Mafia CSVN. Độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế của nhóm đảng Mafia làm Tham nhũng, Hối lộ tràn lan. Xã hội sống trong tha hóa, bất công.

Hôm nay, 28.01.2009, chúng tôi viết Bài học 3: THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG CUỘC NỔI DẬY TẠI ĐÔNG ÂU. Không phải chỉ có những cuộc NỔI DẬY của Dân chúng chống Cộng sản vào những năm 1989-1991, mà từ năm 1953 đã có những cuộc nổi dậy. Nếu những cuộc nổi dậy trước những năm 1989-1991, mặc dầu rất kiên cường nhưng không mang lại thành công, thì phải có những lý do của hòan cảnh khác với tình hình Nga và Đông Aâu ở thời điểm 1989-1991. Bài học này muốn nhìn những lý do THẤT BẠI hay THÀNH CÔNG của những cuộc nổi dậy ở Đông Aâu để có thể áp dụng cho việc nổi dậy tại Việt Nam hiện nay.

Chúng tôi viết những khía cạnh sau đây:

=>     Những cuộc nổi dậy và thất bại
=>     Những cuộc nổi dậy và thành công
=>     Kinh nghiệm cho cuộc nổi dậy tại Việt Nam

 
Những cuộc nổi dậy và thất bại

Sau Thế Chiến II, hai Khối Cộng sản và Khối Tự do thành hình, bắt đầu từ những tranh chấp tại Bá Linh do Staline chủ xướng. Năm 1947, Chương trình Marshall với USD.173 tỉ bắt đầu tái thiết Aâu châu hậu chiến. Staline tìm mọi cách để ngăn cản Đông Bá Linh và các nước chư hầu Đông Aâu đứng ngòai tầm ảnh hưởng của đồng Đo-la do Chương trình này. Năm 1948, Staline phong tỏa Đông Bá Linh nằm trong lãnh thổ Đông Đức, cấm những đường bộ chuyển vận lương thực cho Bá Linh mà chính Đồng Minh Mỹ, Anh, Pháp cùng điều hành với Nga. Đây là việc bắt chẹt Mỹ, Anh, Pháp phải bỏ Bá Linh. Nhưng Đồng Minh đã thiết lập ngay năm 1949 Cầu Không Vận và vẫn giữ Tây Bá Linh.

1.      Cuộc nổi dậy của Công nhân Đức năm 1953

Tây Bá Linh được xây dựng. Tây Đức phát triển Kinh tế. Đông Đức dưới quyền của Erich Honecker, một đồ đệ trung thành của Staline, đẩy mạnh kỹ nghệ nặng nhằm phục vụ cho kỹ nghệ võ khí của Nga. Phong trào nêu danh anh hùng công nhân sản xuất được phát động khắp nước. Công nhân bắt đầu thấy mình làm việc quá cực nhọc, chỉ nhận được khẩu phần ăn uống, không có nghiệp đòan bảo vệ. Khối công nhân xây cất chỉ thấy công việc xây những cơ sở cho đảng, mà chính nhà ở của họ tồi tàn, nhất là sau chiến tranh. Tình trạng này đã đưa đến cuộc nổi dậy của Công nhân, bắt đầu từ khối Công nhân xây cất.

Staline chết tháng Ba năm 1953. Nikita KHROUCHTCHEV lên nắm quyền.

Ngày 16.06.1953, Công nhân xây cất đình công. Phong trào lan tràn ra tới 278 nhóm công nhân, không phải chỉ là công nhân xây cất mà còn cả những công nhân thuộc kỹ nghệ năng. Từ đình công, thợ thuyền xuống đường biểu tình và đi đập phá những cơ sở của đảng Cộng sản.

Liền ngày hôm sau, 17.06.1953, Khrouchtchev ra lệnh cho xe tăng của Hồng Quân bắn xả vào những đòan biểu tình. Cuộc đàn áp làm cho 300 nhân công thiệt mạng. Honecker xử dụng Stasi bắt 20’000 người. Oâng cũng ra lệnh xử tử 200 công nhân được coi là những người thúc đẩy và điều hành cuộc nổi dậy.

Cuộc nổi dậy của Công nhân Đức năm 1953 thất bại do chính lệnh đàn áp khát máu của Moscou.

2)      Cuộc nổi dậy của Dân chúng Hung Gia Lợi năm 1956

Thành phố Budapest và Dân chúng Hung Gia Lợi nổi dậy vào tháng Mười năm 1956 để chống lại đảng Cộng sản đã độc tài đưa Hung Gia Lợi làm chư hầu cho Nga. Dân chúng chỉ làm việc phục vụ cho Đế quốc Cộng sản Nga, trong khi ấy đời sống dân chúng, sau hơn 10 năm chấm dứt Thế Chiến, vẫn trong tình trạng tồi tệ, nghèo nàn. Cuộc nổi dậy của Hung Gia Lợi đòi hỏi Độc Lập cho quốc gia đối với Nga.

Do lệnh của Khrouchtchev từ Moscou, hơn 200 xe tăng của Hồng Quân đã tràn vào Budapest, tàn sát những đòan Dân chúng xuống đường.  Trong một thời gian, những nhóm dân chúng, từ những cửa sổ của các nhà ở đường phố đã kháng chiến chống lại xe tăng, nhưng vô hiệu.

Khrouchtchev không thể để cho dân chúng từ bất cứ quốc gia chư hầu nào chống lại quyền lực Cộng sản từ Moscou.

Cuộc nổi dậy của dân chúng Hung Gia Lợi năm 1956 thất bại do sự cứng rắn đàn áp của Moscou. Hai cuộc nổi dậy 1953 tại Đức và 1956 tại Hung Gia Lợi càng làm cho Khrouchtchev tăng cường chiến tranh lạnh, nhất là tại Bá Linh.

Năm 1961, trong cuộc gặp tại Vienne (Aùo) giữa Khrouchtchev và Kennedy, Khrouchtchev đã tuyên bố với Kennedy rằng Nga sẵn sàng một cuộc chiến tranh nguyên tử về vấn đề Bá Linh. Nhưng tháng Mười năm 1961, Bức tường Bá Linh đã được thi hành với lệnh của Moscou. Việc xây Bức tường Bá Linh làm cho Kennedy nhẹ nhõm đối với đe dọa chiến tranh nguyên tử của Khrouchtchev. Theo Kennedy, xây Bức tường Bá Linh có nghĩa là Khrouchtchev thế thủ cho Khối Cộng sản chứ không tấn công nữa theo như thách thức tại Vienne.

3)      Mùa Xuân tại Prague (Tiệp Khắc) năm 1968

Năm 1968 làm năm nổi dậy của giới trẻ khắp nơi. Paris 1968: sinh viên xuống đường.

Alexander DUBCEK, Bí thư đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ tháng Giêng năm 1968. Oâng chủ trương Mùa Xuân Tại Prague nhằm cởi mở Chế độ và thóat dần tầm ảnh hưởng khống chế của Moscou. Đây không phải là cuộc nổi dậy bột phát từ dân chúng, nhưng là từ một đảng Cộng sản muốn nới rộng Chế độ để có thêm Tự do, Dân chủ và Nhân quyền.

Năm 1964, Khrouchtchev buộc phải từ chức và Leonid BREJNEV lên thay.

Nhưng Mùa Xuân tại Prague 1968 cũng bị lệnh của Moscou đàn áp. Brejnev cho lệnh xe tăng của Lực Lượng Phòng Thủ Pacte de Varsovie tràn vào Tiệp Khắc. Dubcek bị lọai khỏi đảng Cộng sản Tiệp. 

Alexander DUBCEK, năm 1968, có thể nói là một nhà Cải Cách đi trước Mikhail GORBATCHEV 17 năm, 1985, với Perestroika. Nếu Mùa Xuân tại Prague xẩy ra vào thời Perestroika của Gorbatchev thì có lẽ nó đã thành công, chứ không bị xe tăng đàn áp như thời Brejnev.

THẤT BẠI hay THÀNH CÔNG đến từ lệnh của Moscou vậy.
 

Những cuộc nổi dậy và thành công

Chúng ta đi vào những cuộc nổi dậy từ năm 1980 đến 1989-1991. Trong thời kỳ này, có những thay đổi từ Moscou.

Bắt đầu từ năm 1978, sau 14 năm nắm trọn quyền hành, đến năm 1982, Brejnev bước vào giai đọan mà người ta gọi là chiều tà của ông với những tệ đoan hành chánh, xã hội, kinh tế báo hiệu tình trạng sụp đổ của Cộng sản mà Gorbatchev buộc lòng phải cải cách sau này để cứu vãn chế độ. “Les années 1978 à 1982 furent le crépuscule de l’ère Brejnev, époque òu la stagnation économique et la storpeur politique semblaient faire éclore la corruption et l’intrigue dans les plus hautes sphère de la politique.” (Những năm 1978 đến 1982 đã là chiều tà của triều đại Brejnev, thời kỳ mà tình trạng ứ đọng kinh tế và sự hôn mê chính trị dường như làm nẩy nở tham nhũng và mưu mẹo ở những địa vực cao nhất của chính trị) (Mikhail GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME, par les Journalistes du Magazine TIME, 1988, p.161).

Tháng Mười năm 1980, Gorbatchev vào Bộ Chính trị. Trừ Gregori ROMANOV hơn ông 8 tuổi, GORBATCHEV sống giữa những Lãnh tụ già yếu khác gần đất xa trời, thở không ra hơi.  Gorbatchev trẻ trung, đầy sinh lực, không uống rượu, có tài ngọai giao, được coi là người giữ chủ yếu chính sách của Moscou từ những năm 1980.

Những cuộc nổi dậy tại Đông Aâu từ năm 1980 có hòan cảnh để thành công, hoặc tối thiểu không bị xe tăng đàn áp đẫm máu như trước đây.

1)      Cuộc nổi dậy của CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT Ba Lan năm 1980

Lech WALESA thành lập CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT tháng Bẩy năm 1980, một Công Đòan Tự do ở trong một Thể Chế độc tài Cộng sản. Đây là một việc nổi dậy của giới công nhân. Năm 1981, cuộc đình công đấu tranh đầu tiên được tổ chức tại Dansk và trong cuộc biểu tình, Lech WALESA giơ cao cho công nhân thấy chiến tháng đầu tiên của đấu tranh, đó là tờ giấy mà Nhà Nước Cộng sản cho phép thành lập Công Đòan.

Khi chính thức được công nhận, Công Đòan Đòan Kết tiếp tục đấu tranh cho Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, mặc dầu bị Nhà Nước Cộng sản Ba-Lan tìm cách đàn áp.

Xin nhắc ở đây rằng từ 16.10.1978, một Hồng Y gốc Ba Lan được bầu làm Giáo Hòang, Jean-Paul II. Từ Moscou, bắt đầu tinh thần Gorbatchev, không có lệnh mang xe tăng đàn áp cuộc nổi dậy tại Ba Lan. Tuy nhiên Giáo Hòang Jean-Paul II, vẫn nhớ những hình ảnh xe tăng đàn áp trước đây, đã công khai tuyên bố rằng nếu Nga đem xe tăng tràn vào Ba-Lan, thì Ngài sẵn sàng cởi áo Giáo Hòang để về Ba Lan chiến đấu. Khi thăm Ba Lan và gặp gỡ WALESA cũng như Công Đòan, Đức Giáo Hòang Jean-Paul II thẳng thắn khuyên mọi người: “Các con đừng sợ và hãy can đảm tiến tới“. Tờ LE MONDE thứ Ba 10.11.2009 còn viết về sự đóng góp đấu tranh của Giáo Hòang: “Jean-Paul II, une participation active et heroique à la lutte“ (Gioan-Phaolô II, một sự tham dự tích cực và anh hùng cho cuộc đấu tranh).

Cuộc đấu tranh của Công Dòan Đòan Kết đã trường kỳ, bắt buộc Nhà Nước Cộng sản phải đối thọai. Đảng Cộng sản Ba Lan cuối cùng vào tháng Tám năm 1989 đã phải họp bàn tròn với Lực Lượng đối lập mà dẫn đầu là Công Đòan Đòan Kết. Lần đầu tiên, một Thủ tướng được bầu lên mà không phải là đảng viên Cộng sản.

Việc đấu tranh thành công của Công Đòan Đòan Kết hiển nhiên từ hai yếu tố ngòai Ba Lan: Moscou không gửi xe tăng đàn áp như trước và Giáo Hòang La Mã tích cưcï ủng hộ.

2)      Những cuộc nổi dậy 1989-1991 chấm dứt Cộng sản

Như trên chúng tôi đã viết, từ năm 1978, Brejnev sống như người đã chết. Một tờ báo Văn Học từ Leningrad đã viết: “La plupart des gens pensent à lui comme s’il était déjà mort.” (Phần lớn những người nghĩ về ông như là ông đã chết) (Mikhail GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME, par les Journalistes du Magazine TIME, 1988, p.162). Gorbatchev, trong bộ chính trị, đã mang vào tinh thần cải cách, đổi mới ngay từ cuối triều đại Brejnev.

Năm 1982, Brejnev chết, Tatiana ANDROPOV lên thay, nhưng cũng là người già yếu phải vịn vào vai Gorbatchev để đi dự đám táng Brejnev. Những tháng cuối cùng, Andropov nằm liệt giường tại bệnh viện Kuntsevo và tất cả những quyết định chính trị đều qua tay Gorbatchev truyền thông. Andropov chết tháng Hai 1984. Một ông già nữa đau yếu bệnh tật, TCHERNENKO lên thay. “Il était déjà si faible qu’il n’aivait même plus la force de lever le bras jusqu’au cercueil qu’il accompagnait sur la place Rouge. Il pouvait à peine traverser une pìece sans aide” (Oâng ta yếu sức đến nỗi ông ta không còn sức để giơ tay lên đụng vào quan tài mà ông phải đưa đám đền Công trường Đỏ. Oâng ta khó khăn đi qua được một căn phòng mà không có sự giúp sức.) (Mikhail GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME, par les Journalistes du Magazine TIME, 1988, p.162).

Tchernenko chết ngày 11.03.1985. Mikhail GORBATCHEV lên thay. Nắm trọn quyền, Gorbatchev tuyên bố GLASNOST và PERESTROIKA như chúng tôi đã viết trong Bài học 2: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ ĐỊNH MỆNH SỤP ĐỔ CỘNG SẢN. Gorbatchev đã giúp đỡ các Lãnh đạo già yếu để đưa đám táng cho nhau. Trong tình trạng bại họai của Kinh tế và Xã hội, Gorbatchev phải cố gắng Cải Cách nếu muốn cứu vớt phần nào chế độ.

Tinh thần Cải Cách của Moscou lan rộng khắp Đông Aâu. Moscou không còn sức để can thiệp vào các chư hầu.

Các nước Đông Aâu đã đồng đứng dậy vào những năm 1989-1991:

=>     Hung Gia Lợi mở hàng rào kẽm gai giữa Hung và Áo

=>     Đại sứ quán của Tây Đức được Nhà Nước Cộng sản Tiệp cho phép đón tỵ nạn, từ đó di chuyển sang Tây Đức.

=>     Dân chúng Đông Bá Linh, từ hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS phát xuất những cuộc biểu tình tuần hành của dân chúng.

Thực vậy cuộc nổi dậy của Dân Đông Bá Linh mang tính cách quyết định và được sự ủng hộ công khai của GORBATCHEV nhân cuộc ông qua để mừng 40 năm thành lập chế độ Cộng sản tại Đông Đức.

Năm 1989, Erich HONECKER, đệ tử trung thành của Staline, tổ chức mừng 40 năm thành lập chế độ Cộng sản. Oâng mời các đảng Cộng sản trên Thế giới đến tham dự. Ngày 06.10.1989, Gorbatchev sang tham dự. Dân chúng biểu tình hô lớn Gorbi ! Gorbi ! như người đến tháo gỡ chế dộ ra khỏi kềm kẹp Staline mà Honecker vẫn chủ trương.

Xuống máy bay, Gorbatchev đã tuyên bố ngay rằng tất cả những quyết định chính trị phải để ý đến đòi hỏi của dân chúng. Ngày hôm sau, 07.10.1989, cuộc gặp riêng giữa Honecker và Gortbatchev được coi là cuộc họp của hai người điếc; mỗi người mỗi ngả.  Gorbatchev đã cảnh cáo Honecker rằng những ai không theo Thời cuộc, sẽ bị Thời cuộc lọai ra.

Hai ngày sau khi Gorbatchev lên máy bay về Nga, một cuộc biểu tình lớn 10'000 người phát xuất từ Nhà Thờ ST.NICOLAS ngày 09.10.1989. Người ta sợ một cuộc đàn áp bằng xe tăng do quyết định của chính Honecker chứ không từ Moscou. Người ta nghĩ đến cuộc đàn áp bằng xe tăng tại Thiên An Môn mới đây ngày 04.06.1989.

Nhưng cuối cùng Honecker không dám đàn áp biểu tình bằng xe tăng bởi vì ngại sợ chính những người trong đảng. Đảng bắt đầu chia rẽ trước sức mạnh biểu tình của dân chúng. Ngày 18.10.1989, Erich Honecker xin từ chức. Egon KRENZ lên và tuyên bố những biện pháp cải tổ nửa vời.  Nhưng dân chúng, một khi đã nổi dậy, họ muốn đi tới cùng.

Ngày 04.11.1989, một cuộc biểu tình vĩ đại được phép tổ chức. Ngày 09.11.1989, lúc 23 giờ đêm, Bức tường Bá Linh được chọc thủng và nhanh chóng đổ xuống ngày hôm sau.
 

Kinh nghiệm cho cuộc nổi dậy tại Việt Nam

Nhìn những cuộc nổi dậy tại Đông Aâu từ năm 1953 đến những năm 1989-1991, chúng ta thấy rằng tại một nước chư hầu, yếu tố quyết định THẤT BẠI hay THÀNH CÔNG của dân chúng nổi dậy, ngòai ý chí đấu tranh can đảm của dân, còn phải kể đến sự can thiệp đàn áp hay sự thả lỏng, cổ võ từ Moscou.  Những cuộc nổi dậy của Dức 1953, của Hung Gia Lợi 1956, của Tiệp Khắc 1968 đã THẤT BẠI vì bị xe tăng của Hồng Quân trực tiếp đàn áp do lệnh của Khrouchtchev và của Brejnev, trong khi đó những cuộc nổi dậy từ 1980 đến những năm 1989-1991 đã THÀNH CÔNG vì không những không có đàn áp đến từ Moscou, mà còn được tinh thần Cải Cách của Gorbatchev nâng đỡ, cổ võ.

Tại Việt Nam,  chúng tôi muốn dành cho một Luật sư lão thành của chế độ lên tiếng trước về thực trạng Quê Hương, như vậy để tránh cái công thức láo khóet của CSVN rằng đây là tuyên truyền của thế lực thù địch ngọai lai. Luật sư TRẦN LÂM, nguyên Thẩm phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm, đã viết một bài dài dưới đầu đề “SỰ THAY ĐỔI ĐÃ ĐẾN GẦN“, tả ra tình trạng yếu kém Kinh tế, tệ nạn tha hóa Xã hội để Luật sư dám nói rằng sự thay đổi đã đến gần. Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.”  Chúng tôi chỉ thêm rằng: “Tình trạng tham nhũng lan tràn này ở Việt Nam  giống như ở thời kỳ Gorbatchev phải than rằng tham nhũng của công chức đến chỗ nhận một ly rượu Vodka.”

Lực Lượng nổi dậy của Dân chúng Việt Nam đã sẵn sàng. Dân Oan mất Nhà, Đất, đã kéo về Sài Gòn, Hà Nội biểu tình. Công Nhân thường xuyên đình công. Giới trẻ và Trí thức đã can đảm cất tiếng nói ngăn chặn xâm lăng Trung quốc. Dân Công giáo đã hiệp thông thành một Lực Lượng lớn.

Bài học từ Bức tường Bá Linh làm cho Lực Lượng sẵn sàng nổi dậy này đặt những câu hỏi sau đây:

=>     Về mặt Chính trị, CSVN đã làm bồi cho Trung quốc đến mức nào ?  Phải chăng CSVN mất độc lập về Chính trị để đến nỗi sẵn sàng rước xe tăng Trung quốc tràn vào Việt Nam để giết con cháu Hồng Bàng? 

=>     Về mặt Quân sự, lệnh chỉ huy của Trung quốc có dủ mạnh để bắt quân đội Việt Nam xả súng giết đồng bào ruột thịt của mình không ?

=>     Về mặt Kinh tế, quyền lợi Kinh tế của Trung quốc nắm giữ tại Việt Nam lớn đến nỗi Trung Cộng có thể biện minh trước Thế giới rằng họ cho Quân đội tràn vào Việt Nam để bảo vệ Kinh tế của họ hay không?

Hỏi những câu đó, cốt ý để thẩm định sự THÀNH CÔNG hay THẤT BẠI khi Lực Lượng quần chúng hiện nay đứng lên như tại Đông Aâu. Nếu chỉ nguyên CSVN, thì Lực Lượng dân chúng không có gì phải ngại sợ mà đặt câu hỏi. Honecker không dám ra lệnh cho lính Đức dùng xe tăng bắn xả vào dân Đức vì sợ chính một phần quân đội Đức sẽ chống lại.  Cũng vậy, Nông Đức Mạnh không thể ra lệnh dùng chiến xa bắn vào dân chúng anh em bà con của chính quân đội, sợ rằng một bộ phân quân đội sẽ đảo chính giết chính Nông Đức Mạnh.

 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 28.01.2010


ĐỒNG CHIÊM:THƯ CHA BỀ TRÊN TỔNG QUYỀN
GỞI ANH EM DCCT TRÊN TOÀN THẾ GIỚI

Roma, Italy
24/01/2010

Anh em thân mến,
Hôm qua, chúng tôi nhận được thông tin đau buồn từ Việt Nam về một anh em DCCT, Thầy Antôn Nguyễn Văn Tặng, 36 tuổi bị đánh đập rất dã man. Thầy bị đánh trên đường đến thăm giáo xứ Đồng Chiêm cùng với một số anh em DCCT và giáo dân sau khi Thánh Giá tại nghĩa trang của giáo xứ Đồng Chiêm bị phá hủy. Tình hình trở nên rất căng thẳng. Thầy Tặng bị đánh bất tỉnh bên vũng máu.

Những chi tiết về việc phá hủy Thánh Giá và đánh đập Thầy Tặng đã được đăng tải một cách rộng rãi trên các phương tiện truyền thông.

http://www.catholic newsagency. com/news/ archdiocese_ of_hanoi_ condemns_ savage_beating_ of_redemptorist_ brother/
 
Nhà cầm quyền đã chối trách nhiệm, nhưng sự chối bỏ này đã bị các Giám mục Việt Nam, các nhân chứng và các phóng viên độc lập vạch trần. Cha Giám Tỉnh Việt Nam đã xin chúng ta cầu nguyện trong lúc khó khăn này. Đây không chỉ là tình trạng căng thẳng đối với các anh em DCCT Việt Nam nhưng còn đối với nhiều anh chị em giáo dân, đặc biệt là những anh chị em luôn cộng tác nhiệt thành với anh em DCCT Việt Nam.

Tôi đã bảo đảm với cha Giám Tỉnh Vinh Sơn rằng tất cả anh em DCCT trên toàn thế giới và những anh chị em giáo dân đang làm việc với chúng ta sẽ liên đới với anh em Việt Nam, nhất là trong lời cầu nguyện. Chúng ta đừng quên họ trong lúc cần kíp này.

Trong Đức Kitô Cứu Thế,
Michael Brehl, C.Ss.R.
Bề trên Tổng Quyền




Nguyên văn:

Rome, Italy: January 24, 2010 (SCALA)

Dear Confreres,
Yesterday, we received very distressing news from Vietnam about the severe beating of one of our confreres, Brother Anthony Nguyen Van Tang, 36 years of age. He had gone to the parish of Dong Chiem to visit with the confreres and the parishioners after the destruction of the Cross in the cemetery. The situation has become very tense. Brother Anthony was left unconscious in a pool of blood.

Details of the destruction of the Cross, and the beating of Brother Anthony, have been widely reported in the media. http://www.catholic newsagency. com/news/ archdiocese_ of_hanoi_ condemns_ savage_beating_ of_redemptorist_ brother/The Government denies any responsibility, but this denial is refuted by the Catholic Bishops in Vietnam, by witnesses, and by independent journalists. The Provincial Superior of Vietnam has asked our prayers at this difficult moment. Not only is it a tense situation for the Redemptorists, but also for many dedicated lay men and women, especially those who are active in the ministry.

I have assured Fr. Vincent, all the confreres, and the men and women with whom we work that we are in solidarity with them, especially in our prayers. Let us not forget them in their need.

In the Redeemer,
Michael Brehl, C.Ss.R., Superior General
Michael Brehl, C.Ss.R.

 









ĐỒNG CHIÊM: TÒA TỔNG GIÁM MỤC
THÔNG BÁO HIỆN TÌNH

Tòa Giám Mục Hà Nội thông báo về diễn tiến tình hình giáo xứ Đồng Chiêm
VietCatholic News (20 Jan 2010 11:29)

VĂN PHÒNG TÒA TỔNG GIÁM MỤC HÀ NỘI

Hà Nội ngày 20 tháng 1 năm 2010

Kính gửi: Quí Cha
Quí Tu sĩ nam nữ, Chủng sinh
và toàn thể Anh chị em giáo dân trong Tổng Giáo Phận Hà Nội.

Văn Phòng Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội xin thông báo về diễn tiến tình hình giáo xứ Đồng Chiêm (Xã An Phú, Huyện Mỹ Đức, Hà Nội) như sau:

Sau khi đã triệt hạ và đập phá Thánh Giá trên Núi Thờ của giáo xứ rạng sáng ngày 6/1/2010, chính quyền địa phương tiếp tục khủng bố tinh thần giáo dân Đồng Chiêm bằng cách dùng loa phóng thanh công suất lớn liên tục phát đi những bài lên án, lăng mạ và vu khống cha xứ, cha phó và giáo dân Đồng Chiêm, đồng thời huy động hàng trăm cảnh sát cơ động, lực lượng vũ trang và công an chìm phong tỏa và ngăn chặn mọi lối vào giáo xứ Đồng Chiêm. Ngoài ra:

- Ngày 17/01/2010 công an đã bắt giam bà Đinh Thị Hường và ông Nguyễn Văn Đãng, tới nay vẫn chưa được thả. Cháu Bạch Thị Ái, học sinh lớp 10, con của bà Hường cũng bị công an đánh đập dã man.

- Ngày 18/01/2010 các bà Phạm Thị Heo, Đinh Thị Dậu và Trần Thị Thu đang lúc đi chợ bị công an bắt và tạm giam 24 giờ.

- Trong hai ngày 19 và 20/01/2010 các bà Đinh Thị Huyền, Bạch Thị Hà và Bạch Thị Quyên bị công an huyện Mỹ Đức triệu tập để xét hỏi từ sáng đến tối.

- Nghiêm trọng hơn là vụ đánh đập tàn nhẫn ông Nguyễn Hữu Vinh ngày 11/01/2010 tại trạm gác công an ở làng Đồng Chiêm và đánh bất tỉnh thày Nguyễn Văn Tặng, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, ngày 20/01/2010 trên đường vào Đồng Chiêm.

- Riêng cha xứ Đồng Chiêm Giuse Nguyễn Văn Hữu và cha phó Giuse Nguyễn Văn Liên thì bị công an nhiều lần gửi giấy gọi lên điều tra xét hỏi.

Ngày 20/01/2010 Đồng Chiêm hoàn toàn bị bao vây cô lập, bất cứ ai đến từ bên ngoài đều bị công an tại các trạm kiểm soát ngăn chặn không cho vào. Các linh mục của giáo hạt Hà Nội vào thăm giáo xứ Đồng Chiêm đã bị lực lượng công an chặn lại ở Cầu Xây, cách Đồng Chiêm 500 m, không được vào.

Trước tình hình mỗi lúc một thêm căng thẳng, xin toàn thể gia đình Tổng Giáo Phận tiếp tục cầu nguyện tha thiết cho cha xứ, cha phó và giáo dân xứ Đồng Chiêm nhất là những anh chị em bị đánh đập, giam cầm, được giữ vững niềm tin giữa muôn vàn thử thách, sẵn sàng chia sẻ thập giá Chúa Kitô. Đồng thời xin cho các quyền cơ bản của con người được tôn trọng để đất nước có được nền hòa bình, công lý, dân chủ và văn minh thật sự.

Trân trọng thông báo

Linh mục Gioan Lê Trọng Cung
Chánh Văn Phòng

N.B. Thông báo này được đọc trong tất cả các nhà thờ từ hôm nay cho đến hết Chúa Nhật 24/01/2010. Sau mỗi thánh lễ, các cộng đoàn sẽ hát “Kinh Hòa Bình” và “Cầu Cho Giáo Phận” để cầu nguyện cho giáo xứ Đồng Chiêm.
LM Gioan Lê Trọng Cung













CƯỚP ĐẤT GIÁO DÂN XỨ CỒN DẦU/ ĐÀ NẴNG

Đơn khiếu kiện khẩn cấp về việc VC thu hồi (cướp) đất của giáo dân Cồn Dầu - Đà Nẵng
 
VietCatholic News (26 Jan 2010 10:48)
 

TIN KHẨN:

Bây giờ là 21giờ tối ngày 26 tháng 01 năm 2010, hiện Công an và dân phòng cùng các thành phần khác bao vây nhà ông Chủ tịch HDGX và một số nhà xung quanh thuộc giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẵng. Trong những ngày qua công an khủng bố tinh thần giáo dân chung quanh nhà thờ cả ngày lẫn đêm. Nhiều giáo dân đã pjải đóng cửa nhà rời đi nơi khác, còn một số nhà thì bị niêm phong. Công an không cho giáo dân tự do đi lại... Tin này mới nhận được từ ông Chủ tịch HĐGX của giáo xứ Cồn Dầu

Sau đây là Dơn kêu cứu của giáo dân Cồn Đầu:


Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

ĐƠN KÊU CỨU KHẨN CẤP ĐẾN
CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO NƯỚC VIỆT NAM


Kính gửi:

Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Bí thư nước CHXHCN Việt Nam
Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
Thủ tướng chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Bộ Công An nước CHXHCN Việt Nam
Cơ quan thanh tra TW Đảng nước CHXHCN Việt Nam
Đài truyền hình nước CHXHCN Việt Nam
UBND TP Đà Nẵng

Chúng tôi đồng viết đơn này để nói và kể rõ sự việc của một giáo xứ thôn quê – thôn Cồn Dầu, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng.

Sự thật mọi việc như sau:

Chúng tôi đã sinh sống, sinh ra và sống tại nơi đây gắn liền cuộc đời của chúng tôi gần 200 năm.

Giáo xứ Cồn Dầu là một Giáo xứ rất lâu đời dân số gần 4000 người.Trên 2000 người đi kinh tế và lập nghiệp tại Easup – Buôn Mê Thuộc, Trà Cổ - Hố Nai tỉnh Đồng Nai, thành phố Đà Nẵng và nhiều nơi khác... Còn lại gần 2000 người ở lại tại làng. Trên 90% người dân nơi đây sống bằng nghề nông, chăn nuôi và các ngành nghề khác. Hầu hết người dân nơi đây theo đạo Công Giáo. Cách đây 5 đến 10 năm về trước người dân nơi đây đời sống kinh tế phát triển chưa cao, nay đời sống của họ đã ổn định và phồn vinh cuộc sống, sung túc và ổn định.

Nhưng vào năm 2003 lãnh đạo thành phố Đà Nẵng đưa ra dự án chỉnh trang tại chổ, sống xung quanh gần nhà thờ của Giáo xứ. Người dân chúng tôi vô cùng vui mừng, mong ước có cuộc sống sung túc, được ở lại quê hương mà bao đời nay người dân gắn liền cuộc đời của họ vào mãnh vườn thửa ruộng con gà, con vịt, con trâu, con bò…

Rồi không biết vì lý do gì dự án không thành làm cho người dân phải khổ sở vì phải vay tiền xây dựng nhà cửa để mong được chỉnh trang tại chổ.

Năm 2008 Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng Lại có dự án Khu du lịch sinh thái Hòa Xuân giãi tỏa trắng 430ha. Trong đó làng Cồn Dầu chúng tôi 100ha gồm đất ở và ruộng vườn, đưa người dân chúng tôi phải đi xa Nhà thờ và mãnh đất mà bao đời nay gắn liền trong bao thế hệ phải gánh đất tôn tạo nền nhà với giá đền bù như sau:

-Đường 2m: 250.000đ/m2
* Đường 3m: 350.000đ/m2
* Đường 4m: 450.000đ/m2
Đi đến chổ ở mới với giá mua lại như sau:
*Đường: 5m5: 800.000đ/m2
*Đường: 7m5: 900.000đ/m2
*Đường: 10m5: 1.100.000đ/m2.

Nền nhà đất đổ nền cao chính quyền hổ trợ: 5 triệu, 10 triệu, 15 triệu cho mỗi nền. Người dân Cồn Dầu đã họp với lãnh đạo thành phố trên 20 lần. Trong đó 6 lần họp với bí thư thành ủy Nguyễn Bá Thanh, người dân ước nguyện xin ở lại tại chỗ nhưng ông Nguyễn Bá Thanh trả lời:

- Đã bán 110ha và buộc nhân dân phải di dời đi nơi khác và các ông có mua lại nổi không ?
- Các ông không đủ tiền mua chổ ở của mấy ông đâu ?
- Các ông là người răng hô, tráng dồ nghèo hèn phải ở phía sau ?
- Chúng tôi thấy bất công và làm đơn Kêu cứu gởi lên các cấp từ Phường, Quận, Thành phố đến Trung Ương, và vẫn không giải quyết cho người dân chúng tôi. Ngày đêm người dân chúng tôi âm thầm cầu nguyện xin ở lại mãnh đất chúng tôi mà bao thế hệ đã gắn liền.

Lý do duy nhất là người dân không chấp nhận đi vì mất ruộng đất, vườn ở, đời sống gắn liền với người dân. Nhưng sau đó từ ngày 10/01 - 20/01/2010 Đài phát thanh Phường Hòa Xuân đọc lệnh thu hồi đất ở của người dân giáo xứ Cồn Dầu do ông Võ Văn Thương ký năm 2008. Nhưng nay ông Thương là bí thư quận Cẩm Lệ chứ không phải là chủ tịch Q. Cẩm Lệ bây giờ, mà buộc nhân dân chúng tôi phải chấp nhận theo quyết định ?

Ngày 25/01/2010 bí thư thành ủy Đà Nẵng là ông Nguyễn Bá Thanh dẫn công an, an ninh, cán bộ các cấp từ Phường, Quận, Thành phố trên 100 người xuống tận nhà dân chúng tôi để kiểm định, làm người dân rất kinh sợ, phải đóng cửa nhà đi lánh nạn, công an, ban giải tỏa đền bù, cán bộ các cấp vây suốt cả ngày đêm ăn cơm tại chỗ, có nhà dán giấy chụp hình, dỡ ngói quay phim, làm những điều nhân dân không tưởng được. Không biết những ngày tiếp theo đây người dân Cồn Dầu của chúng tôi có còn yên ổn dưới sự vây hãm của các lực lượng an ninh không? Hiện nay Công an, dân phòng và các thành phần khác đang bao vây một số gia đình buộc họ phải sơ tán. Khủng bố tinh thần giáo dân, niêm phong nhà giáo dân…

Chúng tôi đồng viết đơn này để nói lên sự thật. Kính gởi chính quyền các cấp Trung Ương và các nơi nghiên cứu để giúp đỡ cho chúng tôi, đừng để nhân dân chúng tôi đi đến con đường cùng … và giúp đỡ cho chúng tôi được toại nguyện người công dân đúng theo hiến pháp và pháp luật nước Việt Nam:

1- Được ở lại sống trên mãnh đất mà bao đời đã gắn liền.
2- Được ở lại đi lễ nhà thờ, nhà thờ này là của Giáo hội, cha ông chúng tôi và chúng tôi bỏ tiền ra xây dựng để sống tốt đời đẹp đạo hơn.
3- Không nên lấy đất ruộng của người dân chúng tôi vì nông dân phải có ruộng, có nhà. Chúng tôi lấy gì để sống sau khi mất ruộng, nhà.
4- Tại sao chúng tôi không hưởng được nghị định 69 của Thủ Tướng chính phủ áp dụng với dân làng chúng tôi. Hỏi như vậy có công bằng, dân chủ và thương dân không ?
5- Tại sao chúng tôi là người nông dân không được làm ruộng để sinh sống ?
6- Trong luật đất đai có quy định,khi đi người dân phải có cuộc sống tốt hơn chổ ở cũ khi di dời. Hỏi thành phố Đà Nẵng trong luật đất đai như cách đền bù ở trên, chúng tôi lấy gì để sống và đảm bảo an ninh lương thực như Thủ tướng mong muốn hay không ?

Chúng tôi đồng viết đơn này để nói lên sư thật về một miền quê, một Giáo xứ mà người dân sống chân thật hiền lành, muốn ở lại trên quê hương mà họ đã từng nặng tình nghĩa đã bao đời. Chúng tôi viết đơn này xin gửi lên chính quyền các cấp muôn vàn lần cứu xét cho người dân thôn Cồn Dầu được nhờ.

Đà Nẵng, ngày 26 tháng 1 năm 2010

Người dân thôn Cồn Dầu đồng ký tên 











 
SAU BÁT NHÃ, CHÙA LINH PHỔ LÂM ĐỒNG

Sau Bát Nhã, lại thêm một cuộc đàn áp cơ sở Phật giáo tại tỉnh Lâm Đồng, chùa Linh Phổ, chính thức bị bị tấn công
Jan 18, 2010 
 

Ông Phan Xuân Tịnh chủ tịch UBND xã Hiệp Thạnh trực tiếp chỉ đạo cuộc tấn công chùa Linh Phổ . ĐĐ Thích Hoằng Tín trú trì chùa Linh Phổ bị đánh và bị xé rách quần áo

Nhiều cụ già Phật tử của chùa cũng bị tấn công trong đó có một người bị đánh ngất xỉu, công an khiêng ra xe chở đi đâu không biết .

Như tin chúng tôi đã đưa, chùa Linh Phổ huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng đang phải đối đầu với sự bạo hành của chính quyền Việt Nam. Đúng theo kế hoạch mà một cán bộ “ có lương tấm” đã báo trước cho chùa để chuẩn bị đối phó trước cuộc đàn áp tấn công không khoang nhượng của chính quyền hòng cưỡng đoạt 10.439 m2 đất của chùa hiện hữu trên 42 năm qua (chúng tôi đã cảnh báo trong bản tin tối hôm qua).

Đúng 6 giờ 30 sáng hôm nay thứ hai 18/01/2010 đích thân ông Phan Xuân Tịnh, chủ tịch UBND xã Hiệp Thạnh – Đức Trọng đã trực tiếp có mặt tại chùa Linh Phổ để chỉ đạo cuộc tấn công đàn áp chư tăng và phật tử chùa Linh Phổ. Bên cạnh ông chủ tịch xã Hiệp Thạnh chúng tôi còn thấy có các ông: Nguyễn Minh Khang - phó chủ tịch xã, ông Lê Liên - trưởng công an xã, ông Phạm Ngọc Thảo - trưởng ban tư pháp xã, ông Nguyễn Quang Mười - thôn trưởng, ông Nguyễn Văn Phận - bí thư chi bộ thôn, ông Trần Cự, ông Lộc - công an thôn, bà Nguyễn Thị Liễu - chi hội phụ nữ cùng rất nhiều cán bộ chính quyền.
 
Chư tăng và phật tử chùa linh phổ biểu tình
trước cổng văn phòng tỉnh ủy Lâm đồng

Tất cả đang hùng hổ khua tay múa chân, chỉ huy hàng trăm công an nhân viên, dân phòng và người lạ mặt v.v… tấn công đánh đập các cụ già là Phật tử đáng tuổi cha mẹ ông bà của mình chỉ vì cái tội họ dám “ đấu tranh bảo vệ luân thường đạo lý, bảo vệ công bằng lẽ phải, bảo vệ đất chùa mà họ đã dày công khai phá xây dựng trên 42 năm nay.

7 giờ 00, sau khi hội ý trước sân chùa, nhóm người lạ mặt xông vào giựt cờ Phật giáo, cờ CSVN (đang được chùa cắm trên các trụ rào để bảo vệ quan điểm và xác định ranh mốc của đất chùa). Trong khi đó thì nhóm người khác la lên: “đốt đống cờ đó đi (trong đó có cờ của CSVN) – ai ngăn cản đánh thấy mẹ nó luôn – không tu hành gì cả.

Lúc này ĐĐ Thích Hoằng Tín trú trì chùa Linh Phổ cùng bà con Phật tử bước ra can ngăn và yêu cầu ông Phan Xuân Tình – chủ tịch xã cùng lực lượng cán bộ xã đang đập phá hàng rào chùa phải xuất trình lệnh cưỡng chế và các giấy tờ liên quan theo đúng qui định của pháp luật Việt Nam.

Đuối lý ông chủ tịch xã điên tiết ra lệnh bắt và đánh tất cả những ai dám chống người thi hành công vụ và thế là hàng trăm người xông vào giựt biễu ngữ của Phật tử đang cằm có nội dung: “Chư tăng và quần chúng Phật tử phản đối hành vi áp đặt đối với cơ sở tôn giáo là chùa Linh Phổ” hay “chúng tôi yêu cầu UBND xã Hiệp Thạnh phải làm việc theo đúng hiến chương và pháp luật” hay “chỉ thị 1940/CT- TTg của thủ tướng chính phủ phải được tôn trọng và nghiêm túc thực hiện”.
 
Băng rôn biểu ngữ chùa Linh Phổ
phản đối đàn áp tôn giáo 

Một nhóm khác xông vào đánh và xé áo ĐĐ Thích Hoằng Tín - trú trì chùa Linh Phổ, nhiều cụ già là Phật tử của chùa cũng bị tấn công, đánh đập lôi kéo rách áo quần. Một phật tử bị đánh ngất xỉu té xuống đất liền được ông Nguyễn Minh Khang - phó chủ tịch xã - ra lệnh cho công an thôn khiên ra xe, trong lúc đó một nhóm khác đã áp tải 4 Phật tử quăng lên xe u oát chở đi. Tiếng kêu cứu la khóc của các cụ già trong nỗi tuyệt vọng vang cả khắp thôn làng .

10 giờ 45 phút anh thanh niên Phật tử bị bắt được thả về sau khi phải ngồi làm bảng tường trình theo mẫu đã được soạn sẵn theo ý của ông Lê Liên trưởng công an xã Hiệp Thạnh .

11 giờ 15 phút ĐĐ Thích Hoằng Tín và phật tử của chùa đã đến công an xã Hiệp Thạnh phản đối việc công an bắt, đành người vô cớ , trái với pháp luật .

14 giờ 00 chiều chư tăng và Phật tử đến tại văn phòng tỉnh ủy (TP Đà Lạt) xin gặp lãnh đạo tỉnh trình đơn tố cáo việc chính quyền xã Hiệp Thạnh lạm dụng quyền hành đưa lực lượng công an, cán bộ đàn áp, đánh đập chức sắc tôn giáo và bà con Phật tử và làm nhiều điều trái với qui định pháp luật. Nhưng tất cả đã bị công an bảo vệ chặn ở cổng bên ngoài và cử người ra nhận đơn với lý do lãnh đạo đi vắng!?
 
Nhiều phật tử bị đánh 

Cũng xin nói thêm rằng trong lúc sự việc đang xãy ra rất căng thẳng tại chùa Linh Phổ thì nhiều Phật tử đã gọi điện kêu cứu ban trị sự và hội đồng trị sự trung ương thì được trả lời “chư tôn đức đang dự hội nghị thường niên tại văn phòng II trung ương tại Sài Gòn”.

Như vậy chưa đầy một tháng sau vụ đàn áp, bức bách 400 tu sỹ là người Việt Nam tu theo pháp môn Làng Mai tại tu viện Bát Nhã và chùa Phước Huệ thị xã Bảo Lộc, một lần nữa máu, nước mắt cùng lòng căm phẩn tủi hờn của tăng ni Phật tử tỉnh Lâm Đồng lại tuôn rơi trước sự bạo hành tàn độc của chính quyền Lâm Đồng và trước sự thờ ơ, nhu nhược của giáo hội phật giáo Việt Nam, không dám lên tiếng bênh vực bảo vệ lẽ phải, bảo vệ đàn hậu học những mần non của đạo pháp trước nanh vuốt của loài sói lang vô đạo ….

Nhiều máy hình, quay phim ghi lại sự việc sáng nay tại chùa Linh Phổ đã bị công an truy đuổi đập phá. May mắn lắm chúng tôi mới thoát thân và lưu giữ được vài hình ảnh quí giá này để minh chứng tố cáo tội ác của chính quyền Việt Nam. Với kẻ thù (Trung Quốc) thì họ nhu nhược khúm núm còn với đồng bào ruột thịt của mình thì tàn ác dã man.

Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi sự kiện này và sẽ gởi đến quí vị nhiều hình ảnh trung thực của cuộc đàn áp sáng hôm nay tại chùa Linh Phổ huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng sau khi phục hồi sửa chữa lại hai máy quay phim và chụp hình đã bị công an đập phá hư hỏng mà chúng tôi may mắn thu dấu lại được vào bản tin kế tiếp .

Sau sự kiện sáng nay trước khi rút về chính quyền đã tuyên bố là sáng ngày 20/01/2010 sẽ tiếp tục cho người vào xây hàng rào cấm vận chùa. Rất mong quí cơ quan thông tấn báo chí, quí cơ quan nhân quyền hãy lên tiếng ngăn chận sự bạo hành của chính quyền Việt Nam đang ra sức đàn áp khủng bố các cơ sở tôn giáo.
Nếu cần liên hệ để tìm hiểu sự thật của vấn đề xin liên hệ với:

ĐĐ Thích Hoằng Tín - Trú trì chùa Linh Phổ: 0983620148
HT Thích Pháp Chiếu - Trưởng ban trị sự phật giáo Lâm Đồng: 0918853607
HT Thích Toàn Đức - Phó ban trị sự: 0902184717
Ông Hồ Ngọc Thắng - Trưởng ban mặt trận tổ quốc Lâm Đồng: 0913934718
Ông Nguyễn Văn Hiệp - Phó giám đốc công an LÂM Đồng: 0913865218
Cư sĩ Quốc Thái tường thuật trực tiếp từ chùa Linh Phổ 

 


CHẾ ĐỘ VIỆT CỘNG TỰ DIỄN BIẾN
THÀNH CHẾ ĐỘ LƯU MANH CÔN ĐỒ
 
LÝ ĐẠI NGUYÊN



Kẻ lãnh đạo tư tưởng Cô.ngđảng, cầm vận mệnh truyền thông báo chí trong nước, Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Trị, trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương, ngày 03/08/2009 đã cho đăng một bài trên báo Nhân Dân điện tử, với nhận định: “Đảng Cộng Sản Viê.tnam đang đứng trước một bối cảnh quốc tế phức tạp”. “Xu hướng cạnh tranh giữa các nước lớn sẽ ngày càng gay gắt, quyết liệt hơn, đặc biệt trên điạ bàn chiến lược, trong đó có biển Đông”.  Đồng thời Tô Huy Rứa vẫn xác định đường lối chính trị của cộng đảng ở Đại Hội XI sắp tới là: “Chống Tự Diển Biến”, “tiếp tục làm sáng tỏ nhận thức, quan niệm về Chủ Nghĩa Xã Hội và con đường đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội…” Theo đó Tô Huy Rứa cảnh báo về nguy cơ chuyển biến nội bộ đảng, thậm chí còn cao hơn “Diễn Biến Hòa Bình”.  Hiện tượng ‘tự diễn biến nội bộ đảng’ có nghiã là trong tư tưởng và trong thực tế quyền hành và quyền lợi riêng tư của mỗi đảng viên, từ Bộ Chính Trị trở xuống tới các Chi Bộ Cơ Sở, đại đa số, đã không còn tin tưởng tuyệt đối vào thứ Chủ Nghĩa Xã Hội chết tiệt đó và không còn trung thành với chủ trương, đường lối, sách lược lệ thuộc quốc tế của Trung Ương Đảng nữạ Mỗi đảngviên đang tự thủ thân, lập thế, để lúc nào đó cùng ‘ù té chạy’. Điều không may cho Dân Tộc và Quốc Dân Việt Nam là, trong sự ‘tự diễn biến’ ấy, những đảng viên, nhất là những người lãnh đạo đảng Viê.tcộng lại không hướng theo ‘Diễn Biến Hòa Bình’, dựa trên nhu cầu, nguyện ước chân chính thiết thực của toàn dân và dân tộc là Dân Chủ Hóa chế đô.. Đa Nguyên Hóa tư tưởng. Tự Do Hóa xã hộị Tư Nhân Hóa truyền thông. Tư Hữu Hóa Ruộng Đất. Tư Doanh Hóa kinh tế. Toàn Cầu Hóa thị trường…theo hướng vận hành thăng hóa của Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn thời đạị Mà chỉ lo mất quyền lực, lợi lộc của cá nhân và bè đảng. Trong khi đó, dù ngoài miệng phải hô to, rống lớn là phải: “Tiến Lên Chủ Nghĩa Xã Hội”. Nhưng tất cả đảng viên từ trên xuống dưới đều biết thật rõ là thứ chủ nghĩa không tưởng quái ác đó đã chết tiệt thật rồi, không còn sống lại được nữạ Cái chế độ có tên là  Chủ Nghĩa Xã Hội ở Viê.tnam hiện nay, nó đã tự diễn biến thành “Chủ Nghĩa Tư Bản Gia Tộc Man Rợ” không giống bất cứ aị

Đảng viên có quyền có thế đều đã được đảng cho phép trở thành “Tư Bản Tư Doanh”, để từ đó kéo Gia Đình Dòng Tộc vào, biến các Công Ty Quốc Doanh, kể cả vốn liếng của nhà nước thành Tư Hữu Tư Doanh, độc quyền làm kinh tế thị trường. Các công ty Tư Doanh Thường Dân, kể cả các công ty Liên Doanh với Nước Ngoài cũng dễ bị các công ty Tư Doanh Đảng Viên chèn ép cho đến mất nghiệp. Trường hợp mới nhất xẩy ra với công ty Liên Doanh Viê.t-Úc, hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific. Chính vì đảng viên quyền thế tham nhũng và được làm giầu không cần vốn, nên họ bằng mọi cách, mọi giá phải bám lấy quyền lực quốc gia, kể cả việc cam tâm làm nô lệ cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc là Tầucô.ng. Trong khi dân chúng Viê.tnam đang bừng lên khí thế đòi Tự Do Dân Chủ và chống Giặc Tầu Xâm Lăng. Viê.tcộng hoàn toàn mất chính nghĩa trước dư luận quốc dân và quốc tế. Chúng không thể bám vào bất cứ thứ danh nghĩa cao đẹp nào để lừa mị toàn dân và che mắt thế giới nhằm duy trì chính quyền cộng sản độc đảng, độc tài, độc ác, tham nhũng được nữạ Nên từ tâm điạ độc ác, tham tàn và quán tính bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất tín, vô liêm sỉ  của mỗi đảng viên đương quyền, đương thế, chúng đã tự diễn biến, biến luôn chế độ ‘xã hội chủ nghĩa’  thành chế độ ‘lưu manh côn đồ’ theo với bản tính, bản chất ngu xuẩn, xấu, sai, ác của chúng. Tại biến cố Thái Hà, Bát Nhã, Tam Tòa, Đồng Chiêm… và còn nhiều cơ sở của các tôn giáo khác nữạ Viê.tcộng đã cho Công An, Dân Phòng đội lốt “Lưu Manh Côn Đồ” để đánh đập tàn nhẫn những Giáo Dân, Giáo Sĩ, Tăng, Ni, nhằm chiếm đất, chiếm chùa, trước sự điều động trực tiếp của các viên chức địa phương. Để rồi Hànội đỗ thừa cho dân chúng tự phát, và trách nhiệm thuộc về địa phương, khi bị báo chí quốc tế chất vấn. Nhưng toàn dân và cả dư luận quốc tế đều biết thật chính xác, là trong chế độ cộng sản toàn trị, trung ương tập quyền, tất cả mọi hoạt động của địa phương, nhất là có tính chính trị, nhậy cảm thuộc  về tôn giáo, thì phải do Trung Ương chỉ đạọ Có như vậy báo chí, truyền thanh, truyền hình trong nước mới nhất loạt vu cáo cho hàng Giáo sĩ, Tăng sĩ có lỗi kích động dân chúng ‘chống lại nhà nước nhân dân’. Khiến cho Thiền Sư Nhất Hạnh, một tăng sĩ nổi tiếng trên thế giới, sẵn sàng hợp tác với Viê.tcộng, Ông đã nhiều lần đưa Tăng Đoàn Làng Mai tại Pháp về Viê.tnam giảng pháp và tiếp xúc với giới cầm quyền Hànội, để dư luận thế giới cho là Viê.tnam đã cởi mở về tự do tôn giáọ Nhờ đó chính phủ Hoakỳ đã lấy tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC, “các nước cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo”. Rồi qua vụ chế độ Lưu Manh Côn Đồ Viê.tcộng đánh đuổi 400 Tăng, Ni trẻ tu học theo phưong pháp Làng Mai tại chùa Bát Nhã Lâm Đồng, và không cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam của nhà nước, được chứa chấp làm cho thiền sư Nhất Hạnh phải lên tiếng: “Bát Nhã Là Một Công Án Thiền”. Theo ông: “Nếu nghĩ rằng Bát Nhã là vấn đề của 400 tu sinh đang gặp khó khăn, đang cần một giải pháp hợp tình hợp lý thì đó không phải là một công án. Chỉ khi nào thấy rằng Bát Nhã là vấn đề chính của bản thân ta, nó liên hệ trực tiếp đến hạnh phúc, đau khổ của ta, của tương lai ta, và tương lai đất nước dân tộc ta, và chừng nào chưa giải quyết được công án Bát Nhã thì ta còn ngủ không yên, ăn không yên, làm việc không yên thì lúc ấy Bát Nhã mới thực sự là công án”. Là người tu thiền, cho Bát Nhã Là Một Công Án Thiền, đối với thiền sư Nhất Hạnh đó là một chướng ngại, khổ đau, phải thường xuyên quán chiếu để tự ngộ, tự thắng đó là lẽ đương nhiên. Nhưng dù vậy, vẫn không làm sao cho dư luận nguôi ngoai được sự chịu đựng khốn khổ của 400 người trẻ đang bị chế độ Lưu Manh Côn Đồ nghiền nát. Chỉ vì đất nước chưa có Tự Do Tôn Giáo, chưa có  Sự Thật, Công Lý. Dân Chủ, Công Bằng.

Về phía Thiên Chúa Giáo, hồng y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giáo Phận Saigòn, người đã có lần cho là: “nên bỏ cờ vàng, giữ cờ đỏ” làm cho giáo dân và người tỵ nạn cộng sản phản đối mạnh mẽ. Ngày 25/01/10, cũng đã phải lên tiếng về nguyên nhân tranh chấp giữa Giáo Hội và Nhà Nước Viê.tcộng như sau: “Tôi thấy có một nguyên nhân chính, đó là đi ngược chiều với truyền thống văn hóa cùng những giá trị đạo đức của dân tộc. Nền văn hóa cùng những giá trị đó từ ngàn xưa được xây dựng trên tình nghĩa đồng bào tôn trọng lẫn nhau, tương thân tương trợ lẫn nhau, chứ không phải trên hệ thống quyền lực cùng bạo lực loại trừ đồng bào, đồng loạị Lịch sử cho thấy công cuộc phát triển xã hội tự do và dân chủ, bình đẳng và công bằng, văn minh và khoa học, mà thiếu tình nghĩa đồng bào, thiếu tình nghĩa huynh đệ đại đồng, luôn để lại nhiều vấn đề nan giải, cản trở sự phát triển toàn diện của con người và đất nước”.  Đến đây cho thấy, dù cho các nhà lãnh đạo tinh thần vốn có thái độ ôn hòa, sẵn sàng đối thoại, hợp tác với Viê.tcộng, như Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh cũng không còn chịu đựng được cái chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa tự quái hóa thành chế độ Lưu Manh Côn Đồ, coi ‘Dân là Kẻ Thù’, coi  ‘Tầu là Thầy Tổ’. Không biết bọn họ sống được với ai nữa đây???
Little Saigon ngày 26/01/2010.












KHI SAI LẦM BỊ ĐẨY ĐẾN MỨC QUÁ ĐÁNG

Bùi Tín viết riêng cho VOA
26/01/2010
http://www.voanews. com/vietnamese/ Khi-sai-lam- len-muc-qua- dang.cfm 
 
Tình hình chính trị của đất nước gần đây sa sút nhanh và trầm trọng.

Mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân có những biểu hiện gay gắt. Chính quyền không những không bảo vệ người dân lương thiện, còn bênh vực những tham quan ô lại, áp bức quần chúng, để người dân phải đặt ra câu hỏi: chính quyền hiện tại là chính quyền kiểu gì? của ai? bênh vực ai? Nền tư pháp hiện tại là nền tư pháp của ai? có công bằng hay không công bằng? sao người tử tế, trí thức yêu nước bị đàn áp nặng nề, phi lý, trong khi bọn tham nhũng, biến chất thì được bênh che, nới tay đến vậy! Rõ ràng là nền tư pháp có 2 tốc độ, 2 bàn cân, cực kỳ nặng tay cho người này, nhẹ bỗng cho kẻ khác!

Vụ Bát Nhã, hơn 70 tên du côn, mafia, xã hội đen lộng hành, gây án mạng đối với các em tu sinh trong sáng, dân quân xã, công an huyện không hề bảo vệ công dân lương thiện - là chức năng cơ bản của một nhà nước chân chính -, còn tiếp tay, khuyến khích bọn chúng cùng phá phách gây án, chính quyền huyện và tỉnh thả lỏng. Thật là quá đáng. Người phát ngôn bộ ngoại giao bất chấp chứng cớ, phim ảnh, ghi âm tại chỗ, chối phắt: "Ðó là xung đột nội bộ phật giáo!" Thật là quá đáng!

Vụ Đồng Chiêm - Mỹ Đức - Hà Nội, chính quyền còn quá đáng hơn. Họ huy động hàng trăm dân quân, công an phong tỏa cả vùng, dùng chất nổ mạnh phá tan thánh giá, đánh đập gây thương tích cho nhà báo và linh mục, bắt giam hàng chục giáo dân ra can ngăn việc làm phi pháp của họ, nhưng người phát ngôn bộ ngoại giao vẫn nói rằng thánh giá đã được chính giáo dân tháo gỡ di dời. Thật quá đáng.

Còn việc chống tham nhũng, chính nhà nước ở trung ương đã tỏ ra quá đáng, "nói một đằng làm một nẻo", bênh che, dơ cao đánh khẽ quan chức đảng viên cộng sản sâu mọt tội phạm lớn nhất, như bị can loại tổng giám đốc Bùi Tiến Dũng, bị can thứ trưởng Giao thông kiêm bí thư đảng uỷ Nguyễn Việt Dũng, như đảng viên phó giám đốc sở giao thông Huỳnh Ngọc Sỹ, nay lại định dung túng chạy tội cho cho bị cáo Lương Ngọc Anh (đảng viên giám đốc một công ty quốc doanh trong ngành công an) cũng như cho bị cáo đảng viên cộng sản Lê Đức Minh, con cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy, mặc dù phía Úc đã khởi tố các bị cáo đưa hối lộ cho Anh và Minh số tiền lên đến hơn 10 triệu đô la Úc. Thật là quá đáng!

Vẫn chưa hết. Trong khi đó thì chính quyền của đảng lại quá đáng trong sự đàn áp, hiếp đáp các nhà dân chủ yêu nước dấn thân đòi tự do cho toàn dân, còn dùng nhục hình với ông Trần Huỳnh Duy Thức, tuyên án với các "bản án bỏ túi sẵn" theo lệnh của bộ chính trị, qua các phiên xử chớp nhoáng, khuất tất, mỗi bị cáo chỉ xử có chừng 2 tiếng, để làm bao nhiêu chuyện theo trình tự tố tụng là: nghe cáo trạng của công tố, thẩm vấn cung, đối chiếu cung, bào chữa của luật sư, tranh biện trước toà, thảo luận cân nhắc trong hội đồng xét xử, luận tội để tuyên án, và các phát biểu cuối cùng...Thật là bôi bác!

Làm sao các bị cáo từng chăng biểu ngữ: "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt nam" tại đường số 5 trên cầu Lai Vu lại có thể bị kết tội ? Kết tội họ một ngày tù cũng là phi lý. Lẽ ra họ phải được khen ngợi, quý trọng, biểu dương. Điều 10 trong Luật tố tụng hình sự ghi: «Xác định sự thật của vụ án - cơ quan điều tra, kiểm sát và toà án phải áp dụng mọi biện pháp để xác định sự thật, chứng minh tội phạm". Vậy toà án đã chứng minh ra sao về cái tội gọi là chăng biểu ngữ trên đây? Yêu nước là phạm tội! Thật quá đáng!

Mọi sự quá đáng đều sai lầm, có hại. Ngạn ngữ Pháp có câu:"Tout excès est mauvais". Mọi sự quá đáng đều xấu xa ! Huống gì đây là quá đáng trong cầm cân công lý, quá đáng trong đàn áp người lương thiện; quá đáng trong đánh bị thương nhà báo, linh mục, giáo dân, phật tử; quá đáng trong tuyên án rất nặng - 16 năm, 7 năm, 5 năm tù giam những trí thức yêu nước; quá đáng trong việc dùng chất nổ của quân đội để phá tan thánh giá và tượng Chúa; quá đáng trong việc lừa dối, chối tội kiểu gian ngoan, lệnh cho chính quyền bên dưới dùng lưu manh và hung khí tấn công phật tử trẻ rồi đổ vấy cho là do xung đột nội bộ.

Do mọi sai lầm đều được nhà cầm quyền đẩy lên đến mức cực kỳ hung hãn và phi lý nên ngay từ đầu năm 2010 búa rìu dư luận đã giáng xuống tới tấp, không kịp chống đỡ; các tổ chức Phóng viên không biên giới, Quan sát Nhân quyền, Quốc tế các nhà báo, bộ ngoại giao Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Úc, các đại sứ tại Hà Nội, Hoa Kỳ, Thuỵ Ðiển, tổ chức bảo vệ tự do tôn giáo Mỹ, đại diện Liên Âu...nhất loạt yêu cầu Hà Nội phải xoá bỏ các vụ án phi lý, trả lại tự do cho 16 nhà dân chủ ngay và không điều kiện, trả lại tự do cho mọi người tù chính trị.

Người phát ngôn bộ ngoại giao Hà Nội lại chống đỡ bằng luận điệu "can thiệp vào chủ quyền", một kiểu nhai đi nhai lại yếu ớt, đã bị toàn thế giới tiến bộ bác bỏ dứt khoát từ lâu khi khẳng định "quyền can thiệp và cả nghĩa vụ can thiệp", khi chính quyền một nước đối xử tàn bạo với công dân nước mình, vi phạm cam kết quốc tế khi họ ký Công ước về Nhân quyền, qua đó họ hứa hẹn tôn trọng quyền sống trong tự do và nhân phẩm của mọi nước, và trước hết là dân nước của chính họ. Chính thái độ quá đáng trong đối xử với dân mình, với giáo dân và phật tử người Việt mình, thái độ quá đáng với nông dân mình, thu hồi đất của họ rồi đền bù với giá "bèo bọt ", phản bội liên minh công nông, thái độ quá đáng với trí thức trong việc cấm phản biện, bức tử trên thực tế Viện IDS và mạng Tia Sáng, vu cáo hơn 2,000 trí thức ngăn cản việc khai thác bôxít chứa đầy hiểm họa là bị phản động lôi kéo mua chuộc, đánh phá mạng bôxit-info, quấy rầy nhũng nhiễu ông Huệ Chi và ông Phạm Toàn, hăm doạ hơn 10,000 nhà báo cấm không ai được viết bài theo ý riêng...

Năm 2010 này, chính quyền độc đã tự làm mất uy tín, - cả uy tín trong nước và uy tín quốc tế - và ngày càng ở vị thế bị cáo, vì đã quay lưng với nhân dân, không mảy may quan tâm xây dựng một xã hội thật sự ổn định, công bằng, dân chủ và hạnh phúc, như họ từng cam kết dễ dãi trong cái đại hội đảng X của họ.

 


XỬ NHỮNG NHÀ DÂN CHỦ


Đàn áp không phải là Công lý
Việt Long, phóng viên RFA, 2010-01-19

Ngày 20 và 21 tháng 1 năm 2010, chính quyền VN sẽ xét xử nhiều nhà tranh đấu vì nhân quyền như LS Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa… Luật sư Trần Thanh Hiệp đưa ra nhận định trước các phiên tòa.
 
Tòa án nhân Hà Nội vừa mới xử lại và giữ nguyên bản án sơ thẩm phạt 4 năm tù giam, kỹ sư Phạm Văn Trội, 3 năm tù giam đối với nhà văn Trần Đức Thạch và nhà giáo Vũ Hùng về tội tuyên truyền chống Nhà nước.

Ngày 20-01-2010 tòa án nhân dân cấp sơ thẩm thành phố Sài Gòn sẽ xử vụ các nhận vật trí thức trong đó có Luật sư Lê Công Định, kỹ sư Nguyễn Tiến Trung bị truy tố về tội âm mưu lật đổ chính quyền.

Và ngày 21-01-2010 tòa án nhân dân Hải Phòng cũng mở phiên xử phúc thẩm để xử lại vụ 6 nhân vật khác về tội tuyên truyền chống Nhà nước, trong đó nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa bị coi là chủ mưu, được yêu cầu cho biết nhận xét của ông về những phiên xử hàng loạt nói trên.

Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân Quyền, trụ sở đặt tại Paris, nói rằng ông rất quan tâm trước bước leo thang đàn áp rất đáng quan ngại hiện nay của bộ máy cầm quyền Hà Nội.

Sau đây xin mời quý vị theo dõi cuộc trao đổi giữa Việt Long của đài Á Châu Tự Do và Luật sư Hiệp. 

Leo thang đàn áp

Cơ quan điều tra khởi đầu đã làm tình làm tội để ép buộc các bị can nhận tội trước báo chí là đã phạm vào điều 88 Bô luật hình sự. Nhưng phút chót các cơ quan này lại đổi tội danh.

Việt Long: Trong những phiên xử tại Việt Nam như vừa được trình bày, có lẽ công luận đang chờ theo dõi diễn tiến vụ xử 4 nhân vật được quốc tế biết đến nhiều, mà hồ sơ tội trạng đã được thiết lập chiếu điều 79 Bộ luật hình sự xử lý tội âm mưu lật đổ chính quyền. Cảm tưởng của luật sư ra sao về các mặt nhân quyền, công lý ở Việt Nam trước những phiên xử dồn dập như vậy?

LS Trần Thanh Hiệp: Quang cảnh náo nhiệt trong sinh hoạt tư pháp vừa được nêu lên đó mang nhiều ý nghĩa vừa đã rất rõ vừa lại chưa rõ. Theo tôi, có một điều đã rất rõ đó là tình trạng căng thẳng này trong xã hội bắt nguồn từ sự chống đối đường lối cai trị của nhà cầm quyền ngày càng gia tăng và càng tỏ ra không còn là việc nhỏ nữa, không thể bỏ qua hay giải quyết bằng biện pháp hành chánh được mà phải nhờ đến tòa án. Nếu luật pháp mà tốt nghĩa là thuận lòng người và tòa án là trọng tài vô tư thì mức độ căng thẳng sẽ sút giảm vì công lý được thực hiện.

Nhưng việc tòa phúc thẩm Hà Nội trong vụ Phạm Văn Trội-Trần Đức Thạch vẫn giữ nguyên những mức hình phạt của tòa dưới mặc dù các đương sự đã kháng cáo cho thấy là công lý vẫn chưa xuất hiện. Tất nhiên còn phải đợi thêm kết quả của hai vụ sắp xử thì mới rút ra được những kết luận đầy đủ. Vậy trong khi chờ đợi thì tôi có thể nói rằng công lý vẫn ở đằng trước và cho đến phiên xử vừa qua của tòa phúc thẩm Hà Nội thì cuộc đàn áp đối lập ở Việt Nam vẫn tiếp tục qua những bước leo thang mới.

Việt Long: Tòa trên chỉ y án tòa dưới thì luật sư cũng cho là leo thang sao?

LS Trần Thanh Hiệp: Tuy tôi đã thận trọng để nói rằng có những bước leo thang đàn áp mới nhưng thật ra cũng đã có leo thang trong vụ án Phạm Văn Trội-Trần Đức Thạch. Tòa phúc thẩm không leo lên một bậc mới nhưng đã đứng ở bậc cũ mà tòa dưới đã leo, tức là tòa này đã bướcthêm một bước leo thang đàn áp đối với những người dân hoạt động dân chủ ôn hòa. Tôi sẽ xin bàn sau nếu có cơ hội, về vụ án Nguyễn Xuân Nghĩa sắp xử trong những ngày tới.

Nhưng trong vụ Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Hùynh Duy Thức tuy chưa xử nhưng đã có leo thang đàn áp rồi. Cơ quan điều tra khởi đầu đã làm tình làm tội để ép buộc các bị can nhận tội trước báo chí là đã phạm vào điều 88 Bô luật hình sự.

Nhưng phút chót các cơ quan này lại đổi tội danh từ nhẹ là tội tuyên truyền chống Nhà nước sang tội nặng hơn là âm mưu lật đổ chính quyền mà hình phạt tối đa là tử hình. Đổi mà không giải thích được, như mọi người đã thấy trong phiên xử ông Trần Anh Kim, vì sao đã phải đổi tội như thế. Vậy thì chỉ còn là vì muốn leo thang mượn điều 79 này để hù dọa mà khủng bố dân. 

Ngoài ra lại còn bao vây bao chí cấm không cho những cơ quan truyền thông đại chúng được sử dụng các dụng cụ truyền thanh, truyền hình để theo dõi và tường thuật phiên xử. Rõ ràng la một bước leo thang để hòng lên tới đỉnh cao thời toàn trị Xit TaLin, Mao Trạch Đông v.v…

Âm mưu lật đổ chính quyền?

Việt Long: Liệu Nhà nước Việt Nam có thể nói rằng vì điều 79 liên quan tới một tội phạm rất nghiêm trọng nên cần phải xử kín không?

LS Trần Thanh Hiệp: Trên nguyên tắc thì tòa án có quyền lấy quyết định xử kín, nhưng một khi đã cho công chúng tham dự thì tình trạng nửa kín nửa hở là điều không biện minh được. Nhưng Luật leo thang không phải chỉ vì cách xử nửa kín nửa hở này mà là vì ngay chính điều 79 Bộ luật hình sự. Tôi cần đi sâu một chút về luật học để nói cho rõ về điều khoản này.

Việt Long: Mời luật sư nêu ý kiến.

LS Trần Thanh Hiệp: Đúng là ở trong các bộ luật hình sự của hầu hết quốc gia trên thế giới đều có ghi tội danh âm mưu lật đổ chính quyền. Nhưng để xét xử thông qua tội danh ấy thì phải căn cứ vào nội dung của nó chứ không thể chỉ dựa vào danh xưng mà thôi.

Và ở trong nội dung này phải định nghĩa thế nào là “âm mưu”, là “lật đổ”, là “chính quyền”. Chứ không phải bất cứ một hành vi nào hoặc là ý nghĩ, quan điểm hoặc là tinh cảm không ưa hay ngay cả muốn thay đổi chính quyền tại chức cũng có thể bị ghép vao tội âm mưu lật đổ chính quyền được.

Nói chung các bộ luật ấy đều xác định rằng chỉ là âm mưu lật đổ chính quyền những hành vi nào mang tính bạo lực trực tiếp xâm phạm đến lãnh thổ, an ninh đối nội, đối ngoại, đến sự tồn vong của chính thể, của chế độ thì mới có thể coi là âm mưu lật đổ chính quyền.

Bộ luật hình sự đương hành ở Việt Nam trái lại nơi điều 79 cực kỳ mơ hồ về cách định nghĩa tội danh lật đổ chính quyền. Vì chỉ thấy nói rằng: ”Người nào hoạt động hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì bị phạt như sau….”, tuyệt nhiên không xác định thế nào là lật đổ chẳng lẽ một đề nghị bằng lời phát biểu hay bằng bài viêt thay đổi để chế độ xấu trở thành tốt cũng bị coi là lật đổ chính quyền hay sao?

Việt Long: Dù coi đó là một điều khoản mơ hồ chăng nữa thì luật sư căn cứ vào đâu để khẳng định rằng tự bản thân sự mơ hồ đó là một bước leo thang?

LS Trần Thanh Hiệp: Bộ luật hình sự năm 2000 hiện đang áp dụng dưới chế độ đương hành ở Việt Nam là một kiến trúc hính luật thoát thai từ bộ luật hình sự năm 1995 là con đẻ của chế độ chuyên chính vô sản toàn trị  được thiết lập năm 1980. Trong khung cảnh chính trị đó thì người ta hiểu được vì sao không một ai nếu không phải là Đảng Cộn sản Việt Nam có quyền thay đổi chế độ và loại tôi phạm lật đổ mơ hồ kiểu điều 79 có cơ sở ý thức hệ để biện minh.

Nhưng cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, cả hệ thống độc tài toàn trị cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô cũ sụp đổ, Đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam năm 1992 và 2001 đã phải sửa đổi hiến pháp để đổi mới,  từ bỏ chuyên chê để di vào dân chủ và hội nhập vào cộng dồng thế giới.

Điều 3 của Hiến pháp, văn bản sửa đổi và bổ sung năm 2001 đã ghi rằng “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc…”

Điều 3 này từ tinh thần đến văn tự đã long trọng và công khai dưới hình thức thành văn công nhận cho bất cứ một người dân nào với tư cách là một thành tố của người chủ tập thể đất nước cũng có quyền tự do suy nghĩ, đề xuất đường lối thực hiện một xã hội văn minh, dân chủ.

Luật sư Lê Công Định trên cơ sở những kiến thức hiện đại về luật học cũng như về chính trị học của ông nếu có đưa ra những đề xuất sửa đổi hiến pháp hay soạn thảo mộ hiến pháp mới hoàn bị hơn thì ông chỉ hành sử mộ “quyền chính trị” hợp pháp vì đã được đạo luật tối cao của quốc gia công nhân.

Thanh niên Nguyễn Tiến Trung gia nhập một chính đảng Đảng Dân Chủ có thành tích tham gia tử những ngày đầu của cuộc cách mạng dân chủ năm 1945 để cổ võ cho sự phát huy của sinh hoạt dân chủ cho phù hợp với xu thế của thời đại không thể coi là lật đổ chính quyền được nhất là chính quyền ấy đã cam kết và bảo đảm thực thi dân chủ.

Như vậy, bình thường ra nhà cầm quyền Hà Nội không có cơ sở pháp lý xác đáng và vững chắc để truy tố dưới tội danh lật đổ chính quyền những nhà tranh đấu dân chủ ôn hòa và tiến bộ như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức.

Nhưng nếu cứ truy tố bừa bãi rồi bỏ tù họ, như đã xảy ra trong vụ xử Trần Anh Kim thì rõ ràng là một vụ leo thang đàn áp chứ không phải là một vụ xét xử công bằng để thực hiện công lý

Việt Long: Vậy theo luật sư, thế nào là xét xử công bằng để thực hiện công lý?

LS Trần Thanh Hiệp: Theo tôi, phải chấm dứt ngay chính sách đàn áp có hệ thống và quy mô mà nhà cầm quyền Hà Nội đang muốn đi tới cùng. Để giữ cho xã hội có trật tự và ổn định, phải áp dụng nghiêm chỉnh pháp luật.

Muốn vậy phải sửa đổi càng sớm càng tốt hệ thống pháp luậ công cụ đàn áp để thay thế bằng một hệ thống pháp tôn trọng và bảo vệ nhân quyền. Tôi tin rằng nếu chọn hướng đi mới này nhà cầm quyền Hà Nội sẽ nhận được sự trợ lực rộng lớn ở khắp mọi nơi trên thế giới.

Việt Long: Xin cảm ơn luật sư Trần Thanh Hiệp và xin được nhắc lại, rằng ý kiến của luật sư Hiệp không nhất thiết phản ánh quan điểm của đài Á Châu Tự Do.

Bình thường hay bất thường?
Trân Văn, phóng viên RFA
2010-01-20

Sáng 20 tháng 1, Toà án TP.HCM đã đưa các ông: Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định và Lê Thăng Long, cùng bị truy tố về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” ra xét xử sơ thẩm.

Chưa điều tra đã bảo có tội!

Phiên xử sơ thẩm này là diễn biến mới nhất của một vụ án chính trị mà Công an Việt Nam từng khởi tố hồi tháng 6 năm ngoái và từ đó đến nay, vụ án này đã thu hút sự chú ý của cả công luận lẫn dư luận ở trong lẫn ngoài Việt Nam.

Tháng 6 năm ngoái, Cơ quan An ninh Điều tra của Bộ Công an Việt Nam lần lượt khởi tố và tạm giam các ông: Trần Huỳnh Duy Thức (kỹ sư Công nghệ thông tin, Tổng Giám đốc Công ty Một kết nối tại TP.HCM),  Lê Thăng Long (kỹ sư Điện tử Viễn thông, Giám đốc Công ty Phát triển và Đầu tư Công nghệ Innotech tại Hà Nội), Lê Công Định (luật sư) và sang tháng 7, khởi tố thêm các ông Nguyễn Tiến Trung (kỹ sư Công nghệ thông tin), Trần Anh Kim (cựu trung tá Quân đội nhân dân Việt Nam), cùng về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”.

Vào lúc đó, cho dù chỉ mới bắt đầu tiến trình điều tra và dù điều 72 của Hiến pháp Việt Nam minh định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”, song Công an Việt Nam vẫn tổ chức nhiều cuộc họp báo, cung cấp nhiều thông tin, hình ảnh để hệ thống truyền thông ở Việt Nam đồng loạt xác định, cả năm bị can  cùng phạm tội “tuyên truyền chống nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”.

Từ “tuyên truyền” thành “lật đổ?

Việc khởi tố, tạm giam các ông: Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, đã bị nhiều chính phủ, tổ chức phi chính phủ, diễn đàn điện tử, blog chỉ trích mạnh mẽ và khiến chính quyền Việt Nam lúng túng đến mức phải “đính chính”.

Chẳng hạn, trong hai cuộc họp báo được tổ chức ngay sau khi thực hiện thủ tục “bắt khẩn cấp” luật sư Lê Công Định hôm 13 tháng 6 năm ngoái, tướng Vũ Hải Triều và tướng Hoàng Kông Tư của Công an Việt Nam tuyên bố, luật sư Lê Công Định bị bắt là vì đã chỉ trích chủ trương, chính sách, chưa kể ông Định còn tham gia bào chữa cho các đối tượng chống đối Đảng và Nhà nước.

Những tuyên bố của hai viên tướng thuộc lực lượng an ninh của Công an Việt Nam là lý do để Liên minh Báo chí Đông Nam Á, được thành lập với mục đích bảo vệ và thúc đẩy tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Đông Nam Á lên tiếng bày tỏ sự lo ngại trước viễn cảnh Việt Nam sẽ trở thành chủ tịch ASEAN, vì “trong lúc cộng đồng ASEAN đang tìm cách xây dựng uy tín và động lực để hình thành một Ủy hội Nhân quyền thì việc Chủ tịch khối ASEAN khi ấy không tôn trọng quyền công dân của họ trước tòa,  đâu sẽ là cơ hội cho Ủy hội nhân quyền ASEAN bảo vệ quyền con người trong khối?”.

Cùng thời điểm ấy, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ  phát hành một thông cáo nhấn mạnh: “Không thể bắt bất kỳ cá nhân nào vì bày tỏ quyền tự do ngôn luận và không thể trừng phạt bất kỳ luật sư nào vì thân chủ mà họ chọn bào chữa”...

Những phản ứng như thế buộc ông Lê Dũng, khi ấy là người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam phải tuyên bố:  “Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do chính kiến của công dân, khuyến khích người dân đóng góp ý kiến và tham gia tích cực vào mọi mặt đời sống của đất nước.”

Hai ngày sau tuyên bố của ông Lê Dũng, hôm 19 tháng 6 năm 2009, Thông tấn xã Việt Nam loan báo, đại diện Tổng cục An ninh của Bộ Công an Việt Nam đã khẳng định với Phó Đại sứ Hoa Kỳ:  “Việc Bộ Công an bắt xử lý Lê Công Định là do những hoạt động vi phạm pháp luật, không phải do Định đã tham gia bào chữa cho một số bị cáo như thông tin của Hoa Kỳ và một số tổ chức khác ở nước ngoài”.

Ông Vũ Quý Hạo Nhiên, Tổng thư ký tờ Người Việt ở Nam California, Hoa Kỳ, nêu nhận xét của ông về những tuyên bố của các viên chức chính quyền Việt Nam:

“Có sự khác nhau giữa những điều mà hai ông tướng nêu ra với những điều mà ông Lê Dũng nói. Ông Lê Dũng là phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao cho nên biết rằng không thể dùng những điều các ông tướng đã nói để thuyết phục những nước tôn trọng tự do ngôn luận.

Ví dụ như mấy ông tướng thì nói rằng luật sư Lê Công Định vi phạm pháp luật Việt Nam vì biên soạn hàng chục tài liệu đăng tải ở nước ngoài, kêu gọi lập chế độ đa đảng, lợi dụng các vấn đề xã hội để kích động chống Đảng – Nhà nước, lợi dụng vấn đề Tây Nguyên, lợi dụng vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa để chống đối nhà nước...

Hai ông tướng nói được tất cả những điều đó vì họ là Công an. Đó là ý của họ. Họ bắt ông Định vì những lý do đó. Thế nhưng nói như vậy với ngoại quốc thì họ biết tỏng là không tôn trọng tự do ngôn luận, thành ra khi phát ngôn với báo chí ngoại quốc, ông Lê Dũng nói tránh đi. Không nhắc đến chuyện nào trong những chuyện hai ông tướng đã nêu ra mà chỉ nói là ông Lê Công Định cấu kết với thế lực bên ngoài.  

Như vậy những lời tuyên bố của mấy ông tướng có giá trị gì không? Nó rất có giá trị ở chỗ nó cho biết lý do thật mà nhà nước bắt ông Định. Tự do ngôn luận, chuyện tôn trọng hiến pháp hoàn toàn là không đáng gì cả!”

Sau đó ít lâu, người ta thấy hệ thống truyền hình Việt Nam phát các đoạn băng ghi cảnh ông Trần Huỳnh Duy Thức, ông Nguyễn Tiến Trung, ông Lê Công Định, ông Trần Anh Kim thừa nhận mình có tội.

Tháng 11 năm ngoái, người ta được biết thêm là cơ quan điều tra đã “Quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can”, chuyển tội danh của cả năm ông: Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim,  từ “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam” (mức hình phạt cao nhất là 20 năm), thành “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (mức hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình).     

Tuy cùng là bị can trong một vụ án nhưng cuối tháng trước, ông Trần Anh Kim được đưa ra xét xử riêng. Dù hội đồng xét xử nhận định rằng, ông Kim “cấu kết chặt chẽ giữa các cá nhân và tổ chức chống đối, có sự móc nối với bọn phản động người Việt lưu vong thù địch ở nước ngoài nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” và dù ông Kim bị truy tố theo khoản 1 điều 79, vốn có khung hình phạt “từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình” nhưng họ chỉ phạt ông Kim 5 năm 6 tháng tù.

Phần còn lại của vụ án “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” thì sao? Trong bài viết tới, chúng tôi sẽ tiếp tục tổng hợp và tường trình những vấn đề có liên quan đến các ông: Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Lê Thăng Long. 









 
MỸ VÀ LIÊN ÂU PHẢN ỨNG
VỀ NHỮNG VỤ ĐÀN ÁP
 

Clinton: 'VN nên đối thoại với blogger'

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton nói chính phủ Việt Nam nên đối thoại và tranh luận với những người chỉ trích qua mạng internet, thay vì bỏ tù họ.

Bà Clinton nói Việt Nam nên đối thoại với những ai chỉ trích

Bà nhắc đến Việt Nam trong Bấm bài diễn văn về tự do Internet, mà nhắm chủ yếu đến tranh cãi quanh Google ở Trung Quốc.

Trong diễn văn tại bảo tàng báo chí Newseum ở Washington hôm 21/01, ngoại trưởng Mỹ nói tại Việt Nam, "việc tiếp cận các trang mạng xã hội phổ biến đột nhiên biến mất".

Bà chỉ trích các nước "gồm cả Việt Nam và Trung Quốc" đã có những chiến thuật hạn chế việc xem thông tin về tôn giáo.

Sau đó, trong phần trả lời câu hỏi, ông Nguyễn Đình Thắng từ tổ chức BPSOS chuyên trợ giúp người tị nạn, hỏi bà ngoại trưởng sẽ làm gì khi Việt Nam vừa mới xử bốn nhà đối kháng, với mức án cao nhất 16 năm (Trần Huỳnh Duy Thức).

Bà Clinton nói: "Chúng tôi đã công khai phản đối việc bắt giữ, kết tội và cầm tù không chỉ các blogger ở Việt Nam, mà cả một số nhà sư Phật giáo và những người bị sách nhiễu."
"Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ...nâng cao mức sống của người dân. Và họ không nên lo ngại những bình luận trong nước. Tôi muốn thấy có thêm các chính phủ tranh luận nếu họ không đồng ý với điều mà một blogger hay trang web đang nói."

"Hãy giải thích những gì anh đang làm. Đưa ra thông tin phản bác. Chỉ ra những khiếm khuyết trong quan điểm của blogger."

Bà nói bà "hy vọng Việt Nam sẽ đi theo hướng đó, vì tôi nghĩ nó tương thích với tiến bộ mà chúng tôi chứng kiến tại đó mấy năm qua."

EU phản ứng

Hôm 20/01, Bấm Tòa sơ thẩm TP Hồ Chí Minh vừa tuyên án từ 5 năm tới 16 năm tù giam, thêm từ 3 tới 5 năm quản chế tại gia cho bốn nhân vật bất đồng chính kiến.

Những người này bị xử tội Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân theo Điều 79 Bộ Luật Hình sự.

Ông Lê Công Định và Lê Thăng Long lãnh án tù 5 năm và ông Bấm Nguyễn Tiến Trung nhận án 7 năm. Cả ba ông đều sẽ bị quản chế tại gia thêm ba năm sau khi mãn án.

Ông Bấm Trần Huỳnh Duy Thức bị án 16 năm tù giam và 5 năm quản chế.

Bấm Anh quốc và Hoa Kỳ đã ra tuyên bố phản đối vụ xử này.

Liên hiệp châu Âu (EU) cũng có thông cáo nói việc kết án "không phù hợp với quyền căn bản của mọi người được có ý kiến và tự do bày tỏ chúng trong hòa bình."

EU nói sự nghiêm trọng của mức án, đặc biệt là 16 năm tù cho ông Duy Thức, là "chưa từng có trong những năm gần đây".

Phiên tòa và phán quyết là một bước thụt lùi lớn và đáng tiếc cho Việt Nam.

Thông cáo của EU

"Phiên tòa và phán quyết là một bước thụt lùi lớn và đáng tiếc cho Việt Nam. Sự quý trọng của cộng đồng quốc tế và tiến bộ kinh tế lâu dài không thể duy trì nếu sự tự do biểu lộ, đặc biệt là trao đổi và phát triển tư tưởng về những vấn đề quan trọng cho nhân dân và đất nước, bị bóp nghẹt."

"Việc tiến hành xử án cũng gây lo ngại: gia đình những bị can không được phép vào chính tòa; hệ thống âm thanh cho người quan sát ở phòng gần bên không tốt; và những cáo buộc nghiêm trọng của hai trong bốn người nói rằng họ bị sức ép hay sách nhiễu trong quá trình điều tra đã không được Tòa lưu ý."

EU nói họ "nhắc lại thiện chí vững chắc và ủng hộ Việ Nam và sẵn sàng tiếp tục là đối tác với Việt Nam".

"Tuy nhiên, xu hướng tiêu cực thể hiện qua việc tuyên án này và những lần khác gần đây, cần bị đảo ngược để tiềm năng của Việt Nam trong mọi lĩnh vực, cả xã hội và kinh tế, được thành hiện thực."

Cập nhật:Bấm Đọc về phản ứng của các công ty quanh tuyên bố về Trung Quốc của bà Clinton. 



KINH DOANH QUYỀN CHỨC
TRONG CƠ CHẾ CSVN


"Kinh doanh" quyền chức - Một hiện tượng đáng lo ngại
Mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn nạn này.

LTS: Chuyện "chạy chức chạy quyền" xảy ra lâu nay ở một số nơi đã khiến không ít nhà lãnh đạo cũng như người dân quan tâm, lo lắng, thậm chí trở thành đề tài chất vấn tại Diễn đàn Quốc hội. Đây là một hiện tượng không phổ biến song rất đáng lo ngại và cần được đấu tranh loại trừ.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều bày tỏ góc nhìn riêng về hiện tượng này.

Trong một cuộc họp giao ban quận huyện của Hà Nội mới đây, Bí thư Thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị đã thẳng thắn nói: "Cơ chế có những sơ hở khiến nhiều người giàu bất thường, họ có quyền lực nên người khác cứ đưa hối lộ cho dù họ không đòi". Câu nói của ông rõ ràng làm cho ai cũng hiểu được rằng có quá nhiều người giàu lên một cách vô lý. Họ giàu không bởi trí tuệ, không phải tìm ra một con đường kinh doanh xuất chúng và không phải bởi những sự lao động không mệt mỏi của họ mà bởi được hối lộ. Ai được hối lộ? Tất nhiên chỉ là những người có quyền có chức mà thôi.

Không phải ngẫu nhiên mà dân gian xì xào với nhau, "kinh doanh" quyền chức là thứ kinh doanh mau lãi nhất.

Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn đề gây đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn đề này.

Ai cũng biết rằng hậu quả của việc mua quan bán chức là trực tiếp làm suy yếu hệ thống quản lý nhà nước và đẩy đất nước vào ngõ cụt, không chỉ trong việc phát triển đất nước mà trong cả nhân cách của một thể chế.

Bên cạnh đó, nạn mua quan bán chức sẽ là bức "tường lửa" nhưng không gây ra hoả hoạn để ngăn chặn những người có tài, có đức có thể giúp điều hành quản lý xã hội.

Những câu chuyện mà người dân vẫn nói với nhau trong công sở, trong quán cà phê... về sự giàu có của nhiều người có chức có quyền nghe mà kinh hãi. Đấy là chỉ nói đến những tài sản mà người xã hội nhìn thấy thôi. Những tài sản đó có thể không mang tên người có chức có quyền đó nhưng mang tên vợ hoặc chồng họ, con cái họ, cháu nội cháu ngoại họ nữa...

Nếu thực sự chống tham nhũng thì chúng ta chỉ làm điểm một số người có quyền có chức xem nguồn gốc những tài sản đó của họ từ đâu ra? Giải pháp tưởng đơn giản, nhưng chúng ta có thực sự muốn chống tham nhũng không và ai sẽ dám đi đầu trong chuyện này?

Các tổ chức chống tham nhũng của chúng ta hiện nay sẽ chống tham nhũng những ai và bằng cách nào khi những người đứng đầu tổ chức chống tham nhũng ở cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp huyện rồi đến các cơ quan... lại là những người đứng đầu thành phố ấy, tỉnh ấy, huyện ấy hay cơ quan ấy?

Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nói rằng hiện có tình trạng tham nhũng không phải do cơ quan, tổ chức phát giác mà đa phần do quần chúng...

Không phải là các cơ quan, các tổ chức... kém năng lực mà là họ không dám làm.

Bởi thế, chỉ khi những người dân là những người trong tổ chức chống tham nhũng thì cuộc đấu tranh chống tham nhũng mới có hiệu quả.

Nhân dân sẽ đề cử các thành viên vào các tổ chức chống tham nhũng. Đó là những người có trình độ, có lương tâm và không được có quyền chức.

Chúng ta ai ai cũng hiểu rằng: kẻ tham nhũng đương nhiên phải là những người có quyền có chức chứ nhân dân thì tham nhũng bằng cách gì. Bởi một chữ ký của người có quyền có chức là có thể giúp cho một nhà thầu, một công ty, một doanh nhân sau một đêm ngủ dậy bỗng có trong tay hàng trăm tỉ. Hoặc một chữ ký cho một người vào vị trí này hay vị trí kia và với vị trí đó họ có thể thu mỗi năm hàng chục tỉ.

Bí thư Phạm Quang Nghị nói những người có quyền cho dù không đòi hỏi gì nhưng cứ bị hối lộ. 500.000 đô la không hạ gục được sự liêm khiết của người lãnh đạo đó thì 1.000.000 đô la. Nếu 1.000.000 đôla không đủ mạnh để hạ gục thì nhiều đô la hơn nữa... Bức thành trì liêm khiết của con người cũng có lúc bền vững hơn dãy Trường Sơn nhưng nhiều khi chỉ yếu như tờ giấy bị thấm nước.

Hơn nữa, người nhận hối lộ luôn luôn tin tưởng rằng có phải một mình mình nhận hối lộ đâu, quanh mình nhiều người lắm. Bằng chứng là mình cũng hối lộ để có được vị trí hiện thời của mình cơ mà.

Những nguồn lợi khổng lồ từ vị trí quyền lực làm cho biết bao người mơ ước quyền lực. Và thế là cuộc chạy đua bằng tiền để chiếm lấy quyền lực là những cuộc chạy đua không khoan nhượng, không lương tâm và chẳng vì nhân dân hay đất nước gì cả.

Cách đây khoảng 10 năm, trong một lần làm việc với huyện Mai Châu, Hoà Bình, tôi thấy số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai làm thất thoát của Nhà nước bằng tổng thu nhập của huyện Mai Châu trong 80 năm. Nghĩa là tất cả Huyện uỷ, UBND và nhân dân các ngành nghề của huyện Mai Châu làm gần một thế kỷ mới bằng số tiền "lấy cắp" hợp pháp của ông Mười Hai. Mà số tiền ấy so với một người có quyền có chức nào đấy thời nay nhận hối lộ hay tham nhũng như báo chí đã phanh phui thì chỉ bằng muối bỏ bể.

Câu chuyện về một đồng chí lãnh đạo đem nộp tổ chức tiền cấp dưới và những người nhờ vả mừng tuổi trong một cái tết đơn sơ đã là 4 tỷ thì hỏi tiền lại quả hay tiền chạy chức chạy quyền sẽ là bao nhiêu ? Hỏi thì hỏi vậy thôi chứ biết làm thế nào. Mà có biết làm thế nào thì ai làm? 

 








HÀ NỘI TÍNH KIỂM SÓAT GIÁ THỊ TRƯỜNG
CÙNG LÚC ĐÀN ÁP CHÍNH TRỊ

James Hookway (WSJ), nvtncs lược dịch


HÀ NỘI -- Đi ngược hẳng lại khuynh hướng mở cửa (thị trường và xã hội) Việt Nam đang xét lại việc kiểm soát giá thị trường của một loạt sản phẩm đồng thời tiếp tục đàn áp một số hoạt động cá nhân và chính trị.

Các doanh nghiệp nước ngoài lo lắng về sự đe dọa của kiểm soát giá cả, một điều mà nhiều nhà phân tích coi như một chuẩn hiệu của chủ nghĩa Marx trong quá khứ của Việt Nam. Việc này xẩy ra vào tháng trước, sau khi chính quyền cấm người dân truy cập vào các trang mạng như Facebook và Twitter, sau trường hợp bắt giữ (rồi thả) một số blogger chỉ trích chính phủ. Tháng mười vừa rồi, chín người bị trừng phạt nặng nề vì kêu gọi những cuộc biểu tình dân chủ.

Carlyle Thayer, một quan sát viên tình hình Việt Nam kỳ cựu và giáo sư tại Học viện Quốc phòng Úc ở Canberra, nói rằng phe bảo thủ trong Bộ Chính trị đang giữ chặt quyền lực, kiểm soát gắt gao tình hình tại Việt Nam, khi nền kinh tế của Việt Nam đang cơn khung hoảng, đặc biệt là lạm phát và hậu quả của sự giảm giá tiền tệ, càng ngày càng gia tăng. Ông Thayer nghĩ sẽ còn nhiều sự đàn áp và bắt giữ từ giờ đến lúc Đại hội Đảng, năm 2011, một sự kiện chính trị lớn nhằm mục đích để vạch rõ các định hướng chính trị và kinh tế của Việt Nam trong năm năm tới.

Kết quả, đàn áp chính trị đe dọa giảm bớt số đầu tư và sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Trong nhiều năm qua, các nhà tài trợ và giới đầu tư nước ngoài hy vọng sự tăng trưởng nhanh chóng sẽ đưa đến nhiều tranh luận chính trị và nền kinh tế ở đây tự do hơn sẽ xác định vị trí đất một nước có một nền kinh tế mới, năng động nhất châu Á và một móc nối quan trọng trong chuỗi cung cấp (hàng hoá) toàn cầu.

Đó là những gì đã xảy ra ở một số nước phát triển nhanh chóng khác trong khu vực. Trong hai mươi năm 1980 và 1990, các nền kinh tế lớn mạnh lên của Hàn Quốc và Đài Loan đã giúp phong trào dân chủ thắng những chế độ dựa vào quân đội.

Nhưng ở Việt Nam, tập đoàn lãnh đạo chọn đường lối mở rộng nhanh chóng một nền kinh tế trị giá $100 tỷ của đất nước nhưng lại không gây cơ hội để người dân đòi hỏi có nhiều tự do hơn.

Theo các tài liệu The Wall Street Journal đã tham khảo, và được chính phủ Việt Nam xác nhận, hiện giờ, đơn vị kiểm soát giá cả của Bộ Tài chính soạn thảo các đề nghị, nếu được chính phủ thực hiện, sẽ buộc tư nhân và các công ty ngoại quốc phải báo cáo cơ cấu giá cả.

Trong một số trường hợp, các quy tắc được đề xuất sẽ cho phép chính phủ định giá cả trên một loạt hàng hoá do hãng tư sản xuất hoặc nhập khẩu, gồm sản phẩm xăng dầu, phân bón và sữa để giúp chặn lạm phát trong khi Việt Nam vẫn tiếp tục bơm tiền vào một nền kinh tế thiếu kiên định. Thông thường, chính phủ chỉ áp dụng hình thức này, biện pháp mạnh này với các doanh nghiệp nhà nước, nhưng người ta chưa biết rõ Việt Nam sẽ ghi các quy tắc này vào pháp luật hay không.

Myron Brilliant, phó chủ tịch thứ nhất phụ trách quốc tế vụ tại Phòng Thương mại Hoa Kỳ ở Washington, đã viết cho quan chức Việt Nam, trong một bức thư ngày 15 tháng 12, The Wall Street Journal được biết, nói rằng kế hoạch của nhà nước Việt Nam sẽ “là một sự trở ngại cho việc đầu tư trực tiếp mới ở Việt Nam.”

Công dân Việt Nam, trong khi đó, đã phải mất một số quyền tự do chính trị và xã hội họ được hưởng trước kia, trong khi các nhà lãnh đạo cộng sản gặp khó khăn với một số vấn nạn như giảm giá tiền tệ và sự lạm phát ngày càng trầm trọng.

Các nhà ngoại giao lên tiếng với lãnh đạo Việt Nam sự quan tâm của họ về việc nhà nước ngăn cản truy cập mạng (internet). “Đây không phải là chuyện thanh thiếu niên tán gẫu trực tuyến,” Đại sứ Hoa Kỳ Michael Michalak đã nói với một hội nghị các nhà tài trợ ngày 3 tháng 12. “Mà là vấn đề quyền của người dân được giao tiếp với nhau và làm kinh doanh.”

Đại sứ Thụy Điển Rolf Bergman, thay mặt cho Liên minh châu Âu tại hội nghị đó, kêu gọi Việt Nam “xoá bỏ tất cả các hạn chế trên mạng (Internet).”

Quan chức chính phủ Việt Nam cũng chưa đáp ứng sự yêu cầu cho ý kiến, ngoại trừ việc xác nhận sự hiện hữu của dự thảo kế hoạch kiểm soát giá cả.

Trước đây, các nền kinh tế mới phát triển đã đảo ngược đường lối trong những thời gian khủng hoảng. Những nước láng giềng như Mã Lai và Thái Lan đã sử dụng sự kiểm soát vốn để ổn định tiền tệ, trong khi quyết định pháp lý bất ngờ là một mối rủi ro thường xuyên của việc kinh doanh tại các nước như Nam Dương và Phi Luật Tân.

Việt Nam, với dân số 86 triệu người, được nhiều nhà kinh tế coi là một đặt cược ít rủi ro chính trị. Các nhà phân tích coi tình hình mở mang kinh tế Việt Nam như một “Trung Quốc mới”, và những công ty lớn quốc tế từ Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc, như Ford Motor Co, Microsoft và Intel Corp, đã lập cơ xưởng hoạt động ở đó. Hiện giờ, hồ sơ nhân quyền ở Việt Nam trở nên trầm trọng hơn, khiến một số đối tác thương mại quan trọng, không còn miễn cưỡng, lên án nhà nước Việt Nam, một phần vì họ lo lắng rằng chỉ trích của quốc tế tăng có thể làm cho việc mở rộng quan hệ thương mại ở đây khó khăn hơn.

Nhiều nhà kinh tế và các nhà phân tích nói rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam hoang mang khi thấy nền kinh tế nhanh chóng lảo đảo từ tăng vọt đến phá sản và ngược lại, và đang dùng các biện pháp chính trị và kinh tế quyết liệt để khôi phục lại sự kiểm soát của họ trên cả nước. Một nhà phân tích có cơ sở lâu dài ở Việt Nam nhận xét rằng những thăng trầm gần đây của nền kinh tế, làm “chấn động sự tự tin của nhà cầm quyền trong ý niệm rằng cải cách kinh tế và mở cửa tự nhiên phải là điều tốt.”

Sự tương phản với khuynh hướng kinh tế trước kia, một khuynh hướng đã giúp xác định thuật ngữ “thị trường đi tiên phong” trong giới đầu tư, nổi bật rõ ràng. Trong những năm dẫn đến việc Việt Nam nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007, Bộ Chính trị đã cố gắng đưa bộ mặt tốt nhất của nhà nước Việt Nam ra với thế giới bằng cách bổ nhiệm một nhà cải cách kinh tế, Nguyễn Tấn Dũng, làm Thủ tướng. Họ khuyến khích giới truyền thông địa phương vạch trần những sự tham nhũng và gian lận, trong khi những người bất đồng chính kiến được cho phép hoạt động hạn chế để chỉ trích hệ thống chính trị độc đảng của Việt Nam. Các giáo phái được phép tu tập theo tôn giáo của họ một cách tự do hơn.

Cùng lúc, nền kinh tế nhanh chóng mở rộng, với các công ty quốc tế lũ lượt kéo để đến tận dụng lợi thế giá thấp của lao động và đất đai ở Việt Nam. Phần lớn những tiến triển về kinh tế vẫn còn nguyên vẹn. Ngân hàng Thế giới dự kiến nền kinh tế của Việt Nam sẽ tăng 5,5% trong năm 2009. Đó là một thành quả tốt hơn nhiều nước láng giềng. Các nhà kinh tế như Ayumi Konishi, Giám đốc tại Việt Nam của Ngân hàng Phát triển châu Á, nói rằng triển vọng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tốt đẹp.

Tuy nhiên, Ngân hàng Thế giới dự báo tăng trưởng của Việt Nam kém hơn 8+% như đã trông mong. Sự gia tăng thâm hụt thương mại và ngân sách đã buộc chính phủ phải phá giá tiền tệ Việt Nam ba lần kể từ tháng sáu năm 2008, gần đây nhất, trong tháng mười một, đồng bạc Việt Nam giảm giá thêm 5%. Điều đó gây lo ngại lạm phát tăng cao, khiến nhiều người Việt Nam tranh giành lưu trữ tài sản của họ bằng vàng hoặc đô la.
 
Giáo sư Thayer, của Học viện Quốc phòng Australia, và các nhà phân tích khác lưu ý rằng các nhà lãnh đạo như Tô Huy Rứa, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, và Tổng Cục trưởng Tổng Cục 2 Nguyễn Chí Vịnh, đã trở nên ngày càng có uy thế khi kinh tế của Việt Nam đã bắt đầu có vấn đề từ năm ngoái, trong khi ảnh hưởng của thủ tướng Dũng, người theo khuynh hướng cải cách, đang phai mờ. Người ta nghĩ rằng ông Rứa không tin tưởng ở thị trường tự do tư bản và có ý chống lại sự chuyển đổi của đất nước hướng tới một nền kinh tế cởi mở hơn. Nhiều cố gắng để gặp ông Rứa đã không có kết quả.

Đồng thời, các nhà phân tích nói chính các nhà hoạch định chính sách kinh tế cũng có một thái độ rất bảo thủ, và nhận xét Việt Nam đã ngừng cải cách kinh tế trước đó, đáng chú ý là trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1990. Các giới quen thuộc với vấn đề kiểm soát giá cả, nói rằng một số cơ quan ngoại giao, trong đó có Mỹ, đã lên tiếng về vấn đề kiểm soát giá với Việt Nam. Quan chức sứ quán Mỹ tại Hà Nội chưa lập tức đáp ứng sự yêu cầu bình luận.

Giới thiệt thòi nhiều nhất trong sự thụt lùi trở lại quá khứ, là những người bất đồng chính kiến, các nhà báo và bloggers. Một số bloggers và một số người hoạt động dân chủ bị giam giữ vì những bài họ viết chỉ trích việc nhà nước khuyến khích các công ty Trung Quốc khai thác mỏ quặng nhôm của Việt Nam ở trung nguyên. Kế hoạch khai thác mỏ đã trở thành một cột thu lôi cho các nhóm bất đồng chính kiến ở Việt Nam, trong đó có tướng Võ Nguyên Giáp, người đã lãnh đạo quân đội Việt chống quân đội Pháp và Mỹ trong những năm 1950, năm 60 và 70.

Một số người bị bắt đã được phóng thích sau khi hứa không nêu lên các vấn đề chính trị nữa, nhưng luật sư Lê Công Định đã bị bắt vào tháng Sáu vì việc bào chữa cho các người hoạt động chống chính phủ.

Sáu người đã bị kết án vào ngày 9 Tháng Mười, bị cáo buộc “tuyên truyền chống lại nhà nước,” vì đòi hỏi bầu cử đa đảng bằng những động thái công khai, như treo biểu ngữ (băng rôn) trên cầu, và qua mạng intenet. Một trong sáu người bị kết án là Nguyễn Xuân Nghĩa, một người viết tiểu thuyết nổi tiếng, .

Vào ngày 7 tháng 10, ba người khác bị tống giam cũng vì những “tội” kể trên, một hành động của nhà nước Việt Nam mà sứ quán Mỹ, trong một tuyên bố, nói rằng rất đáng “lo ngại.” 



NGỮNG NGÀY CUỐI NĂM

Trần Khải



Như thế là sắp qua một năm của quá nhiều sóng gió, nhiều mệt mỏi, và của quá nhiều bước lùi dân chủ. Năm 2009 sắp qua, và năm 2010 sẽ tới trong vài ngày tới.  Đất nước rồi sẽ ra sao nếu không thể chuyển biến tốt hơn?

Nổi bật về phương diện tôn giáo trong năm 2009 là hiện tượng công an hỗ trợ du côn trấn áp, xua đuổi 400 tăng ni sinh Làng Mai, phảỉ bỏ chạy khỏi Tu Viện Bát Nhã, để về Chùa Phước Huệ tạm lánh, nhưng lệnh ra hạn chót là ngày 31-12-2009 nhóm gần 200 tăng ni sinh Làng Mai tạm trú nơi đây phaỉ ra đi tiếp. Nhưng đi đâu thì chưa ai biết. Không lẽ về lại đời thường ở điạ phương?

Một kỷ lục mới là thành quả của Tin Lành nhiều hệ pháí, khi tổ chức chung một buổi Thánh Lễ ngoài trời trứơc Giáng Sinh ở một sân bóng đá thuôc quận Gò Vấp, Saà Gòn, với 40,000 người tham dự, và trong đó tới 8,000 người bước lên tuyên xưng Đức Tin để làm nghi thức tân tòng. Buổi lễ trực tuyến qua nhiều mạng Internet toàn cầu, với tại sân bóng có tới 28 máy chủ để truyền đạt thông tin.

Một tuần sau, một buổi lễ tương tự cho Tin Lành thực hiện ở sân Mỹ Đỉnh, Hà Nội, với 12,000 tín hữu. Nhuũng con số tham dự thánh lễ ngoaì trời của tín đồ Tin Lành Sài Gòn và Hà Nội đều là kỷ lục.

Cần ghi nhận, chính phủ CSVN rất do dự khi cấp giấy phép  cho Tin Lành tụ họp ngoaì trời: tại Sài Gòn, nhiều mục sư phải cắm lều ở ngoaà Tòa Đô Chính 3 ngày mới đươc giấy, vừa 48 giờø đồng hồ trước khi làm lễ. Tại Hà Nôäi, tín đồ quỳ ngoaì hè phố, trước sân Mỹ Đình nhiều đêm để cầu nguyện xin giấy phép.

Trường hợp Công Giáo, như thế là bắt đầu Năm Thánh 2010, sau Lễ Khai Mạc Năm Thánh tại Hà Nội, là hy vọng về cải thiện bang giao giữa VN và Vatican. Nhưng Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết rời Vatican về Hà Nội, vẫn không có tin gì khích lệ về bang giao, trong khi các tranh chấp về đất vẫn còn nguyên trạng. Chỉ trừ trường hợp Thánh Địa La Vang, nơi được tin là đã có giấy phép đầu tư 25 triệu đô xây thành nơi  tiếp đón khách hàng hương tầm cỡ quốc tế.

Một tin ngay trong tuần lễ cuối của năm 2009: cựu trung tá Trần Anh Kim bị kêu án 5 năm rưỡõi tù giam, cộng 3 năm quản chế về hoạt động “âm mưu lật đổ chính phủ.” Ông Trần Anh Kim vừa hoạt động trong Đảng Dân Chủ, vừa trong Khối 8406. Và bản án này là quá nặng và phi lý. Quá nặng vì hoạt  động của ông Trần Anh Kim không có gì nguy hiểm đôi với an nguy của chế độ. Phi lý, vì đó chỉ là các hoạt động ôn hòa để đòi hỏi dân chủ, nhân quyền.

Năm 2009 cũng là năm vui như hội, với các màn giễu trên sân khấu quốc tế của  Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết, và được  các băng hình video phóng lên mạng YouTube.com. Trong đó, ông Triết tuyên bố rằng Cuba và VN là 2 nước anh em canh giữ hòa bình thế giới, rằng khi Cuba ngủ thì  VN gác, khi VN nghỉ thì Cuba canh giữ.

Hay là khi ông Triết nói về lý do tham nhũng chỉ vì thấy quỹ dư thì “mượn tí, mượn rồi không thấy ai đòi, nên mới mượn thêm...”

Hay là khi ông Triết làm “phân hóa nội bộ chính phủ Obama.”

Tệ hại cũng hiển lộ là khi tin tặc (không rõ, nhưng ai cũng  nghi ngờ và đoán là phải có nguồn từ Hà Nội) đánh phá các mạng Talawas.org và http://bauxitevn. info -- hai mạng được giới trí thức trong nước ưa chuộng và quan sát. Tin tặc là ai? Có phải là “kẻ lạ” hay “kẻ quen”? Ai muốn bịt miệng trí thức VN? Và khi đánh phá như thế, thì  độc giả vào đọc bauxitevn.info lại tăng vọt, theo ghi nhận của nhà báo Bùi Tín.

Một chuyện bất ngờ mới  đọc thấy hôm Thứ Hai 28-12-2009. Đó là một cuốn Danh Nhântừ Điển in ở VN lại ghi rằng chính ông Hồ Chí Minh đã bán cụ Phạn Bội Châu cho thực dân Pháp.

Bản tin nhan đề: “Thành ngữ - Điển tích - Danh nhân Tư` điển (Nxb Văn Học): Lý Thụy đã bán Phan Bội Châu cho thực dân Pháp?” đăng ở mạng X-Cafevn (http://www.x- cafevn.org/ node/2524) hôm 29-12-2009, viết:

“Chúng tôi vừa nhận được vài thông tin của một bạn đọc giấu tên, liên quan đến cuốn Thành ngữ - Điển tích - Danh nhân Tư` điển của tác giả Trịnh Vân Thanh (Trịnh Chuyết). Sách được Nhà Xuất bản Văn học xuất bản năm 2008. Các bạn có thể xem chi tiết giới thiệu về cuốn sách ở trang Sachhay.com.

Vị độc giả đã chỉ ra rằng ở trang 742, trong mục nói về Phan Bội Châu, các nhà soạn sách đã viết việc Phan Bội Châu bị bắt như sau:

Năm 1925, nghe theo lời của Lý Thụy và Lâm Đức Thụ, Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức "Toàn thế giới bị áp bức nhược tiểu dân tộc", nhưng sau đó Lý Thuỵ và các đồng chí lập mưu bắt Phan Bội Châu nộp cho thực dân Pháp để:

1 - Tổ chức lấy được một số tiền thưởng (vào khoảng 15 vạn bạc) hầu có đủ phương tiện hoạt động.

2 - Gây một ảnh hưởng sâu rộng trong việc tuyên truyền tinh thần ái quốc trong quốc dân.
Như chúng ta đã biết Hồ Chí Minh trong giai đoạn ấy có bí danh là Lý Thụy. Và như thế, căn cứ vào cuốn tự điển này, chính Hồ Chí Minh đã bán Phan Bội Châu cho thực dân Pháp với những lý do đã nêu trên. Đến nay, vẫn có nhiều tranh cãi trong giới quan tâm về sử Việt về tính xác thực chung quanh sự kiện này...”

Độc giả quan tâm có thể vào xem các bức ảnh chụp trên mạng vừa nói để tham khảo.

Xin đưa tiễn năm 2009 với tất cả những ngậm ngùi, thương tiếc cho những điều tốt đẹp bị vùi dập. Và nơi đây xin chuẩn bị đón năm mới 2010 với nhiều hy vọng, rằng cái thiện tất sẽ thắng cái ác, như lời nhà giáo Phạm Toàn nói trên đài Pháp Quốc RFI hôm Thứ Hai.

Thời gian -- ngày và tháng và năm -- rồi sẽ qua đi. Nhưng tấm lòng chắc chắn rồi sẽ ở lại với lịch sử.

TRẦN KHẢI











HẠN CHÓT 31/12:
TĂNG NHÂN BÁT NHÃ PHẢI GIẢI TÁN

Tăng thân Bát Nhã rời chùa Phước Huệ trước thời hạn 31/12
RFA 29.12.2009
http://www.rfa. org/vietnamese/ in_depth/ all-prajna- monks-left- PhuocHue- pagoda-ahead- of-time-TTruc- 12292009151333. html




Tính đến hết ngày 29/12, hầu hết tăng sinh Bát Nhã, đang nương náu tại chùa Phước Huệ, đã lần lượt rời chùa trước thời hạn mà họ phải ra đi. Bị trục xuất khỏi tu viện Bát Nhã, các tăng thân phải vào tá túc ở Chủa Phước Huệ, nay lại phải giải tán theo lệnh của chính quyền.

Thời hạn chót

Theo văn bản mà viện chủ chùa Phứơc Huệ, thượng tọa  Thích Thái Thuận, đã ký dưới áp lực của chính quyền cùng những ngừơi tự xưng là Phật tử tại Bảo Lộc, thì hạn chót cho các tăng sinh Bát Nhã phải ra khỏi chùa Phứơc Huệ là ngày 31 tháng 12 này.

Tối  thứ Ba ngày  29, một tăng sinh Bát Nhã, sư chú Pháp Cầu, cho biết để tránh mọi phiền phức cho thượng tọa Thích Thái Thuận mà họ tôn kính gọi bằng ôn, đã che chở tăng thân từ tháng Chín đến giờ, mọi ngừơi đã lần lượt kẻ trứơc người sau từ giã chùa Phước Huệ: “Theo thời hạn 31 là phải rời chùa Phứơc Huệ, nhưng mà hôm nay là 29 thì hầu hết các thầy các sư cô tu theo pháp môn Làng Mai đã rời đi hết.”

Thầy Pháp Cầu kể là  công an phường có nhắc nhở chùa Phứơc Huệ về việc thực hiện cam kết để cho các tăng thân ra khỏi chùa:  “Thì họ qua hỏi thăm và nhắc nhở để coi mình đi như thế nào. Họ chỉ quan sát chứ không có làm gì hơn.” 

Với câu hỏi tăng thân đi khỏi chùa trong tinh thần như thế nào, có dự tính gì cho tương lai, sư chú Pháp Cầu bày tỏ nỗi buồn của tăng chúng:

“Tăng thân cũng tổ chức để mọi ngừơi làm sao có thể về lại địa phương của mình từ từ, đi bằng những phương tiện công cộng. Có ngừơi thì phải về nhà, có ngừơi đang cố gắng tìm một cái chùa quen biết nào đó,  xin tạm ở một thời gian, cũng không rõ là như thế nào nhưng trứơc mắt là như vậy.

Với cố gắng nổ lực của bản thân mà thực sự mọi ngừơi trong lòng cũng cảm thấy một nỗi niềm, chưa biết dùng từ gì hơn là  cái gì đó rất là  bất lực. Vì  đã được tu học và chung sống trong một cộng đồng hài hoà trong một thời gian tuy không dài lắm nhưng đã tạo nên phẩm chất tu học và tình huynh đệ, cảm thấy đó là con đường đẹp mà ngày hôm nay thì không tiếp tục được lý tưởng đó. Trong lòng có những cái rất buồn.”

Đi về đâu?

Vào lúc khuya ngày 29/12, viện chủ chùa Phứơc Huệ là Thượng tọa Thích Thái Thuận cũng xác nhận với  đài Á Châu Tự Do là không còn một tăng thân  Bát Nhã nào trong chùa nữa:

“Chiều tối hôm nay là  họ đã đi hết rồi, giờ này là không còn ai nữa. Tôi không biết các em đi  đến đâu. Tôi cũng có hỏi nhưng mà các em nói rằng “ôn cứ yên tâm, chúng con sẽ có cách để sắp xếp”.

Chính quyền địa phương áp lực các tăng sinh Bát Nhã phải rời khỏi Chùa Phước Huệ. Thượng tọa Thái Thuận nói tiếp theo chỗ ông hiểu thì trong các tăng thân rời chùa có ngừơi về nhà, có ngừơi đi về những nơi có đoàn thể tăng thân  như chùa Từ Hiếu hoặc một vài nơi ở Sài Gòn.

Không dấu được nỗi xúc động trứơc sự ra đi của các  tu sĩ trẻ mà ông đã cho nương náu trong chùa một thời gian, vị viện chủ chùa Phứơc Huệ trình bày tiếp:

“Tất nhiên mình cũng có những cái lo lắng cho họ. Thật sự ra tiền bạc thì chẳng có gì cả , chỉ như là cái tình cho họ mua kẹo ăn mà thôi. Họ đi  thì mình cũng thương vì không biết  những nơi  đến có được cái chiều hướng tu tập như sự mong ứơc của các em.

Chính vì vậy cho nên chúng tôi cũng đang lo họ đi như thế nào và cái hạnh nguyện của họ có những kết quả khi họ về nhà không.  Tôi cũng biết có những ngừơi mà khi họ về nhà để làm giấy tờ ví dụ như làm giấy tờ này kia thì mặc dù là địa phương cũng có làm nhưng mà họ lại chưa?

Hoặc tôi  cũng có biết là có một số vị có về để làm hộ chiếu hầu được đến một nơi nào... qua bên kia... có cái nơi mà để cho họ tu tập đó. Có một số thì được nhưng mà có một số thì  cũng chưa được.”

Khi được hỏi tới là điều ông vừa trình bày phải chăng liên quan đến việc các tăng thân Làng Mai ở Paris đang vận động tổng thống cũng như chính phủ Pháp chấp thuận cho các tu sĩ trẻ của Bát Nhã được qua tạm cư tại  Pháp một thời gain, Thượng tọa Thích Thái Thuận trả lời:

“Họ cũng mong muốn như vậy, nhưng mà tôi được nghe là khi về  địa phương  cũng có những ngừơi đã đi làm giấy tờ nhưng cũng chưa xin được.”

Tưởng cần nhắc hôm thứ Hai ngày 18, các tăng thân của Trung Tâm Làng Mai ở Paris đã cùng đại diện tăng thân Bát Nhã ở Việt Nam  tới điện Elysee, trình thỉnh nguyện thư lên Tổng thống Nicolas Sarkozy, yêu cầu cho các tăng sinh Bát Nhã đang gặp nạn được qua tạm cư tại Pháp hầu có thể tiếp tục con đừơng tu học.

Từ Paris, sư cô Elizabeth Giác Nghiêm, cho biết nếu  được cấp visa tạm trú, các tăng sinh Bát Nhã sẽ qua nương náu tại Trung Tâm Làng Mai ở Paris trong một thời gian và chính phủ sở tại không phải lo lắng cưu mang họ về mặt đời sống.

Vẫn lời sư cô Elizabeth Giác Nghiêm, dù gặp khó khăn bên Việt Nam nhưng các tu sinh Bát Nhã không có ý muốn xin tị nạn tại Pháp, họ sẽ trở về nếu được chính phủ Việt Nam cho họ được cùng nhau tu học tại quê nhà.











TẤN CÔNG THÁNH THẤT CAO ĐÀI

Thánh Thất Cao Đài tại Định Quán bị tấn công
Thanh Quang, phóng viên RFA 2009-12-29


Đài Á Châu Tự Do chúng tôi vừa được tin Thánh Thất Định Quán tại Đồng Nai của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bị xã hội đen, công an, bộ đội và một số viên chức chính quyền tấn công liên tục trong mấy ngày nay.
 
Cuộc họp giữa Chính quyền, Hội Đồng Chưởng Quản và Thánh Thất Ðịnh Quán hôm 19-11-2008.

Thanh Quang liên lạc với một chức sắc Đạo Cao Đài Chơn Truyền, ông Trần Ngọc Thuận, Chánh Trị Sự Gia Canh thuộc Thánh Thất Định Quán, để tìm hiểu tình hình này.

Hội Đồng Chưởng Quản?

Ông Trần Ngọc Thuận:  Thánh Thất Định Quán của chúng tôi là đa số toàn đạo từ truớc tới nay diễn đạo thuần tuý, bây giờ coi như là phe bên Hội Đồng Chưởng Quản đương thời bây giờ đến phá cơ ngơi của chúng tôi nhiều lần, đại khái ngày 22 tháng 10 âm lịch năm rồi đó, 19 tháng 11 năm 2008 đó, thì chúng tôi đã trình bày dứt khoát, nói dứt khoát là không có hợp tác với Hội Đồng Chưởng Quản.

Thanh Quang:  Thưa, trước khi ông trình bày tiếp thì xin ông nói rõ tại sao lại không hợp tác với Hội Đồng Chưởng Quản?

Ông Trần Ngọc Thuận:   Không hợp tác với Hội Đồng Chưởng Quản là tại vì hiện nay Hội Đồng Chưởng Quản làm không đúng với lại Chơn Pháp của Đại Đạo thành thử ra họ sửa đổi tùm lum, mà Thánh Thất Định Quán chúng tôi có từ năm 1969 cho tới năm nay thì ở đây hồi trước là Văn Phòng Châu Đạo Tộc Đạo của Đồng Nai, thành thử ra họ sửa với lại những người lãnh đạo của Hội Đồng Chưởng Quản thường là không có đạo đức mấy, thành ra chúng tôi không chấp nhận.

Không hợp tác với Hội Đồng Chưởng Quản là tại vì hiện nay Hội Đồng Chưởng Quản làm không đúng với lại Chơn Pháp của Đại Đạo.

Có ba mặt chính quyền từ cấp tỉnh trở xuống đều chứng kiến thì họ không có làm việc được. Từ bấy lâu nay chúng tôi cứ bị hăm he hoài. Đại khái là hôm 11 tháng 11 vừa rồi Hội Đồng Chưởng Quản cho người vô kiếm chuyện gây sự đánh ông Hồng Thủ Đức. Rồi tới  ngày 12 là nó viện cớ lễ tiểu tường của vị cựu chánh trị sự ở Định Quán thì bắt đầu gây sự đánh người nữa.

Liên tục bị tấn công

Thanh Quang:  Thưa, ông nói trường hợp này là diễn ra vào Thứ Bảy và Chủ Nhật?

Ông Trần Ngọc Thuận:  Thứ Bảy và Chủ Nhựt vừa rồi nè! Dạ, đó thành thử ra họ đánh người nhưng mà chúng tôi hoàn toàn là những người tu hành thuần tuý, mình có đạo đức. Nếu mà bây giờ lột khăn đóng áo dài mà đối phó với họ thì mình còn gì ra nét đạo, cho nên chúng tôi phải nhịn.

Trong khi nhịn đó thì anh em chúng tôi phải đổi cái giá rất đắt là tất cả đều bị đánh bị thoi hết. Trong lúc mà bức xúc quá, cùng cực quá, chúng tôi lại cầu cứu với chính quyền, thì trực tiếp chúng tôi đã tới chính quyền huyện Định Quán và chính quyền thị trấn thì người ta nói rằng Thánh Thất Định Quán của các anh từ trước tới nay tranh giành quyền lực.

Nói như vậy thì chúng tôi rất thấy là nhục nhã. Chúng tôi có tranh giành gì đâu, (chúng tôi) không chấp nhận làm theo Hội Đồng Chưởng Quản và hợp tác với Hội Đồng Chưởng Quản mà thôi, mà bây giờ họ dùng bạo lực, họ tới họ làm như vậy thì bước cuối cùng, phút cuối cùng mà bí quá thì chúng tôi phải nhờ tới công lý của nhà nước hiện hành. Nhưng mà chúng tôi kêu rát cổ, có cả công an huyện, trung tá công an huyện và thiếu tá công an huyện, tôi năn nỉ họ, tôi van xin họ.

Họ đánh người nhưng mà chúng tôi hoàn toàn là những người tu hành thuần tuý, mình có đạo đức, cho nên chúng tôi phải nhịn.

Chính tôi nè, là các anh can giùm việc này. Việc gì nội bộ còn có cách giải quyết ôn hoà chớ không phải là thượng tay thượng chân như thế này thì nó không có ra vẻ đạo dức, mà hơn nữa Thánh Thất Định Quán người ta nhìn vào người ta nói Thánh Thất Định Quán lúc nào cũng cãi lộn, gây lộn.

Đó, mấy bữa rày xôn xao, tôi cảm thấy nhục nhã vô cùng, thì chính quyền cũng làm ngơ. Cái này rõ ràng là chính quyền coi như là để cho họ tự động hành hung như thế. Bí quá thì chúng tôi mới nói rằng bây giờ để cho yên cái việc này thì tôi giao cái thành thất này cho chính quyền, chính quyền nói không tiếp nhận và chính quyền trả lời rằng giờ giao cho Hội Đồng Chưởng Quản.

Chúng tôi không hợp tác với Hội Đồng Chưởng Quản làm sao giao? Chúng tôi giao cho chính quyền rồi chính quyền giải quyết vấn đề đánh người như thế này, cái đạo đức của Hội Đồng Chưởng Quản như thế cho ra lẽ đi rồi tính sao tính, nhưng mà chính quyền cũng không nhận mà cứ để diễn biến vậy mãi cho tới cuối cùng thì bà con đồng đạo kẻ khóc người la, thì tập trung ra ngoài Thánh Thất để coi họ làm, chớ giờ chúng tôi biết nói sao bây giờ!

Thanh Quang: Ngay bây giờ thì tình hình ra sao, thưa ông?

Ông Trần Ngọc Thuận:  Ngay bây giờ được sự bảo hộ của nhà nước thì bên phe Hội Đồng Chưởng Quản chiếm lấy Thánh Thất hiện tại cho nên anh em chúng tôi bây giờ đang ở nhà.

Thanh Quang:  Thánh Thất Định Quán như vậy là có bị đập phá hư hại như thế nào không?

Ông Trần Ngọc Thuận:  Thánh Thất trên Chánh Điện, Điện Thờ thì không có đập phá, nhưng mà ở dưới hậu điện cố tình xô xát thành thử ra rồi đập ngay cả bàn Thánh Tổ, Hiền Tổ và đập cửa của Chánh Trị Sự quyền cai quản Phòng Phước Đức, đập cửa rồi khiêng ổng lôi ra, ôm đồ dụt ra, tự động họ làm. Cuối cùng bức xúc qua, để cho nó im thì chúng tôi đành phải để cho họ tự tung tự tác chớ giờ làm sao bây giờ?

Kế hoạch ứng phó

Thanh Quang:  Như vậy thì hiện các tín đồ Cao Đài ở Thánh Thất Định Quán cũng như những tín đồ chơn truyền ở các nơi khác có kế hoạch ứng phó ra sao trong thời gian có thể khó khăn săp tới hay không?

Chính quyền địa phương dường như bất lực, chúng tôi phải nhờ tới chính quyền của cấp cao hơn. Đó là bổn phận chúng tôi làm sắp tới.

Ông Trần Ngọc Thuận:  Chương trình sắp tới thì bây giờ chúng tôi đã kêu réo chính quyền địa phương dường như bất lực rồi thì chúng tôi phải nhờ tới chính quyền của cấp cao hơn, thì đó là bổn phận chúng tôi làm sắp tới, nhưng mà cái công lý như thế này, hiện tại trước mắt như thế này thì cũng chưa biết ra làm sao nữa.

Thanh Quang:  Như ông vừa giải thích thì chi phái Hội Đồng Chưởng Quản muốn chiếm cơ ngơi của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ?

Ông Trần Ngọc Thuận: Lý do chính là bây giờ họ muốn chiếm Thánh Thất Định Quán cũng như là họ đang chiếm Toà Thánh Tây Ninh mà từ bấy lâu nay trên báo đài các anh đều biết đó, thì Thánh Thất Định Quán bây giờ họ quyết san bằng cho bằng được, họ quyết chiếm cho bằng được Thánh Thất Định Quán cho nên bất cứ một thủ đoạn nào họ cũng có thể làm được hết .

Thanh Quang:  Thưa, nhân đây ông có muốn lên tiếng gì thêm nữa với công luận trong và ngoài nước?

Ông Trần Ngọc Thuận:   Bây giờ chúng tôi là dạng thấp cổ bé miệng, chúng tôi giống như con côi lạc mẹ vậy, yêu cầu tất cả đồng đạo khắp nơi ủng hộ tinh thần chúng tôi và giúp đỡ chúng tôi để mà giữ gìn chơn truyền cũng như vật chất.

Thanh Quang:  Cảm ơn ông Trần Ngọc Thuận, Chánh Trị Sự Gia Canh thuộc Thánh Thất Định Quán. 
 





ĐẦU TƯ NƯỚC NGÒAI VÀO VN GIẢM MẠNH

Đầu tư nước ngoài vào VN giảm mạnh
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/business/2009/12/091228_vietfdilow.shtml


Lượng đầu tư năm 2009 giảm mạnh do khủng hoảng kinh tế thế giới

Bộ Kế hoạch - Đầu tư cho hay lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký cả năm 2009 là 21,48 tỷ đôla, chỉ bằng 30% năm 2008.

Lượng vốn thực hiện đạt 10 tỷ đôla.

Năm 2008, tổng vốn FDI vào Việt Nam là 64,011 tỷ đôla.

Tuy nhiên, tổng lượng xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài năm 2009 đạt 29,9 tỷ đôla, giảm chưa đầy 14% so với năm 2008. Cả năm, khu vực đầu tư nước ngoài xuất siêu 5,03 tỷ đôla.

Nguyên nhân chính cho việc sụt giảm được đánh giá là do khủng hoảng kinh tế thế giới.

Theo Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Đầu tư, trong năm 2009 có 839 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 16,34 tỷ đôla, bằng 24,6% năm 2008.

Số còn lại là vốn đăng ký tăng thêm, gần bằng năm ngoái.

Các lĩnh vực thu hút đầu tư lớn nhất là nhà hàng-khách sạn với 32 dự án mới, trị giá 4,9 tỷ đôla và 8 dự án tăng vốn với 3,8 tỷ đôla nữa.

Lĩnh vực đứng thứ hai là bất động sản với 7,6 tỷ đôla vốn cả mới đăng ký và vốn tăng thêm.

Mỹ nay đã vượt lên chiếm vị trí đầu bảng trong các nước đầu tư vào Việt Nam, với tổng vốn đăng ký là 9,8 tỷ đôla, tương đương 45,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam.

Các tỉnh thu hút nhiều đầu tư nước ngoài nhất là Bà Rịa-Vũng Tàu (6,73 tỷ đôla), Quảng Nam (4,1 tỷ), Bình Dương (2,5 tỷ), Đồng Nai (2,36 tỷ) và Phú Yên (1,7 tỷ đôla).

 










NĂM 2009: GẦN 28 NGHÌN TỈ ĐỒNG
THAM NHŨNG/LÃNG PHÍ

Sai phạm kinh tế 2009 gần 28 nghìn tỷ đồng
RFA-12-29-2009


Thanh tra chính phủ phát hiện gần hai mươi tám nghìn tỷ đồng sai phạm kinh tế năm 2009.
 
Đây là số liệu được công bố sáng nay tại hội nghị tổng kết ngành thanh tra năm 2009 tổ chức ở Hà Nội.

Ông Trần Văn Truyền, tổng thanh tra chính phủ, cho biết kết quả từ hai ba ngàn cho đến trên bốn chục ngàn cuộc thanh tra kinh tế xã hội toàn năm 2009 cho thấy có nhiều sai phạm.

Ông nói đoàn thanh tra chính phủ đề nghị kỷ luật hành chính đối với hơn tám trăm tập thể, trên ba ngàn cá nhân , đồng thời chuyển qua cơ quan điều tra 95 vụ sai phạm.

Vẫn theo lời ông, điều đáng chú ý là qua thanh tra về cổ phần hoá tại các bộ và tỉnh, thì nội dung sai phạm chủ yếu là những vấn đề như xác định giá trị doanh nghiệp, bán đấu giá cổ phần, quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hoá. Ông nêu rõ nhiều đơn vị không theo đúng qui định và luật lệ, gây lãng phí thất thoát tài sản nhà nước và làm thiệt hại quyền lợi người lao động .












VIỆT NAM:
KINH DOANH QUYỀN CHỨC LÃI NHẤT

http://danluan. org/node/ 3773
 

Bài viết này được đăng trên Tuần Việt Nam, nhưng sau đó đã bị gỡ xuống...

Đã nhiều năm nay, mọi người Việt Nam đều hiểu và nói với nhau rằng: không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức. Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam.
 
Không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức... Trong một cuộc họp giao ban quận huyện của Hà Nội mới đây, Bí thư Thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị đã thẳng thắn nói: "Cơ chế có những sơ hở khiến nhiều người giàu bất thường, họ có quyền lực nên người khác cứ đưa hối lộ cho dù họ không đòi". Câu nói của ông rõ ràng làm cho ai cũng hiểu được rằng có quá nhiều người giàu lên một cách vô lý. Họ giàu không bởi trí tuệ, không phải tìm ra một con đường kinh doanh xuất chúng và không phải bởi những sự lao động không mệt mỏi của họ mà bởi được hối lộ. Ai được hối lộ? Tất nhiên chỉ là những người có quyền có chức mà thôi.
 
Đã nhiều năm nay, mọi người Việt Nam đều hiểu và nói với nhau rằng: không có nghề kinh doanh nào nhanh và lãi bằng kinh doanh quyền chức. Bởi thế, mua quan bán chức đã trở thành vấn nạn đau đầu ở Việt Nam. Trong kỳ họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng một cách kiên quyết về vấn nạn này.

Ai cùng biết rằng hậu quả của việc mua quan bán chức là trực tiếp làm suy yếu hệ thống quản lý nhà nước và đẩy đất nước vào ngõ cụt, không chỉ trong việc phát triển đất nước mà trong cả nhân cách của một thể chế.

Bên cạnh đó, nạn mua quan bán chức sẽ là bức "tường lửa" nhưng không gây ra hoả hoạn để ngăn chặn những người có tài, có đức có thể giúp điều hành quản lý xã hội.

Những câu chuyện mà người dân vẫn nói với nhau trong công sở, trong quán cà phê... về sự giàu có của nhiều người có chức có quyền nghe mà kinh hãi. Đấy là chỉ nói đến những tài sản mà người xã hội nhìn thấy thôi. Những tài sản đó có thể không mang tên người có chức có quyền đó nhưng mang tên vợ hoặc chồng họ, con cái họ, cháu nội cháu ngoại họ nữa...

Nếu thực sự chống tham nhũng thì chúng ta chỉ làm điểm một số người có quyền có chức xem nguồn gốc những tài sản đó của họ từ đâu ra? Giải pháp tưởng đơn giản, nhưng chúng ta có thực sự muốn chống tham nhũng không và ai sẽ dám đi đầu trong chuyện này?

Các tổ chức chống tham nhũng của chúng ta hiện nay sẽ chống tham nhũng những ai và bằng cách nào khi những người đứng đầu tổ chức chống tham nhũng ở cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp huyện rồi đến các cơ quan... lại là những người đứng đầu thành phố ấy, tỉnh ấy, huyện ấy hay cơ quan ấy?

Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nói rằng hiện có tình trạng tham nhũng không phải do cơ quan, tổ chức phát giác mà đa phần do quần chúng...

Không phải là các cơ quan, các tổ chức... kém năng lực mà là họ không dám làm.

Bởi thế, chỉ khi những người dân là những người trong tổ chức chống tham nhũng thì cuộc đấu tranh chống tham nhũng mới có hiệu quả.

Nhân dân sẽ đề cử các thành viên vào các tổ chức chống tham nhũng. Đó là những người có trình độ, có lương tâm và không được có quyền chức.

Chúng ta ai ai cũng hiểu rằng: kẻ tham nhũng đương nhiên phải là những người có quyền có chức chứ nhân dân thì tham nhũng bằng cách gì. Bởi một chữ ký của người có quyền có chức là có thể giúp cho một nhà thầu, một công ty, một doanh nhân sau một đêm ngủ dậy bỗng có trong tay hàng trăm tỉ. Hoặc một chữ ký cho một người vào vị trí này hay vị trí kia và với vị trí đó họ có thể thu mỗi năm hàng chục tỉ.

Bí thư Phạm Quang Nghị nói những người có quyền cho dù không đòi hỏi gì nhưng cứ bị hối lộ. 500.000 đô la không hạ gục được sự liêm khiết của người lãnh đạo đó thì 1.000.000 đô la. Nếu 1.000.000 đôla không đủ mạnh để hạ gục thì nhiều đô la hơn nữa... Bức thành trì liêm khiết của con người cũng có lúc bền vững hơn dãy Trường Sơn nhưng nhiều khi chỉ yếu như tờ giấy bị thấm nước.

Hơn nữa, người nhận hối lộ luôn luôn tin tưởng rằng có phải một mình mình nhận hối lộ đâu, quanh mình nhiều người lắm. Bằng chứng là mình cũng hối lộ để có được vị trí hiện thời của mình cơ mà.

Những nguồn lợi khổng lồ từ vị trí quyền lực làm cho biết bao người mơ ước quyền lực. Và thế là cuộc chạy đua bằng tiền để chiếm lấy quyền lực là những cuộc chạy đua không khoan nhượng, không lương tâm và chẳng vì nhân dân hay đất nước gì cả.

Cách đây khoảng 10 năm, trong một lần làm việc với huyện Mai Châu, Hoà Bình, tôi thấy số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai làm thất thoát của Nhà nước bằng tổng thu nhập của huyện Mai Châu trong 80 năm. Nghĩa là tất cả Huyện uỷ, UBND và nhân dân các ngành nghề của huyện Mai Châu làm gần một thế kỷ mới bằng số tiền "lấy cắp" hợp pháp của ông Mười Hai. Mà số tiền ấy so với một người có quyền có chức nào đấy thời nay nhận hối lộ hay tham nhũng như báo chí đã phanh phui thì chỉ bằng muối bỏ bể.

Câu chuyện về một đồng chí lãnh đạo đem nộp tổ chức tiền cấp dưới và những người nhờ vả mừng tuổi trong một cái tết đơn sơ đã là 4 tỷ thì hỏi tiền lại quả hay tiền chạy chức chạy quyền sẽ là bao nhiêu ? Hỏi thì hỏi vậy thôi chứ biết làm thế nào. Mà có biết làm thế nào thì ai làm?

Theo TVNN

 


THỢ TRUNG QUỐC TRÀN NGẬP VIỆT NAM

Trần Khải


Tình hình công nhân Trung Quốc tại Việt Nam đã tới mức đáng ngại: có nhiều làng bây giờ toàn là công nhân Trung Quốc cư ngụ, theo lời báo động của bà Phạm Chi Lan trên báo New York Times hôm 21-12-2009. Báo này cũng cho biết chính phủ Hà Nội bắt đầu chịu giảm làn sóng công nhân Trung Quốc tràn về phương Nam bằng biện pháp hạn chế cấp visa, nhưng cán bộ địa phương khi nhận tiền hối lộ vẫn mở cửa cho “kẻ lạ” vào đất Việt ào ạt.

Tình hình thực là đáng ngại. Thế cho nên, khi nghe tin một công  ty Úc chịu vào khai thác mỏ bauxite ở Việt Nam,  phản ứng đầu tiên của thính giả là sự an tâm. Cả hai đàì phát thanh VOA ởû Mỹ và RFI ở Pháp hôm Thứ Ba 22-12-2009 loan tin rằng công ty Atlantic Ltd có trụ sở tại Úc Châu cho hay công ty này đã ký kết bản ghi nhớ với Việt Nam để khai thác mỏ bauxite tại tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông.

Bản tin đàì VOA viết rằng: “công ty Atlantic sẽ phối hợp với phía Việt Nam trong công tác khai thác khoáng sản, xây dựng đường sắt nối với mỏ, và các cơ sở hạ tầng liên hệ.  Đôi bên hy vọng sẽ ký kết một thỏa thuận hợp tác chính thức vào nửa đầu năm sau.

Các dự án khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên đã khơi ra nhiều quan ngại trong dư luận trong và ngoài nước về những tác hại cho môi trường-đời sống xã hội của cư dân địa phương, cũng như sự xuất hiện ngày càng nh