*VietTUDAN ---- FINinfo@
*VTD-TUẦN BÁO/ Weekly
=>Số/No.485/10.03.11
=>Số/No.484/03.03.11
=>Số/No.483/24.02.11
=>Số/No.482/17.02.11
=>Những Số ĐẶC BIỆT
*VTD-NHÂN & DÂN QUYỀN
*VTD-KINH TẾ/ TÀI CHÁNH
*VTD-CHÍNH TRỊ/ĐẢNG PHÁI
*VTD-XÃ HỘI/ LUẬT PHÁP
BÀI VIẾT CHỦ ĐỀ
BÀI VIẾT ĐỌC LẬP
Chủ đề 01 về XHLP
Chủ đề 02 về XHLP
Chủ đề 03 về XHLP
Chủ đề 04 về XHLP
*VTD-TÔN GIÁO/ GIÁO HỘI
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN-LinhTinh/Varieties
VTD&FIN-ĐỘC GIẢ/Readers
VTD&FIN-GẶP GỠ/Meeting
VTD&FIN-LƯU TRỮ/Archives
 



 ==========================         =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================



===============================================================
                     NHỮNG CHỦ ĐỀ phổ biến (xin BẤM vào tên Chủ đề)         
===============================================================
   
                                NHỮNG CHỦ ĐỀ PHỔ BIẾN TRONG
                                           http://VietTUDAN.net
       Để đọc những Bài, xin quý Vị bấm (click) vào những Chủ Đề sau đây:

                                             *  Chủ đề Thời sự:
         ===>
TỪ CÁCH MẠNG ĐÒI QUYỀN DẠ DẦY TUNISIE… TỚI VIỆT NAM
                                        *  Chủ đề đang khai triển:
          ===>
TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH


*    Những Số báo VietTUDAN ĐẶC BIỆT với Chủ đề:

===>
ĐỊNH MỆNH TỰ HỦY DIỆT ĐỘC TÀI  (gồm 9 Bài)
===>
HOÀNG SA & TRƯỜNG SA  (gồm 31 Bài)

*    Về NHÂN & DÂN QUYỀN

===> TỪ QUYỀN DẠ DẦY ĐẾN LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ  (gồm 12 Bài)
===> TỪ CÁCH MẠNG ĐÒI QUYỀN DẠ DẦY TUNISIE… TỚI VIỆT NAM

*    Về KINH TẾ/ TÀI CHÁNH

===> ĐÒI HỎI CỦA NỀN KINH TẾ TỰ DO THỊ TRƯỜNG  (gồm 6 Bài)
===> TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ  (gồm 9 Bài)
===> VẤN ĐỀ VIỆT NAM VÀO WTO/OMC  (gồm 8 Bài)
===> SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH  (gồm 15 Bài)
===> KHỦNG HOẢNG TC/KT 2007/08: THỜI SỰ & NHẬN ĐỊNH  (gồm 10 Bài)
===> DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG TC/KT THẾ GIỚI 2007/08  (gồm 12 Bài)
===> HẬU QUẢ KHỦNG HOẢNG TC/KT CHO TQ & VN  (gồm 07 Bài)
===> CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TQ: BÀI TRỪ HÀNG TẦU  (gồm 25 Bài)
===> DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN  (gồm 22 Bài)
===> DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ  (gồm 20 Bài)
===> CĂNG THẲNG THƯƠNG MẠI/ TIỀN TỆ GIỮA MỸ-TẦU
===> ĐỘC CHIÊU QE2 USD.600 TỈ CỦA FED HẠ TẦU CỨU MY

*    Về CHÍNH TRỊ/ ĐẢNG PHÁI

===> HÒA GIẢI HÒA HỢP
===> CHÍNH TRỊ UYỂN CHUYỂN BUSH & VIỆT NAM
===> KHỐI 8406 VÀ PHONG TRÀO DÂN CHỦ
===> ĐẢNG THĂNG TIẾN VIỆT NAM
===> ĐỘC TÀI QUỐC DOANH HÓA MỌI TỔ CHỨC DÂN SỰ
===> KHÔNG CÓ CẠNH TRANH, ĐỘC TÀI TỰ HỦ HÓA

*    Về XÃ HỘI/ LUẬT PHÁP

===>
LUẬT PHÁP LẤY NỀN TẢNG ĐỒNG THUẬN DÂN CHỦ
===>
KHÔNG CÓ ƯU TIÊN CÁ NHÂN TRƯỚC LUẬT PHÁP

*    Về TÔN GIÁO/ GIÁO HỘI

===> LM.NGUYỄN VĂN LÝ:”TỰ DO TÔN GIÁO HAY LÀ CHẾT“
===> ĐÁM NGỢM GIÁO GIAN QUỐC DOANH TAY SAI CSVN
===> PHÁP LỆNH TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO CỦA CSVN:”XIN-CHO“
===> GIÁM MỤC VN: TRÙM CHĂN HAY CHIA RẼ LÃNH ĐẠO
===> TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM TỪ ĐỨC TIN GIÁO DÂN
===> TGM.NGÔ QUANG KIỆT: CHỦ CHĂN CAN ĐẢM

  
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx


===============================================================
                  NHỮNG BÀI VIẾT ĐỘC LẬP phổ biến (xin BẤM vào tên Bài)         
=============================================================== 






xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
GIU LAI NHUNG BAI DUOI DAY DE CHUYEN SANG PHAN LUU TRU============>



=========================
pho bien/ publication 21.10.2008
=========================



                            HẬU QUẢ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH THẾ GIỚI
                                        CHO TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM



                                Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                             Web: http://vietTUDAN.net/
                                                          21.10.2008



Mục đích của chúng tôi khi viết về cuộc Khủng hoảng Tài chánh 1997 của Á châu và nhất là theo rõi cuộc Khủng hoảng Tài chánh hiện nay của Thế giới là để: (i) phân tích tình trạng bấp bênh phát triển Kinh tế tại Việt Nam theo mẫu Trung quốc; (ii) xem hậu quả của của cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay 2007/08 lên hai nước Cộng sản này như thế nào.


Bối cảnh hệ thống Ngân Hàng
Tại Trung quốc và Việt Nam

Vào những năm 1997, những nước bắt đầu phát triển tại Á châu có một hệ thống Ngân Hàng luộm thuộm, quyết định tài chánh mang tính gia đình hay quyền lực Chính trị. Khi Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF/FMI) lập Plan Bailout cho những nước bị Khung hoảng 1997, IMF đòi buộc những nước này trước tiên là phải chỉnh đốn lại hệ thống Ngân Hàng, đặt Cơ quan kiểm soát độc lập đối với các Ngân Hàng.

Đối với Trung quốc và Việt Nam ngày nay, trong lúc hai nước này ca ngợi độ phát triển Kinh tế cao của họ, thì người ta cũng quan sát thấy tính cách luộm thuộm của hệ thống Ngân Hàng hai nước và những quyết định Tín dụng Ngân Hàng bị ảnh hưởng trầm trọng bởi liên hệ gia đình, phe nhóm băng đảng chính trị.

Tại Trung quốc, Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “... un système bancaire national perchus de mauvais crédits... “(LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (... một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15).

Tại Việt Nam, chính Nguyễn Tấn Dũng đã phải than lên rằng có những Ngân Hàng đã lấy vốn ngắn hạn để đầu tư cho những dụ án dài hạn.
 
Ký giả Gia Huy đã viết đãng trong VietNamNet ngày 09.10.2008 như sau:”Bức tranh kinh tế xã hội 2008 có nhiều biến động đã bộc lộ thực tại đời sống ngân hàng từ quản lý vĩ mô đến việc quản trị điều hành, việc thực thi chiến lược quản lý tiền tệ cũng như các kế hoạch kinh doanh và hàng loạt các vấn đề liên quan khác. Chính sách tiền tệ quốc gia và kinh doanh tài chính ngân hàng còn nhiều bất cập. Khi có biến cố thị trường tất cả đều bị động chạy theo. Công cụ và kiểm soát quản trị rủi ro có không ít vấn đề.”

Cái bối cảnh của hệ thống Ngân Hàng tại Việt Nam và Trung quốc cũng có những điểm giống năm 1997 tại những quốc gia bị Khủng hoảng Tài chánh trong vùng như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn mà chính IMF/FMI đòi đỏi phãi cải tổ như một điều kiện được hưởng Plan Bailout của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế.

Một bối cảnh của hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh như vậy tự nó là nguồn Khủng hoảng cho Tài chánh/ Kinh tế cho một nước theo như phân tích của Bà Francoise NICOLAS về cuộc Khủng hoảng Á châu năm 1997.

Và trước cuộc Khủng hoảng Thế giới hiện nay về Ngân Hàng/Tái chánh, hai nước Trung quốc, Việt Nam, với bối cảnh Ngân Hàng/Tài chánh luộm thuộm lúc này, không thể chống đỡ lại tầm ảnh hưởng Tài chánh đang diễn ra trên Thế giới.

Chúng tôi nhìn tầm ảnh hưởng Tài chánh Thế giới dưới ba góc cạnh: (i) về Vốn nước ngoài; (ii) về Giảm sút độ tăng trưởng Kinh tế; (iii) về Xáo trộn xã hội ảnh hưởng lên Chính trị.

Với hạn hẹp của bài viết và với những dữ kiện chưa dồi dào ở bước đầu của tầm ảnh hưởng, chúng tôi chỉ phác họa tổng quát hướng đi của tầm ảnh hưởng. Chúng tôi sẽ viết tiếp tục để khai triển thêm theo với thời gian và theo những dữ kiện từ từ thu lượm.


Aûnh hưởng trực tiếp
Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08
Lên Trung Cộng và Việt Nam về Vốn nước ngoài

Trung Cộng và Việt Nam chủ trương Chính trị độc tài độc đảng và chế độ Chính trị ấy nắm độc quyền Kinh tế. Ở hai nước, Lao động bị kềm chế ở mức lương thấp. Nhiều những bài báo cáo Quốc tế đã viết về Lao động tại hai nước như một sự khai thác Nhân lực bất chấp Nhân quyền. Tại Trung quốc, nhân công từ những vùng nghèo khổ nội địa kéo về các tỉnh công nghệ ven biển  và làm việc cực nhọc như những đàn súc vật. Tại Việt Nam, đồng quê bị bỏ rơi, nông dân về những khu chế xuất công nghệ làm việc trong những điều kiện tồi tệ.

Các Công ty Liên quốc nước ngoài (Le Multinationales Etrangeres), trong chủ trương quản trị Chi tiêu cho xí nghiệp (Gestion des Charges de l’Entreprise) đã tìm đến hai nước này để khai thác nhân công rẻ với sự đồng ý và phụ lực khai thác của một chính thể độc tài độc đảng khóa miệng nhân công.

Vốn nước ngoài đổ vào hai nước này để mở xưởng chế xuất hàng hóa không phải là Vốn Đầu tư lâu dài cho hai nước, mà là Vốn ngắn hạn khai thác nhân lực nhằm sản xuất hàng hóa rẻ mạt xuất khẩu sang những nước đã Kỹ nghệ hóa để bán với giá cao.

Với cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay, hệ thống Ngân Hàng/Tài chánh tại những nước đã Kỷ nghệ hóa như Mỹ và Liên Aâu rơi vào tình trạng thiếu Vốn. Trong tình trạng này, họ có thể cắt xuống hoạc rút Vốn ra từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam. Có những Dự án đã ký kết, nhưng có thể không được giải ngân vì tình trạng thiếu Vốn.

Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho vấn đề Vốn ở Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés  sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence...”. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề...”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)

Oâng Jonathan MANTHORPE, Vancouver Sun 13/10/08, đã nhận xét: “Nhưng các vấn đề của các quốc gia đang phát triển còn tuỳ thuộc vào sự phát triển đầu tư và các thị trường trong quỹ đạo kinh tế toàn cầu chuyển động chung quanh Hoa Ky.“

Trong THE WALL STREET JOURNAL Europe, ngày 15.10.2008, dưới đầu đề CHINA DRAWS LESS CAPITAL, Ký giả Andrew BATSON đã viết: ”Capital flows into China have slowed sharply and even reversed in recent months, according to official data that show how the financial crisis has disheartened investors and disrupted banks in this fast-growing nation” (page 4) (“Trào lưu Vốn chảy vào Trung quốc đã chậm lại mạnh and ngay cả chảy ngược lại trong những tháng gần đây, theo những dữ kiện cho thấy, cuộc khủng hoảng tài chánh đã làm mất can đảm những nhà đầu tư và đã làm ngưng trệ các ngân hàng trong cái nước đang phát triển mau lẹ này.” (trang 4)

Đối với Trung quốc, tình trạng Vốn nước ngoài đã như vậy, huống chi đối với Việt Nam. Việt Nam còn bị thiếu vốn trầm trọng hơn Trung quốc vì nguồn Vốn nọi địa yếu kém hơn Trung quốc.


Aûnh hưởng trực tiếp
Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08
Lên Trung Cộng và Việt Nam về Độ Tăng trưởng Kinh tế.

Tại những nước đã Kỹ nghệ hóa, các Chính phủ đang lo ngại tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh lan sang Lãnh vực Kinh tế thực làm cho đà Tăng trưởng giảm xuống trong những năm tới.

Ba lý do chính cát nghĩa tầm ảnh hưởng của cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới đối với Lãnh vực Kinh tế thực tại Trung quốc và Việt Nam, nghĩa là làm giảm Độ tăng trưởng Kinh tế tại hai nước này:

=> Lý do thứ nhất: Khi nguồn Vốn nước ngoài giảm thiểu và nguồn Vốn nội địa không đủ, thì tất nhiên một số Công ty không trường vốn sẽ bị phá sản. Tại Liên Aâu và Hoa kỳ, những Công ty có nguồn vốn nội địa và những Công ty này đã tạo trong nhiều năm rồi số vốn riêng của họ tích lũy (Cumulation des Fonds propres) để có độc lập về Tài chánh (Autonomie Financìere), nhưng tại những nước mới bắt đầu phát triển, những Công ty lệ thuộc vào Thị trường Tài chánh mang tính cách bấp bênh.

=> Lý do thứ hai: Cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới làm cho các nước Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước trong vùng Á châu giảm thiểu việc mua hàng mà trước đây Trung quốc và Việt Nam vẫn cung cấp cho họ: những linh kiện cho Kỹ nghệ hay những hàng thường dùng cho dân chúng. Nên lưu ý rằng việc chế xuất hàng hóa từ Trung quốc hay Việt Nam là để cung cấp cho nước ngoài tới 70%. Việc giảm thiểu mua hàng này từ những nước đã Kỹ nghệ hóa tất nhiên làm ngưng trệ Kinh tế Trung quốc và Việt Nam, nghĩa là làm giảm độ Tăng trưởng Kinh tế.

=> Lý do thứ ba: Sau những cuộc Khủng hoảng, những Quốc gia dù có chủ trương Tự do Mậu dịch mấy đi nữa, cũng dễ có khuynh hướng Che chở (Protectionnisme) cho những Công ty quốc gia mình tại nội địa. Tại cuộc họp thượng đỉnh giữa Liên Aâu và Canada, dưới đầu đề A QUEBEC, MR.SARKOZY MET EN GARDE CONTRE LE PROTECTONNISME, Báo LE MONDE ngày Thứ Hai 20.10.2008 đã viết như sau: “Derrìere la crise bancaire, le spectre du protectionnisme qui hanta les années 1930. Avant de rencontrer, Samedi 18 Octobre, le président américain George BUSH dans sa résidence de Camp David, Nicolas SARKOZY, président en exercice de l’Union Européenne (UE), et le président de la Commission, José Manuel BARROSO, ont lancé vendredi, depuis Québec, un appel contre la fermeture des frontìeres.” (Đàng sau cuộc khủng hoảng tài chánh, con quỉ Che Chở (Protectionnisme) đã hiện về trong những năm 1930. Trước khi gặp, Thứ Bảy 18.10, Tổng thống Mỹ George BUSH ở Camp David, Nicolas SARKOZY, Chủ tịch đương nhiệm của Liên Aâu, và Oâng Chủ tịch Uûy Ban Liên Aâu, đồng kêu gọi hôm Thứ Sáu, từ Québec, chống lại việc đóng các biên giới.).

Dù không công khai tuyên bố Che Chở, nhưng các nước áp dụng những Biện Pháp Không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để hạn chế nhập khẩu. Trong trường hợp Che Chở, hay những Biện pháp không giá biểu, thì Trung quốc và Việt Nam điều bị thiệt hại vì hai nước này làm việc cho xuất cảng.


Thứ Hai 20.10.2008, Trung quốc công khai cho biết rằng độ tăng trưởng Kinh tế của họ từ 11% xuống tới 9% trong Tam Cá Nguyệt thứ ba của năm nay.

Trong Tờ FINANCIAL TIMES, thứ Hai 20.10.2008, Ký giả Geoff DYER tại Bắc Kinh còn trích lời Oâng HA Jiming, Kinh tế trưởng của China International Capital Corporation ỡ Bắc Kinh, tiên đoán rằng độ tăng trưởng Kinh tế Trung công có thể thụt xuống 7.3% (Ha Jiming, Chief Economist at China International Capital Corporation in Beijing, predicts that growth will fall to 7.3 per cent.)

Tờ THE WALL STREET JOURNAL Europe Thứ Hai 20.10.2008 loan tin về tình trạng một số khá nhiều Công ty tại Trung quốc sẽ phá sản. Đặc biệt tờ báo còn loan tin sự phá sản của Công ty sản xuất đồ chơi với 6’500 nhân công làm việc.

Tờ FINANCIAL TIMES hôm nay Thứ Ba 21.10.2008 cho chạy tít lớn ở trang nhất: CHINA GROWTH SLOWS SHARPLY. Cũng vậy, Tờ THE WALL STREET JOURNAL hôm nay thứ Ba cũng đăng bài dài về sự xuống dốc của Kinh tế Trung Cộng với đầu đề THE WORLD FEELS CHINA’S DECLINING GROWTH.

Việt Nam, cùng một thể chế Chính trị với Trung Cộng, cùng một hệ thống Kinh tế làm việc cho xuất cảng, tất nhiên chịu cùng những hậu quả của cuộc Khủng hoảng Tài chánh như tại Trung quốc. Chính Báo Việt Nam đã loan tin tình trạng phá sản tới 20% các Công ty.

Jonathan Manthorpe, Vancouver Sun 13/10/08, đã viết: “Ông Dũng đã giảm bớt sự ước lượng mức tăng trưởng của tổng sản lượng nội địa trong năm nay xuống còn 7% từ mục tiêu ban đầu là 9%. Nhưng ít nhà kinh tế tin rằng mục tiêu đó thực tế vì mức tăng trưởng chỉ có 6.5% trong 9 tháng đầu năm và triển vọng cho những tháng còn lại thì thậm chí còn tối tăm ảm đạm hơn“.


Aûnh hưởng gián tiếp
Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08
Lên Trung Cộng và Việt Nam về Xã Hội và Chính trị.

Tình trạng Kinh tế xuống dốc tất nhiên ảnh hưởng tới những vấn đề Xã hội và Chính trị mà hai đảng Cộng sản Trung quốc và Việt Nam phải lo lắng.

Giáo sư TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés  sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence. Si les exportations chinoises reviennent à une croissance à un chiffre, le produit intérieur brut pourrait perdre deux points de croissance... Les autorités craignent des troubles sociaux. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề... Nếu những xuất cảng của Trung quốc trở về độ tăng có một con số, thì sản xuất nội địa sẽ mất độ tăng... Chính quyền đang lo sợ những xáo trộn xã hội. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)

Oâng còn nói thêm rằng những xáo trộn xã hội này gồm việc phải thải nhân công đã bỏ nội địa xa xôi về các thành phố ven biển làm việc. Bây giờ đẩy họ về nội địa nghèo khó không phải là dễ dàng. Tại Việt Nam, nhân công cũng từ thôn quê miền Nam, từ những tỉnh miền Trung nghèo khổ và từ những tỉnh miền Bắc kéo về Thủ đô. Khi họ bị sa thải, làm thế nào đẩy họ tở về nguyên quán.

Để giải quyết vấn đề này, Trung ương đảng CS Trung quốc đã họp kín 4 ngày trong tuần vừa rồi. Ký giả GILLIAN WONG, Associated Press Writer Gillian Wong, Associated Press Writer – Sun Oct 12, 11:20 am ET AP, đã viết: “BEIJING – China's ruling Communist Party on Sunday said it would seek to expand its massive internal market to counter the global economic slowdown that has reduced international demand for Chinese goods. The party, led by President Hu Jintao, released a statement at the end of a four-day meeting of its Central Committee where it also approved a plan aimed at doubling rural incomes by 2020.”(Bắc Kinh—Ban Điều hành đảng Cộng sản Trung quốc nói là Trung quốc tìm cách khai triển thị trường nội địa kếch xù của họ để bù trừ vào việc đình trệ của kinh tế tổng quát đã giảm thiểu việc đặt mua hàng của quốc tế đối với hàng hóa Trung quốc. Đảng, lãnh đạo bởi Chủ tịch HU JINTAO, tuyên bố sau 4 ngày họp của Trung ương đảng rằng đảng đã chấp nhận một chương trình nhằm tăng gấp đôi thu hoạch nông thôn vào khoảng năm 2020.”

Đây là chương trình không dễ thực hiện và rất tốn kém bởi vì trong nội địa Trung quốc, phải mất tối thiểu 20 năm nữa mới có thể có một hệ thống đường sá khả dĩ hỗ trợ cho phát triển kinh tế nông thôn.

Tại Việt Nam, vì quá hồ hởi với việc công nghệ hóa, nên đảng CSVN đã hầu như bỏ quên nông thôn. Đây là điều vô cùng đáng tiếc bởi vì Việt Nam có căn bản địa lý đồng bằng để phát triển mau chóng nông nghiệp.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 





=========================
pho bien/ publication 09.10.2008
=========================


                     KHÔNG CÓ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ KIỂU 1929-30
                             GIỮA TÀI CHÁNH ĐẢO ĐIÊN HIỆN NAY



                        Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                      Web: http://vietTUDAN.net/
                                           Chiều 09.10.2008

 

NỘI DUNG GỒM NHỮNG BÀI:

@ THỨ NĂM 09.10.2008: XIẾT CỔ NGÂN HÀNG VÀ TRỢ LỰC KINH TẾ THỰC
@ THỨ TƯ 08.10.2008: KINH TẾ CHẮC TRONG TSUMANI TÀI CHÁNH
@ THỨ HAI 06.10 VÀ THỨ BA 07.10.2008 ĐEN CHO Á VÀ ÂU CHÂU
@ HAI KỸ NGHỆ SONG HÀNH: TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ THỰC
@ US CONGRESS  VÀ PLAN BAILOUT $700 TỈ 
@ US$ 700 TỈ CỨU VỚT WALL STREET CỦA CHÍNH QUYỀN BUSH
@ WALL STREET: BA NGÀY PHÁ SẢN NGÂN HÀNG
@ THẾ CHẤP ĐỊA ỐC NGUY HIỂM
@ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH  HOA KỲ BẮT ĐẦU TỪ 2007

 

Để có thể phát triển BỀN VỮNG và LÂU DÀI, phải có ĐỘT BIẾN đến từ đại đa số quần chúng có CAN ĐẢM đứng lên đối chọi với một thể chế Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế như ở Việt Nam hiện nay. Cái lòng CAN ĐẢM của quần chúng đến từ:

=> Một là từ Lòng Tin Tôn Giáo khi mà lòng tin ấy bị bạo lực đàn áp. Trường hợp này đang xẩy ra với khởi đầu là Xứ Thái Hà và Tòa Khâm sứ. Cái lầm lẫn của CSVN là đã vu khống, đã xử dụng bạo lực để làm bất công. Từ hai miếng Đất, cuộc đấu tranh hiện nay đang đứng ở bình diện bao trùm tổng quát: CÔNG LÝ và SỰ THẬT.

=> Hai là từ cái Dạ Dầy đói mà quần chúng phải buộc lòng đứng lên và có thể sẵn sàng làm BẠO ĐỘNG như tất cả các cuộc CÁCH MẠNG Pháp 1789 hay Nga 1917. Thay vì chết đói, thì quần chúng phải đứng lên dành lại miếng cơm từ những kẻ đã cướp bóc mình.

Chính vì phương diện Kinh tế này của đại đa số quần chúng Việt Nam (75% dân số) mà chúng tôi theo rõi những cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế đẩy quần chúng đến đói khổ cùng cực để từ đó họ buộc lòng phải đứng lên dành lấy miếng ăn. Thực vậy CSVN đã bao chục năm chủ trương Độc tài Chính trị nắm trọn Độc quyền Kinh tế để Tham nhũng Lãng phí lan tràn. Một thể chế như vậy không thể nào làm cho Đất Nước phát triển BỀN VỮNG và LÂU DÀI được. Hố sâu cách biệt Giầu-Nghèo mỗi ngày mỗi khơi sâu.

Những cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế càng đẩy Dân nghèo vào chỗ cùng cực để từ đó mà lòng CAN ĐẢM BÓ BUỘC phải có để liều chết đứng dậy loại bỏ cơ chế đã làm cho họ đói khổ cùng cực.

Chúng tôi đã đi tìm hiểu và viết rất nhiều về những cuộc Khủng hoảng Tài chánh và Kinh tế :

=> Cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế Á châu năm 1997 để tìm hiểu những nguyên do có thể áp dụng vào trường hợp Việt Nam.

=> Chúng tôi tha thiết đến những cuộc Đình công của giới Công nhân và việc Dân Oan đứng lên đòi Nhà Đất.

=> Đầu năm nay, Lạm phát và Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế đã bùng nổ ra tại Việt Nam sâu rộng hơn các nước khác trong vùng.

=> Hiện nay, cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế từ Hoa kỳ đang bao trùm Thế giới. Cuộc Khủng hoảng này chắc chắn mang tầm ảnh hưởng quan trọng đến tình hình Tài chánh và Kinh tế tại Việt Nam vốn đang bị bệnh tật nặng nề với thể chế hiện hành. Vì mục đích tối hậu là Việt Nam, nên chúng tôi theo rõi sát cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế Thế giới hiện nay. 

 



                                      THỨ NĂM HY VỌNG 09.10.2008:
                     XIẾT CỔ NGÂN HÀNG VÀ TRỢ LỰC KINH TẾ THỰC



Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
09.10.2008 


Chúng tôi viết bài dưới đầu đề HAI KỸ NGHỆ SONG HÀNH: TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ THỰC để cho thấy rằng cái nguyên nhân chính của cuộc Khủng hoảng Mỹ và Thế giới hiện nay là do giới Ngân Hàng/Tài chánh lộng hành, đi với những sản phẩm riêng của Lãnh vực của họ để thu Lợi nhuận với tốc độ điện tử.

Cơn Tsumani Tài chánh thổi giữa họ, trong khi ấy Lãnh vực Kinh tế thực chưa có những giao động tương tự như những năm 1929-30. Kinh tế thực vẩn đứng vững.

Thấy rõ vấn đề như vậy, nên từ hôm THỨ BA 07.10.2008, bài lên tiếng của Oâng Ben BERNANKE, Chủ tịch FED Ngân Hàng Trung ương Mỹ, khởi đầu cho một cuộc Thống Nhất Thế Giới của những Ngân Hàng Trung ương, quyền lực của Tiền tệ. Các Ngân Hàng Trung Ương thống nhất hành động về ba phương diện sau đây:

1) Bảo đảm cho Dân Tiết kiệm gửi Tiền tại các Ngân Hàng. Một số Ngân Hàng ngắc ngoải bên bờ phá sản . Việc cứu các Ngân Hàng chính yếu là để cứu Dân tiết kiệm gửi tiền vào Dépôts.

2) Nhưng điều quan trọng hơn cả là che chở cho LÃNH VỰC KINH TẾ THỰC khỏi bị ảnh hưởng nặng nề về cuồng phong Tài chánh để có thể chuyển sang KHỦNG HOẢNG KINH TẾ.

3) Các Tập đoàn Kinh tế lớn đều tạo Độc Lập Tài chánh cho mình (Autonomie Financìere) bằng tích luỹ dự trữ trích ra hàng năm từ Lợi nhuận (Réserves). Tuy nhiên quyền lực Tiền tệ (Pouvoir Monétaire) nhận thấy rằng Thị trường hiện nay thiếu Vốn Lưu động (Liquidités/ Fonds de Roulement). Vậy quyền lực Tiền tệ (các Ngân Hàng Trung ương) phải trực tiếp can thiệp trong Lãnh vực này.

Nếu những Plan Bailout Mỹ $700 tỉ hay của Anh Euro.360 tỉ, của Pháp, Đức Euro.1'600 tỉ, Tây Ban Nha Euro.34 tỉ... là nhằm cứu một số Ngân Hàng để bảo đảm cho Dân Tiết kiệm, thì các Ngân Hàng Trung ương Mỹ, Liên Aâu, Anh, Pháp, Đức, Thụy sĩ, Uùc, Nhật, Hong Kong, Nam Hàn phải hành động đồng loạt với nhau trong sự đoàn kết Thế giới để có thể cung cấp trực tiếp cho Thị trường, cho nền KINH TẾ THỰC  số Vốn Lưu động (Liquidités/ Fonds de Roulement).

Để thực hiện việc này, các Ngân Hàng Trung Ương trên Thế giới đã đồng loạt giảm LÃI SUẤT chỉ đạo, nghĩa là làm cho giá thuê Vốn rẻ đi. Đây là việc giúp cho Liquidités lưu hành dễ dàng.

Các Ngân Hàng Trung ương
đồng loạt GIẢM LÃI SUẤT chỉ đạo

Ngày hôm qua, THỨ TƯ 08.10.2008, các Ngân Hàng Trung Ương chính trên Thế giới đồng loạt cắt giảm LÃI SUẤT chỉ đạo:
FED, Ngân Hàng Trung Ương Hoa kỳ:  Lãi suất giảm từ 2.0% xuống 1.5%
ECB, Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu:  Lãi suất giảm từ 4.25% xuống 3.75%
Bank of England:     Lãi suất giàm từ 5.0% xuống 4.5%
BNS, Ngân Hàng Trung Ương Thụy sĩ:  Lải suất giảm từ 3.0% xuống 2.5%
Sweden’s Riksbank:     Lãi suất giảm từ 4.75% xuống 4.25%

Từ đêm vừa rồi, Đài Truyền Hình CNBC cũng loan báo việc giàm Lải suất của các Ngân Hàng Trung Ương của Nam Hàn, Đài Loan, Hong Kong và Uùc. Riêng các Ngân Hàng Trung Ương Nhật và Trung quốc cũng đang do dự xem độ giàm sẽ suống bao nhiêu.


Những Chương trình cứu vớt
Ngân Hàng Aâu châu cũng được
công khai tuyên bố


=> Anh quốc
Sau khi cứu vớt Ngân Hàng Northern Rock vào tháng hai vừa rồi, Anh quốc mới bỏ ra Euro.63 tỉ để cứu Ngân Hàng Bradford & Bingley. Nhà Nước Anh cũng dành ra Euro.68 tỉ để tái cấp vốn cho những Ngân Hàng Lloyds TSB, HSBC, Royal Bank of Scotland, Standard Chartered, Barclays.

=> Đức quốc
Bà Thủ tướng Angela MERKEL tăng thêm vốn lưu hành (Liquidités) cho Tập đoàn Hypo Real Estate số tiền Euro.15 tỉ, mặc dầu đã bào đảm Tín dụng cho Tập đoàn này số tiền Euro.35 tỉ. Nhà Nước Liên Bang Đức cũng dành ra số tiền Euro.1'600 tỉ để bảo đảm an toàn cho Dân tiết kiệm gửi tiền tại các Ngân Hàng.

=> Pháp quốc:
Nhà Nước Pháp đã cứu vớt Ngân Hàng Dexia với số tiền Euro.3 tỉ. Hai Ngân Hàng Caisse d’Epargne và Banque Populaire đã đứng chung với nhau để có số vốn chung Euro.40 tỉ.

=> Tây Ban Nha:
Chính quyền ZAPATERO dành khẩn cấp số tiền Euro.34 tỉ nhằm hỗ trợ các Ngân Hàng và Lãnh vực Kinh tế.


Thị Trường Chứng Khoán
lắng dịu và khởi sắc

Quan sát kỹ những biến động trong tuần vửa rồi và các ngày Thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư tuần này, người ta thấy giới đầu tư chưa tin tưởng và những Plan Bailouts của Hoa kỳ cũng như Aâu châu cho các Ngân Hàng. Những Chỉ số Chứng Khoán khắp Thế giới vẫn tụt giốc nặng nề.

Tuy nhiên, thừ khi các Ngân Hàng Trung Ương tuyên bố trực tiếp cung cấp Vốn Lưu động (Liquidités/ Fonds de Roulement) cho Thị trường, nhất là cho LÃNH VỰC KINH TẾ THỰC, bằng biện pháp đồng loạt GIẢM LÃI SUẤT chỉ đạo để giá thuê Vốn rẻ đi, thì chúng ta thấy triệu chứng tin tưởng từ giới đầu tư tại các Thị trường Chứng khoán.

Trưa hôm qua, Đài truyển hình TF1 Pháp tuyên bố Chỉ số CAC Paris không xuống mà còn lên được 0.09%. Đây là triệu chứng HY VỌNG nên chúng tôi viết liền vào buổi chiều THỨ TƯ 08.10.2008 để báo tin HY VỌNG này giữa Tsumani Tài chánh vẫn còn thổi mạnh.

Hôm nay THỨ NĂM 09.10.2008, từ 4 giờ sáng, chúng tôi mở Đài Truyền Hình CNBC để xem phản ứng của các Thị trường Chứng Khoán Á-châu đối với việc cắt Lãi suất đồng loạt ra sao. Trên màn ảnh Tivi, những Chỉ số Á châu không có mầu đỏ với mũi tên chỉ xuống như các ngày THỨ HAI và THỨ BA ĐEN nữa, mà ngược lại mầu xanh mũi tên chỉ lên cho thấy NIỀM HY VỌNG tổng quát.

Lúc 10 giờ sáng, mở Đài CNN, thì thấy các Chỉ số Thị trường Aâu châu cũng với những mũi tên xanh chỉ lên.

Từ lâu rồi, chúng tôi không có thiện cảm cho lắm đối với giới Ngân Hàng/ Tài chánh. Họ buôn bán giữa họ những Sản phẩm Tài chánh do chính họ đẻ ra để kiếm Lợi nhuận với siêu tốc độ như chúng tôi đã trình bầy trong bài dưới đầu đề HAI KỸ NGHỆ SONG HÀNH: TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ THỰC. Nếu giới Ngân Hàng/ Tài chánh tạo ra những cuồng phong, thì chúng tôi vẩn nghĩ rằng để họ tự đào thải.

Chúng tôi luôn luôn tha thiết đến việc làm thế nào Lãnh vực KINH TẾ THỰC được an toàn để những người mang bắp thịt, mang chất sám làm việc cho SẢN XUẤT KINH TẾ THỰC khỏi thất nghiệp. Nếu giới Ngân Hàng/ Tài chánh bị thất nghiệp, thì cũng không thương tiếc cho lắm vì trước đó họ đã thắt cà vạt, mặc đồ lớn, ăn lương cao rồi.

Chúng tôi hoàn toàn hoan nghênh sự hiệp nhất của quyền lực Tiền tệ khắp Thế giới (các Ngân Hàng Trung Ương) cắt lãi suất, trực tiếp trợ lực Vốn Lưu động (Liquidités/ Fonds de Roulement) cho Lãnh vực KINH TẾ THỰC

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



                                   THỨ TƯ 08.10.2008: KINH TẾ CHẮC
                                        TRONG TSUMANI TÀI CHÁNH


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
Chiều 08.10.2008 


Những thông tin trong bài này dựa theo FINANCIAL TIMES (Europe), THE WALL STREET JOURNAL (Europe), LE MONDE (Pháp), LE TEMPS (Thụy sĩ), ngày 08.10.2008. Đồng thời chúng tôi cũng theo rõi các Đài Truyển Hình TSR1 (Thụy sĩ) và hai Đài TF1 (Pháp), A2 (Pháp).

Mặc dầu Đài Truyền hình TSR1 Thụy sĩ loan tin sáng sớm hôm nay, cơn Tsumani vẫn hoành hành tại Á châu, nhất là tại Tokyo. Chỉ số NIKKEI Tokyo tụt xuống thêm 9%. Đây là việc mà từ 25 năm nay chưa bao giờ có. Đài Truyền hình hỏi trực tiếp Đại diện của mình tại Nhật là Oâng BAUMGARTNER để cho biết chi tiết. Lời bình luận của Oâng BAUMGARTNER không có gì bi quan. Theo Oâng, thì đây là hiện tượng các nhà đầu tư Tây phương bán tháo tại Thị trường Tokyo để lấy tiền mặt (Liquidités) mà Thị trường Tài chánh Thế giới đang cần.

Nếu Plan Bailout USD.700 tỉ của PAULSON nhằm chống đở cho phía Ngân Hàng, thì các Ngân Hàng Trung ương khắp Thế giới nhằm vào việc bảo đảm cho Dân Tiết kiệm gửi tiền ở các Ngân Hàng, nhất là cung cấp cho Lãnh vực KINH TẾ THỰC khỏi bị ảnh hưởng nặng nề bởi Lãnh vực quay cuồng của hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh. Cơn lốc Tài chánh Ngân Hàng sẽ hạ xuống, nhưng các Nước chú trọng đến giới Tiết kiệm gửi tiền tại Ngân Hàng được bảo đảm và nhất là nền Kinh tế Thực khỏi rơi vào Khủng hoảng như những năm 1929-30.

Chúng tôi đã viết bài dưới đầu đề HAI KỸ NGHỆ SONG HÀNH: TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ THỰC cùng đăngi trong loạt bài này để độc giả hiểu sự tách rời của hai Lãnh vực.

Các Ngân Hàng Trung Ương thi hành nhiệm vụ của mình, đó là lo liệu cho Lãnh vực Kinh tế Thực có quỹ Tiền mặt (Liquidités/ Fonds de Roulement) để Kinh tế sản xuất và Thương mại trao đổi vận hành đều đặn. Tuy cuồng phong Wall Street Ngân Hàng thổi mạnh, không cho Credits để đầu tư, nhưng các Ngân Hàng Trung ương có đủ Tiền để cung cấp cho Lãnh vực Kinh tế thực để giữ sức khỏe của mình giữa cơn sóng cuồng Tài chánh do Ngân Hàng.

Ben BERNANKE, Chủ tịch FED,
Ngân Hàng Trung Ương Hoa kỳ, lên tiếng
 
Tờ THE WALL STREET JOURNAL, ngày 08.10.2008, dưới đầu đề FED WILL LEND TO COMPANIES, đã viết như sau:

’In an historic and risky step by the central bank, the FED said it would make loans directly to companies in the USD.1.6 trillion commercial paper market, which provides life-blood short-term financing for firms ranging from AT&T Inc. to Coca-Cola Co. to United Parcel Service Inc.’

Những món vay này sẽ với giá hạ (’further interest-rate cuts’).

Chính sách này nhằm hỗ trợ cho nền Kinh tế thực không xuyên qua hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh.

Các Ngân Hàng Trung Ương Aâu châu

Không có những Plan Bailout Paulson như Hoa ký, nhưng các Ngân Hàng Trung ương trực tiếp nhẩy vào cuộc: một mặt trợ lực các Ngân Hàng yếu kém để bảo đãm cho Dân tiết kiệm gửi tiền tại Ngân Hàng, một mặt cung cấp Tiền rẻ cho Lãnh vực Kinh tế thực. Các Ngân Hàng Trung ương đã quyết định hạ Lãi suất xuống để giá thuê tiền rẻ đi.

Iceland khởi đầu bằng bỏ ra Euro.4 tỉ. Bank of England bỏ ra 35 tỉ Bảng Anh để tăng thêm Tiền mặt (Liquidités) cho Thị trường và đồng thời cứu một số Ngân Hàng, như Royal Bank of Scotland chẳng hạn. Đức bảo đảm cho Dân tiết kiệm gửi Ngân Hàng tới mức 100%, chống đỡ cho Lãnh vực Kinh tế và cứu Tập đoàn Hypo Real Estate với tổng số dự trù bỏ ra là Euro.1621 tỉ. Tây Ban Nha dành cho Thị trường số Tiền Euro.34 tỉ.

Một điểm nữa làm cho Lãnh vực Kinh tế thực lạc quan, đó là giá Dầu lửa giảm.

Trưa hôm nay THỨ TƯ HY VỌNG 08.10.2008, Đài Truyền Hỉnh TF1 của Pháp loan tin rằng chỉ số CAC Chứng khoán Paris, thay vì giảm, đã tăng lên được 0.09%.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 






                          THỨ HAI 06.10 VÀ THỨ BA 07.10.2008 ĐEN
                                         CHO Á VÀ ÂU CHÂU


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
Sáng sớm 08.10.2008  


Bài hôm nay ghi nhận hai điểm:
=> Thị trường Chứng khoán Á châu và Aâu châu thụt giá trầm trọng
=> Thất bại của Quỹ cứu nguy chung của Aâu châu

Chứng khoán Á và Aâu châu
thụt giá trầm trọng

Mặc dầu Plan Bailout USD.700 tỉ được Thượng viện Mỹ chấp thuận ngày 01.10.2008 và được US Congress House tái bỏ phiếu chấp thuận ngày 03.10.2008, nhưng vẫn chưa đủ tạo niềm tin để giữ vững giá các Thị trường Chứng khoán.

THỨ HAI 06.10.2008 và THỨ BA 07.10.2008 được giới Tài chánh gọi là hai ngày đen bao trùm các Thị trường Chứng khoán Aâu, Á châu.

Tình trạng thụt giá các Thị trường trong ngày THỨ HAI và tiếp theo THỨ BA như sau:

Tại Á châu:
 Chỉ số NIKKEI Tokyo:   giảm 4.3%
 Chỉ số HANG SENG Hong Kong:  giảm 5.0%

Tại Aâu châu:
 Chỉ số RTS Moscou:   giảm 19.1%
 Chỉ số DAX Frnakfurt:   giảm 7.07%
 Chỉ số CAC Paris:    giảm 9.04%
 Chỉ số SMI Zurich:    giảm 6.12%
 Chỉ số FTSE London:   giảm 7.9%
 Chỉ số S&P/MIB Milan:   giảm 8.2%

Các giới đầu tư thẩm định rằng Plan Bailout USD.700 tỉ, mặc dầu được chấp thuận, nhưng con số USD.700 tỉ vẫn chưa đủ ngay cho Thị trường Mỹ, trong khi ấy các Ngân Hàng Á châu và nhất là Aâu châu đang gặp những khó khăn trầm trọng. Có những Ngân Hàng đang đứng bên bờ phá sản. Tình trạng thụt giá trầm trọng tại Aâu châu cũng còn do việc Liên Aâu không thể đoàn kết trong Dự án Cứu Nguy chung.

Thất bại của
Quỹ cứu nguy chung của Aâu châu

Do sáng kiến của TT.SARKOZY Pháp, một cuộc họp thượng đỉnh mệnh danh là G4 được triệu tập về Paris ngày THỨ BẨY 04.10.2008 trong mục đích tạo một Qũy Cứu Nguy chung co Liên Aâu. Nhóm G4 gồm Pháp, Đức, Anh và Ý. Nhưng mổi nước có những liên hệ Kinh tế và Tài chánh không đồng nhất.

Anh quốc với Luân Đôn là trung tâm Tài chánh mạnh sau Wall Street New York, luôn luôn liên kết với Hoa kỳ không những về Tài chánh, Kinh tế mà còn rất nhiều phương diện khác. Đức có khả năng Kinh tế và Tài chánh mạnh hơn Pháp rất nhiều và muốn đi với Hoa kỳ hơn đi với Pháp. Ý cũng có nhiều liên hệ Kinh tế với Hoa kỳ hơn là Pháp. Tính cách không đồng đều về khả năng Tài chánh và không giống nhau về liên hệ Kinh tế đã khiến cuộc họp thượng đỉnh này thất bại trong việc lập một Quỹ chung.

Ngoài ra, qua thái độ của TT.Pháp SARKOZY, với bài Diễn văn công kích Mỹ tại Liên Hiệp Quốc cách đây không lâu và với ngầm ý làm cho Liên Aâu tách rời khỏi Hoa kỳ về Tài chánh, các nước khác Anh, Đức, Ý không muốn Liên Aâu đứng tách ra như một khối.

Cuộc họp đưa đến kết luận là mỗi nước lo việc cứu nguy cho nước mình. Quyết định này cùng với việc thấy số tiền USD.700 tỉ của Hoa kỳ chưa đủ, nên các Thị trường Chứng khoán Aâu châu thụt giá trầm trọng trong ngày THỨ HAI 06.10 và THỨ BA 07.10.2008.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






                                    HAI KỸ NGHỆ SONG HÀNH:
                                 TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ THỰC


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
05.10.2008


Chúng tôi viết một số kinh nghiệm và suy nghĩ về hai Lãnh vực Kinh tế thực và Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh xen kẽ ở đây để hiểu hơn thái độ của Chính quyền BUSH và Lập trường của US Congress khi bỏ phiếu lần thứ nhất từ chối Plan Bailout USD.700 tỉ.

Chính quyền BUSH có 3 nhân vật tỏ thái độ đối với cuộc Khủng hoảng Ngân Hàng/Tài chánh. Tổng Thống BUSH không thích gì Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh đã tạo ra một Kỹ nghệ Tài chánh riêng của mình để buôn bán với nhau khiến Khủng hoảng phát sinh. Oâng thiên về việc để Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh tự đào thải. Đây là thái độ để LEHMAN BROTHERS chết mà không thương tiếc. Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố và là Ngân Hàng gia chuyên nghiệp, đã cố gắng cứu vãn Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh. Oâng Ben BERNANKE, Chủ tịch Ngân Hàng Trung ương Mỹ FED, đứng về phương diện điều chỉnh Tiền tệ/ Vốn và thiên về việc trợ lực Lãnh vực Kinh tế thực thuộc các Công ty sản xuất.

Những Nghị sĩ đại diện Dân chúng trong US Congress House muốn bênh đỡ Dân chúng, nên đã từ chối lần bầu thứ nhất cho Plan Bailout USD.700 tỉ nhằm cứu Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh. Đại đa số Dân chúng đóng thuế là những người lãnh lương từ Lãnh vực Kinh tế thực. Việc khủng hoảng đến từ Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh. Tại sao phải bắt đại đa số Dân chúng đóng thuế phải góp tiền cứu vớt?

Trình bày hai Lãnh vực này và nhất là cách thế làm giầu mau chóng của Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh để độc giả hiểu những thái độ trên đây, nhất là hiểu tại sao US Congress House phải bỏ phiếu lại lần thứ hai.


Lý thuyết về sự Tách rời hay
Hội nhập giữa hai Lãnh vực

Có hai giai đoạn đưa ra những Lý thuyết cắt nhgĩa tương quan giữa đồng Tiền (tờ giấy 1'000 đồng chẳng hạn) và Đời sống Kinh tế với hàng hóa thực (tô phở chẳng hạn). Không ai nhai tờ giấy 1'000 đồng để bụng khỏi đói. Nhưng ăn tô phở thì bụng hết đói. Việc hết đói là đời sống kinh tế thực, trong khi ấy tờ giấy 1'000 đồng chỉ là phương tiện mua tô phở. Vì vậy, người ta phân biệt ra hai Lãnh vực: Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực và Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh. Hai Lãnh vực có những liên hệ như thế nào ?

=> Lý thuyết Định Lượng Tiền bạc (Théorie Quantitative de la Monnaie)

Đây là Lý thuyết đơn giản và tiên khởi cắt nghĩa tương quan giữa Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh và Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực. Lý thuyết được đưa ra đầu tiên ở Thế kỷ XVIII bởi David HUME và Richard CANTILLON. Theo hai tác giả này, thì nếu tăng gấp đôi lượng tiền cho một cộng đồng Kinh tế, thì tức khắc vật giá sẽ tăng lên gấp đôi. Nhưng phải đợi đến cuối Thế kỷ XIX và đầu Thế kỷ XX, thì Irving FISHER mới đưa ra Công thức sau đây:


  M.V
--------   =   P
    T

M : Lượng Tiền thả ra cho cộng đồng Kinh tế; V : Tốc độ lựong Tiền lưu hành; T: Những sản phẩm thực Kinh tế lưu hành trong Cộng đồng; P: Mức tổng quát giá cả.

Cứ theo Công thức của FISHER, thì nếu lượng tiền lưu hành (M.V) không thay đổi, mà Lượng hàng hóa lưu hành (T) sút kém, thì Vật giá tổng quát (P) tăng lên. Đây là Lạm phát thực. Nhưng nếu mức sản xuất và lưu hành hàng hóa giữ nguyên, mà vì lý do nào đó Lượng Tiền lưu hành tăng lên, thì Vật giá tổng quát (P) cũng tăng lên. Đây là Lạm phát về phía Tiền tệ. Việc tăng Lượng Tiền có thể do việc tung ra cộng đồng một số Tiền mới in, hoặc do việc tăng tốc độ lưu hành Tiền tệ (V). Tỉ dụ bình thường Công nhân lĩnh lương tháng. Nhưng nếu áp dụng việc trả Lương tuần (như bên Mỹ), thì tốc độ lưu hành Tiền sẽ được nhân tăng lên.

=> Lý thuyết Hội nhập Tiền tệ (Théorie de l’Intégration Monétaire)

Từ J.M.KEYNES, nhất là Milton FRIEDMAN, trường phái Chicago, thì Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh không đứng ngoài Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực như khách bàng quan. Phải có một sự Hội nhập Tiền tế, Tài chánhä vào Lãnh vực Đời sống Kinh tế để lượng tiền mới mang một giá trị mua bán.  Chu trình Hội nhập như sau:

Đồng Tiền mới in ra từ Ngân Hàng Phát Hành (Trung ương) chưa mang giá trị mua bán. Đó chỉ là một mảnh giấy không hơn không kém. Đồng Tiền ấy phải qua hệ thống sản xuất dưới dạng trả lương cho Công nhân chẳng hạn. Công nhân nhận được đồng Tiền. Đây là đồng Tiền bắt đầu có giá trị mua bán. Khi hàng hóa sản xuất thực được đưa ra Chợ, Công nhân mang đồng Tiền đến mua hàng hóa, thì có sự tương đương của đồng Tiền với Hàng hóa. Khi có sự tương đương như vậy, thì đây là đồng Tiền thực, có giá trị mua bán.

Chính đời sờng sản xuất Kinh tế thực đã mang lại cho tờ giấy Tiền lúc ban đầu có một giá trị (Pouvoir d’Achat).

Bây giờ nếu vì một lý do nào đó, Ngân Hàng Phát Hành in ra một lượng Tiền mới tinh mà không cho lượng tiền mới ấy vào Chu trình Hội nhập, thì lượng Tiền mới này củng chỉ là mớ giấy chưa có giá trị mua bán (Pouvoir d’Achat). Nếu Nhà Nước đem số Tiền mới in này thả đại vào Lượng Tiền đang lưu hành, thì đó là hành động lưu manh đánh lận con đen pha lộn Tiền thực (đã Hội nhập) và Tiền chưa có khà năng Kinh tế (chưa Hội nhập). Đây là hành động ăn ướp giá trị Tiền thực của Công nhân... Khối Tiền đã Hội nhập cộng chung với Khối Tiền chưa Hội nhập làm cho Vật giá tăng lên, nghĩa là Tiền mất giá. Đây là hành động ăn cướp Tiền tệ phải xử tử hình theo Luật Tiền tệ.

Một Nhà Nước tự động tăng lượng Tiền mới chưa Hội nhập Kinh tế là Nhà Nước đáng phải chịu tội tử hình này.

=> Từ Tiền tệ, Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh phát hành những Phương tiện thanh toán (Moyens de paiement)

Hệ thống Ngân Hàng Thương mại không phát hành Tiền công khai (Billets de  Banque) như Ngân Hàng Trung Ương, nhưng lại phát hành Tiền Tín dụng (Monnaies Scripturales) như Credit Cards, Cheques, Letter of Credit, Promissory Notes, Bank Guarantees, Standby Letter of Credit. Đây là những phương tiện mua bán giống như Tiền tệ. Khi các Ngân Hàng Thương Mại phát hành bừa bãi Tiền tệ tương lai (Virtual Money) chưa có hiện thực để tiêu dùng cho hàng hóa hiện tại như vậy, thì đó là nguồn làm tăng Khối Tiền đang lưu hành và do đó làm Lạm phát Tiền tệ. Việc phát hành này còn tệ hơn nữa khi mà những Ngân Hàng Thương mại lại thiếu phần tiền cọc tối thiểu bảo chứng.

Ngoài việc phát hành những loại Tiền Tín dụng (Monnaies Scripturales) của hệ thống Ngân Hàng, những Tập đoàn Bảo Hiểm phát hành những Bảo Hiểm Tài chánh (Financial Insurances) có thể xử dụng như Phương tiện thanh toán (Moyens de Paiement) giống như Tiền tệ.

Những phát hành trên đây trở thành những Sản phẩm Tài chánh (Produits Financiers) riêng của Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh và họ buôn bán với nhau để kiếm lời rất mau lẹ trong lãnh vực riêng của mình.

Lợi nhuận lớn và rất mau
với những Sản phẩm Tài chánh

Đả những chục năm nay, người ta nói đến những Financial Traders và đến những Lợi nhuận cao (High Yield) gần như phép lạ. Financial Traders là những người chuyên môn buôn bán (Buy/Sell) những phát hành Ngân Hàng (Bank Notes) hay những Sản phẩm Tài chánh (Produits Financiers).

Từ Mỹ sang Aâu châu, khi phải cứu Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh, các Chính quyền nhấn mạnh đến việc không cho phép những Ngân Hàng gia nhẩy dù vàng với những Bonus khổng lồ từ việc buốn bán những Sản phẩm Tài chánh. Những Ngân Hàng/ Tài chánh gia lãnh lương và Bonus hàng năm mấy chục triệu. Oâng Chủ tịch Ngân Hàng UBS Thụy sĩ lãnh lương mỗi giờ làm việc là CHF.13'500.-/h (chừng USD.13'000.- mỗi giờ làm việc), trong khi đó Ngân Hàng UBS mất USD.45 tỉ vì Mortgage Subprime Credit.

Làm thế nào  làm ra Lợi nhuận cao và mau chóng như vậy ?

Cách đây 4 năm, tôi viết một cách bình dân để cắt nghĩa về tốc độ kiếm Lợi nhuận cao của Lãnh vực buôn bán những Sản phẩm Tài chánh (Financial Products). Tôi viết bằng tiếng Anh cho một số khách hàng nước ngoài. Đây là tiếng Anh viết theo kiểu Việt Nam, xin quý Vị thông thạo tiếng Anh tha thứ.
 


HIGH YIELD WAS ALREADY A POPULAR FINANCIAL METHOD
IN POOR COUNTRIES

HIGH YIELD INVESTMENT IS NOT A NEW INVENTION OF A SELECTED GROUP OF HIGHEST BANKERS,  BUT THIS WAS A POPULAR METHOD PRACTISED IN THE CORNER OF A VEGETABLE MARKET LONG TIME AGO IN POOR COUNTRIES.

By Prof.Dr.NGUYEN PHUC LIEN, Economist
Geneva 08 February 2004


This history of High Yield Investment is real. Readers can ask for confirmation from any Vietnamese people who knew the Ben Thanh Market in Saigon. This is the history of Mr.CHA GIA (from India or Pakistan) who lends cash to poor women buying and selling vegetables in this Market.

The Banker CHA GIA (from India or Pakistan)

This Banker has small capital, for example $ 100. In Ben Thanh Market , there are very poor women who have to take care alone of her 4 children after the death of her husband in the Vietnam War. They sell soups along the roads or vegetables in the Market early in the morning. These poor women have no capital at all. The Banker Cha Gia know them very well and personally.

This Banker comes every day to a corner of the Market. In the morning, he lends $100 to a woman who sells vegetables. At noon, this woman returns $100 to him, plus $ 1.5 interest. In the afternoon, he lends the same amount $100 to other woman who sells soups along the roads. About 18h00, this woman returns to him the capital $100 plus $ 1.5 of interest .

The Banker Cha Gia realizes 2 lending operations per day. His net profit is $ 3 per day. If he works 5 days (5 banking days) per week, his profit is $ 15 per week, i.e. he takes 15% per week.
 
For a regular High Yield Investment, the Trader realizes trading operations during 40 weeks. For our Banker Cha Gia, during 40 weeks per year, his profit per year will be :

    $ 15 x 40 weeks =  $ 600.00

It means that our Banker Cha Gia can realize a Profit of  600%  per year. That is really the High Yield Investment  of our Banker Cha Gia.

If you go to Banks, for example UBS, DEUTSCH BANK, CITIBANK, BANK OF AMERICA… and you ask their Junior Bankers if they can give you a Profit 50% per year, they will declare immediately that it is impossible !!! 
But the above example of our Banker Cha Gia shows really that the realization of 600% profit is possible.

Explanation of the Possibility of High Yield

The Junior Bankers from UBS, DEUTSCH BANK, CITIBANK… declared the impossibility of realizing 50% of profit because they have habitude of thinking of interest rate per year, for example 3%,  5%, 6%... per year.  They cannot imagine that our Banker Cha Gia can realize interest rate 3% daily. Each day of our Banker Cha Gia is equivalent to one year of the Bankers in UBS, CITIBANK…When our Banker Cha Gia works during 20 days per month, the profit will be equivalent to the Bankers in UBS…who have to work during many years.

The Profit is the result of an EXPLOITATION CYCLE. Each turnover (rotation) of an exploitation cycle will give a profit or loss. An exploitation cycle can be finalized during two years, one year, one month, one week, one day or one hour.

In order to get high profit during a fixed period, we have to repeat many times the exploitation cycle, i.e. we have to reduce the time of realizing a cycle. That is the principle of SPEED ACCELERATION of exploitation cycle. A countryman cannot accelerate the cycle of season of tomato. In industry, the acceleration depends on physic condions of production. In Banks, the exploitation cycle of BUY/SELL bank instruments can be done with very short time. Each exploitation cycle, banking operation, can be finalized during one day or one hour.

In the commerce of Financial Instruments, the Trader can realize 3-5 trading Operations per day. This Speed Acceleration of Rotation (Turnover) of exploitation cycle allows the Trader to obtain very high return per day. When you ask the Trader how much he can give you the profit per week, per month, he will reply to you that it depends on how many trading operations he can realize per day.

Actually, with the rapidity of the electronic communication and with the screening the financial instruments, the Traders and Bankers can accelerate better the speed of realizing a trading operation. Consequently, the Profit becomes higher during a fixed period of Program.

Conclusion: our above  Banker Cha Gia can realize two exploitation cycles (two operations) per day and he gets  600% of profit per year. The Traders and Bankers in UBS, CITIBANK…, with their quickness of electronic communication and with the financial products ready on screen, can realize better than our Banker Cha Gia the speed acceleration of operations, and consequently a higher Profit.

Prof.Dr.NGUYEN PHUC LIEN, Economist     




US CONGRESS  VÀ PLAN BAILOUT $700 TỈ


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
01.10.2008
CẬP NHẬT/UPDATED: 04.10.2008


Chiều tối THỨ TƯ 01.10.2008 : Thượng Viện Mỹ thông qua Plan Bailout $700 tỉ

Ngày THỨ SÁU 03.10.2008: US CONGRESS HOUSE tái bỏ phiếu và chấp thuận Plan

Chiều THỨ SÁU 03.10.2008: Tổng Thống BUSH vừa ký nhận Văn Bản thành Luật

THỨ BẢY 04.10.2008: TT.Pháp SARKOZY mời họp G4 tại Paris

 

US CONGRESS TÁI BỎ PHIẾU
PLAN BAILOUT $700 TỈ
01.10.2008
 

Việc từ chối của US Congress đối với Plan Bailout USD.700 tỉ thực sự đã làm Wall Street thiệt hại ước lượng lên tới USD.1000 tỉ đo lạ Theo những nhà bình luận Âu châu, thì chính phía Dân biểu Cộng Hòa đã vì sợ Dân chúng trong cuộc bầu phiếu chọn Dân biểu vào 04.11.2008 này, nên đã không muốn ủng hộ Chương trình Cứu Vớt liên quan đến Chính quyền BUSH mà họ coi như không được đa số Dân chúng ủng hô..

Chính quyền BUSH, trước tình trạng này, vẫn không giải giáp. 
 
FED, Ngân Hàng Trung ương Mỹ
tăng cường tìm giải pháp

Tờ THE WALL STREET JOURNAL, ngày 30.09.2008 đã viết với đầu đề "FED pressed to take Steps":

"If the economy worsens, the FED could cut interest rates further, so it is too soon to say if the FED is prepared to take that step.

Before the House vote Monday, FED officials already had taken ađitional steps to ensure that financial institutions would get the cash they needed to run their operations.

The FED said  it would double the size of its so-called Term Auction Facility designed to help cash-strapped banks, to USD.300 billion. It will also expand its swap facilities with other central banks, aimed at sending dollars abroad, by USD.330 billion to USD.630 billion."


(by Maya Jackson Randall & Jon Hilsenrath)
 
Chính quyền BUSH tiếp tục
thảo luận với lưỡng đảng

Hai ứng củ viên Tổng Thống đồng một quan điểm là kêu gọi Lưỡng đảng hãy bỏ phiếu lại vì tình trạng nguy hại đang lan tràn mạnh sau việc bỏ phiếu từ chối ngày Thứ Hai 29.09.2008.

Những Lãnh tụ của hai đảng cũng vận động để US Congress bỏ phiếu lại trong ngày THỨ NĂM 03.10.2008 nàỵ

Tổng Thống BUSH nói trước Dân chúng rằng Ông hiểu sự khó khăn bỏ phiếu của Dân biểu trong ngày Thứ Hai vừa rồi và Ông hy vọng các Dân biểu xét lại để bỏ phiếu chấp thuận trong ngày Thứ Năm tớị
 
Bình luận từ Âu châu

Thủ tướng Anh BROWN tỏ ra rất tiếc cho việc từ chối của US Congress đối với Plan Bailout USD.700 tỉ. Bà Thủ tướng Đức MERKEL cũng tỏ ra thất vọng vì việc từ chối vội vàng của US Congress đối với Plan Bailout.

Các Ngân Hàng Trung ương Âu châu đang lo lắng cứu vớt 3 Ngân Hàng lớn Âu châu ở bờ phá sản. Âu châu hy vọng US Congress sẽ xét lại trong ngày Thứ Năm tới đâỵ

Ký giả đại diện Đài Truyền Hình TSR1 Thụy sĩ tại Hoa kỳ đã nhận xét như sau:

"Hy vọng US Congress sẽ chấp thuận trong ngày Thứ Năm tới vì số phiếu chênh lệch không có bao nhiêụ Theo tình hình thảo luận khá sôi nổi hiện nay, thì chính đảng Dân chủ sẽ cứu vớt Chương trình USD.700 tỉ của Chính quyền Cộng Hòa BUSH, bởi đây không còn là vấn đề Chính trị nữa mà là sự cấp bách của Tài chánh, Kinh tế".
(TSR1, tối 30.09.2008)

Tin chót sáng Thứ Tư 01.10.2008

Mở THE WALL STREET JOURNAL (Europe) sáng sớm THỨ TƯ 01.10.2008, ngay trang 1, tôi đọc thấy tin  sau đây.

Ký giả John D. McKINNON, dưới đầu đề US LAWMAKERS SCRAMBLE TO REVIVE BAILOUT THIS WEEK đã viết như sau: “American lawmakers worked to save the White House’s historic $700 billion financial-rescue package, after a stunning defeat in the US House of Representatives that initially sent stock markets around the world into a tailspin and added to concerns that the US faces a prolonged recession if the legislation isn’t revived.“ 
 

CHƯƠNG TRÌNH
US$ 7000 TỈ BỊ TỪ CHỐI
30.09.2008
 
Các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh đã ngấp ngoải  sống sót từ 
 
                                       THỨ HAI ĐEN 15.09.2008
                                   (BLACK MONDAY 15.09.2008)
   
Chính quyền BUSH cuối cùng đã bỏ ra 85 tỉ đo-la để cứu AIG (American International Group) vào phút chót cuối ngày THỨ TƯ 17.09.2008.
 
Tiếp liền sau đó, PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ được tuyên bố bời Chính quyền BUSH nhằm cứ vớt hệ thống Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh bị vi trùng Mortgage SUBPRIME Credit đục rỗng. 

Đây là cái lỗi của hệ thống Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh đã cho ra những Sản phẩm Tài chánh (Produits Financiers/ Financial Products) riêng của lãnh vực mình để buôn bán với nhau và thâu vào những Lợi nhuận không lồ và mau le.. 

Trong tuần vừa rồi, cho đến hết Chúa nhật 28.09.2008, những Lãnh tụ các nhóm Nghị sĩ đã thảo luận với Chính quyền BUSH. Thậm chí hai ứng Cử viên Tổng Thống cũng cắt ngang cuộc tranh cử để về Washington họp với Tổng thống BUSH và những Lãnh tự Nghị sĩ. 

Theo những thông tin từ các cuộc thảo luận này bởi những Lãnh tụ Nghị sĩ, thì PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ sẽ được chấp nhận. 

Ngày thứ Hai 29.09.2008, US Congress House sẽ biểu quyết. Nhưng kết quả biểu quyết là 228/208 phiếu không chấp nhận CHƯƠNG TRÌNH CỨU VỚT US$ 700 TỈ. Thứ hai này đã trở thành: 
 
                              THỨ HAI ĐEN NGHỊT 29.09.2008
                             (BLACKEST MONDAY 29.09.2008)
 
không những cho các Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh Mỹ tại Wall Street, mà còn cho nhiều Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh Âu châu và Á châu trên khắp các Thị trường Chứng khoán Thế giớị 

Tại sao có quyết định TỪ CHỐI của US Congress House, mặc dầu Lãnh tụ các nhóm của Lưỡng đảng đã thoả thuận với Chính quyền Bush ? 

=> Phải chăng Dân chúng (Dân đóng thuế) đã quá ghét giới Ngân Hàng và Tài chánh đã sống cho riêng mình trên những Lợi nhuận khổng lồ và mau chóng khó tưởng tượng nổi ? 

=> Những Dân biểu, sống liền với Dân và còn mang tâm tình ghét giận trên đây của Dân ? 

=> Dân đóng thuế và đa số Dân biểu muốn bảo đảm tối đa cho Dân để Dân đóng thuế không bị mất mát khi phải đi dùng tiền của mình cứu vớt những Ngân Hàng gia và Tài chánh gia mà họ đang ghét ? 

=> Tổng Thống BUSH cũng đã tuyên bố trong Diễn văn trước Dân chúng Mỹ tuần trước rằng Ông luôn luôn chủ trương Luật đào thải trong Tài chánh, Kinh tế, nghĩa là ai chơi với nguy hiểm (Risks) để có lợi nhuận lớn, thì phải chịu hậu quả của mình. Tuy nhiên Ông đưa ra Plan Bailout US$ 700 tỉ để cứu vớt hệ thống Tài chánh chỉ vì lo sợ cuộc Khủng hoảng Tài chánh sẽ lan sang Lãnh vực Kinh tế khiến Thất nghiệp lan tràn. ? 

Trong một bầu không khí như vậy, và trước một món tiền khổng lồ US$ 700 tỉ, US Congress House lưỡng lự và đã bầu phiếu không thuận. 

Chúng tôi viết vội hôm nay và tiếp tục theo rõi những biến chuyển và nhất là những dự án khác xem có thể cứu vớt hệ thống Ngân Hàng và Tài chánh như thế nàọ 
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế  





                              US$ 700 TỈ CỨU VỚT WALL STREET
                                       CỦA CHÍNH QUYỀN BUSH


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
25.09.2008


Ngày 18.09.2008, chúng tôi đã viết về BA NGÀY PHÁ SẢN Ở WALL STREET. Ngày cuối, Thứ TƯ 17.09.2008, chúng tôi viết với lạc quan sau khi Chính quyền Mỹ bỏ thêm ra 85 tỉ đo la để cứu AIG (American International Group). Oâng Marco ANNUNZIATA,  Trưởng Bộ phận Phân tích Tài chánh của UNICREDIT đã cho ý kiến: ’L’accélération  de la consolidation du secteur financier américain prend des allures certes dramatiques, mais nous arrivons au stade final de la crise’ (Journal LE TEMPS, Suisse, 18.09.2008, p.2) (Việc tiến hành nhập lại của lãnh vực tài chánh Mỹ thực mang những bước đi bi thảm, nhưng chúng ta đi tới chặng cuối cùng của khủng hoảng).

Nhưng nguy hiểm Khủng hoảng Tài chánh vẩn tiếp tục và người ta thấy triệu chứng lan sang Lãnh vực Phát triển Kinh tế quốc gia, tạo ra Khủng hoảng Kinh tế kiểu 1929-30, thất nghiệp...

Chính quyền BUSH, trước viễn tượng Khủng hoảng Ngân Hàng, Tài chánh lan sang Kinh tế, tạo thất nghiệp, đã tuyên bố ngày Thứ NĂM 18.09.2008 một Chương trình Cứu vớt với US$ 700 tỉ. Trước đó, Chính quyền Mỹ đã bỏ ra tổng cộng là 600 tỉ rồi, bây giờ PLAN BAILOUT thêm 700 tỉ nữa.

Con số 700 tỉ phải quyết định mau chóng vì tình hình Khủng hoảng cấp bách.  Để có thể quyết định một món tiền lớn như vậy, Quốc Hội Mỹ và Chính quyền phải làm việc đêm ngày trong những lo lắng đợi kết quả của toàn Thế giới.

Cái lỗi của các Ngân Hàng và
các Tập đoàn Tài chánh

Các nhà Kinh tế phân biệt hai lãnh vực: (i) Lãnh vực Ngân Hàng và Tài chánh liên hệ trực tiếp với quản trị Tiền bạc, vốn; (ii) Lãnh vực Kinh tế điều hành sản xuất và Thương mại. Cuộc Khủng hoảng 1929-30 bắt đầu từ Lãnh vực Kinh tế với việc sản xuất quá nhiều do xử dụng những khám phá Khoa học và hệ thống sản xuất dây chuyền lan tràn.

Người ta gọi rằng Lãnh vực Kinh tế cho ra những sản phẩm thực để tiêu thụ thỏa mãn những nhu cầu thực, trong khi đó Lãnh vực Ngân Hàng và Tài chánh cho ra những sản phẩm riêng của mình liên hệ đến Tín dụng Tiền bạc. Câu nói: người ta không nhai đồng 100 đo la để dạ dầy no, mà phải ăn bánh thịt mới no được. Những sản phẩm Kinh tế là đời sống thực.

Nhưng phía Ngân Hàng và Tài chánh đưa ra những sản phẩm tài chánh (Produits financiers) xa với đời sống thực và trao đổi buôn bán trong Lãnh vực riêng của họ để làm giầu. Việc làm giầu trong lãnh vực Tài chánh, Ngân Hàng rất nhanh chóng với lợi nhuận khổng lồ. Lợi nhuận thu vào cao và mau chóng là do tốc độ vận hành mau chóng một chu kỳ thương vụ (Vitesse accélérée de Rotation d’un Cycle d’exploitation).

Trong những năm gần đây, giới Ngân Hàng và Tài chánh đã thu vào những Lợi nhuận khổng lồ qua việc đầu cơ những sản phẩm Tài chánh. Cuộc Khủng hoảng Tài chánh lần này là do Kỹ nghệ những sản phẩm Tài chánh được thực hiện qua những tốc độ vận hành điện tử. Đồng thời Toàn cầu hóa Sản phẩm Kinh tế ra cùng Thế giới, tận những nước nghèo cũng là việc Tập trung Tiền bạc, Tài chánh vào những nước lớn. Chính Oâng GREENSPAN đã phải than lên rằng việc Tòan cầu hóa sản phẩm Kinh tế và việc Tập trung Tài chánh về những Ngân Hàng lớn đã tạo cảnh đói nghèo cho bao nhiêu triệu người tại những nước kém mở mang.

Đối với cuộc Khủng hoảng Ngân Hàng và Tài chánh này một khuynh hướng rộng lớn là công kích phía Ngân Hàng, Tài chánh với những sản phẩm riêng của họ được trao đổi để kiếm lợi nhuận cao chính trong Lãnh vực của họ. Trong cuộc Hop Khoáng Đại của Liên Hiệp Quốc vửa qua, những bài công kích phía Tài chánh đến từ phía Nam Mỹ, Phi châu và ngay cả từ Pháp (Tổng Thống Nicocals SARKOZY)

Quan sát thái độ của Chính quyền Mỹ, người ta cũng thấy quan điểm rất cứng rắn của Tổng Thống BUSH. Trong bài viết về ngày Thứ TƯ 17.09.2008, chúng tôi đã cắt nghĩa tại sao Chính quyền Mỹ để cho Ngân Hàng LEHMAN BROTHERS đã 158 tuổi mà phải phá sản. Tổng Thống BUSH ngay trong bài nói đêm 24.09.2008 hôm qua cũng vẫn nhắc lại rằng Oâng chũ trương nền Kinh tế Tự do, nên nếu Khủng hoảng Tài chánh là do cái lỗi của Ngân Hàng, thì cứ để họ chết theo luật đào thải. Không thể lấy tiền cuả dân đóng thuế để cứu vớt những Ngân Hàng đã thu nhiều lợi nhuận giầu có trong những năm trường.

Tuy vậy PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ được đưa ra chỉ vì sợ rằng cuộc Khủng hoảng Tài chánh này đang có triệu chứng lan sang Lãnh vực Kinh tế, tạo những thất nghiệp, thiệt hại cho những quỹ bảo đảm tuổi già. 

Phản ứng Chứng khoán
đối với PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ

Sau khi tuyên bố ngày Thứ NĂM 18.09.2008, các giá chứng khoán ngày thứ SÁU 19.09.2008 khắp nơi tăng lên. Tuy nhiên việc tăng này chỉ cầm chừng vì những công kích từ Hội Nghị Khóang Đại của Liên Hiệp Quốc.

Giới đầu tư còn có sự sợ hãi không hiểu Chương trình 700 tỉ đo la có được Quốc Hội Mỹ chấp nhận hay không. Đồng thời vì Chương trình được đề nghị cấp bách, nên Chính quyền BUSH cũng chưa kịp đưa ra những chi tiết, đồng những nhà đầu tư cũng phải có thời gian tìm hiểu hướng Cứu Vớt như thế nào.

Cuối tuần qua đi, Thứ HAI 22.09.2008, các giá chứng khoán lại thụt xuống và những nhà đầu tư chờ đợi phản ứng của phía Nghị sĩ Quốc Hội.

Phản ứng của Nghị sĩ
đối với PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ

Oâng Ben BERNANKE, Chủ tịch FED, và Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, phải điều trần trước đại điện các Khối trong Quốc Hội. Oâng Ben BERNANKE nhấn mạnh đến vấn đề thiếu vốn của Thị trường có thể đưa đến đình trệ Kinh tế. Oâng trình bầy đây không phải là việc cho vay để cứu các Ngân Hàng, mà là việc mua những sản phẩm yếu kém của phía Tài chánh.

Các Nghị sĩ, cả phía Dân chủ và Cộng hòa đưa ra những chất vấn sau đây:

=> Không thể để một Chi phiếu trắng (Cheque blanc) trong tay một Ngân Hàng gia chuyên nghiệp như Oâng Henry PAULSON Jr. mà chưa biết những chương trình cụ thể;
=> Các Nghị sĩ nhất thiết yêu cầu rằng Plan Bailout US$ 700 không thể để những mất mát mà dân chúng đóng thuế phải chịu đựng.
=> Cần phải có những Luật vững chắc bảo đảm cho việc xử dụng US$ 700 tỉ và phải có những điều kiện kiểm soát những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh.

Việc trao đổi làm việc giữa Chính quyền BUSH và các Nghị sĩ tiếp tục. Với việc trao đổi nghi ngại hai bên như vậy, giới đầu tư chưa thể quyết định, nên giá chứng khoán cầm chừng.

Ngày Thứ BA 23.09.2008, người ta vẫn chưa biết PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ có được chấp thuận hay không.

Ngày Thứ TƯ 24.09.2008, người ta ghi nhận một số triệu chứng có tính cách tích cực theo hướng cổ võ cho Chương trình Cứu Vớt 700 tỉ:

=> Nhà Tỉ phú BUFFETT bỏ ra đầu tư cho GOLDMAN SACHS một lượng vốn lớn 5 tỉ đo la. Đây là điểm lạc quan cho Thị trường
=> Vốn của một số Ngân Hàng lớn của Nhật nhằm đầu tư vào các Ngân Hàng Mỹ
=> Khối vốn A-Rập từ Dubai không trực tiếp vào thẳng Mỹ, nhưng qua ngả Anh (BARCLAYS) nhằm mua những Ngân Hàng Mỹ.

Đây là khía cạnh tích cực cho Thị trường Wall Street. Đứng về phương diện này, các Nghị sĩ có thể nghĩ rằng phải tìm các ngăn chặn việc xâm chiếm những Ngân Hàng Mỹ bằng vốn nước ngoài, nhất là vốn từ Trung đông.

Thượng  Nghị sĩ McCAIN cắt ngang cuộc Tranh cử Tổng thống để trờ về Washington vì Plan Bailout US$ 700 Ti. Chính Tổng thống BUSH cũng mời Oâng OBAMA cùng về Washington để thảo luận về Chương trình 700 tỉ. Từ London, Thủ tướng Anh cũng sang Washington vì Plan Bailout 700 tỉ đo la này.

Đêm Thứ TƯ 24.09.2008, Tổng thống BUSH ngỏ lời với Quốc Dân Hoa kỳ về tầm quan trọng của PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ. Tổng thống nhấn mạnh đến những điểm sau đây:
=> Oâng khẳng định lại rằng chính Oâng luôn luôn chủ trương nền Kinh tế Tự do. Các Ngân Hàng sống chết theo luật đào thải. 
=> Tuy nhiên Oâng bầy tỏ sự lo lắng cuộc Khủng hoảng này lan sang Khung hoảng Kinh tế với những nguy hiểm, tình trạng thất nghiệp xẩy ra. Đó là lý do chính để phải đưa ra Chương trình Cứu Vớt 700 tỉ do-la.

Cũng trong ngày hôm nay, Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố cũng cắt nghĩa thêm cho sáng tỏ về tính cách Thương mại của 700 tỉ đo-la:

=> Mua lại những sản phẩm tài chánh xấu đang ở giá thấp hiện hành

=> Mua với giá cao hơn gia hiện hành một chút. Như vậy làm cho giá thị trường theo chiều hướng tăng lên

=> Khi tăng lên rồi, có thể bán, như vây thu lại tiền mà không thiệt hại gì cho dân chúng đóng thuế.

Tình hình chiều nay hồi 18H00 (Giờ Thụy sĩ)
Thứ NĂM 25.09.2008

Khi viết đến đây, tôi thấy trên Đài CNN thông tin với hình của một số Nghị sĩ:

=> Nghị sĩ Chris DODD, Dân chủ: ủng hộ Chương trình
=> Nghị sĩ Robert BENNET, Cộng Hòa: ủng hộ Chương trình
=> Dân Biểu Barney FRANK, Dân chủ: ủng hộ Chương trình

Tin của Truyền Hình Thụy sĩ TSR1 loan như sau:

06:16 25.09.2008:
Plan Paulson: démocrates et républicains se sont mis d'accord
Les démocrates et les républicains du Congrès américain sont d'accord sur les bases du plan de sauvetage financier présenté par l'administration Bush, a déclaré l'un des responsables démocrates. Ce dossier porte sur 700 milliards de dollars.

06:16 giờ/ 25.09.2008
(Chương trình Paulson: dân chủ và cộng hòa cùng nhau đồng ý
Một trong những người Trách nhiệm của phía Dân chủ tuyên bố rằng phía Dân chủ và phía Cộng hòa của Quốc Hội Mỹ đồng ý trên những căn bản của Chương trình cứu vớt tài chánh đề nghị bởi Chính quyền Bush. Hồ sơ này gồm 700 tỉ đo la.)

Chúng tôi vừa vào Đài Truyền Hình CNBC và nhận thấy những Chĩ sớ quan trong của Wall Street mang màu xanh mũi tên đang lên.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 



                                               WALL STREET:
                                 BA NGÀY PHÁ SẢN NGÂN HÀNG


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
18.09.2008


Chúng tôi quan tâm theo rõi cuộc Khủng hoảng Tài chánh tại Hoa kỳ và tầm ảnh hưởng của nó qua Aâu châu và Á đông.  Khi mà Thị trường Tài chánh Thế giới giao động như vậy, thì ảnh hưởng của nó tất nhiên không thể tránh được ở Việt Nam, nơi mà hệ thống Ngân Hàng và việc phát triển Kinh tế đang bị vi trùng Tham nhũng Lãng phí hoành hành do sự cấu kết giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế trong tay một nhóm người. Việt Nam thiếu vốn nội địa, nghĩa là lệ thuộc vào vốn nước ngoài. Phát triển Kinh tế Việt Nam cũng lệ thuộc Thị trường ngoại quốc. Khi mà có khủng hoảng Tài chánh Thế giới, thì tầm ảnh hưởng chắc chắn sẽ phải xẩy ra ở Việt Nam. Tầm ảnh hưởng ấy trở thành tai hại hơn nữa khi chính vấn đề vốn và kinh tế của mình đang trong cơn bệnh hoạn như ngày nay. Đó là mục đích tìm hiểu quan trọng khi chúng tôi theo rõi những biến chuyển Khủng hoảng của Thị trường Tài chánh hoàn cầu.

Bài này ghi lại những biến động chung quanh Wall Street từ THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 cho đến hết ngày THỨ TƯ 17.09.2008. Tất nhiên tại New York, trong những tuần trước và liền sát với THỨ HAI ĐEN, những cuộc Hội Họp liên tục giữa các Thủ lãnh Ngân Hàng và Tài chánh, rồi với Đại diện Ngân khố Nhà nước diễn ra. Xin độc giả đọc thêm những bài về Tín dụng Subprime Địa ốc (Mortgage Subprime Credit) mà chúng tôi đã viết từ năm ngoái và đầu năm nay đăng lại trong số báo này. Chính Tín dụng Subprime (Toxic) Địa ốc này là nguyên nhân gây mất mát của những Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh, rồi tạo biến động tất nhiên ở Wall Street và các Thị trường chứng khoán trên khắp Thế giới. 


THỨ TƯ 17.09.2008:
ĐỂ LEHMAN BROTHERS CHẾT
NHƯNG CỨU AIG
(AMERICAN INTERNATIONAL GROUP)

Trước quan điểm được tuyên bố bởi Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, trong những ngày trước về quan điểm cứng rắn của Nhà Nước Liên Bang Mỹ về số phận những Ngân Hàng, và việc nhất định từ chối hỗ trợ của FED để BARCLAYS có thể mua LEHMAN BROTHERS, khắp Thế giới chờ mong tin về số phận của Tập đoàn Bảo Hiểm khổng lồ AIG (American International Group). Cả Thế giới trông tin vì lãnh vực hoạt động của AIG bao trùm rộng lớn mọi nơi.

Quan điểm của Nhà Nước Liên Bang Mỹ về
các Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh

Từ năm ngoái đến giờ, những thua lỗ và những biến động xẩy ra ở nơi những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh và tại những Thị trường Chứng khoán. Người ta cũng quan sát thấy rằng những Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh thua lỗ nhiều và có thể đi đến phá sản là vì họ đã nhúng tay vào lãnh vực Tín dụng Subprime Địa ốc với tất cả những cái rủi ro (Risks) của Business. Trong những năm trường, những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh này đã thu vào những lợi nhuận rất cao. Thực vậy muốn ăn lớn thì phải có rủi ro. Họ đã vào hang cọp để bắt cọp con.

Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, đã từng điều hành Ngân Hàng GOLMAN SACHS, nên hiểu rõ những cái nguy hiểm (risks) thuộc lãnh vực này. Quan điểm của Nhà Nước Liên Bang Mỷ, qua lời khẳng định của Henry PAULSON là khi đã quyết định chơi với nguy hiểm để có lợi nhuận cao, thì phải chịu cái hậu quả của nguy hiểm, dù đó là phá sản. Nói đơn giản: được ăn thua chịu.

Về phương diện phát triển Kinh tế quốc gia, người ta thấy lãnh vực Sản xuất, Thương Mại, Việc làm cho Nhân lực,  ít có những xáo trộn xong hành với lãnh vực Tài chánh. Nền Kinh tế có chút đình trệ, nhưng không có những biến động coi là Khủng hoảng như những năm 1929-30.

Có thể nói rằng  thái độ của Nhà Nước Liên Bang là:
=> Nhà Nước để cho phía các Tổ chức Ngân Hàng, Tài chánh chơi với nguy hiểm, tự đào thải
=> Nhà Nước canh chừng và bảo vệ nền Kinh tế phát triển đều đặn, tránh những biến động mạnh. 
=> Không thể lấy tiền của Dân đóng thuế để cứu những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh tư nhân chơi với rủi ro để kiếm lợi nhuận cao bỏ túi riêng. Khi họ có lợi nhuận cao, họ có chia cho Dân đâu. Vậy khi họ gặp phá sản, tại sao lấy tiền của Dân ra cứu họ. 

Ngân Hàng LEHMAN BROTHERS với 158 tuổi đã bị để cho chết trong quan điểm trên của Nhà Nước.

Nhà Nước Liên Bang vào phút chót cứu
AIG (American International Group) với 85 tỉ

AIG là một Tổ chức Bảo Hiểm có tầm hoạt động rộng lớn khắp Thế giới. AIG xử dụng 116'000 nhân viên và có 74 triệu khách hàng bảo hiểm trên 130 quốc gia. Nhửng khách hàng ấy không phải hẳn là những cá nhân nhưng là những Tập thề, Ngân Hàng hay Quốc gia. Với trị giá tài sản 180 tỉ đo-la, AIG là một trong 5 Tập đoàn Kinh tế tư nhân lớn nhất của Hoa kỳ. Lãnh vực hoạt động của AIG liên hệ đến hệ thống Tài chánh Thế giới và nhất là về những bảo hiểm nhân mạng, cuộc sống và tuổi già của nhiều triêu dân chúng. AIG còn bào hiểm rộng lớn cho những Quốc gia về những Obligations. Tuy nhiên lãnh vực rủi ro của AIG là đã đụng chạm đến Tín dụng Subprime địa ốc. Mộ lảnh vực nữa là đã đưa ra sàn phẩm CDS-CREDIT DEFAULT SWAP, một Hợp đồng Bảo Đảm Rủi ro cho Tín dụng. Số lượng Bảo Đảm này năm 2004 là 6’396 tỉ đo-la và cuối năm 2007 lên vọt tới số lượng 57'894 tỉ đo-la.

Trong suốt những ngày vửa rồi, chính Oâng Henry PAULSON đã hết lòng dàn xếp với giới Ngân Hàng tư nhân, ngay cả thúc đẩy những Ngân Hàng Trung ương Aâu châu trợ lực để cứu AIG.

Cuới cùng Tổng thống Bush, Chủ tịch Ngân Hàng Trung ương Hoa kỳ (FED) và Bộ trưởng Ngân khố Mỹ phài quyết định bỏ ra 85 tỉ đo la để cứu AIG vì nếu AIG phá sản thì hậu quả bao trùm Thế giới.

Nhà Nước Liên Bang Mỹ, sau khi cứu AIG, còn phải cứu ai nữa không khi mà quan điểm của Nhà Nước quyết theo như chủ trương vừa trình bầy ở đoạn trên ? Oâng Marco ANNUNZIATA,  Trưởng Bộ phận Phân tích Tài chánh của UNICREDIT đã cho ý kiến:’L’accélération  de la consolidation du secteur financier américain prend des allures certes dramatiques, mais nous arrivons au stade final de la crise’ (Journal LE TEMPS, Suisse, 18.09.2008, p.2) (Việc tiến hành nhập lại của lãnh vực tài chánh Mỹ thực mang những bước đi bi thảm, nhưng chúng ta đi tới chặng cuối cùng của khủng hoảng).

Một số người có khuynh hướng Xã Hội Chủ Nghỉa, qua việc Nhà Nước Liên Bang cứu  FANNIE MAE, FREDDIE MAC, BEAR STEARNS và AIG, đã vội miệng công kích rằng đó là một việc can thiệp của Chính trị Nhà Nước vào lãnh vực Kinh tế tư nhân trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

Xin nhớ rằng đây là việc tư nhân yêu cầu Nhà Nước cứu giúp mình khi hoạn nạn, chứ không phải Nhà Nước tìm đến để can thiệp xen lấn. Cũng nói ngay rằng Nhà Nước Liên Bang Mỹ là một Nhà Nước Dân chủ chứ không phải là Nhà Nước độc tài.

Một Bình luận gia trên Đài Truyền hình TSR1, ngày 14.09.2008 đã nói một câu có ý khen ngợi tính cách rộng lượng của Nhà Nước Mỹ trong việc trợ lực này: “Quand il y a des Profits, on désire de les privatiser; mais quand il y a des Pertes, on souhaite de les nationaliser“. (Khi có nhiều Lợi nhuận, thì người ta muốn tư nhân hóa; nhưng khi có những Mất mát, thì người ta mong mỏi quốc hữu hóa).


Tình trạng mất mát của các Ngân Hàng
vì vào lãnh vực rủi ro Tín dụng Subprime Địa ốc

Có những Ngân Hàng, Tập đoàn Tài chánh không muốn công bố vì muốn giữ thế giá hoặc chỉ mất chừng mấy trăm triệu hay bên dưới 4 hay 5 tỉ đo la. Tính cho đến hôm nay, việc mất mát vì Mortgage Subprime (Toxic) Credit được một số Ngân Hàng tuyên bố như sau:

* CITIGROUP (Mỹ)  : mất 55.1 tỉ đo la
* MERRILL LYNCH (Mỹ)  : mất 52.2 tỉ đo la
* UBS (Thụy sĩ)  : mất 44.2 tỉ đo la
* HSBC (Anh)  : mất 27.4 tỉ đo la
* WACHOVIA (Mỹ)  : mất 22.7 tỉ đo la
* BANK OF AMERICA (Mỹ)  : mất 21.2 tỉ đo la
* WASHINGTON MUTUAL (Mỹ) : mất 14.8 tỉ đo la
* MORGAN STANLEY (Mỹ)  : mất 14.4 tỉ đo la
* IKB (Đức)  : mất 14.4 tỉ đo la
* JP MORGAN CHASE (Mỹ)   : mất 14.3 tỉ đo la

(Theo nguồn của BLOOMBERG)

 


THỨ BA 16.09.2008
KHỦNG HOẢNG CREDIT CARDS ?
(CREDIT CARDS CRISIS?)

Thiết lập Quỹ Chống Phá Sản
(Anti-Bankruptcy Funds/ Fonds Anti-Faillite)

Đây là một ý tưởng theo mẫu của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF/ FMI) được thiết lập năm 1944. Thời kỳ này, Tiền tệ của các nước còn trong hệ thống bảo chứng bằng Vàng (Regime Etalon-Or). Nhưng Thế Chiến Thứ Hai đã làm cho các nước Aâu châu mất hết Vàng, vì thế Tiền Aâu châu đã mất hết giá vì không còn bảo chứng. Hoa kỳ đã triệu tập Hội Nghị Thế Giới về Tiền tệ tại Bretton-Woods năm 1944 để quyết định việc bảo chứng bằng đồng Dollar vì chỉ có Hoa kỳ mới còn Vàng. Tiền tệ chuyển sang hệ thống bảo chứng bằng đồng tiền mạnh Dollar (Regime Etalon-Devise-Or/ Regime Etalon-Dollar-Or).
Hội Nghị cũng quyết định thành lập Quỹ Tiền Tệ Quốc tế với mục đích hỗ trợ những nước thành viên có biến động yếu kém đi về Tiền tệ.

Cũng theo mẫu và mục đích tiên khời của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế, ngày Chúa Nhật 14.09.2009, mười Ngân Hàng lớn Hoa kỳ và ngoại quốc đã quyết định thành lập QUỸ CHỐNG PHÁ SẢN (Anti-Bankruptcy Funds/ Fonds Anti-Faillite) mà mục đích là để hỗ trợ giữa các Ngân Hàng thành viên khi đứng bên bờ phá sản. 10 Ngân Hàng lớn đó là: BANK OF AMERICA (Mỹ), BARCLAYS (Anh), CITIGROUP (Mỹ), CREDIT SUISSE (Thụy sĩ),  DEUTSCHE BANK (Đức), GOLDMAN SACHS (Mỹ), JP MORGAN CHASE (Mỹ), MERRYLL LYNCH (Mỹ), MORGAN STANLEY (Mỹ) và UBS (Thụy sĩ). Mỗi Ngân Hàng đóng vào Quỹ đó 7 tỉ đo-la.

Có lẽ cũng nhờ Quỹ này mà Bank Of America mua lại Merrill Lynch vì cùng là thành viên.


Vấn đề AIG (American International Group)
Vẫn còn sôi bỏng

AIG là Tập đoàn Bảo Hiểm lớn nhất của Mỹ. Những mất mát lớn mới đây của Tam cá nguyệt 2 của Tập đoàn được ghi nhận như sau:

* Bảo Hiểm Tổng Quát (General Insurance) : mất 827 triệu đo-l
* Bảo Hiểm Sinh mạng và Dịch vụ Hưu trí (Life Insurance & Retirement Services): mất 2.4 tỉ đo-la.
* Quản trị Tài sản (Asset Management): mất 314 triệu đo-la
* Những Dịch vụ Tài chánh (Financial Services): mất 5.9 tỉ đo-la

Với những mất mát mới đây, AIG ở trong tình trạng giao động gay gắt. Trị giá của AIG tại Thị trường Chứng khoán Wall Street tụt dốc: 60% mất giá trong ngày thứ HAI và 19% thêm nữa trong ngày thứ BA. Việc phá sản của AIG không những làm giao động mạnh hệ thống Tài chánh của Hoa kỳ, mà còn cả cho Aâu châu và Á châu nữa. Phải cứu AIG bằng mọi giá.

Mạc dầu đã được hứa 50 tỉ đo-la hỗ trợ từ FED, nhưng AIG cần tới con số tối thiểu 70 tỉ đo-la. FED đã kêu gọi những Ngân Hàng còn mạnh như Goldman Sachs, JP Morgan Chase hỗ trợ. Đồng thời FED cũng kêu gọi sự tiếp sức từ những Ngân Hàng Trung ương của Aâu châu. Thống đốc Tiểu bang New York cũng cho biết có thể hỗ trợ 20 tỉ đo-la. Oâng Hank GREENBERG, cựu Chủ tịch AIG, trong một Thư đăng trong Financial Times, cũng nhấn mạnh rằng nếu hệ thống Ngân Hàng tư nhân không đủ cứu AIG, thì nhất thiết FED phải tăng cường thêm.

Quan điểm của FED trong
cơn Khủng hoảng Tài chánh

Quan điểm của FED, qua những tuyên bố của Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố, và của Oâng Tim GEITHNER, Chủ tịch của FED New York, trong những cuộc Hội họp cứu nguy các Tập đoàn Tài chánh, gồm những điểm sau đây:

=> Đây là việc Khủng hoảng về Tài chánh liên hệ thiết yếu đến những Tập đoàn quá đi sâu vào những Nghiệp vụ Thương mại, nhất là vào lãnh vực Tín dụng Subprime Địa ốc. Vì vậy, nếu có một số Tập đoàn phải chết đi, thì đó cũng là việc họ đã chấp nhận trước đây những rủi ro (Risks). Do đó không thể bắt quỹ đóng góp của những người trả thuế đến cứu vớt những rùi ro nghề nghiệp của tư nhân.
=>  Việc khủng hoảng Tài chánh này chưa mang đến hậu quả là Khủng hoảng Kinh tế Hoa kỳ. Cái lỡi phá sản là hoạt động thương mại của các Ngân Hàng ở Thị trường Tài chánh. Việc chết đi của một số Ngân Hàng có thể làm sạch sẽ hơn Thị trường Tài chánh.
=> Chính vì vậy mà FED nhất định giữ Lãi suất 2%. Việc thay đổi Lãi suất có thể gây thiệt hại cho những Tập đoàn sản xuất Kinh tế.

Từ Khủng hoảng Tín dụng Subprime Địa ốc
Đến Khủng hoảng Tín dụng Tiêu dùng
(Credit Cards Crisis)

Giới Tài chánh không muốn dùng chữ Subprime Credit nữa mà gọi thẳng là Toxic Credit (Tín dụng nhiễm độc). Người ta đang lo ngại từ Khủng hoảng Tín dụng Toxic Địa ốc, có thể các Ngân Hàng sẽ phải chịu một cơn lốc thứ hai là Thẻ Tín dụng Tiêu dùng (Credit Cards Crisis).

Thục vậy, người ta dễ lạm dụng Thẻ Credit để Tiêu dùng trở thành một món nợ không thể hoàn lại. Tại Hoa kỳ, chỉ cần mang theo người Credit Card và Drive License là đủ mua bán mọi nơi. Việc mua bán qua Internet cũng xử dụng Credit Cards và lan rộng ngoài phạm vi Hoa kỳ.

Giới quan tâm đến cuộc Khủng hoảng Credit Cards đã ước tính Toxic Credit cho Thẻ Tiêu dùng có thể lên tới con số rất lớn. Mỗi Gia đình tại Mỹ trung bình xử dụng tới 6 Credit Cards. Mỗi Credit Card mang nợ trung bình là 10'000 đo-la.  Giới Ngân Hàng tính tổng cộng tại Hoa kỳ số tiền Toxic Credits cho những Cards này lên tới 1'000 tỉ đo-la.

Ý kiến riêng: Tốt hơn hết là khi mấy Oâng ra ngoài buổi tối, nên để Credit Cards ở nhà cho các bà xã giữ. Chỉ lên bỏ vào túi tiền mặt chừng 20 đo-la. Uống bia hết tiền mặt thì về nhà. Còn nếu có sẵn Credit Cards trong túi, thì khi hơi men bốc lên rồi, mà ngồi cạnh nữ giới với ánh đèn mầu, thì dễ dàng mang Credit Cards ra trả cho lên mặt anh hùng !.



THỨ HAI ĐEN 15.09.2008:
BIẾN ĐỘNG TÀI CHÁNH TẠI WALL STREET

THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 cho Wall Street. Mà Wall Street giao động, thì tầm ảnh hưởng lan rộng ra Thế Giới. Hệ thống Ngân Hàng và Tài chánh Thế giới bị bệnh. Những Ngân Hàng mất tiền, thậm chí phá sản. Cái nguyên do của tình trạng bệnh tật này là Khủng hoảng Tín dụng Địa ốc của Hoa kỳ (Mortgage Subprime Credit Crisis)

Ngày 13.12.2007, chúng tôi đã viết về Tín dụng Subprime Địa ốc là gì nhân việc Ngân Hàng UBS của Thụy sĩ tuyên bố mất 11 tỉ đo la. Ngày 24.01.2008, chúng tôi đã viết về Khủng hoảng Thị trường Chứng khoán từ Mỹ, Aâu, Á cũng do nguyên nhân Tín dụng Subprime Địa ốc.

Chúng tôi đăng lại hai bài này để hiểu cái nguyên nhân Tín dụng Subprime Địa ốc là gì nhân THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 hôm qua.

Từ tuần trước, Ngân Hàng Trung ương Hoa kỳ FED đã đứng ra trách nhiệm cứu và kiểm soát hai Đại Tập đoàn Tài chánh Địa ốc của Mỹ FANNIE MAE và FREDDIE MAC với 200 tỉ đo la. FED cũng cứu AIG, American International Group, một Tập đoàn Bào Hiểm lớn nhất của Mỹ, với 50 tỉ đo-la. FED cũng trợ lực 30 tỉ đo la để JP MORGAN CHASE mua BEAR STEARNS vào tháng 3 vừa rồi. Nhắc lại rằng JP MORGAN CHASE là sự nhập lại của JP MORGAN và CHASE MANHATTAN vào cuối năm 2000.

Lần này đến lượt MERRILL LYNCH và LEHMAN BROTHERS. Suốt cuối tuần vừa rồi, Những Đại diện Ngân Hàng lớn họp liên hồi để cứu hai Tập đoàn này. Đây là hai Tập đoàn đầu tư nhiều trong lãnh vực Subprime Địa ốc Hoa kỳ. Đối với hai Tập đoàn này, FED không muốn cứu nữa. Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố, và Oâng Tim GEITHNER, Chủ tịch của FED New York, cũng đến họp về trường hợp của Merrill Lynch và Lehman Brothers. Nhưng hai Oâng yêu cầu phải tìm giải pháp Kỹ nghệ chứ FED không thể xử dụng tiền Dân đóng thuế để cứu hai Tập đoàn tư nhân này.

BANK OF AMERICA quyết định mua MERRILL LYNCH. Nhưng còn LEHMAN BROTHERS ? Một số Ngân Hàng như BARCLAY’S, BANK OF AMERICA cũng có ý định xét mua LEHMAN BROTHERS, nhưng muốn FED trợ lực chịu những nguy hiểm. Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, nhất quyết từ chối.

Thứ Hai 15.09.2008, LEHMAN BROTHERS tuyên bố phá sản. Wall Street giao động, nhất là giá các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh. Tập đoàn LEHMAN BROTHERS được thành lập từ năm 1850 và được 158 tuổi. Số nhân viên làm việc lên tới 15'000 người.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




                                THẾ CHẤP ĐỊA ỐC NGUY HIỂM


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
13.12.2007
(UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html


Chúng tôi đã viết 5 bài trong 12 bài chủ để này. Những bài đã viết quy tụ vào việc phân tích cuộc Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh năm 1997 tại Á đông và việc lấy lại đà phát triển trong những điều kiện còn bấp bênh như thế nào.

Chính lẽ tuần này, chúng tôi viết bài thứ sáu phân tích những nền kinh tế của những nước bắt đầu phát triển cao như Nam Phi, Nga, Trung Cộng và nhất là Việt Nam. Những bài tiếp theo này dựa một phần vào những nhận định của hai bài đăng trên Nhật Báo LE MONDE số 19523/ 31.10.2007: L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển) và LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh vì vật giá tăng), trong đó Trung quốc và Việt Nam được nhắc ra rõ rệt.

Nhưng vì đầu tuần này, ngày 10.12.2007, Đài Truyền Hình Thụy sĩ loan một tin rất quan trọng về Tài chánh mang tính cách khủng hoảng. Đó là Ngân Hàng UBS đã tuyên bố thua lỗ 11 tỉ Đo-la vì đầu tư vào những Tín dụng Thế chấp nhiều may rủi của Hoa kỳ (sub-prime) vào lãnh vực Địa ốc, nên chúng tôi viết đặc biệt về phương diện này như một PHỤ BẢN 1. Thực ra sự giao động trong lãnh vực Tài chánh về phương diện này đã bắt đầu vào tháng 8/2007 và còn ảnh hưởng tới ngày nay. Chúng tôi viết như một PHỤ BẢN bởi vì trong suốt 5 bài về Khủng Hoảng 1997, Bà Francoise NICOLAS luôn luôn nhắc đến Tín dụng nghi ngờ (créances douteuses) cho Địa ốc như là một trong lý do chính cho cuộc Khủng hoảng năm 1997. Cũng vậy, trong những bài kế tiếp về những quốc gia bắt đầu phát triển cao hiện nay, vấn đề Tín dụng dài hạn cho Địa ốc bằng phát hành những phương tiện đầu tư tương lai (création des moyens de financement virtuel) mang những mầm mống Khủng hoảng trước việc không chắc chắn của phát triển Kinh tế (Incertitude de la croissance économique future).

Vì vậy, bài PHỤ BẢN này mang tính cách quan trọng trong việc cắt nghĩa Khủng hoảng 1997 và những Khủng hoảng có thể xẩy ra trong tương lai.

Chúng tôi bàn đến những điểm sau đây về lãnh vực này:

=> Một vài tỉ dụ dẫn nhập  
=> Giao động về Tín dụ nguy hiểm thế chấp Địa ốc (sub-prime) như thế nào
=> Khủng hoảng 1997 và đe dọa hiện nay ở những nước bắt đầu phát triển

Một vài tỉ dụ dẫn nhập

Tôi xin kể ra hai tỉ dụ mà chính tôi được chứng kiến. Tỉ dụ thứ nhất là việc mua nhà của một người bạn. Một bạn cùng học tại Đại học Thụy sĩ mà tôi biết rất rành. Anh sống đời sinh viên chật vật. Khi học xong, anh xin được việc làm trong một Ngân Hàng tại Thụy sĩ với mức độ lương khá cao. Làm được một năm, anh quyết định mua nhà bằng lấy tín dụng của Ngân Hàng dựa trên khả năng trả tiền hàng tháng của đồng lương cao. Tất nhiên ngôi nhà là thế chấp, nghĩa là Ngân Hàng có thể thu ngôi nhà, nếu không trả được nợ đã vay. Được một vài năm, vì một lý do nào đó, có thể là Ngân Hàng mà anh đang làm bị thua lỗ, nên phải thải nhân viên, anh đã mất việc làm. Kiếm lại được việc làm với đồng lương cao không phải là dễ dàng trong lúc mà nền Kinh tế chung bị giao động. Tin tưởng vào đồng lương tương lai cao sẽ kèo dài trong suốt thời gian phải hoàn vốn, nhưng lúc này anh thất nghiệp, làm thế nào hoàn vốn mỗi tháng hay mỗi tam cá nguyệt. Nếu anh đã có lương từ lâu và đã tiết kiệm được một số tiền, thì lúc này có thể dùng tiền đã tiết kiệm mà hoàn vốn. Nhưng anh mới làm việc được một năm, nên tiền tiết kiệm không có bao nhiêu. Tất nhiên theo Hợp đồng Tín dụng thế chấp Địa ốc, Ngân Hàng đã thu lại nhà để bán, trừ vào tiền nợ. Anh và cả gia đình đã bị đuổi khỏi nhà và đi xin trợ cấp xã hội.

Tỉ dụ thứ hai mang tính cách hồ hởi thương mại mà tôi được biết. Có một bà Việt Nam mở Tiệm phở bình dân xậm xụi tại Quartier Latin tại Paris. Tiệm phở xậm xụi, nhưng sinh viên đến ăn đông nghẹt. Đông khách, thu tiền nhiều, bà trở thành giầu có. Bà mua căn nhà bên cạnh, mở thành Tiệm phở lớn, trang hoàng rất khang trang đẹp đẽ. Chính bà cũng xí xọn môi son má phấn cho đẹp bà xồn xồn. Bà chỉ muốn ngồi két thu tiền và mướn người nấu phở, chạy bàn, rửa tô chén. Nhưng không hiểu tại sao, số người đến ăn phở lại giảm hẳn xuống, trong khi ấy bà phải trả nợ sang căn nhà, trả tiền lương thuê mướn người làm. Những tiền tiết kiệm trước đây đổ vào tín dụng sang căn nhà. Tiệm phải đóng cửa để rồi sang lại cho người khác với giá thua lỗ. Một vài sinh viên cho ý kiến: trước đây đến quán xậm xụi của bà để ăn vì thấy bà chảy mồ hôi nhễ nhãi, tay bốc bánh phở, tay bốc thịt và rau cỏ. Nay thấy bà son phấn, tiệm khang trang, thì tự nhiên lại ít ham tới ăn.  Tất nhiên khi bà lấy tín dụng đầu tư vào căn nhà mới khang trang là bà dựa trên số thu từ sự ước tính đông khách hàng trong tương lai đến ăn phở. Nhưng bà đã không dự tính được những yếu tố tương lai có thể làm cho khách hàng không tới đông để bà có số thu như ước tính. Tương lai có những cái may rủi (risques).

Giao động về Tín dụ nguy hiểm
thế chấp Địa ốc (sub-prime) như thế nào 

Vào tuần lễ đầu tháng 08.2007, các Thị trường Chứng khoán bắt đầu từ Mỹ rồi Âu châu có những giao động về những Giá trị chứng khoán thế chấp Địa ốc. Việc giao động này lan sang Lãi suất Tiền tệ. Xin lưu ý rằng Lãi xuất là cái giá của Vốn liên hệ đến luật Cung và Cầu. Khi giao động Lãi suất, thì Kinh tế bị ảnh hưởng. Ngân Hàng Trung ương của mỗi nước có nhiệm vụ phải canh cừng sự tăng giảm của Lãi suất chỉ đạo được coi như việc can thiệp vào tiến triển đều đặn của một nền Kinh tế Tự do và Thị trường tôn trọng Cung và Cầu.

Cái nguồn xẩy ra từ Mỹ thuộc về lãnh vực Địa ốc. Đây và việc cho Tín dụng thế chấp địa ốx xây cất dài hạn. Có những việc cho Tín dụng mà không xét kỹ khả năng hoàn trả. Từ đó người ta gọi credit sub-prime. Những nhà đầu tư hay những bộ phận đầu tư của Ngân Hàng thường không trực tiếp với khách hàng. Những Tổ chức về Tín dụng Thế chấp trực tiếp với khách hàng mua, xây cất nhà. Những Tổ chức này nhận những Hợp đồng nợ, nhưng khi có nhiều quá vượt tầm vốn của họ thì họ phải chạy tìm vốn tại những Ngân Hàng. Họ mang trình nộp những Hợp đồng nhận nợ cho các Ngtân Hàng để có vốn. Các Ngân Hàng nhận được những loại nhận nợ đủ thứ. Những Ngân Hàng này gọp chung lại  và cho ra Sản phẩm Tài chánh ở Thị trường Chứng khoán để bán gọi vốn thêm từ những nhà đầu tư. Hai sản phẩm sau đây tạo thành Thị trường chứng khoán sub-prime thế chấp địa ốc (Sub-prime Mortgage Markets), đó là MBO (Mortgage backed Obligation) và CBO (Collateral backed Obligation). Một số Tổ chức định giá an toàn cho những sản phẩm này.  Những Tư nhân hay Tổ chức (Funds) hoặc Ngân Hàng có thể mua những sản phẩm trên Thị trường chứng khoán địa ốc sub-prime. Việc giao động ở Thị trường Chứng khoán là ở những Sản phẩm Tài chánh Thế chấp Địa ốc bán đi mua lại trên Thị trường này. Phương diện này có thể được gọi là hệ thống mới, phát sinh tại Hoa kỳ. Nhưng việc làm giao động có tính cách dây chuyền bắt đầu từ những Khách hàng Nhận nợ mà gặp những khó khăn hoàn trả giống như anh bạn của tôi trong tỉ dụ trên đây trở thành thất nghiệp không thể hoàn trả cho tín dụng đã ký nhận.

Ngày 10.08.2007, trên tờ International Herald Tribune, Floyd NORRIS đã viết như sau:“In the past decade a new financial architecture emerged—one that relied less on banks as intermediaries and more on securities. Mortgages were financed by investments in securities that were supposed to be safe.“ (Trong thập niên vừa qua, một kiến trúc tài chánh mới được thành hình—kiến trúc liên hệ ít hơn tới những ngân hàng như trung gian và nhiều hơn đến những sản phẩm chứng khoán. Những tín dụng thế chấp đã được tài trợ bởi đầu tư vào những sản phẩm chứng khoán được kể là an toàn). Việc an toàn này thường được đánh giá cao thấp bởi Moody’s and Standard & Poor’s chẳng hạn. Tin tưởng vào những sản phẩm này để bỏ tiền đầu tư hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đã trở thành may rủi.

Vậy nếu trong những sản phẩm chứng khoán ấy có những nguy hiểm được phát hiện bởi sub-prime, thì giới đầu tư có thái độ thay đổi Cung và Cầu đầu tư tài chánh. Biến động về những sản phẩm này trong tháng 8 vừa rồi đã làm cho Thị trường khan hiếm đầu tư, nghĩa là khan hiếm vốn lưu hành. Những nhà đầu tư hoặc những ngân hàng đầu tư ngưng bỏ vốn hoặc mất vốn khi những sản phẩm chứng khoán thế chấp địa ốc xuống cấp tin tưởng.

Về việc phát hiện những sản phẩm chứng khoán tài chánh có những điểm yếu kém được một Ngân Hàng gia Thụy sĩ cắt nghĩa trực tiếp cho tôi bằng tỉ dụ sau đây. Người Thụy sĩ, nhất là Thuyï sĩ Đức thường ăn Xúc-xích (Lạp xưởng Tây), nên Ngân Hàng gia Thụy sĩ đã lấy Lạp xưởng Tây ví với sản phẩm chứng khoán thế chấp ở Thị trường. Những Ngân Hàng  đã nhận được những Hợp đồng nhận nợ hổ lốn đủ mọi thứ nào là da gà, da heo, thịt ba rọi, thịt nạc mông... và xay chung cho nát ra để làm xúc xích. Khi bán trên Thị trường, thì người ta gọi là cây xúc xích tổng quát, nhưng không phân biệt da gà, da heo...Nếu có người khám phá ra sau này có mãnh da gà mà họ kiêng không ăn, thì họ bỏ. Cũng vậy, nếu người A-rập tìm thấy miếng da heo, họ quảng xúc xích đi. Sản phẩm chứng khoán thế chấp ở Thị trường có thể bị người đầu tư thấy được những tín dụng không bảo đảm, không an toàn. Sự biến động ở Thị trường Chứng khoán trong tháng 8 là ở chỗ người đầu tư ngưng lại không tin tưởng rằng sản phẩm xúc xích ấy làm bằng thị nạc ngon, mà có pha da gà, da heo, thậm chí ngay cả thịt chuột không đáng tin tưởng (sub-prime/ risque).

Những Ngân Hàng đầu tư hoặc những Quỹ đầu tư (Investment Funds) đã mua nhiều những sản phẩm chứng khoán thế chấp này, nên bây giờ họ thấy lỗ do sự giao động. Nhiều Tổ chức sản phẩm đã sạt nghiệp. Một số lớn Ngân Hàng hoặc Quỹ đầu tư Mỹ và Aâu châu bắt đầu bị lỗ vốn về những sản phẩm chứng khoán thế chấp nghi ngờ này (sub-prime/ risque).

Hãy lấy một số tỉ dụ thua lỗ vì liên hệ đến Thị trường chứng khoán thế chấp sub-prime:

*  Ngày 03.08.2007: ALLIANZ Đức, Hãng Bảo Hiểm AAA tuyên bố vì đầu tư vào US
     Sub-Prime Mortgage Market, bị thiệt thòi 2 tỉ Đo-la    
* Ngày 06.08.2007: MUNICH RE Đức, Hãng Tái Bảo Hiểm AAA, thiệt thòi 1 tỉ Đo-la
* Ngày 08.08.2007: ING GROUP Hòa Lan, thiệt thòi 4.5 tỉ Đo-la
* Ngày 09.09.2007: BNP PARIBAS Pháp, khóa sổ tổng cộng 5 tỉ Đo-la
* Ngày 17.09.2007: NORTHERN ROCK Anh, phá sản. Ngân Hàng Anh trợ lực $25tỉ
* Ngày 01.10.2007: UBS Thụy sĩ, thiệt thòi 4 tỉ Đo-la
* Ngày 30.10.2007: UBS Thụy sĩ, tuyên bố mất 700 triệu Đo-la
* Ngày 01.11.2007: CREDIT SUISSE Thuỵ sĩ, thiệt thòi 1 tỉ Đo-la
* Ngày 04.11.2007: CITI GROUP Mỹ, thiệt thòi 11 tỉ Đo-la
* Ngày 10.12.2007: UBS Thụy sĩ, thiệt thòi 9 tỉ Đo-la

Một số những Ngân Hàng hay Quỹ Đầu tư đã mua, nhưng không muốn tuyên bố ra những thiệt thòi nhỏ có thể làm thiệt hại thanh danh của mình.

Trong thời gian biến động tháng 8/2007, Vốn của Thị trường trở thành khan hiếm, Lãi suất tăng. Ngân Hàng Trung ương phải can thiệt bằng cách cho vốn vào Thị trường để có thể giữ Lãi suất:

* US Federal Reserve cho vào 17 tỉ Đo-la

* ECB, Ngân Hàng Trung Ương Aâu-châu cho vào 130 tỉ Đo-la

* Ngân Hàng Trung ương Anh quốc đã trợ lực cho Thị trường của họ với 25 tỉ

Những việc đổ vốn vào này là để giúp những Ngân Hàng và có mục đích điều hành Lãi suất đừng để phương hại đến nền Kinh tế.

Lãnh vực Địa ốc, với US sub-prime Markets đã làm thiệt hại cho hệt thống Ngân Hàng và những Tổ chức đầu tư. Nếu là ở những vùng Kinh tế khác, thì lãnh vực này tất nhiên gây ra cuộc Khủng hoảng lớn. Đối với Aâu châu và Hoa kỳ, đây chỉ là giao động vì họ có những phương tiện khổng lồ để chống đỡ. Tỉ dụ ngay cả đối với UBS, việc thiệt thòi 15 tỉ Đo-la chỉ là con số nhỏ sánh với số Dự trữ phòng bị liên tục là 50 tỉ Đo-la và sánh với Total Assets là 2'484 tỉ Đo-la của Ngân Hàng. Xin lưu ý tiền lương hàng năm của Oâng GOSPEL, Chủ tịch UBS, vẫn giữ là 26 triêu quan Thụy sĩ, nghĩa là khoảng 22 triệu Đo-la.


Khủng hoảng 1997 và
đe dọa hiện nay ở những nước bắt đầu phát triển

Có nhiều những lý do mà chúng tôi đã viết trong 5 bài trước đây đưa đến Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh Á châu năm 1997 gồm Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn. Nhưng một trong những lý do chính là hệ thống Ngân Hàng của những nước đó với việc cho Tín dụng nghi ngờ (Créances douteuses) trong lãnh vực Địa ốc. Hiện nay, đối với những nước bắt đầu phát triển mạnh, người ta cũng nhìn nhận phong trào xây cất nhà cửa đồ sộ được đẩy mạnh. Nhưng moi tiền đâu ra để xây cất quá đáng ?

Hai tỉ dụ cụ thể mà chúng tôi đưa ra ở phần đầu bài này mang lại cho chúng ta những cái nhìn đơn giản và bình dân của những phá sản, của những Khủng hoảng: một anh bạn mua nhà vội vàng bị đuổi ra khỏi nhà vì đã không lượng khả năng vững chắc việc hoàn vốn; một bà bán phở đang làm ăn lên, nhưng quá hồ hởi chi tiêu quá mức độ làm ra tiền của mình trong tương lai hay đúng hơn ước tính tương lai không sát thực tế.

Chúng tôi muốn nhìn một số điểm chung giữa Khủng hoảng 1997 của 4 nước Á đông như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn và những nguy hiểm khủng hoảng của một số nước bắt đầu phát triển hiện nay như Trung Cộng, Việt Nam

=> Đối với tất cả những nước vừa nhắc tên ra, người ta quan sát thấy rõ huynh hướng đẩy mạnh Tín dụng Địa ốc. Thực vậy, đối với những cá nhân mới thoát ra cảnh nghèo đói, họ có khuynh hướng tiêu xài quá số thu nhập, nghĩa là họ tiêu vào tiền tương lai, mà tương lai thì luôn luôn có những cái mình không chắc. Một nước mới phát triển, dễ dàng có khuynh hướng đẩy mạnh việc xây cất nhà cửa quá mức cần thiết. Tỉ dụ việc xây cất thành phố Bangkok trong những năm 1995-1996. Ngày nay, những thành phố như Thượng Hải, Sài Gòn, Hà Nội... được xây cất các xác nhà quá tầm mức xử sụng nội dung. Thực ra chính việc xử dụng nội dung mới đo được thực lực những sinh hoạt Kinh tế đẻ ra tiền. Việc chi tiêu của Chính quyền về xây cất đồ sộ càng được đẩy mạnh hơn nữa như muốn chứng tỏ sự vẻ vang của quyền lực.

=> Việc kiểm soát tính cách khả thi Kinh tế tương xứng của mỗi công trình xây cất không được thẩm định kỹ lưỡng đi song hành với timing khả năng thu hồi hoàn nợ. Chính về điểm này, mà những Tín dụng xây cất trở thành nguy hiểm. Đó là những Tín dụng nghi ngờ (Créances douteuses). Trong thời gian trước Khủng hoảng 1997, hệ thống Ngân Hàng trong những nước liên hệ với Khủng hoảng đã cho Tín dụng có tính cách tình cảm gia đình hoặc quen biết. Quỹ Tiền Tệ Quốc tế khi can thiệp vào, đã đòi buộc phải có một Tổ chức độc lập để kiểm soát vấn đề Tín dụng, nhất là Tín dụng địa ốc. Tại những quốc gia bắt đầu phát triển hiện nay, một số những dự án xây cất lớn được quyết định tài trợ theo tiêu chuẩn chính trị hơn là tính cách khả thi Kinh tế. Việc tài trợ lại bằng những phương tiện tài chánh ngân hàng lạm phát.

=> Điểm thứ ba nguy hiểm mà chúng tôi nhấn mạnh đó là sự không tương xứng theo thời gian tính của vốn đầu tư và của khai thác Kinh tế. Chính tính cách dài hạn của vốn càng làm tăng tính cách nguy hiểm của Tín dụng. Việc thu nhập Kinh tế với những hàng hóa sản xuất cho tiêu dùng ngắn hạn không đi đôi với việc xây cất với tín dụng dài hạn. Sư chênh lệch về thu nhập ngắn hạn và về chi tiêu dài hạn là điều rất nguy hiểm trong vấn đề quản trị tài chánh. Đối với những nước liên hệ với cuộc Khủng hoảng 1997, chính Quỹ Tiền Tệ Quốc tế đã đòi điều kiện chấm dứt và cải thiện ngay những Tín dụng dài hạn không phù hợp với việc khai thác Kinh tế ngắn hạn. Đối với những nước bắt đầu phát triển hiện nay, việc xây cất nhà cửa như dồn dập. Lấy lại những tỉ dụ Thành phố Thượng hải, Thành phố Sài-gòn, Thành phố Hà Nội... Tài trợ cho những xây cất này là sự phát hành phương tiện chi tiêu dựa trên ước tính dài hạn Kinh tế tương lai, trong khi ấy những chương trình khai thác Kinh tế/ Thương mại, một là thay đổi bấp bênh, hai là không tài nào làm timing cho năm, mười năm với những hàng hóa sản xuất căn yếu cho tiêu thụ ngắn hạn. Bấp bênh Khủng hoảng là ở chỗ đó. Đối với Việt Nam, nên nhớ là số tiền nợ đã lên tới 20 tỉ Đo-la.

Một sự Khủng hoảng Tín dụng địa ốc tại những nước này rất khó lòng chống đỡ. Những nước Aâu, Mỹ có thể chống đỡ bởi vì nền Kinh tế của họ đã được bền vũng phát triển lâu đời rồi, bởi vì hàng hoá chính yếu của họ mang tính dài hạn và kỹ thuật, và bởi vì họ đã tích luỹ khối lượng Tài chánh khổng lồ.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 





                               KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH HOA KỲ
                                            BẮT ĐẦU TỪ 2007


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
24.01.2008
(UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html


VietTUDAN không phải là một tuần báo chuyên về Kinh tế/Tài chánh, mà là một báo đấu tranh nhằm loại bỏ chế độ độc tài hiện nay tại Việt Nam. Chúng tôi xác tín rằng khả năng có thể lật đổ được hệ thống độc tài của đảng CSVN không phải là từ những đối thoại qua lý luận với những quan niệm trừu tượng, nhất nữa đến từ những lẻo mép che đậy hào nhoáng của một số trí thức chính trị cơ hội. Lịch sử những cuộc Cách Mạng lật đổ những hệ thống độc tài phải đến từ quần chúng đói nghèo nhất, tức là đấu tranh cho quyền DẠ DẦY (Stomach Right) cụ thể: Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Vô Sản 1917, Chôn Vùi Cộng sản Nga và Đông Aâu 1989.

Chúng tôi chủ trương MẶT TRẬN KINH TẾ/TÀI CHÁNH và từ lâu tuần báo VietTUDAN đã có những loạt bài Chủ đề như TƯƠNG QUAN KINH TẾ/CHÍNH TRỊ, HỘI NHẬP WTO: ĐỊNH MỆT TỰ HỦY DIỆT ĐỘC TÀI CSVN và trong thời gian này, CHỦ ĐỀ: SỰ SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH với 12 Bài.

Trong phạm vi Chủ đề của thời gian này, chúng tôi trình bầy về cuộc Khủng hoảng Tài chánh Á châu năm 1997. Những nước bắt đầu phát triển, trong đó có Việt Nam, chúng tôi nhìn qua bài học Á châu 1997, thấy những yếu tố đưa đến Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế. Ngoài những yếu tố tương tự như năm 1997, chúng tôi còn thấy hiện nay Thế Giới đang có triệu chứng dẫn đến cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế toàn diện mà Việt Nam không thể chống cự nổi. Vì vậy cách đây một tháng, chúng tôi đã viết Phụ Bản 1 về KHỦNG HOẢNG THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG SUB-PRIME ĐỊA ỐC HOA KỲ (American SUB-PRIME MORTGAGE Market). 

 
Bài này trình bầy ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN DỤNG SUB-PRIME ĐỊA ỐC LAN TRÀN SANG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ: Suy thoái Sản xuất (Baisse de la Production), Vật Giá Tăng (Augmentation de l’Indice des Prix de consommation), Khả năng Tiêu thụ giảm (Baisse du Pouvoir d’Achat).
 

Aûnh hưởng Sub-Prime Địa ốc xuất hiện

Chúng tôi lấy ngày 18.01.2008 như ngày khẳng định sự xuất hiện công khai của những ảnh hưởng của Khủng hoảng Thị trường Sub-Prime Tín dụng Địa Oác. Trước thời điểm này, chúng tôi đã viết về tình trạng tuyên bố mất tiền của những Ngân Hàng, của những Hãng Bảo Hiểm lớn có liên hệ với Thị trường: CitiGroup, UBS, Allianz, Swiss Re... Chúng tôi cũng đã viết về tình trạng vật giá lên cao, nhất là cho nhu yếu phẩm như đồ ăn, tại Âu châu, Trung Cộng và đặc biệt Việt Nam.

Ngày 18.01.2008, Đài Truyền Hình Pháp la hoảng về hậu quả Khủng Hoảng Thị trường Tín Dụng Sub-Prime Địa ốc Mỹ, rồi lời kêu gọi của Federal Reserve yêu cầu Tổng Thống Bush tìm giải pháp cứu nguy Kinh tế Mỹ. Chỉ số DOW Wall Street mất 8 điểm. Thực vậy:“Shortly after lunch, Bernanke called a quick meeting of Fed Officials who decide interest-rate policy. Meanwhile, Treasury Secretary Henry Paulson Jr., watching the same market turmoil spread to Europe, was sufficiently anxious that he called President George W.Bush at the White House at 3:15 p.m.“ (International Herald Tribune).

Tổng Thống Bush sau khi mệt mỏi trở về từ Trung Đông, cũng như Oâng Henry Paulson, phải làm việc cuối tuần để có thể tuyên bố những biện pháp kích thích cho Kinh tế: “Paulson, having spent the weekend hashing out the details of an economic stimulus package with congressional leaders, ...“ (International Herald Tribune).

Những ngày nghỉ cuối tuần... rồi còn thêm ngày nghỉ Thứ Hai Luther King. Nhưng chính ngày nghỉ Thứ Hai Luther King, Thị Trường Chứng Khoán Wall Street đóng cửa, thì Cơn Lốc thổi vào các Thị trường Chứng Khóan Á đông, rồi theo Mặt Trời mọc, tràn sang Aâu châu. Các Chỉ số Chứng Khoán thụt xuống từ 7 đến 10%.

Truyền Thông Aâu châu ngày 22.01.2008 đề lớn: CNN:"Stock Markets go into freefall !", TRIBUNE DE GENEVE: "Les Bourses plongent. Faut-il avoir peur ?, LE TEMPS: "Tres inquiets, les marche's boursiers ce`dent a` la panique", INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE: "Markets plummet worldwide", FINANCIAL TIMES: "Panic sparks global plunge".

Trong khi ấy, những nhân vật trọng yếu phải quyết định về đời sống Kinh tế khắp Thế Giới lại đang trên máy bay tụ về Thụy sĩ  để tham dự WORLD ECONOMIC FORUM trên vùng núi tuyết DAVOS khai mạc ngày 23.01.2008.

Họp tại vùng núi tuyết Davos Thụy sĩ với Chương Trình thảo luận về những đề tài đã sửa soạn sẵn, nhưng 2500 người tham dự hoàn toàn để đầu óc vào Cơn Lốc đang làm các Thị Trường Chứng Khoán trên Thế Giới lên xuống như bóng ma bất định. Cựu Thủ tướng Anh, Tony Blair tại Davos đã tuyên bố với Đài CNBC: “Chúng ta đứng trước một tình trạng bất ổn. Những biến động Kinh tế, Tài chất có những chi tiết mà Chính trị không hiểu được !“.


Những thăng trầm Thị trường chứng khoán
trong những ngày từ 22-24.01.2008

Thị trường nhìn về những Biện pháp Stimulus Kinh tế của Tổng Thống Bush, rồi nhìn những quyết định của các Ngân Hàng Trung ương về Lãi xuất chỉ đạo mà phản ứng.

Những Biện pháp Stimulus Package của Chính quyền Bush

Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc của Hoa kỳ đã khiến số vốn lưu hành thiếu, nghĩa là lan sang Thị trường Tài chánh, khiến cho Giá vay vốn (Lãi suất) tăng. Các Công ty sản xuất hạn hẹp lại việc vay vốn đầu tư hay tái đầu tư. Đây là ảnh hưởng lan sang Thị trường Hàng hóa Tiêu thụ. Khi giảm đầu tư để sản xuất, thì lượng hàng hóa rút xuống. CUNG yếu hơn CẦU và hậu quả là Giá cả hàng hóa cao lên. Khắp thế giới, tăng vật giá, nhất là những nhu yếu phẩm, đồ ăn. Thêm vào việc tăng giá này là việc tăng giá dầu lửa. Vật giá tăng, nhất là nhu yếu phẩm, thì khả năng mua hàng của dân chúng với đồng lương không tăng theo kịp, tất nhiên yếu kém đi. Thêm vào đó, khi giảm sản xuất, thì một số nhân công bị sa thải.

Ngay từ cuối năm 2007, các nhà Kinh tế đã báo động về tầm ảnh hưởng này cho Kinh tế chung. Người ta có những yếu tố để kết luận rằng tối thiểu từ năm 2008, Kinh tế Hoa kỳ, Aâu châu và những nước bắt đầu phát triển có những Suy thoái (Recession)

Các nước nhìn xem Hoa kỳ có những Biện pháp nào để chống lại hoặc tránh tình trạng Suy thoái Kinh tế này.

Trong tình trạng cấp bách của nghỉ cuối tuần, Tổng Thống Bush chỉ có thể cho thấy sơ sơ về những Biện pháp gọi là Stimulus nhằm nâng đỡ phía Dân tiêu thụ (CẦU) tăng cao như kích thích cho phía Sản xuất tăng CUNG. Biện pháp Stimulus về CẦU này phải có thời gian để có thể tạo ảnh hưởng thực sự lên phía các Công ty để tăng sản xuất.

Nhưng các Thị trường Chứng khoán thì cấp bách và cho rằng những biện pháp Stimulus của Tổng Thống Bush không đủ sức để có thể tránh Suy thoái Kinh tế (Recession economique) mỗi ngày mỗi hiện ra rõ hơn. Cái nhìn như vậy đã làm Chỉ số các Thị trường Chứng khoán khắp nơi chìm xuống ngày 22 ĐEN (22 NOIR).

FED quyết định đánh thẳng vào Lãi suất (Interest Rate)

Để có thể ngăn chặn mau chóng Cơn Lốc đang làm chìm xuống các Thị trường Chứng khoán, FED (Federal Reserve) quyết định đánh thẳng vào Giá cả (Interest Rate) của Vốn bởi vì Thị trường Chứng khoán liên hệt trực tiếp với Thị trường Tài chánh (Vốn) này.

Xin nói tóm tắt về Thị trường Vốn (Marché de Capitaux). Cũng như bất cứ Thị trường, có CUNG và CẦU là những lực định cái GIÁ để trao đổi Vốn. Cái Giá Vốn được gọi là Lãi suất (Interest Rate). Khi số CUNG vốn mạnh hơn CẦU, thì Lãi suất có khuynh hướng giảm; khi số CẦU vốn mạnh hơn, thì Lãi suất có khuynh hướng tăng lên. Hiện tình lúc này của Thị trường Vốn  là thiếu phía CUNG vốn vì các Ngân Hàng và những Nhà Đầu tư đang bị lo sợ vì khủng hoảng của Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc nên dè dặt cho Vốn ra, nghĩa là mức độ CẦU vốn cao hơn CUNG, do đó Lãi suất có khuynh hương tăng cao lên.

Những Ngân Hàng Trung Ương có quyền can thiệp vào Thị trường về Lãi suất để có thể ảnh hưởng tới CUNG và CẦU vốn.

Chủ tịch Ben Bernanke của Federal Reserve FED đã quyết định ngày 22.01.2008 hạ Lãi suất chỉ đạo từ 4.25% xuống 3.5%, nghĩa là cắt đi một lần tới 0.75%. Đây là việc cắt Lãi suất mạnh nhất từ 25 năm nay.

Phản ứng tức khắc của các Thị trường chứng khoán Á châu ngày 23.01.2008 là các Chỉ số Thị trường tăng lên. Nhưng các Thị trường Chứng Khoán Aâu châu và Mỹ vẫn giữ ở độ giảm âm. Tại Á châu, Ngân Hàng Trung ương Hong Kong cũng giảm Lãi suất. Đồng thời những Vốn do Nhà Nước ảnh hưởng cũng cho Vốn vào Thị trường. Các Thị trường Chứng khoán Á châu tái hồi.

Thái độ của Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu và Ngân Hàng Anh

Như trên đã nói, trong ngày 23.01.2008, Chỉ số các Thị trường Chứng khoán Aâu châu vẫn giữ ở độ giảm âm. Lý do là Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu không coi việc xuống Chỉ số Chứng khoán là quan trọng. Oâng Chủ tịch Jean-Claude Trichet của Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu đã đặt trọng tâm vào vấn đề Lạm phát, vấn đề Suy thoái Kinh tế, vấn đề Khả năng tiêu thụ suy giảm hơn là vào thăng trầm chỉ số của các Thị trường Chứng khoán.

“Jean-Claude Trichet, ECB president, emphasised the priority that the bank attached to combating inflation and a belief that eurozone growth would remain robust...“ (Financial Times 24.01.2008) (Jean Claude Trichet, Chủ tịch của Ngân Hàng Trung ương Liên Aâu, đã nhấn mạnh đến ưu tiên việc chống lại lạm phát và tin tưởng vào việc làm độ tăng Kinh tế vùng Euro  được vững...). Theo Oâng, việc hạ Lãi suất có thể làm cho lạm phát càng tăng hơn vì dân chúng và các công ty có sẵn vốn, tiêu thụ mạnh hơn khiến lạm phát càng cao.

Đối với Ngân Hàng Quốc gia Anh (Bank of England), Mervyn King, Thống Đốc, cũng có nhiều những lo lắng về lạm phát, nên không sốt sắng cho lắm để theo Hoa kỳ cắt Lãi suất. “Mervyn King, the Bank’s Governor, suggests the latest volatility in the markets will not change the committee’s cautious approach to cutting rates.“(Financial Times 24.01.2008) (Mervyn King, Thống đốc Ngân Hàng Anh, gợi cho biết là những giao động gần đây nhất trên các Thị trường sẽ không thay đổi thái độ phân tích dè dặt trong việc cắt Lãi suất).

Viết đến đây, lúc 21 giờ ngày 24.01.2008, nhìn trên Đài CNBC, chúng tôi thấy những Chỉ số các Thị trường Chứng khoán từ Á châu, qua Aâu châu đến Mỹ, đã tái hồi, thậm chí có những Chỉ số còn lên cao hơn trước.

Ý kiến từ World Economic Forum Davos về
Khủng hoảng và tầm ảnh hưởng

Những nhân vật chủ chốt của nền Kinh tế, của những Tập đoàn Liên Quốc gia về Sản xuất, Đầu tư, và Thương mại vẫn còn ở trên vùng núi tuyết Davos Thụy sĩ vì ngày mai, 25.01.2005, Hội thảo mới chấm dứt. Chúng tôi nhìn thấy Algore, Tony Blair, Bill Gate, Kissinger, Soros, Condoleezza Rice, Hamid Karzai, ...

Nếu Cơn Lốc của ngày 22 ĐEN (22 NOIR) đã ngưng thổi làm cho 2500 người đến tham dự này đỡ có những lo lắng nhất thời về giao động các Thị trường Chứng khoán, thì những vấn đề then chốt vẫn còn đó đối với họ: Suy thoái Kinh tế (Economic Recession), Giảm độ tăng trưởng Kinh tế (Baisse du Taux de croissance), Lạm phát (Inflation), Tăng giá Thực phẩm (Augmentation du Prix des Produits alimentaires), Khả năng Tiêu thụ giảm (Baisse du Pouvoir d’Achat).

Đối với những nước bắt đầu phát triển mà việc xuất khẩu lệ thuộc vào các Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu, thì việc Khủng hoảng Tài chánh (Vốn)/ Kinh tế  của Hoa kỳ và Liên Aâu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc những nước bắt đầu phát triển này:

=> Cắt đi việc mua hàng từ những nước bắt đầu phát triển như Trung Cộng và Việt Nam chẳng hạn
=> Không những Vốn đầu tư không tăng lên cho những nước bắt đầu phát triển này, mà có thể còn bị rút về Hoa kỳ và Liên Aâu để cứu lấy Kinh tế của nước họ.

Những vấn đề then chốt thuộc Kinh tế vừa nhắc ra mà những người tham dự World Economic Forum Davos còn quan tâm lo lắng sẽ là Chủ đề tiếp nối của chúng tôi, sau khi đã viết xong 12  Bài thuộc Chủ đề hiện hành.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 01.10.2008
=========================


                                          US CONGRESS  VÀ
                                       PLAN BAILOUT $700 TỈ



                      Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                     Web: http://vietTUDAN.net/
                                               01.10.2008



US CONGRESS TÁI BỎ PHIẾU
PLAN BAILOUT $700 TỈ
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
01.10.2008
 

Việc từ chối của US Congress đối với Plan Bailout USD.700 tỉ thực sự đã làm Wall Street thiệt hại ước lượng lên tới USD.1000 tỉ đo lạ Theo những nhà bình luận Âu châu, thì chính phía Dân biểu Cộng Hòa đã vì sợ Dân chúng trong cuộc bầu phiếu chọn Dân biểu vào 04.11.2008 này, nên đã không muốn ủng hộ Chương trình Cứu Vớt liên quan đến Chính quyền BUSH mà họ coi như không được đa số Dân chúng ủng hô..

Chính quyền BUSH, trước tình trạng này, vẫn không giải giáp. 
 
FED, Ngân Hàng Trung ương Mỹ
tăng cường tìm giải pháp

Tờ THE WALL STREET JOURNAL, ngày 30.09.2008 đã viết với đầu đề "FED pressed to take Steps":

"If the economy worsens, the FED could cut interest rates further, so it is too soon to say if the FED is prepared to take that step.

Before the House vote Monday, FED officials already had taken ađitional steps to ensure that financial institutions would get the cash they needed to run their operations.

The FED said  it would double the size of its so-called Term Auction Facility designed to help cash-strapped banks, to USD.300 billion. It will also expand its swap facilities with other central banks, aimed at sending dollars abroad, by USD.330 billion to USD.630 billion."


(by Maya Jackson Randall & Jon Hilsenrath)
 
Chính quyền BUSH tiếp tục
thảo luận với lưỡng đảng

Hai ứng củ viên Tổng Thống đồng một quan điểm là kêu gọi Lưỡng đảng hãy bỏ phiếu lại vì tình trạng nguy hại đang lan tràn mạnh sau việc bỏ phiếu từ chối ngày Thứ Hai 29.09.2008.

Những Lãnh tụ của hai đảng cũng vận động để US Congress bỏ phiếu lại trong ngày THỨ NĂM 03.10.2008 nàỵ

Tổng Thống BUSH nói trước Dân chúng rằng Ông hiểu sự khó khăn bỏ phiếu của Dân biểu trong ngày Thứ Hai vừa rồi và Ông hy vọng các Dân biểu xét lại để bỏ phiếu chấp thuận trong ngày Thứ Năm tớị
 
Bình luận từ Âu châu

Thủ tướng Anh BROWN tỏ ra rất tiếc cho việc từ chối của US Congress đối với Plan Bailout USD.700 tỉ. Bà Thủ tướng Đức MERKEL cũng tỏ ra thất vọng vì việc từ chối vội vàng của US Congress đối với Plan Bailout.

Các Ngân Hàng Trung ương Âu châu đang lo lắng cứu vớt 3 Ngân Hàng lớn Âu châu ở bờ phá sản. Âu châu hy vọng US Congress sẽ xét lại trong ngày Thứ Năm tới đâỵ

Ký giả đại diện Đài Truyền Hình TSR1 Thụy sĩ tại Hoa kỳ đã nhận xét như sau:

"Hy vọng US Congress sẽ chấp thuận trong ngày Thứ Năm tới vì số phiếu chênh lệch không có bao nhiêụ Theo tình hình thảo luận khá sôi nổi hiện nay, thì chính đảng Dân chủ sẽ cứu vớt Chương trình USD.700 tỉ của Chính quyền Cộng Hòa BUSH, bởi đây không còn là vấn đề Chính trị nữa mà là sự cấp bách của Tài chánh, Kinh tế".

(TSR1, tối 30.09.2008)


Tin chót sáng Thứ Tư 01.10.2008

Mở THE WALL STREET JOURNAL (Europe) sáng sớm THỨ TƯ 01.10.2008, ngay trang 1, tôi đọc thấy tin  sau đây.

Ký giả John D. McKINNON, dưới đầu đề US LAWMAKERS SCRAMBLE TO REVIVE BAILOUT THIS WEEK đã viết như sau: “American lawmakers worked to save the White House’s historic $700 billion financial-rescue package, after a stunning defeat in the US House of Representatives that initially sent stock markets around the world into a tailspin and added to concerns that the US faces a prolonged recession if the legislation isn’t revived.“ 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
 

 

CHƯƠNG TRÌNH
US$ 7000 TỈ BỊ TỪ CHỐI
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
30.09.2008
 
 
Các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh đã ngấp ngoải  sống sót từ 

                                   THỨ HAI ĐEN 15.09.2008
                               (BLACK MONDAY 15.09.2008)
   
Chính quyền BUSH cuối cùng đã bỏ ra 85 tỉ đo-la để cứu AIG (American International Group) vào phút chót cuối ngày THỨ TƯ 17.09.2008.
 
Tiếp liền sau đó, PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ được tuyên bố bời Chính quyền BUSH nhằm cứ vớt hệ thống Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh bị vi trùng Mortgage SUBPRIME Credit đục rỗng. 

Đây là cái lỗi của hệ thống Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh đã cho ra những Sản phẩm Tài chánh (Produits Financiers/ Financial Products) riêng của lãnh vực mình để buôn bán với nhau và thâu vào những Lợi nhuận không lồ và mau le.. 

Trong tuần vừa rồi, cho đến hết Chúa nhật 28.09.2008, những Lãnh tụ các nhóm Nghị sĩ đã thảo luận với Chính quyền BUSH. Thậm chí hai ứng Cử viên Tổng Thống cũng cắt ngang cuộc tranh cử để về Washington họp với Tổng thống BUSH và những Lãnh tự Nghị sĩ. 

Theo những thông tin từ các cuộc thảo luận này bởi những Lãnh tụ Nghị sĩ, thì PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ sẽ được chấp nhận. 

Ngày thứ Hai 29.09.2008, US Congress House sẽ biểu quyết. Nhưng kết quả biểu quyết là 228/208 phiếu không chấp nhận CHƯƠNG TRÌNH CỨU VỚT US$ 700 TỈ. Thứ hai này đã trở thành: 
 
                                THỨ HAI ĐEN NGHỊT 29.09.2008
                               (BLACKEST MONDAY 29.09.2008)
 
không những cho các Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh Mỹ tại Wall Street, mà còn cho nhiều Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh Âu châu và Á châu trên khắp các Thị trường Chứng khoán Thế giớị 

Tại sao có quyết định TỪ CHỐI của US Congress House, mặc dầu Lãnh tụ các nhóm của Lưỡng đảng đã thoả thuận với Chính quyền Bush ? 

=> Phải chăng Dân chúng (Dân đóng thuế) đã quá ghét giới Ngân Hàng và Tài chánh đã sống cho riêng mình trên những Lợi nhuận khổng lồ và mau chóng khó tưởng tượng nổi ? 

=> Những Dân biểu, sống liền với Dân và còn mang tâm tình ghét giận trên đây của Dân ? 

=> Dân đóng thuế và đa số Dân biểu muốn bảo đảm tối đa cho Dân để Dân đóng thuế không bị mất mát khi phải đi dùng tiền của mình cứu vớt những Ngân Hàng gia và Tài chánh gia mà họ đang ghét ? 

=> Tổng Thống BUSH cũng đã tuyên bố trong Diễn văn trước Dân chúng Mỹ tuần trước rằng Ông luôn luôn chủ trương Luật đào thải trong Tài chánh, Kinh tế, nghĩa là ai chơi với nguy hiểm (Risks) để có lợi nhuận lớn, thì phải chịu hậu quả của mình. Tuy nhiên Ông đưa ra Plan Bailout US$ 700 tỉ để cứu vớt hệ thống Tài chánh chỉ vì lo sợ cuộc Khủng hoảng Tài chánh sẽ lan sang Lãnh vực Kinh tế khiến Thất nghiệp lan tràn. ? 

Trong một bầu không khí như vậy, và trước một món tiền khổng lồ US$ 700 tỉ, US Congress House lưỡng lự và đã bầu phiếu không thuận. 

Chúng tôi viết vội hôm nay và tiếp tục theo rõi những biến chuyển và nhất là những dự án khác xem có thể cứu vớt hệ thống Ngân Hàng và Tài chánh như thế nàọ  

 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế  
  
    






=========================
pho bien/ publication 28.09.2008
=========================


                                       ĐỨC TGM KIỆT NÓI ĐÚNG



                          Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                           Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
                                                  28.09.2008



Trong bài đáp lời UBND Hà Nội, Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT nói:

"Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam... "

Ngài nói tiếp những lời để diễn tả những lý do tại sao Ngài có thể nói như vậy. Nhưng Báo Chí , Đài Thát Thanh và Đài Truyền Hình CSVN đã chỉ trích vỏn vẹn những lời trên đây mà không trích  những lời Ngài nói tiếp theo. Đây là việc thông tin với chủ ý hèn hạ mạ ly Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT. Đám Báo Đài bồi bút, bồi mõm CSVN đả ấu trĩ kết án Đức TGM KIỆT  là phản Quốc.

Nhiều người đã trích đoạn tiếp theo câu nói trên để cho công luận biết rằng đám bồi bút bồi mõm CSVN có đầu óc không ngay thẳng (Malhonnete) trong việc chỉ trích dẫn ra vỏn vẹn những lời nói trên của Đức TGM KIỆT. Không những chúng không còn lương tâm mà còn muốn độc giả, thính khán giả cũng trở thành thù địch với Đức TGM KIỆT.

Riêng tôi, tôi không cần phải trích những lời nói tiếp theo lời nói trên mà vẫn thấy rằng Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT nói hoàn toàn ĐÚNG về chế độ CSVN độc tài và tham nhũng. Tôi chỉ cần đọc vỏn vẹn những lời nói trên đây, không cần đọc những câu tiếp cắt nghĩa của Ngài, cũng thấy Đức TGM KIỆT nói rất ĐÚNG.


HAI CÂU NÓI,
HAI KẾT LUẬN KHÁC HẲN NHAU

Hãy phân biệt hai câu nói sau đây:

Câu nói thứ nhất:
"Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam"

Câu nói thứ hai:
"Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi mang cái Quốc tịch Việt Nam"

Câu nói thứ hai này giống nghĩa với câu: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi thấy mình là Người Việt Nam“

Nếu Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT nói ra những lời theo Câu nói thứ hai này, thì tôi kết luận liền rằng Ngài là người phản Quốc, mất gốc, cho dù suốt đời Ngài viết hàng trăm ngàn trang để cắt nghĩa câu nói vừa thoát ra.

Thực vậy, về phương diện ý nghĩa Câu nói thứ hai này, tôi đã thẳng thắn công kích ngay cả một số bạn bè Việt Nam. Có những người bạn cùng học bên này, khi vào Bar ban đêm gặp gái, thường tuyên bố mình là người Nhật... Tôi đã thẳng thắn la lên rằng không được chối bỏ Quốc tịch, cái gốc của mình như vậy. Sinh ra, mang Quốc tịch Việt Nam, gốc Người Việt Nam, dù xứ mình nghèo khổ, mình cũng phải luôn luôn hãnh diện mình là Người Việt Nam, Quốc tịch Việt Nam.

Tôi rời Việt Nam năm 1965 và sống tại Thụy sĩ đã trên 40 năm, nhưng tôi nhất định không vào bất cứ một Quốc tịch nước khác. Một lần nói chuyện với một người cao cấp của Sứ Quan VN bên cạnh Liên Hiệp Quốc. Oâng hỏi tôi đã vào Quốc tịch Thụy sĩ chưa sau những chục năm ở đây. Tôi trả lời là tôi không vào Quốc tịch Thụy sĩ hay bất cứ một Quốc tịch nào khác. Oâng nói: “Nếu Oâng vào Quốc tịch nước khác thì nhà nước XHCN Việt Nam vẩn KỂ Oâng là NGƯỜI Việt Nam“. Câu nói ấy đã làm tôi xùng vô cùng và tôi đã chửi thẳng vào mặt ông ta: “Điều quan trọng là tôi KỂ tôi là NGƯỜI Việt Nam, chứ không phải chế độ CSVN kể tôi là người Việt Nam.“. Thực vậy, dù chế độ CSVN không kể tôi là người Việt Nam, thì tôi vẫn là người Việt Nam.

Vì vậy, nếu Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT nói rằng Ngài nhục nhã là NGƯỜI Việt Nam hay nhục nhã mang QUỐC TỊCH Việt Nam, thì tôi không cần phải nghe những cắt nghĩa tiếp theo nữa, mà kết luận ngay rằng Ngài là người phản Quốc, mất gốc.

Nhưng Đức TGM đã suy nghĩ chín chắn và hoàn toàn sáng suốt khi nói Câu thứ nhất: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam"

Báo Đài CSVN đã trích câu này ra để tuyên truyền kết luận mạ lỵ Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT theo ý nghĩa Câu thứ hai mà Ngài không bao giờ nói. Câu thứ hai là:
"Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi mang cái Quốc tịch Việt Nam"
hoặc:
"Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi thấy mình là Người Việt Nam“

Như vậy Báo Đài CSVN đã chủ trương làm hai điều vô lương tâm: (1) Chỉ trích dẫn vỏn vẹn Câu thứ nhất mà không trích những lời nói tiếp để cắt nghĩa tại sao nói như vậy; (2) Tuyên truyền và kết luận mạ lỵ Đức TGM KIỆT theo ý nghĩa Câu nói thứ hai mà Ngài đã sáng suốt không bao giờ nói.


CSVN KHÔNG PHẢI LÀ
NƯỚC VN VÀ DÂN TỘC VN

Có một cựu sinh viên tại Thụy sĩ, muốn làm ăn với CSVN, nên ăn cắp lá thư của tôi để gửi về Bộ Nội Vụ CSVN để mách lẻo. Một người thuộc Bô Nôi Vụ đã lấy được thư đó và gửi ngược lại Thụy sĩ cho tôi. Tôi đã viết thẳng cho Bộ Nội Vụ rằng muốn có thông tin về tôi, thì hỏi thẳng tôi để tôi trả lời trực tiếp cho đúng sự thực, chứ đừng hỏi  qua những kẻ muốn mách lẻo để lấy điểm, bịa đặt không trúng sự thực.

Đồng thời tôi cũng phân biệt cho CSVN biết rằng CSVN không phải là NƯỚC Việt Nam và không phải là DÂN TỘC Việt Nam. Tôi lấy tỉ dụ sau đây:

NƯỚC Việt Nam và DÂN TỘC Việt Nam ví như dòng sông triền miên chảy từ đời này sang đời kia và còn mãi mãi. Chính trị trên đất NƯỚC Việt Nam và đối với DÂN TỘC Việt Nam chỉ là những gợn sóng lăn tăn trên mặt nước sông. Những gợn sóng lăn tăn khi ẩn khi hiện. Chủ nghĩa Cộng sản là thể chế Chính trị lúc này nhô lên, nhưng rồi lặn xuống như gợn sóng. Vì vậy không thể coi gợn sóng lăn tăn, Chính trị CSVN, là dòng nước sông triền miên chảy của DÂN TỘC Việt Nam và của NƯỚC Việt Nam.

Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT không bao giờ nói Ngài nhục nhã vì Quốc tịch Việt Nam, vì Nước Việt Nam, nghĩa là vì dòng nước sông DÂN TỘC và NƯỚC Việt Nam chảy triền miên. Nhưng Ngài cảm thấy nhục nhã cho Chính trị CSVN, một gợn sóng lăn tăn mà tự coi mình là dòng nước sông để bắt NƯỚC Việt Nam chịu cảnh kém phát triển, bắt DÂN TỘC Việt Nam sống trong độc tài theo lệnh của đảng CSVN.

Chính vì coi đảng CSVN, coi Chính trị XHCN là NƯỚC VN, là DÂN TỘC VN, nên Báo Đài CSVN kết án Đức TGM KIỆT là phản Quốc, phản Dân tộc, trong khi ấy Ngài chỉ cảm thấy nhục nhã vì gợn sóng thể chế Chính trị CSVN.

Thực vậy, nếu chỉ có vỏn vẹn Câu nói thứ nhất: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam" mà không cần nói tiếp, thì Báo Đài CSVN cũng không thể nào kết luận được Đức TGM KIỆT là phản Quốc được.

Chính trị quy định quyền hạn xử dụng, được phép đi lại hàm chứa trong HỘ CHIẾU. Cũng vậy, những nước khác, tùy sự giao hảo, chấp nhận thể chế Chính trị hiện hành của một nước, mà cho phép người cầm HỘ CHIẾU nhập cảnh hay không và cư ngụ được bao lâu. Người cầm cái HỘ CHIẾU không khổ tâm vì mình là NGƯỜI Việt Nam, nhưng nhục nhã là phải ràng buộc cực khổ đối với những quy định kềm kẹp từ thể chế Chính trị CSVN cấp phát Hộ Chiếu ấy, rồi chịu những ràng buộc Chính trị, Ngoại giao từ những nước mà mình xin nhập cảnh. Nếu có nước không chấp nhận cho người mang Hộ Chiếu CSVN hiện hành vào nước mình, không phải là vì lý do người ấy gốc là Dân Tộc Việt Nam, mà là vì người ấy mang Hộ Chiếu của một thể chế Chính trị mà nước đó không chấp nhận.

Tôi xin trưng dẫn ra những tỉ dụ cụ thể. Trước đây, Giám mục NGUYỄN SƠN LÂM là Giám mục dưới chế độ CSVN và là Giám mục đầu tiên sang được Hoa kỳ. Tôi quen biết Giám mục NGUYỄN SƠN LÂM vì là người cùng làng ở Miền Bắc. Giám mục mang HỘ CHIẾU CSVN và chỉ sang được Vatican, Pháp và Thụy sĩ. Khi Giám mục LÂM sang Geneva và tôi có gặp. Giám mục tỏ ý muốn qua Hoa ky,ø nhưng theo HỘ CHIẾU mà Giám mục đang cầm, thì Giám mục không được phép của Bộ Nội Vụ cho đi Mỹ. Giám mục biết tôi quen Oâng Tổng Lãnh sự NGUYỄN NGỌC LƯƠNG nên ngỏ ý xem tôi có lo liệu được cho Giám mục có phép từ Geneva đi Mỹ không. Oâng NGUYỄN NGỌC LƯƠNG đã ghi thêm vào HỘ CHIẾU là cho phép Giám mục đi Hoa kỳ. Giám mục LÂM, do đó là Giám mục VN đầu tiên đi Mỹ.

Tỉ dụ này cho thấy việc mang HỘ CHIẾU là sự ràng buộc vào một thể chế Chính trị.

Vì vậy, Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT khi nói rằng Ngài nhục nhã khi cầm cái HỘ CHIẾU là nói rằng Ngài nhục nhã cho cái thể chế Chính trị đã cấp HỘ CHIẾU cho Ngài với tất cả ràng buộc độc tài. Là Công dân một nước, Ngài có quyền bầy tỏ quan điểm đối với một thể chế Chính trị được coi như một gợn sóng lăn tăn trên dòng nước sông chảy triền miên của DÂN TỘC, của NƯỚC Việt Nam. Ngài không phản lại DÂN TỘC và NƯỚC Việt Nam. Nhưng Ngài có quyền ưng theo hay phủ nhận thể chế Chính trị đang có ở NƯỚC VN và đang cai trị DÂN TỘC VN.

Chính tôi, cho dù CSVN cấp phát cho tôi HỘ CHIẾU, nhưng tôi xé bỏ nó và dục thùng rác, tôi thách những tên Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng nói tôi là phản quốc, mất gốc, phản lại DÂN TỘC mà tôi đang cố thủ giữ lấy Quốc tịch Việt Nam. Ngược lại, tôi thẳng thắn nói rằng những tên Hồ Chính Minh, Phạm Văn Đồng và cả bọn CSVN hiện nay là phản Quốc, phản bội lại Tổ Tiên vì chúng đã ký bán Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung quốc. 
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 23.09.2008
=========================


                                               TKS & THÁI HÀ:
                                        CHÓ ĐIÊN CSVN BÍ LỐI


                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                 23.09.2008
 


Biến cố 19.09.2008 là việc CSVN tuyên bố đơn phương chấm dứt một cuộc ĐỐI THOẠI mà Vatican và Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội đã lấy thiện chí thực hiện.

Chúng ta không có gì phải hỏang sợ trước biến cố 19.09.2008 và những gì mà CSVN đang làm cho đến ngày hôm nay. Thực ra đây chỉ là phản ứng của một con chó điên đã bí lối, nên tìm đủ mọi cách để sủa. Thái độ của chúng ta là phải hoàn toàn bình tĩnh quan sát con chó điên sủa đầu này đầu kia.


ĐỐI DIỆN HAI LỰC LƯỢNG

Khi đối thoại không còn nữa, thì là lúc đối diện hai Lực Lượng trong cuộc đấu tranh. Lực lượng con chó điên bí lối, tìm đủ mọi cách cắn quàng và không nhất thống, đó là triệu chứng cho một sự Thất Bại sẽ đến.

Trước sức mạnh võ lực, nhất là từ con chó đang điên vì bí lối, chúng ta phải bình tĩnh, DĨ NHU THẮNG CƯƠNG. Khí giới của Lực lượng CSVN là gian dối, xảo trá và sức mạnh. Khí giới của chúng ta là sự thành tâm, chân thực và lời cầu nguyện êm đềm.

Một thỏi sắt cứng khi đụng vào thúng bông gòn mềm mại, thì thỏi sắt sẽ bị bông gòn bao phủ và nằm yên.

Chúng tôi tin tưởng ở Ban Lãnh Đạo Lực Lượng Công Giáo đã nhất thống và chọn con đường cầu nguyện cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Con đường ấy trong sáng.


TIẾP TỤC VÀ GIA TĂNG CẦU NGUYỆN

Cuộc đấu tranh bằng Cầu Nguyện bất bạo động đã làm cho bạo quyền bí lối và lấy những hành động man trá như con chó điên. Chúng ta tiếp tục và gia tăng phương pháp đấu tranh ấy. Nếu CSVN phong tỏa Khu đất Thái Hà và Tòa Khâm sứ, thì chúng ta cầu nguyện ngoài Khu đất và tăng cường cầu nguyện tại những nơi khác, lan ra khắp mọi nơi có người Công giáo. CSVN sợ sệt và trở thành khùng điên là vì LỜI CẦU NGUYỆN CHO CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH. Nếu lời Cầu Nguyện lan tỏa ra mọi nơi, thì  CSVN càng hoảng sợ hơn nữa.

Nếu Lực Lượng Công Giáo chấm dứt những cuộc Cầu Nguyện, tại Thái Hà, Tòa Khâm sứ hay những nơi khác, thì lúc đó là sự Thất Bại của phía Lực Lượng Công Giáo. CSVN có thể phong tỏa hai địa danh Thái Hà và Tòa Khâm sứ, nhưng không thể phong tỏa hết mọi XỨ ĐẠO trên toàn quốc.

BÌNH TĨNH trước con chó điên và TIẾP TỤC, GIA TĂNG CẦU NGUYỆN CHO CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH khắp mọi nơi, chúng ta chắc chắn sẽ thắng lợi. 

Không thể ngưng Cuộc Cầu Nguyện cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH hiện nay. Nếu vì một lý do nào đó mà Giáo quyền ra lệnh ngưng cuộc Cầu Nguyện, thì đó là tự nhận mình có lỗi và là sự phản bội lại không những đối với Giáo dân Công giáo mà còn cả Dân tộc.


LÝ DO LÀM CON CHÓ BÍ LỐI
VÀ TRỞ THÀNH ĐIÊN SỦA VÔ TRẬT TỰ: THAM NHŨNG

Tổ chức và Lãnh đạo các cuộc Cầu Nguyện, đó là lãnh vực chuyên nghiệp của các Giám Mục, Linh mục. Các Ngài có thẩm quyền hành Lễ khi Giáo Dân tụ họp Cầu Nguyện.

Về phía Giáo dân, nhất là giới trí thức Công giáo, có thể đóng góp hữu hiệu cho cuộc đấu tranh vô cùng chính đáng này. Giáo dân có thể lấy thế công đánh vào yếu điểm của CSVN, đặc biệt là vào Uûy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội. Những cuộc Cầu Nguyện hoàn toàn bất bạo động do Lãnh đạo Tôn Giáo hành lễ, không mang tính chất tấn công trực diện vào con chó điên CSVN, nhưng Giáo dân chúng ta có thể mở Phong trào tấn công vào yếu huyệt của UBND thành phố Hà Nội.

Yếu huyệt đó là gì ?

Thường chúng ta quan sát thấy rằng những kẻ to miệng quát tháo phân bua thường để che đậy một điều gì gian dối bên trong. Nếu là Sự thật, chỉ cần nói nhỏ cũng đủ uy lực. Nhưng muốn che đậy điều trái, người ta thường nổi gân cổ la hét tứ phía.

CSVN thực hiện tốc hành và lén lút việc làm Công viên trên Khu đất Tòa Khâm sứ như muốn nói cho dân rằng họ theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa, săn sóc cho dân nghèo. Từ lâu rồi, CSVN không còn lý tưởng xã hội chủ nghĩa nữa, mà chỉ ngày đêm theo chủ nghĩa mafia vơ vét của cải cho túi riêng mình. Từ hàng chục năm rồi, họ lo tham nhũng trên miếng đất này để thu tiền bạc đầy túi riêng. Bây giờ lo lắng phải trả lại miếng đất, nên rở ra cái trò ấu trĩ lý tưởng xã hội chủ nghĩa thương dân nghèo. Đây là trò hề dấu đút mà ai cũng nhìn thấy sự thật bên trong.

Khi Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội và Thái Hà đòi lại quyền sở hữu hai miếng đất, thì Uûy Ban Nhân Dân Tp Hà Nội thấy mình ở cái LỐI BÍ bởi vì mình đã bán, đã khai thác hai miếng đất cho túi riêng rồi.

Ở cái LỐI BÍ như vậy, nên UBND Tp Hà Nội trở thành con chó điên, tìm mọi cách để cắn quàng. Đây là cái yếu huyệt của UBND Tp Hà Nội.

Vậy Giáo dân chúng ta, nhất là giới Trí thức Công giáo tại Hà Nội hãy LẬP HỒ SƠ THAM NHŨNG của những thành viên cao cấp của UBND Tp. Hà Nội. Chúng ta không cần đối diện với con chó điên đang sủa càn. Chúng ta chỉ cần tung HỒ SƠ THAM NHŨNG của chúng ra, thì tự nhiên chúng phải rụt vòi, khỏi hung hăng sủa càn. HỒ THƠ THAM NHŨNG gồm:

=> Tìm Lý Lịch của từng tên cao cấp của UBND Tp. Hà Nội
=> Tìm xem con cháu, dòng họ của chúng đang làm ăn cái gì, giữ những Công ty nào
=> Kê khai con cháu chúng xuất ngoại ở những đâu
=> Chụp hình và tung ra những dinh thự mà chúng đang chiếm cứ
=> Tìm xem từ những chục năm trước đây, chúng ta khai thác những gì cho túi riêng trên hai Khu đất này.

Một số những Trí thức Công Giáo tại Hà Nội, quen biết với đảng CSVN, có thể biết rõ những thành phần cao cấp của UBND Tp. Hà Nội và biết nganh ngóc những tham nhũng của chúng, xin hãy cung cấp tài liệu và chúng ta tung ra cho quần chúng. Chúng ta không thèm trực diện với con chó điên đang sủa càn để che dấu sự thật tham ô. Chúng ta tung ra cái yếu huyệt tham ô ấy để tự chúng phải câm cái mõm đang sủa càn.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






=========================
pho bien/ publication 21.09.2008
=========================


                                                  TÒA KHÂM SỨ:
                                                       19.09.08:
                                         MỘT THẤT BẠI CHO CSVN


                            Giáo ư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                     21.09.2008



Ngày 18.09.2008, tôi viết một bài dười đầu đề: THÁI HÀ KIÊN TRÌ VÀ THẮNG LỢI (đăng kèm dưới đây). Vừa phổ biến bài này xong, thì sáng 19.09.2009, tôi đọc tin về cuộc hành quân của CSVN đánh úp Tòa Tỏng Giám Mục Hà Nội và cấp tốc xây Công viên trên Khu đất của Tòa Khạm sứ.

Tôi nhìn cuộc đánh úp bất thần này của CSVN như thế nào ? Có phải một chiến thắng của CSVN hay không ? Tòa Giám mục Hà Nội có thất bại và sẽ vĩnh viễn thất bại hay không ? Giáo dân Hà Nội phải làm gì để cứu vãn tình hình ?

Khi phân tích về cuộc đấu tranh Cầu Nguyện cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH của Giáo dân Thái Hà, chúng tôi nhìn thấy một chuỗi những THẤT BẠI của CSVN. Những Thất Bại này làm cho Thái Hà gặt hái một chuỗi THẮNG LỢI.

Cuối năm 2007 và đầu năm 2008, cuộc đấu tranh Càu Nguyện cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH đã đột khởi giữa một khung cảnh Dân Oan khắp nước đòi CÔNG LÝ, chống BẤT CÔNG. Một tình thế còn nguy cấp hơn nữa cho CSVN, đó là tình hình Lạm Phát trầm trọng dẫn đến cuộc Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh có thể làm cho Dân Nghèo nổi dậy.

Trong khung cảnh ấy, tôi đã viết ngày 29.01.2008, về cuộc đột biến đấu tranh tại Tòa Khâm sứ như một con đường thẳng phải dẫn tới CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Ngày 29.01.2008 là ngày mà CSVN nhắn tối hậu thư báo hiệu một Thiên An Môn.  Tối hậu thư ấy không những không làm Giáo dân sợ hãi, mà cuộc họp nhau Cầu Nguyện lại càng tăng thêm người. Giáo dân sẵn sàng chịu chết đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH.  Hồng Y Quốc Vụ Khanh Vatican, gốc người I-tà-lồ, đã làm ngưng cuộc Cầu Nguyện. Đối với tôi, đây là một sự phản bội của Vatican vì lẽ Dân tộc Việt Nam chúng tôi đã quá biết những trò lừa đảo của quân Pharisiêu CSVN giả hình gian ác, và vì xã hội Việt Nam  đang cần một cuộc Đột biến quả cảm của Nhân dân tiễu trừ những BẤT CÔNG và thiết lập nền CÔNG LÝthực sự làm nền tảng vững chắc cho HÒA BÌNH.

CSVN đã hứa hẹn với Vatican trả lại miếng đất trong đối thoại cho giải quyết.  Đối thoại kéo dài 8 tháng và đùng một cái, ngày 19.09.2008, CSVN không thèm tuyên chiến mà dùng lực lượng hùng hậu đánh úp miếng đất, cho xây cất một Công viên trên miếng đất ấy như chúng ta đã đọc tin tức cho đến ngày hôm nay 21.09.2008.


NGÀY 19.09.2008:
MỘT THẤT BẠI CHO CSVN

Biến Khu đất này thành một Công viên, nghĩa là không trả lại Khu đất, không phải là một Thắng lợi của CSVN. Ngược lại, biến cố 19.09.2009 tại Khu đất Tòa Khâm sứ đang  làm dư luận thổi ngược chiều lại thành sự THẤT BẠI của CSVN:

=> Dư luận kết án một hành động hèn hạ của một Nhà Nước không xứng với danh dự của một chính quyền quốc gia coi trọng Dân chúng.

=> Đảng CSVN hiện ra nguyên hình những tên côn đồ ăn cướp, lừa đảo bần tiện, không sống đường đường chính chính mà chỉ mưu mô dối trá,  không còn biết đến danh dự trong cuộc sống xả hội giữa người với người. Họ chỉ đêm ngày tính toán mưu mẹo lừa đảo người khác.

=> Việc lừa đảo cắt đứt ngày 19.09.2008 một cách bần tiện cuộc ĐỐI THOẠI  là một gáo nước lạnh tạt vào mặt những ngợm giáo gian quốc doanh luồn trôn đang rêu rao chiêu bài Đối thoại nhân danh Chúa, những chính khách cơ hội đang tung ra chiêu bài  Hòa Giải Hòa Hợp để mong hớp mẩu bánh rơi rụng do CSVN thẩy xuống. Bài học phản bội của Pharisiêu CSVN tạt vào mặt đám bồi bếp này đã chưa !

Biến cố phản bội 19.09.2009 của một chính quyền là một sự THẤT BẠI mang hậu quả lâu dài.


NGÀY 19.09.2008:
MỘT THẮNG LỢI CHO CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH

Cuộc đấu tranh cho CÔNG LÝ và Hòa BÌNH, không phải chì riêng Giáo dân Hà Nội mà của Toàn dân, càng xác tín rằng con đường đấu tranh chống lại BẤT CÔNG do CSVN gây ra là một con đường chính đáng, cứ thẳng tiến để đạt được CÔNG LÝ và HÒA BÌNH.

Ngày 29.01.2008, tôi viết bài về CON ĐƯỜNG CÔNG LÝ VÀ HOÀ BÌNH mà Giáo dân Hà Nội đã đứng lên tiến bước. Chúng tôi đã chú thích về những gai góc có thể gặp thấy trên con đường ấy. Biến cố 19.09.2008 chỉ là một trong những gai góc trên con đường tiến tới mục đích tối hậu là CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH cho chinh mình và cho toàn Dân tộc Việt Nam. Biến cố gai góc 19.09.2008 chỉ là một cái gai trên đại lộ CÔNG LÝ VÀ HOÀ BÌNH. Chính cái gai này đã tự chuyển sang một sự THẤT BẠI cho CSVN, nghĩa là quần chúng đang cầm cái gai ấy mà chọc vào chính CSVN.

Như vậy, biến cố 19.09.2008 lại là một THẮNG LỢI cho cuộc đấu tranh Cầu Nguyện cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH của Giáo dân Hà Nội.

Thực vậy, nếu Giáo dân Hà nội chỉ đặt mục đích tối hậu của Cầu Nguyện là lấy lại được Khu đất, thì lúc này họ cảm thấy một sự thất vọng nào đó. Nhưng may thay, lấy lại Khu đất chỉ là mục đích nhỏ cho riêng Hà Nội. Mục đích rộng lớn và cao trọng hơn nhiều đã vuợt khỏi lãnh vực Khu đất. Mục đích ấy là chống lại mọi BẤT CÔNG và yêu cầu thực hiện CÔNG LÝ cho toàn dân để xã hội có HÒA BÌNH lâu bền. Chính nhân danh Mục đích cao trọng và rộng rãi này mà Giáo dân cảm thấy hãnh diện cho sự hy sinh của mình và đồng thời Giáo dân nhận được sự ủng hộ của các tầng lớp xã hội và gần hơn nửa là nhân dân, vì mục đích cao trọng này, đã kết án biến cố 19.09.2008 mà CSVN mới làm tại Tòa Khâm sứ.


TIẾP TỤC VÀ TĂNG CƯỜNG
CẦU NGUYỆN CHO CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH

Chính cái Mục đích lâu dài và cao cả cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH mà Giáo dân Hà Nội và Giáo dân Thái Hà đang được công luận ủng hộ, mang tới cho những THẮNG LỢI. Cũng chính vì Mục đích tối hậu là CÔNG LÝ và HÒA BÌNH mà công luận đang dồn cho CSVN những THẤT BẠI. CSVN càng cố bịa đặt, vu khống, thì công luận càng nhìn rõ những gian trá lừa đảo của họ.

Thực vậy, nếu CSVN khôn ngoan, khi cuộc đấu tranh nổi dậy, họ tìm cách trao trả Khu đất Thái Hà và Khu đất Tòa Khâm sứ để chấm dứt những cuộc Cầu Nguyện, thì có lẽ trong đường dài họ sẽ được công luận ủng hộ và Giáo dân Thái Hà cũng như Giáo dân Hà nội không có những hiệp thông sâu rộng từ mọi nơi.

Vì quá tham hoặc quá kẹt mà CSVN đã sống trong tình trạng bí lối, phải bịa đặt ra tất cả vu khống tự gây họa cho mình. Họa vô đơn chí. Vu khống này kéo theo vu không kia. Quần chúng nhìn rõ. CSVN không thể che đậy.

Cuộc đấu tranh Cầu Nguyện cứ tiếp tục cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Vì lòng tham hay vì kẹt tiền Tham nhũng trên những miếng đất Thái Hà và Tòa Khâm sứ, CSVN như con vật bị thương, chạy hết kế này đến kế kia, dù bất chính, để chữa chạy. Càng chửa chạy, càng điên khùng.

ĐỨNG TRƯỚC SỰ HỖN LOẠN CỦA CON VẬT ĐIÊN VÌ BỊ THUƠNG, GIÁO DÂN THÁI HÀ CŨNG NHƯ GIÁO DÂN HÀ NỘI HÃY TIẾP TỤC VÀ TĂNG CƯỜNG CẦU NGUYỆN CHO CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH TRONG TẤT CẢ BÌNH TĨNH VÀ QUẢ CẢM.

Con vật càng bị thương, thì càng quay cuồng điên khùng, ta bình tĩnh và quả cảm kiên trì tiếp tục làm những gì mà mình đã làm khiến con vật bị thương và điên khùng. Hãy êm đềm kiên trì như một thúng bông gòn sẵn sàng đón nhận nhửng cục sắt nằm ngộp im lìm trong thúng bông.

HÃY TIẾP TỤC VÀ TĂNG CƯỜNG CẦU NGUYÊN CHO CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 






                                              TÒA KHÂM SỨ:
                            CON ĐƯỜNG CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH


                                     Gioan NGUYỄN PHÚC LIÊN
                                                  29.01.2008


Chú thích của NGUYỄN PHÚC LIÊN ngày 21.09.2008 khi cho đăng lại bài này viết ngày 29.01.2008, ngày mà CSVN đưa ra những đe dọa của một cảnh tượng Thiên An Môn:

Đây là bài viết trước ngày có Lá Thư của Hông Y Quốc Vụ Khanh Vatican yêu cầu Giáo dân Việt Nam chấm dứt Cầu Nguyện để Đối Thoại với quân Pharisiêu CSVN. Quân Pharisiêu CSVN đã  hứa với Tòa Thánh Vatican và TGM Ngô Quang Kiệt rằng chúng sẽ trả lại Khu đất Tòa Khâm sứ.

 
Con đường đấu tranh cho CÔNG LÝ để có HÒA BÌNH sáng tỏ như ban ngày, thẳng băng như đại lộ. Đó là con đường mà Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT, ngày 15.12.2007, đã kêu gọi Giáo dân hãy xác tín mà đi. Ngày 18.12.2007, Giáo dân, Linh mục, Tu sĩ nam nữ cùng nhau đứng lên bước theo con đường ấy trong trật tự, không bạo động, với những lời cầu kinh hoàn toàn tin tưởng vào Chúa Giêsu và Mẹ Maria.

CON ĐƯỜNG THẲNG DẪN ĐẾN
ĐÍCH ĐIỂM LÀ CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNHÙ 

Cái đích điểm CÔNG LÝ ấy không phải là do TGM Ngô Quang Kiệt, các Linh mục, các Tu sĩ Nam Nữ và Giáo Dân đã tự nghĩ ra làm Mục đích để phát động đấu tranh, nhưng chính là Giáo huấn Tôn Giáo mà Chúa Giêsu và Mẹ Maria đã soi sáng vào Lương Tâm của từng người trải qua bao ngàn năm Lịch sử Tôn Giáo. Mục đích CÔNG LÝ ấy không phải là con người nghĩ ra trong tương đối đổi thay, nhưng là Giáo Huấn từ Thiên Chúa trong Lương Tâm rồi.

NHỮNG NGỤY TẠO MUỐN CON ĐƯỜNG GAI GÓC VÀ
MỤC ĐÍCH SAI LỆCH ĐI

Trước hết, ngay trong lòng Giáo Hội CGVN, còn có những phần tử nêu ra chiêu bài Đối Thoại mặc dầu biết rằng CSVN là đám người tìm mọi giả hình để lừa đảo. Những chiêu bài Đối Thoại có thể trỏ thành gai góc trên con đường thẳng tới CÔNG LÝ và HÒA BÌNH thực sự.
 
Những ngụy biện lắt léo, lưu manh, vu khống là phương tiện cản đường đến từ những kẻ sống trong bóng tối, không đường đường chính chính theo lẽ phải. CSVN luôn luôn gian trá, che đậy để sống. Tệ hơn nữa, chúng còn dùng sức mạnh khủng bố để đè bẹp sự thật.

Cụ thể là Uûy Ban Nhân Dân Thành phố Hà Nội đã gửi hai Văn Thư tố cáo cuộc đấu tranh với tất cả những lời lẽ ngụy biện. Chúng còn cho cả đám Báo Đài truyền thông bồi bếp của chúng hùa nhau ngụy biện. Tòa Giám Mục Hà Nội thẳng thắn phản bác những lời ngụy biện ấy ở hai Văn Thư của UBND thành phố Hà Nội. Người nắm vững sự thật, thì không sợ những gì gian trá. Đi trong ánh sáng, thì không có gì phải ngại bóng tối.

Và trong những ngày gần đây nhất, CSVN đã xử dụng biện pháp hù dọa dùng bạo lực để mong làm những người đấu tranh sợ hãi mà không bước đi trên con đường thẳng quang minh chính đại của mình nữa. Những người đấu tranh đã đi guốc trong ruột những những kẻ lưu manh hù dọa kia. Đó chỉ là những đòn thế hù dọa tâm lý của kẻ yếu lý mà thôi (Mesure d’intimidation psychologique). Đức TGM Ngô Quang Kiệt, những Linh mục, những Tu sĩ Nam Nữ và toàn Giáo dân, người người như một, không hề sợ hãi trước những hù dọa tâm lý hoặc ngay chính những đàn áp thực sự, vẫn tiếp tục đi trên con đường quang minh chính đại của mình để đạt mục đích CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Máu đào của các Thánh Tử Đạo Việt Nam đang chảy vào trái tim của họ. Họ cùng hát lên  bài ĐÂY BÀI CA NGÀN TRÙNG, bài KÌA AI ÁNH HỒNG VINH QUANG để nhận lãnh máu đào tử đạo và đồng thời chuyền máu ấy cho nhau trong một sự HIỆP THÔNG kiên quyết lãnh nhận mọi thử thách trên con đường đạt tới CÔNG LÝ và HÒA BÌNH.

ĐÃ BƯỚC ĐI VÀ KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN LÙI

Có những Vị viết bình phẩm về cuộc đấu tranh này đã đặt câu hỏi rằng cuộc đấu tranh sẽ đi về đâu và có thành công hay không. Không thể hỏi rằng sẽ đi về đâu bởi vì cái đích điểm hoàn toàn sáng tỏ ở trước mặt: cái đâu đó là CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Còn kết quả có thành công hay không, thì tôi xin thưa rằng cuộc đấu tranh này không phải là có thể thành công mà BUỘC PHẢI THÀNH CÔNG.

Như ở đoạn đầu chúng tôi đã nói, cái Mục đích CÔNG LÝ không phải là do những người đấu tranh tự đặt ra cho mình, nghĩa là mình có thể tùy tiện đổi thay, nhưng cái Mục đích ấy là Giáo Huấn của Tôn Giáo được Thiên Chúa chỉ dậy cho Lương Tâm từng người. Theo Tôn giáo là phải theo Giáo Huấn in vào Lương Tâm từ Thiên Chúa. Người Tín hữu không thể tự mình thay đổi Lương Tâm. Không đạt được CÔNG LÝ, có nghĩa là để BẤT CÔNG hoành hành. Phải xua đuổi, phải thắng BẤT CÔNG, đó cũng là Giáo Huấn vậy.

Nhà Đất của Tòa Khâm Sứ chỉ là một tỉ dụ nhỏ của BẤT CÔNG. Lấy lại Nhà Đất của Tòa Khâm Sứ chũng chỉ là đạt được một điểm nhỏ của CÔNG LÝ. Cái Mục đích của cuộc đấu tranh không phải là ngừng ở chỗ đạt được điểm nhỏ Nhà Đất của Tòa Khâm Sứ. Cuộc đấu tranh còn phải đi nữa để thi hành Giáo Huấn CÔNG LÝ mà Thiên Chúa đã in vào Lương Tâm từng người. Lấy lại Nhà Đất của Tòa Khâm Sứ mà chung quanh mình còn đầy BẤT CÔNG cho Dân Oan, cho Công Nhân, cho Tổ Tiên, thì Lương Tâm mình không thể yên để có thể gọi là có HÒA BÌNH.

Gioan NGUYỄN PHÚC LIÊN






                                THÁI HÀ KIÊN TRÌ VÀ THẮNG LỢI

                      Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                               18.09.2008


Trong số báo VietTUDAN, số 365/21.08.2008, chúng tôi đã cho đăng một loạt bài dưới đầu đề CUỘC ĐẤU TRANH CHO CÔNG LÝ LẠI BÙNG LÊN. Thực vậy, ngày 15.08.2008, Giáo dân Thái Hà tăng cường cầu nguyên cho CÔNG LÝ được tôn trọng trên mảnh đất Thái Hà nói riêng và cho Lãnh thổ Việt Nam nói chung.

Từ ngày lại bùng lên cuộc đấu tranh cho CÔNG LÝ, chúng tôi theo rõi rất sát cuộc đấu tranh này và mỗi ngày chúng tôi thấy những gặt hái thành công của phía Giáo dân Thái Hà, đồng thời thấy phía cường quyền CSVN lầm lẫn hoặc cố chấp để đi từ thất bại này đến thất bại kia.

Gọi là THẮNG LỢI khi những người đấu tranh đạt được MỤC ĐÍCH giai đoạn, ngắn hạn hay dài hạn. Gọi là THẤT BẠI khi không đạt được MỤC ĐÍCH giai đoạn, ngắn hạn hay dài hạn. Theo đúng định nghĩa THẮNG LỢI hay THẤT BẠI như vậy, thì chúng tôi thấy rằng phía Giáo dân Thái Hà đang đi trên con đường THẮNG LỢI cho đến lúc này, còn phía cường quyền CSVN đang gặp nhửng THẤT BẠI.


CSVN đang gặp những THẤT BẠI

Như trên chúng tôi đã định nghĩa, nói THẤT BẠI hay không là nói đến việc có đạt MỤC ĐÍCH hay không. Khi Giáo dân Thái Hà đứng lên đấu tranh, CSVN phản ứng ngăn chặn. Hãy nhìn vào MỤC ĐÍCH của những biện pháp hành động ngăn chặn của CSVN:

=> Mục đích gần hơn cả:  Giữ lại miếng đất đã ăn cướp để bán lấy tư lợi.

Chia lô miếng đất để bán thu lợi cho cá nhân. Đây là mục đích gần nhất và việc phản ứng của những cá nhân CSVN có quyền hành liên hệ đến tư lợi bị kẹt nhất. Nhóm CSVN tư lợi này đã tạo những giấy tờ giả mạo và xử dụng Báo Đài công để phổ biến nhửng ngụy tạo của mình. Họ đã thất bại vì xứ Thái Hà đã có thể đưa ra những văn bản chính thức chứng minh quyền sở hữu của mình.

=> Mục đích xa hơn:  Tránh việc Giáo dân nơi khác theo gương Thái Hà đứng lên đòi đất.

Không phải việc CSVN cướp đất chỉ ở Thái Hà, nhưng còn nhiều tại những Giáo phận khác khắp Việt Nam mà tỉ dụ cụ thể hơn hết là đất Tòa Khâm sứ tại chính Hà Nội. Nếu việc đòi nhà đất thành công tại Thái Hà, rồi tại Tòa khâm sứ Hà nội, thì tại những Giáo phận khác sẽ có nổi lên theo gương đó. Trước vấn đề có thể lan rộng như vậy, phản ứng cũa CSVN không phải chỉ hạn hẹp nơi những người nắm quyền liên hệ tại Hà Nội muốn thủ lợi như trên, mà còn liên hệ rộng lớn đến các cấp nắm quyền CSVN tại những Tỉnh khác nữa. CSVN, không phải chỉ riêng Hà Nội, mà lên tới cấp Trung uơng, đã đã đưa ra ba biện pháp:

(i) Đối với những Linh mục trực tiếp với Giáo dân, CSVN vu khống, thóa mạ những Linh mục này được coi là những người xúi giục Gáo dân đứng lên;

(ii)  Đối với Giáo dân tập họp cầu nguyên, CSVN dùng võ lực Công an để hù dọa Giáo dân để họ không tập họp theo sự xúi giục nữa, thậm chí Công an đã dùng dùi cui điện đánh đổ máu Giáo dân, xả hơi cay vào chính đoàn người cầu nguyện gồm cả người lớn tuổi và trẻ em.

(iii) Tách ra một số Tín hữu có tầm ảnh hưởng lên quần chúng Giáo dân Thái Hà và tìm cớ để truy tố hòng kết án tù tội những Tín hửu này. Cớ mà CSVN đưa ra đó là không tôn trọng Trật Tự xã hội  và phá hoại Tài sản Công cộng.

CSVN, được sự chấp nhận của Trung uơng, đã xử dụng toàn diện các cơ quan truyền thông công cộng để mạ lỵ các Linh mục, thậm chí còn xử dụng những Linh mục giả mạo để mạ lỵ. CSVN còn muốn buộc tội những Linh mục trách nhiệm như có liên hệ với ’thế lực thù địch ngoại lai’. Thủ đoạn tuyên truyền, vu khống, mạ lỵ này không những không đạt được kết quả mong muốn mà còn mang đến cho họ phản ứng ngược lại, đó là Giáo quyền cũng như những Linh mục đoàn thuộc các Giáo phận khác không thể tin được CSVN, mà còn kéo về Thái Hà để yểm trợ. Cũng vậy, về phía Giáo dân, những biện pháp đánh đập, xả hơi cay đã làm cho Giáo dân các Giáo phận khác kéo về Thái Hà để cùng chịu hy sinh với đồng đạo của mình. Chính Giáo dân Thái, trước những đe dọa đàn áp của Công an, ý chí họ càng cứng rắn hơn đến độ sẳn sàng chết vì Đạo.

CSVN đã THẤT BẠI đối với MỤC ĐÍCH xử dụng hai biện pháp thứ (i) và thứ (ii) vừa phân tích ở trên. Còn biện pháp truy tố, kết án tù với nhửng chứng cớ nguỵ tạo và với những phiên tòa man rợ, thì Dân chúng Việt Nam và những Tổ chức quốc tế đã quen thuộc với nền Pháp Lý không đứng đắn của CSVN. Vậy CSVN có dám đưa những Giáo dân bị vu khống này ra Tòa hay không để có thể chính mình nhận lãnh những hậu quả ngược lại MỤC ĐÍCH mong muốn ?

=> Mục đích lâu dài và toàn diện:  Các Tôn giáo khác và Toàn dân đứng lên chống BẤT CÔNG xã hội và đòi thực hiện CÔNG LÝ cho mọi người.

Khi nhóm tư lợi liên hệ trực tiếp với miếng đất tại Thái Hà bị thất bại, nghĩa là không có thể nuốt trửng miếng đất ấy, và khi cả Trung uơng CSVN thất bại trong việc không tránh khỏi việc các Giáo phận khác đứng lên đòi những đất đai đã mất theo gương của Thái Hà, thì các Tôn Giáo khác và nhất là Khối Dân Oan trên khắp Lãnh thổ sẽ đứng lên chống lại những BẤT CÔNG mà họ đã phải chịu dưới chế độ CSVN trong bao chục năm trường. Họ đòi phải hoàn lại những gì đã bị ăn cướp.

Từ chống BẤT CÔNG này, Tòan Dân đòi hỏi một Xã hội, một Thể chế phải có Luật Pháp và tôn trọng CÔNG LÝ. Đó là một Xã Hội sống trong HÒA BÌNH lâu dài.

Tóm lại, trước cuộc đấu tranh của Thái Hà, chính CSVN đã gặp những THẤT BẠI trong những biện pháp chống đở và đang đi vào ngõ BÍ. Cái ngõ bí ấy trong hiện tại đối với Thái Hà và Công Giáo. Trong tương lai lâu dài, khi mà các Tôn giáo khác và toàn Dân nổi dậy chống BẤT CÔNG, đòi CÔNG LÝ, liệu CSVN có thể thành công trong việc xử dụng những biện pháp khát máu để đè bẹp Dân tộc Việt nữa hay không ?


Thái Hà trên đường THẮNG LỢI

Cũng theo như định nghĩa ở đầu bài về THẤT BẠI và THÀNH CÔNG, đó là xem việc đấu tranh hay một biện pháp chống đỡ có đạt được MỤC ĐÍCH đặt ra hay không.

Giáo dân Thái Hà tụ họp nhau Cầu Nguyên cho CÔNG LÝ với những MỤC ĐÍCH sau đây:

=> Mục đích gần nhất: Không cho những tham quan CSVN Hà Nội bán miếng đất để thu tư lợi.

Để đạt mục đích gần nhất này, họ phải tụ họp cầu nguyên chính trên miếng đất tư hữu ấy của Giáo xứ Thái Hà. Chính CSVN đã trái phép cho xây tường và rào kẻm gai miếng đất chưa được Luật Pháp phân xử. Thái Hà củng đã khiếu nại đã từ 12 năm nay mà nhà hửu trách lẩn tránh không giải quyết. Trong tình trạng như vậy, CSVN đã tự động cho xây tường và rào kẽm gai. Ngày nay, Giáo dân có thể tụ họp cầu nguyện trên chính miếng đất ấy đề đòi lại quyền làm chủ miếng đất với những văn bản chứng minh. Giáo dân đã đạt MỤC ĐÍCH gần nhất của họ.

=> Mục đích rộng hơn:  Đòi thực hiện CÔNG LÝ liên hệ đến Nhà Đất của Thái Hà nói riêng và của Công Giáo (như Tòa Khâm sứ) nói chung.

Từ cuộc đấu tranh cho Đất của Tòa khâm sứ, việc Giáo dân tụ họp cầu nguyện được đặt dưới khẩu hiện Cầu Nguyên cho CÔNG LÝ. Nhưng hai chữ CÔNG LÝ ở đây được hiểu hạn hẹp vào đất đại không phải chỉ nguyên cho Tòa Khâm sứ, Thái Hà, mà còn cho những đất đai, nhà cửa đã bị CSVN cướp chiếm trước đây. Cuộc đấu tranh đang diễn ra tại Thái Hà cũng luôn luôn được nêu ra dưới danh hiệu ấy.

Đối với Mục đích gần nhất là miếng đất và Mục đích rộng hơn dưới hai chử CÔNG LÝ gồm những tài sản của Giáo Hội, CSVN đã tìm đủ mọi biện pháp chống đỡ như chúng tôi đã trình bầy ở phần trên đây, nhưng CSVN đã THẤT BẠI cho đến giờ, nghĩa là chưa giải tán Giáo dân ra khỏi khu đất, không thể làm cho người Công giáo và Dân chúng tin theo những vu khống tuyên truyền qua các Báo Đài công cộng, không làm cho Giáo dân Thái Hà khiếp sợ với những đe dọa võ lực và tù tội.

Không những THẤT BẠI, mà CSVN còn tạo được THÀNH CÔNG cho Giáo dân Thái Hà:

* Những vu khống qua Báo Đài càng cho Dân chúng chứng thực những xảo trá của CSVN. Đây là việc phản lại tuyên truyền của chính mình. Giáo dân Thái Hà không cần phải làm Marketing cho cuộc đấu tranh, nhưng chính Báo Đài của CSVN đã làm Marketing thay cho Thái Hà. Đây là THÀNH CÔNG cho Thái Hà

* Chính vì vu khống nguỵ biện, vì hung dữ đàn áp được phổ biến rộng rãi mà cuộc đấu tranh của Thái Hà lại nhận được sự hiệp thông, đoàn kết hỗ trợ của Giáo dân thuộc các Giáo phận khác và từ nước ngoài. Đây là sự THÀNH CÔNG đang lan rộng.

* Một sự THÀNH CÔNG quan trọng hơn nữa mà Thái Hà gặt hái được, đó là sự hiệp thông hỗ trợ từ nhiều Giám Mục và Linh mục đoàn thuộc các Giáo phận khác. Một sự đoàn kết giữa Giáo dân và Giáo quyền đang được thực hiện. CSVN đã tìm đủ mọi cách chia rẽ nội bộ Tôn giáo để họ thống trị. Nhưng chính CSVN đang giúp mang lại sự hàn gắn, sự đoàn kết, sự quyết tâm hợp nhất trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Gậy ông đang đập lưng ông CSVN vậy.

=> Mục đích lâu dài và toàn diện:  CÔNG LÝ cho mọi Tôn Giáo và cho Toàn Dân

Nếu cuộc đấu tranh của Thái Hà ngày hôm nay chỉ hạn hẹp ở miếng đất của xứ Thái Hà (Mục đích gần nhất) hoặc ngay cả mở rộng ra hơn cho CÔNG LÝ liên hệ đến đất đai của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam (Mục đích rộng hơn), thì cuộc đấu tranh có phần ích kỷ. Chúng tôi không công kích sự ích kỷ vì chúng tôi chủ trương rằng mỗi người trước hết lo lắng bảo vệ quyền lợi của mình, miễn là không vi phạm vào quyền lợi người khác.

Tuy nhiên Công Giáo nhấn mạnh đến khía cạnh Bác Aùi trong cuộc sống liên hệ xã hội. Theo tinh thần ấy, cuộc đấu tranh của Thái Hà với mục đích CÔNG LÝphải tiếp tục thể hiện tinh thần Bác ái, nghĩa là nó phải lan sang CÔNG LÝ cho mọi Tôn Giáo và cho Toàn Dân, không phải chỉ nguyên về Nhà Đất mà còn những lãnh vực khác của đời sống con người. Không thể có CÔNG LÝ chỉ cho Công Giáo Việt Nam. Trong đời sống thực tế, không ai có thể giầu một mình và được yên ổn hưởng phú quý bên cạnh những người khố rách áo ôm cùng cực. Một xã hội như vậy không thể có HÒA BÌNH.


Ai BÍ và ai không BÍ ?

Thái Hà đang đi trên đường THÀNH CÔNG trong cuộc đấu tranh quang minh chính đại của mình. CSVN, với những thủ đoạn vu khống, hù dọa hèn hạ, đã gặp những THẤT BẠI với những biện pháp chống đỡ của mình. Thái Hà không đi vào chỗ BÍ, mà chính CSVN đang gặp những cái BÍ trong vụ việc Thái Hà.

Thực ra cái BÍ của CSVN về Nhà Đất đã có từ lâu trên khắp Việt Nam. Phong trào Dân Oan đứng lên đẩy CSVN vào chỗ BÍ đến nỗi nổi khùng đánh đập Dân nghèo. Vụ việc Tòa Khâm sứ là chỗ BÍ có nhiều liên hệ với Thái Hà. Cái BÍ của CSVN là cướp Nhà Đất và đã bán mẹ nó đi lấy tiền bỏ vào túi riêng rồi.

Khi Giáo dân Thái Hà tập trung cầu nguyện cho CÔNG LÝ trên miếng đất thuộc sở hữu Thái Hà, thì những tham quan CSVN liên hệ đến miếng đất đã thấy cái BÍ của mình. Từ cái BÍ mà chính họ biết rõ, nên CSVN phải tìm tất cả mọi trò điên khùng, phi lý, vô lương tâm để mong gỡ BÍ cho mình. Họ xử dụng tất cả mọi phương tiện truyền thông để phổ biến những vu khống điên rồ của họ. Nhưng quần chúng và Giáo dân Công Giáo cả nước không mắc mưu những tuyên truyền ấy vì đã quá biết sự gian dối truyền thống của Cộng sản nhất là ở lúc BÍ làm chúng điên khùng. Việc quần chúng và Giáo dân Công giáo lật tẩy sự gian trá của truyền thông CSVN về vụ Thái Hà là một sự THÀNH CÔNG cho cuộc đấu tranh. THÀNH CÔNG này có nghĩa là THẤT BẠI của CSVN điên khùng vô lương, càng đẩy chúng vào chỗ BÍ.

Với những THẤT BẠI đã gặp, từ vị trí BÍ hiện nay, CSVN có thể lựa chọn hai thái độ:

1) Tiếp tục sự điên khùng đến mù quáng, nghĩa là chúng xử dụng võ lực Công an và Quân đội để đến giải tán Giáo dân Thái Hà và chiếm lại, canh gác khắt khe miếng đất. Giáo dân Thái Hà đã sửa soạn tinh thần và ý chí sẵn sàng đối phó trong trường hợp này. Giáo dân đã nói đến sự vinh quang được tử vì đạo. Hậu quả của hành động bằng võ lực Công an và Quân đội để cốt ý chiếm lại một mảnh đất mà CSVN đã cướp dựt có thể trở thành một THÀNH CÔNG toàn diện của Dân tộc về CÔNG LÝ với khởi điểm dũng cảm đứng lên của Thái Hà.

2) Nhưng CSVN có thể áp dụng chiến thuật hai bước lùi, một bước tiến. Quân Pharisiêu CSVN giả hình gian ác, có thể đội lốt hiền lành của con chiên để nêu ra lòng độ lượng thứ tha, tình đoàn kết hòa giải hòa hợp, sự đối thoại thân hữu để rồi đánh lừa những người nhẹ dạ cả tin. Phía Giáo quyền Công Giáo, có thể quá mủi lòng trước quân Pharisiêu giả hình gian dối, rồi nhân danh tất cả mọi chiêu bài đẹp đẽ mà đánh lừa Thái Hà cũng như vụ Tòa Khâm sứ, đó là sự phản bội không những đối với Thái Hà, mà còn đối với Dân tộc Việt Nam. Thực vậy, nếu Công Giáo có lấy lại được một vài mảnh đất do CSVN nhượng bộ trong lúc BÍ, thì xin Giáo quyền hãy nhìn chung quanh mình đầy dẫy BẤT CÔNG cho những người nghèo khổ cùng cực nhất đang nằm vật vã bên lề phố do côn đồ CSVN cướp Nhà Đất của họ tận thôn quê. Sống trong xã hội bất công hiện nay dưới chế độ CSVN, người Công giáo hãy nhớ  tỉ dụ người bị trọng thương bên lề đường và người Samari. 


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






=========================
pho bien/ publication 17.09.2008
=========================


                          BIẾN ĐỘNG HỆ THỐNG TÀI CHÁNH HOA KỲ
                              VÀ QUAN ĐIỂM CỦA NHÀ NƯỚC MỸ


                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                             Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
 


Chúng tôi quan tâm theo rõi cuộc Khủng hoảng Tài chánh tại Hoa kỳ và tầm ảnh hưởng của nó qua Aâu châu và Á đông.  Khi mà Thị trường Tài chánh Thế giới giao động như vậy, thì ảnh hưởng của nó tất nhiên không thể tránh được ở Việt Nam, nơi mà hệ thống Ngân Hàng và việc phát triển Kinh tế đang bị vi trùng Tham nhũng Lãng phí hoành hành do sự cấu kết giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế trong tay một nhóm người. Việt Nam thiếu vốn nội địa, nghĩa là lệ thuộc vào vốn nước ngoài. Phát triển Kinh tế Việt Nam cũng lệ thuộc Thị trường ngoại quốc. Khi mà có khủng hoảng Tài chánh Thế giới, thì tầm ảnh hưởng chắc chắn sẽ phải xẩy ra ở Việt Nam. Tầm ảnh hưởng ấy trở thành tai hại hơn nữa khi chính vấn đề vốn và kinh tế của mình đang trong cơn bệnh hoạn như ngày nay. Đó là mục đích tìm hiểu quan trọng khi chúng tôi theo rõi những biến chuyển Khủng hoảng của Thị trường Tài chánh hoàn cầu.

Bài này ghi lại những biến động chung quanh Wall Street từ THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 cho đến hết ngày THỨ TƯ 17.09.2008. Tất nhiên tại New York, trong những tuần trước và liền sát với THỨ HAI ĐEN, những cuộc Hội Họp liên tục giữa các Thủ lãnh Ngân Hàng và Tài chánh, rồi với Đại diện Ngân khố Nhà nước diễn ra. Xin độc giả đọc thêm những bài về Tín dụng Subprime Địa ốc (Mortgage Subprime Credit) mà chúng tôi đã viết từ năm ngoái và đầu năm nay đăng lại trong số báo này. Chính Tín dụng Subprime (Toxic) Địa ốc này là nguyên nhân gây mất mát của những Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh, rồi tạo biến động tất nhiên ở Wall Street và các Thị trường chứng khoán trên khắp Thế giới. 


THỨ TƯ 17.09.2008:

ĐỂ LEHMAN BROTHERS CHẾT
NHƯNG CỨU AIG
(AMERICAN INTERNATIONAL GROUP)

Trước quan điểm được tuyên bố bởi Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, trong những ngày trước về quan điểm cứng rắn của Nhà Nước Liên Bang Mỹ về số phận những Ngân Hàng, và việc nhất định từ chối hỗ trợ của FED để BARCLAYS có thể mua LEHMAN BROTHERS, khắp Thế giới chờ mong tin về số phận của Tập đoàn Bảo Hiểm khổng lồ AIG (American International Group). Cả Thế giới trông tin vì lãnh vực hoạt động của AIG bao trùm rộng lớn mọi nơi.


Quan điểm của Nhà Nước Liên Bang Mỹ về
các Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh

Từ năm ngoái đến giờ, những thua lỗ và những biến động xẩy ra ở nơi những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh và tại những Thị trường Chứng khoán. Người ta cũng quan sát thấy rằng những Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh thua lỗ nhiều và có thể đi đến phá sản là vì họ đã nhúng tay vào lãnh vực Tín dụng Subprime Địa ốc với tất cả những cái rủi ro (Risks) của Business. Trong những năm trường, những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh này đã thu vào những lợi nhuận rất cao. Thực vậy muốn ăn lớn thì phải có rủi ro. Họ đã vào hang cọp để bắt cọp con.

Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, đã từng điều hành Ngân Hàng GOLMAN SACHS, nên hiểu rõ những cái nguy hiểm (risks) thuộc lãnh vực này. Quan điểm của Nhà Nước Liên Bang Mỷ, qua lời khẳng định của Henry PAULSON là khi đã quyết định chơi với nguy hiểm để có lợi nhuận cao, thì phải chịu cái hậu quả của nguy hiểm, dù đó là phá sản. Nói đơn giản: được ăn thua chịu.

Về phương diện phát triển Kinh tế quốc gia, người ta thấy lãnh vực Sản xuất, Thương Mại, Việc làm cho Nhân lực,  ít có những xáo trộn xong hành với lãnh vực Tài chánh. Nền Kinh tế có chút đình trệ, nhưng không có những biến động coi là Khủng hoảng như những năm 1929-30.

Có thể nói rằng  thái độ của Nhà Nước Liên Bang là:

=> Nhà Nước để cho phía các Tổ chức Ngân Hàng, Tài chánh chơi với nguy hiểm, tự đào thải

=> Nhà Nước canh chừng và bảo vệ nền Kinh tế phát triển đều đặn, tránh những biến động mạnh. 

=> Không thể lấy tiền của Dân đóng thuế để cứu những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh tư nhân chơi với rủi ro để kiếm lợi nhuận cao bỏ túi riêng. Khi họ có lợi nhuận cao, họ có chia cho Dân đâu. Vậy khi họ gặp phá sản, tại sao lấy tiền của Dân ra cứu họ. 

Ngân Hàng LEHMAN BROTHERS với 158 tuổi đã bị để cho chết trong quan điểm trên của Nhà Nước.


Nhà Nước Liên Bang vào phút chót cứu
AIG (American International Group) với 85 tỉ

AIG là một Tổ chức Bảo Hiểm có tầm hoạt động rộng lớn khắp Thế giới. AIG xử dụng 116'000 nhân viên và có 74 triệu khách hàng bảo hiểm trên 130 quốc gia. Nhửng khách hàng ấy không phải hẳn là những cá nhân nhưng là những Tập thề, Ngân Hàng hay Quốc gia. Với trị giá tài sản 180 tỉ đo-la, AIG là một trong 5 Tập đoàn Kinh tế tư nhân lớn nhất của Hoa kỳ. Lãnh vực hoạt động của AIG liên hệ đến hệ thống Tài chánh Thế giới và nhất là về những bảo hiểm nhân mạng, cuộc sống và tuổi già của nhiều triêu dân chúng. AIG còn bào hiểm rộng lớn cho những Quốc gia về những Obligations. Tuy nhiên lãnh vực rủi ro của AIG là đã đụng chạm đến Tín dụng Subprime địa ốc. Mộ lảnh vực nữa là đã đưa ra sàn phẩm CDS-CREDIT DEFAULT SWAP, một Hợp đồng Bảo Đảm Rủi ro cho Tín dụng. Số lượng Bảo Đảm này năm 2004 là 6’396 tỉ đo-la và cuối năm 2007 lên vọt tới số lượng 57'894 tỉ đo-la.

Trong suốt những ngày vửa rồi, chính Oâng Henry PAULSON đã hết lòng dàn xếp với giới Ngân Hàng tư nhân, ngay cả thúc đẩy những Ngân Hàng Trung ương Aâu châu trợ lực để cứu AIG.

Cuới cùng Tổng thống Bush, Chủ tịch Ngân Hàng Trung ương Hoa kỳ (FED) và Bộ trưởng Ngân khố Mỹ phài quyết định bỏ ra 85 tỉ đo la để cứu AIG vì nếu AIG phá sản thì hậu quả bao trùm Thế giới.

Nhà Nước Liên Bang Mỹ, sau khi cứu AIG, còn phải cứu ai nữa không khi mà quan điểm của Nhà Nước quyết theo như chủ trương vừa trình bầy ở đoạn trên ? Oâng Marco ANNUNZIATA,  Trưởng Bộ phận Phân tích Tài chánh của UNICREDIT đã cho ý kiến:’L’accélération  de la consolidation du secteur financier américain prend des allures certes dramatiques, mais nous arrivons au stade final de la crise’ (Journal LE TEMPS, Suisse, 18.09.2008, p.2) (Việc tiến hành nhập lại của lãnh vực tài chánh Mỹ thực mang những bước đi bi thảm, nhưng chúng ta đi tới chặng cuối cùng của khủng hoảng).

Một số người có khuynh hướng Xã Hội Chủ Nghỉa, qua việc Nhà Nước Liên Bang cứu  FANNIE MAE, FREDDIE MAC, BEAR STEARNS và AIG, đã vội miệng công kích rằng đó là một việc can thiệp của Chính trị Nhà Nước vào lãnh vực Kinh tế tư nhân trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

Xin nhớ rằng đây là việc tư nhân yêu cầu Nhà Nước cứu giúp mình khi hoạn nạn, chứ không phải Nhà Nước tìm đến để can thiệp xen lấn. Cũng nói ngay rằng Nhà Nước Liên Bang Mỹ là một Nhà Nước Dân chủ chứ không phải là Nhà Nước độc tài.

Một Bình luận gia trên Đài Truyền hình TSR1, ngày 14.09.2008 đã nói một câu có ý khen ngợi tính cách rộng lượng của Nhà Nước Mỹ trong việc trợ lực này: “Quand il y a des Profits, on désire de les privatiser; mais quand il y a des Pertes, on souhaite de les nationaliser“. (Khi có nhiều Lợi nhuận, thì người ta muốn tư nhân hóa; nhưng khi có những Mất mát, thì người ta mong mỏi quốc hữu hóa).


Tình trạng mất mát của các Ngân Hàng
vì vào lãnh vực rủi ro Tín dụng Subprime Địa ốc

Có những Ngân Hàng, Tập đoàn Tài chánh không muốn công bố vì muốn giữ thế giá hoặc chỉ mất chừng mấy trăm triệu hay bên dưới 4 hay 5 tỉ đo la. Tính cho đến hôm nay, việc mất mát vì Mortgage Subprime (Toxic) Credit được một số Ngân Hàng tuyên bố như sau:

* CITIGROUP (Mỹ)  :                    mất 55.1 tỉ đo la
* MERRILL LYNCH (Mỹ)  :            mất 52.2 tỉ đo la
* UBS (Thụy sĩ)  :                         mất 44.2 tỉ đo la
* HSBC (Anh)  :                            mất 27.4 tỉ đo la
* WACHOVIA (Mỹ)  :                    mất 22.7 tỉ đo la
* BANK OF AMERICA (Mỹ)  :        mất 21.2 tỉ đo la
* WASHINGTON MUTUAL (Mỹ) :   mất 14.8 tỉ đo la
* MORGAN STANLEY (Mỹ)  :        mất 14.4 tỉ đo la
* IKB (Đức)  :                              mất 14.4 tỉ đo la
* JP MORGAN CHASE (Mỹ)   :     mất 14.3 tỉ đo la

(Theo nguồn của BLOOMBERG)




THỨ BA 16.09.2008

KHỦNG HOẢNG CREDIT CARDS ?
(CREDIT CARDS CRISIS?)


Thiết lập Quỹ Chống Phá Sản
(Anti-Bankruptcy Funds/ Fonds Anti-Faillite)

Đây là một ý tưởng theo mẫu của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF/ FMI) được thiết lập năm 1944. Thời kỳ này, Tiền tệ của các nước còn trong hệ thống bảo chứng bằng Vàng (Regime Etalon-Or). Nhưng Thế Chiến Thứ Hai đã làm cho các nước Aâu châu mất hết Vàng, vì thế Tiền Aâu châu đã mất hết giá vì không còn bảo chứng. Hoa kỳ đã triệu tập Hội Nghị Thế Giới về Tiền tệ tại Bretton-Woods năm 1944 để quyết định việc bảo chứng bằng đồng Dollar vì chỉ có Hoa kỳ mới còn Vàng. Tiền tệ chuyển sang hệ thống bảo chứng bằng đồng tiền mạnh Dollar (Regime Etalon-Devise-Or/ Regime Etalon-Dollar-Or).
Hội Nghị cũng quyết định thành lập Quỹ Tiền Tệ Quốc tế với mục đích hỗ trợ những nước thành viên có biến động yếu kém đi về Tiền tệ.

Cũng theo mẫu và mục đích tiên khời của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế, ngày Chúa Nhật 14.09.2009, mười Ngân Hàng lớn Hoa kỳ và ngoại quốc đã quyết định thành lập QUỸ CHỐNG PHÁ SẢN (Anti-Bankruptcy Funds/ Fonds Anti-Faillite) mà mục đích là để hỗ trợ giữa các Ngân Hàng thành viên khi đứng bên bờ phá sản. 10 Ngân Hàng lớn đó là: BANK OF AMERICA (Mỹ), BARCLAYS (Anh), CITIGROUP (Mỹ), CREDIT SUISSE (Thụy sĩ),  DEUTSCHE BANK (Đức), GOLDMAN SACHS (Mỹ), JP MORGAN CHASE (Mỹ), MERRYLL LYNCH (Mỹ), MORGAN STANLEY (Mỹ) và UBS (Thụy sĩ). Mỗi Ngân Hàng đóng vào Quỹ đó 7 tỉ đo-la.

Có lẽ cũng nhờ Quỹ này mà Bank Of America mua lại Merrill Lynch vì cùng là thành viên.


Vấn đề AIG (American International Group)
Vẫn còn sôi bỏng

AIG là Tập đoàn Bảo Hiểm lớn nhất của Mỹ. Những mất mát lớn mới đây của Tam cá nguyệt 2 của Tập đoàn được ghi nhận như sau:

* Bảo Hiểm Tổng Quát (General Insurance) : mất 827 triệu đo-la

* Bảo Hiểm Sinh mạng và Dịch vụ Hưu trí (Life Insurance & Retirement Services): mất 2.4 tỉ đo-la.

* Quản trị Tài sản (Asset Management): mất 314 triệu đo-la

* Những Dịch vụ Tài chánh (Financial Services): mất 5.9 tỉ đo-la

Với những mất mát mới đây, AIG ở trong tình trạng giao động gay gắt. Trị giá của AIG tại Thị trường Chứng khoán Wall Street tụt dốc: 60% mất giá trong ngày thứ HAI và 19% thêm nữa trong ngày thứ BA. Việc phá sản của AIG không những làm giao động mạnh hệ thống Tài chánh của Hoa kỳ, mà còn cả cho Aâu châu và Á châu nữa. Phải cứu AIG bằng mọi giá.

Mạc dầu đã được hứa 50 tỉ đo-la hỗ trợ từ FED, nhưng AIG cần tới con số tối thiểu 70 tỉ đo-la. FED đã kêu gọi những Ngân Hàng còn mạnh như Goldman Sachs, JP Morgan Chase hỗ trợ. Đồng thời FED cũng kêu gọi sự tiếp sức từ những Ngân Hàng Trung ương của Aâu châu. Thống đốc Tiểu bang New York cũng cho biết có thể hỗ trợ 20 tỉ đo-la. Oâng Hank GREENBERG, cựu Chủ tịch AIG, trong một Thư đăng trong Financial Times, cũng nhấn mạnh rằng nếu hệ thống Ngân Hàng tư nhân không đủ cứu AIG, thì nhất thiết FED phải tăng cường thêm.


Quan điểm của FED trong
cơn Khủng hoảng Tài chánh

Quan điểm của FED, qua những tuyên bố của Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố, và của Oâng Tim GEITHNER, Chủ tịch của FED New York, trong những cuộc Hội họp cứu nguy các Tập đoàn Tài chánh, gồm những điểm sau đây:

=> Đây là việc Khủng hoảng về Tài chánh liên hệ thiết yếu đến những Tập đoàn quá đi sâu vào những Nghiệp vụ Thương mại, nhất là vào lãnh vực Tín dụng Subprime Địa ốc. Vì vậy, nếu có một số Tập đoàn phải chết đi, thì đó cũng là việc họ đã chấp nhận trước đây những rủi ro (Risks). Do đó không thể bắt quỹ đóng góp của những người trả thuế đến cứu vớt những rùi ro nghề nghiệp của tư nhân.

=>  Việc khủng hoảng Tài chánh này chưa mang đến hậu quả là Khủng hoảng Kinh tế Hoa kỳ. Cái lỡi phá sản là hoạt động thương mại của các Ngân Hàng ở Thị trường Tài chánh. Việc chết đi của một số Ngân Hàng có thể làm sạch sẽ hơn Thị trường Tài chánh.

=> Chính vì vậy mà FED nhất định giữ Lãi suất 2%. Việc thay đổi Lãi suất có thể gây thiệt hại cho những Tập đoàn sản xuất Kinh tế.


Từ Khủng hoảng Tín dụng Subprime Địa ốc
Đến Khủng hoảng Tín dụng Tiêu dùng
(Credit Cards Crisis)

Giới Tài chánh không muốn dùng chữ Subprime Credit nữa mà gọi thẳng là Toxic Credit (Tín dụng nhiễm độc). Người ta đang lo ngại từ Khủng hoảng Tín dụng Toxic Địa ốc, có thể các Ngân Hàng sẽ phải chịu một cơn lốc thứ hai là Thẻ Tín dụng Tiêu dùng (Credit Cards Crisis).

Thục vậy, người ta dễ lạm dụng Thẻ Credit để Tiêu dùng trở thành một món nợ không thể hoàn lại. Tại Hoa kỳ, chỉ cần mang theo người Credit Card và Drive License là đủ mua bán mọi nơi. Việc mua bán qua Internet cũng xử dụng Credit Cards và lan rộng ngoài phạm vi Hoa kỳ.

Giới quan tâm đến cuộc Khủng hoảng Credit Cards đã ước tính Toxic Credit cho Thẻ Tiêu dùng có thể lên tới con số rất lớn. Mỗi Gia đình tại Mỹ trung bình xử dụng tới 6 Credit Cards. Mỗi Credit Card mang nợ trung bình là 10'000 đo-la.  Giới Ngân Hàng tính tổng cộng tại Hoa kỳ số tiền Toxic Credits cho những Cards này lên tới 1'000 tỉ đo-la.

Ý kiến riêng: Tốt hơn hết là khi mấy Oâng ra ngoài buổi tối, nên để Credit Cards ở nhà cho các bà xã giữ. Chỉ lên bỏ vào túi tiền mặt chừng 20 đo-la. Uống bia hết tiền mặt thì về nhà. Còn nếu có sẵn Credit Cards trong túi, thì khi hơi men bốc lên rồi, mà ngồi cạnh nữ giới với ánh đèn mầu, thì dễ dàng mang Credit Cards ra trả cho lên mặt anh hùng !.

 

THỨ HAI ĐEN 15.09.2008:

BIẾN ĐỘNG TÀI CHÁNH

TẠI WALL STREET


THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 cho Wall Street. Mà Wall Street giao động, thì tầm ảnh hưởng lan rộng ra Thế Giới. Hệ thống Ngân Hàng và Tài chánh Thế giới bị bệnh. Những Ngân Hàng mất tiền, thậm chí phá sản. Cái nguyên do của tình trạng bệnh tật này là Khủng hoảng Tín dụng Địa ốc của Hoa kỳ (Mortgage Subprime Credit Crisis)

Ngày 13.12.2007, chúng tôi đã viết về Tín dụng Subprime Địa ốc là gì nhân việc Ngân Hàng UBS của Thụy sĩ tuyên bố mất 11 tỉ đo la.

Ngày 24.01.2008, chúng tôi đã viết về Khủng hoảng Thị trường Chứng khoán từ Mỹ, Aâu, Á cũng do nguyên nhân Tín dụng Subprime Địa ốc.

Chúng tôi đăng lại hai bài này để hiểu cái nguyên nhân Tín dụng Subprime Địa ốc là gì nhân THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 hôm qua.

Từ tuần trước, Ngân Hàng Trung ương Hoa kỳ FED đã đứng ra trách nhiệm cứu và kiểm soát hai Đại Tập đoàn Tài chánh Địa ốc của Mỹ FANNIE MAE và FREDDIE MAC với 200 tỉ đo la. FED cũng cứu AIG, American International Group, một Tập đoàn Bào Hiểm lớn nhất của Mỹ, với 50 tỉ đo-la. FED cũng trợ lực 30 tỉ đo la để JP MORGAN CHASE mua BEAR STEARNS vào tháng 3 vừa rồi. Nhắc lại rằng JP MORGAN CHASE là sự nhập lại của JP MORGAN và CHASE MANHATTAN vào cuối năm 2000.

Lần này đến lượt MERRILL LYNCH và LEHMAN BROTHERS. Suốt cuối tuần vừa rồi, Những Đại diện Ngân Hàng lớn họp liên hồi để cứu hai Tập đoàn này. Đây là hai Tập đoàn đầu tư nhiều trong lãnh vực Subprime Địa ốc Hoa kỳ. Đối với hai Tập đoàn này, FED không muốn cứu nữa. Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố, và Oâng Tim GEITHNER, Chủ tịch của FED New York, cũng đến họp về trường hợp của Merrill Lynch và Lehman Brothers. Nhưng hai Oâng yêu cầu phải tìm giải pháp Kỹ nghệ chứ FED không thể xử dụng tiền Dân đóng thuế để cứu hai Tập đoàn tư nhân này.

BANK OF AMERICA quyết định mua MERRILL LYNCH. Nhưng còn LEHMAN BROTHERS ? Một số Ngân Hàng như BARCLAY’S, BANK OF AMERICA cũng có ý định xét mua LEHMAN BROTHERS, nhưng muốn FED trợ lực chịu những nguy hiểm. Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, nhất quyết từ chối.

Thứ Hai 15.09.2008, LEHMAN BROTHERS tuyên bố phá sản. Wall Street giao động, nhất là giá các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh. Tập đoàn LEHMAN BROTHERS được thành lập từ năm 1850 và được 158 tuổi. Số nhân viên làm việc lên tới 15'000 người.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


(Xin đọc những bài về MORTGAGE SUBPRIME CREDIT  đăng lại trong số này)

 



=========================
pho bien/ publication 17.09.2008
=========================


                                  KHỦNG HOẢNG CREDIT CARDS ?
                                       (CREDIT CARDS CRISIS?)



                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                  17.09.2008

                 (UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html



Chúng tôi quan tâm theo rõi cuộc Khủng hoảng Tài chánh tại Hoa kỳ và tầm ảnh hưởng của nó qua Aâu châu và Á đông.  Khi mà Thị trường Tài chánh Thế giới giao động như vậy, thì ảnh hưởng của nó tất nhiên không thể tránh được ở Việt Nam, nơi mà hệ thống Ngân Hàng và việc phát triển Kinh tế đang bị vi trùng Tham nhũng Lãng phí hoành hành do sự cấu kết giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế trong tay một nhóm người. Việt Nam thiếu vốn nội địa, nghĩa là lệ thuộc vào vốn nước ngoài. Phát triển Kinh tế Việt Nam cũng lệ thuộc Thị trường ngoại quốc. Khi mà có khủng hoảng Tài chánh Thế giới, thì tầm ảnh hưởng chắc chắn sẽ phải xẩy ra ở Việt Nam. Tầm ảnh hưởng ấy trở thành tai hại hơn nữa khi chính vấn đề vốn và kinh tế của mình đang trong cơn bệnh hoạn như ngày nay. Đó là mục đích tìm hiểu quan trọng khi chúng tôi theo rõi những biến chuyển Khủng hoảng của Thị trường Tài chánh hoàn cầu.

Đêm vừa rồi, chúng tôi đã phổ biến dưới đây bài tóm lược cho tình hình Wall Street trong THỨ HAI ĐEN 15.09.2008. Nhưng sáng hôm nay, Báo Đài quốc tế lại thông tin về tình trạng còn nguy hiểm tại Wall Street trong ngày THƯ BA 16.09.2008.


Thiết lập Quỹ Chống Phá Sản
(Anti-Bankruptcy Funds/ Fonds Anti-Faillite)

Đây là một ý tưởng theo mẫu của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF/ FMI) được thiết lập năm 1944. Thời kỳ này, Tiền tệ của các nước còn trong hệ thống bảo chứng bằng Vàng (Regime Etalon-Or). Nhưng Thế Chiến Thứ Hai đã làm cho các nước Aâu châu mất hết Vàng, vì thế Tiền Aâu châu đã mất hết giá vì không còn bảo chứng. Hoa kỳ đã triệu tập Hội Nghị Thế Giới về Tiền tệ tại Bretton-Woods năm 1944 để quyết định việc bảo chứng bằng đồng Dollar vì chỉ có Hoa kỳ mới còn Vàng. Tiền tệ chuyển sang hệ thống bảo chứng bằng đồng tiền mạnh Dollar (Regime Etalon-Devise-Or/ Regime Etalon-Dollar-Or).
Hội Nghị cũng quyết định thành lập Quỹ Tiền Tệ Quốc tế với mục đích hỗ trợ những nước thành viên có biến động yếu kém đi về Tiền tệ.

Cũng theo mẫu và mục đích tiên khời của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế, ngày Chúa Nhật 14.09.2009, mười Ngân Hàng lớn Hoa kỳ và ngoại quốc đã quyết định thành lập QUỸ CHỐNG PHÁ SẢN (Anti-Bankruptcy Funds/ Fonds Anti-Faillite) mà mục đích là để hỗ trợ giữa các Ngân Hàng thành viên khi đứng bên bờ phá sản. 10 Ngân Hàng lớn đó là: BANK OF AMERICA (Mỹ), BARCLAYS (Anh), CITIGROUP (Mỹ), CREDIT SUISSE (Thụy sĩ),  DEUTSCHE BANK (Đức), GOLDMAN SACHS (Mỹ), JP MORGAN CHASE (Mỹ), MERRYLL LYNCH (Mỹ), MORGAN STANLEY (Mỹ) và UBS (Thụy sĩ). Mỗi Ngân Hàng đóng vào Quỹ đó 7 tỉ đo-la.

Có lẽ cũng nhờ Quỹ này mà Bank Of America mua lại Merrill Lynch vì cùng là thành viên.


Vấn đề AIG (American International Group)
Vẫn còn sôi bỏng

AIG là Tập đoàn Bảo Hiểm lớn nhất của Mỹ. Những mất mát lớn mới đây của Tam cá nguyệt 2 của Tập đoàn được ghi nhận như sau:

* Bảo Hiểm Tổng Quát (General Insurance) : mất 827 triệu đo-la

* Bảo Hiểm Sinh mạng và Dịch vụ Hưu trí (Life Insurance & Retirement Services): mất 2.4 tỉ đo-la.

* Quản trị Tài sản (Asset Management): mất 314 triệu đo-la

* Những Dịch vụ Tài chánh (Financial Services): mất 5.9 tỉ đo-la

Với những mất mát mới đây, AIG ở trong tình trạng giao động gay gắt. Trị giá của AIG tại Thị trường Chứng khoán Wall Street tụt dốc: 60% mất giá trong ngày thứ HAI và 19% thêm nữa trong ngày thứ BA. Việc phá sản của AIG không những làm giao động mạnh hệ thống Tài chánh của Hoa kỳ, mà còn cả cho Aâu châu và Á châu nữa. Phải cứu AIG bằng mọi giá.

Mạc dầu đã được hứa 50 tỉ đo-la hỗ trợ từ FED, nhưng AIG cần tới con số tối thiểu 70 tỉ đo-la. FED đã kêu gọi những Ngân Hàng còn mạnh như Goldman Sachs, JP Morgan Chase hỗ trợ. Đồng thời FED cũng kêu gọi sự tiếp sức từ những Ngân Hàng Trung ương của Aâu châu. Thống đốc Tiểu bang New York cũng cho biết có thể hỗ trợ 20 tỉ đo-la. Oâng Hank GREENBERG, cựu Chủ tịch AIG, trong một Thư đăng trong Financial Times, cũng nhấn mạnh rằng nếu hệ thống Ngân Hàng tư nhân không đủ cứu AIG, thì nhất thiết FED phải tăng cường thêm.


Quan điểm của FED trong
cơn Khủng hoảng Tài chánh

Quan điểm của FED, qua những tuyên bố của Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố, và của Oâng Tim GEITHNER, Chủ tịch của FED New York, trong những cuộc Hội họp cứu nguy các Tập đoàn Tài chánh, gồm những điểm sau đây:

=> Đây là việc Khủng hoảng về Tài chánh liên hệ thiết yếu đến những Tập đoàn quá đi sâu vào những Nghiệp vụ Thương mại, nhất là vào lãnh vực Tín dụng Subprime Địa ốc. Vì vậy, nếu có một số Tập đoàn phải chết đi, thì đó cũng là việc họ đã chấp nhận trước đây những rủi ro (Risks). Do đó không thể bắt quỹ đóng góp của những người trả thuế đến cứu vớt những rùi ro nghề nghiệp của tư nhân.

=>  Việc khủng hoảng Tài chánh này chưa mang đến hậu quả là Khủng hoảng Kinh tế Hoa kỳ. Cái lỡi phá sản là hoạt động thương mại của các Ngân Hàng ở Thị trường Tài chánh. Việc chết đi của một số Ngân Hàng có thể làm sạch sẽ hơn Thị trường Tài chánh.

=> Chính vì vậy mà FED nhất định giữ Lãi suất 2%. Việc thay đổi Lãi suất có thể gây thiệt hại cho những Tập đoàn sản xuất Kinh tế.


Từ Khủng hoảng Tín dụng Subprime Địa ốc
Đến Khủng hoảng Tín dụng Tiêu dùng
(Credit Cards Crisis)

Giới Tài chánh không muốn dùng chữ Subprime Credit nữa mà gọi thẳng là Toxic Credit (Tín dụng nhiễm độc). Người ta đang lo ngại từ Khủng hoảng Tín dụng Toxic Địa ốc, có thể các Ngân Hàng sẽ phải chịu một cơn lốc thứ hai là Thẻ Tín dụng Tiêu dùng (Credit Cards Crisis).

Thục vậy, người ta dễ lạm dụng Thẻ Credit để Tiêu dùng trở thành một món nợ không thể hoàn lại. Tại Hoa kỳ, chỉ cần mang theo người Credit Card và Drive License là đủ mua bán mọi nơi. Việc mua bán qua Internet cũng xử dụng Credit Cards và lan rộng ngoài phạm vi Hoa kỳ.

Giới quan tâm đến cuộc Khủng hoảng Credit Cards đã ước tính Toxic Credit cho Thẻ Tiêu dùng có thể lên tới con số rất lớn. Mỗi Gia đình tại Mỹ trung bình xử dụng tới 6 Credit Cards. Mỗi Credit Card mang nợ trung bình là 10'000 đo-la.  Giới Ngân Hàng tính tổng cộng tại Hoa kỳ số tiền Toxic Credits cho những Cards này lên tới 1'000 tỉ đo-la.


Ý kiến riêng: Tốt hơn hết là khi mấy Oâng ra ngoài buổi tối, nên để Credit Cards ở nhà cho các bà xã giữ. Chỉ lên bỏ vào túi tiền mặt chừng 20 đo-la. Uống bia hết tiền mặt thì về nhà. Còn nếu có sẵn Credit Cards trong túi, thì khi hơi men bốc lên rồi, mà ngồi cạnh nữ giới với ánh đèn mầu, thì dễ dàng mang Credit Cards ra trả cho lên mặt anh hùng !.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỆN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 







                                 KHỦNG HOẢNG TÍN DỤNG ĐỊA ỐC



                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                 17.09.2008

                 (UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html



THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 cho Wall Street. Mà Wall Street giao động, thì tầm ảnh hưởng lan rộng ra Thế Giới. Hệ thống Ngân Hàng và Tài chánh Thế giới bị bệnh. Những Ngân Hàng mất tiền, thậm chí phá sản. Cái nguyên do của tình trạng bệnh tật này là Khủng hoảng Tín dụng Địa ốc của Hoa kỳ (Mortgage Subprime Credit Crisis)

Ngày 13.12.2007, chúng tôi đã viết về Tín dụng Subprime Địa ốc là gì nhân việc Ngân Hàng UBS của Thụy sĩ tuyên bố mất 11 tỉ đo la.

Ngày 24.01.2008, chúng tôi đã viết về Khủng hoảng Thị trường Chứng khoán từ Mỹ, Aâu, Á cũng do nguyên nhân Tín dụng Subprime Địa ốc.

Chúng tôi đăng lại hai bài này để hiểu cái nguyên nhân Tín dụng Subprime Địa ốc là gì nhân THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 hôm qua.

Từ tuần trước, Ngân Hàng Trung ương Hoa kỳ FED đã đứng ra trách nhiệm cứu và kiểm soát hai Đại Tập đoàn Tài chánh Địa ốc của Mỹ FANNIE MAE và FREDDIE MAC với 200 tỉ đo la. FED cũng cứu AIG, American International Group, một Tập đoàn Bào Hiểm lớn nhất của Mỹ, với 50 tỉ đo-la. FED cũng trợ lực 30 tỉ đo la để JP MORGAN CHASE mua BEAR STEARNS vào tháng 3 vừa rồi. Nhắc lại rằng JP MORGAN CHASE là sự nhập lại của JP MORGAN và CHASE MANHATTAN vào cuối năm 2000.

Lần này đến lượt MERRILL LYNCH và LEHMAN BROTHERS. Suốt cuối tuần vừa rồi, Những Đại diện Ngân Hàng lớn họp liên hồi để cứu hai Tập đoàn này. Đây là hai Tập đoàn đầu tư nhiều trong lãnh vực Subprime Địa ốc Hoa kỳ. Đối với hai Tập đoàn này, FED không muốn cứu nữa. Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố, và Oâng Tim GEITHNER, Chủ tịch của FED New York, cũng đến họp về trường hợp của Merrill Lynch và Lehman Brothers. Nhưng hai Oâng yêu cầu phải tìm giải pháp Kỹ nghệ chứ FED không thể xử dụng tiền Dân đóng thuế để cứu hai Tập đoàn tư nhân này.

BANK OF AMERICA quyết định mua MERRILL LYNCH. Nhưng còn LEHMAN BROTHERS ? Một số Ngân Hàng như BARCLAY’S, BANK OF AMERICA cũng có ý định xét mua LEHMAN BROTHERS, nhưng muốn FED trợ lực chịu những nguy hiểm. Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, nhất quyết từ chối.

Thứ Hai 15.09.2008, LEHMAN BROTHERS tuyên bố phá sản. Wall Street giao động, nhất là giá các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh. Tập đoàn LEHMAN BROTHERS được thành lập từ năm 1850 và được 158 tuổi. Số nhân viên làm việc lên tới 15'000 người.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 






                                             NHỮNG TÍN DỤNG 
                                  THẾ CHẤP ĐỊA ỐC NGUY HIỂM


                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                  13.12.2007

                  (UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html



Chúng tôi đã viết 5 bài trong 12 bài chủ để này. Những bài đã viết quy tụ vào việc phân tích cuộc Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh năm 1997 tại Á đông và việc lấy lại đà phát triển trong những điều kiện còn bấp bênh như thế nào.

Chính lẽ tuần này, chúng tôi viết bài thứ sáu phân tích những nền kinh tế của những nước bắt đầu phát triển cao như Nam Phi, Nga, Trung Cộng và nhất là Việt Nam. Những bài tiếp theo này dựa một phần vào những nhận định của hai bài đăng trên Nhật Báo LE MONDE số 19523/ 31.10.2007: L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển) và LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh vì vật giá tăng), trong đó Trung quốc và Việt Nam được nhắc ra rõ rệt.


Nhưng vì đầu tuần này, ngày 10.12.2007, Đài Truyền Hình Thụy sĩ loan một tin rất quan trọng về Tài chánh mang tính cách khủng hoảng. Đó là Ngân Hàng UBS đã tuyên bố thua lỗ 11 tỉ Đo-la vì đầu tư vào những Tín dụng Thế chấp nhiều may rủi của Hoa kỳ (sub-prime) vào lãnh vực Địa ốc, nên chúng tôi viết đặc biệt về phương diện này như một PHỤ BẢN 1. Thực ra sự giao động trong lãnh vực Tài chánh về phương diện này đã bắt đầu vào tháng 8/2007 và còn ảnh hưởng tới ngày nay. Chúng tôi viết như một PHỤ BẢN bởi vì trong suốt 5 bài về Khủng Hoảng 1997, Bà Francoise NICOLAS luôn luôn nhắc đến Tín dụng nghi ngờ (créances douteuses) cho Địa ốc như là một trong lý do chính cho cuộc Khủng hoảng năm 1997. Cũng vậy, trong những bài kế tiếp về những quốc gia bắt đầu phát triển cao hiện nay, vấn đề Tín dụng dài hạn cho Địa ốc bằng phát hành những phương tiện đầu tư tương lai (création des moyens de financement virtuel) mang những mầm mống Khủng hoảng trước việc không chắc chắn của phát triển Kinh tế (Incertitude de la croissance économique future).

Vì vậy, bài PHỤ BẢN này mang tính cách quan trọng trong việc cắt nghĩa Khủng hoảng 1997 và những Khủng hoảng có thể xẩy ra trong tương lai.

Chúng tôi bàn đến những điểm sau đây về lãnh vực này:

=> Một vài tỉ dụ dẫn nhập  
=> Giao động về Tín dụ nguy hiểm thế chấp Địa ốc (sub-prime) như thế nào
=> Khủng hoảng 1997 và đe dọa hiện nay ở những nước bắt đầu phát triển

Một vài tỉ dụ dẫn nhập

Tôi xin kể ra hai tỉ dụ mà chính tôi được chứng kiến. Tỉ dụ thứ nhất là việc mua nhà của một người bạn. Một bạn cùng học tại Đại học Thụy sĩ mà tôi biết rất rành. Anh sống đời sinh viên chật vật. Khi học xong, anh xin được việc làm trong một Ngân Hàng tại Thụy sĩ với mức độ lương khá cao. Làm được một năm, anh quyết định mua nhà bằng lấy tín dụng của Ngân Hàng dựa trên khả năng trả tiền hàng tháng của đồng lương cao. Tất nhiên ngôi nhà là thế chấp, nghĩa là Ngân Hàng có thể thu ngôi nhà, nếu không trả được nợ đã vay. Được một vài năm, vì một lý do nào đó, có thể là Ngân Hàng mà anh đang làm bị thua lỗ, nên phải thải nhân viên, anh đã mất việc làm. Kiếm lại được việc làm với đồng lương cao không phải là dễ dàng trong lúc mà nền Kinh tế chung bị giao động. Tin tưởng vào đồng lương tương lai cao sẽ kèo dài trong suốt thời gian phải hoàn vốn, nhưng lúc này anh thất nghiệp, làm thế nào hoàn vốn mỗi tháng hay mỗi tam cá nguyệt. Nếu anh đã có lương từ lâu và đã tiết kiệm được một số tiền, thì lúc này có thể dùng tiền đã tiết kiệm mà hoàn vốn. Nhưng anh mới làm việc được một năm, nên tiền tiết kiệm không có bao nhiêu. Tất nhiên theo Hợp đồng Tín dụng thế chấp Địa ốc, Ngân Hàng đã thu lại nhà để bán, trừ vào tiền nợ. Anh và cả gia đình đã bị đuổi khỏi nhà và đi xin trợ cấp xã hội.

Tỉ dụ thứ hai mang tính cách hồ hởi thương mại mà tôi được biết. Có một bà Việt Nam mở Tiệm phở bình dân xậm xụi tại Quartier Latin tại Paris. Tiệm phở xậm xụi, nhưng sinh viên đến ăn đông nghẹt. Đông khách, thu tiền nhiều, bà trở thành giầu có. Bà mua căn nhà bên cạnh, mở thành Tiệm phở lớn, trang hoàng rất khang trang đẹp đẽ. Chính bà cũng xí xọn môi son má phấn cho đẹp bà xồn xồn. Bà chỉ muốn ngồi két thu tiền và mướn người nấu phở, chạy bàn, rửa tô chén. Nhưng không hiểu tại sao, số người đến ăn phở lại giảm hẳn xuống, trong khi ấy bà phải trả nợ sang căn nhà, trả tiền lương thuê mướn người làm. Những tiền tiết kiệm trước đây đổ vào tín dụng sang căn nhà. Tiệm phải đóng cửa để rồi sang lại cho người khác với giá thua lỗ. Một vài sinh viên cho ý kiến: trước đây đến quán xậm xụi của bà để ăn vì thấy bà chảy mồ hôi nhễ nhãi, tay bốc bánh phở, tay bốc thịt và rau cỏ. Nay thấy bà son phấn, tiệm khang trang, thì tự nhiên lại ít ham tới ăn.  Tất nhiên khi bà lấy tín dụng đầu tư vào căn nhà mới khang trang là bà dựa trên số thu từ sự ước tính đông khách hàng trong tương lai đến ăn phở. Nhưng bà đã không dự tính được những yếu tố tương lai có thể làm cho khách hàng không tới đông để bà có số thu như ước tính. Tương lai có những cái may rủi (risques).

Giao động về Tín dụ nguy hiểm
thế chấp Địa ốc (sub-prime) như thế nào 

Vào tuần lễ đầu tháng 08.2007, các Thị trường Chứng khoán bắt đầu từ Mỹ rồi Âu châu có những giao động về những Giá trị chứng khoán thế chấp Địa ốc. Việc giao động này lan sang Lãi suất Tiền tệ. Xin lưu ý rằng Lãi xuất là cái giá của Vốn liên hệ đến luật Cung và Cầu. Khi giao động Lãi suất, thì Kinh tế bị ảnh hưởng. Ngân Hàng Trung ương của mỗi nước có nhiệm vụ phải canh cừng sự tăng giảm của Lãi suất chỉ đạo được coi như việc can thiệp vào tiến triển đều đặn của một nền Kinh tế Tự do và Thị trường tôn trọng Cung và Cầu.

Cái nguồn xẩy ra từ Mỹ thuộc về lãnh vực Địa ốc. Đây và việc cho Tín dụng thế chấp địa ốx xây cất dài hạn. Có những việc cho Tín dụng mà không xét kỹ khả năng hoàn trả. Từ đó người ta gọi credit sub-prime. Những nhà đầu tư hay những bộ phận đầu tư của Ngân Hàng thường không trực tiếp với khách hàng. Những Tổ chức về Tín dụng Thế chấp trực tiếp với khách hàng mua, xây cất nhà. Những Tổ chức này nhận những Hợp đồng nợ, nhưng khi có nhiều quá vượt tầm vốn của họ thì họ phải chạy tìm vốn tại những Ngân Hàng. Họ mang trình nộp những Hợp đồng nhận nợ cho các Ngtân Hàng để có vốn. Các Ngân Hàng nhận được những loại nhận nợ đủ thứ. Những Ngân Hàng này gọp chung lại  và cho ra Sản phẩm Tài chánh ở Thị trường Chứng khoán để bán gọi vốn thêm từ những nhà đầu tư. Hai sản phẩm sau đây tạo thành Thị trường chứng khoán sub-prime thế chấp địa ốc (Sub-prime Mortgage Markets), đó là MBO (Mortgage backed Obligation) và CBO (Collateral backed Obligation). Một số Tổ chức định giá an toàn cho những sản phẩm này.  Những Tư nhân hay Tổ chức (Funds) hoặc Ngân Hàng có thể mua những sản phẩm trên Thị trường chứng khoán địa ốc sub-prime. Việc giao động ở Thị trường Chứng khoán là ở những Sản phẩm Tài chánh Thế chấp Địa ốc bán đi mua lại trên Thị trường này. Phương diện này có thể được gọi là hệ thống mới, phát sinh tại Hoa kỳ. Nhưng việc làm giao động có tính cách dây chuyền bắt đầu từ những Khách hàng Nhận nợ mà gặp những khó khăn hoàn trả giống như anh bạn của tôi trong tỉ dụ trên đây trở thành thất nghiệp không thể hoàn trả cho tín dụng đã ký nhận.

Ngày 10.08.2007, trên tờ International Herald Tribune, Floyd NORRIS đã viết như sau:“In the past decade a new financial architecture emerged—one that relied less on banks as intermediaries and more on securities. Mortgages were financed by investments in securities that were supposed to be safe.“ (Trong thập niên vừa qua, một kiến trúc tài chánh mới được thành hình—kiến trúc liên hệ ít hơn tới những ngân hàng như trung gian và nhiều hơn đến những sản phẩm chứng khoán. Những tín dụng thế chấp đã được tài trợ bởi đầu tư vào những sản phẩm chứng khoán được kể là an toàn). Việc an toàn này thường được đánh giá cao thấp bởi Moody’s and Standard & Poor’s chẳng hạn. Tin tưởng vào những sản phẩm này để bỏ tiền đầu tư hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đã trở thành may rủi.

Vậy nếu trong những sản phẩm chứng khoán ấy có những nguy hiểm được phát hiện bởi sub-prime, thì giới đầu tư có thái độ thay đổi Cung và Cầu đầu tư tài chánh. Biến động về những sản phẩm này trong tháng 8 vừa rồi đã làm cho Thị trường khan hiếm đầu tư, nghĩa là khan hiếm vốn lưu hành. Những nhà đầu tư hoặc những ngân hàng đầu tư ngưng bỏ vốn hoặc mất vốn khi những sản phẩm chứng khoán thế chấp địa ốc xuống cấp tin tưởng.

Về việc phát hiện những sản phẩm chứng khoán tài chánh có những điểm yếu kém được một Ngân Hàng gia Thụy sĩ cắt nghĩa trực tiếp cho tôi bằng tỉ dụ sau đây. Người Thụy sĩ, nhất là Thuyï sĩ Đức thường ăn Xúc-xích (Lạp xưởng Tây), nên Ngân Hàng gia Thụy sĩ đã lấy Lạp xưởng Tây ví với sản phẩm chứng khoán thế chấp ở Thị trường. Những Ngân Hàng  đã nhận được những Hợp đồng nhận nợ hổ lốn đủ mọi thứ nào là da gà, da heo, thịt ba rọi, thịt nạc mông... và xay chung cho nát ra để làm xúc xích. Khi bán trên Thị trường, thì người ta gọi là cây xúc xích tổng quát, nhưng không phân biệt da gà, da heo...Nếu có người khám phá ra sau này có mãnh da gà mà họ kiêng không ăn, thì họ bỏ. Cũng vậy, nếu người A-rập tìm thấy miếng da heo, họ quảng xúc xích đi. Sản phẩm chứng khoán thế chấp ở Thị trường có thể bị người đầu tư thấy được những tín dụng không bảo đảm, không an toàn. Sự biến động ở Thị trường Chứng khoán trong tháng 8 là ở chỗ người đầu tư ngưng lại không tin tưởng rằng sản phẩm xúc xích ấy làm bằng thị nạc ngon, mà có pha da gà, da heo, thậm chí ngay cả thịt chuột không đáng tin tưởng (sub-prime/ risque).

Những Ngân Hàng đầu tư hoặc những Quỹ đầu tư (Investment Funds) đã mua nhiều những sản phẩm chứng khoán thế chấp này, nên bây giờ họ thấy lỗ do sự giao động. Nhiều Tổ chức sản phẩm đã sạt nghiệp. Một số lớn Ngân Hàng hoặc Quỹ đầu tư Mỹ và Aâu châu bắt đầu bị lỗ vốn về những sản phẩm chứng khoán thế chấp nghi ngờ này (sub-prime/ risque).

Hãy lấy một số tỉ dụ thua lỗ vì liên hệ đến Thị trường chứng khoán thế chấp sub-prime:

* Ngày 03.08.2007: ALLIANZ Đức, Hãng Bảo Hiểm AAA tuyên bố vì đầu tư vào US
   Sub-Prime Mortgage Market, bị thiệt thòi 2 tỉ Đo-la    
* Ngày 06.08.2007: MUNICH RE Đức, Hãng Tái Bảo Hiểm AAA, thiệt thòi 1 tỉ Đo-la
* Ngày 08.08.2007: ING GROUP Hòa Lan, thiệt thòi 4.5 tỉ Đo-la
* Ngày 09.09.2007: BNP PARIBAS Pháp, khóa sổ tổng cộng 5 tỉ Đo-la
* Ngày 17.09.2007: NORTHERN ROCK Anh, phá sản. Ngân Hàng Anh trợ lực $25tỉ
* Ngày 01.10.2007: UBS Thụy sĩ, thiệt thòi 4 tỉ Đo-la
* Ngày 30.10.2007: UBS Thụy sĩ, tuyên bố mất 700 triệu Đo-la
* Ngày 01.11.2007: CREDIT SUISSE Thuỵ sĩ, thiệt thòi 1 tỉ Đo-la
* Ngày 04.11.2007: CITI GROUP Mỹ, thiệt thòi 11 tỉ Đo-la
* Ngày 10.12.2007: UBS Thụy sĩ, thiệt thòi 9 tỉ Đo-la

Một số những Ngân Hàng hay Quỹ Đầu tư đã mua, nhưng không muốn tuyên bố ra những thiệt thòi nhỏ có thể làm thiệt hại thanh danh của mình.
Trong thời gian biến động tháng 8/2007, Vốn của Thị trường trở thành khan hiếm, Lãi suất tăng. Ngân Hàng Trung ương phải can thiệt bằng cách cho vốn vào Thị trường để có thể giữ Lãi suất:

* US Federal Reserve cho vào 17 tỉ Đo-la
* ECB, Ngân Hàng Trung Ương Aâu-châu cho vào 130 tỉ Đo-la
* Ngân Hàng Trung ương Anh quốc đã trợ lực cho Thị trường của họ với 25 tỉ

Những việc đổ vốn vào này là để giúp những Ngân Hàng và có mục đích điều hành Lãi suất đừng để phương hại đến nền Kinh tế.

Lãnh vực Địa ốc, với US sub-prime Markets đã làm thiệt hại cho hệt thống Ngân Hàng và những Tổ chức đầu tư. Nếu là ở những vùng Kinh tế khác, thì lãnh vực này tất nhiên gây ra cuộc Khủng hoảng lớn. Đối với Aâu châu và Hoa kỳ, đây chỉ là giao động vì họ có những phương tiện khổng lồ để chống đỡ. Tỉ dụ ngay cả đối với UBS, việc thiệt thòi 15 tỉ Đo-la chỉ là con số nhỏ sánh với số Dự trữ phòng bị liên tục là 50 tỉ Đo-la và sánh với Total Assets là 2'484 tỉ Đo-la của Ngân Hàng. Xin lưu ý tiền lương hàng năm của Oâng GOSPEL, Chủ tịch UBS, vẫn giữ là 26 triêu quan Thụy sĩ, nghĩa là khoảng 22 triệu Đo-la.


Khủng hoảng 1997 và
đe dọa hiện nay ở những nước bắt đầu phát triển

Có nhiều những lý do mà chúng tôi đã viết trong 5 bài trước đây đưa đến Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh Á châu năm 1997 gồm Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn. Nhưng một trong những lý do chính là hệ thống Ngân Hàng của những nước đó với việc cho Tín dụng nghi ngờ (Créances douteuses) trong lãnh vực Địa ốc. Hiện nay, đối với những nước bắt đầu phát triển mạnh, người ta cũng nhìn nhận phong trào xây cất nhà cửa đồ sộ được đẩy mạnh. Nhưng moi tiền đâu ra để xây cất quá đáng ?

Hai tỉ dụ cụ thể mà chúng tôi đưa ra ở phần đầu bài này mang lại cho chúng ta những cái nhìn đơn giản và bình dân của những phá sản, của những Khủng hoảng: một anh bạn mua nhà vội vàng bị đuổi ra khỏi nhà vì đã không lượng khả năng vững chắc việc hoàn vốn; một bà bán phở đang làm ăn lên, nhưng quá hồ hởi chi tiêu quá mức độ làm ra tiền của mình trong tương lai hay đúng hơn ước tính tương lai không sát thực tế.

Chúng tôi muốn nhìn một số điểm chung giữa Khủng hoảng 1997 của 4 nước Á đông như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn và những nguy hiểm khủng hoảng của một số nước bắt đầu phát triển hiện nay như Trung Cộng, Việt Nam

=> Đối với tất cả những nước vừa nhắc tên ra, người ta quan sát thấy rõ huynh hướng đẩy mạnh Tín dụng Địa ốc. Thực vậy, đối với những cá nhân mới thoát ra cảnh nghèo đói, họ có khuynh hướng tiêu xài quá số thu nhập, nghĩa là họ tiêu vào tiền tương lai, mà tương lai thì luôn luôn có những cái mình không chắc. Một nước mới phát triển, dễ dàng có khuynh hướng đẩy mạnh việc xây cất nhà cửa quá mức cần thiết. Tỉ dụ việc xây cất thành phố Bangkok trong những năm 1995-1996. Ngày nay, những thành phố như Thượng Hải, Sài Gòn, Hà Nội... được xây cất các xác nhà quá tầm mức xử sụng nội dung. Thực ra chính việc xử dụng nội dung mới đo được thực lực những sinh hoạt Kinh tế đẻ ra tiền. Việc chi tiêu của Chính quyền về xây cất đồ sộ càng được đẩy mạnh hơn nữa như muốn chứng tỏ sự vẻ vang của quyền lực.

=> Việc kiểm soát tính cách khả thi Kinh tế tương xứng của mỗi công trình xây cất không được thẩm định kỹ lưỡng đi song hành với timing khả năng thu hồi hoàn nợ. Chính về điểm này, mà những Tín dụng xây cất trở thành nguy hiểm. Đó là những Tín dụng nghi ngờ (Créances douteuses). Trong thời gian trước Khủng hoảng 1997, hệ thống Ngân Hàng trong những nước liên hệ với Khủng hoảng đã cho Tín dụng có tính cách tình cảm gia đình hoặc quen biết. Quỹ Tiền Tệ Quốc tế khi can thiệp vào, đã đòi buộc phải có một Tổ chức độc lập để kiểm soát vấn đề Tín dụng, nhất là Tín dụng địa ốc. Tại những quốc gia bắt đầu phát triển hiện nay, một số những dự án xây cất lớn được quyết định tài trợ theo tiêu chuẩn chính trị hơn là tính cách khả thi Kinh tế. Việc tài trợ lại bằng những phương tiện tài chánh ngân hàng lạm phát.

=> Điểm thứ ba nguy hiểm mà chúng tôi nhấn mạnh đó là sự không tương xứng theo thời gian tính của vốn đầu tư và của khai thác Kinh tế. Chính tính cách dài hạn của vốn càng làm tăng tính cách nguy hiểm của Tín dụng. Việc thu nhập Kinh tế với những hàng hóa sản xuất cho tiêu dùng ngắn hạn không đi đôi với việc xây cất với tín dụng dài hạn. Sư chênh lệch về thu nhập ngắn hạn và về chi tiêu dài hạn là điều rất nguy hiểm trong vấn đề quản trị tài chánh. Đối với những nước liên hệ với cuộc Khủng hoảng 1997, chính Quỹ Tiền Tệ Quốc tế đã đòi điều kiện chấm dứt và cải thiện ngay những Tín dụng dài hạn không phù hợp với việc khai thác Kinh tế ngắn hạn. Đối với những nước bắt đầu phát triển hiện nay, việc xây cất nhà cửa như dồn dập. Lấy lại những tỉ dụ Thành phố Thượng hải, Thành phố Sài-gòn, Thành phố Hà Nội... Tài trợ cho những xây cất này là sự phát hành phương tiện chi tiêu dựa trên ước tính dài hạn Kinh tế tương lai, trong khi ấy những chương trình khai thác Kinh tế/ Thương mại, một là thay đổi bấp bênh, hai là không tài nào làm timing cho năm, mười năm với những hàng hóa sản xuất căn yếu cho tiêu thụ ngắn hạn. Bấp bênh Khủng hoảng là ở chỗ đó. Đối với Việt Nam, nên nhớ là số tiền nợ đã lên tới 20 tỉ Đo-la.

Một sự Khủng hoảng Tín dụng địa ốc tại những nước này rất khó lòng chống đỡ. Những nước Aâu, Mỹ có thể chống đỡ bởi vì nền Kinh tế của họ đã được bền vũng phát triển lâu đời rồi, bởi vì hàng hoá chính yếu của họ mang tính dài hạn và kỹ thuật, và bởi vì họ đã tích luỹ khối lượng Tài chánh khổng lồ.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






                         KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH THẾ GIỚI 2007



                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                 24.01.2008

                (UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html



VietTUDAN không phải là một tuần báo chuyên về Kinh tế/Tài chánh, mà là một báo đấu tranh nhằm loại bỏ chế độ độc tài hiện nay tại Việt Nam. Chúng tôi xác tín rằng khả năng có thể lật đổ được hệ thống độc tài của đảng CSVN không phải là từ những đối thoại qua lý luận với những quan niệm trừu tượng, nhất nữa đến từ những lẻo mép che đậy hào nhoáng của một số trí thức chính trị cơ hội. Lịch sử những cuộc Cách Mạng lật đổ những hệ thống độc tài phải đến từ quần chúng đói nghèo nhất, tức là đấu tranh cho quyền DẠ DẦY (Stomach Right) cụ thể: Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Vô Sản 1917, Chôn Vùi Cộng sản Nga và Đông Aâu 1989.

Chúng tôi chủ trương MẶT TRẬN KINH TẾ/TÀI CHÁNH và từ lâu tuần báo VietTUDAN đã có những loạt bài Chủ đề như TƯƠNG QUAN KINH TẾ/CHÍNH TRỊ, HỘI NHẬP WTO: ĐỊNH MỆT TỰ HỦY DIỆT ĐỘC TÀI CSVN và trong thời gian này, CHỦ ĐỀ: SỰ SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH với 12 Bài.

Trong phạm vi Chủ đề của thời gian này, chúng tôi trình bầy về cuộc Khủng hoảng Tài chánh Á châu năm 1997. Những nước bắt đầu phát triển, trong đó có Việt Nam, chúng tôi nhìn qua bài học Á châu 1997, thấy những yếu tố đưa đến Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế. Ngoài những yếu tố tương tự như năm 1997, chúng tôi còn thấy hiện nay Thế Giới đang có triệu chứng dẫn đến cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế toàn diện mà Việt Nam không thể chống cự nổi. Vì vậy cách đây một tháng, chúng tôi đã viết Phụ Bản 1 về KHỦNG HOẢNG THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG SUB-PRIME ĐỊA ỐC HOA KỲ (American SUB-PRIME MORTGAGE Market).


Bài này trình bầy ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN DỤNG SUB-PRIME ĐỊA ỐC LAN TRÀN SANG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ: Suy thoái Sản xuất (Baisse de la Production), Vật Giá Tăng (Augmentation de l’Indice des Prix de consommation), Khả năng Tiêu thụ giảm (Baisse du Pouvoir d’Achat).
 
Aûnh hưởng Sub-Prime Địa ốc xuất hiện

Chúng tôi lấy ngày 18.01.2008 như ngày khẳng định sự xuất hiện công khai của những ảnh hưởng của Khủng hoảng Thị trường Sub-Prime Tín dụng Địa Oác. Trước thời điểm này, chúng tôi đã viết về tình trạng tuyên bố mất tiền của những Ngân Hàng, của những Hãng Bảo Hiểm lớn có liên hệ với Thị trường: CitiGroup, UBS, Allianz, Swiss Re... Chúng tôi cũng đã viết về tình trạng vật giá lên cao, nhất là cho nhu yếu phẩm như đồ ăn, tại Âu châu, Trung Cộng và đặc biệt Việt Nam.

Ngày 18.01.2008, Đài Truyền Hình Pháp la hoảng về hậu quả Khủng Hoảng Thị trường Tín Dụng Sub-Prime Địa ốc Mỹ, rồi lời kêu gọi của Federal Reserve yêu cầu Tổng Thống Bush tìm giải pháp cứu nguy Kinh tế Mỹ. Chỉ số DOW Wall Street mất 8 điểm. Thực vậy:“Shortly after lunch, Bernanke called a quick meeting of Fed Officials who decide interest-rate policy. Meanwhile, Treasury Secretary Henry Paulson Jr., watching the same market turmoil spread to Europe, was sufficiently anxious that he called President George W.Bush at the White House at 3:15 p.m.“ (International Herald Tribune).

Tổng Thống Bush sau khi mệt mỏi trở về từ Trung Đông, cũng như Oâng Henry Paulson, phải làm việc cuối tuần để có thể tuyên bố những biện pháp kích thích cho Kinh tế: “Paulson, having spent the weekend hashing out the details of an economic stimulus package with congressional leaders, ...“ (International Herald Tribune).

Những ngày nghỉ cuối tuần... rồi còn thêm ngày nghỉ Thứ Hai Luther King. Nhưng chính ngày nghỉ Thứ Hai Luther King, Thị Trường Chứng Khoán Wall Street đóng cửa, thì Cơn Lốc thổi vào các Thị trường Chứng Khóan Á đông, rồi theo Mặt Trời mọc, tràn sang Aâu châu. Các Chỉ số Chứng Khoán thụt xuống từ 7 đến 10%.

Truyền Thông Aâu châu ngày 22.01.2008 đề lớn: CNN:"Stock Markets go into freefall !", TRIBUNE DE GENEVE: "Les Bourses plongent. Faut-il avoir peur ?, LE TEMPS: "Tres inquiets, les marche's boursiers ce`dent a` la panique", INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE: "Markets plummet worldwide", FINANCIAL TIMES: "Panic sparks global plunge".

Trong khi ấy, những nhân vật trọng yếu phải quyết định về đời sống Kinh tế khắp Thế Giới lại đang trên máy bay tụ về Thụy sĩ  để tham dự WORLD ECONOMIC FORUM trên vùng núi tuyết DAVOS khai mạc ngày 23.01.2008.

Họp tại vùng núi tuyết Davos Thụy sĩ với Chương Trình thảo luận về những đề tài đã sửa soạn sẵn, nhưng 2500 người tham dự hoàn toàn để đầu óc vào Cơn Lốc đang làm các Thị Trường Chứng Khoán trên Thế Giới lên xuống như bóng ma bất định. Cựu Thủ tướng Anh, Tony Blair tại Davos đã tuyên bố với Đài CNBC: “Chúng ta đứng trước một tình trạng bất ổn. Những biến động Kinh tế, Tài chất có những chi tiết mà Chính trị không hiểu được !“.

Những thăng trầm Thị trường chứng khoán
trong những ngày từ 22-24.01.2008

Thị trường nhìn về những Biện pháp Stimulus Kinh tế của Tổng Thống Bush, rồi nhìn những quyết định của các Ngân Hàng Trung ương về Lãi xuất chỉ đạo mà phản ứng.

Những Biện pháp Stimulus Package của Chính quyền Bush

Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc của Hoa kỳ đã khiến số vốn lưu hành thiếu, nghĩa là lan sang Thị trường Tài chánh, khiến cho Giá vay vốn (Lãi suất) tăng. Các Công ty sản xuất hạn hẹp lại việc vay vốn đầu tư hay tái đầu tư. Đây là ảnh hưởng lan sang Thị trường Hàng hóa Tiêu thụ. Khi giảm đầu tư để sản xuất, thì lượng hàng hóa rút xuống. CUNG yếu hơn CẦU và hậu quả là Giá cả hàng hóa cao lên. Khắp thế giới, tăng vật giá, nhất là những nhu yếu phẩm, đồ ăn. Thêm vào việc tăng giá này là việc tăng giá dầu lửa. Vật giá tăng, nhất là nhu yếu phẩm, thì khả năng mua hàng của dân chúng với đồng lương không tăng theo kịp, tất nhiên yếu kém đi. Thêm vào đó, khi giảm sản xuất, thì một số nhân công bị sa thải.

Ngay từ cuối năm 2007, các nhà Kinh tế đã báo động về tầm ảnh hưởng này cho Kinh tế chung. Người ta có những yếu tố để kết luận rằng tối thiểu từ năm 2008, Kinh tế Hoa kỳ, Aâu châu và những nước bắt đầu phát triển có những Suy thoái (Recession)

Các nước nhìn xem Hoa kỳ có những Biện pháp nào để chống lại hoặc tránh tình trạng Suy thoái Kinh tế này.

Trong tình trạng cấp bách của nghỉ cuối tuần, Tổng Thống Bush chỉ có thể cho thấy sơ sơ về những Biện pháp gọi là Stimulus nhằm nâng đỡ phía Dân tiêu thụ (CẦU) tăng cao như kích thích cho phía Sản xuất tăng CUNG. Biện pháp Stimulus về CẦU này phải có thời gian để có thể tạo ảnh hưởng thực sự lên phía các Công ty để tăng sản xuất.

Nhưng các Thị trường Chứng khoán thì cấp bách và cho rằng những biện pháp Stimulus của Tổng Thống Bush không đủ sức để có thể tránh Suy thoái Kinh tế (Recession economique) mỗi ngày mỗi hiện ra rõ hơn. Cái nhìn như vậy đã làm Chỉ số các Thị trường Chứng khoán khắp nơi chìm xuống ngày 22 ĐEN (22 NOIR).

FED quyết định đánh thẳng vào Lãi suất (Interest Rate)

Để có thể ngăn chặn mau chóng Cơn Lốc đang làm chìm xuống các Thị trường Chứng khoán, FED (Federal Reserve) quyết định đánh thẳng vào Giá cả (Interest Rate) của Vốn bởi vì Thị trường Chứng khoán liên hệt trực tiếp với Thị trường Tài chánh (Vốn) này.

Xin nói tóm tắt về Thị trường Vốn (Marché de Capitaux). Cũng như bất cứ Thị trường, có CUNG và CẦU là những lực định cái GIÁ để trao đổi Vốn. Cái Giá Vốn được gọi là Lãi suất (Interest Rate). Khi số CUNG vốn mạnh hơn CẦU, thì Lãi suất có khuynh hướng giảm; khi số CẦU vốn mạnh hơn, thì Lãi suất có khuynh hướng tăng lên. Hiện tình lúc này của Thị trường Vốn  là thiếu phía CUNG vốn vì các Ngân Hàng và những Nhà Đầu tư đang bị lo sợ vì khủng hoảng của Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc nên dè dặt cho Vốn ra, nghĩa là mức độ CẦU vốn cao hơn CUNG, do đó Lãi suất có khuynh hương tăng cao lên.

Những Ngân Hàng Trung Ương có quyền can thiệp vào Thị trường về Lãi suất để có thể ảnh hưởng tới CUNG và CẦU vốn.

Chủ tịch Ben Bernanke của Federal Reserve FED đã quyết định ngày 22.01.2008 hạ Lãi suất chỉ đạo từ 4.25% xuống 3.5%, nghĩa là cắt đi một lần tới 0.75%. Đây là việc cắt Lãi suất mạnh nhất từ 25 năm nay.

Phản ứng tức khắc của các Thị trường chứng khoán Á châu ngày 23.01.2008 là các Chỉ số Thị trường tăng lên. Nhưng các Thị trường Chứng Khoán Aâu châu và Mỹ vẫn giữ ở độ giảm âm. Tại Á châu, Ngân Hàng Trung ương Hong Kong cũng giảm Lãi suất. Đồng thời những Vốn do Nhà Nước ảnh hưởng cũng cho Vốn vào Thị trường. Các Thị trường Chứng khoán Á châu tái hồi.

Thái độ của Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu và Ngân Hàng Anh
Như trên đã nói, trong ngày 23.01.2008, Chỉ số các Thị trường Chứng khoán Aâu châu vẫn giữ ở độ giảm âm. Lý do là Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu không coi việc xuống Chỉ số Chứng khoán là quan trọng. Oâng Chủ tịch Jean-Claude Trichet của Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu đã đặt trọng tâm vào vấn đề Lạm phát, vấn đề Suy thoái Kinh tế, vấn đề Khả năng tiêu thụ suy giảm hơn là vào thăng trầm chỉ số của các Thị trường Chứng khoán.

“Jean-Claude Trichet, ECB president, emphasised the priority that the bank attached to combating inflation and a belief that eurozone growth would remain robust...“ (Financial Times 24.01.2008) (Jean Claude Trichet, Chủ tịch của Ngân Hàng Trung ương Liên Aâu, đã nhấn mạnh đến ưu tiên việc chống lại lạm phát và tin tưởng vào việc làm độ tăng Kinh tế vùng Euro  được vững...). Theo Oâng, việc hạ Lãi suất có thể làm cho lạm phát càng tăng hơn vì dân chúng và các công ty có sẵn vốn, tiêu thụ mạnh hơn khiến lạm phát càng cao.

Đối với Ngân Hàng Quốc gia Anh (Bank of England), Mervyn King, Thống Đốc, cũng có nhiều những lo lắng về lạm phát, nên không sốt sắng cho lắm để theo Hoa kỳ cắt Lãi suất. “Mervyn King, the Bank’s Governor, suggests the latest volatility in the markets will not change the committee’s cautious approach to cutting rates.“(Financial Times 24.01.2008) (Mervyn King, Thống đốc Ngân Hàng Anh, gợi cho biết là những giao động gần đây nhất trên các Thị trường sẽ không thay đổi thái độ phân tích dè dặt trong việc cắt Lãi suất).

Viết đến đây, lúc 21 giờ ngày 24.01.2008, nhìn trên Đài CNBC, chúng tôi thấy những Chỉ số các Thị trường Chứng khoán từ Á châu, qua Aâu châu đến Mỹ, đã tái hồi, thậm chí có những Chỉ số còn lên cao hơn trước.

Ý kiến từ World Economic Forum Davos về
Khủng hoảng và tầm ảnh hưởng

Những nhân vật chủ chốt của nền Kinh tế, của những Tập đoàn Liên Quốc gia về Sản xuất, Đầu tư, và Thương mại vẫn còn ở trên vùng núi tuyết Davos Thụy sĩ vì ngày mai, 25.01.2005, Hội thảo mới chấm dứt. Chúng tôi nhìn thấy Algore, Tony Blair, Bill Gate, Kissinger, Soros, Condoleezza Rice, Hamid Karzai, ...

Nếu Cơn Lốc của ngày 22 ĐEN (22 NOIR) đã ngưng thổi làm cho 2500 người đến tham dự này đỡ có những lo lắng nhất thời về giao động các Thị trường Chứng khoán, thì những vấn đề then chốt vẫn còn đó đối với họ: Suy thoái Kinh tế (Economic Recession), Giảm độ tăng trưởng Kinh tế (Baisse du Taux de croissance), Lạm phát (Inflation), Tăng giá Thực phẩm (Augmentation du Prix des Produits alimentaires), Khả năng Tiêu thụ giảm (Baisse du Pouvoir d’Achat).

Đối với những nước bắt đầu phát triển mà việc xuất khẩu lệ thuộc vào các Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu, thì việc Khủng hoảng Tài chánh (Vốn)/ Kinh tế  của Hoa kỳ và Liên Aâu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc những nước bắt đầu phát triển này:
=> Cắt đi việc mua hàng từ những nước bắt đầu phát triển như Trung Cộng và Việt Nam chẳng hạn.
=> Không những Vốn đầu tư không tăng lên cho những nước bắt đầu phát triển này, mà có thể còn bị rút về Hoa kỳ và Liên Aâu để cứu lấy Kinh tế của nước họ.

Những vấn đề then chốt thuộc Kinh tế vừa nhắc ra mà những người tham dự World Economic Forum Davos còn quan tâm lo lắng sẽ là Chủ đề tiếp nối của chúng tôi, sau khi đã viết xong 12  Bài thuộc Chủ đề hiện hành.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế







=========================
pho bien/ publication 14.09.2008
=========================



                                  THÁI HÀ TRÊN ĐƯỜNG THẮNG LỢI


                          Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Trong số báo VietTUDAN, số 365/21.08.2008, chúng tôi đã cho đăng một loạt bài dưới đầu đề CUỘC ĐẤU TRANH CHO CÔNG LÝ LẠI BÙNG LÊN. Thực vậy, ngày 15.08.2008, Giáo dân Thái Hà tăng cường cầu nguyên cho CÔNG LÝ được tôn trọng trên mảnh đất Thái Hà nói riêng và cho Lãnh thổ Việt Nam nói chung.

Từ ngày lại bùng lên cuộc đấu tranh cho CÔNG LÝ, chúng tôi theo rõi rất sát cuộc đấu tranh này và mỗi ngày chúng tôi thấy những gặt hái thành công của phía Giáo dân Thái Hà, đồng thời thấy phía cường quyền CSVN lầm lẫn hoặc cố chấp để đi từ thất bại này đến thất bại kia.

Gọi là THẮNG LỢI khi những người đấu tranh đạt được MỤC ĐÍCH giai đoạn, ngắn hạn hay dài hạn. Gọi là THẤT BẠI khi không đạt được MỤC ĐÍCH giai đoạn, ngắn hạn hay dài hạn. Theo đúng định nghĩa THẮNG LỢI hay THẤT BẠI như vậy, thì chúng tôi thấy rằng phía Giáo dân Thái Hà đang đi trên con đường THẮNG LỢI cho đến lúc này, còn phía cường quyền CSVN đang gặp nhửng THẤT BẠI.

Trong khi theo rõi sát vụ việc Thái Hà như vậy, thì chúng tôi đọc được trên Diễn Đàn nhận định của Bác sĩ NGUYỄN THỊ THANH rằng THÁI LÂM VÀO NGÕ BÍ và rồi Bác sĩ khuyên cáo Giáo dân Thái Ha hãy rút lui (Hòa Giải Hòa Hợp) trước hình ảnh một Thiên An Môn mà Bác sĩ  nêu lại như đe dọa Giáo dân Thái Hà.

Tôi viết hồi âm liền cho Bác sĩ như sau:

’Trọng kính Bs Nguyen Thi Thanh,

Tôi không hiểu Bác sĩ nói THÁI HÀ LÂM VÀO NGÕ BÍ là BÍ ở chỗ nào ?  Giáo dân Thái Hà lâm vào ngõ BÍ hay chính tụi côn đồ CSVN mỗi ngày mỗi đi vào chỗ BÍ.

Theo tôi, Giáo dân Thái Hà mỗi ngày mỗi gặt hái những THẮNG LỢI. Việc đấu tranh của Giáo dân Thái Hà không phải chỉ hạn hẹp vào miếng đất mà là vấn đề CÔNG LÝ, cho SỰ THẬT của toàn Dân tộc.

Xin Bác sĩ cắt nghĩa rõ rệt là tụi côn đồ CSVN đang đi vào chỗ BÍ hay Giáo dân Thái Hà. Xin Bác sĩ cắt nghĩa rõ rệt, có lý luận đàng hòang cho xứng danh một Bác sĩ thực chứ không phải cà trớn, cà pháo, cà chua, cà ghém. Trả lời kiểu cà trớn thì tôi không thèm đả động đến nữa cho mất giờ.

Trọng kính

Dr. NGUYỄN PHÚC LIÊN ’



Đối với chúng tôi, ý kiến riêng của Bác sĩ NGUYỄN THỊ THANH không quan trọng. Điều quan trọng trong thời kỳ đấu tranh này là có một số những Chính khách muốn nhẫy bàn độc dưới chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để mong CSVN thẩy cho mình hớp những mẩu bánh thừa rơi rụng, có một số những ngợm Giáo gian quốc doanh luồn trôn CSVN của mình trong việc tung ra chiêu bài Đối Thoại nhân nghĩa để quân Pharisiêu CSVN tráo trở tiếp tục quyền hành. Hòa Hợp Hòa Giải hay Đối Thoại là chiến lược mà CSVN cần có để dẹp ý chí đấu tranh đang lớn mạnh nơi Dân chúng trong việc chống lại BẤT CÔNG mà kẻ cai trị dùng bạo lực áp đặt lên đầu Dân chúng đã bao chục năm nay. Những người dùng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp, Đối Thoại với Pharisiêu CSVN giả hình gian manh, đó là những kẻ phản bội lại Dân chúng Việt Nam nói chung và Giáo dân Thái Hà nói riêng.


CSVN đang gặp những THẤT BẠI

Như trên chúng tôi đã định nghĩa, nói THẤT BẠI hay không là nói đến việc có đạt MỤC ĐÍCH hay không. Khi Giáo dân Thái Hà đứng lên đấu tranh, CSVN phản ứng ngăn chặn. Hãy nhìn vào MỤC ĐÍCH của những biện pháp hành động ngăn chặn của CSVN:

=> Mục đích gần hơn cả:  Giữ lại miếng đất đã ăn cướp để bán lấy tư lợi.

Chia lô miếng đất để bán thu lợi cho cá nhân. Đây là mục đích gần nhất và việc phản ứng của những cá nhân CSVN có quyền hành liên hệ đến tư lợi bị kẹt nhất. Nhóm CSVN tư lợi này đã tạo những giấy tờ giả mạo và xử dụng Báo Đài công để phổ biến nhửng ngụy tạo của mình. Họ đã thất bại vì xứ Thái Hà đã có thể đưa ra những văn bản chính thức chứng minh quyền sở hữu của mình.

=> Mục đích xa hơn:  Tránh việc Giáo dân nơi khác theo gương Thái Hà đứng lên đòi đất.

Không phải việc CSVN cướp đất chỉ ở Thái Hà, nhưng còn nhiều tại những Giáo phận khác khắp Việt Nam mà tỉ dụ cụ thể hơn hết là đất Tòa Khâm sứ tại chính Hà Nội. Nếu việc đòi nhà đất thành công tại Thái Hà, rồi tại Tòa khâm sứ Hà nội, thì tại những Giáo phận khác sẽ có nổi lên theo gương đó. Trước vấn đề có thể lan rộng như vậy, phản ứng cũa CSVN không phải chỉ hạn hẹp nơi những người nắm quyền liên hệ tại Hà Nội muốn thủ lợi như trên, mà còn liên hệ rộng lớn đến các cấp nắm quyền CSVN tại những Tỉnh khác nữa. CSVN, không phải chỉ riêng Hà Nội, mà lên tới cấp Trung uơng, đã đã đưa ra ba biện pháp:

(i) Đối với những Linh mục trực tiếp với Giáo dân, CSVN vu khống, thóa mạ những Linh mục này được coi là những người xúi giục Gáo dân đứng lên;

(ii)  Đối với Giáo dân tập họp cầu nguyên, CSVN dùng võ lực Công an để hù dọa Giáo dân để họ không tập họp theo sự xúi giục nữa, thậm chí Công an đã dùng dùi cui điện đánh đổ máu Giáo dân, xả hơi cay vào chính đoàn người cầu nguyện gồm cả người lớn tuổi và trẻ em.

(iii) Tách ra một số Tín hữu có tầm ảnh hưởng lên quần chúng Giáo dân Thái Hà và tìm cớ để truy tố hòng kết án tù tội những Tín hửu này. Cớ mà CSVN đưa ra đó là không tôn trọng Trật Tự xã hội  và phá hoại Tài sản Công cộng.

CSVN, được sự chấp nhận của Trung uơng, đã xử dụng toàn diện các cơ quan truyền thông công cộng để mạ lỵ các Linh mục, thậm chí còn xử dụng những Linh mục giả mạo để mạ lỵ. CSVN còn muốn buộc tội những Linh mục trách nhiệm như có liên hệ với ’thế lực thù địch ngoại lai’. Thủ đoạn tuyên truyền, vu khống, mạ lỵ này không những không đạt được kết quả mong muốn mà còn mang đến cho họ phản ứng ngược lại, đó là Giáo quyền cũng như những Linh mục đoàn thuộc các Giáo phận khác không thể tin được CSVN, mà còn kéo về Thái Hà để yểm trợ. Cũng vậy, về phía Giáo dân, những biện pháp đánh đập, xả hơi cay đã làm cho Giáo dân các Giáo phận khác kéo về Thái Hà để cùng chịu hy sinh với đồng đạo của mình. Chính Giáo dân Thái, trước những đe dọa đàn áp của Công an, ý chí họ càng cứng rắn hơn đến độ sẳn sàng chết vì Đạo.

CSVN đã THẤT BẠI đối với MỤC ĐÍCH xử dụng hai biện pháp thứ (i) và thứ (ii) vừa phân tích ở trên. Còn biện pháp truy tố, kết án tù với nhửng chứng cớ nguỵ tạo và với những phiên tòa man rợ, thì Dân chúng Việt Nam và những Tổ chức quốc tế đã quen thuộc với nền Pháp Lý không đứng đắn của CSVN. Vậy CSVN có dám đưa những Giáo dân bị vu khống này ra Tòa hay không để có thể chính mình nhận lãnh những hậu quả ngược lại MỤC ĐÍCH mong muốn ?

=> Mục đích lâu dài và toàn diện:  Các Tôn giáo khác và Toàn dân đứng lên chống BẤT CÔNG xã hội và đòi thực hiện CÔNG LÝ cho mọi người.

Khi nhóm tư lợi liên hệ trực tiếp với miếng đất tại Thái Hà bị thất bại, nghĩa là không có thể nuốt trửng miếng đất ấy, và khi cả Trung uơng CSVN thất bại trong việc không tránh khỏi việc các Giáo phận khác đứng lên đòi những đất đai đã mất theo gương của Thái Hà, thì các Tôn Giáo khác và nhất là Khối Dân Oan trên khắp Lãnh thổ sẽ đứng lên chống lại những BẤT CÔNG mà họ đã phải chịu dưới chế độ CSVN trong bao chục năm trường. Họ đòi phải hoàn lại những gì đã bị ăn cướp.

Từ chống BẤT CÔNG này, Tòan Dân đòi hỏi một Xã hội, một Thể chế phải có Luật Pháp và tôn trọng CÔNG LÝ. Đó là một Xã Hội sống trong HÒA BÌNH lâu dài.

Tóm lại, trước cuộc đấu tranh của Thái Hà, chính CSVN đã gặp những THẤT BẠI trong những biện pháp chống đở và đang đi vào ngõ BÍ. Cái ngõ bí ấy trong hiện tại đối với Thái Hà và Công Giáo. Trong tương lai lâu dài, khi mà các Tôn giáo khác và toàn Dân nổi dậy chống BẤT CÔNG, đòi CÔNG LÝ, liệu CSVN có thể thành công trong việc xử dụng những biện pháp khát máu để đè bẹp Dân tộc Việt nữa hay không ?


Thái Hà trên đường THẮNG LỢI

Cũng theo như định nghĩa ở đầu bài về THẤT BẠI và THÀNH CÔNG, đó là xem việc đấu tranh hay một biện pháp chống đỡ có đạt được MỤC ĐÍCH đặt ra hay không.

Giáo dân Thái Hà tụ họp nhau Cầu Nguyên cho CÔNG LÝ với những MỤC ĐÍCH sau đây:

=> Mục đích gần nhất: Không cho những tham quan CSVN Hà Nội bán miếng đất để thu tư lợi.

Để đạt mục đích gần nhất này, họ phải tụ họp cầu nguyên chính trên miếng đất tư hữu ấy của Giáo xứ Thái Hà. Chính CSVN đã trái phép cho xây tường và rào kẻm gai miếng đất chưa được Luật Pháp phân xử. Thái Hà củng đã khiếu nại đã từ 12 năm nay mà nhà hửu trách lẩn tránh không giải quyết. Trong tình trạng như vậy, CSVN đã tự động cho xây tường và rào kẽm gai. Ngày nay, Giáo dân có thể tụ họp cầu nguyện trên chính miếng đất ấy đề đòi lại quyền làm chủ miếng đất với những văn bản chứng minh. Giáo dân đã đạt MỤC ĐÍCH gần nhất của họ.

=> Mục đích rộng hơn:  Đòi thực hiện CÔNG LÝ liên hệ đến Nhà Đất của Thái Hà nói riêng và của Công Giáo (như Tòa Khâm sứ) nói chung.

Từ cuộc đấu tranh cho Đất của Tòa khâm sứ, việc Giáo dân tụ họp cầu nguyện được đặt dưới khẩu hiện Cầu Nguyên cho CÔNG LÝ. Nhưng hai chữ CÔNG LÝ ở đây được hiểu hạn hẹp vào đất đại không phải chỉ nguyên cho Tòa Khâm sứ, Thái Hà, mà còn cho những đất đai, nhà cửa đã bị CSVN cướp chiếm trước đây. Cuộc đấu tranh đang diễn ra tại Thái Hà cũng luôn luôn được nêu ra dưới danh hiệu ấy.

Đối với Mục đích gần nhất là miếng đất và Mục đích rộng hơn dưới hai chử CÔNG LÝ gồm những tài sản của Giáo Hội, CSVN đã tìm đủ mọi biện pháp chống đỡ như chúng tôi đã trình bầy ở phần trên đây, nhưng CSVN đã THẤT BẠI cho đến giờ, nghĩa là chưa giải tán Giáo dân ra khỏi khu đất, không thể làm cho người Công giáo và Dân chúng tin theo những vu khống tuyên truyền qua các Báo Đài công cộng, không làm cho Giáo dân Thái Hà khiếp sợ với những đe dọa võ lực và tù tội.

Không những THẤT BẠI, mà CSVN còn tạo được THÀNH CÔNG cho Giáo dân Thái Hà:

* Những vu khống qua Báo Đài càng cho Dân chúng chứng thực những xảo trá của CSVN. Đây là việc phản lại tuyên truyền của chính mình. Giáo dân Thái Hà không cần phải làm Marketing cho cuộc đấu tranh, nhưng chính Báo Đài của CSVN đã làm Marketing thay cho Thái Hà. Đây là THÀNH CÔNG cho Thái Hà

* Chính vì vu khống nguỵ biện, vì hung dữ đàn áp được phổ biến rộng rãi mà cuộc đấu tranh của Thái Hà lại nhận được sự hiệp thông, đoàn kết hỗ trợ của Giáo dân thuộc các Giáo phận khác và từ nước ngoài. Đây là sự THÀNH CÔNG đang lan rộng.

* Một sự THÀNH CÔNG quan trọng hơn nữa mà Thái Hà gặt hái được, đó là sự hiệp thông hỗ trợ từ nhiều Giám Mục và Linh mục đoàn thuộc các Giáo phận khác. Một sự đoàn kết giữa Giáo dân và Giáo quyền đang được thực hiện. CSVN đã tìm đủ mọi cách chia rẽ nội bộ Tôn giáo để họ thống trị. Nhưng chính CSVN đang giúp mang lại sự hàn gắn, sự đoàn kết, sự quyết tâm hợp nhất trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Gậy ông đang đập lưng ông CSVN vậy.

=> Mục đích lâu dài và toàn diện:  CÔNG LÝ cho mọi Tôn Giáo và cho Toàn Dân

Nếu cuộc đấu tranh của Thái Hà ngày hôm nay chỉ hạn hẹp ở miếng đất của xứ Thái Hà (Mục đích gần nhất) hoặc ngay cả mở rộng ra hơn cho CÔNG LÝ liên hệ đến đất đai của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam (Mục đích rộng hơn), thì cuộc đấu tranh có phần ích kỷ. Chúng tôi không công kích sự ích kỷ vì chúng tôi chủ trương rằng mỗi người trước hết lo lắng bảo vệ quyền lợi của mình, miễn là không vi phạm vào quyền lợi người khác.

Tuy nhiên Công Giáo nhấn mạnh đến khía cạnh Bác Aùi trong cuộc sống liên hệ xã hội. Theo tinh thần ấy, cuộc đấu tranh của Thái Hà với mục đích CÔNG LÝphải tiếp tục thể hiện tinh thần Bác ái, nghĩa là nó phải lan sang CÔNG LÝ cho mọi Tôn Giáo và cho Toàn Dân, không phải chỉ nguyên về Nhà Đất mà còn những lãnh vực khác của đời sống con người. Không thể có CÔNG LÝ chỉ cho Công Giáo Việt Nam. Trong đời sống thực tế, không ai có thể giầu một mình và được yên ổn hưởng phú quý bên cạnh những người khố rách áo ôm cùng cực. Một xã hội như vậy không thể có HÒA BÌNH.


Ai BÍ và ai không BÍ ?

Thái Hà đang đi trên đường THÀNH CÔNG trong cuộc đấu tranh quang minh chính đại của mình. CSVN, với những thủ đoạn vu khống, hù dọa hèn hạ, đã gặp những THẤT BẠI với những biện pháp chống đỡ của mình. Thái Hà không đi vào chỗ BÍ, mà chính CSVN đang gặp những cái BÍ trong vụ việc Thái Hà.

Thực ra cái BÍ của CSVN về Nhà Đất đã có từ lâu trên khắp Việt Nam. Phong trào Dân Oan đứng lên đẩy CSVN vào chỗ BÍ đến nỗi nổi khùng đánh đập Dân nghèo. Vụ việc Tòa Khâm sứ là chỗ BÍ có nhiều liên hệ với Thái Hà. Cái BÍ của CSVN là cướp Nhà Đất và đã bán mẹ nó đi lấy tiền bỏ vào túi riêng rồi.

Khi Giáo dân Thái Hà tập trung cầu nguyện cho CÔNG LÝ trên miếng đất thuộc sở hữu Thái Hà, thì những tham quan CSVN liên hệ đến miếng đất đã thấy cái BÍ của mình. Từ cái BÍ mà chính họ biết rõ, nên CSVN phải tìm tất cả mọi trò điên khùng, phi lý, vô lương tâm để mong gỡ BÍ cho mình. Họ xử dụng tất cả mọi phương tiện truyền thông để phổ biến những vu khống điên rồ của họ. Nhưng quần chúng và Giáo dân Công Giáo cả nước không mắc mưu những tuyên truyền ấy vì đã quá biết sự gian dối truyền thống của Cộng sản nhất là ở lúc BÍ làm chúng điên khùng. Việc quần chúng và Giáo dân Công giáo lật tẩy sự gian trá của truyền thông CSVN về vụ Thái Hà là một sự THÀNH CÔNG cho cuộc đấu tranh. THÀNH CÔNG này có nghĩa là THẤT BẠI của CSVN điên khùng vô lương, càng đẩy chúng vào chỗ BÍ.

Với những THẤT BẠI đã gặp, từ vị trí BÍ hiện nay, CSVN có thể lựa chọn hai thái độ:

1) Tiếp tục sự điên khùng đến mù quáng, nghĩa là chúng xử dụng võ lực Công an và Quân đội để đến giải tán Giáo dân Thái Hà và chiếm lại, canh gác khắt khe miếng đất. Giáo dân Thái Hà đã sửa soạn tinh thần và ý chí sẵn sàng đối phó trong trường hợp này. Giáo dân đã nói đến sự vinh quang được tử vì đạo. Hậu quả của hành động bằng võ lực Công an và Quân đội để cốt ý chiếm lại một mảnh đất mà CSVN đã cướp dựt có thể trở thành một THÀNH CÔNG toàn diện của Dân tộc về CÔNG LÝ với khởi điểm dũng cảm đứng lên của Thái Hà.

2) Nhưng CSVN có thể áp dụng chiến thuật hai bước lùi, một bước tiến. Quân Pharisiêu CSVN giả hình gian ác, có thể đội lốt hiền lành của con chiên để nêu ra lòng độ lượng thứ tha, tình đoàn kết hòa giải hòa hợp, sự đối thoại thân hữu để rồi đánh lừa những người nhẹ dạ cả tin. Phía Giáo quyền Công Giáo, có thể quá mủi lòng trước quân Pharisiêu giả hình gian dối, rồi nhân danh tất cả mọi chiêu bài đẹp đẽ mà đánh lừa Thái Hà cũng như vụ Tòa Khâm sứ, đó là sự phản bội không những đối với Thái Hà, mà còn đối với Dân tộc Việt Nam. Thực vậy, nếu Công Giáo có lấy lại được một vài mảnh đất do CSVN nhượng bộ trong lúc BÍ, thì xin Giáo quyền hãy nhìn chung quanh mình đầy dẫy BẤT CÔNG cho những người nghèo khổ cùng cực nhất đang nằm vật vã bên lề phố do côn đồ CSVN cướp Nhà Đất của họ tận thôn quê. Sống trong xã hội bất công hiện nay dưới chế độ CSVN, người Công giáo hãy nhớ  tỉ dụ người bị trọng thương bên lề đường và người Samari. 


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 09.09.2008
=========================


                             NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:



                                                       THÁI HÀ:
                                      LO SỢ GIÁO QUYỀN PHẢN BỘI


                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                           Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html



Mỗi tuần,chúng tôi có bài QUAN ĐIỂM. Nhưng những bài quan điểm này thường được viết liên tục ý tưởng theo loạt bài Chủ đề kéo dài trong nhiều tuần. Những bài quan điểm bầy tỏ Lập trường của VietTUDAN có tính cách dài hạn. Tuy nhiên mỗi tuần, có những sự việc xẩy ra mang tính cách thời sự mà chúng tôi muốn đưa ra những NHẬN ĐỊNH mang tính cách ngắn hạn theo thời sự. Chính vì vậy mà chúng tôi mở thêm đề mục NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ để bầy tỏ lập trường đối với những biến cố xẩy ra mỗi tuần.



Cuộc đấu tranh của Giáo dân Thái Hà rất kiên trì và can cường. Cuộc đấu tranh ấy không phải chỉ nguyên cho miếng đất mà còn cho CÔNG LÝ mà cả Dân tộc Việt Nam đang tha thiết mong mỏi. Tại Thái Hà, có thể nói là cuộc đụng độ giữa SỰ THẬT và GIAN TÀ, giữa CÔNG LÝ và BẤT CÔNG, hay nói theo tiếng Thiên Chúa Giáo là giữa CON CHIÊN HIỀN LÀNH và CHÓ SÓI HUNG DỮ, giữa NGƯỜI THEO CHÚA GIÊSU và QUÂN PHARISIÊU GIẢ HÌNH GIAN DỐI.

Từ ngày 15.08.2008 đến nay, CSVN để lộ nguyên hình sự GIAN TÀ, thói BẤT CÔNG, tính CHÓ SÓI và lòng dạ của QUÂN PHARISIÊU GIẢ HÌNH GIAN DỐI. Chúng xử dụng toàn diện Báo Đài để vu khống mạ lỵ, cho Công an dùng dùi cui điện đánh đổ máu Giáo dân, xịt hơi cay vào dân cầu nguyện gồm cả người lớn tuổi và trẻ em. Nhưng Giáo dân không những không chùn bước mà còn trở thành càng can đảm hơn để đương đầu, thậm chí sẵn sàng chịu chết tử vì đạo.


GIÁO DÂN KHÔNG SỢ QUÂN PHARISIÊU,
MÀ LẠI LO SỢ GIÁO QUYỀN PHẢN BỘI

Thực vậy Giáo dân can đảm và sẵn sàng kiên trì đấu tranh cho đến cùng vì CÔNG LÝ, vì SỰ THẬT theo đúng lời dậy của Chúa Giêsu: ’Vậy anh em đừng sợ người ta. Thật ra, không có gì che dấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết. Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em  nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng.’(Mt 10, 26-27). Giáo dân đã tụ họp, ra giữa quần chúng để can đảm lớn tiếng nói lên SỰ THẬT, điều đúng CÔNG LÝ cho CSVN biết.

Đối với CSVN, quân Pharisiêu giả hình gian dối, Giáo dân không hề sợ hãi. Nhưng điều nghịch lý là đối với Giáo quyền, gồm cả Vatican và một số Giám Mục Việt Nam, Giáo dân mang trong lòng nỗi lo sợ một sự phản bội lại SỰ THẬT, cấu kết với BẤT CÔNG chống lại CÔNG LÝ.

Giáo quyền được Chúa Giêsu giao cho nhiệm vụ chăn dẫn Giáo dân. Giáo quyền là những NGƯỜI CHĂN CHIÊN, chính lẽ phải bênh đỡ NHỮNG CON CHIÊN trước LANG SÓI, phải nêu cao SỰ THẬT, CÔNG LÝ chống lại GIAN DỐI, BẤT CÔNG. Nhưng rồi trên đường nêu cao sự can đảm không sợ lang sói, những con chiên lại mang trong lòng sự lo sợ chính Giáo quyền hùa với LANG SÓI, với quân PHARISIÊU CSVN để phản bội lại lòng can đảm của mình. Giáo dân nghe theo Chúa Giêsu để Ngài bênh đỡ trước mặt Chúa Cha trên Trời, nhưng đồng thời nhớ lời Chúa Giêsu đe dọa những ai phản bội:’Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.’(Mt 10, 32-33).


DÙNG CHIÊU BÀI ĐỐI THOẠI ĐỂ GIÚP CSVN
DẸP CUỘC ĐẤU TRANH, TỨC LÀ PHẢN BỘI

CSVN, quân Pharisiêu giả hình gian dối, dùng mọi thủ đoạn, ngay cả bạo lực để dẹp cuộc đấu tranh cho CÔNG LÝ mà toàn Dân mong đợi. Đây là cuộc đấu tranh vì quyền lợi của Giáo Hội và của toàn Dân Tộc Việt Nam.

ĐỐI THOẠI chỉ là một thủ đoạn để dẹp cuộc đấu tranh. Giáo quyền nêu ra chiêu bài ĐỐI THOẠI. Chúa Giêsu yêu thương mọi người, nhưng Ngài không thể tha cho quân Pharisiêu vì chúng giả hình, làm trái hẳn với chính LƯƠNG TÂM của mình. Giáo quyền nêu ra chiêu bài ĐỐI THOẠI, lòng yêu thương, nhưng đã muốn không tuân lời Chúa Giêsu để ĐỐI THOẠI với quân Pharisiêu, CSVN, giả hình lừa đảo, làm trái LƯƠNG TÂM. Giáo quyền trần thế muốn khôn ngoan hơn Chúa Giêsu hay sao ?  Hay chính Giáo quyền, vì những quyền lợi riêng tư trần thế, mà cố tình cấu kết với CSVN, quân Pharisiêu giả hình gian tà, để phản bội lại Thầy mình là Chúa Giêsu ?. Xin hãy nhớ lời Chúa cảnh cáo: ’Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.’(Mt 10, 33).

Hãy cụ thể hơn về mối lo ngại của Giáo dân về sự cấu kết phản bội của Giáo quyền:

=> Giáo quyền Vatican

Giáo dân biết rằng Vatican đang vì Ngoại giao với CSVN mà có thể ra lệnh ngưng đấu tranh cho CÔNG LÝ để ĐỐI THOẠI. Vụ Hy Quốc vụ khanh Vatican I-tà-lồ đối với cuộc đấu tranh ở Tòa Khâm sứ đã là một bài học đau đớn về chiêu bài ĐỐI THOẠI với CSVN, quân Pharisiêu giả hình gian tà. Vì chiêu bài đối thoại này, mà Giáo dân đã thất vọng khi phải tuân theo Giáo quyền Vatican để ngưng cuộc đấu tranh cho CÔNG LÝ cần thiết cho cả Giáo Hội và toàn Dân Việt Nam. Nỗi thất vọng này vẫn còn nằm trong lòng Giáo dân để họ phải lo lắng một sự phản bội nữa có thể xẩy ra. Vatican vì quyền lợi nhỏ Ngoại giao của mình mà hy sinh quyền lợi chung của Giáo Hội CGVN và tương lai Dân Tộc Việt Nam.

=> Hồng y PHẠM MINH MẪN

Hồng y Mẫn vừa để lòi cái đuôi ĐỎ của mình ra trong vụ muốn dẹp CỜ VÀNG. Nhưng Giáo dân và Khối người Việt tỵ nạn Hải ngoại đã kịp thời chặt phăng cái đuôi ĐỎ ấy. Tuy vậy, ngày 01.09.2008, thay vì bênh đỡ cuộc đấu tranh cho CÔNG LÝ của Thái Hà, Hy Mẫn lại công khai hô hào ngưng đấu tranh để ĐỐI THOẠI với quân Pharisiêu, CSVN, giả hình và gian tà. Hồng y làm công việc này là đúng với ý hướng lừa đảo của CSVN, quân Pharisiêu. Vì vậy, Giáo dân vẫn còn âu lo sự phản bội tương lai của Hồng y vì tính chất ĐỎ vẫn nằm trong đầu óc của Hồng y MẪN, nhất nữa Hồng y mới viết thư ngày 04.09.2008 cho nhóm Đoàn Kết Công Giáo do bầy ngợm giáo gian quốc doanh đứng đầu. Những lời viết mới này vẫn còn trong chiêu bài gọi là đối thoại để yểm trợ sự gian tà của quân Pharisiêu CSVN.

=> Tổng Giám Mục NGÔ QUANG KIỆT

Một số Giáo dân lo ngại hơn cả là TGM Ngô Quang Kiệt, Giáo quyền trực tiếp với cuộc đấu tranh của Giáo dân tại Thái Hà, Hà Nội. Vụ việc Tòa Khâm sứ do chính Ngài hô hào khởi xướng, nhưng cũng lại do chính Ngài trực tiếp yêu cầu ngưng sau khi nhận được thư của Hồng y I-tà-lồ từ Vatican. Tất cả vì chiêu bài ĐỐI THOẠI với quân Pharisiêu, CSVN, giả hình gian tà. Sống tại Hà Nội, Ngài phải biết CSVN là quân Pharisiêu giả hình, gian tà và đểu cáng. Nhưng Ngài khôn ngoan hơn Chúa Giêsu hay sao mà đi ĐỐI THOẠI với quân Pharisiêu vô LƯƠNG TÂM ?  Bài học ĐỐI THOẠI về vụ Tòa Khâm sứ chính lẽ đã dậy Ngài một bài học cụ thể đích đáng, nhưng rồi mới đây, tại Hoa kỳ, Ngài tuyên bố những điều như chùn chân, buông xuôi khiến Giáo dân lo ngại khi Ngài trở về Hà Nội, Ngài có thể lại ngăn cản cuộc đấu tranh dưới chiêu bài ĐỐI THOẠI trong mưu đồ của quân Pharisiêu, CSVN, giả hình gian tà. Một trong những lý do để Ngài có thể phản bội lại cuộc đấu tranh của Giáo dân cho quyền lợi chung của Giáo Hội và cho Dân tộc, đó là quyền lợi riêng của Ngài về chức vị HỒNG Y tương lai mà có lẽ Ngài đang mong đợi. Thực vậy, chức vị HỒNG Y tương lai phải có ý kiến quyết định của quân Pharisiêu, CSVN, giả hình gian tà. Có thể vì nghĩ đến quyền lợi riêng tư này mà Ngài chiều lòng quân Pharisiêu để theo kế ĐỐI THOẠI và dẹp cuộc đấu tranh của Giáo dân cho quyền lợi chung cao cả hiện giờ.


Giáo dân Thái Hà đã trưởng thành và đã can đảm nhất thiết vâng theo giáo huấn của chính Chúa Giêsu. Cuộc đấu này hiện nay được tăng cường với những Giáo dân, Linh mục, Giám mục thuộc một số Giáo phận khác khiến mối lo ngại của Giáo dân Thái Hà giảm đi một phần. Giảm đi, nhưng mối lo ngại sự phản bội của Giáo quyền vẫn chưa hết. Chúng tôi đã viết một bài về THƯỢNG BẤT CHÍNH, HẠ BẤT TUÂN. Thực vậy, ngoài những điều về Tín Lý, Giáo dân có thể không cần phải tuân theo Giáo quyền, nhất nữa khi Giáo quyền BẤT CHÍNH, nghĩa là vì quyền lợi riêng tư mà đi cấu kết với quân Pharisiêu, CSVN, giả hình gian tà với chiêu bài ĐỐI THOẠI.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế








=========================
pho bien/ publication 03.09.2008
=========================


                                                       THÁI HÀ:
                                    GM KIỆT:KHÔNG THỂ ĐỐI THOẠI



                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

Khi Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT tuyên bố tại Hoa Kỳ mới đây, nhiều Giáo dân lo ngại rằng trở về Hà Nội, Ngài có thể bị CSVN lừa nữa như vụ việc Tòa Khâm sứ. Tại Los Angeles, Ngài nói nhân đức giống như khuyên đừng ăn uống gì để mong chết lên Thiên Đàng, như nhường của cải thế gian cho CSVN, quân Pharisiêu giả hình gian ác. Chính vì vậy mà Giáo dân sợ rằng khi trở về Hà Nội, Ngài lại theo lời khuyên của Hy Quốc vụ khanh Vatican I-tà-lồ mà yêu cầu Giáo dân Thái Hà hãy ngưng đấu tranh cho CÔNG LÝ, nghĩa là ĐỐI THOẠI với quân Pharisiêu gian tà. Việc nghe theo Vatican đã là một lầm lẫn chói chang cho Ngài.

Nhiều Giáo dân đã nghĩ rằng vì những lý do sau đây khiến Đức TGM Ngô Quang Kiệt quyết định nhanh chóng dẹp cuộc cầu nguyện  CÔNG LÝ tại Tòa Khâm sứ:

=> LÝ DO THỨ NHẤT: Tòa Thánh Vatican, vì CSVN nhử việc nối lại Ngoại giao, nên dẹp Giáo dân CẦU NGUYỆN CHO CÔNG LÝ mà theo con đường ĐỐI THOẠI của quân CSVN, quân Pharisiêu giả hình. Vatican vì quyền lợi ngoại giao riêng mà không nghĩ đến đau khổ của Giáo Hội Việt Nam nói riêng và Dân chúng Việt Nam nói chung. Đây là ích kỷ.

=> LÝ DO THỨ HAI: Đức TGM Ngô Quang Kiệt, vì tương lai chức vị lên Hồng Y, nên cũng ngoan ngoãn cấp tốc dọn dẹp cuộc CẦU NGUYỆN của Giáo dân để bị lừa với chiêu bài ĐỐI THOẠI của quân CSVN, quân Pharisiêu giả hình, gian ác. Đây cũng là ý do vì chức vị riêng của TGM Kiệt, chứ không phải vì quyền lợi của Giáo Hội và của cả Dân tộc Việt Nam.


Đức TGM KIỆT:
“Không thể ĐỐI THOẠI, mà phải ĐỘT BIẾN“

Khi về đến Hà Nội, Đức TGM Kiệt đành phải thú nhận rằng không thể ĐỐI THOẠI mà phải có ĐỘT BIẾN. Ngài đã bị lừa bởi CSVN, quân Pharisiêu giả hình, gian giảo trong vụ Tòa Khâm sứ. Bài học ấy cho Ngài thấy rằng Ngài không thể lấy quyền để dẹp việc Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho CÔNG LÝ. Tòa Thánh Vatican không thể vì quyền lợi riêng tư Ngoại giao mà lại khuyên Giáo dân ngưng cầu nguyện, làm thiệt hại cho Giáo Hội Việt Nam nói riêng và cho Dân tộc VN nói chung. Dân Việt Nam cần CÔNG LÝ. Đức TGM Ngô Quang Kiệt cũng không thể vì chức vị riêng Hồng y tương lại mà ra lệnh dẹp Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho CÔNG LÝ, làm thiệt hại cho cả Giáo Hội và Đất Nước Việt Nam.

Không thể ĐỐI THOẠI với CSVN, quân Pharisiêu giả hình, gian dối, mà cần phải có ĐỘT BIẾN, dù máu chảy thịt rơi. Cho dù có đối thoại, thì cũng phải giữ vững ĐỘT BIẾN của Giào dân như biểu dương lực lượng công khai, thì mới mong CSVN, quân Pharisiêu giả hình, nhượng bộ. Giáo dân hiểu biết trò gian dối của CSVN. Giáo dân đã vô cùng can đảm nói lên SỰ THẬT. Khi nói lên SỰ THẬT, thì không sợ. Chính Chúa Giêsu đã nhấn mạnh rằng hãy can đảm nói lên SỰ THẬT thì mới được nghe. Chúa Giêsu đã nói tỏ tường trong Phúc Aâm: “Vậy anh em đừng sợ người ta. Thật ra, không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết. Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà mà rao giảng.“ (Mt 10, 26-27)

Theo lời Chúa dậy, Giáo dân Thái Hà đang họp nhau nói công khai lên SỰ THẬT: LÒNG THIẾT THA CHO CÔNG LÝ. Vậy xin đừng vì tư lợi Ngoại giao của Vatican hay vì danh riêng Hồng Y của TGM Kiệt, mà dẹp việc Giáo dân Thái Hà đang can đảm công khai “lên mái nhà“ để nói lên SỰ THẬT: NGƯỜI VIỆT THIẾU CÔNG LÝ.

Sau đây là lời phát biểu của Đức TGM Kiệt tại Hà Nội do Lm Trần Công Nghị ghi lại:

Đức TGM Ngô Quang Kiệt: ''hướng giải quyết phải rất là đột phá, có cái gì sáng tạo, chứ không thể theo những đường hướng xưa cũ được nữa!''
 
VietCatholic News (Thứ Tư 03/09/2008 01:02)
http://www.vietcatholic.net/News/Html/58033.htm
 
Trong cuộc phỏng vấn Đức TGM Hà Nội vào ngày 2.9.2008 khi Ngài mới vừa từ Hoa Kỳ trở về Hà Nội, LM Trần Công Nghị từ Los Angeles qua đường giây điện thoại đã đặt câu hỏi Đức Tổng Giám Mục là Ngài hay chính quyền đã có hướng giải quyết như thế nào về vụ đất của Tòa Khâm Sứ và Thái Hà ra sao chưa?.

Ngài đã đưa ra nhận định như sau:

“Tôi nghĩ rằng bây giờ thì thực sự các đường hướng giải quyết phải rất là đột phá, có cái gì sáng tạo, chứ không thể theo những đường hướng xưa cũ được nữa. Và nhất là sau khi vụ Tòa Khâm Sứ đã 8 tháng nay và rồi việc đối thoại chúng tôi đã đi theo đừờng hướng của Tòa Thánh để mà giải quyết bằng đối thoại, thì xem nó quá chậm chạp và cũng chính đó là yếu tố nó ảnh hưởng đến Thái Hà. Bởi vì Thái Hà người ta nghĩ rằng cái việc Toà Khâm Sứ chưa thấy thành công đâu cả, thành ra không có hy vọng vào cái công việc đối thoại ấy. Cho nên tôi nghĩ rằng chính quyềøn phải có những bước đột phá, sáng tạo và mới mẻ hơn… Đường hướng của Tòa thánh là đi vào con đường đối thoại, nhưng chúng ta thấy rằng con đường đối thoại cho đến bây giờ cũng không có dễ dàng, bởi vì để mà lắng nghe, để mà thuyết phục, và để mà thay đổi được một quan điểm thì chắc chắn là rất khó. 

Tuy nhiên, thì chắc chắn (chúng tôi) đang ở trên đường đối thoại. Và đang khi đối thoại thì mình cũng có quyền hy vọng, nhưng chắc chắn là nó không có mau chóng và sớm sửa được. Thế nhưng tôi cũng hy vọng là nó sẽ mau chóng sớm sủa để Thái Hà chẳng hạn người ta nhìn vào đó người ta thấy có đường hướng tích cực, họ có thể dễ dàng đi vào đường hướng đối thoại hơn, Còn nếu mà Tòa Khâm Sứ bế tắc thì tôi nghĩ cũng rất khó giải quyết vấn đề Thái Hà”.
 
LM Trần Công Nghị 


Thái độ dứt khoát của Chúa Giêsu
đối với quân Pharisiêu giả hình

Theo TGM Ngô Quang Kiệt trong vụ Tòa Khâm sứ, thì Ngài đã “đi theo đừờng hướng của Tòa Thánh để mà giải quyết bằng đối thoại“.

Đường hướng của Tòa Thánh là vì quyền lợi riêng Ngoại giao, chứ không phải vì quyền lợi của Giáo Hội VN và Dân tộc Việt Nam.

Trước khi đối thoại, thì phải biết cái người mà mình đối thoại với. CSVN là quân Pharisiêu giả hình, gian ác. Nếu Tòa Thánh muốn ĐỐI THOẠI với CSVN thì phải chứng minh rằng quân CSVN không phải là quân Pharisiêu giả hình gian ác. Còn nếu đã biết rằng quân CSVN là quân Pharisiêu gỉa hình gian ác, thì Tòa Thánh đã không theo gương của Chúa Giêsu. Thực vậy, Chúa Giêsu đến Thế gian để cứu mọi người, nhưng không thể cứu quân Pharisiêu giả hình gian ác. Trong Phúc Aâm, không bao giời thấy Chúa Giêsu đi ĐỐI THOẠI với quân Pharisiêu giả hình gian ác vì chính chúng nó không ĐỐI THOẠI với chính LƯƠNG TÂM của chúng, thì làm sao Chúa ĐỐI THOẠI được.

Toà Thánh Vatican, Hồng y Mẫn, TGM Kiệt hãy đọc Phúc Aâm để thấy các Thánh sử viết về thái độ dứt khoát không ĐỐI THOẠI với quân Pharisiêu giả hình gian ác.

Thánh Mathiêu viết (Mt 23, 25-28):

“Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisiêu giả hình ! Các người rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện trộm cắp và vô độ. Hỡi người Pharisiêu mù quáng kia, hãy rửa bên trong chén đĩa cho sạch trước đã, để bên ngoài cũng được sạch“.

“Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisiêu giả hình ! Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các người cũng vậy, bên ngoài có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình gian ác“.

Thánh Luca viết (Lc 11, 39):

Thật nhóm Pharisiêu các người, bên ngoài chén đĩa , thì các ngươi rửa sạch, nhưng bên trong các người thì đầy những chuyện cướp bóc gian tà“.

 Thánh Gioan viết (Jn 9, 39-41):

“Đức Chúa Giêsu nói:“Tôi đến Thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !“

“Những người Pharisiêu đang ở đó với Đức Chúa Giêsu nghe vậy, liền lên tiếng:“Thế thì cả chúng tôi cũng đui mù hay sao ?“

“Đức Chúa Giêsu bảo họ:“Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng “Chúng tôi thấy“ thì tội các ông vẫn còn !“

Câu nói vô cùng thâm thúy. Quân Pharisiêu giả hình, thấy rõ sự thật trong LƯƠNG TÂM, nhưng chúng không làm theo, nên tội vẫn còn, không thể tha thứ, không thể ĐỐI THOẠI.

Quân CSVN là quân Pharisiêu giả hình, giả đạo đức để che lấp tội ác, thì chính Chúa Giêsu cũng không thể đối thoại được huống chi Tòa Thánh, Hy Mẫn, TGM Kiệt khuyên Giáo dân Thái Hà ĐỐI THOẠI. Thấy rõ quân CSVN là quân Pharisiêu giả hình gian ác, thì hãy theo gương Chúa Giêsu mà dứt khoát thái độ như Chúa đã dứt khoát từ 20 Thế kỷ nay. Xin đừng vì tư lợi mà bắt con chiên không được theo gương Chúa Giêsu.
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 02.09.2008
=========================

 
                                                        THÁI HÀ:
                                      Hy MẪN LÀ PHARISÊU GIẢ HÌNH



                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Mỗi tuần,chúng tôi có bài QUAN ĐIỂM. Nhưng những bài quan điểm này thường được viết liên tục ý tưởng theo loạt bài Chủ đề kéo dài trong nhiều tuần. Những bài quan điểm bầy tỏ Lập trường của VietTUDAN có tính cách dài hạn. Tuy nhiên mỗi tuần, có những sự việc xẩy ra mang tính cách thời sự mà chúng tôi muốn đưa ra những NHẬN ĐỊNH mang tính cách ngắn hạn theo thời sự. Chính vì vậy mà chúng tôi mở thêm đề mục NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ để bầy tỏ lập trường đối với những biến cố xẩy ra mỗi tuần.


Khi tôi viết Nhận Định về LÁ THƯ MỤC TỬ của Hy MẪN, thì Bà Anne TRẦN góp thêm ý kiến rằng Hy PHẠM MINH MẪN là người Giả hình, là một Pharisiêu. Bà viết:“ Trong thư mục nát mới nhất, ông (Hy Mẫn) chỉ giả hình, như bọn Pharisiêu giả hình, giả nai tơ“ mà không biết sự thực về những vu khống của CSVN.

Giả hình là “Hypocrisie/Hypocrisy“. Định nghĩa tiếng Việt, GIẢ HÌNH là làm ra vẻ đạo đức mà mình không có cốt ý gạt người khác. Người giả hình làm trái với sự thực, trái với LƯƠNG TÂM mình.

Việc giả hình được chính Chúa Giêsu nói về quân Pharisiêu ở thời của Ngài. Quân Pharisiêu luôn luôn giả hình, giả đạo đức, nhưng thực tế, chúng mang đầy tội lỗi. Chúng làm những điều tàn ác, nhưng bề ngoài được bọc trong những gì đẹp đẽ, lý tưởng để đánh lừa thiên hạ. Đó là loại người mang tính Malhonnêteté (tính gian giảo, bất lương). CSVN được xếp vào loại người này. Chúng ta không thể thảo luận, ĐỐI THOẠI với hạng người này để cùng tiến tới SỰ THẬT bởi lẽ chúng biết rõ sự thật, nhưng cố tình giả hình để lừa người khác.

Trong THƯ MỤC TỬ, ở điểm 5, Hy Mẫn biện luận rằng theo tinh thần của Giáo Hội, chúng ta phải ĐỐI THOẠI với mọi người, cụ thể với CSVN.

Chúng ta có thể ĐỐI THOẠI với CSVN, những quân Pharisiêu giả hình, “malhonnetes“ hay không ?

Chúa Giêsu đến thế gian để cứu mọi người, nhưng với điều kiện là những người thành tâm, thiện tâm, “honnetes“. Chúa muốn cứu mọi người, nhưng Chúa bất lực không thể cứu những người không có thiện tâm, giả hình, luôn luôn làm trái với chính LƯƠNG TÂM họ. Chúa tha thứ hết mọi người, nhưng tội phạm đến THÁNH LINH, thì không thể tha thứ. THÁNH LINH là LƯƠNG TÂM. Phạm đến Thánh Linh là làm trái Lương Tâm mình thì không tài nào Chúa tha thứ được bởi lẽ chính người đó không tha thứ cho chính mình.

Trong Phúc Aâm, Chúa tha ngay cho kẻ đã giết mình, nhưng không bao giờ Chúa tha được quân giả hình Pharisiêu. Gặp quân Pharisiêu ở đâu là Chúa nguyền rủa chúng ở đó bởi vì chúng giả hình, lừa đảo, làm trái LƯƠNG TÂM.

Hãy theo những Thánh sử viết về quân Pharisiêu.

Thánh Mathiêu viết (Mt 23, 25-28):

“Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisiêu giả hình ! Các người rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện trộm cắp và vô độ. Hỡi người Pharisiêu mù quáng kia, hãy rửa bên trong chén đĩa cho sạch trước đã, để bên ngoài cũng được sạch“.

“Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisiêu giả hình ! Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các người cũng vậy, bên ngoài có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình gian ác“.

Thánh Luca viết (Lc 11, 39):

“Thật nhóm Pharisiêu các người, bên ngoài chén đĩa , thì các ngươi rửa sạch, nhưng bên trong các người thì đầy những chuyện cướp bóc gian tà“.

 Thánh Gioan viết (Jn 9, 39-41):

“Đức Chúa Giêsu nói:“Tôi đến Thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !“

“Những người Pharisiêu đang ở đó với Đức Chúa Giêsu nghe vậy, liền lên tiếng:“Thế thì cả chúng tôi cũng đui mù hay sao ?“

“Đức Chúa Giêsu bảo họ:“Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng “Chúng tôi thấy“ thì tội các ông vẫn còn !“

Câu nói vô cùng thâm thúy. Quân Pharisiêu giả hình, thấy rõ sự thật trong LƯƠNG TÂM, nhưng chúng không làm theo, nên tội vẫn còn, không thể tha thứ, không thể ĐỐI THOẠI.

Quân CSVN là quân Pharisiêu giả hình, giả đạo đức để che lấp tội ác, thì chính Chúa Giêsu cũng không thể đối thoại được huống chi Hy Mẫn khuyên Giáo dân Thái Hà ĐỐI THOẠI. 


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế








NHẬN ĐỊNH VỀ
LÁ THƯ MỤC TỬ CỦA HY MẪN


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Sáng sớm hôm nay, 01.09.2008, tôi đọc trên Diễn Đàn, thấy LÁ THƯ MỤC TỬ của Hồng y PHẠM MINH MẪN, có ấn ký đề ngày 01.09.2008.

Lá Thư gồm 7 điểm, nhưng không có điểm nào Hồng y nói đến việc Công an CSVN dùng bạo lực, dùng dùi cui điện đánh chảy máu mặt Giáo dân, không có điểm nào nói đến việc thả hơi cay vào nơi cầu nguyện làm nhiều người ngất xỉu. Hồng y phải nói lên và phản đối việc dùng bạo lực này, nhưng Ngài đã coi như không có.

Hồng y đã thừa biết rằng CSVN dùng Báo Đài vu khống những điều mà chính các Linh Mục dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà đã tường trình sự thực với hình ảnh chứng minh. Hồng y phải lên tiếng phản đối lại những vu khống này, nhưng Hồng y coi đó như thông tin bình thường. Với thái độ như bình thường này trước những vu khống của CSVN, Hồng y không quan tâm đến sự thật hiển nhiên mà Giáo dân đang trông đợi sự lên tiếng của Chủ chăn để ngăn cản. Hồng y làm công việc như bào chữa cho nhẹ tội Cộng sản tàn bạo, đã thả cửa vu khống. 

Điểm thứ 4 của Lá Thư muốn biện minh cho sai trái của CSVN khi nói rằng Luật đất đai qua 5 lần sửa đổi vẫn còn nhiều điều bất hợp lý, rồi địa phương không biết cách nào áp dụng Luật. Đây là lỗi của chế độ chứ không phải từ Dân. Dù sửa đổi 1 lần, 2 ần..., 10 lần mà chưa chỉnh, thì đó là lỗi của CSVN chứ không phải của Dân, trong khi đó một lần mất đất là một lần Dân đau khổ bao nhiêu năm trường. Hồng y Mẫn không đến nỗi ngây ngô mà không biết rằng CSVN biết đâu là phải xử cho hợp Công lý, nhưng chúng cứ đi vòng vòng để thủ lợi cho chúng chứ không thành tâm sửa Luật theo Công lý. Điểm thứ 4 này của Lá Thư có ý bào chữa cho lòng tham ăn cướp của CSVN mà thôi.

Từ điểm thứ 5 đến hết điểm thứ 7, Hồng y kêu gọi việc ĐỐI THOẠI để tìm ra CÔNG LÝ. Hồng y kêu gọi tinh thần bác ái Công giáo (chứ không phải Cộng sản), ngồi lại ĐỐI THOẠI với nhau.

Hồng y đã quên việc mới đây: các Linh mục Thái Hà đã tìm đến với Uûy Ban Nhân Dân để sẵn sàng ĐỐI THOẠI thẳng thắn về Pháp Lý với Chứng cớ. Nhưng phía Nhà Nước chỉ nói lấp liếm vu vơ tránh né, rồi kết luận võ đoán, trái ngược. Hồng y cũng thừa biết vụ can thiệp của Hồng y Quốc vụ khanh Vatican về ĐỐI THOẠI để rồi phía đấu tranh cho Tòa Khâm sứ bị lừa. Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT đã đối thoại được gì, trong khi đó Giáo dân thất vọng. Đây là việc đè bẹp tinh thần chính đáng của Giáo dân.

Chúng tôi cũng nhắc cho Hồng y biết:

=> Hồ Chí Minh đã hô hào đoàn kết các Đảng phái chống Pháp để rồi chính Hồ Chí Minh phản bội, ra lệnh giết các đảng phái khác.

=> Khi Miền Nam Việt Nam xả thân chiến đấu để tự vệ trước cuộc xâm lăng vũ lực từ Miền Bắc, thì có những người như Tôn Thất Dương Kỵ, Ngô Bá Thành..., dưới chiêu bài đẹp đẽ Hoà Bình, Lực Lượng Thứ Ba kêu gọi ngưng súng. Đây là chiến thuật của Miền Bắc để Miền Nam hạ súng đầu hàng.

=> Khi các chiến sĩ sống chết ngoài trận tuyến để bảo vệ TỰ DO, NHÂN QUYỀN cho Miền Nam, thì một Trịnh Công Sơn ca lên những bài ru ngủ lòng chiến đấu cốt để Miền Nam bại trận.

=> Phong trào Phản chiến cũng với chiêu bài Nhân đạo đã phải hối hận với làn sóng Di cư tìm Tự do trong cảnh chết chóc thảm thương.

Vậy thì chiêu bài ĐỐI THOẠI của Hồng y trong lúc CSVN dùng Báo Đài vu khống, xử dụng dùi cui điện đã đánh đổ máu Giáo dân, thả hở cay làm trẻ em, người già bệnh tật, và cũng trong lúc tinh thần Giáo dân đang cần phải có cho cuộc đấu tranh chính đáng, có phải là để dẹp lòng CAN ĐẢM CHO CÔNG LÝ của Giáo dân và để CSVN đánh lừa nữa hay không.

Lời kêu gọi ĐỐI THOẠI như vậy là muốn ủng hộ CSVN và dẹp tinh thần Giáo dân.

Chúng tôi có thể nghĩ, với những kinh nghiệm quá khứ, và nhất là với kinh nghiệm của vụ việc Tòa Khâm sứ với lời kêu gọi của một Hồng y I-tà-lồ, rằng lời kêu gọi ĐỐI THOẠI của Hông y Mẫn chỉ là một chiêu bài lừa đảo trong kế hoạch của CSVN.

Giáo dân Thái Hà nhất thiết phải tụ họp tiếp tục cầu nguyện cho CÔNG LÝ chứ đừng mắc lừa Hồng y Mẫn để giải tán mà nằm ở nhà chờ tới tết Công Gô mới có ĐỐI THOẠI thực sự. Khi Giáo dân giải tán ngồi chờ CSVN đối thoại, thì Hồng y Mẫn và CSVN mừng lắm.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






=========================
pho bien/ publication 01.09.2008
=========================


                                                        THÁI HÀ:
                                             Hy MẪN THEO CSVN ?



                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

Mỗi tuần,chúng tôi có bài QUAN ĐIỂM. Nhưng những bài quan điểm này thường được viết liên tục ý tưởng theo loạt bài Chủ đề kéo dài trong nhiều tuần. Những bài quan điểm bầy tỏ Lập trường của VietTUDAN có tính cách dài hạn. Tuy nhiên mỗi tuần, có những sự việc xẩy ra mang tính cách thời sự mà chúng tôi muốn đưa ra những NHẬN ĐỊNH mang tính cách ngắn hạn theo thời sự. Chính vì vậy mà chúng tôi mở thêm đề mục NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ để bầy tỏ lập trường đối với những biến cố xẩy ra mỗi tuần.

 

Trong những tuần qua, chúng tôi đã phổ biến rộng rãi cuộc đấu tranh rất chính đáng của Giáo dân Xứ Thái Hà. Không phải chỉ vì đất và nhà riêng của Thái Hàø, mà cuộc đấu tranh can cường này còn cho CÔNG LÝ, thiết cần cho tương lai toàn Dân tộc. Dân Oan từ Bắc chí Nam cực khổ vì bị cướp nhà đất. Dân nghèo Nông dân và Công nhân đang bị khai thác bất công. Cả khối Dân 75% dân số đã cùng cực, đang khổ đau thêm vì Khủng hoảng Kinh tế.

Trong tình hình như vậy, chúng tôi nhiệt liệt ca ngợi cuộc đấu tranh anh dũng của Giáo dân Thái Hà. Nhưng đồng thời, chúng tôi rất quan tâm đến những phản bội từ trong lòng Giáo Hội Công Giáo bởi đám ngợm giáo gian quốc doanh, từ Hồng y, Giám mục, Linh mục. Đám ngợm này dễ dàng đưa ra chiêu bài giả hình giống như quân Pharisiêu: Hoà Giải Hoà Hợp dân tộc, Đối thoại Hòa bình, Thỏa Hiệp xây dựng. Đám ngợm này có thể dùng những chiêu bài ấy để ảnh hưởng lên đến Tòa Thánh Vatican. Thực vậy, chúng tôi đã rất bất bình khi Hồng y Quốc vụ khanh Vatican người I-tà-lồ đã dùng chiêu bài Đối thoại để CSVN đánh lừa Giáo dân đang đấu tranh cho CÔNG LÝ nhân vụ việc nhà đất Tòa Khâm sứ Hà Nội.

Tinh thần hăng say, can đảm và vô cùng chính đáng của Giáo dân Thái Hà có bị phản bội nữa hay không ?  Đó là điều làm cho chúng tôi áy náy. Chính vì vậy mà trong hai tuần vừa rồi, chúng tôi đã viết những nhận định qua những bài ngắn sau đây:

1) HÒA HỢP HÒA GIẢI VỚI AI VÀ VỀ CÁI GÌ ?

Với bài này, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng đừng lấy chiêu bài Hòa Hợp Hòa Giải giữa tầng lớp lãnh đạo chia phần, chia quyền, mà CSVN hãy Hòa Hợp Hòa Giải với Dân quốc nội về những gì mà họ đã cướp dựt của Dân.

2) THƯỢNG BẤT CHÍNH, HẠ BẤT TUÂN 

Trước việc Báo Đài CSVN vu khống về cuộc đấu tranh tại Thái Hà, chúng tôi muốn nhắc rằng ngay trong bình diện tổng quát làm ăn Kinh tế, Dân chúng mất tin tưởng ở Nhà Nước. Nhắc như vậy để chúng ta thấy rằng việc vu khống của CSVN chỉ là lừa bịp. Chúng tôi đặc biệt lưu ý đến việc Giáo dân không cần phải tuân theo Chủ chăn nữa khi mà có những Chủ chăn làm điều bất chính. Ngay cả chỉ thị đến từ Vatican như trước đây, ngoài phạm vi Tín Lý, Giáo dân có thể bất tuân và có khả năng tác loạn để Chủ chăn hiểu bài học bất chính của mình.

3) CSVN HẠ NHỤC GIÁM MỤC

Giáo dân làm theo lời Chúa Giêsu dậy qua Phúc Aâm: CAN ĐẢM LÀM ĐIỀU CÔNG CHÍNH. Giáo dân Thái Hà đang thực hiện lời Chúa dậy và đã bị CSVN dùng bạo lực hành hung. Các Giám Mục là những người dậy dỗ Giáo dân về tinh thần can đảm cho công lý, nhưng các Ngài im thin thít mặc cho CSVN hành hạ con chiên. Điều ấy có nghĩa là chính CSVN đang hạ nhục Giám Mục Việt Nam.
 

Viết lên những nhận định ngắn trên đây, chúng tôi muốn đề phòng những gì đến từ cấp Lãnh đạo Công Giáo, nhằm chiều theo CSVN mà làm nhụt chí tinh thần Giáo dân trong cuộc đấu tranh thiết cần cho CÔNG LÝ hiện nay tại Thái Hà.

Trong sự lo lắng như vậy, tôi đã đọc được bản Tin sau đây trên Diễn Đàn:

“VIDEO PHONG SU DAC BIET: LIEU CO NHUNG CHIA RE TRONG NOI BO GIAO HOI CONG GIAO TAI VIET NAM (Website http://www.sbtn.net)

Thứ Sáu, ngày 29 tháng 8-2008
 
Tin Saigon - Hôm nay thông tín viên SB-TN từ trong nước gởi ra một bản tin nhận định về cuộc đàn áp của Công an Cộng sản Việt Nam tại giáo xứ Thái Hà ở Hà Nội, và cho rằng có những chia rẽ trong nội bộ Giáo hội Thiên Chúa giáo tại Việt Nam.

Mời quý vị theo dõi phóng sự đặc biệt từ trong nước gởi ra sau đây (video 3 phút).

Xin quý vị bấm vào LINK dưới đây:

http://www.sbtn.net/default.aspx?LangID=38&tabId=157&ArticleID=29290  “

 
Trong bản Tin này, Phóng viên SB-TN đã nhắc đến sự chia rẽ ấy có thể đến từ Hồng y PHẠM MINH MẪN như trong vụ CỜ VÀNG. Bản tin cũng nhắc đến báo quốc doanh Công Giáo và Dân Tộc. Chúng tôi còn biết qua Linh mục TRẦN VĂN KIỆM, 88 tuổi, cựu Giáo sư Đại Học Khoa Học Sài Gòn, cũng là Giáo sư dậy Toán cho tôi khi tôi học lớp Đệ Nhị tại Tiểu Chủng Viện Phát Diệm năm 1959. Theo Linh mục, bộ Cố vấn của Hồng y MẪN gồm nhóm Linh mục ngợm giáo gian quốc doanh. Hồng y còn được cố vấn bởi Linh mục NGUYỄN THÁI HỢP mà chúng tôi đã biết việc thân Cộng của Linh mục này ngay thời kỳ còn học chung với chúng tôi tại Thụy sĩ năm 1967.

Sáng sớm hôm nay, 01.09.2008, tôi đọc trên Diễn Đàn, thấy LÁ THƯ MỤC TỬ của Hồng y PHẠM MINH MẪN, có ấn ký đề ngày 01.09.2008.

Lá Thư gồm 7 điểm, nhưng không có điểm nào Hồng y nói đến việc Công an CSVN dùng bạo lực, dùng dùi cui điện đánh chảy máu mặt Giáo dân, không có điểm nào nói đến việc thả hơi cay vào nơi cầu nguyện làm nhiều người ngất xỉu. Hồng y phải nói lên và phản đối việc dùng bạo lực này, nhưng Ngài đã coi như không có.

Hồng y đã thừa biết rằng CSVN dùng Báo Đài vu khống những điều mà chính các Linh Mục dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà đã tường trình sự thực với hình ảnh chứng minh. Hồng y phải lên tiếng phản đối lại những vu khống này, nhưng Hồng y coi đó như thông tin bình thường. Với thái độ như bình thường này trước những vu khống của CSVN, Hồng y không quan tâm đến sự thật hiển nhiên mà Giáo dân đang trông đợi sự lên tiếng của Chủ chăn để ngăn cản. Hồng y làm công việc như bào chữa cho nhẹ tội Cộng sản tàn bạo, đã thả cửa vu khống. 

Điểm thứ 4 của Lá Thư muốn biện minh cho sai trái của CSVN khi nói rằng Luật đất đai qua 5 lần sửa đổi vẫn còn nhiều điều bất hợp lý, rồi địa phương không biết cách nào áp dụng Luật. Đây là lỗi của chế độ chứ không phải từ Dân. Dù sửa đổi 1 lần, 2 ần..., 10 lần mà chưa chỉnh, thì đó là lỗi của CSVN chứ không phải của Dân, trong khi đó một lần mất đất là một lần Dân đau khổ bao nhiêu năm trường. Hồng y Mẫn không đến nỗi ngây ngô mà không biết rằng CSVN biết đâu là phải xử cho hợp Công lý, nhưng chúng cứ đi vòng vòng để thủ lợi cho chúng chứ không thành tâm sửa Luật theo Công lý. Điểm thứ 4 này của Lá Thư có ý bào chữa cho lòng tham ăn cướp của CSVN mà thôi.

Từ điểm thứ 5 đến hết điểm thứ 7, Hồng y kêu gọi việc ĐỐI THOẠI để tìm ra CÔNG LÝ. Hồng y kêu gọi tinh thần bác ái Công giáo (chứ không phải Cộng sản), ngồi lại ĐỐI THOẠI với nhau.

Hồng y đã quên việc mới đây: các Linh mục Thái Hà đã tìm đến với Uûy Ban Nhân Dân để sẵn sàng ĐỐI THOẠI thẳng thắn về Pháp Lý với Chứng cớ. Nhưng phía Nhà Nước chỉ nói lấp liếm vu vơ tránh né, rồi kết luận võ đoán, trái ngược. Hồng y cũng thừa biết vụ can thiệp của Hồng y Quốc vụ khanh Vatican về ĐỐI THOẠI để rồi phía đấu tranh cho Tòa Khâm sứ bị lừa. Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT đã đối thoại được gì, trong khi đó Giáo dân thất vọng. Đây là việc đè bẹp tinh thần chính đáng của Giáo dân.

Chúng tôi cũng nhắc cho Hồng y biết:

=> Hồ Chí Minh đã hô hào đoàn kết các Đảng phái chống Pháp để rồi chính Hồ Chí Minh phản bội, ra lệnh giết các đảng phái khác.

=> Khi Miền Nam Việt Nam xả thân chiến đấu để tự vệ trước cuộc xâm lăng vũ lực từ Miền Bắc, thì có những người như Tôn Thất Dương Kỵ, Ngô Bá Thành..., dưới chiêu bài đẹp đẽ Hoà Bình, Lực Lượng Thứ Ba kêu gọi ngưng súng. Đây là chiến thuật của Miền Bắc để Miền Nam hạ súng đầu hàng.

=> Khi các chiến sĩ sống chết ngoài trận tuyến để bảo vệ TỰ DO, NHÂN QUYỀN cho Miền Nam, thì một Trịnh Công Sơn ca lên những bài ru ngủ lòng chiến đấu cốt để Miền Nam bại trận.

=> Phong trào Phản chiến cũng với chiêu bài Nhân đạo đã phải hối hận với làn sóng Di cư tìm Tự do trong cảnh chết chóc thảm thương.

Vậy thì chiêu bài ĐỐI THOẠI của Hồng y trong lúc CSVN dùng Báo Đài vu khống, xử dụng dùi cui điện đã đánh đổ máu Giáo dân, thả hở cay làm trẻ em, người già bệnh tật, và cũng trong lúc tinh thần Giáo dân đang cần phải có cho cuộc đấu tranh chính đáng, có phải là để dẹp lòng CAN ĐẢM CHO CÔNG LÝ của Giáo dân và để CSVN đánh lừa nữa hay không.

Lời kêu gọi ĐỐI THOẠI như vậy là muốn ủng hộ CSVN và dẹp tinh thần Giáo dân.

Chúng tôi có thể nghĩ, với những kinh nghiệm quá khứ, và nhất là với kinh nghiệm của vụ việc Tòa Khâm sứ với lời kêu gọi của một Hồng y I-tà-lồ, rằng lời kêu gọi ĐỐI THOẠI của Hông y Mẫn chỉ là một chiêu bài lừa đảo trong kế hoạch của CSVN.

Giáo dân Thái Hà nhất thiết phải tụ họp tiếp tục cầu nguyện cho CÔNG LÝ chứ đừng mắc lừa Hồng y Mẫn để giải tán mà nằm ở nhà chờ tới tết Công Gô mới có ĐỐI THOẠI thực sự. Khi Giáo dân giải tán ngồi chờ CSVN đối thoại, thì Hồng y Mẫn và CSVN mừng lắm.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Xin quý Vị đọc thêm những ưu tư đã viết trong những bài dưới đây







                               HÒA GIẢI HÒA HỢP VỚI AI VÀ CÁI GI ?



                                              NGUYỄN PHÚC LIÊN



Cách đây chừng hai năm, nhiều chính khách xu thời đã nêu ra chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp. Nhìn thấy tính cách xu thời mong nhẩy bàn độc, nhiều Vị đã lên tiếng nói rõ rằng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là lá đơn van xin làm bồi cho CSVN vì chính CSVN không nêu ra vấn đề ấy và vì tâm địa cố hữu của CSVN là ngoan cố bấu víu chặt lấy quyền độc tài độc đảng. Chúng tôi cũng đã viết nhiều về vấn đề này.

Trong tuần vừa rồi, tôi đọc bài của Oâng NGUYỄN TƯỜNG LONG mang đầu đề HÒA GIẢI LÀ MỘT NHU CẦU CÓ THẬT. Tôi cũng có đọc những ý kiến của Bác sĩ NGUYỄN THỊ THANH về Hòa Giải Hòa Hợp.

Đối với vấn đề này, lập trường của chúng tôi được bầy tỏ qua hai câu hỏi:

1) Ai hòa hợp hòa giải với ai ?

2) Hòa hợp hòa giải về cái gì ?


Nếu không trả lời chính xác cho hai câu hỏi ấy, thì vấn đề Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là chiêu bài tung ra để che đậy những mưu mô khác.


AI HÒA HỢP HÒA GIẢI VỚI AI ?

Khi nói hòa hợp hòa giải là nói đến hai lực lượng tranh đấu, dành dựt một cái gì mà dai dẳng không phân thắng bại để tổn thương nguy hại đến cả hai lực lượng. Vì vậy hai bên ngồi lại thảo luận với nhau để chia chác điều mà mình đang dằng co. Nếu chia phần cho đều, thì hai lực lượng tạm yên đánh nhau.

Nếu hiểu Hòa Giải Hòa Hợp là giữa Quốc gia và Cộng sản thì không trúng bởi lẽ người Quốc gia không dành dựt cái điều mà CSVN đang nắm giữ. Trở lại về nguyên thủy cuộc đấu tranh Quốc-Cộng, người Quốc gia đứng ở vị trí bảo vệ Tự do, Nhân quyền, còn người Cộng sản dùng võ lực đến chiếm quyền để đặt để Độc tài độc đảng, không cho Tự do và chà đạp Nhân quyền. Vì vậy người Quốc gia không đi dành dựt chiếm hữu, lấy cho mình cái quyền Độc tài, tiêu diệt Tự do, chà đạp Nhân quyền như Cộng sản. Một bên là tự vệ, một bên là xâm lăng ăn cướp. Vì vậy nói người Quốc gia đi Hòa Hợp Hòa Giải với CSVN là không trúng

Trúng hơn là nên nói hòa hợp hòa giải giữa những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng và những người làm Chính trị phe chủ trương độc đảng về cái quyền lực cai trị. Nếu những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng muốn hòa hợp hòa giải với CSVN, thì cứ việc làm, nhưng đây là việc đấu tranh dành quyền lực giữa tầng lớp làm chính trị. Liệu CSVN có chia quyền hành cho những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng hay không, hay là CSVN xử dụng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để vẽ râu ria cho chế độ cố hữu của họ, xử dụng những người làm Chính trị phe đa đảng như bung xung lừa bịp Dân và Quốc tế.

Nếu hai phe Chính trị mà chỉ dùng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để chia ghế, chia quyền hành, thì Dân vẫn tiếp tục đấu tranh chống lại cả hai phe thống trị.


HÒA HỢP HÒA GIẢI VỀ CÁI GÌ ?

Đối với người Dân, vấn đề tha thiết căn bản của họ là có TỰ DO, có việc tôn trọng NHÂN QUYỀN thực sự và những người cầm quyền đừng ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của họ. Trừ những người làm Chính trị cho quyền hành, hầu hết đồng bào Tỵ nạn Hải ngoại đứng về phía Dân chúng Việt Nam quốc nội đấu tranh cho TỰ DO, NHÂN QUYỀN và QUYỀN SINH SỐNG NUÔI THÂN XÁC. Ơû Hải ngoại, người Quốc gia Tỵ nạn đã có TỰ DO, có NHÂN QUYỀN và CÓ CƠM ĂN ÁO MẶC. Họ đứng sau lưng Dân chúng Việt Nam để hỗ trợ cuộc đấu tranh của người Dân đòi CSVN cho TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN và đừng CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân chúng quốc nội.

Vậy thì việc Hòa Giải Hòa Hợp là giữa CSVN và DÂN CHÚNG VIỆT NAM tại Quốc nội, chứ không phải giữa CSVN và khối người Quốc gia tỵ nạn tại Hải ngoại. CSVN muốn Hòa Giải Hòa Hợp thì hãy làm công việc đó đối với Dân chúng Việt Nam tại Quốc nội. CSVN hãy trả lại TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN, đừng nắm Kinh tế ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân và phải hòan trả lại Dân những gì mà CSVN đã ăn cướp trong bao chục năm trường. Điều cuối cùng này rất quan trọng. Thực vậy, đừng dùng chiêu bài Hòa giải Hòa hợp để chuyển tài sản ăn cướp ra nước ngoài, rồi cho con cháu ra đây bảo lãnh mình ra sống vương giả trên của cải ăn cướp được.

Hãy Hoà Giải Hòa Hợp giữa CSVN và Dân chúng Quốc nội, chứ đừng đểu cán kêu gọi Hòa Giải Hòa Hợp với một số thành phần Chính trị ở việc chia ghế. CÁI GÌ (đối tượng) cho việc Hòa Giải Hòa Hợp giữa CSVN và DÂN CHÚNG QUỐC NỘI là: (i) cho TỰ DO, (ii) tôn trọng NHÂN QUYỀN, (iii) đừng nắm độc quyền Kinh tế mà ĂN CƯỚP NHÀ ĐẤT VÀ CƠM ÁO của Dân, (iv) phải hoàn trả lại cho DÂN và ĐẤT NƯỚC những gì đã ăn cướp trước đây.

NGUYỄN PHÚC LIÊN






                                THƯỢNG BẤT CHÍNH, HẠ BẤT TUÂN


                                             NGUYỄN PHÚC LIÊN

 

Chính lẽ câu nói là:“Thượng bất chính, hạ tác loạn“. Chúng tôi sửa lại là THƯỢNG BẤT CHÍNH, HẠ BẤT TUÂN cho nhẹ hơn và diễn tả trúng tâm trạng Dân chúng hiện nay đối với người cầm quyền và ngay cả tâm trạng của Giáo dân đối với những Lãnh đạo tinh thần. Chúng tôi xin đưa ra đây những tỉ dụ:

DÂN CHÚNG ĐỐI VỚI CSVN

Đã nhiều năm nay, Dân chúng vẫn nghe, xem báo đài của Nhà Nước ca ngợi sự phát triển Kinh tế vẻ vang, việc tổ chức APEC, việc vào WTO như khởi đầu những huy hoàng Kinh tế. Nhưng rồi Lạm phát xẩy ra, Giá sinh hoạt tăng vọt, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh không thể chối cãi. Nhà Nước tìm mọi lời lẽ và mọi cách sơn phết để đánh lừa Dân chúng. Nhưng thực tế là Nhà Nước không còn hồ hởi như trước nữa. Độ tăng trưởng Kinh tế phải giảm xuống, lạm phát vẫn tăng. Người Dân càng tìm thêm lý do và thấy rằng chính Tham nhũng, Lãng phí, kém hiệu năng của các Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước đã là nguyên nhân chính yếu cho Khủng hoảng hiện nay. Những vụ Tham nhũng, Hối lộ rành rành, nhưng Nhà Nước cố tình che đậy: Vụ PMU, vụ PCI... Đúng là Nhà Nước, đảng CSVN bất chính. Dù Dân chưa đến mức TÁC LOẠN đối với Nhà Nước, nhưng thái độ của Dân không còn tin vào Nhà Nước nữa và do đó họ không tuân những chỉ thị Kinh tế mà Nhà Nước  đưa ra. Đây là tâm trạng rất bất lợi cho sinh hoạt Kinh tế chung. Nó càng nguy hại hơn nữa khi mà Kinh tế  Quốc gia lại vẫn còn nằm trong tay của Chính trị độc tài. Nên nhớ rằng tâm lý phấn khởi Kinh tế, tin tưởng ở sự phát triển bền vững là yếu tố quyết định cho những đẩu tư trong Kinh tế. Không ai dại mà bỏ vốn ra trong sự bấp bênh, thiếu tin tưởng để phiêu lưu với nguy hiểm mất vốn. Từ khi Lạm phát bắt đầu, Khủng hoảng hiện ra, Nguyễn Tấn Dũng đã đưa ra bao biện pháp, đi sang tận Mỹ hỏi ý kiến chữa trị Khủng hoảng, nhưng hiệu quả không đi đến đâu Khi Dân bất tuân rồi, không còn tin nữa, thì khó lòng lấy lại niềm tin. Tình hình hiện nay là sự bất tín và bất tuân đang lớn mạnh.

GIÁO DÂN CÔNG GIÁO ĐỐI VỚI LÃNH ĐẠO

Khi Cha nói thì Giáo dân tuân theo. Nhưng hiện nay, một số những sự việc xẩy ra cho thấy rằng không những Cha, mà cả Giám mục, Hồng y nói, Giáo dân không tuân nũa. Lý do là tại vì một số Lãnh đạo Công giáo làm việc bất chính, nên Giáo dân bất tuân.

Giáo dân bất tuân trong việc CỜ VÀNG

Có lẽ Hồng y PHẠM MINH MẪN đã nghĩ rằng khi ra Thư chung về việc CỜ VÀNG trong dịp ĐẠI HỘI GIỚI TRẺ THẾ GIỚI, thì Giáo dân sẽ cúi đầu tuân theo huấn dụ. Nhưng Giáo dân đã thấy Hồng y  để ló ra cái đuôi ĐỎ phục vụ CSVN và mạ lỵ CỜ VÀNG. Đây là việc làm BẤT CHÍNH của thượng cấp Hồng y, nên Giáo Dân không những bất tuân mà còn làm ngược để từ nay Ngài đừng ló cái đuôi ĐỎ ra nữa. Thực sự, Hồng y đã phải lẩn trốn khắp nơi, không dám xuất hiện nữa.

Giáo dân Thái Hà tự động đứng lên

Giáo dân đã tích cực đứng lên đấu tranh đòi CÔNG LÝ trong vụ Nhà Đất của Tòa Khâm sứ. Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT đã tuyên bố ý chí quyết đi tới trên đường đòi Công lý. Nhưng trong tinh thần phấn khởi và tin tưởng ấy, Lá Thư của Hông y I-tà-lồ từ Vatican đã làm cho Giáo dân phải ngậm miệng hạ hẳn tinh thần xuống. Đây là một sự can thiệp mà bản thân tôi thấy bất bình. Vụ việc Tòa Khâm sứ vẫn không có giải quyết cho đến nay tất nhiên làm cho Giáo dân hậm hực. Sự hậm hực này đưa đến cho Giáo dân một sự bất tuân trong tương lai.

Việc đấu tranh cho CÔNG LÝ lại bùng lên tại Xứ Thái Hà. Đây là sự đứng lên tự động của Giáo dân. Nếu bây giờ có Lá Thư của Hồng y I-tà-lồ, hay là của Hội Đồng Giám Mục VN, thì Giáo dân có thể phản ứng bằng không tuân theo nữa, hoặc có thể nghĩ rằng đây là việc Lãnh đạo Tôn Giáo về hùa với CSVN để duy trì sự bất chính. Tất nhiên Thượng bất chính, thì Hạ bất tuân. Chúng tôi nghĩ rằng trong tâm lý có thể đi đến bất tuân hiện nay, các Giám mục, Hội đồng Giám mục hay Hồng y I-tà-lồ đừng nên động dạng tìm cách ngăn cản bởi vì Giáo dân có thể thấy việc làm có tính cách bất chính để họ không tuân nữa. Tậm chí, Giáo dân có thể nghĩ một số Lãnh đạo đã mang trong người cái nọc ĐỎ của CSVN. Trong trường hợp này, Giáo dân không những là bất tuân, mà còn có thể đi đến tình trạng TÁC LOẠN khi mà thấy Lãnh đạo BẤT CHÍNH như trường hợp Hồng y PHẠM MINH MẪN.

NGUYỄN PHÚC LIÊN

 






                                  CSVN HẠ NHỤC CÁC GIÁM MỤC


                                          NGUYỄN PHÚC LIÊN



Thông tin về vụ việc Thái Hà sôi động trong những ngày gần đây từ các Thông tấn nước ngoài cho đến Báo Đài CSVN. Càng sôi động hơn nữa khi mà Công an CSVN đã dùng vũ lực đánh đập Giáo dân Công giáo đến đổ máu.

Báo Đài CSVN tự do mạ lỵ

Đứng về phương diện Báo Đài CSVN, thì chúng ta có thể nói rằng Việt Nam có TỰ DO BÁO CHÍ cho quyền lực độc tài THA HỒ NÓI, đến độ vu khống trắng trợn mặc dù báo chí nước ngoài đã có dịp quan sát, chứng kiến SỰ THẬT ngược lại tận mắt. Cuộc Họp Báo của Công an và của Phó Chủ tịch UBND Hà Nội: tự do nói láo không biết thẹn (Mensonge sans pudeur).

CSVN sửa doạn kết án bỏ tù những Giáo dân can đảm vì Công lý

Một số Giáo dân đã bị bắt trong dự định truy tố ra Tòa và kết án tù theo truyền thống những Phiên Tòa man rợ của CSVN. Những Giáo dân này được dậy dỗ trong tinh thần Tôn giáo là hãy can đảm bênh vực cho CÔNG LÝ. Nếu bây giờ họ phải bắt bớ, tù tội, thì cũng chỉ là hậu quả của thành tâm tin tưởng vào CÔNG LÝ, nhưng đã bị cường quyền vu khống bắt tội họ.

Giáo Hội Công Giáo bị mạ lỵ

Viết những dòng chữ này, chúng tôi không có ý van lơn xin cứu giúp những Giáo dân bị cường quyền vu khống bắt tội vì không những họ không có tôi gì, mà còn đang hãnh diện vì thấy mình theo đúng với LƯƠNG TÂM, tuân theo LỜI DẬY của Giáo Hội về CÔNG LÝ theo tinh thần Phúc Aâm.

Ai đã Đại diện Chúa Giêsu để ban phát những Giáo Huấn ấy ? Đó chính là các Lãnh đạo Tôn Giáo, các Giám mục Việt Nam. Việc CSVN vu khống mạ lỵ những Giáo dân thành tâm kia, chính là mạ lỵ Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, mạ lỵ HÀNG GIÁM MỤC không biết dậy con chiên để chúng làm bậy đối với quyền lực Cộng sản.  Chúng vu khống, hành hạ các con chiên thành tâm, tức là MẠ LỴ, HÀNH HẠ chính Giáo Hội Công Giáo.

Điều còn nhục nhã hơn nữa là những Lãnh đạo Công Giáo ẩn tránh chui lủi. Các Giáo Mục ở đâu ? Hồng y Quốc Vụ Khanh Vatican I-tà-lồ trốn đâu ? Hồng y này đã lấy quyền can thiệp vào vụ việc Toà Khâm sứ có ý nịnh CSVN. Hồng y không biết nhục khi thấy bài học hiện nay ở Thái Hà hay không ?  Xin   Hy I-tà-lồ hãy nhớ kỹ: Thượng bất chính, Hạ bất tuân !!!.


NGUYỄN PHÚC LIÊN







=========================
pho bien/ publication 24.08.2008
=========================


                              CUỘC ĐẤU TRANH CHO CÔNG LÝ
                                           LẠI BÙNG LÊN


Diễn tiến vụ tranh chấp đất đai ở giáo xứ Thái Hà, Hà Nội
Nhã Trân, phóng viên đài RFA
2008-08-19


Hôm thứ Hai 11-8, Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội gửi đến Bề Trên của Dòng báo cáo mới về vụ tranh chấp tại giáo xứ Thái Hà, giữa Nhà Dòng với chính quyền địa phương

Giáo dân tập trung cầu nguyện yêu cầu nhà cầm quyền trả lại khu đất của Nhà Dòng.

Trong ít năm trở lại đây một số Hội thánh ở Việt Nam lên tiếng rằng đất đai của nhà thờ bị chính quyền địa phương trưng dụng qua những hình thức khác nhau. 

Một trong các hội thánh này là Dòng Chúa Cứu Thế tại giáo xứ Thái Hà, Hà Nội, cho hay khu đất của Nhà Dòng đã bị Xí nghiệp Dệt Thảm Đống Đa tự ý bán cho Công ty Cổ phần May Chiến Thắng cách đây hơn 10 năm. 

Nhà Dòng đã gửi đơn khiếu nại từ năm 1996.  

Đến hôm thứ Hai 11 tháng 8, Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội gửi đến Bề Trên của Dòng báo cáo mới về diễn biến vụ này.

Nhã Trân phỏng vấn Linh mục Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong, người đang làm việc mục vụ và phụ trách về vấn đề đất đai của  Tu Viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội. 

Giáo dân tập trung cầu nguyện

Nhã Trân:  Thưa Linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong (NNNP), lý do nào Dòng Chúa Cứu Thế tại giáo xứ Thái Hà có báo cáo mới về tình hình đất đai nơi này?

Linh mục NNNP: Sở dĩ chúng tôi phải có báo cáo là thứ nhất để cho Bề Trên chúng tôi được nắm vững tình hình để còn thông báo cho tất cả các cha, các thầy trong nhà dòng chũng như ở các tỉnh bạn biết để cầu nguyện cho công lý tại Thái Hà.

Vấn đề thứ hai quan trọng, đó là những ngày vừa qua báo chí của chính quyền, đặc biệt là các cơ quan truyền thông của thành phố Hà Nội đã thông tin sai sự thật, bóp méo sự thật, dựng lên những hiện trường giả, rồi thì họ cũng tạo nên công dân ảo và đặt vào miệng họ những lời kết án thiếu cơ sở, những lời kết án làm giảm uy tín của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cũng như làm giảm đến uy tín của Nhà Thờ Thái Hà.

Tờ Hà Nội Mới với những lời xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo. Chúng tôi đang tính đến việc khởi kiện báo chí truyền thông của Hà Nội vì những thông tin sai lạc đó.

Tờ Hà Nội Mới với những lời xuyên tạc, thí dụ như là treo biểu ngữ, kích động chế độ, nói xấu đồng bào nhân dân quanh khu vực, rồi thì phát loa một đến hai giờ sáng. Tất cả những điều đó là những điều hoàn toàn bịa đặt, vu cáo, và chúng tôi đang tính đến việc khởi kiện báo chí truyền thông của Hà Nội vì những thông tin sai lạc đó.

Nhã Trân:   Xin linh mục cho biết diễn biến gần đây về vấn đề đất đai của nhà dòng?

Linh mục NNNP:  Giáo dân vẫn đến khuôn viên nhà dòng cầu nguyện ôn hòa, và trong tinh thần tôn trọng luật pháp.  Phía nhà nước giữ im lặng. 

Nhã Trân:  Linh mục có thể cho biết chi tiết báo cáo này? 

Linh mục NNNP:  Chúng tôi trình với Bề Trên rằng vụ việc vẫn không được chính quyền giải quyết.  Đài truyền hình Hà Nội và tờ báo Hà Nội Mới thì đưa thông tin sai lạc, trái sự thật, nói rằng phía nhà dòng có những hành động vi phạm pháp luật. 

Phản ứng của chính quyền

Nhã Trân:  Phía chính quyền có phản ứng ra sao trước hành động của các cơ quan truyền thông này thưa linh mục? 
Linh mục NNNP:  Không có phản ứng gì. 
Nhã Trân:  Nhà dòng và giáo dân có gặp khó khăn gì từ công an không?  Có bị gây khó dễ, áp lực gì không?
Linh mục NNNP:  Không.

Công an được triển khai khắp nơi.

Nhã Trân:  Hôm 16 tháng Tám nhà dòng có buổi tụ họp đông đảo giáo dân, có phải vì lý do đặc biệt nào không thưa linh mục?

Linh mục NNNP:  Đó là để kỷ niệm ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.  Giáo dân vẫn chỉ tụ họp cầu nguyện trong ôn hòa.

Nhã Trân : Thưa Linh Mục, như vậy là kể từ khi Xí Nghiệp Dệt Thảm Đống Đa bán khu đất của Nhà Dòng cho Công Ty Cổ Phần May Chiến Thắng, tức là 12 năm đã trôi qua.  Nhà nước đã đáp ứng yêu cầu của bên phía giáo xứ?

Linh mục NNNP: Cái quá trình khiếu nại đất thì đấy, từ Năm 1996, Ngày 18 Tháng Tám-1996 thì Linh mục Vũ Ngọc Bích đã gửi đơn khiếu nại về việc Xí Nghiệp Dệt Thảm Len bán khu đất đó cho Công Ty Cổ Phần May Chiến Thắng. Về sau lá đơn đầu tiên đó thì chính quyền cũng không có bất cứ một cái  động thái nào để gọi là giải quyết cái vấn đề khiếu nại mà Linh mục Vũ Ngọc Bích đã đề ra. 

Cuối Năm 2006, đấu Năm 2007 thì phát hiện công ty đã bán khu đất đó cho một công ty khác. Nhà Thờ đã làm đơn khiếu nại lên các cấp chính quyền. Hơn một năm trời thì việc khiếu nại đấy cũng không được giải quyết hoặc giải quyết môt cách thiếu trách nhiệm.

Đầu Năm 2008 vì Công Ty May Chiến Thắng vi phạm pháp luật cho nên công dân bức xúc, cho nên đã cầu nguyện tại khu vực đó. Trong khoảng thời gian 8 tháng, giáo dân đã kiên trì ở đó để mà trông giữ đất cũng như là để canh cho pháp luật được thực thi.

Sự kiện Thái Hà đang là vấn đề nóng hổi được sự quan tâm của dư luận xã hội cũng như là của người Công Giáo Việt Nam ở Miền Bắc. Mọi người đều ủng hộ lắm. Tất cả đều hướng về Thái Hà và dành cho Thái Hà một tình cảm.

Thế thì sau sự kiện Ngày 5 Tháng 1 Năm 2008 cho đến bây giờ thì nhà nước thì cũng có lập đoàn thanh tra, vv. và v.v. để giải quyết. Nhưng mà hoàn toàn thì họ không có giải quyết dựa trên sự thật khách quan, không có giải quyết dựa trên cái chứng cớ pháp lý mà Nhà Dòng cung cấp.

Những bằng chứng không có thật?

Nhã Trân:  Xin Linh mục cho biết đường hướng của giáo xứ Thái Hà về vụ đất đai này trong thời gian tới?

Linh mục NNNP:   Giáo dân từ các nơi về đông lắm. Người xa quê ở các vùng nông thôn lên làm việc ở đây cho nên ở đây hiện nay là chúng tôi Chủ Nhật có 5 thánh lễ, hai thánh lễ Chủ Nhật vào Ngày Thứ Bảy nữa.

Rồi chúng tôi đang phải chuẩn bị mở thêm một thánh lễ vào 8 giờ tối Chủ Nhật để đáp ứng nhu cầu của dân, tại vì khuôn viên Nhà Thờ còn quá nhỏ đi, từ 60.000 mét ban đầu bây giờ nhà nước tiến chiếm nên chỉ cón 2.700 mét mà thôi. Với một số lượng đông đảo dân như thế thì quả thực là khu vực này không thể đáp ứng được yêu cầu.

Sự kiện Thái Hà đang là vấn đề nóng hổi được sự quan tâm của dư luận xã hội cũng như là của người Công Giáo Việt Nam ở Miền Bắc. Mọi người đều ủng hộ lắm. Tất cả đều hướng về Thái Hà và dành cho Thái Hà một tình cảm. Chuyện đất đai ở Giáo Xứ Thái Hà cho đến bây giờ thì Nhà Thờ Thái Hà chưa bao giờ bị mất quyền sở hữu.

Hiện nay nó xảy ra chuyện như thế này bởi vì đất đai của nhà thờ đây bị các cơ quan nhà nước đã chiếm đoạt một cách bất hợp pháp. Không có bất cứ một chứng từ  nào cho thấy rằng Nhà Thờ đã bàn giao, đất của Nhà Thờ đã bị trưng thu, đất của Nhà Thờ đã bị trưng mua, mà hoàn toàn là người ta cứ dựng lên những cái chứng cớ mà nó không có thật.

Nhã Trân : Vâng. Thưa Linh Mục, Linh Mục khẳng định đây là những chứng cứ không có thật ạ?

Linh mục Gioan  Nguyễn Ngọc  Nam Phong : Vâng ạ. Việc nhà nước cho rằng Cha Vũ Ngọc Bích đã ký giấy bàn giao Ngày 24-11-1961, trong khi đó chúng tôi cũng có một quyết định giao đất của nhà nước thời đó giao cho Xí Nghiệp Thảm Len thì quyết định đó lại được ký Ngày 30-1-1961, tức là cách đó 10 tháng thì nhà nước đã bàn giao.

Thực tế thì Ngày 24-11-1961 thì ai cũng biết đó là ngày mà các cơ quan nhà nước, các tổ tôn giáo trên toàn quốc phải kê khai tài sản, bây giờ nhà nước cứ dựa vào cái giấy đó để mà nói rằng nhà nước đã ký bàn giao.

Chúng tôi cũng nhiều lần yêu cầu cung cấp cho chúng tôi những chứng cớ cho rằng cha Vũ Ngọc Bích đã bàn giao nhưng mà những người được chúng tôi đề nghị cung cấp thì họ đều nói rằng đây là tài liệu mật.

Nhã Trân:  Xin cám ơn linh mục về cuộc phỏng vấn này.
Linh mục NNNP:  Cám ơn chị và nhờ quí đài, nhờ các cơ quan truyền thông đưa tiếng nói của chúng tôi đến công luận.






                        XỨ THÁI HÀ VÀ NHỮNG CÂU HỎI TẠI SAO?


Thái Hà, những động thái khác lạ

Trong những ngày gần đây, giáo dân Thái Hà đã đưa ảnh, tượng Đức Mẹ vào khu đất mà họ đang đòi lại. Nhiều tháng nay họ đã tập trung cầu nguyện bên ngoài hàng rào, biến một đoạn ngõ phố thành "Phố Đức Bà" với vô vàn thánh giá, ảnh tượng và hương nến được treo trên… hàng rào dây thép gai. Họ đã ngăn chặn việc mua bán, sang nhượng, quản lý của các cơ quan đang sử dụng khu đất nhưng đã "vi phạm Luật Đất đai năm 2003 và các quy định của Thành phố về quản lý, sử dụng đất đai". (Theo Công văn số 4213/UBND-NNĐC ngày 2/7/2008 của UBND Thành phố Hà Nội).

Giáo dân, với cách suy nghĩ đơn giản là: Đất này của chúng tôi, cha ông chúng tôi đã mua từ khi chưa có Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vậy lý cớ gì tự nhiên giao cho người khác mà không có văn bản pháp lý nào. Họ yêu cầu trả lại khu đất về chủ của nó: Dòng Chúa cứu thế - Xứ Thái Hà.  

Vụ việc trở nên căng thẳng và phức tạp khi mấy ngày gần đây, các phương tiện thông tin Nhà nước và Thành phố Hà Nội đã liên tục đăng tải, phát chương trình kết tội giáo dân và tu sĩ ở đây đã "vi phạm pháp luật"? Còn giáo dân, họ quyết tâm hy sinh cho công lý và sự thật bất kể đêm, ngày, mưa, nắng. Những khó khăn, như càng kích thích thêm lòng tin và tinh thần hi sinh của họ. Khắp nơi, sự đồn đại và lan truyền không chỉ trong đồng bào Công giáo về sự kiện ở Xứ Thái Hà đã khiến dòng người đổ đến "Phố Đức Bà" ngày càng đông.

Những điều lạ ở đây cũng đã xảy ra: Trước hết, giáo dân đã mang tượng, ảnh, thánh giá, hương nến vào khu đất trước sự chứng kiến cuả công an, của các ban ngành Thành phố Hà Nội mà không hề bị ngăn cản. Cho đến sáng 19/8, một số công nhân của Công ty may Chiến Thắng được điều động đến phá dỡ lều bạt, giật ảnh tượng ném xuống đất làm cho các giáo dân đang cầu nguyện cảm thấy bị xúc phạm nặng nề trong khi đội ngũ công an dày đặc đứng nhìn dửng dưng.

Điều lạ thứ hai, các phương tiện thông tin của Nhà nước với cả mấy trăm tờ báo, hàng chục đài phát thanh, truyền hình nhưng hình ảnh vụ việc nóng bỏng này đã không được ai nói đến. Khi một số báo chí, đài phát thanh truyền hình được huy động vào cuộc, thì đã lại làm việc theo lối bổn cũ soạn lại, lại nhào, nặn, bóp méo và xuyên tạc sự thật đến ngỡ ngàng. Điều đó càng làm cho những người đang cầu nguyện thấy mình đúng hơn, và chính nghĩa hơn. Với họ, những phương tiện truyền thông Nhà nước đã thông tin như vừa qua là không đáng tin cậy, là xuyên tạc, vu khống… điều này họ thể hiện công khai bằng lời nói, bằng hành động và trong những câu chuyện cười ra nước mắt nơi họ tập trung cầu nguyện, trong những câu chuyện trao đổi hang ngày, trước mặt các cán bộ, chiến sĩ và ngay cả nhiều lương dân và có cả các nhà báo chứng kiến.

Những câu hỏi: Tại sao?

Người ta không thể không đặt câu hỏi: Tại sao, một vụ việc tưởng chừng như đơn giản thế, ngay giữa thủ đô Hà Nội, đầy đủ các cơ quan quyền lực, pháp luật và là trung tâm chính trị của cả nước lại không thể giải quyết để những người dân cứ mãi dãi gió dầm sương, để hàng trăm, hang ngàn lượt cán bộ chiến sĩ phải ngày đêm túc trực với nỗi chán chường và mệt mỏi? Những việc ngay ở đây còn không thể giải quyết, vậy thì hàng đoàn người từ Cà Mau, Tiền Giang, Đồng Nai… và các tỉnh xa xôi khác ngày ngày diễu qua các phố mang biểu ngữ, băng rôn để khiếu kiện đòi lại đất đai nhà cửa là điều không lạ lùng.

Tại sao, một chính quyền và một Nhà nước của dân, vì dân nhưng những nguyện vọng chính đáng của họ, chưa được một cơ quan nào giải quyết triệt để, thấu lý, đạt tình để sự việc thêm phần phức tạp? Hay tiêu chí đó chỉ là khẩu hiệu?

Trong các văn bản gửi đi, gửi lại giữa Dòng Chúa cứu thế và các cơ quan công quyền thời gian qua, nổi bật một vấn đề: Hai bên chẳng ai nghe ai. Một bên bất chấp sự thật, bất chấp lý lẽ cũng như cơ sở pháp lý mà bên kia đã trưng ra để chứng minh đất đai của mình mà chỉ sử dụng mệnh lệnh, nghị quyết, quyết định quyền lực và giải thích theo cách mà mình thích. Một bên là Dòng Chúa cứu thế thì căn cứ những cơ sở, hồ sơ, nhân chứng… để chứng minh rằng việc đòi lại là chính đáng.

Đọc những văn bản đó, tôi nghĩ rằng, hình như các cơ quan công quyền không có khả năng lắng nghe và không có cả những chứng cứ cụ thể, chỉ nói lấy được nhằm áp đặt mọi sự cho phía Dòng Chúa Cứu thế buộc phải chấp nhận, dù nó không đúng? Những người có tư duy đó họ quên rằng: Chính nhà nước này chứ không phải ai khác, đã hô hào từ rất lâu việc xây dựng Nhà nước dân chủ, pháp quyền. Vì vậy, người dân không dễ chấp nhận những điều họ không  tâm phục, khẩu phục khi trong đó không chứa đựng những sự thật. Mọi người phải sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật, vậy hà cớ gì các cơ quan nhà nước lại không theo đúng những điều mình đã nói ra để làm gương?

Ngay trong các văn bản có tính pháp lý của các cơ quan hành chính, chính quyền phát hành về nguồn gốc và những vấn đề liên quan đến khu đất đã chứa đầy sự bất nhất và nói lên những điều thú vị:

Trong Quyết định số 2476/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hà Nội ngày 30/6/2008 do Phó Chủ tịch Vũ Hồng Khanh ký, thì ngày họ cho là Linh mục Vũ Ngọc Bích ký biên bản "Hội nghị bàn giao nhà thống nhất quản lý vào Nhà nước" là ngày 24/10/1961, việc bàn giao trên là để "thực hiện Thông tư của Thủ tướng Chính phủ số 73/TTg ngày 7/7/1962(?)" . Thế nhưng, trong  Công văn số 1784/TNMT&NĐ-CS của Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất Hà Nội do Phó Giám đốc Nguyễn Đăng Bình ký thì "ngày 24/11/1961(?) Linh mục Bích đã bàn giao khu đất Thái Hà qua nhà nước quản lý"?.

Tôi cũng đã đọc Quyết định số 76/SQL-NĐ của Sở Quản lý Nhà đất Hà Nội có nội dung "giao đất cho Xí nghiệp Thảm len Hà Nội sử dụng khu đất và nhà sẵn có trong khu vực Nhà thờ Nam Đồng Thái – hà diện tích 16.296 m2" thì văn bản đó lại được ký ngày 30/1/1961(?)

Tại sao có những điều khuất tất như vậy? Có thể đây là sự nhầm lẫn về ngày tháng do sơ suất được không? Khi mà những câu, chữ, tư liệu trên đó đã được đóng dấu quốc huy đỏ chót?

Tôi nghĩ là không. Không có ai lại đi giao đất và tài sản cho đối tượng khác trước khi được bàn giao cho mình, cũng không một Nhà nước nào lại đi thực hiện một chỉ thị mà mãi hơn một năm sau khi thực hiện nó mới ra đời. Tất cả những điều đó đã tự bản thân nó bác bỏ nội dung mà các cơ quan công quyền đã cố tình đưa ra ép buộc bên có đất đai tài sản phải chấp nhận.

Trước hết, đó là sự làm ăn tắc trách của ngay các cơ quan công quyền, sự không tôn trọng người dân, và cái lớn nhất là không tôn trọng sự thật. Người ta nói "đường đi hay tối, nói dối hay cùng" là vậy. Sự thật muôn đời vẫn là sự thật, dù nó không theo ý muốn của mình, nhưng sự dối trá, đến một lúc nào đó sẽ "lòi cái đuôi" mà thôi.

Vì những vấn đề đó chưa được giải tỏa một cách thích đáng, nên người dân lại càng tin Nhà nước không có lý do gì để chiếm đoạt đất của họ, và cứ thế họ đòi. Vậy là nhà nước lại tốn công, tốn của và tốn nhân lực để canh giữ, để họp hành bàn cách đối phó. Người ta ước tính với biết bao lần họp hành của các cơ quan công quyền, bao nhiêu cảnh sát canh giữ ngày đêm, bao nhiêu xăng xe, phương tiện truyền thông cũng như nhiều chi phí khác của người dân, của xã hội… số tiền chi cho vụ Thái Hà này chắc cũng đã bằng giá trị khu đất, và cứ thế, ngân sách cứ chi, tiền dân cứ đổ.

Đơn giản nhất, là nếu có một "biên bản bàn giao nhà đất qua nhà nước sử dụng" của Linh mục Bích, dù là ngày 24/10 hay 24/11/1961 thì cơ quan công quyền hà cớ gì không đưa cho họ tận mắt mục sở thị?

Trả lời câu hỏi: "Các Cha đã bao giờ được nhìn văn bản Cha Bích ký bao giờ chưa"? Thì Linh mục Thật đã trả lời: "Chưa bao giờ, dù chúng tôi đã nhiều lần đòi hỏi. Trong cuộc họp do họ tổ chức, một cán bộ cầm trên tay một tờ giấy, ngồi ở trên bàn trên bảo rằng: Đây là giấy linh mục Bích ký bàn giao, ngay lúc đó, linh mục Khải yêu cầu cho xem và cấp cho Nhà thờ một bản photo copy, nhưng họ đã không cho xem và bảo rằng đây là "bí mật quốc gia"?

Hỡi ôi cái lý luận của kẻ mạnh? Cái cách tranh luận và "làm việc" kiểu đó thì muôn đời sau cũng không bao giờ có chuyện giải quyết, nhất là trong giai đoạn "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" được nhà nước đưa lên như một phương cách làm việc của hệ thống công quyền.

Đôi điều suy nghĩ

Thực chất của việc đòi lại đất đai tài sản của Dòng Chúa cứu thế Hà Nội, cũng như Tòa Khâm sứ, là hậu quả một quá trình hành động của Nhà nước chỉ biết sử dụng sức mạnh của súng đạn, của lực lượng chuyên chính vô sản mà bất chấp các quy định về luật pháp, hiến pháp và thiếu trầm trọng sự tôn trọng quyền lợi người dân. Hậu quả đó, ngày nay các cấp chính quyền và các ban ngành liên quan trong cả nước đang phải hứng chịu.

Nếu như trước đây, trong thời kỳ Cách mạng Xã hội chủ nghĩa, Nhà nước có những chính sách minh bạch, có những quyết định căn cứ vào pháp luật, vào hiến pháp để ra những văn bản thuyết phục, thì muôn đời các tổ chức tôn giáo cũng như hàng loạt hộ dân khiếu kiện hiện nay chỉ có nước "cấm khẩu".

Nhưng, nếu cứ những văn bản bất nhất như đã nói ở trên tiếp tục ra đời để cái nọ đá cái kia, thì lại tiếp diễn những hậu quả tiếp theo cho các thế hệ cầm quyền nối tiếp và như một bệnh dịch không có khả năng chấm dứt bằng một thứ thuốc thông thường.

Tôi cứ nghĩ tại sao ngày 24/11/1961 lại có sự đồng loạt của Linh mục Nguyễn Tùng Cương, Linh mục Vũ Ngọc Bích cũng như nhiều linh mục khác đã như mở một ngày hội yêu nhà nước mà đua nhau "hiến, tặng, bàn giao" cho nhà nước các tài sản của Giáo hội? Sau khi tìm hiểu thì được biết: Đó là ngày kê khai tài sản nhà thờ, các cơ sở tôn giáo. Nếu vậy, thì việc kê khai phải khác với việc "bàn giao" về bản chất. Hèn chi văn bản của Sở Tài nguyên môi trường và Nhà đất Hà Nội đã ghi rằng: "Linh mục Vũ Ngọc Bích (người quản lý) đã bàn giao khu đất Thái Hà qua Nhà nước thống nhất quản lý"? Khu đất Thái Hà bao gồm tất cả nhà thờ, bệnh viện, dòng tu, vậy sao Nhà thờ Thái Hà vẫn thuộc Dòng Chúa Cứu thế? một điều mà Nhà nước vô thần chắc chắn chẳng bao giờ muốn nó tồn tại?

Nếu việc kê khai, đồng nghĩa với việc bàn giao, thì có nghĩa là Nhà thờ Lớn Hà Nội, Tòa Tổng Giám mục cũng như tất cả nhà thờ, nhà nguyện, nhà xứ… trên miền Bắc Xã hội chủ nghĩa đều đã được Nhà nước thống nhất quản lý và muốn biến nó thành chuồng bò, nhà kho đều đương nhiên đúng? Và khi đó bộ Từ điển tiếng Việt cần bổ sung gấp một từ "kê khai = bàn giao".

Không, không thể lập lờ đánh lận con đen theo cái lý của kẻ cầm súng. Mọi việc cần minh định rõ ràng. Chỉ có như thế, lòng người mới yên, xã hội mới yên bình thật sự.

Làm sao bây giờ?

Cần khẳng định điều này: với sự cảnh giác của giáo dân và tu sĩ giáo xứ Thái Hà, Nhà nước mới phát hiện ra việc các đơn vị đang sử dụng đất đai tại khu vực đất của Dòng Chúa cứu thế - Xứ Thái Hà đã vi phạm pháp luật. Điều này đã được văn bản của Thành phố Hà Nội xác định. Đó là công lao của họ. Nếu họ không vì tinh thần chung, không vì mến Chúa yêu người, thì không biết đến nay, khu đất đó đã được chia thành bao nhiêu lô và bao nhiêu tiền của đã đổ vào túi những ai và Nhà nước được lợi gì ở đó?

Với người giáo dân, chỉ có tấm lòng kiên trinh và một niềm tin vững chắc vào công lý, sự thật nhưng đã phải tự đày đọa mình, hy sinh bản thân với sự vô tư và dũng cảm, để làm sáng tỏ một điều: Sự thật ở đâu? Công lý ở đâu? Không giải quyết được những câu hỏi đó, là trách nhiệm của nhà cầm quyền.

Với khu đất ngay trung tâm thủ đô, hàng ngàn mét vuông bị bỏ hoang hóa bao nhiêu năm nay, những tổn thất biết bao là to lớn, trong khi hàng vạn trẻ em không nhà cửa, hàng ngàn người đang đầu đường xó chợ, hàng vạn sinh viên đang chen chúc với tệ nạn xã hội… thì có thể nói đó là một tội ác.

Với hàng loạt cán bộ chiến sĩ ngày đêm cùng phải thi gan cùng tuế nguyệt nơi đầu đường góc phố, nắng mưa dãi dầm với tâm tư trĩu nặng, tiêu tốn tiền ngân sách là tiền dân một cách vô ích. Bởi những người đến cầu nguyện không hề la hét, không hề có biểu ngữ, không manh động, không ồn ào hoặc gây hấn, thì đó là trách nhiệm của người giải quyết vấn đề đã không có chuẩn mực để giải quyết vấn đề một cách thấu đáo.

Cách giải quyết vấn đề cần có một hướng thật đơn giản nhưng thật khó khăn.

Sẽ hết sức đơn giản nếu chính quyền biết tôn trọng người dân, biết lắng nghe họ. Khi hệ thống cán bộ, công quyền thực hiện đúng câu Hồ Chí Minh đã nói là "Công bộc của dân" mới có thể tồn tại và cứu vãn được niềm tin vốn đã xói mòn quá nhiều theo năm tháng tồn tại của mình. Khi đó, cần nhìn thẳng vào một sự thật đã qua, những khiếm khuyết đã dẫn đến hậu quả này mà tìm cách khắc phục, trả lại những giá trị thật của chân lý, của niềm tin. Mạnh dạn sửa chữa những sai lầm đã có, khắc phục những hậu quả do hệ thống chính quyền từ họng súng gây ra, để đưa đất nước, nhân dân vào các khuôn khổ của luật pháp.

Tất cả những chứng cứ, những nhân chứng được hai bên bình đẳng đưa ra chứng minh trước pháp luật bởi một Tòa án công minh. (Tôi nhấn mạnh là "một tòa án công minh" để tránh một Tòa án xử theo chỉ thị với án bỏ túi xưa nay)

Và sự thật là "Cái gì của Seda phải trả lại cho Seda".

Sẽ hết sức khó khăn, nếu vẫn với quan điểm không dựa vào nhân dân, không tôn trọng họ mà chỉ dựa vào sức mạnh của súng đạn, của nhà tù và dùi cui theo kiểu độc tài phát xít. Tất cả những hành động theo hướng đó, chỉ ngày càng làm cho lòng dân bất ổn, niềm tin vốn đã ít ỏi lại càng mai một và đến một lúc nào đó, hậu quả của nó thật khôn lường cho xã hội khi có một xã hội không có niềm tin vào nhà cầm quyền.

Những động thái của nhà cầm quyền mấy ngày qua, tiếc thay lại đang đi theo hướng khó khăn này. Hệ thống truyền thông được huy động càng nhiều, ra sức tô vẽ bóp méo sự thật, cũng chưa hẳn đã là cách mà nhà cầm quyền có thể gặt hái được những kết quả theo ý muốn của mình.

Bởi họ cần biết một điều, với hệ thống báo chí của đất nước này hiện nay, đố ai có dám bảo đảm lòng tin của người dân đang đặt vào đó. Kể cả những người xưa nay vốn đã có lòng tin thần thánh vào chế độ, vào hệ thống truyền thông chính thống của nhà nước, thì qua các vụ án gần đây về tham nhũng về bắt bớ nhà báo, về các vấn đề xã hội bị cấm, bị phạt, bị ký luật… người dân đã hiểu được nhiều những gì đằng sau những bài báo, và nó đang phục vụ mục đích của ai.

Với những thông tin về những vụ việc này trên báo chí nhà nước, chỉ có một tác dụng cho những người quan tâm rằng ở Dòng Chúa Cứu thế Thái Hà, Hà Nội, đang có những vụ việc mà mình cần đến. Vậy thôi.

Thật ra, nhà nước đã biết lợi dụng tôn giáo, đã tạo ra hàng loạt các linh mục quốc doanh, các tôn giáo quốc doanh để phục vụ họ, nhưng tác dụng thì chẳng có bao nhiêu. Ngược lại, điều nhà nước có thể lợi dụng được ở người Công giáo đó là niềm tin của họ vào Sự thật, Công lý, Công bằng và tình yêu thương… thì nhà nước đã không biết cách lợi dụng để giải quyết vấn đề. Phải chăng, họ không quen sử dụng những thứ này?

Với niềm tin vào Công lý và Sự thật, cầu mong các vấn đề này được giải quyết trong tình yêu thương và tha thứ lẫn nhau, để mọi con người đều được tôn trọng, phẩm giá được nâng cao, tình yêu thương có cơ hội phát triển.

Hà Nội, Ngày 19  tháng 8 năm 2008
JB. Nguyễn Hữu Vinh (Hà Nội)





                            HÒA BÌNH LÀ KẾT QUẢ CỦA CÔNG LÝ


Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới
(Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39).
"...TRONG NHỮNG KHI THIẾU THỐN BIẾT CHẠY ĐẾN CÙNG ĐỨC BÀ MARIA"



Quý độc giả Ephata và Công Giaó Việt Nam thân mến,

Tôi ra Hà Nội chuyến này, định ở tạm mấy hôm rồi đi giúp đào tạo Giáo Lý Viên bên Toà Giám Mục Bắc Ninh, không ngờ lại có được vinh dự chứng kiến một sự kiện lịch sử tại DCCT Thái Hà. Đúng ngày thứ sáu, Lễ Đức Bà Lên Trời 15 tháng 8, trong khi các cha DCCT tại chỗ đều vào dự Đại Hội La Vang hoặc tản ra đi dâng Lễ ở các nơi thay cho các cha sở bên Triều cũng đi vắng trong La Vang, tôi được nhờ dâng Thánh Lễ trọng thể. Vừa Lễ xong, như truyền thống đã có ở Thái Hà, tôi mặc nguyên áo Lễ vàng cùng với bà con Giáo Dân kéo sang Phố Đức Bà để cầu nguyện và hát Kinh Hoà Bình.

Xin nói thêm một chút để quý độc giả hiểu thêm do đâu mà có tên gọi lạ lùng là Phố Đức Bà. Ấy là vì từ đầu năm nay, ngay sau sự kiện ở Toà Khâm Sứ Hà Nội, bên Nhà Thờ Thái Hà cũng bùng lên cuộc đấu tranh quyết giữ cho bằng được mảnh đất của Nhà Dòng đã sở hữu từ 70 năm về trước. Năm 54, Nhà Nước chiếm dụng Tu Viện làm thành Bệnh Viện Đống Đa, còn khu đất mênh mông chung quanh thì qua tay bao nhiêu cơ sở quốc doanh. Nay thấy lộ ra ý đồ chia lô bán đất, tư nhân hoá lung tung cả lên, bà con Giáo Dân giận quá, vây lại, dựng lều canh giữ không cho động tịnh gì.

Bên bán đã ngậm tiền mà không giao được đất, bên mua đòi lại tiền cũng không xong, lấy đất để xây dựng hoặc bán tiếp cũng chẳng được, kẹt cứng thì phải nhờ đến bên an ninh. Mà an ninh sắc phục lẫn không sắc phục thì khổ quá, phải đối đầu với một lực lượng toàn các bà, lại là các cụ đáng tuổi bà nội bà ngoại, sơ sảy một tý là chết với các cụ ngay !

Các cụ vốn đạo đức, cả đời kinh nghiệm thiêng liêng dạy cho biết phải bám chặt vào Đức Bà, thế là nghĩ ra chuyện treo bao nhiêu là ảnh Đức Bà cùng với Thánh Giá gỗ lên các mắt lưới kẽm gai. Cả một đoạn đường chạy dài bờ tường của khu đất chiếm dụng lúc nào cũng hương khói nhang đèn lung linh, tiếng đọc kinh râm ran, tiếng hát Thánh Ca rộn ràng. Trước ở đây có tên là phố gì đấy chẳng ai còn nhớ, bây giờ ai cũng gọi... Phố Đức Bà !

Tình hình giằng co như thế đã 8 tháng. Ngày nào cũng vậy, hễ dứt Lễ trong Nhà Thờ là cha chủ tế, lễ sinh, ca đoàn, trẻ con, cụ già, đàn ông đàn bà theo sau Thánh Giá nến cao, kéo sang hát vang Kinh Hoà Bình, làm Tuần Cửu Nhật kính Đức Bà Hằng Cứu Giúp ( không biết tiếng Latin thế nào, chứ tiếng Pháp là Notre Dame du Perpétuel Secours, tiếng Anh là Our Lady of Perpetual Help, dịch sang tiếng Việt là Đức Bà Hằng Cứu Giúp sát hơn là Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp như quen dùng ).

Trở lại với điều tôi đã nêu là sự kiện lịch sử đúng vào ngày Lễ Đức Bà. Khi đoàn ra đến Phố Đức Bà, mọi khi cứ đứng ngay lối đi mà cầu nguyện, mấy lần bên Công An bảo là gây mất an ninh trật tự công cộng, lần này tự nhiên thấy có một đoạn tường gạch bị trận mưa lớn mấy hôm trước làm sập, mọi người quyết định cứ thế mà leo vào. Bên trong các cụ đã đặt được tượng Đức Bà Ban Ơn từ khuya ngày 13 rạng ngày 14, chẳng lẽ lại chịu đứng bên ngoài sao ? Đây là đất Hội Thánh, đất của Giáo Dân mình cơ mà, mình vào thì có sao đâu nào. Kẻ chiếm dụng cố thủ bên trong mới sai lỗi chứ nhỉ ?! ?

Có đến cả trăm người đã lọt vào bên trong, đọc kinh, hát Thánh Ca đến bài "Mẹ ơi, Xứ Đạo con đây..." thì bên ngoài vẫn còn mấy trăm người nữa, bức bối quá, họ xô đổ luôn mấy mảng tường khác nữa để ùa vào. Tôi chợt ngoái lại nhìn thì thấy y như một dòng sông người đang cuồn cuộn tràn vào. Có mấy ông khoẻ tay đang vặn các đầu dây thép gai lên để không gây thương tích cho mọi người khi băng qua chỗ tường mới sập tan tành.

Tuyệt nhiên không có bạo động, không có đôi co xô xát nào. Mấy anh Công An áo xanh đứng ở trụ sở xa xa điềm nhiên phì phèo điếu thuốc. Mấy anh mặc thường phục thì lăm lăm máy chụp ảnh và máy quay phim để quay quay chụp chụp, đến khi mấy cô bé Giáo Dân cũng giơ điện thoại lên lập "biên bản ảnh" chính các anh thì các anh lại xoay lưng tránh mặt, thật tội nghiệp !

Sang đến thứ bảy 16 tháng 8, kính Đức Maria Nữ Vương thì bà con Giáo Dân đã nghiễm nhiên làm chủ hoàn toàn "trận địa" đấu tranh một cách ôn hoà và văn minh. Họ phạt cỏ, san bằng những chỗ mấp mô lồi lõm, lấy chính gạch đá từ bức tường bị xô đổ, lót xuống làm lối đi từ Phố Đức Bà vào đến Đài Đức Bà.

Gọi luôn là Đài Đức Bà là vì trên một cái bể nước mưa xây bằng xi-măng rất cổ xưa, bỏ phế lâu ngày không dùng đến, bây giờ trải khăn trắng, bày hoa thắp nến quây chung quanh 3 pho tượng Đức Bà thật hoành tráng hùng hậu: tượng Đức Bà Phù Hộ, tượng Đức Bà Ban Ơn, và mới nhất là tượng Đức Bà Vô Nhiễm cao đến hai thước đứng chính giữa. Phía sau còn thêm Thánh Giá Chúa Giêsu cao 5m nữa chứ !

Trên đường trở ra, trong khi mọi người vẫn đang tiếp tục hát Kinh Hoà Bình, tôi nghe lao xao các bà bảo các ông: "Thế nhá, có Đức Bà ngự giữa mảnh đất của ta rồi, yên tâm chẳng còn ai dám ức hiếp làm bậy nữa". Các ông giọng ồm ồm bảo lại các các bà: "Phố Đức Bà này, Đài Đức Bà này, bây giờ là Đất của Đức Bà rồi !"

Tự nhiên tôi liên tưởng, từ Hà Nội nhớ lại chuyện Sài-gòn cách đây chưa được một tuần. Thứ hai 11 tháng 8, tôi vừa rửa tội trên Trung Tâm Mục Vụ DCCT Sài-gòn cho một gia đình 3 người: cặp vợ chồng và một cháu bé nhỏ xíu tên là Giêrađô Maria Nhân Nghĩa.

Người chồng đang là một đảng viên năng nổ, giữ một chức vụ quan trọng ở Phường Đội một quận lớn của Sài-gòn. Người vợ từng bị bệnh cúm Rubella lại mang thai, đến tháng thứ tám, siêu âm thì bác sĩ bệnh viện Nhà Nước bảo phải phá thai vì thai dị tật lung tung, lục ngủ ngũ tạng teng beng không tài nào cứu vãn, nếu không cho sinh non bằng phương pháp Kovac ngay thì không khéo nguy to, chết cả mẹ. Đây là đứa con đầu lòng, trời ơi, vợ chồng cứ ôm nhau mà khóc!

Thế rồi có người mách bảo nếu bó tay hết thuốc chữa rồi thì đi tìm Đức Bà của người Đạo Chúa mà cầu xin. Đôi vợ chồng chở nhau Honda hỏi thăm tên Đức Bà, có người chỉ ra Nhà Thờ Đức Bà thì chắc chắn là có Đức Bà rồi đó. Họ đã đến vào buổi tối 8 giờ, gặp một nhóm đang đọc kinh cầu nguyện và hát Thánh Ca quanh tượng Đức Bà Hoà Bình. Kể từ dạo Đức Bà khóc tháng 11 năm 2005 đến nay, tối nào cũng có mấy nhóm chia nhau từng phiên đọc kinh với Đức Bà.

Hôm ấy, nhóm đọc kinh để ý thấy có đôi vợ chồng bụng mang dạ chửa cứ đứng khóc miết chứ chẳng đọc được kinh nào, chẳng hát được bài nào. Sau hỏi ra thì biết gia đình này không có Đạo, bị tư vấn phải phá thai, thế là họ nhiệt tình giới thiệu sáng hôm sau đến gặp Nhóm Bảo Vệ Sự Sống DCCT. Chúng tôi khuyên không có gì phải phá thai cả, còn nếu như lo có tai biến thì chúng tôi lại cho gặp bác sĩ giỏi và tử tế để được tư vấn tới nơi tới chốn. Nghe đến đâu khuôn mặt họ rạng rỡ vui mừng và an tâm đến đó. Tôi chứng kiến mọi diễn tiến đổi thay kỳ diệu ấy, tôi biết đó là Lòng Tin đã được hình thành !

Gần một tháng sau, em bé chào đời. Trời ơi tuyệt vời, bé khoẻ mạnh không có một tý gì là dị tật, ngoại trừ xương sọ của bé chưa tăng trưởng kịp. Sinh con được một tuần thì cả đôi vợ chồng xin học Đạo. Tôi gửi một anh Giáo Lý Viên thuộc Nhóm Bảo Vệ Sự Sống đến hướng dẫn ngay tại nhà. Vừa rồi cháu được ba tháng tuổi thì cả gia đình được nhận Bí Tích Thánh Tẩy, bố mẹ cháu Nhân Nghĩa còn nhận thêm Bí Tích Thêm Sức.

Thánh Lễ hôm ấy có cả nhóm cầu nguyện ngoài Nhà Thờ Đức Bà. Xong xuôi, cả nhóm cùng với gia đình Tân Tòng dễ thương ấy kéo nhau ra Nhà Thờ Đức Bà để tạ ơn Đức Bà Hoà Bình. Anh đảng viên ngày xưa nay đã nộp đơn xin chuyển ngành, ra dân sự tìm nghề khác mưu sinh, cho dù có phải vất vả, mất đi hẳn những thứ lương bổng hậu hĩnh do người ta chạy chọt hối lộ để con khỏi đi bộ đội. Tôi chụp được tấm ảnh vợ chồng anh ta quỳ gối ngay Quảng Trường Đức Bà Sài-gòn, mắt đẫm lệ, miệng mếu máo đọc kinh lần chuỗi Mai Khôi.

Thế đấy, trong Nam ngoài Bắc, cả ở Đại Hội La Vang, rồi Tà Pao ở Bình Thuận, La Mã ở Bến Tre, Bạch Lâm ở Gia Kiệm, Sài-gòn có Nhà Thờ Đức Bà, Quảng Trường Đức Bà, tượng Đức Bà Hoà Bình, thì ở Hà Nội có Phố Đức Bà, Đài Đức Bà, Đất của Đức Bà... Đâu đâu cũng vang lên lời kinh, câu hát cầu nguyện với Đức Bà. Cuối kinh của Tuần Cửu Nhật kính Đức Bà Hằng Cứu Giúp, thế nào cũng đọc: "Lạy Thánh An Phong là Quan Thầy bầu chữa chúng con, xin giúp đỡ chúng con trong những khi thiếu thốn biết chạy đến cùng Đức Bà Maria".

Vâng, chúng con rủ nhau chạy đến với Đức Bà đây. Lúc này dân tộc chúng con, quê hương chúng con đang thiếu đủ chuyện. Toàn là thiếu những chuyện tày trời: thiếu nhân bản, thiếu văn hoá, thiếu giáo dục, thiếu đạo đức, thiếu công bằng, thiếu lương thiện, thiếu bác ái trong mọi mặt mọi ngành của xã hội, thiếu luôn cả Sự Sống khi người ta đang tâm cho tự do phá thai đạt... huy chương vàng thế giới ! Và nhất là thiếu Đức Tin, vô thần duy vật nên không còn biết sợ Trời sợ Đất gì nữa !

Lm. QUANG UY, DCCT thứ bảy 16.8.2008


 








=========================
pho bien/ publication 23.08.2008
=========================


                         NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:

                                        HÒA GIẢI HÒA HỢP


                    Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                     Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html



Mỗi tuần,chúng tôi có bài QUAN ĐIỂM. Nhưng những bài quan điểm này thường được viết liên tục ý tưởng theo loạt bài Chủ đề kéo dài trong nhiều tuần. Những bài quan điểm bầy tỏ Lập trường của VietTUDAN có tính cách dài hạn. Tuy nhiên mỗi tuần, có những sự việc xẩy ra mang tính cách thời sự mà chúng tôi muốn đưa ra những NHẬN ĐỊNH mang tính cách ngắn hạn theo thời sự. Chính vì vậy mà chúng tôi mở thêm đề mục NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ để bầy tỏ lập trường đối với những biến cố xẩy ra mỗi tuần.



Cách đây chừng hai năm, nhiều chính khách xu thời đã nêu ra chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp. Nhìn thấy tính cách xu thời mong nhẩy bàn độc, nhiều Vị đã lên tiếng nói rõ rằng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là lá đơn van xin làm bồi cho CSVN vì chính CSVN không nêu ra vấn đề ấy và vì tâm địa cố hữu của CSVN là ngoan cố bấu víu chặt lấy quyền độc tài độc đảng. Chúng tôi cũng đã viết nhiều về vấn đề này.

Trong tuần vừa rồi, tôi đọc bài của Oâng NGUYỄN TƯỜNG LONG mang đầu đề HÒA GIẢI LÀ MỘT NHU CẦU CÓ THẬT. Tôi cũng có đọc những ý kiến của Bác sĩ NGUYỄN THỊ THANH về Hòa Giải Hòa Hợp.

Đối với vấn đề này, lập trường của chúng tôi được bầy tỏ qua hai câu hỏi:

1) Ai hòa hợp hòa giải với ai ?
2) Hòa hợp hòa giải về cái gì ?


Nếu không trả lời chính xác cho hai câu hỏi ấy, thì vấn đề Hòa Giải Hòa Hợp chỉ là chiêu bài tung ra để che đậy những mưu mô khác.


AI HÒA HỢP HÒA GIẢI VỚI AI ?

Khi nói hòa hợp hòa giải là nói đến hai lực lượng tranh đấu, dành dựt một cái gì mà dai dẳng không phân thắng bại để tổn thương nguy hại đến cả hai lực lượng. Vì vậy hai bên ngồi lại thảo luận với nhau để chia chác điều mà mình đang dằng co. Nếu chia phần cho đều, thì hai lực lượng tạm yên đánh nhau.

Nếu hiểu Hòa Giải Hòa Hợp là giữa Quốc gia và Cộng sản thì không trúng bởi lẽ người Quốc gia không dành dựt cái điều mà CSVN đang nắm giữ. Trở lại về nguyên thủy cuộc đấu tranh Quốc-Cộng, người Quốc gia đứng ở vị trí bảo vệ Tự do, Nhân quyền, còn người Cộng sản dùng võ lực đến chiếm quyền để đặt để Độc tài độc đảng, không cho Tự do và chà đạp Nhân quyền. Vì vậy người Quốc gia không đi dành dựt chiếm hữu, lấy cho mình cái quyền Độc tài, tiêu diệt Tự do, chà đạp Nhân quyền như Cộng sản. Một bên là tự vệ, một bên là xâm lăng ăn cướp. Vì vậy nói người Quốc gia đi Hòa Hợp Hòa Giải với CSVN là không trúng

Trúng hơn là nên nói hòa hợp hòa giải giữa những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng và những người làm Chính trị phe chủ trương độc đảng về cái quyền lực cai trị. Nếu những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng muốn hòa hợp hòa giải với CSVN, thì cứ việc làm, nhưng đây là việc đấu tranh dành quyền lực giữa tầng lớp làm chính trị. Liệu CSVN có chia quyền hành cho những người làm Chính trị phe chủ trương đa đảng hay không, hay là CSVN xử dụng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để vẽ râu ria cho chế độ cố hữu của họ, xử dụng những người làm Chính trị phe đa đảng như bung xung lừa bịp Dân và Quốc tế.

Nếu hai phe Chính trị mà chỉ dùng chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để chia ghế, chia quyền hành, thì Dân vẫn tiếp tục đấu tranh chống lại cả hai phe thống trị.


HÒA HỢP HÒA GIẢI VỀ CÁI GÌ ?

Đối với người Dân, vấn đề tha thiết căn bản của họ là có TỰ DO, có việc tôn trọng NHÂN QUYỀN thực sự và những người cầm quyền đừng ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của họ. Trừ những người làm Chính trị cho quyền hành, hầu hết đồng bào Tỵ nạn Hải ngoại đứng về phía Dân chúng Việt Nam quốc nội đấu tranh cho TỰ DO, NHÂN QUYỀN và QUYỀN SINH SỐNG NUÔI THÂN XÁC. Ơû Hải ngoại, người Quốc gia Tỵ nạn đã có TỰ DO, có NHÂN QUYỀN và CÓ CƠM ĂN ÁO MẶC. Họ đứng sau lưng Dân chúng Việt Nam để hỗ trợ cuộc đấu tranh của người Dân đòi CSVN cho TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN và đừng CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân chúng quốc nội.

Vậy thì việc Hòa Giải Hòa Hợp là giữa CSVN và DÂN CHÚNG VIỆT NAM tại Quốc nội, chứ không phải giữa CSVN và khối người Quốc gia tỵ nạn tại Hải ngoại. CSVN muốn Hòa Giải Hòa Hợp thì hãy làm công việc đó đối với Dân chúng Việt Nam tại Quốc nội. CSVN hãy trả lại TỰ DO, tôn trọng NHÂN QUYỀN, đừng nắm Kinh tế ĂN CƯỚP MIẾNG ĂN của Dân và phải hòan trả lại Dân những gì mà CSVN đã ăn cướp trong bao chục năm trường. Điều cuối cùng này rất quan trọng. Thực vậy, đừng dùng chiêu bài Hòa giải Hòa hợp để chuyển tài sản ăn cướp ra nước ngoài, rồi cho con cháu ra đây bảo lãnh mình ra sống vương giả trên của cải ăn cướp được.

Hãy Hoà Giải Hòa Hợp giữa CSVN và Dân chúng Quốc nội, chứ đừng đểu cán kêu gọi Hòa Giải Hòa Hợp với một số thành phần Chính trị ở việc chia ghế. CÁI GÌ (đối tượng) cho việc Hòa Giải Hòa Hợp giữa CSVN và DÂN CHÚNG QUỐC NỘI là: (i) cho TỰ DO, (ii) tôn trọng NHÂN QUYỀN, (iii) đừng nắm độc quyền Kinh tế mà ĂN CƯỚP NHÀ ĐẤT VÀ CƠM ÁO của Dân, (iv) phải hoàn trả lại cho DÂN và ĐẤT NƯỚC những gì đã ăn cướp trước đây.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 16.05.2008
=========================


                CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:


                                                     Bài 05:


                                CHỐNG THAM NHŨNG LÀ TRÒ HỀ,
               PHẢI DIỆT QUYỀN LỰC ĐÁNH ĐĨ ĐẺ RA THAM NHŨNG



                          Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG khi viết về tình trạng Kinh tế hiện nay, đã nhấn mạnh đến việc đi tìm cái NGUYÊN NHÂN của các nguyên nhân Lạm phát để mà chữa. Gần nửa năm nay, tôi viết về vấn đề Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh. Khủng hoảng thực sự đã đang diễn ra tại Việt Nam kể từ ngày 28.02.2008. Nhà Nước CSVN chỉ loay hoay thoa bóp ngoài da mà không dám can đảm chữa trị vào chính căn bệnh nội thương từ chế độ: Tham nhũng và Lãng phí. Tuần vừa rồi, Dân Oan tại Hà Nội đã thẳng thắn hô lớn lên rằng phải giải tán Ban Chỉ Đạo chống Tham nhũng mà Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu.


Trò hề chống Tham nhũng

Những nhận xét trên đây cho thấy rằng việc hô hào chống Tham nhũng chỉ là trò mỵ dân che đậy cho một tình trạng thối nát đã lâu đời mà chính CSVN sợ hãi không dám nói ra.

Đầu tuần này, quyền lực CSVN đã bắt hai Nhà Báo can đảm phanh phui ra vụ Tham nhũng PMU 18. Linh mục CHÂN TÍN đã không ngần ngại tuyên bố rằng việc chống Tham nhũng của CSVN chỉ là một TRÒ HỀ.

Linh mục viết:” Vào thời điểm vụ PMU 18 nổ ra, hai nhà báo nói trên đã tham gia tích cực đưa tin về vụ án này. Hai anh đã “thường trực 24/24 tại mọi nơi từ nhà riêng đối tượng tình nghi đến trực chiến tại cổng Cơ quan điều tra C14, mở mọi mối quan hệ từ các nguồn tin,“ chỉ với một mong muốn: Vụ án sẽ được làm đến cùng, những kẻ sâu mọt tham nhũng tiền thuế của dân sẽ bị trừng trị nghiêm khắc” (TN 13.05.2008). Lẽ ra Nhà Nước phải mạnh tay để loại trừ tham nhũng, coi như quốc nạn của chế độ CSVN, thì nay Đảng và Nhà Nước lại tiếp tay cho bọn tham nhũng hàng đầu, bằng cách bắt giam hai nhà báo được nhiều uy tín trong công cuộc chống tham nhũng.“

Linh mục kết luận:” Với việc bắt giam hai nhà báo hàng đầu trong việc đấu tranh chống tham nhũng, Nhà Nước chứng tỏ việc chống tham nhũng chỉ là một trò hề. Những người có chức có quyền sống trên xương máu của người dân muốn dẹp hẳn phong trào này, biến phong trào này thành một thứ trang trí cho chế độ, chứ không muốn dẹp quốc nạn.“

Cái trò hề là ở chỗ: Nhà Nước hô hào chống Tham nhũng để mỵ dân, nhưng khi Dân chống Tham nhũng thực sự, thì CSVN lại sợ Dân khui ra cả đảng vì đứa nào cũng tham nhũng. Dân oan có lý để la hò giải tán Ban Chỉ Đạo Chống Tham nhũng vì Ban này là trò tếu, trò hề và trò đểu tại vì chính Ban chống Tham nhũng lại không muốn cho người ta chống Tham nhũng.


Tham nhũng là những bãi phân lộ diện,
phải diệt con trùng ỉa ra bãi phân mới được

Riêng phần tôi, tôi không quan tâm nhiều đến việc chống tham nhũng hay không chống tham nhũng. Khi Nhà Nước CSVN hô hào chống tham nhũng hay dùng biện pháp diệt những người dám chống tham nhũng, tôi coi là thứ yếu, là tếu là trò hề, là đểu cán. Điều mà tôi quan tâm chính yếu là phải diệt cái nguyên nhân tham nhũng.

Tôi coi tham nhũng, lãng phí là những bãi phân, khi thì vùi kín đi được, khi thì để lộ ra để người ta thấy mà chống. Bãi phân được dấu kín hay sơ hở để lộ ra không phải tự nhiên mà có những bãi phấn ấy. Phải có người ỉa ra thì mới có bãi phân. Điều quan trọng đối với tôi không phải là những bãi phân, mà chính là người ỉa ra những bãi phân đó. Muốn diệt Tham nhũng và Lãng phí, không phải là đi hốt những bãi phân để lộ ra, mà phải diệt chính những tên ỉa ra những bãi phân ấy.

Trong bài QUAN ĐIỂM tuần trước, chúng tôi đã viết về những điều kiện sinh ra Tham nhũng, Lãng phí như sau:

=> Điều kiện ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ. Thực vậy, nếu không có độc tài chính trị, mà đi Lãng phí, ăn bẩn Tham nhũng, thì người ta vặn cổ đi cho chết yểu rồi. Phải có độc tài chính trị, xử dụng Công an để dưới chiêu bài ổn định chính trị mà bóp họng người khác.

=> Điều kiện ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Tham nhũng và Lãng phí thuộc về Tiền bạc, của cải, Kinh tế. Dành độc quyền Kinh tế thì mới vơ vét được nhiều tiền bạc.

=> Điều kiện ĐÁNH ĐĨ giữa ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để đẻ ra con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Tôi chủ ý dùng chữ đánh đĩ, chứ không phải tôi nói tục. Không thể dùng chữ giao cấu, mà phải dùng chữ đánh đĩ vì hai người đánh đĩ với nhau để đẻ ra quái thai THAM NHŨNG, LÃNG LÃNG, còn tìm cách lừa đảo nhau nữa. Nếu độc tài Chính trị mà sống độc thân, thọ thọ bất thân với Kinh tế, thì không thể sinh ra Tham nhũng, Lãng phí. Cũng vậy, nếu Độc quyền Kinh tế không có hoặc không được Độc tài Chính trị bảo trợ, thì làm sao làm Tham nhũng, Lãng phí bởi vì đụng đến tiền bạc người khác, họ vặn cổ đi. Phải có việc đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế thì mới đẻ ra quái thai THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ vậy.

Trong ba điều kiện trên đây, tôi đặc biệt lưu ý đến việc ĐÁNH ĐĨ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế. Chính việc đánh đĩ này mới đẻ ra Tham nhũng, Lãng phí. Phải tách rời hai phương diện ra, không cho chúng chung đụng để ĐÁNH ĐĨ mà đẻ ra quái thai Tham nhũng, Lãng phí.

Hốt những bãi phân tham nhũng, lãng phí, đó chỉ là nhất thời, giai đoạn. Nhưng trong trường kỳ, những người ỉa ra những bãi phân vẫn còn đó, thì chúng tiếp tục ỉa ra những bãi phân để phải hô hào đi hốt nữa. Cũng vậy, nếu diệt những quái thai tham nhũng, lãng phí, mà không diệt tận gốc việc ĐÁNH ĐĨ giữa độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế, thì quái thai lớn bé còn nhung nhúc lòi ra do việc ĐÁNH ĐĨ này.


Tỉ dụ thay Kết luận: Bắt sâu dâu

Nhà ai nuôi tằm lấy tơ, thì thường có vườn dâu để lấy lá cho tằm ăn. Trong ruột cây dâu, có thể có con sâu dài tới gần bằng ngón tay út. Bắt được con sâu ấy, đem nướng mà ăn, thì thật thơm ngon. Người ta cũng bắt sâu dâu để ngâm rượu uống cho bổ.

Nhưng làm sao biết được cây dâu nào có con sâu trong cả một vườn dâu chừng mấy ngàn cây?

Con sâu dâu sống trong cây dâu, chứ không bò ra ngoài để mình bắt. Nó đào trong ruột cây dâu thành một đường mương để ăn hết nhựa dâu từ gốc ăn lên. Muốn biết cây dâu nào có con sâu, thì xem những bãi phân mà nó đùn ra ngoài rơi xuống gốc cây dâu. Xem những bãi phân đùn ra ngoài, thì biết ở trong có con sâu và con sâu này lớn cỡ nào.

Nếu chỉ hốt những bãi phân đùn ra, thì cứ phải hốt hoài, nghĩa là sâu vẫn tiếp tục ăn nhựa cây dâu để ỉa ra những bãi phân. Để chấm dứt việc sâu ăn nhựa cây dâu cho đến tàn héo và để đỡ mệt công hốt phân dâu, thì phải bắt chính con sâu nằm trong lòng cây dâu ấy.

Thường buổi sáng, sâu dâu theo đường mương trong lõi cây từ gốc và mò lên cao. Vì vây sáng sớm, ra cây dâu có phân, dùng dao thật sắc, chém gần gốc dâu cho đứt cây dâu. Sâu chưa kịp chạy xuống gốc để núp. Lúc ấy chẻ thân cây dâu ra, thì bắt được sâu.

Gốc dâu còn lại mà không còn con sâu nữa, có thể mọc lên những cây dâu con không có sâu và tươi tốt. Phải diệt hẳn con sâu thì mới cứu được cây dâu để sinh ra cây nhỏ vậy.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 





=========================
pho bien/ publication 09.05.2008
=========================
 

                 CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:


                                                      Bài 04:



                             DŨNG & QUỐC HỘI CỐ TÌNH NÉ TRÁNH
                          CĂN BỆNH NỘI TẠNG KINH TẾ/TÀI CHÁNH



                          Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Ngày 28.02.2008, Nhà Nước CSVN đành phải nói ra rằng Kinh tế/Tài chánh Việt Nam đang bị nóng lạnh, sổ mũi nhức đầu và tìm cách để chữa trị. Đầu tiên, Nguyễn Tấn Dũng, tại Việt Nam cũng như tại Luân Đôn, đã tìm cách đổ lỗi cho cuộc Khủng hoảng Tín dụng Địa ốc Hoa kỳ và việc tăng giá dầu lửa. Một số Tiến sĩ Kinh tế quốc doanh phụ họa theo trong chiều hướng đổ lỗi ấy.

Họp Bộ Tài Chánh, Ngân Hàng Nhà Nước VN, rồi Nội các để tìm cách chữa trị. Dũng viết ra đơn thuốc gồm 8 vị thuốc. Các Tiến sĩ quốc doanh rồi Báo Đài bồi bút ca tụng như thuốc tiên, chứ không thuộc lại thuốc tễ bằng cơm khô của mấy chú chệt.

Nếu chỉ nóng lạnh, sổ mũi nhức đầu, thì dùng dầu cù là thoa bóp hoặc cạo gió thì cũng bớt đi. Già lắm đau bụng ỉa chảy do đồ thừa Trung cộng thải xuống, thì thậm chí hái lá thúi địt (lá mơ) tráng trứng ăn cũng cầm được.

Nhưng bệnh càng gia tăng và trầm trọng hơn. Một số Kinh tế gia như Roger Mitton..., nhất là Quỹ Tiền Tệ Quốc tế và Ngân Hàng Thế Giới đã cảnh cáo rằng đây không phải là sổ mũi nhức đầu thường, hoặc chỉ ỉa chảy do đồ thừa Trung cộng, mà là căn bệnh trong nội tạng của Kinh tế Việt Nam.

Ngày 06.05.2008, Dũng gặp gỡ Quốc Hội và đọc bài diễn văn đồng thời phải nghe một số những chất vấn của Dân Biểu Quốc Hội (dù là nghị gật). Dũng không còn hung hăng khoác lác đổ lỗi bệnh cho Hoa kỳ và giá xăng nữa.  Bài diễn văn và những chất vấn đi vào chiều sâu hơn của cơn bệnh.


NHỮNG PHÁT HIỆN CỦA CƠN BỆNH

Dũng và Quốc Hội đành phải nói ra những phát hiện trầm trọng của cơn bệnh.

Trong bài diễn văn, Dũng đành phải đề cập đến những điểm sau đây:

=>  “... hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng, đặc biệt trong kiểm tra, giám sát hoạt động các ngân hàng thương mại còn kém hiệu quả, để các ngân hàng cho vay kinh doanh chứng khoán và bất động sản, sử dụng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn...“

=>   “... chi đầu tư từ khu vực nhà nước vẫn còn lớn nhưng hiệu quả thấp. ...tỷ lệ bội chi ngân sách ở mức 5% đã được giữ liên tục trong nhiều năm trong khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn nhưng chưa đặt ra kế hoạch phấn đấu giảm dần bội chi..“

=>   “... vai trò nhà nước trong quản lý thị trường (trong đó có thị trường chứng khoán, bất động sản) còn yếu kém...”

Về thuốc chữa, ông nói:

=>   “Yêu cầu khẩn thiết nhất là thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ chặt chẽ hiệu quả theo hướng tiết kiệm chi, đặc biệt chi thường xuyên và kiểm soát đầu tư công, giảm dần bội chi ngân sách.“

Các Đại biểu Quốc Hội nêu nhận xét:

=>   Bà Phạm Thị Loan: “Chính phủ đã nhận ra nhiều thiếu sót, những yếu kém của nền kinh tế, tuy nhiên, các giải pháp đưa ra mới chỉ dừng lại ở trạng thái xử lý tình huống và giải quyết những vấn đề khó khăn trước mắt chứ chưa triệt để, lâu dài.... QH phải bàn thật sâu vấn đề các tập đoàn kinh tế đã bỏ một lượng vốn lớn của Nhà nước vào bất động sản và chứng khoán, trong khi đó không phải là chức năng của họ. Chính phủ phải kiểm tra xem họ mua vào mấy "chấm", nay không còn "chấm" nào thì lỗ bao nhiêu, ai chịu"

=>   Oâng Nguyễn Ngọc Đào: “Thị trường chứng khoán là một thất bại thảm hại, lỗi quản lý thuộc về ai? Báo cáo Chính phủ nêu các khó khăn khách quan như thị trường thế giới, thiên tai... Nhưng chả lẽ cứ lấy lý do mãi như thế?... Chính phủ phải làm rõ nguyên nhân chủ yếu khiến lạm phát là gì, trách nhiệm các bộ, ngành, thậm chí của cá nhân các Bộ trưởng ra sao, không thể cứ thỏa hiệp thế này mãi"

=>   Oâng Trần Du Lịch: “Đề nghị CP chấm dứt bảo lãnh tín dụng, bao cấp cho tập đoàn nhà nước. Chẳng hạn riêng Vinashin đã được bao cấp vay 750 triệu đôla vốn trái phiếu"

=>   Bà Trần Thị Quốc Khánh: “Nhiều tập đoàn đã được Nhà nước ưu đãi quá nhiều, Chính phủ đã nhận ra nhưng chỉ nói "kiểm soát chặt chẽ" việc đầu tư không đúng ngành nghề. Tại sao không nghiêm cấm luôn để từ nay họ không còn dám đem tiền của dân làm những việc theo ý muốn của một nhóm người?

=>   Oâng Nguyễn Duy Hữu: “... trong đợt sốt gạo "ảo" vừa qua, một đại lý bán gạo "khoe" mỗi ngày kiếm được 400 triệu đồng tiền lãi, người buôn bán lẻ chí ít cũng thu được 50 triệu. Chính phủ phải có tiếng nói mạnh mẽ, đánh giá tổng thể về tất cả chương trình nhà nước về nông nghiệp - nông dân - nông thôn. Giá gạo tăng có thể xem như một tiếng sét, để Chính phủ có thể thức tỉnh trong thái độ đối xử với nông dân"

Tất cả những lời nói ra trên đây của Dũng cũng như của một số Dân biểu Quốc Hội mới chỉ là nhận xét về sự phát hiện của cơn bệnh Lạm phát, Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay. Nhưng đàng sau những phát hiện bề nổi ấy, phải có một thứ vi trùng sinh ra những phát hiện của cơn bệnh. Cả Dũng và Dân biểu tránh né không dám nói rõ ra tên con vi trùng đã và đang hoành hành để phát hiện ra bề nổi của cơn bệnh. Họ tránh né nói ra tên như sợ phạm húy vậy hoặc chính từng người trong họ đang mang con vi trùng ấy nên không dám nói ra vì sợ hổ thẹn.


TÊN CON VI TRÙNG ẤY LÀ THAM NHŨNG VÀ LÃNG PHÍ

Thực vậy, xin độc giả lấy bất cứ câu nói nào trên đây diễn tả phát hiện của cơn bệnh, thì đều thấy đàng sau câu nói ấy, con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ ngồi chồm hổm một đống. Tỉ dụ, khi Dũng nói: “... chi đầu tư từ khu vực nhà nước vẫn còn lớn nhưng hiệu quả thấp. ...tỷ lệ bội chi ngân sách ở mức 5% đã được giữ liên tục trong nhiều năm“. Nhà Nước chi nhiều mà hiệu quả thấp, rồi bội chi 5% từng năm đã nhiều năm rồi, thì đó là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ chứ gì. Cũng vậy, khi Bà Trần Thị Quốc Khánh nói: “Nhiều tập đoàn đã được Nhà nước ưu đãi quá nhiều, Chính phủ đã nhận ra nhưng chỉ nói "kiểm soát chặt chẽ" việc đầu tư không đúng ngành nghề. Tại sao không nghiêm cấm luôn để từ nay họ không còn dám đem tiền của dân làm những việc theo ý muốn của một nhóm người?" Con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ nằm chình ình trong sự phát hiện cơn bệnh như vậy.

Con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ được sinh ra trong điều kiện nào ?

=> Điều kiện ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ. Thực vậy, nếu không có độc tài chính trị, mà đi Lãng phí, ăn bẩn Tham nhũng, thì người ta vặn cổ đi cho chết yểu rồi. Phải có độc tài chính trị, xử dụng Công an để dưới chiêu bài ổn định chính trị mà bóp họng người khác.

=> Điều kiện ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Tham nhũng và Lãng phí thuộc về Tiền bạc, của cải, Kinh tế. Dành độc quyền Kinh tế thì mới vơ vét được nhiều tiền bạc.

=> Điều kiện ĐÁNH ĐĨ giữa ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để đẻ ra con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Tôi chủ ý dùng chữ đánh đĩ, chứ không phải tôi nói tục. Không thể dùng chữ giao cấu, mà phải dùng chữ đánh đĩ vì hai người đánh đĩ với nhau để đẻ ra quái thai THAM NHŨNG, LÃNG LÃNG, còn tìm cách lừa đảo nhau nữa. Nếu độc tài Chính trị mà sống độc thân, thọ thọ bất thân với Kinh tế, thì không thể sinh ra Tham nhũng, Lãng phí. Cũng vậy, nếu Độc quyền Kinh tế không có hoặc không được Độc tài Chính trị bảo trợ, thì làm sao làm Tham nhũng, Lãng phí bởi vì đụng đến tiền bạc người khác, họ vặn cổ đi. Phải có việc đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế thì mới đẻ ra quái thai THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ vậy.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế










=========================
pho bien/ publication 06.05.2008
=========================



                CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:


                                                           Bài 03:


                                    DÂN OAN CHỈ RÕ CHO CSVN BIẾT
                                   ĐÂU LÀ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG



                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Xin quý độc giả hãy vào Web: http://www.vietnamexodus.org/vne/ để nghe tiếng nói của Dân Oan xỉa xói thẳng vào đảng CSVN và chế độ về tình trạng bệnh hoạn, khủng hoảng KT/TC hiện nay là do con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ được sinh ra từ việc đánh đĩ giữa độc tài Chính trị và độc đoán nắm quyền Kinh tế cho đảng. Tôi nói xỉa xói, đó là còn nhẹ, nhưng nếu độc giả xem hình ảnh những Bà Mẹ Dân Oan la thét, chửi thẳng nhân viên trung ương Phòng chống tham nhũng là những người ăn khí huyết của các Bà, rồi đồng thanh hô to rằng phải giải tán Ban Chỉ Đạo Trung ương Phòng Chống Tham Nhũng mà Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu, thì mới thấy sự uất ức của Dân Oan. Các Bà nói toặc móng heo ra, chửi bới, la hò, không nể nang gì nữa.


NHỮNG TIẾN SĨ KINH TẾ NGU MUỘI HAY HÈN NHÁT

Những Bà Mẹ Dân Oan này không cần phải học đến Cử Nhân, Tiến sĩ Kinh tế từ Đại Học Kinh tế Hà Nội, từ Uùc, Pháp, Mỹ. Các Bà đến từ những vùng quê hẻo lánh, nhưng các Bà thông suốt rằng cái căn bệnh Khủng hoảng Kinh tế, làm cho người nghèo càng nghèo đến cùng cực, đó là Tham nhũng và Lãng phí mà chế độ hiện hành đã đánh đĩ để đẻ ra.

Từ ngày 28.2.2008, cuộc Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh chính thức diễn ra. Những Tiến sĩ Kinh tế được Nhà Nước nhóm họp để tìm những nguyên nhân, để kiếm thuốc chữa trị. Nhưng không Tiến sĩ nào tìm ra và nói cho chế độ biết rõ cái căn bệnh như Bà Mẹ Dân Oan đã nói thẳng ra.

=> Những dự án được viết ra giống như in Ronéo từ Trung ương tới các Tỉnh. Nhà Nước CSVN lấy công quỹ hoặc qua lạm phát tiền tệ để thực hiện dự án.

=> Việc nhập siêu đang làm mất thăng bằng cán cân Thương mại quốc gia

=> Nhân danh công nghệ hoá bừa bãi, Trung ương và các Tỉnh thi nhau trưng dụng đất đai, ngay cả những ruộng vườn trồng lúa, trông cây ăn trái.

Qua những dự án, qua việc nhập siêu, qua trưng dụng đất đai, thì những đảng viên, nhất là cao cấp, mới có cơ hội cắt xén của chung vào túi riêng của mình. Tại sao những Tiến sĩ, Cử Nhân Kinh tế không nhìn thấy rằng đầu óc những đảng viên được chấp thuận dự án, được phép nhập siêu, được trưng dụng đất đai, ngày đêm nghĩ đến việc ăn bẩn được bao nhiêu cho riêng mình, nghĩa là cái con vi trùng THAM NHŨNG nằm trong tim đen của mỗi đảng viên vừa nắm quyền độc tài Chính trị vừa dành độc đoán Kinh tế ?

Nếu những Tiến sĩ, Cử nhân Kinh tế ấy không nhìn thấy cái căn bệnh của Lạm phát, của Khủng hoảng Kinh tế Tài chánh, đó là ngu dốt. Nhưng nếu không ngu, đã nhìn thấy tỏ tường mà không dám nói thẳng ra, đó là hèn nhát, sợ mất miếng cơm chính cho bản thân mình.


NHỮNG BÀ MẸ DÂN OAN THÔNG MINH VÀ CAN ĐẢM

Như chúng tôi đã nói ở phần đầu, các Bà Mẹ Dân Oan không cần phải đi Tây, đi Tầu, đi Mỹ gì cả để học lấy những bằng cấp cho cao. Các Bà chỉ ngồi ở nhà quê trồng ngô khoai, mà các Bà đã nhìn thấy rõ cái căn nguyên gây Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế Tài chánh. Đó là con vi trùng Tham nhũng, Lãng phí đang gây bệnh tật cho Dân tộc, cho chính thân xác các Bà. Những Cử nhân, Tiến sĩ Kinh tế, nếu ngu muội, thì hãy lắng nghe bài học của các Bà Mẹ Dân Oan dậy cho.

Còn nếu không ngu muội, thì hãy nhìn gương các Bà dám nói lên sự thật. Qua việc đồng thanh cất lên tiếng nói, yêu cầu giải tán Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng, các Bà muốn trị thẳng vào cái con trùng đang làm cho Đất Nước thiệt hại, cho Dân tộc đau khổ. Các Bà cắt nghĩa đơn giản và vào thẳng vấn đề:

=> Phòng Chống Tham nhũng không phải là chỉ bất lực không giải quyết được sự bất công, mà lại còn nhận tham nhũng của những kẻ đã tham nhũng để cúi gầm mặt câm như hến, để tham nhũng càng chồng chất.

=> Vậy thì hãy giải tán ngay Ban Chỉ Đạo cái Phòng Chống Tham nhũng này mà chính Nguyễn Tấn Dũng nắm đầu.


Xin nhắc lại cái con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ là quái vật do dự giao cấu điếm đàng giữa độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế. Phải tách rời quyền Chính trị ra khỏi quyền Kinh tế để chúng đừng đánh đĩ với nhau mà sinh ra quái vật THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Các Cử nhân, Tiến sĩ Kinh tế cố vấn hãy can đảm như những Bà Mẹ Dân Oan mà nói thẳng với chế độ cái việc giao cấu điếm đàng giữa độc tài Chính trị và việc nắm quyền độc đoán Kinh tế.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 26.04.2008
=========================


                CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:


                                                           Bài 02:


                            CSVN CHỮA KHỦNG HOẢNG KT/TC NGOÀI DA
                                     MÀ KHÔNG CHỮA NỘI THƯƠNG



                              Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

Trong bài MỞ ĐẦU cho loạt bài Chủ đề này, cùng với Nhận định khúc chiết của Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG, chúng tôi đã nói rằng cái căn nguyên của nguyên nhân Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh đặc biệt cao hơn hết của Việt Nam là ở con Vi Trùng sinh ra từ Độc tài Chính trị độc đảng nắm trọn nền Kinh tế Việt Nam.

Những biện pháp đưa ra để chữa trị Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh hiện nay của Nhà Nước chỉ là chữa trị ngoài gia như thoa dầu cù là để mỵ dân hoặc để chứng tỏ mình có chạy chữa thuốc thang. Ngay cả những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế của chế độ nhận định về những thang thuốc của Nhà nước độc tài CSVN, nhưng họ không dám chỉ đích danh con Vi trùng vì vẫn phải giữ nồi cơm riêng của họ. Chỉ trừ Tiến sĩ Lê Đăng Doanh có những đề nghị có phần can đảm, nhưng Tiến sĩ vẫn phải dè chừng với chế độ côn đồ CSVN có thể làm khó dễ Oâng.
 
Tuy vậy, qua những nhận định mang yếu tố lệ thuộc vào chế độ mà không dám nói sự thật, chúng tôi đã nhận thấy những điểm sau đây:

=> Qua phát biểu của Mặt Trận Tổ Quốc, chúng tôi thấy rằng Nhà Nước không thèm quan tâm đến đời sống của đại đa số Dân nghèo Việt Nam với khả năng nổi dậy vì quyền Dạ Dầy mà quét sạch Chính quyền dù là độc tài khát máu.

=> Qua 7 điểm tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng, người ta thấy rằng Nhà Nước khẳng định có những Dự án hỗn loạn để tiêu xài Ngân quỹ Quốc gia từ nhiều năm nay. Đó là  nguyên nhân của Lạm phát và Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh.

=> Việc nhập siêu làm mất cân bằng cán cân thương mại là nguồn ăn bẩn của đảng CSVN. Nhập siêu tăng vọt tới 17 tỉ đo-la rồi.

 
Những điểm chính yếu trên mà Nhà Nước CSVN muốn chữa trị chỉ là ngoài da như thoa dầu cù là hay cạo gió. Cái điểm căn bản để chữa trị, đó là con vi trùng của căn bệnh, đó là việc ĐỘC ĐẢNG, ĐỘC QUYỀN CHÍNH TRỊ và TOÀN QUYỀN NẮM GIỮ KINH TẾ. Những độc quyền đó đánh đĩ với nhau để lòi ra con Vi Trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ ăn ruỗng nền Kinh tề Việt Nam đã bao năm trường để có tình trạng Lạm phát và Khủng hoảng ngày nay.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 










=========================
pho bien/ publication 17.04.2008
=========================


                  CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:

                                                           Bài 01: 


                                NỔI DẬY VÌ ĐÓI/ EMEUTES DE LA FAIM



                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




Những ý tưởng chính của bài viết này đã được Đài Phát Thanh Pháp Quốc tế (Radio France Internationale) ghi âm lúc 11g ngày 16.04.2008 để phát thanh về Việt Nam như vấn đề Thời sự có liên quan đến tình hình lạm phát.

Xin nhắc lại câu mà Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám Đốc FAO của Liên Hiệp Quốc. đã tuyên bố với Financial Times năm ngoái vào tháng 10 nhân hiện tượng vật giá lương thực bắt đầu tăng:“Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói) (LE MONDE, 31.10.2007).

Từ khủng hoảng Tín dụng Sub-Prime Địa ốc Hoa kỳ, cuộc Khủng hoảng Tài chánh lan rộng ra Thế giới. Tình trạng suy thoái Kinh tế tổng quát đang diễn ra cho Thế giới. Lạm phát (Inflation), Khủng hoảng Tài chánh (Crise Financìere), Suy thoái Kinh tế (Récession Economique) làm mất Khả năng Tiêu thụ. Giới nghèo với đồng lương cố định trở thành khốn cùng khi vật giá tăng vọt, nhất là thực phẩm.

Chúng tôi xin đề cập những điểm sau đây:
=> Dân nghèo nổi dậy/ Emeutes de la faim
=> Lý do chung của việc tăng giá thực phẩm
=> Lý do vật giá tại Việt Nam tăng cao hơn những nước khác


Dân nghèo nổi dậy/ Emeutes de la faim

Đây là vấn đề thời sự đã đánh động Thế giới trong tuần vừa qua. Vì vật giá thực phẩm tăng vọt, dân Haiti đã nổi dậy biểu tình và có đến trên 10 người thiệt mạng. Những cuộc nổi dậy cũng đã xẩy ra tại Cameroun, Ai Cập, Nam Dương và Phi Luật Tân. Tình trạng nổi dậy của Dân Oan, Dân nghèo và Đình công tại Việt Nam đã từ nhiều năm nay, nhất là năm ngoái. Nhưng tại Việt Nam, Quốc tế ít nghe tới vì Nhà Nước CSVN đã đàn áp khắt khe và có hệ thống. Cũng lưu ý rằng cuộc nổi dậy tại Tây Nguyên ở vào thời điểm cách đây mấy hôm.

Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF/FMI) đã báo động Thế giới về việc nổi dậy này. Tổ chức Lương Thực Thế giới FAO của Liên Hiệp Quốc đã tường trình khả năng Dân nổi dậy tại 37 nước nghèo, trong đó có Việt Nam và Trung quốc. “Les émeutes de la faim commencent (Những cuộc nổi dậy vì đói bắt đầu)“. Đó là lời tuyên bố của một số Truyền Thông quốc tế. Đây không phải là những cuộc nổi dậy mang mầu sắc Chính trị, mà hoàn toàn vì nghèo đói. Tuy nhiên hậu quả của nó có thể làm thay đổi những thể chế Chính trị.

Hoa kỳ đã bỏ ra 200 triệu đo-la để khẩn cứu Phi châu. Một Tường Trình quy tụ ý kiến của 400 nhà Khoa học Xã hội sẽ được trình bầy tại UNESCO tuần này với mục đích đề nghị một Chính sách thay đổi phân phối lương thực Thế giới.


Lý do chung của việc tăng giá thực phẩm

RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn chúng tôi về những lý do chính cho việc tăng giá thực phẩm. Chúng tôi phân tích những lý do chung này dưới bốn phương diện sau đây:

=> Phương diện cấu tạo giá thành hàng hóa

Ở phương diện này, chúng ta phải nói đến việc tăng giá dầu lửa như một nhiên liệu. Thực vậy, ít nhiều, ở thời đại này, nông nghiệp, ngư nghiệp được cơ giới hóa cho sản xuất. Khi nói cơ giới hóa (máy nổ), thì phải nói đến xử dụng năng lực dầu lửa (énergie pétrolìere).

Dầu lửa không phải chỉ cung cấp năng lực, mà còn cung cấp những sản phẩm được rút ra để xử dụng như vật liệu chất nhựa (plastique), những hóa chất căn bản.  Tỉ dụ phân đạm Urea 46% N được sản xuất từ dầu lửa. Những dây thừng, lưới bằng dây nhựa cũng từ dầu lửa.

Việc chuyên chở thực phẩm để phân phối trên Thế giới cũng xử dụng năng lực dầu lửa.

Như vậy, khi giá dầu lửa tăng, thì tất cả những yếu tố xử dụng trên sẽ cấu thành giá thành của hàng hóa, của thực phẩm.

=> Phương diện giảm lượng cung thực phẩm

Một đàng giá thành thực phẩm tăng như trên đã nói, một đàng số lượng CUNG thực phẩm cho Thị trường giảm, thì đó càng làm cho lạm phát cao. Ba lý do chính sau đây cho thấy việc CUNG thực phẩm giảm đi:

* Những nhà nghiên cứu về việc hâm nóng khí hậu trái đất đều nhận định rằng việc hâm nóng này đã làm cho thu hoạch nông nghiệp giảm xuống.

* Để phản ứng lại việc tăng giá dầu lửa, những cố gắng sản xuất dầu chạy máy được khai triển từ thực vật, hột bắp chẳng hạn. Những nhà máy được thiết lập đển biến chế bio-carburant cho xe hơi. Những nhà máy này đã xử dụng tới 1/3 sản lượng hột bắp của Hoa kỳ.

* Tại những nước nghèo, tỉ dụ 37 nước mà FAO đã kể ra, các Chính phủ đã chủ trương công nghệ hóa một cách hỗn loạn và quên khía cạnh phát triển nông thôn để bảo đảm lương thực cho dân chúng. Việc công nghệ hóa hỗn loạn này nhằm phục vụ cho xuất cảng sang những nước giầu. Có hai hậu quả: (i) tình trạng chiếm đất trồng trọt cho khu công nghệ; (ii) nông dân bỏ nông nghiệp để trở thành thợ thuyền, một tình trạng exode rural làm nông nghiệp yếu kém đi.

=> Phương diện lạm phát tiền tệ

Hai phương diện trên đây cho thấy lý do thực của vật giá tăng, nghĩa là tăng giá thành và giảm số lượng cung ở Thị trường.

Tại những nước nghèo, với tham vọng công nghệ hóa bừa bãi của quyền lực Chính trị, việc lạm phát xẩy ra một phần khá quan trọng từ việc mất giá đồng tiền. Tỉ dụ điển hình là vào thập niên 80 tại các nước Nam Mỹ.

Trong Hệ thống Tiền tệ lấy vàng làm bảo chứng (Etalon-Or) hoặc lấy một Ngoại tệ mạnh làm căn bản (Etalon-Devise-Or), thì đồng tiền của những quốc gia nhỏ có điểm tựa để xoay quanh. Nhưng từ khi đồng tiền được định trên Khả năng Tiêu thụ (Pouvoir d’Achat), thì đồng tiền tùy thuộc vào tình trạng sản xuất và việc quản trị đứng đắn của khối tiền lưu hành hay không. Vật giá chỉ còn là một sự tương đương giữa con số của đồng tiền và hàng hóa:

MV
----   =  P       (MV= Khối lượng tiền lưu hành; T= sản lượng hàng hóa; P=Chỉ số giá)
  T

Nếu tăng khối lượng tiền lưu hành mà không tăng sản lượng hàng hóa, thì đồng tiền mất giá. Cũng vậy, nếu khối lượng tiền lưu hành giữ nguyên mà khả năng kinh tế cung cấp sản lượng hàng hóa yếu đi, thì đồng tiền cũng mất giá.

Ở những nước nghèo, kém mở mang, các Chính quyền, nhất là những Chính quyền độc tài,  dễ xâm phạm vào lãnh vực tiền tệ làm tăng khối lượng lưu hành tiền tệ. Thực vậy, làm tăng khả năng sản xuất Kinh tế thì khó, nhưng làm tăng khối lượng lưu hành tiền tệ thì dễ, nên Nhà nước thường lấy phương tiện này để cung cấp cho chi tiêu bất chính.

Những người lĩnh lương cố định bị thiệt thòi bởi vì họ phải mua hàng hóa với đồng tiền đã mất giá, nghĩa là họ nhận được tương đương hàng hóa ít hơn. Đây là lạm phát tiền tệ.

Giáo sư Florin AFTALION đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài: ”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2)

=> Phương diện đầu cơ tích trữ

Trong thời kỳ giao động của giá cả, nhất là theo chiều hướng lạm phát, không thể nào không có tình trạng đầu cơ trích trữ đễ làm tăng thêm giá cả.

Ở những nước nghèo, việc làm Kinh tế, Thương mại là do thân cận, đặc quyền đặc lợi, Luật pháp làm ăn không được nghiêm minh sáng sủa, thì việc đầu cơ tích trữ hầu như không thể tránh được. Tại những nước này, các Chính quyền dễ độc đoán và mang hai cái tật khiến giới đầu cơ dễ hoành hành:

* Một đàng muốn mỵ dân để bảo vệ quyền hành, nên thường đặt những giá trần nhà (prix plafond) như để bảo vệ dân nghèo. Nhưng thực ra, tất cả những can thiệp của nhà nước (interventions etatiques) để đặt giá trần nhà đều mang đến hậu quả là kéo dài tình trạng chợ đen bởi vì cung luôn luôn yếu hơn cầu và do đó kéo dài tình trạng đầu cơ tích trữ, kéo dài tình trạng lạm phát.

* Mặt khác Nhà Nước phải tốn kém tăng cường kiểm soát mà việc kiểm soát này rất dễ bị tham nhũng hoành hành. Cuối cùng dân tiêu thụ phải chịu chi tiêu kiểm soát và phải trả tiền tham nhũng thay cho kẻ đầu cơ tích trữ.


Lý do vật giá tại Việt Nam tăng cao hơn những nước khác

RFI (Radio France Internationale) hỏi đặc biệt chúng tôi về những lý do tại sao giá thực phẩm ở Việt Nam tăng cao nhiều hơn những nước khác, nhất là những nước chung quanh Việt Nam. RFI cũng hỏi tại sao Việt Nam là nước sản xuất gạo, mà giá gạo lại tăng lên cao như hiện nay.

Nhà nước Việt Nam luôn luôn dấu diếm việc vật giá tại Việt Nam tăng cao hơn các nước khác. Nếu phải bàn đến lạm phát, thì Nhà Nước cũng chỉ nói đến lý do chung là giá dầu lửa tăng hoặc đưa ra lý do thiên tai tại Việt Nam. Thực ra, chỉ có mùa rét vừa rồi tại Miền Bắc là lý do thiên tai có thể thông cảm, nhưng một số lý do khác đang làm yếu kém Kinh tế Việt Nam là những lý do thuộc phát triển công nghệ bừa bãi của chế độ.

Trong bài Mở Đầu cho Loạt bài Chủ để: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC, chúng tôi đã nêu ra một con vi trùng nguy hiểm đã gậm nhấm Kinh tế Việt Nam không phải là gần đây, mà đã từng chục năm để dẫn đến tình trạng Lạm phát, Khủng hoảng đặc biệt. Con vi trùng ấy là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ của độc đảng, của thể chế độc tài về Chính trị và nắm trọn quyền can thiệp vào Kinh tế.

=> Những lý do hiện giờ đang làm yếu kém Kinh tế Việt Nam

Ba lý do hiện hành đang và sẽ gây yếu kém cho Kinh tế Việt Nam và do đó tăng lạm phát và khủng hoảng thêm:

* Nạn rét đầu năm 2008 phá hoại nông thôn Miền Bắc: trâu bò chết tới 180'000 con. Gia súc cũng thiệt hại nặng. Cây trồng bị chết cóng. Mùa màng chậm trễ và thiệt hại. Đây là lý do hoàn toàn thiên tai.

* Hai trận lũ lụt Miền Trung làm dân nghèo thêm và làm thiệt hại mùa màng. Việc chịu cảnh lũ lụt này phần lớn là do yếu tố nhân sự: khai thác quá đáng cây rừng tại vùng Cao Nguyên Trung phần để không còn khả năng chận nước.

* Hiện nay, tôm cá tại đồng bằng Sông Cửu Long bị chết từng loạt. Đây là hậu quả của việc thải chất độc từ tình trạng công nghệ hóa bừa bãi.

=> Con vi trùng Tham nhũng, Lãng phí hoành hành  

Con vi trùng này là hậu quả của độc đảng, của thể chế Chính trị độc tài, của việc nắm trọn quyền Kinh tế. Những sinh hoạt Kinh tế, nếu có phát triển, thì kết quả cũng nằm vào túi một nhóm người: đảng, con cháu đảng, thân cận đảng. Đó là nền Kinh tế bóc lột Nhân lực và Tài nguyên Việt Nam. Ngày nào còn độc đảng, độc tài Chính trị và độc đoán nắm quyền Kinh tế, thì con vi trùng Tham nhũng, Lãng phí tự động nẩy sinh và làm thiệt hại sự phát triển Kinh tế.

Chúng ta có thể kể ra những tác hại của con vi trùng ấy ở những việc sau đây:

* Những dự án bừa bãi. Cách đây nhiều năm, chúng tôi đã có dịp thảo luận về những dự án ở Việt Nam. Những quan chức, những người có công đánh nhau... thi nhau đưa dự án để lấy tiền Nhà Nước thi công dự án. Đối với mỗi dự án, các quan chức chủ dự án có thể cắt xén một phần vào túi riêng cho mình. Đảng làm ngơ và coi đây là việc thưởng công đã đánh trận

* Năng suất kém của những Công ty Nhà nước (đảng). Thực vậy, Công ty Nhà Nước không cần cạnh tranh, do đó năng suất kém. Có thua lỗ, thì đã có vốn Nhà Nước bù vào. Mới ngày hôm nay, khi nói về Hậu quả từ các dự án công, Oâng Mặc Lâm đã hỏi Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: “Thưa Tiến Sĩ, gần đây ông có đưa ra đề nghị là nên giảm những dự án công không hiệu quả vì những dự án này đã góp phần vào cơn sốt lạm phát hiện nay. Xin ông vui lòng cho biết thêm chi tiết về vấn đề này“. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh trả lời:“Từ trước đến nay thì nhà nước Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng trong việc đầu tư. Tỷ trọng đầu tư của nhà nước khoảng 50% tổng đầu tư của nguồn vốn xã hội và so với lại tổng mức đầu tư của Việt Nam là khoảng 40% GDP thì nguồn vốn đầu tư của nhà nước chiếm khoảng một nửa, tức là khoảng dộ 20-21% GDP, trong đó thì có phần vốn ngân sách và có nguồn vốn ODA, và cũng có nguồn vốn bán trái phiếu chính phủ ở trong nước và ngoài nước.... Hiện nay kinh tế quốc doanh chiếm 38% GDP , nhưng sử dụng tới 50% số vốn đầu tư của ngân sách và 70% tín dụng, nhưng chỉ tạo ra được độ 8 tới 9% công ăn việc làm mà thôi.“

* Năng suất đã kém, các Công ty Nhà Nước còn lãng phí.  Oâng Cư Hòa Vần, Phó Chủ tịch MTTQ, đặt vấn đề: Có phải lãng phí tràn lan ở các địa phương chính là một trong những yếu tố gây lạm phát? Oâng nói:"Có những tỉnh còn nghèo, thu ngân sách chưa đến 100 tỷ đồng nhưng làm hội trường mất đến 200 tỷ. Đường vành đai chỗ nhà tôi ở làm 20 năm rồi, qua 3 nhiệm kỳ Thủ tướng rồi vẫn chưa xong, gây lãng phí vô cùng....Miền núi rất nghèo nhưng nghe nói có chủ tịch, bí thư có ghế trị giá 20 triệu đồng. Một số lãnh đạo khi về hưu có "cơ sở" hết ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, mua xe riêng không kém sang trọng so với xe công thời đương chức. Có phải tất cả những điều này khiến lạm phát không?"

* Nhập siêu tăng vùn vụt tới 17 tỉ đo-la làm mất thăng bằng cán cân thương mại. Nếu nhập siêu với tiền Nhà Nước, thì dễ tăng giá lên mà mua để giữ số tiền cắt xén tại nước ngoài. Các quan chức VN làm ngược nguyên tắc Kinh tế: ”Muốn mua hàng với giá cao, chứ không chịu mua giá thấp !”

* Tình trạng lạm phát tiền tệ do Chính trị Nhà Nước chủ trương đã làm mất giá đồng tiền Việt Nam. Một bản phúc trình cho thấy rằng tổng kết tăng trưởng từ năm 2004 đến nay chỉ khoảng 30%, nhưng lạm phát tiền tệ lên tới 200%. Lạm phát tiền tệ đã quá mạnh. Việc lạm phát này là do Nhà Nước bao thầu các Dự án bằng phát hành Tiền tương lai (Monnaie virtuelle) và in Tiền mới ra để chi tiêu.

* Việt Nam không thể thiếu gạo, nhưng Nhà Nước xuất cảng để thu tiền không phải là để phát triển nông nghiệp, nhưng là cho vào những dự án công nghệ bừa bãi để các quan chức dễ bề cắt xén và lãng phí.

* Sau cùng, tình trạng đầu cơ tích trữ, tự tăng giá sản phẩm của các Công ty quốc doanh không thể tránh để bù đắp vào những thua lỗ do thiếu năng suất của mình và do lãng phí chi tiêu quá đáng.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 11.04.2008
=========================


                  CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:
 
                                                     Bài Mở Đầu: 


                              CON VI TRÙNG CĂN BỆNH LẠM PHÁT



                          Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

CHỦ ĐỀ:
DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC

Chúng tôi đã viết loạt 15 Bài dưới Chủ đề: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH dựa trên những nhận định của Bà Francoise NICOLAS về cuộc Khủng Hoảng Tài chánh Á châu năm 1997 và dựa vào những khẳng định của những Nhà Kinh tế như Alain FAUJAS, Florin AFTALION về những Nước bắt đầu phát triển đăng trong nhật báo LE MONDE số 19523, thứ Tư, ngày 31.10.2007 với những đầu đề như: (1) L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm Phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển); (2) L’INFLATION DETRUIT UNE ECONOMIE, MEME SI LES POLITIQUES PEUVENT L’APPRECIER (Lạm Phát phá hủy một nền Kinh tế, ngay cả khi Chính trị có thể chuộng nó); (3) LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh hoạn vì vật giá tăng).

Lúc này, kể từ ngày 28.02.2008, Lạm Phát, Khủng Hoảng Kinh tế/Tài chánh thực sự đang diễn ra trầm trọng tại Việt Nam. Nhà Nước CSVN đã đưa ra rất nhiều những liều thuốc để mong chữa trị căn bệnh Lạm Phát đang gây Khủng Hoảng Kinh tế Tài chánh. Đối với chúng tôi, Nhà Nước độc tài, độc đảng CSVN, nắm trọn cả Chính trị lẫn Kinh tế không thể nào chữa trị căn bệnh Lạm phát và Khủng hoảng này bởi lẽ con Vi Trùng của Căn bệnh nằm chính trong chủ trương độc tài độc đảng nắm trọn Chính trị và Kinh tế.

Chỉ có người DÂN, đại đa số quần chúng, khi bị đẩy đến đói nghèo, thì nổi dậy diệt thẳng vào con Vi trùng của Căn bệnh, mới có thể chữa trị tận gốc Lạm Phát, Khủng Hoảng mà thôi. Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố với báo Financial Times:“Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói) (LE MONDE, 31.10.2007).

Loạt bài Chủ đề này tiếp tục loạt 15 bài Chủ đề vừa viết xong về Khủng Hoảng.
 

CON VI TRÙNG CHÍNH CỦA CĂN BỆNH

Ngày 02.04.2008, đúng 5g30 sáng, vào các Diễn Đàn để tìm đọc những bài về Dân Oan, về Lạm phát tại Việt Nam, tôi gặp được bài của Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG với đầu đề: LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM: THỬ TÌM NGUYÊN NHÂN. Đọc xong bài, tôi rất đắc ý về việc Tiến sĩ đã nói đúng cái Nguyên Nhân của những Nguyên Nhân Lạm phát, nghĩa là chẩn mạch đúng cái Căn Bệnh của Lạm phát hiện giờ ở Việt Nam.

Thấy số điện thoại của Tiến sĩ ở cuối bài, tôi cầm điện thoại gọi liền về Tiến sĩ tại Hà Nội và may mắn gặp đúng Tiến sĩ. Tôi đã thực tình bầy tỏ sự ca ngợi của tôi đối với bài này. Và tôi tiếp rằng trong những tháng gần đây, tôi theo rõi những biện pháp chữa trị lạm phát mà Nhà Nước CSVN đưa ra, nhưng những thuốc  chữa trị chỉ như dầu nóng thoa bóp bề ngoài. Thoa chỗ này, thì chỗ khác lại bùng lên.

Thực vậy bệnh Lạm phát, Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế ở Việt Nam là thứ bệnh đã âm ỉ từ lâu, chứ không phải là chỉ nóng lạnh, nhức đầu sổ mũi sơ sơ có tính cách nhất thời. Bệnh này trầm trọng, không thể chỉ cạo gió ngoài da, rồi thoa chút dầu cù là hiệu Con Cọp mà khỏi được.

Con vi trùng của căn bệnh đã ăn ruỗng thân xác từ nhiều năm nay. Nền Kinh tế Việt Nam chứa con vi trùng này mà đảng CSVN cố tình sơn phết che đậy tình trạng bệnh hoạn trước Dân chúng và Quốc tế. Nhưng ngày 28.02.2008, tình trạng Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế không còn có thể bưng bít được nữa.

CON VI TRÙNG ẤY LÀ CHỦ TRƯƠNG “ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”. Những chữ này được xử dụng để: (i) đảng CSVN vẫn giữ độc tài, độc đảng Chính trị; (ii) qua hệ thống Công ty quốc doanh, quyền lực Chính trị nắm trọn đời sống Kinh tế. Quyền lực độc tài Chính trị đánh đĩ với lòng tham giữ trọn Kinh tế đẻ ra CON VI TRÙNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Con vi trùng này ăn ruỗng nền Kinh tế Quốc gia.

Phải trị dứt con vi trùng này đã tác hại cho Việt Nam, không thể để độc tài Chính trị đánh đĩ nữa với lòng tham Kinh tế để tránh việc sinh ra thêm đàn vi trùng lúc nhúc.


NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG NGUYÊN NHÂN

Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG, tại Hà Nội, sau khi đã trích dẫn, tóm lược những nguyên nhân gần đang làm lộ diện Lạm Phát, Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay, đã phân tích, tìm kiếm cái NGUYÊN NHÂN cũa những Nguyên Nhân. Tôi xin trích ra đây phần thứ hai này của bài viết:

“Câu hỏi đặt ra là, tại sao với nguồn nhân lực dồi dào, với thiên nhiên ưu đãi nhiều hơn so với nhiều nước khác, lại tiếp nhận được nguồn đầu tư rất lớn mà tổng lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chỉ đạt được quá thấp như vậy ?

Do cơ chế ?

Những năm gần đây người ta đã dám vô tư đổ lỗi cho cơ chế.
-         Nhưng, cái gì tạo ra cơ chế ?
-         Cơ chế chính là hiện thân của chế độ chính trị.
-         Ai ngoan cố duy trì mãi chế độ chính trị lạc hậu lỗi thời ?
-         Lãnh đạo đảng CSVN và nhà nước CHXHCN Việt Nam

Dựa trên 6 tiêu chí: tính hiệu năng của chính phủ, chất lượng chính sách và hoạt động điều tiết, thượng tôn pháp luật, tham nhũng, tiếng nói và trách nhiệm giải trình, ổn định chính trị để đánh giá chất lượng quản trị quốc gia của chính phủ, Ngân hàng Thế giới gần đây đã tiến hành một công trình khảo sát đối với 212 nước và vùng lãnh thổ. Kết quả cho thấy, ngoại trừ tiêu chí " ổn định chính trị ", tất cả 5 tiêu chí kia Việt Nam đều bị xếp dưới các nước Đông Á và Đông Nam Á. Chỉ trên Indonexia một số mặt. 

Nói chung các nhà khoa học, các chính khách quốc tế đều thừa nhận Việt Nam là một dân tộc thông minh, tài hoa, cần mẫn, nhưng tại sao chất lượng quản trị quốc gia của Việt Nam kém xa, không phải các nước tiên tiến mà, các nước Đông Nam Á ?
...
Nét đặc sắc của nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam là do Nhà nước đã đổ những khoản đầu tư bất hợp lý vào các tập đoàn kinh tế, xí nghiệp quốc doanh … khổng lồ đến mức … bại hoại cả nền kinh tế.

Kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng tỏ rõ nhiều ưu thế vượt trội. Trong năm 2005 tỷ lệ vốn / lao động của các doanh nghiệp nhà nước cao gấp 3 lần so với các doanh nghiệp dân doanh, nhưng doanh số trung bình do một công nhân tạo ra ở DNNN lại chỉ đạt cỡ 44% so với khu vưc dân doanh. Tỷ trọng sản xuất công nghiệp của khu vực nhà nước liên tục sụt giảm so với khu vực dân doanh và FDI.. Khu vực nhà nước hầu như không tạo thêm được việc làm mới. Bên cạnh dó, trừ một số ngoại lệ, các DNNN hầu như không xuất khẩu các sản phẩm chế tạo. Đến nay, kinh tế ngoài quốc doanh đang tạo ra 90% việc làm trong khu vực công nghiệp và gần 70% sản lượng công nghiệp.

Vậy mà, tài sản nhà nước của nhân dân vẫn cứ được đổ vô tội vạ vào các DNNN kém hiệu năng để không chỉ gây nên những khoản nợ không trả được đến hàng trăm nghìn tỷ đồng mà còn tạo điều kiện để họ chi thả cửa, rất hào phóng cho những dự án nhảm nhí. Nhờ tham nhũng bôi trơn, hàng loạt dự án hoành tráng được rầm rộ thông qua từ xã lên huyện, qua tỉnh đến trung ương ngay cả khi chưa đủ hồ sơ kỹ thuật. Nói chung có lập hội đồng chuẩn định đấy, nhưng tất cả đều được phù phép thành các hội đồng chuột.

Ai không sững sờ khi đọc những dòng này trên báo Lao Động số ra ngày 20 tháng 3 năm 2008 :

" Xã Long Hậu ( huyện Cần Giuộc ) từng biết đến như là xã có số dự án sân golf cao kỷ lục trong cả nước ( có thể cả thế giới, với 5 dự án ). Cũng chính xã này đang lăm le qua mặt khu đô thị Phú Mỹ Hưng với 2 dự án khu đô thị sinh thái có tổng diện tích gần 800ha ( có 1 dự án trải rộng trên 2 xã Long Hậu và Phước Lại ). Hai DA này cùng với 5 DA sân golf chiếm gần hết diện tích đất nông nghiệp trong xã. Nằm cạnh dự án sân golf xã Mỹ Phú - huyện Thủ Thừa là dự án khu đô thị sinh thái rộng 300ha.

Cách đó mấy cây số, tại xã Mỹ An ( cũng huyện Thủ Thừa ) là DA khu ĐTST khác cũng rộng gần 300ha. Ở một huyện nông nghiệp khác là Cần Đước cũng có 2 DA khu ĐTST rộng tổng cộng gần 300ha. Huyện vùng sâu Đồng Tháp Mười là Vĩnh Hưng cũng không thua chị kém em với DA khu ĐTST rộng trên 200ha. Nhưng đáng kể nhất là DA khu ĐTST trải dài trên 2 xã vùng sâu là Thạnh Lợi (huyện Bến Lức ) và Bình Hoà Nam ( huyện Đức Huệ ) với tổng diện tích gần 2.600ha...

Cho đến thời điểm hiện nay, tỉnh Long An đã có hơn 10 DA khu ĐTST hoặc có ĐTST với tổng diện tích hơn 5.500ha. Ngoài ra còn có hàng loạt các DA khu đô thị " không sinh thái "cũng đang được triển khai. Lạ lùng là các DA khu ĐTST ở Long An hầu như không nằm cạnh các khu, cụm công nghiệp, mà nằm ở vùng nông thôn xa xôi".

Hỗn mang chi sơ như vậy chẳng qua chỉ vì "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
 
Muốn khỏi chệch hướng XHCN thi quốc doanh sống chết cũng phải là chủ đạo, phải tập trung dân chủ, Đảng phải, không chỉ lãnh đạo mà còn chỉ đạo toàn diện. Đảng chỉ đạo Nhà nước muốn ưu ái ai thì nấy được, muốn cho ai cái gì thì cho.

Đảng nhúng tay thao túng cả thị trường chứng khoán.

Thị trường chứng khoán lập ra phải là để huy động vốn tiết kiệm vào đầu tư nhưng ở Việt Nam, đảng CSVN lại dùng nó để vỗ béo các nhà tư bản đỏ của Đảng. Người ta ra lệnh cho Ngân hàng Nhà nước đổ tiền ra cho bọn này vay dể chơi chứng khoán. Thị trường chứng khoán bị biến thành nơi rửa tiền nhằm đầu cơ trục lợi ngắn hạn. Vốn thực sự được huy động phục vụ sản xuất chẳng được là bao. Thắng ở chứng khoán, bọn chúng đổ xô đầu cơ bất động sản. Khi thị trường chứng khoán lung lay, Chính phủ liền ra Chỉ thị 319, lệnh cho các quan tài chính và ngân hàng phải bơm tiền để giữ cho thị trường này không bị sập. Thực chất là để cứu bọn phệ đỏ không bị sút cân. 

Người ta cho rằng ở Việt Nam đang hình thành "chủ nghĩa tư bản thân hữu". Ở đây bố làm chính trị để giành đỉnh cao quyền lực, từ đấy tạo điều kiện cho con cái làm kinh tế. Quyền lực lãnh đạo của bố đem lại cho con cái những hợp đồng vô giá, những mối quan hệ maphia để chúng phất lên dễ dàng và nhanh chóng. Chẳng mấy chốc, bọn "phượng hoàng đỏ" này đã có thể nắm hết những ngành kinh tế quan trọng của đất nước.

Học giả Trần Đông Chấn vạch ra cái cơ chế maphia ở Việt Nam như sau : "Họ không hình thành nên những phe nhóm riêng rẽ cụ thể nào cả, mà len lỏi có mặt ở tất cả mọi nơi, từ cơ quan đảng đến nhà nuớc, chính phủ đến quốc hội, trung ương đến địa phương, cơ quan hành chính đến các doanh nghiệp. Cũng không có một thỏa thuận liên minh nào được cam kết nhưng bọn họ phối hợp hành động rất ăn ý và đồng bộ nhờ có một mục tiêu chung là trục lợi. Họ không thể hiện chính kiến riêng và luôn hoan nghênh tất cả các nghị quyết của đảng, chỉ thị của chính phủ, dự luật của quốc hội và các quyết định của chính quyền địa phương cho dù là chúng mang tính bảo thủ hay cấp tiến …. Nhưng điều tồi tệ và nguy hại nhất ở đây chính là những kẻ cơ hội này đang được các thế lực nước ngoài hỗ trợ và nuôi dưỡng vì quan hệ cộng sinh và vì những kế hoạch dài hơn ".

Để làm lóa mắt dân chúng, người ta đã quýết định tăng cung tiền nhắm tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao một cách biểu kiến. Nhưng khối lượng cung tiền lớn được sử dụng làm gì. "Một nguyên nhân chính là do tốc độ tăng chi tiêu của nhà nước. Tổng chi tiêu của nhà nước năm 2006 là 321 nghìn tỷ đồng, tăng 221,8 nghìn tỷ đồng ( hay 45% )  so với năm 2004. Như vậy tốc độ tăng chi tiêu hàng năm của nhà nước trong giai đoạn 2004 – 2006 là 20,3% / năm. . Cũng trong giai đoạn này thu ngân sách tăng chủ yếu không phải từ nguồn thu nội địa mà là từ dầu mỏ, tiền vay nợ và viện trợ nước ngoài. Thu nội địa năm 2004 chỉ đạt 119 ngàn tỷ, và năm 2006 là 190 ngàn tỷ, tăng có 71 ngàn tỷ. Trong khi đó chi tiêu của nhà nước tăng 131 ngàn tỷ, từ 190 lên 321 ngàn tỷ, tức là gần gấp đôi mức tăng thu nội địa. Khi chi tiêu của nhà nước tăng hơn nhiều so với các nguồn thu ngoài dầu mỏ ( ngay cả khi nguồn thu tăng này đến từ dầu mỏ hay viện trợ ) thì những khoản chi tiêu này sẽ làm tăng tổng cầu. Thế nhưng nếu các khoản chi tiêu này lại không được sử dụng một cách hiệu quả, chỉ đóng góp được chút đỉnh cho sản lượng ( tức là không làm cho tổng cung tăng một cách tương ứng ) thì tất yếu dẫn tới lạm phát ".

Muốn vỗ béo bọn tư bản đỏ của Đảng, muốn các quan chức của Đảng sống phè phỡn thì kinh tế phải lạm phát. Lạm phát thì dân chúng thêm điêu đứng (như đã dẫn ra một phần ở trên). Nhưng, bọn họ vẫn tiếp tục sung sướng !

Thế đấy, đắng cay và chua chát là ở chỗ người ta đã đổ cả núi xương, sông máu của nhân dân Việt Nam ra mà giành lấy quyền lực. Để rồi, lại sử dụng quyền lực đó để bòn rút da thịt, mồ hôi nước mắt của nhân dân. Có hơn gì bọn ngoại xâm, bọn tư sản mại bản, bọn địa chủ cường hào ác bá….! 
                                                                               
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang (Hà Nội tháng 3 năm 2008)


KHAI TRIỂN CHỦ ĐỀ

Với Chủ đề: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC, chúng tôi sẽ lần lượt viết một loạt bài QUAN ĐIỂM. Những bài được xếp theo ba Tiểu đề sau đây:

=> Tiểu đề 1:

Đi từ nền Kinh tế Chỉ huy Tập trung, nền Kinh tế của Thế Giới Cộng sản toàn trị đã thất bại hoàn toàn. Con Vi trùng Tham nhũng/Lãng phí sống ở những bãi sa mạc kinh tế, ở những vùng đất cằn cỗi. Con Vi trùng nằm thở thoi thóp, không có gì để mà ăn tham nhũng, mà lãng phí. Việt Nam buộc phải Đổi mới, Mở cửa, rồi ngày nay Hội nhập để cho những dòng nước Kinh tế từ ngoài chảy vào bãi sa mạc, vào đất khô cằn. Con Vi trùng Tham nhũng, Lãng phí chết đói kia bắt đầu quậy cọ và rồi hoành hành trong suốt thời gian dài qua. Đảng vẫn khoác cho mình những chữ Định hướng XHCN để nắm quyền cho con Vi trung tha hồ thao túng. Kết quả là cuộc Lạm Phát, Khủng hoảng ngày nay.

=> Tiểu đề 2:

Đại đa số quần chúng, đã bị bóc lột và đói nghèo, nay trở thành khốn cùng hơn vì con Vi trùng Tham nhũng, Lãng phí đã hút hết máu, hết sức sống của họ. Lạm phát, Khủng Hoảng cho Dân chúng ý thức rõ rệt cái con Vi trùng, nguyên nhân của những nguyên nhân căn bệnh đói nghèo của họ hiện nay chính là đảng CSVN. Đảng dùng đủ mọi cách thế để chạy tội. Những Trí thức phải làm việc với đại đa số Dân Nghèo này, chỉ cho họ cái con Vi trùng, cái nguyên nhân của những nguyên nhân, để sức mạnh Dân chúng nổi dậy mà diệt.

=> Tiểu đề 3: 

Để xây dựng một nền Kinh tế bền vững, hài hòa, phải bắt đầu từ Dân, từ từng cá nhân sống. Cụ thể là phải tôn trọng triệt để quyền TƯ HỮU những phương tiện kiếm sống. Quyền Tư Hữu là căn bản của Tự do Kinh tế. Chính những cá nhân làm Kinh tế điều hợp sự thăng bằng theo Nguyên tắc Dân chủ do Dân quyết định với nhau. Tài nguyên Quốc gia Việt Nam quy tụ 70% vào Nông nghiệp, Ngư nghiệp và Lâm sản. Nền Kinh tế Quốc gia phải chú trọng chính yếu vào những gì sẵn có này. Đó là sự phát triển Kinh tế lâu bền và độc lập. Chính trị không được xen lấn độc đoán và lãnh vực Kinh tế. Nó chỉ tạo một Khung cảnh Chính trị—Luật pháp (Environnement Politico-Juridique) trợ lực cho phát triển Kinh tế và do chính người Dân làm Kinh tế quyết định.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế








=========================
pho bien/ publication 02.04.2008
=========================


                                PHẢI TRỊ ĐÚNG CĂN BỆNH LẠM PHÁT



                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Hôm nay 02.04.2008, đúng 5g30 sáng, vào các Diễn Đàn để tìm đọc những bài về Dân Oan, về Lạm phát tại Việt Nam, tôi gặp được bài của Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG với đầu đề: LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM: THỬ TÌM NGUYÊN NHÂN (bài đang kèm liền dưới đây). Đọc xong bài, tôi rất đắc ý về việc Tiến sĩ đã nói đúng cái Nguyên Nhân của Nguyên Nhân Lạm phát, nghĩa là chẩn mạch đúng cái Căn Bệnh của Lạm phát hiện giờ ở Việt Nam.

Thấy số điện thoại của Tiến sĩ ở cuối bài, tôi cầm điện thoại gọi liền về Tiến sĩ tại Hà Nội và may mắn gặp đúng Tiến sĩ. Tôi đã thực tình bầy tỏ sự ca ngợi của tôi đối với bài này. Và tôi tiếp rằng trong những tháng gần đây, tôi theo rõi những biện pháp chữa trị lạm phát mà Nhà Nước CSVN đưa ra, nhưng những thuốc  chữa trị chỉ như dầu nóng thoa bóp bề ngoài. Thoa chỗ này, thì chỗ khác lại bùng lên.

Thực vậy bệnh Lạm phát, Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế ở Việt Nam là thứ bệnh đã âm ỉ từ lâu, chứ không phải là chỉ nóng lạnh, nhức đầu sổ mũi sơ sơ có tính cách nhất thời. Bệnh này trầm trọng, không thể chỉ cạo gió ngoài da, rồi thoa chút dầu cù là mà khỏi được.

Con vi trùng của căn bệnh đã ăn ruỗng thân xác từ nhiều năm nay. Nền Kinh tế Việt Nam chứa con vi trùng này mà đảng CSVN cố tình sơn phết che đậy tình trạng bệnh hoạn trước Dân chúng và Quốc tế. Nhưng ngày 28.02.2008, tình trạng Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế không còn có thể bưng bít được nữa.

CON VI TRÙNG ẤY LÀ CHỦ TRƯƠNG “ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”. Những chữ này được xử dụng để: (i) đảng CSVN vẫn giữ độc tài, độc đảng Chính trị; (ii) qua hệ thống Công ty quốc doanh, quyền lực Chính trị nắm trọn đời sống Kinh tế. Quyền lực độc tài Chính trị đánh đĩ với lòng tham giữ trọn Kinh tế đẻ ra CON VI TRÙNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Con vi trùng này ăn ruỗng nền Kinh tế Quốc gia.

Phải trị dứt con vi trùng này đã tác hại cho Việt Nam, không thể để độc tài Chính trị đánh đĩ nữa với lòng tham Kinh tế để tránh việc sinh ra thêm đàn vi trùng lúc nhúc.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 




                                           LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM:
                                          THỬ TÌM NGUYÊN NHÂN



From: nguyen thanh giang
Date: 1 apr. 2008 06:43
Subject: Nguyen nhan lam phat o Viet Nam


" Vật liệu xây dựng tăng giá, nhà thầu có nguy cơ phá sản – Vật liệu xây dựng tăng giá chóng mặt, có những mặt hàng tăng gần gấp 3 lần khiến nhiều nhà thầu thực hiện các dự án xây dựng có nguy cơ phá sản vì ký hợp đồng trọn gói không được điều chỉnh giá. Ngay cả hợp đồng có điều khoản điều chỉnh giá, nhà thầu cũng vừa làm vừa run vì chẳng biết có được thanh toán không ".

Đấy là hàng tít lớn, kèm theo những dòng chữ đậm đăng ngay trên trang đầu báo Lao Động số ra ngày thứ tư, 19 tháng 3 năm 2008.

Thật vậy, so với năm 2006, giá vật liệu xây dựng năm 2007 đã tăng đáng kể. Thép tăng 25,75%, gạch tăng 22,8%, cát tăng 18,9%, nhựa đường tăng 17,6% …Đầu năm 2008, những con số này càng phi mã. Thép tăng từ 12.000 lên 20.000 đ/kg, xi măng tăng 40%, gạch tăng gần gấp 3 lần …

" …Trước đây, khi xăng lên giá, hàng hóa nói chung không đến nỗi tăng chóng mặt. Lần này, hàng ngày, từ hạt gạo, sợi bún, cọng rau, thậm chí đến cả ly cà phê đá nhạt thếch cứ leo thang vùn vụt. Ngược lại, bát cơm, đĩa rau teo dần, nồi canh loãng hơn, miếng thịt ba chỉ thêm mỏng tang. Xóm nhà trọ của công nhân lao động ở các khu công nghiệp, khu chế xuất vẫn đông người ở nhưng ngày nghỉ không khí hoàn toàn yên ắng, không khói bếp, không âm nhạc …".

" …Vào dịp năm ngoái, ngày cuối tuần, anh chị em công nhân thường rủ nhau góp tiền làm bữa ăn tươi, nhưng từ sau Tết đến giờ cái lệ này đã bị phá bỏ. Bữa cơm rau dưa theo đúng nghĩa, giờ đã thành xa xỉ đối với họ. Bởi Tết ra, chưa kịp có thêm khoản thu nhập nào thì rau bắp cải tăng từ 3.000đ lên 12.000 – 13.000 đ/kg, rau muống có lúc lên tới 15.000 – 20.000 đ/mớ, cải cúc từ 500đ lên 1.000- 1.500 đ/mớ..."

" …Giá các mặt hàng tăng quá cao, công nhân lao động phải thắt lưng buộc bụng nên chợ cũng vắng teo. Bà Hà bán thịt lợn ở chợ cóc gần khu công nghiệp Bắc Thăng Long ( Đông Anh – Hà Nội ) trước đây mỗi ngày bán được 30 – 40 kg thịt, chủ yếu cho công nhân, bây giờ lượng thịt bán ra chỉ vào tầm phân nửa. Bà Hà than thở: " Trước đây, họ có thể mua thịt 2 lần /tuần, bây giờ cả tuần không thấy đâu " …".

" … Các khoản chi, nếu trước đây là vặt vãnh thì nay cũng thành tấm thành món đã được Tuấn cắt bỏ. Có những khi liền một tuần, chàng sinh viên này phải trường kỳ mỳ tôm hay nấu cơm rang mắm. " Mình vẫn còn khá chứ nhiều sinh viên khác còn phải cơm nắm muối vừng cơ. Có người đã phải cắt điện thoại, Internet, trùm mền máy tính… cho bớt tiền đi " Tuấn tâm sự ".

Trên đây là mấy đoạn trích trong các bài phóng sự đăng trên báo Lao Đông đầu tháng Ba năm 2008.

Trong hai tuần lễ đầu tiên của năm nay, cả nước có 50 vụ đình công đã xẩy ra.

Giữa tháng Hai, năm ngàn công nhân của công ty Yazaky Eds Vietnam Ltd tại Hải Phòng có chủ là người Nhật Bản, chuyên sản xuất phụ tùng xe hơi để xuất khẩu đã đình công đấu tranh đòi tăng lương vì mức lương 1,1 – 1,2 triệu đồng của họ tuy đã trên mức lương tối thiểu nhưng không còn đủ chi dùng tối thiểu.

Đầu tháng Ba, ở ngoại ô Sài Gòn, khoảng 10 ngàn công nhân đã bỏ việc làm để đình công đòi tăng lương tại hãng Tae Kwang Vina chủ Hàn Quốc chuyên sản xuất giầy cho hãng thể thao Nike của Mỹ.

V v …

Trong bài " Bỏ rơi con chữ theo cơm áo " đăng trên Lao Động số 64 ra ngày 21/03/2008 tác giả viết : " Ông Trần Việt Hùng - GĐ Sở GDĐT Sóc Trăng - cho biết: Từ sau Tết Nguyên đán tới nay, theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ riêng khối THPT toàn tỉnh đã có 436 HS chưa ra lớp. Trước đó, tới cuối học kỳ 1, Sóc Trăng có trên 1.000 HS khối THPT và 1.617 HS khối THCS bỏ học. Theo ông Hùng, số lượng HS THPT và THCS bỏ học đều đã tương đương với số HS của một trường... Chỉ ở huyện Mỹ Xuyên sau Tết, khối THCS và tiểu học cũng đã có thêm khoảng 200 HS bỏ học.

Sau Tết, Cà Mau cũng có thêm trên 350 HS bỏ học. Con số này ở Bạc Liêu tròm trèm 300. Còn tại Kiên Giang, Phó GĐ Sở GDĐT Ninh Thành Viên cho biết, năm học 2007 - 2008, Kiên Giang đã có gần 4.500 HS bỏ học, tập trung ở 2 khối THCS (2.582 em) và THPT (1.190 em)...

… Ông Trần Việt Hùng - GĐ Sở GDĐT Sóc Trăng - cho rằng 3 nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng HS bỏ học ở Sóc Trăng là: Cuộc sống gia đình khó khăn, sức học của HS yếu không theo kịp chương trình và địa bàn một số nơi đi lại còn khó khăn "

Đình công bột phát do lạm phát tăng đột biến. Từ năm 1995 đến cuối tháng giêng năm 2006 có hơn 1000 vụ đình công đã xẩy ra trên cả nước., trong đó 300 vụ xảy ra tại các công ty có nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Thực ra, lạm phát đã xẩy ra tù dăm năm trước. Từ năm 2003, trong khi lượng đầu tư tăng khá nhanh, lượng cung thực ( đo bằng sản lượng thực cộng thâm hụt thương mại thực ) chỉ tăng dưới 10% / năm thì doanh số bán lẻ danh nghĩa của Việt Nam liên tục tăng với tốc độ trên 20% / năm.

Lạm phát do mức tăng tín dụng, tăng tiền đã xuất hiện từ lâu, ít nhất từ năm 2004, khi mức tăng tiền lên đến 25%, rồi mới đây nhảy vọt tới 35 – 40% nhưng Nhà nước cứ cầm bằng như chẳng có.


Nguyên nhân của lạm phát

Giữa năm 2007, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định " Quyết không để mức lạm phát cao hơn mức tăng trưởng kinh tế ". Nhưng rồi, mức lạm phát cuối năm qua đã lên tới 12% trong khi mức tăng trưởng kinh tế vẫn chỉ 8%. !

Chỉ tiêu Quốc hội để ra cho năm 2008 là lạm phát phải được kìm chế dưới mức tăng trưởng GDP là 8,5 – 9% thì chưa hết tháng Hai năm 2008, giá cả đã tăng 6,02%. Hiện nay, lạm phát Việt Nam đã ở mức 15,7%.. 

Có ý kiến quy kết nguyên nhân khủng hoảng Việt Nam chủ yếu do giá xăng dầu thế giới tăng quá nhanh và do hậu quả của khủng hoảng tín dụng địa ốc Hoa Kỳ.

Để cho kinh tế Việt Nam phụ thuộc mạnh vào giá xăng dầu thế giới là một nhược điểm không đáng có. Bất chấp khuyến nghị của các trí thức trong, ngoài nước, khăng khăng quyết định sai lầm, đặt nhà máy lọc dầu đầu tiên ở Dung Quất có thể xem là tội lớn của lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đối với đời sống kinh tế của nhân dân..

Không thể phủ nhận việc tăng giá xăng dầu và một số nguyên liệu sản xuất trên thị trường quốc tế cũng như thiên tai, dịch bệnh trong nước là những nguyên nhân khách quan của lam phát nhưng thử hỏi vì sao cùng chịu ảnh hưởng những nguyên nhân ấy mà mức lạm phát ở các nước trong khu vực đều thấp hơn nhiều. Đài Loan 1,9%; Malaysia 1,9%; Singapore 2,7%; Hàn Quốc 3,4%; Indonexia 6,3%; Trung Quốc 6,5%. Thái Lan, cận kề Việt Nam, tiêu thụ nhiều xăng dầu nhập ngoại hơn hẳn Việt Nam nhưng lạm phát ở Thái Lan chỉ bằng một phần tư Việt Nam (3%) .

Ngoài hai nguyên nhân trên, trả lời phỏng vấn đài BBC gần đây, chuyên gia kinh tế nổi tiếng Lê Đăng Doanh còn nêu thêm: " Điểm thứ ba có liên quan đến chính sách tiền tệ.. Trong năm 2007, Việt Nam đã xuất ra một lượng tiền mặt rất lớn để mua vào 9 tỷ đôla. Theo kinh tế học thì sau khi xuất ra lượng tiền lớn như vậy phải có biện pháp trung hòa như bán trái phiếu và nâng lãi suất ngân hàng để vô hiệu hóa số tiền vừa phát hành đó. Nhưng các biện pháp này chúng ta làm quá chậm, dẫn tới chỉ số giá cả tăng cao. Ngoài ra còn một số yếu tố khác như lượng tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để xây dựng cơ bản, qua một số vòng quay nhất định cũng sẽ ra thị trường và tác động tới tổng lượng tiền. Một yếu tố nữa là giá bất động sản ở Việt Nam cao một cách phi lý và đang có phương hại tới môi trường đầu  tư " .

Tiến sỹ Vũ Quang Việt – nguyên Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia thuộc Liên Hiệp Quốc - thì dẫn ra một nguyên nhân lạm phát được đề cập trong hầu hết các sách giáo khoa là : Nhà nước tài trợ chi tiêu quá nhiều cho chính mình và doanh nghiệp nhà nước bằng cách in tiền quá mức. Ông nêu mấy câu hỏi:

-         Ai mua rồi giữ ngoại tệ khi nước ngoài chuyển tiền vào mua cổ phiếu và đầu tư trực tiếp ?

-         Bộ Tài chính tài trợ thiếu hụt chi tiêu bằng gì ? Bán trái phiếu tài chính cho thị trường hay bán trái phiếu cho ngân hàng nhà nước ?

Bán trái phiếu tài chính trên thị trường thì không làm tăng khối lượng tiền vì Bộ Tài chính mượn tiền của dân để tiêu. Ngân hàng nhà nước in tiền để mua tín phiếu thì sẽ làm tăng lượng tiền, tạo lạm phát.

Ông cho rằng: " Hành xử của Bộ Tài chính đã làm suy yếu quyền kiểm soát cung tiền của Ngân hàng Nhà nước nếu Bộ " đòi " NHNN mua trái phiếu của mình … Bộ Tài chính đã làm suy yếu khả năng kiểm soát tiền tệ của NHNN bằng chính sách đôla hóa nền kinh tế … ".

Nhập siêu cao trong ngoại thương cũng góp phần tạo lạm phát. Nhập siêu cao, nhất là với Trung Quốc, khiến phải tung nhiều tiền để trang trải gánh nặng này. Chỉ nội trong hai tháng đầu năm nay mức nhập siêu đã lên đến 4 tỷ USD ( cao gần bằng cả năm 2006 ). Riêng trong năm 2007 nhập siêu đã lên tới 12 tỷ USD ( * ).

Không thể không kể đến một nguyên nhân khác nữa là, trong khi nền kinh tế còn kém hiệu quả thì lại được hấp thụ một lượng vốn quá lớn. Tổng lượng vốn từ bên ngoài rót vào kinh tế Việt Nam trong năm 2007 lên tới 22- 23 tỷ USD ( * * ), tương đương 30% GDP. Lượng tiền đổ vào quá nhiều nhưng không biết tổ chức hiệu quả để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ dẫn tới tình trạng quá nhiều tiều mà quá ít hàng. Trong 3 năm, từ 2005 đến 2007, cung tiền tăng tổng cộng 135% nhưng GDP chỉ tăng 27%. ( * * ).

Trong khi chỉ với một lượng đầu tư khiêm tốn hơn rất nhiều ( chỉ chiếm khoảng 25% GDP ) mà kinh tế Đài Loan tăng trưởng đến mức 10% liên tục suốt 18 năm thì Việt Nam chỉ tăng trưởng ở mức 7-8% với nguồn đầu tư hàng năm của nền kinh tế chiếm tới 35% !

 
Nguyên nhân của nguyên nhân

Câu hỏi đặt ra là, tại sao với nguồn nhân lực dồi dào, với thiên nhiên ưu đãi nhiều hơn so với nhiều nước khác, lại tiếp nhận được nguồn đầu tư rất lớn mà tổng lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chỉ đạt được quá thấp như vậy ?

Do cơ chế ?

Những năm gần đây người ta đã dám vô tư đổ lỗi cho cơ chế.

-         Nhưng, cái gì tạo ra cơ chế ?
-         Cơ chế chính là hiện thân của chế độ chính trị.
-         Ai ngoan cố duy trì mãi chế độ chính trị lạc hậu lỗi thời ?
-         Lãnh đạo đảng CSVN và nhà nước.CHXHCN Việt Nam

Dựa trên 6 tiêu chí: tính hiệu năng của chính phủ, chất lượng chính sách và hoạt động điều tiết, thượng tôn pháp luật, tham nhũng, tiếng nói và trách nhiệm giải trình, ổn định chính trị để đánh giá chất lượng quản trị quốc gia của chính phủ, Ngân hàng Thế giới gần đây đã tiến hành một công trình khảo sát đối với 212 nước và vùng lãnh thổ. Kết quả cho thấy, ngoại trừ tiêu chí " ổn định chính trị ", tất cả 5 tiêu chí kia Việt Nam đều bị xếp dưới các nước Đông Á và Đông Nam Á. Chỉ trên Indonexia một số mặt. 

Nói chung các nhà khoa học, các chính khách quốc tế đều thừa nhận Việt Nam là một dân tộc thông minh, tài hoa, cần mẫn, nhưng tại sao chất lượng quản trị quốc gia của Việt Nam kém xa, không phải các nước tiên tiến mà, các nước Đông Nam Á ?

Không có dân chủ thật thì làm sao chọn được người tài lãnh đạo đất nước và đảm nhiệm những chức vụ quan trọng. Đảng cử dân bầu thì gần đây dẫu có khá hơn là đã đề bạt được một số nhiều có bằng đại học và trên đại học nhưng, tiếc rằng chủ yếu lại chỉ là những phần tử lý lịch tốt được đào tạo qua con đường chuyên tu, tại chức mà dư luận đã từng đánh giá : " Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức ".

Nét đặc sắc của nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam là do Nhà nước đã đổ những khoản đầu tư bất hợp lý vào các tập đoàn kinh tế, xí nghiệp quốc doanh … khổng lồ đến mức … bại hoại cả nền kinh tế.

Kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng tỏ rõ nhiều ưu thế vượt trội. Trong năm 2005 tỷ lệ vốn / lao động của các doanh nghiệp nhà nước cao gấp 3 lần so với các doanh nghiệp dân doanh, nhưng doanh số trung bình do một công nhân tạo ra ở DNNN lại chỉ đạt cỡ 44% so với khu vưc dân doanh. Tỷ trọng sản xuất công nghiệp của khu vực nhà nước liên tục sụt giảm so với khu vực dân doanh và FDI.. Khu vực nhà nước hầu như không tạo thêm được việc làm mới. Bên cạnh dó, trừ một số ngoại lệ, các DNNN hầu như không xuất khẩu các sản phẩm chế tạo. Đến nay, kinh tế ngoài quốc doanh đang tạo ra 90% việc làm trong khu vực công nghiệp và gần 70% sản lượng công nghiệp.

Vậy mà, tài sản nhà nước của nhân dân vẫn cứ được đổ vô tội vạ vào các DNNN kém hiệu năng để không chỉ gây nên những khoản nợ không trả được đến hàng trăm nghìn tỷ đồng mà còn tạo điều kiện để họ chi thả cửa, rất hào phóng cho những dự án nhảm nhí. Nhờ tham nhũng bôi trơn, hàng loạt dự án hoành tráng được rầm rộ thông qua từ xã lên huyện, qua tỉnh đến trung ương ngay cả khi chưa đủ hồ sơ kỹ thuật. Nói chung có lập hội đồng chuẩn định đấy, nhưng tất cả đều được phù phép thành các hội đồng chuột.

Ai không sững sờ khi đọc những dòng này trên báo Lao Động số ra ngày 20 tháng 3 năm 2008 :

" Xã Long Hậu ( huyện Cần Giuộc ) từng biết đến như là xã có số dự án sân golf cao kỷ lục trong cả nước ( có thể cả thế giới, với 5 dự án ). Cũng chính xã này đang lăm le qua mặt khu đô thị Phú Mỹ Hưng với 2 dự án khu đô thị sinh thái có tổng diện tích gần 800ha ( có 1 dự án trải rộng trên 2 xã Long Hậu và Phước Lại ). Hai DA này cùng với 5 DA sân golf chiếm gần hết diện tích đất nông nghiệp trong xã. Nằm cạnh dự án sân golf xã Mỹ Phú - huyện Thủ Thừa là dự án khu đô thị sinh thái rộng 300ha.

Cách đó mấy cây số, tại xã Mỹ An ( cũng huyện Thủ Thừa ) là DA khu ĐTST khác cũng rộng gần 300ha. Ở một huyện nông nghiệp khác là Cần Đước cũng có 2 DA khu ĐTST rộng tổng cộng gần 300ha. Huyện vùng sâu Đồng Tháp Mười là Vĩnh Hưng cũng không thua chị kém em với DA khu ĐTST rộng trên 200ha. Nhưng đáng kể nhất là DA khu ĐTST trải dài trên 2 xã vùng sâu là Thạnh Lợi (huyện Bến Lức ) và Bình Hoà Nam ( huyện Đức Huệ ) với tổng diện tích gần 2.600ha...

Cho đến thời điểm hiện nay, tỉnh Long An đã có hơn 10 DA khu ĐTST hoặc có ĐTST với tổng diện tích hơn 5.500ha. Ngoài ra còn có hàng loạt các DA khu đô thị " không sinh thái " cũng đang được triển khai. Lạ lùng là các DA khu ĐTST ở Long An hầu như không nằm cạnh các khu, cụm công nghiệp, mà nằm ở vùng nông thôn xa xôi ".

Hỗn mang chi sơ như vậy chẳng qua chỉ vì " Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ".

Muốn khỏi chệch hướng XHCN thi quốc doanh sống chết cũng phải là chủ đạo, phải tập trung dân chủ, Đảng phải, không chỉ lãnh đạo mà còn chỉ đạo toàn diện. Đảng chỉ đạo Nhà nước muốn ưu ái ai thì nấy được, muốn cho ai cái gì thì cho.

Đảng nhúng tay thao túng cả thị trường chứng khoán.

Thị trường chứng khoán lập ra phải là để huy động vốn tiết kiệm vào đầu tư nhưng ở Việt Nam, đảng CSVN lại dùng nó để vỗ béo các nhà tư bản đỏ của Đảng. Người ta ra lệnh cho Ngân hàng Nhà nước đổ tiền ra cho bọn này vay dể chơi chứng khoán. Thị trường chứng khoán bị biến thành nơi rửa tiền nhằm đầu cơ trục lợi ngắn hạn. Vốn thực sự được huy động phục vụ sản xuất chẳng được là bao. Thắng ở chứng khoán, bọn chúng đổ xô đầu cơ bất động sản. Khi thị trường chứng khoán lung lay, Chính phủ liền ra Chỉ thị 319, lệnh cho các quan tài chính và ngân hàng phải bơm tiền để giữ cho thị trường này không bị sập. Thực chất là để cứu bọn phệ đỏ không bị sút cân. 

Người ta cho rằng ở Việt Nam đang hình thành " chủ nghĩa tư bản thân hữu ". Ở đây bố làm chính trị để giành đỉnh cao quyền lực, từ đấy tạo điều kiện cho con cái làm kinh tế. Quyền lực lãnh đạo của bố đem lại cho con cái những hợp đồng vô giá, những mối quan hệ maphia để chúng phất lên dễ dàng và nhanh chóng. Chẳng mấy chốc, bọn " phượng hoàng đỏ " này đã có thể nắm hết những ngành kinh tế quan trọng của đất nước.

Học giả Trần Đông Chấn vạch ra cái cơ chế maphia ở Việt Nam như sau : " Họ không hình thành nên những phe nhóm riêng rẽ cụ thể nào cả, mà len lỏi có mặt ở tất cả mọi nơi, từ cơ quan đảng đến nhà nuớc, chính phủ đến quốc hội, trung ương đến địa phương, cơ quan hành chính đến các doanh nghiệp. Cũng không có một thỏa thuận liên minh nào được cam kết nhưng bọn họ phối hợp hành động rất ăn ý và đồng bộ nhờ có một mục tiêu chung là trục lợi. Họ không thể hiện chính kiến riêng và luôn hoan nghênh tất cả các nghị quyết của đảng, chỉ thị của chính phủ, dự luật của quốc hội và các quyết định của chính quyền địa phương cho dù là chúng mang tính bảo thủ hay cấp tiến …. Nhưng điều tồi tệ và nguy hại nhất ở đây chính là những kẻ cơ hội này đang được các thế lực nước ngoài hỗ trợ và nuôi dưỡng vì quan hệ cộng sinh và vì những kế hoạch dài hơn ".

Để làm lóa mắt dân chúng, người ta đã quýết định tăng cung tiền nhắm tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao một cách biểu kiến. Nhưng khối lượng cung tiền lớn được sử dụng làm gì. " Một nguyên nhân chính là do tốc độ tăng chi tiêu của nhà nước. Tổng chi tiêu của nhà nước năm 2006 là 321 nghìn tỷ đồng, tăng 221,8 nghìn tỷ đồng ( hay 45% )  so với năm 2004. Như vậy tốc độ tăng chi tiêu hàng năm của nhà nước trong giai đoạn 2004 – 2006 là 20,3% / năm. . Cũng trong giai đoạn này thu ngân sách tăng chủ yếu không phải từ nguồn thu nội địa mà là từ dầu mỏ, tiền vay nợ và viện trợ nước ngoài. Thu nội địa năm 2004 chỉ đạt 119 ngàn tỷ, và năm 2006 là 190 ngàn tỷ, tăng có 71 ngàn tỷ. Trong khi đó chi tiêu của nhà nước tăng 131 ngàn tỷ, từ 190 lên 321 ngàn tỷ, tức là gần gấp đôi mức tăng thu nội địa. Khi chi tiêu của nhà nước tăng hơn nhiều so với các nguồn thu ngoài dầu mỏ ( ngay cả khi nguồn thu tăng này đến từ dầu mỏ hay viện trợ ) thì những khoản chi tiêu này sẽ làm tăng tổng cầu. Thế nhưng nếu các khoản chi tiêu này lại không được sử dụng một cách hiệu quả, chỉ đóng góp được chút đỉnh cho sản lượng ( tức là không làm cho tổng cung tăng một cách tương ứng ) thì tất yếu dẫn tới lạm phát ". ( * * )

Muốn vỗ béo bọn tư bản đỏ của Đảng, muốn các quan chức của Đảng sống phè phỡn thì kinh tế phải lạm phát. Lạm phát thì dân chúng thêm điêu đứng ( như đã dẫn ra một phần ở trên ). Nhưng, bọn họ vẫn tiếp tục sung sướng !

Thế đấy, đắng cay và chua chát là ở chỗ người ta đã đổ cả núi xương, sông máu của nhân dân Việt Nam ra mà giành lấy quyền lực. Để rồi, lại sử dụng quyền lực đó để bòn rút da thịt, mồ hôi nước mắt của nhân dân. Có hơn gì bọn ngoại xâm, bọn tư sản mại bản, bọn địa chủ cường hào ác bá….!

Làm thế nào để chống lạm phát ? Về nguyên tắc là phải tăng cường kiểm soát tiền tệ, làm giảm khối lượng tiền tệ trên thị trường, thắt chặt chi tiêu, đặc biệt là chi tiêu công.

Nhưng, nâng lãi suất ở mức cao hơn lạm phát đề hút tiền vào ngân hàng sẽ làm giảm đầu tư và nhu cầu tiền vốn và tất yếu dẫn đến việc không bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế như mong muốn. Cắt giảm đầu tư của nhà nước và bóp chặt các khoản chi tiêu công sẽ ngăn trở mất điều kiện để tham nhũng và để vỗ béo quan chức….

Muốn chặn đứng lạm phát, bảo đảm cho kinh tế phát triển lành mạnh, bền vững thì không thể không minh bach hơn, công khai hơn và tất nhiên, phải dân chủ thật sự.

Trước mắt, như nhóm giáo sư, chuyên gia kinh tế cao cấp của trường đại học Harvard đã gọi ý, cần thành lập ngay một cơ quan quản lý kinh tế cao cấp. Cơ quan này hoạt động tương tự như Hội đồng Phát triển kinh tế của Singapore và của một số nước khác trong khu vực, được giao nhiệm vụ điều phối chính sách vĩ mô và bảo đảm kỷ cương trong khu vực nhà nước. Cơ quan này phải có thẩm quyền cao hơn các bộ ban ngành, chính quyền địa phương và các tập đoàn kinh tế nhà nươc. Để được bảo vệ khỏi sức ép chính trị và sự tác động của các nhóm đặc quyền đặc lợi, thành phần nhân sự của cơ quan này phải bao gồm một số quan chức và chuyên gia giỏi thuộc bộ máy công quyền đồng thời phải có, khoảng 50%, các chuyên gia, các chính khách không phải đảng viên đảng CSVN, không nằm hoặc không còn nàm trong bộ máy công quyền, đặc biệt là những thành phần đối lâp.
                                                                                
Hà Nội tháng 3 năm 2008
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang
Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội
Điện thoại : ( 04 ) 5 534370    
 
   
( * ) Thời báo Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 6-3-2008
( ** ) Lựa chọn thành công – Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai Việt Nam ( Công trình khảo cứu của trương đai hoc Harvard )




=========================
pho bien/ publication 30.03.2008
=========================


                                 DÂN NGHÈO NỔI DẬY LẬT ĐỔ CSVN


                                               Nguyễn Phúc Liên



Đây là chú thích đầu cho hai bài đăng kèm dưới đây.

Chúng tôi đã viết loạt bài Chủ đề về SỰ SỤP ĐỔ CSVN ĐẾN TỪ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ/TÀI CHÁNH. Việc lật đổ chế độ CSVN không đến từ những lẻo mép thảo luận suông trừu tượng, mà phải đến từ một quần chúng bị cướp đoạt đến đói ăn. Lớp người nghèo này không nói nhiều nhưng hành động và khi cần sẵn sàng bạo động quần chúng.

Cuộc Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh đã xẩy ra, một cuộc nổi dậy của Dân Nghèo ắt phải đi tới.

Nguyễn Phúc Liên

 



ĐẤU TRANH GIẦU--NGHÈO

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Trước đây, chúng ta nói nhiều đến cuộc đấu tranh Quốc—Cộng giữa hai ý thức hệ. Chúng ta phân biệt lằn ranh Quốc—Cộng. Nhưng ngày nay, cái lằn ranh ấy khó mà phân biệt. Một số người gọi là Quốc gia, nay muốn chiều chuộng CSVN để mong chia chút quyền hành và nhặt ít bánh rơi rụng do CSVN thẩy xuống. Trong khi ấy CSVN, với Nghị Quyết 36, cho người của họ hoặc con cháu trà trộn trong khối người Quốc gia. Vì vậy, cái lằn ranh Quốc—Cộng trước đây trở thành khó khăn phân biệt.

Chúng tôi thấy rằng ngày nay, cái lằn ranh rõ ràng phân biệt nhất, đó là GIẦU—NGHÈO. Cuộc đấu tranh trong hoàn cảnh này là: (i) phía GIẦU muốn cố thủ giữ lấy quyền lực để trước hết bảo vệ những gì vật chất đã ăn cướp được và sau nữa là để cho con cháu, dòng họ và những người nịnh bợ đút tham nhũng tiếp tục khai thác nhân lực và tài nguyên của Việt Nam; (ii) phía NGHÈO, với vật giá tăng vọt, rơi vào tình trạng thiếu ăn, buộc lòng phải đứng lên đấu tranh để bảo vệ quyền sống của mình.


Thiểu số phía GIẦU

Hàng ngũ này gồm: (1) Lãnh đạo cao cấp đảng CSVN; (2) Những đảng viên đảng CSVN; (3) Con cháu, dòng họ của những Lãnh đạo cao cấp và đảng viên đảng CSVN; (4) Những thành phần đút lót tham nhũng để có đặc quyền đặc lợi Kinh tế; (5) Một số Trí thức Chính trị trong cũng như ngoài nước muốn chiều chuộng CSVN để mong có chút quyền và từ đó nhặt những mẩu bánh rơi rụng.

Tất nhiên có những tư nhân làm ăn chính đáng mà giầu lên, chúng tôi mến phục cho sự thành công của họ và không kể vào thiểu số phía Giầu được đề cập ở đây.


Đa số phía NGHÈO

Đây là đại đa số quần chúng gồm: (1) Nông dân; (2) Ngư dân; (3) Công nhân; (4) Những người thất nghiệp kiếm sống vất vưởng qua ngày; (5) Những thương phế binh lang thang cầu thực; (6) Những người già yếu không có quỹ xã hội bảo đảm.

Phía GIẦU cố thủ dùng sức mạnh để duy trì quyền Chính trị ĐỘC TÀI cho thiểu số để dễ ăn cướp. Phía NGHÈO cần lấy lại quyền sinh sống cá nhân và vì là đại đa số cá nhân, nên họ sẽ tiến tới quyền DÂN CHỦ.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 


VIỆT NAM ĐÃ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ


Việt Nam Đã Khủng Hoảng Kinh Tế, Bài Thuốc Trị Liệu Khủng Hoảng Ở Việt Nam. 
TS. Trần Minh Hoàng
http://www.vnn-news.com/article.php3?id_article=4195
(LÊN MẠNG Thứ sáu 28, Tháng Ba 2008)
 

Việt Nam đã bước vào khủng hoảng kinh tế

Đúng 30 ngày sau khi phần 1 của bài viết này có tựa đề "Khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng chính trị ở Việt Nam" đã nêu những dấu hiệu suy thoái có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng chính trị ở Việt Nam lên công luận, và tiếp tục theo dõi sát diễn biến tình hình kinh tế chính trị trong nước và trên thế giới những ngày tiếp theo vừa qua.

Hôm nay, chúng tôi có thể công bố Việt Nam đã chính thức bước vào cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất trong hơn 30 năm cần quyền của cộng sản ở Việt Nam.

Cuộc khủng hoảng lần này đã, đang và sẽ xóa sạch hết mọi thành quả gọi là "đổi mới" mà cộng sản Việt Nam vẫn thường tự kêu, khoát lác, và sẽ đẩy đời sống của toàn dân Việt Nam vào một thời kỳ cùng cực mới ?

Cơ may sẽ mở ra một thời kỳ mới về kinh tế và chính trị sau khủng hoảng kinh tế cho nhân dân Việt Nam nếu chính thể cộng sản bị chôn vùi ngay trong đợt khủng hoảng lần này.

Những chỉ dấu của khủng hoảng kinh tế Việt Nam đang xảy ra, hậu quả tất yếu của nền kinh tế mang "đậm đà" màu sắc độc tài cộng sản

Thị trường chứng khoán, nguồn vốn đầu tư hơn 90% vào nền kinh tế VN đã sụp đổ hoàn toàn từ hôm 25-03-2008 với cơ mai hồi phục không còn, chỉ số VN-Index từ 1.200 điểm rơi thẳng đứng liên tục trong nhiều phiên giao dịch của nhiều ngày qua xuống còn chỉ còn dưới ngưỡng chết 500 điểm, trong khi các nhà đầu tư sự thật không còn lòng tin vào thị trường và nền kinh tế do một chính thể cộng sản điều hành. Thị trường chứng khoán Việt Nam đã đổ vỡ.

Sản xuất của tất cả các ngành kinh tế đều bị tê liệt do không còn vốn và nhiều tác động khác của kinh tế, xã hội và nhất là chính trị tác động. Thâm thủng mậu dịch tăng cao. Lạm phát tăng cao và đang diễn ra từng ngày ở Việt Nam...

Giá lương thực thực phẩm tăng theo từng giờ, với mức tăng cao và nhanh, uy hiếp đời sống của tuyệt đại đa số người dân, chỉ trừ quan tham cộng sản đã no túi .

Lòng tin của các nhà đầu tư và mọi người dân Việt Nam kể cả công nhân viên chức bộ máy quản lý nhà nước, các ngành kinh tế, và đặc biệt là đông đảo công chức ngành giáo dục và y tế vốn ăn lương và chịu thiệt nhiều nhất do giá cả tăng nhanh đã không còn tin tưởng vào chính thể cộng sản đang hoành hành đất nước, với quốc nạn tham nhũng mà hậu quả "nhãn tiền" đang đến.

Các nhà đầu tư trong nước đã thực sự rút vốn, bỏ chạy để tự bảo vệ.

Các nhà đầu tư nước ngoài vẫn bình thản xem coi chính phủ cộng sản Việt Nam sẽ diễn tiếp màn nào nữa, và chờ cơ hội cho một nền kinh tế thị trường thực sự, không còn định hướng XHCN thao túng, kềm chế, để tham nhũng trục lợi, chỉ làm lợi riêng cho đảng cộng sản cầm quyền sẽ đến cho đất nước Việt Nam sau cơn khủng hoảng lần này.

Chính phủ hoàn toàn bất lực trước các diễn biến tình hình phức tạp của nền kinh tế. Hàng loạt quyết định "vu vơ" phi kinh tế, chỉ mang màu sắc chính trị được đưa ra hàng ngày vẫn không cải thiện được tình hình trước cơn bão khủng hoảng đang đổ ập xuống nền kinh tế.

Hậu quả tất yếu của cơ chế chính trị hóa nền kinh tế theo nhãn quan cộng sản đang diễn ra.

Chính quyền đã ra lệnh nghiêm cấm hơn 600 tờ báo trong nước loan tin sự thật về nền kinh tế đang khủng hoảng để tiếp tục bưng bít thông tin, và ra lệnh cho lực lượng chuyên chính công an cộng sản bắt bớ, điều tra những ai dám trái lệnh này.

Vì lòng tự trọng trước nhân dân, và bị truy bức nghề nghiệp của nhà cầm quyền khi ngăn cấm thông tin sự thật và trung thực tình hình kinh tế suy sụp, một Tổng biên tập báo điện tử có uy tín và lượng người truy cập đông nhất ở Việt Nam hôm nay đã chính thức tuyên bố từ chức để thoát nạn và khỏi mang tiếng làm "quan tham" cho cộng sản.

Khi người ta mất lòng tin, thì sẽ mất tất cả. Tội lỗi thuộc về ai ?

Trong tình hình thị trường chứng khoán hiện nay ở VN. Mặc dù trước đây mấy hôm chính phủ vẫn hò la cứu thị trường này bằng những giải pháp phi kinh tế, chẳng hạn như việc "lòe" mọi người khi chính phủ tung tin cho Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) ta tay cứu nguy thị trường.

Nhưng SCIC thực chất cũng là một "con rối" kinh tế của chính phủ cộng sản không hơn không kém. Và thực lực của nó cũng là giả tạo, không có sức để làm được gì. Chỉ làm mất thêm lòng tin của các nhà đầu tư.

Nhiều giải pháp khác liên tục được nhà cầm quyền Việt Nam tung ra hàng ngày để gọi là cứu vãn thị trường chứng khoán, chống lạm phát, giữ vững sản xuất, ổ định đời sống nhân dân... rất thô thiển và buồn cười, nhưng cũng không cứu vãn được gì.

Đó là sự mất lòng tin vào chính phủ, vào thị trường do chính phủ độc tài điều hành.

Hơn ai hết những nhà đầu tư ở Việt Nam đã từng trãi và hiểu rất rõ bản chất của chính phủ độc tài và tham nhũng của mình. Họ phải tự bảo vệ, kinh nghiệm ở Việt Nam đã dạy cho họ như vậy.

Hơn lúc nào hết, các nhà đầu tư trong nước rút chạy và chuyển vốn sang bản vị vàng hoặc ngoại tệ là thượng sách.

"Nuôi vỗ béo rồi đập đầu. Hoặc sống chết mặc bọn bây tiền thầy đã bỏ túi "

Mục đích và đối sách độc ác này của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vẫn thường sử dụng với các nhà kinh doanh ở Việt Nam trong hàng chục năm qua. Nhiều người đã từng sống, có làm ăn và đụng chạm với nhà nước Việt Nam đều đã từng bị và biết khá rõ kinh nghiệm này.

Đồng tiền do chính nhà nước cộng sản tạo ra và chính nhà nước này lấy đi do tham nhũng sẽ trở thành những tờ giấy lộn trong nay mai. Và biến mọi người trở thành nạn nhân của chính nó.

Theo số liệu có căn cứ, do các chuyên gia tài chánh trong nước xin giấu tên đưa ra, là khoảng gần 200.000 Tỷ VND là con số tiền mặt và tài sản đã bị lấy đi do tham nhũng của các viên chức nhà nước cộng sản trong mấy năm gần đây nhất.

Chính số tiền này đã tạo ra mất cân đối tiền hàng và cung cầu của nền kinh tế, là nguyên nhân chính của lạm phát và khủng hoảng kinh tế hôm nay.

Do tham nhũng, chính nhà nước cộng sản chứ không ai khác, đã giúp sức và tạo mọi điều kiện để đẩy giá thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản trong nước lên cao quá sức phi lý của nền tài chính và nền kinh tế đất nước để trục lợi cho một số ít cá nhân và quan tham cộng sản. Là nguyên nhân chính gây ra lạm phát và khủng hoảng kinh tế ở Việt nam hiện nay.

Chính tham nhũng và chính thể cộng sản này phải lãnh trách nhiệm và hậu quả chứ không đổ lỗi cho bất kỳ lý do gì hay cho ai khác.

Nhưng tham nhũng đã kịp vun vén xong và đẩy hậu quả cho nhân dân Việt Nam phải gánh chịu.

Tội ác của chế độ cộng sản Việt Nam trong đợt khủng hoảng kinh tế lần này chính là ở đây. Mọi người phải nhận diện chính xác và chỉ đích danh trách nhiệm lẫn tội lỗi của họ.

Sản xuất tê liệt, lòng dân thán oán, Chính phủ vô trách nhiệm.

Muốn chống lạm phát, muốn giữ kinh tế trước tiên phải giữ sản xuất, đây còn là đời sống, là vấn đề xã hội của toàn dân. Vậy mà chính phủ vẫn ngó lơ. Hàng ngày các Hiệp hội ngành nghề, các doang nghiệp và người dân trong nước vẫn kêu than trên các báo tay sai của chế độ về những khó khăn trong sản xuất.

Hàng loạt doanh nghiệp sản xuất công thương nghiệp và xuất nhập khẩu đã phải đóng cửa và buộc phải sa thải hàng loạt công nhân do thiếu vốn, do tỷ giá ngoại tệ chuyển đổi không phù hợp, do các chính sách bất hợp lý của nhà nước...

Sản xuất nông nghiệp, thủy sản gặp bế tắc do thiếu nguyên nhiên liệu, thiếu vốn, thiếu giống ...

Những lời kêu than của toàn dân đều bị chính phủ bỏ ngoài tai và ngăn cấm báo chí nêu sự thật lên công luận.

Thâm thủng mậu dịch, nhập siêu tiếp tục tăng cao trong mấy tháng đầu năm, mặc dù đã có nhiều khuyến cáo từ nhiều tháng trước đây, làm cho tình hình kinh tế và tài chính quốc gia đã xấu nay tiếp tục xấu đi thêm nữa. Trách nhiệm "điều hành" này của ai ? của Chính Phủ !

Việc cắt giảm chi tiêu ngân sách, món mồi tham nhũng ngon nhất, lại còn... phải chờ chính phủ bàn ? Mấy tháng ròng vấn đề quan trọng này để giảm khó khăn cho nền tài chánh và kinh tế đã được nhiều cơ quan và chuyên gia quốc tế khuyến cáo vẫn chưa có tăm hơi... Trong khi việc này chỉ cần trong vòng một ngày là có thể quyết định được.

Tại sao ? Đơn giản là cắt chi tiêu ngân sách, nhất là các khoản đầu tư thì lấy đâu còn tiền để mà bộ máy nhà nước từ trên xuống dưới tiếp tục tham nhũng được ?

Chỉ đạo ngốc nghếch và hết sức ấu trĩ

Trước thực tế nền kinh tế đã chính thức bước vào khủng hoảng mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam vẫn cứ vô tư bằng thói mỵ dân, hách dịch, kêu căng,vô trách nhiệm, vô cảm với nhân dân.

Coi như không có việc gì lớn xảy ra.

Thậm chí chính phủ còn phản ứng một cách ấu trĩ khi ra lệnh này lệnh kia, cho ngành này ngành khác phải làm việc này việc nọ để chống lạm phát và giữ vững tăng trưởng ? nhưng thực tế các ngành không còn gì năng lực để thực hiện. Và tăng trưởng gì nữa khi lạm phát bộc phát mạnh và khủng hoảng kinh tế đã nổ ra.

Ngay lúc này, mới ngày hôm qua 25.03.2006 lãnh đạo nhà nước cộng sản Việt Nam từ Thủ Tướng đến chủ tịch UBND TP. Sài Gòn lại hết sức vô tư và ngốc nghếch khi chỉ đạo: "Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải chống lạm phát và giữ vững tăng trưởng kinh tế ?"

Nền tảng kinh tế đất nước có còn gì đâu nữa mà mơ tưởng tăng trưởng ? và kêu gọi chống lạm phát bằng khẩu hiệu, bằng mồm thì lạm phát càng tăng thêm hàng ngày.

Người dân đã trực tiếp gánh chịu hậu quả của khủng hoảng kinh tế và sẽ còn gánh chịu tồi tệ hơn nữa.

Giá cả trong nước tiếp tục tăng cao hàng ngày, đã làm cho hàng triêu người là công nhân viên chức, công nhân, nông dân, sinh viện học sinh, và nhiều tầng lớp khác của nhân dân thực sự có đời sống đi xuống nhanh chóng. Nhiều báo chí trong nước đi sát công chúng và công luận như Tuổi Trẻ, Thanh Niên...đã chính tức và khéo léo đăng tải những lời kêu ca, ta thán của nhiều tầng lớp nhân dân về cuộc sống khó khăn do bảo giá lạm phát hoành hành.

Không còn gì, ngay cả lòng tin của nhân dân, và thực tế chính phủ không còn gì trong tay để cứu giúp nền kinh tế đất nước và cứu người dân. Mọi người phải tự lo liệu và tự vệ lấy bản thân của chính mình lúc này. Quan trọng là mọi người phải hiểu rõ và chỉ rõ trách nhiệm này thuộc về nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.

Tội ác khác của cộng sản Việt Nam có liên quan đến trách nhiệm về kinh tế là "nhân quyền"

Nếu như tham nhũng đã lấy đi gần 200.000 Tỷ VND làm cho kinh tế suy kiệt và khủng hoảng, thì lại có cơ sở để buộc cộng sản Việt Nam thêm một tội ác khác là tội ác về Nhân quyền với nhân dân.

Biết "Tham nhũng là dấu hiệu suy tàn của một chế độ", dù sự suy tàn này có ảnh hưởng lớn đến uy tín quốc gia và đời sống của toàn dân. Nên nhân dân đã tích cực hưởng ứng chủ trương chống tham nhũng do chính nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam ngụy tạo ra thời gian vừa qua.

Nhưng chống tham nhũng ở Việt Nam suy cho cùng chỉ là chiêu bài mỵ dân của cộng sản. Sự thật khi người dân tích cực chống tham nhũng và có những tổ chức độc lập của nhân dân lập ra theo Hiến Pháp qui định để chống tham nhũng, chống bất công kinh tế, như Hội "dân oan"... Hội chống tham nhũng của những người yêu nước đã được thành lập mấy năm qua thì bị chính quyền cộng sản Việt Nam chụp mũ, bắt bớ, bỏ tù hầu hết những người này ?

Đây chính là tội ác vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam khi ngăn cấm người dân tự do phát biểu ý kiến và đóng góp xây dựng đất nước, xây dựng kinh tế, xây dựng chính quyền ngỡ là của mình.

Thuốc chữa hiệu nghiệm nhất cho nền kinh tế và khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam

Tuy không trực tiếp nói ra do những vấn đề tế nhị , nhưng các chuyên gia kinh tế trên thế giới, kể cả Đại học danh tiếng Havard và cố vấn kinh tế của Nhà Trắng Hoa Kỳ mới sang Việt Nam gần đây cùng hiểu rằng:

"Nếu có khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam thì nguyên nhân và trách nhiệm vẫn do chính chính phủ này gây ra, chứ không phải do quy luật kinh tế thông thường".

Họ (các chuyên gia) đã từ chối khéo léo nói sự thật vì vấn đề hết sức tế nhị trong quan hệ và ngoại giao. Đó là: Thuốc chữa căn bệnh kinh tế do các ngài (nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam) và nhân dân Việt Nam tự định đoạt mà không có chính quyền nào khác có thể giúp được.

Cách duy nhất có thể là: Bài thuốc hay nhất và đúng nhất lúc này mà chính quyền cộng sản Việt Nam có thể thực hiện đúng đắn. Đó là sự kết thúc cầm quyền của mình để chuyển hóa sang một thể chế chính trị dân chủ thực sự, từ đó sẽ có một nền kinh tế thị trường thực sự, mới có cơ may cứu vãn nền kinh tế và ngăn ngừa được những sai lầm và tội ác này trong tương lai ...


TS. Trần Minh Hoàng

Sài Gòn, ngày 26.3.2008




=========================
pho bien/ publication 20.03.2008
=========================



                                               KINH TẾ CHỈ HUY
                                 TOÀN DIỆN VÀ VÔ TRÁCH NHIỆM



                          Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Chúng tôi đã viết xong 12 bài và 3 Phụ bản về những triệu chứng Khủng Hoảng Kinh tế/Tài chánh. Ngày 28/02/2008, Khủng Hoảng Tài chánh/Kinh tế diễn ra tại Việt Nam nguy hiểm hơn bất cứ nước nào tại Chấu Á.

Khỏi cần phải dự đoán, mà Khủng Hoảng đã xẩy ra thực sự. Công việc của chúng tôi là tìm hiểu những lý do căn yếu tạo ra Khủng Hoảng. Trong khi viết loạt bài trên đây, một câu khẳng định của Kinh tế gia Alain FAUJAS làm chúng tôi lưu ý đặc biệt:”Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois ou vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit de plein fouet des prix arbitraires” (LE MONDE, Mercredi 31.10.2007, page 13) (Khi có xâm lấn chính trị (các đảng Cộng sản Trung quốc hay Việt Nam) vào thương mại, tài chánh và kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng tay những giá cả độc đoán). Đây là cái lý do chính của vật giá tăng vọt tại Việt Nam hơn bất cứ một nước nào khác và cũng là lý do chính yếu của Khủng Hoảng Tài chánh/Kinh tế hiện nay.


Chưa thấu thất bại Kinh tế của
Chỉ huy tập quyền chế độ Cộng sản

 
Bài học thất bại của nền Kinh tế Chỉ huy tập quyền (Economie dirigiste centralisé) đã làm sụp đổ chế độ tổ sư Cộng sản Liên Xô và những chư hầu Đông Aâu. Việt Nam chưa thấu triệt bài học thất bại đó hay sao. Cái Khủng hoảng Kinh tế Chỉ huy tập quyền đã làm cho dân chúng đói nghèo lật đổ chế độ Chính trị độc tài Cộng sản. Thực vậy, năm 1990, khi sang Mạc Tư Khoa, tại Phi trường, một người lính Nga xin tôi điếu thuốc lá, tôi tưởng anh ta muốn xin hối lộ. Nhưng Tiến sĩ Chử Văn Đông, cựu Giáo sư Toán tại Đại học Warsaw nói với tôi rằng nó nghèo thực tình không có tiền mua thuốc lá, nên đi xin như vậy. Đó là hậu quả của nền Kinh tế Chỉ huy tập quyền. Tại Dom 5 cũ, nơi cư ngụ của những nhà Khoa học tuyệt đỉnh của trí tuệ loài người như Sakharov, nay đã trở thành nơi buôn bán thực phẩm mà những Sinh viên Việt Nam thuê lại để làm tiệm chạp phô, quán phở hay quán bán thị chó. Tôi còn giữ hình ảnh chụp những quán phở và thịt chó (chó berger KGB, chứ không phải chó ta thị mềm thơm ngon).


Kinh tế Tự do và Thị trường
định hướng Xã Hội chủ nghĩa
 
Bí đói quá, Việt Nam Đổi mới và Mở cửa cho nền Kinh tế Tây phương mà họ gọi là Tư bản. Cách đây 3 năm, Nông Đức Mạnh và Phan Văn Khải tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng còn thêm cái đuôi là Định hướng Xã Hội chủ nghĩa. Lúc đầu tôi nghĩ rằng cái đuôi chỉ là râu ria nhớ tiếc mấy tiếng Xã Hội chủ nghĩa. Nhưng rồi bây giờ, nhìn kỹ lý do Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế và ngẫm nghĩ lời khẳng định của Kinh tế gia Alain FAUJAS trên đây, tôi mới giật mình thấy rằng cái đuôi Định hướng Xã Hội chủ nghĩa không phải là giỡn chơi, mà CSVN làm thiệt, nghĩa là mặc dầu tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng thực chất chúng vẫn giữ nền Kinh tế Chỉ huy tập quyền còn tệ mạt hơn Liên Xô và những nước chư hầu Đông Aâu. Tại sao tệ mạt hơn ? Nền Kinh tế Chỉ huy tập quyền Liên Xô và Đông Aâu còn bao cấp cho dân, nhưng nền Kinh tế Chỉ huy tập quyền Việt Nam hiện giờ không những không bao cấp cho dân mà còn bóc lột, khai thác bán rẻ sức Lao động của dân và những tài nguyên Quốc gia cho ngoại bang để làm đầy túi những đảng viên và lớp người thân cận nịnh bợ đút lót tham nhũng.


Quyền lực độc tài Chính trị và Quyền lực Kinh tế
nằm trọn trong tay độc đảng CSVN độc tài

Đây là lý do chính yếu tạo ra Khủng Hoảng Tài chánh/ Kinh tế hiện nay. CSVN không tách rời Chính trị ra khỏi Kinh tế như nền Kinh tế Tự do và Thị trường đòi hỏi.  Những nhập cảng hay xuất cảng nằm trong những Tổng Công ty quốc doanh do đảng điều khiển. Ngay trong ngành Xây cất, những nhà thầu tư doanh phải qua những Tổng thầu quốc doanh. Một nền Kinh tế phải qua hệ thống Công ty quốc doanh do đảng chỉ định là một hệ thống Kinh tế chỉ huy tập quyền bắt những Tư doanh phải phục vụ, đút lót tham nhũng cho hệ thống quốc doanh ngồi chơi xơi nước. Đây là hệ thống đảng khai thác toàn diện từ quần chúng đói nghèo, từ công nhân cực nhọc, cho đến những Tư doanh lo lắng ngày đêm chạy tiền làm ăn và đút lót tham nhũng. Tại sao hệ thống nhập siêu tăng quá mức mà IMF phải cảnh cáo ? Vì đó là hệ thống ăn bẩn tối thiểu 20% giá trị nhập siêu bằng cách tăng giá mua. Việt Nam đòi tăng giá mua để ăn bẩn chứ không phải người bán muốn tăng giá.

Trong những nước có Tự do, có Dân chủ đa nguyên, nền Kinh tế Tự do và Thị trường vẫn cảnh giác giới Chính trị không được xen lấn vào Kinh tế. Đối với Việt Nam hiện nay, chế độ Chính trị lại là độc tài độc đảng và chủ trương nắm trọn những sinh hoạt Kinh tế, thì sự thất bại Kinh tế không những chỉ là tái diễn nền Kinh tế Chỉ huy tập quyền của Liên Xô và Đông Aâu mà cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế hiện nay tại Việt Nam phải là điều xẩy ra TẤT YẾU vậy.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 

 





=========================
pho bien/ publication 13.03.2008
=========================


                  CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH

                                                         Bài 12:

                                                      KẾT LUẬN: 
                   TƯ HỮU LA  NỀN TẢNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VŨNG
                                 VỚI THỂ CHẾ DÂN CHỦ LÀ HẬU QUẢ



                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Đây là bài chót của loạt 12 bài dưới Chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH.

Trong loạt 11 bài với 3 bài Phụ bản đã viết trước, chúng tôi phân tích về cuộc Khủng Hoảng Tài chánh Á-châu 1997 và về những yếu tố Bấp Bênh hiện nay tại những nước bắt đầu phát triển khả dĩ đưa đến Khủng Hoảng Tài chánh/Kinh tế. Một trong những bấp bênh chính mà các nhà Kinh tế nêu ra đó là tình trạng lạm phát. Cái bấp bênh này gặp đúng lúc biến cố Khủng hoảng của Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc Hoa kỳ lan ra có tính cách Toàn cầu.


Kết luận thứ nhất:
Từ Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế
sang Đột biến Chính trị.

Chúng tôi không cần đào sâu thêm những triệu chứng để ước tính về cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế tại Việt Nam bởi nó được diễn ra rồi mà Nhà Nước Việt Nam đang tìm mọi cách bịt đầu này, thì đầu kia lại phì ra trầm trọng. Cuộc khủng hoảng Tiền tệ, Tài chánh đang lan rộng trực tiếp sang Khủng hoảng Kinh tế.

Nhưng điều lo lắng quan tâm hàng đầu của chế độ CSVN hiện nay không phải là vấn đề Kinh tế cá nhân bởi vì những đảng viên, nhất là lớp cao cấp, cùng với thiểu số liên hệ với đảng, đã thu vén cất giữ tiền bạc đầy túi rồi. Điều quan hệ hàng đầu là cuộc Khủng hoảng Tiền tệ/ Tài chánh/ Kinh tế đang dìm quần chúng 80% dân nghèo đến chỗ đói khổ vì khả năng tiêu thụ đã nhỏ nhoi mà còn bị mất 50% với vật giá tăng vọt. Khi mà hàng trăm ngàn Học sinh bỏ học để kiếm sống qua ngày vì cuộc Khủng hoảng, thì đó là chứng cớ không chối cãi của hiện tượng căng thẳng xã hội. Tình trạng căng thẳng xã hội càng được nhìn rõ hơn, dù CSVN có cấm đoán thông tin báo chí đến đâu đi nữa, thì những em bỏ học vì đói nghèo cũng nhìn thấy những con cái của đảng ăn chơi phung phí ở những tửu lầu. Nhà nước thay vì tìm những biện pháp cứu đỡ dân nghèo, lại bỏ tiền của dân ra để “cứu“ những người giầu chơi Chứng khoán.

Khi mà 80% dân nghèo bị đẩy vào vực thẳm và khi họ ý thức đang bị đẩy xuống vực thẳm bởi bất công của CSVN, thì sự căng thẳng xã hội sẽ tự động chuyển sang một cuộc vùng dậy dành quyền sống, lật đổ một chế độ đã dùng đủ mọi ác độc để cướp bóc họ. Thực vậy, CSVN tuyên bố nền Kinh tế Tư do và Thị trường, nhưng thực chất đó vẫn là nền Kinh tế chỉ huy tập trung vào quyền lực Chính trị độc đảng.

Một số những Tư doanh và một số Trí thức đã hồ hởi hy vọng vào sự cởi mở Kinh tế sang Kinh tế Tự do vả Thị trường, nay đã chưng hửng và nhìn rõ rằng việc Khủng hoảng Tiền tệ/ Tài chánh/ Kinh tế hiện nay chính là do quyền lực Chính trị can thiệp vào mọi lãnh vực Kinh tế. Kinh tế gia Alain FAUJAS đã khẳng định như sau:”Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois ou vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit de plein fouet des prix arbitraires” (LE MONDE, Mercredi 31.10.2007, page 13) (Khi có xâm lấn chính trị (các đảng Cộng sản Trung quốc hay Việt Nam) vào thương mại, tài chánh và kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng tay những giá cả độc đoán). Đây là cái lý do chính của vật giá tăng vọt tại Việt Nam hơn bất cứ một nước nào khác.

Cuộc đột biến Chính trị phải đánh thẳng vào cái nguyên cớ chính này đang đẩy 80% dân chúng nghèo vào chỗ cùng cực.


Kết luận thứ hai:
Đặt nền tảng phát triển Kinh tế bền vững:
Triệt để Tôn trọng Tư hữu

Ơû đoạn trên, chúng tôi nói đến việc quần chúng đói nghèo phải đạp đổ nguyên cớ chính đang gây ra Khủng hoảng Tiền tệ/ Tài chánh/ Kinh tế mà dân phải chịu. Nếu chỉ nói là đạp đổ không, có thể có người công kích chúng tôi rằng chỉ phá mà không xây dựng.

Trong những năm trước đây, chúng tôi đã viết những loạt bài về xây dựng một nền Kinh tế bền vững. Chúng tôi đã nhất thiết chủ trương rằng để có thể xây dựng một nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự, thì phải triệt để TÔN TRỌNG TƯ HỮU.

Thực vậy, TƯ HỮU là cái quyền tự nhiên của bất cứ những sinh vật tìm nuôi sống thân xác mình. Việc tôn trọng tư hữu đưa đến những kết quả phát triển Kinh tế bền vững sau đây:

=> Tư hữu hàm ngụ TỰ DO (Libre entreprise) cá nhân xử dụng những phương tiện kiếm sống. Nếu không cho tự do xử dụng, thì không thể nói được là tư hữu.

=> Khi nói đến tự do kiếm sống, điều ấy cũng có nghĩa là nhà nước không được quyền xử dụng quyền Chính trị trực tiếp hay Tổ chức Kinh tế quốc doanh gián tiếp can thiệp hoặc ngăn chặn những sinh hoạt Kinh tế cá nhân. Các Kinh tế gia cổ điển Anh đã đặc biệt nhấn mạnh đến Nhà Nước chỉ là Cảnh sát (Etat Gendarme) hoặc phải Trung lập (Etat neutre).

=> Tư nhân làm Kinh tế sẽ tránh được Lãng phí, một trong những yếu tố làm đổ vỡ các Công ty. Tư nhân không tiêu tiền như tiêu tiền chùa. Họ biết căn cơ, chắt bóp. Hãy đọc câu ngạn ngữ Kinh tế:”Kiếm tiền đã khó, mà tiêu tiền còn khó hơn”. Tiêu tiền theo ý nghĩa Kinh tế ở đây là phải tính số lợi nhuận thu vào trước khi tiêu một mòn tiền. Đây là tư cách thiết yếu trong Tài chánh, trong việc đầu tư. Những cơ quan Nhà Nước không có sự tính toán căn cơ này.

=> Năng suất của Tư doanh chắc chắn cao hơn năng suất của Quốc doanh. Hãy lấy tỉ dụ đơn giản của nông nghiệp Nga với Soukhoz và Kolkhoz. Hiệu năng thấp kém, Nga phải giao cho tư nhân một mảnh ruộng nhỏ riêng, một con bò sữa tư nhân. Người ta thấy rau cỏ mọc xanh tươi ở những mảnh ruộng riêng này, trong khi đó cây cỏ khô héo ở những thủa ruộng nhà nước. Con bò của tư nhân béo mập, mang bọng sữa đầy tròn, trong khi ấy con bò quốc doanh gày còm, không còn sữa cho cán bộ uống. 

=> Khi tư nhân làm Kinh tế, người ta có sự phân phối những nguy hiểm kinh tế, tài chánh (Diversification des risques économique et financier). Đây là yếu tố quan trọng để giữ sự bền vững phát triển của Kinh tế. Có những cái thua, có những cái ăn. Hơn bù kém để giữ vững sự phát triển Kinh tế.

=> Để cho những quyền lợi Kinh tế tư nhân chế tài, điều động sự cân bằng Kinh tế chung, nhất là ở những Thị trường. Nhà Nước Xã Hội chủ nghĩa thường nại ra những lý do để can thiệp vào các Thị trường như đặt giá trần nhà (Prix plafond) hay giá sàn nhà (Prix plancher). Theo phần lớn các nhà Kinh tế, thì bất cứ trường hợp can thiệp nào của Nhà Nước (Interventions Etatiques) đều làm phát sinh Chợ Đen, đầu cơ, nhất là tạo ra những Chi tiêu xã hội (Couts sociaux) mà chính người dân phải đóng góp để trả dù không tiêu thụ món hàng đó. Thà để những ai tiêu thụ món hàng đó phải trả cao hơn, thì có công bằng xã hội hơn là chủ trương của Xã Hội chủ nghĩa. Hãy để cho Kinh tế tự điều chỉnh Kinh tế. Khi Chính trị điều chỉnh Kinh tế trực tiếp với quyền lực độc đoán, thì thế nào cũng xẩy ra hối lộ, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi. Trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, với Thông tin nhanh chóng ngày nay, những độc quyền mua hay bán của tư nhân không nguy hiểm bằng độc quyền của quốc doanh với quyền lực chính trị độc tài hỗ trợ.


Kết luận thứ ba:
Nguyên tắc Dân chủ là hậu quả

Trong tuần trước đây, trước những giao động về Kinh tế, có người đặt ra vấn đề Chính trị trước hay Kinh tế trước. CSVN thì nhất thiết nhấn mạnh rằng Xã hội phải có trật tự trước để có thể phát triển Kinh tế.

Về vấn đề Chính trị trước hay Kinh tế trước, thì chúng tôi xin góp ý như sau. Đối với đại đa số dân chúng chân lấm tay bùn, làm thuê làm mướn vất vả, thì có lẽ họ không có thời giờ đấu tranh chính trị trước khi phải kiếm cấp bách phương tiện làm cho bụng khỏi đói. Giả thử nếu có một nền Dân chủ theo ý nghĩa Chính trị, thì từ nền Dân chủ này tiến sang kiếm ăn no đủ, cũng chưa tất yếu là hậu quả. Tuy nhiên, nếu họ kiếm ăn được no đủ rồi, thì họ phải bảo vệ lấy miếng ăn. Sự bảo vệ này buộc họ phải đi đến một nguyên tắc chung để ngăn chặn những xâm phạm, những lạm quyền ăn cướp bất công những gì do mồ hôi họ làm mới có. Họ cùng nhau quyết định việc giải quyết, đó là nguyên tắc Dân chủ đồng thuận tương đối.

CSVN luôn luôn nhấn mạnh đến trật tự Chính trị. Thực ra đây là câu nói để họ đàn áp tất cả những ai chống đối lại quyền độc tài của họ. Họ kết án những ai chống đối dưới chiêu bài tuyền truyền cho dân rằng những người này phá rối trật tự làm ăn. Trong thời kỳ các Mặt Trận Giải Phóng nổi lên khắp nơi do Cộng sản quốc tế chủ trương, thì đường lối của các Mặt Trận này là làm xáo trộn tình trạng làm ăn của dân chúng để họ có thể tuyên truyền với dân rằng Chính thể hiện hành không nghĩ đến phát triển Kinh tế. Hãy nhớ lại thời kỳ Mặt Trận GPMN (trá hình của CS Miền Bắc) đã đặt mìn tại các Chợ, đào hố phá hệ thống giao thông chuyên chở hàng hóa, chặn đường cướp bóc các Xe Đò, thậm chí đặt chất nổ tại các Trường Học, các Rạp Chiếu bóng. Chính họ chủ trương phá hoại, gây bất ổn trật tự, làm thiệt hại Kinh tế.

Quan điểm của chúng tôi là khi đại đa số quần chúng đói nghèo, vốn dĩ nghĩ đến việc làm ăn trước Chính trị, đứng lên đấu tranh dành lại quyền Tư hữu, quyền Tự do làm ăn không có việc can thiệp trực tiếp của Chính trị, thì nguyên tắc Dân chủ tất nhiên phải có để giải quyết những tranh chấp giữa những tác nhân Kinh tế và đặt Nhà Nước vào vị trí không được xâm phạm bất công đến lãnh vực làm ăn này.

Các nhà Kinh tế vẫn gọi rằng phía Chính trị chỉ là một Môi trường Chính trị-Luật pháp (Environnement Politico-Juridique) cho đời sống Kinh tế. Nhà Nước tạo những điều kiện hay chỉ đạo (conditions ou directives) để tư nhân làm Kinh tế, nhưng Nhà Nước không làm trực tiếp Kinh tế với quyền lực Chính trị của mình.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 12.03.2008
=========================


                                         TĂNG TRƯỞNG KT 8.5%:
                                   HỌC SINH BỎ HỌC KIẾM SỐNG



                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




Tôi bắt đầu dậy học từ năm 1960 sau khi xong Tú Tài II. Nếu có ai nghi ngờ, thì xin hỏi Giám mục NGUYỄN CHÍ LINH hiện nay, Giáo phận Thanh Hóa, thì Ngài sẽ nói rằng Thầy Liên và Thầy Hiệp đã dậy Ngài từ năm 1960.

Cuộc đời của tôi vừa dậy học kiếm cơm, vừa học Đại học.

Tại Aâu châu này, sau khi học xong Đại Học, tôi lại theo nghề dậy học trên 30 năm nay. Như vậy là gần nửa Thế kỷ dậy học. Tôi đã đến tuổi về hưu. Nhưng người ta vẫn muốn tôi dậy, nên tôi tiếp tục với những giờ giới hạn vì thấy mình cần phải tiếp tục với giới trẻ để đỡ ủ rũ mà chết sớm.

Về vấn đề học hành, tôi thường nói với giới trẻ rằng :”HÃY HỌC ĐỂ BIẾT CUỘC ĐỜI, ĐỂ KIẾM SỐNG CHO THÂN XÁC MÌNH, NHƯNG QUAN TRỌNG HƠN CẢ LÀ ĐỂ HIỂU BIẾT NHỮNG LÝ DO MÌNH BỊ ĐAU KHỔ NHẤT VỀ CẢ VẬT CHẤT LẪN TINH THẦN”. Thực vậy, khi mình đau khổi vì thiếu ăn, vì tinh thần dằn vặt mà không hiểu lý do, đó là tội nghiệp nhất.

Chính vì vậy mà khi đọc tin hơn 100’000 trẻ em Việt Nam phải bỏ học vì bụng đói quá, tôi rất đau đớn.

CSVN ca tụng tăng trưởng Kinh tế 8.5% mỗi năm, nhưng cho ai ? Cho đảng, cho nhưng kẻ đút lót tham nhũng để lấy đặc quyền khai tác Nhân lực và Tài nguyên Việt Nam. Những kẻ đó tiêu xài từ tửu lầu này đến những Nhà Hàng Cao cấp ứ họng kia.

Tại sao Nhà Nước cứu những kẻ giầu tại Thị trường Chứng khoán mà không cứu những em phải bỏ học để lượm bao ny-lông bán mỗi ngày kiếm chưa được bữa ăn.

Tôi thù CSVN là ở chỗ cụ thể nhân sinh đó.


Học sinh chính là "nạn nhân" 
TS Mai Ngọc Luông
 
HS bỏ học nhiều vì chính bản thân các em cũng như gia đình các em nhận thức rằng: đi học không giúp ích được gì cho cuộc sống của mình. Chương trình bậc phổ thông hiện nay thiên về tính hàn lâm, lý thuyết suông và 2/3 kiến thức trong sách giáo khoa thuộc dạng kiến thức vô bổ. Thế nhưng HS vẫn phải học để đối phó với các kỳ thi. Vì vậy, sau khi thi xong là các em quên hết, chữ thầy trả lại thầy chứ kiến thức không biến thành kỹ năng sống, không mang lại lợi ích cho người học.

Ai cũng biết chương trình bậc phổ thông hiện nay quá nặng, quá ôm đồm, cái gì người ta cũng muốn đưa vào. Ngay từ những năm đầu của thời cắp sách đến trường, các em đã không theo kịp chương trình nhưng người ta vẫn cho các em lên lớp đều đều. Kiến thức cơ bản đã không nắm được, càng lên lớp cao các em càng đuối sức, không thể tiếp thu kiến thức mới nên chán nản, bỏ học. Trong chuyện này, nạn nhân chính là HS.

Có ai tự hỏi tại sao HS của chúng ta hiện nay không có động cơ học tập không? Vì có ai dạy và định hướng cho các em đâu. Nếu thử làm một cuộc khảo sát xem HS đi học để làm gì, tôi đoán hầu hết các em sẽ trả lời "học để thi vào đại học" chứ ít em biết trả lời "học để biết, để làm".

Thêm một nguyên nhân sâu xa nữa của tình trạng bỏ học hàng loạt là giáo dục ở vùng khó khăn (vùng núi, vùng sâu, vùng xa) chưa được Nhà nước quan tâm và đầu tư đúng mức. Cứ thử vẽ lên một bức tranh về giáo dục ở vùng khó khăn mà xem: trường lớp xập xệ, tạm bợ, xuống cấp, thiếu trang thiết bị dạy học; HS thì quá nghèo, cơm ăn không đủ no, áo không đủ mặc, sau giờ học phải đi làm kiếm sống; đường đi học thì quá gian nan. Bên cạnh đó, đời sống giáo viên cũng rất khó khăn.

Hậu quả của việc HS bỏ học rất tệ hại mà chúng ta không thể lường hết được. Nó sẽ tác động xấu đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước nói chung và địa phương có HS bỏ học nói riêng. Thậm chí, ở những địa phương này còn bị khủng hoảng gọi là khủng hoảng cộng đồng. Vì một số lượng lớn thanh niên của địa phương không có tri thức kéo theo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, cuộc sống nghèo khó. Không có tri thức rất dễ sinh nhiều con, ảnh hưởng của sự gia tăng dân số. Còn sự nghèo khó rất dễ dẫn người ta đến con đường phạm tội, làm ăn phi pháp.

Các cấp quản lý cần thực hiện những giải pháp căn cơ, lâu dài chứ không phải chỉ đưa ra vài biện pháp tình thế rồi đâu lại vào đấy. Trước hết, cần phải xác định triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục cho từng cấp học ở từng giai đoạn. Không thể để HS miền núi học các bài giống như HS ở Q.1, TP.HCM được. Chương trình "cứng" chỉ cần 30-70%, còn lại hãy để các địa phương chủ động dạy cho HS những kiến thức, kỹ năng cơ bản nhất để đáp ứng thực tiễn sinh hoạt, cuộc sống ở vùng, miền đó. Việc này cần làm ngay nếu như chúng ta không muốn đào tạo nên những con người chỉ biết lý thuyết suông, không thích ứng được với sự phát triển của xã hội.

Tiến sĩ Mai Ngọc Luông (phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Hội Khoa học - tâm lý TP.HCM)







=========================
pho bien/ publication 10.03.2008
=========================


                                      DÂN NGHÈO CÙNG CỰC 
                                          VÌ KHỦNG HOẢNG
                                        KINH TE/ TAI CHANH


                               Lạm phát ở Việt Nam: ai lãnh búa?


                            Roger Mitton/ Nguyên Hân chuyển ngữ
 


(NGUYỄN PHÚC LIÊN chú thích: Vật giá tại Việt Nam tăng cao hơn gấp bội các nước khác. Tại sao ? CSVN đang  ngược ngạo cắt nghĩa để bịp bợm dân chúng. Theo các Chuyên gia Kinh tế như Giáo sư Florin AFTALION, Alain FAUJAS và Pierre-Antoine DELHOMMAIS, thì (1) đó quyền lực Chính trị Việt Nam đã nắm trọn Kinh tế/Tài chánh, đồng thời (2) làm lạm phát Tiền tệ (Valeur nominale) ăn cườp giá trị tiền thực (Valeur réelle) của Dân chúng.
Xin xem cắt nghĩa chi tiết trong Bài 11 Chủ để Khủng Hoảng Tài chánh đăng kèm dưới đây)



Lạm phát ở vùng đông Á châu
ảnh hưởng Việt Nam trầm trọng nhất.
 
HÀ NỘI - Muốn đo lường xem nền kinh tế đang phát triển tốt đẹp ở Việt Nam ảnh hưởng đến người dân như thế nào thì cứ việc ra chợ ở vùng ngoại ô thành phố hay làng quê là biết. Co rút lại vì lạnh, người đi chợ trông đăm chiêu và gấu ó lượn qua lượn lại tìm tòi món hàng vừa gía để mua. Họ là đám đông thầm lặng lớn lao nhất của 85 triệu người dân Việt Nam: những người thợ làm việc ăn lương công nhật ở các công xưởng, những người tài xế, thợ nề thợ hồ và dân lao động chân tay, những người vợ đang làm việc và người về hưu, những cái đám quần chúng với thân phận thấp hèn này và công nhân viên nhà nước. Và họ chẳng vui lòng tí nào, mặc dầu nhiều mặt hàng thực phẩm đang bày bán. Chuyến tàu suốt chuyên chở nhiều hứa hẹn là nền kinh tế Việt Nam đang phát triển tốt đẹp ở Việt Nam tuồng như bỏ họ lại bên đường không thèm đếm xỉa đến.
 
Họ là những người như cô Nguyễn Thị Hoa, 28 tuổi, điển hình cho một người mẹ trẻ làm việc cần cù, vất vả sáu ngày một tuần ở một công ty dệt ở Hà Nội với đồng lương 70 đô-la một tháng. Chồng cô ta là công nhân ở một nhà máy lắp ráp truyền hình với lợi tức 80 đô-la một tháng. Với đồng lương 150 đô la một tháng cho hai vợ chồng, họ phải trả 60 đô la tiền giữ trẻ và tiền sữa và thực phẩm cho đứa con gái sáu tuổi.
 
Rồi sau khi trả tiền điện và tiền xăng cho xe gắn máy và những thứ cần thiết linh tinh khác, họ chỉ còn 30 đô-la để tiêu trong một tháng. Một đô-la một ngày cho hai người lớn đang làm viê.c.
 
Theo cô Hoa: “Bây giờ, tôi chỉ có thể mua ít thịt cho con gái thôi, chứ không đủ tiền mua cho chồng. Đôi khi tôi bật khóc vì thương chồng, mà không nấu nỗi cho chồng một bữa ăn cho ra hồn.”
 
 
Lực lượng thợ thuyền,
dân lao động chân lấm tay bùn
khốn đốn nhất với nạn lạm phát phi mã
đang xảy ra ở Việt Nam.

Nguồn: Reuters

Hoàn cảnh của họ không phải là một câu chuyện thương tâm hiếm hoi. Đó là chuyện ngày càng gia tăng cho tầng lớp lao động đại chúng trong xã hội Việt Nam, là những người bị tan gia bại sản vì nền lạm phát bất kham.
 
Việt Nam giờ có tỉ lệ lạm phát cao nhất vùng đông Á châu. Ở tỉ lệ 14.1 phần trăm (DCVOnline: con số mới nhất là 15.7%), nghĩa là cao gấp hai lần tỉ lệ lạm phát ở nước cạnh tranh gần nhất, Nam Dương (Indonesia), 7.4 phần trăm. Và hiện không có dấu hiệu gì cho thấy tỉ lệ lạm phát này sẽ dừng ở đây. Lạm phát ở Việt Nam tăng 2.4 phần trăm tháng rồi và nó sẽ tăng lên nữa trong tháng này.
 
Không phải chỉ có người dân lao động chân lấm tay bùn và công nhân hãng xưởng là bị thấm đòn vì chuyện lạm phát này, mà ngay cả thành phần chuyên gia cũng nổi đóa vì công sức học hành ở đại học không giúp họ nhiều để họ có được một lợi tức tương đối cho một đời sống thư thả. Cô giáo Nguyễn Thu Phương ở Hà Nội, 35 tuổi, lương tháng 150 đô-la, nói: “Một năm trước, tôi có thể chuẩn bị một bữa ăn bốn món ngon lành cho gia đình. Giờ thì chỉ nấu hai món thôi cũng đã khó cho tôi rồị”
 
Ngay cả cựu phó thủ tướng vốn được kính trọng Vũ Khoan cũng lên tiếng trong một tờ báo địa phương rằng tiêu chuẩn sống căn bản của ông cũng xuống cấp. Ông cho hay: “Vợ tôi than phiền gía cả đắt đỏ mỗi một khi bà đi chợ. Tôi tự nhận thấy điều đó và chúng tôi phải tiết kiệm lạị”
 
Ngay ở Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở trung tâm thương mãi đang phát triển của miền Nam, gía thực phẩm nhảy vọt 24 phần trăm so với tháng Một năm rồi. Và giá cả những mặt hàng cần thiết khác như điện, nước và xăng dầu đã tăng 17 phần trăm trong năm qua. Anh Nguyễn Thế Hải, 25 tuổi, một công nhân ở một nhà máy kỹ nghệ của Nhật Bản nằm gần thành phố Hồ Chí Minh, còn độc thân và chia phòng với nhiều người bạn để sống thu vén tằn tiện với đồng lương của mình.
 
Anh nói: “Khi tôi bắt đầu làm việc ở đây, lương tôi là 56 đô-la một tháng. Bây giờ, sau ba năm làm việc, tôi lãnh 68 đô-la. Nhưng trong khi lương tôi tăng chút chút, thì tiền nhà và tiền ăn uống cũng như xăng cộ tăng vọt lên 50 phần trăm.”
 
Gía cả bất động sản thì lên gần đụng trời, khi chủ bất động sản lợi dụng sự thiếu thốn từ nguồn cung cấp và nhu cầu đòi hỏi nhảy vọt gây nên bởi người từ thôn quê đổ về thành thị kiếm việc làm với hy vọng là có đồng lương khá hơn. Người thuê nhà thường bị chủ nhà cho hay khơi khơi là tiền thuê bị tăng gấp đôi, có khi gấp ba, ở được thì ở, còn không thì lo cuốn gói mà đi. Và cái hợp đồng thuê mướn nhà bao giờ cũng chứng minh một cách bất biến là gía trị của nó không bằng một miếng giấy lô.n.
 
Theo anh Hải: “Tôi đã từng hy vọng rằng với sự phát triển kinh tế tốt đẹp mà qúy vị đã từng đọc trên báo chí, tôi sẽ có thể có dư tiền để gởi về quê cho ba mẹ đang gìa yếu của tôi. Nhưng giờ đây đồng lương tôi làm không đủ cho nhu cầu hằng ngày của tôi nữa”
 
 
Mười voi có được mấy chút nước sáo
khi nền kinh tế tăng trưởng 8.5 phần trăm hằng năm
mà đại chúng lao động cùng đinh vẫn tiếp tục
cuộc sống "vắt mũi bỏ miệng".

Nguồn: DCVOnline

Một cách chính thức, nạn lạm phát này là một sự hội tụ nhiều yếu tố khó khăn nhập la.i. Bao gồm gía xăng dầu tăng, thặng dư ngoại tệ, đòi hỏi tăng lương, dồn dập hàng hóa nhập cảng đắt tiền, sự mất cân bằng cán cân mậu dịch ngày càng tồi tệ hơn - Việt Nam nhập cảng nhiều hơn xuất cảng nhiều  mùa màng thất thoát vì thiên tai bão táp, và bệnh gia cầm và heo long móng kéo dài.
 
“Chuyên viên chữa lửa của chính phủ” đổ thừa cho cả tá lý do, nhưng họ vẫn không làm nguôi ngoai được những người thợ sống ngắc ngoải với đồng lương chết đói của họ trong tuyệt vo.ng.
 
Nhưng cuối cùng rồi, các nước khác như Nam Dương (Indonesia), Thái Lan (Thailand) và Phi Luật Tân (Philippines) cũng có chung vấn nạn cơ mà, nhưng có điều tỉ lệ lạm phát của họ thấp hơn - chỉ bằng nữa tỉ lệ lạm phát Việt Nam.
 
À ha, nhưng bởi những nước này có một nền kinh tế phát triển ở cấp cao hơn - đây là luận điệu lý sự chủi cùn thường nghe.
 
Vậy thì Cam bốt (Cambodia), Lào (Laos) và ngay cả Trung Quốc cũng có cùng mức độ phát triển như Việt Nam nhưng tại sao gía cả ở các nước đó tăng nhanh chỉ bằng một nữa của Việt Nam. Điển hình, tỉ lệ lạm phát của Trung Quốc là 6.5 năm rồi.
 
Ngay cả báo chí của nhà nước cũng mất dần sự kiên nhẫn. Một bài báo mới đây của nhật báo bán chạy nhất nước là tờ Thanh Niên đã tường thuật rằng “những biện pháp nhà nước dùng để kiểm soát gía cả nhảy như ngựa phi đã cho thấy là không hiệu qủa, nó thụ động và khập khễnh trong nền kinh tế thị trường đang hội nhập.”
 
Điều đó có nghĩa, cấp Bộ đã có những bước để ngăn chận nguồn cung cấp tiền, đóng nút không cho tăng gía thực phẩm và xăng dầu, cấm tạm thời xuất cảng gạo để gia tăng mức độ cung cấp trong nước và cố gắng kìm gía xuống.
 
Nhưng cần làm nhiều hơn nếu muốn ghìm lại sự bất bình của công chúng ngày càng tăng.
 
 
Người dân lam lũ buôn bán ve chai
kiếm miếng ăn qua ngày.

Nguồn: AFP

Hôm 1 tháng Một đầu năm nay, lương tháng tối thiểu cho nhân viên nhà nước được tăng từ 28 đô-la lên đến 34 đô-la, và cho những người làm cho các công ty ngoại quốc, thì được tăng từ 34 đô-la lên đến 44 đô-la mỗi tháng.
Tuy nhiên, tuồng như những điều đó chỉ là một cái gì đó qúa nhỏ nhoi, qúa muộn màng và (như là hậu qủa) ngay sau đó là một sơn sốt đình công liều mạng của công nhân đi theo.
 
Cô giáo Nguyễn Thanh Mai, 27 tuổi ở vùng tây bắc Điện Biên Phủ nói: “Tiền lương tăng nhỏ giọt tôi được năm rồi không chạy kịp với gía cả leo thang, nên cái tôi được thì chẳng bao nhiêu mà cuối cùng rồi thì tệ lậu hơn.”
 
Do có tính đồng cảm, công nhân hùng hổ đình công đồng loạt tháng rồi trên toàn quốc, yêu cầu tăng lương và điều kiện được cải thiện để đối phó với tiền thuê nhà và giá cả mọi cái tăng vùn vu.t.
 
Đa số các cuộc đình công được giải quyết sau khi lương được tăng tương đối khiêm tốn, nhưng điều đó được xem như một biện pháp xì hơi tạm thời nhằm ngăn chận sự bùng nỗ khi sự lạm phát không gia giảm và đám dân lao động cùng đinh tiếp tục than thở cái mức sống của họ ngày càng xuống cấp.
 
Theo cô Phương: “Thời buổi này, chồng tôi không có đủ tiền để đưa chúng tôi đi ăn ngoài như anh ấy thường làm. Khi các con nhỏ đòi chuyện này, anh ấy nói là chúng ta phải tiết kiệm hay sẽ bị chết đói. Đời sống hôm nay ngày càng khốn khổ.”








=========================
pho bien/ publication 09.03.2008
=========================


                                                 CSVN SỢ HÃI
                                        VÌ KHỦNG HOẢNG KTTC


                     Khủng hoảng kinh tế làm rúng động nhà nước CSVN

                                Roger Mitton. Straits Times 08/3/08

Nhà nước huỷ bỏ một cuộc hội thảo về đầu tư giữa những lo ngại về nạn lạm phát,
cổ phần chứng khoán và cán cân thương mãi bị thâm thụt
 
Để ngăn chặn nạn lạm phát,
nhà nước đã ra lệnh hạn chế bớt lưu lượng tiền mặt ngoài thị trường
 

Hà Nội

Trong một phản ứng bất ngờ, chế độ cộng sản cầm quyền tại Việt Nam đã buộc phải huỷ bỏ một cuộc hội thảo quan trọng về đầu tư vào tuần tới ở trong nước. Ban tổ chức cuộc hội thảo thường niên lần thứ 3 của Euromoney Vietnam Investment Forum, dự trù sẽ bắt đầu vào Thứ Ba, nói rằng họ không còn cách nào khác và đành phải chấp hành theo lời yêu cầu của nhà nước không tiến hành buổi hội thảo này.

Ông Paris Shepherd, giám đốc điều hợp của khu vực Á Châu - Thái Bình Dương trong ban tổ chức nói rằng: “Vì có một sự kết hợp giữa những quan ngại cấp thiết của kinh tế vĩ mô và vi mô, cho nên nhà nước Việt Nam đã yêu cầu cơ quan Euromoney tạm hoãn lại cuộc hội thảo của diễn đàn đầu tư Việt Nam trong năm nay”.

Ban tổ chức cho biết cuộc hội thảo sẽ được dời lại đến tháng Chín, nhưng việc huỷ bỏ này là dấu hiệu mới nhất cho thấy cơn lốc kinh tế đã làm rúng động nhà nước Việt Nam, khiến cho họ có vẻ lưỡng lự và mâu thuẫn khi phải đối phó với một đống những diễn biến tiêu cực

Từ khi năm mới bắt đầu, thì Hà Nội đã bị ảnh hưởng nặng nề vì nạn lạm phát lộng hành, cán cân thương mãi càng ngày càng bị thâm hụt khủng khiếp và thị trường chứng khoán bị xụp đổ.

Tỷ lệ lạm phát 15.67 phần trăm của Việt Nam là con số cách xa và cao nhất trong khu vực Ðông Á, ngay cả các quan chức nhà nước bây giờ cũng thừa nhận rằng nạn lạm phát sẽ còn tồi tệ hơn nữa trước khi nó khá hơn.

Nếu như điều đó chưa đủ tai hại thì nhà nước lại tiết lộ rằng cán cân thương mãi bị thâm hụt của Việt Nam tăng vọt lên con số khủng khiếp 4.2 tỷ Mỹ kim chỉ trong vòng 2 tháng đầu năm nay.

Con số thâm thủng của cán cân thương mãi cho cả năm 2006 chỉ có 4.8 tỷ Mỹ kim, và năm ngoái con số này bò lên đến 12.4 tỷ Mỹ kim. Các quan chức của Bộ Công nghiệp Thương Mại đang mong ngóng rằng nó sẽ vượt lên 17 tỷ Mỹ kim trong năm nay.

Theo Phó Bộ trưởng Nguyễn Thành Biên thì: “Cái khoảng cách của cán cân thương mãi đã tiến đến một mức báo động”.

Cộng thêm vào những lo ngại này, nhà nước còn bị ảnh hưởng vì thị trường chứng khoán bị xụp đổ.

Việt Nam bây giờ có một thị trường cổ phần sụt giảm nghiêm trọng nhất tại Á Châu. Chỉ số cổ phần chính thức rơi xuống còn có 583 điểm vào hôm Thứ Tư (05/3/08), gần phân nửa con số 1173 điểm mà chỉ số đã đạt được vào hồi Tháng Ba năm ngoái.

Có những hoàn cảnh thê thảm tại thị trường chứng khoán với những tay đầu tư chứng khoán, đi mượn tiền để mua cổ phần rồi bây giờ không thể trả được nợ hoặc tìm được người mua lại cổ phần, phải giao toàn bộ cổ phần của họ cho ngân hàng và bị cháy túi.

Sự xụp đổ của thị trường chứng khoán được chặn đứng một cách muộn màng vào hôm Thứ Năm (06/3/08) khi bộ phận đầu tư của nhà nước phát động một biện pháp trước đây chưa bao giờ có là mua lại các cổ phần địa phương.

Người dân thì đổ thừa nhà nước và cho rằng nhà nước trong khi theo đuổi một cách bừa bãi hỗn độn để có một sự tăng trưởng kinh tế cao, đã không lường trước được tác động của việc Việt Nam gia nhập vào WTO, cũng như không tiên liệu được việc gia tăng giá cả dầu thô và sự bộc phát trong vấn đề nhập cảng.

Hồi đầu năm nay, nhà nước đã cho tăng mức lương tối thiểu để làm hài lòng những công nhân có lợi tức thấp bị ngất ngư vì giá cả tăng vọt. Nhưng mức lương được tăng vẫn kém xa tỷ lệ lạm phát, cho nên giới công nhân cuối cùng thì vẫn bị thiệt thòi.

Từ kết quả đó, hiện đang có một tình trạng bất ổn càng ngày càng gia tăng trong giới lao động trên toàn cõi đất nước. Hôm Thứ Tư tuần trước, 10 ngàn công nhân của một xí nghiệp sản xuất giày Nike của chủ Nam Hàn ở gần TP/HCM, đã đình công đòi hỏi mức lương cao hơn để bắt kịp với giá cả đang gia tăng. Khoảng 5 ngàn người khác cũng đình công tại một công ty của Nhật Bản ở Hải Phòng.

Giáo viên Nguyễn Thu Phương, một người bị ảnh hưởng nặng nề bởi giá cả thị trường gia tăng, đã nói rằng: “Mọi người đều hiểu rằng nhà nước phải chịu trách nhiệm. Họ cho tăng mức lương tối thiểu nhưng lại sao lãng không đưa ra những biện pháp mạnh để kềm chế giá cả gia tăng”.

Giá thuê mướn nhà cửa cũng tăng vọt qua khỏi mái và Việt Nam hiện nay được xếp vào hàng thứ 5 là nơi có các vị trí văn phòng đắt đỏ nhất tại Á Châu.

Trong một dự tính quyết liệt để ngăn chặn nạn lạm phát, nhà nước đã ra lệnh cho các ngân hàng địa phương phải gia tăng lãi xuất và hạn chế bớt lưu lượng tiền mặt ngoài thị trường.

Nhưng sự thiếu hụt bất ngờ của đồng bạc Việt Nam, là đơn vị tiền tệ địa phương, đã làm ngán ngẩm các doanh nhân và cư dân ngoại quốc, cũng như khách du lịch, làm họ gặp khó khăn khi muốn đổi từ tiền đô la sang tiền Việt Nam.

Cái hậu quả là hiện đang có một cảm nhận cho rằng đội ngũ kinh tế của chế độ và ngân hàng trung ương của họ thiếu sót khả năng để tiên liệu chiều hướng kinh tế và đưa ra những biện pháp chắc chắn để chặn đứng những khó khăn sẽ xảy ra bất ngờ khi đất nước chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường.

Ngay cả các cơ quan truyền thông báo chí quốc doanh cũng đăng tải những tường thuật về việc thiếu sót rõ ràng sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với nhau, và cũng có những phê bình đối với việc ngân hàng trung ương kềm chế lưu lượng tiền mặt đã không đi đôi với việc giảm thiểu sự chi tiêu của nhà nước.

Thật vậy, nhiều người nói rằng hiện đang có một sự tranh giành ảnh hưởng trên tầng lớp lãnh đạo, giữa các bộ trưởng muốn tiếp tục kêu gọi cho sự tăng trưởng kinh tế cao, và những người thúc giục nên đặt ưu tiên cao hơn cho việc chống lạm phát.

http://tiengnoitudo danchu.org/ vn/modules. php?name= News&file=article&sid=5579 

 

Economic turmoil
rattles Viet government

It cancels an investment forum amid worries over inflation, stocks and trade imbalance
By Roger Mitton. Straits Times 08/3/08

HANOI - In an astonishing move, the ruling communist regime in Vietnam has enforced the cancellation of a major conference next week on investment in the country. Organisers of the 3rd annual Euromoney Vietnam Investment Forum, scheduled to begin on Tuesday, said they had no option but to comply with the government's request not to hold the event.
 
Said Mr Paris Shepherd, the organiser's associate director for the Asia-Pacific: 'Owing to a combination of pressing macro and micro-economic concerns, the government of Vietnam has requested that Euromoney postpone this year's Vietnam Investment Forum.'
Organisers say the conference will be rescheduled for September but the cancellation is the latest sign that continuing economic turbulence has rattled the government, which has appeared indecisive and inconsistent in dealing with a raft of negative developments.

Since the year began, Hanoi has been hit by rampaging inflation, a catastrophically soaring trade imbalance and a collapsing stock market.

Vietnam's inflation rate of 15.67 per cent is by far the highest in East Asia and even government officials now concede that inflation will get worse before it gets better.
 
As if that was not bad enough, the government revealed that Vietnam's trade imbalance rose to a staggering US$4.2 billion (S$5.8 billion) for the first two months of this year.

The deficit for the whole of 2006 was only US$4.8 billion, and last year it crept up to US$12.4 billion. Ministry officials now expect it to top US$17 billion this year.

Said Deputy Industry and Trade Minister Nguyen Thanh Bien: 'The trade gap has reached an alarming level.'

On top of these worries, the government has been hit by a collapsing stock market.

Vietnam now has the worst-performing equity market in Asia. Its main share index fell to 583 points on Wednesday, close to half the level of 1,173 it reached last March.

There were harrowing scenes at the bourse as local punters, who had borrowed to buy stocks and now could not repay their loans nor find buyers, had to surrender all their holdings to the banks and were left penniless.

The market collapse was only belatedly stemmed on Thursday when the government's investment arm launched an unprecedented move to buy local shares itself.

Citizens blame the government and allege that in its pell-mell pursuit of high growth, it has not properly anticipated the impact of Vietnam joining the WTO, nor of the long foreseen uptick in oil prices and the upsurge in imports.

Earlier this year, the government had to increase the minimum wage to appease low-income workers devastated by price hikes. But the increase was far less than the inflation rate, so workers still ended up worse off.

As a result, there has been growing labour unrest across the country. Last Wednesday, 10,000 workers went on strike at a South Korean Nike plant near Ho Chi Minh City, seeking higher wages to keep pace with rising prices. Another 5,000 went on strike at a Japanese company in the port city of Haiphong.

Said school teacher Nguyen Thu Phuong, badly hit by price hikes: 'Everyone understands that the government is to blame. They increased the minimum wage but they neglected to take strong steps to contain rising prices.'

Rentals have also shot through the roof and Vietnam is now rated as the fifth most expensive office location in Asia.
 
In a drastic attempt to stem inflation, the government ordered local banks to raise interest rates and restrict the money supply.

But the sudden shortage of Vietnamese dong, the local currency, has spooked businessmen and foreign residents, as well as tourists who now find it difficult to change their dollars.

The upshot is a growing sense that the regime's economic team and its central bank lack the ability to foresee economic trends and take decisive steps to forestall problems which crop up as the nation moves to a market economy.

Even the state-controlled local media has carried reports about an apparent lack of ministerial coordination and there has been criticism that the central bank's curbs on money supply were not accompanied by cutbacks in government spending.

Indeed, many say there is a tussle at the top between those ministers who advocate continued high growth, and those who urge higher priority for fighting inflation.


Roger Mitton. Straits Times 08/3/08




=========================
pho bien/ publication 06.03.2008
=========================



                   CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH

                                                          Bài 11:

                                                       HẬU QUẢ:
                            DÂN CHÚNG NỔI DẬY LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN

 

Sự phân phối không đồng đều độ tăng trưởng Kinh tế làm cho giới nghèo càng nghèo thêm, nhất nữa họ phải chịu cảnh vật giá tăng vọt, đồng thời phải lãnh đồng lương với tiền đã mất giá. Cuộc khủng hoảng Tài chánh làm những Công ty sạt nghiệp. Số người thất nghiệp tăng vọt. Đây là những yếu tố Kinh tế/ Tài chánh buộc Dân chúng phải nổi dậy chống lại Chính quyền. Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố với báo Financial Times:“Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói)


                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

Đây là bài thứ 11 trong loạt 12 bài về Chủ đề: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH dựa trên những tài liệu nghiên cứu của Bà Francoise NICOLAS về cuộc Khủng Hoảng Tài chánh Á châu năm 1997 và dựa trên những bài nhận định của các Kinh tế gia như Giáo sư Florin AFTALION, Pierre-Antoine DELHOMMAIS, Alain FAUJAS về những nước bắt đầu phát triển trong đó có Trung Cộng và Việt Nam.

Bà Francoise NICOLAS đã nhấn mạnh đến những hậu quả của căng thẳng xã hội mang đến việc lật đổ chế độ độc tài lâu năm SUHARTO của Nam Dương. Những Kinh tế gia viết về những nước bắt đầu phát triển, đề cập đến tình trạng lạm phát, mất giá đồng tiền, khơi sâu hố cách biệt giầu nghèo khiến căng thẳng xã hội mà hậu quả là dân chúng nổi dậy. Các tác giả này đã mượn lời của Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp Quốc, nói về hậu quả lên Chính trị:” Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói)
 
Viết loạt bài chủ đề này, chúng tôi nhằm tìm ra những triệu chứng có thể đưa đến cho Việt Nam việc KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH/KINH TẾ. Viết đến bài gần chót của loạt bài chủ đề, thì một sự đột biến thực sự đã xẩy ra tại Việt Nam: CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH/KINH TẾ ĐÃ BẮT ĐẦU XẨY RA ĐÚNG CUỐI THÁNG 2 VÀ ĐẦU THÁNG 3/2008 NÀY.


Việt Nam: Vật giá tăng mạnh và cao hơn
bất cứ những những nước khác trong vùng

Quyền lực Chính trị Việt Nam có khuynh hướng cắt nghĩa cho Dân chúng rằng vật giá lên cao là hiện tượng chung, hậu quả của Khủng hoảng Tín dụng Sub-Prime Địa ốc Hoa kỳ và hậu quả của việc tăng giá quốc tế về Dầu Lửa. Nhấn mạnh những khía cạnh này, quyền lực Chính trị VN như muốn làm nhẹ đi cái lỗi của chính hệ thống Kinh tế điều hành bởi đảng CSVN.  Nhưng việc chữa lỗi không ổn bởi lẽ nếu Khủng hoảng Tài chánh Hoa kỳ và tăng giá Dầu lửa mang hậu quả chung cho Thế giới, thì tại sao chỉ có vật giá tại Việt Nam tăng cao gấp bội hơn các nước khác, ngay cả hơn Lào và Cao Mên.

Việc lạm phát gấp bội hơn các nước khác chính là do những cái lỗi đặc biệt của nền Kinh tế do đảng CSVN chủ trương. Chúng tôi phân tích những cái lỗi đặc biệt này để CSVN đừng tìm cách ăn gian nói dối với Dân chúng.

Nói về hiện tượng vật giá tăng, ngoài những lý do chung thông thường như tăng giá dầu lửa chẳng hạn, những tác giả đã nhấn mạnh đến việc Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế hoặc về giá cả hoặc về tiền tệ.

=> Vật giá tăng do can thiệp Chính trị vào Kinh tế

Kinh tế gia Alain FAUJAS đã khẳng định như sau:”Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois ou vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit de plein fouet des prix arbitraires” (LE MONDE, Mercredi 31.10.2007, page 13) (Khi có xâm lấn chính trị (các đảng Cộng sản Trung quốc hay Việt Nam) vào thương mại, tài chánh và kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng tay những giá cả độc đoán). Thực vậy:

* Những Công ty quốc doanh lãng phí nhiều, năng suất kém, thì giá thành phải cao và do đó giá bán tăng. Lý do ở đây là tính cách nhà nước của Công ty.

* Khi quyền lực Chính trị và quyền lực Kinh tế là một, thì không có cạnh tranh để có thể đưa đến hạ giá và nâng cao phẩm chất hàng hóa. Thậm chí, người ta có thể nói ngay đến việc đầu cơ của chính những Công ty quốc  doanh để tăng giá bù đắp vào những cắt xén lãng phí hoặc thu lợi riêng cho ban quản trị.

* Khi đề cập đến giá dầu lửa, Bộ trưởng Tài chánh Vũ Văn Ninh nói đến giá trần (prix plafond), nghĩa là Nhà Nước can thiệp (Intervention Etatique) vào giá cả Thị trường. Bất cứ can thiệp nào của Nhà nước đều làm phát sinh chợ đen và gây tốn phí xã hội (couts sociaux). Khi mà việc nhập cảng dầu lửa lại dành độc quyền cho Công ty quốc doanh nắm giữ, thì việc hối lộ lúc quyết định mua bán không thể không xẩy ra, rồi chợ đen, chợ cửa hậu phát sinh mà thiếu quyền lực chế tài.

Trên đây là những lý do tăng vật giá đặc biệt cao của Việt Nam vì quyền lực Chính trị, nhất là độc tài độc đảng, trực tiếp can thiệp vào Thương mại và Kỹ nghệ.


=> Vật giá tăng vì đồng tiền mất giá

Đây là phương diện lạm phát tiền tệ. Chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phải chấp nhận việc điều hành sai lầm của Ngân Hàng Nhà Nước VN về tiền tệ. Nhà Nước đã ra lệnh bơm vào khối lưu hành tiền tệ số lượng lớn làm cho đồng tiền Việt Nam mất giá. Đồng tiền mất giá có nghĩa là phải dùng nhiều tiền mới có được tương đương hàng hóa. Đó là vật giá tăng vì đồng tiền mất giá. Chúng tôi không gọi đây là việc điều hành sai lầm tiền tệ của Ngân Hàng Nhà Nước, mà chúng tôi thẳng thẳng nói rằng đây là việc chủ ý ăn cướp Kinh tế của Dân chúng phải đổ mồ hôi mới kiếm được đồng tiền chưa mất giá. Khi Dân đổ mồ hôi kiếm được đồng tiền với lượng hàng hóa thực tương đương, Nhà Nước đổ thêm tiền mới vào lưu hành, làm đồng tiền mất giá, đó là hành động ăn cướp mồ hôi của Dân chúng vậy. Đã từ lâu chứa không phải mới đây, Nhà Nước đổ tiền vào lưu hành bằng hai ngả:

* Ngả phát hành tiền tương lai (virtual money/monnaie virtuelle), tín dụng trung hoặc dài hạn (crédit à moyen ou long terme) qua các Ngân Hàng Thương mại hay bởi chính Ngân Hàng Nhà Nước cho các Dự án. Đó là việc thổi phồng việc lưu hành những phương tiện thanh toán ngân hàng. Những phương tiện thanh tóan ấy chờ đợi được làm đầy giá trị kinh tế thực của nó, nhưng tương lai dài không vững chắc, nhất nữa những cơ sở xây cất bị cắt xén chất lượng mà hư hại hoặc không được khai thác đúng mức kinh tế, khiến việc làm đầy giá trị kinh tế không làm được. Đồng tiền mất giá vì không mang giá trị kinh tế thực nữa.

* Ngả đổ lượng tiền mới trực tiếp vào lưu hành. Thực vậy, khi đổ lượng tiền Việt tương đương với 9 tỉ đo-la mới đây vào lưu hành, Nhà Nước thực sự đã ăn cướp trực tiếp giá trị đồng tiền thực do mồ hôi làm việc của Dân chúng. Chúng tôi đã viết một bài đặc biệt cắt nghĩa việc ăn cướp này, cắt nghĩa theo công thức đơn giản của Fisher: (MV)/T=P. Người ta có lý do nghi ngờ rằng trong năm vừa qua, Nhà Nước cũng đã có làm phương tiện ăn cướp trực tiếp tiền tệ này.

Dùng công thức Fisher để cắt nghĩa, một số độc giả chưa quen, trong số độc giả này có bà xã của tôi. Chúa Nhật vừa rồi, bà ấy lại hỏi tôi về việc mất giá đồng tiền VN với việc đổ vào lưu hành lượng tiền tương đương với 9 tỉ đo-la. Nhân tiện tôi đang nấu phở, nên lấy hình ảnh nồi nước phở để giải thích việc mất giá đồng tiền. Tôi nấu nồi nước phở chừng 4 lít nước. Tôi xử dụng 1 kí đuôi bò. 4 lít nước tương đương với 1 kí đuôi bò. Nước phở ngon tương đương với lượng đuôi bò.  Nhưng nếu có thêm đông người, tôi chơi gian và đổ thêm vào đó 2 lít nước lã nữa, thì nồi nước phở mất giá trị 50%. Húp một muỗm nước phở sau khi đã cho thêm 2 lít nước lã vào, người ta thấy nhạt hẳn đi vì nước phở mất giá trị tương đương chất béo ngọt của đuôi bò.

Giáo sư Florin AFTALION đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2) (... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)


Hậu quả Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế:
Dân nghèo nổi dậy đạp đổ quyền lực Chính trị bóc lột Kinh tế

Như trên chúng tôi vừa phân tích, vật giá tại Việt Nam tăng vọt, nhanh và mạnh hơn các nước khác là do sự xâm lấn độc đoán của quyền lực Chính trị độc đảng vào mọi lãnh vực làm ăn: Thương mại, Tài chánh và Kỹ nghệ.

Nhà Nước Việt Nam vẫn rêu rao là họ chủ trương nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Nhưng thực chất, đó là nền Kinh tế chỉ huy do độc đảng chính trị CSVN. Nền Kinh tế chỉ huy này còn tệ hơn là nền Kinh tế kế hoạch tập trung thời thịnh của Cộng sản. Thực vậy, ở thời thịnh của Cộng sản, dân chúng còn được bao cấp, nghĩa là được chia một phần thành quả Kinh tế. Nhưng ở thời Kinh tế chỉ huy độc đảng hiện nay, dân chúng không được bao cấp. Những thành quả của Kinh tế tập trung vào túi một số người thu nhỏ lại. Chính vì vậy, việc phân cách hố sâu giầu nghèo càng rõ rệt hơn:


=> Thành phần thu nhỏ bóc lột

Chúng tôi nói là thu nhỏ bởi vì lớp người bóc lột này không cần phải bao cấp cho dân, nghĩa là chia một phần Kinh tế cho dân chúng nữa. Những thành phần bóc lột này gồm

* Những người nắm quyền lực chính trị độc đảng và độc đoán. Lớp người chính trị này  trở thành giầu do tham nhũng. Khi xin đặc quyền Kinh tế, những người nắm quyền Chính trị không chấp nhận “gratis”, mà phải mua mới được: tham nhũng.

* Những Công ty quốc doanh điều hành Kinh tế được che chở bởi Chính trị hoặc chính họ là những người nắm quyền chính trị. Họ tùy nghi lãng phí, quyết định giá cả đầu cơ tích trữ, hưởng những đặc quyền đặc lợi Kinh tế.

* Những thành phần liên hệ, con cháu, họ hàng với quyền lực chính trị. Họ được che chở và hưởng những ưu tiên Kinh tế, Tài chánh, từ thuế khoá cho đến những phương tiện làm ăn nâng đỡ bởi chính Ngân sách của Chính phủ. Có thể có những Công ty ma, chỉ bán những quotas thương mại.

* Những thành phần nước ngoài cho quyền lực chính trị tham nhũng để khai thác nhân lực và tài nguyên Việt Nam. Lớp người này ưa chuộng một chế độ độc tài để họ dễ bề sai khiến khi đã đấm miệng cho quyền lực chính trị một số tiền. Họ sung sướng khi thấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký hai Nghị Định cấm Đình Công để họ có thể yên trí khai thác Nhân lực Việt Nam. Nhà nước độc tài CSVN được họ trả lương để canh gác trật tự Nhân lực mà họ đang khái thác, bóc lột.

Việc tăng vật giá, nhất là cho những đồ ăn, khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế không có ảnh hưởng đến lớp người giầu có này, nhất nữa khi mà một phần tài sản cướp dựt được đã được chuyển ra cất giữ tại nước ngoài.


=> Đại đa số Dân nghèo càng nghèo thêm

Lạm phát, đồng tiền mất giá, khủng hoảng tài chánh/kinh tế làm cho nông dân, công nhân, tiểu tư doanh lãnh hậu quả, nghĩa là đã nghèo càng nghèo thêm

* Nông dân chiếm 70% dân số. Đà phát triển chỉ có 3.5%. Những hạng tầng cơ sở kinh tế nông thôn bị quên lãng.

* Công nhân lĩnh lương cố định bị chịu cảnh vật giá tăng đồng thời với đồng tiền mất giá. Những bảo hiểm nghề nghiệp, sức khoẻ... không được bảo đảm. Họ cũng phải hứng chịu khả năng thất nghiệp có thể xẩy ra khi Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh lan rộng.

* Những tiểu tư doanh có thể tiến đến cảnh phá sản. Khủng hoảng tài chánh làm cho việc vay vốn khó khăn. Vật giá tăng làm cho giá thành cao khiến một số tiểu tư doanh không thể tôn trọng được những hợp đồng đã ký kết. Khi giá thành cao, tất nhiên họ thiếu khả năng cạnh tranh.


=> Việc nổi dậy của đại đa số dân nghèo như điều tất yếu

Như chúng tôi trình bầy trong hai phần trên, cái căn nguyên chính yếu của việc tăng vật giá cao trội hơn các nước khác, đó là quyền lực độc đoán Chính trị đã nắm giữ những hoạt động Kinh tế/Tài chánh. Cũng chính vì cái quyền lực Chính trị độc đoán này mà lãng phí, tham nhũng, dành ưu tiên đặc quyền đặc lợi Kinh tế/Tài chánh nằm thu gọn vào một thiểu số người hoặc nắm quyền Chính trị hoặc liên hệ với quyền Chính trị ấy.

Trong khi đó, đại đa số bị bóc lột trong hệ thống Chính trị/Tài chánh/Kinh tế hiện hành. Cuộc khủng hoảng đang diễn ra càng ngày càng đẩy đại đa số quần chúng đến nghèo đói. Cũng như mọi cuộc đấu tranh CÁCH MẠNG trong Lịch sử : Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Vô sản 1917, Cách Mạng Lật đổ Cộng sản Nga và Đông Aâu 1979, đại đa số Dân chúng nghèo khổ buộc lòng phải đứng lên  đòi quyền sống. Để có thể đòi được quyền sống, phải đánh thẳng vào cái CĂN NGUYÊN chính đã làm phát sinh đói khổ. CĂN NGUYÊN ấy là việc CSVN độc tài Chính trị và nắm trọn quyền Kinh tế với những cấu kết khai thác bó lột của ngoại lai.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






=========================
pho bien/ publication 03.03.2008
=========================



                                                   Phong trào

                                                 MẸ DÂN OAN


                                 Address: c/o NGUYỄN PHÚC LIÊN
                       22 Rue du Prieure, 1202 GENEVA, Switzerland
                      Tel: 0041 22 731 82 66. Fax: 0041 22 738 28 08
                                                     E-Mail:
                                    drlien.wim-impact@bluewin.ch
                                    wim-impact.drlien@bluewin.ch



Trong năm 2007, Dân Oan Việt Nam đã nằm vật vã bên lề đường để đòi Nhà Đất, nghĩa là đòi quyền sống tối thiểu. Đó là đòi CÔNG LÝ cho cuộc sống tối thiểu mà đảng CSVN đã độc đoán cướp bóc bất công những phương tiện sống từ bao chục năm nay.

CSVN huênh hoang lấy đà phát triển Kinh tế cao để tuyên truyền và làm cớ che lấp để đàn áp những người mà chúng đã bóc lột, trong đó có những người MẸ DÂN OAN rất cùng cực trong cuộc sống.

Ngày 28 tháng 2 năm 2008, những người trách nhiệm Kinh tế Việt Nam đồng tuyên bố rằng hiện nay có cuộc KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH/KINH TẾ, nghĩa là:

=> Những ca ngợi phát triển Kinh tế Việt Nam là mỵ dân để đánh lừa và bóc lột

=> Những người nghèo càng nghèo thêm trong đó có những người MẸ DÂN OAN 


Nhận định như trên, nên chúng tôi kêu gọi thành lập Phong Trào MẸ DÂN OAN. Phong trào này mang những đặc tính sau đây:

1)  Phong trào đòi cho bằng được CÔNG LÝ trong quyền tìm sống đồng đều;

2) Phong trào chọn bài ca KHÓC MẸ DÂN OAN  của Nhạc sĩ Mạc Thiên nói lên tình cảm người Mẹ đầy tình thương mà bị đối xử tàn nhẫn. Tình cảm nối kết quần chúng mà dù bất cứ bạo quyền nào cũng không thể dẹp được. Sư nối kết thiêng liêng này sẽ đạp đổ bạo quyền.

  
NGUYỄN PHÚC LIÊN
Trưởng Ban Khởi xướng Phong trào
22 Rue du Prieure, 1202 GENEVA
Tel: 0041 22 731 82 66. Fax: 0041 22 738 28 08
E-MailL
drlien.wim-impact@bluewin.ch  / hoặc wim-impact.drlien@bluewin.ch  

 




=========================
pho bien/ publication 02.03.2008
=========================



                                         TÀI CHÁNH/KINH TẾ VN:
                                   KHỦNG HOẢNG ĐANG DIỄN RA



                        Giáo sư Tiến sĩ  NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Đây là biến cố vô cùng quan trọng có thể làm thay đổi chế độ độc tài hiện hành tại Việt Nam. Chúng tôi gọi đây là biến cố vô cùng quan trọng bởi vì chỉ có khối đại đa số quần chúng đói nghèo mới có khả năng lật lại được chế độ độc tài CSVN hiện nay. Thực vậy, chúng tôi không tin nữa vào những thành phần Trí thức Chính trị trong Phong trào Dân chủ/Nhân quyền, một là chỉ nguyên đưa ra những ý niệm trừu tượng xa vời quần chúng, hai là còn lẻo mép đánh võ miệng và dễ chuồn lùi, ba là dễ thỏa hiệp với CSVN để mong chia chút quyền hành.


KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH/KINH TẾ:
ĐỊNH MỆNH HỦY DIỆT CSVN

Việc lật lại chế độ độc tài CSVN phải đến từ lực lượng quần chúng: hoặc là lực lượng Tôn Giáo mang lòng tin sắt đá và đấu tranh cho những giá trị Tinh thần liên hệ đến những chỉ dây Tôn Giáo, hoặc nhất nữa là lực lượng đại đa số quần chúng khi mà quyền Dạ Dầy của họ bị vi phạm trầm trọng.

Cuối năm 2007 Lực Lượng Công Giáo VN đứng lên đấu tranh cho CÔNG LÝ tại Hà Nội.

Trong suốt năm 2007, Lực Lượng quần chúng đói nghèo Dân Oan, Nông dân, Công nhân đã đứng lên. Đầu năm 2008 này, cuộc Khủng Hoảng Tài chánh/Kinh tế đẩy họ vào vực thẳm đói nghèo. Trước khi chết đói, thì họ đứng lên, ngay cả bằng bạo động, để quét sạch một chế độ đã làm cho họ không còn miếng ăn. Cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế này là Định mệnh sụp đổ chế độ Chính trị mà chính Karl Marx đã khẳng định.

Xin các Trí thức Chính trị thành tâm hãy dồn lực vào với quần chúng đói nghèo. Xin đừng chỉ biện luận những ý niệm trừu tượng Dân chủ/Nhân quyền bởi vì chính những Quốc gia chung quanh Việt Nam đang muốn giữ chế độ độc tài này để khai thác nhân lực và tài nguyên của Việt Nam, và bởi vì chính những nước đã có Dân chủ mà chúng ta muốn nhờ cậy ảnh hưởng cũng đang chìa tay chơi với độc tài CSVN.


VIỆT NAM XÁC NHẬN
KHỦNG HOẢNG ĐANG XẨY RA

Từ nhiều tháng nay, chúng tôi đã viết loạt bài Chủ đề: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH dựa trên những phân tích của Bà Francoise NICOLAS về cuộc Khủng Hoảng Tài chánh Á châu năm 1997 và dựa trên những nhận định của những Nhà Kinh tế quốc tế như Florin AFTALION, Alain FAUJAS và Pierre-Antoine DELHOMMAIS về những nước bắt đầu phát triển trong đó có Việt Nam.

Nhưng hôm nay, đây không phải là những phân tích nữa về những triệu chứng khủng hoảng, mà chính là sự xác nhận của chính giới hữu trách của CSVN về việc KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH ĐANG DIỄN RA LÚC NÀY ĐẦU NĂM 2008 với những hậu quả lên Kinh tế và Quần chúng.

Ngày 28.02.2008:

=> Ông Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam:

“Tốc độ tăng giá 2 tháng đầu năm lên tới 6,02% là quá cao.... Đặc biệt, có những nguyên nhân chủ quan, trong đó có một nguyên nhân chính là ngân hàng đã bỏ lượng tiền lớn ra mua USD chưa thu về được. Bên cạnh đó, giá bất động sản tăng nhanh làm cho tiền phân tán ra thị trường không trở lại ngân hàng, ngân hàng thiếu tiền. Tất cả những yếu tố này làm cho lạm phát tăng lên.“

=> Giáo sư, TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính:

“Con số 6,02% tăng cao quá. Nhìn cả một quá trình, đây là tăng cao nhất trong hơn 10 năm lại đây. Đây là một cảnh báo đối với nền kinh tế.

Trong kiềm chế lạm phát, giải pháp tài chính tiền tệ có ý nghĩa quan trọng, trong đó giải pháp tiền tệ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.

Các ngân hàng thương mại hiện dư nợ quá lớn nên buộc phải huy động vốn vào để mua tín phiếu và tăng dự trữ, làm cho các ngân hàng đua nhau tăng lãi suất để hút vốn về khiến cho thị trường những ngày gần đây hỗn loạn. Khi tăng lãi suất huy động lên thì cũng có tác dụng phụ là cho vay cao dẫn đến ảnh hưởng tăng trưởng. Lãi suất cao thì chi phí cao, giá thành cao thì cũng tác động đến lạm pháp. 

Chính sách tài chính  phải xem lại để làm sao chi đầu tư phải hiệu quả, chi thường xuyên phải tiết kiệm, cái nào cần phải giảm, cái nào phải bỏ. Đầu tư phải hiệu quả, mua sắm tài sản không phải tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí... Lúc này phải dùng tổng hợp các biện pháp.“

=> Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

“Việc chống lạm phát năm 2008 này phải được đặt lên ưu tiên hàng đầu, hơn cả mục tiêu tăng trưởng. Vì suốt bốn năm liền lạm phát cao, cộng lại đã lên tới 40%. Điều này đồng nghĩa với việc đồng tiền mất giá, đội giá thành sản phẩm lên cao, tăng thêm dự án treo, còn đời sống người dân bị ảnh hưởng nặng.

Như vậy, về phương diện đối nội, phân phối nguồn lực đã bị lệch và tác động đến đời sống. Ngoài ra, đây cũng là nguyên nhân gây ra những bất ổn cả trên thị trường bất động sản và chứng khoán.

Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình. Nếu môi trường VN vẫn bất ổn, lòng tin của nhà đầu tư sẽ giảm đi, ảnh hưởng đến cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư bỏ đi cũng sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn.

Lạm phát ảnh hưởng cũng sẽ làm cho sức cạnh tranh trong nước giảm đáng kể. Năm nay, Chính phủ đặt vấn đề quyết liệt hơn nhiều, thể hiện ở hàng loạt nỗ lực để kéo thị trường bất động sản bong bóng và nỗ lực kéo giá cả giảm xuống.

Nhưng giá cả hai tháng đầu 2008 đã tăng lên khoảng 6% so với tháng 12/2007. Hạn ngạch cho lạm phát chỉ còn rất ngắn. Có hai vấn đề đặt ra: Thứ nhất, Chính phủ đã có ưu tiên thi hành hàng loạt biện pháp mạnh. Quyết tâm đã rõ nhưng thực ra phải bàn đến hiệu quả của giải pháp.

NHNN cũng đã vừa sử dụng kết hợp cả hai loại biện pháp dài hạn và tức thì. Nhưng nhiều biện pháp hành chính như bán 20.300 tín phiếu. NHNN có quyền làm như thế nhưng đã gây "sốc", ảnh hưởng đến thị trường, dòng tiền bị chặn lại.

Ngay sau đó NHNN lại bơm ra 39.000 tỷ đồng. Điều này khiến sự vận động của dòng tiền thành bất thường, gây hiệu ứng tiêu cực. Tất nhiên đi kèm là biện pháp dài hạn như tăng dự trữ bắt buộc, nâng lãi suất cơ bản... Nhưng hàng loạt biện pháp tức thời đã gây ra hiệu ứng chạy đua lãi suất vì khan hiếm tiền mặt. Thời gian tới rất cần bình tĩnh, kể cả phản ứng với thị trường địa ốc lẫn tiền tệ. Đây là bài học quan trọng ngay từ đầu năm. Cách xử lý lạm phát phải hài hòa và đồng bộ, đứng trên lợi ích quốc gia, trên mục tiêu đảm bảo tăng trưởng dài hạn.“

=> Bộ trưởng Tài chánh Vũ Văn Ninh:

“Tôi bức xúc như ngồi trên đống lửa. Không chỉ người dân mà tôi cũng đang bức xúc như ngồi trên đống lửa“

Chính phủ vẫn đang kiểm soát giá xăng dầu, không có tình trạng thả nổi. Không lẽ chúng ta chấp nhận bù lỗ. Mà bù như thế là không đúng chỗ. Nhà nước không thả nổi giá xăng dầu. Nhà nước chỉ thay đổi phương thức quản lý.

Giá cả hai tháng đầu năm lên tới 6%, Chính phủ nhận thấy sẽ rất khó thực hiện mục tiêu giữ lạm phát thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP như Nghị quyết của Quốc hội đề ra.

Công tác dự báo khi ban hành các chính sách tiền tệ còn yếu kém.

Tăng trưởng là yêu cầu quan trọng nhưng chống lạm phát là đòi hỏi cấp bách hơn cả"

=>   Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng:

“Tình trạng giá tiêu dùng tăng cao một phần là do chính sách điều hành tiền tệ của ta còn yếu kém và chưa phù hợp.“

=>  AP : Vietnam's inflation rate hits 15 percent, highest in more than a decade
      The Associated PressPublished: February 28, 2008

HANOI, Vietnam: Vietnam's inflation rate reached 15.7 percent in February, the highest in more than a decade, as the government struggled to control prices in Southeast Asia's fast-growing economy.

The increase was driven by sharp price gains in food, housing and construction materials, the General Statistical Office said on its Web site Thursday.

Food prices were 25.2 percent higher than the same period last year, and housing and construction materials were up 16.4 percent.

"Everything is getting more expensive these days," said Nguyen Thu Huong, 31, who was buying groceries in Hanoi Thursday morning. "Life is getting much more difficult for people with low incomes."

Economists said Vietnam's inflation rate, the highest in the region, was fueled by both domestic and global forces.


TIẾN SĨ TRẦN MINH HOÀNG, SÀI GÒN 25.02.2008:
"2008 KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VÀ
KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM"
 

Chúng tôi đăng lại nguyên văn bài nhận định của Tiến sĩ TRẦN MINH HOẢNG như một nhân chứng tại chỗ về cuộc Khủng Hoảng đang diễn ra.
 
Suy thoái và khủng hoảng kinh tế

Nền kinh tế của một quốc gia vận động và phát triển suy thoái tương tự như qui luật đồ thị hình Sin trong toán học. Theo đó, mỗi nền kinh tế sẽ có một chu kỳ vận động phát triển đi lên theo đồ thị biến thiên hình sin. Khi lên đến điểm phát triển cực đại nào đó và chịu các tác động của kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia và thế giới thì nền kinh tế đó sẽ chuyển sang chu kỳ suy thoái, đi xuống.

Nếu nền kinh tế quốc gia đó không lành mạnh với các yếu tố phát triển không cân đối và dự trữ quốc gia không tốt, có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Lúc đó, hậu quả đối với nền kinh tế đất nước và đời sống của người dân sẽ rất khó khăn trong một thời gian dài.
Khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng chính trị có mối quan hệ mật thiết với nhau trong một quốc gia. Khi khủng hoảng này diễn ra thường kéo theo khủng hoảng kia.

Cái khó là làm sao dự báo được chu kỳ vận hành này, và dự báo về thời điểm suy thoái cũng như giai đoạn khủng hoảng của một nền kinh tế ? Ở VN thì nhiều chuyên gia kinh tế, chính trị dự báo khủng hoảng sẽ đến khoảng năm 2010, nhưng nay thì điều đó có thể đến sớm hơn, và hiện nay sự thật đang diễn ra
 
Suy thoái và khủng hoảng kinh tế ở VN đến bất ngờ và nghiêm trọng với những dấu hiệu được báo trước

Không thoát khỏi qui luật, nền kinh tế của Việt Nam với những biến động nhanh chóng và dồn dập thời gian gần đây, chỉ trong vòng 1 tháng, nhất là sau tết Mậu Tý. Từ việc giá cả tăng cao đột biến, với mức giá tiêu dùng sinh hoạt của chợ búa, thịt cá rau cải ... tăng trung bình là 50% ; giá bất động sản nhà đất tăng gấp 3 lần ( có nơi lên đến 7.000 USD/m2 sàn sử dụng ), giá vàng lên cao trên 18 triệu 200 ngàn/ lượng. Lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng lên đến mức chóng mặt từ hơn 10% năm đã lên đến trên 40% năm.

Không có đủ tiền mặt để lưu thông và thanh khoản tại tất cả ngân hàng trong nước. Ngân hàng nhà nước đã bơm ra thị trường qua hệ thống ngân hàng và thanh toán trên 60.000 Tỷ VNĐ tiền mặt trong thời gian gần đây nhưng cũng không cứu vãn được tình hình ngày một bi đát hơn... và sẽ " hết thuốc chữa "

Mới đây nhất, giá xăng dầu cũng đã được nhà nước cho tăng giá lên hơn 10%, sẽ làm tác động dây chuyền cho mặt bằng giá cả và lạm phát tiếp tục tăng cao hơn nữa .
 
Tất cả đó là dấu hiệu cho thấy một sự thật, sự suy thoái và khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng đang diễn ra hàng ngày và nhanh chóng tại VN. Điều này hoàn toàn theo đúng qui luật kinh tế và thực tế khách quan diễn ra tại VN trong suốt quá trình phát triển vừa qua, đặc biệt trong thời gian gần đây.

Không như những gì mà nhà cầm quyền Việt Nam mơ tưởng hay thường huyênh hoang với nhân dân trong nước và thế giới về những thành tựu phát triển kinh tế chứa đựng nhiều yếu tố không bền vững của mình trong thời gian qua.

Dự báo khủng hoảng kinh tế VN, đã được các chuyên gia kinh tế chính thức đưa ra và dự báo cách đây 3 năm tại một hội thảo Khoa học ở Thành Phố Sài Gòn về phát triển đô thị bền vững.

Những dấu hiệu tìm ẩn của sự suy thoái và khủng hoảng kinh tế ở VN chứa đựng ngay trong thể chế chính trị và cơ chế kinh tế gọi là " Thị trường có định hướng Xã hội Chủ Nghĩa " do VN áp dụng trong nhiều năm qua, bất chấp khuyến cáo của các tổ chức kinh tế và các kinh tế gia ..
 
Bài viết không đi sâu phân tích các yếu tố kinh tế bất cập dẫn đến hậu quả suy thoái, mà phân tích đến những yếu tố kinh tế mang tính chất chính trị của VN, đó chính là nguyên nhân và lý do chính dẫn đến khủng hoảng và suy thoái kinh tế ở VN sẽ đến nhanh và bất ngờ như hôm nay.

Thể chế chính trị độc tài toàn trị là nguyên nhân cơ bản của sự suy thoái và dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở VN

Trước tiên do thể chế chính trị độc tài toàn trị ở VN giành quyền quản lý và kiểm soát toàn diện cả nền kinh tế chính trị của đất nước. Đảng cộng sản và nhà nước do đảng lập ra đã ra lệnh và ra sức ngăn cấm mọi ý kiến khác biệt, bất đồng với Đảng và nhà nước ở bất kỳ lĩnh vực nào, từ chính kiến đến các đề nghị phát triển kinh tế xã hội phù hợp qui luật. Sự độc tài toàn trị dưới chế độ cộng sản VN còn đi sâu chi phối mọi mặt của nền kinh tế quốc gia, thể hiện qua việc độc quyền lãnh đạo và điều hành nền kinh tế theo mệnh lệnh quan liêu, theo ngẫu hứng và ý chí chủ quan của Đảng cộng sản, đưa vận mệnh dân tộc ra để thí điểm thực hiện các ý tưởng kinh tế " cách mạng " ngông cuồng..

Kinh tế thị trường định hướng XHCN của công sản VN đi ngược lại lợi ích kinh tế của quốc gia và người dân là nguyên nhân của khủng hoảng .

Là một từ gọi, một lý thuyết kinh tế phi thực tế, một chiêu bài mỵ dân và qua mặt thế giới. Kinh tế thị trường định hướng XHCN thực chất đó là một nền kinh tế mang bản chất cộng sản, tập trung quyền lực và tất cả quyền lợi vào tay đảng cộng sản cầm quyền, bất chấp mọi thứ qui luật vận hành thông thường của một nền kinh tế, kể cả qui luật thị trường cung cầu, giá cả và ngay cả quyền lợi , đời sống trực tiếp của đông đảo nhân dân lao động cũng bị bỏ qua. Mọi đặc quyền đặc lợi chính trong nền kinh tế quốc gia nói chung, đều nằm gọn trong tay và do Đảng nắm giữ, trực tiếp là một số tay sai của giới cầm quyền nắm giữ và định đoạt, thông qua các Tổng công ty, công ty của nhà nước và các ngân hàng thương mại quốc doanh. Bất chấp mọi khuyến cáo của cả WB, ADB trong các năm qua.
 
Tham nhũng là nguyên nhân trực tiếp gây ra suy thoái, khủng hoảng kinh tế ?

Do mắm giữ độc quyền kinh tế và chính trị đã sản sinh ra tham nhũng. Hành vi tham nhũng do chính thể chế chính trị và kinh tế ở VN sinh ra và dung dưỡng ngày một nghiêm trọng và hết thuốc chữa. Thay vì ra sức sửa chữa khuyết điểm do nhân dân đóng góp, nhà nước VN lại ra sức dung túng cho tham nhũng và quay ngược lại đàn áp đánh phá các phong trào đấu tranh chống tham nhũng của người dân. Đây là một tội ác lớn và tày đình của đảng cộng sản đối với dân tộc.

Tham nhũng một mặt làm giàu cho Đảng viên cộng sản nắm giữ chức quyền trong toàn bộ nền chính trị kinh tế của đất nước, và những phần tử cơ hội kinh tế làm mồi chài, trung gian cho tham nhũng. Mặt khác lấy đi và phá nát tất cả tài nguyên dự trữ quốc gia và làm bần cùng hóa tuyệt đại đa số người dân, nhất là nông dân, công nhân, viên chức và nhân dân lao động.

Tiêu biểu như trong lĩnh vực đất đai, chính cơ chế kinh tế bất động sản do chính thể cộng sản VN đặt ra là nguyên nhân để cho đảng viên cộng sản tham nhũng và dẫn đến giá cả đất đai, bất động sản tăng vọt lên mức phi thực tế và không thể tưởng tượng nổi. Đó là một trong những nguyên nhân chính gây ra lạm phát, khi lượng đồng tiền được đưa ra thị trường quá mức cần thiết cho lưu thông và sản xuất hàng hóa của một nền kinh tế quốc gia, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến suy thoái và đứng trước ngưỡng cửa của khủng hoảng kinh tế.

Chính những yếu tố chính trị trên đây là nguyên nhân dẫn đến suy thoái và khủng hoảng kinh tế tại VN, và một khi khủng hoảng kinh tế đất nước do các yếu tố kinh tế có chứa đựng chính trị gây ra thì những xáo trộn và khủng hoảng chính trị ắt cũng sẽ đến tiếp theo như một qui luật tất yếu không thể cưỡng lại..“ 
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế










=========================
pho bien/ publication 28.02.2008
=========================



                                           NGỢM CẦN & HẬU:
                                           CỐ CHẤP LẠC ĐỀ



                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




Tôi rất khinh bỉ đám ngợm Giáo gian quốc doanh mà tôi thường gọi chúng là bầy rệp hui thúi chui rúc. Chúng làm việc chui rúc, len lỏi vào các Tôn giáo theo chủ trương của CSVN để chia rẽ các Tôn Giáo, để cho Tôn giáo không còn lực để mà huy động Tín hữu sống cho sự thật. CSVN sống ma giáo, lẩn tránh sự thật, nên chúng phải tìm mọi cách để làm cho Dân chúng không còn lực lượng để nói lên những ma giáo, những gian giảo của chúng. Chúng xử dụng những tên bồi bếp để làm công việc phá lực lượng Dân thay cho chúng.

Tôi xin nhắc lại định nghĩa mà tôi đã xử dụng trong tám năm nay khi viết về tụi rệp hôi thối này. Định nghĩa NGỢM giáo gian quốc doanh:“NGƯỜI KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI ĐỂ NGƯỜI TA KÍNH; VẬT KHÔNG PHẢI LÀ VẬT ĐỂ NGƯỜI TA ĂN THỊ; ĐÓ LÀ NGỢM“.

Tôi luôn luôn nói rằng nếu tôi ghét Công Sản một, thì tôi ghét tụi ngợm Giáo gian quốc doanh này gấp nhiều lần hơn. Chúng chui rúc như rệp quanh quẩn trong nhà chúng ta để rình rập cắn. Khó chịu lắm.

Ngợm Lm. Cần thì quá cũ đối với tôi rồi. Còn ngợm Sư Hậu thì mới. Việc làm của chúng gần đây gây rối để bợ đít chủ CSVN làm tôi khó chịu và khinh bỉ chúng. Chúng bợ đít CSVN và đồng thời trở thành những tên phản lại quyền lợi Dân tộc. Chúng không xứng đáng để chúng ta mất công đối thoại. Chúng chỉ đáng cho chúng ta chỉ ngón tay vào mặt bẩn thỉu của chúng để nói rằng đừng làm hại Dân tộc Việt Nam nữa.

Có lẽ chính quan thầy CSVN của chúng cũng phải cúi đầu thẹn thay cho chúng bởi vì chúng luồn trôn nịnh bợ không còn thể diện nữa.

Thực vậy, tôi xin nhắc cho ngợm Lm.Trương Bá Cần hình ảnh nhục của người đầy tớ trong Kinh Thánh. Xin đọc Gioan 18, 18-23:

“Vì trời lạnh, các đầy tớ và thuộc hạ đốt than và đứng sưởi ở đó; ông Phêrô cũng đứng sưởi với họ. Vị Thượng Tế tra hỏi Đức Giêsu về các môn đệ và giáo huấn của Ngài. Đức Chúa Giêsu trả lời:“Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dậy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do-thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao Oâng lại hỏi tôi ? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì.“ Đức Chúa Giêsu vừa dứt lời, thì một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó VẢ vào mặt Người mà nói:“Anh trả lời Vị Thượng Tế như thế ư ?“. Đức Giêsu đáp:“Nếu tôi nói sai, anh chứng minh cho tôi xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi ?“

Vị Thượng Tế không những không hề sai bảo người đầy tớ đánh Đức Giêsu, mà còn yên lặng như sợ sệt trước sự thật mà Đức Giêsu nói. Nhưng tên đầy tớ muốn nịnh bợ chủ là Vị Thượng Tế, nên tự động đánh Chúa Giêsu để lấy điểm trước mặt chủ. Cũng vậy, CSVN sợ sự thật, nhưng tên ngợm Cần muốn tấn công TGM Kiệt để nịnh bợ CSVN. Quả thực đây là hành động luồn trôn nịnh bợ hèn hạ.

Đối với ngợm Sư Thích Trung Hậu, khi đọc thư của ngợm, tôi giật mình thấy cái giọng bợ đỡ không xứng đáng. Tôi nhìn hình ảnh ngợm Sư Hậu khúm núm trước mặt Nguyễn Tấn Dũng non choẹt và da sằn sưng :“ Cụ Nguyễn Tấn Dũng“. Sao không gọi là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà ngợm Sư Hậu phải lậy Cụ Nguyễn Tấn Dũng để Cụ hửng mũi mà thương ban cho điều gì. Tôi nghĩ Nguyễn Tấn Dũng cũng thẹn dùm cho ngợm Sư Hậu về lời quá nịnh bợ luồn trôn này.


Thái độ hèn hạ luồn trôn này, thì tôi quen nhiều với đám rệp rồi.


Nhưng điều quan trọng là tôi xùng với hành động của chúng vì chúng làm hại đến quyền lợi của Dân tộc. Tôi xin cắt nghĩa:

1) Chúng ta đều biết rằng chỉ có lực lượng quần chúng với sức mạnh thực sự mới có thể tiễu trừ được CSVN để Dân tộc được tôn trọng, Đất Nước được phát triển trong bền vững. Nhưng CSVN đi đến đâu là chúng tìm đủ mọi cách để giải tán hoặc khống chế các Đoàn thể nhân dân để không thể có lực mà tiễu trừ chúng. 

2) Tôi không tin tưởng ở sự đấu tranh chỉ bằng lời nói như của một số người trong Phong trào Dân chủ/Nhân quyền. Một số chỉ lẻo mép, đánh võ miệng, rồi chuồn lùi hoặc tìm cách ve vãn để mong Cộng sản chia cho chút mẩu bánh thừa rơi rụng.

3) Trong năm vừa rồi, lực lượng Dân Oan đã đứng lên tranh đấu. Tôi hoàn toàn hy vọng. Nhưng lực lượng này đã bị CSVN thẳng tay đàn áp, phân tán. Tuy nhiên lực lượng vẫn còn đó và tôi vẫn hy vọng một sự đứng lên mạnh hơn.

4) Tôi cũng hy vọng ở Lực lượng Công nhân với những cuộc Đình Công. Nhưng rồi “Cụ“ Nguyễn Tấn Dũng của ngợm Sư Hậu vừa ký hai Nghị Định cấm Đình Công một cách vô nhân đạo.

5) Trung Cộng công khai tuyên bố chiếm Hoàng Sa-Trường Sa. Người Việt trong và ngoài nước phản đối. Tôi hy vọng cho phong trào đứng lên của Thanh niên, Sinh viên tại Quê Hương. Nhưng CSVN đã theo lệnh của Trung Cộng thẳng tay dẹp Biểu tình.

Những cuộc đấu tranh quần chúng trên đây, Dân Oan, Công Nhân, Sinh Viên, hoàn toàn là chính đáng và Dân tộc hy vọng. Nhưng CSVN đã thẳng tay đàn áp.

6) Cuối năm 2007 và đầu năm 2008, một LỰC LƯỢNG QUẦN CHÚNG đứng dậy. Đó là Lực Lượng Giáo Dân Công Giáo, dưới sự kêu gọi của TGM NGÔ QUANG KIỆT. Tất cả Dân tộc chúng ta trong bao chục năm trường đã bị CSVN chồng chất lên đầu những BÁT CÔNG. Lực lượng Công Giáo đã minh bạch tuyên bố Mục đích rõ rệt của mình: đó là đấu tranh cho CÔNG LÝ. Cuộc đấu tranh lấy địa điểm Tòa Khâm sứ Hà Nội. TGM Kiệt đã tuyên bố rõ rệt rằng đây là cuộc đấu tranh không riêng cho Công Giáo mà cho cả ĐẤT NƯỚC.

7) Lực lượng đã quy tụ được từng ngàn Giáo dân, sẵn sàng hy sinh dưới thời tiết lạnh gay gắt. Lực lượng sẵn sàng đối chọi trước tối hậu thư đe dọa của CSVN. Dân tộc chúng ta hy vọng lớn lao về sức  mạnh của Lực lượng này. Nhưng vì sự can thiệp của Vatican, Lực lượng tạm vâng lời. Nhưng Lực lượng vẫn còn đó và sẵn sàng đứng lên mạnh hơn nữa để đấu tranh cho bằng được CÔNG LÝ.

8)  Trước sự can thiệp của Vatican, dù tôi là người Công giáo, tôi cũng đã công khai chống lại sự can thiệp này. Một số đông người Công giáo cũng lên tiếng phản đối vì chúng tôi biết rằng đây là hy vọng cho tương lai của Dân tộc Việt Nam. Ai làm gì cản ngăn lại cuộc đấu tranh cho CÔNG LÝ này, là phản lại hy vọng của Dân tộc đã bao chục năm trường mong mỏi đạp đổ độc tài CSVN.

9) Bất thần, những tên ngợm bồi bếp Trương Bá Cần và Thích Trung Hậu tìm cớ chống đỡ dùm cho quan thầy CSVN để lấy điểm. Trong bài dưới đây, tôi đã giải thích rằng hai tên ngợm này cố chấp đi LẠC ĐỀ. Thực vậy, đầu đề chính là mọi người chung lưng chống lại những BẤT CÔNG của CSVN và đòi cho bằng được CÔNG LÝ. Đó là sự tranh chấp giữa cường quyền và quần chúng mà Lực lượng Công Giáo đã khởi đầu đứng lên. Nhưng hai tên ngợm Cần và Hậu đã cố tình đi LẠC ĐỀ bằng cách nói rằng đây chỉ là tranh chấp Đất đai, Nhà cửa giữa Chùa Bảo Thiên và Tòa Khâm sứ. Chúng biết rõ đây là do đầu óc muốn luồn trôn CSVN một cách đê tiện mà cố tình đi lạc đề như vậy mà thôi. Đầu óc hai tên này không thành tâm (malhonnête).

10) Trước quyền lợi tối thượng của Dân tộc (Dân Oan, Công nhân, Tổ tiên Oan), chính lẽ mọi người phải đứng chung lại mà đấu tranh cho Mục đích ưu tiên là Xã Hội có CÔNG LÝ, trước khi lải nhải những vấn đề thứ yếu nếu có giữa nhóm này nhóm kia. Kẻ thù chung của cả Dân tộc, đó là độc tài CSVN đã làm BẤT CÔNG cho Dân tộc trong bao chục năm trường. Kẻ thù của chúng ta không phải là Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài, về Tòa Khâm sứ đã gần đổ nát, về Chúa Bảo Thiên trong quá khứ. Hãy hợp nhất cả Dân tộc mà diệt đám côn đồ ác ôn CSVN. Sau đó chúng ta nói chuyện với nhau về chi tiết Tòa Khâm sứ là gì, Chùa Bảo Thiên ra sao.

11) Nhưng những tên ngợm Cần và Hậu đã cố tình bênh đỡ chủ là CSVN bằng cách đi lạc khỏi vấn đề chính. Đây là hành động cấu kết với CSVN. Đây là hành động phản bội lại DÂN TỘC. Chúng đúng là tội đồ của Dân Tộc giống như thầy CSVN của chúng vậy.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế







THỜI SỰ TUẦN NÀY:
TẤN CÔNG GÁN GHÉP CỦA GIÁO GIAN

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Trước hết chúng tôi coi việc lên tiếng của Lm Trương Bá Cần (Trần Bá Cương) và Nhà Sư Thích Trung Hậu không những không mang tầm quan trọng nào cả mà còn càng cho thấy tính cách bồi bếp của họ đối với quan thầy CSVN đã từ lâu nay lại hiện ra cho Tín đồ các Tôn Giáo thấy rõ hơn nữa. Khi thấy họ viết để giúp đỡ chủ CSVN lươn lẹo lẩn tránh trước Công Lý, ai cũng thấy việc làm hèn hạ của họ rồi.


MỤC ĐÍCH CỦA CÔNG GIÁO ĐẤU TRANH
LÀ CHO CÔNG LÝ

Thực vậy, việc Giáo dân cầu nguyện ở Tòa Khâm Sứ là cho CÔNG LÝ. Vấn đề Nhà Đất Tòa Khẩm sứ chỉ là một điểm nhỏ trong ý chí đấu tranh của người Công Giáo. Đây là điều mà TGM NGÔ QUANG KIỆT đã tuyên bố rõ rệt, chứ không mù mờ hiểu lầm gì cả. Chính Ngài đã tuyên bố trong bài giảng trước 7000 Giáo dân: “... sống cho công lý, chứng nhân cho sự thật, dám đổ máu cho công lý ... vì lợi ích chung, không phải chỉ cho một giáo xứ, một giáo hội, một xã hội mà cho cả đất nước...“ Cuộc đấu tranh cho CÔNG LÝ này không phải chỉ ở tại Tòa Khâm sứ, mà còn ở xứ Thái Hà, ở Hà Đông... Như vậy cuộc đấu tranh không phải chỉ nhằm đòi lại Nhà Đất riêng của Tòa Khâm sứ, mà cho CÔNG LÝ cho mọi người. Công Giáo không ích kỷ.


LÁ THƯ CỐ TÌNH GÁN GHÉP CỦA
NHÀ SƯ THÍCH TRUNG HẬU

Lm Trương Bá Cần và Nhà sư Thích Trung Hậu phải biết rằng CSVN đã sống sượng gây những BẤT CÔNG cho toàn Dân, cho các Tôn Giáo, chính lẽ phải cổ võ để những Tín đồ cùng đến cầu nguyện đấu tranh chung với Công Giáo cho CÔNG LÝ, vì quyền lợi của Dân tộc, của các Tôn Giáo. Đó là sự thành tâm và đứng đắn. Nhưng những ngợm Giáo gian này đã cố tình gán ghép cho việc đấu tranh của Công Giáo như chỉ hạn hẹp vào việc tranh giành nhà đất Tòa Khâm sứ mà họ coi trước đây là của Phật Giáo. Vấn đề trước hết và quan trọng nhất là phải bắt buộc CSVN phải tôn trọng CÔNG LÝ. Hãy hợp tác làm công việc này, sau đó đặt ra vấn sở hữu của nhà đất Tòa Khâm sứ. Cố tình đi trật hướng một cách cố chấp như vậy có nghĩa là Lm.Trương Bá Cần và Nhà sư Thích Trung Hậu hợp tác với kẻ nội thù CSVN để gieo rắc thêm BẤT CÔNG cho mọi người.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 27.02.2008
=========================



                  CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH

                                                       Bài 10:


                              KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH VÀ TIỀN TỆ
                                               RẤT DỄ XẨY RA


                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Dựa trên tài liệu nghiên cứu về cuộc Khủng Hoảng Á châu 1997 của Bà Francoise NICOLAS, chúng tôi theo rõi những triệu chứng khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế của những nước Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn. Dựa theo những bài viết đăng trên Nhật Báo LE MONDE số 19523 ngày 31.10.2007 của những tác giả như Florin AFTALION, Alain FAUJAS và Pierre-Antoine DELHOMMAIS, chúng tôi viết về những bấp bênh tại những nước bắt đầu phát triển như Trung Cộng, Việt Nam. Và theo rõi thông tin Báo Đài Truyền Thông Mỹ, Anh, Pháp, Thụy sĩ, chúng tôi tìm hiểu từ tháng 8/2007 cuộc Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc và ảnh hưởng có tính cách hòan cầu của nó.

Từ bài thứ 10 này, chúng tôi muốn nhìn những bấp bênh Klhủng hoảng về Kinh tế/Tài chánh có thể xẩy ra cho Việt Nam. Tất nhiên một cuộc Khủng hoảng như vậy mang đến hậu quả thay đổi Chính trị để chính người Dân nắm lấy vận mạng phát triển Kinh tế Đất Nước. Tuần này, Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH,  cố vấn về kinh tế cho chính phủ VN, trả lời cho Phỏng vấn của đài BBC, đã phải thốt lên “Không thể xem thường nguy cơ bất ổn“. Cũng trong tuần này, những biện pháp của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam đối với Thị trường Tiền Tệ và Vốn đang làm hốt hoảng giới Ngân Hàng Việt Nam. (Xin đọc Phần KINH TẾ/TÀI CHÁNH trong số này)

Không như những bài đã viết trước đây mang tính cách phân tích vào những chi tiết của từng vấn đề, bắt đầu từ bài này coi như kết luận những gì đã phân tích, chúng tôi chỉ nêu ra những điểm chính “nguy cơ bất ổn“ có thể dẫn đến Khủng hoảng về Kinh tế/Tài chánh cho Việt Nam
 

Điểm nguy cơ bất ổn thứ nhất:
Aûnh hưởng đình trệ Kinh tế/ Tài chánh từ ngước ngoài

Những lý do sau đây làm cho Kinh tế Việt Nam đình trệ:
=> XUẤT CẢNG GIẢM: Kinh tế Việt Nam làm việc cho xuất cảng hơn là cho nội địa, nhất là cho Thị trường Mỹ và Liên Aâu. Sự đình trệ (Récession) Kinh tế của Mỹ và Liên Aâu chắc chắn làm giảm sản xuất tại Việt Nam.

=> TĂNG GIÁ DẦU LỬA: Dầu lửa ảnh hưởng tới giá thành của hàng sản xuất không những qua ngả nhiên liệu mà qua việc tăng giá hàng nguyên vật liệu lấy ra từ dầu lửa: những chất nhựa căn bản, những đồ dùng biến chế, vải vóc, da nhân tạo, chai nhựa, đồ bọc hàng, vật liệu xây cất, những hóa chất... Có thể nói chất nhựa rút ra từ dầu lửa chiếm 70% việc cấu thành hàng sản xuất. Những nguyên vật liệu chất nhựa này lại được sản xuất tại nước ngoài, nên Việt Nam phải nhập cảng với giá cao hơn. Làm việc cho xuất cảng, phải kể đến việc tăng giá chuyên chở tùy thuộc vào dầu lửa.

=> CẠNH TRANH CỦA HÀNG TRUNG CỘNG: Trong hiện tình, đã có cạnh tranh của hàng Trung Cộng tại Việt Nam vì giá thành của hàng Trung Cộng chắc chắn thấp hơn giá thành của hàng sản xuất tại Việt Nam. Năm 2008 này, vì suy thoái Kinh tế tại Mỹ và Liên Aâu, mà Trung Cộng không bán ra được, khối hàng thặng dư ấy sẽ tràn váo Việt Nam để giết chết sản xuất của nước mình.

=> KHÓ KHĂN ĐẦU TƯ VỐN NƯỚC NGOÀI: Khi có khủng hoảng Tài chánh Thế giới, thì tất nhiên việc nước ngoài mang vốn đầu tư vào Việt Nam giảm đi.


Điểm nguy cơ bất ổn thứ hai:
Khủng hoảng Tiền tệ và Tài chánh tại Việt Nam

Đây không phải là triệu chứng bất ổn khủng hoảng nữa, mà nó đã bắt đầu xẩy ra trong hệ thống Ngân Hàng Việt Nam:

=> LẠM PHÁT TÍN DỤNG TƯƠNG LAI: Hệ thống Ngân Hàng Việt Nam đã cung cấp cho những Dự án dài hạn bằng những phát hành vốn tương lai (Monnaie virtuelle). Những phát hành này góp phần thổi phồng vốn lưu hành mà khi nền Kinh tế bấp bênh thì việc thâu hồi vốn trở thành nguy hiểm. Trong những năm trước Khủng hoảng Á châu năm 1997, hệ thống Ngân Hàng ở những nước Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn mang tính cách gia đình, đã không kiểm soát chặt chẽ việc thổi phồng lượng vốn tương lai này. Chính Quỹ Tiền Tệ Quốc tế, khi can thiệp vào những nước này, đã đặc biệt đặt điều kiện kiểm soát tín dụng.

=> QUYẾT ĐỊNH SAI LẦM CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC: Nhiệm vụ chính yếu của Ngân Hàng Trung Ương (Ngân Hàng Nhà Nước) là điều hòa khối tiền lưu hành cho hòa nhịp với tăng giảm khả năng Kinh tế quốc gia bằng biện pháp Open Market để thu tiền lưu hành vào hay thả tiền ra. Từ thời Tiến sĩ PHÙNG KHẮC KẾ làm Giám đốc Tín dụng của Ngân Hàng Nhà Nước, chính tôi đã nghe Oâng than về cái nạn Ngân Hàng Nhà Nước phải làm Tái Bảo Lãnh những phát hành của một số những Ngân Hàng Thương Mại được hỗ trợ bởi quyền lực Chính trị. Đây là việc Ngân Hàng Nhà Nước cộng tác vào việc thổi phồng tín dụng tương lai (Monnaie virtuelle) nguy hiểm như vừa đề cập ở điểm trên đây. Việc gần nhất mà Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH nêu ra, đó là Ngân Hàng Nhà Nước đã thả ra lưu hành số tiền Việt Nam tương đương để mua 9 tỉ đo-la. Việc làm này làm tăng khối lượng tiền lưu hành và mang tính cách lạm phát hoàn toàn tiền tệ. Đây là hành động ăn cướp tiền thực của Kinh tế  và làm giá cả tăng lên do đồng tiền mất giá.  Bây giờ, để chống lại lạm phát, Ngân Hàng Nhà Nước mới quyết định thu tiền lưu hành lại bằng cách sẽ phát hành 20'300 tỉ đồng bằng tín phiếu có tính cách bắt ép các Ngân Hàng và các Tổ chức Tài chánh phải mua với lãi suất thấp hơn Thị trường. Đây là hành động ăn cướp thứ hai. 

=> KHAN HIẾM TÍN DỤNG VÀ LÃI SUẤT TĂNG VỌT: Thị trường Chứng khoán Việt Nam tụt dốc. Tín dụng ngày nay phải trả lãi suất cao vọt. Đây là việc làm thiệt hại đến đầu tư và tái đầu tư của các Công ty. Việc sản xuất đã bị những suy thoái như nói ở trên, nay lại thiếu tín dụng cho Kinh tế. Từ khủng hoảng tài chánh, Kinh tế sản xuất cũng bị kéo theo.


Điểm nguy cơ bất ổn thứ ba:
Căng thẳng Xã hội

Nguy cơ căng thẳng Xã hội đang xẩy ra vì những lý do sau đây:

=> VẬT GIÁ TĂNG VỌT NÓI CHUNG: Vật giá tiếp tục tăng vọt, nhất là cho những nhu yếu phẩm và đồ ăn. Tăng vật giá mà thu nhập không tăng, nghĩa là người nghèo càng nghèo thêm.

=> THIÊN TAI VÀ NÔNG DÂN: Những vụ lụt Miền Trung, rồi nhất là mùa rét mới đây đã làm thiệt hại giới Nông Dân và giới chăn nuôi. Đã nghèo còn bị nạn thiên tai, càng nghèo thêm. Mùa rau, lúa bị mất. Trâu bò bị chết, mất phương tiện cầy cấy. Để có thể gây dựng lại, cũng phải có thời gian dài và phãi có chút vốn.

=> NGHỊ ĐỊNH CẤM ĐÌNH CÔNG VÀ CÔNG NHÂN: Công nhân là những người lãnh lương cố định. Khi vật giá tăng, thì thấy rõ là mình nghèo đi. Hai Nghị Định cấm đình công mà NGUYỄN TẤN DŨNG mới ký là hai Nghị Định mang tính cách vô nhân đạo lúc này.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 






=========================
pho bien/ publication 27.02.2008
=========================




                                           THỜI SỰ TUẦN NÀY:

                           TẤN CÔNG GÁN GHÉP CỦA GIÁO GIAN



                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Trước hết chúng tôi coi việc lên tiếng của Lm Trương Bá Cần (Trần Bá Cương) và Nhà Sư Thích Trung Hậu không những không mang tầm quan trọng nào cả mà còn càng cho thấy tính cách bồi bếp của họ đối với quan thầy CSVN đã từ lâu nay lại hiện ra cho Tín đồ các Tôn Giáo thấy rõ hơn nữa. Khi thấy họ viết để giúp đỡ chủ CSVN lươn lẹo lẩn tránh trước Công Lý, ai cũng thấy việc làm hèn hạ của họ rồi.


MỤC ĐÍCH CỦA CÔNG GIÁO ĐẤU TRANH
LÀ CHO CÔNG LÝ

Thực vậy, việc Giáo dân cầu nguyện ở Tòa Khâm Sứ là cho CÔNG LÝ. Vấn đề Nhà Đất Tòa Khẩm sứ chỉ là một điểm nhỏ trong ý chí đấu tranh của người Công Giáo. Đây là điều mà TGM NGÔ QUANG KIỆT đã tuyên bố rõ rệt, chứ không mù mờ hiểu lầm gì cả. Chính Ngài đã tuyên bố trong bài giảng trước 7000 Giáo dân: “... sống cho công lý, chứng nhân cho sự thật, dám đổ máu cho công lý ... vì lợi ích chung, không phải chỉ cho một giáo xứ, một giáo hội, một xã hội mà cho cả đất nước...“ Cuộc đấu tranh cho CÔNG LÝ này không phải chỉ ở tại Tòa Khâm sứ, mà còn ở xứ Thái Hà, ở Hà Đông... Như vậy cuộc đấu tranh không phải chỉ nhằm đòi lại Nhà Đất riêng của Tòa Khâm sứ, mà cho CÔNG LÝ cho mọi người. Công Giáo không ích kỷ.


LÁ THƯ CỐ TÌNH GÁN GHÉP CỦA
NHÀ SƯ THÍCH TRUNG HẬU

Lm Trương Bá Cần và Nhà sư Thích Trung Hậu phải biết rằng CSVN đã sống sượng gây những BẤT CÔNG cho toàn Dân, cho các Tôn Giáo, chính lẽ phải cổ võ để những Tín đồ cùng đến cầu nguyện đấu tranh chung với Công Giáo cho CÔNG LÝ, vì quyền lợi của Dân tộc, của các Tôn Giáo. Đó là sự thành tâm và đứng đắn. Nhưng những ngợm Giáo gian này đã cố tình gán ghép cho việc đấu tranh của Công Giáo như chỉ hạn hẹp vào việc tranh giành nhà đất Tòa Khâm sứ mà họ coi trước đây là của Phật Giáo. Vấn đề trước hết và quan trọng nhất là phải bắt buộc CSVN phải tôn trọng CÔNG LÝ. Hãy hợp tác làm công việc này, sau đó đặt ra vấn sở hữu của nhà đất Tòa Khâm sứ. Cố tình đi trật hướng một cách cố chấp như vậy có nghĩa là Lm.Trương Bá Cần và Nhà sư Thích Trung Hậu hợp tác với kẻ nội thù CSVN để gieo rắc thêm BẤT CÔNG cho mọi người.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
.






=========================
pho bien/ publication 21.02.2008
=========================



                                       HAI CUỘC GẶP ĐỐI KHÁNG


                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Trong những ngày gần đây, tại Hà Nội, có hai cuộc gặp đối kháng: (i) cuộc gặp của đám tang Oâng HOÀNG MINH CHÍNH mang tính cách đòi Dân chủ trước một chế độ độc tài; (ii) cuộc gặp tại xứ Thái Hà mang mục đích đòi Công lý trước một chế độ làm đầy bất công.


CUỘC GẶP ĐÁM TANG
ÔNG HOÀNG MINH CHÍNH

Chúng tôi dùng hai chữ đối kháng với chú thích như sau: có những Trí thức Chính trị cho rằng đây là một cuộc gặp mang tính cách đối kháng thực sự, nhưng cũng có những nhà Chính trị cho rằng đây là việc đối kháng cuội. Những nhận định về đối kháng thực sự hay cuội, đó là dựa trên quá trình chính trị lâu năm của chính Oâng Hoàng Minh Chính.

Có những người Trí thức đấu tranh Chính trị trừu tượng cho rằng Thời sự tuần này là của Oâng Hoàng Minh Chính như biểu tượng cho những Trí thức Chính trị rất dễ lẻo mép theo đóm ăn tàn. Trong số những Vị cùng đến đám tang, có những Vị muốn kính trọng người đã chết, mà chưa chắc muốn thờ lậy ý tưởng kẻ đã qua đi. Những người Trí thức đấu tranh Chính trị trừu tượng với chủ đích theo đóm ăn tàn này có lẽ đang mượn đầu Oâng Hoàng Minh Chính để nấu cháo cũng như CSVN mượn đầu Hồ Chí Minh để nấu nước tương bởi vì xương Hồ Chí Minh bị mút hết tủy rồi, nhưng chỉ cần pha chút nước mầu và muối là thành nước tương cho đảng CSVN. Số người muốn theo chính trị gọi là Hòa giải Hòa hợp—đối kháng cuội—mượn đầu Oâng Hoàng Minh Chính để nấu cháo trong dịp này giống như CSVN luôn luôn núp dưới xác khô của Hồ Chí Minh để trị dân.

Trong những lời trối trăn của Oâng Hoàng Minh Chính, tôi lưu ý đến một câu.

Thực tình tôi quý Lời của Bà Dân Oan LÊ THỊ KIM THU hơn là Lời trối trăn của Chính trị gia lâu năm Hoàng Minh Chính. Khi chết, Oâng Hoàng Minh Chính, nằm trên giường bệnh, chặn ống thở lại để dặn dò con cái rằng: “Có tổ quốc thì mới có gia đình…“. Đây là câu nói trật lấc. Bằng ấy năm làm Giáo sư dậy lý thuyết mà nói trật lấc như vậy. Phải có hai cá nhân, một trai một gái, chung sống với nhau, thì mới đẻ ra con cái. Vợ chồng con cái làm thành Gia đình. Nhiều Gia đình họp thành Tổ quốc khi sống chung trên một Lãnh thổ, nhất nữa khi cùng nòi giống. Tổ quốc đâu có đẻ ra con cái, gia đình mà Oâng Hoàng Minh Chính nói rằng “Có tổ quốc thì mới có gia đình…“. Nhưng ngược lại, cá nhân và gia đình đẻ ra Tổ quốc. Tôi hiểu nhiều Trí thức Chính trị muốn nói trừu tượng để dân ngu cu đen không hiểu, để dễ bắt dân cùng đinh phục vụ cho Trí thức trừu tượng bịp bợm của mình mà ngồi trên đầu người ta để kiếm cơm. Đây là điều quá hèn và tôi rất khinh bỉ những loại Trí thức Chính trị trừu tượng kiếm cơm kiểu này. Oâng Hoàng Minh Chính đã tuyên bố giống hệt như Cộng sản khi nói về Tổ quốc. CSVN đã lợi dụng những chữ Tổ quốc, Dân tộc trừu tượng để nhân danh đó mà hy sinh, đàn áp, kết án những cá nhân sống thực và cụ thể. Bao nhiêu thế hệ đã không được sống cuộc sống cụ thể của mình chỉ vì Cộng sản đã dùng những ý niệm trừu tượng làm thuốc súng mà bắn chết những cá nhân thực. Nếu Oâng Hoàng Minh Chính vẫn còn giữ cái ý tưởng như câu trối trăn của Oâng, thì cũng là dễ hiểu bởi vì Oâng đã được Cộng sản nhồi sọ lâu năm mà không thoát ra được. Nhưng điều đáng trách ở đây là có những thành phần Trí thức Chính trị chưa bị Cộng sản nhồi sọ như Oâng Hoàng Minh Chính, mà vẫn cúi đầu khâm phục, coi Oâng Hoàng Minh Chính là BIỂU TƯỢNG, coi lời trật lấc của Oâng như trối trăn biểu tượng chính trị cho hậu thế. Đó là ngu xuẩn hay đó chỉ là giả hình muốn mượn đầu Oâng Hoàng Minh Chính để nấu cháo, để cầu may chút quyền lực với CSVN ?


CUỘC GẶP ĐỐI KHÁNG THỰC SỰ
TẠI XỨ THÁI HÀ

Sau cuộc đối kháng tại Tòa Khâm Sứ, TGM NGÔ QUANG KIỆT và Giáo dân Công Giáo Hà Nội tiếp tục đẩy mạnh cuộc đối kháng tại địa điểm khác: Xứ THÁI HÀ, Hà Nội. Chúng tôi gọi đây là việc đối kháng thực sự, chứ không phải là đối kháng cuội. Nó là thực bởi vì nó đến từ sự oan ức của những cá nhân đã phải sống trong nhiều chục năm trường trong những BẤT CÔNG của CSVN. Nó không phải là sự nhào nặn lừa bịp từ những ý niệm trừu tượng của CSVN hay của lời trối của Oâng Hoàng Minh Chính như đã nói ở phần trên đây.

Bà LÊ THỊ KIM THU, chẳng cần phải là Giáo sư dậy Lý thuyết. Bà chỉ là Dân Oan sống thực, nên đã tuyên bố một chân lý “ĐÂU CÓ BẤT CÔNG, ĐÓ CÓ ĐẤU TRANH“. Tôi nói đây là chân lý. Nhưng tại sao đám Trí thức Chính trị lại không thấy chân lý mà Bà LÊ THỊ KIM THU tuyên bố? Tôi hiểu: đám Trí thức Chính trị không dám ngồi lề đường, vườn hoa Mai Xuân Thưởng như Dân Oan đói khát, mà chỉ muốn dùng những tiếng bịp trừu tượng để ngồi nhà mát ăn bát vàng kiếm cơm trên đầu Dân Oan. Bà LÊ THỊ KIM THU quá thực tế mà Dân cùng cực và chính bản thân tôi mến chuộng.

Trong cùng một quan điểm đấu tranh như Dân Oan đã làm, ngày 15.12.2007, Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT quyết định kêu gọi Giáo Oan Công Giáo hãy tụ họp cầu nguyện chống lại những BẤT CÔNG mà cụ thể là đòi lại Nhà Đất Tòa Khâm Sứ—“đâu có bất công, đó có đấu tranh“.

Cũng như Dân Oan bị cướp Nhà Đất, cũng như Công Nhân bị chế độ độc tài CSVN bán rẻ sức lao động cho ngoại lai, cũng như Tổ Tiên không được yên giấc vì bị CSVN cắt Đất Biển dâng cho Tầu, Đức TGM Ngô Quang Kiệt và người Công Giáo đứng lên đối kháng chống lại BẤT CÔNG, hay nói theo phương diện tích cực, đứng lên đòi thực hiện CÔNG LÝ để có HÒA BÌNH.

Cuộc đứng lên không mang mầu sắc chính trị. Chính về điểm này mà tôi đã luôn tha thiết kêu gọi những Chính khách, nhất là những người mon men làm chính trị nhằm chia chác quyền hành, hãy tôn trọng tính cách phi chính trị của cuộc đấu tranh của Dân Oan, Công Nhân và Giáo Oan, đừng gán ghép cho họ những mục đích đấu tranh với những danh từ đã bị chính trị hóa như DÂN CHỦ.

Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã tuyên bố trong Bài Giảng ngày Mồng Ba Tết Mậu Tý tại xứ Thái Hà trước 7'000 giáo dân:“... vì lợi ích chung, không phải chỉ cho một giáo xứ, một giáo hội, một xã hội mà cho cả đất nước... ». Ngài kêu gọi cuộc đấu tranh không phải chỉ cho riêng Công Giáo, mà cho cả đất nước, không phải là chính trị, mà thực hiện quyền Công Dân trong việc đòi hỏi cải thiện Xã Hội.


ĐÔI LỜI KẾT LUẬN VỀ HAI CUỘC GẶP

Hai cuộc gặp gỡ tại Thủ đô Hà Nội mang những khác biệt sau đây:

=> Cuộc gặp nhân đám tang Oâng Hoàng Minh Chính là cuộc gặp của người đấu tranh cho quyền hành Chính trị. Cũng như phần lớn những Trí thức Chính trị lẻo mép, người ta dễ dàng nhào nặn những ý tưởng trừu tượng để bịp bợm dân chúng mà chia quyền cai trị. Người ta núp dưới những ý tưởng trừu tượng này để có thể làm ác hay làm thiện tùy thời cơ nhẩy bàn độc.

=> Cuộc gặp tại xứ Thái Hà là cuộc gặp của những người dân đấu tranh cho quyền sống thực sự của những cá nhân. Họ không nhào nặn những ý tưởng trừu tượng, mà cảm thấy bất công cụ thể làm cho thân thể bằng xương thịt của họ bị dầy vò, khổ cực.

=> Nếu có những Chính trị gia lẻo mép trong đám tang Oâng Hoàng Minh Chính lúc nào cũng nêu ra Chính trị DÂN CHỦ để đấu tranh quyền hành từ trên chụp xuống, thì những người Dân bị oan ức họp lại tại xứ Thái Hà đấu tranh cho CÔNG BẰNG xã hội thực sự và nếu hậu quả mang đến DÂN CHỦ, thì đó là dân chủ thực sự từ nguyện vọng của dân mà lên, chứ không phải dàn xếp dân chủ từ trên chụp xuống.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 17.02.2008
=========================



                                                       TGM KIỆT:
                                           TRÁCH NHIỆM CÔNG DÂN



                                               NGUYỄN PHÚC LIÊN



Trong Bài Giảng tại xứ Thái Hà, mồng Ba Tết Mậu Tý, Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT:
“... vì lợi ích chung, không phải chỉ cho một giáo xứ, một giáo hội, một xã hội mà cho cả đất nước.. ».


Bài SỰ CƯƠNG QUYẾT CỦA TGM NGÔ QUANG KIỆT đính kèm theo dưới đây ghi lại những lời tuyên bố minh bạch chứng tỏ ý chí không thay đổi đấu tranh cho CÔNG LÝ của TGM Kiệt. Trong những lời tuyên bố ấy, chúng tôi xin lấy lại những lời trong Bài giảng tại xứ Thái Hà có liên quan đến đề tài ngày hôm nay:

Trong bài giảng tại xứ Thái Hà mồng Ba TẾT:“ : « xin các môn đệ đã theo Chúa hảy bỏ đi những suy tư cũ kĩ, các hành xử cũ kĩ, các phương pháp cũ kĩ. .. mà sống cho công lý, chứng nhân cho sự thật, dám đổ máu cho công lý nên đã biến đổi thế giới...không còn phải sống chui rúc... không còn sợ chuyện nọ chuyện kia, không còn sợ lúc nào bị trục xuất..... chúng ta phải biết từ bỏ tư lợi, ích kỉ, cá nhân, an phận, phải trở nên những con người mới vì lợi ích chung, không phải chỉ cho một giáo xứ, một giáo hội, một xã hội mà cho cả đất nước.. ».


Ngày 18.12.2007, cuộc Mít Tinh đòi Nhà Đất  của Tòa Khâm Sứ Hà Nội bắt đầu. Cuộc đấu tranh đứng lên trong Mục đích đòi CÔNG LÝ để có HÒA BÌNH.

Nhiều người, trong đó có tôi, tự hỏi phải chăng đây chỉ là việc đòi Nhà Đất cho Công Giáo Hà Nội và khi CSVN trao trả lại rồi, thì Công Giáo Hà Nội ngưng việc đấu tranh, mặc dầu sự bất công về Nhà Đất còn tại những Giáo phận khác, còn nơi những Tôn Giáo khác và  nhất là Dân Oan từ Bắc chí Nam đang hàng ngày khiếu nại về việc cướp bóc Nhà Đất mà CSVN không giải quyết, thâm chí còn đàn áp những Dân Oan khiếu kiện này bằng vũ lực.


ỦNG HỘ TRONG DÈ DẶT

Trong quá khứ đã có những lên tiếng công khai của một số đông Tín hữu Công Giáo về thái độ yên lặng ích kỷ của một số lớn Lãnh đạo Công Giáo Việt Nam, thậm chí có người đã nói rằng Lãnh đạo Công Giáo đã bị CSVN thuần hóa.

Chính vì vậy, lá thư của TGM NGÔ QUANG KIỆT ngày 15.12.2008 kêu gọi Giáo Dân cầu nguyện, rồi ngày 18.12.2008 trên 2'000 Giáo Dân cầu nguyện thực sự để đòi Nhà Đất Tòa Khâm Sứ đã là một biến cố có tính cách bất ngờ.

Những người Công Giáo, trong đó có tôi, nhìn biến cố này với lòng vui mừng phấn khởi và lên tiếng ủng hộ, nhưng lòng vẫn còn có những ngờ vực vì :

=> Quá khứ yên lặng như đã bị thuần hóa của hàng Lãnh đạo Công Giáo

=> Những Thông tin qua VietCatholic News  mà trong quá khứ  Diễn Đàn này đã tỏ những thái độ không ủng hộ, nâng đỡ cuộc đấu tranh anh dũng, chính đáng của Linh mục Nguyễn Văn Lý.

=> Giám mục Nguyễn Văn Sang, một Giám mục quốc doanh như đứng vai trò con thoi trung gian giữa Tòa Giám mục Hà Nội và CSVN. Trong việc TRUNG GIAN này, người ta có thể nghi ngờ Giám mục Sang TRUNG với CSVN nhiều và GIAN với Công Giáo VN cũng không ít như trong quá khứ Giám mục đã chứng tỏ. Chính sự lảng vảng của Giám mục Sang đã tạo thêm lòng ngờ vực cho biến cố mới xẩy ra.


THÁI ĐỘ VÀ LỜI NÓI
CỦA TGM KIỆT TẠO NIỀM TIN

Bản thân chúng tôi còn nhớ lại hai bài viết của TGM Ngô Quang Kiệt, đó là bài về Ra Khơi nhân dịp Đại Hội La Vang và bài về Mang Theo Trái Tim gần đây. Chính bản thân chúng tôi đã nhận định về hai bài này và nhấn mạnh về khía cạnh thực hiện cụ thể chứ đừng như Trái Tim Robot.

Ngày nay, theo rõi những Lời tuyên bố và những Thái độ cứng rắn của TGM Kiệt đối với CSVN, trong dịp biến cố Tòa Khâm Sứ vừa qua, chúng tôi thấy tin tưởng ở sự đấu tranh thực sự của Ngài cho CÔNG LÝ để có Hòa Bình (Xin đọc bài đính kèm).

Chúng tôi đã nhiệt liệt ủng hộ, cổ võ cuộc đấu tranh . Một số các Giám Mục Việt Nam đồng lên tiếng Hiệp Thông với tinh thần đấu tranh thực sự của TGM Kiệt càng làm cho người Công Giáo, trong cũng như ngoài nước, phấn khởi và lên tiếng ủng hộ.

Riêng về Giám mục Nguyễn Văn Sang, lúc đầu người ta có những e dè về Ngài và cho cuộc đấu tranh. Nhưng ngày nay, thì vai trò lăng xăng của Ngài đã bị lộ diện và người ta thấy Ngài không có một tầm ảnh hưởng gì cả.  Thực vậy, chúng ta ghi nhận hai sự việc sau đây:

=> Cha Già Giuse VŨ NGỌC BÍCH chỉ mời một mình TGM Ngô Quang Kiệt đến cử hành Lễ Lớn ngày Mồng Ba Tết tại Xứ Thái Hà, mà không hề mời Giám mục Nguyễn Văn Sang mặc dù Giám mục này đã hàng ao ước tới đây ngày Mồng Ba Tết như Giám Mục đã từng đến đã theo tục lệ từ thời niên thiếu của Ngài. Cha Già Vũ Ngọc Bích tất nhiên không muốn sự hiện diện của Giáo gian trong một cuộc đấu tranh.

=> Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt chưa lần nào mời Đức cha Nguyễn văn Sang đứng chung cầu nguyện, hay đại diện Ngài để thưa chuyện riêng với chính quyền Hà Nội. Việc TRUNG GIAN chỉ là việc mà Giám mục quốc doanh tự nhận, chứ Đức TGM Ngô Quang Kiệt không bao giờ nhờ việc này. Đức TGM Kiệt sợ cái TRUNG của Giáo Gian đối với CSVN trong việc trung gian, nên không nhờ đám Giáo gian làm việc này.

Có lẽ điều mà người Công Giáo vui mừng ở đây là đám ngợm Giáo gian quốc doanh đã bị Giáo dân cũng như những Lãnh đạo Tôn giáo chân chính  lật tẩy và không tín nhiệm. CSVN cũng đã nhận thấy tầm ảnh hưởng của đám ngợm giáo gian quốc doanh đã trở thành vô hiệu đối với Giáo dân. Giáo dân nghe Đức TGM Ngô Quang Kiệt, chứ không nghe Giám mục giáo gian như Đức Cha Sang nữa. Có lẽ cảm thấy điều này, nên Giám mục Sang đã tự nhiên tuyên bố rằng Ngài có khả năng kêu gọi 100'000 Giáo dân tụ họp lại. Tuyên bố như vậy để làm gì, để CSVN còn xử dụng mình nữa phải không ?

Sự việc xẩy ra tại Tòa Khâm Sứ sau lá thư của Hồng Y I-tà-lồ Bertone chỉ là chút rác rưởi bẩn thỉu phải gạt sang một bên để tiếp tục con đường quang minh chính đại là tranh đấu đòi CÔNG LÝ để có HÒA BÌNH. Lá thư rác rưởi bẩn thỉu ấy không thể trở thành một cản trở cho cả khối người Công Giáo đã phải câm nín trong suốt bao chục năm trường và ngày 18.12.2008 đã đồng lòng cất lên tiếng nói. Nhân danh những chục năm trường câm nín ấy, thì lá thư của Hồng Y I-tà-lồ không những là rác rưởi bẩn thỉu, mà phải bị coi là thứ tội lỗi.

Giáo dân Công Giáo Việt Nam đã không coi lá thư của Hồng Y I-tà-lồ ra cái thá gì và đã tụ họp tại xứ Thái Hà với con số đông gấp nhiều lần hơn để cầu nguyện đấu tranh cho CÔNG LÝ dưới sự Chủ tọa của Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT. Hồng Y I-tà-lồ Bertone hãy nhìn hình ảnh trên 7000 người Công Giáo tụ họp tại xứ Thái Hà để đấu tranh giống hệt như lúc khởi đầu tại Tòa Khâm Sứ, thì Hồng Y I-tà-lồ Bertone mới thấm thía lá thư rác rưởi và tội lỗi của mình như thế nào.


NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ
TRÁCH NHIỆM CÔNG DÂN

Cũng như mọi người, chúng tôi ủng hộ cuộc đấu tranh. Nhưng một số người không dám vội vã nhấn mạnh đến khía cạnh trách nhiệm công dân vì e rằng một số lãnh đạo Công Giáo hoặc vì  ngại sợ hoặc đã bị thuần hóa mà lên tiếng chống lại cuộc đấu tranh đòi CÔNG LÝ. Chính bản thân chúng tôi lúc đầu, chúng tôi chỉ nhấn mạnh rằng nếu những buổi cầu nguyện ở Tòa Khâm Sứ chỉ nhằm đòi lại Nhà Đất cho riêng Công Giáo, thì đây là việc làm có thể bị công kích nặng nề về tính ích kỷ.

Dần dần, chúng tôi nhấn mạnh đến khía cạnh đấu tranh cho CÔNG LÝ, mà công lý bao gồm cả Dân Oan, Công Nhân Oan và Tiền Nhân Oan đang bị kềm kẹp bởi cường quyền trong tình trạng BẤT CÔNG, nghĩa là không có CÔNG LÝ.

Những Đoàn thể Công Giáo đứng lên hiệp thông yểm trợ đấu tranh, bắt đầu nhấn mạnh đến khía cạnh trách nhiệm Công dân.  Tỉ dụ Cộng Đồng Công Giáo VN Miền Đông Nam Hoa kỳ, Chủ tịch: Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, đã không ngần ngại viết rõ rệt trong bản Tuyên Ngôn Hiệp Thông: “Tích cực yểm trợ các đòi hỏi của Tòa Tổng Giám Mục Hanoi, Saigon, Huế, xứ Thái Hà thuộc dòng Chúa Cứu thế Hanội về việc yêu cầu nhà nước trả lại các cơ sở và tài sản của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Yêu cầu nhà nước từ địa phương tới trung ương phải nghiêm chỉnh tôn trọng luật pháp quốc gia, chủ động giải quyết một cách công bằng và hợp lý, trả lại đất đai, tài sản của người dân đã bị chiếm đoạt bất công cũng như các cơ sở, tài sản của Giáo Hội công giáo đã bị tịch thu hoặc chiếm mươn. Tích cực cùng toàn dân đẩy mạnh công cuộc tranh đấu bảo toàn hải phận và đất đai của nước Việt Nam.“    

Sau những thử thách đe dọa bởi CSVN với tối hậu thư, bởi chính Vatican với lá thư của Hồng y I-tà-lồ Bertone, Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt như càng được nung nấu ý chí cho cương quyết hơn. Trong bài giảng trước trên 7'000 Giáo dân các nơi tụ về xứ Thái Hà ngày Mồng Ba Tết Mậu Tý, Đức TGM Kiệt thẳng thắn tuyên bố cuộc đấu tranh của người Công Giáo trong TRÁCH NHIỆM CÔNG DÂN: : « xin các môn đệ đã theo Chúa hảy bỏ đi những suy tư cũ kĩ, các hành xử cũ kĩ, các phương pháp cũ kĩ. .. mà sống cho công lý, chứng nhân cho sự thật, dám đổ máu cho công lý nên đã biến đổi thế giới...không còn phải sống chui rúc... không còn sợ chuyện nọ chuyện kia, không còn sợ lúc nào bị trục xuất..... chúng ta phải biết từ bỏ tư lợi, ích kỉ, cá nhân, an phận, phải trở nên những con người mới vì lợi ích chung, không phải chỉ cho một giáo xứ, một giáo hội, một xã hội mà cho cả đất nước.. ».

Trước khi thẳng thắng tuyên bố cuộc đấu tranh này là “cho cả đất nước“, Ngài còn nói để tránh những hiểu lầm. Cuộc tranh đấu này là “vì lợi ích chung, không phải chỉ cho một giáo xứ, một giáo hội“.


Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT mang ý chí nhất quyết tiếp tục cuộc đấu tranh đòi CÔNG LÝ để có HÒA BÌNH. Cuộc đấu tranh này của người Công Giáo được đặt trong trách nhiệm Công dân chung “cho cả đất nước“.


NGUYỄN PHÚC LIÊN
17.02.2008

 





=========================
pho bien/ publication 15.02.2008
=========================



                                            SỰ CƯƠNG QUYẾT
                                     CỦA TGM NGÔ QUANG KIỆT


                                             Nguyễn Phúc Liên
                                                  


=> Trả lời cho việc CSVN nói rằng Nhà Đất Tòa Khâm sứ là do họ tịch thu lại từ người  Pháp, Đức Tổng Giám Mục không cần biện minh dài dòng, mà chỉ kết luận ngắn gọn, dứt khoát: “Nhà Đất của Tòa Khâm sứ là của Tòa Giám Mục Hà Nội, chứ không phải của Tây hay Tầu gì cả“. Chữ “Tầu“ ở đây có thể là dằn mặt CSVN đang bán đất đai của Tổ Tiên cho Tầu.

=> Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội thẳng thắn gửi Thư phản bác Văn Thư của UBND thành phố Hà Nội“ cáo buộc. TGM Ngô Quang Kiệt ý thức rõ rệt rằng mình sẽ phải ứng đối sau này với cả một UBND thành phố quỷ quyệt. Nhưng Ngài sẵn sàng, không sợ hãi vì CÔNG LÝ.

=> Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội thẳng thắn gửi Thư tố cáo những lời bịa đặt của Báo Đài CSVN mạ lỵ. Đức TGM Ngô Quang Kiệt không có gì phải nao núng trước cả một hệt thống tuyên truyền xuyên tạc quen thói của CSVN độc đoán. Tòa Tổng Giám Mục còn đòi buộc Báo Đài phải công khai cải chính. Ngài nhìn SỰ THẬT mà đi, không sợ sệt trước vu khống của cường quyền.

=> CSVN đe dọa khởi tố, bắt tù tội người Công Giáo đang cầu nguyện cho CÔNG LÝ, Đức TGM Ngô Quang Kiệt không tránh né trách nhiệm của mình kêu gọi Giáo dân cầu nguyện qua Thư của Ngài ngày 15.12.2007. Ngài sẵn sàng nhận trách nhiệm của Chủ chăn: “Tôi sẵn sàng đi tù thay cho Giáo dân cầu nguyện trong ôn hòa“ 

=> Trong bài giảng tại xứ Thái Hà mồng Ba TẾT:“ : « xin các môn đệ đã theo Chúa hảy bỏ đi những suy tư cũ kĩ, các hành xử cũ kĩ, các phương pháp cũ kĩ. .. mà sống cho công lý, chứng nhân cho sự thật, dám đổ máu cho công lý nên đã biến đổi thế giới...không còn phải sống chui rúc... không còn sợ chuyện nọ chuyện kia, không còn sợ lúc nào bị trục xuất..... chúng ta phải biết từ bỏ tư lợi, ích kỉ, cá nhân, an phận, phải trở nên những con người mới vì lợi ích chung, không phải chỉ cho một giáo xứ, một giáo hội, một xã hội mà cho cả đất nước.. ».

=> Cũng trong bài giảng, Đức Tổng Giám Mục nhất quyết về việc đòi CÔNG LÝ cho đến thành công “Chúng ta không nên thay đổi trước khi người ta thay đổi”, nghĩa là cuộc đấu tranh không thay đổi trước khi CSVN phải thực hiện CÔNG LÝ.

=> Sau Buổi Lễ tại Thái Hà ngày Mồng Ba TẾT, dưới quyền Chủ tọa của Đức TGM Ngô Quang Kiệt, một Linh mục kêu gọi Giáo Dân: “Kính mời quý cha quý tu sĩ nam nữ và toàn thể anh chị em giáo dân chúng ta đi cầu nguyện đòi đất”. Lời kêu gọi dứt khoát đấu tranh này của một Linh mục được hiểu trong sự hiệp thông nhất trí của Đức Tổng Giám mục.


Cũng xin lưu ý rằng Nhà Đất tại Thái Hà thuộc tầm ảnh hưởng của Dòng Chúa Cứu Thế có hệ thống Quốc tế, có tính cách độc lập với Vatican.

Trong hệ thống các Giáo phận (Triều), Vatican có những ảnh hưởng, nhưng trong hệ thống Dòng tu (Dòng Chúa Cứu Thế), thì hệ thống các Tỉnh Dòng mới có những quyết định ảnh hưởng.

Nguyễn Phúc Liên
15.02.2008





                                          TGM NGÔ QUANG KIỆT

                                        Đức TGM Ngô Quang Kiệt
                             không phải là Đức GM Nguyễn Văn Sang.


                                             Lê Hùng Bruxelles.


Bấy lâu nay, tôi đã miệt mài theo giỏi các tin tức về Việt Nam, nhất là từ ngày giáo dân Hà Nội xuống đường cầu nguyện để chính quyền Việt cộng trả toà Khâm sứ cho Giáo Hội, hầu thiết lập những cơ sở xã hội hữu ích chung cho quốc gia và dân tộc. Chỉ cần hình dung những Cụ ông, Cụ Bà, đêm đêm tiếp tế những thùng xôi cho thanh niên thanh nữ và mọi người đang ngồi giữa muà đông 5, 6 độ C, trong các buổi cầu nguyện liên tục, thì chúng ta thấy rõ Đức Tin và lòng Can Đảm của giáo dân giữa lòng Hà Nội cao đến độ nào.
 
 Các buổi cầu nguyện kể từ ngày 15/12/2007, khởi sự từ lòng đất toà Giám mục Hà Nội và trước toà Khâm sứ cũ, với số người khoảng chừng trên dưới 4000, qua ơn kêu gọi của đức TGM Ngô Quang Kiệt đã làm nhân dân trong và ngoài nước phấn khởi. Qủa thật Đức Tin đã thúc dục và hướng dẩn giáo dân bước qua mọi sợ hãi. Dù bị hăm dọa của công an và sức ép của truyền thông trong nước, ngọn lửa cầu nguyện càng ngày càng bốc cháy.

 
Tự nhiên, chưa đầy tháng, ngọn lửa những đêm cầu nguyện vụt tắt ! . Và quang cảnh bên ngoài khu đất Giám Mục, các lều bạt, ảnh tượng và thánh giá đã âm thầm được giáo dân « vén khéo », qua bức thư của đức Hồng Y Bertone, nhân danh Toà Thánh Vatican, gửi thẳng cho đức TGM Ngô Quang Kiệt. Tin nầy đã làm cho báo chí và giới truyền thông bới câu chế nhiễu đầu môi chóp miệng dân gian: « tưng bừng khai trương, âm thầm dẹp tiện ». Riêng tôi, là một con chiên, cũng lấy làm hụt hững, và đầu óc lắng động. Cầm viết, ý nhiều, mà viết không nên lời. Tôi đành nhờ Ban Biên Tập ghi trên diễn đàn Ba Cây Trúc một lời cầu nguyện duy nhứt, chuyễn dịch (défillant) thường trực : « Cầu xin cho các Giám Mục, Linh Mục và Giáo dân Việt Nam tránh khỏi cảnh tù đày của Việt cộng trong những ngày sắp tới ». Nhưng đó chỉ là một ý nghĩ tiêu cực, tôi tiên đoán để tự trả lời cho tôi trong lúc bối rối lương tâm!.
 
 Tiếp đến mấy ngày gần đây, tin Đức TGM Ngô Quang Kiệt sang Thái Hà ngày mồng 3 Tết để làm lễ khai minh, và giáo dân tập trung về Thái Hà trên 8000 người cùng nhau cầu nguyện đòi đất. Thật là chuyện lạ, vì tôi nghĩ rằng đức TGM Ngô Quang Kiệt không bao giờ lấy lại khí thế giáo dân như những lần cầu nguyện tại vùng toà Khâm Sứ cũ !. Tôi có cảm tưởng, nhờ Ơn Thiên Chúa, những buổi cầu nguyện giáo dân nay muốn rời địa phận Giám Mục Hà Nội chuyễn về tụ họp tại giáo khu Thái Hà, nên tôi rất phấn khởi và bắt đầu viết lại về các buổi cầu nguyện, nhất là về phuơng diện có liên quan đến chính trị.
 
 Bài viết này, trước hết tôi cầu xin Thiên Chúa ban hồng ân riêng cho đức Giám Mục Ngô Quang Kiệt, để trên con đường hành trình của Ngài thông thoáng hơn, tránh được những « con rối » vung vít ngăn cản và ban cho toàn thể anh chị em giáo dân Hà Nội nói riêng, toàn quốc nói chung, nhìn được bộ mặt thật những « con sói » trá hình giữa đoàn chiên .
 
 Thật vậy, chỉ cần đọc thoáng qua một vài tin tức trên diễn đàn, mọi người đều thấy có một « hiện trạng kỳ lạ » giữa hai vị Giám Mục Công Giáo trong nước. Đó là đức Tổng Giám Mục Hà nội Ngô Quang Kiệt, người đề xướng các buổi cầu nguyện, và đức Giám Mục Thái bình Nguyễn Văn Sang, người làm con thoi giữa chính quyền cộng sản và TGM Ngô Quang Kiệt và Giáo dân. Là con chiên, tôi không dám có lời bình phẩm đối với hai Vị Giám Mục thiêng liêng cao cả, nhưng tôi chỉ xin chép lại những bài vở, những chứng tích của hai Đức Giám Mục, để đề phòng những gì xấu xa có thể xẩy ra cho Giáo Hội Việt Nam và cho toàn thể anh chị em Giáo Dân trong những ngày sắp tới.
 
 1. Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt.

 Đức Tổng Giám Mục Ngô quang Kiệt trong dịp khánh thành Nhà nguyện mới giáo xứ Thái Hà dòng Chúa Cứu Thế đã dõng dạc nói lên tâm tư của Ngài : « xin các môn đệ đã theo Chúa hảy bỏ đi những suy tư cũ kĩ, các hành xử cũ kĩ, các phương pháp cũ kĩ. .. mà sống cho công lý, chứng nhân cho sự thật, dám đổ máu cho công lý nên đã biến đổi thế giới...không còn phải sống chui rúc... không còn sợ chuyện nọ chuyện kia, không còn sợ lúc nào bị trục xuất..... chúng ta phải biết từ bỏ tư lợi, ích kỉ, cá nhân, an phận,phải trở nên những con người mới vì lợi ích chung, không phải chỉ cho một giáo xứ, một giáo hội, một xã hội mà cho cả đất nước.. ». Qua lời nầy, chắc chắn có người đã không cầm giọt lệ, trong đó có tôi.
 
 Qua ngày 11/01, chính quyền địa phương tại Hà Nội muốn khủng bố, lại đưa ra một văn thư trong đó cáo buộc Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt là “lợi dụng tự do tôn giáo để khích động biểu tình chống lại nhà nước”, “tổ chức các buổi cầu nguyện để phản đối sau từng Thánh lễ”, và “làm thiệt hại đến mối quan hệ giữa nhà nước Việt Nam với Tòa Thánh Vatican.” ! Để trả lời bức thư của chính quyền Hà Nội ngày 14/1, đức TGM Ngô quang Kiệt đã phãn bác : “Giáo dân Công giáo Hà Nội không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc cầu nguyện ôn hoà tại mảnh đất đang tranh chấp để nhà nước chú ý đến những bất công mà họ đang gánh chịu” bởi vì “các đơn kêu cứu của họ đã không được cứu xét”. Điều nầy có nghĩa là đức TGM sẵn sàng nhận lãnh mọi trách nhiệm của người chủ chiên.

 Riêng diễn đàn VietCatholic thì cho biết trong nước có tờ báo VNExpress đưa tin như sau : « Tại Hà Nội, khoảng 10h sáng nay xe máy gửi ở 2 bên vỉa hè đường Nguyễn Lương Bằng dẩn vào nhà thờ Thái Hà chật kín. Theo thông lệ hàng năm vào ngày này, người dân từ các nơi đổ về nhà thờ Thái Hà dự lễ “Thánh hóa công ăn việc làm đầu năm”. Tranh thủ dịp này, các hàng gửi xe mạnh ai nấy “chém”. Càng đông người đến, giá vé càng leo thang. Nhiều người dân xung quanh thậm chí bỏ hẳn công việc hàng ngày để làm dịch vụ trông giữ xe. Ngày Tết vắng khách, chủ một quán cà phê trên đường Nguyễn Lương Bằng tranh thủ dẹp hết bàn ghế để lấy chỗ cho khách gửi xe ».
 
 VietCatholic còn viết tiếp : « Phần lớn các giáo dân đến từ các giáo xứ trong thành phố Hà Nội và từ các tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Hà Nam, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ v.v.

 Thánh lễ lúc 10 h do Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt chủ sự. Có hơn một chục linh mục trong Giáo hạt Hà Nội đồng tế với ngài.

 Trong lời nhắn nhủ cuối lễ Đức Tổng Giám Mục nói rằng: Sau khi Chúa Giêsu chịu chết chính Đức Mẹ đã quy tụ các tông đồ để các ngài đón nhận Chúa Thánh Thần và làm nên mùa xuân của Giáo Hội. Hôm nay Đức Mẹ cũng đã quy tụ chúng ta về đây để cùng nhau cầu nguyện đón nhận Chúa Thánh Thần. Hy vọng nhờ vậy chúng ta cũng được trở nên muà xuân mới.

 Kết thúc thánh lễ, một cha trong Tu viện Thái Hà đã kêu gọi: “Kính mời quý cha quý tu sĩ nam nữ và toàn thể anh chị em giáo dân chúng ta đi cầu nguyện đòi đất”. Đấy là lời kêu gọi rất thật, phản ảnh bản chất và mục đích các sự kiện đang diễn ra ở Thái Hà ». (hết trích).

 Tôi có cảm tưởng trong ngày đầu Xuân, tại Việt Nam đã có một cuộc « di dân công giáo » từ toà Tổng Giám Mục Hà Nội đến giáo khu Thái Hà. May thay, trong cuộc cầu nguyện này vắng bóng đức cha Nguyễn Văn Sang. Giả thử có đức Cha Nguyễn Văn Sang tham dự đồng tế thì chắc chắn Giáo Dân lên trên vài trăm ngàn là ít và khi đó chính quyền Hà Nội không đủ số nhân viên công an khống chế và kiểm soát! 
 

 2. Giám mục Nguyễn Văn Sang.
 
 Sau ngày 15/01/2008, những lời cầu nguyện vang dậy khắp năm châu của đông đão giáo dân và đồng bào không phân biệt tôn giáo, Bộ chính trị đảng đã phái thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến quan sát hiện trường. Kết qủa chưa biết ra sao, nhưng đức Giám Mục Nguyễn Văn Sang đã « tự động » làm con thoi đứng ra « dàn xếp » giữa chính quyền và Giáo Hội, và theo Ngài cho biết chẳng có bên nào « nhờ cậy » . Ngài chỉ làm một việc vô vị lợi để « hiến dâng » trước ngày nghĩ hưu. Thế mới biết Ngài là đấng « tiên tri » những gì « xấu tốt » có thể sẽ xẩy ra trên đất nước quê hương. Ngài là đấng Giám Mục có lời ăn nói với lý luận tài ba, có viết lách sắc bén. Trong Giáo Hội thì Ngài là vị Giám Mục nắm quyền lãnh đạo cao cấp một vùng. Ngoài chính phủ thì Ngài là người được chính quyền Hà Nội giám sát tin tưởng, đã từng nhận được bổng lộc và vài tấm huy chương cao to nhất.

 Tôi đã từng nhắc lại trong một bài viết là « Đức Cha F.X. Nguyễn văn Sang, một vị Giám mục mà bấy lâu báo chí thường đưa tin tức rằng chính quyền cộng sản Hà nội rất « tin tưởng ». Ngài là vị Giám Mục Công Giáo được ban tặn huy chương cao to « bác Hồ » ( ?) , nhưng lần nầy Ngài « chỉ mong ước và dành quyền chọn lựa cho giáo dân ». Có thể vì Ngài đã quá nhiều kinh nghiệm với chiến thuật xão trá của Việt cộng, nên hôm nay Ngài không muốn « thả mồi bắt bóng ». Nói khác, lời Đức Cha Sang có ẩn ý cho giáo hữu biết rằng « lời cầu nguyện chỉ nên chấm dứt khi chính quyền Hà nội phải trả lại đất đai Toà Khâm sứ bị chiếm cứ bất hợp pháp ». Và như vậy, mọi người đã biết rõ lập trường dứt khoát của Ngài đối với cộng sản và quyết dấn thân cho Giáo Hội. ».
 
 Diễn đàn VietCatholic hôm qua (13/02/2008) , trong bài « Đầu Năm Viếng Thăm Mẹ », ghi từ Nhật ký cùng ngày 13/02/2008 của đức Giám Mục Nguyễn Văn Sang, và xét ra vì Ngài rất bận việc, nên mãi đến ngày mồng 5 Tết mới đến viếng Mẹ Hằng Cứu Giúp tại Thái Hà như sau :

 « Đáng lẽ theo lệ thường, tôi đã ở nhà thờ Thái Hà trong dịp TẾT Mậu Tý, vào buổi lễ minh niên như tôi đã nhiều lần tới viếng Đức Mẹ vào mùng 3 Tết. Tôi nhớ thuở thiếu thời, khi còn đi học ở Hà Thành, vào ngày Mồng 3 Tết hằng năm, tôi thường đến Nhà thờ Thái Hà để xin Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cho công việc học hành được tấn tới, như câu nói mà tụi học trò chúng tôi vẩn thường trêu nhau: “Học trò thò lò mũi xanh, tay ôm chiếc mũ chạy quanh nhà thờ”. Về sau này, khi đã làm linh mục, nhất là Giám mục phụ tá Hà Nội, tôi cũng nhiều lần được mời tới dâng lễ và giảng lễ tại đây. Cho đến khi đã được bổ nhiệm làm Giám mục Thái Bình, đã đôi ba lần tôi được cha già Giuse Vũ Ngọc Bích mời tới dâng lễ, giảng huấn và gặp gỡ những anh chị em giáo dân thân quen.Dần dần do bận công việc mục vụ, nên nhiều năm tôi không thể tới viếng Đức Mẹ vào dịp lễ Minh niên mồng 3 Tết được nhưng trong lòng vẩn nhớ da diết các buổi lễ trang trọng sốt sắng này.

 Mồng 3 tết năm nay, buổi sáng, tôi đã dâng lễ với cả giáo phận ở trại phong Văn Môn, mang tất cả quà bánh, tiền bạc nhận được cùng với các linh mục, nam nữ tu sĩ đi biếu các bệnh nhân phong, để chia sẻ niềm vui ngày Tết với họ, đồng thời làm lễ phát động năm Hồng Đào, khởi hành chiếc “đại xa”: Làm việc Bác ái xã hội. Buổi chiều, tôi lại cùng với các linh mục trong giáo phận đi dâng lễ an táng cho một Linh mục 68 tuổi, học lớp lớn tuổi ở Đại Chủng viện Sao Biển Nha Trang vừa qua đời vào đúng đêm 30 tết, sau tròn hai năm làm linh mục.
 
 Sáng mồng 4 tết, tôi tới dâng lễ và chủ sự cuộc rước kiệu Hồng Đào ở Bồ Ngọc - một giáo xứ ven đê sông Luộc, dưới trời rét lạnh thấu xương. Chiều về đến nhà mở xem trên mạng Internet thấy tiếc ơi là tiếc vì không có mặt để chứng kiến cuộc lễ Minh niên kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tại giáo xứ Thái Hà – Hà Nội. Trong bản tin đã đưa, sau thánh lễ, hàng ngàn người đã ra “hiện trường” – nơi khu đất đang còn tranh chấp để đọc kinh cầu nguyện.
 
 Do vậy, sáng mồng 5 Tết, tôi quyết tâm phải đến viếng Đức Mẹ Thái Hà và tham dự buổi cầu nguyện. Trời lạnh quá! Thêm tuổi cao sức yếu, đôi chân nhức buốt nên mãi gần 9 giờ sáng tôi mới đi xe tới Thái Hà. Đường phố thủ đô vắng tanh vắng ngắt, có lẽ do một phần dân về quê ăn tế hoặc ở trong nhà vì ngoài trời nhiệt độ xuống tới 8, 9 độ C ».

 Quả thật cực nhọc và tội nghiệp cho một vị Giám Mục trọng tuổi như Ngài! Tôi xin mọi người hảy để cho tuổi già của Ngài yên thân !. Đến đây, tôi thầm trách cha già Guise Vũ Ngọc Bích, đầu Tết năm nay, không đưa thư mời Ngài mà lại đưa thư mời « một mình đức Giám Mục Ngô Quang Kiệt » đứng ra làm chủ tế lễ minh niên. Há lẽ cha già Vũ Ngọc Bích không biết hậu quả sự mời mọc này sẽ gây thêm phiền phức cho giáo phận Thái Hà, ít nhất là hơn 7000 giáo dân theo chân đức TGM Ngô Quang Kiệt, hay sao ? Và cũng lạ là vì sao đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt lại chưa lần nào mời đức cha Nguyễn văn Sang đứng chung cầu nguyện, hay đại diện Ngài để thưa chuyện riêng với chính quyền Hà Nội, cho đúng phép « lấy thiện chí đáp lại thiện chí » ?.

 Còn để chứng minh thêm « tài và thiện ý » của đức Giám Mục Nguyễn văn Sang, tôi xin phép chép lại những mẩu « bài viết mẫu » có thực để độc giả nhận thêm chân giá trị thiên lương cuả Ngài. Nhất thiết tôi không dám thêm bớt một chữ nào.

 Trên diễn đàn Đàn Chim Việt, một tác nhân thiên chúa giáo, ông NVL, đã viết :
 “Xin trích dẩn một cuốn sách của giám mục Nguyễn Văn Sang, một cuốn sách làm nhiều người Thiên Chúa giáo xấu hổ khi phải đọc. Biết làm sao, ở đâu cũng có người ngay lành và kẻ không ngay lành.
 
 Cuốn sách chỉ có hai mục đích: xưng tụng mình và tán tụng chế độ.
 
 Sau này, trong cuốn băng thu lại buổi nói chuyện ở Thị Nghè về chuyến đi Roma. Lm Sang khoe là cả chuyến bay, chỉ có mình Lm là có thông hành ngoại giao. Chỉ mất 5 phút là khai báo xong mọi thủ tục. Từ Đức Giáo Hoàng, Hồng y ở Roma đều khen ông trẻ, năng động, khéo quá. Trong buổi khai mạc Hội nghị truyền giáo, Lm Sang kể lại lời phát biểu của Hồng y Rossi: “sau cùng ngài hướng về phía tôi nói: ‘chúng ta nhiệt liệt hoan nghênh sự có mặt của giám mục Nguyễn Văn Sang’… Cả hội trường vỗ tay như pháo nổ, hoan hô và chào mừng những đứa con của giáo hội VN và của đất nước anh hùng vừa chiến thắng ngoại xâm” (trang 38-39).
 
 Kể ông Hồng y này cũng thuộc bài nhanh thật, biết xử dụng chữ Đất nước anh hùng? Hay phải chăng chỉ là chữ nghĩa của Giám mục Nguyễn Văn Sang gán vào miệng ông Hồng y?
 
 “Lm Nhật Bản thì khen tôi nói tiếng Pháp rõ ràng và hay lắm, lại nói được tiếng Anh, tiếng Đức.. Kem Ý ăn vừa ngon ngọt, vừa bổ khiến tôi đâm nghiện, không mấy ngày không ăn.. Thấy họ, tôi tiếc cho đời mình không có điều kiện để học hành kỹ càng đến nơi đến chốn… Song nhiều lần, tôi cũng tự an ủi mình và nói đùa với nhau: Chả gì ta cũng tốt nghiệp đại học nhân dân, 25 năm sống trong long dân tộc, dưới chế độ xã hội chủ nghiã, hỏi có bằng nào hơn không?”
 (Trang 61)
 
 Thật là ngượng.
 
 “Tôi gặp một anh lính nguỵ, tôi nảy ra ý định thử chàng lính ngụy một phen, bèn hỏi thẳng anh ta:
 
 Cậu đã ra Bắc học tập cải tạo, cậu thấy sự đạo ngoài đó ra sao?
 
 Anh lính nhìn tôi một lúc rồi hăng hái nói:
 - Hết trơn đạo rồi còn đâu, mấy ông Lm, bà phước vô khám hết trơn à. Nằm ở trại Hỏa lò suốt ba tháng trời, tôi hổng nghe tiếng chuông nhà thờ, chùa chiền gì hết.
 
 Mấy ông Lm bụm môi cười không nổi. Còn tôi, cáu quá, muốn bạt tai anh lính nguỵ mấy cái, vì dám đưa tin thất thiệt cả với “ông cụ đạo miền Bắc” chính cống đang đứng trước mặt hắn, xong tôi lại thương hại, chỉ vì hắn muốn xin ăn trong những ngày lang thang trên đất khách quê người, nên đành phải tung tin thất thiệt đó ra. Thôi cũng tha thứ cho những con người đáng thương đó”.
 
 Ai cần được tha thứ và ai đáng thương hơn ai?
 
 “Tôi coi cuốn phim: Những chặng đường lịch sử… Nhưng hình ảnh cuối trong phim như làm tim tôi ngưng đập. Rõ ràng có cảnh tôi làm lễ và giảng lễ đêm sinh nhật năm 1972 ở nhà thờ Lớn Hà Nội.. Ôi, hình ảnh khiêm tốn của tôi được chọn để ghi vào những chặng đường lịch sử của Dân tộc, mà tôi có công lao gì đâu. Cuốn phim này cũng được chiếu rộng rãi trong cả nước, nên mọi người đều thấy tôi đêm đó mặc lễ phục trắng, thêu những bông huệ tười đẹp, và họ đến thăm tôi, ca ngợi...”
 
 Đàn Chim Việt còn cho biết rằng « cuốn sách nói tới ở đây có tựa đề là “Hành Hương & Thăm Viếng” của GM F.X. Nguyễn Văn Sang cuốn 1 & 2 do Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn ở VN ấn hành. Để kiểm chứng, chúng tôi đã cố gắng tím bộ sách này và ban đầu không khỏi ngạc nhiên khi thấy có nhiều chi tiết được tác giả Nguyễn Văn Lục trích dẩn hơi khác hoặc không có, kể cả số trang cũng không ăn khớp. Mở tới trang cuối tôi mới vỡ lẽ: bộ sách tôi đang có trên tay được in lại ngày 01-6-2003 có ghi rõ là “sửa lại tại Thái Bình” trong khi ấn bản nguyên thủy in tại Hà Nội tháng 6-1983, tức là đúng 20 năm trước. Và như vậy có thể nhà văn NVL đã căn cứ vào ấn bản đầu ».
 
 Cũng xin trích vài chi tiết trong bộ mới đã sửa lại để rộng đường dư luận:
 
 “Tôi bước vào tòa Đại Sứ như bước vào mảnh đất thiêng liêng của Tổ Quốc, nơi ấm áp tình thương của tất cả những người đồng bào ruột thịt” (trang 33 cuốn 1) “Cả hội trường vỗ tay như pháo nổ hoan hô và chào mừng những đứa con của Giáo Hội Việt Nam và của đất nước anh hùng” (trang 41 cuốn 1) “Tôi cười nói với các Ngài một câu châm ngôn ‘Sự gì có liên hệ cho sự đấu tranh cho con người, cho hạnh phúc phồn vinh của họ thì không xa lạ với đất nước chúng tôi” (trang 49 cuốn 1) “Thấy họ, tôi tiếc cho đời mình không có điều kiện để học hành kỹ càng đến nơi đến chốn một vấn đề, một ngoại ngữ, thì lấy bằng cấp này khác. Song nhiều lần tôi tự an ủi mình và nói đùa với nhau: ‘Chả gì ta cũng đã tốt nghiệp Đại Học Nhân Dân, 25 năm sống trong lòng dân tộc, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hỏi có cái bằng nào hơn’” (trang 61 cuốn 1) “Ngài nói tiếng Pháp rất trôi chảy…rất thích thú khi nghe tôi kể cho Ngài nghe về Việt Nam kháng chiến chống ngoại xâm” (trang 69 cuốn 1) “Thú thật đã lâu lắm tôi mới được một bữa ăn ngon miệng… trong ngôi nhà tượng trưng cho Tổ Quốc thân yêu… chung bàn với người đại diện Chính quyền VN yêu mến vừa chân thành vừa trân trọng… Trong bữa ăn, Đại Sứ thân ái hỏi thăm tình hình bên nhà… Bước lên xe từ giã tòa nhà thân thiết tượng trưng cho Tổ Quốc mến yêu, tôi ra về, trong lòng cảm thấy lâng lâng”. (trang 73/74 cuốn 1) “Tôi trả lời có ý đùa cô chiêu đãi viên: Đừng có căn cứ vào da vàng mũi thấp mà bảo ai cũng là người Nhật cả… Tôi là người Việt Nam, Việt Nam Điện Biên Phủ đây” (trang 122 cuốn 1) “…trước khi tới Paris, tôi đã nghe nói các người Việt Nam ở đây thuộc nhiều thành phần, quan điểm chính trị rất khác nhau… tôi quyết định sẽ dè dặt trong việc tiếp xúc với họ…. hễ có ai gọi giây nói cứ bảo tôi đi vắng …, trừ bên tòa Đại Sứ Việt Nam..” (trang 126 cuốn 1) “Tôi rất xúc động vì đã nghe tên Đại Sứ là một nhân vật thế giá đại diện cho VN ở nước Pháp văn minh lịch sự này đã lâu, nay mới được gập mặt. Đại Sứ rất lịch thiệp, dịu dàng mời tôi ngồi xuống cạnh ông trên divant, song tôi vẩn đứng nói mấy câu chào kính Đại Sứ và các vị trong tòa nhà tượng trưng cho đất nước anh hùng của tôi…” (trang 132 cuốn 1) “Xe điện ngầm ở Pháp có đã lâu đời không được tiện nghi sạch sẽ… Nghe nói ở Mátxcơva có tàu điện ngầm với những ga bến sang trọng, đẹp đẽ vào hạng nhất thế giới…” (trang 148 cuốn 1) . (trích bài viết của NVL trên diễn đàn Đàn Chim Việt)
 
 Tôi đã sống qua 5 triều đại Giáo Hoàng. Nhưng tôi chỉ nhớ dưới thời TT Ngô Đình Diệm, năm 1963 chính quyền Việt Nam bị Toà Thánh Vatican khuyến cáo 2 lần. Nói theo chữ thời nay là « nhúng tay vào nội bộ chính trị quốc gia Việt Nam). Mà lần đầu là sau khi đức Thánh Cha Paul VI du hành Ấn Độ. Ngài là vị Thánh Cha mở đường đầu tiên cho những cuộc du hành xa thành Rome của những vị Giáo Hoàng kế tiếp về sau nầy. Tại Việt Nam, chẳng bao lâu, đức Giám mục Ngô Đình Thục sửa soạn về nhậm chức Tông phận Saigon, thì được thuyên chuyễn từ Vĩnh Long ra Huế, và Giám Mục Nguyễn Văn Bình từ Cần Thơ chuyễn về giử chức Tổng Giám Mục Saigon. Kể từ thời gian nầy, miền Nam Saigon, báo chí cũng thay chiều. Tại miền Nam dấy lên những vụ Phật Giáo, những tên hoạt động thành phần thứ ba và Mặt Trận Giải Phóng nở hoa. Nhưng phần nầy đi ra ngoài đề tài tôi muốn « báo động » dư luận, vì vậy tôi xin khất lại trong bài sau.
 
 Để kết thúc bài nầy, tôi xin mọi độc giả biết cho rằng Đức TGM Ngô Quang Kiệt không phải là Giám Mục Thái Bình Nguyễn Văn Sang. Tôi xin mọi người cùng cất tiếng cầu nguyện Thiên Chúa cho Giáo Hội Việt Nam và toàn Giáo dân được An Lành, dù bất cứ ở dưới Đức Giám Mục nào hay dưới chính thể nào.

  
 Lê Hùng Bruxelles (13/02/2008) .




=========================
pho bien/ publication 15.02.2008
=========================




                                 THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC VIỆT NAM



                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



CHÚ THÍCH (Nguyễn Phúc Liên)

Chúng tôi đã viết phân tích về Thị trường NHÂN LỰC để cho thấy rằng Công Nhân Việt Nam hoàn toàn có quyền đứng chung lại thành những Tổ chức Độc lập để bảo vệ quyền lợi của mình. Đây là quyền tối thượng phải được tôn trọng.

Nhưng ngày 30.01.2008, Nguyễn Tấn Dũng đã ký hai Nghị Định 11 & 12/2008 để cấm đoán Đình Công nhằm phục vụ ngoại lai khai thác Nhân Lực Việt Nam. Chúng tôi rất đắc ý về quan điểm phân tích của Tiến sĩ ÂU DƯƠNG THỆ về hai Nghị Định này.

 

Hôm nay, tôi viết thêm bài nữa, hoàn toàn theo những phân tích đơn thuần Kinh tế về Thị trường Nhân Lực. Đây là bài học rất sơ học yếu lược về Kinh tế chính trị (Economie politique). Bài học đòi hỏi phải có Nghiệp Đoàn Lao Động Độc Lập, đại diện giới nghèo để bênh đỡ quyền lợi cho họ.


PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG VỀ MẶT KINH TẾ

Chúng tôi lần lượt phân tích những điểm sau đây:

@ Sức Lao Động là một Tư hữu không tách rời Sở hữu chủ 
@ Thị Trường Hàng Hóa nói chung
@ Thị trường Nhân Lực nói riêng


Sức Lao Động là một Tư hữu không tách rời Sở hữu chủ.  

Sức lao động của một người là tư hữu đầu tiên của riêng từ người. Đó là cái vốn đầu tiên để người ấy khai thác tìm phương tiện sống cho bản thân mình. Tư hữu Lao động khác với những tư hữu khác ở đặc tính là sức lao động không thể bán đứt cho người khác mà chỉ có thể cho thuê (On ne vend pas sa force de travail, mais on la loue seulement/ the people cannot sell the Labour, but they lease it only). Đó là tính cách không tách rời Tư hữu Lao động ra khởi Sở hữu chủ, nghĩa là không thể đổi chủ đối với Sức Lao Động. Ngay trong thời kỳ có chế độ Nô lệ, người ta có thể mua bán người nô lệ, nhưng không thể nói rằng người ta mua bán Sức lao động của người nô lệ. Sức lao động của một người nô lệ không thể tách rời chính người nô lệ ấy. Khi cha mẹ để lại cho con căn nhà, thì căn nhà này là tư hữu của người con và người con này có thể bán căn nhà (tư hữu) cho người khác đến làm chủ. Căn nhà cũng là tư hữu, nhưng là tư hữu có thể bán, không giống như tư hữu Lao động của riêng mỗi người.

Một hệ thống Kinh tế tôn trọng quyền tư hữu, thì buộc lòng phải cho Sở hữu chủ có quyền TỰ DO xử dụng tư hữu ấy. Nếu không có quyền xử dụng tư hữu, thì không thể gọi đó là tư hữu nữa. Đây là quyền tự do khai thác tư hữu trong hoạt động Kinh tế (Libre entreprise des propríetés privées). Sức Lao động là một tư hữu cơ bản không tách rời Sở hữu chủ vì vậy Sở hữu chủ có toàn quyền tự do quyết định xử dụng nó trong việc tìm phương tiện nuối sống mình.

Khi ngoại nhân, dù có quyền lực đến đâu đi nữa, cũng không thể nào quyết định xử dụng Tư hữu Lao động của một người (Sở hữu chủ) mà không có sự đồng thuận CHO THUÊ, quyết định tự do của Sở hữu chủ.


Thị Trường Hàng Hóa nói chung   
 
Mỗi một hàng hóa tạo một Thị trường: Thị trường Gạo, Thị trường Cà phê, Thị trường Rau muống, Thị trường Nhà cửa, Thị trường tiền Đo-la, Thị trường Bảo Lãnh Ngân Hàng... Trên các Thị trường này, có thể MUA ĐỨT hay chỉ CHO THUÊ. Người ta có thể bán đứt một Bảo Lãnh Ngân Hàng hay chỉ cho thuê tờ Bảo Lãnh ấy. Khi mua bán đứt một hàng hóa thì phải thay đổi Sở hữu chủ. Còn nếu chỉ cho thuê, thì Sở hữu chủ không thay đổi, mà chỉ có sự nhượng quyền xử dụng tư hữu mà thôi trong một thời hạn quy định theo Hợp Đồng. Người xử dụng tư hữu của người khác không được toàn quyền phá hủy tư hữu ấy. Tỉ dụ nếu mua đứt một chiếc xe, Sở hữu chủ là chính mình, thì mình có thể bán xe cho người khác, thậm chí có thể tự do đập phá chiếc xe đó. Nhưng nếu là xe thuê (Leasing), thì mình không thể tiêu hủy chiếc xe bởi vì Sở hữu chủ là người khác.

Dù MUA BÁN hay THUÊ MƯỚN thì phải có hai bên: người có tư hữu và người chiếm hữu hoặc chỉ muốn quyền xử dụng. Người có tư hữu muốn bán hoặc chỉ cho thuê tư hữu thì phải nhận được một cái gì mới quyết định trao đổi. Tất nhiên người muốn chiếm hữu hoặc chỉ muốn quyền xử dụng một tư hữu cũng phải ưng thuận cho Sở hữu chủ một cái gì để trao đổi. Kinh tế không chấp nhận trường hợp những Thánh Nhân mang tư hữu ra chợ tặng không cho người khác. Kinh tế cũng không chấp nhận người muốn chiếm tư hữu người khác hoặc bắt ép người khác cho mình xử dụng mà không trả cho Sở hữu chủ một cái gì để trao đổi, nghĩa là Kinh tế không chấp nhận những cường quyền ăn cướp tư hữu người khác hoặc xử dụng tư hữu ấy mà không đền bù một cái gì.

Phía Sở hữu chủ mang tư hữu đến Thị trường (Chợ) với mục đích trao đổi gọi là phía CUNG của Chợ. Còn phía đến Chợ để mong chiếm hữu hoặc muốn có quyền xử dụng gọi là phía CẦU. Hai phía thảo luận, mặc cả với nhau để có một CÁI GIÁ trao đổi quyền tư hữu hay CÁI GIÁ nhượng quyền xử dụng (Leasing). Tỉ dụ LÃI SUẤT của Thị trường Vốn là CÁI GIÁ ưng thuận nhượng quyền xử dụng Vốn. CÁI GIÁ của Thị trường thay đổi tùy số lượng tham dự Chợ của hai phía CUNG, CẦU của Thị trường.

Một Thị trường gọi là TỰ DO khi phía CUNG cũng như phía CẦU có quyền TỰ DO tham dự Chợ. Một sức mạnh Thứ Ba nào đó (như Đầu Cơ, Chính trị...) can thiệp vào Chợ sẽ làm mất TỰ DO quyết định của phía CUNG và phía CẦU. Từ những ông Tổ cổ điển của Kinh tế Tự do Thị trường đều yêu cầu rằng quyền lực Chính trị đừng can thiệp vào Thị trường bởi vì Chợ Đen, Buôn Lậu, Tham Nhũng, Đầu Cơ, Tiêu Tốn Xã Hội (Couts sociaux) tự động phát sinh.

Khi phía CUNG có quá nhiều người tham dự cũng như phía CẦU có quá đông người, thì việc am tường về Chợ của từng cá nhân có thể không quán xuyến nổi hoặc bị cảnh lắm thầy thối ma làm giảm sức mạnh của mỗi phía. Chính vì vậy, số đông những cá nhân của mỗi phía chọn ra những người chuyên môn đại diện để thông tin về Chợ và để có quyết định thống nhất hơn làm tăng sức mạnh mỗi phía CUNG cũng như CẦU. Những người chuyên môn được làm đại diện này tạo thành những Hội, những Nghiệp Đoàn. Như vậy những Hội, những Nghiệp Đoàn hoàn toàn được tạo ra do nhu cầu Kinh tế trong việc thông tin, thương lượng... bênh vực quyền lợi của mỗi phía của Thị trường về GIÁ CẢ trao đổi. Tỉ dụ Hội những Ngư Dân nhằm thông tin, thương lượng về giá cả cá mắm chẳng hạn. Quyền lực Chính trị không được xen lấn vào quyết định của Thị trường, nhất nữa càng không được tự mình lập những Hội theo khuynh hướng Chính trị của Nhóm Đảng mình và dành quyền đại diện cho các phía của Chợ để quyết định về việc trao đổi Tư hũu trên Thị trường của các Tư nhân tham dự.

 
Thị trường Nhân Lực nói riêng

Thị trường Nhân Lực cũng là một cái Chợ mang những tính chất chung vừa trình bầy trên đây: TỰ DO quyết định, không có quyền lực Chính trị can thiệp cản trở hay ấn định, mỗi phía CUNG, CẦU cần có những Hội, những Nghiệp Đoàn đại diện đích thực cho mỗi phía.
Nhưng tôi tách Thị Trường Nhân Lực ra riêng bởi lẽ có những đặc điểm sau đây:

=> Thị trường Nhân Lực chỉ có CHO THUÊ Sức Lao động

Như trên đã nói, tư hữu của mỗi cá nhân là Sức lao động của riêng họ và không thể tách rời khỏi Sở hữu chủ. Do đó Thị trường này không phải là Thị trường để bán đứt Sức Lao động, mà chỉ là CHO THUÊ Sức lao động mà thôi. Tiếng Việt mình phân biệt rất rõ về Thị trường này khi nói là đi THUÊ, đi MƯỚN thợ, chứ không bao giờ nói là đi MUA thợ bởi vì tư hữu Sức Lao động không bao giờ thay đổi Sở hữu chủ.

Cái GIÁ trao đổi của Thị trường Nhân Lực là ĐỒNG LƯƠNG. Khi nói đến THUÊ, MƯỢN phải có yếu tố THỜI GIAN can thiệp vào trong khi MUA ĐỨT một tư hữu thì không cần phải kể đến yếu tố thời gian. Tỉ dụ khi nói đến Lãi suất (Giá Thuê Vốn), thì phải định theo thời gian xử dụng Vốn nữa, trong khi ấy khi nói đến Mua Đứt số Vốn thì không cần phải kể đến thời gian nữa.

Phân tích như trên để chúng tôi nhấn mạnh rằng khi cho thuê Sức Lao động, người Công nhân có quyền xét Đồng Lương dựa trên : (i) giá trị cao thấp của Sức Lao động mà cá nhân có được; (ii) thời gian cho thuê sức lao động ấy.

=> Tính cách chuyển hoá linh động của Thị trường Nhân Lực

Ở những Thị trường hàng hóa, không có những thay đổi mau lẹ của giá trị hàng hóa, nên kém tính cách chuyển hóa linh động vì thế mà giá cả mua bán hoặc cho thuê có thể đứng lâu ở một mức độ. Nhưng ở Thị trường Nhân Lực, vì Sở hữu chủ có trí thông minh, hấp thụ những tiến triển kỹ thuật qua kinh nghiệm hoặc giáo dục, nên đồng lương không thể đứng nguyên ở một mức trong khoảng thời gian dài. Tỉ dụ giá thuê một con trâu để kéo cầy có thể giữ ở một mức trong khoảng thời gian dài nào đó bởi lẽ việc kéo cầy của con trâu vẫn như vậy từ năm này qua năm khác. Nhưng con người có óc thông minh hấp thụ những tiến bộ kỹ thuật, nên sức lao động của một Công nhân năm 1990 khác với sức lao động của một Công nhân năm 2000. Đồng lương phải linh động thay đổi theo những hấp thụ của trí thông minh ấy.

=> Mức sống tăng trưởng

Công nhân cho thuê Sức Lao động là để sống. Đây là sống thực, nghĩa là đồng lương của Công nhân phải theo với vật giá. Nếu các Thị trường hàng hóa không theo vật giá, thì Thị trường Nhân Lực phải định đồng lương theo vật giá. Nếu đồng lương chỉ theo con số (Valeur nominale) mà không theo khả năng mua hàng hóa để sống theo vật giá (Pouvoir d’achat), thì đó là điều rất tàn nhẫn. Thông thường, trong mọi xã hội, vật giá chuyển biến theo chiều đi lên. Nếu đồng lương đứng một chỗ, hoặc không theo kịp đà đi lên của vật giá, thì Công nhân càng ngày càng nghèo đi. Tỉ dụ với đà phát triển Kinh tế theo Nhà Nước VN tuyên bố là mỗi năm chừng 8.5%, thì đà phát triển này sẽ làm tăng vật giá. Nếu lương cho Công nhân không theo kịp đà tăng này, nghĩa là đứng ở một mức trong vòng 5 năm chẳng hạn, thì người Công nhân sẽ thấy mình nghèo khổ đi nhiều lắm.

=> Đồng lương đứng một chỗ sẽ gặp
 Hậu quả ác ôn của Samuelson (Effet pervers de Samuelson)

Các Thị trường hàng hóa không có cái hậu quả ác ôn này mà Samuelson, Giáo Kinh tế lừng danh của Hoa kỳ, đã gọi đặc biệt cho Thị trường Nhân Lực. Đối Thị trường của một hàng hóa, nếu giá bán hoặc giá cho thuê giảm dần, thì phía CUNG cũng giảm bớt cung cấp hàng hóa ấy trên Thị trường. Nhưng đối với Thị trường Nhân Lực, Samuelson thấy rằng nếu đồng lương đi theo chiều giảm xuống, thì Công nhân không thể giảm giờ cung cấp Sức Lao động cho Thị trường bởi lẽ họ phải giữ mức sống tối thiểu cho họ và cho gia đình họ. Nghĩa là Thị trường Nhân Lực sẽ gặp một nghịch lý, đó là khi lương giảm thì công nhân phải tăng Sức Lao động, tăng giờ làm việc, phải làm nhiều ca vì sự sống còn của họ và gia đình họ. Đây là nghịch lý ác ôn của CUNG ở Thị trường Nhân Lực.

Tại Thị trường Nhân Lực Việt Nam, đồng lương giữ ở một mức trong thời gian dài, trong khi ấy vật giá lên cao, nghĩa là đồng lương thực (Salaire réel) giảm, thì dân lao động phải tăng giờ làm việc để giữ mức sống tối thiểu và bần cùng của họ. Tăng giờ làm việc, rồi sinh bệnh tật, hoặc phải đi cho thuê Dâm..., đó là sự vô nhân đạo cho kẻ nghèo. Cái hậu quả ác ôn này (Effets pervers) hoàn toàn có tính cách Kinh tế.

=> Can thiệp Chính trị vào Thị trường Nhân lực Việt Nam.

Thị trường hàng hóa nói chung đã không muốn Nhà Nước can thiệp vào bởi lẽ Thị trường là nơi trao đổi hay cho thuê tư hữu TỰ DO của những cá nhân Sở hữu chủ. Nếu việc can thiệp này lại là do động lực Đầu Cơ, Tham Nhũng..., thì càng phải loại trừ ra hơn nữa. Nhìn vào các Thị trường hàng hóa tại Việt Nam, người ta nhận thấy rằng không những Nhà Nước can thiệp trực tiếp, mà còn xử dụng những Công ty quốc doanh (do dảng CSVN nắm giữ) hoặc bằng những Công ty tư doanh do con cháu những người có quyền Chính trị lợi dụng quyền thao túng. Đây là sự can thiệp Chính trị vào Kinh tế mà Thị trường hàng hóa Tự do không thể chấp nhận. Đây không phải việc chỉ trích mang mầu sắc Chính trị, mà là một sự chân nhận thực tế vi phạm những nguyên tắc cơ bản của hệ thống Kinh tế Thị trường Tự do.
Người ta cũng chân nhận rằng giới tư doanh trên Thương trường cũng không có quyền lập Hội, Nghiệp Đoàn mà Thị trường đòi hỏi như chúng tôi đã phân tích ở đoạn trên đây.

Riêng về Thị trường Nhân Lực Việt Nam, việc can thiệp của quyền lực Chính trị vào Thị trường trực tiếp hoặc qua những đặc quyền hay đầu cơ, không những không tôn trọng Công nhân (Sở hữu chủ Sức Lao Động của họ), mà còn trở thành sự bóc lột và tệ hơn nữa là mang hâu quả ác ôn (Effet pervers) mà Samuelson đã phân tích.

Vi phạm đầu tiên là những Công đoàn do đảng (quyền Chính trị độc tài) nắm giữ. Những cuộc Đình Công vừa qua là hiện tượng mất tin tưởng của Công nhân vào những Công đoàn này mà những người lao động gọi là Công đoàn Công an Nhà Nước. Đây là việc vi phạm vào chính quyền tự do xử dụng quyền tư hữu Sức Lao động không thể tách rời người lao động trong suốt cuộc đời của họ. Nếu về phương diện Chính trị, với Điều 4 của Hiến Pháp, đảng CSVN nói rằng đảng là đại diện và tiên phong cho Dân, cho Công nhân, thì về mặt Kinh tế, đảng không thể tuyên bố như vậy được bởi lẽ đảng không còn bao cấp cho cuộc sống Công nhân nữa, mà chính Công nhân phải tự mình cho thuê sở hữu Sức Lao động để kiếm phương tiện nuôi sống mình và gia đình. Phải để chính những người Công nhân này chọn những người Đại diện cho chính họ vào một Nghiệp Đoàn Độc Lập hầu thông tin, thương thảo trên Thị trường cho có một giá (Lương) cho thuê sức Lao động của họ.

Chúng tôi cũng muốn nhắc ra đây một tỉ dụ về vi phạm của Nhà Nước đối với Thị trường Nhân Lực Việt Nam. Tỉ dụ đó là: Đài BBC cách đây chừng 10 ngày, khi phỏng vấn Oâng Lech VALESA, đã tiết lộ công khai rằng Nhà Nước đã ký những Hợp Đồng quan trọng với những Công ty nước ngoài, nên Nhà Nước không cần những Nghiệp Đoàn Độc Lập làm gì. Như vậy là quyền lực Chính trị đã coi những Sở hữu chủ (Công nhân) của sức Lao động (tư hữu) của họ không ra cái gì cả. Nói cách khác, quyền lực Chính trị đã truất hữu sức Lao động của Công nhân để cho ngoại bang THUÊ. Nhưng với giá cho thuê bao nhiêu ? Sở hữu chủ (Công nhân) cũng không biết luôn. Công nhân có thể nghĩ rằng với tình trạng tham nhũng, đầu cơ gia đình con ông cháu cha, đây là việc quyền lực Chính trị độc đoán đem cho thuê tư hữu sức Lao động của họ cho ngoại lai với giá mà trong đó những kẻ nắm quyền lực tham nhũng, đầu cơ gia đình đã chia một phần lương của họ với ngoại lai.



NẾU CÓ HẬU QUẢ CHÍNH TRỊ

Đây là Kết luận cho Phần Phân tích hoàn toàn có tính cách Kinh tế trên đây. Ơû Phần trên chúng ta cũng nhận thấy rằng Thị trường Lao động Việt Nam đòi hỏi:
=> Quyền lực Chính trị phải tôn trọng tư hữu của Công nhân, đó là Sức Lao động
=> Công nhân có quyền TỰ DO quyết định việc cho thuê tư hữu của mình
=> Tự động Đình Công và kêu gọi thành lập Nghiệp đoàn Độc lập là hiện tượng cụ thể chứng tỏ việc không tin vào những Công đoàn do Nhà Nước chỉ huy.
=> Tự do xử dụng quyền tư hữu, tự do quyết định giá cả cho thuê tư hữu và việc không tin vào Công đoàn nhà nước, tất cả cho Công nhân cái quyền chọn những người Đại Diện mà họ tin tưởng để làm việc giúp họ khi quyết định cho thuê Sức Lao động (tư hữu bất khả phân khỏi cá nhân mỗi người). Những Đại Diện này tập hợp thành những NGHIỆP ĐOÀN LAO ĐỘNG ĐỘC LẬP.

Đã bao chục năm nay, chính quyền lực đảng CSVN đã chính trị hóa những Nông dân, Công nhân, xử dụng họ như công cụ đấu tranh đẫm máu để cướp lấy quyền lực Chính trị độc tài cho mình.

Ngày nay, mục đích đấu tranh của những người nghèo này là Kinh tế,  là cho quyền sống thân xác của họ. Nếu cuộc đấu tranh mang đến hậu quả có tính cách thay đổi thể chế Chính trị, thì đó không phải là MỤC ĐÍCH của họ mà quyền lực Chính trị muốn vu khống để khủng bố, đàn áp chính những kẻ mà đảng đã lợi dụng thủ lợi cho đảng trước đây.
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




                                      NGHỊ ĐỊNH CẤM ĐÌNH CÔNG


Nghị định cấm đình công:
món quà Tết của Nguyễn Tấn Dũng tặng giai cấp công nhân!

Khi các lãnh tụ XHCN miệng nói là đại biểu bảo vệ quyền lợi của công nhân, nhưng lại trải thảm đỏ mời tư bản vào bóc lột công nhân VN

Tại sao các lãnh tụ XHCN lại ra sức bảo vệ bọn tư bản bóc lột?


                                       Tiến sĩ ÂU DƯƠNG THỆ

      
      
Trong Hội nghị Trung ương (HNTU) 6 vừa qua vào giữa tháng 1.08 nhóm lãnh đạo ĐCSVN đã đưa ra thảo luận một trong số chủ đề chính là"Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước“. Trong diễn văn bế mạc ngày 22.1 TBT Nông Đức Mạnh đã nói, ĐCSVN từ trước tới nay là “đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân”:
         
“Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn luôn là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc; là đội tiên phong của giai cấp công nhân,“[1]
           
Lời tuyên bố của Nông Đức Mạnh chưa ráo mực thì ngày 30.1.08 Ủy viên Bộ chính trị (BCT) kiêm Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kí hai Nghị định số 11 và 12/2008 bắt công nhân phải “bồi thường thiệt hại” cho chủ nhân trong các cuộc đình công mà họ gọi là “bất hợp pháp”, giao cho các tòa án xét xử các vụ đình công này và Công đoàn Lao động VN (Công đoàn) thi hành. Chính vào thời điểm gần Tết Mậu Tí nhiều cuộc đình công bộc phát với sự tham dự của hàng chục ngàn công nhân đã diễn ra trong nhiều xí nghiệp ở Đà nẵng, Sài gòn, Vĩnh phúc….Trong đó chủ nhân hầu hết đều là các tư bản nước ngoài. Vì phía chủ đã tìm cách ăn chặn phụ cấp Tết, không trả lương đúng thời hạn, hoặc không cho công nhân được sớm về quê thăm gia đình trong dịp Tết…Sau nhiều lần bị giới chủ nhân cư xử bất công và cũng không được phía Công đoàn bảo vệ, nên công nhân đã phải tự đứng ra tổ chức đình công. Nhưng đối với chế độ toàn trị thì đây là các cuộc đình công “bất hợp pháp”, vì nó gây “thiệt hại cho người sử dụng lao động” (tức chủ nhân). Vì thế, Nguyễn Tấn Dũng đã ra Nghị định số 11/2008 cấm đình công “bất hợp pháp” và bắt công nhân phải bồi thường thiệt hại:
         
“Những người được cử làm đại diện cho tập thể lao động và những người lao động tham gia đình công bất hợp pháp phải chịu trách nhiệm cá nhân theo phần trong việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động.“ [2]
           
Nghị định số 12 còn ghi rõ, chỉ nội một giờ sau khi Thủ tướng coi cuộc đình công là bất hợp pháp thì Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh phải ra lệnh cho Ban chấp hành của Công đoàn ở cơ sở phải đình chỉ ngay cuộc đình công!:
           
“Khi nhận được Quyết định hoãn hoặc ngừng cuộc đình công của Thủ tướng Chính phủ, trong vòng 1 giờ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải công bố kịp thời cho Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động (nơi không có tổ chức công đoàn), người sử dụng lao động biết và tổ chức thực hiện quyết định hoãn, ngừng đình công.“ [3]
           
Hai Nghị định số 11 và 12 vừa qua của Nguyễn Tấn Dũng đã tự trưng bày mặt thật của những người lãnh đạo chế độ XHCN vẫn tự nhận là “đại biểu trung thành của giai cấp công nhân” VN. Trong thực tế, với hai Nghị định trên nhóm cầm đầu chế độ toàn trị đang ra sức bảo vệ chủ nhân và còn tiếp tay cho các chủ nhân đang bóc lột và đày ải hàng triệu công nhân VN, đặc biệt là các chủ nhân của một số nước ngoài. Vì thế các công nhân ý thức được quyền lợi về cuộc sống đói rách của mình và gia đình mình đã thấy rất rõ là, những lời tuyên bố của Nông Đức Mạnh tại HNTU 6 rất rỗng tuếch và giả dối!
           
Thật vậy, ngay những người cầm đầu Công đoàn Lao động VN, một tổ chức của ĐCS dựng lên để kiểm soát giai cấp lao động thay vì bảo vệ quyền lợi của họ, cũng đã phải xác nhận là, trong năm 2007 đã có tới 541 cuộc đình công với sự tham gia của 350.000 công nhân, trong đó phần lớn là các cuộc đình công bộc phát, tức “bất hợp pháp”. Chỉ một tuần lễ trước khi Nguyễn Tấn Dũng kí hai Nghị định với nội dung tiếp tay phía chủ nhân đày ải và tước quyền đình công của công nhân thì tại Hội nghị Ban chấp hành Tổng liên đoàn Lao động VN lần thứ 10, Nguyễn Hòa Bình, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng công đoàn, đã xác nhận “thực trạng rất đáng quan tâm trong tình hình công nhân lao động và hoạt động công đoàn”:
           
”Đó là: Việc làm ở một số ngành, địa phương gặp khó khăn do ảnh hưởng của cúm gia cầm (ngành nông nghiệp, chế biến thuỷ sản); tình trạng nợ đọng, chậm thanh toán vốn XDCB [xây dựng cơ bản ?] khiến nhiều doanh nghiệp  XDCB nợ lương công nhân, nợ bảo hiểm xã hội (các doanh nghiệp ngành giao thông vận tải, xây dựng); một số tỉnh, thành phố khu vực phía nam (TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai...) thiếu lao động nghiêm trọng, nhất là lao động kỹ thuật và lao động ở ngành dệt may, da giày; nhà ở và điều kiện sống của công nhân lao động các khu công nghiệp-chế xuất vẫn rất bức xúc; tranh chấp lao động, đình công gia tăng (thống kê chưa đầy đủ thì cả nước xảy ra 541 cuộc, với hơn 350.000 lượt người tham gia).”[4]
           
Hiện nay có gần 8 triệu công nhân đang làm việc trong các doanh nghiệp quốc doanh và xí nghiệp tư nhân, trong đó phần chính là trong các nhà máy có vốn đầu tư của nước ngoài. Trước tình cảnh hàng triệu công nhân bị bóc lột và đày ải của phía chủ và công đoàn như thế, thì nhóm cầm đầu CSVN –vẫn tự mệnh danh là “người bảo vệ trung thành quyền lợi của người lao động”- lại đã đứng ra bảo vệ và bênh vực cho bọn chủ nhân trong các xí nghiệp, nhất là trong các trung tâm chế xuất công nghiệp đang được dựng lên ở Hà nội, Sài gòn và các tỉnh phụ cận. Trong các trung tâm này phần lớn là các xí nghiệp ngoại quốc mà chủ nhân là các nhà tư bản Đại Hàn, Đài loan, Hồng kông và Nhật bản. Ưu tiên hàng đầu của họ là làm sao thu được lợi nhuận thật cao và thật nhanh bằng cách trả lương chết đói, bất kể tới tình trạng sức khỏe và cuộc sống vô cùng lầm than của công nhân VN.  Với sự nhắm mắt của Công đoàn và sự làm ngơ của các cơ quan nhà nước, nên giới chủ nhân nước ngoài đã đạp lên cả những luật lao động, dù các luật này mới chỉ đưa ra một số ràng buộc tối thiểu! Tình hình này đã được TS Trần Minh Yến phân tích rõ trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số tháng 10.2007. Ông cho biết, trong tổng số 1281 vụ đình công trong thời gian từ 1995 tới 6.2006, có 66,5% các cuộc đình công của công nhân đã diễn ra trong các xí nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài. Trong đó số vụ đình công trong các hãng có vốn của Đài loan và Hàn quốc lên tới 36, 3% và 28%.  Nghĩa là số vụ đình công ở trong các công ti có vốn của Đài loan và Đại hàn lên tới trên 64% số vụ đình công của công nhân VN trong các công ti có vốn nước ngoài.[5] Hiện nay tỉ lệ này chắc chắn cao hơn nhiều, vì các nhà tư bản hai nước này được hưởng nhiều ưu đãi nên đang đầu tư ngày càng lớn vào VN.
           
Tệ trạng hàng triệu công nhân VN bị bóc lột và hành hạ trong các xí nghiệp với “100% vốn nước ngoài” cũng đã được Tạ Ngọc Tấn, Ủy viên Trung ương đảng (TUĐ) kiêm TBT Tạp chí Cộng sản, trình bày tại cuộc Hội thảo ở Quảng ninh ngày 10.12.07 với chủ đề “Xây dựng và phát triển giai cấp công nhân VN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - Thực tiễn vùng mỏ Quảng ninh” với sự hiện diện của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Cuộc Hội thảo này là để chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương 6 vừa qua. Tạ Ngọc Tấn cho biết:
           
“Một bộ phận công nhân, nhất là công nhân ở các khu công nghiệp, khu chế xuất không được bảo đảm về điều kiện làm việc; tiền lương thấp, không đủ bảo đảm đời sống vật chất và tái sản xuất sức lao động; gần một nửa số công nhân chưa được hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; đời sống văn hóa tinh thần của công nhân nói chung chưa được cải thiện đáng kể; nhiều công nhân các khi công nghiệp mới còn phải sống tạm bợ, chật chội trong các phòng trọ, không bảo đảm các tiện nghi tối thiểu, không có các bảo đảm về chăm sóc y tế, giáo dục cho con cái… Tình trạng đình công, bãi công ngày càng tăng…” [6]
           
Để hiểu rõ cuộc sống đói rách thê thảm như thế nào thì một số báo chí ở trong nước đã tường thuật chi tiết  đời sống của hàng triệu công nhân trước Tết Mậu Tí, khi các công nhân đã đứng lên đình công tại nhiều xí nghiệp có chủ nhân là người nước ngoài:
           
“Một phụ nữ làm 10 năm tại K&K cho biết, lương của chị hiện thời vẫn chỉ là 1 triệu đồng [khoảng 60 Mĩ kim]. Công ty còn không cung cấp bữa ăn chiều như thỏa thuận, khi họ làm tăng ca trong suốt ba tháng qua…“

“Nhiều công nhân của các doanh nghiệp đang có đình công tại Khu chế xuất Tân Thuận cho rằng, họ cần một mức lương cao hơn hiện tại tối thiểu 300.000 đồng và chế độ tăng lương hằng năm phải được căn cứ vào mức độ "leo thang" của vật giá sinh hoạt…”

“Theo phản ánh của nhiều người lao động ngoại tỉnh, chỉ tính thuê nhà và ăn 2 buổi trong ngày, họ đã phải chi khoảng 1,5 triệu đồng mỗi tháng. "Tiền mua vé xe năm nay tăng hơn năm trước 60% nhưng mức lương thì vẫn vậy nên Tết này chắc không có tiền về quê", một nữ công nhân quê ở Cà Mâu than.“ [7]
           
“Một số công nhân khác cũng phản ánh, chế độ ăn uống trong Cty là quá khắc khổ, mỗi suất cơm của công nhân trị giá chỉ 2.800đ.“ [nghĩa là chỉ bằng 0,17 Mĩ kim] [8]
    
Không chỉ phải chịu ngược đãi của chủ nhân trong các bữa cơm quá khắc khổ, vì đồng lương không đủ sống nên hàng trăm ngàn công nhân VN và con cái của họ phải sống chui rúc trong các nhà ổ chuột, phòng trọ của họ như các “chuồng gà”, nhưng vẫn phải thuê với giá cao. Chính báo chí của chế độ cũng đã phải nhìn nhận:
           
“Bước vào nhà trọ của công nhân (CN) Trương Thị Đan Huyền, chúng tôi thật sự bàng hoàng! Thoạt nhìn, phòng trọ giống như một dãy “chuồng gà”. Dòng kênh nước đen nhờ nhờ rác sau nhà lắm khi tràn lên ngập mắt cá chân. Mỗi phòng rộng 1,2m, dài 1,6m, đủ rộng để đặt hai cái gối nằm và đủ dài để người cao phải ngủ co chân. Quần áo được treo bên vách. Còn mọi đồ dùng cá nhân đều phải đặt lên kệ. Vách và nền phòng đều được ghép bằng loại ván ép cũ, dán giấy loang lổ.“
           
“…Nhiều lúc nữ CN Công ty thủy hải sản Hải Minh (Q. Thủ Đức, TP.HCM) còn phải kiêm luôn phu khuân vác. Ngoài cắt, rửa, lột da cá, các cô gái còn phải vác cả những con cá mập nặng 70-80kg. Mặc cho kho lạnh rét cắt da, các CN vẫn phải làm. Có lúc tăng ca liên tục, đuối sức, đến ba CN cùng khuỵu xuống ngất xỉu. Làm quần quật nhưng mức lương CN chưa đến 1 triệu đồng/tháng. Ngày 17-10, tập thể CN đã làm đơn kiến nghị xin được tăng lương. Ngay sau đó, ông giám đốc (Đài Loan) đã cho chở năm CN - những người ông nghi ngờ phát động làm đơn - sang một công ty khác. Tại đây, ông ép năm người này nhận quyết định sa thải.“[9]
           
Những mô tả trên đây của báo chí trong nước cho thấy, đời sống của công nhân VN hiện nay còn cơ cực hơn cả thời thực dân Pháp trong các đồn điền cao su vào đầu thế kỉ trước mà Hồ Chí Minh, người sáng lập chế độ, đã kết án gay gắt. Nhưng sau hơn 60 năm xây dựng chế độ toàn trị và trên 20 năm đổi mới theo „kinh tế thị trường định hướng XHCN“ thì những hậu duệ của HCM đã nhân danh giai cấp công nhân thực hiện các chính sách và biện pháp bất nhân để cho giới tư bản nước ngoài bóc lột và đàn áp công nhân tàn bạo hơn cả bọn thực dân Pháp!
           
Trong năm qua cuộc sống đói rách của hàng triệu công nhân VN lại còn bị áp lực nặng nề của sự bùng nổ lạm phát ở mức rất cao. Tính tới cuối tháng 1.2008 mức giá cả đã cao hơn một năm trước đó là trên 14%, tức là gần gấp đôi so với mức tăng trưởng kinh tế trong năm 2007 (trên 8%). Nghiệt ngã hơn nữa là giá cả các loại thực phẩm tăng vùn vụt. Trong năm 2007 giá lương thực tăng 15,4%, giá thực phẩm tăng 21,16%.[10]
           
Giữa năm qua Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố hùng hổ là chính phủ của ông cam kết quyết không để vật giá leo thang cao hơn mức tăng trưởng kinh tế. Nhưng nạn lạm phát phi mã hiện nay đã phủ nhận những lời hứa của Nguyễn Tấn Dũng. Nói đúng ra, các chính sách chống lạm phát của chính phủ đã tỏ ra bất lực. Đấy là chưa kể tới một số chính sách tài chánh của Nguyễn Tấn Dũng đã đi ngược hoàn toàn với mục tiêu chống lạm phát. Nổi cộm nhất là việc ông Dũng đã cho Ngân hàng Nhà nước trong một thời gian rất ngắn là 7 tháng bỏ ra trên 140.000 tỉ đồng để mua khoảng 9 tỉ Mĩ kim nhằm gia tăng ngoại tệ dự trữ. Trong đó phần chính là phải trang trải cho kim ngạch thâm hụt trong việc buôn bán với Trung Hoa. Chính việc bỏ ra một số tiền khổng lồ trong một thời gian ngắn đã khiến cho lạm phát tiến theo tốc độ phi mã như hiện nay. [11]
           
Theo TS Kinh tế học Lê Đăng Doanh, các chính sách chống lạm phát của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng không nhằm phục vụ đại chúng, mà lại chỉ phục vụ “lợi ích nhóm“. Ông cho rằng: “Liệu có một bộ phận nào đó được hưởng lợi khi Nhà nước cứ tiêu nhiều tiền, lập nhiều khu công nghiệp, giải ngân lớn“. Chuyên viên kinh tế này rất am tường bề trái của chế độ còn đi đến kết luận và chỉ rõ:
          
“Những người không đóng góp vào năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh, đóng góp vào ngân sách... thì giàu lên rất nhanh, quá đột ngột.“ Trong khi đó, vẫn theo ông Doanh, thì “chênh lệch giàu nghèo, hay nói cách khác là bất công trong xã hội đã tăng lên.“[12]

*        *        *
           
Trong tư cách là Thủ tướng và Ủy viên BCT, nếu Nguyễn Tấn Dũng thực sự là người bảo vệ quyền lợi người lao động, nhất là những người đang làm trong các xí nghiệp của các chủ nhân nước ngoài, thì trước khi kí Nghị định số 11 và 12/2008 ông Dũng phải trả lời hai câu hỏi: 1. Chế độ tòa án và luật pháp hiện nay của chế độ toàn trị ở VN đang bảo vệ ai? Bảo vệ những người thấp cổ bé miệng, hay đang làm hộ pháp cho những người có quyền lực và tiền của? 2. Công đoàn là một tổ chức nghiệp đoàn bảo vệ quyền lợi chính đáng của công nhân, hay chỉ là một cánh tay dài của ĐCS và đang tiếp tay với phía chủ để đàn áp và bóc lột công nhân?
           
Về câu hỏi thứ nhất, Nguyễn Tấn Dũng đã thừa hiểu là, dưới chế độ pháp chế XHCN thì  hệ thống tòa án nhân dân và luật pháp chỉ là sự thừa hành của chế độ toàn trị của ĐCS, mà thực tế là quyền sinh sát nằm trong tay một số nhân vật có quyền lực trong BCT và được sự toa dập của một số „quan cách mạng“ ở các địa phương. Quốc hội (QH) làm luật pháp, nhưng 99% đại biểu QH là đảng viên ĐCS. Nó chỉ đại diện cho khoảng trên 3 triệu đảng viên, tức khoảng 3,5 % dân số VN. Chính nhiều thẩm phán, luật sư đã cho báo chí của chế độ biết là, nhiều bản án đã được các Bí thư tỉnh ủy, thành ủy định sẵn. Các mảnh giấy viết tay của các Ủy viên BCT còn có uy lực cao hơn pháp luật. Chủ nghĩa „phong bì“ đánh bại cả các nguyên tắc vô tư, công bằng và nghiêm minh của các thẩm phán và giám sát …Ngay cả Ủy viên TUĐ Nguyễn Văn Hiện, nguyên Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao và hiện là Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương Cải cách Tư pháp, đã từng nói trước QH là phải „vơ vét cả những người không đủ tiêu chuẩn làm thẩm phán.“ [13] Và „tòa án xử cách nào cũng được“!  Chính vì lời nói ngay thẳng và bộc trực của Nguyễn Văn Hiện đã làm Ủy viên BCT Nguyễn Phú Trọng kiêm Chủ tịch QH ngồi bên cạnh rất nhột. [14]
           
Các vụ tham nhũng và xà sẻo công quĩ của các tham quan trong các công trình xây dựng vẫn tiếp tục tràn lan, mặc dù Luật phòng và chống tham nhũng đã có hiệu lực từ hai năm qua và chính Nguyễn Tấn Dũng là Trưởng ban Chỉ đạo trung ương phòng và chống tham nhũng. Mới đây Ủy viên BCT kiêm Phó thủ tướng và Phó Trưởng ban Chỉ đạo trung ương phòng và chống tham nhũng Trương Vĩnh Trọng cũng đã phải xác nhận là, mặc dầu Nguyễn Tấn Dũng ra các Chỉ thị cho các bộ và chính quyền địa phương báo cáo các vụ tham nhũng. Nhưng hầu như chẳng có bộ nào hay tỉnh-thành nào tự động tố cáo hoặc khám phá ra các vụ tham nhũng. Tình trạng „đâu lại vào đấy“ vẫn rất phổ biến.[15] Điều này không lạ, vì chính ngay Nông Đức Mạnh, người cầm đầu chế độ, đã từng dùng quyền lực không cho đem vụ tham nhũng động trời PMU 18 ra thảo luận trước Đại hội 10 vào đầu năm 2006, vì muốn bảo vệ thân nhân và vây cánh đã ăn bẩn cả hàng tỉ đồng trong nhiều công trình xây dựng do tiền vay và viện trợ của nước ngoài!
           
Về câu hỏi thứ hai liên quan tới vai trò của Công đoàn, không ai xa lạ là Công đoàn do ĐCS lập ra, nó là công cụ của chế độ. Nói trắng ra nó  là công cụ của một số người có quyền lực nhất và phải phục vụ nhóm ngưới có quyền lực này. Ngay cả bà Cù Thị Hậu, nguyên Ủy viên TUĐ và cựu Chủ tịch Công đoàn cũng đã từng xác nhận sự thờ ơ của đại diện Công đoàn trong các xí nghiệp đối với các quyền lợi chính đáng của công nhân. Ngay cả Hội nghị Ban chấp hành của Công đoàn vào cuối tháng 1 vừa qua cũng xác nhận tệ trạng này. Báo chí trong nước cũng phải nhìn nhận là, trong nhiều xí nghiệp có chủ nhân là người nước ngoài thì đại diện của Công đoàn hoạt động rất mờ nhạt, thậm chí không dám lên tiếng bảo vệ quyền lợi của công nhân và ở nhiều nơi còn đứng về phía chủ nhân để được hưởng các lợi ích riêng!
           
Tóm lại, Nguyễn Tấn Dũng hiểu rất rõ hai việc: 1.Các công nhân VN làm việc trong các xí nghiệp nước ngoài đang bị giới chủ nhân nước ngoài bóc lột và đầy ải với sư làm ngơ hoặc tiếp tay của Công đoàn. 2. Các tòa án nhân dân và luật pháp XHCN vừa bất công với những người thấp cổ bé miệng, vừa bất lực trước những người có quyền lực và tiền bạc. Biết rất rõ như vậy, nhưng tại sao Nguyễn Tấn Dũng lại vừa kí hai Nghị định số 11 và 12/2008 giao cho các toàn án xử các cuộc „đình công bất hợp pháp“ và giao cho Công đoàn tăng gia kiểm soát công nhân? Nói trắng ra là, tại sao Nguyễn Tấn Dũng lại ra tay bảo vệ cho các chủ nhân tư bản nước ngoài bóc lột sức lao động và đàn áp hàng triệu công nhân VN?

*          *          *
           
Ai theo dõi các hoạt động của Nguyễn Tấn Dũng trong tư cách là Thủ tướng gần hai năm qua sẽ có nhận định chung là, ông Dũng là người rất tôn thờ chủ nghĩa anh hùng cá nhân, thích được tiếng là Thủ tướng đã lập được tăng trưởng kinh tế lên cao nhất. Tăng trưởng kinh tế từ 7% các năm trước đã tăng lên gần 8,5 % trong năm 2007 và ông Dũng đưa ra mục tiêu là năm nay phải đạt tới 9%.  Để đạt tham vọng này, Nguyễn Tấn Dũng và nhóm lãnh đạo hiện nay đã khuyến khích các nhà tư bản nước ngoài gia tăng đầu tư vào VN. Vì thế mức tăng trưởng đầu tư của nước ngoài vào VN đã từ 12 tỉ USD (2006) tăng lên 20,3 tỉ USD (2007)[16], nghĩa là tăng vào khoảng 66%. Đây là mức đầu tư cao nhất của nước ngoài vào VN từ trước tới nay.
           
Chính vì thế, để thu hút đầu tư nước ngoài ở mức cao, -trong đó phần chính từ Đại Hàn, Đài loan, Hồng công và Nhật bản- chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp tục duy trì đồng lương của công nhân ở mức thấp, trì hoãn ban bố các đạo luật nhằm bảo đảm quyền lợi lao động, y tế, xã hội và bảo hiểm cho công nhân!
           
Nay chính Nguyễn Tấn Dũng đã lại ra tay kí hai Nghị định 11 và 12/2008 cấm công nhân “đình công bất hợp pháp“ và giao cho Công đoàn kiểm soát công nhân nghiêm ngặt hơn nữa. Nguyễn Tiến Dũng biết rằng, với nguồn đầu tư của nước ngoài đang gia tăng mạnh vào VN thì thời gian tới sẽ có hàng loạt các xí nghiệp ngoại quốc được lập ra ở VN. Cho nên sẽ có hàng trăm ngàn nông dân VN bỏ xóm làng lên các thành phố và các trung tâm chế xuất kiếm công ăn việc làm, mặc dù biết rằng sẽ bị chủ nhân ngoại quốc bóc lột và đày ải. Trong tình trạng đó thì các cuộc đình công bộc phát của công nhân sẽ nổ ra nhiều hơn. Điều này sẽ gây ra những bất ổn xã hội và chính trị khó lường trước được. Vì thế Nghị định số 11 và 12/2008 mà Nguyễn Tấn Dũng vừa kí trước dịp Tết Mậu Tí là nhằm ngăn chặn ngay từ trong trứng nước làn sóng đình công của công nhân muốn đứng lên bảo vệ các quyền lợi lao động về lương bổng, y tế và bảo hiểm… chính đáng của mình!
           
Tuy kinh tế VN gia tăng cao trong thời gian qua, đây là sự đóng góp to lớn của gần 8 triệu công nhân VN. Vì họ đã sản xuất một khối lượng hàng hóa chiếm hơn 50 % tổng sản phẩm quốc nội và đóng góp trên 60% ngân sách Nhà nước.[17] Nhưng phần lớn giới công nhân đã không được hưởng những lợi ích của sự tăng trưởng này. Cuộc sống của họ và gia đình còn cơ cực cả hơn thời thực dân Pháp. Chỉ có hai giới được hưởng lợi lớn nhất là các chủ tư bản ngoại quốc, trong đó phần lớn là các xí nghiệp của Đại Hàn, Đài loan, Hồng công và Nhật bản. Giới thứ hai được chia hưởng lợi là bọn tham quan trong các cơ quan của Đảng, Chính phủ từ trung ương tới các địa phương. Họ đã lợi dụng những sự đầu tư ngày càng lớn của tư bản nước ngoài đề làm giầu nhanh và bất chính bằng nhiều mánh lới và ngõ ngách khác nhau. Từ môi giới trong việc lập và giao kế hoạch đầu tư, tới làm trung gian buôn bán đất đai, xây dựng các hạ tầng cơ sở trong các trung tâm chế xuất hay các khu nghỉ hè và các khách sạn cho các chủ nhân tư bản nước ngoài; tới việc làm môi giới tuyển lựa công nhân… Họ đã tự biến thành bọn cai thầu cho các chủ nhân tư bản nước ngoài trong việc bóc lột sức lao động và đày ải hàng triệu công nhân VN. Vai trò làm trung gian và môi giới của họ cũng tàn bạo và vô cảm như nhóm cai thầu thời thực dân Pháp trước đây!
           
Trong bối cảnh này thì những người cầm đầu chế độ toàn trị hiện đang đóng vai trò rất tích cực. Trong khi Nguyễn Tấn Dũng cổ súy cho sự tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, nhất là trên giá để hàng triệu công nhân bị bóc lột và nghèo đói, thì Nông Đức Mạnh và Nguyễn Minh Triết trong các chuyến thăm Nam Hàn và Nhật bản vừa qua đã được các nhà tư bản hàng đầu của hai nước chiều chuộng và tâng bốc. Vì thế, hai người này ngoài cửa miệng thì vẫn tự nhận là lãnh tụ của giai cấp công nhân, nhưng Nông Đức Mạnh đã từng tuyên bố là „hoan nghênh và tiếp tục tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư Hàn quốc làm ăn ổn định lâu dài tại VN.“[18]. Còn Nguyễn Minh Triết đã hồ hởi lên tiếng  „khuyến khích và tạo thuận lợi tối đa để các công ti Nhật bản lựa chọn VN đặt cơ sở sản xuất công nghệ cao..“ [19]
           
Rõ ràng các lời chào đón bọn tư bản nước ngoài trên đây của những „lãnh tụ anh minh của giai cấp công nhân“ đã minh chứng chủ trương liên kết của họ với bọn tư bản nước ngoài theo đúng bài bản là thực hiện sâu sát chủ nghĩa „miễn là mình béo mặc cho thiên hạ gầy“.  Sau những mời đón trịnh trọng tư bản nước ngoài của Nông Đức Mạnh và Nguyễn Minh Triết thì hai Nghị định số 11 và 12/2008 của Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh cấm công nhân không được „đình công bất hợp pháp“ là cao điểm của chủ trương quyết bảo vệ quyền lợi của giới chủ tư bản nước ngoài trong việc bóc lột và đày ải hàng triệu công nhân VN! Thâm ý của họ là dùng tiền bạc của tư bản nước ngoài để củng cố địa vị và giữ vững chế độ toàn trị! Chính điều này đã vạch rõ tâm địa thực sự của những người vẫn tự mệnh danh là những “đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân”! 
           
Với chủ trương „kinh tế thị trường định hướng XHCN“ trong đó bao gồm hai vế chính: 1. Duy trì và tăng cường bộ máy đàn áp của chế độ toàn trị để bảo vệ các quyền lợi phe nhóm. Biến các cơ quan nhà nước thành các công cụ phục vụ lợi ích riêng tư của những người có quyền-tiền.  2. Cấu kết với tư bản nước ngoài để cùng chia lợi nhuận bất chính, bằng cách cho tư bản nước ngoài ồ ạt vào làm ăn tại VN theo các điều kiện dễ dãi nhất, khiến cho họ có thể thu lại lợi nhuận cao nhất và nhanh nhất xuyên qua sự bóc lột sức lao động với đồng lương đói rách của công nhân VN.  Chính sách toa dập của những người cầm quyền tự mệnh danh là XHCN với bọn tư bản bóc lột đang diễn ra công khai hiện nay ở VN chỉ là một sự lập lại chủ trương toa dập giữa tầng lớp vua chúa phong kiến với bọn tư bản bóc lột trong giai đoạn kinh tế tư bản rừng rú ở Âu châu trước đây vài thế kỉ!
           
Chế độ tư bản rừng rú đó đã bị nhân dân lao động và các thành phần tiến bộ ở Âu châu khi ấy đứng lên tiêu diệt. Chế độ toàn trị hiện nay ở VN chắc chắn cũng phải chịu chung số phận này do sự đứng lên đấu tranh của nhân dân lao động, những người dân chủ đa nguyên và cả những đảng viên CS tiến bộ còn giữ được lòng tự trọng


Tiến sĩ ÂU DƯƠNG THỆ

GHI CHÚ:
[1] . Cộng sản điên tử (CS), 22.1
[2] . Chính phủ điện tử (CP), 30.1
[3] . CP 31.1
[4]. Lao động điện tử (LĐ), 24.1
[5] . Trần Minh Tiến, đình công, tiền lương –hai vấn đề nổi bật trong lãnh vực lao động, việc làm ở nước ta hiện nay, Nghiên cứu Kinh tế số 353 tháng 10.07, tr. 43
[6] . Tạ Ngọc Tấn, báo cáo đề dẫn, Tạp chí Cộng sản (TCCS), tháng 1.2008, tr. 33
[7] . Vietnamexpress 25.1
[8]. Tiền phong  31.1
[9] . Tuổi trẻ 22.10.07
[10] . Nguyễn Sinh Cúc, tổng quan kinh tế VN 2007, TCCS số 1.2008, tr. 85
[11] . Âu Dương Thệ, kẻ nói dối không đi được xa: Lạm phát chóng mặt, mục Thời sự 2007,  www.DCPT.or
[12] . Lê Đăng Doanh, Tuổi trẻ 5.1
[13] . LĐ, 29.11.06
[14] . Hà nội mới, 29.11.06
[15] . CS 30.1, Tuổi trẻ 29.1
[16] . Nguyễn Sinh Cúc, sách đã dẫn, tr. 84
[17] . Tạ Ngọc Tấn, sách đã dẫn, tr. 32
[18] . Nhân dân (ND) 16.11.07
[19] . ND 27.11.07



=========================
pho bien/ publication 14.02.2008
=========================



                 CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH

                                                          Bài 9:

                                 VIỆC PHÂN PHỐI KHÔNG ĐỒNG ĐỀU
                                           VỀ MỨC TĂNG KINH TẾ



                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

Đây là Bài thứ 9 trong loạt bài CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài này mang đề tài VIỆC PHÂN PHỐI KHÔNG ĐỒNG ĐỀU VỀ MỨC TĂNG KINH TẾ. Trong tài liệu viết về cuộc Khủng Hoảng Tài chánh Á châu năm 1997, Bà Francoise NICOLAS nhắc đến Trung Cộng như một yếu tố hiện hành  mang nhiều nguy hiểm bất ổn của vùng trong tương lai . Một trong những nguy hiểm chính là căng thẳng xã hội (tensions sociales) không những gây khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh, mà còn kéo theo, tất nhiên, khủng hoảng Chính trị. Một tỉ dụ điển hình là những căng thẳng xã hội trong cuộc Khủng hoảng Tài chánh 1997 đã đưa đến sụp đổ chế độ độc tài SUHARTO sau 32 năm.

Cũng vậy, khi viết loạt bài đăng trong LE MONDE ngày 30.10.2007 về những quốc gia bắt đầu phát triển, các tác giả như Aalin FAUJAS, Florin AFTALION, Giáo sư Tài chánh và Chuyên viên nghiên cứu về Tương quan Kinh tế và Cách mạng, cũng đã nhấn mạnh đến nguy hiểm căng thẳng xã hội phát sinh từ vật giá tăng vọt, từ việc dân thiếu khả năng tiêu thụ, từ sự chênh lệch quá xa giầu nghèo.

Không cần phải trích dẫn những tác  giả đó ra để hiểu sự căng thẳng xã hội đến từ việc phân phối không đồng đều làm chênh lệc giầu nghèo, mà chúng ta chỉ cần nghĩ đến cái lý thông thường của cuộc sống hàng ngày trong việc kiếm ăn nuôi sống thân xác mình.

Bài này đề cập đến những điểm sau đây:

=> Sự sợ hãi của những chính quyền thuộc những nước bắt đầu phát triển
=> Cái lý đơn giản thông thường trong cuộc kiếm ăn nuôi thân xác
=> Tình trạng căng thẳng xã hội tại Việt Nam

 

Sự sợ hãi của những chính quyền
thuộc những nước bắt đầu phát triển

Những tác giả của loạt bài đăng trong LE MONDE ngày 30.10.2007 nói đến việc hồ hởi của những quốc gia bắt đầu phát triển như Trung Cộng, Việt Nam trong việc ca tụng đà phát triển Kinh tế tăng từ 8-12% hàng năm. Nhưng Chính quyền những nước ấy lại hết sức lo ngại việc tăng vật giá, nhất là những nhu yếu phẩm như đồ ăn, tăng lên tới 20%. Những người cầm quyền lo lắng không phải do vật giá tăng vọt bởi vì họ dư đủ khả năng tiêu thụ để chấp nhật vật giá tăng, nhưng lo lắng vì khi vật giá tăng vọt, quần chúng thiếu khả năng tiêu thụ, nên cách biệt giầu nghèo gia tăng rõ rệt để tạo ra tình trạng căng thẳng xã hội mà hậu quả là quần chúng quá đói nghèo đứng lên lật đổ quyền lực Chính trị của họ.

Một trong những lý do làm tăng vật giá là sự can thiệp của quyền lực Chính trị vào những sinh hoạt Kinh tế. Tác giả Alain FAUJAS viết:“Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois et vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit à plein fouet des prix arbitraires.“ (Le Monde 30.10.2007) ( Khi mà sự lấn quyền chính trị (những đảng cộng sản Trung quốc và Việt Nam) bành trướng sang Thương mại, Tài chánh và Kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng thừng những giá cả độc đoán). Đây là lý do đầu cơ do chính quyền lực chính trị.

Lý do thứ hai là ở khía cạnh lạm phát tiền tệ. Giáo sư Tài chánh Florin AFTALION đã lấy lại tỉ dụ điển hình thời Cách Mạng Pháp: “La crise inflationniste est née de la situation catastrophique des finances publiques. Pour remplir les caisses de l’Etat et honorer le paiement des dettes de l’Ancien Régime, les députés de l’Assemblée décidèrent la création massive de papier-monnaie. Les paysans étaient payes dans une monnaie qui se dépréciait. La population des villes a commencé à être affamée. (Le Monde 30.10.2007) (Cuộc khủng vật giá tăng vọt đã phát sinh từ tình trạng thảm khốc của tài chánh quốc gia. Để làm đầy két Nhà Nước và để hoàn trả những món nợ của Chế độ Cũ, những dân biểu quốc hội quyết định phát hành hàng loạt những tiền giấy (không bảo chứng). Nông dân được trả với đồng tiền đã mất giá. Dân chúng thành thị bắt đầu đói ăn.) Đây là hiện tượng lạm phát tiền tệ mà chúng tôi đã có dịp viết về trường hợp Việt Nam hiện nay.

Tác giả Florin AFTALION cũng nói đến tình trạng rất khó giải quyết tại Trung Cộng cho vấn đề vật giá tăng vọt này:“Le cas de la Chine illustre la difficulté à traiter le mal inflationniste“ (Trường hợp Trung quốc chứng tỏ sự khó khăn giải quyết điều xấu tăng vật giá này). Oâng nói cái khó khăn đó là sự cách biệt giầu nghèo giữa dân của những thành phố ven biển và dân trong nội địa (le pouvoir d’achat des côtiers).

Một tài liệu nghiên cứu của một số Đại học cho thấy rằng hầu hết những triệu phú tại Trung Cộng là thuộc đảng và 9/10 dân số trong nội địa vẫn nghèo khổ. Sự căng thẳng xã hội là dân nghèo nội địa tràn ra những thành phố ven biển và sẽ xẩy ra vấn đề tranh chấp giữa dân nội địa và dân ven biển. Chúng tôi sẽ nói ở phần sau về trường hợp Việt Nam.



Cái lý đơn giản thông thường
trong cuộc kiếm ăn nuôi thân xác

Thực vậy, lấy cái lý đơn giản thông thường hàng ngày kiếm ăn, chúng ta cũng hiểu rằng khi mà miếng đỉnh chung không được phân phối đồng đều, thì trâu buộc ghét trâu ăn, nhất là ăn hớt, ăn bất công. Khi đã bị ăn hớt rồi, mà mình than vãn, còn bị kẻ ăn trên ngồi trốc khóa miệng, đàn áp, thì sự căng thẳng muốn uấn lộn tất nhiên không thể tránh.

Ngay anh em ruột trong gia đình, cha mẹ không chia tài sản đồng đều, cũng sinh bất hòa, hận thù.

Tôi cũng có dịp xem những phim cao bồi ăn cướp ngân hàng hay xe lửa chở vàng. Khi chưa ăn cướp được, thì mọi người đoàn kết nhất trí. Nhưng họ bắt đầu phản bội nhau, bắn nhau là ở lúc chia tiền, chia vàng đã ăn cướp được.

Khi nói đến Lý tưởng trong ý niệm trừu tượng, người ta có thể đối thoại, nhân nhượng, chín bỏ làm mười. Nhưng khi nói đến tiền bạc, phương tiện nuôi thân xác, thì không có đối thoại nhân nhượng mà phải CÔNG BẰNG dứt khoát. Khi nói về Tự do, thì có thể gia giảm ít nhiều, nhưng khi nói về chia phần phương tiện sống cụ thể, thì phải phân minh dứt khoát.

Vì vậy, những căng thẳng xã hội chính yếu phát sinh từ những phấn phối không CÔNG BẰNG về phương tiện sinh sống nuôi thân xác. Đây là điểm trọng yếu mà mọi chế độ chính trị phải chú tâm giải quyết. Hãy lấy hai tỉ dụ: chế độ công hữu của Cộng sản và chế độ tư hữu của Tư bản. Điểm chung của hai chế độ là tìm cách phân phối kinh tế cho đồng đều. 

Chế độ công hữu Cộng sản chủ trương truất hữu, thâu tóm quyền sở hữu về Nhà Nước mà đảng Cộng sản là duy nhất chỉ huy Nhà Nước. Đảng chỉ huy mọi người làm Kinh tế và chính đảng giữ toàn quyền phân phối đồng đều những thu nhập từ Kinh tế. Đây là chủ trương học được theo đúng khuôn khổ tổ chức làm ăn và phân phối phương tiện sống giống một dòng tu Công giáo thời Trung Cổ Aâu châu. Nhưng chủ trương này đã gặp những thất bại mà những lý do như sau:

=> Sự khác biệt khả năng trí tuệ và thể xác giữa những cá nhân làm kinh tế trong hệ thống chỉ huy bởi Nhà Nước. Những khác biệt không thể tránh được này khiến hiệu quả kinh tế khác nhau. Vì vậy việc phân phối đồng đều hiệu quả kinh tế khiến cho những cá nhân: (i) một là cảm thấy một sự bất công; (ii) hai là làm cho những cá nhân có khả năng hơn bị thiếu những kích thích khi làm việc. Kết quả của chủ trương này đưa đến tình trạng kém năng suất.

=> Những người nắm quyền lực chính trị độc đoán lại là những người làm chủ những tài sản. Khi có quyền và ngồi bên cạnh đống vàng, thì nẩy sinh lòng ham dành tài sản cho riêng mình, hay cho gia đình mình, cho những người thân thuộc mình hơn, nghĩa là việc phân phối không đồng đều nữa.

=> Những dòng tu Công giáo thời Trung Cổ có thể thực hiện được chủ trương này vì họ có lòng tin Tôn Giáo, tin vào một Đấng có thể thưởng phạt họ khi họ bất công. Trong khi ấy đảng Cộng sản không có lòng tin Tôn giáo để thưởng phát, mà còn chủ trương Duy vật chủ nghĩa, nên không thể thực hiện được việc cộng chung tài sản.

Đối với chế độ tư hữu của Tư bản, Chính quyền cũng phải lo lắng giải quyết vấn đề phân phối Kinh tế cho tương đối đồng đều để tránh cách biệt quá xa giữa giầu nghèo, nghĩa là tránh căng thẳng xã hội có thể đi đến lật đổ quyền lực chính trị. Chế độ tư hữu Tư bản nhằm những điểm sau đây:

=> Để cho những cá nhân tự do sinh hoạt kinh tế. Mỗi người có tự do xử dụng khả năng trí tuệ và thân xác của mình để làm ăn, gặt hái những hiệu năng tối đa. Chính vì vậy mà năng suất kinh tế của chế độ này cao hơn. Tuy nhiên, sự chênh lệch khả năng trí tuệ và thân xác khiến cho có sự chênh lệch về hiệu quả kinh tế gặt hái được của mỗi cá nhân.

=> Sự chênh lệc quá xa trong chế độ này giữa giầu và nghèo có thể đưa đến căng thẳng xã hội. Vì vậy chế độ tìm cách giảm đi sự chênh lệch bằng cách Tái phân phối Thu nhập (Redistribution des Revenus). Đó là lấy Thuê nặng nơi những cá nhân có thu nhập cao để xử dụng những thuế thu được ấy làm những công trình xã hội cho quần chúng có thu nhập thấp, trợ giúp xã hội cho những người nghèo. Nhiều chính quyền còn khuyến khích những tư nhân có thu nhập cao trực tiếp làm những việc xã hội.



Tình trạng căng thẳng xã hội tại Việt Nam

Trong hai phần trên, chúng tôi nói đến tình trạng tăng vọt vật giá hiện nay tại những quốc gia bắt đầu phát triển và những lo lắng của các chính quyền hiện hành về việc tăng vọt vật giá này, lo lắng việc giảm khả năng tiêu thụ khiến nẩy sinh căng thẳng xã hội khả dĩ lật đổ chính quyền; chúng tôi cũng đề cập đến nguyên tắc phải phân phối đồng đều hiệu quả kinh tế để tránh hố quá sâu giữa giầu nghèo, yếu tố cụ thể làm phát sinh căng thẳng xã hội.

Phần này nói cụ thể đến Việt Nam hiện nay với ba câu hỏi: (i) vật giá ở Việt Nam tăng như thế nào ? (ii) Việc phân phối độ phát triển kinh tế có đồng đều hay không ? (iii) Hố cách biệt giầu nghèo sẽ mang đến căng thẳng xã hội ra sao ?

(i) vật giá ở Việt Nam tăng như thế nào ?

Trước Tết: (Việt Báo Thứ Ba, 1/29/2008, 12:02:00 AM)

“Từ các siêu thị cho tới các chợ khắp nứơc Việt Nam đều đang gặp nỗi lo lạm phát. Tính riêng trong tháng 12-2007 vừa qua, lạm phát đã lên tới 12.6%, thúc đẩy bởi tình hình tăng giá lương thực, xăng dầu và vật liệu xây dựng. Đây là mức lạm phát cao nhất trong một thập niên qua ở Việt Nam, và cao hơn cả mức trung bình lạm phát ở các nứơc Châu Á đang phát triển khác.

Tại các chợ, giá các loại thịt đã tăng 10-20% so với tháng trước, giá thủy hải sản cũng tăng gần 10%, dầu ăn tăng khoảng 5%. Giá các mặt hàng rau, củ, quả và các mặt hàng đồ khô như măng, miến, nấm hương cũng tăng đáng kể.

So với hai tuần trước, giá các loại rượu, bia đã cao hơn khoảng 20,000-40,000đồng/thùng và tiếp tục tăng theo từng ngày, do giá nguyên liệu đầu vào tăng mạnh. Giá bán mặt hàng này tại các siêu thị cũng có sự chênh lệch khá lớn, điển hình là một thùng bia Hà Nội tại siêu thị FiviMart được bán với giá là 20,600 đồng, tại Intimex là 187,200 đồng và tại đại lý là 165,000 đồng.

Bốn doanh nghiệp lớn của Hà Nội đã dự trữ khoảng 1,000 tấn thịt heo, gà và giò, hơn 410 tấn nem, 22 tấn dầu ăn và gần 2 tấn trứng gà. Các doanh nghiệp Sài Gòn cũng đã được thành phố hỗ trợ 400 tỷ đồng để dự trữ hàng hóa thực phẩm thiết yếu.

Dự báo giá cả các mặt hàng sẽ tiếp tục tăng nhanh cho đến ngày 30 Tết (ngày 6 tháng 2) và dừng lại ở mức cao trong những ngày sau Tết. Đặc biệt, các mặt hàng hoa tươi, thực phẩm tươi sống, gạo, đỗ, chè và rau quả sẽ tăng giá mạnh vào dịp này.

Sau Tết: (Hà Nội 11-2 (TH)

“Mùng 5 Tết, các chợ đã họp khá đông. Mặt hàng nào cũng có, từ thịt, cá, rau quả đến hải sản nhưng các bà nội trợ sững sờ bởi thực phẩm nào cũng tăng giá gấp 3-4 lần so với ngày thường.” Báo điện tử Vietnamnet ngày Thứ Hai 11 tháng 2, 2008 viết.

“Sợ quá. Rau đắt hơn cả thịt cá. Loại rau nào cũng tăng gấp 3-4 lần so với trước Tết. Một mớ rau cải cúc giá 2,000 đồng, ngải cứu 3,000 đồng, cải xoong 5,000 đồng, rau cần 10,000 đồng. Bắp cải 10,000 đồng/kg... Không mua nhanh không chắc đã còn mà mua'' - chị Mai Hằng ở khu tập thể Kim Liên than vãn.

Theo báo Vietnamnet, “Tại chợ Thành Công, mặt hàng nào cũng có nhưng giá lên rất cao. Chị Thanh, ở B5 Thành Công, khi mua đậu phụ về ăn lẩu tưởng mình nghe nhầm, khi được chị bán hàng báo giá 2,000 đồng/bìa. Chị bán hàng cho biết, chị lấy vào đắt thì đành bán đắt. Cả thùng đậu, chị bán chỉ còn vài bìa, không mua nhanh là hết. Chị Thanh lo rằng từ nay đến Rằm Tháng Giêng, giá cả chắc còn lên nữa.”

Tờ báo đưa ra một cuộc khảo sát để độc giả hình dung ra vật giá gia tăng thế nào:

“Theo khảo sát của PV VietNamNet, sau Tết thịt, cá tăng giá gấp rưỡi, gấp đôi trước Tết, rau xanh tăng gấp 3-4 lần. Trước Tết, xương ống có giá 40,000 đồng/kg, nay lên 60,000 đồng/kg, xương sườn tăng từ 60,000 đồng/kg lên 90,000 đồng/kg; ngao biển tăng thêm 5,000-10,000 đồng/cân, cá chắm ngày thường 30,000-35,000 đồng/kg nay cũng lên tới 65,000-70.000 đồng/kg, gà ta mổ sẵn trước Tết 80,000 đồng/kg nay là 110,000-120,000đồng/kg, tôm sú loại vừa lên tới 170,000-180,000 đồng/kg.

Không chỉ giá thực phẩm mà bất cứ dịch vụ nào cũng tăng giá. Theo quy định của UBND thành phố Hà Nội, giá giữ xe đạp là 1,000 đồng/xe, xe máy 2,000 đồng/xe (ban ngày) nhưng tại nhiều khu vui chơi giải trí cũng như các điểm giữ xe ở các khu đình, chùa, ngay từ đêm 30 Tết đều đã bán vé với giá ‘cắt cổ’. Giá thấp nhất cũng phải 5,000 đồng/xe máy, thậm chí lên tới 15,000-20,000 đồng/xe. Tuy nhiên, do nhu cầu du xuân nên nhiều gia đình chấp nhận bị ‘móc túi’.

Tác giả Alain FAUJAS đã viết cái lý do thứ nhất của việc vật giá tăng trong một hệ thống Kinh tế mà Nhà Nước can thiệp :“Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois et vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit à plein fouet des prix arbitraires.“ (Le Monde 30.10.2007) ( Khi mà sự lấn quyền chính trị (những đảng cộng sản Trung quốc và Việt Nam) bành trướng sang Thương mại, Tài chánh và Kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng thừng những giá cả độc đoán).

Lý do thứ hai là đồng tiền Việt Nam mất giá do lạm phát tiền tệ. Tác giả Florin AFTALION trong phần đầu của bài này, đã lấy tỉ dụ thời lạm phát tiền tệ Cách Mạng Pháp. Chúng tôi cũng đã viết một bài riêng về lạm phát tiền tệ do Nhà Nước. Viết về lý do này, Oâng VŨ QUANG VIỆT đã viết trong một bài đăng trên báo Lao Động (số 197, ngày 25.8, và số 198, ngày 27.8.2007) :

“Tôi rất đồng ý với các nhà kinh tế đã nhận định là ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào lạm phát có nguyên nhân in tiền nhiều quá. Tại sao lại in tiền nhiều ? Vì nhà nước chi nhiều hơn số thuế thu được. Nếu như nhà nước phát hành trái phiếu và bán cho dân để mượn tiền tiêu thì không có vấn đề. Vấn đề là nhà nước bắt ông Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu. Điều này có nghĩa là bắt NHNN in tiền. Tiền nhiều hơn hàng làm ra thì tất phải lạm phát. Thời chống lạm phát cuối những năm 1980, hầu hết mọi người trong chính phủ đều cho rằng phải tăng năng suất, phải tăng cung để giảm lạm phát. Tôi đã đặt cho các bạn ấy một câu hỏi. Thế khả năng tăng sản xuất thật một năm là bao nhiêu ? Cao nhất như Trung Quốc thì cũng chỉ 10-15% là cùng, nhưng các ông lại đang tăng tiền tới cả vài trăm phần trăm một năm. Các ông có tăng sản xuất nổi vài trăm phần trăm một năm không ?“

(ii) Việc phân phối độ phát triển kinh tế có đồng đều hay không ?

Nhà Nước Việt Nam từng huênh hoang độ tăng trưởng Kinh tế là 8.5%. Nhưng điều quan trọng là việc phân phối độ tăng này có đồng đều hay không, nghĩa là 85 triệu dân chúng Việt Nam có được hưởng tương đối độ tăng này hay không, hay chỉ một thiểu số người được hưởng.

=> Trước hết Nông dân chiếm 70% dân số rất ít được hưởng độ tăng trưởng này vì số đầu tư vảo nông thôn rất ít ỏi. Ông NGUYỄN QUỐC CƯỜNG, chủ tịch Hội Nông dân VN, cho biết:

“Đại bộ phận dân cư vẫn ở khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp nhất. Bên cạnh đó, giá cả cứ "leo thang" chóng mặt. Dù đến cuối năm nay chỉ số tăng giá tiêu dùng dừng ở mức 8%, nhưng so với mức tăng trưởng thấp ở khu vực nông thôn mới thấy đời sống nông dân cực kỳ khó khăn.

Chúng tôi đề nghị Nhà nước tăng đầu tư cho khu vực nông thôn. Cụ thể là tăng đầu tư vào cơ sở hạ tầng như giao thông nông thôn và thủy lợi. Nếu hai khoản này được Nhà nước đầu tư tốt thì có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội nông thôn phát triển. Kinh tế - xã hội phát triển tức là điều kiện sản xuất phát triển thì đời sống nông dân mới hi vọng được cải thiện. Ngoài ra Nhà nước cũng phải hết sức tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ tư vấn, hướng dẫn cho nông dân, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, dịch vụ vay vốn, tín chấp với ngân hàng để nông dân được vay vốn sản xuất.“ 

=> Sau đó, độ tăng trưởng 8.5% mà 8 triệu Công Nhân đã đóng góp sản xuất trong các ngành công nghệ, nhưng lương Công Nhân tăng lên rất ít hàng năm, nghĩa là độ tăng 8.5% này được phân phối cho công nhân rất ít ỏi. Trong một bài viết gần đây, Tiến sĩ ÂU DƯƠNG THỆ đã nói về việc Công Nhân đình công đòi tăng lương như sau:

“Thật vậy, ngay những người cầm đầu Công đoàn Lao động VN, một tổ chức của ĐCS dựng lên để kiểm soát giai cấp lao động thay vì bảo vệ quyền lợi của họ, cũng đã phải xác nhận là, trong năm 2007 đã có tới 541 cuộc đình công với sự tham gia của 350.000 công nhân, trong đó phần lớn là các cuộc đình công bộc phát, tức “bất hợp pháp”.

Nói về đời sống Công nhân, Tiến sĩ tiếp:

“Không chỉ phải chịu ngược đãi của chủ nhân trong các bữa cơm quá khắc khổ, vì đồng lương không đủ sống nên hàng trăm ngàn công nhân VN và con cái của họ phải sống chui rúc trong các nhà ổ chuột, phòng trọ của họ như các “chuồng gà”, nhưng vẫn phải thuê với giá cao. Chính báo chí của chế độ cũng đã phải nhìn nhận:
           
Bước vào nhà trọ của công nhân (CN) Trương Thị Đan Huyền, chúng tôi thật sự bàng hoàng! Thoạt nhìn, phòng trọ giống như một dãy “chuồng gà”. Dòng kênh nước đen nhờ nhờ rác sau nhà lắm khi tràn lên ngập mắt cá chân. Mỗi phòng rộng 1,2m, dài 1,6m, đủ rộng để đặt hai cái gối nằm và đủ dài để người cao phải ngủ co chân. Quần áo được treo bên vách. Còn mọi đồ dùng cá nhân đều phải đặt lên kệ. Vách và nền phòng đều được ghép bằng loại ván ép cũ, dán giấy loang lổ.“

Tệ hại hơn nữa là Nguyễn Tấn Dũng vừa ký hai Nghị Định 11 và 12 ngày 30.01.2008 cấm đình công. Đây là những Nghị Định bóc lột sức lao động của Công Nhân.

=> Thành phần được hưởng hầu hết độ tăng trưởng Kinh tế 8.5% là một thiểu số người chừng 5%. Thành phần này gồm:

* Lớp ngoại lai đầu tư vào Việt Nam với mục đích duy nhất là khai thác Nhân Lực ở một quốc gia dưới chế độ độc đảng và độc tài. Nghi Định 11 & 12/2008 nhằm phục vụ cho lớp ngoại lai khai thác nhân lực Việt Nam.

* Lớp quốc doanh thuộc đảng CSVN cũng khai thác nhân lực Việt Nam và còn được hỗ trợ cả về quyền lực đàn áp nhân công và vốn đầu tư từ ngân quỹ quốc gia

* Lớp giữ quyền lực cai trị, tuy không làm Kinh tế, nhưng được chia phần vào độ tăng trưởng 8.5% qua những tham nhũng.

(iii) Hố cách biệt giầu nghèo sẽ mang đến căng thẳng xã hội ra sao ?

Lớp thiểu số 5% được hưởng hầu hết độ tăng Kinh tế 8.5% mỗi ngày mỗi tích trữ của cải giầu thêm. Đối với lớp người này việc vật giá tăng vọt, nhất là nhu yếu phẩm và đồ ăn, không có ảnh hưởng gì lên họ.

Trong khi ấy 90% dân số gồm hầu hết là Nông Dân, Công Nhân được hưởng rất ít ỏi về độ tăng Kinh tế 8.5% chắc chắn là nạn nhân của việc tăng vọt vật giá. Nếu Nông dân và Công nhân không cảm thấy sự bất công của việc phân phối không đồng đều độ tăng Kinh tế, thì việc vật giá tăng hàng ngày làm cho họ thấy mỗi ngày mỗi mất khả năng tiêu thụ (perte du pouvoir d’achat), nghĩa là mỗi ngày ra chợ mua đồ ăn là mỗi ngày họ thấy tỏ tường mình nghèo đi. Đây là cái nghèo trông thấy, sờ thấy (pauvreté tangible, touchable)

Sự căng thẳng xã hội càng tăng thêm khi mà 90% dân số nhìn thấy trước mắt những kẻ bóc lột họ đang tiêu xài tiền như nước.

Họ đọc lên những câu thơ của NGUYỄN CUNG THƯƠNG:

    Chúng tao lết lê trên thành phố Cáo Hồ
    Nên biết rõ từng tên đại ác
    Trên bàn tiệc máu xương dân tộc
    Nhà hàng nào chúng cũng ăn nhậu
    Bé gái nào cũng bị chúng mua trinh!
    Chúng ta sẽ tỉa từng thằng
    Đất nước cần nhiều "quốc táng"
    Bớt được mạng thằng Cộng Sản nào
    Thì địa ngục xã hội chủ nghĩa này
    Còn có chút sáng láng hơn


                                                     Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 10.02.2008
=========================


                                                     
                                     THÁI HÀ BẤT CHẤP VATICAN



                                            NGUYỄN PHÚC LIÊN

 

Càng nghĩ đến Dân Oan bị cướp Nhà Đất, rồi phải nằm đường khiếu kiện trong nhiều năm trường, nhưng bị cường quyền đàn áp hung bạo, tôi càng cảm thấy coi thường  Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh VATICAN. Tôi coi thường Hồng Y thực tình vì Hồng Y gốc I-tà-lồ này, ngồi yên lành tại Vatican, không biết gì sự đau đớn bị khóa miệng của Giáo dân Công Giáo VN nói riêng và Dân tộc Việt Nam nói chúng, đã viết một LÁ THƯ phản bội lại việc Giáo Oan Công Giáo VN vừa cất lên tiếng nói ĐÒI CÔNG LÝ. Tôi nghĩ đến nếu Hồng Y không biết gì, thì yên miệng đi để người Công Giáo Việt Nam nói chuyện với CSVN về CÔNG LÝ. Việc Vatican ngang sương can thiệp vào, thực là lãng xẹt nếu vì tối ngày ngồi nhà lầu ở Ý mà không biết đến sự đau khổ bị cướp bóc, bị bịt miệng của Dân Việt Nam bởi đảng cướp và côn đồ CSVN. Còn nếu có biết, mà cố tình cấu kết với CSVN nhằm tắt ngọn lửa đòi CÔNG LÝvừa thắp lên, thì quả thực Hồng Y BERTONE đã làm một tội phạm đối với người Công Giáo VN nói riêng và Dân Tộc VN nói chung.

Tôi cảm thấy không những coi thường mà còn thấy trong lòng có sự uất hận nào đó đối Hồng Y Quốc Vụ Khanh người gốc I-tà-lồ này nữa vì Dân tộc của tôi nói chung và Công Giáo VN nói riêng đã không được cất lên tiếng nói dưới ách độc tài CSVN trong bao chục năm trường, nay vừa cất lên tiếng nói chống BẤT CÔNG để có CÔNG LÝ, thì bị một người ngoại lai I-tà-lồ dùng quyền Tôn Giáo mà chặn đứng..


HỒY BERTONE MUỐN DẸP GIÁO OAN,
THÌ GIÁO OAN DẸP LẠI VĂN THƯ CỦA HỒNG Y

Người Công Giáo VN bắt đầu coi thường Hồng Y, chẳng coi Lá Thư tội phạm của Hồng Y ra cái gì nữa. Chứng cớ là Giáo Dân Xứ THÁI HÀ vẫn diễn hành cầu nguyện đòi CÔNG LÝ như thường. Hãy xé bỏ LÁ THƯ tội phạm này.

Không những người Tín hữu Công Giáo Việt Nam, mà những Linh mục, cả Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT cũng đến Xứ THÁI HÀ cầu nguyện đòi CÔNG LÝ. Nếu đã nhỡ phải vâng theo Lệnh phản bội của Hồng Y Bertone để rút lui ở Tòa Khâm Sứ, thì nay Giáo Oan Công Giáo, Linh mục, Tu sị Nam Nữ, Giáo dân và Đức TGM Ngô Quang Kiệt tụ họp tại Xứ THÁI HÀ hay những nơi khác để đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Khi Lá Thư phản bội kia đã bị khinh khi, thì bây giờ Hồng Y Bertone người Ý-tà-lồ có viết hàng trăm lá thư phản bội nữa, thì Công Giáo Việt Nam cũng không nghe nữa.

Công Giáo Quốc nội đã coi thường Lá Thư của Hồng Y gốc I-tà-lồ. Công Giáo Việt Nam Hải ngoại tấn công trực tiếp lên Hồng Y tại Vatican để Hồng Y gốc I-tà-lồ này đừng cấu kết với CSVN hoặc đám ngợm Giáo gian quốc doanh nằm vùng tại Vatican mà ra tiếp những Văn Thư nhằm quấy rầy Công Giáo Việt Nam trong việc đòi CÔNG LÝ để có HÒA BÌNH nữa.


THÁI HÀ MỒNG MỘT TẾT:
TUẦN HÀNH CẦU NGUYỆN

Xin quý Vị vào Website sau đây để xem hình ảnh Giáo Oan xứ Thái Hà tuần hành Cầu nguyện đòi CÔNG LÝ. Giáo Oan xứ THÁI HÀ không coi Lá Thư của Hồng y Bertone gốc I-tà-lồ ra gì. CSVN khóa miệng Công Giáo Miền Bắc đã trên nửa Thế kỷ. Bây giờ Hông y gốc I-tà-lồ còn cấu kết với CSVN để bắt họ yên tiếng luôn hay sao. 
 
http://www.chuacuuthe.com/kysu/9785th55.html


 
THÁI HÀ MỒNG HAI TẾT
KẺ CHIẾM ĐẤT ĂN TẾT KHÔNG NGON
 
Người của Công ty dệt thảm len năm nay ăn Tết trong lo sợ. Có lẽ họ e rằng giáo dân Thái Hà lợi dụng mấy ngày Xuân để tràn vào khu đất họ đang chiếm dụng.

Nghe điện thoại cấp báo, chúng tôi vội ra hiện trường thì thấy anh bảo vệ đang kéo dây thép gai bên trong tường rào. Một hàng thép gai kéo bên ngoài chưa đủ, nay lại thêm một hàng bên trong ! Hành động kéo dây thép gai giữa lòng thủ đô thế này khi hỏi đến thì chẳng cơ quan nào dám nhận, bây giờ thì rõ ràng Công ty dệt thảm len đã làm việc này, đương nhiên dưới sự cho phép hoặc nhắm mắt làm ngơ của chính quyền.

Chúng tôi hỏi một anh bảo vệ, anh ta chỉ cười. Ngay lúc đó một người không mặc đồ bảo vệ nói : "Chúng tôi chỉ muốn bình yên vào những ngày còn lại của Tết". Hoá ra mấy ngày Tết "chúng tôi" không được bình yên ! Kéo thêm một hàng rào kẽm gai thì sẽ được bình yên chăng ?

Có điều lạ là một lát sau họ lại cuộn thép gai đã giăng lại. Làm một màn trình diễn để dằn mặt ? Hay là giăng ra rồi lại kéo vào vì sợ "tạo ra cơ hội" cho giáo dân tràn vào như ở Toà Khâm Sứ ? Hay là các "xếp" lòng dạ bối rối lệnh tới lệnh lui mà không biết mình ra lệnh gì ?

Mời  xem  hình ảnh :

http://www.chuacuuthe.com/kysu/9784th56.html


HÀNG NGÀN GIÁO DÂN TỪ CÁC TỈNH
KÉO VỀ THÁI HÀ NGÀY MỒNG HAI TẾT

Mấy ngàn giáo dân từ các giáo phận Bắc Việt đổ về Thái Hà
VietCatholic News (Thứ Sáu 08/02/2008 23:20)

HÀ NỘI -- Có hơn một chục bà cụ suốt mấy ngày Tết vẫn liên tục túc trực tại hiện trường khu vực giáo xứ Thái Hà. Trong lều bạt có nước uống, bánh chưng và bánh ngọt. Các bà hạnh phúc với xác tín canh thức và cầu nguyện của mình.

Giáo dân giáo xứ Thái Hà thường ra hiện trường cầu nguyện sau mỗi giờ lễ trong ngày mùng một và mùng hai. Các cha, các thầy và nhiều người ra lều trại chúc tết và thăm hỏi các cụ bà.

Các cụ cho biết sáng mùng hai tết có một vài cán bộ đến hiện trường. Có cán bộ cũng vào lều bạt thăm hỏi và chúc tết các bà cụ đang hiện diện ở đây.

Các bà kể rằng, "Họ nói: nếu các cụ không về mà cứ ở đây thì những anh nghiện cướp giật hay hắt a xít, hay ném gạch đá vào thì sao?”.
 
Các cụ trả lời: “Chúng tôi già rồi, chết cũng chẳng tiếc gì. Nhưng chúng tôi ở đây an toàn vì có Mẹ của chúng tôi ở cùng chúng tôi”.

Chiều mùng 2 tết, các cán bộ của công ty Chiến Thắng lại đưa giây théo gai ra giăng quanh khu đất. Không biết công ty này chuẩn bị làm gì?

Lúc đó công an túc trực can thiệp và người ta cuộn lại hàng rào thép gai. Các cán bộ công an túc trực ngày tết ở hiện trường kể là khôn khéo. Nếu không thì tình hình có thể căng thẳng thêm, vì ngày tết nhiều người được nghỉ học, nghỉ việc và họ do đó giáo dân sẽ đến rất đông.

Những giáo dân ở đây cho biết các cán bộ trong công ty Chiến Thắng này rất hung hăng. Họ nghĩ rằng vì các cán bộ này gắn chặt với quyền lợi cá nhân của họ nơi khu đất. Trong khi đó, theo lời các cán bộ công an đang làm nhiệm vụ tại hiện trường, thì họ chỉ có mặt vì phải thừa hành cấp trên. Họ chẳng được ăn chia gì trong chuyện đất đai ở đây.

Công an đang tập trung khá đông ở trên con đường cạnh khu đất. Họ cũng tập trung ở cổng vào nhà thờ và ở văn phòng MTTQ và Đoàn Thanh Niên ở đối diện với nhà thờ. Họ không mặc quân phục và đều ngồi trong phòng.

Tất cả các linh mục và tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế ở Miền Bắc hôm nay cũng về Thái Hà. Nhiều cha thầy ra thăm hiện trường vụ đất đai. Các thầy và các soeurs của các dòng cũng đã đến tham dự giờ hành hương.

Nhà thờ đang tổ chức giờ khấn thứ nhất. Giáo dân đang ghi ý khấn ở các bàn kê quanh sân. Các cha đang xếp hàng giải tội.


BẤT CHẤP LỆNH VATICAN,
TRÊN 7000 NGƯỜI TỤ HỌP TẠI XỨ THÁI HÀ
NGÀY MỒNG BA TẾT

Trên 7,000 người tới Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Thái Hà ngày Mồng 3 Tết và cầu nguyện đòi Công lý
VietCatholic News (Thứ Bảy 09/02/2008 23:09)
 
HÀ NỘI -- Sáng nay khi chúng tôi đưa tin về cuộc lễ Minh Niên ở giáo xứ Thái Hà, chúng tôi phỏng đoán là 3000 người (lúc đó vào lúc 9 giờ sáng). Nhưng khi tới giờ thánh lễ khởi sự do Đức TGM Ngô Quang Kiệt chủ sự thì dân chúng kéo tới đông vô kể, chúng tôi không còn có thể đi lại tự do trong khuân viên bên ngoài thánh đường hay trong nhà thờ, vì đâu đâu cũng là người. Dân chúng đứng chật cứng khắp nơi chung quanh thánh đường.

Các con đường xunh quanh nhà thờ đều chật cứng người. Khuôn viên nhà thờ và tu viện tràn ngập người. Các tầng lầu, các phòng học giáo lý, các hành lang, đều chật cứng người. Không có một buổi lễ tôn giáo nào trong thành phố Hà Nội diễn ra trong năm mà lại đông người như lễ hành hương minh niên kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Thái Hà này.

Sau thánh lễ chúng tôi hỏi Cha Quản lý giáo xứ Thái Hà được ngài cho biết "số người tham dự thánh lễ hôm nay đông chưa từng có, phải lên tới 8 hay 9 ngàn người, vì không còn chổ nào trống trong cả khu chung quanh đây". Sau khi dò hỏi và kiểm kê ước lượng chung đa số cho rằng số người dự lễ hôm nay vào khoảng trên 7000 người.

Ngay báo VNExpress cũng đưa tin như sau:

"Tại Hà Nội, khoảng 10h sáng nay xe máy gửi ở 2 bên vỉa hè đường Nguyễn Lương Bằng dẫn vào nhà thờ Thái Hà chật kín. Càng đông người đến, giá vé càng leo thang. Nhiều người dân xung quanh thậm chí bỏ hẳn công việc hàng ngày để làm dịch vụ trông giữ xe. Ngày Tết vắng khách, chủ một quán cà phê trên đường Nguyễn Lương Bằng tranh thủ dẹp hết bàn ghế để lấy chỗ cho khách gửi xe".

Phần lớn các giáo dân đến từ các giáo xứ trong thành phố Hà Nội và từ các tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Hà Nam, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ,v,v.

Thánh lễ lúc 10 h do Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt chủ sự. Có hơn một chục linh mục trong Giáo hạt Hà Nội đồng tế với ngài.

Trong lời nhắn nhủ cuối lễ Đức Tổng Giám Mục nói rằng: Sau khi Chúa Giêsu chịu chết chính Đức Mẹ đã quy tụ các tông đồ để các ngài đón nhận Chúa Thánh Thần và làm nên mùa xuân của Giáo Hội. Hôm nay Đức Mẹ cũng đã quy tụ chúng ta về đây để cùng nhau cầu nguyện đón nhận Chúa Thánh Thần. Hy vọng nhờ vậy chúng ta cũng được trở nên mùa xuân mới.

Kết thúc thánh lễ, một cha trong Tu viện Thái Hà đã kêu gọi: “Kính mời quý cha quý tu sĩ nam nữ và toàn thể anh chị em giáo dân chúng ta đi cầu nguyện đòi đất”.

Đấy là lời kêu gọi rất thật, phản ảnh bản chất và mục đích các sự kiện đang diễn ra ở Thái Hà.

Các linh mục, tu sĩ và đông đảo giáo dân đã đáp ứng.

Chưa bao giờ chúng tôi thấy trong thành phố tập trung một lượng người đông đảo như vậy trong các buổi cầu nguyện, kể cả các buổi cầu nguyện bên Toà Khâm Sứ.
 
Giáo dân nhiều người không tiến ra nổi con đường ven khu đất mà phải ở lại bãi xe, trong sân nhà thờ để cầu vọng từ xa.

Con đường cạnh khu đất được quét dọn sạch sẽ. Bờ tường nhiều chỗ đã bị đen do thắp nến nhiều. Một số bảng tạ ơn Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã được gắn lên tường rào. Suốt ngày đều có các nhóm giáo dân đến cầu nguyện lẻ tẻ hay thăm hỏi các bà đang túc trực tại các lều bạt.

Giáo dân Thái Hà tin rằng họ có sứ mạng bảo vệ cho công lý, nếu chưa bảo vệ được cho người khác, thì ít nhất là bảo vệ cho chính mình mà cụ thể là để giành lại khu đất thờ tự của Giáo Hội. Họ sẵn sàng hy sinh vì điều này.

Còn giáo dân các tỉnh hôm nay về đây thì cũng hết sức vui mừng phấn khởi. Bao nhiêu tình cảm trước đây họ đặt bên Toà Khâm Sứ hiện nay đang được chuyển về Thái Hà. Họ thấy cuộc đất tranh của giáo dân Thái Hà là của họ... Có người nói, nếu không đến đây cầu nguyện, và không vào mạng xem tin tức về Thái Hà, họ cảm thấy không yên. Khi được tận mắt chứng kiến các hình ảnh, các thông tin và tham dự các giờ cầu nguyện ở Thái Hà, họ thấy đức tin trở nên mạnh mẽ hơn.

Nghe một cha nói sáng nay các cán bộ công an quận đến hiện trường khá đông. Các anh nhận định rằng: “Bây giờ giáo dân cứ túc trực và cầu nguyện ngày đêm, thì thử hỏi, công ty Chiến Thắng còn làm ăn được gì. Trước sau đất ấy sẽ được trả về Giáo Hội thôi. Nhưng các linh mục và giáo dân phải bình tĩnh”.

Một cán bộ tôn giáo cũng nhận định: “Đất đấy cũng sẽ phải trả lại nhà thờ. Nhưng bây giờ các cơ quan đang sử dụng, đối với nhà nước thì nhà thờ hay doanh nghiệp cũng là con cái cả, chia cho con này phần này thì phải chia cho con kia phần kia, nhưng các con đừng làm cho bố mẹ mất mặt”.

Trong khi đó, chúng tôi nghe các linh mục kêu gọi giáo dân ở nhà thờ trong các thánh lễ chiều hãy tiếp tục kiên trì cầu nguyện và hy sinh theo tinh thần của Mùa Chay. Các ngài còn trích lời Đức Tổng Giám Mục rằng: “Chúng ta không nên thay đổi trước khi người ta thay đổi”.


NGUYỄN PHÚC LIÊN




=========================
pho bien/ publication 06.02.2008
=========================


                                                      KÝ TÊN
                                          THƯ GỬI LÊN VATICAN
 

                                        Gioan NGUYỄN PHÚC LIÊN
 
 
Trọng kính quý Vị thuộc Công Giáo VN, 

Chúng tôi xin gửi đến quý Vị LÁ THƯ mà Giáo sư NGUYỄN HỌC TẬP đã soạn thảo, nhằm gửi Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Vatican. 

Trong LÁ THƯ này, Giáo sư Nguyễn Học Tập đã nhấn mạnh đến những điểm sau đây: 

1) Nếu Vatican quan tâm đến vấn đề Nhà Đất của Tòa Khâm Sứ, thì hãy quan tâm đến biết bao những Nhà, Đất khác đang bị Nhà Nước CSVN trưng thu như ở Giáo phận Huế, Đà Lạt, Sài Gòn... Đồng thời Nhà Đất của các Tôn Giáo bạn cũng bị Nhà Nước trưng thụ Xin cùng quan tâm đòi hỏi chung. Tổng quát hơn nữa là những bất công trưng thu Nhà Đất của Dân chúng nghèo khổ. 

2) Nếu Vatican lo sợ những bạo động, thì xin Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh ghi nhận (i) rằng người Công giáo VN không phải là những con người " bạo động ngôn từ và cả thể lý ", có chăng là từ phía những người thuộc đảng CSVN; (ii) rằng người Công giáo VN là những người biết sống cho đức tin và nếu cần cũng không khiếp sợ lùi bước trước những hy sinh cho công lý và hoà bình.  

3) Xin Vatican nhớ lại những lời khuyến khích và cổ võ của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II cho Công Giáo VN hãy theo gương các Thánh Tử Đạo VN mà can đảm ra khơi, đừng sợ hãi nữa: "Giáo Hội Việt Nam được mời gọi hãy ra khơi... Khi qúy vị trở về đất nước cao qúy của qúy vị, xin qúy vị hãy nói với các linh mục, các tu sĩ nam nữ, các thầy giảng, giáo dân và đặc biệt là giới trẻ, rằng Đức Thánh Cha cầu nguyện cho họ, và khuyến khích họ hãy nhận lãnh những thách đố Phúc Âm đem lại, bằng cách noi gương các Thánh và các vị Tử Đạo đã đi trước trên con đường Đức Tin, máu của các vị đổ ra là hạt giống của cuộc sống mới cho đất nước" (Huấn Dụ, đoạn 1). 
  
4) Nếu Vatican muốn khuyên bảo, thì hãy khuyên bảo cả hai phía, chứ đừng chỉ dằn mặt riêng Công giáo, mà để cho CSVN vẫn dùng bạo lực đàn áp. Nói như người Ý thường nói với con cái trong nhà  khi khiển trách,  là chỉ có chúng con " bị xách lổ tai " ( tirare l'orecchio), còn phía bên kia, CSVN, họ vẫn ung dung, tác oai, tác quái tùy hỷ. 

5) Nếu Vatican giải thích cho quyền lực CSVN biết những nguyện vọng chính đáng của phía Công Giáo, thì hãy giải thích trường hợp của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ đang bị Nhà Nước CSVN cầm tù một cách bất công, độc đoán, chỉ vì Ngài nói lên những nguyện vọng chính đáng của Công Giáo và của Dân tộc Việt Nam. 

6) Sau cùng, về những vấn đề trần thế mà Công Giáo Việt Nam phải giải quyết với CSVN, xin Tòa Thánh Vatican dành cho cả chúng con, Công Giáo Việt Nam, phần chủ yếu giải quyết, có tiếng nói quyết định về những gì liên quan đến vận mệnh Đất Nước chúng con.  
 

Xin quý Vị thuộc Công Giáo Việt Nam KÝ TÊN lá thư này để chúng ta đồng chuyển đến Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, đồng thời cũng chuyển Bản Sao đến Đức TGM Ngô Quang Kiệt để Ngài hiểu quan điểm của Giáo dân chúng tạ 

Lá thư này đã được dịch ra tiếng Ý. 

Tôi vừa điện thoại sang Ý cho Giáo sư Nguyễn Học Tập, xin Giáo sư hoãn lại việc gửi thư tuần này và chờ cho đến thứ Hai tuần sau, 11.02.2008, vì tuần này gặp Tết, nên một số người bận rộn chưa đọc và ký được.  

Xin quý Vị ký LÁ THƯ từ nay đến thứ Hai tuần saụ Giáo sư NGUYỄN HỌC TẬP sẽ chuyển LÁ THƯ vào thứ hai tuần saụ 

Sau đây, xin đính kèm LÁ THƯ mà Giáo sư Nguyễn Học Tập đã soạn thảọ 

Trọng kính 

Gioan NGUYỄN PHÚC LIÊN 
Một Giáo Dân Công Giáo Việt Nam  
  
  
 

XIN THÔNG BÁO KÝ TÊN VỀ:

=> Trực tiếp tới:  Giáo sư NGUYỄN HỌC TẬP : vietlinhct@hotmail.it    

=> Hoặc tới: Gíao sư  NGUYỄN PHÚC LIÊN        : drlien.wim-impact@bluewin.ch 
                                                                           wim-impact.drlien@bluewin.ch   

Xin ghi Tên, thuộc Giáo phận và Nghề nghiệp nếu muốn 

  
  
 

                                                THƯ KÍNH GỞI
                                         PHỦ QUỐC VỤ KHANH
                                          TOÀ THÁNH VATICAN



Kính gởi
Đức Hồng Y Tarcisio Bertone
Chủ Tích Phủ Quốc Vụ Khanh Toà Thánh Vatican.

Đồng kính gởi để kính tường
Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt
Tổng Giáo Phận Hà Nội.


Trọng kính Đức Hồng Y,

Con ký tên dưới đây là Nguyễn Học Tập, nhân danh chính con và một số Anh Chị Em Công Giáo đã liên lạc với con, xin được kính gởi đến Đức Hồng Y một vài tư tưởng, nhân bức thư Đức Hồng Y đã viết ngày 30.01.2008,  cho Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Giáo Phận Hà Nội.

Trước hết chúng con là con cái Giáo Hội, luôn luôn trung thành với Giáo Hội Tông Toà của Thánh Phêrô, như lịch sử trên bốn thế kỷ nay của Giáo Hôi Công Giáo Việt Nam đã chứng minh.
Kế đến chúng con cảm thấy hết sức kích lệ và hết lòng cám ơn,  vì biết được Giáo Hội Mẹ, Toà Thánh Vatican, vẫn luôn luôn đặc tâm lưu ý những vấn đề khó khăn  cuộc sống Đất Nước của chúng con, nhứt là những vấn đề liên hệ đến Giáo Hội Việt Nam, như trong thư Đức Hồng Y đã xác nhận:

   - " Phủ quốc Vụ Khanh chú tâm theo sát các diễn biến những ngày gần đây ở Hà Nội, gắn liền với những căng thẳng đã có từ rất lâu giữa Tổng Giáo Phận của Đức Cha với Chính Quyền về quyền sở hữu và xử dụng toà nhà nằm cạnh Toà Giám Mục và nơi mà trong nhiều năm trời là Toà Khâm Sứ tại Việt Nam".

( ...the Segretary of State follows with a great attention anh concern on the events of these last several days in Hanoi, related to the tensions which exist for a long time between your archdiocese and the public autorites in connection with the rights of ownership and usage of building to the archdiocesan office, wich for many years, accommodated the Apostolic Delegation in Viet Nam)

a) Một lần nữa, chúng con rất lấy làm kích lệ và hết lòng cám ơn Toà Thánh, mà Phủ Quốc Vụ Khanh của Đức Hồng Y đại diện, đã luôn luôn đặc tâm " chú ý theo sát " những khó khăn trong cuộc sống của Đất Nước chúng con, những mối căng thẳng, đối chọi, đụng chạm, ngược đải và áp đặt của Chính Quyền đối với Giáo Hội Việt Nam.

Như vậy, những " căng thẳng đã có từ lâu ", từ trên nửa thế kỷ nay, từ năm 1945 đến nay,  không phải chỉ là những gì " giữa Tồng Giáo Phận của Đức Cha ( Giuse Ngô Quang Kiệt ) với Chính Quyền Thành Phố" ( Hà Nội) ", mà là những căng thẳng, đối chọi, đụng hạm và áp đặt của Chính Quyền Cộng Sản đối với cả Giáo Hội Việt Nam.

Những đụng chạm, trưng thu, áp đặt đó không phải chỉ xảy ra đối với " quyền sở hữu và xử dụng toà nhà nằm cạnh Toà Giám Mục ( Hà Nội)", mà con nhiều cơ sở địa ốc khác cũng bị Chính Quyền ngang nhiên chiếm hữu trưng thu,

   - Ở Giáo Phận Huế,
     * 80-90% bất động sản của Trung Tâm Đức Mẹ La Vang,
     * đa số phần đất của Tu Viện Thiên An,
     * nhà trường Thiên Hựu ( Providence),
     * nhà trường Pellerin ( Lasan Bình Linh).

   - Ở Giáo Phận Đà Lạt,  - cả sơ sở Giáo Hoàng Học Viện Thánh Pio X Đà lạt, mới xây cất được mấy năm trước năm 1975,  của các Cha Dòng Tên ( S.J.),

   - Ở Giáo Phận Sàigòn,
     * phần đất bên cạnh Tiểu Chủng Viện Sàigòn của các Cha Dòng Thừa Sai Paris ( MEP),
     *  cơ sở của Dòng Chúa Cứu Thế ở Sàigon,

và chắc chắn còn nhiều cơ sở đất đai của bao nhiêu giáo phận khác nữa bị trưng thu bất công, áp đặt,  không được bồi thường và cũng không ai muốn trả.

Đó là chưa kể đến cơ sở, đất đai, tài sản của nhiều tôn giáo bạn ở Việt Nam (  Phật Giáo, Phật Giáo Hoà Hảo, Cao Đài và cả  Anh Em Tin Lành, nhà thờ của Anh Em Tin Lành bị ủi sập, để lấy đất xây dựng khu thương mại,  các tín hữu không còn nơi để tựu họp thờ phượng Chúa là một bằng chứng).
 
Bởi đó, nếu Phủ Quốc Vụ Khanh Toà Thánh đã luôn luôn đặc tâm " chú ý theo sát ",  xin Đức Hồng Y cũng lưu ý cả  đến các trường họp vừa kể, bởi vì ở những nơi đó cũng có giáo dân đệ đơn, tập họp, cầu nguyện để đòi lại cơ sở, đất đai mà Giáo Hội Công Giáo ( cũng như các Tôn Giáo bạn) cần có để thực hiện các việc đào tạo chủng sinh, tu sĩ hay thực thi đức bác ái tôn giáo của mình.

Hiểu như vậy, " những diển biến gần đây ở Hà Nội, gắn liền với những căng thẳng đã có từ lâu..." chỉ là trường hợp giữa những trường hợp bộc phát, chống lại cuộc sống bị đè nén, áp bức, bất công ở khắp Quốc Gia Việt Nam không ai còn chịu được nữa.

b) Kế đến chúng con xin hết lòng cám ơn sự quan tâm lo lắng và lời khuyên của Đức Hồng Y với Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, lo sợ cho tình trạng có thể biến thể thành

   - " nguy hiểm thực tiển, đó là tình hình vượt thoát khỏi sự kiểm soát và có thể biến thành bạo động ngôn từ hay cả thể lý".
( ...there exists a real danger that the situation can get out of control, and that it can degenerate into dimonstration of verbal or even physical violence).

Và kế đến Đức Hồng Y ao ước,
   - " tôi xin Đức Cha vui lòng can thiệp, hầu tránh được những hành vi có thể xáo trộn trật tự công cộng, để cho tình hình trở lại bình thường...trong bầu không khí thanh thản hơn, mới có thể mở lại cuộc đàm thoại với Chính Quyền...".

( I kindly request you to intervene, so that acts wich could disrupt the public order be avoided, and that the situation comes back to normality. It will be thus possibile , in the more serene climate, to resume the dialogue with the authorities).

Đọc lại viễn ảnh mà Đức Hồng Y phát hoạ, không ai mà không thấy tràn đầy hy vọng.

Còn gì tốt đẹp hơn là có được " bầu không khí thanh thản hơn, mở lại cuộc đàm thoại với Chính Quyền" để giải quyết vấn đề.

Điều chúng con xin đoan chắc với Đức Hồng Y rằng người công giáo Việt Nam không phải là những hạng người hung bạo, thích gây hấn để cho 

    -  " tình hình vượt khỏi sự kiểm soát và có thể biến thành bạo động ngôn từ và cả thể lý ".

Giáo Hội Việt Nam trên bốn trăm năm truyền giáo đã có trên 300.000 vị tử đạo và chúng con được hảnh diện có được 117 Thánh Tử Đạo.

Chúng con không phải là những con người " bạo động ngôn từ và cả thể lý ", có chăng là từ phía những người không phải chúng con.

Nhưng chúng con cũng là những người biết sống cho đức tin và nếu cần cũng không khiếp sợ lùi bước trước những hy sinh cho công lý và hoà bình.

Trên 300.000 vị tử đạo và 117 Thánh tử đạo là gương của những anh em chúng con trong gia đình công giáo Việt Nam đã đi trước.

Và đó cũng là tinh thần mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II, trong Huấn Dụ năm 2001 gởi cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam,  khuyến khích Giáo Hội Việt Nam " được mời gọi hãy ra khơi ", hãy làm nhân chứng cho đức tin của mình, cho công lỳ và hoà bình, cho Chúa Ki Tô: 

   - " Giáo Hội Việt Nam được mời gọi hãy ra khơi... Khi qúy vị trở về đất nước cao qúy của qúy vị, xin qúy vị hãy nói với các linh mục, các tu sĩ nam nữ, các thầy giảng, giáo dân và đặc biệt là giới trẻ, rằng Đức Thánh Cha cầu nguyện cho họ, và khuyến khích họ hãy nhận lãnh những thách đố Phúc Âm đem lại, bằng cách noi gương các Thánh và các vị Tử Đạo đã đi trước trên con đường Đức Tin, máu của các vị đổ ra là hạt giống của cuộc sống mới cho đất nước" ( Huấn Dụ, đoạn 1).

" Không bạo động ngôn từ và cả thể lý ", nhưng không khiếp nhược, không dám hy sinh cho đức tin vào Chúa Ki Tô, cho công lý và hoà bình.

Ở một đoạn kế đến trong thư gởi cho Đức Cha Ngô Quang Kiệt, Hà Nội, Đức Hồng Y đã đoan chắc là

   - " Toà Thánh, về phía mình, như Toà Thánh vẫn luôn luôn làm, sẽ không thiếu sót trong việc giải thích cho Chính Phủ đất nước Đức Cha biết các nguyện vọng chính đáng của tín hữu công giáo Việt Nam".

( ...the Holy See, for its part, as it has always done, will not fial to explain to the government of your country the legitimate aspirations of Vietnamese Catholics).

Chúng con hy vọng rằng đồng thời với việc gởi cho Đức Cha Ngô Quang Kiệt, Hà Nội, những lời khuyên bảo chấm dứt

   - " sự kiện các biểu dương như thế cứ tiếp tục, thì không thể không gây nên vài lo âu...tình hình vượt thoát khỏi sự kiểm soát và có thể biến thành bạo động ngôn từ hay cả thể lý",
( such demonstrations continue, can only raise some concerns, ...the situation can get out of control, and that it can degenerate into demonstrations of verbal or even physical violence),

Phủ Quốc Vụ Khanh của Đức Hồng Y cũng đã

   - " giải thích cho Chính Phủ...nguyện vọng chính đáng của tín hữu Việt Nam". 

Và họ đã đồng thuận giải quyết thoả đáng " các nguyện vọng chính đáng của tín hữu Việt Nam".
Nếu không, chỉ Đức Cha Kiệt và chúng con, các tín hữu Việt Nam, nhận được lời khuyên bảo, cảnh cáo của Toà Thánh.

Hay nói như người Ý thường nói với con cái trong nhà  khi khiển trách,  là chỉ có chúng con " bị xách lổ tai " ( tirare l'orecchio), còn phía bên kia, họ vẫn ung dung, tác oai, tác quái tùy hỷ.

Điều vừa kể càng làm cho họ " thừa thắng xông lên", và chúng con càng bị chà đạp với " nguyện vọng chính đáng" vô vọng, chỉ biết ôm chặt vào lòng và tủi thân khóc trong uất hận.

Bởi lẽ chính cha mẹ mình lại giúp cho kẻ địch hành hạ mình!

Và cùng với chúng con, chắc chắn  tín hữu của các tôn giáo khác cũng có thể đồng cảnh ngộ: lời khuyên của Phủ Quốc Vụ Khanh Toà Thánh vô tình giúp cho  địch thủ " múa gậy rừng hoang" để đàn áp chúng con, thì họ cũng chẳng kiên gì  sở hữu, đất đai và cả cuộc sống cũng như nhân phẩm của tín hữu các tôn giáo khác.

Như vậy khuyên bảo Đức Cha Ngô Quang Kiệt chấm dứt những cuộc tựu tập, hội họp " những hành vi có thể xáo trộn trật tự công cộng", vô tình Đức Hồng Y khuyên dẹp bỏ đi những người đồng đội công giáo, tranh đấu chung với anh em các tôn giáo khác cho " những nguyện vọng chính đáng" của con người và tự do tôn giáo.

Và rồi giả sử chúng con, những người công giáo,  có được " Chính Phủ  đất nước của Đức Cha" trọng đải, dành mọi dễ dàng, vì biết nghe lời khuyên của Phủ Quốc Vụ Khanh Toà Thánh chấm dứt " những hành vi có thể gây xáo trộn trật tự công cộng", trong khi để cho những anh em các tôn giáo khác bị trù dập, đàn áp đối xử bất công, thì chúng con có thể ngước mắt lên nhìn các anh em đó bằng cặp mắt nào?

   - " ...trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người bị rơi vào tay kẻ cướp" ( Lc 10, 36).

Lợi dụng lòng tốt của ĐHY Chủ Tịch Phũ Quốc Vụ Khanh Toà Thánh về thiện chí, DHY xác nhận:

   - " sẽ không bao giờ thiếu sót trong việc giải thích cho Chính Phủ đất nước Đức Cha biết các nguyện vọng chính đáng của các tín hữu công giáo Việt Nam",

chúng con xin được nhắc, không biết DHY có dịp nhớ hay không,  để giải thích " những nguyện vọng chính đáng của các tín hữu công giáo Việt Nam",  dĩ nhiên là có nguyện vọng chính đáng của cả Cha Taddeo Nguyễn Văn  Lý, giáo phận Huế, bị kết án 8 năm tù, trong một phiên tòa, trong đó

   - không có quyền được biện hộ ( bởi lẽ không có tiền liệu cho một luật sư biện hộ),

   - mà cũng không có quyền tự biện hộ, bởi lẽ khi Cha Lý vừa mởi miệng liền bị " bịt miệng" và kéo lôi đi vào tù.
Nguyện vọng chính đáng của Cha Lý không có gì khác hơn là, qua đảng Thăng Tiến, nói lên ước vọng

   - " Thăng Tiến con người và Thăng Tiến xã hội".

Trọng kính Đức Hồng Y, Chủ Tịch Phủ Quốc Vụ Khanh Toà Thánh, chúng con kính xin DHY

   - " đừng quên bổn phận của Phủ Quốc Vụ Khanh Toà Thánh là giải thích cho Chính Quyền biết những ước vọng chính đáng..." 

của Cha Taddeo Nguyễn Văn Lý, đang bị cầm tù qua một phiên tù bất công  và bị áp bức đến độ không được nhận ngay cả  sách Kinh Nhật Tụng để cầu nguyện hàng ngày, theo bổn phận của Linh Mục.

Chúng con hy vọng rằng, trọng kính Đức Hồng Y Chủ Tịch, Ngài có thể giải thích và chuyển đạt hiệu nghiệm lời của Phủ quốc Vụ Khanh Toà Thánh  đến Chính Quyền Cộng Sản, bởi vì họ lắng nghe Ngài, nếu không thì công việc Ngài " giải thích cho Chính Phủ đất nước Đức Cha" có lợi gì?

c) Chúng con nêu lên những suy nghĩ có thể đưa đến những hậu quả vừa kể, bởi lẽ chúng con là những người đương cuộc, sống trong thực tại của những gì đàn  áp, tha hoá mà Cộng Sản Việt Nam đã tạo cho chúng con từ trên nửa thế kỷ nay.

Chúng có không biết Toà Thánh và Phủ Quốc Vụ Khanh của Đức Hồng Y có được những kinh nghiệm sống dưới chế độ độc tài Cộng Sản mà dân tộc chúng con đã và đang chịu hay không.
Hơn nữa, chúng con là những tín hữu công giáo, tuyệt đối trung thành với ánh sáng Phúc Âm và Giáo Hội Tông Toà của Thánh Phêrô.

Nhưng người viết những dòng nầy và những người góp ý kiến để viết ra, nói lên những suy tư của chúng con, là những tín hữu giáo dân, suy nghĩ về phương thức hành xử để đem lại công lý và hoà bình cho dân tộc chúng con.

Bởi đó, chúng con xin cúi đầu cám ơn những lời Đức Hồng Y gởi cho Đức Cha Ngô Quang Kiệt và đồng thời cũng là những lời dạy bảo chúng con, cho hiện trạng Đất Nước.

Trong suốt cuộc sống chúng con phải tranh đấu với Cộng Sản chúng con chưa bao giờ thấy tình trạng tranh đấu có lạc quan, hứng khởi như trong những ngày qua. Chúng con cảm thấy nỗ lực của TGP/ Hànội đang trong thế thượng phong, như diều gặp gió...thế mà qua bức thư của DHY Quốc Vụ Khanh gỡi cho TGM / Hànội, chúng con cảm nhận có một hiệu lực tiêu cực, bi quan...giống như con diều bị tên, chúng con rất buồn...nếu không muốn nói là thất vọng.

Chúng con mong mõi một bức thư khác sẽ được phổ biến từ Phủ Quốc Vụ Khanh Vatican với nội dung tích cực hơn, trước là tạo uy tín cho Đức TGM/ Hà nội trong nỗ lực dẫn dắt con chiên của Ngài, trong một môi trường vô cùng tế nhị, sau là tạo niềm tin, niềm hy vọng cho người tín hữu Công Giáo quốc nội cũng như hãi ngoại, trong nỗ mực đòi hỏi nhà cầm quyền CS phải trả quyền hành đạo cũng như mọi tài sản cho con chiên của Giáo Hội Việt Nam.

Và chúng con nghĩ rằng mình là những người trong cuộc, hiểu rõ những yếu tố, hoàn cảnh và nhu cầu địa phương hơn Toà Thánh ở xa, vả lại chúng con cũng là những tín hữu giáo dân, nên chúng con cũng có trách nhiệm và phương thức hành xử mà theo lương tâm ngay chính của mình dưới ánh sáng Phúc Âm,  trong các lãnh vực trần thế, mà mình nghĩ là thích hợp, như những gì Công Đồng Vatican II  dạy chúng con:

- " Họ ( người tín hữu giáo dân) nên chờ đợi nơi các linh mục ánh sáng và sức mạnh thiêng liêng. Nhưng họ đừng nghĩ rằng các vị chủ chăn của họ có thẩm quyền để các ngài có thể cung cấp cho họ một giải pháp thiết thực và kịp thời đối với mọi vấn đề, ngay cả vấn đề hệ trọng cũng vậy, mà họ gặp phải hay đó là sứ mạng của các vị.

Đúng hơn, được soi sáng bằng sự khôn ngoan Ki Tô Giáo, đặc tâm trung thực chú ý vào lời giảng dạy của Giáo Hội, chính họ hãy đứng ra đảm nhận trách nhiệm của mình" ( Gaudium et Spes, 43).

Là con cái của Giáo Hội, với lá thư nầy chúng con muốn được đóng góp ý kiến, để Toà Thánh có thêm yếu tố và  theo sự nhận định khôn ngoan của Toà Thánh, có cách hành xử thích ứng hơn.

Qua những gì đã trình bày, trong các lãnh vực trần thế, kính thưa DHY,  chúng con  xin  Toà Thánh dành cho cả chúng con có tiếng nói quyết định về những gì liên quan đến vận mệnh Đất Nước chúng con.

Ý Quốc, ngày 01.02.2008.

Con,
Nguyễn Học Tập.


Đồng ký tên:
..........................
..........................
..........................




=========================
pho bien/ publication 05.02.2008
=========================



                                                    VATICAN:
                                   SI VIS PACEM, PARA BELLUM



                        Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                   05.02.2008



Tôi đọc Bản Tin trong VietCatholic News đính kèm dưới đây, thấy rằng các Linh mục, Tu sĩ và Giáo dân, đã từng sống với CSVN bao chục năm trường, mặc dầu vâng lời các Giám Mục, nhất là Lệnh thượng đỉnh từ Vatican, nhưng vẫn tỉnh táo và nghi ngờ sự lừa đảo như cơm bữa của CSVN.

Giáo dân cầu nguyện là cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Tôi nhớ đến câu tiếng La-tinh của Hoàng Đế La-Mã cách đây trên 20 Thế kỷ:

                                   SI VIS PACEM, PARA BELLUM

                     Nếu muốn Hòa Bình, hãy sửa soạn Chiến tranh
                                   If you want Peace, prepare War
                          Si vous voulez la Paix, préparez la Guerre


Chắc chắn Đức Giáo Hoàng BENEDITO VI, Giáo sư và Trí thức, phải biết câu đó. Đức Hồng Y Tarcisio Cardinal BERTONE, gốc Ý, chắc chắn phải biết câu này của Hoàng Đế La Mã.  Tất cả các Giám Mục, Linh mục, từ tuổi 60 trở lên, học tiếng La tinh, cũng phải biết câu này.


GIÁO DÂN VIỆT NAM THỰC HIỆN CÂU NÓI

Mặc dầu Giáo dân không học tiếng La tinh, nhưng học trường đời, nhất là trường đời với những gian giảo của CSVN, đã áp dụng triệt để câu SI VIS PACEM, PARA BELLUM (Nếu muốn Hoà Bình, hãy sửa soạn Chiến tranh).

Câu nói có nghĩa là SỬA SOẠN Chiến tranh, chứ không phải là LÀM chiến tranh. Giáo dân đến cầu nguyện hoàn toàn trong bất bạo động, nhưng đã SỬA SOẠN Tinh thần phải chống đỡ với bạo lực CSVN. Cộng sản không những đã đe dọa, mà còn đưa tối hậu thư. Nhưng Tinh thần Giáo dân đã được SỬA SOẠN và sẵn sàng đối ứng. Đã trên 20 Thế kỷ nay, câu nói của Hoàng Đế La Mã rất trúng. Vì thấy Tinh thần Giáo dân đã SỬA SOẠN sẵn sàng đối phó, nên CSVN đã không dám đàn áp như tối hậu thư, nghĩa là Giáo Dân có HÒA BÌNH.

Nhưng đùng một cái, Vatican đã gửi Văn Thư yêu cầu RÚT LUI theo ý nghĩa ngược lại câu nói đã trên 20 Thế kỷ. Văn Thư Vatican muốn: SI VIS PACEM, PARA RECESSUM (Nếu muốn Hòa Bình, hãy sửa soạn Rút Lui). Không những là sửa soạn rút lui, mà Vatican ra lệnh RÚT LUI thực sự. Vatican tin lời ma quỷ CSVN sẽ ĐỐI THOẠI vì nghĩ CSVN nể trọng mình. Nhưng đã lầm, CSVN không nể trọng Vatican, mà chỉ sợ Dân Công Giáo can cường CẦU NGUYỆN, SỬA SOẠN ứng phó, dù đó là những đàn áp của CSVN. Khi RÚT LUI rồi, thì CSVN không thèm ĐỐI THOẠI nữa. Lúc ấy mình phải chạy theo CSVN để van nài chúng đối thoại.  Thực vậy, phải PARA BELLUM để buộc CSVN ngồi vào bàn ĐỐI THỌAI mới được.

Bản Thông Tin của VietCatholic News cho thấy rằng Giáo Dân Công Giáo tỉnh táo, xem tình hình để thực hiện lại câu nói đã trên 20 Thế kỷ của Hoàng đế La-Mã: SI VIS PACEM, PARA BELLUM (Nếu muốn Hòa Bình, phải sửa soạn Chiến tranh).


VATICAN: HAI GIÁO HOÀNG, HAI THÁI ĐỘ

Hãy nhìn thái độ của hai Giáo Hoàng kế tiếp nhau: Đức Giáo Hoàng GIOAN-PHAOLO II và Đức Giáo Hoàng BENEDICTO VI. Cả hai cùng tỏ thái độ với Cộng sản: Ba-Lan và Việt Nam.

=> Công Giáo Ba Lan đã đứng lên qua Nghiệp đoàn ĐOÀN KẾT chống lại những BẤT CÔNG, ĐÀN ÁP của Cộng sản Ba Lan trong thời mà Thế giới Cộng sản còn thịnh nhất, nghĩa là tàn ác nhất. Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolo II đã nhiệt tình cổ võ. Câu nói mạnh nhất của Ngài là nếu Nga tràn quân sang Ba Lan như thời Hung Gia Lợi, thì chính Ngài sẽ cởi áo Giáo Hoàng ra và về Ba Lan để chiến đấu cùng với Dân của Ngài. Thái độ sửa soạn ứng chiến của Ngài đã làm cho Cộng sản Ba Lan và Cộng sản Nga phải sợ. HÒA BÌNH vẫn có và Dân Ba Lan đã thắng Cộng sản, ngay cả Thế giới Cộng sản. Ngài thực hiện câu SI VIS PACEM, PARA BELLUM. Ngài yêu Hòa Bình, nhưng phải sửa soạn tinh thần sẵng sàng đối phó. Đã nhiều lần Ngài nhắn nhủ Việt Nam: các con đừng sợ hãi nữa, mà phải can đảm ra khơi. 

=> Công Giáo Việt Nam đã đứng lên đòi CÔNG LÝ để có HÒA BÌNH. Giáo dân chỉ cầu nguyện và hoàn toàn bất bạo động. Công Giáo Việt Nam không hề động chạm đến Chính trị, mà chỉ đòi CÔNG BẰNG XÃ HỘI. Đức Giáo Hoàng Benedicto VI là một nhà Trí thức và nhà Giáo, chưa sống lăn lộn và thực tế với Cộng sản như Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolo II. CSVN vừa mới hù dọa, thì Đức Giáo Hoàng Benedicto VI đã vội ra lệnh cho Công Giáo Việt Nam phải xẹp xuống, phải rút lui. Ngài muốn thực hiện câu ngược lại với lời của Hoàng đế La Mã đã nói trên 20 Thế kỷ trước đây, nghĩa là SI VIS PACEM, PARA RECESSUM (Nếu muốn Hòa bình, hãy sửa soạn Rút lui) thay vì SI VIS PACEM, PARA BELLUM (Nếu muốn Hòa bình, hãy sửa soạn Chiến tranh). Thái độ này sẽ không mang tới HÒA BÌNH. Thái độ này làm cho CSVN thắng thế và vẫn duy trì BẤT CÔNG, thì làm sao có CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Cụ thể là CSVN khó lòng trả lại Tòa Khâm sứ như thuộc quyền SỞ HỮU (Ownership/Propríeté) của Giáo phận Hà Nội.

Theo Thông Tin của VietCatholic từ Hà Nội, thì Giáo dân bắt đầu nghi ngời hiệu quả của Thái độ RÚT LUI của Vatican.

Công Giáo Việt Nam phải thực hiện câu SI VIS PACEM, PARA BELLUM ngược lại với thái độ Rút lui của Vatican để bắt buộc CSVN phải trả lại CÔNG LÝ, lúc ấy mới mong có HÒA BÌNH vậy. Để đối chọi với PEPPONE, Cộng sản, phải có DON CAMILO, Cha xứ, mới được.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế.

 

THÔNG TIN TÌNH HÌNH
GIÁO DÂN TẠI HÀ NỘI


Giáo dân Hà nội tiếp tục theo dõi tin và tiếp tục cầu nguyện trước Tòa Khâm Sứ
 
VietCatholic News (Thứ Hai 04/02/2008 18:52)
 
HÀ NỘI -- Tuy dù giáo dân Hà nội vì vâng lời Đức TGM Hà nội đã rước thánh giá về bên Tòa Tổng giám mục mấy hôm trước, nhưng hiện nay các nhóm giáo dân vẫn đến khu Tòa Khâm Sứ để đọc kinh cầu nguyện, nghe ngóng tin tức và quan sát tình hình tiến triển tới đâu.
 
Giáo dân để ý theo dõi diễn tiến về Tòa Khâm Sứ...

Các bản tin về Tòa Khâm Sứ được cập nhập và dán lên các bức tường bên ngoài Tòa Giám Mục để cho dân chúng xem thoải mái. Tuy đây không phải là Bức Tường Bắc Kinh với những tin tức xao động thời kì chính biến, nhưng có thể nói là Bức Tường Thông Tin Tự Do, vì chưa thấy có ai dám đến để ngăn chận những thông tin này cả. Những tin tức ở đây đáp ứng được nhu cầu muốn biết tin trung thực thay vì phải nghe báo đài chính quyền đưa những tin có tính cách hướng dẫn dư luận cách lệnh lạc về mục tiêu cầu nguyện của giáo dân Hà Nội trong hơn 40 ngày qua.

Sáng thứ sáu 01.02 2008 thánh giá được rước về Toà Giám Mục và lều bạt được dọn đi. Suốt ngày giáo dân vẫn tấp nập đến cầu nguyện trong sân Toà Khâm Sứ.

Buổi tối theo thói quen giáo dân vẫn kéo đến sân Toà Khâm Sứ rất đông. Họ cầu nguyện đến nửa đêm. Một nhóm các bà mua bán phế liệu và một nhóm giáo dân Giáo xứ Đại Ơn, Hà Tây có ý cầu nguyện thâu đêm nhưng vì không có lều bạt nên họ ngậm ngùi ra về.

Thứ bẩy, 02.02.2008 lúc khoảng 2 h sáng cán bộ cho thợ đến lắp đặt các cổng. Sau đó họ xây sửa lối vào và sơn lại hàng rào sắt mãi đến gần 16 h 30 mới xong.

Chủ nhật 03.02.2008 người ta làm hai tấm panô đặt trên hàng rào hai bên cổng chính Toà Khâm Sứ, nội dung nói: Mừng đất nước - Mừng Đảng - Mừng Xuân. Hai tấm panô lớn bất thường khiến cho giáo dân đừng ngoài nhìn vào không còn thấy Đức Mẹ.
 
Muốn thấy chỉ còn đứng ở chính hai cổng hoặc ngồi.

Chủ nhật 03.02.2008 giáo dân đến Toà Khâm Sứ cầu nguyện vẫn đông.
 
Tâm trạng không được vui một phần vì thánh giá không còn ở Sân Toà Khâm Sứ và một phần khác thấy cổng đã bị khoá kỹ khiến người ta không vào được. Hơn nữa, mấy nhân viên làm nhiệm v&#790 9; ở đấy đôi khi còn có thái độ khiêu khích, nói mỉa với giáo dân rằng: “tưởng cứ ngồi được mãi sao!”.

Một trong 2 pano lớn chính quyền chủ ý chắn nhìn vào Tòa Khâm Sứ

Một số giáo dân đến từ Bắc Giang không vào được họ phàn nàn là không vào cầu nguyện tự do được. Sau đó họ sang gặp Đức TGM hồi lâu rồi ra về vui vẻ.

Một ông trung niên không theo Công giáo đi sắm đồ tết về cũng ghé qua cổng Nhà Chung. Ông hỏi: “Sao hôm nay không ai chắp tay khấn Phật nữa? Chính quyền trả đất cho nhà thờ rồi à?”.

Một chi trả lời “Chưa trả! Chúng tôi không vào được! Nhưng trái tim của chúng tôi vẫn luôn cầu nguyện và hướng về Mẹ”.

Ông này tiếp: “Mặc dù tôi không phải là người Công giáo, nhưng tôi nghĩ đất nhà thờ thì phải trả nhà thờ. Sao nhà nước lại lấy như thế được nhỉ!”.

Một ông khác tuổi khoảng 70, vốn là cán bộ ở TTXVN, ông nói: “Sau khi đọc báo, xem TV và nghe các bản tin trên đài, thật sự tôi cũng không tin tưởng nên tôi muốn đến đây để kiểm chứng và biết sự thật:”. Rồi ông xin các bản tin trực tiếp của nhà thờ và địa chỉ các website đưa tin về vụ Toà Khâm Sứ.

Và các Nhóm giáo dân tiếp tục cầu nguyện...

Chiều chủ nhật có nhiều người qua phố Nhà Chung để cầu nguyện trước khi về quê ăn tết. Có một nhóm người đến từ Sài Gòn và một nhóm Việt kiều về từ Hoa Kỳ. Họ đều ưu tư tại sao thánh giá không còn ở sân Toà Khâm Sứ.

Một người nói: “Rước thánh giá về, thế mà hôm Thứ Bẩy vừa qua được ngủ trong chăn ấm mà vẫn không ngủ được, vẫn muốn đến đây cầu nguyện. Ông có biết không? Hôm qua báo đài lại nói xấu Giáo Hội nữa đó!”.

Lúc 20h tối, chúng tôi ghé qua phố Nhà Chung thấy các nam nữ tu sĩ vẫn tay cầm nến sáng ngồi đội mưa rét cầu nguyện bên lề đường. Đây có thể nói là những giờ phút cảm động và đẹp nhất trong ngày trên con phố này.

Hà Nội, ngày 4/01/2008
PV VietCatholic 


 





=========================
pho bien/ publication 05.02.2008
=========================



                                         CSVN KHỞI TỐ VỤ ÁN
                                       HÌNH SỰ TÒA KHÂM SỨ



                       Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                 05.02.2008

 


Tôi đọc được ý kiến dưới đây của Ông NGUYỄN VĨNH CHÂU và xin phổ biến để phía Công Giáo cần phải cẩn thận đối với những lật lọng của CSVN:
 

Thưa quý vị,

Cùng tâm ý với T/S Nguyễn Phúc Liên và nhân đây, xin góp ý.

Kinh nghiệm cho biết bọn gian manh Việt Cộng luôn luôn dùng trò lừa bịp người dân VN. Do đó, sự việc liên quan đến Tòa Khâm Sứ, xin thỉnh đề nghị các vị lãnh đạo tinh thần Công Gíao (tại VN và hải ngọai) cần tiếp tục có sức ép với CSVN cho đến khi nào: 

1/Chính quyền Hà Nội phải thu hồi "quyết định khởi tố vụ án hình sự" liên quan
đến cuộc cầu nguyện của giáo dân tại Tòa Khâm Sứ.

2/ Phải có văn bản chính thức của nhà cầm quyền Cộng Sản VN về việc trả lại Tòa Khâm Sứ.

Trân trọng,
NGUYỄN VĨNH CHÂU
 

CSVN vì sợ Dân chúng Công Giáo tụ họp Cầu Nguyện mà hứa suông (không có văn bản) trả lại Tòa Khâm Sứ. Việc hứa suông trả lại này không phải là sợ thế lực của Đức Giáo Hoàng đâu. Xin đừng tưởng như vậy mà lầm lớn đối với CSVN. Chúng chỉ sợ Dân chúng dấy lên, rồi kiên trì tụ họp đấu tranh, thì CSVN bị đổ mà chúng phải hứa suông mà thôi.

Hai văn thư của UBND thành phố Hà Nội, rồi Báo Đài CSVN đã cố ý buộc tội Công Giáo chiếm cứ và phá hoại cơ sở Nhà Nước bất hợp pháp, cầu nguyện ngoài cơ sở Tôn Giáo (Pháp Lệnh Tôn Giáo) và vi phạm Trật Tự Công Cộng (Public Order), hành hung Nhân viên Công lực...

Hai lá thư phản bác của Tòa Giám Mục minh định lý lẽ của mình.

Khi tôi đọc Lá Thư của Vatican, tôi thấy đây là Lá Thư TỰ NHẬN PHÍA CÔNG GIÁO có lỗi giống như hai Văn Thư tố cáo của UBND thành phố Hà Nội và như những lời cáo buộc của Báo Đài Cộng sản, nhất là về Trật tự Công cộng :"... acts which could disrupt the public order be avoided, ..."

CSVN có thể xử dụng Lá Thư của Vatican để nói rằng chính Đức Giáo Hoàng đã nhận cái lỗi của phía Công Giáo giống như Bào Đài nói và như hai Văn Thư của UBND thành phố Hà Nội buộc tội.

Xin lưu ý rằng Bà Phó UBND thành phố Hà Nội vẫn giữ trong lòng sự hận thù đối với hai Văn Thư phản bác của Tòa Giám Mục.

Chúng ta cũng lưu ý rằng dù phía mình có lý, nhưng khi khởi tố ra Tòa, thì đây là Luật rừng CSVN. Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ hoàn toàn có lý, nhưng Tòa rừng của CSVN vẫn kết án tù.

Hiện giời chưa có Văn Bản chính thức trả lại Tòa Khâm Sứ, mà Khối Dân Cầu Nguyện đã giải tán, thì việc Đối Thoại (Dialogue) để đòi lại Tòa Khâm sứ khiến mình ở thế yếu.  CSVN chỉ sợ Dân tụ họp, chứ không sợ oai danh của Đức Giáo Hòng đâu. Mà Dân đã giải tán và khó lòng gây lại, thì mình ở thế yếu khi Đối thoại đò Nhà, Đất.


Các Đức Giám Mục và Đức Giáo Hoàng đều biết rõ câu tiếng La-tinh: “VIS PACEM PARA BELLUM“ (Muốn Hòa Bình, hãy sửa soạn Chiến Tranh)


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 

 







=========================
pho bien/ publication 04.02.2008
=========================



                                                   TÒA KHÂM SỨ
                                            CHƯA LẤY LẠI ĐƯỢC



                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                     04.02.2008




Trong suốt cuối tuần vừa rồi, tôi chỉ xoay quanh Lá Thư của Vatican. Khi rỡ Thánh Giá và Tượng Sầu Bi, Giáo dân không đến Tòa Khâm sứ cầu nguyện nữa, tôi buồn rầu vì tiếng nói chính đáng cho CÔNG LÝ vừa đi bước đầu đã bị dập tắt do chính Lá Thư của Vatican. Ngọn lửa này bao giờ mới gây lại được để đóng góp với Dân Tộc mình đã bị BẤT CÔNG chà đạp trong bao chục năm trường.

Điều chính yếu lo sợ của CSVN là ngọn lửa CÔNG LÝ đã đốt lên. Chúng tìm hết cách để dẹp ngọn lửa này. Vatican đã dẹp thay cho chúng. Còn vấn đề trả lại Nhà Đất của Tòa Khâm sứ là thứ yếu.

Tôi biết rằng CSVN có thể hứa bất cứ điều gì, miễn là ngọn lửa đòi CÔNG LÝ ở Tòa Khâm sứ phải tắt đi. Khi ngọn lửa đã tắt rồi và khó lòng gây lại, thì chúng có thể nuốt trửng những điều đã hứa. Tin vào lời hứa của CSVN, thì đổ thóc giống ra mà ăn, lại còn ôm đầu tự than rằng mình già mà dại bị lừa.

Hôm nay thứ Hai 04.02.2008, tôi tìm đọc thông tin xem Nhà Đất Tòa Khâm Sứ đã được thoả thuận trả lại như thế nào. Tôi chỉ tìm được vỏn vẹn một câu trong Thư của Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT đính kèm dưới đây:“Bước đầu tiên vừa hoàn thành đó là dịch vụ kinh doanh đóng cửa quán phở“

Tôi tự hỏi, việc quyết định đóng cửa quán phở này có văn bản ký kết gì không. Nếu không có văn bản ký kết, thì nếu sau này chúng cho mở quán nhẩy đầm, thì mình có văn bản gì để phản ứng chống lại.

Thành thực mà nói, khi đụng đến tài sản, tiền bạc, thì phải có văn bản ký kết. Ngay cả trường hợp ký kết rồi, người ta cũng có thể xé bỏ văn bản.

Lúc đầu, để đánh lừa về tài sản tiền bạc, người ta thường nêu ra câu phải tin tưởng lẫn nhau. Đụng đến tiền bạc, tôi thường trả lời ngay rằng:“Về tiền bạc, tôi không tin tưởng ai, ngay cả chính tôi“.  Tôi lấy hai tỉ dụ:

=> Buổi tối khi ra ngoài uống bia, tôi nhất định không mang Credit Card theo, chỉ bỏ trong túi tiền mặt uống đủ hai ba cái bia rồi mò về nhà. Không thể tin tưởng được chính mình sau khi đã uống một vài cái bia vào rồi. Mang Credit Card đi, vào Bar, gặp con gái, mình lấy le, mang Credit Card ra ký túi bụi.  Mang đủ tiền mặt đi để uống, hết tiền mò về nhà. Đó là việc tôi không tin chính con người tôi, nên trước khi ra ngoài uống bia, phải đề phòng.

=> Hai người trai gái yêu nhau tha thiết, dám thề hứa  chết cho em, chết cho anh. Hai người hoàn toàn tin tưởng sống trọn đòi với nhau. Nhưng khi đám cưới nhà Làng xong, họ ký Giấy tách rời Tài sản (Séparation des Biens), nghĩa là về tiền bạc, hai người không tin tưởng nhau. 

Theo tôi nghĩ, vấn đề Tòa Khâm sứ thuộc vấn đề Tiền bạc khó giải quyết. Khi họ cho thuê hay bán chia nhau tiền bạc rồi, thì việc hoàn lại trở thành nan giải. Tôi nghĩ rằng vấn đề ĐỐI THOẠI (Dialogue) mà Vatican mừng rỡ ca ngợi ở đây không phải là giữa Dức TGM NGÔ QUANG KIỆT và CSVN, mà chính là đối thoại dàn xếp giữa CSVN với nhau, một bên là Chính phủ Trung ương, một bên là UBND thành phố Hà nôi. Hãy nhìn vấn đề khiếu kiện của Dân Oan, cái kẹt là giữa Địa phương và Trung ương. Địa phương cướp Nhà, Đất bán chia nhau rồi. Trung ương giải quyết không được vì cùng là đảng ăn cướp với nhau cả.

Khi Đức TGM không có văn bản mà chỉ thấy triệu chứng đóng quán phở, thì việc trả lại Nhà Đất Tòa Khâm Sứ chưa có gì cụ thể.

Tôi đi tìm những Thông tin khác xem đã có gì chắc chắn việc trả lại Nhà Đất hay không.  Diễn Đàn Asia News nói rằng Nhà Nước sẽ trao Tòa Giám Mục quyền xử dụng Tòa Khâm Sứ.

Xin lưu ý, đây chỉ là tin đồn mà chưa có văn bản gì chính thức trao quyền XỬ DỤNG. Tong vấn đề Tài sản, xin phân biệt rõ rệt quyền XỬ DỤNG (Leasing/Location/Utilisation) và quyền TƯ HỮU (Ownership/Propríeté).

Tòa Giám Mục Hà Nội có đủ văn bản chứng từ quyền TƯ HỮU. Bây giờ Nhà nước trưng dụng Tòa Khâm sứ, nên Tòa Giám mục đòi lại quyền SỞ HỮU. Khi có quyền Tư Hữu, thì Sở Hữu chủ có toàn quyền tự do XỬ DỤNG tư hữu hay bán tư hữu.

Nếu Nhà Nước chỉ cho quyền XỬ DỤNG, mà không cho quyền TƯ HỮU, thì Tòa Giám Mục không được tự do xử dụng hoặc bán đi. Thậm chí quyền xử dụng cũng được Nhà Nước quy định.

Tòa Giám Mục phải nhất thiết đòi lại quyền TƯ HỮU (Ownership/ Propríeté privée), bởi vì mình có Văn bản chứng từ TƯ HỮU. Không thể chấp nhận chỉ có quyền XỬ DỤNG mà thôi.

Khi hoàn trả lại quyền TƯ HỮU sau khi tự ý trưng dụng của Nhà Nước, phải có Văn Bản rõ rệt.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 03.02.2008
=========================


                                         VATICAN DẸP ĐẤU TRANH,
                                     CSVN THANH TRỪNG NHÂN SỰ


                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                      03.02.2008



ĐÃ 53 NĂM NAY (1954-2007), GIÁO DÂN CÔNG GIÁO MIỀN BẮC BỊ CSVN BÓP HỌNG KHÔNG ĐƯỢC NÓI LÊN NHỮNG NGUYỆN VỌNG; ĐÃ 32 NĂM NAY (1975-2007), GIÁO DÂN CÔNG GIÁO MIỀN NAM CŨNG BỊ CSVN KHỦNG BỐ ĐÀN ÁP KHÔNG ĐƯỢC MỞ MIỆNG THAN VÃN GÌ. NGÀY NAY, NHỜ SỰ CAN ĐẢM CỦA ĐỨC TGM NGÔ QUANG KIỆT VÀ NHỮNG GIÁM MỤC HIỆP THÔNG, GIÁO DÂN VỪA MỚI CÓ DỊP CÙNG ĐỨNG LÊN BẦY TỎ NGUYỆN VỌNG CỦA MÌNH, THÌ CHÍNH VATICAN CẤU KẾT VỚI CSVN ĐỂ BỊT MIỆNG HỌ LẠI. ĐÂY LÀ HÀNH ĐỘNG BẤT NHÂN CỦA VATICAN VẬY.

Việc lấy lại Nhà Đất của Tòa Khâm Sứ chỉ là một điểm nhỏ của việc đứng lên của Công Giáo Việt Nam. Cuộc đứng lên này là đấu tranh cho CÔNG LÝ, không phãi chỉ CÔNG LÝ cho nguyên Công Giáo, mà còn cho các Tôn Giáo khác, cho toàn thể Dân Tộc đang phãi sống trong BẤT CÔNG, bị cướp dựt từ Nhà Đất, sức Lao Động cho đến nhưng quyền sống căn bản, cho Tổ Tiên đang bị CSVN cắt Đất, Biển dâng cho Trung Cộng.

Cuộc đứng lên của người Công Giáo đòi CÔNG LÝ mang sứ mệnh rộng lớn vào cao quý hơn nhiều sánh với Đất Nhà của Tòa Khâm Sứ.

Cuộc đứng lên này có thể coi là một cuộc ĐẤU TRANH mà người Công Giáo hãnh diện đứng lên góp phần trách nhiệm cùng với Dân Tộc.


1) CUỘC ĐẤU TRANH CHO CÔNG LÝ

Mục đích: Thực hiện CÔNG LÝ để có HÒA BÌNH
Lãnh đạo: TGM NGÔ QUANG KIỆT và các GIÁM MỤC HIỆP THÔNG
Điều hành: Hàng trăm Linh mục, Tu sĩ nam nữ
Lực lượng: Giáo dân Công Giáo

Ngày 15.12.2007, Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT kêu gọi Linh mục, Tu sĩ, Giáo Dân cầu nguyện cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH.

Ngày 18.12.2007, Linh mục, Tu sĩ và Giáo Dân đứng lên đi bước đầu của con đường đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH.

CSVN ngại sợ trước tinh thần cương quyết của Công Giáo. Chúng đã xử dụng mọi thủ đoạn, nhưng không thể đàn áp được khí thế ĐẤU TRANH quang minh đã đến lúc cần phải làm này.


2) VATICAN DẸP CUỘC ĐẤU TRANH

Chính lẽ Thánh Bộ CÔNG LÝ của Vatican phải hãnh diện và hết lòng ủng hộ cuộc đứng lên của Công Giáo Việt Nam sau bao chục năm trường phải bị bóp họng không được cất lên tiếng nói. Nhưng ngược lại, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Vatican, Hồng Y Tarcisio Cardinal Bertone, nhân  danh Đức Giáo Hoàng, đã xử dụng quyền lực tôn giáo, qua đức Vâng Lời, để thẳng tay DẸP CUỘC ĐẤU TRANH. Đây là việc phản bội lại Công Giáo Việt Nam và phản bội lại chính Giáo Huấn của Chúa Giêsu đã in sâu vào Lương Tâm từng Giáo Dân.

CSVN ngại sợ không dám dẹp ĐẤU TRANH, thì có Vatican dùng quyền Tôn Giáo để dẹp ĐẤU TRANH dùm. Việc phản bội này sẽ kéo theo những hậu quả mà Vatican phải hối hận, nếu còn lương tâm.


3) CSVN THANH TRỪNG NHÂN SỰ ĐẤU TRANH

Chúng tôi đã viết rằng khi bắt đầu đi bước thứ nhất trên CON ĐƯỜNG CÔNG LÝ, thì cuộc đấu tranh cho CÔNG LÝ không thể lùi, không những vì lý tưởng CỘNG LÝ, mà còn vì những hậu quả thanh trừng trên nhửng người chủ trương cuộc ĐẤU TRANH chính đáng này.

Tất cả người Việt Nam đều đi guốc trong ruột đảng CSVN. Vì cố thủ giữ lấy quyền hành, họ sẵn sàng dùng mọi biện pháp độc ác, phi nhân phẩm để thanh trừng tất cả những ai có khả năng chống lại quyền hành của họ. Nay Vatican đã dẹp dùm cuộc ĐẤU TRANH thay cho CSVN. Họ, CSVN, sẽ tuần tự thanh trừng những ai đã tham dự cuộc ĐẤU TRANH này:

=> Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT: Nếu không tìm cách ám hại, bỏ tù được Ngài, thì chúng sẽ tìm cách thuyên chuyển Ngài ra khỏi Thủ Đô Hà Nội vì chúng ngại sợ Ngài ở tại chính Thủ Đô. Nếu Vatican đề nghị phong Ngài lên Hồng Y, CSVN sẽ tìm cách ngăn chận.

=> Một số Linh mục, Tu sĩ tích cực trong những ngày qua, chắc chắn sẽ bị CSVN lưu ý thanh trừng, thuyên chuyển. Uûy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội chắc chắn sẽ trả thù đối với Vị Linh mục Chánh Văn Phòng Tòa Giám Mục vì đã ký hai Văn Thư phản bác lại họ.

=> Đối với một số Giáo Dân tích cực trong việc đấu tranh vừa rồi, CSVN sẽ tìm cách khủng bố, đàn áp.

Lúc ấy, Vatican ở xa Việt Nam, liệu có thể phản đối lại việc THANH TRỪNG NHÂN SỰ ĐẤU TRANH của CSVN ma giáo hay không. Sự phản bội của Vatican trong việc xử dụng quyền Tôn Giáo để DẸP ĐẤU TRANH sẽ mang đến hậu quả đau thương lâu dài  cho chính Công Giáo Việt Nam.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế








=========================
pho bien/ publication 02.02.2008
=========================



                                                     TỐ CÁO VIỆC
                                           CẤU KẾT VATICAN-CSVN
                                            QUA LÁ THƯ ĐỘC ĐOÁN

 

                              Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                       02.02.2008

 

Chúng tôi thấy việc cấu kết hàm chứa trong đoạn thư sau đây:

“This is why, in the name of the Holy Father, who is constantly informed of the evolution of the situation, I kindly request you to intervene, so that acts which could disrupt the public order be avoided, and that the situation comes back to normality. It will be thus possible, in a more serene climate, to resume the dialogue with the authorities, in order to find a fitting solution to this delicate problem.“

(1) public order :

Trật tư Công cộng ở đây có nghĩa là Dân không được tụ họp để nói lên những nguyện vọng của mình. Trật tự Công cộng ở đây là phải gục đầu như con vật tuân theo lệnh độc đoán của đảng CSVN. Chúng đã xử dụng bao trăm ngàn Công an, với những biện pháp khủng bố dã man để giữ Trật tự Công cộng. Nay Vatican dùng quyền lực tôn giáo mà chận họng Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT cũng như các Giám Mục Hiệp Thông khác, các Linh Mục, các Nam Nữ Tu sĩ và Giáo dân Việt Nam để phải cắm mặt như đàn khỉ giữ Trật tự Công cộng của CSVN. Vatican làm Công an cho CSVN vậy.

(2) normality :

Đối với Dân tộc Việt Nam, trong đó có người Công giáo, Tình trạng Bình thường (Normality) là Xã Hội phải có CÔNG BẲNG, CÔNG LÝ để có thể sống trong HÒA BÌNH. Trong khi đó Tình trạng Bình thường (Normality) của chế độ hiện nay là đảng CSVN phải nắm trọn quyền độc tài để chúng tự do Tham nhũng, cướp Nhà Đất của Dân chúng, của Tôn Giáo, tự do mang Đất và Biển của Tổ Tiên đi dâng cho Trung Cộng để được che chở về quyền hành như đầy tớ. Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT, các GIÁM MỤC HIỆP THÔNG, từng trăm LINH MỤC, TU SĨ nam nữ đang đứng lên đòi Tình trạng Bình thường của mình, nghĩa là trong đó có CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Vatican đã dùng quyền lực bắt họ phải trở lại Tình trạng Bình thường của CSVN, trong đó ĐÕC TÀI, THAM NHŨNG, CƯỚP BÓC, BẤT CÔNG ngự trị. Vatican đã cấu kết với ma quỷ là CSVN vậy.

(3) dialogue :

Các Đức Giám Mục Việt Nam, Giáo Hội Công Giáo VN đã quá hiểu Đối Thoại (Dialogue) là gì đối với Cộng sản rồi. Đó chỉ là giối trá, rồi dùng quyền lực độc tài mà đè bẹp, thậm chí cầm tù, thủ tiêu. Chúng tôi không cần Hồng Y Tarcisio Cardinal Bertone ngồi tại nhà lầu ở Roma và Đức Giáo Hoàng chỉ chuyên với sách vổ và dậy học để khuyên chúng tôi về Đối thoại (Dialogue) với CSVN. Khi nào CSVN thua, thì chúng xin ĐỐI THOẠI và khi nào chúng thắng, thì chúng dùng ĐỐI THỌI. Vatican đang mắc mưu CSVN qua tên ngợm giáo gian tay sai CSVN nằm chính tại Roma.
Để hành động cụ thể phản đối việc cấu kết này, chúng tôi sẽ:

=> Tìm các Địa chỉ E-Mails của các Giám Mục trên Thế giới, các Nhà Dòng, cácBáo chí, Tổ chứ Hội đoàn lớn Công Giáo để trình bầy rằng LáThư của Hông y Quốc Vụ Khanh Vatican một mặt khinh khi Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, một mặt cấu kết với ma quỷ là CSVN.  

=> Chúng ta nhất thiết phãi tìm ra tên ngợm giáo gian quốc doanh Việt Nam nằm tại Vatican. Chúng tôi xin nhờ Đức Oâng NGUYỄN VĂN PHƯƠNG, người bạn cùng lớp ở Chủng viện với tôi. Đức Oâng PHƯƠNG đã làm việc lâu năm tại Vatican. Tôi xin nhờ Đức Oâng bởi vì nếu Đức Oâng PHƯƠNG không tìm ra, nhiều người cho rằng chính Đức Oâng PHƯƠNG là thủ phạm đấy.


ĐÃ 53 NĂM NAY (1954-2007), GIÁO DÂN CÔNG GIÁO MIỀN BẮC BỊ CSVN BÓP HỌNG KHÔNG ĐƯỢC NÓI LÊN NHỮNG NGUYỆN VỌNG; ĐÃ 32 NĂM NAY (1975-2007), GIÁO DÂN CÔNG GIÁO MIỀN NAM CŨNG BỊ CSVN KHỦNG BỐ ĐÀN ÁP KHÔNG ĐƯỢC MỞ MIỆNG THAN VÃN GÌ. NGÀY NAY, NHỜ SỰ CAN ĐẢM CỦA ĐỨC TGM NGÔ QUANG KIỆT VÀ NHỮNG GIÁM MỤC HIỆP THÔNG, GIÁO DÂN VỪA MỚI CÓ DỊP CÙNG ĐỨNG LÊN BẦY TỎ NGUYỆN VỌNG CỦA MÌNH, THÌ CHÍNH VATICAN CẤU KẾT VỚI CSVN ĐỂ BỊT MIỆNG HỌ LẠI. ĐÂY LÀ HÀNH ĐỘNG BẤT NHÂN CỦA VATICAN VẬY.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

 

                                                       VATICAN
                                         CAN THIỆP TRẮNG TRỢN
                                      VÀO NỘI BỘ CÔNG GIÁO VN


                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                      01.02.2008


Trọng kính các Vị thuộc Công Giáo VN,

Đọc lá thư của Quốc  Vụ Khanh Tòa Thánh Vatican gửi cho Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT, tôi thấy đây là việc vi phạm trắng trợn vào nội bộ Giáo Hội Công Giáo VN.

Đây cũng mang tính cách coi thường danh dự không phải chỉ một mình Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT, mà còn những Giám mục khác đã Hiệp Thông ủng  hô.. CSVN sẽ xử dụng lá thư này theo sự lưu manh của chúng để hù dọa, thậm chí làm hại một số Lạnh đạo Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

Giáo Hội Công Giáo VN, không phải chỉ thông công với Vatican, mà còn phải có bổn phận với đồng bào Việt Nam. Người Công Giáo còn phải mang nhiệm vụ công dân, phải trách nhiệm với Quê Hương Việt Nam.

Đọc lá thư của Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Vatican, tôi có cảm  tưởng phải có bàn tay của ngợm giáo gian quốc doanh Việt Nam  ảnh hưởng lên Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh. Thực vậy, CSVN sau khui không xử dụng được Đức Cha Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục VN để khống chế, chúng đã cho Báo Chí, Đài Truyền Hình tuyên truyền mạ lỵ, đồng thời hù dọa xử dụng sức mạnh, nhưng vẫn không xong. Chúng đã xử dụng ngợm giáo gian quốc doanh để ảnh hưởng lên phía Vatican để Vatican can thiệp khống chế trắng trợn lên Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

Nếu các Giám Mục VN e ngại không nói lên khía cạnh can thiệp trắng trợn này, thì Gíao dân chúng ta phải lên tiếng. Chúng ta không phải chỉ nguyên thuộc Giáo Hội, mà còn phải có bổn phận với Dân tộc, với Đất Nước VN nữa.

Riêng phần tôi, tôi xin được tìm hiểu, theo rõi kỹ càng vụ việc này, nhất là về khía cạnh mà ngợm giáo gian làm tay sai cho CSVN  để ảnh hưởng lên Vatican, làm hại Giáo Hội Mẹ và Quê  Hương Việt Nam.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 




                                               NGỢM GIÁO GIAN
                                              NẰM TẠI VATICAN?


                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                     01.02.2008

   
Lá Thư của Bộ Trưởng Ngoại Giao Vatican viết cho Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT có tỏ ra những lo lắng ngại sợ một tình trạng va chạm sức mạnh có thể xẩy ra.

Khi tỏ ra ngại sợ và chỉ công khai khuyên một phía, điều đó có thể làm thiệt hại không những cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, mà còn cả đến Dân tộc Việt Nam đang cần một sự can đảm, sẵn sàng nói với Nhà Nước và đảng độc tài CSVN rằng chính họ phải ngưng xử dụng sức mạnh  đàn áp Tôn Giáo và Dân Tộc.

Thực vậy, chính bản chất của của Cộng sản, nhất là CSVN và Trung quốc TRIỀN MIÊN XỬ DỤNG SỨC MẠNH ĐÀN ÁP TÍN HỮU VÀ NGƯỜI DÂN.

Tôn Giáo ở Việt Nam và Dân tộc Việt Nam triền miên phải chịu đựng cảnh đàn áp bằng sức mạnh của Cộng sản đã bao chực năm rồị Họ không bao giờ gây ra sức  mạnh đối với Nhà Nước. Bây giờ nếu họ vẫn yên  tiếng tỏ ra sợ sệt sức mạnh đàn áp, thì CSVN càng tăng cường xử dụng sức mạnh đàn áp nữạ Tín hữu cũng  như Dân tộc Việt Nam không xử dụng sức mạnh, nhưng PHẢI TỎ CHO CSVN BIẾT RẰNG HỌ SẴN SÀNG ĐỐI CHỌI VỚI SỨC MA.NH. Có như vậy, thì sức mạnh đàn áp triền miên của CSVN mới giảm xuống.

Tỉ dụ trong những ngày gần đây, CSVN đã xử dụng những hù dọa xử dụng sức ma.nh. Nhưng chính vì Giáo dân can đảm sẵn sàng chịu đựng sức mạnh vì CÔNG LÝ và HÒA BÌNH, thì CSVN mới giảm xuống không xử dụng sức mạnh đàn áp nữa.

Nếu cứ chạy trốn, thì CSVN càng được thế tăng thêm sức mạnh mà họ triền miên xử dụng để trị Tôn Giáo và Dân tộc Việt Nam.

Đức TGM Ngô Quang Kiệt và những Giám mục Hiệp Thông ủng hộ, các Linh mục, các Tu sĩ Nam Nữ, Giáo dân Việt Nam đã sống dưới sức mạnh đàn áp của CSVN bao chục năm trường rồi.  Họ đủ hiểu biết phải hành xử thế nào đối với CSVN. Họ phải sống bị đàn áp bằng sức mạnh TẠI CHIẾN TRƯỜNG TRIỀN MIÊN VIỆT NAM, chứ không phải ngồi ở nhà lầu tại Vatican để nghĩ về sức ma.nh.

Xin lưu ý rằng, có thể CSVN quỷ quyệt lưu mạnh bắt đầu xử dụng những thành phần Ngợm Giáo gian quốc doanh VN  nằm tại các nhà lầu Vatican để chỉ khuyên Đức TGM Ngô Quang Kiệt và các Giám mục Việt Nam, mà không bao giờ lên tiếng khuyên chính CSVN hãy ngưng xử dụng sức mạnh đàn áp.

Chúng tôi đã đau lòng thấy Cha NGUYỄN VĂN LÝ phải bị bịt miệng trước CÔNG LÝ, phải bị cầm tù, phải bị sức mạnh đàn áp khủng bố, mà không thấy Lá Thư nào của Vatican khuyên CSVN hãy ngưng xử dụng sức mạnh đàn  áp.

Đức TGM Ngô Quang Kiệt, các Giám mục VN, các Linh mục, Tu sĩ và Giáo dân VN đủ thông minh và khôn ngoan, biết thực tế thế nào để xử sụ với CSVN.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 






                                                      LETTER OF
                                    VATICAN SECRETARY OF STATE
                                                            TO
                                       THE ARCHBISHOP OF HANOI
  
                                           Vatican, January 30, 2008

   
His Excellency
Joseph Ngo Quang Kiet
Archbishop of Hanoi

Your Excellency,

As you probably know, the Secretary of State follows with a great attention and concern on the events of these last several days in Hanoi, related to the tensions which exist for a long time between your  archdiocese and the public authorities in connection with the rights of  ownership and usage of the building adjoining to the archdiocesan office, which for many years, accommodated the Apostolic Delegation  in Vietnam.

I am filled with admiration before the feelings of earnest devotion and profound attachment to the Church and the Holy See shown by thousands of faithful who, day after day, gather peacefully to pray in front  of this building, which has become a symbol, in order to request the responsible civic offices to take into account the needs of the Catholic communitî

But on the other hand, the fact that such demonstrations continue, can only raise some concerns, because, as it often happens in similar cases, there exists a real danger that the situation can get out of control, and that it can degenerate into demonstrations of verbal or  even physical violenceï

This is why, in the name of the Holy Father, who is constantly informed of the evolution of the situation, I kindly request you to intervene, so that acts which could disrupt the public order be avoided, and that the situation comes back to normalitî It will be thus possible, in a more serene climate, to resume the dialogue with the authorities, in order to find a fitting solution to this delicate problem.

I can assure you that the Holy See, for its part, as it has always done, will not fail to explain to the government of your country the legitimate  aspirations of Vietnamese Catholics.

While thanking you for your collaboration and assuring you of my prayer, I ask your Excellency to accept the expression of my cordial and devoted sentiments.

Cardinal Tarcisio Cardinal Bertone
    (Signed)
Secretary of State of His Holiness







                                          CON ĐƯỜNG CÔNG LÝ
                                                 VÀ HÒA BÌNH



                          Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                                    29.01.2008



Con đường đấu tranh cho CÔNG LÝ để đặt HÒA BÌNH sáng tỏ như ban ngày, thẳng băng như đại lộ. Đó là con đường mà Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT, ngày 15.12.2007, đã kêu gọi Giáo dân hãy xác tín mà đi. Ngày 18.12.2007, Giáo dân, Linh mục, Tu sĩ nam nữ cùng nhau đứng lên bước theo con đường ấy trong trật tự, không bạo động, với những lời cầu kinh hoàn toàn tin tưởng vào Chúa Giêsu và Mẹ Maria.


CON ĐƯỜNG THẲNG DẪN ĐẾN
ĐÍCH ĐIỂM LÀ CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNHÙ 

Cái đích điểm CÔNG LÝ ấy không phải là do TGM Ngô Quang Kiệt, các Linh mục, các Tu sĩ Nam Nữ và Giáo Dân đã tự nghĩ ra làm Mục đích để phát động đấu tranh, nhưng chính là Giáo huấn Tôn Giáo mà Chúa Giêsu và Mẹ Maria đã soi sáng vào Lương Tâm của từng người trải qua bao ngàn năm Lịch sử Tôn Giáo. Mục đích CÔNG LÝ ấy không phải là con người nghĩ ra trong tương đối đổi thay, nhưng là Giáo Huấn từ Thiên Chúa trong Lương Tâm rồi.


NHỮNG NGỤY TẠO MUỐN CON ĐƯỜNG GAI GÓC VÀ
MỤC ĐÍCH SAI LỆCH ĐI

Trước hết, chúng tôi đã luôn lưu ý những nhóm người làm Chính trị, ngay trong hàng ngũ Công giáo, hãy tôn trọng con đường sáng tỏ và mục đích đấu tranh ngay thẳng này, bằng cách đừng gán cho cuộc đấu tranh những đích điểm đã bị Chính trị hóa khiến CSVN có thể ngụy biện mà ngăn cản cuộc đấu tranh. Tỉ dụ khi Nhóm Linh mục NGUYỄN KIM ĐIỀN tuyên bố hiệp thông, thì tôi cho ngay vào Danh sách những đoàn nhóm HIỆP THÔNG đấu tranh. Nhưng khi Khối 8406 lên tiếng Hiệp Thông, với những người làm Chính trị như Ks Đỗ Nam Hải hay Gs Nguyễn Chính Kết, thì tôi thấy không nên cho vào danh sách để CSVN có thể ngụy biện đặt những gai góc trên con đường đấu tranh hoàn toàn vì Mục đích CÔNG LÝ.

Những ngụy biện lắt léo, lưu manh, vu khống là phương tiện cản đường của những kẻ sống trong bóng tối, không đường đường chính chính theo lẽ phải. CSVN luôn luôn gian trá, che đậy để sống. Tệ hơn nữa, chúng còn dùng sức mạnh khủng bố để đè bẹp sự thật.

Cụ thể là Uûy Ban Nhân Dân Thành phố Hà Nội đã gửi hai Văn Thư tố cáo cuộc đấu tranh với tất cả những lời lẽ ngụy biện. Chúng còn cho cả đám Báo Đài truyền thông bồi bếp của chúng hùa nhau ngụy biện. Tòa Giám Mục Hà Nội thẳng thắn phản bác những lời ngụy biện ấy ở hai Văn Thư của UBND thành phố Hà Nội. Người nắm vững sự thật, thì không sợ những gì gian trá. Đi trong ánh sáng, thì không có gì phải ngại bóng tối.

Và trong những ngày gần đây nhất, CSVN đã xử dụng biện pháp hù dọa dùng bạo lực để mong làm những người đấu tranh sợ hãi mà không bước đi trên con đường thẳng quang minh chính đại của mình nữa. Những người đấu tranh đã đi guốc trong ruột những những kẻ lưu manh hù dọa kia. Đó chỉ là những đòn thế hù dọa tâm lý của kẻ yếu lý mà thôi (Mesure d’intimidation psychologique). Đức TGM Ngô Quang Kiệt, những Linh mục, những Tu sĩ Nam Nữ và toàn Giáo dân, người người như một, không hề sợ hãi trước những hù dọa tâm lý hoặc ngay chính những đàn áp thực sự, vẫn tiếp tục đi trên con đường quang minh chính đại của mình để đạt mục đích CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Máu đào của các Thánh Tử Đạo Việt Nam đang chảy vào trái tim của họ. Họ cùng hát lên  bài ĐÂY BÀI CA NGÀN TRÙNG, bài KÌA AI ÁNH HỒNG VINH QUANG để nhận lãnh máu đào tử đạo và đồng thời chuyền máu ấy cho nhau trong một sự HIỆP THÔNG kiên quyết lãnh nhận mọi thử thách trên con đường đạt tới CÔNG LÝ và HÒA BÌNH.


ĐÃ BƯỚC ĐI VÀ KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN LÙI

Có những Vị viết bình phẩm về cuộc đấu tranh này đã đặt câu hỏi rằng cuộc đấu tranh sẽ đi về đâu và có thành công hay không. Không thể hỏi rằng sẽ đi về đâu bởi vì cái đích điểm hoàn toàn sáng tỏ ở trước mặt: cái đâu đó là CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Còn kết quả có thành công hay không, thì tôi xin thưa rằng cuộc đấu tranh này không phải là có thể thành công mà BUỘC PHẢI THÀNH CÔNG.

Như ở đoạn đầu chúng tôi đã nói, cái Mục đích CÔNG LÝ không phải là do những người đấu tranh tự đặt ra cho mình, nghĩa là mình có thể tùy tiện đổi thay, nhưng cái Mục đích ấy là Giáo Huấn của Tôn Giáo được Thiên Chúa chỉ dậy cho Lương Tâm từng người. Theo Tôn giáo là phải theo Giáo Huấn in vào Lương Tâm từ Thiên Chúa. Người Tín hữu không thể tự mình thay đổi Lương Tâm. Không đạt được CÔNG LÝ, có nghĩa là để BẤT CÔNG hoành hành. Phải xua đuổi, phải thắng BẤT CÔNG, đó cũng là Giáo Huấn vậy.

Nhà Đất của Tòa Khâm Sứ chỉ là một tỉ dụ nhỏ của BẤT CÔNG. Lấy lại Nhà Đất của Tòa Khâm Sứ chũng chỉ là đạt được một điểm nhỏ của CÔNG LÝ. Cái Mục đích của cuộc đấu tranh không phải là ngừng ở chỗ đạt được điểm nhỏ Nhà Đất của Tòa Khâm Sứ. Cuộc đấu tranh còn phải đi nữa để thi hành Giáo Huấn CÔNG LÝ mà Thiên Chúa đã in vào Lương Tâm từng người. Lấy lại Nhà Đất của Tòa Khâm Sứ mà chung quanh mình còn đầy BẤT CÔNG cho Dân Oan, cho Công Nhân, cho Tổ Tiên, thì Lương Tâm mình không thể yên để có thể gọi là có HÒA BÌNH.

Gíao sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






                                        HIỆP THÔNG ĐẤU TRANH
                                                CHO CÔNG LÝ


CHÚ THÍCH (Nguyễn Phúc Liên):

DÂN OAN VÌ MUỐN CÓ CÔNG LÝ MÀ PHẢI XUỐNG ĐƯỜNG NẰM VẬT VÃ BÊN LỀ ĐƯỜNG ĐỂ ĐẤU TRANH. DÂN TỘC VIỆT, TRONG CŨNG NHƯ NGOÀI NƯỚC, VÌ TỔ TIÊN BỊ OAN ỨC MẤT ĐẤT VÀ BIỂN, CŨNG ĐỨNG LÊN ĐÒI CÔNG LÝ, ĐÒI CÔNG PHÁP QUỐC TẾ VỀ LÃNH THỔ, LÃNH HẢI PHẢI ĐƯỢC TÔN TRỌNG. GIÁO OAN TÔN GIÁO HIỆP THÔNG ĐẤU TRANH CHO CÔNG LÝ CHỐNG ĐẤT NHÀ CỦA TÔN GIÁO BỊ TƯỚC ĐOẠT.

CUỘC HIỆP THÔNG ĐẤU TRANH CHO CÔNG LÝ MÀ CÔNG GIÁO ĐÃ BẮT ĐẦU KHÔNG PHẢI CHỈ DÀNH RIÊNG CHO QUYỀN LỢI TÔN GIÁO, NHƯNG ĐÓ LÀ VIỆC ĐẤU TRANH CHO CÔNG LÝ CHUNG CỦA XÃ HỘI VIỆT NAM, DÙ CHỈ CÓ MỘT CÁ NHÂN BỊ CHÀ ĐẠP BẤT CÔNG, NGHĨA LÀ KHÔNG CÓ CÔNG LÝ. LÝ TƯỞNG CÔNG LÝ KHÔNG CHO PHÉP CÔNG GIÁO NGƯNG CUỘC ĐẤU TRANH NÀY BỞI VÌ NGƯNG CUỘC ĐẤU TRANH CÓ NGHĨA LÀ CÔNG GIÁO ĐÃ CHẤP NHẬN ĐỂ CÔNG LÝ BỊ VÙI DẬP. TÔN GIÁO KHÔNG CHO PHÉP VIỆC VÙI DẬP CÔNG LÝ.
 
Chúng tôi không gọi đây là Phong trào Đấu tranh cho CÔNG LÝ,  mà gọi là HIỆP THÔNG ĐÁU TRANH CHO CÔNG LÝ. Hai chữ Phong Trào (Mouvement) đôi lúc hàm ngụ một sự kéo theo mà cá nhân chưa hoàn toàn ý thức, thấu triệt. Hiệp Thông là một quyết định của từng cá nhân sau khi đã suy nghĩ, thấu triệt vần đề, nên tìm lại với nhau mà cùng tranh đấu.

Cái điểm chung mà mỗi cá nhân đã suy nghĩ kỹ đó là Xã Hội Việt Nam hiện nay có nhan nhản những BẤT CÔNG do chính những người cầm quyền chủ động gây ra. Chính lẽ những người cầm quyền phải có nhiệm vụ giữ gìn CÔNG LÝ để Xã Hội có trật tự, có HÒA BÌNH, thì chính những người đó lại xử dụng bạo lực để độc đoán tạo ra những BẤT CÔNG mà cụ thể là chiếm đoạt Nhà Đất của Dân, của các Tôn Giáo. Thậm chí còn vì để cố thủ giữ lấy quyền lực, họ đã bán Đất, Biển của Tổ Tiên để cầu sức mạnh ngoại lai che chở cho họ.

Mỗi cá nhân nhìn thấy rõ rệt việc mất CÔNG LÝ, nên tự HIỆP THÔNG với nhau trong nỗ lực đấu tranh cho CÔNG LÝ, nền tảng của Trật Tự Xã Hội, của HÒA BÌNH thực sự.

NGUYỄN PHÚC LIÊN


1. ĐGM Giuse Đặng Đức Ngân, Gm Lạng Sơn hiệp thông và ủng hộ ĐP Hà Nội 

"Con xin thay mặt toàn thể cộng đồng Dân Chúa Giáo phận Lạng Sơn ? Cao Bằng, xin bày tỏ tình hiệp thông với Đức Tổng, để cầu nguyện và đồng hành với Đức Tổng trước những nhu cầu chính đáng của Giáo phận Hà-Nội" 
 
2. Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ Hiệp Thông với Giáo Hội Việt Nam 

"Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ xin hoàn toàn hiệp thông, và kêu gọi mọi thành phần trong Liên Đoàn, cầu nguyện theo ý của HĐGM Việt Nam, đặc biệt của Đức TGM Ngô Quang Kiệt,..., mong sao việc giao hoàn Tòa Khâm Sứ sớm thành hiện thực" 
 
3. Giáo phận Bắc Ninh kêu gọi hiệp thông với giáo phận Hà Nội 

"Để hiệp thông với GP Hà Nội, chúng tôi xin toàn thể giáo phận làm tuần 7 ngày cầu nguyện cho GP Hà Nội: xin Chúa nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria rất thánh hướng dẫn và soi sáng để các nhà hữu trách sớm giải quyết hợp lý và công bằng vụ việc" 
 
4. Đức Cha Vũ Văn Thiên, GM Hải Phòng, lên tiếng ủng hộ Địa Phận Hà Nội 

"Gần một tháng đã trôi qua, những bức xúc của GP Hànội liên quan đến việc đề nghị trao trả TKS và đất đai tại Gx Thái Hà vẫn chưa được giải quyết. Một lần nữa, mọi thành phần Dân Chúa GP Hải Phòng bày tỏ sự ủng hộ những nhu cầu chính đáng của Đức Tổng.." 
 
5. Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế ủng hộ Đức Tổng Giám Mục Hà Nội 

"Thay mặt cho toàn thể Linh mục tu sĩ DCCT thuộc Tỉnh Dòng VN, chúng con xin bày tỏ lòng hiệp thông với Đức Cha và toàn thể Giáo Phận trong công cuộc cầu nguyện để bảo vệ công bằng và chân lý" 
 
6. Cha Giuse Cao Đình Trị , Giám Tỉnh DCCT VN 

"Chúng tôi, toàn thể tu sĩ thuộc Tỉnh Dòng đang cùng với anh chị em, bên cạnh anh chị em thắp sáng ngọn nến công lý và hiệp lời nguyện xin sự công bằng trên đất nước thân yêu của chúng ta" 
 
7. Đức Giám mục Nguyễn Văn Hòa lên tiếng ủng hộ TGP Hà Nội 

"Các thành phần Dân Chúa Giáo phận Ban Mê Thuột xin hiệp thông với nguyện vọng chính đáng của Tổng Giáo phận Hà Nội yêu cầu Chính quyền trả lại Toà Khâm sứ cho Tổng Giáo phận và Giáo Hội Việt Nam, để đáp ứng các nhu cầu của Giáo Hộị" 
 
8. ĐC FX. Nguyễn Văn Sang, GM Thái Bình: 

"Xin hoàn toàn ủng hộ và hợp nhất với Đức Tổng Giám Mục, các Đấng Bậc và anh chị em giáo dân trong giáo phận Hà Nội, đã cùng cầu nguyện với nhau để đạt được ý định về đất đai đã cho Tòa Khâm Sứ mượn trước đây" 
 
 9. Cộng Đồng Công Giáo VN Miền Đông Nam Hoa kỳ:
 
“Tích cực yểm trợ các đòi hỏi của Tòa Tổng Giám Mục Hanoi, Saigon, Huế, xứ Thái Hà thuộc dòng Chúa Cứu thế Hanội về việc yêu cầu nhà nước trả lại các cơ sở và tài sản của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Yêu cầu nhà nước từ địa phương tới trung ương phải nghiêm chỉnh tôn trọng luật pháp quốc gia, chủ động giải quyết một cách công bằng và hợp lý, trả lại đất đai, tài sản của người dân đã bị chiếm đoạt bất công cũng như các cơ sở, tài sản của Giáo Hội công giáo đã bị tịch thu hoặc chiếm mươn. Tích cực cùng toàn dân đẩy mạnh công cuộc tranh đấu bảo toàn hải phận và đất đai của nước Việt Nam.“    

10. Nhóm Linh mục NGUYỄN KIM ĐIỀN hết lòng hiệp thông:
 
“Trước hết, chúng con chân thành hiệp thông với Đức Tổng Giám mục cùng toàn thể Dân Chúa tại Tổng Giáo phận Hà Nội, đặc biệt tại Giáo xứ Chánh tòa, Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Hà Đông. Chúng con cũng hoàn toàn nhất trí với Cha Quản xứ và giáo dân Giáo xứ Thái Hà lẫn Giáo xứ Hà Đông trong việc bày tỏ sự phản kháng hành vi xâm chiếm tài sản Giáo xứ bằng cách liên tục cầu nguyện, đặt tượng và dựng lều quanh khu vực bị cưỡng đoạt. Việc các Giáo hội và các Giáo phận đòi đất cho đạo, việc các thị dân và nông dân đòi đất cho nhà không thể không gợi nhớ việc toàn dân và xã hội đòi đất cho nước đang bị mất vào tay Trung Quốc“  






=========================
pho bien/ publication 31.01.2008
=========================



                                             THỜI SỰ TUẦN NÀY:
                             
                               CON ĐƯỜNG CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH



                                        Gioan NGUYỄN PHÚC LIÊN



Con đường đấu tranh cho CÔNG LÝ để đặt HÒA BÌNH sáng tỏ như ban ngày, thẳng băng như đại lộ. Đó là con đường mà Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT, ngày 15.12.2007, đã kêu gọi Giáo dân hãy xác tín mà đi. Ngày 18.12.2007, Giáo dân, Linh mục, Tu sĩ nam nữ cùng nhau đứng lên bước theo con đường ấy trong trật tự, không bạo động, với những lời cầu kinh hoàn toàn tin tưởng vào Chúa Giêsu và Mẹ Maria.


CON ĐƯỜNG THẲNG DẪN ĐẾN
ĐÍCH ĐIỂM LÀ CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH 

Cái đích điểm CÔNG LÝ ấy không phải là do TGM Ngô Quang Kiệt, các Linh mục, các Tu sĩ Nam Nữ và Giáo Dân đã tự nghĩ ra làm Mục đích để phát động đấu tranh, nhưng chính là Giáo huấn Tôn Giáo mà Chúa Giêsu và Mẹ Maria đã soi sáng vào Lương Tâm của từng người trải qua bao ngàn năm Lịch sử Tôn Giáo. Mục đích CÔNG LÝ ấy không phải là con người nghĩ ra trong tương đối đổi thay, nhưng là Giáo Huấn từ Thiên Chúa trong Lương Tâm rồi.


NHỮNG NGỤY TẠO MUỐN CON ĐƯỜNG GAI GÓC VÀ
MỤC ĐÍCH SAI LỆCH ĐI

Trước hết, chúng tôi đã luôn lưu ý những nhóm người làm Chính trị, ngay trong hàng ngũ Công giáo, hãy tôn trọng con đường sáng tỏ và mục đích đấu tranh ngay thẳng này, bằng cách đừng gán cho cuộc đấu tranh những đích điểm đã bị Chính trị hóa khiến CSVN có thể ngụy biện mà ngăn cản cuộc đấu tranh. Tỉ dụ khi Nhóm Linh mục NGUYỄN KIM ĐIỀN tuyên bố hiệp thông, thì tôi cho ngay vào Danh sách những đoàn nhóm HIỆP THÔNG đấu tranh. Nhưng khi Khối 8406 lên tiếng Hiệp Thông, với những người làm Chính trị như Ks Đỗ Nam Hải hay Gs Nguyễn Chính Kết, thì tôi thấy không nên cho vào danh sách để CSVN có thể ngụy biện đặt những gai góc trên con đường đấu tranh hoàn toàn vì Mục đích CÔNG LÝ.

Những ngụy biện lắt léo, lưu manh, vu khống là phương tiện cản đường của những kẻ sống trong bóng tối, không đường đường chính chính theo lẽ phải. CSVN luôn luôn gian trá, che đậy để sống. Tệ hơn nữa, chúng còn dùng sức mạnh khủng bố để đè bẹp sự thật.

Cụ thể là Uûy Ban Nhân Dân Thành phố Hà Nội đã gửi hai Văn Thư tố cáo cuộc đấu tranh với tất cả những lời lẽ ngụy biện. Chúng còn cho cả đám Báo Đài truyền thông bồi bếp của chúng hùa nhau ngụy biện. Tòa Giám Mục Hà Nội thẳng thắn phản bác những lời ngụy biện ấy ở hai Văn Thư của UBND thành phố Hà Nội. Người nắm vững sự thật, thì không sợ những gì gian trá. Đi trong ánh sáng, thì không có gì phải ngại bóng tối.

Và trong những ngày gần đây nhất, CSVN đã xử dụng biện pháp hù dọa dùng bạo lực để mong làm những người đấu tranh sợ hãi mà không bước đi trên con đường thẳng quang minh chính đại của mình nữa. Những người đấu tranh đã đi guốc trong ruột những những kẻ lưu manh hù dọa kia. Đó chỉ là những đòn thế hù dọa tâm lý của kẻ yếu lý mà thôi (Mesure d’intimidation psychologique). Đức TGM Ngô Quang Kiệt, những Linh mục, những Tu sĩ Nam Nữ và toàn Giáo dân, người người như một, không hề sợ hãi trước những hù dọa tâm lý hoặc ngay chính những đàn áp thực sự, vẫn tiếp tục đi trên con đường quang minh chính đại của mình để đạt mục đích CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Máu đào của các Thánh Tử Đạo Việt Nam đang chảy vào trái tim của họ. Họ cùng hát lên  bài ĐÂY BÀI CA NGÀN TRÙNG, bài KÌA AI ÁNH HỒNG VINH QUANG để nhận lãnh máu đào tử đạo và đồng thời chuyền máu ấy cho nhau trong một sự HIỆP THÔNG kiên quyết lãnh nhận mọi thử thách trên con đường đạt tới CÔNG LÝ và HÒA BÌNH.


ĐÃ BƯỚC ĐI VÀ KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN LÙI

Có những Vị viết bình phẩm về cuộc đấu tranh này đã đặt câu hỏi rằng cuộc đấu tranh sẽ đi về đâu và có thành công hay không. Không thể hỏi rằng sẽ đi về đâu bởi vì cái đích điểm hoàn toàn sáng tỏ ở trước mặt: cái đâu đó là CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Còn kết quả có thành công hay không, thì tôi xin thưa rằng cuộc đấu tranh này không phải là có thể thành công mà BUỘC PHẢI THÀNH CÔNG.

Như ở đoạn đầu chúng tôi đã nói, cái Mục đích CÔNG LÝ không phải là do những người đấu tranh tự đặt ra cho mình, nghĩa là mình có thể tùy tiện đổi thay, nhưng cái Mục đích ấy là Giáo Huấn của Tôn Giáo được Thiên Chúa chỉ dậy cho Lương Tâm từng người. Theo Tôn giáo là phải theo Giáo Huấn in vào Lương Tâm từ Thiên Chúa. Người Tín hữu không thể tự mình thay đổi Lương Tâm. Không đạt được CÔNG LÝ, có nghĩa là để BẤT CÔNG hoành hành. Phải xua đuổi, phải thắng BẤT CÔNG, đó cũng là Giáo Huấn vậy.

Nhà Đất của Tòa Khâm Sứ chỉ là một tỉ dụ nhỏ của BẤT CÔNG. Lấy lại Nhà Đất của Tòa Khâm Sứ chũng chỉ là đạt được một điểm nhỏ của CÔNG LÝ. Cái Mục đích của cuộc đấu tranh không phải là ngừng ở chỗ đạt được điểm nhỏ Nhà Đất của Tòa Khâm Sứ. Cuộc đấu tranh còn phải đi nữa để thi hành Giáo Huấn CÔNG LÝ mà Thiên Chúa đã in vào Lương Tâm từng người. Lấy lại Nhà Đất của Tòa Khâm Sứ mà chung quanh mình còn đầy BẤT CÔNG cho Dân Oan, cho Công Nhân, cho Tổ Tiên, thì Lương Tâm mình không thể yên để có thể gọi là có HÒA BÌNH.


Gioan NGUYỄN PHÚC LIÊN








=========================
pho bien/ publication 30.01.2008
=========================



                    CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH


                                                       Phụ Bản 3:


                                                LẠM PHÁT TIỀN TỆ:
                                CHÍNH TRỊ ĂN CƯỚP KINH TẾ CỦA DÂN



                              Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Viết về cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế Á châu 1997 và tìm hiểu những yếu tố Tài chánh/Kinh tế hiện nay của những nước bắt đầu phát triển, chúng tôi nằm trong CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH của Việt Nam, nghĩa là chúng tôi nhìn xem những những triệu chứng nào đang dẫn Tài chánh/Kinh tế hiện hành dưới chế độ độc tài độc đảng đến tình trạng Khủng hoảng. Năm 1998, vì Khủng hoảng 1997, dân chúng kiệt quệ, nên chế độ độc tài tham nhũng SUHARTO ở Nam Dương phải chấm dứt. Một cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế ở Việt Nam làm quần chúng kiệt quệ sẽ là yếu tố quyết định quét sạch chế độ độc tài tham nhũng của CSVN.


KINH TẾ LÀM CĂNG THẲNG XÃ HỘI

Trong khi viết về Khủng hoảng năm 1997 tại Á châu và về những bấp bênh Tài chánh của những nước bắt đầu phát triển hiện nay, chúng tôi lại gặp hiện tượng bất ngờ đang làm hỗn loạn tại chính những quốc gia đã kỹ nghệ hóa với những hậu quả đang xẩy ra như sau:

(i) Từ tháng 8/2007, khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc tại Hoa kỳ (American Sub-Prime Mortgage Market) khiến hầu hết các Ngân Hàng lớn từ Mỹ tới Aâu châu bị mất nhiều tiền bạc (Phụ Bản 1 đã viết);

(ii) Cuộc khủng hoảng này lan sang Thị trường Chứng khoán mà cả Thế giới chứng kiến trong tuần vừa rồi từ 21-24/01/2008 (Phụ Bản 2 viết tuần vừa rồi);

(iii) Theo phân tích của hầu hết các nhà Kinh tế vào cuối năm 2007 và theo những ý kiến phát biểu tại World Economic Forum DAVOS (Thụy sĩ) của những nhà phải quyết định Kinh tế cũng như Chính trị như Tony Blair, Algore, Bill Gate, Kissinger..., thì tầm ảnh hưởng quan trọng đang lan sang đời sống Kinh tế thực của Dân chúng: Suy thoái Kinh tế (Récession Economique), Giảm độ phát triển (Baisse du Taux de croissance), Tăng thất nghiệp (Augmentation du Chomage), Vật giá tăng, nhất là đồ ăn (Augmentation des Prix), Giảm Khả năng Tiêu thụ (Diminution du Pouvoir d’Achat).

Nếu quyết định của FED giảm 0.75% về Lãi suất nhằm Thị trường Tài chánh và chữa bấp bênh của Thị trường Chứng khoán (Điểm (ii) trên đây), thì những Biện pháp Stimulus Package của TT. BUSH nhằm chữa lâu dài hơn về những biến chứng Kinh tế được liệt kê ở Điểm (iii) trên đây.

Trong Điểm (iii) này, hai điều quan trọng từ Kinh tế làm căng thẳng Xã hội và dẫn đến lật đổ một chế độ, đó là: Vật giá tăng, nhất là đồ ăn (Augmentation des Prix), Giảm Khả năng Tiêu thụ (Diminution du Pouvoir d’Achat). Chúng tôi đã nhiều lần nhắc câu nói của Oâng Tổng Giám đốc Jacques DIOUF của  FAO thuộc Liên Hiệp Quốc, nói với báo Financial Times: “Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim“ (LE MONDE, ngày 31.10.2007) (Nếu vật giá tiếp tục tăng lên, tôi sẽ không ngạc nhiên thấy người ta chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói). Những nhà Chính trị phải đặc biệt lưu ý về hai điều quan trọng này thuộc Kinh tế vì đây là khả năng lật đổ chế độ.  

Chính vì vậy, trước khi viết tiếp Bài thứ 9 trong loạt 12 Bài của Chủ đề, chúng tôi muốn viết Phụ Bản 3 này về Tăng Vật Giá và Giảm Khả năng Tiêu thụ của quần chúng.

 
LẠM PHÁT TIỀN TỆ:
ĂN CƯỚP KINH TẾ QUẦN CHÚNG

Dù chưa có ảnh hưởng của Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc, thì Chính quyền các nước bắt đầu phát triển đã thấy và sợ hãi việc Vật giá tăng vọt tại những nước này, nhất là việc tăng giá những hàng nhu yếu và đồ ăn.  Bây giờ, với ảnh hưởng lan tràn từ khủng hoảng tại chính những nước đã kỹ nghệ hóa, người ta càng thấy độ tăng vật giá tại những nước bắt đầu phát triển trở thành cấp số nhân.

Việc tăng vọt vật giá có những lý do Kinh tế như vừa nói trên đây. Các Chính quyền nhấn mạnh về những lý do Kinh tế làm tăng vọt vật giá này, mà dường như muốn dấu diếm một lý do rất quan trọng làm tăng vật giá do chính họ độc đoán tạo ra cho dân chúng. Đó là lý do LẠM PHÁT TIỀN TỆ, một việc ăn cướp khả năng Kinh tế của quần chúng. Phụ Bản 3 này để ra một bên những lý do thực Kinh tế làm tăng vật giá, mà chỉ chú tâm đến lý do lạm phát tiền tệ mà các người nắm quyền Chính trị muốn dấu diếm bởi vì đây thực sự là việc ăn cướp Kinh tế của dân chúng.

Với đầu đề “L’INFLATION (MONETAIRE) DETRUIT UNE ECONOMIE, MEME SI LES POLITIQUES PEUVENT L’APPRECIER“ (Báo LE MONDE, ngày 31.10.2007) (Lạm phát (Tiền tệ) phá hủy một nền Kinh tế, ngay cả những người làm Chính trị chuộng điều ấy), Giáo sư Tài chánh Florin AFTALION, Chuyên gia về những Quan hệ giữa những Thời kỳ Lạm phát và những Phong trào nổi dậy Cách mạng, đã tuyên bố:“L’inflation (monétaire) est un moyen de très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et de subventions, de mettre de l’huile dans les rouages. (Lạm phát (tiền tệ) est một biện pháp rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những nhà làm chính trị, trong những trường hợp cho phép họ trong ngắn hạn tăng lương và trợ lực các Công ty, cho phép họ cho dầu vào những guồng máy).

Nói về Aâu châu, Giáo sư lo lắng:“Mon opposition à l’euro venait de ma crainte de voir les hommes politiques prendre le pouvoir sur la banque centrale et sur la création de la masse monétaire.“ (Việc chống đối của tôi đối với euro đã đến từ việc sợ hãi nhìn thấy những người làm chính trị xen lấn quyền lực vào Ngân Hàng Trung ương và vào việc phát hành khối tiền tệ). Thực vậy, khi Chính trị nắm quyền lên Ngân Hàng Trung ương (Ngân Hàng phát hành (Banque d’émission)), thì việc lạm phát tiền tệ sẽ xẩy ra. Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam chịu dưới quyền sai khiến của đảng CSVN.

Giáo sư đã lấy ra chính lời tuyên bố của KEYNES, một Kinh tế gia trứ danh, bậc thầy của những SAMUELSON, FRIEDMANN...:“Il n’existe pas de moyen plus subtil et plus sur de renverser les bases de la socíeté que de pervertir sa monnaie“ (Không có phương cách nào tinh vi và chắc chắn trong việc lật ngược những yếu tố nền tảng của xã hội hơn là phương cách làm đồi trụy tiền tệ của xã hội ấy). 

Trích ra những lời trên đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng chính những nhà cầm quyền làm đồi trụy tiền tệ và ăn cướp kinh tế của dân. Họ làm những điều này vì đây là phương cách dễ dàng nhất cho họ. Nhưng họ dấu diếm vì đây là hành động ăn cướp mà quần chúng khó ý thức lãnh hội.

Sau đây là là phần cắt nghĩa của chúng tôi về việc lạm phát tiền tệ xẩy ra như thế nào, nghĩa là việc làm đồi trụy tiền tệ và ăn cướp kinh tế xẩy ra ra sao. Chúng tôi lần lượt cắt nghĩa với những điểm sau đây:

=> Tỉ dụ dẫn nhập
=> Cắt nghĩa theo nguyên tắc lưu hành tiền tệ
=> Những hình thức lạm phát tiền tệ

Tỉ dụ dẫn nhập

Tại một nước nhỏ ở Phi châu chẳng hạn. Một Đại úy từ trong rừng dẫn quân đội ra làm Đảo chánh. Nắm được quyền rồi, Đại úy tự xưng là nguyên thủ quốc gia, nắm trọn mọi quyền trong tay, không phân biệt quyền Chính trị với quyền Kinh tế, Tài chánh, Tiền tệ... gì cả. Oâng chỉ chú tâm tổ chức quân đội, công an, hành chánh để phục vụ việc giữ quyền hành. Kinh tế thì không những không tăng, mà còn kém thêm sản xuất.

Khối tiền đang lưu hành có nền sản xuất cung cấp tương đương hàng hóa. Việc khó khăn của vị nguyên thủ quốc gia này là phải trả lương cho binh sĩ, công an và công chức. Sản xuất không đủ cung cấp đóng góp thuế để ông có tiền trả lương. Phương pháp thuận tiện nhất là ông ra lệnh cho Ngân Hàng Quốc gia in ra một khối tiền thêm và mới tinh để ông trả lương.

Tỉ dụ khối tiền cũ đang lưu hành là 100'000.- và nền kinh tế hiện nay sản xuất được 10'000 đơn vị hàng hóa. Như vậy đồng tiền cũ có tương đương hàng hóa là 100'000.-/ 10'000 đơn vị, nghĩa là mỗi đơn vị hàng hóa phải trả giá là 10 đồng.

Khối tiền mới mà ông ra lệnh in thêm là 50'000.- để trả lương. Vợ của lính, của công an và công chức mang ra chợ mua hàng. Sản xuất vẫn chỉ có 10'000 đơn vị hoặc thụt xuống chỉ có 7'500 đơn vị. Tiền mới và cũ pha lộn nhau tổng cộng lưu hành là 150'000. Vật giá sẽ tăng vọt như sau:

* Nếu sản xuất vẫn giữ ở mức cũ 10'000 đơn vị, thì vật giá sẽ là:
 150'000.- / 10'000 đơn vị, nghĩa là phải trả mỗi đơn vị hàng hóa là 15.-
 50% vật giá tăng ở đây hoàn toàn vì lạm phát tiền tệ.

* Nếu một mặt tăng tiền mới, một mặt sản xuất kém đi, thì vật giá sẽ là:
 150'000.- / 7'500 đơn vị, nghĩa là phải trả mỗi đơn vị hàng là 20.-
 100% vật giá tăng ở đây có:
 - 50% tăng do lạm phát tiền tệ và
 - 50% tăng do giảm sút kinh tế sản xuất.

Trước khi có cuộc Đảo chánh của Oâng Đại úy, người dân làm kinh tế, lĩnh được đồng lương là 200.- Số lương tháng này cho phép họ mua được 200.-/ 10.- = 20 đơn vị hàng hóa. Sau Đảo chánh và sau khi lạm phát tiền tệ, đồng thời kinh tế giảm sút, với vật giá tăng lên 20.- một đơn vị, người công nhân chỉ có thể mua được 200.- /20.- = 10 đơn vị hàng hóa. Nếu đơn vị hàng hóa đây là đồ ăn, thì trước Đảo chánh, họ ăn hai bữa với 20 đơn vị đồ ăn cho cả tháng thì DẠ DẦY mới đủ no. Nay nhờ ơn Cách Mạng với lạm phát tiền tệ, với đồng lương không tăng, họ chỉ có thể ăn một bữa với 10 đơn vị đồ ăn cho cả tháng. DẠ DẦY đói, họ chịu không nổi, nên xùng vác dao con chó làm ĐỘT BIẾN DÂN OAN bị ăn cướp do lạm phát tiền tệ, đạp đổ Oâng Đại úy kia và đảng của ông. Đó là lời khẳng định của Oâng Florin AFTALION mà chúng tôi trích dẫn trên kia “Emeutes de faim“.

Cắt nghĩa theo nguyên tắc lưu hành tiền tệ

Đồng tiền in ra chỉ là một tờ giấy  không hơn không kém. Phải gắn vào đồng tiền ấy một giá trị tương đương. Trong chế độ bảo chứng bằng vàng trực tiếp (Regime Etalon-Or), đồng tiền được trị giá bằng tương đương cân lượng vàng. Trong chế độ bảo chứng bằng vàng gián tiếp (Régime Etalon-Devise-Or), nghĩa là bằng vàng qua trung gian một ngoại tệ mạnh, tỉ dụ Đo-la, thì giá trị đồng tiền vẫn là tương đương cân lượng vàng. Đây là Chế độ Tiền tệ được quyết định bởi Hội Nghị Bretton Woods năm 1944.  Trong hai chế độ này, đồng tiền khó mất giá.

Nhưng từ năm 1966, với quyết định của TT.NIXON về việc không thể bảo chứng vàng cho đồng Đo-la mà Aâu châu giữ (Eurodollar) và Khối A rập giữ (Pétrodollar), đồng tiền của mỗi nước chỉ còn được bảo chứng giá trị bằng khả năng Kinh tế của mỗi nước. Giá trị của đồng tiền mỗi nước phải có tương đương đương về hàng hóa mà người ta gọi là Khả năng mua hàng (Pouvoir d’Achat). Do đó, muốn giữ cho đồng tiền vững giá, thì phải giữ cân bằng trong Công thức của Fisher dưới đây:

                              M.V
                           ---------  =  P 
                                T

P là cái giá của đồng tiền. M.V là Khối Tiền cho lưu hành trong nền Kinh tế. T là khả năng sản xuất lưu hành của nền Kinh tế.

Nếu nền Kinh tế (T) vẫn giữ mức độ sản xuất và lưu hành hàng hóa như cũ, trong khi ấy những người làm Chính trị độc đoán cho in tiền mới, cho lưu hành tăng thêm số lượng tiền, thì tự động một đơn vị hàng hóa phải trả một giá cao hơn. Đây là khía cạnh lạm phát hoàn toàn về mặt tiền tệ. Những người dân, với đồng lương không tăng, thấy mình mất khả năng tiêu thụ (Pouvoir d’Achat) vì đồng tiền đã mất giá trị so với số lượng hàng hóa. Đồng tiền mà công nhân lĩnh lương do lao động sản xuất thực trong nền Kinh tế, tự động có tương đương hàng hóa. Nhưng đồng tiền mới in ra để trả lương cho công an, công chức là đồng tiền không có bảo chứng hàng hóa. Người lao động giữ đồng tiền Kinh tế thực qua lao động sản xuất đã bị bóc lột về khả năng tương đương hàng hóa do việc ăn cướp của giới quyết định Chính trị. Ở phương diện này, Kinh tế của quần chúng sản xuất đã bị ăn cướp để vật giá tăng vọt (Augmentation des Prix) và quần chúng mất khả năng tiêu thụ (Baisse du Pouvoir d’Achat de la monnaie).

Những hình thức lạm phát tiền tệ

Ngoài hình thức quyền lực Chính trị ra lệnh trực tiếp cho Ngân Hàng Trung ương phát hành đơn thuần tiền mới để cho lưu hành trong khối tiền hiện hành mà chúng tôi vừa nêu ra trong những phần trên đây, xin nói đế việc lạm phát bằng Tín dụng, nghĩa là những phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa, chẳng hạn như Bảo Lãnh Ngân Hàng (Bank Guarantee/ Garantie Bancaire), Thư Tín dụng (Letter of Credit/ Lettre de Crédit). Tiền tệ được định nghĩa là một Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa. Về phương diện này, không phải chỉ nguyên Ngân Hàng Trung ương, mà cả một hệ thống Ngân Hàng Tư nhân có thể phát hành những phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa.  Người ta mua bán hàng hóa bằng tiền mặt phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương, nhưng người ta cũng có thể mua bán hàng hóa bằng Thư Tín dụng của Ngân Hàng hay tờ Bảo Lãnh Ngân Hàng phát hành bởi một Ngân Hàng Thương Mại tư nhân chẳng hạn.

Như trên đã cắt nghĩa, đồng tiền phát hình do Ngân Hàng Trung ương và cho lưu hành, phải có tương tương số lượng hàng hoá để bảo chứng giá trị của đồng tiền. Nếu hệ thống Ngân Hàng tư nhân phát hành Bảo Lãnh và xử dụng như đồng tiền để trao đổi hàng hóa, thì đâu là tương đương hàng hóa để bảo chứng gia trị Bảo Lãnh được coi như đồng tiền.

Người ta tìm câu trả lời rằng tất cả những phát hành văn bản tín dụng ngân hàng được coi là đồng tiền tương lai khả thể (Monnaie virtuelle). Người xử dụng những phát hành tín dụng này như đồng tiền và giá trị của nó được bảo đảm bởi hàng hóa sản xuất tương lai. Nhưng tương lai Kinh tế có những bấp bênh, nhất là tại những nước bắt đầu phát triển. Tương lai càng xa, thì bấp bênh càng nhiều.

Tại Việt Nam, việc hệ thống Ngân Hàng tư phát hành Bảo Lãnh cho những công trình xây dựng dài hạn là một trong những nguồn làm cho Khối tiền tệ (Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa) bị phồng lên. Đứng ở khía cạnh này mà nhìn, thì vật giá tăng do sự thổi phồng này vậy. Việt Nam còn bị một sự bấp bênh nữa là những công trình xây cất dài hạn, vì tham nhũng làm chất liệu xây cất kém, dễ bị hư hỏng trong tương lai và không cho phép khai thác Kinh tế tương xứng để có thể bảo đảm Tín dụng dài hạn, nghĩa là đồng tiền tương lai không được bảo đảm (la monnaie virtuelle n’est pas assurée).


CHÚ THÍCH CUỐI

Tiền giả cũng là yếu tố thổi phồng khối Tiền tệ lưu hành và do đó làm mất giá đồng tiền thực. Cách đây chừng 4 tháng, có thông tin rằng tại Việt Nam có một Ngân Hàng chỉ dành riêng cho người Hoa. Tại sao chúng ta không có giả thiết rằng có thể có những phát hành về phía Tiền tệ, Tín dụng khiến Khối tiền lưu hành tăng lên và làm mất giá đồng tiền Việt Nam. Thậm chí có người đặt câu hỏi: có thể có  khối bạc giả in từ Trung Cộng để tiêu dùng tại Việt Nam hay không? Nếu có thực, thì đây là biện pháp làm đồi trụy đồng tiền Việt Nam như nhà Kinh tế trứ danh KEYNES đã nói.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 24.01.2008
=========================



                  CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH

                                                        Phụ Bản 2:

                                           10 NĂM SAU Á CHÂU 1997:
                             KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH THẾ GIỚI 2007? 


                              Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



VietTUDAN không phải là một tuần báo chuyên về Kinh tế/Tài chánh, mà là một báo đấu tranh nhằm loại bỏ chế độ độc tài hiện nay tại Việt Nam. Chúng tôi xác tín rằng khả năng có thể lật đổ được hệ thống độc tài của đảng CSVN không phải là từ những đối thoại qua lý luận với những quan niệm trừu tượng, nhất nữa đến từ những lẻo mép che đậy hào nhoáng của một số trí thức chính trị cơ hội. Lịch sử những cuộc Cách Mạng lật đổ những hệ thống độc tài phải đến từ quần chúng đói nghèo nhất, tức là đấu tranh cho quyền DẠ DẦY (Stomach Right) cụ thể: Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Vô Sản 1917, Chôn Vùi Cộng sản Nga và Đông Aâu 1989.

Chúng tôi chủ trương MẶT TRẬN KINH TẾ/TÀI CHÁNH và từ lâu tuần báo VietTUDAN đã có những loạt bài Chủ đề như TƯƠNG QUAN KINH TẾ/CHÍNH TRỊ, HỘI NHẬP WTO: ĐỊNH MỆT TỰ HỦY DIỆT ĐỘC TÀI CSVN và trong thời gian này, CHỦ ĐỀ: SỰ SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH với 12 Bài.

Trong phạm vi Chủ đề của thời gian này, chúng tôi trình bầy về cuộc Khủng hoảng Tài chánh Á châu năm 1997. Những nước bắt đầu phát triển, trong đó có Việt Nam, chúng tôi nhìn qua bài học Á châu 1997, thấy những yếu tố đưa đến Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế. Ngoài những yếu tố tương tự như năm 1997, chúng tôi còn thấy hiện nay Thế Giới đang có triệu chứng dẫn đến cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế toàn diện mà Việt Nam không thể chống cự nổi. Vì vậy cách đây một tháng, chúng tôi đã viết Phụ Bản 1 về KHỦNG HOẢNG THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG SUB-PRIME ĐỊA ỐC HOA KỲ (American SUB-PRIME MORTGAGE Market).

Phụ Bản 2 này trình bầy ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN DỤNG SUB-PRIME ĐỊA ỐC LAN TRÀN SANG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ: Suy thoái Sản xuất (Baisse de la Production), Vật Giá Tăng (Augmentation de l’Indice des Prix de consommation), Khả năng Tiêu thụ giảm (Baisse du Pouvoir d’Achat).
 

Aûnh hưởng Sub-Prime Địa ốc xuất hiện

Chúng tôi lấy ngày 18.01.2008 như ngày khẳng định sự xuất hiện công khai của những ảnh hưởng của Khủng hoảng Thị trường Sub-Prime Tín dụng Địa Oác. Trước thời điểm này, chúng tôi đã viết về tình trạng tuyên bố mất tiền của những Ngân Hàng, của những Hãng Bảo Hiểm lớn có liên hệ với Thị trường: CitiGroup, UBS, Allianz, Swiss Re... Chúng tôi cũng đã viết về tình trạng vật giá lên cao, nhất là cho nhu yếu phẩm như đồ ăn, tại Âu châu, Trung Cộng và đặc biệt Việt Nam.

Ngày 18.01.2008, Đài Truyền Hình Pháp la hoảng về hậu quả Khủng Hoảng Thị trường Tín Dụng Sub-Prime Địa ốc Mỹ, rồi lời kêu gọi của Federal Reserve yêu cầu Tổng Thống Bush tìm giải pháp cứu nguy Kinh tế Mỹ. Chỉ số DOW Wall Street mất 8 điểm. Thực vậy:“Shortly after lunch, Bernanke called a quick meeting of Fed Officials who decide interest-rate policy. Meanwhile, Treasury Secretary Henry Paulson Jr., watching the same market turmoil spread to Europe, was sufficiently anxious that he called President George W.Bush at the White House at 3:15 p.m.“ (International Herald Tribune).

Tổng Thống Bush sau khi mệt mỏi trở về từ Trung Đông, cũng như Oâng Henry Paulson, phải làm việc cuối tuần để có thể tuyên bố những biện pháp kích thích cho Kinh tế: “Paulson, having spent the weekend hashing out the details of an economic stimulus package with congressional leaders, ...“ (International Herald Tribune).

Những ngày nghỉ cuối tuần... rồi còn thêm ngày nghỉ Thứ Hai Luther King. Nhưng chính ngày nghỉ Thứ Hai Luther King, Thị Trường Chứng Khoán Wall Street đóng cửa, thì Cơn Lốc thổi vào các Thị trường Chứng Khóan Á đông, rồi theo Mặt Trời mọc, tràn sang Aâu châu. Các Chỉ số Chứng Khoán thụt xuống từ 7 đến 10%.

Truyền Thông Aâu châu ngày 22.01.2008 đề lớn: CNN:"Stock Markets go into freefall !", TRIBUNE DE GENEVE: "Les Bourses plongent. Faut-il avoir peur ?, LE TEMPS: "Tres inquiets, les marche's boursiers ce`dent a` la panique", INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE: "Markets plummet worldwide", FINANCIAL TIMES: "Panic sparks global plunge".

Trong khi ấy, những nhân vật trọng yếu phải quyết định về đời sống Kinh tế khắp Thế Giới lại đang trên máy bay tụ về Thụy sĩ  để tham dự WORLD ECONOMIC FORUM trên vùng núi tuyết DAVOS khai mạc ngày 23.01.2008.

Họp tại vùng núi tuyết Davos Thụy sĩ với Chương Trình thảo luận về những đề tài đã sửa soạn sẵn, nhưng 2500 người tham dự hoàn toàn để đầu óc vào Cơn Lốc đang làm các Thị Trường Chứng Khoán trên Thế Giới lên xuống như bóng ma bất định. Cựu Thủ tướng Anh, Tony Blair tại Davos đã tuyên bố với Đài CNBC: “Chúng ta đứng trước một tình trạng bất ổn. Những biến động Kinh tế, Tài chất có những chi tiết mà Chính trị không hiểu được !“.


Những thăng trầm Thị trường chứng khoán
trong những ngày từ 22-24.01.2008

Thị trường nhìn về những Biện pháp Stimulus Kinh tế của Tổng Thống Bush, rồi nhìn những quyết định của các Ngân Hàng Trung ương về Lãi xuất chỉ đạo mà phản ứng.

Những Biện pháp Stimulus Package của Chính quyền Bush

Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc của Hoa kỳ đã khiến số vốn lưu hành thiếu, nghĩa là lan sang Thị trường Tài chánh, khiến cho Giá vay vốn (Lãi suất) tăng. Các Công ty sản xuất hạn hẹp lại việc vay vốn đầu tư hay tái đầu tư. Đây là ảnh hưởng lan sang Thị trường Hàng hóa Tiêu thụ. Khi giảm đầu tư để sản xuất, thì lượng hàng hóa rút xuống. CUNG yếu hơn CẦU và hậu quả là Giá cả hàng hóa cao lên. Khắp thế giới, tăng vật giá, nhất là những nhu yếu phẩm, đồ ăn. Thêm vào việc tăng giá này là việc tăng giá dầu lửa. Vật giá tăng, nhất là nhu yếu phẩm, thì khả năng mua hàng của dân chúng với đồng lương không tăng theo kịp, tất nhiên yếu kém đi. Thêm vào đó, khi giảm sản xuất, thì một số nhân công bị sa thải.

Ngay từ cuối năm 2007, các nhà Kinh tế đã báo động về tầm ảnh hưởng này cho Kinh tế chung. Người ta có những yếu tố để kết luận rằng tối thiểu từ năm 2008, Kinh tế Hoa kỳ, Aâu châu và những nước bắt đầu phát triển có những Suy thoái (Recession)

Các nước nhìn xem Hoa kỳ có những Biện pháp nào để chống lại hoặc tránh tình trạng Suy thoái Kinh tế này.

Trong tình trạng cấp bách của nghỉ cuối tuần, Tổng Thống Bush chỉ có thể cho thấy sơ sơ về những Biện pháp gọi là Stimulus nhằm nâng đỡ phía Dân tiêu thụ (CẦU) tăng cao như kích thích cho phía Sản xuất tăng CUNG. Biện pháp Stimulus về CẦU này phải có thời gian để có thể tạo ảnh hưởng thực sự lên phía các Công ty để tăng sản xuất.

Nhưng các Thị trường Chứng khoán thì cấp bách và cho rằng những biện pháp Stimulus của Tổng Thống Bush không đủ sức để có thể tránh Suy thoái Kinh tế (Recession economique) mỗi ngày mỗi hiện ra rõ hơn. Cái nhìn như vậy đã làm Chỉ số các Thị trường Chứng khoán khắp nơi chìm xuống ngày 22 ĐEN (22 NOIR).

FED quyết định đánh thẳng vào Lãi suất (Interest Rate)

Để có thể ngăn chặn mau chóng Cơn Lốc đang làm chìm xuống các Thị trường Chứng khoán, FED (Federal Reserve) quyết định đánh thẳng vào Giá cả (Interest Rate) của Vốn bởi vì Thị trường Chứng khoán liên hệt trực tiếp với Thị trường Tài chánh (Vốn) này.

Xin nói tóm tắt về Thị trường Vốn (Marché de Capitaux). Cũng như bất cứ Thị trường, có CUNG và CẦU là những lực định cái GIÁ để trao đổi Vốn. Cái Giá Vốn được gọi là Lãi suất (Interest Rate). Khi số CUNG vốn mạnh hơn CẦU, thì Lãi suất có khuynh hướng giảm; khi số CẦU vốn mạnh hơn, thì Lãi suất có khuynh hướng tăng lên. Hiện tình lúc này của Thị trường Vốn  là thiếu phía CUNG vốn vì các Ngân Hàng và những Nhà Đầu tư đang bị lo sợ vì khủng hoảng của Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc nên dè dặt cho Vốn ra, nghĩa là mức độ CẦU vốn cao hơn CUNG, do đó Lãi suất có khuynh hương tăng cao lên.

Những Ngân Hàng Trung Ương có quyền can thiệp vào Thị trường về Lãi suất để có thể ảnh hưởng tới CUNG và CẦU vốn.

Chủ tịch Ben Bernanke của Federal Reserve FED đã quyết định ngày 22.01.2008 hạ Lãi suất chỉ đạo từ 4.25% xuống 3.5%, nghĩa là cắt đi một lần tới 0.75%. Đây là việc cắt Lãi suất mạnh nhất từ 25 năm nay.

Phản ứng tức khắc của các Thị trường chứng khoán Á châu ngày 23.01.2008 là các Chỉ số Thị trường tăng lên. Nhưng các Thị trường Chứng Khoán Aâu châu và Mỹ vẫn giữ ở độ giảm âm. Tại Á châu, Ngân Hàng Trung ương Hong Kong cũng giảm Lãi suất. Đồng thời những Vốn do Nhà Nước ảnh hưởng cũng cho Vốn vào Thị trường. Các Thị trường Chứng khoán Á châu tái hồi.

Thái độ của Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu và Ngân Hàng Anh

Như trên đã nói, trong ngày 23.01.2008, Chỉ số các Thị trường Chứng khoán Aâu châu vẫn giữ ở độ giảm âm. Lý do là Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu không coi việc xuống Chỉ số Chứng khoán là quan trọng. Oâng Chủ tịch Jean-Claude Trichet của Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu đã đặt trọng tâm vào vấn đề Lạm phát, vấn đề Suy thoái Kinh tế, vấn đề Khả năng tiêu thụ suy giảm hơn là vào thăng trầm chỉ số của các Thị trường Chứng khoán.

“Jean-Claude Trichet, ECB president, emphasised the priority that the bank attached to combating inflation and a belief that eurozone growth would remain robust...“ (Financial Times 24.01.2008) (Jean Claude Trichet, Chủ tịch của Ngân Hàng Trung ương Liên Aâu, đã nhấn mạnh đến ưu tiên việc chống lại lạm phát và tin tưởng vào việc làm độ tăng Kinh tế vùng Euro  được vững...). Theo Oâng, việc hạ Lãi suất có thể làm cho lạm phát càng tăng hơn vì dân chúng và các công ty có sẵn vốn, tiêu thụ mạnh hơn khiến lạm phát càng cao.

Đối với Ngân Hàng Quốc gia Anh (Bank of England), Mervyn King, Thống Đốc, cũng có nhiều những lo lắng về lạm phát, nên không sốt sắng cho lắm để theo Hoa kỳ cắt Lãi suất. “Mervyn King, the Bank’s Governor, suggests the latest volatility in the markets will not change the committee’s cautious approach to cutting rates.“(Financial Times 24.01.2008) (Mervyn King, Thống đốc Ngân Hàng Anh, gợi cho biết là những giao động gần đây nhất trên các Thị trường sẽ không thay đổi thái độ phân tích dè dặt trong việc cắt Lãi suất).

Viết đến đây, lúc 21 giờ ngày 24.01.2008, nhìn trên Đài CNBC, chúng tôi thấy những Chỉ số các Thị trường Chứng khoán từ Á châu, qua Aâu châu đến Mỹ, đã tái hồi, thậm chí có những Chỉ số còn lên cao hơn trước.


Ý kiến từ World Economic Forum Davos về
Khủng hoảng và tầm ảnh hưởng

Những nhân vật chủ chốt của nền Kinh tế, của những Tập đoàn Liên Quốc gia về Sản xuất, Đầu tư, và Thương mại vẫn còn ở trên vùng núi tuyết Davos Thụy sĩ vì ngày mai, 25.01.2005, Hội thảo mới chấm dứt. Chúng tôi nhìn thấy Algore, Tony Blair, Bill Gate, Kissinger, Soros, Condoleezza Rice, Hamid Karzai, ...

Nếu Cơn Lốc của ngày 22 ĐEN (22 NOIR) đã ngưng thổi làm cho 2500 người đến tham dự này đỡ có những lo lắng nhất thời về giao động các Thị trường Chứng khoán, thì những vấn đề then chốt vẫn còn đó đối với họ: Suy thoái Kinh tế (Economic Recession), Giảm độ tăng trưởng Kinh tế (Baisse du Taux de croissance), Lạm phát (Inflation), Tăng giá Thực phẩm (Augmentation du Prix des Produits alimentaires), Khả năng Tiêu thụ giảm (Baisse du Pouvoir d’Achat).

Đối với những nước bắt đầu phát triển mà việc xuất khẩu lệ thuộc vào các Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu, thì việc Khủng hoảng Tài chánh (Vốn)/ Kinh tế  của Hoa kỳ và Liên Aâu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc những nước bắt đầu phát triển này:

=> Cắt đi việc mua hàng từ những nước bắt đầu phát triển như Trung Cộng và Việt Nam chẳng hạn.

=> Không những Vốn đầu tư không tăng lên cho những nước bắt đầu phát triển này, mà có thể còn bị rút về Hoa kỳ và Liên Aâu để cứu lấy Kinh tế của nước họ.


Những vấn đề then chốt thuộc Kinh tế vừa nhắc ra mà những người tham dự World Economic Forum Davos còn quan tâm lo lắng sẽ là Chủ đề tiếp nối của chúng tôi, sau khi đã viết xong 12  Bài thuộc Chủ đề hiện hành.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






=========================
pho bien/ publication 21.01.2008
=========================



                                            HIỆP THÔNG ĐẤU TRANH
                                                    CHO CÔNG LÝ

 

CHÚ THÍCH (Nguyễn Phúc Liên):

Chúng tôi không gọi đây là Phong trào Đấu tranh cho CÔNG LÝ,  mà gọi là HIỆP THÔNG ĐÁU TRANH CHO CÔNG LÝ. Hai chữ Phong Trào (Mouvement) đôi lúc hàm ngụ một sự kéo theo mà cá nhân chưa hoàn toàn ý thức, thấu triệt. Hiệp Thông là một quyết định của từng cá nhân sau khi đã suy nghĩ, thấu triệt vần đề, nên tìm lại với nhau mà cùng tranh đấu.

Cái điểm chung mà mỗi cá nhân đã suy nghĩ kỹ đó là Xã Hội Việt Nam hiện nay có nhan nhản những BẤT CÔNG do chính những người cầm quyền chủ động gây ra. Chính lẽ những người cầm quyền phải có nhiệm vụ giữ gìn CÔNG LÝ để Xã Hội có trật tự, có HÒA BÌNH, thì chính những người đó lại xử dụng bạo lực để độc đoán tạo ra những BẤT CÔNG mà cụ thể là chiếm đoạt Nhà Đất của Dân, của các Tôn Giáo. Thậm chí còn vì để cố thủ giữ lấy quyền lực, họ đã bán Đất, Biển của Tổ Tiên để cầu sức mạnh ngoại lai che chở cho họ.

Mỗi cá nhân nhìn thấy rõ rệt việc mất CÔNG LÝ, nên tự HIỆP THÔNG với nhau trong nỗ lực đấu tranh cho CÔNG LÝ, nền tảng của Trật Tự Xã Hội, của HÒA BÌNH thực sự.


1. ĐGM Giuse Đặng Đức Ngân, Gm Lạng Sơn hiệp thông và ủng hộ ĐP Hà Nội 

"Con xin thay mặt toàn thể cộng đồng Dân Chúa Giáo phận Lạng Sơn ? Cao Bằng, xin bày tỏ tình hiệp thông với Đức Tổng, để cầu nguyện và đồng hành với Đức Tổng trước những nhu cầu chính đáng của Giáo phận Hà-Nội" 
 
2. Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ Hiệp Thông với Giáo Hội Việt Nam 

"Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ xin hoàn toàn hiệp thông, và kêu gọi mọi thành phần trong Liên Đoàn, cầu nguyện theo ý của HĐGM Việt Nam, đặc biệt của Đức TGM Ngô Quang Kiệt,..., mong sao việc giao hoàn Tòa Khâm Sứ sớm thành hiện thực" 
 
3. Giáo phận Bắc Ninh kêu gọi hiệp thông với giáo phận Hà Nội 

"Để hiệp thông với GP Hà Nội, chúng tôi xin toàn thể giáo phận làm tuần 7 ngày cầu nguyện cho GP Hà Nội: xin Chúa nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria rất thánh hướng dẫn và soi sáng để các nhà hữu trách sớm giải quyết hợp lý và công bằng vụ việc" 
 
4. Đức Cha Vũ Văn Thiên, GM Hải Phòng, lên tiếng ủng hộ Địa Phận Hà Nội 

"Gần một tháng đã trôi qua, những bức xúc của GP Hànội liên quan đến việc đề nghị trao trả TKS và đất đai tại Gx Thái Hà vẫn chưa được giải quyết. Một lần nữa, mọi thành phần Dân Chúa GP Hải Phòng bày tỏ sự ủng hộ những nhu cầu chính đáng của Đức Tổng.." 
 
5. Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế ủng hộ Đức Tổng Giám Mục Hà Nội 

"Thay mặt cho toàn thể Linh mục tu sĩ DCCT thuộc Tỉnh Dòng VN, chúng con xin bày tỏ lòng hiệp thông với Đức Cha và toàn thể Giáo Phận trong công cuộc cầu nguyện để bảo vệ công bằng và chân lý" 
 
6. Cha Giuse Cao Đình Trị , Giám Tỉnh DCCT VN 

"Chúng tôi, toàn thể tu sĩ thuộc Tỉnh Dòng đang cùng với anh chị em, bên cạnh anh chị em thắp sáng ngọn nến công lý và hiệp lời nguyện xin sự công bằng trên đất nước thân yêu của chúng ta" 
 
7. Đức Giám mục Nguyễn Văn Hòa lên tiếng ủng hộ TGP Hà Nội 

"Các thành phần Dân Chúa Giáo phận Ban Mê Thuột xin hiệp thông với nguyện vọng chính đáng của Tổng Giáo phận Hà Nội yêu cầu Chính quyền trả lại Toà Khâm sứ cho Tổng Giáo phận và Giáo Hội Việt Nam, để đáp ứng các nhu cầu của Giáo Hộị" 
 
8. ĐC FX. Nguyễn Văn Sang, GM Thái Bình: 

"Xin hoàn toàn ủng hộ và hợp nhất với Đức Tổng Giám Mục, các Đấng Bậc và anh chị em giáo dân trong giáo phận Hà Nội, đã cùng cầu nguyện với nhau để đạt được ý định về đất đai đã cho Tòa Khâm Sứ mượn trước đây"  
 
9. Cộng Đồng Công Giáo VN Miền Đông Nam Hoa kỳ:
 
“Tích cực yểm trợ các đòi hỏi của Tòa Tổng Giám Mục Hanoi, Saigon, Huế, xứ Thái Hà thuộc dòng Chúa Cứu thế Hanội về việc yêu cầu nhà nước trả lại các cơ sở và tài sản của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Yêu cầu nhà nước từ địa phương tới trung ương phải nghiêm chỉnh tôn trọng luật pháp quốc gia, chủ động giải quyết một cách công bằng và hợp lý, trả lại đất đai, tài sản của người dân đã bị chiếm đoạt bất công cũng như các cơ sở, tài sản của Giáo Hội công giáo đã bị tịch thu hoặc chiếm mươn. Tích cực cùng toàn dân đẩy mạnh công cuộc tranh đấu bảo toàn hải phận và đất đai của nước Việt Nam.“    

10. Nhóm Linh mục NGUYỄN KIM ĐIỀN hết lòng hiệp thông:
 
“Trước hết, chúng con chân thành hiệp thông với Đức Tổng Giám mục cùng toàn thể Dân Chúa tại Tổng Giáo phận Hà Nội, đặc biệt tại Giáo xứ Chánh tòa, Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Hà Đông. Chúng con cũng hoàn toàn nhất trí với Cha Quản xứ và giáo dân Giáo xứ Thái Hà lẫn Giáo xứ Hà Đông trong việc bày tỏ sự phản kháng hành vi xâm chiếm tài sản Giáo xứ bằng cách liên tục cầu nguyện, đặt tượng và dựng lều quanh khu vực bị cưỡng đoạt. Việc các Giáo hội và các Giáo phận đòi đất cho đạo, việc các thị dân và nông dân đòi đất cho nhà không thể không gợi nhớ việc toàn dân và xã hội đòi đất cho nước đang bị mất vào tay Trung Quốc“  
  
   
 


TGM NGÔ QUANG KIỆT PHẢN BÁC
CÔNG VĂN UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI
 

Tổng Giám Mục Hà Nội Phản Bác Công Văn UBND Thành Phố Hà Nội 
 
 
(Hà Nôi-VNN) Sau khi nhận được công văn ngày 11-1 của Ủy Ban Nhân Dân CSVN thành phố Hà Nội, do Phó chủ tịch Ngô Thị Thanh Hằng ký gửi chủ tịch HĐGMVN và TGM Hà Nội, hôm 14-1, TGM Hà Nội đã có thư phúc đáp phản bác về sự thiên lệch trong lý luận và trong hành xử quyền hành phản ảnh qua công văn này. Nguyên văn thư phản bác của Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội về Công văn của UBND Tp Hà Nội như sau:  
 

                                     TÒA TỔNG GIÁM MỤC HÀ NỘI
                                           Số: 08-VP/TGM 003

                                   V/v. Phản bác Văn thư UBND/HN
                                        Ngày 14 tháng 01 năm 2008


Kính gửi: Bà Ngô thị Thanh Hằng 
Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà nội 

Nhận được văn thư số 273/UBNĐVX ký ngày 11-01-2008, chúng tôi thực sự ngạc nhiên về sự thiên lệch trong lý luận và trong hành xử quyền hành. 

Các cơ quan chức năng đã thiên lệch khi lặng im trước lời khiếu nại của người bị vi pha.m. Từ nhiều năm nay Tòa Tổng Giám mục và Hội đồng Giám mục vẫn làm đơn xin lại khu đất Tòa Khâm Sứ. Như thế đó là đất đang tranh chấp. Không bên nào có quyền xây dựng, thay đổi hiện trạng khi chưa có phán quyết chính thức. Nhưng năm nay, Tòa Khâm Sứ đã liên tục bị vi phạm khi cơ quan tạm quản lý cho xây dựng hàng phở lên 2 tầng. Nếu cơ quan nào cấp phép xây dựng thì cơ quan đó làm saị Nếu không có phép lại càng sai trái hơn. Ngày 04-12-2007, Tòa Tổng Giám mục đã làm đơn yêu cầu giữ nguyên trạng khu đất. Nhưng không được Chính quyền cứu xét. Trái lại cơ quan tạm quản lý lại cho tháo rỡ mái và sàn khu nhà chính của Tòa Khâm Sứ. Tòa Giám mục cho người sang phản đối, không có kết quả. Ngày 13-12-2007, quản lý Tòa Tổng Giám mục đã ra văn thư khiếu nạị Vẫn không được cứu xét. Ngược lại cơ quan tạm quản lý tòa nhà còn cho mở bãi giữ xe trên sân từ trước đến nay vẫn được tôn tro.ng. Hành vi bất chấp dư luận lại được sự làm ngơ của các cơ quan chính quyền khiến người dân vô cùng bức xúc. Đó chính là lý do dẫn đến việc giáo dân đến cầu nguyện cho công lý tại Tòa Khâm Sứ. Lỗi đó là sự im lặng có thiên lệch của các cơ quan chức năng không bênh vực quyền lợi của ngư ;ời dân, dung túng cho những người vi pha.m. 

Các cơ quan chức năng đã thiên lệch khi bênh vực những người vi pha.m. Trường hợp nhà thờ Thái hà cũng thế. Từ hơn 10 năm nay Dòng Chúa Cứu Thế đã làm đơn xin lại khu đất trước kia của nhà dòng, bị công ty may Chiến Thắng bỏ không sử dụng từ lâụ Và cả hai bên đều không có động thái gì. Đột nhiên đầu năm 2008, có hàng rào thép gai, có nhân viên công an đến bảo vệ cho công ty may Chiến Thắng xây dư.ng. Giáo dân bức xúc phản đốị Chiều ngày 07-01-2007, Chính quyền đã đến trấn an giáo dân khi hứa sẽ ngừng mọi việc xây dựng tại đâỵ Thì như một gáo nước lạnh, sáng ngày 08-01-2008, Uy ban Nhân dân Thành phố Hà nội ra văn thư cho phép công ty may Chiến Thắng tiếp tục xây dư.ng. Người dân phẫn uất vì các cơ quan chức năng đã không giữ lờ i hứa lại còn bất chấp tình cảm người dân, ngang nhiên bênh vực những người vi phạm bằng một văn bản hẳn hoị Đó cũng là lý do khiến người giáo dân chẳng còn biết tin vào ai, chỉ còn biết cầu nguyê.n. 

Các cơ quan chức năng thiên lệch khi quy kết trách nhiệm cho một bên. Đã im lặng trước sự vi phạm của cơ quan tạm quản lý Tòa Khâm Sứ và ngang nhiên bênh vực sự vi phạm của công ty may Chiến Thắng, nay lại quy kết trách nhiệm cho giáo dân thì là một thiên lệch quá đáng. Không có lửa làm sao có khóị Không có oan ức thì đâu có bùng phát. Thực ra việc giáo dân cầu nguyện rất trang nghiêm không hề làm mất trật tư.. Không có hô hoán cũng không có một lời phản đối chính quyền hay một biểu ngữ. Chỉ là cầu nguyện thuần túỵ Cầu nguyện vì bị đối xử thiên lêch. 

Vì thế mong bà Phó Chủ tịch hãy xem xét kỹ lưỡng vấn đề để giải quyết rốt ráọ Những việc làm thiên lệch chỉ khiến người dân thêm bức xúc và mất niềm tin vào chính quyền. Đó chính là lý do dẫn đến tình trạng hiện tạị Muốn giải quyết vấn đề phải giải quyết từ gốc chứ không phải từ ngo.n. Gốc đó phải là sự công bằng. Chúng tôi không mong gì hơn là chính quyền công minh để người dân yên tâm sống an vui hạnh phúc. 

Trân trọng cám ơn và kính chào bà Phó Chủ tich. 
 
TM/TÒA TỔNG GIÁM MụC 
Chánh văn phòng 
(đã ký và đóng dấu) 
Lm. Gioan Lê trọng Cung  
 
Nơi nhận 
- Như kính gửi 
- Văn phòng Chính phủ 
- Ban Tôn giáo Chính phủ 
- Bộ CA 
- Ban Dân vận TƯ 
- MTTQ TƯ 
- Chủ tịch UBND TP 
- CA TP 
- UBND quận Hoàn Kiếm 
- Lưu VP 
Chánh VP Tòa TGM Hà Nội 



XỨ THÁI HÀ PHẢN BÁC
VĂN THƯ CỦA UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI
     

                                            Tổng Giáo Phận Hà Nội
                                                GIÁO XỨ THÁI HÀ

                                                    VT/02 BT-CX
                                                 Ngày 15.01.2008


                                             VĂN THƯ GIẢI TRÌNH
                           CÁC CÁO BUỘC ĐỐI VỚI GIÁO XỨ THÁI HÀ
              TRONG CÔNG VĂN SỐ 273/UBND-VX CỦA UBND TP HÀ NỘI
 

Kính gửi:
 
- Đức Giám Mục Đà Lạt, Chủ tịch HĐGMVN
- Đức Tống Giám Mục Hà Nội, Tổng thư ký HĐGMVN
- Đức Giám Mục Bùi Chu, Chủ tịch UB Tu Sĩ-HĐGM VN
- Cha Giám Tỉnh và Cha Phó Giám Tỉnh DCCT VN

Kính thưa quý Đức Cha và Quý Cha Giám Tỉnh

Ngày 12.01.2008, Giáo xứ Thái Hà chúng con nhận được công văn số 273/UBND-XV, (gọi tắt là CV 273), do bà Ngô Thị Thanh Hằng, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội ký ngày 11.01.2008.

Khi đọc CV 273 chúng con không thể hiểu được tại sao bà Ngô Thị Thanh Hằng, một Phó Chủ tịch phụ trách khối Văn hoá-Xã hội của một Hà Nội nghìn năm văn hiến mà lại cho ra đời một công văn với một thứ ngôn ngữ và nội dung có tính cách thiếu văn hoá, thiên lệch và quy chụp như công văn này.

Chúng con không bàn đến chuyện CV 273 quy chụp cho Đức Tổng Giám Mục đã gửi thư tới các giáo phận khác kêu gọi giáo sỹ và giáo dân của giáo phận khác tham gia việc đòi lại đất tại 42 phố Nhà Chung khi CV 273 viết rằng: “Ngài tổng giám mục đã gửi thư không chỉ“ mà còn cho gửi tới các giáo phận khác kêu gọi giáo sỹ và giáo dân tham gia việc đòi lại đất tại 42 phố Nhà Chung“ (tr.1). Vì một giám mục của giáo phận này mà gửi thư cho giáo phận khác đồng thời kêu gọi giáo sỹ, giáo dân giáo phận khác tham gia vào chuyện gì đó của giáo phận này là điều không được phép theo giáo luật. Chẳng có đức giám mục nào lại dám đi làm thế và cũng chẳng một đức giám mục nào lại chấp nhận cho giám mục khác xen vào giáo phận của mình như vậy.

Chúng con không bàn đến việc quy chụp Toà Tổng Giám Mục “phân phát tờ rơi với nội dung có tính chất xuyên tạc chính quyền” (tr.1). Một chuyện không hề có. Không hề có tờ rơi cho nên không hề có chuyện phân phát tờ rơi và vì thế cũng không hề có chuyện xuyên tạc chính quyền. Những đầu óc bình thường thì không bao giờ có thể nghĩ một Toà Tổng Giám Mục lại đi làm những việc này.

Chúng con không bàn đến sự kiện CV 273 có ý chia rẽ giữa Đức Tổng Giám Mục Hà Nội, Giáo xứ Thái Hà với Đức Cha Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, khi CV 273 có nơi nhận chính là “Ngài Nguyễn Văn Nhơn - Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam” (tr.1).

Chúng con không bàn tới sự kiện CV 273 gián tiếp cho rằng Hội đồng Giám mục Việt Nam vi phạm pháp luật và yêu cầu Hội đồng Giám mục Việt Nam chấp hành pháp luật và hợp tác với chính quyền – Một yêu cầu vượt quá thẩm quyền của một UBND cấp thành phố- khi CV 273 này viết: “Việc chấp hành pháp luật và sự hợp tác của Hội đồng giám mục Việt Nam, Toà Tổng giám mục Hà Nội, Giáo xứ Thái Hà với chính quyền sở tại sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành phố báo cáo với Chính phủ…”

Chúng con không bàn đến chuyện hài hước là mối quan tâm của UBND TP Hà Nội yêu cầu Giáo xứ chúng con thực hiện theo đúng quy định Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí, đặc biệt không tập trung đông người trong việc tổ chức khánh thành ngôi nhà mới của Giáo xứ-Tu viện chúng con mà CV 273 gọi là “nhà nguyện 7 tầng” - một cách dùng từ gọi tên chứng tỏ bà Phó Chủ tịch UBND TP phụ trách khối Văn hoá-Xã hội có trình độ hiểu biết và văn hoá cỡ nào!

Vì phần nhiều nội dung trong công văn này quy kết cho Giáo xứ Thái Hà chúng con những “vi phạm” này khác, cho nên chúng con thấy cần phải lên tiếng giải trình đồng thời bác bỏ những quy kết có chủ ý và vô căn cứ này đối với Giáo xứ chúng con.


I. VỀ NỘI DUNG QUY KẾT THỨ NHẤT

“Đối với Giáo xứ Thái Hà đã để xẩy ra vi phạm pháp luật về luật đấ t đai, trật tự xây dựng, giao thông công cộng: Giáo xứ Thái Hà đã huy động giáo dân tự ý lấn chiếm đất xây dựng nhà không phép trên đất hiện do Công ty Điện lực Hà Nội và Công ty cổ phần vật tư xi măng quản lý thuộc địa bàn phường Quang Trung; chưa xin phép chính quyền đã tự ý đục tường, xây cổng ra ngách 49 ngõ 64 Nguyễn Lương Bằng thuộc địa phận phường Ô Chợ Dừa.” (tr.1-2).

Vấn đề hiện tại ở Thái Hà trong hơn một tuần vừa qua đang liên quan đến Công ty CP May Chiến Thắng, chứ k hông liên quan đến Công ty Vật tư Xi măng và Công ty Điện lực. Vậy mà ở đây, bà Ngô Thị Thanh Hằng lại khơi dậy vụ tranh chấp giữa Giáo xứ với Công ty Vật tư Xi măng và Công ty Điện lực Hà Nội. Điều này khiến chúng con lấy làm khó hiểu và chúng con không thể không nghĩ rằng có một số người thiếu thiện chí đang cố tình làm phức tạp hoá thêm vấn đề diễn ra ở Thái Hà và khơi thêm bức xúc cho cộng đồng giáo dân trong Giáo xứ. Vì theo lẽ thông thường, trong hoàn cảnh tương tự, thì người có thiện chí, người cầm quyền trị nước khôn ngoan, sẽ là người biết khoanh vùng xứ lý vấn đề và xử lý dứt điểm từng sự việc, chứ không phải là người mở rộng và đào sâu vấn đề đang gây nóng bỏng.

Chúng con xin thưa với Quý Đức Cha và Quý Cha rằng chúng con không vi phạm pháp luật về đất đai, trật tự xây dựng và giao thông công cộng như CV273 quy kết. Chúng con xin giải trình để quý Đức Cha và Quý Cha chia sẻ và cầu nguyện cho chúng con:

Như quý Đức Cha và Quý Cha biết, Giáo xứ và Tu viện chúng con trước đây toạ lạc trên khu đất hơn 60.000 mét vuông và hiện nay chính thức chúng con chỉ còn được quản lý khoảng hơn 2700 m2 dùng làm nhà thờ, nhà xứ và tu viện cho khoảng một chục nghìn người đến sinh hoạt tôn giáo thường xuyên tại Giáo xứ chúng con. Trong khi đó Công ty Vật tư Xi măng và Công ty Điện lực lại chiếm dụng và mua bán trái phép phần đất gần 1500 m2 của Giáo xứ nằm ngay tại đầu nhà thờ. Từ 15 năm nay chúng con đã làm đơn yêu cầu hai công ty trả lại phần đất này, thế nhưng các cơ quan liên hệ đã không giải quyết cho Giáo xứ chúng con theo lẽ công bằng.

Trong khi đó hai cơ quan chiếm dụng lại để khu đất này thành chỗ buôn bán vật liệu xây dựng, gây cản trở giao thông ở nơi tập trung đông người là nhà thờ Giáo xứ chúng con. Hơn nữa, hai cơ quan này còn xúc phạm đến tình cảm tôn giáo của giáo dân xa gần khi bỏ hoang hoá ngôi nhà nguyện vốn có nằm trong khu đất trở thành nơi tập trung của các đối tượng nghiện ngập ma tuý và trộm cắp, giật dọc làm mất an ninh trật tự trong khu vực. Điều này nhân dân và chính quyền phường Quang Trung biết rõ.

Bức xúc trước hiện tượng trên đây, Giáo xứ đã quyết tâm dẹp ổ tệ nạn đang diễn ra trên phần đất bị chiếm dụng đồng thời sử dụng phần đất này làm bãi giữ xe cho tín hữu. Mặt khác Giáo xứ cũng sửa chữa ngôi nhà nguyện rách nát, gần sập nằm trong khu đất và mở một cửa thoát hiểm nhỏ-chứ không phải làm cổng đi lại ở phía sau- nhà nguyện và bãi giữ xe để đề phòng bất trắc, nhất là trong những ngày tập trung nhiều nghìn người. Tất cả những việc làm này đều có tính cách khẩn cấp hợp lý, hợp tình và phù hợp với đạo lý con người lại nằm trong khuôn khổ của pháp luật.

Ngày 19.12.2007, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ, Giám mục Phụ tá Bùi Chu, đã thay mặt Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Hà Nội, đến làm lễ thánh hiến nhà nguyện mới được đại tu vốn trước đây bị để rách nát và trở thành hang ổ tệ nạn, chấm dứt một giai đọan mất an ninh trật tự và an lòng nhân dân trong khu vực Giáo xứ.

Các ban ngành các cấp từ phường đến thành phố cũng đã chứng kiến những việc làm chính đáng, tốt đẹp và hợp lẽ công bằng trên đây của Giáo xứ chúng con, đồng thời không có một nhân viên nào của công ty Vật tư Xi măng và công ty Điện lực dám hiện diện để phản đối. Không một biên bản gọi là vi phạm nào được lập. Vậy mà giờ đây CV 273 lại đi kết án Giáo xứ chúng con thì chúng con lấy làm khó hiểu và thêm bức xúc.


II. VỀ NỘI DUNG QUY KẾT THỨ HAI

“(Giáo xứ Thái Hà) đã để một số giáo dân phá đổ tường rào bảo vệ, phá hoại tài sản của công ty cổ phần may Chiến Thắng vào đêm 5/1/2008. Từ ngày 6/1/2008 cho đến nay, Giáo xứ Thái Hà tiếp tục để cho giáo dân, giáo sỹ treo hàng chục ảnh Đức mẹ và thánh giá vào hàng rào bảo vệ của công ty cổ phần may Chiến Thắng, tụ tập đông người ngoài cơ sở thờ tự, gây mất trật tự giao thông công cộng...”.

1.Về quy kết “phá đổ tường rào bảo vệ, phá hoạt trài sản của công ty cổ phần may Chiến Thắng vào đêm 5/1/2008”

Giáo xứ Thái Hà chúng con luôn nỗ lực cố gắng bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý và công bằng xã hội theo chủ trương xây dựng một xã hội công bằng và văn minh của đất nước hiện nay. Chúng con hoàn toàn không có ý phá đổ tường rào và không phá hoại tài sản của cá nhân hay tập thể nào như Cv 273 cáo buộc.

Chúng con xin trình bày hoàn cảnh sự việc như sau: Chiều tối ngày 5/1/2008, trong khi các linh mục và giáo dân trong Giáo xứ sang Nhà Thờ Chính Toà Hà Nội tham dự thánh lễ và cầu nguyện ở Toà Khâm Sứ, thì ở nhà Công ty may Chiến Thắng đã cho xây dựng bức tường bao dày 20 cm trên mặt đường phía sau khu đất của Nhà thờ Thái Hà.

Khi các linh mục và giáo dân từ Nhà Thờ Chính Toà trở về thì phát hiện ra việc làm sai trái của Công ty Chiến Thắng, Giáo xứ đã gọi điện báo cho phường Quang Trung, đồng thời yêu cầu Công ty may Chiến Thắng chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật, phá vỡ cam kết giữ nguyên trạng giữa Giáo xứ với Công ty và chính quyền.

Tối chủ nhật 05.01.2008, lãnh đạo phường Quang Trung cũng đã đề nghị giáo dân ra về và cam kết với giáo dân rằng sẽ buộc Công ty Chiến Thắng chấm dứt việc xây dựng vi phạm này.

Tin tưởng vào những lời cam kết trên đây, linh mục và giáo dân trở về nhà.

Sáng chủ nhật 6/1/2008, trong khi các linh mục trong Giáo xứ chúng con hầu hết đi làm mục vụ và từ thiện ở tỉnh xa, thì ở nhà giáo dân lại nghe thấy tiếng xe cảnh sát náo loạn trong khu vực. Tò mò, một số giáo dân kéo ra xem có chuyện gì thì hoá ra Công ty may Chiến Thắng đang xây dựng tường bao với hàng rào thép gai bảo vệ bên ngoài trước sự hiện diện của công an, thanh tra xây dựng, dân phòng và cảnh sát 113 trang bị đầy đủ để tác chiến.

Giáo dân trong Giáo xứ lập tức xin chính quyền địa phương can thiệp nhằm ngăn chặn hành vi xây dựng trái phép của Công ty Chiến Thắng. Nhưng chính quyền địa phương không đáp ứng đề nghị của giáo dân trong Giáo xứ chúng con. Giáo dân chúng con thấy tỏ tường rằng các lực lượng này còn bảo vệ cho Công ty may Chiến Thắng xây tường rào.

Bức xúc trước sự kiện các cam kết hồi đầu tháng 12 và cam kết tối ngày 5/1/2008 đã không được thực hiện, bức xúc trước sự kiện một số cán bộ trong chính quyền dùng các cơ quan quyền lực để bảo vệ cho những hành động vi phạm pháp luật của công ty may Chiến Thắng, giữa buổi sáng ngày 06.01.2008, trước mặt đại diện chính quyền, công an và thanh tra xây dựng, giáo dân trong giáo xứ đã tự động bảo vệ quyền lợi của mình, bảo vệ pháp luật bằng cách ngăn chặn Công ty Chiến Thắng xây trộm một đoạn tường bao khoảng hơn chục mét.

Sự kiện trên đây xảy ra vào ban ngày, hình ảnh chụp được còn cho thấy cả ánh nắng vàng rất đẹp, chứ không phải xảy ra đêm 5/1/2008 như bà Phó Chủ tịch Ngô Thị Thanh Hằng mơ ngủ ghi trong CV 273.

Đấy là bối cảnh và các sự kiệ n xảy ra mà Giáo xứ chúng con xin trình bày lại để thấy rằng chúng con không “phá đổ tường rào bảo vệ, phá hoạt trài sản” như CV 273 quy
kết.

Chúng con cũng lấy làm khó hiểu và chúng con rất bức xúc khi thấy trong khi quy kết cho chúng con “vi phạm” đủ thứ này khác, thì CV 273 không đề cập gì đến những vi phạm có thật của Công ty may Chiến Thắng và những hành vi dung túng công ty này của một số cán bộ hành quyền.

2. “Giáo xứ Thái Hà tiếp tục để cho giáo dân, giáo sỹ treo hàng chục ảnh Đức mẹ và thánh giá vào hàng rào bảo vệ của công ty cổ phần may Chiến Thắng, tụ tập đông người ngoài cơ sở thờ tự, gây mất trật tự giao thông công cộng...”.

Về vấn đề này Giáo xứ chúng con xin thưa như sau: Thứ nhất khu nhà đất mà Công ty may Chiến Thắng đang chiếm dụng là khu nhà đất thuộc Giáo xứ Thái Hà chúng con. Giáo xứ chúng con có đủ bằng chứng thực tế và pháp lý về điều này. Giáo xứ chúng con chưa bao giờ hiến tặng, chưa bao giờ cho mượn đồng thời nhà nước cũng chưa bao giờ có quyết định trưng thu, trưng mua theo diện cải tạo xã hội chủ nghĩa khu nhà đất này của chúng con.

Từ gần 50 năm nay Xí nghiệp Dệt Thảm len tạm chiếm làm nơi sản xuất và từ hơn 10 năm nay Giáo xứ chúng con đang xin giao lại khu đất này để chúng con sử dụng vào mục đích thờ tự. Các đơn thư hầu như chỉ rơi vào im lặng hoặc nếu có trả lời thì cũng là phủ nhận quyền quản lý và sử dụng của Giáo xứ chúng con. Sự cố tình phủ nhận ấy còn thể hiện qua việc chuyển đổi chủ thể sử dụng từ Xí nghiệp Dệt Thảm len sang Công ty may Chiến Thắng mà không hề bàn thảo với Nhà thờ Thái Hà chúng con theo luật định. Trong khi đó, cơ quan chiếm dụng là Công ty may Chiến Thắng hiện nay lại có hành vi khiêu khích hòng chiếm mãi khu nhà đất của Giáo xứ của chúng con như: Đập phá nhà cửa, làm đường nội vi, san lấp mặt bằng khu đất.

Giáo xứ chúng con bây giờ chỉ còn biết trông cậy Chúa và Đức Mẹ và giáo dân chúng con đã phải mang ảnh thánh ra treo ở tường rào khu nhà đất của mình đang bị xâm chiếm cách bất hợp pháp để cầu nguyện cách ôn hoà và hợp pháp với nguyện ước cho công lý được tôn trọng và thực hiện.

Giáo xứ chúng con không cho rằng việc treo ảnh thánh và cầu nguyện như thế là bất hợp pháp như CV 273 quy kết dựa theo khoản 2 điều 11 trích dẫn trong Pháp lệnh Tín ngưỡng-Tôn giáo ban hành ngày 29.06.2004 của UBTV Quốc Hội và trong điều 26 Nghị định 22/2005/NĐ-CP ngày 01.03.2005 của Chính phủ.

Vì toàn bộ nội dung của Pháp lệnh Tôn giáo-Tín ngưỡng cũng như Nghị định 22 không hề cấm cản việc treo ảnh thánh hay đặt tượng đài ở khu vực nhà đất của mình. Còn vấn đề cầu nguyện thì ngay trong khoản 2, điều 11 Pháp lệnh Tín ngưỡng-Tôn giáo và điều 26 của Nghị định 22/2005/NĐ-CP mà CV 273 lấy làm cơ sở để kết tội chúng con-cũng chỉ nói trường hợp thực hiện lễ nghi tôn giáo, truyền đạo, giảng đạo ngoài phạm vi phụ trách, thì mới phải đăng ký. Trong khi đó, tại Giáo xứ Thái Hà, những ngày vừa qua chúng con chỉ cầu nguyện chứ không không hề cử hành bất kỳ một lễ nghi tôn giáo nào tại hiện trường. Chúng con cầu nguyện ngay bên lề đường giống như anh chị em giáo dân chúng con vẫn cầu nguyện bên Toà Khâm Sứ trong khuôn khổ của pháp luật. Xảy ra tình cảnh như vậy cũng chỉ là bất đắc dĩ vì chúng con không được cầu nguyện trong khu nhà đất của mình đang bị công ty Chiến Thắng tạm chiếm. Do đó, CV 273 coi việc giáo dân và giáo sĩ chúng con treo hàng chục ảnh Đức Mẹ và các thánh giá nhỏ trên hiện trường là vi phạm các qui định về tôn giáo cũng là một qui kết thiếu cơ sở thực tế và pháp lý.

Giáo dân trong Giáo xứ chúng con đồng tâm nhất trí cầu nguyện sốt sắng, rất có trật tự, có giờ giấc vào lúc 6 h sáng và 19 h là những thời điểm mà dường như con đường cụt chạy ven khu đất không có người qua lại. Chương trình và nội dung cầu nguyện được phổ biến rộng rãi, công khai và minh bạch. Số giáo dân canh thức ngày đêm tại hiện trường cũng rất ý tứ, họ quét dọn vệ sinh đường xá, họ trò chuyện vui vẻ với những người xung quanh đôi khi với cả các công an đang làm nhiệm vụ đến nỗi các nhân viên của công ty gần đó còn tranh thủ ra chia vui. Tóm lại là giáo dân Giáo xứ chúng con không làm mất an ninh trật tự hay cản trở giao thông. Điều này ai đến thị sát hiện trường cũng thấy. Ngay chính các cán bộ công an cao cấp của thành phố khi đến xem hiện trường cũng thấy điều này và họ cũng đã công nhận với chúng con và chúng con lấy làm tiếc rằng một số cán bộ của UBND đã không có tinh thần khách quan như một số cán bộ công an.

3. Về quy kết: “Gây bức xúc trong quần chúng nhân dân cũng như trong bà con giáo dân trên địa bàn” (tr.2).

Giáo xứ chúng con xin thưa rằng chúng con không gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Chúng con chưa thấy người dân nào phản đối việc cầu nguyện trong hoà bình và trật tự của chúng con. Trái lại nhiều người không phải giáo dân đã đến chia sẻ với chúng con, ủng hộ chúng con cách này cách khác. Có người còn chỉ nước cho chúng con mời các phóng viên báo chí đến đưa vụ tham nhũng đất thờ tự này lên các phương tiện truyền thông.

Còn chuyện CV 273 quy kết cho chúng con gây bức xúc trong bà con giáo dân thì thật đúng là lại một chuyện cười thế kỷ! Chúng con không thể bàn được quy kết này! Chúng con chỉ xin thưa rằng nguyên nhân gây bức xúc, theo như chúng con biết, bao gồm các yếu tố sau đây:

-    Một là các hành vi có tính cách khiêu khích của Công ty CP may Chiến Thắng, khi công ty này nhiều lần cố tình xây dựng trái phép trên đất thờ tự của Giáo xứ.
-    Hai là sự hiện diện của cảnh sát, công an, bảo vệ, dân phòng và các cán bộ khác tại hiện t rường, đặc biệt là một số cán bộ đã nặng lời chửi bới, đe doạ bỏ tù giáo dân đồng thời bảo vệ cho Công ty may Chiến Thắng xây dựng bên trong khu đất.
-    Ba là sự ứng xử có tính cách thiên lệch của UBND TP Hà Nội khi ra những văn bản thiếu nhất quán, có ý bao che cho công ty may Chiến Thắng. Đây chính là sự kiện thêm dầu vào lửa.

Để Quý Đức Cha và Quý Cha hiểu rõ hơn, chúng con xin trình bày vắn tắt quá trình này:

Tối ngày 07.01.2008 một phái đoàn do ông Phó Chủ tịch UBND Quận Đống Đa và một phái đoàn do ông Phó Giám đốc Công an Thành Phố Hà Nội đã vào gặp giáo dân và các linh mục ở nhà thờ Thái Hà, cả hai phái đoàn đều truyền đạt ý kiến của UBND TP rằng: “Công ty may Chiến Thắng sẽ không được làm cái gì nữa. Phải giữ nguyên hiện trạng khu nhà đất!”.

Vậy mà sáng sớm hôm sau, ngày 8/1/2008, Giáo xứ Thái Hà chúng con nhận được công văn 122/UBND-ĐC của UBND TP Hà Nội do ông phó chủ tịch Vũ Hồng Khanh ký ngày 08/1/2008, quyết định: “UBND Thành phố đã chỉ đạo Công ty Cổ phần May Chiến Thắng dừng toàn bộ việc thi công xây dựng mới và cải tạo lớn (trừ việc xây dựng tường rào bảo vệ)” . Như vậy hiển nhiên là UBND cho công ty Chiến Thắng được “xây dựng cũ và cải tạo nhỏ đồng thời được xây dựng tường rào bảo vệ”.

Tới ngày 10/1/2008, vì thấy giáo dân quyết tâm không cho Công ty May Chiến Thắng tiếp tục vi phạm pháp luật, UBND thành phố mới lại ra một công văn mới, số 219/UBND-ĐCNN, ngày 10/1/2008 do ông Phó Chánh văn phòng Đỗ Đình Hồng ký, yêu cầu “dừng việc xây dựng tường rào bảo vệ” .

Nội dung quyết định này bước đầu là điều đáng mừng với Giáo xứ. Tuy nhiên vấn đề là: Công văn 122/UBND-ĐCNN, cho phép Công ty Chiến Thắng xây dựng nhỏ và xây tường rào, thì người ký là ông Vũ Hồng Khanh, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội, còn công văn số 219/UBND-ĐCNN, huỷ việc cho công ty Chiến Thắng tiếp tục xây dựng, thì người ký lại là ông Đỗ Đình Hồng, Phó Chánh Văn phòng UBND TP.

Giữa hai công văn ấy, công văn nào có giá trị hơn về pháp lý ? Theo như chúng con biết: Về mặt pháp lý, trong cùng một vấn đề liên quan, thì nội dung công văn sau thay thế hoặc huỷ bỏ nội dung công văn trước. Như vậy quyết định của ông Phó Chánh Văn phòng UBND TP huỷ bỏ hay thay thế quyết định của ông Phó Chủ tịch UBND TP. Tuy nhiên, theo hệ cấp pháp lý, quyết định của Phó Chánh Văn phòng UBND có vượt qua được quyết định của Phó Chủ tịch UBND không? Nếu nội dung quyết định của cấp dưới đi ngược với nội dung quyết định của cấp trên thì có hiệu lực thi hành không? Nếu có thì ở Hà Nội trong việc hành quyền có chuyện ông Phó chánh Văn phòng lại “lớn” hơn ông Phó Chủ tịch sao? Bây giờ Giáo xứ chúng con phải tin ông Phó nào, Phó Chủ tịch hay Phó Chánh Văn phòng?

Từ những sự kiện trên đây, linh mục, tu sĩ và giáo dân trong Giáo xứ chúng con càng thêm thiếu tin tưởng và thêm bức xúc. Mấy ngày nay, khi chúng con nhận được CV 273 thì giáo dân trong Giáo xứ lại càng bức xúc hơn nữa. Cái cách hành xử sai lầm gây phẫn uất cho dân rồi lại đi đổ tội cho người dân thật chỉ làm cho tình hình thêm tệ hại.

Kính thưa Quý Đức Cha và Quý Cha

Trên đây là một số những giải trình của chúng con trước những điều kết án bất công và thiếu cơ sở của CV 273 nhằm vào Giáo xứ Thái Hà chúng con. Giáo xứ chúng con hy vọng còn nhiều cán bộ có thiện chí, sáng suốt và công tâm trong bộ máy chính quyền. Giáo xứ chúng con mong mỏi chính quyền các cấp trong vai trò là cha là mẹ của dân yêu cầu công ty Chiến Thắng trả lại nhà đất nội tự của Giáo xứ chúng con theo lẽ công bằng theo đúng tinh thần của cả nước thời mở cửa và hội nhập hiện nay là xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Chúng con xin quý Đức Cha và Quý Cha thương cầu nguyện cho chúng con và giúp đỡ chúng con.

Xin Chúa cho Quý Đức Cha và Quý Cha đ ;ược mạnh khoẻ và bình an.

Đại diện các linh mục và giáo dân Giáo xứ Thái Hà

Linh mục Giuse Trịnh Ngọc Hiên

Bề trên-Chính xứ
LM. Giuse Trịnh Ngọc Hiên 








=========================
pho bien/ publication 17.01.2008
=========================



HÃY HẾT LÒNG HIỆP THÔNG HỖ TRỢ
VIỆC ĐÒI CÔNG LÝ Ở QUỐC NỘI

Nguyễn Phúc Liên


Theo những thông tin mới nhất:

=> CSVN dường như không thể hoặc không muốn giải quyết những Nhà Đất đã lấy của Dân chúng hoặc của Tôn giáo. Họ đã dùng sức mạnh để đàn áp Dân Oan khiếu kiện và đòi CÔNG LÝ phải được sáng tỏ.

=> Đối với việc đòi hỏi CÔNG LÝ cho Nhà Đất Tòa Khâm Sứ (thuộc sở hữu của Tòa Giám Mục Hà Nội) cũng như cho Khu Đất thuộc xứ Thái Hà, CSVN cũng mập mờ hoặc không muốn trả hoặc không thể trả lại được.

=> Uûy Ban Nhân Dân Thành phố Hà Nội ngày 11.01.2008 gửi một Văn Thư, ký bởi Bà Ngô Thị Thanh Hằng (Phó Chủ tịch) cho Tòa Giám Mục Hà Nội, với những lời lẽ ngang ngược. Tòa Giám Mục Hà Nội ngày 14.01.2008 đã phản bác lại với những lời lẽ rất cứng lý.

=> Đức Giám Mục NGUYỄN VĂN SANG và Đức Giám Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam hiện diện ở Hà Nội cho thấy rằng CSVN đang muốn nhờ một môi giới thân với mình để ảnh hưởng lên cuộc đòi CÔNG LÝ. Nhưng CSVN đã không hiểu rằng mỗi Giám Mục là độc lập trong Giáo phận của mình. Không thể có ảnh hưởng quyền lực từ những Giám mục thuộc Giáo phận khác.

=> Nếu những Khu Đất ấy đã bị bán đi và các quan chức CSVN chia nhau bỏ túi rồi, thì việc trả lại Nhà Đất sẽ trở thành rất khó khăn.

=> Trong sự khó khăn ấy, CSVN sẽ trở thành cối chầy, bầy ra những mưu kế bất chính, vu khống những điều không có để có thể xử dụng sức mạnh khủng bố cuộc đòi CÔNG LÝ chính đáng này. Hãy nhớ rằng chúng là con cái ma quỷ với miệng lưỡi rắn độc.

=> Chúng vừa mới nêu ra vấn đề an ninh như cho thấy cái cớ để chúng có thể bịa đặt ra những lý do hiểm độc vô lý và xử dụng những biện pháp khủng bố bất nhân. Vấn đề an ninh ở đây chỉ là vấn đề lo bảo vệ an toàn cho quyền lực của đảng, chứ không phải là vấn đề an ninh xã hội, bảo vệ dân chúng.

HÃY NHIỆT LIỆT HIỆP THÔNG HỖ TRỢ CHO CUỘC ĐẤU TRANH TẠI QUỐC NỘI.

Nguyễn phúc Liên





                                         YỂM TRỢ HIỆP THÔNG
                                        VỚI GIÁO HÔI VIỆT NAM


          CỦA  CỘNG ĐỒNG CÔNG GIÁO VIỆT NAM MIỀN ĐÔNG NAM HOA KỲ.
                              __________________________________
 
 
I- NHẬN ĐỊNH: Trong thời gian gần đây
 
1-     Đồng bào, thanh niên sinh viên Việt Nam ở trong nước và hải ngoại rầm rộ tuần  hành biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lăng, chính thức sát nhập hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào lãnh thổ Trung Quốc
 
2-     Đồng bào công giáo tổng giáo phận Ha nội và xứ Thái Hà, dòng Chúa Cứu Thế Ha nội tuần hành cầu nguyện yêu cầu nhà nước trả lại Tòa Khâm Xứ, tài sản của xứ Thái Hà và các cơ sở,  đất đai của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.
 
3-     Đồng bào toàn quốc biểu tình tại Ha nội và Sai gòn yêu cầu nhà nước trả lại tài sản của dân đã bị nhà nước chiếm đoạt bất công.
 
4-     Đây là những yêu cầu chính đáng, hợp lý và hợp pháp một cách hòa bình của người dân, đặc biệt và cụ thể về việc đòi giải quyết trả lại nhà đất cho người dân cũng như các cơ sở tôn giáo mà chính phủ đã ban hành, như mấy điều đã được minh thị sau đây:
    
4.1 - Điều 70 Hiến Pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, năm 1992 khẳng định: “Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được nhà nước bảo hộ”.
    
4.2 - Hướng dẫn số 500 HD/TGCP ngày 4-12-1993 của Ban Tôn Giáo Chính Phủ về việc chỉ thị 379/TTg của Thủ tướng chính phủ về hoạt động tôn giáo nêu rõ: “Nơi thờ tự của các tôn giáo cho mượn có thời hạn nay đã hết hạn thì phải rẻa lại. Nếu còn nhu cầu sử dụng thì  phải thỏa thuận với Giáo Hội. Nếu chưa hết hạn mà sử dụng không đúng mục đích thì phải trả lại….Không để dân lấn chiếm nơi thờ tự. Ở những nơi do tồn tại của quá khứ, nơi thờ tự có dân đang ở thì chính quyền địa phương phải có kế hoạch giải tỏa trong một thời gian nhất định”
   
4.3 - Thông tư 01/1999/TT-TGCP ngày 16-6-1999 của Ban Tôn Giáo Chính Phủ hướng dẫn thực hiện một số điều trong Nghị Định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19-4-1999 của Chính Phủ về các hoạt động tôn giáo, nhấn mạnh: “Không để cơ sở thờ tự bị lấn chiếm. Nhà nước bảo hộ cơ sở thờ tự tôn giáo”.
  
4.4 - Điều 26 Pháp Lệnh Tín Ngưỡng Tôn Giáo, ngày 18-6-2004 ghi rõ ràng: “Tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ, nghiêm cấm việc xâm phạm tài sản đó”.

 

II- CỘNG ĐỒNG CÔNG GIÁO VIỆT NAM, MIỀN ĐÔNG NAM HOA KỲ
     ĐỒNG THANH YỂM TRỢ CẦU NGUYỆN CHO QUỐC THÁI DÂN AN.

 
1-     Tích cực cùng toàn dân đẩy mạnh công cuộc tranh đấu đòi Trung Quốc phải trả lại hai quần đảo Hoàng Sa,Trường Sa, hải phận và đất đai của nước Việt Nam.

2-     Đòi hỏi chính quyền Việt Nam chính thức lên tiếng với quốc tế và người dân Việt yêu cầu Trung Quốc trả lại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lại choViệt Nam

3-     Tích cực yểm trợ các đòi hỏi của Tòa Tổng Giám Mục Hanoi, Saigon, Huế, xứ Thái Hà thuộc dòng Chúa Cứu thế Hanội về việc yêu cầu nhà nước trả lại các cơ sở và tài sản của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam…

4-     Yêu cầu nhà nước từ địa phương tới trung ương phải nghiêm chỉnh tôn trọng luật pháp quốc gia, chủ động giải quyết một cách công bằng và hợp lý, trả lại đất đai, tài sản của người dân đã bị chiếm đoạt bất công cũng như các cơ sở, tài sản của Giáo Hội công giáo đã bị tịch thu hoặc chiếm mượn.

5-     Chúng tôi tin rằng các quan chức nhà nước tại các địa phương cũng như trung ương phải nêu gương thực thi pháp luật và công lý công bằng triệt để với lòng quảng đại yêu thương và phục vụ người dân đúng tinh thần “Phụ Mẫu chi dân”. Tài sản của dân thì phải hoàn trả lại cho dân. Tài sản của của Tôn giáo thì phải trả lại cho Tôn giáo. Như vậy mới đúng nghĩa “công bằng” của một Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa “văn minh và tiến bộ”.

6-      Trong khi chờ đợi nhà nước có những giải quyết tích cực tốt đẹp nhất, Cộng đồng Công Giáo Việt Nam miền Đông Nam Hoa Kỳ tiếp tục cùng đồng bào trong nước và hải ngoại, đặc biệt Tổng Giáo Phận Hanội tiếp tục hiệp thông cầu nguyện, xin Thiên Chúa là cha nhân từ và công bằng vô cùng giúp cho những đòi hỏi chính đáng của người dân oan và của Giáo Hội được thõa mãn. “….….cái gì của Thiên Chúa phải trả lại cho Thiên Chúa”.

7-      Để cụ thể hóa mỗi người công giáo Việt Nam tai miền Đông Nam Hoa Kỳ hiệp thộng cầu nguyện mỗi cuối tuần hoặc cá nhân / gia đình hoặc cộng đoàn, đọc 5 kinh Lạy Cha, 5 kinh Kinh Mừng và Hát bài Kinh Hòa Bình của Thánh Phanxico với tâm tình cầu xin cho Quốc Thái Dân An, không còn cảnh “Người bóc lột Người”.
 
 
                                            Kinh Hòa Bình
 
                              Lạy Chúa từ nhân!
                              Xin cho con biết mến yêu
                              Và phụng sự Chúa trong mọi người.
                              Lạy Chúa xin hãy dùng con
                              Như khí cụ bình an của Chúa
                              Ðể con đem yêu thưong vào nơi oán thù,
                              Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục,
                              Ðem an hòa vào nơi tranh chấp,
                              Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm. 
                              Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan,
                              Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng
                              Ðể con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm
                              Ðem niềm vui đến chốn u sầu.
                             Lạy Chúa xin hãy dạy con:
                             Tìm an ủi người hơn đ ược người ủi an
                             Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết
                             Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu
                             Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh
                             Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân
                             Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ
                             Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời
                             Ôi Thần Linh thánh ái xin mở rộng lòng con
                             Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí
                             Ơn An Bình.
   
Kinh Hòa Bình của Thánh Phanxicô khó khăn, Linh Mục Kim Long phổ nhạc  nhạc sĩ Liên Bình Định hòa âm,
 
Làm tại Orange Park, Florida ngày  15 tháng 1 năm 2008

TM/ Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Miền Đông Nam Hoa Kỳ

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, CT/CĐGD




 

TGM NGÔ QUANG KIỆT PHẢN BÁC
CÔNG VĂN UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Tổng Giám Mục Hà Nội Phản Bác Công Văn UBND Thành Phố Hà Nội
 
(Hà Nôi-VNN) Sau khi nhận được công văn ngày 11-1 của Ủy Ban Nhân Dân CSVN thành phố Hà Nội, do Phó chủ tịch Ngô Thị Thanh Hằng ký gửi chủ tịch HĐGMVN và TGM Hà Nội, hôm 14-1, TGM Hà Nội đã có thư phúc đáp phản bác về sự thiên lệch trong lý luận và trong hành xử quyền hành phản ảnh qua công văn này. Nguyên văn thư phản bác của Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội về Công văn của UBND Tp Hà Nội như sau:
 
TÒA TỔNG GIÁM MỤ HÀ NỘI
Số: 08-VP/TGM 003

V/v. Phản bác Văn thư UBND/HN
Ngày 14 tháng 01 năm 2008

Kính gửi: Bà Ngô thị Thanh Hằng
Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà nội

Nhận được văn thư số 273/UBNĐVX ký ngày 11-01-2008, chúng tôi thực sự ngạc nhiên về sự thiên lệch trong lý luận và trong hành xử quyền hành.

Các cơ quan chức năng đã thiên lệch khi lặng im trước lời khiếu nại của người bị vi phạm. Từ nhiều năm nay Tòa Tổng Giám mục và Hội đồng Giám mục vẫn làm đơn xin lại khu đất Tòa Khâm Sứ. Như thế đó là đất đang tranh chấp. Không bên nào có quyền xây dựng, thay đổi hiện trạng khi chưa có phán quyết chính thức. Nhưng năm nay, Tòa Khâm Sứ đã liên tục bị vi phạm khi cơ quan tạm quản lý cho xây dựng hàng phở lên 2 tầng. Nếu cơ quan nào cấp phép xây dựng thì cơ quan đó làm saị Nếu không có phép lại càng sai trái hơn. Ngày 04-12-2007, Tòa Tổng Giám mục đã làm đơn yêu cầu giữ nguyên trạng khu đất. Nhưng không được Chính quyền cứu xét. Trái lại cơ quan tạm quản lý lại cho tháo rỡ mái và sàn khu nhà chính của Tòa Khâm Sứ. Tòa Giám mục cho người sang phản đối, không có kết quả. Ngày 13-12-2007, quản lý Tòa Tổng Giám mục đã ra văn thư khiếu nạị Vẫn không được cứu xét. Ngược lại cơ quan tạm quản lý tòa nhà còn cho mở bãi giữ xe trên sân từ trước đến nay vẫn được tôn tro.ng. Hành vi bất chấp dư luận lại được sự làm ngơ của các cơ quan chính quyền khiến người dân vô cùng bức xúc. Đó chính là lý do dẫn đến việc giáo dân đến cầu nguyện cho công lý tại Tòa Khâm Sứ. Lỗi đó là sự im lặng có thiên lệch của các cơ quan chức năng không bênh vực quyền lợi của ngư ;ời dân, dung túng cho những người vi phạm.

Các cơ quan chức năng đã thiên lệch khi bênh vực những người vi phạm. Trường hợp nhà thờ Thái hà cũng thế. Từ hơn 10 năm nay Dòng Chúa Cứu Thế đã làm đơn xin lại khu đất trước kia của nhà dòng, bị công ty may Chiến Thắng bỏ không sử dụng từ lâụ Và cả hai bên đều không có động thái gì. Đột nhiên đầu năm 2008, có hàng rào thép gai, có nhân viên công an đến bảo vệ cho công ty may Chiến Thắng xây dư.ng. Giáo dân bức xúc phản đốị Chiều ngày 07-01-2007, Chính quyền đã đến trấn an giáo dân khi hứa sẽ ngừng mọi việc xây dựng tại đâỵ Thì như một gáo nước lạnh, sáng ngày 08-01-2008, Uy ban Nhân dân Thành phố Hà nội ra văn thư cho phép công ty may Chiến Thắng tiếp tục xây dư.ng. Người dân phẫn uất vì các cơ quan chức năng đã không giữ lờ i hứa lại còn bất chấp tình cảm người dân, ngang nhiên bênh vực những người vi phạm bằng một văn bản hẳn hoị Đó cũng là lý do khiến người giáo dân chẳng còn biết tin vào ai, chỉ còn biết cầu nguyện.

Các cơ quan chức năng thiên lệch khi quy kết trách nhiệm cho một bên. Đã im lặng trước sự vi phạm của cơ quan tạm quản lý Tòa Khâm Sứ và ngang nhiên bênh vực sự vi phạm của công ty may Chiến Thắng, nay lại quy kết trách nhiệm cho giáo dân thì là một thiên lệch quá đáng. Không có lửa làm sao có khóị Không có oan ức thì đâu có bùng phát. Thực ra việc giáo dân cầu nguyện rất trang nghiêm không hề làm mất trật tư.. Không có hô hoán cũng không có một lời phản đối chính quyền hay một biểu ngữ. Chỉ là cầu nguyện thuần túỵ Cầu nguyện vì bị đối xử thiên lêch.

Vì thế mong bà Phó Chủ tịch hãy xem xét kỹ lưỡng vấn đề để giải quyết rốt ráọ Những việc làm thiên lệch chỉ khiến người dân thêm bức xúc và mất niềm tin vào chính quyền. Đó chính là lý do dẫn đến tình trạng hiện tạị Muốn giải quyết vấn đề phải giải quyết từ gốc chứ không phải từ ngọn. Gốc đó phải là sự công bằng. Chúng tôi không mong gì hơn là chính quyền công minh để người dân yên tâm sống an vui hạnh phúc.

Trân trọng cám ơn và kính chào bà Phó Chủ tich.

TM/TÒA TỔNG GIÁM MụC
Chánh văn phòng
(đã ký và đóng dấu)
Lm. Gioan Lê trọng Cung
 
Nơi nhận
- Như kính gửi
- Văn phòng Chính phủ
- Ban Tôn giáo Chính phủ
- Bộ CA
- Ban Dân vận TƯ
- MTTQ TƯ
- Chủ tịch UBND TP
- CA TP
- UBND quận Hoàn Kiếm
- Lưu VP
Chánh VP Tòa TGM Hà Nội






=========================
pho bien/ publication 16.01.2008
=========================



                    CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH

                                                            Bài 8:

                                                   CẮT NGHĨA VIỆC
                                   TĂNG VẬT GIÁ VÀ LẠM PHÁT TIỀN TỆ


                               Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Đây là bài thứ tám trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ tám này mang đầu đề là LÝ DO TĂNG VẬT GIÁ VÀ LẠM PHÁT TIỀN TỆ. Tóm tắt nội dung bài này vừa được nói trên RFI (Radio France Internationale) hôm nay 16.01.2008 để truyền thanh về Việt Nam)

Trong Bài thứ bẩy tuần trước, chúng tôi mới trình bầy tình trạng tăng vật giá mà chưa cắt nghĩa chi tiết những lý do làm tăng vật giá, nhất là những nhu yếu phẩm. Việc tăng vật giá không phải chỉ ở những nước bắt đầu phát triển như Nam Phi, Iran, Nga, Trung quốc và Việt Nam, mà còn tại những nước đã kỹ nghệ hóa như Hoa Kỳ và Liên Aâu. Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu có ảnh hưởng tới những nước bắt đầu phát triển.

Chúng tôi đề cập tới những điểm sau đây:

=> Lý do tăng vật giá tại Hoa kỳ và Liên Âu 
=> Lý do tăng vật giá tại những nước bắt đầu phát triển
=> Cắt nghĩa việc tăng vật giá và hiện tình Kinh tế Việt Nam


Lý do tăng vật giá
tại Hoa kỳ và Liên Aâu

Việc tăng vật giá tại Hoa kỳ và Liên Aâu và hậu quả Kinh tế có lý do gần nhất là cuộc Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc (Sub-Prime Mortgage Market)  bắt đầu xẩy ra từ tháng 8/2007.

Sự việc xẩy ra tại Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc như sau: những Ngân Hàng, từ những món nợ nhà cửa bấp bênh, bỏ chung làm thành những sản phẩm cho Thị trường chứng khoán để kêu vốn, buôn đi bán lại. Những món nợ sub-prime (rởm) không trả được nợ. Điều đó làm mất giá sản phẩm tín dụng địa ốc ở Thị trường. Khủng hoảng bắt đầu. Thiệt hại: nhiều ngân hàng mất tiền: tỉ dụ Citigroup tới 15 tỉ, UBS 17 tỉ. Những ngân hàng Trung ương phải tung vốn cho Thị trường: 17 tỉ ở Mỹ, 130 tỉ ở Liên Âu. Một số nhà Kinh tế ước lượng thiệt hại tổng quát tới 1000 tỉ. Theo báo Tribune de Geneve ngày 8.01.2008, Công ty Địa ốc Tây Ban Nha nợ tới 9 tỉ đola và sắp phá sản

Từ thị trường Tín dụng rởm địa ốc lan sang Thị trường Tài chánh (Vốn). Các nhà đầu tư và các Ngân Hàng trở thành hết sức dè dặt trong việc bỏ vốn vào Thị trường. Hậu quả trực tiếp của việc khan hiếm vốn là giảm Cung của Thị trường vốn. Giảm Cung thì thì Lãi suất tăng, nghĩa là cái Giá phải trả cho vốn lên cao khiến nền Kinh tế sản xuất không dám lấy vốn để đầu tư. Từ đó lượng hàng sản xuất kém xuống và số người thất nghiệp tăng hoặc tối thiểu lương công nhân khó tăng theo thời giá.

Từ Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc, chúng ta sang Thị trường Vốn và từ Thị trường này, ảnh hưởng lan sang Thị trường Tiêu thụ Hàng hóa. Thực vậy, khi lượng sản xuất Hàng hóa giảm, thì phía Cung giảm trong khi ấy phía Cầu Hàng hóa vẫn giữ mức đều đều trước đây, nhất là nhu yếu phẩm, nên vật giá phải tăng vì khan hiếm Hàng Hóa.

Tại Hoa kỳ và Liên Aâu, những nhà Kinh tế ước tính việc tăng vật giá lên tới 3% cho năm 2008.  Hậu quả tăng vật giá này sẽ làm thiếu hụt khả năng tiêu thụ của Dân chúng và do đó, đà phát triển Kinh tế (Taux de croissance) có thể giảm hoặc có thể xẩy ra việc đình trệ Kinh kế (Récession économique).


Lý do tăng vật giá
tại những nước bắt đầu phát triển

Được kể là những nước bắt đầu phát triển những quốc gia sau đây: Nam Phi, Iran, Nga, Trung quốc, Việt Nam

Những điểm chung của những nước này như sau: Độ phát triển Kinh tế (Taux de croissance) cao từ 8-12% mỗi năm. Nhưng vật giá tăng song hành hoặc cao hơn Độ phát triển Kinh tế, nhất là cho những nhu yếu phẩm

Việc tăng vật giá tại những nước này được cắt nghĩa bằng những lý do sau đây:

* Lý do thứ nhất thuộc về tâm lý tiêu thụ. Vừa thoát khỏi cảnh nghèo khổ, Dân chúng có khuynh hướng tiêu thụ trị giá cao hơn số thu nhập vì trước đây họ đã không được tiêu thụ và vì họ muốn theo kịp mức sống với thời đại. Người dân lấy tín dụng (lương tương lai) để tiêu thụ cho hiện tại.

* Lý do thứ hai để cắt nghĩa, đó là hướng sản xuất Kinh tế. Những nước bắt đầu phát triển không chú trọng đến việc sản xuất những nhu yếu phẩm cho nội địa mà hướng sản xuất vào những hàng công nghệ và vào khai thác nguyên vật liệu thô xuất cảng ra Thị trường nước ngoài. Lý do này cắt nghĩa việc tăng giá chính yếu vào những nhu yếu phẩm, nhất là đồ ăn.

* Lý do thứ ba thuộc về việc tăng giá năng lượng xử dụng cho sản xuất. Ơû thời Máy Hơi Nước (Machine à Vapeur), người ta dùng than đá làm năng lượng. Nhưng ở thời đại này, năng lượng chính yếu là Dầu Lửa. Hệ thống sản xuất ngày nay được cơ khí hóa, nghĩa là năng lượng dầu lửa trở thành yếu tố cấu tạo giá thành quan trọng cho Hàng hóa. Việc tăng vọt giá Dầu lửa là yếu tố làm tăng giá hàng hóa hay những dịch vụ.

* Lý do thứ tư thuộc về lãnh vực vốn dài hạn xử dụng vào xây cất địa ốc hay hạ tầng cơ sở Kinh tế. Thực vậy, với số thu nhập do công nghệ sản xuất những hàng tiêu thụ hàng ngày và ngắn hạn, những nước bắt đầu phát triển không thể đủ vốn để xây cất địa ốc hoặc hạ tầng cơ sở sản xuất dài hạn. Những Lãnh đạo Chính trị tại những nước này lại có khuynh hướng xây cất địa ốc đồ sộ để làm vẻ vang cho chế độ của mình. Trong tình trạng ấy, những nhà Lãnh đạo Chính trị đã tìm cách dễ dàng hơn cả mà chính Dân chúng không lưu ý đến, đó là xử dụng số ước tính thu nhập tương lai bấp bênh để tài trợ cho việc xây cất địa ốc và hạ tầng cơ sở Kinh tế. Quyền lực Chính trị xen vào quyền lực Tiền tệ bằng lạm phát tiền. Số tiền lạm phát lưu hành này chỉ được bảo đảm bởi tương lai và pha trộn với lượng tiền đang lưu hành để làm mất giá đồng tiền trong nước. Khi khả năng sản xuất hiện tại không đủ khả năng bảo đảm đồng tiền mới phát hành, thì việc tăng khối lượng tiền làm đồng tiền trong nước mất giá. Do đó việc tăng vật giá có lý do là việc mất giá đồng tiền.


Cắt nghĩa việc tăng vật giá
và hiện tình Kinh tế Việt Nam

Trong đoạn trên đây, Việt Nam được kể vào những nước bắt đầu phát triển, có cùng những lý do chung cho việc tăng vật giá. Tuy nhiên, chúng tôi thêm đoạn này cho Việt Nam vì đây là mối quan tâm cho mọi người chúng ta. Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến tình trạng phát triển Kinh tế song hành với việc tăng vật giá hơn là chỉ cắt nghĩa những lý do tăng vật giá mà chúng tôi đã viết ở đoạn trên. Việc ca tụng độ phát triển 8.5%, số thu nhập khổng lồ, đầu tư nước ngoài vào VN tăng vọt... có thực sự tượng trưng cho nền Kinh tế Việt Nam hay không ?

Những con số liên hệ đến vật giá tăng vọt và đến tình trạng Kinh tế được lấy từ những tài liệu từ Việt Nam.

1) Vật giá tăng vọt quá mức

Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH nói về lạm phát:

” Đặc biệt, lạm phát tăng đến 12,6%, trong đó lương thực thực phẩm tăng đến 21% đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống người nghèo. Dẫu có nhiều nguyên do nhưng phải nói đúng đấy là cái chúng ta làm kém trong năm 2007”.

“Năm 2008, lạm phát vẫn sẽ là vấn đề đáng lo ngại. Vì chúng ta có quá trình lạm phát ngày càng tăng trong những năm qua. Cộng với giảm thuế, nông dân không có chuẩn bị sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong năm 2008. Năm 2007, có thể thấy khu vực nông nghiệp, nông thôn bị tụt lại đằng sau. Người nông dân hiện phải đối mặt với nhiều rủi ro như thị trường, thời tiết, dịch bệnh nhưng không có sự bảo vệ, hỗ trợ nào tương xứng.”

Cựu Phó Thủ tướng VŨ KHOAN và báo chí VN nói về lạm phát:

“Chỉ số giá hàng tiêu thụ (CPI), giá cả thị trường, tăng 10% năm vừa rồi. Đây là mức lạm phát cao nhất từ năm 1996. Nếu tính CPI của 11 tháng đầu năm 2007 thì mức lạm phát là 9,5% _  cao nhất trong 10 năm vừa qua _  và dĩ nhiên là cao hơn 8,5% tăng trưởng của GDP. Mức lạm phát sẽ tiếp tục tăng vì chính phủ Việt Nam quyết định tăng giá dầu 15% (lên 13.000 đồng/lít từ cuối tháng 11, 2007). Theo tờ Tuổi Trẻ hôm 04/01/2008, chính phủ Việt Nam có thể sẽ tăng giá dầu 30% lên 17.000 đồng/lít vì hôm 03/01/2008, giá dầu đã vượt lên trên 100 USD/barrel (như giá dầu vào quý thứ 3 năm 1980 khi xảy ra chiến tranh Iran và Iraq).
 
Điểm tối nhất chính là chỉ số lạm phát, tức giá tiêu dùng tăng trên 12%, cao hơn tốc độ tăng trưởng. Chỉ số này làm bức tranh kém hẳn đi vì kinh tế tuy đi lên nhưng chất lượng sống đi xuống.”

2) Cán cân Thương Mại bị chênh lệch

Cũng chính Oâng VŨ KHOAN đã tuyên bố về việc lệch cán cân thương mại:

“Lệch cán cân thương mại _  Không giống như các nền kinh tế nghiêng về xuất cảng, Việt Nam đang bị lệch cán cân thương mại: trị giá hàng Việt Nam nhập cảng nhiều hơn xuất cảng. 11 tháng đầu năm vừa qua Việt Nam nhập cảng nhiền hơn xuất cảng đến 10,5 tỉ đô-la so với mức thua hụt năm 2006 là 5,1 tỉ USD; Mức lệch cán cân thương mại này cũng vượt quá ước tính của Bộ Thương mại và Công nghiệp là 10 tỉ USD.
 
Gần như hầu hết tiền dùng nhập cảng quá mức đều để chi cho dụng cụ, máy móc sản xuất và nguyên liệu; Một số người c ũng cho rằng "nguyên liệu" Việt Nam nhập cảng thật ra là hàng đã làm gần xong (semi-finished goods) vì thế sẽ không tăng được giá trị sản xuất.”

Khi cán cân thương mại cho thấy nhập lớn hơn xuất, thì đó là việc ngoại tệ chuyển ra nước ngoài và đồng tiền Việt Nam xuống giá do Kinh tế. Điều này trở thành trái ngược với việc ca tụng độ phát triển Kinh tế tăng trưởng 8.5%. Chính Bộ Thương mại và Công nghiệp đã thẩm định:

“Là thành viên của WTO, Việt Nam được hưởng lợi về mặt gia tăng xuất cảng. Cùng lúc, rào cản thuế nhập cảng không còn hay phải hạ xuống rất thấp, khi đã hội nhập WTO, làm cho hàng nội hoá thua sút, không hấp dẫn với giới tiêu thụ so với hàng nhập cảng. Vì thế, kết quả là hàng xuất cảng hiện nay và trong trung hạn không đóng góp vào việc phát triển.”

3) Yếu kém cạnh tranh của Hàng hóa Việt Nam

Chúng tôi đã viết Bài 6 với đầu đề là VIỆT NAM TRƯỚC KẺ THÙ KINH TẾ TRUNG CỘNG. Thực vậy, những hàng công nghệ Việt Nam khó lòng cạnh tranh với những hàng công nghệ Trung cộng đang tự do tràn vào Việt Nam mà chính quyền lực Chính trị Việt Nam phải lệ thuộc Trung Cộng, quá yếu hèn không dám có phản ứng. Những hàng công nghệ Trung Cộng sẽ diệt hàng Việt Nam vì những ưu điểm sau đây:

=> Hàng Trung cộng được sản xuất với số lượng khổng lồ. Đây là yếu tố chính yếu để làm giảm giá thành và do đó giá bán.

=> Hàng Trung cộng được sản xuất từ A tới Z trong hệ thống liên đới ngành nghiệp chuyên môn (Systèm de Sous-traitance spécialisée), trong khi ấy Việt Nam phải nhập cảng những thành phần cấu thành tốn kém (Produits semi-ouvrés). Do đó giá thành hàng Việt Nam phải cao hơn.

Đối với Nông nghiệp và hàng Thực phẩm, hàng của Thái Lan, với WTO, sẽ tràn vào Việt Nam để giết nông nghiệp và ngành Thực phẩm của Việt Nam. Thái Lan đã đầu tư vốn quan trọng và lâu dài vào những ngành nghiệp này.

Trên đây chúng tôi chỉ nói đến việc cạnh tranh trong nội địa. Trên thương trường Quốc tế, ngoài việc cạnh tranh ưu thế của Trung cộng, của Nam Mỹ, của Đông Aâu, Việt Nam còn bị ảnh hưởng do Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc và việc đình trệ Kinh tế của Hoa kỳ và Liên Aâu. Thực vậy, Dân chúng Mỹ và Liên Aâu với vật giá tăng (Augmentation des Prix), với khả năng tiêu thụ (Pouvoir d’Achat) giảm, họ sẽ giảm thiểu việc mua hàng May Dệt của Việt Nam cũng như của các nước bắt đầu phát triển.

4) Vốn đầu tư nước ngoài

Theo báo cáo của Nhà Nước, thì vốn đầu tư nước ngoài tăng, nhưng đó chỉ là những dự án, những hứa hẹn. Còn việc thực hiện đầu tư mới là tình trạng thực của Kinh tế. Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH nhận xét:

“Vốn đầu tư nước ngoài tăng nhưng tỉ lệ thực hiện vốn lại thấp. Năm 2000 người ta cam kết 2,6 tỉ USD, thực hiện được 2,2 tỉ (92%). Năm 2006 cam kết 11 tỉ, thực hiện được 4,1 tỉ (38%). Năm 2007 cam kết 20,250 tỉ nhưng vốn được thực hiện chỉ có 4,6 tỉ (24%). Như vậy, có thể thấy bộ máy, kết cấu hạ tầng, năng lực của nền kinh tế VN đã bị quá tải một cách đột ngột.”

Thực tế, việc tin tưởng vào sự bảo đảm đầu từ vào Việt Nam làm cho việc thực hiện đầu tư có xẩy ra hay không:

“Thăm dò do Ngân hàng Thế giới và Công ty Tài chánh Quốc tế (Internatiobal Finance Corp) vừa thực hiện xếp Việt Nam hàng 91 trong 178 nền kinh tế có thể dễ dàng kinh doanh. Cũng trong bảng này Singapore hạng nhất, Hong Kong hạng 4, Thái Lan hạng 15, Malaysia hạng 24. Đáng chú ý là Việt Nam đứng hạng 165/178 về mặt bảo vệ người đầu tư.”

Với tình trạng thực hiện yếu kém của đầu tư nước ngoài như vừa kể trên, chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm rằng trong hiện tình khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc và đình trệ Kinh tế Hoa kỳ và Liên Aâu, số vốn nước ngoài có thể bị kéo ra khỏi Việt Nam. Thị trường Chứng khoán Việt Nam thiếu hẳn vốn nước ngoài và có thể coi là nơi đánh bạc ăn xổi ở thì.

5) Kinh tế thiếu hạ tầng cơ sở phát triển

Chính báo chí Việt Nam nói đến việc thiếu cơ sở phát triển Kinh tế bền vững và lâu dài này:

Mức phát triển kinh tế Việt Nam đã quá khả năng vận chuyển của hải cảng ở miền Nam. Nguyễn Trọng Huệ, cục phó Cục Hàng hải Việt Nam cho biết tổng khối lượng hàng hóa thông qua nhóm cảng biển khu vực vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong năm 2006 đạt 54,4 triệu tấn đã vượt mức dự báo của năm 2010 là 53 triệu tấn hàng.

Theo Tuổi Trẻ tháng 7, 2007, đến 2009-2012 tất cả hải cảng đang và sắp vào hoạt động sẽ tràn ngập và để ứ đọng hàng triệu tấn hàng hoá. Nan đề không chỉ là cân phải xây dựng thêm bến cảng biển mà còn là xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, điện nước, hệ thống truyền thông ) dẫn đến những vùng nàỵ Vài thí dụ:

_  Chưa thực hiện dự án xây dựng cơ sở hạ tầng là những rào cản xây dựng cảng với số vốn đầu tư lên đến hàng trăm triệu USD tại Cái Mép - Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu).
_  Ở Sài Gòn, công ty Tân Cảng đã hoàn thành sớm hai năm việc dời Tân Cảng từ quận Bình Thạnh (ở trong Tp) về Cát Lái (Nhà Bè) và đã nâng công suất vận chuyển sản lượng đạt 24-25 triệu tấn hàng hóa, đứng đầu cả nước. Nhưng, đường liên tỉnh 25 đã trở nên chật hẹp và xuống cấp vì hằng ngày có hàng ngàn xe tải vào lấy hàng. Khi các cảng biển trong nội thành thành phố dời về khu Cát Lái, Hiệp Phước (Nhà Bè) thì áp lực giao thông trên tuyến đường liên tỉnh 25 càng căng thẳng hơn nữa. 

Theo Ngân hàng Phát triển Thế giới (WB) thì Việt Nam cần đầu tư khoảng 5 tỉ đô-la mỗi năm để xây dựng hạ tầng cơ sở từ 2006 đến 2010. Một trong những nan đề lớn nhất hôm nay của nền kinh tế Việt Nam là mức cung cấp điện lực để có thể đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong tương lai gần. Trong những năm 2007 đến 2009, Việt Nam thiếu khoảng 3,3 đến 10,3 tỉ kWh (kilo Watts giờ) .

6) Thâm thủng ngân sách và Tiêu ngoài ngân sách

Thâm thủng ngân sách _  Từ nhiều năm qua nhà nước Việt Nam vẫn tiếp tục quản lý với một ngân sách thâm thủng. Số thâm thủng ngân sách năm 2007 dự tính là 4% tổng sản phẩm nội địa; tuy thế vẫn còn khá nhiều chi tiêu ngoài ngân sách do Thủ tướng chính phủ trực tiếp ký thuận và do chính Ngân hàng Phát triển Việt Nam chi trả.

Theo thông tin của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì những hoạt động chi tiêu ngoài ngân sách vừa nêu cộng vào mức thâm thủng ngân sách khoảng 3% đến 5% tổng sản phẩm nội địạ Điều này khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có số thâm thủng ngân sách cao nhất trong vùng.”

7) Lạm phát tiền tệ

Đây là việc rất quan trọng càng làm tăng thêm vật giá do việc mất giá đồng tiền. Nhà nước Việt Nam cần tiền cho việc thâm thủng ngân sách, cho việc xây cất địa ốc huy hoàng tuyên truyền cho chế độ, cho việc giải quyết thiếu hạ tầng cơ sở Kinh tế, cho việc thiếu thu nhập thuế nhập cảng vì phải giảm thuế do WTO, nên quyền lực Chính trị, nhất là độc tài, phải dùng biện pháp lạm phát Tiền tệ, nghĩa là in tiền mới cho lưu hành, phát hành những trái phiếu, cho Ngân Hàng phát hành vốn tương lai (Virtual Money/Monnaie Virtuelle). Đây là việc lạm phát bất chính hoàn toàn do quyền lực Chính trị ép buộc quyền lực Tiền tệ. Đây là việc ăn cướp đồng lương thực của Công nhân, của Nông dân.

Tôi rất đắc ý với nhận định của Oâng VŨ QUANG VIỆT (bài đăng trên báo Lao Động (số 197, ngày 25.8, và số 198, ngày 27.8.2007) :

“Nếu tính từ năm 2004 đến nay, tức là trong vòng 4 năm, lạm phát đã là 35,3% và trong vòng 2 năm nay, lạm phát là 15,5% (chỉ tính tới tháng 7 năm 2007). Như vậy là thu nhập của 22 triệu người lao động ăn lương đã mất đi sức mua cùng một tỷ lệ như trên vì lạm phát. Khi lạm phát càng cao, để bảo vệ mình, người lao động sẽ tích cực đòi tăng lương, kể cả đình công. Thí dụ trong 3 tháng đầu năm 2006, có 193 cuộc đình công, cao hơn 119 cuộc đình công cả năm 2003. Việc tăng lương không do tăng năng suất lại tạo ra vòng xoáy tăng giá.

Khi lạm phát cao, dân chúng phải tự bảo vệ mình bằng nhiều cách. Chẳng hạn năm nay, giá đã tăng 8,3% mà lãi suất bỏ ngân hàng chỉ có 3,9% một năm thì rồi ai cũng thấy dại bỏ tiền vào ngân hàng. Có thể họ sẽ mua vàng. So với năm 2005 thì giá vàng đã tăng 53%, lợi hơn nhiều so với 16,5% lãi ngân hàng nếu tính dựa vào lãi suất hiện nay. Còn người giầu, chắc là họ sẽ vơ vét mua bất động sản. Chỉ có người dân sống bằng đồng lương còm cõi và cố định là khốn khổ. Không lẽ thay vì khuyến khích để dành, tạo vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, nhà nước lại muốn người dân ký cóp tiền một cách vô dụng như thế.

Lạm phát cao như hiện nay cũng không giúp gì cho phát triển dài lâu, nhất là khi nó tạo ra thiếu vốn đầu tư, đầu cơ vàng bạc và thị trường nhà đất. Ngoài trừ một số công ty lớn có khả năng thay đổi giá bằng hợp đồng để tự bảo vệ mình, hầu hết là các nhà buôn bán vừa và nhỏ sẽ chịu chết vì giá tăng và dễ dàng phá sản. Lạm phát lớn mà lại đòi tốc độ phát triển cao thì chỉ là giấc mộng hão huyền. Cho rằng miễn là tốc độ phát triển cao hơn lạm phát là được ? Thì cứ cho là như vậy đi, nhưng ai là người trả giá cho lạm phát ? Phải chăng là những người lao động còm cõi, phải cố bươn chãi để có đủ tiền đóng học phí cho con, còn nhà nước thì cứ nằng nặc đòi  "xã hội hoá" ?

Tôi rất đồng ý với các nhà kinh tế đã nhận định là ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào lạm phát có nguyên nhân in tiền nhiều quá. Tại sao lại in tiền nhiều ? Vì nhà nước chi nhiều hơn số thuế thu được. Nếu như nhà nước phát hành trái phiếu và bán cho dân để mượn tiền tiêu thì không có vấn đề. Vấn đề là nhà nước bắt ông Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu. Điều này có nghĩa là bắt NHNN in tiền. Tiền nhiều hơn hàng làm ra thì tất phải lạm phát. Thời chống lạm phát cuối những năm 1980, hầu hết mọi người trong chính phủ đều cho rằng phải tăng năng suất, phải tăng cung để giảm lạm phát. Tôi đã đặt cho các bạn ấy một câu hỏi. Thế khả năng tăng sản xuất thật một năm là bao nhiêu ? Cao nhất như Trung Quốc thì cũng chỉ 10-15% là cùng, nhưng các ông lại đang tăng tiền tới cả vài trăm phần trăm một năm. Các ông có tăng sản xuất nổi vài trăm phần trăm một năm không ?“

Không phải chỉ Oâng VŨ QUANG VIỆT nhận định như trên. Tôi xin trích ra đây lời tuyên bố của Oâng Florin AFTALION, Kinh tế gia chuyên viên về những liên hệ giữa những Thời kỳ Lạm phát và những Phong trào Cách mạng. Oâng nói rằng trong những nước bắt đầu phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thuộc trong tay những người giữ quyền lực Chính trị, chứ không phải ở Ngân Hàng Trung ương (Ngân Hàng Quốc Gia/Ngân Hàng Nhà Nước Độc Lập). Oâng tuyên bố:”L’inflation est un moyen de financement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages” (LE MONDE, No.19523, Thứ Tư 31.10.2007) (Lạm phát (tiền tệ) là một biện pháp tài trợ rất thuận lợi. Lạm phát được ưa chuộng bởi những người làm chính trị, trong trường hợp nó cho phép để tăng lương và để trợ lực các Công ty, cho phép để thêm dầu vào guồng máy.”.


Vài lời Kết luận
 
Để kết luận tổng quát cho việc tăng vọt vật giá làm cho dân chúng nghèo mất khả năng tiêu thụ, tôi xin lấy lời nhận định của Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám Đốc FAO, tuyên bố với báo Financial Times:” Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.”(Nếu giá cả tiếp tục tăng, thì tôi không ngạc nhiên về việc người ta chứng kiến những nổi dậy vì đói khổ) (LE MONDE, No.19523, Thứ Tư 31.10.2007)


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 13.01.2008
=========================


                  CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH

                                                         Bài 7:

                              VẬT GIÁ TĂNG VÀ LẠM PHÁT TIỀN TỆ
                        TẠI NHỮNG QUỐC GIA BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN


                          Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Đây là bài thứ bẩy trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ bẩy này mang đầu đề là VẬT GIÁ TĂNG VÀ LẠM PHÁT TIỀN TỆ TẠI NHỮNG QUỐC GIA BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN.

5 Bài đầu của loạt 12 Bài nói về cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế năm 1997 liên quan đến 4 nước trong vùng Đông Á châu là Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn. Những Bài về Khủng hoảng này dựa vào tài liệu nghiên cứu của Bà Francoise NICOLAS. Viết về cuộc Khủng hoảng, chúng tôi muốn cho thấy những lý do Tài chánh/ Kinh tế khả dĩ giúp cho hiểu tình trạng bấp bênh của những nước bắt đầu phát triển mạnh hiện giờ như Nam Phi, Iran, Nga, Trung Cộng và Việt Nam. Loạt bài về những nước này được dựa theo tài liệu trong loạt bài đăng trên nhật báo LE MONDE số 19523, thứ Tư, ngày 31.10.2007 với nhữ đầu đề như: (1) L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS; (2) L’INFLATION DETRUIT UNE ECONOMIE, MEME SI LES POLITIQUES PEUVENT L’APPRECIER; (3) LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX. (1)Vật giá tăng làm yếu nhược đi những nước bắt đầu phát triển; (2) Vật giá tăng tàn phá một nền Kinh tế, cho dù những Chính trị lại chuộng việc ấy; (3) Những nước bắt đầu phát triển mắc bệnh vì vật giá tăng lên.

Bài này viết tổng quát hiện tượng tăng vật giá hiện nay, nhưng chia đi vào phân tích chi tiết những nguyên do tăng vật giá mà chúng tôi sẽ dành cho những Bài tiếp theo. Bài này sẽ đề cập tổng quát đến những điểm sau đây:

=> Hậu cuộc Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc
=> Vật giá tăng tại những nước bắt đầu phát triển
=> Hướng nhìn và phân tích hiện tượng vật giá tăng vọt


Hậu cuộc Khủng hoảng
Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc

Cuộc Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc bắt đầu xuất hiện đầu tháng 8 năm 2007 từ Hoa kỳ rồi lan sang những nước đã kỹ nghệ hoá Aâu châu. Hậu quả của nó là hiện tượng tăng vật giá hiện đang diễn ra và mang ảnh hưởng tới dự trù đà phát triển kinh tế cho năm 2008.

Thị trường Sub-Prime Tín dụng Địa ốc là gì ? Chúng tôi đã viết tỉ mỉ trong bài trước đây PHỤ BẢN cho loạt bài này. Chúng tôi chỉ xin nhắc lại tóm tắt để đọc giả biết Thị trường này là gì.

Cái nguồn của Thị trường này (Sub-Prime Mortgage Market) là từ Hoa kỳ. Đây và việc cho Tín dụng thế chấp địa ốc xây cất dài hạn. Có những việc cho Tín dụng mà không xét kỹ khả năng hoàn trả. Từ đó người ta gọi credit sub-prime. Những nhà đầu tư hay những bộ phận đầu tư của Ngân Hàng thường không trực tiếp với khách hàng. Những Tổ chức về Tín dụng Thế chấp trực tiếp với khách hàng mua, xây cất nhà. Những Tổ chức này nhận những Hợp đồng nợ, nhưng khi có nhiều quá vượt tầm vốn của họ thì họ phải chạy tìm vốn tại những Ngân Hàng. Họ mang trình nộp những Hợp đồng nhận nợ cho các Ngân Hàng để có vốn. Các Ngân Hàng nhận được những loại nhận nợ đủ thứ. Những Ngân Hàng này gọp chung lại  và cho ra Sản phẩm Tài chánh ở Thị trường Chứng khoán để bán gọi vốn thêm từ những nhà đầu tư. Hai sản phẩm sau đây tạo thành Thị trường chứng khoán sub-prime thế chấp địa ốc (Sub-prime Mortgage Markets), đó là MBO (Mortgage backed Obligation) và CBO (Collateral backed Obligation). Một số Tổ chức định giá an toàn cho những sản phẩm này.  Những Tư nhân hay Tổ chức (Funds) hoặc Ngân Hàng có thể mua những sản phẩm trên Thị trường chứng khoán địa ốc sub-prime. Việc giao động ở Thị trường Chứng khoán là ở những Sản phẩm Tài chánh Thế chấp Địa ốc bán đi mua lại trên Thị trường. Phương diện này có thể được gọi là hệ thống mới, phát sinh tại Hoa kỳ. Nhưng việc làm giao động có tính cách dây chuyền bắt đầu từ những Khách hàng Nhận nợ mà gặp những khó khăn hoàn trả hoặc không thể hoàn trả cho tín dụng đã ký nhận.

Ngày 10.08.2007, trên tờ International Herald Tribune, Floyd NORRIS đã viết như sau:“In the past decade a new financial architecture emerged—one that relied less on banks as intermediaries and more on securities. Mortgages were financed by investments in securities that were supposed to be safe.“ (Trong thập niên vừa qua, một kiến trúc tài chánh mới được thành hình—kiến trúc liên hệ ít hơn tới những ngân hàng như trung gian và nhiều hơn đến những sản phẩm chứng khoán. Những tín dụng thế chấp đã được tài trợ bởi đầu tư vào những sản phẩm chứng khoán được kể là an toàn). Việc an toàn này thường được đánh giá cao thấp bởi Moody’s and Standard & Poor’s chẳng hạn. Tin tưởng vào những sản phẩm này để bỏ tiền đầu tư hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đã trở thành may rủi.

Vậy nếu trong những sản phẩm chứng khoán ấy có những nguy hiểm được phát hiện bởi sub-prime, thì giới đầu tư có thái độ thay đổi Cung và Cầu đầu tư tài chánh. Biến động về những sản phẩm này trong tháng 8 vừa rồi đã làm cho Thị trường khan hiếm đầu tư, nghĩa là khan hiếm vốn lưu hành. Những nhà đầu tư hoặc những ngân hàng đầu tư ngưng bỏ vốn hoặc mất vốn khi những sản phẩm chứng khoán thế chấp địa ốc xuống cấp tin tưởng.

Những Ngân Hàng đầu tư hoặc những Quỹ đầu tư (Investment Funds) đã mua nhiều những sản phẩm chứng khoán thế chấp này, nên bây giờ họ thấy lỗ do sự giao động. Nhiều Tổ chức sản phẩm đã sạt nghiệp. Một số lớn Ngân Hàng hoặc Quỹ đầu tư Mỹ và Aâu châu bắt đầu bị lỗ vốn về những sản phẩm chứng khoán thế chấp nghi ngờ này (sub-prime/ risque).
 
Những Ngân Hàng lớn như CITIGROUP thiệt hại trên 10 tỉ Đo-la, UBS của Thụy sĩ tới trên 15 tỉ Đo-la.

Tuần này, ngày thứ Ba 08.01.2008, trong cuộc Bình luận trên Đài Truyền Hình A2 của Pháp về Khả năng Tiêu thụ, một Diễn giả đã cho biết rằng cuộc Khủng hoảng Thị trường Sub-Prime Địa ốc đã làm thiệt hại cho Hoa kỳ và Liên Aâu tổng cộng tới trên 1000 tỉ Đo-la. Sự mất vốn này cho thấy sự khan hiếm vốn chung cho nền Kinh tế cần giữ đúng mức đầu tư để bảo đảm đà phát triển (Taux de croissance). Chính vì vậy mà những nhà Kinh tế dự trù việc giảm đà phát triển Kinh tế trong năm 2008. Trong khi đó vật giá tại những nước đã kỹ nghệ hóa này được ước lượng tăng lên 3%-5%.

Tại Aâu châu, đặc biệt là Tây Ban Nha, liên hệ đến Thị trường Tín dụng Địa ốc, người ta thấy cuộc khủng hỏang càng tăng lên. Trong Nhật báo TRIBUNE DE GENEVE số ra ngày thứ Ba 08.01.2008, Ký giả Elisabeth ECKERT đã viết:”Deux millions de foyers américains qui se retrouvent sans toit, suite à l’explosion de la bulle immobilìere aux Etats Unis: verra-t-on la même chose en Espagne durant l’année 2008 ? ... Pour preuve: Immobiliara Colonial, le deuxìeme promoteur immobilier espagnol, se trouve aujourd’hui à deux doigts de la faillite. Ses dettes – qui s’élèvent à 9 milliards de francs -- ...” (Hai triệu gia đình Mỹ đang không có mái nhà che thân, đó là do việc bùng nổ của cái bọt địa ốc ở Hoa kỳ: người ta có thấy giống vậy tại Tây Ban Nha trong năm 2008 không ? ... Bằng chứng: Công ty Immobiliara Colonial, Tập đoàn khởi xướng Địa ốc đứng thứ hai của Tây Ban Nha, ngày nay chỉ còn hai ngón tay nữa là đi đến phá sản. Những món nợ của Tập đoàn lên tới 9 tỉ quan Thụy sĩ...”

Đừng thấy bề ngoài xây cất nhà cửa dinh thự lớn lao là vẻ vang phát triển, mà phải nhìn qua đó những món nợ dài hạn có thể làm sạt nghiệp.

Việc tăng vật giá, thiếu vốn đầu tư, do đó kềm hãm đà phát triển đang là hâu quả của Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-prime Địa ốc hiện nay tại Hoa kỳ và những nước đã kỹ nghệ hóa của Liên Aâu.


Vật giá tăng tại những nước
bắt đầu phát triển

Phần trên đây được viết trong bài này cốt ý để chúng ta thấy tình hình vật giá tăng và sự đình trệ độ tăng trưởng Kinh tế của Thế giới, đồng thời cũng cho biết một trong cái nguồn chính gây hậu quả là lãnh vực Địa ốc. Phần phân tích trên đây trở thành quan trọng bởi vì những nước mà người ta gọi là bắt đầu phát triển lại tăng cường quá đáng về lãnh vực xây cất địa ốc. Những nước bắt đầu phát triển này (Pays émergents) là Nam Phi, I-răng, Nga, Trung Cộng và Việt Nam được những tác những bài viết trong nhật báo LE MONDE nhấn mạnh.

Tình hình chung của những nước bắt đầu phát triển

Mở đầu cho loạt bài viết trong LE MONDE ngày 31.10.2007 về những nước bắt đầu phát triển, tác giả Alain FAUJAS viết:”Dans les pays émergents, l’inflation est de retour. En Chine, en Iran, au Vietnam, en Afrique du Sud, en Russie, les indices de prix à la consommation dérapent depuis plusieurs mois, principalement en raison de de la flambée des prix alimentaires. A Moscou, le gouvernement vient de décider de geler les prix de plusieurs produits de base (huile, lait, pain). A la veille d’échéances électorales importantes, le Kremlin redoute les conséquences de cette poussée inflationniste dans l’opinion publique. Les dirigeants chinois, eux aussi, s’inquìete d’une envolée des prix qui rogne le pouvoir d’achat des plus pauvres et menace la paix sociale. La moindre concurrence, la part plus importante de l’alimentation dans la consommation expliquent que les pays émergents soient aujourd’hui plus exposés à l’inflation que les grandes nations industrialisées.” (Tại những nước bắt đầu phát triển, vật giá tăng trở lại ngự trị. Tại Trung quốc, I-răng, Việt Nam, Nam Phi, Nga, những chỉ số giá cả về tiêu thụ đã chệch hướng từ nhiều tháng nay, chính yếu vì lý do vụt bốc cao lên những giá cả về đồ ăn. Tại Mạc Tư Khoa, Nhà Nước vừa quyết định hãm đông lạnh lại những giá của các sản phẩm nền tảng (dầu ăn, sữa, bánh mì). Gần tới hạn kỳ những cuộc bầu phiếu quan trọng, điện Cẩm Linh ngại sợ những hậu quả của việc đẩy mạnh tăng giá cả này trong dư luận quần chúng. Những nhà lãnh đạo Trung quốc cũng vậy, họ lo lắng cho việc tăng vọt vật giá cắt xén khả năng tiêu thụ của những người nghèo và đe dọa yên lành xã hội. Sút kém cạnh tranh, phần quan trọng dành cho thực phẩm trong việc tiêu thụ cho thấy là những nước bắt đầu phát triển ngày nay dễ bị ảnh hưởng do tăng vật giá hơn là những quốc gia đã kỹ nghệ hóa).

Với đoạn viết mở đầu cho những nước bắt đầu phát triển, Alain FAUJAS cho thấy:

=>  Sự hiện diện thực sự việc tăng vật giá tại những nước bắt đầu phát triển

=> Việc tăng vật giá lại đụng chạm tới chính những sản phẩm căn bản của cuộc sống đại chúng, đó là thực phẩm.

=> Việc tăng vật giá tại những nước này mạnh hơn nhiều so với những nước đã mở mang và tầm ảnh hưởng của vật giá tăng hiện ra thấy rõ hơn.

=> Những chính quyền lo lắng tầm ảnh hưởng đến phương diện xã hội và chính trị 

Trong dịp đầu năm 2008, Đài Truyền Hình Thụy sĩ TSR1 loan tin về việc Tổ chức linh đình đón  năm mới tại Bắc Kinh. Đài cho biết là Trung quốc có độ tăng trưởng Kinh tế trên 11% và ca ngợi độ tăng trưởng này. Phóng viên của Đài TSR1 tại Bắc Kinh chú thích ngay rằng:”Taux de croissance 11%, mais au mois de Novembre 2007, l’inflation a été de 7%” (Độ tăng trưởng Kinh tế 11%, nhưng trong tháng 11.2007, vật giá tăng 7%).

Tình hình vật giá tăng vọt tại Việt Nam

Kiều bào tại nước ngoài chỉ cần nhắc điện thoại hỏi thân nhân đang sống tại Việt Nam, thì biết vật giá tăng như thế nào, nhất là về thực phẩm, thậm chí cả giá gạo, sản phẩm quan trọng của chính Việt Nam.

Đối với những nước khác trên đây, chúng tôi chỉ nói đến tình hình tổng quát tăng vật giá. Nhưng đối với Việt Nam, chúng tôi đi vào những chi tiết về việc giá tăng vọt này. Từ đầu tháng 8.2007, Tin của VNN từ Sài Gòn cho biết thực tế tăng vọt vật giá, nhất là những nhu yếu phẩm, đã làm Nhà Nước bù đầu lo sợ.

(Sài Gòn - VNN) Từ 1/8, hàng loạt mặt hàng thực phẩm chế biến, thực phẩm tươi sống trên thị trường Sài Gòn tiếp tục tăng giá.

Trong nhóm hàng tăng giá mạnh lần này, đáng chú ý nhất là mặt hàng sữa (kể cả sữa ngoại nhập và sản xuất trong nước) đã tăng giá thêm từ 8% - 10%. Chẳng hạn, sữa hiệu Mead Johnson loại Enfamama 900 g giá tăng lên 186.300 đồng/1 hộp, Enfalac 242.200 đồng/1 hộp (tăng mỗi hộp từ 18.000 đồng- 20.000 đồng), Dumex Gold 1, 2, 3 giá từ 280.000 đồng- 305.000 đồng/1 hộp (tăng khoảng 20.000 đồng), Dutch Lady loại 400 g 1, 2, 3 lên 56.000 đồng/1 hộp (tăng 5.000 đồng), Vinamilk Anpha loại 900 g từ 108.000 đồng- 122.000 đồng/1 hộp (tăng khoảng 10.000 đồng)... Các loại sữa tươi của hầu hết các hãng sữa cũng tăng giá khoảng 5%. Chẳng hạn, mặt hàng sữa tưoi cuả Long Thành từ 18.600 đồng tăng lên 24.400 đồng/1 hộp loại 1 lít...

Giá nhiều loại thịt, cá cũng tăng ma.nh. Thịt gà công nghiệp bán tại các chợ 27.000 đồng mỗi kg (tăng 1.500 đồng), vịt 34.000 đồng/1 kg (tăng 1.000 đồng). Tương tự, giá cá thu từ 70.000 đồng- 80.000 đồng/1 kg (tăng 20.000 đồng), cá lóc 35.000 đồng/1 kg (tăng 5.000 đồng), cá chẽm 55.000 đồng- 60.000 đồng/1kg (tăng 10.000 đồng)... Các mặt hàng thực phẩm chế biên như xúc xích, chả giò, đồ hộp của một số cơ sở mới đây cũng đã tăng giá từ 7%- 10%. Mặt hàng bơ, sản phẩm chế biến từ các loại đậu cũng tăng giá khoảng 5%.

Riêng giá thịt heo bày bán ở chợ đang giảm khá mạnh do người tiêu dùng ngại mua vì sợ dịch bệnh heo "tai xanh"; thế nhưng giá bán trong các siêu thị lại đang rục rịch tăng. Giá sườn non từ 60.000 đồng tăng lên 64.000 đồng/1kg, thịt đùi từ 50.000 đồng lên 53.000 đồng/1kg...
 
Theo nhận định của giới kinh doanh, thời gian qua giá nhiều mặt hàng đã tăng cao nhưng có thể đến giữa tháng 8 và đầu tháng 9 này sẽ có thêm đợt tăng giá mới..

(Sài Gòn - VNN).  Giá Cả Tăng Vùn Vụt, Người Dân Lãnh Đủ. Hàng hóa, nhất là hàng hóa thiết yếu, tăng giá liên tục khiến đời sống người dân đã khó khăn càng khó khăn hơn.

Từ đầu năm đến nay, giá cả hàng hóa trên thị trường liên tục tăng, kéo theo giá cả các dịch vụ ăn uống tăng chóng mặt.

Trong hoàn cảnh "giá tăng - lương tóp" hiện nay, việc tính toán chi tiêu hằng ngày là gánh nặng đối với nhiều gia đình. Ở góc độ vĩ mô, mục tiêu kiềm chế chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả năm thấp hơn tăng trưởng kinh tế 8,5% trở nên rất khó khăn.

Chỉ khoảng hơn tháng nay, gần như hàng quán nào ở Sài Gòn cũng đều tăng giá, ít thì tăng 1.000 đồng - 2.000 đồng, nhiều thì đến 5.000 đồng - 10.000 đồng mỗi món. Hàng quán càng sang trọng, giá càng tăng caọ

Võ Đức Khanh, Phó Giám đốc CoopMart Phú Lâm, cho biết: "Ở những nơi có thương hiệu như phở 24, phở Hòa, bíp-tết Nam Sơn, cơm tấm Thuận Kiều, quán ăn Nam Phát, Nam Long, bánh mì tươi, các cửa hàng KFC, Lotteria... giá tiền cho 1 phần ăn luôn thay đổi từ 20.000 đồng - 50.000 đồng. Các món thông dụng như phở, hủ tiếu mì, hủ tiếu nam vang, bánh canh cua, bún bò huế... ở hàng quán bình dân cũng từ 12.000 đồng - 18.000 đồng/1tộ Trước đây, một phần bún riêu, hủ tiếu cho em bé ăn chỉ 3.000 đồng nhưng nay phải mua 5.000 đồng thì họ mới bán. Ngay cả món bình dân nhất là xôi và bánh mì cũng tăng giá theo... thời cuộc". Tính ra, chỉ riêng tiền ăn sáng, mỗi tháng có gia đình đã chi thêm ít nhất 300.000 đồng.

Giữa muôn trùng vây giá cả, nhiều gia đình đã chuyển dần từ ăn hàng quán về... cơm nhà. Chị Mai, làm việc tại một cơ quan Nhà nước ở quận 3, cho biết thời gian gần đây, chị toàn cho chồng con ăn tại nhà vì ăn tiệm quá tốn kém. Mỗi tuần chị đi chợ 1 lần, sáng dậy sớm làm đồ ăn sáng, nấu cơm sẵn; trưa, chiều về ăn. "Khá vất vả nhưng nhờ vậy tiền ăn hằng tháng giảm được 400.000 đồng - 500.000 đồng" - chị nói.

Tuy nhiên, đó là đối với những người có điều kiện kinh tế ổn đi.nh. Riêng công nhân, dân lao động nghèo thì phải chấp nhận trôi nổi theo giá thị trường. Thu nhập mỗi tháng chỉ được 650.000 đồng - 900.000 đồng, tháng nào tăng ca hoặc làm đêm được 1.200.000 đồng - 1.500.000 đồng. "Đầu tháng lãnh lương tụi em còn ăn hủ tiếu, bún riêu 5.000 đồng - 7.000 đồng/1tô chứ thường thì ăn xôi, hoặc bánh mì. Có bạn tiết kiệm tiền, nhịn ăn sáng, trưa ăn ở công ty, chiều tranh thủ tăng ca để được ăn nhẹ hoặc ăn mì gói trừ cơm. Đi chợ nấu ăn toàn mua rau; thịt, cá thì mua hàng "dạt" rẻ tiền... Làm cực, ăn uống kham khổ vậy nên mất sức, xỉu trong giờ làm việc là chuyện thường!" - Hoàng Ly, công nhân Khu Công nghiệp Tân Bình, nói vậy.


Hướng nhìn và phân tích
hiện tượng vật giá tăng vọt

Vì Bài này chỉ là bài đầu viết về những nước bắt đầu phát triển, nên chúng tôi chỉ xác nhận việc tăng vọt vật giá. Phần phân tích những nguyên do và nhất là chi tiết hậu quả cho nền Kinh tế và căng thẳng đời sống xã hội cũng như chính trị sẽ được phân tích trong những bài kế tiếp.

Cũng như độc giả của VietTUDAN  đã từng quen thuộc với Lập trường của chúng tôi, những phân tích nguyên do, nhất là hậu quả của tình trạng tăng vọt vật giá này, là nhìn xem trong mực độ nào đời sống Kinh tế của quần chúng, thiết yếu nhất là Quyền DẠ DẦY (Stomach Right)—chứ không phải ý niệm Nhân Quyền trừ tượng và tổng quát—sẽ làm ĐỘT BIẾN thay đổi toàn diện đời sống Xã hội và Chính trị.

Chúng tôi muốn mượn lời của Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO, nói với báo Financial Times, để tóm tắt đường hướng mà chúng tôi phân tích việc vật giá tăng vọt trong những bài kế tiếp. Oâng nói:“Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu những giá cả tiếp thục tăng, tôi sẽ không ngạc nhiên về việc người ta chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói khổ ).

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 




=========================
pho bien/ publication 09.01.2008
=========================



                                           GIÁO OAN, DÂN OAN 
                                              VÀ TỔ TIÊN OAN


                                            NGUYỄN PHÚC LIÊN

 

Dân Oan đã làm ĐỘT BIẾN TIỀN GIANG rồi lan dần khắp nước; Giáo Oan đã làm ĐỘT BIẾN HÀ NÔI và đang lan rộng vào Sài Gòn, Huế; Tổ Tiên Oan đang phừng phừng làm ĐỘT BIẾN QUỐC NỘI/HẢI NGOẠI trước việc Đất Biển của Tổ Tiên bị mất.

Tất cả những ĐỘT BIẾN này cũng chỉ vì đảng CSVN cướp Nhà Đất làm của riêng mình hay bán cho nuớc ngoài: Nông Dân bị cướp Nhà Đất để CSVN bán lấy tiền bỏ túi riêng; Giáo Hội, Tu viện bị cướp Nhà Đất để làm nhà tư hoặc bán cho tài phiệt nước ngoài; Tổ Tiên Việt Nam bị đảng CSVN cướp Đất Biển để dâng hiến, bán rẻ cho Tầu để đổi chác lấy quyền hành riêng cho đảng. Nước Việt Nam ta mọi người còn sống hay đã chết trở thành oan uổng chỉ vì đảng cướp CSVN: DÂN OAN, GIÁO OAN, TỔ TIÊN OAN.

Giáo Oan là Tôn Giáo bị đảng CSVN dùng bạo lực cưỡng bách để cướp lấy Nhà Đất thuộc Tôn Giáo. Cướp Nhà Đất đến chỗ Hội Đồng Giám Mục VN không có nơi làm Văn Phòng chung. Trong lá Thư, Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT viết: “Thậm chí chưa có được một căn phòng nào dành riêng cho Hội đồng Giám mục. Hoàn cảnh thật đau lòng“.
 
Bị ăn cướp cạn kiệt đến như vậy, nên cuộc ĐỘT BIẾN phải đứng lên. Phong trào Giáo Oan đứng lên Biểu tình đòi lại Đất và Nhà của Tòa Khâm sứ tại Hà Nội bắt đầu ngày 18.12.2007. Nhưng phải nói rằng tinh thần nhất quyết đòi lại Nhà Đất Tòa Khâm sứ bắt đầu bằng lá Thư của Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT.

Như chúng tôi luôn luôn theo dõi việc những người bị cướp Nhà Đất, việc Giáo Oan đoàn kết lại và nhất định đòi Nhà Đất như Dân Oan đã từng làm cách đây một số tháng tại Sài Gòn và Hà Nội, phải kể đến cuộc ĐỘT BIẾN GIÁO OAN của Xứ SÁO CÁT. Giáo Oan xứ này đã tự động gửi tối hậu thư cho Nhà cầm quyền về hạn kỳ lấy lại Nhà Đất của Trường học thuộc Giáo xứ.

Đối với Tòa Khâm sứ Hà Nội, Nhà Nước CSVN muốn ngụy biện rằng đây là Nhà Đất tịch thu từ người Pháp. Điều ngụy biện này không đứng vững bởi lẽ Nhà Đất Tòa Khâm sứ không phải là thuộc một Công dân Pháp hay của nước Pháp, mà thuộc Giáo Hội Công Giáo. Giáo Hội Công Giáo không phải của nước Pháp hay của một Công dân Pháp nào.

Từ lá thư của Đức Tổng Giám mục NGÔ QUANG KIỆT, đến cuộc Biểu tình ngày 18.12.2007, khối Giáo Oan nhất quyết đứng lên đòi Công lý. Rồi sự đoàn kết Giáo Oan đòi Công lý lan đến Xứ Thái Hà ngày 06.01.2008. Phong trào Giáo Oan đòi Công lý vừa lan rộng đến Ban Mê Thuật: Đức Giám Mục NGUYỄN VĂN HÒA, nguyên Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục VN, từ Ban Mê Thuật đã chính thức lên tiếng ủng hộ Phong trào Giáo Oan đòi Công lý tại Hà Nội do Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT kêu gọi Giáo Oan ngày 15.12.2007.

Giám Mục lên tiếng và Giáo Oan đồng thanh làm ĐỘT BIẾN đòi Nhà Đất. Tiếng nói của Giám Mục có sức mạnh và Giáo Oan có lực lượng hùng hậu nhất trí tin theo. Nhưng cuộc ĐỘT BIẾN này mới chỉ là cho Nhà Đất thuộc Công Giáo Việt Nam. Các Giám Mục và Giáo Oan Công Giáo không thể chỉ đấu tranh dành những tài sản riêng của Công Giáo vì hai lý do sau đây:

=> Nếu chỉ hạn hẹp việc lên tiếng và đấu tranh cho Công lý thuộc phạm vị Công Giáo, thì các Giám Mục cũng như Giáo Oan Công Giáo sẽ bị công kích là ích kỷ. Công lý không phải chỉ dành riêng cho Công Giáo, mà phải cho mọi người Dân trong nước dù sống hay đã chết: DÂN OAN và TỔ TIÊN OAN. Giáo Hội Công Giáo sống trong lòng Dân tộc mà Dân tộc đang bị cướp bóc: DÂN OAN. Giáo Hội Công Giáo sống trên lãnh thổ của Tổ Tiên cũng đang bị cướp bóc bán cho Tầu: TỔ TIÊN OAN.

=> Theo Phúc Aâm Chúa Giêsu đã dậy: không phải chỉ yêu Chúa là đủ, mà phải yêu thương người chung quanh mình. Chúa còn nói rằng người chung quanh cũng là bạn của chính Chúa và Chúa còn nhấn mạnh đến việc yêu thương giúp đỡ những người bạn khốn cùng nhất. Các Giám mục, người Công Giáo đang cùng sống với người Dân Oan đang bị cùng cực nhất. Các Giám mục và người Công Giáo cũng sống trong lòng Tổ Tiên Việt Nam như cả Dân tộc Việt Nam. Mà Tổ Tiên đã đổ bao xương máu bảo vệ Đất và Biển. Bây giờ Tổ Tiên đã và đang bị đảng cướp CSVN tước đoạt Đất Biến bán cho Tầu. TỔ TIÊN OAN đang đau khổ và nói với các Giám mục, các người Công Giáo phải lên tiếng, phải đấu tranh diệt kẻ phản quốc là CSVN và phải bảo vệ Đất và Biển khỏi tay xâm lăng của Tầu.

Chỉ đấu tranh cho Nhà Đất của Giáo Hội mà không nghĩ đến Nhà Đất của Dân Oan và Đất Biển của Tổ Tiên Oan, đó là ích kỷ, là thiếu bổn phận con dân Việt Nam và không làm theo lời chỉ dậy của Chúa Giêsu: PHẢI YÊU THƯƠNG NGƯỜI CHUNG QUANH NHƯ CHÍNH MÌNH VẬY. Nhà Đất của Dân Oan cùng cực còn cấp thiết hơn Toà Khâm sứ để làm Văn Phòng cho Hội Đồng Giám mục Việt Nam. Dân Oan không có Nhà Đất thì phải đói rách và sống màn trời chiếu đất. Các Giám Mục chưa có Văn Phòng thì vẫn còn có cơm thịt ngon, vẫn có bàn ghế ngồi họp vớ quạt máy cho mát.

Trong một bài viết của chính Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT, Ngài đã tha thiết kêu gọi hãy mang trong mình TRÁI TIM. Xin Trái Tim của Ngài hãy viết LÁ THƯ kêu gọi người Công Giáo hãy hợp tác với DÂN OAN để đòi lại Nhà Đất khốn cùng của ho, hợp tác với tinh thần của TỔ TIÊN OAN mà diệt kẻ đang tay bán nước và bảo vệ vẹn toàn Đất Biển của Tổ Tiên khỏi tay xâm lăng của Tầu.

NGUYỄN PHÚC LIÊN



GIÁO OAN ĐÒI NHÀ ĐẤT
TRỞ THÀNH ĐỘT BIẾN LỚN


Giáo dân Công Giáo tiếp tục đòi đất nhà thờ lan rộng khắp Việt Nam,
LS Trần Vũ Hải nhận xét các vụ cầu nguyện ở Hà Nội có thể trở thành sự kiện lớn
Jan 08, 2008

Cali Today News – Sự kiện giáo dân Hà Nội tập trung đông người cầu nguyện mỗi cuối tuần, để yêu cầu chính phủ trả lại Toà Khâm Sứ Hà Nôi. Vụ giáo dân Giáo Xứ Thái Hà cũng đồng lòng yêu cầu Nhà nước trả lại 60 ngàn mét vuông đất bị tịch thu. Đây là vấn đề đang được cộng đồng Công giáo Việt Nam trong và ngoài nước quan tâm.
 
Tin của hãng AFP cho biết, tín đồ Công Giáo tiếp tục cầu nguyện và đòi lại đất đai của giáo hội là Tòa Khâm Sứ mà chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã chiếm cách đây nửa thế kỷ.

Sau Thánh Lễ hôm Thứ Bảy và Chúa Nhật, các vị linh mục và giáo dân tiếp tục thắp nến, dâng hoa và hát thanh ca ngay tại hàng rào sắt, chung quanh sở đất gần nhà thờ chánh tòa St. Joseph ở Hà Nôi. Những người cầu nguyện cho rằng biệt thự lớn và sở đất bao bọc chung quanh rộng 1.1 hectares (2.7 mẫu) thuộc quyền sở hữu của tòa Khâm Sứ Công Giáo mà chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã tịch thu khi trục xuất vị khâm sứ vào cuối thập niên 1950.
 
Giáo dân nói rằng chính quyền vẫn còn giữ ngôi nhà, nhưng đôi khi dùng nó như một vũ trường, còn các giới chức thẩm quyền địa phương thì dùng đất chung quanh biệt thự như một bãi giữ xe gắn máy.

Một vị linh mục dấu tên, cho hãng thông tấn AFP biết rằng các ngài có giấy chủ quyền chứng minh đó là tài sản của nhà thờ kể từ năm 1933.

Về phía nhà cầm quyền, vào cuối Tháng 12, Thủ Tướng VN Nguyễn Tấn Dũng đã gặp Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt trong một buổi cầu nguyện và ông ta hứa sẽ xét lại vấn đề này. Lời hứa này của một Thủ Tướng chính phủ đã làm cho người dân Công Giáo hy vọng là vấn đề tài sản của nhà thờ sẽ được giải quyết ổn thỏa.
 
Việt Nam có số tín hữu Công Giáo đông đảo nhất Đông Nam Á, sau Phi Luật Tân, với tổng số tín đồ khoảng sáu triêu.

Vốn vô thần, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, từ lâu đã sợ các tôn giáo làm sứt mẻ quyền hành, nên lúc nào cũng áp dụng chính sách kềm kẹp tôn giáo, bắt buộc mọi tôn giáo phải hoạt động theo đường lối của đảng Cộng Sản Việt Nam.
 
Tất cả hệ thống truyền thông ở Việt Nam đều nằm trong sự kiểm soát của chính quyền nên không bao giờ dám đăng tải bất cứ tin tức nào động chạm tới chính phủ.

Cảnh sát và công an chìm lúc nào cũng trà trộn trong dân chúng, trong hàng ngũ giáo dân để chụp hình cũng như thu hình. Một số tín đồ thường bị công an hạch hỏi. Sinh viên theo đạo Công Giáo không được theo học ngành ngoại giao, không được làm cảnh sát. Nhà thờ thì bị cấm không được có tờ báo riêng, không được thiết lập trường học và nhà thương riêng.

Giáo xứ Thái Hà tiếp tục biểu tình cầu nguyện đòi công lý.

Trong khi đó, sau tin Công an đưa người tới đàn áp giáo dân tại giáo xứ Thái Hà gần Hà Nội, nguồn tin ngày hôm nay cho biết Cảnh sát Công an vẫn tiếp tục kéo đến đây trong lúc người dân vẫn tiếp tục biểu tình bằng cách cầu nguyên. Một nhân chứng cho biết vẫn có 3 chiếc xe Công an trấn ở ba ngõ vào giáo xứ, nhưng 2 trụ sở công an tạm thời ở hai nhà dân đã được giải tỏa. Người dân ở đây vẫn bình thản tiếp tục biểu tình cầu nguyện trong ôn hòa, thường xuyên luôn luôn có khoảng 40 người đứng biểu tình cầu nguyện ở trước khu đất bị chiếm đóng. Hễ thấy cán bộ là giáo dân ùa đến bày tỏ nguyện vọng của mình, chẳng cần biết cán bộ ấy có thẩm quyền giải quyết hay không. Các cán bộ có vẻ ngại đối chất với giáo dân. Một cán bộ tuyên bố họ chỉ có nhiệm vụ giữ trật tự an ninh thôi, họ không biết lý do và cũng chẳng cần biết lý do tranh chấp. Bà con cầu nguyện cứ cầu nguyên. Cứ làm những gì được phép theo pháp luat. Càng về chiều giáo dân kéo đến càng đông, không khí không còn căng thẳng nữa nhưng lại biến thành không khí của một ngày hôi. Giáo dân lại lấy các thanh gỗ đặt lên trên hàng rào thép gai để đặt các ngọn nến lên tường bao và để nhìn vào bên trong. Đến khoảng 5 giờ chiều một xe Công an bỏ đi, và đến khoảng 7 giờ tối sau khi lễ xong, cả nhà thờ lại ra khu đất cầu nguyên. Họ thực hành phương thức như ở Tòa Khâm Sứ khi Thánh giá đi trước làng nước theo sau. Ở đây họ còn kiệu tượng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nữa. Mọi người ra đứng trước bờ tường xây và kẽm gai cầu nguyên. Hàng ngàn người tham dự buổi lễ cầu nguyện này trong lúc Công an len lỏi chụp hình quay phim và theo dõi. Khoảng 7 giờ rưỡi tối người ta thấy có một đoàn cán bộ vào nhà thờ gặp các linh muc. Cuộc gặp kéo dài khoảng 15 phút tại phòng thánh của nhà thờ Thái Hà. Giáo dân vây chung quanh các linh mục và cán bộ. Nguồn tin cho biết cầm đầu đoàn cán bộ này là Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Quận trả lời đơn thư mà các linh mục nhà thờ Thái Hà đã gửi lên Hà Nội chiều nay. Đại khái nội dung ý kiến cho biết thành phố tạm thời cấm không cho công ty Chiến Thắng được xây hàng rào, và hứa sẽ đưa đoàn thanh tra tới điều tra. Còn việc xin lại khu đất đang tranh chấp của Giáo xứ Thái Hà, thì thành phố sẽ báo cáo với nhà nước để giải quyết. Cán bộ kêu gọi giáo dân không nên làm mất trật tự an ninh và đề nghị giáo xứ phối hợp với địa phương để giải quyết các việc tồn đọng theo quy định của pháp luât. Sau khi nghe đọc xong ý kiến, các cán bộ ra về. Các cán bộ đi thật nhanh vì sợ bà con bao vây. Đến tối khoảng 9 giờ lại có một xe chở cán bộ khác vào gặp gỡ các linh mục, đến 10 giờ họ mới rời khỏi nơi này và các linh mục tiễn ra tận cổng nhưng xin giáo dân không chụp hình. Sau đó linh mục bề trên thông báo cán bộ đến yêu cầu nhà thờ giữ trật tự, và nói việc giải quyết vấn đề đất đai thì phụ thuộc nhiều cơ quan khác nữa. Ngài cũng kêu gọi mọi người phải tiếp tục cầu nguyện không ngừng. Nguồn tin cho biết trong suốt đêm hôm qua giáo dân tiếp tục kéo nhau ra hiện trường khu đất cầu nguyện và ngủ ở đó qua đêm.

Giám mục Ban Mê Thuột lên tiếng ủng hộ Tổng Giáo Phận Hà Nội

Tiếp tục đấu tranh đòi nhà đất của giáo hội, theo tin của VietCatholic News phổ biến cho biết Đức Giám Mục Nguyễn Văn Hòa, hiện là giám quản Tông Tòa Giáo phận Ban Mê Thuột, đã gửi thư cho Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, người đang coi Tổng Giáo Phận Hà Nội, để bầy tỏ sự ủng hộ của các thành phần dân Chúa thuộc Giáo phận Ban Mê Thuật trong nỗ lực đòi lại Tòa Khâm Sứ. Chiến dịch cầu nguyện đòi lại Tòa Khâm Sứ bên cạnh Nhà Chung Hà Nội do Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt khởi xướng đã bắt đầu từ ngày 18 tháng 12 vừa qua và được dư luận đặc biệt chú ý, vì mỗi buổi xuống đường cầu nguyện đã có nhiều ngàn giáo dân tham sự. Nay với sự lên tiếng ủng hộ của Giám Mục Nguyễn Văn Hòa từ Ban Mê Thuật, phong trào cầu nguyện có thể không còn giới hạn ở Hà Nội, mà sẽ lan tới vùng cao nguyên. Giám Mục Nguyễn Văn Hòa trước đây thuộc Địa phận Nha Trang, từng là Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trong hai nhiệm kỳ. Nguồn tin cho biết sau Đức Cha Nguyễn Văn Hòa, rất có thể sẽ còn các Giám Mục từ các Giáo phận khác cũng sẽ lên tiếng ủng hộ Tổng Giáo Phận Hà Nôi. Hiện nay các cuộc biểu tình cầu nguyện trước Tòa Khâm Sứ ở Hà Nội vẫn tiếp tục diễn ra hàng ngày mà không có dấu hiệu nào là sẽ giảm thiểu.

Trong khí đó, trả lời phỏng vấn đài VOA LS Trần Vũ Hải nhận xét “Các vụ cầu nguyện ở Hà Nội có thể trở thành sự kiện lớn”Nam Nguyên phỏng vấn Luật Sư Trần Vũ Hải ở Hà Nội về khía cạnh pháp lý liên quan, trước hết Luật Sư đưa ra nhận định:”Theo tôi, pháp lý về vấn đề này rất khó bình luân. Hiện nay các bên không đưa ra các chứng cứ gì với nhau. Một bên thì bảo rằng, chúng tôi có tịch thu gì của các ông đâu, Toà Khâm Sứ là chúng tôi thu từ chính quyền thực dân, nên các ông không có quyền đòi lai. Còn bên này cũng chưa đưa ra chứng minh là thuộc sở hữu của mình. Vấn đề pháp lý là rất khó, tốt nhất là có thương thảo đưa ra nhân nhượng hoà hợp nào đấy, nếu không sẽ rất khó giải quyết. Nhưng tôi cũng lo ngại là chính quyền VN họ sẽ không lùi bước trong thời gian sớm về vấn đề này đâu. Nếu việc này xảy ra thì sẽ có hàng chục vụ khác sẽ xảy ra và tôi nghĩ là họ rất lo ngại vấn đề này.

LS Hải nhận định rằng “Cho đến giờ phút này tôi cho là rất khó giải quyết về vấn đề pháp lý, mọi việc rất khó vì đã hơn 50 năm rồi, Nhà nước thu thì phải trưng dẫn đã thu như thế nào, còn tổ chức tôn giáo nói rằng của mình thì cũng phải đưa ra bằng chứng. Theo tôi có thể sẽ phải dẫn tới một sự thoả hiệp nào đó. Tôi tin là chính quyền họ cũng rất cân nhắc và họ cũng chỉ giải quyết ở một số vụ việc và không thể nào là đại trà đươc. Nếu đại trà họ rất lo ngại bất ổn xã hội, bở vì sẽ có rất nhiều tổ chức, phật giáo, công giáo, thiên chúa giáo ….cho rằng trước đây mình có cái này cái kia và tiến hành những cuộc tuần hành hay tương tự mà chúng ta đã nhìn thấy. Chính quyền sẽ rất lo ngại, tôi nghĩ đây là bài toán đau đầu cho chính quyền hiện nay. Tôi nghĩ rằng họ rất múôn giải quyết nhưng việc giải quyết mà trở thành bùng nổ thì họ lại phải cân nhắc. Tôi nghĩ rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đã trực tiếp đến địa điểm ấy thì thực sự ông ấy rất muốn giải quyết, thậm chí theo hướng của tổ chức tôn giáo. Bản thân ông Dũng múôn giải quyết cho xong, nhưng sẽ có những ngừơi khác cân nhắc rằng, nếu như ông giaỉ quyết cho một đơn vị thì tại sao không giải quyết cho hàng chục, hàng trăm đơn vị khác. Cho nên tôi cho rằng sẽ có sự thoả hiệp nhượng bộ nào đó nhưng cũng không dễ dàng cho các bên.

Theo Nam Nguyên, đài RFA; Kim Vũ, theo AFP



                            GIÁO OAN ĐÒI CÔNG LÝ LAN RỘNG

                         SÁO CÁT ==> HÀ NỘI => SÀI GÒN => HUẾ


                                        NGUYỄN PHÚC LIÊN



Biến cố Giáo dân SÁO CÁT tự gửi tối hậu thư cho Nhà Nước để lấy lại Nhà trường của Xứ đạo. Đây là một ĐỘT BIẾN GIÁO OAN cũng như ĐỘT BIẾN DÂN OAN Tiền Giang.

Tất cả Dân Oan cũng như Giáo Oan chỉ nhằm mục đích đòi CÔNG LÝ. Họ không làm Chính trị, nhưng họ hoàn toàn có quyền đòi lại Nhà, Đất đã bị CSVN ăn cướp từ bao năm trường đến nay. Thậm chí có những Khu đất tư đã bị tước đoạt, rồi bán lại cho người khác, nhất là cho những người nước ngoài dưới những danh nghĩa ngụy tạo.

Đột biến Giáo Oan Sáo Cát là khởi đầu.

Ngày 18.12.2007, Tôn Giáo lại ghi nhận ĐỘT BIẾN GIÁO OAN HÀ NỘI có tầm vóc quan trọng:

=> Ngày 15.12.2007: Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT kêu gọi Linh mục, Tu sĩ, Chủng sinh và Giáo dân hãy đòi lại Tòa Khâm sứ đã bị tước đoạt để xử dụng vào việc buôn bán như mở Tiệm phở: “Trước đây đã bán phở, nay lại mở ngân hàng. Và ngày 13-12-2007 vừa qua thêm kinh doanh giữ xe với quang cảnh thật hỗn độn.“(Lời Đức TGM)

=> Ngày 18.12.2007: Khoảng hơn 2000 người. Có linh mục, tu sĩ, chủng sinh và giáo dân đã BIỂU TÌNH TRONG ĐÊM với những ngọn nến sáng rực để đòi CÔNG LÝ.

=> Ngày 01.01.2008: Đoàn người trên 3000 người gồm Linh mục, Tu sĩ, Dì phước, Chủng sinh và Giáo dân đủ mọi giới tham dự cuộc Biểu tình trước Tòa Khâm sứ cũ Hà Nội bị CSVN cướp dựt cho đến nay. Chúng đóng cổng và dùng những khối đã chậm để ngăn cản.

=> Ngày 06.01.2008: Giáo Oan xứ Thái Hà liên tiếp Biểu tình cầu nguyện đò đất thuộc Giáo xứ mà CSVN tham nhũng chia lô bán chia chác tiền bạc với nhau. Đức TGM Ngô Quang Kiệt lên tiếng ủng hộ việc đòi Công lý này, chống lại cướp bóc bất công.


ĐỘT BIẾN GIÁO OAN HÀ NỘI với những cây nến sáng rực lên ngọn lửa CÔNG LÝ sẽ sáng lan ra vào HUẾ và SÀI-GÒN. Tại những nơi đây, việc cướp chiếm Nhà, Đất lại còn ác nghiệt hơn gấp nhiều lần tại Hà Nội.

Xin quý Vị, nhất là các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ, Giáo dân, trong cũng như ngoài nước, hãy nhìn và nhất loạt ủng hộ những cuộc ĐỘT BIẾN GIÁO OAN cùng với DÂN OAN vì CÔNG LÝ này.

NGUYỄN PHÚC LIÊN

 


=======================NGÀY 06.01.2008=========================


GIÁO OAN XỨ THÁI HÀ
BIỂU TÌNH ĐÒI CÔNG LÝ


Giáo xứ Thái Hà thức trắng để cầu nguyện

Tối nay, vào lúc 19giờ30, sau thánh lễ, khoảng hơn 3000 giáo dân giáo xứ Thái Hà đã tiếp tục thắp nến đòi công lý, tại khu đất mà sáng nay Chính quyền Cộng sản dàn quân hỗ trợ cho Công ty Cổ phần May Chiến Thắng xây dựng trái phép trên khu đất của Dòng Chúa Cứu Thế.

Chúng tôi nhận thấy giáo dân Thái Hà trên cả tuyệt vời, một lòng một ý, một niềm tin tưởng sắt son vào tình thương Chúa cao vời.

Cũng nên biết, chiều nay, hơn 1000 em thiếu nhi đã sang tận khu đất để dâng lời cầu nguyện cho Nhà Dòng. Lời kinh hoà bình vang lên từ đôi môi trẻ thơ mới thấy đẹp và xúc động dường nào. Tôi không biết những vị công an hiện diện ở đấy nghĩ gì, chỉ biết rằng một chiến sĩ công an đã thuê một người bán báo dạo 50.000 đồng, để người này, quay loa về phía các em, mở hết công xuất các bài hát ca ngợi Đảng và Bác. Chắc các chiến sĩ công an nghĩ rằng, các em thiếu nhi, suốt bao năm qua, trong nhà trường, đã bị bắt học cho thuộc những bài hát này, nên muốn dùng các bài hát ấy gây nhiễu lời cầu nguyện của các em. Nhưng, họ đã lầm. Thay vì, bị quấy nhiễu; thay vì lời kinh bị ngắt quãng, các bài hát ấy vô tình lại làm cho các cháu thiếu nhi được thêm sức mạnh.

Hoan hô các cháu nhi đồng!!!

Cũng chiều nay, sau thánh lễ 4giờ chiều, khoảng hơn 2000 giáo dân đã kéo sang khu đất, bất chấp sự có mặt của các nhân viên an ninh. Họ một lòng một ý cầu cho giáo xứ mau chóng được Chính phủ cứu xét giải quyết theo nguyện vọng chính đáng của mình. Một số công an bất lực nhìn đoàn người đang ngất ngây hoà trong lời kinh tiếng hát: “Mẹ ơi, xứ đạo con đây, nguyện xin dâng hiến Mẹ từ bi. Xin Mẹ thương đỡ nâng phù trì, và thương dẫn dắt trên đường đi...”

Tối nay, giữa đám đông cuồn cuộn tiến về khu vực mà Xí nghiệp May Chiến thắng dưới sự hỗ trợ của công an, đang tiến hành xây dựng trái phép, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều công an. Hai chiếc xe tải của lực lượng 113. Trong số các chiến sĩ công an mặc thường phục, có anh Vũ Thanh Sơn, nhân viên phòng PA38 Sở Công an Hà Nội, đang có một người con trai du học tại Singapore không biết bằng tiền gì??? Ngoài ra, có rất nhiều công an phường Quang Trung và quận Đống Đa cùng có mặt. Tối nay, họ thật hiền hoà, không còn thái độ hung hăng, hống hách như buổi sáng và chiều nay.

Có một sự kiện xảy ra thật dễ thương, ngay khi các giáo dân đang cầu nguyện, thì có rất nhiều người không công giáo trong khu vực, đã lên tiếng ủng hộ nhà thờ:

Chúng tôi vừa đi vào tới cổng bệnh viện Đống Đa, thì nghe họ nói: “Chúng nó tham nhũng ở đâu thì tham, chứ tham nhũng ngay trên đất của Nhà thờ, thì thật quá đáng. Chúng nó không sợ thánh vật sao. Hôm nay, nhà thờ đòi lại khu đất này thật đúng. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ nhà thờ.”

Một số người khác thì nói: “Đất của nhà thờ thì phải trả nhà thờ chứ, sao lại lấy đất của người ta. Nhà thờ làm thế là phải...”

Một giáo dân tại giáo xứ, sau khi tham gia cầu nguyện, vừa ra khỏi khu vực thì gặp anh bạn là công an. Người giáo dân kể rằng, anh bạn công an kéo anh ra một chỗ và nói: “Mày cũng đến đây giữ đất à. Giữ gì được mà giữ, chúng nó phân lô bán và chia nhau hết rồi. Thế nào cũng có thằng đi tù vì vụ này. Mày biết tại sao hôm nay công an tới đông thế không. Chúng nó cả đấy”. Người giáo dân này bàng hoàng kể lại với chúng tôi như vậy.

Cho tới giờ này, 22giờ00 kém 15, giờ Hà Nội, một số giáo dân đã trở về nhà sau một ngày vất vả vì những cuộc khủng bố, trấn áp của công quyền. Hiện nay, vẫn còn một số cụ bà quyết tâm ở lại giữ đất, bởi như các cụ nói không còn tin vào Chính phủ nữa, ít nhất các cụ đã bị các vị lãnh đạo phường Quang Trung và một số công an lừa nhiều lần rồi:

- Lần thứ nhất diễn ra đêm 3/12/2007, phát hiện Công ty May Chiến Thắng cho máy ủi vào san nền, các cụ đã đến giữa đêm khuya, yêu cầu dừng thi công. Tối hôm đó, ngoài anh Vũ Thanh Sơn phòng PA38, Sở công an Hà Nội, còn có các anh Bình – CA quận, anh Hưng – CA khu vực và một số vị khác nữa. Các vị đại diện chính quyền đã cam kết, đảm bảo với giáo dân không làm bất cứ cái gì trên phần đất này. Nhưng hôm nay, sự việc lại diễn ra như vậy.

- Lần thứ hai là vào đêm hôm qua, 5/1/2008, chính những công an đã từng hứa với họ một tháng trước, lại tiếp tục hứa sẽ ngưng thi công, nhưng sáng nay, chính các vị lại là người đứng ra bảo vệ để Công ty May Chiến Thắng có điều kiện vi phạm pháp luật.

.......

Theo ý kiến của nhiều cụ, thì đêm nay, giáo xứ sẽ thức trắng để cầu nguyện.

Tối nay, Đức Tổng Giám mục đã gửi lời chia sẻ và xin hiệp thông với giáo xứ Thái Hà trong đêm canh thức này.

Xin mọi người hiệp thông với giáo xứ Thái Hà. Mong sao cho công lý được tôn trọng, cho nhu cầu chính đáng của giáo xứ được Chính phủ quan tâm giải quyết.

Chúng tôi sẽ thông tin ngay khi có thể.

Hà Nội, đêm 6/1/2008
An Dân



BIỂU TÌNH TIẾP

(Thứ Hai 07/01/2008)
 

Tối nay, tại hiện trường, nơi mà mấy ngày qua, Công ty May Chiến Thắng dưới sự điều khiển của cán bộ, an ninh...cố tình xây dựng trái phép trên mảnh đất của Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội, thực sự đã trở thành một phố cầu nguyện thứ hai giữa lòng thủ đô Hà Nội. Khoảng ba trăm giáo dân cùng với các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội, với đèn nến trong tay, khoan thai, ung dung, tin tưởng, cùng bước chân theo nhịp điệu và những ca từ chứa đầy cảm xúc của lời kinh hoà bình: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người... Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa”.

Phố cầu nguyện thứ hai giữa Hà Nội
 
Mẹ ơi đoái thương xem nước Việt Nam

Tôi không biết những vị an ninh có mặt tại hiện trường tối nay nghĩ gì và họ đã học được gì từ những con người vốn rất chân thành trong cuộc sống và càng chân thành hơn nữa trong các lời kinh nguyện.

Tôi thấy một em bé nhỏ lắm, khoảng độ bốn tuổi, chấp tay theo đoàn người. Miệng đọc theo những lời kinh bé thuộc. Khuôn mặt rạng ngời lung linh như một vì sao sáng giữa bối cảnh xã hội nhiều tối tăm. Tôi nghĩ chắc các vị cán bộ có mặt cũng thấy cảnh tượng này. Tôi thầm nghĩ, nếu đó là con cái họ thì họ nghĩ sao: “mừng hay giận”, “phản đối hay không phản đối”, “cấm cản hay tiếp tục để cháu ngây thơ với những lời hát câu kinh của mình”? Tôi tự hỏi, các vị ấy có xúc động không nhỉ?

Chắc là không!!!

Nhưng có điều này chắc chắn, đó là một số người dân khu vực, hết lòng ủng hộ nhà thờ.

Một số giáo dân cho biết, chiều nay, khi áp lực của giáo dân quá mạnh, chính quyền bắt đầu phải xuống nước. Sau một cú điện thoại của một cán bộ an ninh, thì ngay lập tức, các công nhân xây dựng mà Công ty May Chiến Thắng đã thuê mướn, nhanh chóng thu dọn vật liệu, đồ nghề đưa sâu vào bên trong công ty. Sau đó, vị này đã cam kết với giáo dân “kể từ giờ phút này không còn chuyện xây dựng gì nữa”. Thực ra, để có được quyết định này, suốt buổi sáng nay và cho đến đầu giờ chiều, rất nhiều cuộc tranh đấu nhiều khi đến gay gắt đã diễn ra giữa giáo dân và cảnh sát. Thấy giáo dân quyết tâm bảo vệ pháp luật đến cùng; thấy không thể bẻ gẫy ý chí của giáo dân, chính quyền đành phải chấp nhận giải pháp lui bước bằng cách điện thoại để Công ty May Chiến Thắng thu dọn hiện trường. Ngay lúc ấy, một vài người dân trong khu vực, không biết họ nghĩ gì mà lại mang ra cho giáo dân mượn một số kìm, như họ nói, là để nhà thờ dẹp hết mớ giây thép gai đi lấy chỗ để cầu nguyện.

Một giáo dân khác cho chúng tôi biết, sáng nay, khi giáo dân đang tụ tập cầu nguyện, có mấy cựu công nhân của Công ty May Chiến Thắng đến tham gia và bày tỏ tình liên đới với Nhà thờ. Họ nói: “Bất công lắm. Chúng nó bán hết nhà xưởng, máy móc, bây giờ là bán đất nhà thờ để chia nhau. Chúng tôi chẳng được gì. Không những thế, chúng còn đẩy chúng tôi ra đường, không lương, không bảo hiểm an sinh xã hội. Nhà thờ làm mạnh lên. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ nhà thờ.”

Tối nay, trong số những người tham gia cầu nguyện, ngoài giáo dân, chúng tôi nhận thấy có sự hiện diện của một số người lương dân trong khu vực, không biết họ tò mò hay bị cuốn hút bởi các lời kinh. Tôi nghĩ cả hai, bởi vì, chương trình cầu nguyện tối nay đã khác tối hôm qua. Ngay trong cách bài trí khung cảnh cũng thấy khác. Ngoài cây thánh giá biểu tượng của sự cứu thoát, không biết ai đó đã có sáng kiến mang theo một bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp khổ lớn. Các bài hát cũng có những đổi khác. Chương trình cũng khác. Mở đầu là cầu xin Chúa Thánh Thần. Sau đó, là Kinh tin kính, kinh hoà bình, tuần cửu nhật kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cầu cho xứ đạo và cuối cùng là bài hát tuyên xưng và cầu xin Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Theo cảm nhận riêng của chúng tôi, bài hát gây nhiều xúc động nhất chính là bài hát về Mẹ Hàng Cứu Giúp, với những lời ca chuyển tải một lời cầu nguyện da diết, đau đáu tận trong lòng:

“Lúc cuộc sống thay đổi lên xuống. Mẹ Hằng Cứu Giúp. Lúc gặp bước gian nan cùng đường. Mẹ Hằng Cứu Giúp. Lúc tâm trí ê chề ngao ngán. Mẹ Hằng Cứu Giúp. Lúc thân xác, rã rời mỏi mòn. Mẹ Hàng Cứu Giúp...

Lúc thù oán ngăn đường chia lối... Lúc hạnh phúc trôi xa vời vợi...Lúc yếu đuối mê muội, tội lỗi... Lúc thao thức hoán cải cuộc đời.. .”

Cao trào của bài hát chính là những ca từ của phần điệp khúc: “Mẹ ơi, cứu giúp chúng con, cứu giúp chúng con. Ôi Mẹ Hằng Cứu Giúp! Mẹ ơi! Cứu giúp chúng con”

Chúng tôi tự nhủ, những ca từ của bài hát này sao lại hợp người, hợp cảnh thế. Nhìn những giáo dân say sưa ca hát, tôi hiểu họ mong và tin tưởng dường nào về một đất nước hoà bình thật sự, không còn cảnh người bóc lột người, không còn cảnh quyền lợi của dân đen bị chà đạp. Họ gửi gắm cho Đức Mẹ mong ước ấy với xác tín rằng chỉ có Mẹ mới “cứu giúp” được mà thôi và tin rằng “có mẹ mọi nhẽ đều xuôi”, có Mẹ không ai phải trở về tay trắng.

Chúng tôi cũng tin như vậy. Hoà bình thực sự chỉ có được khi công lý được mọi người tôn trọng và khi mọi quyền lợi của người dân được đảm bảo. Những sự kiện xảy ra mấy ngày qua cho thấy Nước Nam chưa có hoà bình, bởi chính quyền chưa tôn trọng luật pháp, chưa tôn trọng sự thật và sự công bình. Những ngày qua, những người dân đơn sơ, chất phác, trong lúc bị áp bức chẳng còn biết kêu xin ai, chỉ biết ngửa mặt lên trời và ngước trông lên Mẹ kêu xin “Mẹ ơi! Mẹ thương giúp chúng con. Mẹ ơi! Mẹ thương giúp con cùng. ”

An Dân


=======================NGÀY 01.01.2008==========================


GIÁO OAN KHAI XUÂN
BIỂU TÌNH ĐỒI CÔNG LÝ


 

Ngày đầu năm, trước Tòa Khâm Sứ Hà Nội: Phố Cầu Nguyện với trên 2000 người giữa thủ đô vô thần

HÀ NỘI -- Trưa ngày 01.01.2008, phố Nhà Chung đã biến thành nhà thờ. Khoảng trên 2000 người đã tụ họp cầu nguyện tại đây. Các cảnh sát đã chặn đầu phố hướng dẫn xe cộ lưu thông theo hướng khác giúp giáo dân biến lòng đường thành nguyện đường. …

Sau thánh lễ tại Nhà Thờ Lớn Hà Nội, vị linh mục mời gọi: “Năm mới chúng ta có nhiều ước vọng (…) Một trong những ước vọng cháy bỏng nhất là chúng ta xin lại được nhà đất toà khâm sứ. Để cho điều ấy trở thành hiện thực, chúng ta cần phải cầu nguyện và hành động. Chúng ta hành động chứ không bạo động. Vì thế giờ đây quý cha quý tu sĩ nam nữ và anh chị em giáo dân chúng ta đi sang Toà Khâm Sứ cầu nguyện”.

Đi đầu là thánh giá nến cao và hơn 20 cha đồng tế. Tiếp theo là mấy trăm chủng sinh, nữ tu và hàng nghìn giáo dân. Nhiều người ở bên ngoài nhà thờ, hai bên lối đi Toà Giám Mục đứng đón đoàn cầu nguyện.

Mọi người bắt đầu rầm rập tiến bước. Những bước đi dứt khoát và đầy tự tin. Có linh mục, tu sĩ, chủng sinh và giáo dân. Có già có trẻ có lớn có bé. Có người Việt cũng như người ngoại quốc. Chúng tôi thấy có nhiều người Tây Phương, người Phi Châu và cả một nhóm rất đông người Hàn Quốc.

Khi đoàn linh mục, chủng sinh và tu sĩ vừa qua khỏi sân Nhà Thờ Lớn, đông đảo giáo dân đã tràn xuống quảng trường Nữ Vương Hoà Bình trước Nhà Thờ Lớn đi ngược phố Nhà Chung sang khu vực Toà Khâm Sứ.

Toà Khâm Sứ đã khoá cổng. Sau cổng còn đặt rất nhiều tảng bê tông lớn hình khối. Do đó đoàn người tràn xuống lòng lề đường. Phố Nhà Chung bỗng chốc tràn ngập người. Xe cộ không thể tiếp tục lưu thông. Lối đi không kệt vì đã có rất đông cảnh sát có mặt kịp thời để chặn đầu phố, hướng dẫn lưu thông đi hướng khác, bảo đảm sự trật tự và thánh thiêng của giờ cầu nguyện.

Các bảo vệ bên trong Toà Khâm Sứ đứng lùi vào một góc xa để quan sát. Các nhân viên an ninh mặc thường phục co cụm một chỗ để chụp hình, chỉ trỏ các đối tượng của mình và bàn tán. Hàng trăm máy quay phim và chụp hình của đủ các bên hoạt động với công suất tối đa. Nhưng không ai có thể chụp được toàn cảnh vì bị chìm trong biển người gần như bất động và đang chăm chú vào việc cầu nguyện, say xưa với lời kinh tiếng hát của mình.

Chúng tôi có cảm giác mình đang đứng trong nhà thờ. Đuờng phố là lòng nhà thờ. Tường rào sắt là bao lơn của cung thánh. Bàn thờ là gốc đa nơi có thánh giá và tượng Đức Mẹ Sầu Bi. Nơi đây đang hiện diện đủ các thành phần của cộng đồng dân Chúa để thờ phượng sốt sắng trong ngày đầu năm nắng đẹp và rét ngọt. Phố xá được lời kinh thánh hoá bỗng chốc trở nên thật thơ mộng và thanh bình, không còn chút gì là xô bồ náo loạn của ít phút trước đó.

Cộng đoàn cầu nguyện khoảng nửa tiếng thì kết thúc vào lúc khoảng gần 12 h trưa. Ai cũng thấy hơi ngắn. Nhiều người xuýt xoa giá mà buổi cầu nguyện kéo dài thêm được nữa. Sau lời “lễ xong chúc anh chị em đi bình an- Tạ ơn Chúa”, chúng tôi thấy đoàn người giải tán trong trật tự. Xe cộ chưa được phép lưu thông. Phố xá bỗng chốc vắng lặng kinh người. Chỉ còn các nhân viên an ninh và bảo vệ ngơ ngác vì vừa thoát khỏi sự căng thẳng khi phải nghe những lời kinh tiếng hát du dương, ngọt ngào, êm ái nhưng rực nóng một tình yêu và rực cháy một niềm tin.

Tin cua VietCatholic




=======================NGÀY 15.12.2007=========================


ĐỨC TGM NGÔ QUANG KIỆT
LÊN TIẾNG ĐÒI CÔNG LÝ


Thư của Đức TGM Ngô Quang Kiệt lên tiếng với chính quyền CSVN
về đất Tòa Khâm Sứ
và xin dân Chúa cầu nguyện


Hà nội ngày 15 tháng 12 năm 2007
Gửi: Các Linh mục, Tu sĩ, Chủng sinh
Và anh chị em giáo dân Tổng Giáo phận Hà nội

Anh chị em thân mến,
 
Từ nhiều năm qua, sinh họat của Tổng giáo phận bị giới hạn vì thiếu thốn cơ sở vật chất. Nay trong tình hình xã hội đổi mới, số linh mục ngày càng tăng, các tổ chức sinh họat ngày càng nhiều, cơ sở Tòa Tổng giám mục càng trở nên chật hẹp. Đã có những buổi lễ người tham dự phải tràn ra đường phố. Đã có những tổ chức sinh họat như sinh họat giới trẻ phải khổ sở chen chúc nhau trong sân Nhà Chung.

Hơn nữa, Tòa Tổng giám mục Hà nội còn là nơi đặt trụ sở chính của Hội đồng Giám mục Việt nam. Thế mà hiện nay, vẫn chưa có đủ phương tiện cần thiết cho những họat động tối thiểu của cơ quan quan trọng, là tổ chức đứng đầu Giáo hội Công giáo tại Việt nam. Thậm chí chưa có được một căn phòng nào dành riêng cho Hội đồng Giám mục. Hoàn cảnh thật đau lòng.

Vì thế từ nhiều năm nay, Tòa Tổng Giám mục và Hội đồng Giám mục đã nhiều lần đệ đơn lên Chính quyền các cấp xin giao lại Tòa Khâm sứ để Giáo hội có đủ phương tiện cần thiết cho những họat động tôn giáo tối thiểu. Đề nghị chính đáng của tôn giáo chưa được đáp ứng, trong khi đó Quận Hòan Kiếm lại dùng Tòa Khâm sứ để kinh doanh buôn bán. Trước đây đã bán phở, nay lại mở ngân hàng. Và ngày 13-12-2007 vừa qua thêm kinh doanh giữ xe với quang cảnh thật hỗn độn.

Vì thế, xin anh chị em hãy tích cực cầu nguyện để những nơi tôn nghiêm của tôn giáo được tôn trọng, nhu cầu chính đáng của Giáo phận và của Hội đồng Giám mục được đáp ứng và những sinh họat tôn giáo được thuận lợi, góp phần xây dựng xã hội, đặc biệt khuôn mặt của thủ đô được tốt đẹp.

Thân ái chào anh chị em.
+Giuse Ngô quang Kiệt
Tổng Giám mục Hà nội 





=======================NGÀY 18.12.2007==========================



ĐỘT BIẾN GIÁO OAN HÀ NỘI:
2000 NGƯỜI BIỂU TÌNH TRONG ĐÊM


(18/12/2007)
Hà Nội rực sáng lên niềm tin cho công lý:
Trên 2.000 người Công giáo tuần hành trước Tòa Khâm Sứ! 


HÀ NỘI -- Một lối ứng xử chưa từng có trong lịch sử Giáo phận Hà Nội. Hàng nghìn người có mặt tại Toà Khâm Sứ trong đêm. Thắp nến hát thánh ca cầu nguyện đòi công lý.
 
Tuần hành vĩ đại
trước Tòa Khâm Sứ Vatican
tại Hà Nội đêm 18.12.2007


Lời Kinh Hoà Bình của ca đoàn tổng hợp trong đêm hát lên mừng Chúa vừa dứt trong tiếng vỗ tay, thì tiếng một cha nào đó vang lên trên hệ thống tăng âm có vẻ vừa ngọt ngào và hiền hoà, vừa nghiêm trọng và quyết liệt. Ngài nói đến việc đòi đất Toà Khâm Sứ theo nội dung của bức thư chung của Đức Tổng Giám Mục gửi cộng đồng dân Chúa ngày 15.12 vừa qua.

Lúc đó là 22 giờ 6 phút,
tối ngày 18.12.2007

Kết thúc ngài nói: “Để các cấp chính quyền sớm giải quyết đúng với mục tiêu công bằng, văn minh, trên đường ra về, chúng ta hãy hướng về Toà Khâm Sứ. Xin tất cả hãy đi hàng đôi hướng về Toà Khâm sứ và đọc kinh cầu nguyện.”- Tôi đang mải chạy cho nên nhớ không chắc đúng từng từ.

Tức thì tôi thấy một đoàn rước đông đảo. Thánh giá nến cao đi đầu. Theo sau là một đoàn người đông đảo. Khoảng hơn 2000 người. Có linh mục, tu sĩ, chủng sinh, giáo dân. Trong và ngoài giáo phận. Cả cán bộ nữa có lẽ. Vì vừa có buổi trình diễn thánh ca và khách tham dự thuộc nhiều đối tượng và đến từ nhiều giáo phận Miền Bắc. Tất cả trong trang phục lễ hội. Từ sân Đại Chủng viện đoàn người đi qua khu vực Toà Giám Mục tiến thẳng sang sân Toà Khâm sứ, nơi đang bị chiếm dụng bất công và bất hợp pháp từ gần nửa thế kỷ nay.

Thánh giá và Nến cao trước cửa Tòa Khâm Sứ
Tiến lên với ngọn nến sáng trong tay.
Tiến lên với lời thánh ca tha thiết trên môi miệng
Tiến lên trong lối đi rực ánh đèn mầu đón Chúa Giánh Sinh.
Tiến lên trong trật tự, trang nghiêm và an bình.
Không một khẩu hiệu nào được hô lên.
Không một cánh tay nào được vung lên.
Không một người nào chen lấn xô đẩy.

Bạn chỉ thấy những con người y phục lễ hội hết sức lịch sự duyên dáng đang nhè nhẹ bước tới trong tiếng hát lời kinh nguyện cầu vang lên tha thiết, du dương, trầm bổng trong tiếng đàn nhạc linh thiêng, hùng tráng của lời Kinh Hoà Bình: “Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp. Để con đem chân lý vào nơi tối tăm, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng…”

Bạn cung kính đứng nhìn đoàn người nối đuôi nhau từ từ đi qua cổng tiến vào khu sân cỏ trước Toà Khâm Sứ.

Không thấy bóng bất cứ nhân viên công lực nào trong quân phục. (Có thể chỉ vì tôi không thấy).

Giáo dân và tu sĩ
một lòng đòi công lý

Không một ai, không một thế lực nào có thể ngăn cản họ tiến vào nhà họ. Các nhân viên trông coi bãi xe đứng chết lặng vì kinh ngạc. Không nói được lời nào. Các cán bộ và nhân viên của cơ quan nào đó đang ở bên trong nhà thì không dám ra khỏi phòng.

Họ đi bình thản và tự nhiên. Họ đi như đã quen vì đấy vốn là nhà họ. Họ tiến thẳng vào cửa chính Toà Khâm Sứ. Nhưng cửa chính đã khoá rồi.

Thánh giá nến cao dừng lại nơi bậc cấp trên cùng sát cửa chính. Dừng lại, quay ra và hướng xuống sân cho cộng đoàn đông đảo chiêm ngưỡng và cầu nguyện.

Đoàn người tiếp tục tiến vào. Họ đứng chật cái sân rộng mênh mông. Nhiều người đứng tràn ra hai bên hè Phố Nhà Chung.

Họ vẫn cầm nến sáng trong tay. Họ tiếp tục cầu nguyện. Họ không cần phải diễn tả bằng ngôn ngữ và cử chỉ thông thường. Nhưng trong một niềm tin họ kết thành một khối thống nhất. Hiểu nhau và gắn bó với nhau hơn bao giờ hết. Trời ở cùng họ. Họ mang trong mình sức mạnh của Trời.

Có giây phút im lặng. Một sự im lặng có sức mạnh ngàn lần hơn những tiếng hô khẩu hiệu. Rồi lại có tiếng cầu xin Chúa Thánh Thần được cất lên. Rồi lại im lặng. Rồi lời ca “Lạy Mẹ xin thương đến Giáo phận con đây” lại được cất lên. 

Thanh Tâm  






=======================NGÀY 07.11.2007==========================



ĐỘT BIẾN GIÁO OAN SÁO CÁT

NGUYỄN PHÚC LIÊN


Trọng kính quý Cha, quý Vị,

Con vô cùng hân hoan về quyết định nàỵ

Dân Oan đã làm đơn khiếu nại bao nhiêu năm trường rồị CSVN không thèm giải quyết, thậm chí không đọc đến Đơn Khiếu Kiện.

Tài sản của Tôn Giáo, của Dân Xứ đã bị tước đoạt. Cứ làm Đơn Khiếu Kiện hoài mà CSVN không thèm nghe, không thèm đọc.

Đã đến lúc Dân xứ các nơi đồng đứng lên như Dân Oan chiếm lại những cơ sở đã bị ăn cướp bao năm trường.

DÂN OAN, GIÁO DÂN OAN, TÔN GIÁO OAN CÓ LÝ DO ĐỂ TỰ ĐỘNG ĐỨNG LÊN CHIẾM LẠI NHỮNG GÌ ĐÃ BỊ ĂN CƯỚP.

Trọng kính,
 
NGUYỄN PHÚC LIÊN




Bản tin ngày 07-11-2007
Giáo xứ Sáo Cát tự quyết định lấy lại cơ sở của mình
  
Lời giới thiệu: Sáo Cát là một giáo xứ nhỏ của Tổng Giáo Phận Huế, khoảng 1100 tín hữu, hiện ở dưới quyền cai quản của linh mục Phaolô Trần Khôi (sinh năm 1953, chịu chức năm 1996). Giáo xứ nằm bên bờ biển, thuộc thôn Đồng Dương, thị trấn Lăng Cô, không xa chân đèo Hải Vân là mấy. Giáo xứ có một ngôi trường tư thục mang tên Đồng Nguyên, nằm trong khuôn viên nhà thờ, xây dựng năm 1954 và được trùng tu năm 1969. Sau năm 1975, cơ sở này bị nhà cầm quyền CS tịch thu và sử dụng làm trường nhà nước, khiến giáo xứ mất nơi dạy giáo lý trẻ em và sinh hoạt hội đoàn. Nay nó đã xuống cấp trầm trọng mà vẫn không được các người đang quản lý nó sửa chữa. Đàng khác, sinh hoạt học đường tại đó đã gây nhiều phiền toái cho sinh hoạt tôn giáo cũng như làm ô nhiễm môi trường quanh nơi thờ tự. Đang khi ấy thì thị trấn Lăng Cô còn nhiều đất đai để xây dựng trường học khang trang hơn nhưng nhà cầm quyền địa phương chẳng màng quan tâm, thậm chí còn đem bán một ngôi trường công lập đã cũ nữa. Thành thử Giáo xứ Sáo Cát thấy đã đến lúc phải tự quyết định lấy lại tài sản của mình hầu dùng cho sinh hoạt tôn giáo và bảo đảm sự tôn nghiêm của nơi thờ tự. Đó là lý do của Tờ trình và Bản Quyết định dưới đây.
 
Một sự kiện liên quan là cách đây vài tháng, sau khi về nhận nhiệm sở mới, nhận thấy nhân dân hay đi băng ngang sân nhà thờ, biến nó như con đường của thôn, gây bao cảnh lộn xộn, linh mục Trần Khôi liền bắt tay vào việc tái lập trật tự nơi tôn nghiêm bằng cách rào lại khuôn viên (bao gồm nhà thờ, nhà cha xứ, nhà các nữ tu và trường học, xem hình sẽ gởi kỳ sau). Nhà cầm quyền CS địa phương coi đó là một sự thách thức nên rắp tâm trả thù. Đến ngày Giáo xứ Sáo Cát có ý định tráng xi-măng sân nhà thờ (xin xem hình bên dưới), CS ra liền chơi trò hèn hạ bằng cách cấm các đại lý xi-măng, cát sạn tại Lăng Cô bán vật liệu cho Giáo xứ, rồi còn cấm các xe Công nông (một loại xe tải nhỏ tự chế) chuyên chở các vật liệu này đến nhà thờ. Thế là mọi giáo dân có xe máy đều được huy động. Họ mua từng bao xi măng, từng bao cát sạn, đèo sau yên xe, chở đến nhà cha sở. Rốt cuộc thì sân nhà thờ vẫn được lát xi-măng khang trang sạch đẹp, trước đôi mắt căm tức của cán bộ CS địa phương. Nay thì nhà cầm quyền đang lồng lộn trước quyết tâm của Giáo xứ Sáo Cát muốn thực thi quyền sở hữu hợp pháp và lấy lại tài sản chính đáng của mình bị CS ăn cướp từ hơn 30 năm nay. Việc này nằm trong phong trào rộng lớn của toàn thể nhân dân VN –nhất là nông dân- đòi lại đất đai tài sản đã và đang bị Cộng sản tước đoạt cách trắng trợn. 
 
Cũng xin nhắc lại là từ gần hai năm nay, CS muốn chiếm hẳn, cướp gọn (bằng cách “cấp sổ đỏ” cho Phòng Giáo dục huyện) mọi ngôi trường lớn nhỏ mà họ đã “mượn” của các dòng tu, giáo xứ trong Giáo hội Công giáo cũng như của nhiều cộng đoàn thuộc các Giáo hội khác tại VN. Chủ trương ăn cướp vĩnh viễn các tư thục này là của bộ Giáo dục và Đào tạo CSVN. Vụ trường Têrêxa của Dòng Mến Thánh Giá Huế, trường Hồ Đình Hy của Giáo xứ Tây Lộc, trường Mai Khôi của Giáo xứ Phường Tây, trường giáo xứ Hà Thanh thuộc Giáo phận Huế (xin xem lại tài liệu Đấu tranh cho Tự do Tôn giáo tại Huế, Bản tin ngày 24-11-2006 và Bản tin ngày 05-11-2006), trường Bảo Lộc của Giáo xứ Bảo Lộc, Cà Mau, thuộc Giáo phận Cần Thơ (xin xem lại Tài liệu và hình ảnh tung lên mạng gày 26-10-2006)… là những ví dụ điển hình.
 
Điều đáng nói là một trong những căn cứ pháp lý CS dựa vào là điều 247 khoản 1 trong Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về xác lập quyền sở hữu tài sản theo thời hiệu: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu”. Điều khoản này thật ra áp dụng cho đất hoang và đồ vô chủ, đang khi các tư thục là tài sản hợp pháp của các Giáo hội (xin xem lại hồ sơ vụ trường Mai Khôi và đón xem hồ sơ vụ trường Đồng Nguyên, sẽ gởi tiếp). Quả là một luận điệu và lý cớ hết sức phi lý nực cười mà chỉ có Cộng sản mới dám  xử dụng !?!
 
Chúng ta hãy cầu nguyện và ủng hộ cuộc đấu tranh giành lại các tài sản vật chất và tài sản tinh thần (tức các quyền tự do) của mọi thành phần dân tộc tại VN hiện nay.
 
Nhóm Phóng viên FNA (Free News Agency) từ Huế.








=========================
pho bien/ publication 08.01.2008
=========================


                                            LÝ LUẬN DẪN ĐẾN
                             XÉ ĐỐT CỜ MÁU CỦA KẺ BÁN NƯỚC
  
    
                                            Nguyễn Phúc Liên
   


LÝ LUẬN (logique/raisonnement) dẫn đến kết luận XÉ ĐỐT CỜ MÁỤ Thực vậy, chúng tôi viết bài ngắn này hoàn toàn đứng ở phương diện lý luận. Còn thực tế, có ai hay đoàn thể nào quyết định LÀM việc XÉ ĐỐT CỜ MÁU, đó là quyết định của cá nhân hoặc đoàn thể đó.
 
SỰ VIỆC XẨY RA
  
Tầu tuyên bố lấy Hoàng Sa-Trường Sa khiến Dân tộc Việt từ trong đến ngoài nước thấy rõ rằng việc bán nước đã do lệnh Hồ Chính Minh và đồng bọn từ năm 1958 kéo dài cho đến ngày naỵ 

1)  Cao trào chống xâm lăng bùng dậy 

2)  CSVN đã muốn lợi dụng cao trào dưới quyền điều hành của mình. 

3)  Một số nhóm Trí thức Chính trị xôi thịt đã muốn cờ đỏ sao vàng, cờ mà của kẻ bán nước CSVN áp đặt lên Dân tộc., đi chung với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ như biểu hiệu Hòa Giải Hòa Hợp Giải dân tộc dưới quyền lực độc tài của kẻ đã bán nước. 

4)  Đồng bào Hải ngoại đã sáng suốt nhận ra mưu toan ấy, nên không thể chấp nhận việc cho cờ đỏ sao vàng đi chung với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. 

5)  Đồng thời Đồng bào cũng nhận định rõ rệt rằng phải loại trừ CSVN, kẻ bán nước, trước khi đuổi Tầu xâm lăng trong trường kỳ. 
 
LÝ LUẬN

6) XÉ ĐỐT CỜ MÁU là một điều hữu lý. Hữu lý vì cờ máu biểu hiệu kẻ bán nước mà Dân tộc phải loại trừ. Khi quyết định loại trừ kẻ phản bội Tổ quốc, thì điều lý luận tự nhiên là phải loại bỏ cái biểu hiệu của kẻ phản bội ấy, nghĩa là XÉ VÀ ĐỐT ĐI LÁ CỜ của kẻ bán nước.

7)  Du sinh muốn tỏ lòng yêu nước chống lại việc Tầu xâm lăng, thì cái LÝ LUẬN cũng đòi Du sinh phải phản đối trước tiên kẻ đã bán nước là CSVN bởi vì chính CSVN đã rước Tầu về dầy Mồ Tổ Tiên. Phản đối việc mất Đất và Biển mà còn cầm cờ tôn vinh kẻ bán nước, thì đó, theo LÝ LUẬN, là điều NGỊCH LÝ. Có ý kiến yêu cầu Du sinh đến trước Sứ quán, Lãnh sự của kẻ bán nước để XÉ ĐỐT CỜ MÁU, theo dòng LÝ LUẬN trên đâỵ Đó là điều hữu lý.

8)  Nếu giới Du sinh đang học hành và ngại sợ việc hằn thù bất chính của CSVN, thì có ý kiến nhờ Việt Tân, thường làm quen với Du sinh để mong móc nối với quyền lực của kẻ bán nước, hãy trợ lực Du sinh trong việc XÉ ĐỐT CỜ MÁU nàỵ Việt Tân không phải là Du sinh, nên không ngại sợ CSVN hằn thù mình như hằn thù Du sinh. Đây cũng là theo LÝ LUẬN.

9)  Nếu Việt Tân còn e dè không dám làm vì muốn chiều chuộng kẻ bán nước để mong được nhặt chút bánh rơi rụng từ CSVN, kẻ đã bán nước, thì cũng theo LÝ LUẬN, Đồng bào đã có bằng chứng CSVN phản quốc và phải bị loại bỏ như đã trình bầy trong phần SỰ VIỆC XẨY RA trên đây, thì chính  Đồng bào đứng lên XÉ ĐỐT CỜ MÁU ấy vì lá cờ tượng trưng kẻ phản quốc. Đây hoàn toàn là theo LÝ LUẬN
 
Như chúng tôi chú thích ngay ở đầu bài vắn gọn này, vấn đề THỰC HIỆN việc XÉ ĐỐT CỜ MÁU theo đúng LÝ LUẬN là quyết định của mỗi cá nhân, mỗi Du sinh, mỗi Đoàn thể như Việt Tân chẳng hạn, và của Đồng bào, nghĩa là TRI và HÀNH có hợp nhất tức khắc hay TRI (LÝ LUẬN) cần có thời gian suy nghĩ trước khi HÀNH (làm công việc XÉ ĐỐT CỜ MÁU).
 
Nguyễn Phúc Liên 
 





BS CẢNH ĐÚNG, BS VIỆT SAI

Nguyễn Phúc Liên

Quý Vị cũng như tôi đã viết nhiều về vấn đề cờ đỏ sao vàng và Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đi chung với nhau để biểu tình phản đối xâm lăng trước Cơ Sở Đại Diện của Trung Cộng. Nhân thư của Bác sĩ NGUYỄN TIẾN CẢNH đính kèm dưới đây trả lời cho những câu nói của Bác sĩ NGUYỄN TRỌNG VIỆT và Giáo sư NGUYỄN NGỌC BÍCH, tôi cũng xin phép góp chút ý kiến vắn gọn. Có ba vấn đề:
=> Trách nhiệm việc Tầu chiếm Đất và Biển của Việt Nam
=> Chống lại Tầu xâm lăng dưới hai lá cờ
=> Kết luận: Bs Cảnh đúng, Bs Việt sai

Trách nhiệm việc Tầu chiếm
Đất và Biển của Việt Nam

Có hai trách nhiệm cho việc Tầu chiếm Đất và Biển của Việt Nam.

=> Từ phía Việt Nam: Đảng CSVN đã phạm tội phản quốc, chính thức bằng Văn bản đem dâng Đất (Hoàng Sa-Trường Sa) và một phần Biển Đông cho Tầu. Hồ Chí Minh ra lệnh và Phạm Văn Đồng ký công hàn dâng nước. Từ đó đảng CSVN nối tiếp ưng thuận việc bán nước này.

Đảng CSVN đã phạm tội bán nước, thì kết luận đầu tiên khi Dân Việt đứng lên đấu tranh bảo tồn Lãnh thổ là phải loại trừ bẻ bán nước này. Chúng ta không thể đi chống Tầu, trong khi ấy kẻ bán nước vẫn nắm quyền hành điều khiển chúng ta. Chúng ta cũng không thể giao phó việc đòi lại lãnh thổ cho chính kẻ đã bán nước trong những chục năm trường. Không ai trao việc chống kẻ cướp cho chính những kẻ đã lấy của cải chúng ta dâng cho kẻ cướp.
 
=> Từ phía Trung Cộng: Tham vọng bành trướng đưa Trung Cộng đến việc chiếm Đất và Biển của Việt Nam

Chống lại Tầu xâm lăng
dưới hai lá cờ

Dân tộc Việt Nam chống lại việc xâm lăng này.

=> Thứ tự hành động chống xâm lăng. Không thể chỉ chú tâm đi chống Tầu xâm lăng đến từ phía ngoài, mà để phía trong kẻ bán nước (CSVN) cho Tầu vẫn nằm đó và còn theo lệnh của Tầu để đàn áp việc chúng ta hành động chống Tầu. Vì vậy, thứ tự chống Tầu xâm lăng nhất thiết phải  như sau:

* Trước hết, loại trừ kẻ bán nước: Có như vậy thì Dân Tộc rảnh tay dồn toàn lực vào việc chống ngoại xâm. Nếu không chúng ta bị kẻ làm phản còn làm phản nữa. Những cuộc Biểu tình phải được tổ chức trước tiên trước những Sứ quán, Lãnh sự của kẻ bán nước là CSVN

* Sau đó, chúng ta chống Tầu: Cuộc chống Tầu là trường kỳ, phải do sự Lãnh đạo từ những người mà Dân trực tiếp giao trách nhiệm, được Dân hoàn toàn tín nhiệm và chưa từng phản bội lại Tổ quốc.

=> Dưới hai lá cờ: Cờ đỏ sao vàng là cờ của đảng CSVN áp đặt lên Dân tộc Việt Nam trong những chục năm. Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đã mang truyền thống chống Tầu xâm lăng, điển hình nhất là dưới lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, Hải Quân VNCH đã anh dũng chống Tầu năm 1974.

Khi cầm lá cờ đỏ sao vàng đi đến Sứ quán, Lãnh sự Tầu, thì có trái ngược như sau:
Nếu cầm cờ đó, cờ của kẻ bán nước, có nghĩa là chúng ta vẫn chấp nhận sự cầm quyền của kẻ bán nước. Điều này trái ngược với việc chúng ta phải loại bỏ trước hết kẻ bán nước như trên vừa nói. Những người cầm cờ đó là những người chấp nhận quyền lực của kẻ bán nước, nghĩa là coi CSVN không có trách nhiệm gì trong việc mất Đất và Biển trong khi ấy hành động phản quốc của CSVN rành rành bằng Văn bản trong Công hàm. Khi cầm cờ đỏ sao vàng, nghĩa là vẫn dưới quyền CSVN, đến trước Sứ quán, Lãnh sự Tầu, họ chỉ cần trả lời rằng Nhà Nước CSVN của các ông đã bán Đất và Biển cho chúng tôi bằng Văn bản rồi, hãy về mà chống hoặc hỏi Nhà Nước của các Ông.

Kết luận: Bs Cảnh đúng, Bs Việt sai

=> Đúng sai theo lý luận

Gs Nguyễn Ngọc Bích nói:“Nếu các em bên kia tham gia một phần có cầm cờ đỏ sao vàng, chúng ta cũng có thể cho các em làm việc đó”.
Việc mất Hoàng Sa-Trường Sa là do CSVN bán nước, đồng thời do Tầu xâm lăng. Chống Tầu xâm lăng là để lấy lại Hoàng Sa-Trường Sa. Cở đỏ sao vàng là cờ của CSVN. Cầm lá cờ ấy là chấp nhận quyền của CSVN. Vậy khi đi chống Tầu, đòi lại Hoàng Sa-Trường Sa, mà còn cầm cờ đỏ sao vàng, tức là chấp nhận quyền bán nước của CSVN. Câu nói của Gs Bích hàm chứa nghịch lý ngay trong lý luận.
Bs Nguyễn Trọng Việt tuyên bố: “Dù đứng dưới lá cờ nào cũng chỉ có một đối tượng là TQ”. Đối tượng là Trung quốc mà việc đấu tranh nhằm vào. Nhưng nhằm vào đối tượng để lấy lại Hoàng Sa-Trường Sa hay dâng luôn cho Tầu Hoàng Sa-Trường Sa. Cầm cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là đòi lại Hoàng Sa-Trường Sa, còn cầm cở đỏ sao vàng là chấp nhận cái quyền lực đã bán Hoàng Sa-Trường Sa, chứ không phải là đòi lại. Cái sai là ở chỗ đó. 

Bs Nguyễn Tiến Cảnh hoàn toàn đúng khi phản đối hai câu nói sai trong lý luận này.

=> Đúng hay sai theo ngầm ý chính trị

Hai câu nói trên đây của Gs Nguyễn Ngọc Bích và của Bs Nguyễn Trọng Việt hàm ngụ hay tượng trưng cho ý nghĩa Hòa Hợp giữa chế độ độc tài CSVN và chủ trương đấu tranh cho Tự do, Dân chủ/Nhân quyền. Cờ đỏ sao vàng biểu hiệu cho chế độ độc tài CSVN và cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là truyền thống đấu tranh cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền. Hiện nay, CSVN vẫn cố thủ giữa lấy quyền hành độc đoán. Hòa giải Hòa hợp chỉ là chiêu bài che đậy cho việc cố thủ giữa lấy quyền hành riêng cho đảng của họ. Họ muốn dàn xếp với một số thành phần Chính trị trên phương diện quyền hành cai trị, mà không đi vào thực chất của HÒA HỢP DÂN TỘC theo nguyện vọng của chính người Dân. Nhân việc Tầu chiếm Hoàng Sa-Trường Sa, họ muốn những cuộc đấu tranh đứng chung lại dưới quyền lực của họ. Việc hai lai lá cờ đi chung với nhau như một tuyên truyền cho chiêu bài Hòa hợp giả hiệu.

Bs Nguyễn Tiến Cảnh đứng ở Lập trường đòi hỏi một sự HÒA HỢP thực sự của Dân tộc, nghĩa là phải phế bỏ độc tài, cụ thể là phế bỏ Điều 4 của Hiến Pháp, phải tôn trọng Tự do Ngôn Luận, phải tôn trọng quyền lập Hội, để tiến tới một Hiến Pháp được chấp nhận bởi Toàn Dân.

Bs Nguyễn Tiến Cảnh đứng ở quan điểm người Dân, trong khi ấy hình thức đứng chúng qua hai câu nói của Gs Bích và Bs Việt chỉ là chiêu bài dàn dựng giữa những người làm chính trị thương lượng quyền hành cai trị mà thôi.

Lập trường của Bs Nguyễn Tiến Cảnh là đúng vì đã bao chục năm trường, Toàn Dân muốn như vậy.


Nguyễn Phúc Liên

 

 



THƯ CỦA BS NGUYỄN TIẾN CẢNH


Kính gửi Bs Nguyễn trọng Việt và quí vi,

Tôi ít có thì giờ nên chỉ dành cuối tuần hoặc khi rỗi mới mở computer để đọc tin tức, thành thử hôm nay mới đọc được thư của Bs Nguyễn trong Việt phàn nàn những người không đồng ý với mình về việc cờ vàng cờ đỏ…trong đó ông có nhắc đến tên tôi và có nói nặng lời. Đáng lẽ tôi cũng chẳng cần lên tiếng, vì đã có nhiều người lên tiếng về vấn đề này rồi. Vấn đề nó đã quá rõ ràng. Nhưng vì nể tình bác sĩ Việt đã “cả tiếng lại dài hơi” nên tôi lên tiếng trả lời.

1/ Tôi không đồng ý với Bs NTViệt và Gs NNBích về việc đồng ý cho các em cầm cờ đỏ sao vàng đi biểu tình chống TQ chứ tôi không muốn nói về chương trình / nôi dung của cuộc hội luận về Hoàng Sa… của 2 vị. Ai chả biết quí vị không đồng ý để cho TQ chiếm Hoàng Sa, cũng như CSVN luôn luôn to mồm tuyên bố tranh đấu cho đất nước độc lập và bảo toàn lãnh thổ nhưng đã cắt đất chia biển cho Trung Quốc để được bảo vệ, được làm chư hầu mong giữ mãi miếng đỉnh chung không cần biết đến dân đến nước.

Tôi chỉ muốn không đồng ý với Gs Bích khi ông nói : “Nếu các em bên kia tham gia một phần có cầm cờ đỏ sao vàng, chúng ta cũng có thể cho các em làm việc đó”. Và đặc biệt Nguyễn trọng Việt còn “tâm đắc” với Gs Bích nói thêm: “Dù đứng dưới lá cờ nào cũng chỉ có một đối tượng là TQ”.

Xin nói rằng, câu nói này của Bs Việt rất nguy hiểm. Lý do: Vừa thoạt nghe câu nói ấy thì thấy đúng quá, chẳng ai có thể chối cãi được. Nhưng nghĩ kỹ thì “nguy hiểm” đấy, bởi lẽ câu nói đó đã rập khuôn câu châm ngôn mà mỗi người CS phải học nằm lòng: “Cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Hồ chí Minh và đảng CSVN đã từng làm bất cứ điều gì dù bất nhân thất đức đến đâu, giết cha, tố mẹ, giết chồng, giết vợ, giết bạn bè, bán nước hại dân…cũng không sao miễn là đạt được mục đích của mình, cho đảng mình. Trong trường hợp này nếu chúng ta nhập nhằng, lập lờ đánh lận con đen đứng chung với cờ máu để gọi là chống TQ thì vô tình hay hữu ý chúng ta đã về phe với CSVN rồi, chúng ta đã chịu đứng dưới sự cai trị của CSVN rồi, chúng ta đã đồng ý hòa hợp hòa giải với chúng rồi.

Bs Việt là ủy viên cao cấp của một đảng chính trị thì câu nói đó không đơn thuần chỉ có một ý nghĩa đơn giản bề ngoài mà chúng ta thoáng nghĩ thôi, nó còn phải được hiểu theo các ý nghĩa khác tàng ẩn  trong câu nói đó.

2/ Điều thứ hai tôi muốn nói với bác sĩ NTViệt là ông đã hàm hồ và ức đoán, khơi khơi gán cho chúng tôi (Tôn Thất Sơn, Nguyễn Tiến Cảnh) là không buồn kiểm chứng khi đọc phần trích dẫn, và có lẽ cũng chẳng chính tai nghe buổi hội luận này, đã vội vã về hùa, mạnh tay “đánh hôi” bất chấp lẽ công bằng trong suy xét. Xin thưa bác sĩ Việt, tôi đã kiểm chứng và thấy đúng như vậy và tôi đã hành sử hợp lý đúng với lương tâm và thực tế. Bây giờ tôi muốn kiểm chứng lại một lần nữa thì cái buổi phát thanh cuộc hội luận của Bs. và Gs Bích đã được đem dấu kín ở đâu mất rồi.

Bác sĩ Việt cho chúng tôi là “về hùa”, “đánh hôi” là hoàn toàn lộng ngôn và bất kính đối với một đồng nghiệp đàn anh. Hễ cứ đồng ý với ai là về hùa à? Hễ không đồng ý là đánh hôi à? Tiếng về hùa có lẽ nên dành cho những ai muốn đứng chung với cờ máu  của CSVN thì đúng hơn. Tôi nhận lời mời của bác sĩ Việt làm thuyết trình viên trong Hội Nghị Diên Hồng Hải Ngoại bảo tồn đất tổ kỳ 2 ở Nam Calif không có nghĩa là tôi đồng ý đứng chung với cờ máu?, không có nghĩa là tôi phải chịu ơn bác sĩ Việt, phải đồng ý và “về hùa” với bác sĩ Việt. Đúng là cả tiếng lại dài hơi.

Cám ơn bác sĩ Việt và chúc bác sĩ Việt thân tâm an lạc và vạn sự thắng ý thành công.

NTCảnh




=========================
pho bien/ publication 06.01.2008
=========================



========================= QUỐC NỘI ============================


                                    LỜI KÊU GỌI BIỂU TÌNH LẦN 3


Đồng bào kính mến…

từ thuở quốc tổ Hùng Vương dựng nước Văn Lang cho đến hôm nay, kẻ thù phương Bắc chưa bao giờ nguôi ý định thôn tính nước ta, biến ta thành một châu quận của chúng. Trải hàng ngàn năm, bọn giặc Hán, Ngô, Nguyên, Minh, Thanh...liên tiếp đem quân xâm lược nước ta, cố đồng hóa dân ta, thủ tiêu văn hóa Việt, cướp bóc tài vật, sản vật của người dân Việt.

Cũng trải qua hàng ngàn năm ấy, dân tộc Việt luôn có những người con ưu tú sẵn sàng đứng lên đánh đuổi ngoại xâm, bảo vệ vẹn toàn giang sơn gấm vóc:

=> Phù Đổng Thiên Vương chống giặc Ân
=> Hai Bà Trưng đánh đuổi quân Hán
=> Triệu Thị Trinh dẹp giặc Đông Ngô
=> Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán
=> Trần Hưng Đạo chôn xác quân Nguyên dưới sóng sông Bạch Đằng
=> Lê Lợi kháng Minh
=> Nguyễn Huệ chống quân Thanh
=>  ...????

Bao thế hệ người Việt đã ngã xuống trên mảnh đất này để giữ gìn non sông một cõi. Lớp lớp quân thù đã phơi thây cùng giấc mộng đồ vương. Giặc phương Bắc vẫn không thôi mưu tính chiếm đoạt nước ta:

1. Năm 1974, chúng đã dùng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa của tổ tiên dân Việt.
2. Năm 1988, chúng lại tiếp tục cưỡng chiếm Trường Sa.
3. Năm 2007, chúng chính thức lập ra cơ quan hành chính cấp huyện để quản lý Hoàng Sa và Trường Sa, xem đây là một phần lãnh thổ Trung Quốc.

Tham vọng của chúng còn biểu thị rõ ràng hơn trên hành trình rước đuốc Olympic Bắc Kinh - ngọn đuốc sẽ đi qua Hoàng Sa như đi trong lãnh thổ Trung Quốc.

Trên những băng-rôn, biểu ngữ xuất hiện gần đây tại Trung Quốc, cờ Trung Quốc được thể hiện trên nền đỏ, với một ngôi sao lớn và năm ngôi sao nhỏ so với bốn ngôi sao nhỏ như đã thể hiện trên quốc kỳ.

Mới đây nhất, chúng đã chính thức ban hành loại tiền riêng dành cho khu vực Tam Sa. Khách du lịch đến vùng này, sử dụng tiền Tam Sa, xem như được miễn thuế.

Trước những động thái mang tính xâm lược rõ ràng như thế, chính quyền Việt Nam vẫn không có một hành động mạnh mẽ, dứt khoát nào để bảo vệ non sông.

Người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam, Lê Dũng, vẫn chỉ nói độc một câu: "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa".

Những cuộc biểu tình của các tầng lớp dân chúng Việt Nam đã bị chính quyền ngăn chặn với những hình thức trấn áp, khủng bố tinh thần, bắt bớ, thậm chí đánh đập. Những người Việt Nam yêu nước đã bị bịt miệng, không thể nói lên tiếng nói của mình.

Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, Nông Đức Mạnh, trong hội nghị của ngành công an đã nhiệt liệt khen ngợi lực lượng công an đã dẹp yên các cuộc biểu tình. Các cơ quan báo chí Việt Nam đưa tin về sự kiện Hoàng Sa, Trường Sa đã bị kiểm soát gắt gao mà điển hình là Báo điện tử VietNamNet đã bị xử phạt 30 triệu đồng. Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân yêu cầu báo chí không được thông tin "không có lợi cho nhà nước".

Nhạc sĩ Tuấn Khanh, thi sĩ Trần Tiến Dũng, nhà văn Nguyễn Viện, sinh viên Kim Duy, Huyền Hương, blogger Hoàng Hải, Tạ Phong Tần và rất nhiều người nữa đã bị lực lượng công an, an ninh đàn áp bằng nhiều hình thức.

Nhà văn, nhà báo, dịch giả Trang Hạ cũng bị bắt, thẩm vấn nhiều giờ liền.

Không có bằng chứng buộc tội chị, công an đã phạt hành chính chị vì tội không mang CMND theo mình.

Trước sự phản ứng mạnh mẽ của giới trí thức, văn nghệ sĩ, Hà Nội đang chuẩn bị vu cho Trang Hạ tội làm gián điệp cho Đài Loan để bắt giữ chị.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất mới đây đã ra thông cáo chính thức yêu cầu Hà Nội phải có tiếng nói và hành động cụ thể nhằm bảo vệ chủ quyền dân tộc.

Trước những hành động bạo ngược của quân cướp nước và trước sự nhu nhược, hèn hạ của chính quyền Việt Nam, Sinh viên Việt Nam, nhóm trí thức, văn nghệ sĩ chủ trương Blog Chứng Nhân Lịch sử chính thức phát lời kêu gọi tiến hành cuộc biểu tình lần 3 vào lúc 9 giờ sáng (giờ Việt Nam - GMT+7) ngày 9/1/2008.

1. Địa điểm 1: Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội - Số 46 - Hoàng Diệu.
2. Địa điểm 2: Lãnh sự quán Trung Quốc tại Sài Gòn - Số 39 - Nguyễn Thị Minh Khai.

9/1/2008 - Ngày Sinh viên Việt Nam - Ngày những thanh niên, sinh viên, thí thức Việt Nam tiếp bước cha ông xuống đường tranh đấu bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải cho dân tộc.

Để yểm trợ cho các bạn sinh viên, thanh niên, xin đồng thời kêu gọi các bậc cha chú, các nhân sĩ, những người Việt Nam yêu nước trên khắp thế giới, không phân biệt chính kiến, tốn giáo, giai cấp, đồng loạt tiến hành biểu tình trước Đại sứ quán và Lãnh sự quán Trung Quốc tại quốc gia mình cư ngụ vào cùng thời điểm trên.

Xin hãy lắng nghe lời quê hương kêu gọi!
Giặc ngoại xâm đang nuốt từng tấc đất quê hương...
Không hành động bây giờ thì là bao giờ?
Không phải chúng ta thì là ai?
Quốc nội không sợ hãi
Hải ngoại đừng thờ ơ..



======================== HẢI NGOẠI =============================


                                 XÉ VÀ ĐỐT CỜ ĐỎ SAO VÀNG
                            TRƯỚC NHỮNG TÒA ĐẠI DIỆN CSVN



Đây là lời kêu gọi gửi đến những Du sinh.

Sinh viên, Học sinh, toàn Giới trẻ tại Quốc nội  đã đứng lên theo gương anh dũng của Tổ Tiên chống Tầu xâm lăng. Giới trẻ Quốc nội cũng đã thấy rõ rệt rằng :

=> Đảng CSVN đã chủ mưu dâng Đất và Biển cho Tầu

=> Nhà Nước VN hiện nay đã nhu nhược không dám phản ứng đối với Tầu

=> Ngược lại, Nhà Nước đã làm theo lời chỉ thị của Tầu, đã cho Công an dẹp những cuộc Biểu tình, thậm chí còn hành hạ thân thể những Trí thức, Thanh niên, Sinh viên, Học sinh tỏ lòng yêu nước.

Du sinh phải hành động để yểm trợ Giới trẻ Quốc nội. Bằng ấy tội phản quốc của đảng CSVN kể trên cũng đủ cho Du sinh quyết định từ bỏ những kẻ đã phản bội Tổ quốc.

Lá cờ đỏ sao vàng là cờ của nhóm người đi theo phục vụ cho Quốc tế Cộng sản và phản bội lại quyền lợi của Tổ quốc Việt Nam. Hồ Chí Minh đã ra lệnh và Phạm Văn Đồng đã ký công hàm dâng Biễn và Đất của Việt Nam cho Tầu. Đảng CSVN nối tiếp phục vụ Tầu và đàn áp Tinh Thần Quật Khởi Đấu Tranh để Sinh Tồn của Dân tộc Việt. Nhóm người phản quốc ấy đã ÁP ĐẶT cờ đỏ sao vàng lên Dân tộc Việt Nam. Đây là lá cờ của nhóm người phản quốc, chứ không phải là của Dân tộc.

Cùng đợt Biểu tình lần thứ 3 này của Giới Trẻ Quốc nội, DU SINH ĐỨNG LÊN, ĐẾN TRƯỚC CÁC SỨ QUÁN, LÃNH SỰ CỦA CSVN ĐỂ:

                                                XÉ VÀ ĐỐT 
                                          CỜ ĐỎ SAO VÀNG
                                        CỦA KẺ PHẢN QUỐC

Đây là việc làm chứng tỏ trách nhiệm của Du sinh, khi còn học hành nơi Hải ngoại. 




===================== NGHE LỜI TỔ TIÊN =========================


Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn :

“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Tàu Hán. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta .Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: 
"Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". 
Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.“

(Trần Nhân Tôn)



Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN đã viết để cảnh cáo những người có trách nhiệm mà phản bội cần phải loại trừ:

“Nay các ngươi... trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức,...Chẳng những ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mải.“

CSVN hầu giặc Tầu mà không biết tức, không biết hổ thẹn sao ?



Lời của vua Lê Thánh Tôn đã nói như sau:

"..  Một thước núi, một tấc đất của ta lẽ nào lại tự liệu vất bỏ được !  Kẻ nào dám đem một thước núi, một tấc đất của Tổ Tiên giống nòi để làm mồi cho giặc thì kẻ đó phải bị trừng trị nặng !."

VUA LE^ THA'NH TO^N 1460-1497
 
Phải trừng trị nặng đảng CSVN bán nước





KHUYÊN VIỆT TÂN:
HÃY TRỢ LỰC DU SINH
XÉ ĐỐT CỜ MÁU


Lãnh đạo Việt Tân đã làm nhưng việc để Khối Đồng bào Hải ngoại thấy Việt Tân đứng chàng hảng hai hàng: nói đứng trong hàng ngũ Quốc gia mà hành động nịnh bợ CSVN để mong kiếm xôi thịt.

Đồng bào đã biết rõ và chán ghét những hành động nhá nhem, tranh tối tranh sáng của Việt Tân. Vì vậy Việt Tân thường đi tìm gặp những Du sinh dưới chế độ hiện hành, mong tạo được nhịp cầu bắt nối nịnh bợ chế độ CSVN.

Nay những Du sinh thấy rằng đảng CSVN bán nước, phản bội Tổ quốc, rồi đàn áp chính Tinh thần Quật khởi của tuổi trẻ, nên DU SINH QUYẾT ĐỊNH XÉ VÀ ĐỐT CỜ ĐỎ SAO VÀNG DO CSVN ÁP ĐẶT LÊN DÂN TỘC. Đó là cờ của riêng đảng CSVN.

Vì Việt Tân đã từng tìm quen biết với các Du sinh, nên xin đề nghị Việt Tân hãy trợ lực các Du sinh trong việc đến trước các Sứ quán, Lãnh sự của CSVN để xé và đốt cờ đỏ sao vàng. Việc làm này còn chứng tỏ rằng Việt Tân có chút hành động mang tính cách hồi chánh.





=========================
pho bien/ publication 04.01.2008
=========================



                                TỪ CẦU NGUYỆN ĐẾN HÀNH ĐỘNG


                                           NGUYỄN PHÚC LIÊN


Linh mục hướng dẫn cuộc Biểu tình đã long trọng nói: “Năm mới chúng ta có nhiều ước vọng (…) Một trong những ước vọng cháy bỏng nhất là chúng ta xin lại được nhà đất toà khâm sứ. Để cho điều ấy trở thành hiện thực, chúng ta cần phải cầu nguyện và hành động“

CSVN chai lì, mặt dầy mày dạn, đã để cho những Giám mục theo khuynh hướng ngợm giáo gian cứ hô hào cầu nguyên đã trên 30 năm rồi.

Phải HÀNH ĐỘNG để gùm cổ chúng, bắt chúng phải thi hành CÔNG LÝ.

(Xin xem bài GIÁO OAN KHAI XUÂN BIỂU TÌNH ĐÒI CÔNG LÝ kèm dưới đây)

                                                             xxx


Biến cố Giáo dân SÁO CÁT tự gửi tối hậu thư cho Nhà Nước để lấy lại Nhà trường của Xứ đạo. Đây là một ĐỘT BIẾN GIÁO OAN cũng như ĐỘT BIẾN DÂN OAN Tiền Giang.

Tất cả Dân Oan cũng như Giáo Oan chỉ nhằm mục đích đòi CÔNG LÝ. Họ không làm Chính trị, nhưng họ hoàn toàn có quyền đòi lại Nhà, Đất đã bị CSVN ăn cướp từ bao năm trường đến nay. Thậm chí có những Khu đất tư đã bị tước đoạt, rồi bán lại cho người khác, nhất là cho những người nước ngoài dưới những danh nghĩa ngụy tạo.

Đột biến Giáo Oan Sáo Cát là khởi đầu.

Ngày 18.12.2007, Tôn Giáo lại ghi nhận ĐỘT BIẾN GIÁO OAN HÀ NỘI có tầm vóc quan trọng:

=> Ngày 15.12.2007: Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT kêu gọi Linh mục, Tu sĩ, Chủng sinh và Giáo dân hãy đòi lại Tòa Khâm sứ đã bị tước đoạt để xử dụng vào việc buôn bán như mở Tiệm phở: “Trước đây đã bán phở, nay lại mở ngân hàng. Và ngày 13-12-2007 vừa qua thêm kinh doanh giữ xe với quang cảnh thật hỗn độn.“(Lời Đức TGM)

=> Ngày 18.12.2007: Khoảng hơn 2000 người. Có linh mục, tu sĩ, chủng sinh và giáo dân đã BIỂU TÌNH TRONG ĐÊM với những ngọn nến sáng rực để đòi CÔNG LÝ.

=> Ngày 01.01.2008: Đoàn người trên 3000 người gồm Linh mục, Tu sĩ, Dì phước, Chủng sinh và Giáo dân đủ mọi giới tham dự cuộc Biểu tình trước Tòa Khâm sứ cũ Hà Nội bị CSVN cướp dựt cho đến nay. Chúng đóng cổng và dùng những khối đã chậm để ngăn cản.


ĐỘT BIẾN GIÁO OAN HÀ NỘI với những cây nến sáng rực lên ngọn lửa CÔNG LÝ sẽ sáng lan ra vào HUẾ và SÀI-GÒN. Tại những nơi đây, việc cướp chiếm Nhà, Đất lại còn ác nghiệt hơn gấp nhiều lần tại Hà Nội.

Xin quý Vị, nhất là các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ, Giáo dân, trong cũng như ngoài nước, hãy nhìn và nhất loạt ủng hộ những cuộc ĐỘT BIẾN GIÁO OAN cùng với DÂN OAN vì CÔNG LÝ này.



=======================NGÀY 01.01.2008==========================


GIÁO OAN KHAI XUÂN
BIỂU TÌNH ĐỒI CÔNG LÝ


 

Ngày đầu năm, trước Tòa Khâm Sứ Hà Nội: Phố Cầu Nguyện với trên 2000 người giữa thủ đô vô thần

HÀ NỘI -- Trưa ngày 01.01.2008, phố Nhà Chung đã biến thành nhà thờ. Khoảng trên 2000 người đã tụ họp cầu nguyện tại đây. Các cảnh sát đã chặn đầu phố hướng dẫn xe cộ lưu thông theo hướng khác giúp giáo dân biến lòng đường thành nguyện đường. …

Sau thánh lễ tại Nhà Thờ Lớn Hà Nội, vị linh mục mời gọi: “Năm mới chúng ta có nhiều ước vọng (…) Một trong những ước vọng cháy bỏng nhất là chúng ta xin lại được nhà đất toà khâm sứ. Để cho điều ấy trở thành hiện thực, chúng ta cần phải cầu nguyện và hành động. Chúng ta hành động chứ không bạo động. Vì thế giờ đây quý cha quý tu sĩ nam nữ và anh chị em giáo dân chúng ta đi sang Toà Khâm Sứ cầu nguyện”.

Đi đầu là thánh giá nến cao và hơn 20 cha đồng tế. Tiếp theo là mấy trăm chủng sinh, nữ tu và hàng nghìn giáo dân. Nhiều người ở bên ngoài nhà thờ, hai bên lối đi Toà Giám Mục đứng đón đoàn cầu nguyện.

Mọi người bắt đầu rầm rập tiến bước. Những bước đi dứt khoát và đầy tự tin. Có linh mục, tu sĩ, chủng sinh và giáo dân. Có già có trẻ có lớn có bé. Có người Việt cũng như người ngoại quốc. Chúng tôi thấy có nhiều người Tây Phương, người Phi Châu và cả một nhóm rất đông người Hàn Quốc.

Khi đoàn linh mục, chủng sinh và tu sĩ vừa qua khỏi sân Nhà Thờ Lớn, đông đảo giáo dân đã tràn xuống quảng trường Nữ Vương Hoà Bình trước Nhà Thờ Lớn đi ngược phố Nhà Chung sang khu vực Toà Khâm Sứ.

Toà Khâm Sứ đã khoá cổng. Sau cổng còn đặt rất nhiều tảng bê tông lớn hình khối. Do đó đoàn người tràn xuống lòng lề đường. Phố Nhà Chung bỗng chốc tràn ngập người. Xe cộ không thể tiếp tục lưu thông. Lối đi không kệt vì đã có rất đông cảnh sát có mặt kịp thời để chặn đầu phố, hướng dẫn lưu thông đi hướng khác, bảo đảm sự trật tự và thánh thiêng của giờ cầu nguyện.

Các bảo vệ bên trong Toà Khâm Sứ đứng lùi vào một góc xa để quan sát. Các nhân viên an ninh mặc thường phục co cụm một chỗ để chụp hình, chỉ trỏ các đối tượng của mình và bàn tán. Hàng trăm máy quay phim và chụp hình của đủ các bên hoạt động với công suất tối đa. Nhưng không ai có thể chụp được toàn cảnh vì bị chìm trong biển người gần như bất động và đang chăm chú vào việc cầu nguyện, say xưa với lời kinh tiếng hát của mình.

Chúng tôi có cảm giác mình đang đứng trong nhà thờ. Đuờng phố là lòng nhà thờ. Tường rào sắt là bao lơn của cung thánh. Bàn thờ là gốc đa nơi có thánh giá và tượng Đức Mẹ Sầu Bi. Nơi đây đang hiện diện đủ các thành phần của cộng đồng dân Chúa để thờ phượng sốt sắng trong ngày đầu năm nắng đẹp và rét ngọt. Phố xá được lời kinh thánh hoá bỗng chốc trở nên thật thơ mộng và thanh bình, không còn chút gì là xô bồ náo loạn của ít phút trước đó.

Cộng đoàn cầu nguyện khoảng nửa tiếng thì kết thúc vào lúc khoảng gần 12 h trưa. Ai cũng thấy hơi ngắn. Nhiều người xuýt xoa giá mà buổi cầu nguyện kéo dài thêm được nữa. Sau lời “lễ xong chúc anh chị em đi bình an- Tạ ơn Chúa”, chúng tôi thấy đoàn người giải tán trong trật tự. Xe cộ chưa được phép lưu thông. Phố xá bỗng chốc vắng lặng kinh người. Chỉ còn các nhân viên an ninh và bảo vệ ngơ ngác vì vừa thoát khỏi sự căng thẳng khi phải nghe những lời kinh tiếng hát du dương, ngọt ngào, êm ái nhưng rực nóng một tình yêu và rực cháy một niềm tin.

Tin cua VietCatholic




=======================NGÀY 15.12.2007=========================


ĐỨC TGM NGÔ QUANG KIỆT
LÊN TIẾNG ĐÒI CÔNG LÝ


Thư của Đức TGM Ngô Quang Kiệt lên tiếng với chính quyền CSVN
về đất Tòa Khâm Sứ
và xin dân Chúa cầu nguyện


Hà nội ngày 15 tháng 12 năm 2007
Gửi: Các Linh mục, Tu sĩ, Chủng sinh
Và anh chị em giáo dân Tổng Giáo phận Hà nội

Anh chị em thân mến,
 
Từ nhiều năm qua, sinh họat của Tổng giáo phận bị giới hạn vì thiếu thốn cơ sở vật chất. Nay trong tình hình xã hội đổi mới, số linh mục ngày càng tăng, các tổ chức sinh họat ngày càng nhiều, cơ sở Tòa Tổng giám mục càng trở nên chật hẹp. Đã có những buổi lễ người tham dự phải tràn ra đường phố. Đã có những tổ chức sinh họat như sinh họat giới trẻ phải khổ sở chen chúc nhau trong sân Nhà Chung.

Hơn nữa, Tòa Tổng giám mục Hà nội còn là nơi đặt trụ sở chính của Hội đồng Giám mục Việt nam. Thế mà hiện nay, vẫn chưa có đủ phương tiện cần thiết cho những họat động tối thiểu của cơ quan quan trọng, là tổ chức đứng đầu Giáo hội Công giáo tại Việt nam. Thậm chí chưa có được một căn phòng nào dành riêng cho Hội đồng Giám mục. Hoàn cảnh thật đau lòng.

Vì thế từ nhiều năm nay, Tòa Tổng Giám mục và Hội đồng Giám mục đã nhiều lần đệ đơn lên Chính quyền các cấp xin giao lại Tòa Khâm sứ để Giáo hội có đủ phương tiện cần thiết cho những họat động tôn giáo tối thiểu. Đề nghị chính đáng của tôn giáo chưa được đáp ứng, trong khi đó Quận Hòan Kiếm lại dùng Tòa Khâm sứ để kinh doanh buôn bán. Trước đây đã bán phở, nay lại mở ngân hàng. Và ngày 13-12-2007 vừa qua thêm kinh doanh giữ xe với quang cảnh thật hỗn độn.

Vì thế, xin anh chị em hãy tích cực cầu nguyện để những nơi tôn nghiêm của tôn giáo được tôn trọng, nhu cầu chính đáng của Giáo phận và của Hội đồng Giám mục được đáp ứng và những sinh họat tôn giáo được thuận lợi, góp phần xây dựng xã hội, đặc biệt khuôn mặt của thủ đô được tốt đẹp.

Thân ái chào anh chị em.
+Giuse Ngô quang Kiệt
Tổng Giám mục Hà nội 





=======================NGÀY 18.12.2007==========================



ĐỘT BIẾN GIÁO OAN HÀ NỘI:
2000 NGƯỜI BIỂU TÌNH TRONG ĐÊM


(18/12/2007)
Hà Nội rực sáng lên niềm tin cho công lý:
Trên 2.000 người Công giáo tuần hành trước Tòa Khâm Sứ! 


HÀ NỘI -- Một lối ứng xử chưa từng có trong lịch sử Giáo phận Hà Nội. Hàng nghìn người có mặt tại Toà Khâm Sứ trong đêm. Thắp nến hát thánh ca cầu nguyện đòi công lý.
 
Tuần hành vĩ đại
trước Tòa Khâm Sứ Vatican
tại Hà Nội đêm 18.12.2007


Lời Kinh Hoà Bình của ca đoàn tổng hợp trong đêm hát lên mừng Chúa vừa dứt trong tiếng vỗ tay, thì tiếng một cha nào đó vang lên trên hệ thống tăng âm có vẻ vừa ngọt ngào và hiền hoà, vừa nghiêm trọng và quyết liệt. Ngài nói đến việc đòi đất Toà Khâm Sứ theo nội dung của bức thư chung của Đức Tổng Giám Mục gửi cộng đồng dân Chúa ngày 15.12 vừa qua.

Lúc đó là 22 giờ 6 phút,
tối ngày 18.12.2007

Kết thúc ngài nói: “Để các cấp chính quyền sớm giải quyết đúng với mục tiêu công bằng, văn minh, trên đường ra về, chúng ta hãy hướng về Toà Khâm Sứ. Xin tất cả hãy đi hàng đôi hướng về Toà Khâm sứ và đọc kinh cầu nguyện.”- Tôi đang mải chạy cho nên nhớ không chắc đúng từng từ.

Tức thì tôi thấy một đoàn rước đông đảo. Thánh giá nến cao đi đầu. Theo sau là một đoàn người đông đảo. Khoảng hơn 2000 người. Có linh mục, tu sĩ, chủng sinh, giáo dân. Trong và ngoài giáo phận. Cả cán bộ nữa có lẽ. Vì vừa có buổi trình diễn thánh ca và khách tham dự thuộc nhiều đối tượng và đến từ nhiều giáo phận Miền Bắc. Tất cả trong trang phục lễ hội. Từ sân Đại Chủng viện đoàn người đi qua khu vực Toà Giám Mục tiến thẳng sang sân Toà Khâm sứ, nơi đang bị chiếm dụng bất công và bất hợp pháp từ gần nửa thế kỷ nay.

Thánh giá và Nến cao trước cửa Tòa Khâm Sứ
Tiến lên với ngọn nến sáng trong tay.
Tiến lên với lời thánh ca tha thiết trên môi miệng
Tiến lên trong lối đi rực ánh đèn mầu đón Chúa Giánh Sinh.
Tiến lên trong trật tự, trang nghiêm và an bình.
Không một khẩu hiệu nào được hô lên.
Không một cánh tay nào được vung lên.
Không một người nào chen lấn xô đẩy.

Bạn chỉ thấy những con người y phục lễ hội hết sức lịch sự duyên dáng đang nhè nhẹ bước tới trong tiếng hát lời kinh nguyện cầu vang lên tha thiết, du dương, trầm bổng trong tiếng đàn nhạc linh thiêng, hùng tráng của lời Kinh Hoà Bình: “Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp. Để con đem chân lý vào nơi tối tăm, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng…”

Bạn cung kính đứng nhìn đoàn người nối đuôi nhau từ từ đi qua cổng tiến vào khu sân cỏ trước Toà Khâm Sứ.

Không thấy bóng bất cứ nhân viên công lực nào trong quân phục. (Có thể chỉ vì tôi không thấy).

Giáo dân và tu sĩ
một lòng đòi công lý

Không một ai, không một thế lực nào có thể ngăn cản họ tiến vào nhà họ. Các nhân viên trông coi bãi xe đứng chết lặng vì kinh ngạc. Không nói được lời nào. Các cán bộ và nhân viên của cơ quan nào đó đang ở bên trong nhà thì không dám ra khỏi phòng.

Họ đi bình thản và tự nhiên. Họ đi như đã quen vì đấy vốn là nhà họ. Họ tiến thẳng vào cửa chính Toà Khâm Sứ. Nhưng cửa chính đã khoá rồi.

Thánh giá nến cao dừng lại nơi bậc cấp trên cùng sát cửa chính. Dừng lại, quay ra và hướng xuống sân cho cộng đoàn đông đảo chiêm ngưỡng và cầu nguyện.

Đoàn người tiếp tục tiến vào. Họ đứng chật cái sân rộng mênh mông. Nhiều người đứng tràn ra hai bên hè Phố Nhà Chung.

Họ vẫn cầm nến sáng trong tay. Họ tiếp tục cầu nguyện. Họ không cần phải diễn tả bằng ngôn ngữ và cử chỉ thông thường. Nhưng trong một niềm tin họ kết thành một khối thống nhất. Hiểu nhau và gắn bó với nhau hơn bao giờ hết. Trời ở cùng họ. Họ mang trong mình sức mạnh của Trời.

Có giây phút im lặng. Một sự im lặng có sức mạnh ngàn lần hơn những tiếng hô khẩu hiệu. Rồi lại có tiếng cầu xin Chúa Thánh Thần được cất lên. Rồi lại im lặng. Rồi lời ca “Lạy Mẹ xin thương đến Giáo phận con đây” lại được cất lên. 

Thanh Tâm  

 





=========================
pho bien/ publication 02.01.2008
=========================



                                              THỜI SỰ TUẦN NÀY:

                            TRỊ KẺ PHẢN QUỐC TRƯỚC KHI ĐUỔI TẦU



                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Thời sự tuần này không phải là những cuộc biểu tình của giới trẻ tại quốc nội vì CSVN, theo lệnh của Tầu cộng, đã thực sự trở thành đám liếm trĩ luồn trôn đám lãnh đạo Chệt ở Bắc kinh, ra lệnh đám chó dữ công an lùa rượt giới trẻ Việt Nam để không được nói lên tiếng nói bất khuất của nòi giống Việt. Chúng, CSVN, đã quá mê say cái trĩ cái trôn của Chệt mà đang tâm diệt trừ trong trứng nước Ý CHÍ QUẬT KHỞI ĐẤU TRANH ĐỂ SINH TỒN từ thời những Nữ Nhi TRƯNG, TRIỆU để lại cho chúng ta qua giòng Lịch sử đấu tranh để sinh tồn.

Nhưng còn những người VIỆT, dù xa xứ, vẫn mang dòng máu của Tổ Tiên anh dũng, vẫn nhớ đến Quê Hương gấm vóc. Thời sự tuần này là hơn 3 triệu Dân VIỆT đã đứng lên. Dù trong họ, vì sinh kế, đã lấy quốc tịch nước ngoài, nhưng Hồn Thiêng Dân Tộc vẫn sống trong lòng họ. Họ đã đứng lên và sẽ tiếp tục nêu cao Ý CHÍ QUẬT KHỞI ĐẤU TRANH ĐỂ SINH TỒN của nòi giống Việt Nam trên giải đất mà Tổ Tiên anh dũng đã đổ máu để lại. Hội Nghị DIÊN HỒNG cách đây gần 800 năm của những bô lão chỉ ăn rau muống gầy guộc nhưng thét lớn: QUYẾT ĐÁNH, QUYẾT ĐÁNH. Những bô lão gầy guộc ấy là Tổ Tiên của chúng ta hiện giờ được ăn bơ sữa ở nước ngoài. Nhưng rau muống luộc chấm mắm cáy của những bô lão gầy guộc đang làm chúng ta béo mập phải hổ thẹn.

Hơn 3 triệu Dân Việt Hải ngoại đứng lên vì trong người chúng ta có  Ý CHÍ QUẬT KHỞI ĐẤU TRANH ĐỂ SINH TỒN mà những Nữ Nhi TRƯNG TRIỆU nêu gương và khắc ghi trong người chúng ta.


Công cuộc QUẬT KHỞI ĐẤU TRANH ĐỂ SINH TỒN là trường kỳ như dòng Lịch sử của Dân Tộc. Trong tất cả những cuộc quật khởi của Tổ Tiên, điều kiện tiên quyết là Vua, Tướng và Dân phải MỘT LÒNG. Ngày nay, nếu muốn Quật Khởi chống xâm lăng của kẻ thù truyền kiếp là Tầu, thì Lãnh đạo, Binh tướng và Dân cũng phải ĐOÀN KẾT MỘT LÒNG. Nhưng đau lòng thay, đảng CSVN cầm quyền không MỘT LÒNG với Dân, lại thêm những đám Trí thức Chính trị hải ngoại cũng như quốc nội muốn theo đóm ăn tàn, nịnh bợ làm theo kẻ cầm quyền bán nước để mong liếm hớp những mẩu bánh vụn do Tầu và CSVN phản quốc thẩy xuống cho mà giành nhau liếm hớp như bầy chó đói. Chính trong BINH THƯ YẾU LƯỢC, Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN đã viết để cảnh cáo những người có trách nhiệm mà phản bội cần phải loại trừ: “Nay các ngươi... trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức,...Chẳng những ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mải.“

Vì vậy, để có thể MỘT LÒNG ĐOÀN KẾT như Tinh thần DIÊN HỒNG đã dậy, chúng ta phải cấp tốc diệt kẻ phản quốc, loại trừ đám xôi thịt liếm trĩ luồn trôn kẻ bán nước:

1) DIỆT KẺ PHẢN QUỐC

Kẻ phản quốc là Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và bè lũ tiếp nối đảng CSVN. Chúng đang hầu giặc  và đang cầm quyền. Làm thế nào chúng ta đuổi được ngoại xâm khi đám cấm quyền này nhu nhược và còn âm ưu rước voi về dầy mồ nữa.  Việc chúng dâng Đất và Biển của Tổ Tiên là một tội mà Trời không tha, Đất không dung. Nhưng điều quan trọng là qua Đất và Biển của Tổ Tiên, chúng dâng cho Tầu những Tài nguyên Quốc gia vô cùng quan trọng và thiết cần cho đời sống tương lai của Dân tộc Việt cho những ngàn năm sau:

=>  Dân tộc Việt sống theo chiều dài cạnh Biển Đông. CSVN dâng Biển, tức là dâng những Tài nguyên biển cả vô tận (Ressources maritimes inépuisables).

=> Dâng Hoàng Sa-Trường Sa là dâng những nguồn năng lượng dầu lửa cho Tầu.

Chúng ta phải diệt trừ đám phản quốc này không những về tội dâng hiến Tài nguyên vô cùng quan trọng cho ngoại bang, mà còn vì nếu chúng vẫn nắm quyền và vẫn cố thủ giữ quyền hành ô nhục, thì chúng còn tiếp tục phản bội Tổ quốc nữa.

2) LOẠI TRỪ ĐÁM LIẾM TRĨ LUỒN TRÔN KẺ PHẢN QUỐC

Đám này luôn tự xưng là Trí thức. Chúng cũng mong muốn mượn lẻo mép hoặc ngầm làm theo kẻ phản quốc đang nắm quyền hành với mục đích được tụi phản quốc thẩy xuống cho ít miếng bánh rơi rụng mà giành nhau hớp như bầy chó đói. Điều nguy hiểm là đám Trí thức Chính trị xôi thịt này  luôn lẻo mép nói rằng chúng nằm trong hàng ngũ chúng ta, nhưng thực tế chúng ngầm làm theo những chỉ thị của CSVN cầm quyền bán nước. Chúng đứng chạng hảng hai hai hàng như những kẻ bị bệnh lậu, chúng luôn mở mõm biện minh cho những hành động lén lút nguy hiểm để đánh lừa những ai có lòng thành thực mà không nhìn kỹ cái tâm địa đen tối của chúng.


Để DÂN TỘC có thể HOÀ HỢP NHẤT TRÍ  theo Tinh thần Hội Nghị DIÊN HỒNG chống Tầu xâm lăng, thì trước tiên phải thanh lọc chính hàng ngũ Dân Việt: (i) DIỆT TRỪ CSVN PHẢN QUỐC và (ii) LOẠI TRỪ ĐÁM LIẾM TRĨ LUỒN TRÔN CSVN BÁN NƯỚC.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



=========================
pho bien/ publication 01.01.2008
=========================


               CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH 
 
                                                     Bài 6:

                                                 VIỆT NAM 
                          TRƯỚC KẺ THÙ KINH TẾ TRUNG CỘNG




                       Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Vì vấn đề thời sự HOÀNG SA-TRƯỜNG SA quá quan trọng đối với đất nước, nên chúng tôi tạm ngưng hai tuần viết loạt bài chủ đề này cốt ý dành để viết và phổ biến biến cố HOÀNG SA-TRƯỜNG SA. Tuần này chúng tôi lại tiếp tục viết về chủ đề.

Đây là bài thứ sáu trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ sáu này mang đầu đề là VIỆT NAM TRƯỚC KẺ THÙ KINH TẾ TRUNG CỘNG. Đầu đề tuy thuộc về loạt bài của Chủ đề đã báo trước, nhưng lại rất hợp với vấn đề thời sự ngày hôm nay. Việt Nam không những trước kẻ thù Trung Cộng về Kinh tế, mà còn là trước kẻ thù truyền kiếp Tầu về việc xâm lăng lãnh thổ và lãnh hải.

Với 5 bài trước đây, chúng tôi  đứng ở phạm vi những nước liên hệ đến cuộc Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh năm 1997 với những phân tích của Bà Francoise NICOLAS. Với bài thứ sáu này, chúng tôi bắt đầu đụng chạm đến những bấp bênh liên hệ đến những nước bắt đầu phát triển hiện nay như Nam Phi, Nga, Trung quốc, Việt Nam với những nhận định của hai bài báo đăng trên Nhật Báo LE MONDE ngày 31.10.2007: L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS và LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX. Tuy là viết đặc biệt về cuộc Khủng hoảng Tài chánh 1997 với những nước liên hệ như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn, nhưng khi đề cập đến những bấp bênh trong vùng ngày nay, Bà Francoise NICOLAS không thể không nhắc đến Trung Cộng. Bà viết:”L’INCONNUE CHINOISE—Enfin, la montée en puissance de la Chine et le rôle désormais déterminant que son économie joue dans la région et pour l’avenir des économies voisines, constitue un dernier motif d’icertitude, voire de vulnérabilité. Comme on l’a vu précédemment, les structures d’interdépendance sont désormais beaucoup plus étroites entre les différentes économies de la région et notamment entre les économies d’Asie de l’Est et leur grand voisin chinois. Dans ces conditions, le risque est élevé pour elles d’être à la merci des évolutions économiques en Chine. Or, les risques d’instabilité sont nombreux, qu’il s’agisse de tensions sur les marchés financiers, de tensions sociales ou encore de risques environnementaux. » (ẨN SỐ TRUNG QUỐC—Cuối cùng, việc tiến lên mạnh của Trung quốc và vai trò từ nay trở nên quyết định mà nền kinh tế Trung quốc đang giữ trong vùng hiện nay và đối với tương lai của những nền kinh tế kế cận, vai trò ấy tạo ra lý do cuối cùng của sự bấp bênh, hay có thể nói đó là lý do có thể làm thương tổn. Như người ta đã thấy trườc đây, những cấu trúc tương quan lệ thuộc từ nay trở thành gắn liền với nhau nhiều hơn giữa những nền kinh tế trong vùng và nhất là giữa những nền kinh tế của Đông Á châu với kẻ kế cận là Trung quốc rộng lớn. Trong những điều kiện này, sự nguy hiểm càng cao đối với những nền kinh tế ấy trước những biến đổi kinh tế bất chấp tại Trung quốc. Như vậy, những nguy hiểm bất ổn định trở thành thật nhiều, như những căng thẳng về tài chánh, những căng thẳng về xã hội hay còn nữa những nguy hiểm về môi trường.) 

Nhận định của Bà Francoise NICOLAS là chung cho những nền kinh tế của các quốc gia trong vùng. Riêng chúng tôi, chúng tôi chỉ hạn định tính cách thù địch kinh tế Trung Cộng riêng cho Việt Nam. Sự thù địch nguy hiểm này cho Việt Nam không phải chỉ riêng khía cạnh thuần túy Kinh tế, mà còn liên hệ đến Chính trị và Lãnh thổ. Chúng tôi xin đi vào những chi tiết với những điểm sau đây :

=> Khía cạnh thuần túy Kinh tế :
     Kinh tế Trung cộng, kẻ thù của Kinh tế Việt Nam

=> Khía cạnh Kinh tế và Chính trị:
     Vì Chính trị, CSVN nhu nhược trước lấn át Kinh tế Trung cộng



Khía cạnh thuần túy Kinh tế :
Kinh tế Trung cộng, kẻ thù của Kinh tế Việt Nam


Nói là kẻ thù, nghĩa là nói đến cạnh tranh sống chết. Trong phần này, chúng tôi chỉ phân tích thuần túy ở khía cạnh kinh tế về cạnh tranh hàng hóa và về việc phân phối những hàng hóa sản xuất.


Giá thành sản xuất (Prix de Revient) và việc cạnh tranh hàng hóa

Nền kinh tế Trung cộng và nền kinh tế Việt Nam quy tụ vào việc sản xuất hàng hóa tương tự nhau: những linh kiện và những hàng tiêu thụ thấp và ngắn hạn. Nếu Việt Nam có những ưu điểm hơn Trung cộng về Nông nghiệp và Ngư nghiệp, thì Việt Nam đã sao lãng phát triển những ưu điểm, nghĩa là không lưu tâm nhiều về việc đầu tư phát triển những ngành nghiệp này. Cho dù bây giờ mới ý thức và lưu tâm đầu tư vào Nông nghiệp và Ngư nghiệp, thì Việt Nam cũng khó lòng lấp được khoảng cách phát triển Nông nghiệp và Ngư nghiệp của Thái lan sánh với việc chậm mở mang của Việt Nam.

Việt Nam đặt trọng tâm về sản xuất linh kiện và những hàng tiêu thụ hàng ngày ngắn hạn, gọi là công nghệ hóa kinh tế, rập khuôn theo Trung cộng. Vì vậy, việc phân tích của chúng tôi về tính cách thù địch kinh tế Trung cộng đối với Việt Nam là ở những công nghệ sản xuất linh kiện và những hàng tiêu thụ hàng ngày ngắn hạn. Việc cạnh tranh giữa các hàng hóa này lệ thuộc chính yếu vào giá bán. Có người nói rằng còn cần yếu tố phẩm chất. Khía cạnh này có lẽ chỉ nên dành cho những hàng hóa cao độ và xử dụng dài hạn. Còn những hàng hóa thấp tiêu thụ ngắn hạn, thì vấn đề giá bán là chính yếu trong việc cạnh tranh. Mà giá bán tùy thuộc hoàn toàn vào Giá thành sản xuất (Prix de Revient). Giá thành sản xuất này tùy thuộc vào ba yếu tố: Vật liệu cung cấp, Nhân lực và Thiết bị sản xuất.

Đối với vấn đề Giá thành sản xuất, thì Việt Nam không thể nào hạ thấp hơn sánh với Trung Cộng, nghĩa là Trung cộng chắc chắn giết hàng hóa Công nghệ Việt Nam về Giá thành sản xuất, vì những lý do sau đây:

=> Về Vật liệu cung cấp. 

Tiếng Vật liệu cung cấp (Approvionnement des matìeres premìeres) không hẳn chỉ là nguyên vật liệu (matìeres premìeres brutes), mà có thể là những vật liệu biến chế bán phần (matìeres semi-ouvrées) hay những linh kiện (pìeces détachées). Hầu hết các hàng hóa, dù ở cấp độ đơn giản và được tiêu thụ ngắn hạn, đều phải qua các chặng biến chế nối tiếp hoặc là việc ráp nối những thành phần cấu cấu tạo đã được sản xuất sẵn. Sản phẩm cuối cùng (produit fini) được chia ra nhiều thành phần cấu tạo. Mỗi thành phần có thể được sản xuất từ một Công ty chuyên môn khác. Nền kinh tế Công nghệ hóa bao gồm một hệ thống những Công ty chế biến từng chặng cho nguyên vật liệu và những Công ty chuyên môn sản xuất những linh kiện cấu thành hàng hóa cuối cùng. Chúng ta ở trong một hệ thống lệ thuộc lẫn nhau của các Công ty (Système de Sous-traitance). Mỗi Công ty chuyên về một số sản phẩm nhất định. Một hệ thống như vậy cho phép nền kinh tế đạt được hai điểm thuận lợi:

* Vì Công ty chuyên môn về một số linh kiện cấu thành, nên phẩm chất của sản phẩm mỗi ngày mỗi tăng.

* Vì làm việc chỉ cho một số linh kiện hữu hạn, nên Công ty có thể tăng số lượng sản xuất cho linh kiện cấu thành ấy. Đây là việc làm giảm giá thành linh kiện và do đó ảnh hưởng tới việc giảm giá thành của hàng hóa cuối cùng.

Người ta nói rằng hàng hóa của Trung quốc có thể sản xuất từ A tới Z trong khi ấy, cùng hàng hóa đó, Việt Nam phải lệ thuộc vào việc nhập cảng vật liệu từ nước ngoài, nên giá thành cao hơn. Nói là sản xuất từ A tới Z có nghĩa là có thể tổ chức một hệ thống sản xuất các giai đoạn biến chế và các linh kiện chuyên môn trong chính nội địa theo hệ thống Sous-Traitance. Trung quốc có khả năng tổ chức hệ thống này hơn Việt Nam vì Thị thường nội địa về vật liệu của họ rộng lớn, nghĩa là mỗi Công ty sản xuất linh kiện có thể tăng số lượng sản xuất để giảm giá thành và vẫn có thị trường tiêu thụ.

=> Về Nhân lực

Vì nền Công nghệ của hai nước đều nhằm sản xuất linh kiện và những hàng hóa đơn giản tiêu thụ hàng ngày, nên không cần số Nhân lực phải được huấn luyện ở mức độ kỹ thuật cao. Hai nước có những tương tự với nhau trong cùng một thể chế Chính trị độc tài bóc lột Nhân lực cho đảng duy nhất cầm quyền và cho những cá nhân tham nhũng giữ quyền hành.

=> Về Thiết bị sản xuất

Ở đoạn này, chúng tôi muốn cắt nghĩa kỹ hơn tại sao trong một hệ thống tương quan liên hệ Công ty (Sous-traitance) làm những linh kiện thành phần cấu thành món hàng cuối cùng, người ta có thể hạ giá thành đồng thời làm tăng phẩm chất hàng hóa. Đó là phương diện đầu tư vào những Thiết bị sản xuất (Installation des Equipements productifs). Những tiến triển kỹ thuật càng ngày càng hoàn hảo việc sản xuất. Cần phải đầu tư vào những Trang Thiết  bị ấy nếu muốn phẩm chất hàng hóa của mình mang tính cách cạnh tranh hữu hiệu hơn hàng hóa của người khác. Nhưng khi đầu tư và trang Thiết bị tối tân hơn, thì giá thành buộc phải tăng lên làm mất tính cách cạnh tranh về giá cả. Chỉ có một cách có thể hạ được giá thành khi đầu tư vào những trang Thiết bị tân tiến, đó là giải tỏa số chi tiêu cố định này ra cho lượng sản phẩm. Thực vậy, giá bán hàng hóa dựa trên giá thành đơn vị. Khi chi tiêu cố định vào Trang Thiết bị, thì phải tìm mọi cách tăng số lượng sản xuất. Số chi tiêu cố định chia cho lượng sản xuất tăng lên, thì số chi tiêu cố định đơn vị sẽ giảm đi đến chỗ triệt tiêu. Tỉ dụ khi đầu tư vào việc mua chiếc Máy trị giá 100’000.-. Nếu lượng sản xuất chỉ có 5’000 đơn vị, thì giá thành đơn vị sẽ là 100’000.-/ 5’000 = 20’000/đơn vị. Nhưng nếu tăng sản xuất lên 50’000 đơn vị, thì giá thành sẽ là 100’000.-/ 50’000 = 2’000/ đơn vị. Nếu tăng lượng sản xuất lên 200’000 đơn vị, thì giá thành sẽ là 100’000.- / 200’000 = 0.5/ đơn vị.

Hệ thống tương quan tuỳ thuộc giữa các Công ty (Système de Sous-Traitance) cho phép tăng số lượng sản xuất, đồng thời tăng phẩm chất hàng hóa. Hê thống này dễ dãi thực hiện tại Trung quốc hơn là ở Việt Nam vì Thị trường với trên một tỉ rưỡi người rộng lớn gấp bội hơn là Thị trường chưa được 100 triệu dân. Với số lượng người trên 1 tỉ rưỡi, Trung cộng không bao giờ sợ nạn  sản xuất quá đáng (surproduction), nhất nữa với chế độ độc tài, họ có thể trả lương bằng hàng hóa (économie de troc).

Tóm lại, đứng về phương diện thuần túy kinh tế mà nói, thì hàng hoá Trung Cộng có khả năng cạnh tranh mạnh hơn hàng hóa Việt Nam về giá bán trong một hệ thống sản xuất cho phép hạ rất thấp giá thành sản xuất ở Trung cộng hơn là ở Việt Nam. Đây là sự cạnh tranh thắng thế của Trung cộng khi mới chỉ nói về phương diện thuần túy sản xuất hàng hóa. Nói kinh tế Trung cộng là kẻ thù của Kinh tế Việt Nam, đó là từ căn bản sản xuất mà Việt Nam khó lòng thắng nổi sự cạnh tranh tối quan hệ này.


Lượng hàng trao đổi (Volumes des échanges) và việc cạnh tranh hàng hóa

Trong phần trên, chúng tôi nói về lượng sản xuất (quantité produite) là căn yếu cho việc giảm giá thành và do đó giá bán cạnh tranh. Trong phần này, lượng hàng trao đổi trên Thị trường cũng là yếu tố chính của cạnh tranh.

Thực vậy, trên Thị trường trao đổi hàng hóa, không phải là tình nhân đạo, nghĩa bạn hữu ngự trị, nhưng là những thương gia có thể mua bán với số lượng cao hàng hóa được trọng vọng ở Thị trường. Ai cũng biết rằng, nếu đến mua hai ba món hàng, người ta có thể đối xử lạnh nhạt, nhưng khi tuyên bố mua chừng mấy chục ngàn, mấy trăm ngàn đơn vị hàng, người bán săn đón mời mọc hết sức trịnh trọng.

Trên Thị trường Quốc tế, mặc dầu biết Trung cộng không tôn trọnh nhân quyền, nhưng khi thấy Trung cộng muốn mua chừng 50 Airbus hay đặt mua 10 lò nguyên tử... thì ngay những nước vốn có truyền thống trọng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền cũng yên tiếng và tiếp đón trịnh trọng.

Tôi còn nhớ dịp nói chuyện qua Đài Radio France Internationale về việc tràn lan hàng May Dệt của Trung Cộng sang Thị trường Liên Aâu, tôi nhắc đến lời tuyên bố nhẹ nhàng cũa Bộ Trưởng Thương mại Trung Cộng tại Bruxelles rằng để có thể mua một Airbus, Trung cộng phải bán sang Liên Aâu bao nhiêu chục triệu áo sơ mi. Lời nhắc nhẹ ấy muốn nói rằng việc chấp nhận hàng hóa của Trung cộng vào một Thị trường còn hàm ngụ việc Thị trường ấy muốn Trung cộng đặt mua hàng hóa của Thị trường đó nữa.

Việc cạnh tranh còn được nâng đỡ bằng sự trao đổi hàng hoá có đi có lại mới toại lòng nhau. Việt Nam không có khả năng một Thị trường tiêu thụ bằng Trung cộng, nên việc cạnh tranh dựa trên lượng hàng hóa trao đổi (volumes des échanges) không thể bằng Trung cộng được. 


Hàng hóa Trung cộng giết Công nghệ Việt Nam sản xuất cho nội địa

Kinh tế Trung cộng là kẻ thù trực tiếp hơn cả, đó là việc hàng hóa Trung cộng giết chết nền Công nghệ Việt Nam sản xuất cho nội địa.

Đối với những Công ty vốn nước ngoài, muốn khai thác nhân lực Việt Nam để sản xuất những linh kiện xuất cảng, thì họ không bị sự cạnh tranh này. Nhưng đối với những Công ty nhằm sản xuất cho Thị trường tiêu thụ quốc nội, thì khi hàng Trung cộng tràn vào Việt Nam, đó là mối đe dọa trầm trọng. Với phẩm chất cao hơn và với giá bán thấp hơn, hàng hóa Trung cộng sẽ giết chết những ngành nghiệp Công nghệ sản xuất cho quốc nội này.

Đó là nói về những hàng hóa được công khai nhập cảng từ Trung cộng. Tại Thị trường Việt Nam, còn phải nói đến việc xâm nhập lậu hàng hóa của Trung cộng từ dọc biên giới cực Bắc, dọc biên giới Lào và dọc biên giới Cao Mên, với hỗ trợ của tham nhũng thối nát, thì những hàng hóa Trung cộng nhập lậu này còn được bán với giá rẻ hơn nữa, nghĩa là hàng hóa Trung cộng càng giết mạnh hơn nữa những Công nghê sản xuất cho Thị trường quốc nội.

Tóm lại, đứng ở quan điểm thuần túy kinh tế, thì kinh tế Trung cộng là kẻ thù của kinh tế Việt Nam ở ba phương diện: (i) cạnh tranh thứ nhất: giá thành hàng hóa Trung cộng thấp, và do đó giá bán; (ii) cạnh tranh thứ hai: lượng trao đổi hàng hóa lớn khiến Thị trường Quốc tế nhận mua hàng Trung cộng vì nhằm bán hàng của mình cho Trung cộng; (iii) cạnh tranh thứ ba: trực tiếp giết chế ngành nghiệp sản xuất hàng hóa cho Trường quốc nội.



Khía cạnh Kinh tế và Chính trị:
Vì Chính trị, CSVN nhu nhược trước lấn át Kinh tế Trung cộng


Trong phần trên đây, đứng về mặt thuần túy kinh tế mà phân tích, chúng ta cũng đã nhận thấy rằng sự lấn át của hàng hóa Trung quốc đối với hàng hóa Việt Nam là rõ rệt trên Thị trường Quốc tế và ngay cả ở Thị trường nội địa. Trước tình trạng lấn át như vậy, Việt Nam phải có một đường lối thế nào để tháo gỡ.  Người ta nhận thấy rằng không những nhà nước Việt Nam không có biện pháp tháo gỡ, mà còn tỏ ra nhu nhược trước những lấn chiếm kinh tế của Trung cộng, đôi khi còn tự ý dâng tặng cho Trung quốc những lợi lộc như món quà mua chuộc quỵ lụy.


Nhà cầm quyền VN lệ thuộc vào Chính trị Trung cộng

Ngay từ thời Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, CSVN đã lệ thuộc vào Trung cộng, nhờ vả sức mạnh của Trung cộng để mở cuộc huynh đệ tương tàn, xâm chiếm Miền Nam. Để phục vụ cho Đế quốc Cộng sản, Việt Nam đã hy sinh một dịp hiếm có mở mang Kinh tế, tái thiết lại hai Miền đề nghị bởi Hoa kỳ và Tây phương. Nhưng rồi Cộng sản Nga và Đông Aâu sụp đổ, Việt Nam trở thành quá nghèo đói, chế độ độc tài buộc lòng phải mở cửa đối với Tây phương chỉ với mục đích kiếm ăn. Tuy nhiên, về mặt Chính trị, đảng CSVN lại càng phải lệ thuộc vào Trung cộng hơn nữa. Càng ngày càng phải vụm tay lậy lục Hoa kỳ và Tây phương về Kinh tế, thì càng ngày đảng CSVN càng sợ hãi mất quyền nên càng phải lệ thuộc bám víu lấy Trung cộng để bảo vệ cho quyền hành của họ.

Trung cộng biết rõ sự lệ thuộc này của đảng CSVN vào mình, nên tất nhiên Trung cộng khai thác triệt để sự lệ thuộc này.

Nếu CSVN gắn liền với Trung cộng để nhờ vả sự che chở cho quyền hành Chính trị, thì Trung cộng chơi với CSVN không phải là để tìm kiếm sự tăng cường sức mạnh Chính trị cho mình vì Trung cộng không cần thiết, mà chính là để khai thác triệt để CSVN về mặt dâng hiến Kinh tế cho Trung cộng. CSVN chơi với Trung cộng để nhờ vả che chở Chính trị, trong khi ấy Trung cộng chơi với CSVN đầy tớ là để khai thác Kinh tế. Chính vì vậy mà CSVN trở thành hoàn toàn nhu nhược trước những lấn át Kinh tế từ Trung cộng.


Những thua thiệt Kinh tế vì lệ thuộc Chính trị Trung cộng

Chúng tôi xin kể ra đây một số Tỉ dụ cho thấy sự nhu nhược của CSVN trước những mất mát lớn lao Kinh tế cho Trung cộng.

=> Dâng hiến Tài nguyên Quốc gia

Chúng tôi muốn nói đến việc dâng hiến Biển và Đất Hoàng Sa-Trường Sa cho Trung cộng. Việc dâng hiến này là một trọng tội đối với Tổ Tiên. Nhưng đứng về mặt Kinh tế, thì đây là việc dâng hiến Tài nguyên Quốc gia quá lớn lao cho kẻ thù kinh tế của mình.

Chiều dài Việt Nam gắn liền với Biển Đông. Người Việt Nam sống dọc theo chiều dài ấy. Thủy sản là nguồn tài nguyên phong phú tái hồi chu kỳ để nuôi sống dân chúng (ressources maritimes renouvelables et cycliques). Đó là nguồn tài nguyên không thể cạn hết theo thời gian (ressources inépuisables). Nếu Tài nguyên thuộc đất liền, thì nguồn tài nguyên ấy có tính cách hữu hạn (ressources épuisables) khi khai thác trong một số thời gian. Nhưng nguồn tài nguyên biển cả là vô tận. Dân tộc Việt Nam còn phải sống từ đời này qua đời kia, từ từng ngàn năm này đến từng ngàn năm kia. Dân tộc chúng ta có may mắn sống dọc theo bờ biển, sát cạnh những tài nguyên vô tận. CSVN đã dâng cho Trung cộng cái nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng này.

Đối với Hoàng Sa-Trường Sa, nguồn tài nguyên chính yếu là kho dự trữ năng lượng dầu lửa. Công Hàm ký bởi Phạm Văn Đồng theo lệnh Hồ Chí Minh là một khẳng định tự dâng hiến nguồn tài nguyên năng lượng dầu lửa quan trọng ấy cho Kinh tế Trung cộng.

=> Thả lỏng cho kẻ thù Kinh tế hoành hành trên Đất Nước

Trong một đoạn trên đây, chúng tôi đã đề cập đến việc hàng hóa Trung cộng đang giết chết nền Công nghệ Việt Nam sản xuất cho Thị trường nội địa. Nếu nền Công nghệ với vốn nước ngoài nhằm sản xuất linh kiện để xuất khẩu chỉ là việc làm thuê làm mướn nhất thời, thì nền Công nghệ sản xuất cho Thị trường nội địa Việt Nam là bước đầu thiết cần xây dựng cho một nền Kinh tế quốc gia lâu bền trong tương lai.

Khi CSVN hồ hởi vào Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO/OMC), chúng tôi đã viết một loạt bài cho thấy rằng đừng quá lạc quan với Tự do Mậu dịch (Libre Echange) bởi vì đó là một lý tưởng cạnh tranh cho những nước đã tiến tới tình trạng ngang hàng sức lực Kinh tế với nhau. Đối với những Quốc gia mới phát triển Kinh tế, phải chú tâm áp dụng việc Che chở những Kỹ nghệ mới phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes), nếu không, những Kỷ nghệ mới phát sinh này sẽ chết trong trứng nước.

Chúng ta đã có những bằng chứng lịch sử. Khi mà Anh quốc đã phát triển Kỹ nghệ, họ kêu gọi Tự do Mậu dịch, nhưng chính trong thời ấy, Đức và Hoa kỳ mới ở thời kỳ đầu của những Kỹ nghệ phát sinh, nên hai nước này đã chủ trương Che chở Mậu dịch (Protectionnisme).

Việt Nam vẫn còn nằm trong danh sách những nước nghèo và vừa chớm nở èo ọt những Công nghệ sản xuất cho Thị trường quốc nội. Vào WTO tức là để cho Thái Lan vào giết Thị trường Thực phẩm, Lúa gạo, và là để cho Trung cộng tràn vào giết chết nền Công nghệ mới phát sinh.

Nếu Nhà Nước cứng cắt, thì có thể xử dụng những Biện pháp Không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để có thể làm hàng rào che chở cho nền Công nghệ mới chớm nở này. Nhưng Nhà Nước Việt Nam, vì quá lệ thuộc vào Chính trị của Trung cộng, nên nhu nhược để cho hàng hóa Trung cộng vốn dĩ cạnh tranh mạnh hơn về kinh tế, nay vì lệ thuộc Chính trị nên càng tự do tràn vào để giết chết nền Công nghệ Việt Nam trong trứng nước.

=> Bị đồng hóa với Trung cộng trên Thị trường quốc tế

Trên Thị trường quốc tế, như chúng tôi đã phân tích ở phần đầu, hàng hóa Trung cộng có những ưu điểm cạnh tranh hơn hàng hóa Việt Nam về giá cả hạ và về cái thế của một nước lớn như Trung cộng, nghĩa là về giá cả, người ta chọn mua hàng Trung cộng, và về quyền lợi trao đổi, người ta cũng chọn mua hàng Trung cộng vì người ta còn nhằm bán lại hàng cho Thị trường lớn của Trung cộng.

Nhưng khi những Thị trường quốc tế lớn như Bắc Mỹ và Liên Aâu có những biện pháp chế tài gì với Trung cộng, thì Việt Nam cũng bị dính lây. Khi có điều gì lợi trên Thị trường quốc tế, thì Trung cộng ăn một mình và Việt Nam đứng nhìn, nhưng khi có những điều hại gì áp đặt lên Trung cộng, thì những Thị trường này lại kéo cả Việt Nam vào để chịu trận.

Tại sao như vậy ? Lý do là vì những Thị trường quốc tế lớn này đều biết rằng Việt Nam lệ thuộc vào Chính trị Trung cộng và có những gian giảo thương mại ngầm dàn xếp giữa hai nước. Nếu áp dụng những biện pháp chế tài thương mại cho Trung cộng mà không đồng thời áp dụng cho Việt Nam, thì có thể họ để cửa ngõ mở ra hớ hênh để Trung cộng dàn xếp gian giảo với Việt Nam mà tránh né những biện pháp chế tài ấy.
Đây không phải là một sự phỏng đoán không có bằng chứng. Chúng tôi xin kể ra hai tỉ dụ cho thấy rằng Thị trường quốc tế khi áp dụng biện pháp chế tài cho Trung cộng, thì cũng kéo luôn Việt Nam vào cùng chịu cho yên trí.

Tỉ dụ thứ nhất là việc Liên Aâu tăng thuế nhập cảng những hàng Da Dầy... lên tới 20% cao hơn. Biện pháp này áp dụng cho Trung cộng là chính yếu. Nhưng Liên Aâu thừa biết rằng nếu chỉ áp dụng cho Trung cộng, thì Trung cộng có thể tranh né việc tăng thuế để bán qua ngả Việt Nam để vào Liên Aâu. Liên Aâu đã quyết định kéo cả Việt Nam vào cùng với Trung cộng để cùng chịu việc tăng 20% này.

Trên Thị trường quốc tế, người ta thường gặp những dàn xếp gian giảo này. Thực vậy, trườc đây, một số hàng sản xuất trên lãnh thổ Trung cộng chung quanh Hồng Kông có thể được nhập vào Thị trường Aâu châu. Chỉ cần đề là Made in Hong Kong và Hong Kong thuộc về Anh, mà Anh nằm trong chính Aâu châu. Việt Nam lệ thuộc Chính trị Trung cộng và quan thầy Tầu có thể bảo nhà nước nhu nhược CSVN cho đề là Made in Vietnam để tránh 20% tăng thuế.

Tỉ dụ thứ hai đang xẩy ra. Trong gần một nửa năm nay, Thị trường quốc tế áp dụng những Biện pháp Không giá biểu cho Trung cộng. Khi vào WTO rồi, Trung cộng bắt đầu tấn công các Thị trường lớn như Bắc Mỹ và Liên Aâu bằng những đợt hàng hoá.

Khởi đầu là hàng May Dệt mà các Thị trường này gọi là Tsumani Textiles chinois. Tsumani này đã làm thiệt hại cho ngành nghiệp may dệt trong chính Thị trường; một số những nhà máy may dệt đóng cửa. Việc tràn lan may dệt của Trung cộng còn làm thiệt hại chính những nước nhỏ mà các Thị trường này có ý nâng đỡ: Mễ Tây cơ, Maroc, Bangladesch, Philippines... Mỹ phản ứng đầu tiên, sau đó đến Liên Aâu bằng những biện pháp được chính WTO cho phép.

Tiếp đến là những đợt hàng hóa như đồ chơi cho trẻ em, những thực thực phẩm từ Trung cộng. Lần này, không những Mỹ, Liên Aâu, mà còn một số nước khác như Uùc châu, Ba Tây... lấy ra Biện pháp không giá biểu như Biện pháp Vệ sinh (Mesure d’Hygiène) để chế tài hàng Trung cộng.  Việt Nam cũng bị kéo chung vào với Trung cộng để bị kiểm soát chế tài gắt gao do Biện pháp Vệ sinh này. Cái Chính trị lệ thuộc vào Trung cộng đã khiến Việt Nam cùng bị xếp chung với Trung cộng khi có những biện pháp chế tài vậy.


Đứng về khía cạnh thuần túy Kinh tế, hàng hóa Trung cộng có thế cạnh tranh hơn hàng hóa Việt Nam. Khi lệ thuộc Chính trị vào Trung cộng, CSVN trở thành nhu nhược để một đàng không có biện pháp ngăn chặn, một đàng cúi đầu nhận những thiệt hại. Kinh tế Trung cộng là kẻ thù của Kinh tế Việt Nam mà chính nhà cầm quyền Việt Nam rước kẻ thù về ngự trị như cái giá mua bảo đảm quyền bính cho đảng CSVN.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 23.12.2007
=========================


                                             DIÊN HỒNG XƯA VÀ 
                                         LẬP TRƯỜNG NGÀY NAY



                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

Bài này viết lên Lập trường của chúng tôi VietTUDAN như thế nào trước những vấn đề đang được đặt ra như sau:

* Thái độ nào đối với việc Tầu xâm lăng Trường Sa và Hoàng Sa ?
* Thái độ nào đối với Công Hàm ký bởi Phạm Văn Đồng ?
* Uûng hộ những cuộc Biểu Tình của Sinh viên Học sinh Quốc nội như thế nào ?
* Hành động cụ thể ra sao của người Việt tại Hải ngoại ?

Để trả lời cho những câu hỏi ấy, chúng tôi xin bàn những điểm sau đây:

=> Dịp Hợp nhất Tinh thần Dân tộc
=> Tinh thần Hội nghị Diên Hồng xưa và nay
=> Lấy Lập trường, Thái độ dứt khoát


Dịp Hợp nhất Tinh thần Dân tộc

Chúng tôi rất ít khi viết những bài kêu gọi sự Đoàn Kết và cũng ít khi than phiền về những chia rẽ vì chúng tôi xác tín rằng việc Đoàn Kết thực sự không đến từ những lời kêu gọi, nhất là những lời kêu gọi lại mang tính cách phô trương Luân lý, Dậy đời, nhất là còn được xử dụng như bình phong che đậy những mục đích riêng tư. Cũng vậy, mỗi cá nhân có toàn quyền sống cho mình, miễn là phải tôn trọng cá nhân khác cũng muốn sống trước hết cho cá nhân họ. Khi mỗi người sống cho cá nhân mình, điều đó chưa tất nhiên là chia rẽ. Việc muốn Đoàn Kết, Hợp lại, Tìm đến với nhau chính yếu là ở chỗ những cá nhân có MỤC ĐÍCH giống nhau hay không. Thực vậy, khi cùng có một ĐÍCH, thì lúc ấy tự nhiên tìm tới nhau, nương tựa nhau để cùng làm việc chung mong đạt MỤC ĐÍCH cho hữu hiệu hơn.

Trước cảnh Tầu xâm lăng Hòang Sa và Trường Sa, những người mang dòng máu Việt, cùng được thừa hưởng đất đai và biển cả do cùng một Tổ Tiên để lại, cùng mang truyền thống suy nghĩ và phản ứng thừa hưởng từ Oâng cha, bây giờ thấy mất mát, thì đây là dịp có thể đi đến một sự Hợp nhất, Đoàn kết Dân tộc. Hội nghị DIÊN HỒNG thời Vua TRẦN NHÂN TÔN đã thể hiện một sự Hợp nhất toàn vẹn. Trước cảnh Tầu xâm lăng hiện nay, Dân tộc Việt, nội cũng như ngoại, có cơ hội thể hiện một tinh thần DIÊN HỒNG thứ hai mà Tổ Tiên chúng ta đã nêu gương cách đây gần 800 năm.


Tinh thần Hội nghị Diên Hồng xưa và nay

Hội nghị DIÊN HỒNG xưa đã được thực hiện toàn vẹn. Chúng ta muốn có một tinh thần DIÊN HỒNG ấy, nhưng liệu ngày nay, Dân tộc có thể thực hiện được không ? và trong những điều kiện nào ?

Hội nghị DIÊN HỒNG xưa

Vua TRẦN NHÂN TÔN là một vị vua thông minh, đầy lòng thương Dân, được các tôi trung hết lòng kính phục và hợp tác. Vua hiểu rõ bụng dạ của quân Tầu đảo điên, đã không ưng thuận cho quân Tầu muốn mượn đường đi đánh Chiêm Thành để xâm chiếm nước ta. Kinh nghiệm để trối trăn:

Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn :
“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Tàu Hán. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta .Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: 

"Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". 
Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.“

(Trần Nhân Tôn)

Sứ của Tầu là Sài Thung sang nước ta hống hách, trịch thượng đối với Vua. Vua TRẦN NHÂN TÔNG vẫn nhũn nhặn xử sự vì biết quân binh của Tầu mạnh, nhưng vẫn giữ tiết thế của Vị Vua của một nước dù là nhỏ. Vua Tầu nằng nặc bắt Vua nước ta phải đích thân sang Trung quốc để chầu. Nhưng Vua TRẦN NHÂN TÔN tìm mọi cách từ chối không đi vì đó là sĩ diện của một Vị Vua và của một Nước phải chứng tỏ Độc lập. Ngài nói với Sài Thung: “Quả nhân xưa nay sinh trưởng ở trong cung không quen phong thổ, không thể nào đi được.“ Vua TRẦN NHÂN TÔN chỉ  sai Chú của mình là Trần Di Aùi sang Tầu đi Sứ, thay cho mình.

Vua Tầu muốn mượn cớ này và mượn Trần Di Aùi để can thiệp vào việc phế bỏ nội bộ của Việt Nam. Từ đó, Vua Tầu sai đại binh sang với chủ đích thôn tính nước ta.

Vua TRẦN NHÂN TÔN phong cho TRẦN QUỐC TUẤN làm HƯNG ĐẠO Đại Vương lo chuyện chống đỡ. Thoát Hoan tiến quân xâm lăng nước ta. Trong tình thế như vậy, Vua TRẦN NHÂN TÔN  đã triệu tập các bô lão dân gian, hội lại tại điện DIÊN HỒNG để hỏi ý Dân là nên chiến hay nên hòa. Các bô lão dân gian đều một lòng hô to: “QUYẾT ĐÁNH, QUYẾT ĐÁNH“.

Mặc dầu vậy, Vua vẫn lo lắng ngày đêm vì thương dân bị giết hại, nhất là khi thấy Hưng Đạo Vương bị lui về Vạn Kiếp trước sức tiến quân của Thoát Hoan lần thứ nhất. Lo lắng cho Dân, nên Vua đã đích thân đi chiếc thuyền nhỏ đến Hải Đông (Hải Dương) để hỏi Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN:  Thế giặc to như vậy, mà chống với nó thì dân sự tàn hại, hay là Trẫm chịu hàng đi để cứu muôn dân“. Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN hết lòng cương quyết trả lời: “Bệ hạ nói như vậy thì thật là lời nhân đức, nhưng mà Tôn Miếu, Xã Tắc thì sao ? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau sẽ hàng“.

Lòng vua thương Dân thực tình. Lòng quân sĩ hết mực trung thành gắn bó. Lòng Dân quyết chống ngoại xâm. MỤC ĐÍCH từ Dân đến Quân tướng và Vua là nhất thống, một mực chống xâm lăng. Đó là sự HÒA HỢP nhất thống, sự ĐOÀN KẾT một lòng. Cái sức mạnh thể chất là một phương diện khác. Trong một thân xác yếu đuối, có thể có một ý chí sắt đá, một tinh thần mạnh mẽ bền bỉ. Hội Nghị DIÊN HỒNG là một TINH THẦN, một Ý CHÍ nhất quyết đánh xâm lăng, ngay lúc này, hoặc trong 10 năm, 100 năm, 1000 năm sau.

Mặc dầu nước yếu, nhưng sự HÒA HỢP, sự ĐOÀN KẾT và lòng NHẤT QUYẾT  đã đưa đến kết quả: Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để thoát thân về Tầu !

Một Hội nghị DIÊN HỒNG ngày nay

Trước việc xâm lăng Hoàng Sa và Trường Sa, tất cả người Việt trong cũng như ngoài nước muốn tiến đến với nhau để có một Hội Nghị DIÊN HỒNG như thời Tổ Tiên của chúng ta. Nhưng để có được một tinh thần Diên Hồng thời Vua TRẦN NHÂN TÔN, chúng ta phải xét những hoàn cảnh hiện nay xem có thể hội đủ những điều kiện như hồi ấy không. Nếu vẫn một ý chí quyết tiến đến sự Hòa Hợp, Đoàn Kết, thì chúng ta phải dứt khóat và cương quyết tạo những điều kiện để có thể tiến tới Hội Nghị DIÊN HỒNG . Hoàn cảnh hiện nay như sau:

=> Đối với Trung Cộng, CSVN, bọn nắm quyền hành độc đoán không mang trong lòng cái MỤC ĐÍCH duy nhất là chống xâm lăng, bảo vệ Tổ quốc như Vua Trần Nhân Tôn. Chúng tính toán Trung Cộng cho cái lợi riêng của băng đảng của chúng, chứ không phải vì quyền lợi tối thượng của Tổ quốc.

=> Không những không mang MỤC ĐÍCH chống xâm lăng, mà chúng, từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và bè lũ cầm quyền còn đi bán nhượng Đất và Biển để mua súng đạn về giết chính dân Việt mình, để cầu vinh cho băng đảng và cho cá nhân mỗi người. Không thể chối cãi được cái tội phản quốc từ Công Hàm do lệnh của Hồ Chính Minh và ký bởi Phạm Văn Đồng. Vua Trần Nhân Tôn cầm quyền cai trị, nhưng không làm như vậy

=> Không những ký Công Hàm phản quốc, mà cả đồng bọn cầm quyền độc tài, khi nghe lệnh Tầu Cộng phán ra, thì chúng sợ run lây bẩy, thưa dạ răm rắp. Hãy nhìn gương Vua Trần Nhân Tôn đối với vua Tầu, đối với Sứ thần Sài Thung của Tầu.

=> Từ những chục năm trường dưới quyền cai trị của băng đảng CSVN độc tài cho đến nay, tinh thần quật khởi của Dân chúng, nhất từ giới Trẻ là sức chính vươn lên của Dân tộc, bị băng đảng CSVN dùng đủ mọi hình thức khủng bố để tiêu diệt bởi vì chúng sợ rằng nếu để tinh thần quật khởi tồn tại trong dân chúng, thì quyền hành độc tài của chúng bị đe dọa.

=> Những cán bộ CSVN, từ các cấp mang nhiệm vụ điều hành công việc Quốc gia và trách nhiệm điều động tinh thần dân chúng, không nhất quyết cùng một Mục Đích chống xâm lăng, mà chúng chỉ nghĩ đến túi tiền riêng của chúng, tìm cách cho thoát tài sản ra nước ngoài. Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN , qua bài Hịch, đã bầy tỏ nỗi băn khoăn duy nhất là chống xâm lăng Tầu để cứu nước khỏi hoạn nạn.

=> Đối với Dân, thì CSVN không những không tôn trọng Dân để Dân thương, mà tìm hết cách để ăn cướp, bóc lột của cải của Dân. Dân có bị oan ức kêu than lên, thì chúng thẳng tay đàn áp. Làm thế nào Dân có thể ủng hộ chúng với những tiếng quyết liệt như Hội Nghị DIÊN HỒNG cách đây gần 800 năm.

=> Tuổi trẻ, Sinh viên Học sinh muốn nhen nhún lên để nói những tiếng của Hội Nghị DIÊN HỒNG thuở xưa, thì chúng ngăn cấm, bắt bớ theo lệnh của chủ Tầu Cộng. Thực vậy, Sinh viên Học sinh vừa đứng lên biểu tình, thì chúng đã cho lực lượng Công an diệt tinh thần vùng dậy này để chết trong trứng nước. Đây là một trọng tội đối với Tổ Tiên và Dân tộc, phạm chính đến Tinh thần DIÊN HỒNG.

Thêm vào đám cầm quyền độc tài (Vua) CSVN khắt máu này, còn có những kẻ nịnh thần vây quanh để mong theo đóm ăn tàn. Đám người theo đóm ăn tàn này gồm từ những Lãnh đạo Tôn giáo (đám ngợm giáo gian quốc doanh) hay những Trí thức Chính trị xôi thịt (đám hô hào Hòa Hợp Hòa Giải giả tạo), đứng chính trong hàng ngũ chúng ta, nhưng len lỏi chui rúc liếm trôn đám CSVN tội phạm bán nước. Đám liếm trôn này một đàng đứng trong hàng ngũ chúng ta để bàn rùn cái ý chí quyết tâm chống xâm lăng, một đàng đi tâng bốc, luồn trôn đám bán nước để đám này tiếp tục tội phản quốc.

Trong khung cảnh xã hội dân sự và tương giao quyền hành như vậy, thì không thể đạt tới Tinh thần DIÊN HỒNG xưa thiết cần cho công cuộc đuổi ngoại xâm bảo toàn lãnh thổ. Vì vậy để có thể đạt được Tinh thần DIÊN HỒNG theo gót Tổ Tiên, chúng ta trước hết phải tạo những điều kiện thực hiện được khung cảnh xã hội dân sự và tương giao quyền hành như thời Vua TRẦN NHÂN TÔN, nghĩa là người có quyền biết thương yêu Dân để Dân một lòng hợp tác với quyền hành, người hành xử việc công phải biết vì Dân, vì Đất Nước mà làm việc cho hữu hiệu ích Quốc, lợi Dân.


Lấy Lập trường, Thái độ dứt khoát

Lập trường của chúng tôi, Tuần báo Điện tử VietTUDAN và của chính cá nhân Nguyễn Phúc Liên, không phải là điều gì mới mẻ từ không trung rơi xuống, mà nó chỉ đơn giản là hệ luận từ những gì vừa mới phân tích trên đây, nghĩa là từ Tinh thần DIÊN HỒNG cách đây gần 800 năm.  Những tiếng “Quyết Đánh ! Quyết Đánh!“ của các bô lão là sự bầy tỏ ra trong lúc hữu sự trước việc Thoát Hoan dàn binh xâm lăng. Nhưng những tiếng hô ấy đã sống tiềm tàng từ lâu đời trong Tinh thần người Việt. Chúng ta gọi đây là TINH THẦN QUẬT KHỞI ĐẤU TRANH ĐỂ SINH TỒN của nòi giống Việt. Không có tinh thần này triền miên, thì Việt Nam lúc này có lẽ chỉ là một Tỉnh như Quảng Đông, Quảng Tây... và người Việt chúng ta ăn nước tương chứ không ăn nước mắm, nói chuyện với nhau bằng tiếng Ngộ, Nị... chứ không bằng tiếng Anh, Tôi... Truyền thống Quật khởi Đấu Tranh để Sinh Tồn đã được un đúc nên từ ý chí của dòng giống Việt Anh dũng triền miên được lúc lúc nổi dậy khi cần như Hai Bà Trung, Bà Triệu, Ngô Quyền...và theo giòng Lịch sử, có thêm Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, rồi Lê Lợi, Quang Trung Nguyễn Huệ và ngay gần đây hơn có trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974.

Để có thể thực hiện một TINH THẦN DIÊN HỒNG như thời Vua TRẦN NHÂN  TÔN, một sự HÒA HỢP Dân tộc đích thực, một sự ĐOÀN KẾT chân chính, Lập trường và Thái độ dứt koát của chúng tôi là:

1) Phải loại bỏ hẳn những kẻ đã bán Đất và Biển của Tổ quốc ra khỏi việc lãnh đạo công cuộc chống xâm lăng của Tầu nói riêng và ra khỏi việc lãnh đạo dân chúng nói chung. Những kẻ đã bán Đất và Biển ấy là đảng Cộng sản Việt nam. Việc bán Đất và Biển đã được quyết định bởi chính Hồ Chí Minh và Công Hàm phản quốc công khai được ký bởi Phạm Văn Đồng. Đảng CSVN, trong nhiều chục năm trường, vẫn tục việc phản bội Tổ quốc và bằng chứng cụ thể nhất là hiện nay đảng CSVN theo lệnh của Tầu để dẹp những cuộc biểu tình chống xâm lăng của Tầu. Do đó:

* Việc loại kẻ bán bán Đất và Biển ra khỏi việc lãnh đạo công cuộc chống xâm lăng là lẽ đương nhiên. Không thể giao cho kẻ cướp việc lãnh đạo chống cướp.

* Việc loại kẻ bán Đất và Biển ra khỏi việc lãnh đạo dân chúng cũng là điều hữu lý bởi lẽ công cuộc vận động quần chúng cho Tinh thần Đoàn Kết, Hòa Hợp DIÊN HÒNG cần những người mà dân tin tưởng vào lòng trung thực, biết kính trọng và yêu mến dân, trong khi ấy CSVN, một mặt đã là kẻ phản quốc, một mặt đã luôn luôn dùng sức mạnh khủng bố để đàn áp dân. Dân hết còn tin tưởng vào CSVN và vì vậy không thể để CSVN ở vị trí lãnh đạo quần chúng vậy.

2) Đối với những kẻ đã từng nịnh bợ hay làm tay sai cho CSVN như đám ngợm Giáo gian quốc doanh hoặc những Trí thức Chính trị theo đóm ăn tàn, chúng ta cũng phải loại ra khỏi hàng ngũ lãnh đạo công cuộc chống xâm lăng bởi vì chúng có thể trá hình đứng cùng chiến tuyến với chúng ta, nhưng chúng lại ngầm đi luồn trôn kẻ bán nước làm hại nỗ lực chống ngoại xâm của toàn dân.

Tuy nhiên đối với những lãnh vực chuyên môn như hành chánh, trật tự công cộng, kỹ thuật, cơ cấu tổ chức vẫn giữ vì như cầu hiện tại miễn là những lãnh vực ấy không bị Chính trị CSVN chỉ đạo.

3) Đặc biệt đối với Quân đội, chúng ta yêu cầu Quân đội làm đúng nhiệm vụ của mình, nghĩa là phi Chính trị, mà chỉ chú tâm lo công việc Quốc phòng. Việc chống xâm lăng hiện nay, theo tinh thần DIÊN HỒNG, đòi chính Quân đội, với sứ mệnh Quốc phòng, phải nhất thiết loại bỏ những kẻ bán nước, nghĩa là những kẻ đã dẩn lối cho ngoại xâm phạm vào việc Quốc phòng. 

4) Trong ý chí phải tiến tới thực hiện Tinh thần DIÊN HÔNG của Tiền nhân để HÒA HỢP, ĐOÀN KẾT Dân tộc thực sự hầu đuổi quân Tầu xâm lăng ra khỏi bờ cõi, Toàn Dân mọi giới, không phân biệt Tôn Giáo, Chính trị hay Sắc Tộc, phải được Tự do triển nở Tinh thần DIÊN HỒNG trong chính con người của mình mà Truyền Thống Dân Tộc Quật khởi Đấu Tranh để Sinh Tồn vẫn triền miên sống trong mỗi người. Mọi người tương kính nhau, nâng đỡ nhau để triển nở Tinh thần DIÊN HỒNG làm sức mạnh đuổi quân xâm lăng như cha ông mình đã làm.  Chúng ta phải hết lòng cổ võ mọi người Việt bầy tỏ lòng yêu Quê Hương, chống lại kẻ xâm lăng. Mọi hành động ngăn cản sự biểu lộ Tinh thần DIÊN HỒNG trong mục đích chống xâm lăng đều được coi là việc làm phản quốc.  

5) Tiến đến thành lập một BAN CHỈ ĐẠO DÂN SỰ TỐI CAO gồm những người được Dân nể trọng, trong cũng như ngoài nước, nhưng không có những kẻ đã phạm tội bán nước trực tiếp hoặc những thành phần nịnh bợ, tiếp tay cho kẻ bán nước. Ban Chỉ Đạo Dân Sự Tối Cao này có nhiệm vụ lãnh đạo việc phát triển Tinh thần DIÊN HỒNG Hòa Hợp, Đoàn Kết Dân tộc thực sự thiết cần cho tổ chức thực hiện việc tôn trọng Nhân phẩm và bảo đảm Nhân quyền. Có như vậy Toàn dân mới đủ sức mạnh đuổi được xâm lăng, dù phải trường kỳ 10 năm, 100 năm hay 1000 năm .


Hội Nghi DIÊN HỒNG mang đến cho chúng ta một Tinh thần HÒA HỢP thực sự, một sự ĐOÀN KẾT chặt chẽ và một ÝCHÍ CHỐNG NGOẠI XÂM sắt đá, nhất là đối với Tầu.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế







=========================
pho bien/ publication 20.12.2007
=========================


                                    GIÁO OAN HÀ NỘI BIỂU TÌNH
                                               ĐÒI CÔNG LÝ



                          Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Biến cố Giáo dân SÁO CÁT tự gửi tối hậu thư cho Nhà Nước để lấy lại Nhà trường của Xứ đạo. Đây là một ĐỘT BIẾN GIÁO OAN cũng như ĐỘT BIẾN DÂN OAN Tiền Giang.

x

Tất cả Dân Oan cũng như Giáo Oan chỉ nhằm mục đích đòi CÔNG LÝ. Họ không làm Chính trị, nhưng họ hoàn toàn có quyền đòi lại Nhà, Đất đã bị CSVN ăn cướp từ bao năm trường đến nay. Thậm chí có những Khu đất tư đã bị tước đoạt, rồi bán lại cho người khác, nhất là cho những người nước ngoài dưới những danh nghĩa ngụy tạo.

Đột biến Giáo Oan Sáo Cát là khởi đầu.

Ngày 18.12.2007, Tôn Giáo lại ghi nhận ĐỘT BIẾN GIÁO OAN HÀ NỘI có tầm vóc quan trọng:

=> Ngày 15.12.2007: Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT kêu gọi Linh mục, Tu sĩ, Chủng sinh và Giáo dân hãy đòi lại Tòa Khâm sứ đã bị tước đoạt để xử dụng vào việc buôn bán như mở Tiệm phở: “Trước đây đã bán phở, nay lại mở ngân hàng. Và ngày 13-12-2007 vừa qua thêm kinh doanh giữ xe với quang cảnh thật hỗn độn.“(Lời Đức TGM)

=> Ngày 18.12.2007: Khoảng hơn 2000 người. Có linh mục, tu sĩ, chủng sinh và giáo dân đã BIỂU TÌNH TRONG ĐÊM với những ngọn nến sáng rực để đòi CÔNG LÝ.

ĐỘT BIẾN GIÁO OAN HÀ NỘI với những cây nến sáng rực lên ngọn lửa CÔNG LÝ sẽ sáng lan ra vào HUẾ và SÀI-GÒN. Tại những nơi đây, việc cướp chiếm Nhà, Đất lại còn ác nghiệt hơn gấp nhiều lần tại Hà Nội.

Xin quý Vị, nhất là các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ, Giáo dân, trong cũng như ngoài nước, hãy nhìn và nhất loạt ủng hộ những cuộc ĐỘT BIẾN GIÁO OAN cùng với DÂN OAN vì CÔNG LÝ này.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






                                     ĐỨC TGM NGÔ QUANG KIỆT 
                                       LÊN TIẾNG ĐÒI CÔNG LÝ


         Thư của Đức TGM Ngô Quang Kiệt lên tiếng với chính quyền CSVN
                                            về đất Tòa Khâm Sứ 
                                      và xin dân Chúa cầu nguyện



Hà nội ngày 15 tháng 12 năm 2007

Gửi: Các Linh mục, Tu sĩ, Chủng sinh
Và anh chị em giáo dân Tổng Giáo phận Hà nội

Anh chị em thân mến,
Từ nhiều năm qua, sinh họat của Tổng giáo phận bị giới hạn vì thiếu thốn cơ sở vật chất. Nay trong tình hình xã hội đổi mới, số linh mục ngày càng tăng, các tổ chức sinh họat ngày càng nhiều, cơ sở Tòa Tổng giám mục càng trở nên chật hẹp. Đã có những buổi lễ người tham dự phải tràn ra đường phố. Đã có những tổ chức sinh họat như sinh họat giới trẻ phải khổ sở chen chúc nhau trong sân Nhà Chung.

Hơn nữa, Tòa Tổng giám mục Hà nội còn là nơi đặt trụ sở chính của Hội đồng Giám mục Việt nam. Thế mà hiện nay, vẫn chưa có đủ phương tiện cần thiết cho những họat động tối thiểu của cơ quan quan trọng, là tổ chức đứng đầu Giáo hội Công giáo tại Việt nam. Thậm chí chưa có được một căn phòng nào dành riêng cho Hội đồng Giám mục. Hoàn cảnh thật đau lòng.

Vì thế từ nhiều năm nay, Tòa Tổng Giám mục và Hội đồng Giám mục đã nhiều lần đệ đơn lên Chính quyền các cấp xin giao lại Tòa Khâm sứ để Giáo hội có đủ phương tiện cần thiết cho những họat động tôn giáo tối thiểu. Đề nghị chính đáng của tôn giáo chưa được đáp ứng, trong khi đó Quận Hòan Kiếm lại dùng Tòa Khâm sứ để kinh doanh buôn bán. Trước đây đã bán phở, nay lại mở ngân hàng. Và ngày 13-12-2007 vừa qua thêm kinh doanh giữ xe với quang cảnh thật hỗn độn.

Vì thế, xin anh chị em hãy tích cực cầu nguyện để những nơi tôn nghiêm của tôn giáo được tôn trọng, nhu cầu chính đáng của Giáo phận và của Hội đồng Giám mục được đáp ứng và những sinh họat tôn giáo được thuận lợi, góp phần xây dựng xã hội, đặc biệt khuôn mặt của thủ đô được tốt đẹp.

Thân ái chào anh chị em.

+Giuse Ngô quang Kiệt
Tổng Giám mục Hà nội
 





                                    ĐỘT BIẾN GIÁO OAN HÀ NỘI:
                             2000 NGƯỜI BIỂU TÌNH TRONG ĐÊM

(18/12/2007)

Hà Nội rực sáng lên niềm tin cho công lý:
Trên 2.000 người Công giáo tuần hành trước Tòa Khâm Sứ! 
HÀ NỘI -- Một lối ứng xử chưa từng có trong lịch sử Giáo phận Hà Nội. Hàng nghìn người có mặt tại Toà Khâm Sứ trong đêm. Thắp nến hát thánh ca cầu nguyện đòi công lý.
 
Tuần hành vĩ đại
trước Tòa Khâm Sứ Vatican
tại Hà Nội đêm 18.12.2007


Lời Kinh Hoà Bình của ca đoàn tổng hợp trong đêm hát lên mừng Chúa vừa dứt trong tiếng vỗ tay, thì tiếng một cha nào đó vang lên trên hệ thống tăng âm có vẻ vừa ngọt ngào và hiền hoà, vừa nghiêm trọng và quyết liệt. Ngài nói đến việc đòi đất Toà Khâm Sứ theo nội dung của bức thư chung của Đức Tổng Giám Mục gửi cộng đồng dân Chúa ngày 15.12 vừa qua.

Lúc đó là 22 giờ 6 phút,
tối ngày 18.12.2007

Kết thúc ngài nói: “Để các cấp chính quyền sớm giải quyết đúng với mục tiêu công bằng, văn minh, trên đường ra về, chúng ta hãy hướng về Toà Khâm Sứ. Xin tất cả hãy đi hàng đôi hướng về Toà Khâm sứ và đọc kinh cầu nguyện.”- Tôi đang mải chạy cho nên nhớ không chắc đúng từng từ.

Tức thì tôi thấy một đoàn rước đông đảo. Thánh giá nến cao đi đầu. Theo sau là một đoàn người đông đảo. Khoảng hơn 2000 người. Có linh mục, tu sĩ, chủng sinh, giáo dân. Trong và ngoài giáo phận. Cả cán bộ nữa có lẽ. Vì vừa có buổi trình diễn thánh ca và khách tham dự thuộc nhiều đối tượng và đến từ nhiều giáo phận Miền Bắc. Tất cả trong trang phục lễ hội. Từ sân Đại Chủng viện đoàn người đi qua khu vực Toà Giám Mục tiến thẳng sang sân Toà Khâm sứ, nơi đang bị chiếm dụng bất công và bất hợp pháp từ gần nửa thế kỷ nay.

Thánh giá và Nến cao trước cửa Tòa Khâm Sứ
Tiến lên với ngọn nến sáng trong tay.
Tiến lên với lời thánh ca tha thiết trên môi miệng
Tiến lên trong lối đi rực ánh đèn mầu đón Chúa Giánh Sinh.
Tiến lên trong trật tự, trang nghiêm và an bình.
Không một khẩu hiệu nào được hô lên.
Không một cánh tay nào được vung lên.
Không một người nào chen lấn xô đẩy.

Bạn chỉ thấy những con người y phục lễ hội hết sức lịch sự duyên dáng đang nhè nhẹ bước tới trong tiếng hát lời kinh nguyện cầu vang lên tha thiết, du dương, trầm bổng trong tiếng đàn nhạc linh thiêng, hùng tráng của lời Kinh Hoà Bình: “Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp. Để con đem chân lý vào nơi tối tăm, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng…”

Bạn cung kính đứng nhìn đoàn người nối đuôi nhau từ từ đi qua cổng tiến vào khu sân cỏ trước Toà Khâm Sứ.

Không thấy bóng bất cứ nhân viên công lực nào trong quân phục. (Có thể chỉ vì tôi không thấy).

Giáo dân và tu sĩ
một lòng đòi công lý

Không một ai, không một thế lực nào có thể ngăn cản họ tiến vào nhà họ. Các nhân viên trông coi bãi xe đứng chết lặng vì kinh ngạc. Không nói được lời nào. Các cán bộ và nhân viên của cơ quan nào đó đang ở bên trong nhà thì không dám ra khỏi phòng.

Họ đi bình thản và tự nhiên. Họ đi như đã quen vì đấy vốn là nhà họ. Họ tiến thẳng vào cửa chính Toà Khâm Sứ. Nhưng cửa chính đã khoá rồi.

Thánh giá nến cao dừng lại nơi bậc cấp trên cùng sát cửa chính. Dừng lại, quay ra và hướng xuống sân cho cộng đoàn đông đảo chiêm ngưỡng và cầu nguyện.

Đoàn người tiếp tục tiến vào. Họ đứng chật cái sân rộng mênh mông. Nhiều người đứng tràn ra hai bên hè Phố Nhà Chung.

Họ vẫn cầm nến sáng trong tay. Họ tiếp tục cầu nguyện. Họ không cần phải diễn tả bằng ngôn ngữ và cử chỉ thông thường. Nhưng trong một niềm tin họ kết thành một khối thống nhất. Hiểu nhau và gắn bó với nhau hơn bao giờ hết. Trời ở cùng họ. Họ mang trong mình sức mạnh của Trời.

Có giây phút im lặng. Một sự im lặng có sức mạnh ngàn lần hơn những tiếng hô khẩu hiệu. Rồi lại có tiếng cầu xin Chúa Thánh Thần được cất lên. Rồi lại im lặng. Rồi lời ca “Lạy Mẹ xin thương đến Giáo phận con đây” lại được cất lên. 

Thanh Tâm  

 





=========================
pho bien/ publication 16.12.2007
=========================



                                HÀ NÔI: BIỂU TÌNH NGÀY 16.12.07
 

Đảng cộng sản Việt Nam ra lệnh công an ngăn chặn, cản trở cuộc biểu tình yêu nước phản đối Trung quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của nhân dân.
 
Sáng nay 16/12/2007, tiếp lời kêu gọi biểu tình phản đối TQ chiếm 2 quần đảo TS - HS của Việt Nam, đã có rất đông người, phần lớn là tuổi trẻ tham gia vào đoàn biểu tình và tuần hành trước ĐSQ TQ tại HN và LSQ TQ tại Sài Gòn. Tuy nhiên, vì các lời kêu gọi đã được công khai trước trên rất nhiều trang mạng và cả gửi qua tin nhắn, nên nhà cầm quyền biết và đã ra lệnh cho rất nhiều các lực lượng vũ trang ngăn chặn, cản trở cuộc biểu tình tuần hành yêu nước của nhân d ân VN. Họ không cho đoàn biểu tình có điều kiện tập hợp đối diện với ĐSQ và LSQ để trực tiếp hô vang những khẩu hiệu yêu nước. Họ phong tỏa các ngả đường hướng vào tòa ĐSQ và LSQ, nhằm ngăn chặn dòng người nhập vào đoàn biểu tình. Cuộc biểu tình đã không thể thực hiện được theo kịch bản sắp xếp ban đầu mà phải chuyển sang tuần hành.

Việc cản trở, ngăn chặn hành động biều tình yêu nước của nhân dân VN phản đối TQ chiếm 2 quần đảo TS và HS của công an dưới sự chỉ đạo của ĐCSVN đã bộc lộ rõ bản chất, tâm địa xấu xa của ĐCSVN. Khi đất nước lâm nguy, lãnh thổ bị xâm phạm mà họ lại cố tình làm ngơ và dửng dưng đứng ngoài cuộc. Phải chăng ĐCSVN phải nhún nhường trước đàn anh TQ để hòng giữ riệt cái ngai vàng độc đoán? Phải chăng có những thỏa thuận trước đây giữa VN với TQ như công hàm của cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng, phải chăng những hiệp định dở dang về phân chia lãnh hải, lãnh thổ, v,v.. đã níu chân ĐCSVN?

Chúng tôi kịch liệt lên án ĐCSVN về những hành động ngang trái này. Rất mong các cơ quan ngôn luận trên toàn thế giới ủng hộ chúng tôi.

Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam,

Đả đảo nhà cầm quyền bành trướng Trung Quốc,

Nước Việt Nam là của toàn thể nhân dân Việt Nam,

Yêu cầu chính phủ Việt Nam dừng ngay lập tức các hành động cản trở, ngăn chặn các hoạt động yêu nước của nhân dân Việt Nam.
 
Huỳnh Dũng Thắng
Gửi đi từ Hà Nội.




TIN GIỜ CHÓT VỀ BIỂU TÌNH

Biểu tình phản đối TQ tại Hà Nội:

Khoảng 2000 người mặc áo đỏ và 2500 người mặc áo vàng, áo xanh tham gia tuần hành từ đầu đường Điện Biên Phủ , qua Đài tưởng niệm liệt sĩ Bắc Sơn, các phố Văn Miếu , Quốc Tử Giám, Cát Linh, Giảng Võ và kết thúc tại Khách sạn Hà Nội lúc 11h . Tuy việc biểu tình không được như dự kiến ban đầu nhưng cuộc tuần hành ngay sau đó lại thành công CỰC KỲ MỸ MÃN.

Người Đưa Tin

 

http://farm3.static.flickr.com/2030/2114428632_d1f49874d3.jpg< /font>

http://farm3.static.flickr.com/2061/2113652469_7657b41689.jpg

http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/4.jpg

http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/2.jpg

http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/3.jpg

http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/4.jpg

http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/5.jpg

http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/6.jpg

 

 


TRUNG CỘNG RA LỆNH CHO CSVN
DẸP BIỂU TÌNH

Trung Quốc Ra Lệnh Cho Đảng CSVN Phải Đàn Áp Biểu Tình
Quốc Hương (Hà Nội)

Quan thầy Trung Quốc vừa đưa ra lệnh cho  đảng CSVN phải đàn áp biểu tình của sinh viên bằng một giọng điệu hống hách theo kiểu quan thầy Mã Viện ngày xưa. Người Việt Nam chưa bao giờ bị nhục nhã như vậy khi bọn Tàu Phù vừa chiếm đất vừa ra lệnh cho VN như người là bề trên . Sau khi ông Tần Cương mở lời tuyên bố hống hách thì CSVN và 600 báo đài giữ thái độ im lặng không khác gì là những con bù nhìn mà lâu lâu chỉ ú ớ lên một tiếng như ông Lê Dũng nói cho có lệ rồi sau đó im luôn.

Lịch sử VN đã chứng minh qua 1,000 năm quân Tàu Phù phải nhiều lần hoảng sợ vì những cuộc đối kháng của các anh hùng đất Việt như Lý Thường Kiệt, Quang Trung ….Chính Phủ Trung Quốc có uy thế lắm sao mà ngang nhiên ra lệnh đòi nhà cầm quyền và đảng CSVN phải đàn áp ngay chính những người Dân Việt , và những người dân nầy chỉ dùng hình thức ôn hòa biểu tình phản kháng Trung Quốc chiếm đất của VN ! .

Bọn bành trướng Trung Quốc đã dùng xe tăng và quân đội để bắn giết Dân của họ ở Thiên An Môn quá dễ dàng nên bọn Tàu Phù nầy xem người Dân VN như là cỏ rác . Trung Quốc muốn làm gì thì chỉ cần ra lệnh cho đảng CSVN là họ sẽ phải cuối đầu tuân lệnh . Đảng và nhà nước ta sẽ dùng ngay Công An “Nhân Dân “để đàn áp chính Nhân Dân mình theo lệnh bọn Thái Thú .

Đảng CSVN hay lắm cơ mà , đã từng rêu rao là có công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp Mỹ mà bây giờ hèn yếu thế . Hèn và yếu ớt như một cô gái nhỏ bị bọn Tàu Phù hiếp Dâm nhiều lần mà chỉ có biết ngồi khóc than thở , chỉ biết dâng hiến thêm chứ không có tinh thần phản kháng .

Tinh thần “Chống Mỹ Cứu Nước ” Tinh Thần Kháng Pháp ở đâu sao không thấy nữa hả những đảng viên CSVN hèn và nhu nhược kia ơi . Người dân Việt Nam sẵn sàng đổ máu để bảo vệ giang san mà sao những người tự xưng là anh hùng trong 2 cuộc kháng chiến kia hôm ngày nay phải ngồi im lặng nghe lệnh của quan thầy Trung Quốc thế ư . Không lẽ đảng CSVN lại còn hèn hơn cả Lê Chiêu Thống ???
 
Chúng ta hãy đọc những câu hóng hách mà bọn chó má Tàu Phù coi thường dân VN như cỏ rác  : Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương nói: “Chúng tôi thực sự quan ngại về những diễn biến mới đây ở Việt Nam. Điều đó sẽ làm tổn hại quan hệ tốt đẹp giữa hai nước”.  “Chúng tôi hy vọng chính phủ Việt Nam sẽ có thái độ trách nhiệm đồng thời có các biện pháp hiệu quả nhằm ngăn chặn những sự việc làm tổn hại đến quan hệ song phương như vậy“.

Sau khi ra lệnh xong , bọn Tàu vẫn cứ ngoan cố cho Hoàng Sa & Truo`ng sa là của họ : “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các quần đảo và vùng biển lân cận ở khu vực biển Nam Trung Hoa“.

Quốc Hương (Hà Nội)
 








=========================
pho bien/ publication 15.12.2007
=========================



                                                     ĐÁNH CSVN
                             Ở NHỮNG ĐIỂM CỤ THỂ KHÔNG CHỐI CÃI



                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Xin đừng để cuộc đấu tranh của chúng ta tản mạn vào những điểm hoặc ý niệm trừu tượng mà CSVN có thể nhì nhằng ngụy biện để câu giờ cho chế độ, mà Quốc tế có thể lẻo mép nói để thoa dịu chúng ta trong khi ấy họ bắt tay với độc tài để thủ lợi cho nước họ, mà chính CSVN cho người nằm trong những Phong trào đấu tranh của chúng ta để gây phân tán.

Chúng ta dồn tận lực vào việc tấn công những điểm cụ thể mà CSVN phải cúi gầm mặt chịu tội, không thể lẻo mép ngụy biện chống chữa nửa lời. Những điểm đấu tranh cụ thể đó là:

1) Điểm 1:  TỘI PHẢN BỘI TỔ QUỐC
 
CSVN đã ký chính thức Công Hàm bán đất và biển mà Tổ Tiên chúng ta đã hy sinh xương máu qua các thế hệ để có và để bảo vệ sự vẹn toàn. Đây là tội mà Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và đồng lũ CSVN phải cúi gầm mặt chịu tội trước Dân tộc. Đây là tội phải quật mồ Hồ Chí Minh lẹn để Dân trị tội. (Xin xem Công Hàm bán nước ký bởi Phạm Văn Đồng, đính kèm)

2) Điểm 2: TỘI CƯỚP DỰT NHÀ ĐẤT CỦA DÂN NGHÈO

Đây là tội phạm vào Công lý chứ không thể đểu cán cắt nghĩa chính trị gì cả. Đây là tội cướp dựt của cải của Dân, nhất là từ những người Dân nghèo khổ nhất và đã từng bị chúng lừa gạt lợi dụng đấu tranh để chiếm lấy quyền lực độc tài hiện nay. Dân Oan đã thẳng thắn đứng lên đòi Công lý. Chúng ta hãy cùng với Dân Oan đánh thẳng vào điểm này.

3) Điểm 3: TỘI THAM NHŨNG LÀM THOÁI HÓA KINH TẾ VÀ XÃ HỘI

Đây là cái tội từ thằng bé đến thằng lớn của đảng CSVN. Chính những Đại Hội của đảng đã thú nhận tội lỗi này. Chúng không thể chối cãi được nửa lời. Chỉ có Dân với Tự do Ngôn luận mới có thể chống và diệt được tội THAM NHŨNG để cứu Kinh tế Quốc gia và phát triển cuộc sống Xã hội trong đều đặn và tương kính. (Xin đọc bài về Tham Nhũng, đính kèm)

Ba điểm đấu tranh trên là cụ thể mà CSVN không thể đểu cán nguỵ biện câu giờ chống đỡ. Xin đừng mất nhiều thời giờ và sức lực vào những ý niệm trừu tượng và lỗi thời mà CSVN đã ngụy biện chống đỡ cho đến nay, mà Quốc tế lẻo mép hứa cuội để thoa dịu bề ngoài trong khi họ đưa tay nối kết với chính kẻ tội đồ của Dân tộc để thủ lợi cho nước họ. (Xin xem bài Dân chủ/ Nhân quyền như đã lỗi thời, đính kèm)

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 



CÔNG HÀM BÁN NƯỚC
KÝ BỞI PHẠM VĂN ĐỒNG
      
Thủ Tướng Phủ
Nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hoà

Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trên mặt bể.

Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng./.


Kính gửi:                                           Hà-nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958.

 

Đồng chí Chu An Lai                                            (Ấn ký) 
Tổng lý Quốc vụ viện                                      PHẠM VĂN ĐỒNG
Nước Cộng hoà Nhân dân Trung-hoa               Thủ tướng Chính Phủ
tại BẮC KINH                                           Nước Việt-nam Dân chủ Cộng Hòa
 
 

 

 

THAM NHŨNG NUÔI ĐẢNG
VÀ DIỆT KINH TẾ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


CSVN lập hết Phòng này, Uûy Ban kia để chống THAM NHŨNG. Đó chỉ là trò cười, việc diễn tuồng đểu cáng. Thực vậy, nếu không còn tham nhũng, thì cái đảng độc tài CSVN đã tự tan rã rồi. Tôi xin cắt nghĩa rất đơn giản như sau.

Ý thức hệ không còn nữa

Cái Ý thức hệ Mác Lê đã chết mất từ ngày sụp đổ của Thế giới Cộng sản. Ý thức hệ ấy đã làm lụn bại Kinh tế của những nước Cộng sản. Dân nghèo đói đứng lên đạp đổ chế độ tại Nga và các nước Đông Aâu. Dạ Dầy đói, chứ không phải ý niệm Dân chủ/ Nhân quyền, đã đập tan Cộng sản.

Còn Tham nhũng mới có đảng viên

Những người vào đảng hiện nay không phải là vì Lý tưởng, vì Ý thức hệ, nhưng là vì vào đảng thì có khả năng, có quyền độc đoán và được che chở để có thể tham nhũng, có thể cướp ngày của cải của Dân và của Quốc gia, nghĩa là cho cái Dạ Dầy, cho khoái lạc thân xác của chúng. Nói toạc móng heo ra để CSVN, từ thằng lớn, thằng bé và tụi con cháu, gầm mặt mà nhục nhã.

Hết khả năng Tham nhũng thì đảng tan

Những tên đã vào đảng, cố thủ giữ lấy quyền hành độc đoán để làm Tham nhũng. Chúng chịu Dân và Quốc tế xỉ vả, mà vẫn mặt dầy mày dạn ngồi lì đó giữ quyền độc tài khủng bố chỉ vì cái khả năng có thể làm Tham nhũng.

Chỉ có Dân và Tự do Ngôn luận mới diệt được Tham nhũng

Đảng giữ quyền độc tài mà mục đích là ăn cướp, rồi lập Phòng, Uûy Ban chống Tham nhũng, thì chỉ là trò hề của những quân đểu cáng. Thế mà có đám ngợm giáo gian, tụi chính trị xôi thịt còn đi bợ quân đểu cáng để chia chút mẩu bánh rơi rụng thẩy xuống đất cho mà đớp giống đám chó đói. Tôi khinh đám ngợm này và tụi xôi thịt như chó đói bởi vì chúng nịnh bợ, vẫy đuôi mừng quân đểu cáng.

Tham nhũng diệt Kinh tế quần chúng

Tham nhũng làm Dân nghèo khổ. Khối Dân nghèo khổ sẽ đứng lên đập tan quân đểu cáng tham nhũng và đám bầy tôi chó đói. Không phải ý niệm Dân chủ/Nhân quyền trừu tượng là động lực chủ yếu của Cách Mạng Pháp 1789, của Cách Mạng Vô sản 1917, của Sụp đổ Cộng sản 1989 mà chính là cái DẠ DẦY đói của quần chúng bị bóc lột, tước đoạt bởi đám cầm quyền độc tài.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






NHỮNG CHỮ DÂN CHỦ/ NHÂN QUYỀN
DƯỜNG NHƯ ĐÃ NHÀM VÀ LỖI THỜI

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Tôi muốn viết về điều mà một số Chính khách hiện nay đang bấu víu lấy những ý niệm DÂN CHỦ/NHÂN QUYỀN để lấy danh hiệu lẻo mép cho quyền hành cai trị, chứ không đấu tranh thực sự cho cuộc sống đói nghèo của đại đa số quần chúng. Tôi hiểu thế nào là thực tế của quần chúng đói nghèo và thế nào là việc đánh đĩ những ý niệm trừu tượng để cai trị quần chúng, để bóc lột cho túi riêng ô nhục của mình.

DÂN CHỦ thực sự phải đến từ đại đa số quần chúng va,ø hầu hết trong mọi trường hợp, phải trả bằng giá máu của những người dân thấp cổ bé họng nhất. Nếu DÂN CHỦ chỉ là một cái giá dàn xếp giữa những người làm Chính trị, thì cũng hầu hết trong các trường hợp như vậy, chỉ là sự lừa bịp của chính giới để lớp người trí thức chính trị này chia nhau chiếm ghế và trị Dân nữa. Đó không phải là DÂN CHỦ đích thực đến từ Dân mà chỉ là việc thí bỏ cho Dân một vài trò gọi là Dân chủ để tầng lớp chính giới  hổ lốn đủ mọi khuynh hướng lẻo mép và lừa đảo được yên thân chia phần bánh vẽ thống trị Dân. 
   
Vấn đề Nhân Quyền đã được nhấn mạnh từ thời CLINTON như khí giới công kích Trung Cộng. NHÂN QUYỀN THỰC SỰ và CỤ THỂ cho Thế Giới 80% Dân số là nằm ở cái DẠ DẦỴ  Nêu ra vấn đề NHÂN QUYỀN trong  ý niệm trừu tượng đã là hy vọng cho lớp người  bị bóc lột từ Dạ Dầỵ Nhưng ngày nay, lớp người có Dạ Dầy rỗng bắt đầu thấy rằng ý niệm NHÂN QUYỀN được nêu ra chỉ ở trong phạm vi LẺO MÉP để lấy thế chính trị cho những kẻ đấu tranh cho quyền hành cai trị chứ không cho thực tế của quần chúng bị tri.. 

Xin trích ra đây những chứng cớ về việc lỗi thời của ý niệm  và trò chơi DÂN CHỦ/ NHÂN QUYỀN được những tầng lớp trí thức hoạt đầu chính trị  uốn lưỡi lẻo mép hứa hẹn mà chẳng thực hiện được gì cụ thể theo nguyện vọng đích thực cũa dân: 

=> Hoa kỳ chấp nhận chơi với CSVN, một thể chế hoàn toàn ĐỘC TÀI chà đạp NHÂN QUYỀN 

=> Những nước trong vùng Đông Nam Á xử dụng CSVN độc tài để bóc lột nhân lực Việt Nam nhằm phục vụ cho những nước trong vùng. Những nước trong vùng ủng hộ việc duy trì chế độ độc tài CSVN vì quyền lợi của họ, mà không nghĩ đến NHÂN QUYỀN của người lao động. Những nước này chỉ đút tiền bẩn thỉu cho kẻ cầm quyền độc tài là chúng bắt dân Lao động phải nhận lương thấp và làm việc như nô lệ. Nhìn sự bóc lột Nhân lực tại Trung Cộng và Việt Nam. 

=> Tại Miến Điện, cả Thế giới nhìn cảnh Quân đội xả súng bắn vào những Sư bất bạo động, chỉ nói lên xuông việc đòi hỏi DÂN CHŨ/NHÂN QUYỀN. Mọi người, mọi Chính quyền lên tiếng nhưng rồi những tiếng đó trở thành lẻo mép và yên luôn, mặc cho số phận những nhà Sư vẫn còn ngồi trong tù. Liên Hiệp Quốc cử người sang Miến Điện, nhưng nói được ít lời lẻo mép cho có lệ, rồi bây giờ yên luôn.

=> Pháp được coi là nước có tinh thần nhân đạo và chuộng DÂN CHỦ/NHÂN QUYỀN. Nhưng Tổng Thống Pháp đã sang Trung Cộng độc tài để ký những Hợp Đồng hợp tác  tới 20 tỉ Đo-la, bất chấp dân chủ/nhân quyền. 

=> Hôm nay, 10.12.2007, KADHAFI, người chà đạp DÂN CHỦ/NHÂN QUYỀN, thậm chí đã là tên Khủng bố bạo động, nay sang viếng thăm Pháp và được tiếp đón như Quốc khách chỉ vì Pháp muốn ký những Hợp Đồng với KADHAFI trị giá tổng cộng 10 tỉ Đo-la. 

Quốc tế đã đánh đĩ trên ý niệm DÂN CHỦ/NHÂN QUYỀN. Cứ lai nhải lập đi lập lại những ý niệm mà Thế giới lẻo mép nói ra để mà nói cho xong chuyện.
 
Bấu víu lấy ý niệm DÂN CHỦ/ NHÂN QUYỀN là lỗi thời rồi. Phải đấu tranh thực tiễn cho Quần chúng đói khổ. DẠ DẦY QUYỀN (Stomach Right) của Dân đang mang bụng đói mới là thực và không thể lẻo mép. 

Phải đấu tranh chống lại việc xâm lăng của Trung quốc. Đây là vấn đề cụ thể mất Lãnh thổ mà Tiền nhân đã cụ thể nêu gương hy sinh bảo vê.. 

Phải loại trừ CSVN vì tụi này là kẻ bán nước, Trời không tha, Đất không dung. 
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế  




=========================
pho bien/ publication 13.12.2007
=========================



                    CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH 
 
                                                        PHỤ BẢN 1:

                                                  NHỮNG TÍN DỤNG 
                                       THẾ CHẤP ĐỊA ỐC NGUY HIỂM



                              Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Chúng tôi đã viết 5 bài trong 12 bài chủ để này. Những bài đã viết quy tụ vào việc phân tích cuộc Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh năm 1997 tại Á đông và việc lấy lại đà phát triển trong những điều kiện còn bấp bênh như thế nào.

Chính lẽ tuần này, chúng tôi viết bài thứ sáu phân tích những nền kinh tế của những nước bắt đầu phát triển cao như Nam Phi, Nga, Trung Cộng và nhất là Việt Nam. Những bài tiếp theo này dựa một phần vào những nhận định của hai bài đăng trên Nhật Báo LE MONDE số 19523/ 31.10.2007: L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển) và LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh vì vật giá tăng), trong đó Trung quốc và Việt Nam được nhắc ra rõ rệt.

Nhưng vì đầu tuần này, ngày 10.12.2007, Đài Truyền Hình Thụy sĩ loan một tin rất quan trọng về Tài chánh mang tính cách khủng hoảng. Đó là Ngân Hàng UBS đã tuyên bố thua lỗ 11 tỉ Đo-la vì đầu tư vào những Tín dụng Thế chấp nhiều may rủi của Hoa kỳ (sub-prime) vào lãnh vực Địa ốc, nên chúng tôi viết đặc biệt về phương diện này như một PHỤ BẢN 1. Thực ra sự giao động trong lãnh vực Tài chánh về phương diện này đã bắt đầu vào tháng 8/2007 và còn ảnh hưởng tới ngày nay. Chúng tôi viết như một PHỤ BẢN bởi vì trong suốt 5 bài về Khủng Hoảng 1997, Bà Francoise NICOLAS luôn luôn nhắc đến Tín dụng nghi ngờ (créances douteuses) cho Địa ốc như là một trong lý do chính cho cuộc Khủng hoảng năm 1997. Cũng vậy, trong những bài kế tiếp về những quốc gia bắt đầu phát triển cao hiện nay, vấn đề Tín dụng dài hạn cho Địa ốc bằng phát hành những phương tiện đầu tư tương lai (création des moyens de financement virtuel) mang những mầm mống Khủng hoảng trước việc không chắc chắn của phát triển Kinh tế (Incertitude de la croissance économique future).

Vì vậy, bài PHỤ BẢN này mang tính cách quan trọng trong việc cắt nghĩa Khủng hoảng 1997 và những Khủng hoảng có thể xẩy ra trong tương lai.

Chúng tôi bàn đến những điểm sau đây về lãnh vực này:

=> Một vài tỉ dụ dẫn nhập  
=> Giao động về Tín dụ nguy hiểm thế chấp Địa ốc (sub-prime) như thế nào
=> Khủng hoảng 1997 và đe dọa hiện nay ở những nước bắt đầu phát triển


Một vài tỉ dụ dẫn nhập

Tôi xin kể ra hai tỉ dụ mà chính tôi được chứng kiến. Tỉ dụ thứ nhất là việc mua nhà của một người bạn. Một bạn cùng học tại Đại học Thụy sĩ mà tôi biết rất rành. Anh sống đời sinh viên chật vật. Khi học xong, anh xin được việc làm trong một Ngân Hàng tại Thụy sĩ với mức độ lương khá cao. Làm được một năm, anh quyết định mua nhà bằng lấy tín dụng của Ngân Hàng dựa trên khả năng trả tiền hàng tháng của đồng lương cao. Tất nhiên ngôi nhà là thế chấp, nghĩa là Ngân Hàng có thể thu ngôi nhà, nếu không trả được nợ đã vay. Được một vài năm, vì một lý do nào đó, có thể là Ngân Hàng mà anh đang làm bị thua lỗ, nên phải thải nhân viên, anh đã mất việc làm. Kiếm lại được việc làm với đồng lương cao không phải là dễ dàng trong lúc mà nền Kinh tế chung bị giao động. Tin tưởng vào đồng lương tương lai cao sẽ kèo dài trong suốt thời gian phải hoàn vốn, nhưng lúc này anh thất nghiệp, làm thế nào hoàn vốn mỗi tháng hay mỗi tam cá nguyệt. Nếu anh đã có lương từ lâu và đã tiết kiệm được một số tiền, thì lúc này có thể dùng tiền đã tiết kiệm mà hoàn vốn. Nhưng anh mới làm việc được một năm, nên tiền tiết kiệm không có bao nhiêu. Tất nhiên theo Hợp đồng Tín dụng thế chấp Địa ốc, Ngân Hàng đã thu lại nhà để bán, trừ vào tiền nợ. Anh và cả gia đình đã bị đuổi khỏi nhà và đi xin trợ cấp xã hội.

Tỉ dụ thứ hai mang tính cách hồ hởi thương mại mà tôi được biết. Có một bà Việt Nam mở Tiệm phở bình dân xậm xụi tại Quartier Latin tại Paris. Tiệm phở xậm xụi, nhưng sinh viên đến ăn đông nghẹt. Đông khách, thu tiền nhiều, bà trở thành giầu có. Bà mua căn nhà bên cạnh, mở thành Tiệm phở lớn, trang hoàng rất khang trang đẹp đẽ. Chính bà cũng xí xọn môi son má phấn cho đẹp bà xồn xồn. Bà chỉ muốn ngồi két thu tiền và mướn người nấu phở, chạy bàn, rửa tô chén. Nhưng không hiểu tại sao, số người đến ăn phở lại giảm hẳn xuống, trong khi ấy bà phải trả nợ sang căn nhà, trả tiền lương thuê mướn người làm. Những tiền tiết kiệm trước đây đổ vào tín dụng sang căn nhà. Tiệm phải đóng cửa để rồi sang lại cho người khác với giá thua lỗ. Một vài sinh viên cho ý kiến: trước đây đến quán xậm xụi của bà để ăn vì thấy bà chảy mồ hôi nhễ nhãi, tay bốc bánh phở, tay bốc thịt và rau cỏ. Nay thấy bà son phấn, tiệm khang trang, thì tự nhiên lại ít ham tới ăn.  Tất nhiên khi bà lấy tín dụng đầu tư vào căn nhà mới khang trang là bà dựa trên số thu từ sự ước tính đông khách hàng trong tương lai đến ăn phở. Nhưng bà đã không dự tính được những yếu tố tương lai có thể làm cho khách hàng không tới đông để bà có số thu như ước tính. Tương lai có những cái may rủi (risques).


Giao động về Tín dụ nguy hiểm
thế chấp Địa ốc (sub-prime) như thế nào
 

Vào tuần lễ đầu tháng 08.2007, các Thị trường Chứng khoán bắt đầu từ Mỹ rồi Âu châu có những giao động về những Giá trị chứng khoán thế chấp Địa ốc. Việc giao động này lan sang Lãi suất Tiền tệ. Xin lưu ý rằng Lãi xuất là cái giá của Vốn liên hệ đến luật Cung và Cầu. Khi giao động Lãi suất, thì Kinh tế bị ảnh hưởng. Ngân Hàng Trung ương của mỗi nước có nhiệm vụ phải canh cừng sự tăng giảm của Lãi suất chỉ đạo được coi như việc can thiệp vào tiến triển đều đặn của một nền Kinh tế Tự do và Thị trường tôn trọng Cung và Cầu.

Cái nguồn xẩy ra từ Mỹ thuộc về lãnh vực Địa ốc. Đây và việc cho Tín dụng thế chấp địa ốx xây cất dài hạn. Có những việc cho Tín dụng mà không xét kỹ khả năng hoàn trả. Từ đó người ta gọi credit sub-prime. Những nhà đầu tư hay những bộ phận đầu tư của Ngân Hàng thường không trực tiếp với khách hàng. Những Tổ chức về Tín dụng Thế chấp trực tiếp với khách hàng mua, xây cất nhà. Những Tổ chức này nhận những Hợp đồng nợ, nhưng khi có nhiều quá vượt tầm vốn của họ thì họ phải chạy tìm vốn tại những Ngân Hàng. Họ mang trình nộp những Hợp đồng nhận nợ cho các Ngtân Hàng để có vốn. Các Ngân Hàng nhận được những loại nhận nợ đủ thứ. Những Ngân Hàng này gọp chung lại  và cho ra Sản phẩm Tài chánh ở Thị trường Chứng khoán để bán gọi vốn thêm từ những nhà đầu tư. Hai sản phẩm sau đây tạo thành Thị trường chứng khoán sub-prime thế chấp địa ốc (Sub-prime Mortgage Markets), đó là MBO (Mortgage backed Obligation) và CBO (Collateral backed Obligation). Một số Tổ chức định giá an toàn cho những sản phẩm này.  Những Tư nhân hay Tổ chức (Funds) hoặc Ngân Hàng có thể mua những sản phẩm trên Thị trường chứng khoán địa ốc sub-prime. Việc giao động ở Thị trường Chứng khoán là ở những Sản phẩm Tài chánh Thế chấp Địa ốc bán đi mua lại trên Thị trường này. Phương diện này có thể được gọi là hệ thống mới, phát sinh tại Hoa kỳ. Nhưng việc làm giao động có tính cách dây chuyền bắt đầu từ những Khách hàng Nhận nợ mà gặp những khó khăn hoàn trả giống như anh bạn của tôi trong tỉ dụ trên đây trở thành thất nghiệp không thể hoàn trả cho tín dụng đã ký nhận.

Ngày 10.08.2007, trên tờ International Herald Tribune, Floyd NORRIS đã viết như sau:“In the past decade a new financial architecture emerged—one that relied less on banks as intermediaries and more on securities. Mortgages were financed by investments in securities that were supposed to be safe.“ (Trong thập niên vừa qua, một kiến trúc tài chánh mới được thành hình—kiến trúc liên hệ ít hơn tới những ngân hàng như trung gian và nhiều hơn đến những sản phẩm chứng khoán. Những tín dụng thế chấp đã được tài trợ bởi đầu tư vào những sản phẩm chứng khoán được kể là an toàn). Việc an toàn này thường được đánh giá cao thấp bởi Moody’s and Standard & Poor’s chẳng hạn. Tin tưởng vào những sản phẩm này để bỏ tiền đầu tư hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đã trở thành may rủi.

Vậy nếu trong những sản phẩm chứng khoán ấy có những nguy hiểm được phát hiện bởi sub-prime, thì giới đầu tư có thái độ thay đổi Cung và Cầu đầu tư tài chánh. Biến động về những sản phẩm này trong tháng 8 vừa rồi đã làm cho Thị trường khan hiếm đầu tư, nghĩa là khan hiếm vốn lưu hành. Những nhà đầu tư hoặc những ngân hàng đầu tư ngưng bỏ vốn hoặc mất vốn khi những sản phẩm chứng khoán thế chấp địa ốc xuống cấp tin tưởng.

Về việc phát hiện những sản phẩm chứng khoán tài chánh có những điểm yếu kém được một Ngân Hàng gia Thụy sĩ cắt nghĩa trực tiếp cho tôi bằng tỉ dụ sau đây. Người Thụy sĩ, nhất là Thuyï sĩ Đức thường ăn Xúc-xích (Lạp xưởng Tây), nên Ngân Hàng gia Thụy sĩ đã lấy Lạp xưởng Tây ví với sản phẩm chứng khoán thế chấp ở Thị trường. Những Ngân Hàng  đã nhận được những Hợp đồng nhận nợ hổ lốn đủ mọi thứ nào là da gà, da heo, thịt ba rọi, thịt nạc mông... và xay chung cho nát ra để làm xúc xích. Khi bán trên Thị trường, thì người ta gọi là cây xúc xích tổng quát, nhưng không phân biệt da gà, da heo...Nếu có người khám phá ra sau này có mãnh da gà mà họ kiêng không ăn, thì họ bỏ. Cũng vậy, nếu người A-rập tìm thấy miếng da heo, họ quảng xúc xích đi. Sản phẩm chứng khoán thế chấp ở Thị trường có thể bị người đầu tư thấy được những tín dụng không bảo đảm, không an toàn. Sự biến động ở Thị trường Chứng khoán trong tháng 8 là ở chỗ người đầu tư ngưng lại không tin tưởng rằng sản phẩm xúc xích ấy làm bằng thị nạc ngon, mà có pha da gà, da heo, thậm chí ngay cả thịt chuột không đáng tin tưởng (sub-prime/ risque).

Những Ngân Hàng đầu tư hoặc những Quỹ đầu tư (Investment Funds) đã mua nhiều những sản phẩm chứng khoán thế chấp này, nên bây giờ họ thấy lỗ do sự giao động. Nhiều Tổ chức sản phẩm đã sạt nghiệp. Một số lớn Ngân Hàng hoặc Quỹ đầu tư Mỹ và Aâu châu bắt đầu bị lỗ vốn về những sản phẩm chứng khoán thế chấp nghi ngờ này (sub-prime/ risque).

Hãy lấy một số tỉ dụ thua lỗ vì liên hệ đến Thị trường chứng khoán thế chấp sub-prime:

*  Ngày 03.08.2007: ALLIANZ Đức, Hãng Bảo Hiểm AAA tuyên bố vì đầu tư vào US
   Sub-Prime Mortgage Market, bị thiệt thòi 2 tỉ Đo-la    
* Ngày 06.08.2007: MUNICH RE Đức, Hãng Tái Bảo Hiểm AAA, thiệt thòi 1 tỉ Đo-la
* Ngày 08.08.2007: ING GROUP Hòa Lan, thiệt thòi 4.5 tỉ Đo-la
* Ngày 09.09.2007: BNP PARIBAS Pháp, khóa sổ tổng cộng 5 tỉ Đo-la
* Ngày 17.09.2007: NORTHERN ROCK Anh, phá sản. Ngân Hàng Anh trợ lực $25tỉ
* Ngày 01.10.2007: UBS Thụy sĩ, thiệt thòi 4 tỉ Đo-la
* Ngày 30.10.2007: UBS Thụy sĩ, tuyên bố mất 700 triệu Đo-la
* Ngày 01.11.2007: CREDIT SUISSE Thuỵ sĩ, thiệt thòi 1 tỉ Đo-la
* Ngày 04.11.2007: CITI GROUP Mỹ, thiệt thòi 11 tỉ Đo-la
* Ngày 10.12.2007: UBS Thụy sĩ, thiệt thòi 9 tỉ Đo-la

Một số những Ngân Hàng hay Quỹ Đầu tư đã mua, nhưng không muốn tuyên bố ra những thiệt thòi nhỏ có thể làm thiệt hại thanh danh của mình.

Trong thời gian biến động tháng 8/2007, Vốn của Thị trường trở thành khan hiếm, Lãi suất tăng. Ngân Hàng Trung ương phải can thiệt bằng cách cho vốn vào Thị trường để có thể giữ Lãi suất:

* US Federal Reserve cho vào 17 tỉ Đo-la
* ECB, Ngân Hàng Trung Ương Aâu-châu cho vào 130 tỉ Đo-la
* Ngân Hàng Trung ương Anh quốc đã trợ lực cho Thị trường của họ với 25 tỉ

Những việc đổ vốn vào này là để giúp những Ngân Hàng và có mục đích điều hành Lãi suất đừng để phương hại đến nền Kinh tế.

Lãnh vực Địa ốc, với US sub-prime Markets đã làm thiệt hại cho hệt thống Ngân Hàng và những Tổ chức đầu tư. Nếu là ở những vùng Kinh tế khác, thì lãnh vực này tất nhiên gây ra cuộc Khủng hoảng lớn. Đối với Aâu châu và Hoa kỳ, đây chỉ là giao động vì họ có những phương tiện khổng lồ để chống đỡ. Tỉ dụ ngay cả đối với UBS, việc thiệt thòi 15 tỉ Đo-la chỉ là con số nhỏ sánh với số Dự trữ phòng bị liên tục là 50 tỉ Đo-la và sánh với Total Assets là 2'484 tỉ Đo-la của Ngân Hàng. Xin lưu ý tiền lương hàng năm của Oâng GOSPEL, Chủ tịch UBS, vẫn giữ là 26 triêu quan Thụy sĩ, nghĩa là khoảng 22 triệu Đo-la.


Khủng hoảng 1997 và
đe dọa hiện nay ở những nước bắt đầu phát triển

Có nhiều những lý do mà chúng tôi đã viết trong 5 bài trước đây đưa đến Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh Á châu năm 1997 gồm Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn. Nhưng một trong những lý do chính là hệ thống Ngân Hàng của những nước đó với việc cho Tín dụng nghi ngờ (Créances douteuses) trong lãnh vực Địa ốc. Hiện nay, đối với những nước bắt đầu phát triển mạnh, người ta cũng nhìn nhận phong trào xây cất nhà cửa đồ sộ được đẩy mạnh. Nhưng moi tiền đâu ra để xây cất quá đáng ?

Hai tỉ dụ cụ thể mà chúng tôi đưa ra ở phần đầu bài này mang lại cho chúng ta những cái nhìn đơn giản và bình dân của những phá sản, của những Khủng hoảng: một anh bạn mua nhà vội vàng bị đuổi ra khỏi nhà vì đã không lượng khả năng vững chắc việc hoàn vốn; một bà bán phở đang làm ăn lên, nhưng quá hồ hởi chi tiêu quá mức độ làm ra tiền của mình trong tương lai hay đúng hơn ước tính tương lai không sát thực tế.

Chúng tôi muốn nhìn một số điểm chung giữa Khủng hoảng 1997 của 4 nước Á đông như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn và những nguy hiểm khủng hoảng của một số nước bắt đầu phát triển hiện nay như Trung Cộng, Việt Nam

=> Đối với tất cả những nước vừa nhắc tên ra, người ta quan sát thấy rõ huynh hướng đẩy mạnh Tín dụng Địa ốc. Thực vậy, đối với những cá nhân mới thoát ra cảnh nghèo đói, họ có khuynh hướng tiêu xài quá số thu nhập, nghĩa là họ tiêu vào tiền tương lai, mà tương lai thì luôn luôn có những cái mình không chắc. Một nước mới phát triển, dễ dàng có khuynh hướng đẩy mạnh việc xây cất nhà cửa quá mức cần thiết. Tỉ dụ việc xây cất thành phố Bangkok trong những năm 1995-1996. Ngày nay, những thành phố như Thượng Hải, Sài Gòn, Hà Nội... được xây cất các xác nhà quá tầm mức xử sụng nội dung. Thực ra chính việc xử dụng nội dung mới đo được thực lực những sinh hoạt Kinh tế đẻ ra tiền. Việc chi tiêu của Chính quyền về xây cất đồ sộ càng được đẩy mạnh hơn nữa như muốn chứng tỏ sự vẻ vang của quyền lực.

=> Việc kiểm soát tính cách khả thi Kinh tế tương xứng của mỗi công trình xây cất không được thẩm định kỹ lưỡng đi song hành với timing khả năng thu hồi hoàn nợ. Chính về điểm này, mà những Tín dụng xây cất trở thành nguy hiểm. Đó là những Tín dụng nghi ngờ (Créances douteuses). Trong thời gian trước Khủng hoảng 1997, hệ thống Ngân Hàng trong những nước liên hệ với Khủng hoảng đã cho Tín dụng có tính cách tình cảm gia đình hoặc quen biết. Quỹ Tiền Tệ Quốc tế khi can thiệp vào, đã đòi buộc phải có một Tổ chức độc lập để kiểm soát vấn đề Tín dụng, nhất là Tín dụng địa ốc. Tại những quốc gia bắt đầu phát triển hiện nay, một số những dự án xây cất lớn được quyết định tài trợ theo tiêu chuẩn chính trị hơn là tính cách khả thi Kinh tế. Việc tài trợ lại bằng những phương tiện tài chánh ngân hàng lạm phát.

=> Điểm thứ ba nguy hiểm mà chúng tôi nhấn mạnh đó là sự không tương xứng theo thời gian tính của vốn đầu tư và của khai thác Kinh tế. Chính tính cách dài hạn của vốn càng làm tăng tính cách nguy hiểm của Tín dụng. Việc thu nhập Kinh tế với những hàng hóa sản xuất cho tiêu dùng ngắn hạn không đi đôi với việc xây cất với tín dụng dài hạn. Sư chênh lệch về thu nhập ngắn hạn và về chi tiêu dài hạn là điều rất nguy hiểm trong vấn đề quản trị tài chánh. Đối với những nước liên hệ với cuộc Khủng hoảng 1997, chính Quỹ Tiền Tệ Quốc tế đã đòi điều kiện chấm dứt và cải thiện ngay những Tín dụng dài hạn không phù hợp với việc khai thác Kinh tế ngắn hạn. Đối với những nước bắt đầu phát triển hiện nay, việc xây cất nhà cửa như dồn dập. Lấy lại những tỉ dụ Thành phố Thượng hải, Thành phố Sài-gòn, Thành phố Hà Nội... Tài trợ cho những xây cất này là sự phát hành phương tiện chi tiêu dựa trên ước tính dài hạn Kinh tế tương lai, trong khi ấy những chương trình khai thác Kinh tế/ Thương mại, một là thay đổi bấp bênh, hai là không tài nào làm timing cho năm, mười năm với những hàng hóa sản xuất căn yếu cho tiêu thụ ngắn hạn. Bấp bênh Khủng hoảng là ở chỗ đó. Đối với Việt Nam, nên nhớ là số tiền nợ đã lên tới 20 tỉ Đo-la.

Một sự Khủng hoảng Tín dụng địa ốc tại những nước này rất khó lòng chống đỡ. Những nước Aâu, Mỹ có thể chống đỡ bởi vì nền Kinh tế của họ đã được bền vũng phát triển lâu đời rồi, bởi vì hàng hoá chính yếu của họ mang tính dài hạn và kỹ thuật, và bởi vì họ đã tích luỹ khối lượng Tài chánh khổng lồ.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






=========================
pho bien/ publication 12.12.2007
=========================



                                        CÔNG HÀM BÁN NƯỚC
                                    CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CSVN

 

!!!     CS Việt Nam sau khi chiếm Miền Nam vào năm 1975 có trên 102 đảo nhỏ thuộc Trường Sa & Hoàng Sa của VNCH để lại .

!!!     Năm 1988 bị Trung Quốc Chiếm hết còn lại 90 đảo

!!!     Năm 2007 Việt Nam chỉ còn 21 đảo còn lại thuộc chủ quyền và có khuynh hướng bị Trung Quốc chiếm dần . Đảo Ba Đình vừa bị chiếm năm 2005 là một thí dụ .



Đây Là Công Hàm Bán Nước Của Việt Gian Cộng Sản!

Ngày 14 tháng 09 1958, thủ tướng Việt gian cộng sản Phạm Văn Đồng ký công hàm nhìn nhận chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng dựa theo bản tuyên bố ngày 4 tháng 09, 1958 của Trung Cộng.

Xin quý bạn đọc xem kỹ bản tuyên bố ngày 4 tháng 09, 1958 của Trung Quốc trong hình đính kèm. Bản tuyên bố này nói rất rõ là Tây Sa = Hòang Sa, và Nam Sa = Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Cộng!



 
CÔNG HÀM KÝ BỞI PHẠM VĂN ĐỒNG
     
      
Thủ Tướng Phủ
Nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hoà

Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ:
Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trên mặt bể.

Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng./.

Kính gửi:                                                  Hà-nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958.

Đồng chí Chu An Lai                                                (Ấn ký) 
Tổng lý Quốc vụ viện                                         PHẠM VĂN ĐỒNG
Nước Cộng hoà Nhân dân Trung-hoa               Thủ tướng Chính Phủ
tại BẮC KINH                                           Nước Việt-nam Dân chủ Cộng Hòa
  
 


  
BẢN TỰ TUYÊN BỐ CỦA TRUNG CỘNG
NGÀY 04.09.1958 VỀ HẢI PHẬN

Trang Luật-học http://law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm  


Dịch ra Việt-ngữ

Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải
(Được thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958)

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Đại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc

(4) Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

Đài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Đây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Đài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc

http://www.trungtamdukien.org/article.php?id_article=1028

Chú thích:
Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands
Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands

 


NHỮNG KHẲNG ĐỊNH BÁN NƯỚC


Khẳng định ngày 15.06.1956

Ngày 15 tháng 6 năm 1956, hai tuần lễ sau khi Việt Nam Cộng Hoà (RVN) tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, Thứ trưởng Ngoại giao của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (DRV) đã nói với Ban Thường Vụ của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa (PRC) rằng “theo những dữ kiện của Việt Nam thì quần đảo Hoàng Sa (Xisha) và quần đảo Trường Sa (Nansha) là một bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc” . Hai năm sau đó, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đã ra bản tuyên bố xác định lãnh hải của họ. Bản tuyên bố này đã vạch ra rõ ràng cái khoảng khu vực của lãnh thổ Trung quốc có bao gồm cả Trường Sa . Để đáp lễ, Thủ tướng Viêt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (DRV), Phạm Văn Đồng đã gởi một bản công hàm đến Thủ tướng Trung quốc Chu Ân Lai, nhấn mạnh rằng “Chính Phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định này


Tài liệu Bộ Ngoại giao Trung quốc

Theo tài liệu "Chủ quyền tuyệt đối của Trung Quốc trên Quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa "của Bộ Ngoại giao Trung Quốc (Beijing Review, Feb. 18, 1980), Hà Nội đã "dàn xếp" vấn đề này trong quá khứ. Đại khái họ đã bảo rằng:

- Hồi tháng 6 năm 1956, hai năm sau ngày chính phủ của Hồ Chí Minh đã tái lập tại Hà Nội, Thứ trưởng Ngoại giao Bắc Việt Ung Văn Khiêm đã nói với Li Zhimin, Thường vụ viên của Toà Đại Sứ Trung quốc tại Bắc Việt, rằng "theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là môt bô phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc".

- Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Chính phủ Trung quốc đã tuyên bố bề rộng của lãnh hải Trung quốc là mười hai hải lý, được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, "bao gồm ... Quần Đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa ...". Mười ngày sau đó, Phạm Văn Đồng đã ghi rõ trong bản công hàm gởi cho Chu An Lai, rằng "Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa về vấn đề lãnh hải.


Tạp chí Kinh tế Viễn Đông

Cũng trong Tạp chí Kinh tế Viễn Đông số tháng 3 năm 1979, trang 11.
Hồi tháng 9 năm 1958, khi Trung Quốc, trong bản tuyên bố của họ về việc gia tăng bề rộng của lãnh hải của họ đến 12 hải lý, đã xác định rằng quyết định đó áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của Trung Quốc, bao gồm cả Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, một lần nữa Hà Nội đã lên tiếng nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc trên 2 quần đảo đó. Ông Phạm Văn Đồng đã ghi nhận trong bản công hàm gởi cho lãnh tụ Trung Quốc Chu An Lai ngày 14/9/1958: "Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc" (xem Beijing Review 19/6/1958, trang 21 -- Beijing Review 25/8/1979, trang 25 -- Sự tồn tại của bản công hàm đó và tất cả nội dung đã được xác nhận tại Việt Nam trong BBC/FE, số 6189, ngày 9/8/1979, trang số 1.)


Việt Nam Cộng Hòa quyết giữ Chủ quyền,
Cộng sản Miền Bắc phản bội

Vào năm 1957 khi Trung quốc phản đối sự chiếm đóng của Việt Nam tại đảo Robert, thì chính quyền Sài Gòn đã hoàn toàn kiểm soát hai đảo khác trong nhóm Crescent: đảo Pattle và đảo Money. Ba (3) đảo mà Nam Việt Nam chiếm giữ nằm bên phía tây của nhóm Crescent. Rồi đến tháng 8 năm 1958, chính quyền Saigon chiếm giữ đảo Duncan nằm bên khu vực phía đông của nhóm đảo Crescent, đối diện với nhóm Amphitrite. Hai tuần sau đó, chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố chủ quyền của họ trên toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa. Họ đã được sự ủng hộ của Bắc Việt




HÀ NỘI VÀ SÀI GÒN:
SINH VIÊN HỌC SINH BIỂU TÌNH
CHỐNG TRUNG CỘNG XÂM LĂNG

 
HÀ NỘI 09.12.2007

Gần 600 Sinh Viên Học Sinh và Đồng Bào Đã Có Mặt Tại Sứ Quán Trung Quốc Biểu Tình Phản Đối TQ Xâm chiếm Hoàng Sa & Trường Sa

Vào Lúc 8 giờ sáng ngày chủ Nhật 09 tháng 12, sinh viên , học sinh đã kéo về Đại Sứ quán Trung Quốc Tại số 46 Hoàng Diệu , Hà Nội để phản đối Trung Quốc xâm lăng 2 quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa của Việt Nam . Công An CS đã có mặt nhưng làm ngơ cho cuộc biểu tình xảy ra . Nhiều xe công an đang đậu tại đường Điện Biên Phủ ngay sát phía sau vườn hoa Hoàng Diệu đối diện với Đại Sứ Quán Trung Quốc .

Công An mặc thường phục đứng trà trộn vào đoàn biểu tình của sinh viên học sinh . Cho tới lúc 9 giờ sáng , đồng bào đã kéo tới đây ngày càng đông lên gần 500 người để yểm trợ cho sinh viên học sinh đang có mặt nơi đây . Trên vườn hoa các sinh viên đã hô to khẩu hiệu "đả đảo TQ chiếm lĩnh HS & TS" , một số lớn la to khẩu hiệu như "Trường Sa & Hoàng Sa là của ..." "Mọi người khác đồng thanh la lên "Việt Nam ... Việt Nam" . "Nhân Dân VN ... Bảo Vệ Tổ Quốc" và "Việt Nam Muôn Năm ..." ""Đả đảo TQ xâm lược ..." "Dậy mà đi ...Hỡi đồng bào ơi ..." "Thanh niên VN ... Bảo Vệ Tổ Quốc ..." "Chúng tôi sẵn sàng ... Bảo vệ VN"

Vào lúc khoảng 10 giờ Đồng Bào và sinh viên đã tràn ra đường, con số biểu tình lúc nầy lên trên gần 600 người đang bước tới gần sát chân tường của Đại Sứ Quán Trung Quốc. Thấy biểu tình có thể lan rộng lớn hơn nên đại diện Công An đã ra thông báo kêu gọi mọi người hãy giải tán .


SÀI GÒN 09.12.2007

Một cuộc biểu tình khác ở Lãnh Sự Quán Trung Quốc tại  Sài Gòn tại địa chỉ 39, đường Nguyễn Thị Minh Khai Sài Gòn cũng đã xảy ra vào lúc 9 giờ 30 phút . Số lượng sinh viên  học sinh đến tham dự chỉ khoảng 400 người đã giăng các biểu ngữ cầm tay " Trường Sa và Hoàng Sa thuộc Chủ Quyền Của Việt Nam" "Hãy Trả Lại Trường Sa & Hoàng Sa cho Việt Nam ... " Một số đông đồng bào đã tập trung lại để xem các em sinh viên biểu tình . Đến 10 giờ thì Công An đã đến giải tán cuộc biểu t ình nhỏ nầy .


BÊN LỀ BIỂU TÌNH
VÀ NHỮNG Ý KIẾN

Tại Hà Nội...

Các bạn thân mến ! Tôi có mặt tại số 39 NTMK như đã hứa với các bạn mấy hôm trước .
Để tìm hiểu thực hư về chuyện biểu tình này tôi đến tại chỗ vào lúc 9h30' . Tôi thả bộ len lỏi vào cùng các bạn SVHS . Lúc này vẫn còn thưa thớt chừng độ trên dưới 50 người thôi . Họ tự do chụp hình , quay phim mà không hề bị ai ngăn cản .

Vì mình đã lớn tuổi không phù hợp với các bạn nên tôi tách ra đứng riêng cách đó hơn 10m . Chỗ này cũng có vài người trong nhà họ ra xem và bàn luận . một lúc sau có thêm mấy chiếc xe vì hiếu kỳ cũng tấp lên lề để chứng kiến .

Các bạn trẻ hô hào những lời chống đối bọn TC đã xâm chiếm hai quần đảo HS&TS . Thỉnh thoảng họ đồng thanh hát bài về tên giặc già HCM .

Phía bên LSQ thì tăng cường thêm một số công an đứng theo dõi và đám công an này cũng quay phim , chụp hình . Một lúc sau chúng điều động thêm lực lượng công an phường , quận và TP đến. Theo ghi nhận của tôi có rất nhiều công an mặc thường phục len lỏi vào , nhưng không có phản ứng gì cả .

Sau đó đám công an vào nhà dân gần đó lấy ra một cái bàn (khá lớn) và vài cái ghế . Tôi nghĩ chắc bọn chúng sẽ mời các bạn ký tên vào để (?) ....

Tại ngã tư NTMK và Pasteur đám giao thông có lúc chận xe bắt chuyển hướng vì sợ cản trở giao thông . Càng ngày số lượng SVHS tham gia vào nhóm biểu tình mỗi lúc một đông thêm.

Có lẽ thấy tình hình sẽ trở nên gay cấn nên công an đã đến yêu cầu tôi và một nhóm ngưòi "hiếu kỳ" nên giải tán .

Django Tường Trình Từ Quốc Nội

Tại Hà Nội...

9h Sáng , Tôi tới đường Hoàng Diệu . Việc đầu tiên là gởi xe vào bảo tàng quân đội và sau đó bước vội qua đường Điện Biên Phủ để sang vườn hoa Lê Nin , nơi có một vài nhóm nhỏ lẻ đang đứng. Cả đường Hoàng Diệu , Điện Biên Phủ rất nhiều CSCĐ , Công An trật tự.

Muộn một chút nhưng các nhóm họp nhau lại phần đông là những người trẻ tuổi , sinh viên, học sinh , công viên chức.. có cả trẻ nít đi theo nguời lớn. các cụ già tóc muối tiêu...

Các khẩu hiệu bắt đầu được hô

- Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam
- Moị người cùng hát Quốc Ca, hát những bài hát đoàn kết và cùng hô khẩu hiệu

Nhóm nhỏ lúc đầu chỉ được dăm chục người , rồi lên tới hơn một trăm, lác đác xuất hiện nhiều người chen vai đứng cùng vào . CSCĐ chặn hai đầu đường Hoàng Diệu và kiểm soát cuộc biểu tình. Mấy nguồi trong đại sứ quán Trung Quốc bắt đầu mò ra chụp ảnh , phóng viên các báo thi nhau tác nghiệp

Cuộc biểu tình sau đó thiếu trật tự , và có sự can thiệp của chức trách. Mọi người được yêu cầu về vì "đây là vấn đề của hai nhà nước" , nhà chức tránh sẽ giải quyết, mọi người được yêu cầu về ... Cuộc họp bị giải tán nhanh sau đó nhưng nhiều nhóm nhỏ vẫn tụ lại. Một vài người với khẩu hiệu trên tay, đã đi tiếp qua các phố để gây sự quan tâm của đồng bào về vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa.

Ý kiến .....

Posts: 19  Re: Gần 600 Sinh Viên Học Sinh và Đồng Bào Đã...
Phạm Văn Đồng đã đại diện CSVN ký giấy dâng Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung Cộng. Bây giờ CSVN lại cấm cản người dân biểu tinh phản đối chống CSTQ chiếm Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này chúng tỏ CSVN đã bán nước và ngăn cấm không cho người dân trong nước phản đối chuyện bán nước của mình.

CSVN thật là hèn hạ, CSVN là một lũ bán nước.

Bộ đội và Công An VN hãy đứng lên bảo vệ đất nước đúng theo trách nhiệm của minh vì nước vì dân. Hãy phục vụ quốc gia dân tộc, đập tan bọn CSVN buôn dân bán nước. Hãy vì nước vì dân, đừng phục vụ cho 1 đảng cướp CSVN bán nước buôn dân. CSVN sẽ bị lịch sử VN lên án và trừng trị
 

Ý kiến...

Bọn Tàu cộng chơi chiến thuật tằm ăn dâu để lấn chiếm lãnh thổ VN nước ta bằng nhiều mặt :

-Chính trị : VC là bọn bán nước nô lệ cho quan thầy TQ , bưng bô cho Tàu.
-Kinh Tế :TC bao vây kinh tế bằng quyền lực quân sự baọ ngược, hàng hóa TC đổ vào VN kém chất lượng, giá rẻ mạt . Hoá chất độc hại giết dần mòn các thế hệ trẻ tương lai của đất nước . Bạn tôi về VN mới qua cho biết anh ta có vaò viện ung bướu ở Gia Định làm từ thiện, anh vô cùng ngạc nhiên vì số người bị ung thư qúa nhiều tại VN hiện nay, trẻ em từ 15 tuổi trở xuống bị nhiều bệnh ung thư khác nhau, lố nhố nằm đầy cả các phòng chiếm gần hết một tầng của Bệnh viện !
-Quân sự :TC gia tăng tiềm năng Quân sự của chúng trở nên hùng mạnh, các chi phí cho QP Tàu ghẻ làm thế giới hoảng hốt .Tàu chó chỉ giỏi ăn hiếp các nước yếu đuối thế cô, thật sự nếu chiến tranh vơí Mỹ thì chỉ cần vài tiếng ,từ khắp nơi trên thế giơí có căn cứ QĐ Mỹ, đất liền cũng như biển cả, cùng nước Mỹ đồng loạt làm cỏ thì đám con cháu nhà Mao tan tác rơi rụng như lá mùa thu !

Về đất liền thi Tàu Cộng cứ từ từ tìm cách lấn chiếm, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc ...nay không còn nữa !Chúng ta đã mất 700 cây số vuông từ cột mốc biên giới Ải Nam Quan trước kia vào sâu trong lãnh thổ, vùng biển trước kia thuộc trong lãnh hải VN , nay VC lại dâng cho Tàu Cộng, ngư phủ VN mình đi đánh cá trong vùng biển Mẹ mà lại bị bọn Tàu chó bắn chết , mấy anh lãnh đạo trong BBP sợ sệt làm ngơ ! Thếmới đau lòng !

Nay TC lại rõ ràng xâm chiếm Trường Sa và Hoàng Sa của VN vì địa thế chiến lược và tài nguyên của quần đảo này .

Trong tương lai, con Tằm TQ sẽ từ từ nuốt trửng đất Mẹ VN để bản đồ đất nước Tàu Cộng mập mạp béo phình ra thêm hình chữ S ! Con cháu An Nam Mít trước kia bây giờ bị chặt, bị giết, làm thân lao nô đọa đầy cơ cực !

Còn CSVN là đất nước còn tai hoạ . Thù trong giặc ngoài với biết bao là khốn khó tai ương ! Hãy cùng nhau chung vai quật cường khởi nghĩa đồng bào ơi .
 


TRUNG QUỐC QUẢN LÝ HOÀNG SA, TRƯỜNG SA

TQ Nâng Cấp Huyện Quản Lý 2 Đảo Trường Sa, Hoàng Sa
Việt Báo Thứ Ba, 12/4/2007, 12:02:00 AM


HÀ NỘI- Nhà nứơc CSVN có vẻ xem như là các đảo Trường Sa và Hoàng Sa khó có cơ hội đòi lại nổi.

Theo Thông tấn xã nhà nước TTXVN, ngày 3/12/2007, trả lời câu hỏi của phóng viên TTXVN đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam về tin Quốc Vụ Viện Trung Quốc vừa phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý 3 quần đảo trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao CSVN Lê Dũng phát biểu như sau: "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.Việt Nam phản đối việc Trung Quốc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý 3 quần đảo trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Hành động này đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, không phù hợp với nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước, không có lợi cho tiến trình đàm phán tìm kiếm biện pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển giữa hai bên."

 

BẮC KINH BÁC BỎ
SỰ PHẢN ĐỐI CỦA HÀ NỘI
 
DCVOnline – Tin ngắn

Trung Quốc gạt qua một bên sự phản đối của Việt Nam và tái xác nhận chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa

Bắc Kinh, Trung Quốc - Bắc Kinh lên tiếng hôm thứ Ba cho rằng Hà Nội phản đối chuyện hải quân Trung Quốc thao diễn quân sự ở quần đảo Hoàng Sa (Paracel) tuần trước là “vô căn cứ”, và Bắc Kinh tái xác nhận chủ quyền của mình trên quần đảo này.

“Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi đối với quần đảo Xisha này… Trung Quốc và Việt Nam không có gì để tranh cãi trong chuyện này,” phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc ông Qin Gang nói như trên.

Cũng cần nhắc là tuy cùng nói về một quần đảo, nhưng Trung Quốc dùng chữ “Xisha” và Việt Nam lại dùng chữ Hoàng Sa hay Paracel khi họ nói đến quần đảo này.

Ông Qin Gang còn nói thêm: “Cuộc thao diễn quân sự thường lệ ở vùng biển chung quanh quần đảo Xisha là những hoạt động bình thường của hải quân Trung Quốc trong vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Sự phản đối của Việt Nam là vô căn cứ và vô lý.”

Cho đến khi bản tin này đến với bạn đọc DCVOnline, các báo chí trong nước vẫn chưa có báo nào đưa tin. Và ngay cả sự phản đối cuộc thao diễn quân sự này của Hà Nội tuần rồi cũng rất yếu ớt, và sự phản đối này được đưa với một bản tin rất ngắn thoạt đầu đi trên Thông Tấn Xã Việt Nam và sau đó được một vài tờ báo mạng khác đăng lại một cách nhạt nhòa như không muốn người dân đọc và biết đến!

Điều này khác hẳn với Nhật Bản chẳng hạn, như cách đây ba tuần, hôm 5 tháng Mười Một, khi phó Thủ tướng Nga Sergei Naryshkin đến Nhật Bản để giải quyết chuyện tranh chấp quần đảo Kuril giữa hai nước ở vùng Hokkaido, chính quyền và báo chí Nhật Bản đã đưa tin hoàn toàn trung thực để dân biết, theo dõi và đóng góp ý kiến với chính phủ qua Quốc Hội.

Tưởng cũng cần nhắc lại, cuộc thao diễn quân sự của hải quân Trung Quốc mà Hà Nội phản đối lần này là thuộc vùng biển quanh quần đảo Hoàng Sa (Paracel).
 
Chiến hạm của hải quân Việt Nam, loại BPS-500 được thiết kế và xây dựng dựa vào kiểu Tarantul III (Molniya) của Nga qua hợp đồng giữa VN và công ty Russia's Vympel Design Bureau (tổng cộng 10 chiếc). Hiện một số tàu này đang được đóng ở Saigon Shipbuilding Company, Sài Gòn theo hợp đồng với RVDB. Nguồn: Jane's Defense

Riêng về đảo Trường Sa (Spratly) thì hôm 9 tháng Bảy năm nay, hải quân Trung Quốc đã bắn vào tàu đánh cá của ngư phủ Việt Nam làm chết một người và bị thương tám người ở vùng biển quanh đảo Trường Sa. Chi tiết sự việc khó kiểm chứng khi tin tức từ hai bên đưa ra khác nhau, nhưng theo AFP và Reuters thì rất có thể những ngư phủ này xuất phát từ tỉnh Quảng Nam, họ bị bắn khi đang đánh cá trong hải phận đảo Trường Sa mà Trung Quốc cho rằng thuộc về họ.

Lúc sự việc bắn ngư phủ Việt Nam này xảy ra, tàu của hải quân Việt Nam có mặt trong vùng và nằm trong cự ly có thể khai hỏa, nhưng họ đã không làm thế vì tự biết hỏa lực họ rất yếu so với chiến hạm và hỏa lực của hải quân Trung Quốc.

Và trước đó, vào hôm tháng Tư, Trung Quốc lên tiếng phản đối Việt Nam vi phạm chủ quyền của Trung Quốc khi ký hiệp đồng khai thác dầu và khí đốt trị gía 2 tỉ Mỹ kim với BP ở vùng biển quanh đảo Trường Sa thuộc biển Nam Hải (South China Sea), họ đã cảnh cáo BP và kết qủa là hãng dầu BP phải rút đi.

© DCVOnline
Nguồn:
(1) China dismisses Vietnam protest over disputed islands. AFP, Inquirer.net, 27 November 2007
(2) China says Vietnam protest on navy exercise "groundless". Xinhua, 27 November 2007.



=========================
pho bien/ publication 06.12.2007
=========================



                  CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH 

 
                                                         Bài 5:

                                       NHỮNG YẾU TỐ BẤP BÊNH
                                 CÓ THỂ DẪN ĐẾN KHỦNG HOẢNG


                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

 
MỞ ĐẦU:
TẤT YẾU VÀ HỮU LÝ CỦA MẶT TRẬN KT/TC

Đây là MỞ ĐẦU cho một loạt bài mà chúng tôi cắt nghĩa về con đường đi của Mặt Trận Kinh tế/ Tài chánh. Trong nhiều bài trước đây, chúng tôi đã nhấn mạnh rằng DÂN CHỦ chỉ là Hệ Luận tất nhiên của cuộc đấu tranh Kinh tế khi mà đại đa số Dân chúng đã đạt được mức độ bảo đảm cho cuộc sống với sự tôn trọng quyền tư hữu từ những phương tiện sản xuất tới những sản phẩm sản xuất. Đó là con đường đạt lấy quyền DÂN CHỦ qua ngả Kinh tế. Trong bài Mở Đầu này, chúng tôi nói vắn gọn đến những điểm sau đây làm nền tảng cho cái lý cho con đường tranh đấu của Mặt Trận Kinh tế/ Tài chánh:
=> Nguyên tắc phát động đấu tranh xã hội về mặt Kinh tế
=> Nguyên tắc quân bình xã hội về mặt Kinh tế
=> Thực trạnh mất quân bình hiện nay về Kinh tế tại Việt Nam

Nguyên tắc phát động đấu tranh xã hội về mặt Kinh tế

Đây là chính nguyên tắc mà Triết gia Karl MARX đã nhấn mạnh và Chính trị gia LENINE đã áp dụng để đẩy mạnh cuộc đấu tranh giai cấp. Triết gia Karl MARX gọi đó là hiện tượng Vong thân Kinh tế trong xã hội. Tất cả sự giầu có đều đến từ sức Lao động. Tư bản cũng chỉ là việc tích lũy sức Lao động. Triết gia đã lấy lại chính quan điểm của Kinh tế gia tư bản cổ điển Anh David RICARDO. Giới Lao động đã đem những thành quả làm việc của mình trao vào tay một thiểu số người nắm quyền cai trị để rồi phải chịu luỵ. Giới Lao động bị vong thân về Kinh tế vậy. Cuộc đấu tranh tất nhiên tự phát sinh để giới Lao động dành lại những thành quả Kinh tế do chính mình làm ra. Nói theo cách nói thông thường hàng ngày thì khi mà đại đa số Dân chúng làm việc mà bị một thiểu số cầm quyền bóc lột đến nỗi phải thiếu ăn, thì tất nhiên cuộc đấu tranh của giới bị bóc lột phải bùng lên để dành lại quyền sống. Đây không phải là nguyên tắc do Karl MARX khám phá, mà là cái lý thường ngày của mọi xã hội khi nói về Kinh tế.

Nguyên tắc quân bình xã hội về mặt Kinh tế

Một xã hội có sự quân bình, nghĩa là trước hết xã hội ấy không có sự bóc lột của một thiểu số về mặt Kinh tế ở mức độ tối thiểu là có đủ miếng ăn nuôi sống thân xác. Đi sâu vào nền tảng để tiến tới sự quân bình này, đó là việc tôn trọng quyền TƯ HỮU những phương tiện kiếm ăn và những kết quả sản xuất từ sức lực mỗi người. Sức Lao động của mỗi người là quyền tư hữu tuyệt đối mà ngay cả chính cá nhân không thể bán nó được. Khi mà người nắm quyền bóc lột, bán cái sức lao động của người khác, đó là vi phạm vào quyền tư hữu tối thượng. Xã hội ấy không thể có quân bình. Đối với những tư hữu khác, khi mà một thiểu số cầm quyền dùng đàn áp để tước đoạt những tư hữu ấy, xã hội sẽ mất quân bình. Để có thể giữ quân bình xã hội về mặt Kinh tế, trước hết là tôn trọng quyền Tư Hữu và sau đó tái phân phát sự giầu có để xã hội giảm sự chênh lệc về Kinh tế. Đây là nguyên tắc giữ xã hội thăng tiến bền vững và đều đặc.

Thực trạng mất quân bình hiện nay về Kinh tế tại Việt Nam

Nhìn tình trạng và những biến chuyển Kinh tế hiện nay tại Việt Nam qua hai nguyên tắc vừa nêu trên đây, chúng ta thấy rằng xã hội Việt Nam càng ngày càng mất quân bình về Kinh tế. Sư bóc lột Kinh tế, lợi dụng nhân lực Lao động mỗi ngày mỗi tăng.

=> Dân Oan nổi dậy, Nông dân kéo về thành thị, Công nhân đình công.

Cuộc đấu tranh này là tất yếu. CSVN không thể vu khống đây là sự xúi dục từ ngoại lai, mà chính là hậu quả tất yếu của tình trạng đại đa số dân chúng bị bóc lột bởi một thiểu số nắm quyền hành. Một quyền hành độc đoán xử dụng đàn áp để dẹp việc nổi dậy, đó là điều không thể đi đến kết quả được bởi vì sự nổi dậy đến từ tình trạng mất quân bình xã hội về Kinh tế. Chỉ có thể tạo được quân bình, nghĩa là yên ổn, khi mà việc bóc lột Kinh tế bởi thiểu số người nắm quyền hành phải chấm dứt để tiến dần đến quân bình bằng tôn trọng triệt để quyền Tư hữu và quyền Tự do xử dụng tư hữu để làm ăn đồng đều. Khi nói đến làm ăn đồng đều, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến việc phế bỏ những đặc quyền làm ăn của những giới quốc doanh hoặc thân cận đảng độc tài.

=> Tình Trạng tổng quát Kinh tế đang tiến dần đến đột biến chính trị

Cách dây hơn một tháng, chúng tôi đã có dịp nói qua Đài Á châu Tự do về tình trạng đột biến vật giá ở Việt Nam do lạm phát và do việc thất thoát ngoại tệ. Chúng tôi nghĩ đến cuộc Khủng hoảng Tài chánh tại Á châu năm 1997.  Tuần vừa rồi, Đài RFI (Radio France Internationale) cũng phỏng vấn chúng tôi về việc Phân tích dài của Bà Francoise NICOLAS với nhan đề là DIX ANS APRES LA CRISE FINANCIERE:LE RETOUR DU MIRACLE ASIATIQUE (Mười năm sau cuộc Khủng hoảng Tài chánh: Việc tái hồi của Phép lạ Á châu). Theo phân tích này, thì vùng Á châu có những nguy hiểm một Khủng hoảng Tài chánh nữa. Đài RFI yêu cầu chúng tôi nhìn kỹ về những nguy hiểm biến động Kinh tế/ Tài chánh của hai nước Trung Quốc, Việt Nam và những khủng hoảng liên hệ giữa hai nước. Hôm nay 31.10.2007, Đài RFI gọi cho tôi từ sáng sớm báo cho tôi biết hai bài đăng trên Nhật Báo LE MONDE số 19523/ 31.10.2007: L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển) và LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh vì vật giá tăng), trong đó Trung quốc và Việt Nam được nhắc ra rõ rệt. Qua tài liệu của Bà Francoise NICOLAS và hai bài báo của LE MONDE hôm nay, người ta thấy tình trạng đột biến Chính trị phải xẩy ra


KHAI TRIỂN CHỦ ĐỀ:
SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH

Loạt bài chủ đề mà chúng tôi sẽ viết về những nguy hiểm đang dẫn đến Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh tại Việt Nam dựa trên một số dữ kiện nghiên cứu bởi Bà Francoise NICOLAS, của tác giả những bài trên LE MONDE và được phân tích qua hai nguyên tác vừa được đưa ra trên đây: (i) Nguyên tắc phát động đấu tranh xã hội về mặt Kinh tế; (ii) Nguyên tắc quân bình xã hội về mặt Kinh tế
Chúng tôi xin tóm tắt những bài sẽ được khai triển như sau:

Bài 1:
NHỮNG HIỆN TƯỢNG BẤP BÊNH KINH TẾ CHUNG 
CỦA NHỮNG NƯỚC BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN
Những hiện tượng bấp bênh chung là: (i) thái độ chi tiêu của những người mới giầu lên; (ii) nhà nước chủ trương lạm phát tiền tệ; (iii) sản xuất tùy thuộc thị trường nước ngoài; (iv) thất thoát ngoại tệ.

Bài 2:
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH Á CHÂU 1997
Bốn nước: Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn. Sản xuất chính yếu những hàng hóa tiêu thụ ngắn hạn và những linh kiện. Lệ thuộc Thị trường nước ngoài. Bắt đầu cuộc cạnh tranh của những nước Đông Aâu. Hệ thống Ngân Hàng cẩu thả trong việc tài trợ các Công ty. Lạm phát tiền tệ và Thị trường Tài chánh thiếu trong sáng.

Bài 3:
CHẤP NHẬN ĐIỀU KIỆN CẢI CÁCH
ĐỂ CÓ YỂM TRỢ TÀI CHÁNH CỦA IMF

Thái Lan, Mã Lai, Nam Hàn chấp nhận những điều kiện đòi buộc cải cách do IMF (International Monetary Funds) ấn định để được nhận hỗ trợ Tài chánh. Mã Lai từ chối. Việc cải cách nhằm chính yếu vào hệ thống Ngân Hàng, vào Thị trường Tài chánh và vào việc Quản trị Xí nghiệp.

Bài 4:
KINH TẾ PHỤC HỒI TRONG TÌNH TRẠNG
CẢI CÁCH CHƯA TOÀN VẸN CHO ĐẾN NAY
 
Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương phục hồi Kinh tế, nhưng vẫn ở mức sản xuất những hàng hóa tiêu thụ ngắn hạn và những linh kiện. Nam Hàn đi vào những hàng hóa dài hạn và kỹ thuật cao. Tuy nhiên trên Thị trường quốc tế, những cạnh tranh mới xuất hiện: Đông Aâu, Nam Mỹ và Phi châu. Đầu tư nội địa còn yếu kém cho những nước bắt đầu phát triển này.

Bài 5:
NHỮNG YẾU TỐ BẤP BÊNH
CÓ THỂ DẪN ĐẾN KHỦNG HOẢNG
Yếu tố Kinh tế Trung quốc tạo những bấp bênh Kinh tế trong vùng. Đạo quân Thương gia gốc Hoa trong vùng: Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương khiến những nước này có sự lệ thuộc vào Trung quốc. Bà Francoise NICOLAS nhấn mạnh đến những nguy hiểm: căng thẳng xã hội, căng thẳng Thị trường Tài chánh và vấn đề bề bộn môi trường.

Bài 6:
VIỆT NAM TRƯỚC
KẺ THÙ KINH TẾ TRUNG CỘNG
Hữu nghị Trung quốc—Việt Nam chỉ là bề mặt. Kinh tế Trung quốc là kẻ thù của Kinh tế Việt Nam. Những biến động Kinh tế Trung cộng trực tiếp ảnh hưởng đến Kinh tế Việt Nam. Đối với Trung quốc, Việt Nam chỉ là một Tỉnh về cả Chính trị lẫn Kinh tế. Trên thương trường quốc tế, hàng hóa Trung cộng cạnh tranh hơn cả đối với hàng hóa Việt Nam. Những biện pháp chế tài của Mỹ hoặc Liên Aâu áp dụng cho Trung cộng, đều cũng áp dụng cho Việt Nam vì họ ngại sợ sự tráo trở giữa hai nước.

Bài 7:
VẬT GIÁ TĂNG VÀ LẠM PHÁT TIỀN TỆ
TẠI NHỮNG QUỐC GIA BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN
Ký giả Alain FAUJAS, trong bài báo trên LE MONDE, đã kể ra những nước sau đây: Nam Phi, Nga, Trung quốc và Việt Nam. Tình trạng vật giá tăng và lạm phát tiền tệ có thể phương hại đến đà phát triển Kinh tế hiện nay. Tình trạng này đang làm cho Thế giới lo ngại một cuộc khủng hoảng Thị trường Tài chánh và Tiền tệ. Cuộc họp tiền tệ Dollars (Mỹ) và Euro (Liên Aâu) mới đây đã tỏ ra lo sợ mà chưa có những biện cụ thể nào.

Bài 8:
LÝ DO ĐẦU TIÊN CỦA TĂNG VẬT GIÁ VÀ LẠM PHÁT:
ĐẦU TƯ HIỆN TẠI BẰNG TIỀN TƯƠNG LAI
(VIRTUAL MONEY/ MONNAIE VIRTUELLE)
Đây là quyết định quá dễ dãi của quyền lực Chính trị vào phạm vi tiền tệ. Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết: “L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất htuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy)

Bài 9:
VIỆC PHÂN PHỐI KHÔNG ĐỒNG ĐỀU
VỀ MỨC TĂNG KINH TẾ
Kinh tế tăng trưởng với mức độ cao: Nam Phi 7.2%, Nga 9.4%, Trung quốc 6.2%, Việt Nam 8.8%. Nhưng sự phân phối độ tăng này không đồng đều trong xã hội. Một thiểu số dành lấy hầu hết độ tăng ấy, còn đại đa số quần chúng nhận được phần phân phối rất nhỏ. Giầu nghèo trong xã hội càng ngày càng chênh lệch.

Bài 10:
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH VÀ TIỀN TỆ
RẤT DỄ XẨY RA

Đầu tư  bằng tiền tương lai (virtual money/ monnaie virtuelle) vào những công trình xây cất hạ tầng có tính cách dài hạn càng làm cho sự bấp bênh thu hồi tài chánh. Những hàng hoá ngắn hạn, như Trung quốc, Việt Nam chẳng hạn, lại tùy thuộc Thị trường nước ngoài. Một biến động Thị trường ngoại quốc có thể châm ngòi cho khủng hoảng tài chánh. Khủng hoảng tài chánh làm lụn bại Kinh tế.

Bài 11:
HẬU QUẢ:
DÂN CHÚNG NỔI DẬY LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN
Sự phân phối không đồng đều độ tăng trưởng Kinh tế làm cho giới nghèo càng nghèo thêm, nhất nữa họ phải chịu cảnh vật giá tăng vọt, đồng thời phải lãnh đồng lương với tiền đã mất giá. Cuộc khủng hoảng Tài chánh làm những Công ty sạt nghiệp. Số người thất nghiệp tăng vọt. Đây là những yếu tố Kinh tế/ Tài chánh buộc Dân chúng phải nổi dậy chống lại Chính quyền. Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố với báo Financial Times:“Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói)

Bài 12:
KẾT LUẬN:
TƯ HỮU LA ØNỀN TẢNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VŨNG
VỚI THỂ CHẾ DÂN CHỦ LÀ HẬU QUẢ
Bài học Tài chánh trước hết là căn cơ chi tiêu. Tư hữu là động lực làm việc và cũng là mệnh lệnh cho căn cơ chi tiêu tần tiệm tích lũy. Đó là những yếu tố tăng năng suất sản xuất và tích lũy tiết kiệm làm nền tảng vững chắc cho nền kinh tế. Từ tôn trọng tư hữu, cá nhân có tự do. Cá nhân chủ được tôn trọng, thì nguyên tắc Dân chủ chỉ là hậu quả giải quyết giữa những cá nhân chủ. 


Đây là bài thứ năm trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ năm này mang đầu đề là NHỮNG YẾU TỐ BẤP BÊNH CÓ THỂ ĐƯA ĐẾN KHỦNG HOẢNG.

Chúng tôi vẫn đứng ở phạm vi những nước liên hệ đến cuộc Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh năm 1997 với những phân tích của Bà Francoise NICOLAS. Chúng tôi chưa đụng chạm đến những bấp bênh liên hệ đến những nước bắt đầu phát triển hiện nay như Nam Phi, Nga, Trung quốc, Việt Nam với những nhận định của hai bài báo đăng trên Nhật Báo LE MONDE ngày 31.10.2007: L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS và LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX.

Mục đích của những bài viết về cuộc Khủng hoảng 1997 và những yếu tố bấp bênh của những nước liên hệ là để nhìn xem những yếu kém có thể đem tới Khủng hoảng trong vùng, nhất là Việt Nam, mặc dầu hiện nay đang có những hồ hởi của việc phát triển mạnh về Kinh tế.

Bà Francoise NICOLAS sau khi phân tích những nước liên hệ đến cuộc Khủng hoảng 1997 và việc lấy lại đà phát triển nhanh chóng của những nước này với trợ lực và đòi hỏi cải cách của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế IMF, đã đặt câu hỏi:“Les réformes mises en oeuvre ont-elles éliminé tout risque à l’avenir ?“ (Những cải cách đã được thực hiện phải chăng đã có thể tẩy trừ hẳn tất cả nguy hiểm cho tương lai ?). Câu trả lời của Bà là “Non“ (Không), nghĩa là còn những yếu tố nguy hiểm có thể làm xẩy ra Khủng hoảng nữa.

Bài này trình bầy những yếu tố nguy hiểm ấy cho những nước này:
=> Những nguy hiểm khủng hoảng nội tại và ngoại tại chưa tẩy trừ hết
=> Những yếu tố đặc biệt về tài chánh và tiền tệ
=> Trung quốc, một ẩn số nguy hiểm trong vùng
=> Căng thẳng Xã hội và vấn đề Môi trường


Những nguy hiểm khủng hoảng
nội tại và ngoại tại chưa tẩy trừ hết

Nói là nội tại, chúng tôi muốn đề cập chính yếu đến việc sản xuất hàng hóa của một nước. Nói là ngoại tại, chúng tôi muốn đề cập việc cạnh tranh trên Thị trường tiêu thụ Quốc tế.

Ở đoạn phân tích thứ nhất của bài này, chúng ta thấy sau cuộc Khủng hoảng 1997, bốn nền kinh tế liên hệ đã lấy lại nhanh chóng mức tăng trưởng trước năm 1997 và từ đó hiện giờ đang có sự tăng trưởng cao. Nhưng nếu phân tích kỹ, thì việc lấy lại độ tăng trưởng đến trực tiếp từ việc châm vốn của IMF qua Nhân cấp số Keynes (Multiplicatuer keynésien).

Những đề nghị cải cách của IMF đã được thực hiện chính yếu về hệ thống Ngân Hàng và mang tính cách đề phòng. Tuy nhiên, những nguy hiểm khủng hoảng vẫn chưa được tẩy trừ hết, hay nói cách khác, những nguy hiểm khủng hoảng còn hiện diện ở tình hình Kinh tế mới.

Trong việc phát triển Kinh tế, người ta phân biệt 3 mức độ: (i) mức độ những Quốc gia mà Dân vừa thoát khỏi cảnh nghèo đói; (ii) mức độ những Quốc gia mà Dân mới có số thu nhập trung gian đủ sống; (iii) mức độ những Quốc gia mà Dân có số thu nhập cao.

Đối với 4 nước Á đông liên hệ trong cuộc khủng hoảng, Mã Lai và Thái Lan mới ở mức độ (ii), nghĩa là đa số Dân có số thu nhập trung gian đủ sống; Nam Dương chỉ có một phần Dân lên tới mức thu nhập đủ sống, còn một số vẫn trong cảnh nghèo đói; Nam Hàn chưa tiến hẳn lên mức (iii), nghĩa là Dân có số thu nhập cao.

Để có thể lên tới mức (iii), nền Kinh tế phải đầu tư chính yếu vào những sản xuất kỹ thật dài hạn. Nam Hàn đang cố gắng để thoát khỏi mức độ thu nhập trung gian để vươn lên mức độ thu nhập cao.

Trong Báo Cáo về Kinh tế của những nước trong vùng, Ngân Hàng Thế Giới (2006) đã nhận định: “La Banque Mondiale (2006) souligne la difficulté que des économies à revenu intermédiaire peuvent avoir à accéder au statut d’économie à reveu élevé. Le principal défi pour les éconmies comme la Malaisie, la Thailande et l’Indonésie, est de parvenir à quitter le statut d’economie à revenu intermédiaire. L’histoire montre en effet que si beaucoup de pays pauvres ont réussi à accéder au rang d’économie à revenu intermédiaire, assez peu sont ensuite parvenus à celui de pays à revenu élevé. Pour cela, un pays doit se spécialiser davantage dans certains domaines òu il peut réaliser des économies d’échelle tout en s’imposant comme un leader au plan technologique. (Ngân Hàng Thế Giới (2006) nhấn mạnh đến sự khó khăn là những nền kinh tế có số thu nhập trung gian có thể tiến tới  một nền kinh tế có số thu nhập cao. Điều thách thức chính yếu cho những nền Kinh tế như Mã Lai, Thái Lan và Nam Dương là làm thế nào thoát được khỏi nền kinh tế có số thu nhập trung gian. Thực vậy, Lịch sử cho thấy rằng nếu nhiều nước nghèo đã thành công trong việc tiến tới nền kinh tế có số thu nhập trung gian, thì rất ít nước đã có thể tiến tới nền kinh tế có số thu nhập cao. Để có thể làm điều này, một nước phải chuyên biệt nhiều hơn về một số phạm vi mà nước ấy có thể thực hiện nền Kinh tế cấp thang, đồng thời trở nên lãnh đạo về kỹ thuật).

Sau nhận định tổng quát như vậy của Ngân Hàng Thế Giới, chúng ta có thể đề cập đến những bấp bênh khủng hoảng như sau của những nước như Thái Lan, Mã Lai và Nam Dương:

=> Về phương diện sản xuất hàng hóa.

Nền Kinh tế của những nước này quy tụ chính yếu vào hàng nông nghiệp và những hàng tiêu dụng ngắn hạn hoặc làm thuê những linh kiện cho những Xí nghiệp ở các Quốc gia đã đạt tới số thu nhập cao.

=> Về mặt Thị trường tiêu thụ

Hàng hóa của những nước này tùy thuộc vào Thị trường tiêu thụ nước ngoài, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu. Những Thị trường này có thể thay đổi vì những hàng hóa không phải là thiết cần chính yếu mà là tùy thuộc vào khuynh hướng tiêu thụ có thể biến đổi.

=> Về phương diện cạnh tranh

Trong bản Báo Cáo của Ngân Hàng Thế Giới, chúng ta thấy rằng một số lớn những Quốc gia có thể thoát ra khỏi cảnh nghèo đói và tiến tới nền kinh tế với số thu nhập trung gian, nghĩa là những nước này có thể là cạnh tranh ngang hàng với Thái Lan, Mã Lai và Nam Dương. Khuynh hướng hiện nay trên Thế Giới là các nước tập trung vào những vùng Kinh tế, những Thị trường lớn: Thị trường Bắc Mỹ (Hoa kỳ), Thị trường Liên Aâu và Thị trường Thái Bình Dương.

* Tại Thị trường Bắc Mỹ: sau khủng hoảng nợ nần năm 1980, Nam Mỹ, nhất là Ba Tây, là cạnh tranh trong Thị trường này. Nam Mỹ ở gần kề và còn nhiều nguyên vật liệu, yếu tố làm hạ giá thành.

* Tại Thị trường Liên Aâu: những nước Đông Aâu, sau sụp đổ của Cộng sản, tổ chức lại nền Kinh tế. Những nước này lại đứng trong Liên Aâu. Họ có những ưu điểm cạnh tranh. Ngoài những nước Đông Aâu, một số nước Phi châu đang tiến triển và có nhiều liên hệ lịch sử với Liên Aâu (Pháp, Anh).

* Tại Thị trường Thái Bình Dương: Những hàng sản xuất của các nước tương tự như nhau. Trung quốc là một nước thuộc vùng mà chúng tôi sẽ nói riêng trong một Đoạn sau.


Những yếu tố đặc biệt
về tài chánh và tiền tệ

Nhận xét tổng quát của Bà Francoise NICOLAS như sau:“Le fondements de la croissance sont, dans les économies touchées par la crise, plus précaires que par le passé. La faiblesse de l’investissement est, il est vrai, en bonne partie due à la correction des excès antérieurs dans l’immobilier, mais aussi, ce qui est économiquement dangereux, à une baisse dans le secteur de l’équipement et de la mécanique. Un tel état de fait constitue un incontestable point de vulnérabilité, qui risque de peser à moyen terme sur la capacité de rebond de ces éconmies“ (Những nền tảng của phát triển, trong những nền kinh tế dưới ảnh hưởng của Khủng hoảng, trở nên bấp bênh hơn là trong quá khứ. Sự yếu kém về đầu tư , đúng vậy, là một phần lớn dồn vào việc sửa chữa những quá trớn trước đây trong lãnh vực xây cất địa ốc, nhưng nó cũng là, điều này nguy hiểm về mặt kinh tế, dành cho việc xuống cấp đầu tư vào lãnh vực sản phẩm thiết bị sản xuất và kỹ thuật. Một tình trạng cụ thể như vậy tạo nên điểm tổn thương không thể chối cãi, điểm này có nguy hiểm là đè nặng trong trung hạn trên việc chỗi dậy của những nền kinh tế liên hệ này).

=> Hướng đầu tư

Với ảnh hưởng của Số nhân cấp (Multiplicateur keynésien) bằng chêm vốn từ IMF, những nền Kinh tế liên hệ đã lấy lại đà phát triển nhanh chóng. Nhưng hướng đầu tư từ những thu nhập do phát triển lại đi theo hai hướng khiến những nước như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương chưa thoát khỏi tình trạng thu nhập đầu người trung gian như Ngân Hàng Thế Giới đã nhận xét trong Báo Cáo năm 2006: “Le principal défi pour les éconmies comme la Malaisie, la Thailande et l’Indonésie, est de parvenir à quitter le statut d’economie à revenu intermédiaire.“(Điều thách thức chính yếu cho những nền Kinh tế như Mã Lai, Thái Lan và Nam Dương là làm thế nào thoát được khỏi nền kinh tế có số thu nhập trung gian.). Chỉ có Nam Hàn đang hy vọng tiến lên mức độ thu nhập đầu người cao.

Hướng xử dụng vốn của những nước Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương còn loay hoay ở những phương diện chính sau đây:

* Dồn vào những quá đáng quá khứ đã đầu tư vào việc xây cất Địa ốc. Đây là việc xây cất quá đáng bằng những vốn khả thể nghi ngờ (créances douteuses vituelles). Thường trong những nước mới bắt đầu phát triển, các Xí nghiệp cũng như tư nhân chuộng việc xây cất đồ sộ bằng vay mượn nợ dựa trên ước tính thu nhập tương lai. Nhưng thu nhập ước tính này tất nhiên có những bấp bênh, nhất là đối với những nước chỉ sản xuất và thu nhập ngắn hạn. Số thu nhập của của việc tái phát triển tất nhiên dành vào việc thanh toán nợ nần dài hạn địa ốc  này.

* Cuộc Khủng hoảng tài chánh 1997, mà lý do là thiếu nền tảng dự trữ tài chánh để chống đỡ khi cơn bão thổi đến, vẫn ám ảnh các Xí nghiệp và các Ngân Hàng. Chính vì vậy mà các Xí nghiệp và Ngân Hàng dành một số thu nhập để tạo dự trữ đề phòng chống đỡ một cuộc Khủng hoảng có thể xẩy ra trong tương lai. Trước đây, nhà sập vì không có cây chống bão. Bây giờ xây lại nhà mới thì đồng thời cũng phải sắm luôn những cây chống đỡ nhà nếu có bão tố nữa.

Việc dành số thu nhập vào hai hướng trên đây khiến các nước này khó lòng dành vốn cho việc đầu tư vào những lãnh vực sản xuất thiết bị và kỹ thuật, điều kiện có thể tiến lên số thu nhập đầu người trung gian mà Báo Cáo của Ngân Hàng Thế Giới đã đề cập tới. Bà Francoise NICOLAS kết luận:“De ce point de vue, les perpectives économiques de la région  sont pour le moins incertaines“ (Về phương diện này, những viễn tượng kinh tế trong vùng, tối thiểu, là không vững chắc).

=> Tiền tệ

Cũng vì ám ảnh từ Khủng hoảng 1997 làm đồng tiền của những nước liên hệ mất giá trên 60%, nên những nước này đặt trọng tâm vào việc tích trữ ngoại tệ (Đo-la) để bảo đảm tiền tệ và hối suất. Năm 2005, những con số sau đây cho thấy việc tích trữ ngoại tệ tính theo số thu nhập đầu người: Nam Dương 12%, Nam Hàn 25%, Thái Lan 28% và Mã Lai 55%. Đây là việc tích lũy ngoại tệ dài hạn trở thành quá đáng đối với mức thông thường. Nếu đứng về mặt đề phòng Khủng hoảng Tiền tệ và Hối suất, thì đây là biện pháp bảo đảm, nhưng đứng về mặt điều hành Kinh tế, Tài chánh và Tiền tệ, thì việc tích lũy dự trữ ngoại tệ thái quá này có thể mang tới những ảnh hưởng nguy hại. Thực vậy việc tích lũy này có thể làm bàn đạp tăng khuynh hướng tín dụng và tăng phía cầu tổng quát, nghĩa là kéo theo việc tăng vật giá. “L’ accumulation de réserves peut comporter certains effets pervers. En particulier, l’acquisition  de réserves de changes peut accroitre la base monétaire et alimenter l’expansion du crédit et de la demande globale, entrainant  des pressions inflationnistes.“(Việc tích lũy dự trữ có thể mang đến những ảnh hưởng ngược lại. Đặc biệt, việc mua giữ nhiều dự trữ ngoại tệ hối đoái có thể làm tăng  nền tảng tiền tệ và nuôi dưỡng việc bành trướng tín dụng và phía cầu tổng quát, kéo theo những áp lực tăng giá).

Về phương diện hối đoái, người ta cũng thấy rằng các nước trong vùng thiếu những khai triển việc hợp tác giữa các đồng tiền của mỗi nước: Ringgit (Mã Lai), Won (Nam Hàn), Baht (Thái Lan). Việc hợp tác hỗ trợ tiền tệ liên quan đến cạnh tranh và sức mạnh thương mại trong vùng.  Sự thiếu hợp tác Tiền tệ là một trong những yếu kém của vùng. Liên Aâu đã có nhiều kinh nghiệm về lãnh vực dễ khủng hoảng tiền tệ riêng lẻ này, nên đã mau chóng giải quyết bằng đồng Euro.


Trung quốc,
một ẩn số nguy hiểm trong vùng

Trung quốc nằm ngay trong vùng và bên cạnh những Quốc gia đã liên hệ đến cuộc Khủng hoảng 1997. Bà Francoise NICOLAS đã viết về cái ẩn số tạo sự bấp bênh cho những nước trong vùng như sau:“La montée en puissance de la Chine et le rôle desormais déterminant que son économie joue dans la région et pour l’avenir des éconmies voisines, constitue un motif d’incertitude, voire de vulnérabilité.“(Sự tiến lên mạnh của Trung quốc và vai trò quyết định mà kinh tế Trung quốc nắm giữ trong vùng hiện nay và cho tương lai những nền kinh tế bên cạnh, tạo nên một lý do không vững vàng, hay có thể nói là lý do có thể làm tổn thương). Về cái ẩn số này, chúng tôi sẽ có dịp khai triển dài hơn khi nói đến sự bấp bênh của Kinh tế Việt Nam liên hệ với Trung Cộng. Chúng tôi chỉ xin nhắc ở phần này những điểm chính về ẩn số như sau:

=> Trung quốc không phải là Thị trường tiêu thụ chính cho những hàng hóa sản xuất từ những nước nhỏ trong vùng vì dân Trung quốc còn thiếu khả năng tài chánh tiêu thụ (Pouvoir d’achat). Ngay cả Trung quốc áp dụng chính sách ngăn cản cạnh tranh của những hàng hóa nước ngoài. Cho dù có cùng nhập WTO đi nữa, thì Trung Cộng cũng xử dụng những Biện Pháp Không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để ngăn cản cạnh tranh

=> Ngược lại, chính những nước nhỏ trong vùng lại là Thị trường tiêu thụ cho hàng hóa Trung quốc vì những lý do sau đây:

* Trung quốc sản xuất hàng hóa tiêu thụ ngắn hạn giống như những nước trong vùng, từ những hàng dùng thường ngày cho đến một số máy móc dài hạn hơn.

* Trung quốc có đạo quân Thương mại nằm khắp những nước của vùng: Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Tân Gia Ban, Phi Luật Tân. Đạo quân Thương mại này lại lành nghề.

* Những nước chung quanh làm việc cho Thị trường Bắc Mỹ và Liên Aâu, có khả năng tiêu thụ trung bình và hợp với những hàng hóa Trung quốc.

=> Điểm quan trọng cần được nhấn mạnh là dù cùng sản xuất hàng hóa giống nhau, nhưng hàng Trung quốc có khả năng cạnh tranh rất mạnh trong nội địa của những nươc của vùng. Lý do chính yếu của khả năng cạnh tranh này ngay với hàng bản xứ là ở phương diện giá cả. Thực vậy, giá bán tùy thuộc vào giá thành. Mà giá thành tùy thuộc vào lượng sản xuất. Để có thể hạ được giá thành, thì phải tìm cách hạ được những chi tiêu cố định, nhất là thiết bị. Muốn hạ số chi tiêu cố định, thì phải tăng số lượng sản xuất. Tỉ dụ trang bị một Nhà Máy mất 100'000.-. Nếu chỉ sản xuất số lượng là 50'000 đơn vị, thì số chi cố định sẽ là 2.-/đơn vị. Nhưng nếu sản xuất số lượng gấp 4 lần, nghĩa là 200'000 đơn vị, thì số chi cố định cho mỗi đơn vị chỉ còn 0.5.-/ đơn vị. Trung quốc có khả năng tăng số lượng sản xuất mà vẫn có sự an toàn về sản xuất nếu không xuất cảng được. Thực vậy, nếu số lượng sản xuất tăng gấp bội mà họ không xuất cảng hết, thì đã có cả khối người khổng lồ Trung quốc tiêu thụ trong nội địa hoặc Công ty trả lương bằng chính hàng sản xuất. Về phương diện Công nhân, thì Trung Cộng lại có một lực lượng nhân lực hùng hậu và khối nhân lực này làm việc dưới một thể chế độc đoán, không có tiếng nói về lương lậu. Với giá thành có thể hạ như vậy, thì tất nhiên hàng hóa Trung Cộng có thể hạ giá bán mà những nước nhỏ trong vùng khó lòng cạnh tranh được.

=> Đối với những hàng công nghệ, mặc dầu những linh kiện cấu thành chưa phức tạp lắm, nhưng việc sản xuất sản phẩm cuối cùng vẫn theo hệ thống Xí nghiệp thầu lại từng bộ phận (Système de Sous-Traitance). Chính hệ thống phân chia thầu lại này làm cho sản phẩm cuối cùng được hạ giá thành và kiện toàn phẩm chất:

* Hệ thống thầu lại làm cho xí nghiệp sản xuất giảm giá chi tiêu thiết bị cố định. Nếu một Nhà Máy chỉ sản xuất nút áo, thì họ chỉ cần trang bị máy nút áo và do đó tăng số lượng sản xuất vì họ làm việc cho nhiều nhà máy May Dệt khác nhau.

* Về phương diện phẩm chất trong hệ thống các Xí nghiệp thầu linh kiện, hàng sản xuất được kiện toàn hơn vì nhà máy chỉ sản xuất một món hàng. Xí nghiệp chuyên môn làm nút áo có thời giờ kiện toàn việc sản xuất chỉ có nút áo.

Vì khả năng áp dụng hệ thống thầu từng phần này, mà hàng làm tại Trung quốc dễ được sản xuất từ A tới Z. Do đó giá thành tổng thể tất nhiên phải hạ hơn những nước như Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai phải nhập cảng nhưng linh kiện, vật liệu từ nước khác chẳng hạn.

=> Không những hàng hóa Trung Cộng có sức cạnh tranh trong chính nội địa mỗi nước, mà còn cạnh tranh trên chính Thị trường các nước khác ngoài vùng, như Liên Aâu hay Bắc Mỹ. Tại những Thị trường này, đạo quân Thương mại của hàng Trung quốc cũng rất mạnh, tỉ dụ những China Towns. Hãy lấy tỉ dụ về thực phẩm. Cách đây gần hai năm, chúng tôi đã có dịp viết về hàng May Mặc của Trung quốc tràn lan trên Thị trường Bắc Mỹ và Liên Aâu. Việc lan tràn mạnh này khiến Liên Aâu và Bắc Mỹ phải dùng những biện pháp chế tài số lượng để bảo vệ chính ngành nghiệp tại Mỹ và những nước thuộc Liên Aâu. Nhiều Nhà Máy dệt tại Mỹ, Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Hy Lạp... bị giao động hoặc đóng cửa vì sự tràn lan của hàng Trung quốc. Về ngành nghiệp này, những nước như Phi Luật Tân, Sri Lanka, Maroc, Mễ Tây Cơ..., mặc dầu được sự nâng đỡ của Thị trường Liên Aâu và Bắc Mỹ, nhưng vẫn bị cạnh tranh của Trung quốc mà giảm sút.

=> Về phương diện đầu tư nước ngoài, Trung quốc đã làm giảm sút số vốn đầu tư ngoại quốc vào trong vùng Đông Nam Á, nhất là về việc sản xuất những linh kiện cho những Công ty lớn của những nước đã kỹ nghệ hóa. Những lý do chính sau đây đã thu hút việc đầu tư nước ngoài vào Trung quốc:

* Những Công ty liên quốc gia lớn cũng tìm cách hạ giá thành sản xuất linh kiện. Dù việc ráp nối máy móc tại những nước đã Kỹ nghệ hóa, nhưng một số phần trăm linh kiện thành phần được sản xuất tại Trung quốc để hạ giá thành. Những Công ty liên quốc gia này có thể tăng lượng sản xuất linh kiện làm giảm giá thành vì họ có thể bán tại chỗ cho số người khổng lồ. Đồng thời những Công ty này lợi dụng số nhân lực bị ép buộc lương lậu.

* Khi một Công ty liên quốc gia đầu tư vào Trung quốc để giảm giá thành linh kiện, thì chính những Công ty liên quốc gia khác cũng phải làm theo để cạnh tranh giữa những Công ty liên quốc gia này, nghĩa là cũng phải đầu tư vào Trung quốc.

* Khi đầu tư vào Trung quốc, những Công ty liên quốc gia hoặc chính nước của họ nhằm bán những Máy móc thiết bị cho Trung quốc. Đây là vấn đề buôn bán có đi có lại. Tỉ dụ Liên Aâu không dám mạnh tay chế tài hàng hóa Trung quốc vì còn muốn nhằm bán Máy Bay, xây cất Lò Nguyên Tử cho Trung quốc. Chính ngoại trưởng Trung quốc đã nói tại Bruxelles để trả lời cho Liên Aâu về việc hạn chế hàng May Mặc của Trung quốc. Oâng nói khi Trung quốc mua một chiến Air Bus, thì chúng tôi phải bán cho các Oâng bao nhiêu chục triệu chiếc áo sơ mi.


Căng thẳng Xã hội
và vấn đề Môi trường

Những điểm cuối cùng mà Bà Francoise NICOLAS chú thích đến những nước liên hệ tới Khủng hoảng, đó là sự căn thẳng xã hội và vấn đề môi trường như những bấp bênh có thể làm nguyên cớ cho Khủng hoảng. Bà viết:“Les risques d’instabilité sont nombreux, qu’il s’agisse de tensions sociales ou encore de risques environnementaux“ (Những nguy hiểm bất ổn có nhiều, như những căng thẳng xã hội hay còn những nguy hiểm về môi trường).

Tại những nước như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn, như chúng ta đã thấy ở những bài viết trước đây, một số hoạt động Kinh tế lớn thuộc về những nhóm Gia đình. Số tăng trưởng Kinh tế thu nhập không được phân chia đồng đều như trong các nền Kinh tế được xây dựng từ từ bởi tư hữu cá nhân thành hệ thống Công ty Nhỏ hoặc Trung bình (PME: Peite Moyenne Entreprise) hay bởi những Xí nghiệp lới Khẩu phần có quy chế bảo đảm vững chắc. Tại những nước liên hệ với Khủng hoảng 1997, những Công ty thuộc nhóm Gia đình lại có những liên hệ với quyền lực Chính trị và do đó việc phân chia không đồng đều thụ hoạch còn liên quan đến Tham nhũng.

Trong suốt những bài đã viết, chúng ta hầu như không có dịp dề cập đến vấn đề Môi trường hay đúng hơn sự tăng trưởng của những nền Kinh tế này như bất chấp vấn đề đầu tư vào Môi trường. Đây là khía cạnh yếu kém và bấp bênh cho phát triển Kinh tế bền vững và dài hạn. Vấn đề Môi trường liên hệ đến rủi ro Thiên tai, đến nguyên vật liệu và đến sức khỏe cần thiết cho nguồn nhân lực sản xuất trong một Quốc gia, cho những chi tiêu tốn kém xã hội như sức khỏe công cộng.


Tại sao không nghĩ rằng lũ lụt Miền Trung VN có liên hệ đến việc đốn cây bừa bãi tại Cao Nguyên Trung Phần ?


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế






=========================
pho bien/ publication 06.12.2007
=========================



                                    THAM NHŨNG NUÔI ĐẢNG
                                           VÀ DIỆT KINH TẾ


                       Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



CSVN lập hết Phòng này, Uûy Ban kia để chống THAM NHŨNG. Đó chỉ là trò cười, việc diễn tuồng đểu cáng. Thực vậy, nếu không còn tham nhũng, thì cái đảng độc tài CSVN đã tự tan rã rồi. Tôi xin cắt nghĩa rất đơn giản như sau.

Ý thức hệ không còn nữa

Cái Ý thức hệ Mác Lê đã chết mất từ ngày sụp đổ của Thế giới Cộng sản. Ý thức hệ ấy đã làm lụn bại Kinh tế của những nước Cộng sản. Dân nghèo đói đứng lên đạp đổ chế độ tại Nga và các nước Đông Aâu. Dạ Dầy đói, chứ không phải ý niệm Dân chủ/ Nhân quyền, đã đập tan Cộng sản.

Còn Tham nhũng mới có đảng viên

Những người vào đảng hiện nay không phải là vì Lý tưởng, vì Ý thức hệ, nhưng là vì vào đảng thì có khả năng, có quyền độc đoán và được che chở để có thể tham nhũng, có thể cướp ngày của cải của Dân và của Quốc gia, nghĩa là cho cái Dạ Dầy, cho khoái lạc thân xác của chúng. Nói toạc móng heo ra để CSVN, từ thằng lớn, thằng bé và tụi con cháu, gầm mặt mà nhục nhã.

Hết khả năng Tham nhũng thì đảng tan

Những tên đã vào đảng, cố thủ giữ lấy quyền hành độc đoán để làm Tham nhũng. Chúng chịu Dân và Quốc tế xỉ vả, mà vẫn mặt dầy mày dạn ngồi lì đó giữ quyền độc tài khủng bố chỉ vì cái khả năng có thể làm Tham nhũng.

Chỉ có Dân và Tự do Ngôn luận mới diệt được Tham nhũng

Đảng giữ quyền độc tài mà mục đích là ăn cướp, rồi lập Phòng, Uûy Ban chống Tham nhũng, thì chỉ là trò hề của những quân đểu cáng. Thế mà có đám ngợm giáo gian, tụi chính trị xôi thịt còn đi bợ quân đểu cáng để chia chút mẩu bánh rơi rụng thẩy xuống đất cho mà đớp giống đám chó đói. Tôi khinh đám ngợm này và tụi xôi thịt như chó đói bởi vì chúng nịnh bợ, vẫy đuôi mừng quân đểu cáng.

Tham nhũng diệt Kinh tế quần chúng

Tham nhũng làm Dân nghèo khổ. Khối Dân nghèo khổ sẽ đứng lên đập tan quân đểu cáng tham nhũng và đám bầy tôi chó đói. Không phải ý niệm Dân chủ/Nhân quyền trừu tượng là động lực chủ yếu của Cách Mạng Pháp 1789, của Cách Mạng Vô sản 1917, của Sụp đổ Cộng sản 1989 mà chính là cái DẠ DẦY đói của quần chúng bị bóc lột, tước đoạt bởi đám cầm quyền độc tài.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



=========================
pho bien/ publication 29.11.2007
=========================



                  CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH 

                                                            Bài 4:

                                KINH TẾ PHỤC HỒI TRONG TÌNH TRẠNG
                              CẢI CÁCH CHƯA TOÀN VẸN CHO ĐẾN NAY



                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


 
Đây là bài thứ tư trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ tư này mang đầu đề là KINH TẾ PHỤC HỒI TRONG TÌNH TRẠNG CẢI CÁCH CHƯA TOÀN VẸN CHO ĐẾN NAY.

Năm 1997, bốn nền Kinh tế Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn đã sụp đổ mau chóng khiến những nhà quan sát Kinh tế quốc tế ngạc nhiên. Trong bài tuần trước (bài thứ ba trong loạt bài chủ đề này), chúng tôi đã trình bầy Quỹ Tiền Tệ Quốc tế IMF (International Monetary Fund) đã can thiệp vào nhằm trợ lực những quốc gia liên hệ để phục hồi Kinh tế. IMF đã đặt ra những điều kiện cải cách khi cho vay vốn từ Quỹ Tiền Tệ này. Thái Lan, Nam Dương và Nam Hàn đã chấp nhận những điều kiện cải cách ấy về việc Quản trị Xí nghiệp và Tổ chứ hệ thống Ngân Hàng.

Nếu việc sụp đổ Kinh tế/Tài chành sâu rộng và mau lẹ đã làm ngạc nhiên những nhà quan sát Kinh tế quốc tế, thì việc phục hồi Kinh tế/ Tài chánh nhanh chóng cũng đã làm sững sờ những nhà quan sát Kinh tế ấy không kém. Sững sờ đến nỗi những nhà quan sát Kinh tế/Tài chánh này tỏ ra nghi ngờ cho sự bền vững của phát triển trong tương lai, nghĩa là có thể xẩy ra một cuộc khủng hoảng mới. Bà Frnacoise NICOLAS đã viết:“La crise apparaissait d’autant plus profonde qu’elle avait pris tous les économistes à contre-pied. Par la suite, déjouant à nouveau les pronostics de nombreux analystes qui prévoyaient une décennie perdue pour l’Asie de l’Est, ces économies n’ont pas tardé à rebondir pour retrouver des taux de croissance élevés.... Les réformes mises en oeuvre ont-elles éliminé tout risque à l’avenir ?“ (Cuộc khủng hoảng đã xẩy ra sâu đậm đến nỗi làm cho các nhà kinh tế suy nghĩ tréo cảng giò. Tiếp theo đó, những nền Kinh tế này đã làm trật những ước tính của một số đông những nhà phân tích dự trù khoảng từng chục năm mất đi của vùng Đông Á châu bởi vì những nền Kinh tế ấy đã không chậm trễ nhẩy vọt lên  để tìm lại những độ tăng trưởng cao...  Những cải cách đã được thực hiện phải chăng đã có thể tẩy trừ hẳn tất cả nguy hiểm cho tương lai ?)

Chúng tôi sẽ bàn những điểm sau đây trong bài này:

=> Lấy lại nhanh chóng những độ tăng trưởng cao
=> Thực hiện những cải cách đòi buộc của IMF
=> Những nguy hiểm khủng hoảng chưa tẩy trừ hết


Lấy lại nhanh chóng
những độ tăng trưởng cao

Năm 1998, bốn nền Kinh tế tụt dốc sau cơn khủng hoảng. Nhưng từ năm 1999, mức độ tăng trưởng Kinh tế trở thành số dương. Thực vậy, những nước bị khủng hoảng đã lấy lại mức độ thu nhập đầu người của trước năm 1997: Nam Hàn và Mã Lai bắt đầu từ năm 1999, Thái Lan từ năm 2003 và Nam Dương từ năm 2004.

Năm 2005, đối với trước năm 1997, Nam Hàn đã có mức độ thu nhập đầu người 27% cao hơn, Thái Lan 12% cao hơn và Mã Lai 9 % cao hơn (Tài liệu: Bruno ROCHA:“At different Speeds: Recovering from the Asian Crisis“, ADB Institute Discussion Paper, No.60, March 2007).

Việc lấy lại nhanh chóng mức độ tăng trưởng cao đã tạo tin tưởng cho những nhà đầu tư quốc tế. Mức độ tăng trưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những nước này tăng trung bình 17,5% kể từ năm 1999, mặc dầu một phần đầu tư đã hướng về phía Trung quốc (Tài liệu: Janet YELLEN: “The Asian Financial Crisis Ten Years Later: Assessing the Past and Looking to the Future“, mimeo, February 2007). Cũng nên lưu ý rằng việc đầu tư ngoại quốc trực tiếp vào Nam Hàn, Mã Lai và Thái Lan có tính cách dài hạn hơn, trong khi ấy việc đầu tư vào Trung quốc có tính cách ngắn hạn nhằm khối người tiêu thụ khổng lồ của nước này.

Lấy lại mức tăng trưởng cũ và tiến nhanh đến mức độ cao đã có thể làm cho Nam Hàn, Thái Lan  thanh toán những món nợ vay từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF trước kỳ hạn dự trù. Ngay cả Nam Dương, mặc dầu hạn trả nợ dự trù vào năm 2010, nhưng nước này đã quyết định trả 3.2 tỉ Đo-la còn lại vào năm 2006 cho xong nợ.

Nếu sánh với cuộc Khủng hoảng Nợ nần của các nước Nam Mỹ năm 1980 làm tê liệt Kinh tế để rồi èo ọt phục sức cho đến ngày nay, thì  việc phục hồi Kinh tế sau Khủng hoảng Tài chánh 1997 của những nước Á châu là một phép lạ đối với những nhà quan sát Kinh tế quốc tế. Không những phục hồi sau khi tụt dốc sâu thẳm, mà những nước Á chấu này còn tiến mạnh hơn trước, đồng thời còn dư dật để trả nợ nần sòng phẳng trước hạn kỳ.

Đâu là những lý do cắt nghĩa việc phục hồi mau chóng và tiến mạnh của những nước Á châu sau Khủng hoảng ?

Trước hết việc phục hồi và tiến mạnh này không đến trực tiếp từ những Cải cách mà Quỹ Tiền Tệ Quốc tế ấn định cho những nước vay tiền. Thực vậy, những Cải cách trong nhiều lãnh vực còn được thực hiện chậm hơn việc phát triển Kinh tế. Những Cải cách ấn định từ IMF nhằm tính cách bền vững dài hạn hơn, trong khi ấy việc phục hồi Kinh tế là cấp thời trong đoản hạn. Về điểm này, chúng tôi sẽ bàn dài hơn trong đoạn sau.

Những nhà quan sát Kinh tế ghi nhận những yếu tố sau đây:

=> Hàng hóa sản xuất từ những nước này nhằm tiêu thụ ngắn hạn, không lệ thuộc chính yếu vào những đặt hàng dài hạn. Vì vậy việc sản xuất có thể lấy lại mau chóng.

=> Những hàng hóa ngắn hạn tùy thuộc vào sự khéo léo và tần tảo của nhân lực hơn là máy móc. Người ta đã ca tụng tính cách xoay xở (flexibilité) của nhân lực Á châu, nhất là nhân lực phụ nữ. Xin ca tụng đàn bà Á đông về sự tần tảo và can đảm làm việc. “Chết cha, thì ăn cơm với cá; chết mẹ thì liếm lá gặm xương“ nói lên sự xoay xở tần tảo của phụ nữ Á đông. Phát triển ngành May, Dệt Á đông là từ nhân lực phụ nữ.

=> Những nước này, nhất là Thái Lan và Nam Hàn làm việc chính yếu cho Thị trường tiêu thụ Hoa kỳ. Người ta lưu ý đặc biệt mối liên hệ giữa Thái Lan và Nam Hàn với Hoa kỳ ngay cả phương diện Chính trị. Mã Lai làm việc với Thị trường Mỹ về những linh kiện điện tử. Nam Dương phát triển chậm hơn vì lý do Tôn giáo sánh với những nước cùng bị khủng hoảng. Xin lưu ý một điểm nữa là một số hàng hóa được chuyển vào Thị trường Hoa kỳ và Aâu châu qua ngả Nhật và Đài Loan. Hai nước này được che chở bởi Hoa kỳ.

=> Những Cải tổ mà IMF ấn định có tính cách lâu dài, nhưng ảnh hưởng tức khắc và trực tiếp, đó là việc châm ngòi một phần vốn vay được vào nền Kinh tế sản xuất ngắn hạn. Đây là ảnh hưởng phục sức trực tiếp từ số vốn qua ngả Nhân Cấp số của Keynes (Multiplicateur kéneysien) mà chúng tôi đã giải thích trong bài thứ ba tuần trước. Có thể so sánh đây là việc châm nước biển vào cho người bệnh để lấy liền lại sức.


Thực hiện những cải cách
đòi buộc của IMF

Những đòi buộc Cải cách do IMF ấn định nhằm tính cách phát triển lâu dài và nhằm đề phòng những Khủng hoảng có thể trong tương lai giống như năm 1997. Những đòi hỏi Cải cách này quy tụ vào hai lãnh vực chính: (i) Thực hiện Cải cách Quản trị Xí nghiệp và (ii) Thực hiện Cải cách hệ thống Ngân Hàng và Thị trường Tài chánh.


Thực hiện Cải Cách Quản trị Xí nghiệp

Chúng tôi xin nhắc lại những đòi hỏi của IMF về lãnh vực này và những Cải cách đã thực hiện, dù chưa toàn vẹn, như sau:

1) Việc đầu tiên xử dụng vốn vay là giải quyết những trường hợp phá sản hoặc đang gặp khó khăn về tài chánh. Đây là việc ổn định những Công ty (Assainissement des Entreprises). Việc ổn định này có thể là việc nhập lại những Công ty. Những nước như Thái Lan, Nam Hàn đã thực hiện Cải cách này nhờ số vốn vay từ IMF.

2) IMF nhấn mạnh đến hệ thống luật pháp kỹ lưỡng về những trường hợp phá sản. Thực vậy có những trường hợp phá sản giả tạo, thiếu trong sáng về trách nhiệm, thiếu kiểm soát của Luật pháp chặt chẽ. Thái Lan và Nam Dương đã thực hiện bằng ra những Luật mới về phương diện này.

3) Về đòi hỏi tái tổ chức những nhóm lớn gia đình gặp những khó khăn vì sự liên hệ giữa những nhóm gia đình lớn và quyền lực chính trị. Tuy vậy IMF cổ võ việc tư nhân hoá những Công ty lớn có liên hệ với quyền lực chính trị. IMF nhấn mạnh đến việc quản trị lành mạnh những nhóm lớn này.

4 Việc quản trị lành mạnh và Hữu lý đòi hỏi tính cách căn cơ của Chi tiêu, nhất là về phương diện những Chi tiêu cố định. Một số Công ty chi tiêu cố định quá đáng trong mục đích tăng cường cái danh của Công ty mà không nhằm mục đích chính yếu của hoạt động Kinh tế là Lợi nhuận tối đa.  Đây là phương diện HỮU LÝ của giới quản trị xí nghiệp.

Nhận định về thực hiện cải cách cho những điểm trên đây, Bà Francoise NICOLAS viết như sau:“Des résultats lents mais relativement satisfaisants, ont été obtenus sur les deux premiers points, mais la réforme est encore loin d’être achevée pour ce qui concerne les deux derniers.“(Những kết quả chậm nhưng tương đối thỏa mãn, đã đạt được ở hai điểm đầu, nhưng việc cải cách còn xa chưa thực hiện được ở hai điểm cuối.)


Thực hiện Cải cách hệ thống Ngân Hàng và Thị trường Tài chánh

Về lãnh vực này, đã có những thực hiện cải cách cụ thể tại những quốc gia liên hệ đã có được như sau:

=> Về lãnh vực Ngân Hàng:

1) Chấm dứt tình trạng Ngân Hàng cho vay vốn dựa theo tính cách tình cảm gia đình không trong sáng. Chấm dứt tình trạng cho vay vốn cho những con nợ đáng nghi ngờ (créances douteuses), nhất là trong lãnh vực xây cất nhà cửa có tính cách dài hạn. Những con số cho thấy việc thực hiện cụ thể. Không phải chỉ ở những nước trực tiếp bị khủng hoảng, mà cả những quốc gia thuộc vùng Á đông này, các Ngân Hàng đã đồng loạt giảm những món cho vay nghi ngờ: trung bình, năm 1998 số cho vay nghi ngờ (créances douteuses) chiếm 30% tổng số cho vay và năm 2006 con số đó giảm xuống còn 6%. Về phương diện này, chính những Công ty cũng đã có khuynh hướng tự đầu tư (autofinancement). Bà Francoise NICOLAS nhận xét:“La faiblesse du crédit aux entreprises s’explique à la fois par la faiblesse de la demande due, on l’a vu, au rythme très ralenti de l’investissement, et à la volonté des entreprises de recourir plus systématiquement à l’autofinancement et par la prudence des banques qui veulent éviter le retour à la situation d’avant la crise.“ (Sự giảm sút tín dụng cho các Công ty tự cắt nghĩa một trật bởi sự giảm sút xin tín dụng, người ta nhận thấy, theo với đà giảm dần đầu tư, và theo với sự cố gắng của các Công ty muốn đi theo một cách hệ thống vào tự đầu tư, đồng thời bởi đề phòng mà các Ngân Hàng muốn tránh việc trở lại tình trạng của trước khủng hoảng). 

2) Ngân Hàng khi cho vay, phải theo dõi kiểm soát việc xử dụng đồng tiền. Không thể cho vay như thả cọp vào rừng mà không chút giây buộc để kiểm soát. Phải đòi buộc việc cho vay và việc xử dụng có sự trong sáng. Về phương diện này, các Ngân Hàng tăng cường kiểm soát việc tăng nợ nần của các Công ty. Nhưng việc thực hiện rõ hơn cả là thiết lập một Cơ cấu hợp nhất và độc lập về kiểm soát lãnh vực Ngân Hàng. Nam Hàn và Nam Dương đã thiết lập một Cơ quan kiểm soát hoàn toàn mới: năm 1998, Nam Hàn lập Financial Suipervisiory Service, năm 1999, Nam Dương ra Central Bank Act 1999 với cùng mục đích thanh tra.

3) Phải mở rộng lãnh vực Ngân Hàng đối với quốc tế. Về đòi hỏi này các nước Thái Lan, Nam Hàn và Nam Dương đã thực hiện liền ngay. “L’ouverture bancaire aux investisseurs étrangers a constitúe un élément essentiel de la réforme destinée à accroitre le degré de concurrence. Dans les pays sous programme du FMI (Corée, Indonésie et Thailande), les limites imposées à la participation  des investisseurs étrangers ont été levées au lendemain de la crise. (Francoise NICOLAS) (Mở rộng Ngân Hàng cho những nhà đầu tư nước ngoài đã tạo thành một yếu tố chính yếu của cải cách nhằm tăng độ cạnh tranh. Trong những quốc gia dưới chương trình của IMF (Đại Hàn, Nam Dương và Thai Lan), những hạn định cho việc tham dự của những nhà đầu tư nước ngoài đã được bỏ đi liền ngay sau khủng hoảng).

=> Về lãnh vực Thị trường Tài chánh :

Cổ võ việc tăng cường Thị trường Trái khoán, nhất là từ những Công ty lớn hơn là từ nhà nước mang nặng yếu tố Chính trị. Người ta nhận thấy có sự tiến triển thực hiện:

Thị trường Trái khóan tính theo % của thu nhập đầu người và chia theo nguồn phát hành Trái khoán như sau:
Năm 1997
Trái khoán Nhà Nước:Nam Dương 0.4%, Đại Hàn 4.9%, Mã Lai 19.4%,Thái Lan 0.2%
Trái khoán Xí nghiệp:Nam Dương 0.8%,Đại Hàn 10.3%, Mã Lai 20.8%,Thái Lan 6.0%
Trái khoán Tài chánh:Nam Dương 0.7%,Đại Hàn 10.0%,Mã Lai 16.8%, Thái Lan  0.9%
Năm 2004
Trái khoán Nhà Nước:Nam Dương 20.1%,Đại Hàn 25.2%,Mã Lai 38.2%,Thái Lan 22.4%
Trái khoán Xí nghiệp: Nam Dương1.5%, Đại Hàn 23.3%, Mã Lai 38.0%, Thái Lan 12.3%
Trái khoán Tài chánh: Nam Dương1.1%, Đại Hàn 34.9%, Mã Lai 13.9%,Thái Lan  6.4%

Sư tăng trưởng Trái khoán làm giảm sự bấp bênh của Thị trường Tài chánh.


Những nguy hiểm khủng hoảng
chưa tẩy trừ hết

Ở đoạn phân tích thứ nhất của bài này, chúng ta thấy sau cuộc Khủng hoảng 1997, bốn nền kinh tế liên hệ đã lấy lại nhanh chóng mức tăng trưởng trước năm 1997 và từ đó hiện giờ đang có sự tăng trưởng cao. Nhưng nếu phân tích kỹ, thì việc lấy lại độ tăng trưởng đến trực tiếp từ việc châm vốn của IMF qua Nhân cấp số Keynes (Multiplicatuer keynésien).

Những đề nghị cải cách của IMF đã được thực hiện chính yếu về hệ thống Ngân Hàng và mang tính cách đề phòng. Tuy nhiên, những nguy hiểm khủng hoảng vẫn chưa được tẩy trừ hết, hay nói cách khác, những nguy hiểm khủng hoảng còn hiện diện ở tình hình Kinh tế mới.

Trong việc phát triển Kinh tế, người ta phân biệt 3 mức độ: (i) mức độ những Quốc gia mà Dân vừa thoát khỏi cảnh nghèo đói; (ii) mức độ những Quốc gia mà Dân mới có số thu nhập trung gian đủ sống; (iii) mức độ những Quốc gia mà Dân có số thu nhập cao.

Đối với 4 nước Á đông liên hệ trong cuộc khủng hoảng, Mã Lai và Thái Lan mới ở mức độ (ii), nghĩa là đa số Dân có số thu nhập trung gian đủ sống; Nam Dương chỉ có một phần Dân lên tới mức thu nhập đủ sống, còn một số vẫn trong cảnh nghèo đói; Nam Hàn chưa tiến hẳn lên mức (iii), nghĩa là Dân có số thu nhập cao.

Để có thể lên tới mức (iii), nền Kinh tế phải đầu tư chính yếu vào những sản xuất kỹ thật dài hạn. Nam Hàn đang cố gắng để thoát khỏi mức độ thu nhập trung gian để vươn lên mức độ thu nhập cao.

Trong Báo Cáo về Kinh tế của những nước trong vùng, Ngân Hàng Thế Giới (2006) đã nhận định: “La Banque Mondiale (2006) souligne la difficulté que des économies à revenu intermédiaire peuvent avoir à accéder au statut d’économie à reveu élevé. Le principal défi pour les éconmies comme la Malaisie, la Thailande et l’Indonésie, est de parvenir à quitter le statut d’economie à revenu intermédiaire. L’histoire montre en effet que si beaucoup de pays pauvres ont réussi à accéder au rang d’économie à revenu intermédiaire, assez peu sont ensuite parvenus à celui de pays à revenu élevé. Pour cela, un pays doit se spécialiser davantage dans certains domaines òu il peut réaliser des économies d’échelle tout en s’imposant comme un leader au plan technologique. (Ngân Hàng Thế Giới (2006) nhấn mạnh đến sự khó khăn là những nền kinh tế có số thu nhập trung gian có thể tiến tới  một nền kinh tế có số thu nhập cao. Điều thách thức chính yếu cho những nền Kinh tế như Mã Lai, Thái Lan và Nam Dương là làm thế nào thoát được khỏi nền kinh tế có số thu nhập trung gian. Thực vậy, Lịch sử cho thấy rằng nếu nhiều nước nghèo đã thành công trong việc tiến tới nền kinh tế có số thu nhập trung gian, thì rất ít nước đã có thể tiến tới nền kinh tế có số thu nhập cao. Để có thể làm điều này, một nước phải chuyên biệt nhiều hơn về một số phạm vi mà nước ấy có thể thực hiện nền Kinh tế cấp thang, đồng thời trở nên lãnh đạo về kỹ thuật).

Sau nhận định tổng quát như vậy của Ngân Hàng Thế Giới, chúng ta có thể đề cập đến những bấp bênh khủng hoảng như sau của những nước như Thái Lan, Mã Lai và Nam Dương:

=> Về phương diện sản xuất hàng hóa.

Nền Kinh tế của những nước này quy tụ chính yếu vào hàng nông nghiệp và những hàng tiêu dụng ngắn hạn hoặc làm thuê những linh kiện cho những Xí nghiệp ở các Quốc gia đã đạt tới số thu nhập cao.

=> Về mặt Thị trường tiêu thụ

Hàng hóa của những nước này tùy thuộc vào Thị trường tiêu thụ nước ngoài, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu. Những Thị trường này có thể thay đổi vì những hàng hóa không phải là thiết cần chính yếu mà là tùy thuộc vào khuynh hướng tiêu thụ có thể biến đổi.

=> Về phương diện cạnh tranh

Trong bản Báo Cáo của Ngân Hàng Thế Giới, chúng ta thấy rằng một số lớn những Quốc gia có thể thoát ra khỏi cảnh nghèo đói và tiến tới nền kinh tế với số thu nhập trung gian, nghĩa là những nước này có thể là cạnh tranh ngang hàng với Thái Lan, Mã Lai và Nam Dương. Khuynh hướng hiện nay trên Thế Giới là các nước tập trung vào những vùng Kinh tế, những Thị trường lớn: Thị trường Bắc Mỹ (Hoa kỳ), Thị trường Liên Aâu và Thị trường Thái Bình Dương.

* Tại Thị trường Bắc Mỹ: sau khủng hoảng nợ nần năm 1980, Nam Mỹ, nhất là Ba Tây, là cạnh tranh trong Thị trường này. Nam Mỹ ở gần kề và còn nhiều nguyên vật liệu, yếu tố làm hạ giá thành.

* Tại Thị trường Liên Aâu: những nước Đông Aâu, sau sụp đổ của Cộng sản, tổ chức lại nền Kinh tế. Những nước này lại đứng trong Liên Aâu. Họ có những ưu điểm cạnh tranh. Ngoài những nước Đông Aâu, một số nước Phi châu đang tiến triển và có nhiều liên hệ lịch sử với Liên Aâu (Pháp, Anh).

* Tại Thị trường Thái Bình Dương: Những hàng sản xuất của các nước tương tự như nhau. Nhưng sức cạnh tranh quyết liệt hơn cả là Trung quốc nằm ngay trong vùng.


Francoise NICOLAS đặt câu hỏi: “Les réformes mises en oeuvre ont-elles éliminé tout risque à l’avenir ? Chắc chắn câu trả lời là “Non“


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 28.11.2007
=========================



                                                 ĐỂ ĐOÀN KẾT,
                               PHẢI CÓ CÙNG MỤC ĐÍCH SÁNG TỎ



                                             NGUYỄN PHÚC LIÊN



Cộng Đồng người Việt Hải ngoại đấu tranh nhằm MỤC ĐÍCH tẩy trừ Độc tài CSVN. Trong Cộng Đồng, có những Nhóm Chính trị, có những Đoàn Thể khác nhau. Để có thể đi đến Đoàn Kết, những Nhóm Chính Trị, những Đoàn Thể tham dự cuộc đấu tranh chung phải hết sức sáng tỏ trong Lập trường nhằm cùng một MỤC ĐÍCH mà làm việc.

Có hai điều mà Việt Tân đã trở thành nguồn nghi kỵ, làm mất sự Hợp tác, đó là: (i) Việt Tân tìm cách cho người của mình vào các Đoàn Thể khác để nắm lấy giống như CSVN thường làm; (ii) Đồng thời Lập trường Chính trị của Việt Tân không sáng tỏ, nếu không nói là lươn lẹo mập mờ có thể hiểu như ve vãn CSVN để mong hợp tác với độc tài theo cơ hội chủ nghĩa nhẩy bàn độc.

Tôi có những người bạn Việt Tân tại Địa phương mà tôi biết chắc tinh thần chống độc tài CSVN rất dứt khoát. Vì vậy sự lươn lẹo mập mờ có thể nói là ở cấp Lãnh đạo Trung ương Việt Tân như nhằm nhẩy bàn độc, bất chấp tinh thần của một số Địa phương.

Những bài góp ý về Việt Tân mà chúng tôi phổ biến nhằm thiện ý xây dựng cho Lãnh đạo Việt Tân Trung ương trong ý hướng tránh những nguồn nghi kỵ và tạo sự đoàn kết của Cộng Đồng với MỤC ĐÍCH sáng tỏ là tẩy trừ Độc tài CSVN.

 



VIỆT TÂN:
ĐÁNH LẬN CON ĐEN

 

Lời giới thiệu của NGUYỄN PHÚC LIÊN:

Oâng KIÊN SONG đã gợi ý ra ba câu hỏi chính. Chúng tôi đã hứa đóng góp ý kiến theo gợi ý ba câu hỏi ấy. Hôm thứ Hai 27.11.2007, chúng tôi mới góp ý theo câu hỏi gợi ý thứ nhất. Còn hai câu hỏi gợi ý nữa.

Dựa vào những vụ việc xẩy ra cụ thể đã qua do Việt Tân đã làm, thúng tôi nói rằng Chính trị của Việt Tân lươn lẹo mập mờ khiến tạo ra những nghi kỵ trong hàng ngũ của lực lượng đấu tranh của chúng ta nhằm lật đổ độc tài CSVN. Thực vậy, khi Lập trường Chính trị không trong sáng với mục đích rõ rệt, thì khó lòng tạo sự đoàn kết thực sự. Việc đoàn kết không đến từ những hô hào lớn tiếng, từ những kêu gọi tinh thần, mà chính yếu đến từ sự cùng chung một MỤC ĐÍCH làm việc. Ngay cả những cá nhân có những mối thù riêng tư, nhưng nếu họ thấy cùng một MỤC ĐÍCH làm việc, họ có thể hợp tác với nhau để đạt mục đích.

Khi viết về Chính trị lươn lẹo mập mờ của Việt Tân như vậy, thì có độc giả hoặc là đảng viên Việt Tân, hoặc là cảm tình viên, đã dùng những từ không được mỹ miều cho lắm đối với chúng tôi. Điều ấy không sao ! Các độc giả đọc bài sẽ phán định.Tuy nhiên nhiều khi vì những lời chống đỡ của cảm tình viên Việt Tân với lờ lẽ như mạ lỵ khiến người viết càng thêm ghét Việt Tân và càng đào sâu hơn vào những lươn lẹo của Việt Tân.

Để rộng đường thẩm định cho độc giả, hôm nay 28.11.2007, tôi phổn biến ở đây dư luận về Việt Tân mà đồng bào tại Uùc Châu, vốn thắc mắc về Lập trường Chính trị lươn lẹo không minh bạch của Việt Tân, đã chất vấn Oâng chủ tịch ĐỖ HOÀNG ĐIỀM tại cuộc gặp gỡ ở Uùc Châu trong những ngày gần đây.

Sau việc phổ biến những ý kiến này từ Uùc châu, chúng lại xin phép trở lại hai câu hỏi gợi ý của Oâng KIÊN SONG để trả lời.

NGUYỄN PHÚC LIÊN

 

Việt Tân đã công khai từ bỏ
mục tiêu chấm dứt chế độ CS


Trong buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch đảng VT, tại Sydney, đại diện báo Sàigòn Times có hỏi ông, "Trong phần hỏi đáp trên website của đảng VT có đoạn nguyên văn như sau: Đảng Việt Tân là một tổ chức đấu tranh mang đặc tính cách mạng với mục tiêu lâu dài là canh tân Việt Nam. Nhưng muốn canh tân thì phải chấm dứt chế độ Việt cộng trước. Vì thế mà Đảng Việt Tân đã hoạt động bên trong Mặt Trận để thực hiện mục tiêu chấm dứt chế độ Việt cộng trong suốt hai thập niên vừa qua. Thưa ông ĐHĐ, nội dung của đoạn văn trên cho thấy, chính đảng VT đã xác nhận rõ ràng, mục tiêu của đảng VT là để canh tân VN. Còn mục tiêu của Mặt Trận là để chấm dứt chế độ VC. Như vậy, tại sao hiện nay, trong khi VC vẫn tồn tại, thì quý vị lại quyết định giải tán Mặt Trận? Phải chăng giải tán MT như vậy là quý vị đã từ bỏ mục tiêu chấm dứt chế độ VC? Và trong khi một mặt giải tán MT, mặt khác, công khai hóa VT là qúy vị đã sẵn sàng chấp nhận sự hiện hữu của VC, và chỉ còn theo đuổi mục tiêu canh tân VN?"

Nguyên văn câu trả lời của ông ĐHĐ đã được Sàigòn Times đăng trong số báo tuần trước (SGT 537), trang 55. Đọc câu trả lời của ông, người đọc đều nhận thấy ông đã quanh co, né tránh và dài dòng trình bầy nhiều điểm không liên quan đến câu hỏi. Đặc biệt, câu trả lời của ông còn chứng tỏ, ông đã không nắm vững sự thật, hoặc bao che một sự thật nghiêm trọng: Việt Tân đã công khai từ bỏ mục tiêu chấm dứt chế độ CS!

Tại sao ta có thể nói như vậy? Bằng chứng là chính website của đảng Việt Tân, trong phần hỏi đáp về sự khác biệt giữa Việt Tân và Mặt Trận, đã ghi rõ mấy điểm chính yếu cho thấy đảng Việt Tân đã công khai hoá sự thật quan trọng này. Cụ thể, thứ nhất, về tổ chức, website của Việt Tân xác nhận, trong khi Việt Tân là chính đảng, thì Mặt Trận "là một trận tuyến đấu tranh, quy tụ những đoàn thể, đảng phái, tổ chức cùng chia sẻ một mục tiêu đấu tranh chung". Thứ hai, về mục tiêu, website của Việt Tân xác nhận, "Mặt Trận đã được thành lập trong giai đoạn chiến tranh lạnh với mục tiêu đấu tranh rõ rệt là vận động toàn dân tổng nổi dậy lật đổ chế độ Việt cộng". Còn đảng Việt Tân "là một tổ chức đấu tranh mang đặc tính cách mạng với mục tiêu lâu dài là canh tân Việt Nam". Thứ ba, website của Việt Tân xác nhận, "muốn canh tân thì phải chấm dứt chế độ Việt cộng trước, vì thế mà Đảng Việt Tân đã hoạt động bên trong Mặt Trận để thực hiện mục tiêu chấm dứt chế độ Việt cộng trong suốt hai thập niên vừa qua".

Từ ba điểm quan trọng trên, có mấy câu hỏi cần được đặt ra. Một, tại sao Việt Tân đã phân nhiệm mục tiêu đấu tranh rõ rệt cho Mặt Trận là "vận động toàn dân tổng nội dậy lật đổ chế độ VC", nay mục tiêu đó chưa hoàn thành, chế độ VC vẫn còn tồn tại, Việt Tân lại quyết định giải tán Mặt Trận? Rõ ràng, qua những gì được trình bầy trên website, người đọc có thể đi đến kết luận, Việt Tân khi quyết định giải tán MT, là Việt Tân đã công khai từ bỏ mục lật đổ chế độ VC!!! Hiển nhiên, một khi đã "công khai" có nghĩa, trên thực tế, Việt Tân đã ngấm ngầm huỷ bỏ mục tiêu lật đổ chế độ VC từ lâu. Có điều "từ lâu" là từ bao giờ thì chỉ có TƯĐVT mới có thể trả lời.

Hai, Việt Tân xác nhận "muốn canh tân thì phải chấm dứt chế độ Việt cộng trước, vì thế mà Đảng Việt Tân đã hoạt động bên trong Mặt Trận để thực hiện mục tiêu chấm dứt chế độ Việt cộng". Vậy thì tại sao hiện nay, khi chế độ VC chưa chấm dứt, đảng Việt Tân lại không tiếp tục hoạt động bên trong Mặt Trận, mà lại giải tán Mặt Trận? Và tại sao khi đã thừa nhận "muốn canh tân thì phải chấm dứt chế độ Việt cộng trước", Việt Tân hiện nay lại chủ trương chấp nhận canh tân trong khi chế độ CSVN vẫn còn tồn tại?

Ba, tại sao Mặt Trận "quy tụ những đoàn thể, đảng phái, tổ chức cùng chia sẻ một mục tiêu đấu tranh chung", và Việt Tân, có những dị biệt về thành phần tổ chức, "nhưng lãnh đạo Việt Tân và lãnh đạo Mặt Trận là một"??? Nếu quả thật MT "quy tụ những đoàn thể, đảng phái, tổ chức cùng chia sẻ một mục tiêu đấu tranh chung", thì quyết định giải tán MT, hay ngưng các hoạt động của MT đã được đưa ra bàn thảo, quyết định và thông qua chưa? Nếu có thì khi nào, ở đâu? Đồng bào hải ngoại, những người đã đóng góp tiền của, công sức cho MT suốt mấy chục năm qua, có được MT phổ biến về những quyết định quan trọng này không?

http://tinucchau.bravejournal .com/entry/21836 
 


Việt Tân đưa tin sai lạc lời
của BS Nguyễn Mạnh Tiến


SYDNEY: Trong buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch đảng Việt Tân, tại Sydney, ngày 4 tháng 11 vừa qua, BS Nguyễn Mạnh Tiến, Chủ tịch CĐNVTD Liên Bang Úc Châu, đã phát biểu một cách thẳng thắn, rõ ràng về quan điểm, lập trường của CĐNVTD/UC; đồng thời BS cũng đã chân thành và thân mật tâm tình về những suy tư về Việt Tân, cùng niềm hy vọng của BS đối với chuyến công tác Úc Châu của ông Đỗ Hoàng Điềm (nguyên văn bên phải phần trên). Tuy nhiên, khi đảng Việt Tân loan tin về buổi nói chuyện, đã tường thuật hoàn toàn sai lạc lời của BS Nguyễn Mạnh Tiến (nguyên văn bên phải phần dưới). Hậu quả đã dẫn đến những phản ứng sâu rộng trong các hội đoàn, đoàn thể, cũng như đông đảo người Việt tại Úc.

Sau đây là nguyên văn thắc mắc của một thính giả đài 2VNR ngày 09-11-2007 lúc 20 giờ.

Nữ thính giả đặt câu hỏi: Theo như tôi theo dõi trên báo chí thì thấy Bs đã có những cái nhận định và những cái suy nghĩ trong cái buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm vừa qua, thì theo như tôi đọc được cái bản tường trình trên Webside VT đó thì Bs có những cái chia sẻ những ngộ nhận của đồng bào đối với VT về những cái chuyện làm của VT đã qua vậy đó. Điển hình là VT kêu gọi người tỵ nạn CS về VN làm ăn buôn bán hay là đào kinh vét mương, xây trường học vậy đó. Thì xin hỏi Bs là có phải Bs cũng chia sẻ những ngộ nhận của đồng bào đối với việc làm của VT không? như là cái bản tường trình của VT có nghĩa là dồng nghĩa là Bs tán đồng và ủng hộ những cái chủ trương cộng tác hay là hòa hợp hòa giải của đảng VT hay không ạ. Xin Bs cho ý kiếân, cám ơn Bs.

BS Tiến trả lời: Vâng thì nếu mà những người có đi tham dự cái buổi nói chuyện của ông ĐHĐ và có nghe những lời phát biểu của tôi đó thì có lẽ rằng sẽ rõ cái lập trường của cá nhân tôi cũng như là của chung CĐ NVTD Liên bang Úc châu. Thì trong cái lời phát biểu của tôi đó thì tôi có nói rất rõ. Thứ nhất: là cái lập trường của CĐ Úc Châu của chúng ta là trước sau như một, luôn luôn chúng ta chống tuyệt đối, chống triệt để cái chế độ độc tài CSVN, do biết là cái chế độ này, nó xảo trá và nó gian manh, cho nên không bao giờ chúng tôi chấp nhận bất cứ một hình thức hòa hợp, hòa giải, công tác hay đối thoại nào, khi nào chế độ CSVN còn hiện hữu, và chúng tôi cũng nêu lên một cách thẳng thắn về những cái nghi ngờ, những nghi vấn, những lời dị nghị, những cáo buộc mà nhiều đoàn thể chũng như đồng hương ở trong cộng đồng có với đảng VT, và chúng tôi nói nhân có cái ông đảng trưởng ở đây thì chúng tôi yêu cầu rất rõ là ông phải làm thế nào để mà giải tỏa những cái thắc mắc đó, đánh tan tất cả những cái cáo buộc đó, để mà có thể tiếp tục đồng hành với tổ chức CĐ/NVTD Úc Châu như những đoàn thể, hội đoàn thực sự yếu nước ở trong CĐ mà làm cái công việc tiếp tục tranh bđấu cho tự do, dân chủ cho VN, thì cái lập trường của chúng tôi, cái lời tuyên bố của chúng tôi rất rõ. Chúng tôi không hề chia sẻ như là cái bản tin của VT, bản tin VT tôi cũng không được đọc mà tôi cũng nghe người ta nói như vậy. Nếu gọi là chia sẻ những ngộ nhận, có nghĩa là chúng tôi công nhận những điều ấy là ngộ nhận, thì chúng tôi không có công nhận như vậy là bởi vì cho đến giờ phút này, những điều cáo buộc, những điều nghi ngờ đó, theo chúng tôi thì bước qua buổi nói chuyện của ông ĐHĐ vẫn chưa hề được giải tỏa. Tại vì ông ấy chỉ nói là không, không có những chuyện đó, không có chuyện hòa hợp, hòa giải, không có chuyện kêu gọi người ta về nước tham gia cái này cái kia. Thì nếu mà gọi chối bỏ là giải tỏa thì cái điều này để cho đồng hương, hay là mọi người tự nhận xét. Theo chúng tôi thì nó không phải là giải tỏa.

Hoàng Nam: Điều đó có nghĩa là Bs không có ngộ nhận gì cả?

Bs Tiến: Dạ không, chúng tôi ở trong cái cương vị của chúng tôi là chúng tôi nêu ra những nghi ngờ, những thắc mắc, những cáo buộc, những dị nghị, phản ảnh những chuyện đó từ đồng hương, từ đoàn thể, đó là công việc của chúng tôi.

Hoàng Nam: Thưa Bs, những cái lời nêu ra của Bs trong cái buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm thì ông ĐHĐ trả lời với Bs như thế nào?

Bs Tiến: Thì như tôi nói đó, ông ĐHĐ chỉ nói là không, không phải như thế đâu, người ta hiểu nhầm chúng tôi, chúng tôi không có những chuyện đó. Nhưng mà theo tôi hiểu, như vậy thì cũng chẳng giải tỏa được cái gì, nó chỉ là chối bỏ mà thôi, không đi đến đâu cả.

Hoàng Nam: Vâng, Hoàng Nam hiểu được ý của vị nữ thính giả vừa đặt câu hỏi, thì trong cái bản tin mà VT đăng đi tổng kết cái buổi nói chuyện của ông ĐHĐ, Chủ Tịch đảng VT nhân dịp chuyến viếng thăm Úc Châu thì Hoàng Nam cũng có nhận được bản tin đó. Thì trong đó đại khái nói là “Riêng Bác sĩ Chủ Tịch Liên Bang đã bày tỏ sự chia sẻ với Việt Tân về những ngộ nhận về Việt Tân trong thời gian qua và hy vọng rằng buổi nói chuyện hôm nay của Ông Chủ Tịch Đỗ Hoàng Điềm sẽ giải tỏa được tất cả”. Đó là lý do vì sao mà thính giả, đồng hương ở đây người ta thắc mắc.

Bs Tiến: Thì tôi có nói thế này, tôi mong rằng, tôi mong rằng tất cả những nghi vấn, những dị nghị, những cáo buộc đó chỉ là ngộ nhận. Tại sao tôi lại mong như thế, bởi vì trong cái cuộc tranh đấu chung này mình không muốn mất ai cả. Nếu những cáo buộc đó là thật thì mình mất một người đồng hành. Đó là lý do tại sao tôi mong, tôi mong nhưng không phải là tôi tin nhé, tôi mong thôi, tôi nói rất rõ, tôi nghĩ là ngôn ngữ của tôi rất clear.
*

Được biết, ngày Thứ Ba, 6 tháng 11, bản tin của Việt Tân tường thuật buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm, đã được ông Lê Ánh, Trưởng cơ sở đảng Việt Tân tại Sydney, gửi tới hàng trăm địa chỉ email trong đó có các vị lãnh đạo cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể, truyền thông tại Úc. Ngoài ra, bản tin đó cũng đã được đưa lên website của Việt Tân ngày 7 tháng 11.

Hiểu rõ, trong số những dị nghị chỉ trích đảng Việt Tân của CĐ người Việt hải ngoại trên khắp thế giới, có những dị nghị chỉ trích "xuất phát từ những sự kiện cụ thể đã xảy ra trên thực tế", đồng thời là một lãnh đạo cộng đồng liên bang vững vàng lập trường, nên trong buổi nói chuyện có mặt ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch đảng Việt Tân, thay vì phát biểu một bài diễn văn thuần tuý nghi lễ, BS Nguyễn Mạnh Tiến đã có một bài diễn văn rất chặt chẽ, mạch lạc, thẳng thắn và đầy đủ ý nghĩa. Chỉ trong thời gian ngắn gọn có vài phút đồng hồ, BS đã nêu lên được 5 điểm quan trọng. Thứ nhất, BS nhấn mạnh, sức mạnh đấu tranh của cộng đồng người Việt tự do tại Úc có được là nhờ cơ chế thống nhất, làm việc dân chủ, đoàn kết, và đặc biệt nhờ sự vô tư và độc lập của CĐ đối với các tổ chức tôn giáo và chính trị. Thứ hai, BS ghi nhận những đóng góp của anh em đảng VT tại Úc. Thứ ba, BS tái khẳng định lập trường chính trị minh bạch, trước sau như một của CĐNVTD Úc Châu Liên bang và các Tiểu bang, Lãnh thổ là không chấp nhận chế độ CSVN, và "nỗ lực vận động bằng mọi cách để giải thể chế độ CSVN, phục hồi tự do, dân chủ và nhân quyền cho tổ quốc và nhân dân VN". BS cũng một lần nữa minh định, "CĐNVTD Úc Châu không chấp nhận việc hòa hợp hòa giải, cộng tác với cái chế độ gian xảo và lưu manh đó dưới bất cứ hình thức nào". Thứ tư, BS thẳng thắn thừa nhận, trong thời gian qua, trong cộng đồng người Việt hải ngoại đã có nhiều lời dị nghị, chỉ trích đảng VT, trong đó có những dị nghị, chỉ trích phát xuất từ những sự kiện cụ thể đã xảy ra trên thực tế. Và thứ năm, BS đề nghị, ông ĐHĐ trong chuyến viếng thăm Úc Châu lần này, cần "làm sáng tỏ những nghi vấn, giải đáp thoả đáng những thắc mắc, và khẳng định rằng đảng VT vẫn giữ lập trường trước đây là tranh đấu triệt để chống độc tài CSVN, không tìm cách hợp tác, chia chác quyền lực với CS như những lời cáo buộc".

Hiển nhiên, nội dung bài diễn văn của BS Chủ tịch Nguyễn Mạnh Tiến rất trong sáng, rõ ràng và chân thành. Bài diễn văn đó đã thể hiện đầy đủ những suy tư, nguyện vọng cùng lập trường trước sau như một của đông đảo người Việt yêu tự do tại Úc, và có thể nói trên toàn thế giới. Tuy nhiên, qua cách hành xử của ông Đỗ Hoàng Điềm trong buổi nói chuyện tại Sydney, cũng như tại Brisbane, nhiều người đã thất vọng khi thấy rõ thái độ né tránh, tảng lời, nguỵ biện của ông. Qua các sự kiện cụ thể đã xảy ra trên thực tế, đông đảo người Việt tại Úc có quyền nghi ngờ lập trường của đảng VT, có quyền cho rằng VT đang chệch hướng, có quyền tin VT đang hoà hợp hoà giải với CS, có quyền cho rằng VT đang tìm cách hợp tác chia chác quyền lực với CS,... Vậy mà ông Đỗ Hoàng Điềm đã quên mất vai trò quan trọng của một chủ tịch đảng trong việc giành lại niềm tin của đồng bào, cố tình tảng lờ những đòi hỏi (hay nói đúng hơn, những lời cố vấn, khuyên nhủ, gợi ý tế nhị) hợp tình và hợp lý của BS Chủ tịch Nguyễn Mạnh Tiến, "Trong chuyến đi Úc Châu lần này của ông ĐH Điềm, người Việt tại đây đang chờ đợi ông làm sáng tỏ những nghi vấn, giải đáp thỏa đáng những thắc mắc, và khẳng định rằng đảng VT vẫn giữ lập trường trước đây là tranh đấu triệt để chống độc tài CSVN, không tìm cách hợp tác, chia chác quyền lực với CS như những lời cáo buộc." Thay vì vậy, ông ĐHĐ lại dùng kiến thức phù phiếm và sự ba hoa của mình để nói chuyện ai cũng biết và biết từ khuya, như tại sao CSVN cai trị đất nước suốt 32 năm qua; ông khoác lác bàn về một giải pháp đấu tranh bất bạo động đã có cả thế kỷ, và mọi người đã chấp thuận cả mấy thập niên; ông còn huênh hoang kể về những chuyện chính ông cũng không hiểu tại sao, như chuyện ông được TT Bush tiếp kiến; rồi ông kêu gọi người Việt hải ngoại làm những chuyện lạ lùng, như gửi tiền về VN, cứ mỗi 100 Mỹ kim sẽ có được một người dân đi khiếu kiện;...

Trong lúc Chủ tịch Đỗ Hoàng Điềm tiếp tục sai lầm và tiếp tục sa lầy trong trong chuyến công tác Úc Châu, thì đảng Việt Tân cho phổ biến bản tin về buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm, trong đó có câu tường thuật sai nghiêm trọng lời phát biểu của BS Nguyễn Mạnh Tiến. Hiển nhiên, sự sai sót này không phải vô tình, mà do cố ý, với mục đích đánh lạc hướng dư luận, khiến người đọc hiểu trái ngược ý quan trọng BS Tiến muốn nói.

Nhận thấy nhu cầu cần làm sáng tỏ vấn đề, ngày 7 tháng 11, BS Nguyễn Mạnh Tiến đã gửi emal cho đông đảo quý vị lãnh đạo, đại diện cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể và truyền thông tại Úc, trong đó có đính kèm bài diễn văn của BS. Tuy nhiên cho đến tối Thứ Ba, 13 tháng 11, Sàigòn Times vẫn không hề nhận được bất cứ bản tin đính chính nào từ ông Lê Ánh, Trưởng cơ sở Việt Tân Sydney và là người đã gửi bài tường thuật của Việt Tân. Không những thế, cho đến tối Thứ Ba, 13 tháng 11, Sàigòn Times cũng không thấy bất cứ phần đính chính nào trên website của đảng Việt Tân, trong khi bài tường thuật với những câu xuyên tạc lời của BS Tiến, vẫn được giữ nguyên.

Trước việc làm xuyên tạc, và thái độ trắng trợn cưỡng từ đoạt lý của Việt Tân, người Việt bỗng nhớ đến câu tục ngữ "gần mực thì đen, gần đèn thì rạng". Phải chăng, sau thời gian "tiếp cận" với CSVN để đào mương đào giếng, Trung Ương đảng VT đã lây nhiễm được lối làm việc xuyên tạc và thái độ trắng trợn cưỡng từ đoạt lý của chế độ CS???

http://tinucchau.bravejournal.com/entry/21835


Việt Tân đưa tin sai lạc lời
của BS Nguyễn Mạnh Tiến

SYDNEY: Trong buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch đảng Việt Tân, tại Sydney, ngày 4 tháng 11 vừa qua, BS Nguyễn Mạnh Tiến, Chủ tịch CĐNVTD Liên Bang Úc Châu, đã phát biểu một cách thẳng thắn, rõ ràng về quan điểm, lập trường của CĐNVTD/UC; đồng thời BS cũng đã chân thành và thân mật tâm tình về những suy tư về Việt Tân, cùng niềm hy vọng của BS đối với chuyến công tác Úc Châu của ông Đỗ Hoàng Điềm (nguyên văn bên phải phần trên). Tuy nhiên, khi đảng Việt Tân loan tin về buổi nói chuyện, đã tường thuật hoàn toàn sai lạc lời của BS Nguyễn Mạnh Tiến (nguyên văn bên phải phần dưới). Hậu quả đã dẫn đến những phản ứng sâu rộng trong các hội đoàn, đoàn thể, cũng như đông đảo người Việt tại Úc.

Sau đây là nguyên văn thắc mắc của một thính giả đài 2VNR ngày 09-11-2007 lúc 20 giờ.

Nữ thính giả đặt câu hỏi: Theo như tôi theo dõi trên báo chí thì thấy Bs đã có những cái nhận định và những cái suy nghĩ trong cái buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm vừa qua, thì theo như tôi đọc được cái bản tường trình trên Webside VT đó thì Bs có những cái chia sẻ những ngộ nhận của đồng bào đối với VT về những cái chuyện làm của VT đã qua vậy đó. Điển hình là VT kêu gọi người tỵ nạn CS về VN làm ăn buôn bán hay là đào kinh vét mương, xây trường học vậy đó. Thì xin hỏi Bs là có phải Bs cũng chia sẻ những ngộ nhận của đồng bào đối với việc làm của VT không? như là cái bản tường trình của VT có nghĩa là dồng nghĩa là Bs tán đồng và ủng hộ những cái chủ trương cộng tác hay là hòa hợp hòa giải của đảng VT hay không ạ. Xin Bs cho ý kiếân, cám ơn Bs.

BS Tiến trả lời: Vâng thì nếu mà những người có đi tham dự cái buổi nói chuyện của ông ĐHĐ và có nghe những lời phát biểu của tôi đó thì có lẽ rằng sẽ rõ cái lập trường của cá nhân tôi cũng như là của chung CĐ NVTD Liên bang Úc châu. Thì trong cái lời phát biểu của tôi đó thì tôi có nói rất rõ. Thứ nhất: là cái lập trường của CĐ Úc Châu của chúng ta là trước sau như một, luôn luôn chúng ta chống tuyệt đối, chống triệt để cái chế độ độc tài CSVN, do biết là cái chế độ này, nó xảo trá và nó gian manh, cho nên không bao giờ chúng tôi chấp nhận bất cứ một hình thức hòa hợp, hòa giải, công tác hay đối thoại nào, khi nào chế độ CSVN còn hiện hữu, và chúng tôi cũng nêu lên một cách thẳng thắn về những cái nghi ngờ, những nghi vấn, những lời dị nghị, những cáo buộc mà nhiều đoàn thể chũng như đồng hương ở trong cộng đồng có với đảng VT, và chúng tôi nói nhân có cái ông đảng trưởng ở đây thì chúng tôi yêu cầu rất rõ là ông phải làm thế nào để mà giải tỏa những cái thắc mắc đó, đánh tan tất cả những cái cáo buộc đó, để mà có thể tiếp tục đồng hành với tổ chức CĐ/NVTD Úc Châu như những đoàn thể, hội đoàn thực sự yếu nước ở trong CĐ mà làm cái công việc tiếp tục tranh bđấu cho tự do, dân chủ cho VN, thì cái lập trường của chúng tôi, cái lời tuyên bố của chúng tôi rất rõ. Chúng tôi không hề chia sẻ như là cái bản tin của VT, bản tin VT tôi cũng không được đọc mà tôi cũng nghe người ta nói như vậy. Nếu gọi là chia sẻ những ngộ nhận, có nghĩa là chúng tôi công nhận những điều ấy là ngộ nhận, thì chúng tôi không có công nhận như vậy là bởi vì cho đến giờ phút này, những điều cáo buộc, những điều nghi ngờ đó, theo chúng tôi thì bước qua buổi nói chuyện của ông ĐHĐ vẫn chưa hề được giải tỏa. Tại vì ông ấy chỉ nói là không, không có những chuyện đó, không có chuyện hòa hợp, hòa giải, không có chuyện kêu gọi người ta về nước tham gia cái này cái kia. Thì nếu mà gọi chối bỏ là giải tỏa thì cái điều này để cho đồng hương, hay là mọi người tự nhận xét. Theo chúng tôi thì nó không phải là giải tỏa.

Hoàng Nam: Điều đó có nghĩa là Bs không có ngộ nhận gì cả?

Bs Tiến: Dạ không, chúng tôi ở trong cái cương vị của chúng tôi là chúng tôi nêu ra những nghi ngờ, những thắc mắc, những cáo buộc, những dị nghị, phản ảnh những chuyện đó từ đồng hương, từ đoàn thể, đó là công việc của chúng tôi.

Hoàng Nam: Thưa Bs, những cái lời nêu ra của Bs trong cái buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm thì ông ĐHĐ trả lời với Bs như thế nào?

Bs Tiến: Thì như tôi nói đó, ông ĐHĐ chỉ nói là không, không phải như thế đâu, người ta hiểu nhầm chúng tôi, chúng tôi không có những chuyện đó. Nhưng mà theo tôi hiểu, như vậy thì cũng chẳng giải tỏa được cái gì, nó chỉ là chối bỏ mà thôi, không đi đến đâu cả.

Hoàng Nam: Vâng, Hoàng Nam hiểu được ý của vị nữ thính giả vừa đặt câu hỏi, thì trong cái bản tin mà VT đăng đi tổng kết cái buổi nói chuyện của ông ĐHĐ, Chủ Tịch đảng VT nhân dịp chuyến viếng thăm Úc Châu thì Hoàng Nam cũng có nhận được bản tin đó. Thì trong đó đại khái nói là “Riêng Bác sĩ Chủ Tịch Liên Bang đã bày tỏ sự chia sẻ với Việt Tân về những ngộ nhận về Việt Tân trong thời gian qua và hy vọng rằng buổi nói chuyện hôm nay của Ông Chủ Tịch Đỗ Hoàng Điềm sẽ giải tỏa được tất cả”. Đó là lý do vì sao mà thính giả, đồng hương ở đây người ta thắc mắc.

Bs Tiến: Thì tôi có nói thế này, tôi mong rằng, tôi mong rằng tất cả những nghi vấn, những dị nghị, những cáo buộc đó chỉ là ngộ nhận. Tại sao tôi lại mong như thế, bởi vì trong cái cuộc tranh đấu chung này mình không muốn mất ai cả. Nếu những cáo buộc đó là thật thì mình mất một người đồng hành. Đó là lý do tại sao tôi mong, tôi mong nhưng không phải là tôi tin nhé, tôi mong thôi, tôi nói rất rõ, tôi nghĩ là ngôn ngữ của tôi rất clear.
*

Được biết, ngày Thứ Ba, 6 tháng 11, bản tin của Việt Tân tường thuật buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm, đã được ông Lê Ánh, Trưởng cơ sở đảng Việt Tân tại Sydney, gửi tới hàng trăm địa chỉ email trong đó có các vị lãnh đạo cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể, truyền thông tại Úc. Ngoài ra, bản tin đó cũng đã được đưa lên website của Việt Tân ngày 7 tháng 11.

Hiểu rõ, trong số những dị nghị chỉ trích đảng Việt Tân của CĐ người Việt hải ngoại trên khắp thế giới, có những dị nghị chỉ trích "xuất phát từ những sự kiện cụ thể đã xảy ra trên thực tế", đồng thời là một lãnh đạo cộng đồng liên bang vững vàng lập trường, nên trong buổi nói chuyện có mặt ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch đảng Việt Tân, thay vì phát biểu một bài diễn văn thuần tuý nghi lễ, BS Nguyễn Mạnh Tiến đã có một bài diễn văn rất chặt chẽ, mạch lạc, thẳng thắn và đầy đủ ý nghĩa. Chỉ trong thời gian ngắn gọn có vài phút đồng hồ, BS đã nêu lên được 5 điểm quan trọng. Thứ nhất, BS nhấn mạnh, sức mạnh đấu tranh của cộng đồng người Việt tự do tại Úc có được là nhờ cơ chế thống nhất, làm việc dân chủ, đoàn kết, và đặc biệt nhờ sự vô tư và độc lập của CĐ đối với các tổ chức tôn giáo và chính trị. Thứ hai, BS ghi nhận những đóng góp của anh em đảng VT tại Úc. Thứ ba, BS tái khẳng định lập trường chính trị minh bạch, trước sau như một của CĐNVTD Úc Châu Liên bang và các Tiểu bang, Lãnh thổ là không chấp nhận chế độ CSVN, và "nỗ lực vận động bằng mọi cách để giải thể chế độ CSVN, phục hồi tự do, dân chủ và nhân quyền cho tổ quốc và nhân dân VN". BS cũng một lần nữa minh định, "CĐNVTD Úc Châu không chấp nhận việc hòa hợp hòa giải, cộng tác với cái chế độ gian xảo và lưu manh đó dưới bất cứ hình thức nào". Thứ tư, BS thẳng thắn thừa nhận, trong thời gian qua, trong cộng đồng người Việt hải ngoại đã có nhiều lời dị nghị, chỉ trích đảng VT, trong đó có những dị nghị, chỉ trích phát xuất từ những sự kiện cụ thể đã xảy ra trên thực tế. Và thứ năm, BS đề nghị, ông ĐHĐ trong chuyến viếng thăm Úc Châu lần này, cần "làm sáng tỏ những nghi vấn, giải đáp thoả đáng những thắc mắc, và khẳng định rằng đảng VT vẫn giữ lập trường trước đây là tranh đấu triệt để chống độc tài CSVN, không tìm cách hợp tác, chia chác quyền lực với CS như những lời cáo buộc".

Hiển nhiên, nội dung bài diễn văn của BS Chủ tịch Nguyễn Mạnh Tiến rất trong sáng, rõ ràng và chân thành. Bài diễn văn đó đã thể hiện đầy đủ những suy tư, nguyện vọng cùng lập trường trước sau như một của đông đảo người Việt yêu tự do tại Úc, và có thể nói trên toàn thế giới. Tuy nhiên, qua cách hành xử của ông Đỗ Hoàng Điềm trong buổi nói chuyện tại Sydney, cũng như tại Brisbane, nhiều người đã thất vọng khi thấy rõ thái độ né tránh, tảng lời, nguỵ biện của ông. Qua các sự kiện cụ thể đã xảy ra trên thực tế, đông đảo người Việt tại Úc có quyền nghi ngờ lập trường của đảng VT, có quyền cho rằng VT đang chệch hướng, có quyền tin VT đang hoà hợp hoà giải với CS, có quyền cho rằng VT đang tìm cách hợp tác chia chác quyền lực với CS,... Vậy mà ông Đỗ Hoàng Điềm đã quên mất vai trò quan trọng của một chủ tịch đảng trong việc giành lại niềm tin của đồng bào, cố tình tảng lờ những đòi hỏi (hay nói đúng hơn, những lời cố vấn, khuyên nhủ, gợi ý tế nhị) hợp tình và hợp lý của BS Chủ tịch Nguyễn Mạnh Tiến, "Trong chuyến đi Úc Châu lần này của ông ĐH Điềm, người Việt tại đây đang chờ đợi ông làm sáng tỏ những nghi vấn, giải đáp thỏa đáng những thắc mắc, và khẳng định rằng đảng VT vẫn giữ lập trường trước đây là tranh đấu triệt để chống độc tài CSVN, không tìm cách hợp tác, chia chác quyền lực với CS như những lời cáo buộc." Thay vì vậy, ông ĐHĐ lại dùng kiến thức phù phiếm và sự ba hoa của mình để nói chuyện ai cũng biết và biết từ khuya, như tại sao CSVN cai trị đất nước suốt 32 năm qua; ông khoác lác bàn về một giải pháp đấu tranh bất bạo động đã có cả thế kỷ, và mọi người đã chấp thuận cả mấy thập niên; ông còn huênh hoang kể về những chuyện chính ông cũng không hiểu tại sao, như chuyện ông được TT Bush tiếp kiến; rồi ông kêu gọi người Việt hải ngoại làm những chuyện lạ lùng, như gửi tiền về VN, cứ mỗi 100 Mỹ kim sẽ có được một người dân đi khiếu kiện;...

Trong lúc Chủ tịch Đỗ Hoàng Điềm tiếp tục sai lầm và tiếp tục sa lầy trong trong chuyến công tác Úc Châu, thì đảng Việt Tân cho phổ biến bản tin về buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm, trong đó có câu tường thuật sai nghiêm trọng lời phát biểu của BS Nguyễn Mạnh Tiến. Hiển nhiên, sự sai sót này không phải vô tình, mà do cố ý, với mục đích đánh lạc hướng dư luận, khiến người đọc hiểu trái ngược ý quan trọng BS Tiến muốn nói.

Nhận thấy nhu cầu cần làm sáng tỏ vấn đề, ngày 7 tháng 11, BS Nguyễn Mạnh Tiến đã gửi emal cho đông đảo quý vị lãnh đạo, đại diện cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể và truyền thông tại Úc, trong đó có đính kèm bài diễn văn của BS. Tuy nhiên cho đến tối Thứ Ba, 13 tháng 11, Sàigòn Times vẫn không hề nhận được bất cứ bản tin đính chính nào từ ông Lê Ánh, Trưởng cơ sở Việt Tân Sydney và là người đã gửi bài tường thuật của Việt Tân. Không những thế, cho đến tối Thứ Ba, 13 tháng 11, Sàigòn Times cũng không thấy bất cứ phần đính chính nào trên website của đảng Việt Tân, trong khi bài tường thuật với những câu xuyên tạc lời của BS Tiến, vẫn được giữ nguyên.

Trước việc làm xuyên tạc, và thái độ trắng trợn cưỡng từ đoạt lý của Việt Tân, người Việt bỗng nhớ đến câu tục ngữ "gần mực thì đen, gần đèn thì rạng". Phải chăng, sau thời gian "tiếp cận" với CSVN để đào mương đào giếng, Trung Ương đảng VT đã lây nhiễm được lối làm việc xuyên tạc và thái độ trắng trợn cưỡng từ đoạt lý của chế độ CS???

http://tinucchau.bravejournal.com/entry/21835



Diễn Đàn Bạn Đọc
Hoàng Tuấn Phụ Trách
SGT số 538

Xin Hỏi "Ngày Tự Do" hay "Ngày Tranh Đấu Cho Tự Do"???

Phạm Đình Hạ - Darra QLD

Trong những bài viết trên báo SGT tôi thấy có nhiều bài nói Việt Tân lấy tên "Ngày Tự Do Cho VN" cho ngày Quốc Hận 30-4. Nhưng theo những bài viết trên website của Việt Tân cũng như qua lời giải thích của đảng viên Việt Tân mà tôi biết thì họ nói họ không hề gọi ngày Quốc Hận 30-4 như vậy, mà họ gọi là "Ngày Tranh Đấu Cho Tự Do VN". Cá nhân tôi thì tôi không đồng ý gọi ngày Quốc Hận 30-4 là "Ngày Tranh Đấu Cho Tự Do VN", nhưng thiết tưởng gọi như vậy cũng không có gì sai trái. Lấy ngày Quốc Hận thành ngày tranh đấu cho tự do VN là điều hợp lý, ý nghĩa, cũng như trước đây có người đề nghị gọi đó là ngày Quốc Kháng. Tôi thì tôi dứt khoát không đồng ý với Việt Tân cái chuyện về VN tiếp cận canh tân, xây dựng đất nước, hay đào mương đào giếng, vì làm như vậy khi chế độ CS còn tồn tại thì rõ ràng là tiếp tay cho CS rành rành ra còn cãi cái gì nữa mà sao họ nỏ miệng như vậy. Nhưng xin hỏi việc Việt Tân gọi ngày Quốc Hận là "Ngày Tự Do Cho VN" có đúng hay không? Nếu có xin nêu bằng chứng rõ ràng để cho chúng tôi được rõ. Trọng kính - Phạm Đình Hạ.

*

Kính thưa ông! Việc gọi "Tháng Tư Đen" thành "Tháng Tư Xanh", hay gọi ngày Quốc Hận 30-4 thành "Ngày Tự Do Cho Việt Nam", cũng như việc tổ chức cái gọi là "trưng cầu dân ý" nhằm chọn "Ngày Tỵ Nạn Việt Nam" thay thế ngày Quốc Hận 30-4... đều là những âm mưu của Việt Tân nhằm xoá bỏ ngày Quốc Hận 30-4, ngày được coi là vết nhơ trong lịch sử VN. Đối với CSVN, mấy chục năm trước, họ coi đó là ngày chiêán thắng, nhưng sau này, chính CSVN cũng nhận thấy đó là ngày chứng tỏ với dân tộc VN, với thế giới, dã tâm xâm lăng Miền Nam và tội ác của họ đối với thế giới. Quan trọng hơn nữa, CSVN nhận ra, nếu tiếp tục duy trì hai chữ "Quốc Hận" mỗi dịp kỷ niệm 30-4, sẽ đánh thức trong tâm trí người Việt yêu nước tại VN cũng như hải ngoại, tội ác CSVN đến muôn đời. Chính vì lý do đó, nên trong những năm gần đây, CSVN đã cố giảm thiểu tầm quan trọng khi tổ chức ăn mừng "ngày chiến thắng 30-4"

Riêng việc gọi ngày Quốc Hận 30-4 là "Ngày Tự Do Cho Việt Nam", chúng tôi có bằng chứng cụ thể qua nhiều văn thư lưu hành nội bộ của chính đảng viên Việt Tân. Cụ thể, trong văn thư Số 4 đề Ngày 22 tháng 9 năm 2005, gởi "quý chiến hữu toàn đảng và quý chiến hữu trong Vụ Giám Sát Việt Tân" của bà Việt Khanh, đảng viên Việt Tân thuộc Cơ Sở San Jose., Bắc Cali. có đoạn nguyên văn như sau trong phần "2. Ảnh Hưởng Lên Những Hoạt Động Của Đảng Sau Ngày Công khai hoá":

"Các công tác chính thức do Trung Ương VT điều động và hổ trợ trên mặt nổi có hai công tác quan trọng: Công tác M20 (ngày 30 tháng 4/05) và Công tác U05 (tháng 12/05). Chủ đề và hướng khai triển của cả hai công tác nói trên, khởi đầu đều đã tạo nên những tranh cãi nơi cộng đồng người Việt và trong nội bộ chiến hữu. Công tác M20 do có sự điều chỉnh kịp thời của BTC, qua việc thay đổi danh xưng của ngày M20 từ Ngày Tự Do Cho VN thành Ngày Tranh Đấu Tự Do Cho VN".

Qua đoạn trích dẫn trên, chắc ông đã thấy, nguyên thuỷ, VT định lấy tên "Ngày Tự Do Cho VN" đặt cho ngày Quốc Hận 30-4. Sau vì sự phản đối của cộng đồng, và thấy âm mưu bị bại lộ, nên VT đã cho thêm hai chữ "Tranh Đấu", thành "Ngày Tranh Đấu Tự Do Cho VN". Điều này cho thấy, mọi công tác của VT đều có dụng ý rất nguy hiểm. Bằng chứng là khi soạn thảo cho chủ đề "Xoá ngăn cách, vượt thử thách" cho Đại Hội Thanh Niên Sinh Viên Thế Giới năm 2005 mà VT gọi tắt là U05, VT cũng đã có những dụng ý rất sâu xa. Cụ thể, cũng trong trong văn thư Số 4 đề Ngày 22 tháng 9 năm 2005, gởi "quý chiến hữu toàn đảng và quý chiến hữu trong Vụ Giám Sát Việt Tân" của bà Việt Khanh, có đoạn nguyên văn như sau:

"Công tác U05 với chủ đề 'Tuổi trẻ Việt Nam: Xoá Ngăn Cách, Vượt Thử Thách' mà theo sự giải thích của c/h NQB đại diện cho Tuổi Trẻ Lên Đường và hai c/h đại diện VT là ĐQV và ĐĐG trên đài TNT Houston vào tuần lễ thứ hai của tháng 9/2005, thì nội dung của chủ đề 'Xóa Ngăn Cách, Vượt Thử Thách' không chỉ nhắm vào sự xóa bỏ khác biệt giữa thanh niên VN trên toàn thế giới nhưng còn đi xa hơn trong sự kêu gọi người hải ngoại vượt qua những thử thách, để tiến tới việc xóa bỏ những ngăn cách ý thức hệ giữa người dân trong và ngoài nước, để mà ngồi lại với nhau trên nhu cầu từ thiện, nhân đạo, mà lo cho đời sống cơm no áo ấm của người dân trong nước trước khi hướng họ đến mục tiêu tranh đấu cho tự do dân chủ Việt Nam. Giải thích này chỉ cho thấy một điều là nội dung tương tự như kêu gọi của nghị quyết 36, nhưng VT nói là thực hiện với cái ý hướng kêu gọi đấu tranh!"

Để mục tiêu 'xóa bỏ những ngăn cách ý thức hệ giữa người dân trong và ngoài nước, để mà ngồi lại với nhau trên nhu cầu từ thiện, nhân đạo, mà lo cho đời sống cơm no áo ấm của người dân trong nước", trong thời gian Đại Hội Thanh Niên Sinh Viên Thế Giới được Mạng Lưới Lên Đường tổ chức tại Sydney, Phương Nam Đỗ Nam Hải đã gửi một thông điệp đến Đại Hội, công khai kêu gọi mọi người xoá bỏ lằn ranh Quốc Cộng. Tưởng cũng nên nói rõ, Phương Nam Đỗ Nam Hải đã đến Úc suốt suốt 8 năm không phải du học, không phải di dân tay nghề. Và theo lời của một vị lãnh đạo cao cấp của VT tại Úc trong dịp trò chuyện với báo Sàigòn Times, thì chính một nữ đảng viên then chốt của VT tại Melbourne đã "móc nối" Phương Nam Đỗ Nam Hải. Có điều chính vị lãnh đạo cao cấp này xác nhận PNĐNH là du sinh, trong khi chính PNĐNH thì lại khẳng định sang Úc không phải với tư cách du sinh.

Nói đến du sinh VN, chúng tôi cũng xin thưa thêm với ông Hạ, chắc ông còn nhớ trước đây, trong một số thông báo của cộng đồng, ông Đoàn Việt Trung đã kêu gọi người Việt tại Úc nên tiếp cận du sinh, gây qũy cho du sinh, kiếm nhà cho du sinh, để biến các du sinh thành những đấu tranh dân chủ một khi họ trở về VN. Sự thực đây chỉ là những trò núp danh "tuyên truyền du sinh" để tiếp tay cho CSVN, giúp đỡ du sinh VN mà thôi. Để hiểu rõ hơn chủ trương này, mời ông theo dõi tiếp văn thư Số 4 đề Ngày 22 tháng 9 năm 2005, gởi "quý chiến hữu toàn đảng và quý chiến hữu trong Vụ Giám Sát Việt Tân" của bà Việt Khanh, có đoạn nguyên văn như sau:

"Trên mặt tuyên vận và chính vận, ngoài những hướng cụ thể hướng về Quốc Nội như đến gần với du sinh, gây quỹ cho du sinh, kiếm nhà ở cho du sinh, hoạch định sự vận động Quốc Hội Hoa Kỳ gia tăng số lượng visa nhập cảnh cho du sinh VN, vận động đồng hương hải ngoại nhất là thanh niên nên trở về thăm nước vì đó là quyền và trách nhiệm của mỗi cá nhân, kêu gọi người Việt hải ngoại không nên ngăn chặn các chủ trương đầu tư buôn bán với VN, nên mua sách báo VN từ trong nước để làm quà cho nhau, vân vân. Một mặt khác thì các c/h TUĐ khi đi đến các cơ sở hướng dẫn về đường lối mới lại đưa ra lời tuyên bố là trong tương lai VT có thể vì quyền lợi của 80 triệu người dân trong nước sẽ phải quay lưng với 3 triệu người hải ngoại."

Để có thể hiểu rõ lý do nào khiến ông Đoàn Việt Trung kêu gọi người Việt hải ngoại giúp đỡ du sinh VN, tưởng cũng nên nhắc lại để ông Hạ hiểu, ông ĐVT là người đã tự vỗ ngực nhận mình có sáng kiến "Chọn Ngày Tỵ Nạn VN", rồi tự động đem CĐNVTD Liên Bang Úc Châu đứng chung với VT và các tổ chức ngoại vi của VT để cùng vận động cho việc "Chọn Ngày Tỵ Nạn VN". Sau này, mọi chuyện đổ bể, mọi người mới biết, kế hoạch "Chọn Ngày Tỵ Nạn VN" chẳng phải là sáng kiến của ông ĐVT mà là của Trung Ương Đảng VT, nhằm thực hiện âm mưu xoá bỏ "Ngày Quốc Hận 30-4". Có điều cho đến nay, mọi người vẫn chưa biết rõ, ông ĐVT thực hiện "sáng kiến chọn ngày tỵ nạn VN" cùng hàng loạt "sáng kiến" khác là do ông vô tình bị gài bẫy, hay do ông là thành viên của đảng VT.

Cuối cùng cũng xin thưa với ông Hạ, ở trên chúng tôi có nhắc đến vai trò của Mạng Lưới Lên Đường trong việc tổ chức Đại Hội Thanh Niên Sinh Viên Việt Nam Thế Giới Kỳ 4 tại Sydney với chủ đề "xoá ngăn cách vượt thử thách" là do Việt Tân lèo lài giật dây. Điều này, trong buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm tại Sydney vào ngày 4 tháng 11 vừa qua, cả ông Đỗ Hoàng Điềm lẫn ông Nguyễn Hoàng Thanh Tâm đều cực lực bác bỏ. Tuy nhiên, trong cuốn Những Ưu Tư Về Việt Tân Chệch Hướng do BS Trần Xuân Ninh và qúy đảng viên Việt Tân Cách Mạng xuất bản, có đăng nguyên văn lá thư đề ngày 3 tháng 1 năm 2006 (ngay sau Đại Hội TNSV VNTG Kỳ 4), của ông Nguyễn Kim, Chủ tịch đảng VT chệch hướng, gửi "Ch/h Đặng Quốc Sủng và toàn Đảng Bộ Úc Châu, Ch/h Trần Đình Tâm và toàn Ban Thanh Niên, và Tất cả các ch/h đã tham gia và đóng góp cho công tác U05". Trong thư có một số đoạn quan trọng như sau:

"Sau hai năm dài chuẩn bị với nhiều âu lo và cố gắng, cộng với đủ loại khó khăn phải vượt qua, tôi hân hoan loan báo và chúc mừng, công tác U05 không những đã thành công mỹ mãn so với các chỉ tiêu đã đề ra, mà còn đặt tiền lệ cho một số hình thức sinh hoạt chưa từng có trước đây; đặc biệt là sự tham gia của anh chị em du sinh và các nhà phản kháng trong nước.

Thành quả U05 quả thật mang nhiều ý nghĩa quan trọng:

- Chúng ta đang đi đầu trong việc bình thường hóa sự liên hệ với khối du sinh để mở cánh cửa với thanh niên trong nước nhằm mưu tìm những tâm hồn cùng lý tưởng, muốn đấu tranh đưa dân tộc ra khỏi thảm trạng hiện nay.
- Qua tiếng nói của các nhà dân chủ trong nước, chúng ta thấy được sự vui mừng và hy vọng của quốc nội khi thấy lực lượng đấu tranh hải ngoại bắt đầu hiện thực y' định cùng với đại khối dân tộc chống lại thiểu số cầm quyền độc tài hìện tại.
- Chúng ta càng thấy chủ trương tiếp cận để từng bước cùng đồng bào quốc nội đứng lên là con đường hợp lý và hợp thời. Con đường mà chúng ta đã phải tạm thời dừng lại trong một số năm để củng cố lực lượng và nay lại tiếp tục dấn bước.

Hiển nhiên và trước hết, U05 là thành quả của toàn Đảng chúng ta, với vô số các đóng góp âm thầm của nhiều đảng viên trên khắp thế giới, cách riêng là tại từng buổi gây quỹ, vận động tại các địa phương, các anh em trong PalTalk trong việc quảng bá U05... . Do đó, đây là niềm vui và hãnh diện chung của tất cả chúng ta.

Nhưng trong niềm vui chung đó, tôi muốn đặc biệt khen ngợi Ban Thanh Niên thuộc Khối Dân Vận Hải Ngoại, đã khéo léo phối hợp công trình tim óc của nhiều VTTrẻ từ khắp nơi. Và cũng đặc biệt khen ngợi sự dóng góp hết lòng hết sức của toàn Đảng bộ Úc Châu vào công tác này. Các ch/h đã vượt qua rất nhiều trở ngại và khó khan trong thời gian qua; và các hỗ trợ từ Trung Ương cũng không được phong phú so với các đại hội trước. Chính vì thế mà ngoài lời khen ngợi, tôi muốn gởi đến quí ch/h sự tri ân chân thành của cá nhân tôi.

Dĩ nhiên, trong những ngày tháng trước mặt, chúng ta sẽ không nghỉ ngơi trong hào quang U05, nhưng sẽ khai dụng ngay kết quả này để tìm kiếm các đầu mối, các cơ hội nhằm khai triển những kế hoạch và chủ đích trong bức tranh đấu tranh tổng thể của Tổ Chức.

Tôi mến chúc quí ch/h một ít ngày nghỉ ngơi trong hân hoan và sẽ lại cùng bước tới với toàn Đảng, tràn đầy sinh khí mới từ THÀNH CÔNG U05.

Đọc kỹ lá thư trên, ông Hạ cùng qúy độc giả chắc chắn nhận rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa đảng VT và BTC Đại Hội TNSV VNTG Kỳ 4. Đọc phần kính gửi, người đọc đều biết Đặng Quốc Sủng là ai. Riêng Trần Đình Tâm thì dư luận trong nội bộ đảng VT cho biết đó là Nguyễn Hoàng Thanh Tâm. Điều này không biết đúng hay sai, nhưng rõ ràng Nguyễn Hoàng Thanh Tâm đóng vai trò then chốt trong Mạng Lưới Lên Đường, cũng như trong Đại Hội Kỳ 4, và hiện nay cũng là nhân vật quan trọng trong đảng VT. Thêm vào đó, trong giai đoạn một năm trở lại đây, đảng Việt Tân có gửi một số thông báo, ký tên Trần Đình Tâm. Điều này cho thấy giả thuyết Trần Đình Tâm và Nguyễn Hoàng Thanh Tâm là một, là điều hợp lý.

Hy vọng những giải thích trên đây giúp ông Phạm Đình Hạ cùng quý độc giả hiểu rõ hơn những việc làm của đảng VT. Trước khi dừng bút, cũng mong ông Hạ hãy hiểu, lịch sử phát triển các phong trào đấu tranh của người Việt Quốc gia trong suốt thế kỷ qua tại VN, cũng như hơn 30 năm nay tại hải ngoại, không bao giờ có những trò thủ đoạn như Việt Tân đã làm. Chỉ có những người CS mới có những trò thủ đoạn đó. Đó là sự thực ai ai cũng biết và cũng thừa nhận. Vì vậy, chúng tôi có thể nói, trong nội bộ Trung Ương Đảng VT chệch hướng hiện nay, có thể có những tên VC nằm vùng trà trộn, giật dây, để một mặt dùng VT gây phân hóa cộng đồng người Việt hải ngoại, biến cộng đồng người Việt hải ngoại thành những con bò sữa chạy theo nắm cỏ "tự do dân chủ" mà thực chất là nuôi béo CS; một mặt dùng VT hóa giải phong trào đấu tranh giành tự do dân chủ trong nước, dùng VT để đưa các nhà đấu tranh tự do dân chủ chân chính tại VN ra tòa và vô tù CS; và mặt khác, dùng chính VT làm mất uy tín của đảng VT, khiến người dân Việt hết tin tưởng vào công cuộc đấu tranh lật đổ CS.



Bộ Mặt Thật Đã Lộ Diện

Trần Hoàng Long -Cabramatta-NSW

Đọc báo SGT tuần qua trong mục "Những Điều Trông Thấy" tôi thấy cái tựa đề "Hy Vọng rồi Thất Vọng" quả thật là rất chính xác về cuộc nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm tại Sydney vừa qua. Đọc bài viết, tôi đã tìm thấy được một sự đồng cảm với tác giả, vì bao nhiêu hy vọng sẽ được giải tỏa những thắc mắc về đảng Việt Tân, nay đã tan thành mây khói. Thực sự tôi và một số bạn bè cũng mong Việt Tân có được những đường lối trong sáng và lương thiện, để ít nhất chúng ta có một hy vọng khá hơn, và có thể có những người đồng hành thuỷ chung trong công cuộc đấu tranh chung này. Tuy vậy, qua buổi sinh hoạt của Đỗ Hoàng Điềm, chúng tôi không thể tìm thấy một ánh sáng nào mà hình như còn tạo thêm tối tăm trong mọi vấn đề. Phải chăng VT đã có quá nhiều khuất lấp để không thể giải bày một cách minh bạch cùng mọi người. Suốt buổi sinh hoạt mấy tiếng đồng hồ, với một số câu hỏi của cử tọa, nhưng cũng chẳng câu nào được ông Đỗ Hoàng Điềm trả lời chính xác và làm sáng tỏ vào đúng trọng tâm, nó quanh quẩn như lạc vào đám rừng hoang mông lung nơi một phương trời xa lạ..

Ngay lúc đầu tiên khi Bs Tiến phát biểu, có lẽ ai cũng hiểu khi "những sự kiện cụ thể đã xẩy ra trong thực tế" của VT là những sự kiện gì, và chúng tôi nghĩ rằng câu nói này tựa như một lời khuyên nhủ Đỗ Hoàng Điềm nên giải thích với thiện chí trong minh bạch, trong ánh sáng lương tri của VT. Rất tiếc chúng tôi đợi chờ mã cũng chả thấy một ánh sáng nào khả dĩ có thể tạo được một chút niềm tin nơi họ. Ngược lại chúng tôi chỉ thấy Đỗ Hoàng Điềm mồm năm, miệng mười, liến thoắng, đưa cử tọa đi vòng quanh cho qua chuyện. Đã thế, hai ngày sau, chúng tôi lại được đọc một bản tường trình trên Web của VT với những lời lẽ rất mập mờ, bóp méo và xuyên tạc lời nói của Bs tiến một cách thô thiển và trắng trợn. Rồi đến đêm thứ sáu vừa qua, nghe Bs tiến trả lời một thính giả trên đài 2VNR chúng tôi mới vỡ lẽ là VT đang chơi trò đồng hóa vai trò Chủ Tịch Cộng Đồng Liên Bang Úc Châu là người của họ, và tự vỗ tay khen là chuyến đi này của Đỗ Hoàng Điềm đã thành công mỹ mãn. Tuy nhiên, trong đêm Thứ Sáu, trong khi trả lời vị nữ thính giả, một lần nữa Bs Tiến đã sáng suốt tái xác định lập trường của CĐ NVTD Úc Châu nói chung là "lập trường trước sau như một, luôn luôn chúng ta chống tuyệt đối, chống triệt để cái chế độ độc tài CSVN, do biết là cái chế độ này, nó xảo trá và nó gian manh, cho nên không bao giờ chúng tôi chấp nhận bất cứ một hình thức hòa hợp, hòa giải, cộng tác hay đối thoại nào với chế độ CSVN". Tiện đây cũng xin thưa, trong cuộc đấu tranh này, nếu chỉ chống CS không thôi là một sự thiếu sót rất lớn. Mà chúng ta còn có bổn phận chống lại bất cứ cá nhân hay thế lực nào mang đặc tính của CS như lừa đảo niềm tin, tâm huyết của người dân, mưu đồ lợi ích cho cá nhân hay phe nhóm, dù người ấy hay tổ chức ấy đang mặc chiếc áo Quốc gia hay CS. Trước khi dứt lời cũng xin thành thật cám ơn Bs Tiến và vị thính giả của đài phát thánh 2VNR đã làm sáng tỏ thêm bản chất của VT.

LamVan Bach <lamvan7878@yahoo.com.au>
www.saigontimes.com.au




VIỆT TÂN:
HY SINH ĐẢNG VIÊN ?
 
NGUYỄN PHÚC LIÊN
27.11.2007
 

Đây là bài thứ nhất hồi âm cho câu hỏi thứ nhất của Ông SONG KIÊN. Ông Song Kiên viết hỏi như sau: 
 
"1. Những người của VT bị bắt là những khuôn mặt nổi ở hải ngoạị Việt Cộng nó không ngu và cũng không đui nên chắc chắn là nó có hồ sơ về " qúa trình hoạt động " của các nhân vật nàỵ Như vậy, nếu họ (Dảng VT)là những người đấu tranh chống CS thật sự thì hành động đi về VN của những đảng viên này được giải thích như thế nào đâỷ Phải chăng là VT nghĩ rằng thời cơ đã đến nên CSVN không dám bắt giữ đảng viên của họ? Hay, họ qúa "khôn" đến nỗi sẵn sàng hy sinh vài mạng để tạo tiếng vang?"  
 
Tôi nghĩ rằng khi đọc Thông Cáo 1 của đảng Việt Tân, nhiều người cũng rất ngạc nhiên như Ông Kiên Song vì những lý do sau đây: 

1)  Trước khi xẩy ra chuyện bắt bớ này, hay nói đúng hơn trước khi những đảng viên thức thời như Tiến sĩ NGUYỄN QUỐC QUÂN về Việt Nam, thì trên Diễn Đàn đã có bài phổ biến rộng rãi rằng CSVN đang mở chiến dịch trù dập những nhà Dân chủ. Cũng nên nhớ rằng ngày 27.11.2007 là ngày Phiên Tòa phúc thẩm hai Luật sư NGUYỄN VĂN ĐÀI và Luật sư LÊ THỊ CÔNG NHÂN mà kết quả ra sao chưa ai biết. 

2)  Việc ba người mà Việt Tân coi là đảng viên của mình trở về Việt Nam là những người đã từng hoạt động lộ diện tại Hải ngoại và là những người thức thời, biết tình hình đàn áp ở Việt Nam. 

3)  Cũng lưu ý đến một số những việc làm của hai Ông ĐỖ HOÀNG ĐIỀM và LÝ THÁI HÙNG như sau: 

=>  Nhân danh đảng Việt Tân, Ông Đỗ Hoàng Điềm lên tiếng mong mỏi Hoa kỳ xúc tiến nhanh hơn Tiến Trình Dân chủ Hóạ Ông Đỗ Hoàng Điểm có thể có thông tin gì, nên mới có cớ hối thúc như vậỵ 

=>  Ông Lỳ Thái Hùng đã sang Ba Lan gặp chính giới Ba Lan. Dường như chính giới Ba Lan đang môi giới gì cho Hòa giải Hòa Hợp. Xin lưu ý rằng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã sang Ba Lan trước đây không lâụ Ngay tại đây, Nguyễn Tấn Dũng hứa sẽ thả Luật sư LÊ THỊ CÔNG NHÂN nếu Luật sư chấp nhận qua Ba Lan. 

=>  Ông Đỗ Hoàng Điềm hiện nay đang diễn thuyết tại Úc châụ Đây là việc tăng cường muốn cho nước ngoài biết rằng Việt Tân như đại diện phía Khối người Việt Hải ngoạị 

=>  Qua thông tin của một số nhân chứng tại Đức, Lm.ĐINH XUÂN MINH bốc đồng tiết lộ rằng có sự thảo luận giữa CSVN và một nhóm người gọi là Quốc gia tại Canada mà chính Linh mục nhân danh đảng Thăng Tiến VN sẽ tham dự Dường như Lm. PHAN VĂN LỢI chấp nhận chuyện nàỵ Và có thể đây là lý do bổ nhiệm Giáo sư NGUYỄN CHÍNH KẾT là đại diện Khối 8406 tại Hải ngoạị Lưu ý Ông Mặc Giao PHẠM HỮU GIÁO có lẽ giữ vai trò trong việc cố vấn Gs KẾT. Cũng xin lưu ý nữa là chính Lm.Phan Văn Lợi đã khẳng định rằng Gs KẾT chịu ảnh hưởng của Việt Tân. 

4)  Trong tình hình như vậy, thì việc những người đã lộ diện trên đây và thức thời quyết định về Việt Nam đấu tranh để rồi bị bắt là do quyết định cá nhân hay là do chỉ thị của đảng Việt Tân ? Có những  giả thiết sau đây: 

=>  Những Vị trở về Việt Nam, một vị là Tiến sĩ đã từng đi diễn thuyết chính trị tại nhiều nơi, một vị là Nhà báo đã lớn tuổi, phải biết những nguy hiểm bị bắt, nhưng đã tự quyết định trở về Việt Nam đấu tranh theo Thông Cáo 1 của Việt Tân cho biết, thì quả là dũng cảm hay liều mình thiêu thân. Nếu tự mình quyết định về Việt Nam đấu tranh, thì tôi phục CÁI DŨNG của quý Vị nàỵ Đó là điều mà tôi đã viết trong bài dưới đây: VIỆT TÂN: MỘT CHIẾN THUẬT MỚỊ 

=> Tuy vậy, nếu quyết định của những Vị này, mặc dù là cá nhân, nhưng đã bị ảnh hưởng của chính trị Hòa Giải Hòa Hợp của Việt Tân, nên nghĩ rằng việc mình về Việt Nam, dưới chính trị của Việt Tân, sẽ được che chở, không đến nỗi bị bắt. 

=> Bảo đảm hơn nữa, nếu chính những Lãnh đạo của Việt Tân như Ông Đỗ Hoàng Điềm và Ông Lý Thái Hùng đã tích cực thuyết phục những Vị trên để trở về Việt Nam mà không bị bắt vì CSVN đã có dàn xếp ngầm với Việt Tân. Hoặc nếu có bị bắt cũng chỉ là bắt giả hiệu để rồi thả các Vị ấy ra trong vinh quang địa vị sau nàỵ Với những thuyết phục này, nên những Vị đã trở về Việt Nam. 

=>  Tại sao không nghĩ rằng những Vị trở về đã hoàn toàn xác tín vào Chính trị hợp tác với CSVN của Việt Tân, nên việc việc trở về là do chỉ thị của Lãnh đạo Việt Tân để làm dịp quảng cáo cho đảng mong che đậy dự luận đồng bào Hải ngoạị Trong trường hợp này, những Vị trở về được coi như "vật tế thần" để làm vinh danh đảng, nếu việc tù tội là có thực. Còn nếu việc bắt bớ chỉ là giả hiệu do cấu kết giữa CSVN và Việt Tân để che mắt đồng bào, thì đó là chuyện lươn lẹo chính trị dàn xếp mà chúng tôi sẽ có dịp bàn rộng thêm nữạ 
 
Tóm lại: 

Chúng tôi không nghĩ rằng những Vị thức thời và đã từng hoạt động công khai, nay trở về Việt Nam để bị bắt,  là những người lấy quyết định cá nhân một cách liều mạng như vậỵ 

Chúng tôi đồng ý với Ông Song Kiên: 

=>  Họ trở về vì nghĩ đã đến lúc được vinh danh theo chính trị của Việt Tân. Họ tin theo chính trị ấỵ 

=>  Cũng có thể họ biết trước rằng việc bắt này chỉ là bắt giả, dàn cảnh để chính con người họ được tăng giá trị với nhãn hiệu đấu tranh. 
 
=>  Còn nếu đây chỉ là việc lừa đảo của Lãnh đạo Việt Tân như Ông Đỗ Hoàng Điềm và Ông Lý Thái Hùng để biến những người về làm "vật tế thần" nhằm quảng cáo cho đảng Việt Tân, thì quả thật đây là việc vô nhân đạọ Chính vì điểm này mà tôi yêu cầu Ông Đỗ Hòang Điểm hay Ông Lý Thái Hùng trở về Việt Nam, chứ đừng thuyết phục người khác trở về làm vật tế thần cho vinh danh mình. 

Chính trị Hoà Hợp Hòa Giải hay dưới chiêu bài này, đó là chính trị nhẩy bàn độc để nhặt  những mẩu bánh rơi rụng do CSVN thẩy cho và để rồi CSVN vẫn giữ quyền lực độc tôn ? 

Đây là vấn đề quan trọng mà chúng tôi sẽ trả lời trong những bài tiếp. 





KÊU GỌI GÓP Ý LÀM SÁNG TỎ
LẬP TRƯỜNG CHÍNH TRỊ VIỆT TÂN
 
NGUYỄN PHÚC LIÊN
 
 
Trọng kính Ông Song Kiên và 
Trọng kính quý Vị, 
 
Xin chân thành cảm ơn Ông đã nêu ra một số câu hỏi và muốn tôi góp những ý kiến về những câu hỏi nàỵ 

Thực tình, chính bản thân tôi, từ lâu và nhất là những tháng gần đây, trước khi sự việc xẩy ra tại Việt Nam trong ít ngày vừa rồi cho một số người mà Việt Tân gọi là đảng viên của mình, tôi đã đặt những nghi vấn về thái độ chính trị của Việt Tân. 

Tôi nghĩ rằng đã đến lúc phải viết rõ ra những ý kiến  để một số đông đồng bào thấy rõ những tính toán chính trị lươn lẹo của Việt Tân trong cuộc đấu tranh chung tẩy trừ độc tài CSVN. Đối với một số Đòan thể thuộc hàng ngũ đấu tranh của phía chúng ta, Việt Tân tìm cách liên hệ với ngầm ý tính toán  lươn lẹo, mập mờ chính trị,  Việt Tân tạo ra bầu khí nghi kỵ trong  số Đoàn thể đấu tranh ấỵ 

Nhân dịp một số người bị bắt tại Việt Nam mới đây mà Việt Tân coi là đảng viên của mình, rồi rầm rộ phổ biến sự việc trên các Diễn Đàn như quảng cáo cho đảng, tôi nghĩ rằng mọi người nên đóng góp ý kiến để sự thật về Việt Tân được sáng tỏ, không nên để kẻ tự xưng đồng hành đấu tranh mà mập mờ tính toán chính trị riêng lẻ lươn lẹọ Việc này tạo nghi kỵ và làm giảm nghị lực đấu tranh của một số người thuộc chính hàng ngũ của mình. 

Tôi rất cảm ơn Ông Kiên Song đã đặt ra những câu hỏi trong bài dưới đâỵ Chắc chắn tôi sẽ hòi âm tỉ mỉ, rất trung thành với những gì tôi nghĩ về sự mập mờ lươn lẹo chính trị của Việt Tân. Tôi sẽ góp ý kiến theo sát những câu hỏi mà Ông đưa rạ 

Hôm nay, Chúa Nhật, tôi chưa trả lời vào chi tiết từng câu hỏi được. Nhưng bắt đầu từ thứ Hai, tôi sẽ xin góp ý vào chi tiết từng câu hỏị 

Tôi cũng nghĩ như Ông Kiên Song rằng xin mọi người đóng góp ý kiến, nhân sự việc mới xẩy ra, vềthái độ chính trị của Việt Tân. 

Trọng kính, 

NGUYỄN PHÚC LIÊN  
  




  
NHỮNG CÂU HỎI GỢI Ý
CỦA ÔNG SONG KIÊN
 

Kính TS Nguyễn Phúc Liên và quý vị, 
 
SK tán thành nhận định của TS về việc hành động đòi quyền sống của Dân Oan (dân gì mà tên gọi sao đau khổ quá !) là hành động tự phát. Trong qúa khứ TS đã nhiều lần lên tiếng " chặn họng " trước những đám cơ hội chủ nghĩa muốn nhảy vào ăn có. Nhưng than ôi! TS đâu biết được bản chất lưu manh của dân đá cá lăn dưa là chỗ nào có tiếng có miếng thì chúng sẵn sàng lăn vào để biến thành của tạ Khi biến thành của ta không được thì cho nó biến thành của .....ma. Chiến thuật này có lẽ đúng ý của HCM nhất. 

Có một vài ý kiến mà Sk, dù không nghĩ đến nhưng nó cứ hiện ra trong đầụ Nhân đây xin TS kiến giải dùm cho: 
  
1. Những người của VT bị bắt là những khuôn mặt nổi ở hải ngoạị Việt Cộng nó không ngu và cũng không đui nên chắc chắn là nó có hồ sơ về " qúa trình hoạt động " của các nhân vật nàỵ Như vậy, nếu họ (Dảng VT)là những người đấu tranh chống CS thật sự thì hành động đi về VN của những đảng viên này được giải thích như thế nào đâỷ Phải chăng là VT nghĩ rằng thời cơ đã đến nên CSVN không dám bắt giữ đảng viên của họ? Hay, họ qúa "khôn" đến nỗi sẵn sàng hy sinh vài mạng để tạo tiếng vang? 
 
2. Điểm qua phương cách vận động của họ trong mấy ngày nay, SK thấy là họ hình như có chuẩn bị sẵn những phương cách vận động nên các đảng viên của họ vừa bị bắt thì đã có tin tức loan truyền khắp nơi hoặc có những phương pháp vận động đồng bào hải ngoại (dù trước đó họ tuyên bố sẵn sàng bỏ 3 triệu người Việt hải ngoại) cũng như quốc nội yễm trợ cho đảng viên bị bắt, chả bù với lúc Ông Hoàng Cơ Minh bị giết mà cho đến 14 năm sau họ mới chịu làm giấy khai tử. Xin TS cho biết nhận định của TS về kế hoạch của VT trong việc vận động nàỵ 
 
3. Là người VN, chúng ta ít nhiều cũng nhiễm do được dạy dỗ các đức tính làm người căn bản là Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín và niềm tin tôn giáo, CSVN hoàn toàn phá đi những đức tín căn bản này và kết quả là chúng ta có một nước VN băng hoại tan nát từ căn bản đạo đức gia đình cho đến xã hộị VT, trong thời gian qua, căn cứ những việc làm của họ thì nếu trong muôn một VT có cơ hội cầm quyền thì nước VN tương lai sẽ ra saỏ Kính mong TS phân tích chọ 
 
Kính thưa quý vị, dù những câu hỏi này đặt cho TS Liên nhưng SK cũng mong đón nhận ý kiến của quý vị để có dịp mở mang kiến thức của mình. 
  
Trân trọng 
SK 




VIỆT TÂN:
XIN ĐỪNG GIÚP CSVN VU KHỐNG DÂN OAN
 
NGUYỄN PHÚC LIÊN
 
 
Trọng kính quý Vị, 

Ông SONG KIÊN nhắc lại câu nói vô ơn của Ông ĐỖ HOÀNG ĐIỀM đối với Cộng Đồng VN tỵ nạn. Tôi nhớ lại và khẳng định rằng Ông ĐỖ HOÀNG ĐIỀM đã nói câu nói vô ơn ấy và tôi cũng đã bất bình. 

Đồng bào tỵ nạn đã phản ứng mạnh về Freedom March của Việt Tân nhằm thay thế QUỐC HẬN 30 THÁNG TỰ 

Việc Đài Phát Thanh của Việt Tân cho phổ biến loạt bài mạ lỵ chế độ Việt Nam Cộng Hòa và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa xẩy ra mới đâỵ Ông LÝ THÁI HÙNG chữa lỗi bằng buộc tôi cho đàn em  lầm lẫn. 
 
XIN LƯU Ý VIỆT TÂN HÃY THẬN TRỌNG: 
 
Khi Dân chúng quốc nội, nhất là Dân Oan tự động đứng lên tranh đấu, đó là việc bột phát của Dân chúng và không mang mầu sắc Chính trị như Dân chủ/Nhân quyền gì cả, mà chỉ mang mục đích duy nhất là đòi lại Nhà Đất, đòi Công lý. Thế mà CSVN đểu cán đã cho Báo Chí, Đài Truyền Hình vu khống rằng Dân chúng làm theo sự xúi giục của những nhóm Chính trị ngoại laị 

Khi tôi đọc hai Thông Cáo của Việt Tân, thì thấy Việt Tân chính thức khẳng định rằng đảng viên Việt Tân của mình từ nước ngoài, còn mang quốc tịch ngoại lai, đã trở về Việt Nam để lo tổ chức cho Dân chúng đấu tranh Chính trị cho Dân chủ/Nhân quyền. Ra Thông Cáo và khẳng định như vậy, tức là giúp cho CSVN đểu cán có cái bằng chứng để vu khống đàn áp Dân Oan. Việt Tân ra Thông Cáo khẳng định như vậy thì quá trúng ý CSVN rồị 
 
Vậy: 
 
=>  Một là Việt Tân về hùa với sự vu khống của CSVN, nghĩa là tự đưa chúng cớ của chính mình để chứng minh điều vu khống của CSVN là có thực. 

=>  Hai là Việt Tân ra Thông Cáo ngu xuẩn để CSVN có bằng chứng đàn áp Dân Oan nữạ 
 
Có những nhóm trí thức Chính trị  chuyên vểnh tai lên nghe gió chường mặt nịnh Mỹ, đồng thời cúi đầu bợ chiều CSVN,  mong nhặt chút mẩu bánh rơi rụng do Mỹ và CSVN  đồng ý thẩy xuống cho đớp. Dân chúng, Dân oan không muốn đám người tính toán khôn lỏi này dùng những chữ lẻo mép Dân chủ/Nhân quyền chụp lên người họ để rồi CSVN mượn cớ mà cho Công an côn đồ đàn áp ho.. 
 
Hãy đừng mượn đầu Dân Oan, Dân chúng quốc nội mà nấu cháo, lại còn giúp bằng chứng (qua Thông Cáo khẳng định của Việt Tân) cho CSVN vu khống lý do "xúi giục ngoại lai" để đàn áp những bà Cụ già quá nghèo khổ nằm lê lết bên lề đường. Dân Oan, Dân chúng  tự động đứng lên biểu tình vì bị ăn cướp Nhà Đất, chứ chẳng vì mục đích Chính Chị, Chính Em Dân chủ/Nhân quyền trí thức mẹ gì cả. Họ tự động đứng lên, chứ chẳng biết ngoại lai căng chó gì cả. 
 
Trọng kính 
 
NGUYỄN PHÚC LIÊN  



VIỆT TÂN:
MỘT CHIẾN THUẬT MỚI
 
NGUYỄN PHÚC LIÊN

 
Trong tuần này, nhiều thông tin trên Diễn Đàn đưa ra việc những đảng viên Việt Tân có quốc tịch nước ngoài trở về Việt Nam hoạt động và bị CSVN bắt giữ. Tôi không thêm bớt ý kiến hoặc giử thiết gì cho xa xôi, nhưng lại nghĩ nếu đây là chiến thuật đấu tranh mới của Việt Tân, thì tôi thấy là chiến thuật có những điểm nên cổ võ. 

Thực vậy,  nếu chỉ ngồi tại nước ngoài mà nói về Dân chủ/Nhân quyền để có tiếng là đấu tranh, thì hiệu quả chẳng đến đâu. Ơ� nước ngoài, ngồi tại những Xa-lông, thiếu gì tiếng nói Dân chủ/Nhân quyền ồn ào rồi. Nhân tiện đây, tôi cũng nhắc lại chuyện cũ rằng khi Giáo sư NGUYỄN CHÍNH KẾT chạy trốn ra nước ngoài để giảng thuyết về Dân chủ/ Nhân quyền, thì tôi coi thường lắm. Khi Giáo sư còn ở quốc nội đấu tranh cho Dân chủ/Nhân quyền, thì tôi nghiêng mình phục sát đất. Tôi càng khâm phục hơn nữa vì chính bản thân tôi cảm thấy thiếu can đảm không dám về Việt Nam để đấu tranh tại chỗ. 

Trong quan điểm ấy, khi thấy Thông Cáo Báo Chí của Việt Tân loan tin những đảng viên của mình trở về quốc nội để đấu tranh, mặc dầu những đảng viên này đã lộ diện tại nước ngoài mà CSVN đã biết, thì tôi cảm thấy phu.c. Tôi cảm thấy phục và khen CÁI DŨNG của những đảng viên ấy. 

Đồng thời tôi ước ao rằng đây là chiến thuật đấu tranh mới của đảng Việt Tân. Nếu thực sự đây là chiến thuật mới, thì tôi ca ngợi Việt Tân. Thực vậy, nếu chính O�ng ĐỖ HOÀNG ĐIỀM, O�ng LÝ THÁI HÙNG và những nhân vật Lãnh đạo khác nổi tiếng tìm cách trở về Việt Nam và để thách thức CSVN bắt hoặc hy sinh để chúng bắt và kết án, thì đó là chiến thuật rất hay vì những lý do sau đây: 

=> Chứng tỏ CÁI DŨNG của những nhà Lãnh đạo cho đồng bào Hải ngoại biết 

=> Cho CSVN biết rằng mình sẵn sàng chịu tù tội để đấu tranh cho Dân chủ/Nhân quyền 

=> Vì mang quốc tịch nước ngoài, nên khi quý O�ng vào tù, đó là chiến thuật bó buộc những Chính phủ nước ngoài, nhất là Mỹ, Pháp, U�c... phải can thiệp, phải kết án CSVN là đàn áp Dân chủ/Nhân quyền. Nếu không có vụ quý O�ng ngồi tù, thì các Chính phủ nước ngoài họ dần dần yên đi và cứ ngầm chơi với CSVN.  
 

Một chiến thuật đấu tranh mới như vậy quả tình mang ý nghĩa hy sinh và thuật đấu tranh có mưu kế bắt ngoại quốc phải hăng hái yểm trợ mình. 

NGUYỄN PHÚC LIÊN  
 




=========================
pho bien/ publication 22.11.2007
=========================


                 CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH 
 
                                                        Bài 3:

                                  CHẤP NHẬN ĐIỀU KIỆN CẢI CÁCH
                               ĐỂ CÓ YỂM TRỢ TÀI CHÁNH CỦA IMF

                      
                        
                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Đây là bài thứ ba trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ hai này mang đầu đề là CHẤP NHẬN ĐIỀU KIỆN CẢI CÁCH ĐỂ CÓ SỰ YỂM TRỢ TÀI CHÁNH CỦA IMF (International Monetary Fund). Trong bài thứ hai tuần vừa rồi, chúng tôi đã cho thấy rằng cuộc Khủng hoảng Tài chánh Á châu tàn phá rất nhanh chóng nền Kinh tế của 4 nước Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn. Những nước như Tân Gia Ba, Đài Loan và Nhật Bản không bị ảnh hưởng hay nói đúng hơn họ có khối dự trữ Tài chánh vững chắc để chống đỡ cơn Khủng hoảng. Nói như vậy cũng có nghĩa rằng những nước Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn không đủ phương tiện tài chánh dự trữ để có thể chống được cơn lốc Khủng hoảng.

Nơi cầu cứu phương tiện Tài chánh để chống đỡ và phục hồi nền Kinh tế, đó là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). IMF đồng ý cho vay Tài chánh, nhưng với điều kiện là những nước này phải chấp nhận cải cách những điểm yếu làm lý do chính sụp đổ nền Kinh tế. Trong bài tuần trước, chúng tôi đã nêu hai phương diện yếu kém, đó là hệ thống quản trị Xí nghiệp và hệ thống Ngân Hàng điều hành Tài chánh. Theo Bà Francoise NICOLAS, Mã Lai đã không vay Tài chánh của Quỹ Tiền tệ Quốc tế vì không muốn những can thiệp động chạm đến việc liên hệ trực tiếp của quyền lực Chính trị vào Kinh tế và trong sự can thiệp này có nhiều tham nhũng cấu kết giữa Chính trị và những Gia đình giữ Kinh tế. Bà Francoise NICOLAS viết:“En Malaisie,...., les connections étroites entre les pouvoirs politique et économique sont toujours à l’ordre du jour,... Selon Transparency International,..., le niveau de corruption  est comparable  en Malaisie en 2005 à ce qu’il était en 1995“ (Tại Mã Lai,..., những liên hệ chặt chẽ giữa quyền lực chính trị và kinh luôn luôn hiện diện,... Theo Tổ chức Trong suốt Quốc tế,..., mức độ tham nhũng tại Mã Lai có thể so sánh năm 2005 vẫn còn giống như năm 1995). Đó là những lý do khiến Mã Lai không muốn nhận Tài chánh của IMF với những điều kiện can thiệp trực tiếp vào Kinh tế của mình.

Chúng tôi sẽ bàn những điểm sau đây trong bài này:

=> Tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (International Monetary Fund)
=> Aûnh hưởng Kinh tế trực tiếp từ việc chêm vốn của IMF
=> Những cải tổ về Quan trị Xí nghiệp đề nghị từ IMF
=> Những cải tổ hệ thống Ngân Hàng đề nghị từ IMF


Tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF
(International Monetary Fund)

Thế Chiến thứ II đã làm kiệt quệ Kinh tế Aâu châu. Tiền tệ thời ấy được quy định theo lượng vàng (Régime Etalon-Or). Nhưng các nước Aâu châu, trừ Thụy sĩ, đã không còn vàng làm bảo chứng cho Tiền tệ nữa. Hội Nghị Bretton Woods, New Hampshire (USA) tháng Bảy 1944 lấy hai quyết định quan trọng:

* Chuyển Chế độ Tiền tệ từ Etalon-Or sang Etalon-Devise-Or. Thực ra Tiền tệ vẫn định nghĩa trên bảo chứng của vàng. Nhưng thời ấy chỉ có đồng Đo-la mới có đủ lượng vàng bảo chứng, nên Tiền của những nước khác phải nhận Đo-la (Devise) làm bảo chứng.

* Lập một Quỹ chung với sự đóng góp từ những nước có khả năng. Lúc đầu, Quỹ này chính yếu nhằm mục đích tương trợ Tiền tệ. Những nước có Tiền tệ yếu có thể vay Quỹ tương trợ để nâng đỡ đồng tiền của mình. Thêm vào đó, ác mộng của cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30 vẫn còn làm cho các nước sợ hãi, nên 45 nước tham dự Hội Nghị muốn Quỹ tương trợ còn có mục đích hợp tác Kinh tế giữa các nước mong tránh những nguồn khủng hoảng lan tràn như năm 1930. Tổ chức QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ IMF (International Monetary Fund) chính thức thành hình năm 1945.

Từ 45 nước Hội viên ban đầu, số Hội viên ngày nay tăng lên 185 nước. Số quỹ đóng vào hiện nay là 338 tỉ Đo-la (tài liệu 30.09.2007). Ngoài ra IMF có số dự trữ Vàng tính theo thời giá cuối tháng 9/2007 là 77 tỉ Đo-la. Điều khoản I của Quy chế xác định những mục đích hoạt động sau đây:

=> Hợp tác Tiền tệ quốc tế
=> Khuếc trương phát triển Thương mại quốc tế
=> Giữ thăng bằng về Hối suất Tiền tệ
=> Tương trợ hệ thống Thanh toán đa phương quốc tế
=> Tương trợ những nước Hội viên khi gặp những khó khăn Thanh toán quốc tế
=> Cho vay vốn để bảo đảm phát triển Kinh tế bền vững và đề phòng Khủng hoảng
=> Tự mình hoặc hợp tác với Ngân Hàng Thế Giới trong việc làm giảm nghèo đói

Hiện nay Tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế khai triển những biện pháp chi tiết cho những vấn chính yếu sau đây:

* Làm thế  nào IMF giúp những nước nghèo để cứu đói giảm nghèo ?
* Làm thế nào IMF canh chừng việc bền vững phát triển Kinh tế chung ?
* Làm thế nào IMF giúp đỡ để giải quyết những Khủng hoảng Kinh tế ?

Vấn đề cuối cùng này liên quan đến chủ đề chúng tôi đang viết. IMF viết: “Balance of payments difficulties can arise—and, in the worse case, build into crises—even in the face of strong prevention efforts. The IMF assists countries in restoring economic stability by helping to devise programs of corrective policies and providing loans to support them. Since unsustainable debt burdens are sometimes part of the problem, the IMF has also been encouraging actions by debtor countries and their creditors to faciliate a more orderly process for debt restructuring.“ (Tài liệu IMF, 30.09.2007) (Những khó khăn thuộc bảng cân bằng thanh toán quốc tế có thể làm tăng—và, trong trường hợp tệ hại nhất, chất chồng thành những khủng hoảng—ngay cả trước những cố gắng đề phòng vững mạnh. IMF trợ lực những quốc gia trong việc tái lập sự thăng bằng kinh tế bằng cách giúp đỡ hoạch định những chương trình gồm những biện pháp sửa sai và cung cấp vốn để nâng đỡ. Vì những gánh nặng nợ nần không thể trụ nổi trở nên thành phần của vấn đề, nên IMF cũng cổ võ việc dàn xếp giữa những nước mang nợ và những chủ nợ làm dễ dãi tiến trình thanh toán có trật tự về việc tái tổ chức nợ nần.)

Việc cho những nước Á đông trong cuộc Khủng hoảng 1997 vay vốn là một trong những mục đích đã được quy định theo Quy chế của IMF. Tuy nhiên, khi cho vay vốn, IMF cũng có quyền kiểm soát việc xử dụng vốn ấy.


Aûnh hưởng Kinh tế trực tiếp
từ việc chêm vốn của IMF

Trong phần này, chúng tôi chỉ muốn nói đến ảnh hưởng Kinh tế trực tiếp từ việc chêm vốn của IMF vào những nước Thái Lan, Nam Dương và Nam Hàn. Nghĩa là trong phần nay, chúng tôi chưa nói đến việc cải tổ theo đòi hỏi của IMF, mà chỉ nguyên việc chêm vốn (Injection du Capital) cũng đã mang lại một hậu quả Kinh tế trực tiếp rồi.

Nói về điểm này, tất cả những Sinh viên học Kinh tế Chính trị không thể quên Kinh tế gia Anh quốc KEYNES. Những Giáo sư Kinh tế thời danh như SAMUELSON, FRIEDMANN đều là những người thuộc trường phái của KEYNES. Thực vậy, Keynes, gốc Toán học, đã chú tâm nghiên cứu cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30: Xí nghiệp đóng cửa, Thất nghiệp lan tràn. Dân chúng không còn khả năng tiêu thụ nữa. Keynes đã chủ trương phải tìm mọi cách nâng đỡ tiêu thụ (consommation), nghĩa là phải làm thế nào cho phía Cầu tăng lên để khởi công phía Cung. Việc làm cho Cầu tăng có thể trực tiếp bằng trợ cấp xã hội (hệ thống Welfare) hoặc là Nhà nước chủ trương những Công trình lớn xây dựng hạ tầng cơ sở (Grands Travaux). Hoa kỳ đã áp dụng chủ trương Keynes vào những xây dựng những Tòa Nhà Hành chánh, Đường sá, Cầu Cống, Đập nước. Qua những công trình xây cất này, Thợ thuyền có đồng lương và từ đó Cầu tăng lên. Khi Cầu tăng lên thì giới Xí nghiệp tư nhân bắt đầu sản xuất và lần lượt vận hành như vậy thì số thất nghiệp giảm, nghĩa là Cầu càng tăng. Nên Kinh tế lấy lại phát triển.

Gốc là nhà Toán học, Keynes đã đưa ra công thức tính toán tầm ảnh hưởng tăng Kinh tế từ việc chêm một số vốn từ ngoài ( Injection exogène) làm những ảnh hưởng tăng nội tại của hệ thống Kinh tế (Effets endogènes). Công thức tính toán ấy được gọi là Nhân cấp số Keynes (Multiplicateur kéneysien).

Tỉ dụ khi nhận thu nhập là 100, người nhận dành cho tiêu thụ là 75% (0.75/1) số thu nhập. Nếu chêm vào nền Kinh tế 100'000.- phụ thêm, thì hậu quả tăng lên của nền Kinh tế sẽ là:

 tR  =  k. tI,       

tR: tăng thu nhập; tI: tăng chêm vố đầu tư ; k : Nhân cấp số Keynes được tính như sau:

 k  =  1/ (1-0.75) =  4

Như vậy, nếu tăng tI = 100'000.-, thì số thu nhập của Kinh tế tăng lên 4 lần:

 tR = (1/ (1-0.75)) . 100'000.-  =   4 x 100'000  =  400'000.-

Tiền vay của Quỹ Tiền tệ Quốc tế là việc Chêm vốn vào một nước sẽ làm tăng số thu nhập cho nền Kinh tế gấp nhiều lần hơn qua Nhân cấp số Keynes (Multiplicateur Kenésien). Chúng tôi gọi đây là hậu quả Kinh tế trực tiếp từ việc Chêm vốn vay mượn từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế.


Những cải tổ về Quan trị
Xí nghiệp đề nghị từ IMF

Trong bài thứ hai của loạt bài chủ đề này, chúng tôi đã nói đến những yếu kém của việc Quản trị Xí nghiệp dẫn đến Khủng hoảng. Đó là:

=> Nền Kinh tế quy tụ chính yếu vào những Nhóm Gia đình. Việc quản trị mang nặng yếu tố tình cảm gia đình.

=> Những quyết định Kinh tế thiếu tính cách Hữu lý theo những nguyên tắc thuần túy Kinh tế.

Bà Francoise NICOLAS đã viết về việc đòi hỏi cải tổ Xí nhiệp như sau:“Le volet de la réforme post-crise a consisté à résoudre les problèmes des entreprises en faillite ou en difficulté financìere, à renforcer le système légal des faillites, à restructurer les grands groupes familiaux et à améliorer la méthode de gouvernance des entreprises“ (Phương diện cải cách hậu khủng hoảng gồm việc giải quyết những vấn đề của các Công ty phá sản hoặc khó khăn tài chánh, gồm việc tăng cường hệ thống luật lệ về phá sản, gồm việc tái tổ chức những nhóm lớn gia đình và gồm việc cải thiện quản trị những xí nghiệp.)

Như vậy:

* Việc đầu tiên xử dụng vốn vay là giải quyết những trường hợp phá sản hoặc đang gặp khó khăn về tài chánh. Đây là việc ổn định những Công ty (Assainissement des Entreprises). Việc ổn định này có thể là việc nhập lại những Công ty.

* IMF nhấn mạnh đến hệ thống luật pháp kỹ lưỡng về những trường hợp phá sản. Thực vậy có những trường hợp phá sản giả tạo, thiếu trong sáng về trách nhiệm, thiếu kiểm soát của Luật pháp chặt chẽ. Thái Lan và Nam Dương đã ra những Luật mới về phương diện này.

* Về đòi hỏi tái tổ chức những nhóm lớn gia đình gặp những khó khăn vì sự liên hệ giữa những nhóm gia đình lớn và quyền lực chính trị. Tuy vậy IMF cổ võ việc tư nhân hoá những Công ty lớn có liên hệ với quyền lực chính trị. IMF nhấn mạnh đến việc quản trị lành mạnh những nhóm lớn này.

* Việc quản trị lành mạnh và Hữu lý đòi hỏi tính cách căn cơ của Chi tiêu, nhất là về phương diện những Chi tiêu cố định. Một số Công ty chi tiêu cố định quá đáng trong mục đích tăng cường cái danh “hão“ của Công ty mà không nhằm mục đích chính yếu của hoạt động Kinh tế là Lợi nhuận tối đa. Trong việc quản trị Chi tiêu Xí nghiệp, những Chi tiêu cố định là những Chi tiêu dễ làm phá sản. Câu nói “Làm tiền đã khó, mà tiêu tiền còn khó hơn“ có lẽ làm cho một số người không tin. Thực ra câu nói này, nếu áp dụng vào lãnh vực làm Kinh tế thì rất đúng. Tiêu tiền không phải là vất tiền qua cửa sổ. Tiêu tiền theo ý nghĩa Kinh tế là khi tiêu một món tiền ra, thì đã phải tính toán số Lợi nhuận thu vào từ món tiền ấy: thu lại chính món tiền đã tiêu cộng thêm số lợi nhuận thu vào. Như vậy mới là Chi tiêu Kinh tế. Làm Kinh tế là nhằm thu Lợi nhuận tiền bạc tối đa chứ không nhằm thu tình cảm, thu luân lý, thu đạo đức... Lợi nhuận là điểm quy chiếu để lấy những quyết định Kinh tế. Đó là điều mà người ta gọi là Hữu lý trong việc quản trị Kinh tế.


Những cải tổ hệ thống
Ngân Hàng đề nghị từ IMF

Đây là phương diện yếu kém làm nguyên cớ chính cho Khủng hoảng Tài chánh năm 1997.
Về Ngân Hàng và Tài chánh, người ta nhấn mạnh đến những điểm yếu kém sau đây:

* Ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng từ những quyết định có tính cách Gia đình. Trước Khủng hoảng, Ngân Hàng cho vay vốn với những trường hợp nghi ngờ. Đây là khía cách nguy hiểm Tiền bạc và thiếu kiểm soát tài chánh, một yếu tố gây lỏng lẻo sự hữu lý kiểm tra ngân khoản các xí nghiệp. So sánh một vài con số theo tài liệu của Ngân Hàng Thế Giới về sự bấp bênh cho vay nghi ngờ: những năm 1997-98, những món nợ nghi ngờ (créances douteuses) chiếm tới 30% tổng số cho vay và năm 2006 những món nợ ấy chỉ còn chiếm 6% của tổng số.  

* Điểm đáng lưu ý nữa là Ngân Hàng cho vay nợ, rất ít cho việc sản xuất, nhưng chú trọng cho tiêu thụ, nhất là cho việc xây cất nhà cửa. Một nền Kinh tế thu nhập ngắn hạn mà tiêu thụ địa ốc dài hạn cho thấy sự bấp bênh của những món nợ.

* Việc mở cửa của lãnh vực Ngân Hàng cho đến năm 1997 đối với những nhà đầu tư quốc tế đã bị giới hạn. Theo yêu cầu của IMF, Thái Lan, Nam Dương, Nam Hàn đã hủy bỏ những giới hạn này ngay sau năm 1997, trừ Mã Lai vẫn còn giữ.

* Người ta cũng ghi nhận sự yếu kém của Thị trường Trái khoán. Nên lưu ý rằng những Trái khoán tượng trưng tính cách chắc chắn của Tài chánh. Những con số sau đây tính theo % của thu nhập hàng năm theo đầu người cho thấy sự yếu kém của Thị trường này năm 1997: Nam Dương 0.4% (Trái khoán Nhà nước) và 0.8% (Trái khoán Xí nghiệp); Nam Hàn 4.9% (Nhà nước) và 10.3% (Xí nghiệp); Mã Lai 19.4% (Nhà nước) và 20.8% (Xí nghiệp); Thái Lan 0.2% (Nhà nước) và 6.0% (Xí nghiệp) (Nguồn tài liệu: East Asian Finance (2006).

Ghi nhận những yếu kém như vậy, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đòi hỏi những thực hiện cải tổ. Trước klhi nói về những thực hiện cải tổ và những hiệu quả về phương diện Ngân Hàng và Thị trường Tài chánh, chúng tôi ghi nhận ngay cái hiệu quả trực tiếp từ số vốn vay bằng ngoại tệ trên Thị trường Tiền tệ. Đồng tiền của mỗi nước  liên hệ một là được bảo đảm giá bằng sức mạnh sản xuất Kinh tế (Régime du Pouvoir d’Achat), hai là bằng số lượng Ngoại tệ mạnh làm bảo chứng. Số ngoại tệ vay mượn từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho vào có thể ví như cho Nước Biển vào cho đồng tiền đang bị bệnh nặng. Nước biển cho trực tiếp vào con bệnh làm ngưng đà hấp hối của đồng tiền của những nước liên hệ. Đó là hiệu quả tức khắc và trực tiếp cho Thị trường Tiền tệ cũng như hiệu quả trực tiếp từ việc Chêm vốn vào nền Kinh tế như chúng tôi đã phân tích ở trên qua hiệu quả của Số nhân cấp của Keynes (Multiplicateur Keynésien).

Trở lại những điều kiện đòi cải tổ về lãnh vực Tài chánh (Ngân Hàng/ Tiền tệ). Bà Francoise NICOLAS viết: “La nature essentiellement financìere de la crise (tout au moins dans ses causes) explique que l’essentiel des réformes mises en oeuvre aient porté sur ce secteur. Après des mesures d’urgence, dont l’objectif était d’arrêter l’hémorragie financìere, c’est à une réorganisation  en profondeur de ce secteur que les autorités ont du s’atteler avec pour l’objectif de mettre en place un système financier compétitif, internationalement ouvert et fonctionnant selon les règles du marché.“ (Bản chất chính yếu tài chánh của khủng hoảng ( hay tối thiểu trong những nguyên do) cắt nghĩa cái cốt yếu của những cải cách phải thực hiện  liên quan đến lãnh vực này. Sau những biện pháp cấp cứu, mà mục đích là chận đứng ngay tình trạng băng huyết tài chánh, đó là phải tổ chức lại vào chiều sâu của lãnh vực này mà các quyền lực  phải để hết sức vào việc được coi là mục đích là thực hiện một hệ thống tài chánh cạnh tranh, mở rộng ra quốc tế và hoạt động theo những quy luật thị trường).

Trong phạm vi bài này, chúng tôi mới chỉ nêu ra những điểm đòi hỏi thực hiện cải cách cụ thể về lãnh vực tài chánh, còn việc các nước liên hệ đã thực hiện như thế nào cho tới nay, đó là nội dung trong những bài kế tiếp.

=> Về lãnh vực Ngân Hàng, IMF nhấn mạnh đến những cải cách cụ thể sau đây:

* Chấm dứt tình trạng Ngân Hàng cho vay vốn dựa theo tính cách tình cảm gia đình không trong sáng.

* Chấm dứt tình trạng cho vay vốn cho những con nợ đáng nghi ngờ (créances douteuses), nhất là trong lãnh vực xây cất nhà cửa có tính cách dài hạn. Đây là cái nguồn bấp bênh tài chánh cho một nền kinh tế hiện thời vận hành với chu kỳ ngắn hạn và tốc độ càng ngày càng nhanh. (Tỉ dụ sub-prime tại Hoa kỳ là hình ảnh mới đây nhất để hiểu sự bấp bênh).

* Ngân Hàng khi cho vay, phải theo dõi kiểm soát việc xử dụng đồng tiền. Không thể cho vay như thả cọp vào rừng mà không chút giây buộc để kiểm soát. Phải đòi buộc việc cho vay và việc xử dụng có sự trong sáng.

* Phải mở rộng lãnh vực Ngân Hàng đối với quốc tế.

“Cette réforme s’est notamment appuyée sur la consolidation et la rationalisation  du secteur bancaire, l’ouverture aux opérateurs étrangers, l’amélioration de la surveillance et de la transparence du système financier.“(Francoise NICOLAS) (Việc cải cách này dựa chính yếu trên sự củng cố lại và việc hữu lý hóa của lãnh vực Ngân Hàng, dựa trên việc mở rộng cho những người làm việc ngoại quốc trong lãnh vực này, dựa trên việc kiểm soát và sự trong sáng của hệ thống tài chánh).

=> Về lãnh vực Tài chánh và đầu tư, IMF nhấn mạnh:

* Đầu tư vào lãnh vực xí nghiệp sản xuất chứ đừng vào tiêu thụ như trước đây

* Cổ võ việc tăng cường Thị trường Trái khoán, nhất là từ những Công ty lớn hơn là từ nhà nước mang nặng yếu tố Chính trị.

* Mở rộng Thị trường cho việc đầu tư từ nước ngoài.


Bài này mới nêu ra những đòi hỏi cải cách của IMF. Nhưng trong bài tới, chúng tôi sẽ phân tích xem những nước liên hệ, dù lấy lại được đà phát triển, nhưng trong mức độ nào những cải cách chưa toàn vẹn để cho thấy những nguy hiểm có thể xẩy ra khủng hoảng nữa.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 15.11.2007
=========================


                 CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH 
 
                                                        Bài 2:
                      
                             KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH Á CHÂU 1997:
            LÝ DO GIỐNG NHỮNG NƯỚC BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN NGÀY NAY



                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Đây là bài thứ hai trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ hai này mang đầu đề là KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH Á CHÂU 1997: NHỮNG LÝ DO GIỐNG NHỮNG NƯỚC BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN NGÀY NAY. Cuộc khủng hoảng này tàn phá rất nhanh và rồi sau một thời gian ngắn việc phát triển Kinh tế  được lấy lại mau chóng không ngờ. Nhưng chính trong việc lấy lại phát triển mau chóng không ngờ này mà những nhà quan sát Kinh tế tìm thấy những chất liệu cấu trúc còn mang những bấp bênh, nghĩa là không bền vững, làm người ta lo lắng cho một cuộc khủng hoảng mới có thể xẩy ra. Trong số những nhà quan sát này có Bà Francoise NICOLAS mà chúng tôi lấy lại một số dữ kiện để viết về cuộc Khủng hoảng Tài chánh này năm 1997.

Viết về cuộc Khủng hoảng 1997 không phải như nhắc lại một kỷ niệm đau buồn, nhưng là để nhìn qua cuộc Khủng hoảng, kiểm chứng lại những bấp bênh Kinh tế chung cho những nước bắt đầu phát triển hiện nay mà chúng tôi đã trình bầy trong Bài thứ nhất tuần vừa rồi, khả dĩ tiên đoán những gì sẽ xẩy ra, nhất là cho nền Kinh tế gọi là bắt đầu phát triển hiện nay của Việt Nam khi mới hội nhập vào cuộc cạnh tranh Kinh tế Thế giới.

Bài này được viết trong quan điểm đó về những điểm chính sau đây:

=> Diễn biến nhanh chóng của Khủng hoảng
=> Những lý do yếu kém chống Khủng hoảng
=> Nhìn Khủng hoảng qua những bấp bênh Kinh tế chung của những nước bắt đầu phát triển


Diễn biến nhanh chóng của Khủng hoảng

Người ta thường nói đây là cuộc Khủng hoảng Tài chánh (Crise Financìere). Thực ra đây là cuộc Khủng hoảng toàn diện về Kinh tế mớt phát triển trong những điều kiện phát triển bột chộp với một số khía cạnh có thể nói là hỗn loạn. Tài chánh là máu mạch của Kinh tế và như vậy nói đây là Khủng hoảng Tài chánh cũng không sai.

Cuộc Khủng hoảng xẩy ra như cơn lốc bất thần thổi mạnh vào mùa hè 1997 bắt đầu từ Thái Lan, rồi Mã Lai, Nam Dương và lên tới Nam Hàn. Tân Gia Ba, Đài Loan, Nhật Bản không bị ảnh hưởng của cơn lốc hay nói đúng hơn họ có những phương tiện cứng mạnh để chống đỡ.

Trung bình việc sản xuất của những nước không chống nổi cơn lốc đã bị lùi 8% vào năm 1998: Thái Lan và Mã Lai 8%, Nam Dương lùi xuống tới 20% (Theo Vivienne WEE, SEARO Working Paper Series, No.14, City University of Hong Kong, November 2001). Cũng theo tài liệu này, cuộc Khủng hoảng kéo theo một loạt những hậu quả xã hội: tăng vọt thất nghiệp, trở lại tình trạng nghèo khổ. Trong khoảng mấy tháng, số người thất nghiệp tăng lên tối thiểu 800'000 người ở Nam Dương, 1'500'000  tại Thái Lan và 1'350'000 tại Nam Hàn. Giữa 1997 và 1998, độ tăng thất nghiệp từ 2.6% lên 7% tại Nam Hàn, từ 0.9% lên 3.4% tại Thái Lan, và từ 2.5% tới 3.2% tại Mã Lai. Tổng thể, hơn 917 tỉ đo-la về sản xuất bị mất cho 4 nước trong khoảng thời gian từ 1997 đến 2000.

Nói về Tiền tệ và Đồng Lương, thì cuộc Khủng hoảng càng gây tàn phá hơn, không phải chỉ vì việc tụt dốc của sản xuất, nhưng còn vì việc rút ngoại tệ ra khỏi những nước này. Tại Nam Dương và Thái Lan, Tiền mất giá so với Đo-la tới trên 60% sánh với trước cuộc Khủng hoảng. Độ giảm của đồng Lương thực (Salaires réels) vào cuối năm 1998 giảm 12,5% tại Nam Hàn, giảm 6% tại Thái Lan.  Về việc giảm đồng lương này, người ta đã nhận thấy triệu chứng từ 5 năm trước cuộc Khủng hoảng. Với cuộc Khủng hoảng như gió lốc này, dân chúng thực sự đi vào cảnh nghèo khổ. Số dân sống dưới chỉ số nghèo khổ tăng từ 30 triệu lên 50 triệu tính chung trong vùng. Tại Nam Dương số dân sống dưới 2 Đo-la mỗi ngày cho 50% dân chúng vào năm 1997 đã tăng lên 65% dân chúng vào năm 1999.

Đặc biệt tại Nam Dương, cuộc Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh 1997 lan sang Chính trị, dẫn đến việc sụp đổ của Suharto.


Những lý do yếu kém chống Khủng hoảng

Xin nhắc lại rằng Tân Gia Ba, Đài Loan và Nhật không có những bấp bênh làm điều kiện cho Khủng hoảng xẩy ra, hoặc tối thiểu những nước này đã có sẵn những phương tiện Tài chánh để chống đỡ cơn lốc Kinh tế/Tài chánh.

Lấy tỉ dụ việc phát triển Kinh tế như xây một cái nhà. Cái nhà có thể làm bằng tre luồng, không cần phải có nền, móng kiên cố. Nhưng nếu muốn xây một cái nhà lên cao bằng gạch ngói, thì phải đặt nền móng vững chắc. Một cái nhà bằng luồng nứa, nền móng không có, lại thiếu đề phòng những cây chống, thì khi bão tối, nhà dễ bị sụp nhanh chóng. Người ta gọi đây là những nhà sống tạm bợ, không đề phòng phong ba.

Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương phát triển Kinh tế mang tính cách ăn xổi ở thì, không dự phòng những phương tiện chống đỡ nền Kinh tế nếu có cơn lốc tới. Nam Hàn có sự phát triển mạnh hơn những nước trên, nhưng có thăm vọng xây nhà cao, nhưng nền móng chưa vững tương xứng với tham vọng cao của ngôi nhà, nên cơn lốc cũng làm lung lay ngôi nhà.

Những yếu tố yếu kém thực tế không đủ chống đỡ cho nền Kinh tế mới phát triển và cao vọng nhẩy vọt phát triển, như sau:

=> Nền Kinh tế phát triển mà những thành phần cốt cán của nền Kinh tế chịu ảnh hưởng nặng từ những Nhóm Gia đình hoặc trực tiếp từ quyền lực Chính trị. Tỉ dụ: tại Nam Hàn, 5 Nhóm nắm chủ chốt Kinh tế có những liên hệ Gia đình; tại Thái Lan, những Nhóm Gia đình lớn vẫn còn tại chỗ đến ngày nay (tỉ dụ Gia đình cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra); tại Nam Dương, nắm giữ phần lớn ngành nghiệp sản xuất là ở trong tay chừng 10 Gia đình; tại Mã Lai, quyền lực Chính trị can thiệp trực tiếp vào những đầu tư chủ yếu.

=> Cơ cấu tổ chức quản trị Xí Nghiệp hoặc những Tập đoàn Kinh tế thiếu trong sáng và hữu lý theo những chỉ tiêu Kinh tế.  

=> Đặc biệt Nghiệp vụ Ngân Hàng và Thị trường Tài chánh, có những yếu kém sau đây:

* Ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng những quyết định có tính cách Gia đình. Trước Khủng hoảng, Ngân Hàng cho vay vốn với những trường hợp nghi ngờ. Đây là khía cách nguy hiểm Tiền bạc và thiếu kiểm soát tài chánh, một yếu tố gây lỏng lẻo sự hữu lý kiểm tra ngân khoản các xí nghiệp. So sánh một vài con số theo tài liệu của Ngân Hàng Thế Giới về sự bấp bênh cho vay nghi ngờ: những năm 1997-98, những món nợ nghi ngờ (créances douteuses) chiếm tới 30% tổng số cho vay và năm 2006 những món nợ ấy chỉ còn chiếm 6% của tổng số.  

* Điểm đáng lưu ý nữa là Ngân Hàng cho vay nợ, rất ít cho việc sản xuất, nhưng chú trọng cho tiêu thụ, nhất là cho việc xây cất nhà cửa. Một nền Kinh tế thu nhập ngắn hạn mà tiêu thụ địa ốc dài hạn cho thấy sự bấp bênh của những món nợ.

* Việc mở cửa của lãnh vực Ngân Hàng cho đến năm 1997 đối với những nhà đầu tư quốc tế đã bị giới hạn. Theo yêu cầu của IMF, Thái Lan, Nam Dương, Nam Hàn đã hủy bỏ những giới hạn này ngay sau năm 1997, trừ Mã Lai vẫn còn giữ.

* Người ta cũng ghi nhận sự yếu kém của Thị trường Trái khoán. Nên lưu ý rằng những Trái khoán tượng trưng tính cách chắc chắn của Tài chánh. Những con số sau đây tính theo % của thu nhập hàng năm theo đầu người cho thấy sự yếu kém của Thị trường này năm 1997: Nam Dương 0.4% (Trái khoán Nhà nước) và 0.8% (Trái khoán Xí nghiệp); Nam Hàn 4.9% (Nhà nước) và 10.3% (Xí nghiệp); Mã Lai 19.4% (Nhà nước) và 20.8% (Xí nghiệp); Thái Lan 0.2% (Nhà nước) và 6.0% (Xí nghiệp) (Nguồn tài liệu: East Asian Finance (2006).

Những nhận định về những yếu kém trên đây đã đặc biệt nhấn mạnh bởi Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF như những điều kiện phải sửa chữa để IMF (International Monetary Funds) cho mượn vốn để chống đỡ cuộc Khủng hoảng. Thái Lan, Nam Dương và Nam Hàn đã chấp nhận. Mã Lai đã không chấp nhận mà lý do là sự can thiệp của quyền lực vào nền Kinh tế đồng thời kèm theo những tham nhũng đi với sự can thiệp trực tiếp quyền lực vào đời sống Kinh tế.


Nhìn Khủng hoảng qua những bấp bênh Kinh tế chung
của những nước bắt đầu phát triển


Nếu những điểm yếu kém trên đây là những điểm đặc biệt mà chính Quỹ Tiền Tệ Quốc tế IMF (International Monetary Funds) đã nghiên cứu kỹ để đặt điều kiện cho việc chấp thuận cho vay vốn, thì những Bấp bênh Kinh tế có tính cách chung cho những nước bắt đầu phát triển cũng cho chúng ta nhìn thấy những lý do đưa đến Khủng hoảng năm 1997 tại Á châu cho 4 nước Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn. Trong bài thứ nhất thuộc chủ đề, chúng tôi đã nêu ra 4 Bấp bênh chung của những nước bắt đầu phát triển như sau:
=> Bấp bênh thứ 1: Dân chúng chi tiêu với số thu nhập dự đoán tương lai
=> Bấp bênh thứ 2: Nhà nước thực hiện dự án bằng tiền khả thể
=> Bấp bênh thứ 3: Sản xuất những hàng tiêu thụ ngắn hạn
=> Bấp bênh thứ 4: Lệ thuộc vào thị trường nước ngoài với nhiều cạnh tranh

Đối với Bấp bênh thứ nhất: Dân chúng chi tiêu với số thu nhập dự đoán tương lai. Việc dân chúng vừa thoát ra khỏi cảnh nghèo khổ, thì khuynh hướng tiêu thụ quá mức thu nhập không thể tránh được bởi vì dân chúng tiêu thục để bù vào thời gian không được tiêu thụ và bởi vì những người nghèo muốn cập nhật mức sống hiện hành. Đối với phương diện này, như chúng tôi vừa nói ở đoạn trên, chính Ngân Hàng các nước liên hệ với Khủng hoảng đã cổ võ việc tiêu thụ này, nhất là những ưng thuận tín dụng cho những món nợ nghi ngờ trong việc lãnh vực địa ốc.  Tiêu với thu nhập dự đoán tương lai đã là một yếu tố bấp bênh rồi. Nhưng ở lãnh vực địa ốc nghi ngờ lại còn bấp bênh hơn nữa vì tính cách dài hạn của tín dụng sánh với dự trù thu nhập tương lai ở một nền Kinh tế ăn sổi ở thì với những hàng xuất cảng tiêu thụ ngắn hạn. Một tỉ dụ mới nhất ngay chính tại Hoa kỳ, đó là tín dụng sub-prime cho địa ốc. Một nước có những dự trù thu nhập khá vững chắc, thế mà tín dụ dụng địa ốc sub-prime đã làm khuynh đảo Thị trường Tài chánh cách đây mấy tháng. Khi mà đa số dân chúng ở những nước mới bắt đầu phát triển như Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan ở những năm 1997 tiêu thụ với thu nhập lương bổng tương lai, thì tất nhiên không thể có tiết kiệm làm nền tảng cho đầu tư từ trong nước để có thể độc lập về kinh tế. Khi gặp làn gió lốc thổi từ nước ngoài, nền kinh tế thiếu phương tiện chống đỡ. Những nước như Nhật, Đài Loan, Tân Gia Ba đã tích lũy số vốn nội địa và đã có thể chống đỡ cơn bão.

Đối với Bấp bênh thứ hai: Nhà Nước thực hiện dự án bằng tiền khả thể. Những dự án nhà nước thường là vào lãnh vực hạ tầng cơ sở có tính cách dài hạn. Đối với những quốc gia mới bắt đầu phát triển ở những năm 1997, tiền khả thể đã phát hành dài hạn, trong khi ấy số thu nhập của nhà nước dựa vào phát triển kinh tế ngắn hạn. Tính cách bấp bênh của tương lai không thể tránh được. Đây là phương diện lạm phát tiền tệ vô trách nhiệm của nhà nước. Lạm phát tiền tệ, cộng thêm với thất thoát ngoại tệ bởi chính giới nắm quyền hành, một đàng làm đồng tiền mất giá, một đàng khiến vật giá tăng. Thực vậy, nếu nền Kinh tế chưa đủ bảo đảm cho sự đứng vững của đồng tiền, thì tối thiểu số ngoại tệ tích lũy cũng có thể làm bảo chứng cho giá cả đồng tiền. Tính cách bấp bênh của Kinh tế nội địa càng thúc đẩy việc thất thoát ngoại tệ ra nước ngoài.

Đối với Bấp bênh thứ ba: Sản xuất những hàng tiêu thụ ngắn hạn. Đây là sự bấp bênh của chính hệ thống sản xuất Kinh tế. Đối với những quốc gia có nền Kinh tế sản xuất những hàng tiêu thụ dài hạn và ở mức độ kỹ thuật cao, thì hàng hóa sản xuất theo hợp đồng đặt hàng dài hạn, nghĩa là việc thu nhập được hoạch định tương đối vững chắc. Trong khi đó, một nền Kinh tế chỉ làm việc theo nhu cầu nhất thời của Thị trường, thì việc hoạch định sản xuất không thể vững chắc. Đó là những hàng hóa được tiêu thụ theo thời trang và mang tính cách bấp bênh theo thời. Hàng hóa tiêu thụ ngắn hạn bấp bênh theo thời trang kéo theo sự bấp bênh hoạch định sản xuất của nền Kinh tế.

Đối với Bấp bênh thứ tư: Lệ thuộc vào Thị trường nước ngoài với nhiều cạnh tranh. Vào những năm 1997, khả năng thu nhập tiêu thụ thực sự của dân chúng nội địa còn yếu kém. Hàng hóa sản xuất ra là nhằm xuất cảng, nghĩa là những nước mới phát triển thời ấy lệ thuộc vào Thị trường nước ngoài nhất là Hoa kỳ và Aâu châu. Nam Hàn đã muốn tạo tiêu thụ nội địa bằng hệ thống Tín dụng Tiêu thụ (Crédit à la consommation), nhưng đã thất bại. Khi hàng sản xuất có tính cách ngắn hạn và chỉ nhằm vào xuất cảng, thì tính cách bấp bênh càng tăng hơn nữa bởi lẽ chỉ cần một biến động nhỏ về tiêu thụ ở nước ngoài đối với những hàng hoá không nhất thiết cần phải tiêu thụ, thì biến động nhỏ ấy ảnh hưởng tới sản xuất kinh tế của những nước mới phát triển. Thêm vào đó, tại Thị trường nước ngoài, nhất là Hoa Kỳ và Liên Aâu, có những cạnh tranh mà chính những Thị trường này phải buộc lòng nâng đỡ. Tỉ dụ tại Thị trường Liên Aâu, sự cạnh tranh hàng hóa từ những nước Đông Aâu đang lớn mạnh và đe dọa những hàng sản xuất từ Á đông. Cho đến năm 1997, Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn có những dễ dàng đối với Thị trường Liên Aâu. Nhưngsau 10 năm sụp đổ của Cộng sản, những nước Đông Aâu tổ chức lại sản xuất và tất nhiên được nâng đỡ bởi Liên Aâu vì chính những nước này thuộc Liên Aâu. Đối với Thị trường Hoa kỳ, cả Khối Nam Mỹ, nhất là Ba Tây, đang trở thành những nước cạnh tranh lớn trong Thị trường này.

Một yếu tố Bấp bênh nữa được nhắc phụ thêm trong bài này, đó là tính cách di chuyển vốn đầu tư phát xuất từ Hong Kong. Sau khi Anh quốc ký kết chuyển Hong Kong lại cho Trung quốc, thì những nhà tài phiệt tại Hong Kong chỉ muốn để lại đây số vốn làm việc (Capital opérationel) còn những số vốn khổng lồ khác tìm đường chạy loạn qua Tân Gia Ba, Thái Lan và Mã Lai qua ngả hệ thống liên hệ Gia đình.  Nhưng số vốn này dần dần lại di tản sang những nước Tây phương, nhất là Canada (Vancouver). Cuộc Khủng hoảng Tài chánh 1997  có bị ảnh hưởng bởi việc di tản vốn này.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



=========================
pho bien/ publication 14.11.2007
=========================


                                            ĐỀ NGHỊ XÂY DỰNG
                                     CHO ĐẢNG THĂNG TIẾN VN


                                           NGUYỄN PHÚC LIÊN



Một số người muốn lên tiếng để xây dựng cho Đảng THĂNG TIẾN VIỆT NAM. Chúng tôi nghĩ rằng THÔNG CÁO CHUNG của 4 Văn Phòng Địa Phương cũng có những ưu tư xây dựng ấy. Khi thấy Văn Phòng Trung ương yên tiếng, rồi có vẻ im lìm luôn, chúng tôi thấy cần phải lên tiếng nữa để nhắc nhở việc xây dựng đảng cho những người đã ít nhiều cùng đứng chung hoạt động cho Đảng. Cá nhân chúng tôi xin đưa một số đề nghị xây dựng Đảng theo những ý tưởng sau đây:

1) Phải triệu tập khẩn cấp MỘT CUỘC HỌP BẤT THƯỜNG để giải quyết dứt điểm những vấn đề đã được nêu ra trong thời gian vừa rồi cho Văn Phòng Trung ương Hải ngoại Đảng THĂNG TIẾN VIỆT NAM. Nếu Văn Phòng Trưởng Văn Phòng Trung ương không chịu triệu tập, thì một số Văn Phòng Địa Phương có quyền cùng nhau triệu tập CUỘC HỌP BẤT THƯỜNG ấy.  

2) TẠI HẢI NGOẠI

Vì tính cách quan trọng của số người Việt tại Bắc Mỹ (Hoa kỳ và Gia Nã Đại) và số người Việt tại Uùc Châu, nên việc đặt một Văn Phòng Trung ương Hải ngoại chỉ tại Aâu châu là việc thiếu sót. Chúng tôi đề nghị nên tiến tới việc đặt 3 Văn Phòng Trung ương Hải ngoại:

a. VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG HẢI NGOẠI I tại Hoa kỳ

b. VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG HẢI NGOẠI II tại Aâu châu

c. VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG HẢI NGOẠI III tại  Úc châu

Mỗi Văn Phòng Trung Ương mời Ban Cố Vấn không phải là một Linh mục, mà có thể gồm nhiều những Chức sắc Tôn giáo và cả những Nhân sĩ.

3) TẠI QUỐC NỘI

Những vấn đề quan trọng nhất của Đảng hiện nay là (i) lo lắng chăm sóc và đấu tranh cho những người Đại diện sáng lập Đảng đang ngồi trong tù; (i) tìm mọi cách bành trướng đảng viên công khai hoặc bí mật.

Vì những Vị Đại diện sáng lập Đảng đang ngồi trong tù, nên những Đảng viên còn ở ngoài phải thành lập một BAN XỬ LÝ THƯỜNG VỤ để tiếp tục làm việc cho hai vấn đề quan trọng nêu ra trên đây. Ban Xử lý Thường Vụ còn có nhiệm vụ:

1) Lo lắng đấu tranh chăm sóc những người đang ở trong tù. 

2) Bảo vệ Cương Lĩnh của Đảng và Lập trường Chính trị khi thành lập Đảng 

3) Thông tin về những Sinh hoạt của Đảng 

4) Khuếch trương Đảng viên thêm rộng. 


NGUYỂN PHÚC LIÊN

 





                             THƯ GỬI ĐẾN ĐẢNG VIÊN TẠI QUỐC NỘI


Thân ái thăm Ông PHAN THANH 
và quý Anh Em trong nhóm TT tại Hà Nội, 

Chúng tôi đã đọc và rất vui mừng nhận được tin của Ông và Anh Em tại Quốc nội. Tất nhiên chúng tôi sẽ thông báo đến những anh em đảng viên khác về tin mừng nhận được tin của Oâng và Nhóm anh em tại Hà Nội.

Đã từ lâu, sau khi Linh mục Nguyễn Văn Lý và Ban Lãnh đạo Đảng bị kết án tù, chúng tôi tại Hải ngoại luôn luôn tìm kiếm những Đảng viên tại Quốc nội để thành lập BAN XỬ LÝ THƯỜNG VỤ cho Đảng. Thực vậy, khi toàn Ban Lãnh Đạo Đảng bị kết án tù, không hoạt động được, thì Đảng Viên phải cấp tốc hợp lại thành BAN XỬ LÝ THƯỜNG VỤ để sinh hoạt của Đảng không bị gián đoạn. Nhiệm vụ của BAN XỬ LÝ THƯỜNG VỤ là ở những việc chính sau đây: 

1) Lo lắng đấu tranh chăm sóc những người đang ở trong tù. 

2) Bảo vệ Cương Lĩnh của Đảng và Lập trường Chính trị khi thành lập đảng 

3) Thông tin về những Sinh hoạt của Đảng 

4) Khuếch trương Đảng viên thêm rộng. 

Xin lưu ý rằng, trong thời gian này, Ban Xử lý Thường Vụ cũng như bất cứ một Văn Phòng nào, không ai có quyền sửa đổi Cương Lĩnh của Đảng. Việc thay đổi Cương Lĩnh là việc của ĐẠI HỘI ĐẢNG với những điều kiện khả thi và theo một thủ tục rất chặt chẽ. Hiện nay, chúng ta chưa có những điều kiện ấy cho ĐẠI HỘI ĐẢNG, nên không Nhóm nào có quyền thay đổi CƯƠNG LĨNH ĐẢNG. 

Trong Thư của Ông, Ông có nhắc tới cuộc Họp cuối tháng 11 nàỵ Cuộc Họp này, nếu có, thì chỉ hạn hẹp ở việc giải quyết những bất đồng nội bộ thuộc phạm vị của một Văn Phòng Trung ương Hải ngoại tại Âu châụ Cuộc Họp này không có thẩm quyền thay đổi Cương Lĩnh Đảng. 

Trong thư đầu này, tôi chỉ xin thông tin tổng quát như vậỵ Trong thư tới, chúng tôi ở Hải ngoại xin được thảo luận kỹ hơn với Anh Em ở Quốc nội để chúng ta tiến tới thành lập một BAN XỬ LÝ THƯỜNG VỤ cho đảng.

Trân trọng, 
NGUYỄN PHÚC LIÊN  
   
    





                           MINH ĐỊNH VỀ DANH XƯNG VÀ TỔ CHỨC
                                   ĐẢNG THĂNG TIẾN VIỆT NAM


                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Tôi muốn viết bài này để quý độc giả tránh những hiểu lầm về Danh xưng, nhất là phân biệt rõ những ai lợi dụng một số Danh xưng của Đảng Thăng Tiến Việt Nam.
Tôi, NGUYỄN PHÚC LIÊN, đảng viên của Đảng Thăng Tiến Việt Nam, không giữ một Chức vụ lãnh đạo nào trong Đảng, hôm nay dựa trên Cương Lỉnh của Đảng và Thư Khẳng Định của Đảng trưởng là Oâng NGUYỄN PHONG để minh định một số vấn đề liên quan đến Danh xưng trong Đảng.
 

THƯ KHẲNG ĐỊNH CỦA
ĐẢNG TRƯỞNG NGUYỄN PHONG

Ngày 26.09.2006, Oâng NGUYỄN PHONG đã hồi âm cho tôi về Tổ chức Đảng và về Danh xưng liên quan đến Văn Phòng Trung ương Hải ngoại của Đảng Thăng Tiến Việt Nam. Tôi xin đăng nguyên văn Thư đó như sau:

De:            vpthangtienvn@gmail.com  
Date:         26.09.2006 04:03  
A:              <drlien.wim-impact@bluewin.ch>,
                  "CF ORG TsNPL VTD" <wim-impact.drlien@bluewin.ch>  
Copie:       <vpthangtienVnhn@gmail.com>,  <PhuocThanh2006@gmail.com>,  
              <Garant_ta@yahoo.de>  
Objet: Re:   CAM ON VIEC XOA TEN KHOI VAN PHONG  HAI NGOAI
& PHUC DAP CUA VP TW QUOC NOI  

Hue, 26 Sep 2006  9:00 AM 
Ts kinh men,  
1- Chung toi hoan toan dong y voi lap luan rat chat che cua Ts trong Van thu cua Ts ngay 25 Sep 2006 (dinh kem duoi day) tra loi Van thu  cua VP TW Hai ngoai TTVN ngay 22 Sep 2006.  
2- Nhu chung toi da phuc dap cho Ts trong Van thu ngay 08 Sep 2006 ngay ngay dau thanh lap rang : "Chung toi rat han hanh duoc Ts tro thanh chien si dan chu hoa binh cua DTTVN ngay trong ngay thanh lap".
Hom nay, chung toi xin khang dinh lai voi Ts ve van de quan trong nay nhu ban copy Van thu ngay 08 Sep 2006 cua chung toi dinh  kem duoi day.  
3- Ve danh xung, chung toi tan thanh cach goi that chinh xac : VP TW Quoc noi TTVN & VP TW Hai ngoai TTVN  (nghia la chi co 1 Dang TTVN duy nhat, ma co 2 VP TW) hoac nhu cac dia chi Email : vpthangtienvn@...  & vpthangtienvnhn@... thi cung tam hieu. Nhung  cach viet VP TW Quoc noi TTVN  thi VP TW Quoc noi chi dung khi trao doi voi VP TW Hai ngoai ma thoi. Con tat ca nhung truong hop giao dich Quoc te thi VP TW Quoc noi chi viet VP TW TTVN (VNPP) ma thoi. Trong khi do, kinh xin VP TW Hai ngoai TTVN phai luon luon ghi ro 2 tu Hai ngoai, khong nen ghi van tat VP TW TTVN keo Quoc te se hieu lam nhu the la VP TW TTVN noi chung (nghia la Quoc noi). Chung ta luu y can than nhu the, chu trong thuc te, 2 VP TW thuong nen thao luan, thong bao voi nhau truoc.  
4- Bay lau nay chung toi da viet : VP TW TTVN Quoc noi & VP TW TTVN Hai ngoai thi qua that chua duoc chinh xac, co the bi hieu lam  nhu the la co 2 Dang (Parties). Vay tu nay VP TW Quoc noi xin de nghi  voi VP TW Hai ngoai la CHI NEN DUNG CACH GOI + VIET o muc so 3  tren day CHO CHINH XAC HON.  
5- Chi co dieu xin luu y tat ca Quy Vi la : Tat ca nhung gi chung ta moi chi Thong bao co tinh noi bo de thao luan tim phuong cach thuc hien, thi chi xin trao doi CO TINH NOI BO ma thoi, chua voi dua len Dien Dan Quy Vi hoan toan tan thanh nguyen tac nay cua chung ta.  
6- Xin chan thanh cam on Ts & Quy Vi o VP TW Hai ngoai TTVN (VNPP) that nhieu.  
Xin On Tren ban phuc lanh cho Ong va Su nghiep cua chung ta.
Phuc dap & Thong bao,  
TM VP TW  Quoc noi TTVN.  
Nguyen Phong, Truong Ban DDTL.  
Hoang Thi Anh Dao, Thu ky.  
--------------------------------  
"Hue, 08 Sep 2006 12:00 AM 
Ts kinh men, 
Chung toi rat han hanh duoc Ts tro thanh chien si dan chu hoa binh cua DTTVN ngay trong ngay thanh lap. 
Xin Thien chua luon chuc lanh cho Ts va Su nghiep cua chung ta. 
Thay mat Ban Dai dien Thanh Lap  
Nguyen Phong"  



TỔ CHỨC VÀ NHỮNG DANH XƯNG

1) Chỉ có một ĐẢNG THĂNG TIẾN VIỆT NAM duy nhất cho cả Quốc nội lẫn Hải ngoại. Phân biệt ra Đảng Thăng Tiến Việt Nam Hải ngoại và Đảng Thăng Tiến Việt Nam Quốc nội là sai lầm hoặc mang tính cách lạm dụng đánh lận con đen. Chỉ có một Đảng duy nhất mà thôi. Chính vì vậy, Đảng Thăng Tiến Việt Nam không phân biệt đảng viên sống ở Quốc nội và Đảng viên sống ở Hải ngoại. 

2) Đảng duy nhất THĂNG TIẾN VIỆT NAM tổ chứ hai Văn Phòng Trung ương: một Văn Phòng Trung ương nằm tại Quốc nội và một Văn Phòng Trung ương nằm tại Hải ngoại.

3) Danh xưng khi giao dịch như sau:

a) Danh xưng VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG THĂNG TIẾN VIỆT NAM được dùng cho Văn Phòng Trung Ương của Đảng, nằm tại Quốc nội và cho mọi giao dịch đối với Quốc tế, đối với các Đoàn thể khác và đối với Đảng viên.  Khi Văn Phòng này thêm hai chữ QUỐC NỘI (Văn Phòng Trung ương Quốc nội TTVN), đó chỉ là để phân biệt trong văn thư giao dịch với Văn Phòng Trung ương nằm ở Hải ngoại mà thôi. Hai chữ Quốc nội chỉ được thêm vào để phân biệt trong nội bộ Tổ chức mà thôi.

b) Danh xưng VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG HẢI NGOẠI ĐẢNG THĂNG TIẾN VIỆT NAM được dùng cho Văn Phòng Trung ương nằm tại Hải ngoại. Không được bỏ đi hai chữ HẢI NGOẠI vì có thể hiểu lầm đó là Quốc nội. Cũng không được để hai chữ HẢI NGOẠI sau những chữ ĐẢNG THĂNG TIẾN VN vì người ta có thể hiểu lầm đó là Đảng Thăng Tiến VN Hải ngoại độc lập với Đảng Thăn Tiến duy nhất.

Vì vậy Văn Phòng Trung ương Hải ngoại Đảng Thăn Tiến Việt Nam không được xử dụng những Danh xưng sau đây:

=> VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG THĂNG TIẾN VIỆT NAM
 (Vì danh xưng này chỉ toàn Đảng Thăng Tiến cả Quốc nội lẫn Hải ngoại)

=> VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG THĂNG TIẾN VIỆT NAM HẢI NGOẠI
 (Vì Danh xưng này có nghĩa là hai Đảng Thăng Tiến độc lập)
Hải ngoại buộc phải dùng Danh xưng: VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG HẢI NGOẠI  THĂNG TIẾN VIỆT NAM. Mọi sự thay đổi Danh xưng có thể gây ra những lầm lẫn vô tình hay cố ý.


MỘT VÀI CHÚ THÍCH
TỪ VIỆC MINH ĐỊNH TRÊN ĐÂY

Từ những minh định trên đây dựa trên Cương Lĩnh và Thư Khẳng Định của Đảng trưởng, chúng tôi xin chú thích những điễm như sau:

1) Mọi Đảng viên hoặc Cảm Tình viên nộp đơn gia nhập hay ngỏ ý ủng hộ ở bất cứ Văn Phòng nào thuộc Quốc nội hay Hải ngoại, đều thuộc về Đảng THĂNG TIẾN VIỆT NAM duy nhất.

2) Văn Phòng Trung ương Hải ngoại Đảng Thăng Tiến VN không phải là một Đảng riêng độc lập, mà chỉ là một VĂN PHÒNG có tính cách Hành chánh.

3) Văn Phòng Trung ương này không có thẩm quyền sửa đổi Cương Lĩnh hoặc lấy những Lập trường Chính trị cho toàn Đảng Thăng Tiến Việt Nam.

4) Văn Phòng Trung ương này không có thẩm quyền khai trừ những Đảng viên, cho dù họ sống ở nước ngoài và hợp tác làm việc có tính cách Hành chánh với Văn Phòng Trung ương này.

5) Khi Văn Phòng Trung ương Hải ngoại không đi đúng Cương Lĩnh Đảng và tỏ ra đi ra ngoài Lập Trường Chính Trị của Đảng, thì mọi Đảng viên của Đảng Thăng Tiến Việt Nam  có quyền phản đối lại và yêu cầu Văn Phòng tuân theo Cương Lĩnh và Lập trường Chính trị của Đảng. Đây là Quyền và Bổn Phận của mọi Đảng viên bảo vệ Đảng.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




=========================
pho bien/ publication 14.11.2007
=========================


                                     GIÁO DÂN: QUYỀN NỔI DẬY


                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Thời sự tuần này có một điểm nổi bật, đó là trong chính Tôn Giáo, Giáo dân đã lấy một quyết định mà chính quyền lực Chính trị và Lãnh đạo Tôn giáo không ngờ trước. Đây là một SỰ ĐỘT BIẾN. Giáo dân xứ đạo Sáo Cát đã tự động đứng lên gửi TỐI HẬU THƯ cho Nhà Nước để cho biết hạn kỳ lấy lại Nhà, Đất thuộc quyền sở hữu của Giáo sứ.

CSVN đã chủ trương Chính trị hóa Tôn giáo bằng chọn lựa những Lãnh đạo theo ý của quyền lực của mình, hoặc gài đám ngợm Giáo gian quốc doanh trong Tôn Giáo để kềm chế các Giám mục. CSVN vẫn nghĩ rằng kềm chế được hàng Lãnh đạo Tôn giáo là kềm chế được Giáo dân.

Nếu theo về Tín Lý, thì quyền lực theo hàng dọc từ trên xuống dưới. Đối với Công Giáo, những Lời Giảng dậy của Chúa Giêsu là nền tảng của Đức Tin và Tổ chức Giáo quyền. Hàng Giám mục thông phần với quyền lực của Chúa Giêsu để đi giảng dậy Tôn giáo và giữ vững Lời Chúa. CSVN nắm giữ các Lãnh đạo Tôn giáo và vẫn nghĩ rằng Giáo dân không thể cưỡng lại quyền lực ấy.

Việc ĐỘT BIẾN GIÁO DÂN trong tỉ dụ Giáo xứ Sáo Cát không mang tính cách phản loạn đối với Giáo quyền như CSVN hoặc một ít người nghĩ, vì những lý do sau đây:

1) Từ vâng lời về Tín Lý (phần Đạo), Giáo dân dễ có tập quán kính trọng và vâng lời các Linh mục, Giám mục về những phương diện khác ngay cả phương diện phần đời. Tuy nhiên, lòng kính trọng và vâng phục ấy đã giảm xuống nơi Giáo dân vì thấy rằng một số Lãnh đạo Tôn giáo đã tuân theo quyền lực Chính trị CSVN độc tài đàn áp nhân nghĩa (quyền lực Ma Quỷ).

2) Việc Giáo dân tự động đứng lên đòi lại Nhà, Đất không thuộc vào lãnh vực Tín lý. Đây là việc thuộc phần đời mà Giáo dân hoàn toàn có quyền đứng lên mà không mang ý nghĩa phản lại Giáo quyền, nhất nữa hàng Lãnh đạo Tôn giáo như lẩn trốn, để mặc con chiến bị CSVN cấu xé. Giáo dân có lòng tôn kính, vâng phục hàng Giáo phẩm, vì vốn tuân theo về phương diện Tín Lý, nhưng khi thấy hàng Giáo phẩm bị Chính trị hóa theo ma quỷ, thì Giáo dân có quyền không phải tuân theo nữa, nhất là về phần đời.

3) Việc lên tiếng của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ, mặc dầu hoàn toàn có tính cách nhân quyền và đòi hỏi quyền Công dân, nhưng một số Giám mục đã muốn cắt nghĩa đó là “làm Chính trị“. Tuy nhiên trong trường hợp ĐỘT BIẾN SÁO CÁT, thì hàng Giám mục, Giáo quyền, không thể nào nguỵ biện đó là hành động “làm chính trị“ được dù Giáo dân có thể nhân danh Xứ đạo trong Tổ chức Giáo Hội. Thực vậy, Giáo dân không đứng lên để đòi Tự do Tôn giáo một cách trừu tượng. Giáo dân cũng không tuyên bố đấu tranh cho Dân chủ/ Nhân quyền trừu tượng và đã bị chính trị hóa. Giáo dân chỉ đứng lên đòi hỏi cụ thể Nhà, Đất mà chính CSVN đã ăn cướp trước đây. Không có một lý do nào để có thể nguỵ biện đó là hành động Chính trị. Khuyên Giáo dân hãy cầu nguyện trước kẻ cướp, đó là việc lạm dụng Đạo mà thôi.


Cuộc ĐỘT BIẾN SÁO CÁT khởi đầu cho những cuộc tự động đứng lên của Giáo dân tại các Giáo xứ khác. Lực Lượng Tôn Giáo đi vào thực tế của đấu tranh mà Lãnh đạo Tôn Giáo không thể dùng Thần quyền để kềm chế, nhất là khi có những Lãnh đạo đã tuân theo ma quỷ.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 





=========================
pho bien/ publication 11.11.2007
=========================


                                              ĐỘT BIẾN GIÁO OAN


                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Nhà văn Kiêm Aùi LÊ VĂN ẤN viết trong bài dưới đây: “Giáo Oan cùng với Dân Oan hãy hợp lực tự quyết định vận mạng của mình“. Đây không phải là lời khuyên hoặc kêu gọi cổ võ, nhưng đó là những gì mà Nhà văn Kiêm Aùi tuyên bố là thấy trước.

Tôi cũng rất đồng ý với cái nhìn thấy trước này.

Thực vậy, việc Sáo Cát tự quyết định lấy lại Nhà Trường thuộc sở hữu của họ được coi như một quyết định ĐỘT BIẾN GIÁO OAN đã đến lúc phải xẩy ra.

Giáo dân đã trông cậy vào Hàng Giám mục can thiệp để Giáo dân những Xứ Đạo bị ăn cướp đất đai, trường sở giáo dục, xã hội..., có thể lấy lại những sở hữu của mình. Nhưng Hàng Giám mục dường như nhát đảm, thậm chí có trường hợp được hiểu rằng có Giám mục còn ra mặt ngăn cản để chiều lòng CSVN. Chính DHY Phạm Minh Mẫn đã chỉ khuyên Giáo dân hãy cầu nguyện trước CSVN, những kẻ cướp dùng bạo lực cướp từ tinh thần đến vật chất của người dân. Thành thực tôi cảm thấy lời khuyên này như thuốc phiện để làm hạ tinh thần đấu tranh chính đáng cho quyền sống của Giáo dân.

Khi mất Tự do Tôn giáo, thì chính Hàng Giám Mục phải đứng trước đầu sóng ngọn gió để đấu tranh chống lại những đàn áp Tôn giáo. Nhưng các ngài nhát đảm, chuồn lùi, tìm cách ẩn trốn. Có Vị còn dám cả gan ca ngợi CSVN nữa, ca ngợi luôn cả Pháp Lệnh Tôn Giáo kềm kẹp thường xuyên mọi Tôn Giáo. Việc bảo vệ Tự do Tôn giáo là việc các Ngài phải hướng dẫn, cổ võ, thế mà các Vị lẩn trốn, có Vị còn tuyên bố là CSVN cho Tự do Tôn giáo, thì Giáo dân dại gì mà mang thân bảo vệ Tự do Tôn giáo, bảo vệ chính các Ngài.

Đã đến lúc Giáo dân thấy rằng không còn tin ở sự thật lòng và sự can đảm cho Công lý của Chủ chăn nữa. Vậy thì chính Giáo dân tự động đứng lên lấy lại những đất đai, trường sở đã bị CSVN ăn cướp và xử dụng trong những chục năm trường.

Quyết định của Sáo Cát là không thèm làm Đơn giãi bầy xin xỏ nữa, mà là ra một TỐI HÂU THƯ cho kẻ cướp phải trả lại những gì đã ăn cướp.

Việc tự động đứng lên của Sáo Cát được coi như ĐỘT BIẾN GIÁO OAN. Nó giống như cuộc ĐỘT BIẾN DÂN OAN Tiền Giang. Cả hai mang cùng MỤC ĐÍCH: đòi Công lý cụ thể về Nhà, Đất.

Giáo Oan đấu tranh không phải là đòi quyền Tự do Tôn Giáo trừu tượng, tranh cãi bất tận với đám cối chầy đểu cán CSVN mà Mỹ cũng như Quốc tế, hết Phái đoàn này đến Phái đoàn kia, mù mắt hay sao mà còn dùng dằng tham khảo với đám côn đồ CSVN như gặp tên trùm Công an ác ôn Nguyễn Văn Hưởng chẳng hạn, nhưng là Giáo Oan dứt khoát đứng lên tuyên bố TỐI HẬU THƯ là đến kỳ hạn sẽ thâu hồi Nhà, Đất cụ thể thuộc quyền sở hữu của mình. 

Dân Oan đấu tranh không phải là đòi quyền Chính trị Dân chủ/ Nhân quyền trừu tượng, tranh cãi với độc tài CSVN mà chính Mỹ và Quốc tế còn mon men giao hảo vì lợi lộc cho nước họ, mà chính những Trí thức Chính trị Việt Nam, vì ham nhẩy bàn độc đớp những mẩu bánh thừa rơi rụng nhân danh giả tạo mấy chữ Hòa Hợp Hòa Giải đểu cán, nhưng là Dân Oan dứt khoát biểu tình đòi hỏi thực thi Công lý là trao trả lại Nhà, Đất cụ thể thuộc quyền sở hữu của mình.

Đòi lại, chiếm lại NHÀ, ĐẤT là mục đích chung của GIÁO OAN và DÂN OAN. Không tin vào những lẻo mép trừu tượng của Lãnh đạo, Trí thức Tôn giáo hay Chính trị, Việt Nam hay Quốc tế, GIÁO OAN và DÂN OAN chắc chắn sẽ hợp nhất lại với nhau để đấu tranh đạt MỤC ĐÍCH chung: thâu hồi NHÀ, ĐẤT của mình.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 



 

                                    GIÁO OAN CÙNG VỚI DÂN OAN

                                                      Kiêm Ái


“Đấu tranh cho Tự Do Tôn Giáo tại Huế. Bản tin ngày 07.11.2007- Giáo xứ Sáo Cát tự quyết định lấy lại cơ sở của mình”, đó là tựa đề bản tin của nhóm phóng viên FNA (free News Agency), nội dung cho biết giáo xứ Sáo Cát đòi lại trường học xây trong khuôn viên nhà thờ bị Việt Cộng cưỡng chiếm từ năm 1975 đến nay.

Tiến trình “tự quyết định lấy lại cơ sở của mình” chỉ mới mở đầu bằng Tờ trình theo kiểu “Xin – Cho” do Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn sáng chế, chỉ khác một điều là giáo xứ này đã kỳ hạn cho “Nhà Nước cướp quyền” rằng đến ngày 15.6.2008 sẽ tự động lấy lại cái trường học của giáo xứ được xây từ năm 1954 và được trùng tu năm 1969 trong khuôn viên nhà thờ. Linh mục quản nhiệm Trần Khôi cùng ký tên xác nhận tức là ngài đã cho phép Hội Đồng Giáo xứ cùng làm việc đó. Bản tin cũng cho biết “từ 2 năm nay, Cộng Sản muốn chiếm hẳn, cướp gọn (bằng cách “cấp sổ đỏ” cho Phòng Giáo dục huyện) mọi ngôi trường lớn nhỏ mà họ đã “mượn” của các dòng tu, giáo xứ trong Giáo hội Công giáo cũng như của nhiều cộng đoàn của các giáo hội khác tại Việt Nam”.

Điều quan trọng rất đáng được lưu ý là cái trường học này đã “xuống cấp trầm trọng” có nghĩa là nó sẽ sụp đổ bất kỳ lúc nào, khi có học sinh hay không. Nếu trường sụp đổ, Việt Cộng sẽ “phán quyết” rằng vì giáo xứ Sáo Cát đòi lại không cho nó phục vụ Giáo dục nên nó buồn, nó “đi ngủ”, lúc đó chắc chắn giáo xứ phải chịu trách nhiệm, nếu nó đổ xuống khi học sinh đang học thì thật là đại họa cho giáo xứ. Cũng có thể Cộng Sản sẽ cho nó buồn và làm cho nó “chuyển sang từ trần” như “Bác Hồ Khỉ Đại” của chúng năm 1969, để có cớ vu vạ cho giáo xứ Sáo Cát phá hoại “tài sản của Nhà Nước”. Đọc đến đây chắc sẽ có người cho rằng Kiêm Ái vẽ rắn thêm chân, dự trù những chuyện xui xẻo. Nhưng nếu quý vị biết rằng con người Cộng Sản là vua gian dối, vua làm những điều mà người ta tưởng chỉ những kẻ khùng điên mới làm. Nói có sách mách có chứng:  trước đây mươi lăm ngày, một nông dân ở Thanh Hóa khám phá ra ở trong nhà mình có một trái bom rất lớn, chỉ nằm cách mặt đất độ 1 mét. Ông nông dân này liền báo cho “chán quyền” để xử lý tội của trái bom làm biếng nổ. Nhưng chán quyền không giải quyết, ông nông dân “tự quyết định” đào bom lên và khiêng nạp cho Ủy Ban Xã, Ủy ban này phán rằng ông nông dân phải đem quả bom đó trở về nhà. Chán quyền này còn hăm dọa rằng nếu quả bom đó “có mệnh hệ” nào, hay bị cướp trộm lấy thì người nông dân đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật của Chán quyền! Chi tiết trên đây là tóm lược một bản tin của báo chí Cộng Sản đã loan. Cách “xử lý” kỳ cục đó không bao giờ xảy ra tại bất cứ nơi đâu, ngoài trừ 4 nước Cộng Sản còn sót lại.

Chuyện mới rành rành đây là chuyện Nguyễn Văn Hướng tuyên bố với Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ rằng Việt Cộng không trù dập bắt bớ ai vì họ phát biểu ý kiến cũng đủ chứng minh là Việt Cộng không suy nghĩ và dùng ngôn ngữ của con người.

Trở về với cái trường của giáo xứ Sáo Cát, Kiêm Ái khuyên quý vị hãy đề cao cảnh giác kẻo lại bị Phòng Giáo Dục Huyện Lăng Cô xử lý như chuyện anh nông dân trên kia thì quả thật là vô cùng tai hại. Đã có trường hợp con của một cán bộ VC ăn cắp xe của dân, chạy rong chơi trong thành phố mấy ngày, rủi ro nó bị tai nạn lưu thông, nhà nước chán quyền lại bắt chủ xe chịu trách nhiệm tai nạn này, mặc dù khi mất xe chủ nhân chiếc xe đã trình báo công an để xin truy tầm thủ phạm! Chuyện xảy ra ràng ràng trước mắt mọi người, rằng cô Hoàng Thùy Linh và cậu Vũ Hoàng Việt làm cái chuyện “đúc con” mà lại tự quay phim để thưởng thức khi cần. Thế mà vì cha của Vũ Hoàng Việt là sĩ quan công an cao cấp nên cả 2 tên Việt và Thùy Linh vẫn bình yên vô sự, trái lại công an đi bắt 4 người bạn của Thùy Linh và Việt, lại còn thẩm vấn thêm 10 trự nữa. Cái vụ PMU 18, một cán bộ cao cấp cá độ cả triệu Mỹ kim, lòi ra vụ tham nhũng vĩ đại trong cơ quan này, công an đã điều tra mọi chuyện, nó có dính líu tới cái dinh thự của Nông Đức Mạnh, có bãi đáp cho “máy bay lên thẳng”, và liên quan đến một chùm cán bộ lớn. Cuối cùng, khi ra tòa, tòa chỉ phạt thủ phạm này “đánh cá cược bất hợp pháp” còn tiền đâu để cá cược, những số tiền thâm thủng ngân sách của Bộ Giao Thông đi đâu, những kẻ đồng lõa là ai thì tòa “không có thẩm quyền hỏi”. Cả triệu dân oan đi khiếu nại, biểu tình thỉnh cầu “đèn trời soi xét”. Nhà Nước thú nhận những người này quả thật bị cướp đoạt tài sản, nhưng lại bắt tội họ khiếu nại, biểu tình!

Giáo xứ Sáo Cát đã theo lệ thường làm tờ trình để lấy lại ngôi trường, nhưng từ trước đến giờ chưa có tờ trình nào thuộc loại này mà Chán quyền giải quyết trả lại, các trường Hồ Đình Hy của giáo xứ Tây Lộc, trường Mai Khôi của Dòng Mến Thánh Giá Huế, trường của giáo xứ Hà Tây… đều không được Chán quyền giải quyềt, không biết sự việc rồi sẽ ra sao?

Tuy nhiên, dù Kiêm Ái không phải là học trò của Quỷ Cốc Tiên Sinh, Hi Di Trần Đoàn hay đệ tử của một ông Rờ Mu Rùa nào, Kiêm Ái cũng biết cuộc đấu tranh để tự quyết định lấy lại cơ sở này của giáo xứ Sáo Cát hứa hẹn nhiều màn gay cấn, có khi nó lại là cơ hội để loại trừ hẳn bọn Cộng Sản. Đây nhé! Cái tên Sáo Cát là một cái tên định mệnh, vì chắc chắn nó đã được khai sinh từ hồi Hồ Chí Minh chưa ra đời. Sáo Cát nếu nói lái là Sát Cáo, Sát Cáo tức là giết chồn, giết hồ ly, nói cách khác là giết Hồ Chí Minh hay bè lũ của Hồ Chí Minh. Một cái điềm rất xấu cho Việt Cộng, dù cho chúng có đổi tên gì gì đi nữa cũng không thoát khỏi nạn sát thân. Nói như vậy thì ai cũng đoán được giáo xứ này sẽ là khắc tinh của Cộng Sản Việt Nam. Các chú em Việt Cộng tuy vậy mà rất tin dị đoan, Kiêm Ái khuyên các chú nên thỏa mãn tất cả yêu cầu của giáo xứ “Sát Cáo” này hầu tránh hậu hoạn, cái xảy nảy cái ung đó các chú ạ! Tuy là vậy, nhưng tiến trình cũng phải có những chứng cứ, những cơ sở vững chắc hoặc những cuộc đấu tranh “tới bến” như cuộc cách mạng Cam của Georgia bên Nga mới có thể đi đến kết quả là sát cáo. Một điều đáng lưu ý là chỉ nguyên Giáo phận Huế cũng có đến mấy chục giáo xứ bị Việt Cộng chiếm đoạt, hoặc “mượn” cơ sở mà chưa trả, hoặc đã có kế hoạch ăn cướp bằng cách cấp sổ đỏ cho cán bộ, cơ quan của chúng. Do đó, một trong những sức mạnh “sát cáo” của giáo xứ Sáo Cát là phối hợp với những giáo xứ đó. Tất cả đồng loạt đứng lên đòi cho bằng được quyền sở hữu những cơ sở đã mất vào tay Việt Cộng. Dĩ nhiên là Đức Tổng Thể sẽ không có một lời nào binh vực các giáo xứ, vì ngài sinh ra hiền lành, mềm nắn rắn buông. Xem cung cách ngài đối phó với vụ Việt Cộng dùng thánh đường Bến Củi làm nhà tù nhốt linh mục Nguyễn Văn Lý đủ biết cái gan trời sợ của ngài tới đâu. Nhưng chắc chắn là các linh mục sẽ hưởng ứng, sẽ giúp đỡ và chưa chừng sẽ có những linh mục Nguyễn Văn Lý khác xuất hiện, lúc đó thì đúng là sát cáo chắc như bắp rồi.

Trong khi đó, dân oan khiếu kiện, theo “sổ bộ” của Nhà Nước Chán Quyền Cộng Sản, thì  đã lên đến gần triệu rưỡi gia đình, tối thiểu cũng gồm gần được 6 triệu người. Nếu 2 lực lượng này phối hợp với nhau thì “sát cáo” sẽ đáo công cáo thành. Tới luôn 2 bác tài! Chủ trương của giáo xứ Sáo Cát là tự quyết định lấy lại cơ sở bị Việt Cộng cưỡng đoạt, thì chủ trươg của dân oan, sau khi đã khiếu kiện tại địa phương, huyện, tỉnh và trung ương, sau khi biểu tình đòi Nhà Nước giải quyết Nhà Nước cũng không giải quyết, thì chỉ còn 2 cách nữa mà thôi: đồng khởi một lúc, tập trung một chỗ làm cách mạng xanh, hai là theo phương cách của  giáo xứ “Sát Cáo”: “tự quyết định lấy lại cơ sở của mình” tức là đến những địa điểm mà cán bộ lấy đất của dân, bán cho đầu tư nước ngoài, đòi tiền thêm hoặc trả đất lại. Đòi quyền trực tiếp thương lượng với đầu tư ngoại quốc mỗi khi có “vấn đề”. Nếu không được chấp thuận thì “tự quyết định lấy lại cơ sở của mình”. Có như vậy, các nhà đầu tư ngoại quốc về sau sẽ trực tiếp với dân chúng hay ít ra, “chủ đất, chủ nhà” cũng được dự phần vào việc thương lượng hoặc quyết định giá cả, bồi thường v.v… bắt chước như hồi VNCH, khỏi có ai dị nghị gì sất cả! Trong khi đó, đồng hương hải ngoại sẽ hỗ trợ bằng cách hô hào các nhà đầu tư ngoại quốc trực tiếp tiếp xúc với dân chúng quanh vùng mình có ý định thiết lập cơ sở để “mất lòng trước, được lòng sau”. Âu đó cũng là cách giúp “Đảng và Nhà Nước ta” chống tham nhũng, và nhất là giải quyết được Đảng Nạn Dân Oan Khiếu Kiện Biểu Tình. Vì cho đến nay, Đảng nạn Dân Oan Biểu Tình là một vấn đề nan giải, có thể đưa Đảng đến chỗ diệt vong. Đó là sự thật, một sự thật ai cũng biết, Đảng cũng biết cho nên Đảng đang lo sốt vó.

Giáo Oan cùng với Dân Oan hãy hợp lực tự quyết định vận mạng của mình. Đó là những gì Kiêm Ái thấy trước, nói trước theo ngu ý của mình, không cố ý dọa nạt Đảng, cũng không có ý tiết lộ thiên cơ, xin văn hữu Thiên Lôi làm chứng giúp.
 
Kiêm Ái




                                    DÂN OAN/ TÔN GIÁO OAN
                               ĐỨNG LÊN CHIẾM LẠI NHÀ ĐẤT



Trọng kính quý Cha, quý Vị,

Con vô cùng hân hoan về quyết định nàỵ

Dân Oan đã làm đơn khiếu nại bao nhiêu năm trường rồị CSVN không thèm giải quyết, thậm chí không đọc đến Đơn Khiếu Kiện.

Tài sản của Tôn Giáo, của Dân Xứ đã bị tước đoạt. Cứ làm Đơn Khiếu Kiện hoài mà CSVN không thèm nghe, không thèm đọc.

Đã đến lúc Dân xứ các nơi đồng đứng lên như Dân Oan chiếm lại những cơ sở đã bị ăn cướp bao năm trường.

DÂN OAN, GIÁO DÂN OAN, TÔN GIÁO OAN CÓ LÝ DO ĐỂ TỰ ĐỘNG ĐỨNG LÊN CHIẾM LẠI NHỮNG GÌ ĐÃ BỊ ĂN CƯỚP.

Trọng kính,
NGUYỄN PHÚC LIÊN
 


                                          Bản tin ngày 07-11-2007
                     Giáo xứ Sáo Cát tự quyết định lấy lại cơ sở của mình

  
Lời giới thiệu: Sáo Cát là một giáo xứ nhỏ của Tổng Giáo Phận Huế, khoảng 1100 tín hữu, hiện ở dưới quyền cai quản của linh mục Phaolô Trần Khôi (sinh năm 1953, chịu chức năm 1996). Giáo xứ nằm bên bờ biển, thuộc thôn Đồng Dương, thị trấn Lăng Cô, không xa chân đèo Hải Vân là mấy. Giáo xứ có một ngôi trường tư thục mang tên Đồng Nguyên, nằm trong khuôn viên nhà thờ, xây dựng năm 1954 và được trùng tu năm 1969. Sau năm 1975, cơ sở này bị nhà cầm quyền CS tịch thu và sử dụng làm trường nhà nước, khiến giáo xứ mất nơi dạy giáo lý trẻ em và sinh hoạt hội đoàn. Nay nó đã xuống cấp trầm trọng mà vẫn không được các người đang quản lý nó sửa chữa. Đàng khác, sinh hoạt học đường tại đó đã gây nhiều phiền toái cho sinh hoạt tôn giáo cũng như làm ô nhiễm môi trường quanh nơi thờ tự. Đang khi ấy thì thị trấn Lăng Cô còn nhiều đất đai để xây dựng trường học khang trang hơn nhưng nhà cầm quyền địa phương chẳng màng quan tâm, thậm chí còn đem bán một ngôi trường công lập đã cũ nữa. Thành thử Giáo xứ Sáo Cát thấy đã đến lúc phải tự quyết định lấy lại tài sản của mình hầu dùng cho sinh hoạt tôn giáo và bảo đảm sự tôn nghiêm của nơi thờ tự. Đó là lý do của Tờ trình và Bản Quyết định dưới đây.
 
Một sự kiện liên quan là cách đây vài tháng, sau khi về nhận nhiệm sở mới, nhận thấy nhân dân hay đi băng ngang sân nhà thờ, biến nó như con đường của thôn, gây bao cảnh lộn xộn, linh mục Trần Khôi liền bắt tay vào việc tái lập trật tự nơi tôn nghiêm bằng cách rào lại khuôn viên (bao gồm nhà thờ, nhà cha xứ, nhà các nữ tu và trường học, xem hình sẽ gởi kỳ sau). Nhà cầm quyền CS địa phương coi đó là một sự thách thức nên rắp tâm trả thù. Đến ngày Giáo xứ Sáo Cát có ý định tráng xi-măng sân nhà thờ (xin xem hình bên dưới), CS ra liền chơi trò hèn hạ bằng cách cấm các đại lý xi-măng, cát sạn tại Lăng Cô bán vật liệu cho Giáo xứ, rồi còn cấm các xe Công nông (một loại xe tải nhỏ tự chế) chuyên chở các vật liệu này đến nhà thờ. Thế là mọi giáo dân có xe máy đều được huy động. Họ mua từng bao xi măng, từng bao cát sạn, đèo sau yên xe, chở đến nhà cha sở. Rốt cuộc thì sân nhà thờ vẫn được lát xi-măng khang trang sạch đẹp, trước đôi mắt căm tức của cán bộ CS địa phương. Nay thì nhà cầm quyền đang lồng lộn trước quyết tâm của Giáo xứ Sáo Cát muốn thực thi quyền sở hữu hợp pháp và lấy lại tài sản chính đáng của mình bị CS ăn cướp từ hơn 30 năm nay. Việc này nằm trong phong trào rộng lớn của toàn thể nhân dân VN –nhất là nông dân- đòi lại đất đai tài sản đã và đang bị Cộng sản tước đoạt cách trắng trợn. 
 
Cũng xin nhắc lại là từ gần hai năm nay, CS muốn chiếm hẳn, cướp gọn (bằng cách “cấp sổ đỏ” cho Phòng Giáo dục huyện) mọi ngôi trường lớn nhỏ mà họ đã “mượn” của các dòng tu, giáo xứ trong Giáo hội Công giáo cũng như của nhiều cộng đoàn thuộc các Giáo hội khác tại VN. Chủ trương ăn cướp vĩnh viễn các tư thục này là của bộ Giáo dục và Đào tạo CSVN. Vụ trường Têrêxa của Dòng Mến Thánh Giá Huế, trường Hồ Đình Hy của Giáo xứ Tây Lộc, trường Mai Khôi của Giáo xứ Phường Tây, trường giáo xứ Hà Thanh thuộc Giáo phận Huế (xin xem lại tài liệu Đấu tranh cho Tự do Tôn giáo tại Huế, Bản tin ngày 24-11-2006 và Bản tin ngày 05-11-2006), trường Bảo Lộc của Giáo xứ Bảo Lộc, Cà Mau, thuộc Giáo phận Cần Thơ (xin xem lại Tài liệu và hình ảnh tung lên mạng gày 26-10-2006)… là những ví dụ điển hình.
 
Điều đáng nói là một trong những căn cứ pháp lý CS dựa vào là điều 247 khoản 1 trong Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về xác lập quyền sở hữu tài sản theo thời hiệu: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu”. Điều khoản này thật ra áp dụng cho đất hoang và đồ vô chủ, đang khi các tư thục là tài sản hợp pháp của các Giáo hội (xin xem lại hồ sơ vụ trường Mai Khôi và đón xem hồ sơ vụ trường Đồng Nguyên, sẽ gởi tiếp). Quả là một luận điệu và lý cớ hết sức phi lý nực cười mà chỉ có Cộng sản mới dám  xử dụng !?!
 
Chúng ta hãy cầu nguyện và ủng hộ cuộc đấu tranh giành lại các tài sản vật chất và tài sản tinh thần (tức các quyền tự do) của mọi thành phần dân tộc tại VN hiện nay.
 
Nhóm Phóng viên FNA (Free News Agency) từ Huế.
 
 


                        CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
                                 Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
                                           Giáo Xứ Sáo Cát
                                          Số 01/TT/GX/2007


                                               TỜ TRÌNH



V/v : Xin trả lại Cơ sở Tư Thục-Tôn Giáo của Giáo Xứ Sáo Cát
đang bị tùy tiện chiếm dụng trong nơi thờ tự.

 
Kính gởi :
- Ủy Ban Nhân Dân Thị Trấn Lăng Cô
- Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Thị Trấn Lăng Cô
 
I. Căn Cứ
 
- Căn cứ Nghị Định 26/1999/NĐCP trong điều 11, số 1 (xác định lại NĐ 69/HĐBT, 21-3-1991) qui định rằng: “Nhà Nước bảo hộ nơi thờ tự của tổ chức tôn giáo”, và số 2 nói : “Tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gìn giữ, tu bổ nơi thờ tự”.
 
- Căn cứ Thông Tư số 01/1999/TT/TGCP hướng dẫn thực hiện Nghị Định của Chính Phủ số 26/1999/NĐ-CP, ngày 19-04-1999 như sau: “Cơ sở thờ tự của tổ chức tôn giáo là sở hữu chung của cộng đồng tín đồ được Nhà Nước bảo hộ” (Mục III, số 1), (Điều 70 Hiến Pháp, điều 234 Bộ luật Dân Sự cũng đề cập tới điều nầy). Và “Không để cơ sở thờ tự bị lấn chiếm. Nhà Nước bảo hộ cơ sở thờ tự tôn giáo”
 
- Căn cứ Pháp Lệnh Tín Ngưỡng Tôn Giáo, số 21/2004/PL-UBTVQH11, Điều 26 ra ngày 18-06-2004 xác định: “Tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ, nghiêm cấm việc xâm phạm tài sản đó”  và Nghị Định 22/2005/NĐ-CP ngày 01-03-2005 hướng dẫn thi hành Pháp Lệnh.
 
- Căn cứ Thông Tư số 01/1999/TGCP, mục III, số 1 nói: “Cơ sở thờ tự của các tổ chức tôn giáo cho mượn có thời hạn nay đã hết hạn thì phải trả lại. Nếu có nhu cầu sử dụng phải thỏa thuận với tổ chức tôn giáo”.
 
- Căn cứ vào Bộ Trưởng Thủ Tướng (Ông Vũ Thân) lên tiếng, ký ngày 22-11-1977, số 1474-VP8: “Một số địa phương có ý định sử dụng cơ sở tôn giáo làm cho các người tu hành và các tín hữu thắc mắc kêu ca, ảnh hưởng không tốt về mặt chính trị. Do đó… yêu cầu UBND các cấp mỗi khi muốn trưng thu, trưng dụng…, hết sức tránh những việc làm tự tiện gây ảnh hưởng không tốt trong quần chúng tôn giáo".
 
- Căn cứ Quyết định số 1447/GD&ĐT của Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Ông Trần Hồng Quân,  ra ngày 2-6-1994 qui định rõ: “Không dùng nơi phụng tự và sinh hoạt tôn giáo để tổ chức trường lớp”.
 
- Căn cứ Nghi Định 26, điều 11, triệt 3 qui định: “Nhà, đất và các tài sản khác đã được tổ chức, cá nhân tôn giáo chuyển giao cho các cơ quan Nhà nước quản lý, sử dụng do thực hiện chính sách của Nhà Nước Việt Nam... hoặc tặng, hiến cho Nhà Nước thì đều thuộc quyền sở hữu của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.
 
- Căn cứ vào các công văn cũ: Nghị Định 297-CP (1977); Nghị Định 69/HĐBT (1991).
 
- Căn cứ Chỉ Thị 379/TTG (1993) trong tinh thần đổi mới.
 
- Căn cứ Báo Thanh Niên Số 66: Kỳ họp thứ 11: Quốc Hội khóa IX thảo luận dự thảo Nghị Quyết về giao dịch dân sự về nhà ở: “Ngày 31-12-1998 là hạn chót các cơ quan phải trả lại nhà đã mượn hoặc ở nhờ. Chậm nhất là 31-12-2000 đối với nhà cho thuê; 31-12-1998 đối với nhà cho mượn, hoặc ở nhờ”.
 
- Căn cứ Nghị Định của Chính Phủ số 43/2000/NĐ-CP ngày 30-8-2000 chương III, điều 13d của  nói rõ: “Tư thục là cơ sở giáo dục ngoài công lập”.
 
- Căn cứ vào công văn của Chủ Tịch UBND Thị Trấn Lăng Cô, số 03/CV2003-UBND đề ngày 10-04-2003, trả lời cho Linh mục và giáo dân Giáo xứ Sáo Cát rằng: “UBND Thị Trấn Lăng Cô không chấp thuận những nội dung trong văn thư yêu cầu của Linh Mục và HĐGX. UBND Thị Trấn Lăng Cô trả lời để Linh Mục, HĐGX, Trường Tiểu Học Thị Trấn Lăng Cô biết để thực hiện”.
 
- Căn Cứ Nghị Định 84/2007/NĐ-CP ban hành ngày 25-05-2007.
 
- Căn cứ Lịch sử Giáo Xứ Sáo Cát, trong quyển “Lược Sử các Giáo Xứ” của Tổng Giáo Phận Huế, Tập 1, trang 466.
 
* Đề nghị UBND Thị Trấn Lăng Cô nhanh chóng quan tâm các điều liên quan tới Nghị Định 43 : Qui hoạch mạng lưới trường học, và nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân (x. NĐ 43, điều 12, số 1).
 
* Đề nghị : Thời gian chuyển tiếp qui hoạch mạng lưới trường học xứng hợp cho quốc dân và xét giải quyết công minh cho yêu cầu trả lại cơ sở và quyền sở hữu của Giáo Xứ Sáo Cát chúng tôi trên cơ sở tư thục-tôn giáo đang bị tước đoạt, thời gian kể từ ngày ký văn thư nầy (14-09-2007) đến 31-10-2007 (tham chiếu Nghị Định 84/2007/NĐ-CP ban hành 25-05-2007).
 
Trong khi chuyển tiếp qui hoạch, hai bên sẽ luôn thể hiện trong sự hiểu biết, nhẫn nại, chờ đợi và thông cảm lẫn nhau, để cùng nhau hài hòa giải quyết, xây dựng một nền văn hóa, văn minh cho Thị Trấn và cho cả Tôn Giáo trong thế giới hôm nay giữa lòng Thị Trấn Lăng Cô đang phát triển tràn đầy hy vọng cho một tương lai tốt đẹp hơn.
 
II. Trình bày
 
Chúng tôi, Hội Đồng Giáo Xứ và toàn thể Giáo dân Giáo Xứ Sáo Cát, được sự chấp thuận của Linh Mục Quản Xứ, thuộc thôn Đồng Dương, Thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên, Huế, xin kính trình một việc như sau:
 
1. Cơ sở Tiểu Học Tư Thục Đồng Nguyên, tự bản chất là một Cơ Sở của Tôn Giáo nằm trong nơi thờ tự của Giáo Xứ Sáo Cát, căn cứ lịch sử Giáo Xứ Sáo Cát, được xây dựng từ năm 1954. Cơ sở nầy gắn bó hữu cơ với lịch sử của Giáo Xứ, do công lao xương máu, mồ hôi, vất vả, góp công góp của của cộng đồng giáo dân từ 15 tuổi đến 60 tuổi, và do các Linh mục Cựu Quản Xứ Tiền Nhiệm của Giáo Xứ. Cơ sở nầy bị hư hỏng và xuống cấp  theo thời gian với những thăng trầm lịch sử của Đất Nước và được sửa chữa lại vào năm 1969-1970, cũng do công sức của các Linh mục Cựu Quản Xứ Tiền Nhiệm và cộng đồng giáo dân Giáo Xứ Sáo Cát với mục đích đào tạo nhân bản và tôn giáo cho con em trong giáo xứ.
 
a. Xét về phương diện tôn giáo: Căn cứ vào Nghị Định (cũ) 297-CP (1977); Nghị Định 69 (cũ), điều 11; Chỉ Thị 379/TTG (1993); Nghị Định 26, điều 11; Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo, điều 26, Cơ sở nầy là một cơ sở của tôn giáo trong nơi thờ tự, được chính sách Nhà Nước bảo hộ và có tính “nghiêm cấm việc xâm phạm” tài sản của tôn giáo.
 
b. Xét về phương diện Tư Thục, Cơ sở của tôn giáo nầy do Giáo Xứ xây dựng và sở hữu trong nơi thờ tự của mình suốt dòng lịch sử của Giáo Xứ. Căn cứ Nghị Định của Chính Phủ số 43/2000/NĐ-CP ngày 30-8-2000 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Giáo Dục, trong đó đề cập tới vấn đề Tư Thục. Chính Phủ căn cứ luật tổ chức chính phủ ngày 30-9-1992; Căn cứ Luật Giáo Dục ngày 02-12-1998; Theo đề nghị của Bộ Trưởng Giáo Dục và Đào Tạo, Nghị Định 43, chương III, điều 13d nói rõ: “Cơ sở giáo dục tư thục: do cá nhân hay một nhóm cá nhân tự đầu tư. Các cơ sở giáo dục bán công, dân lập, tư thục gọi chung là cơ sở giáo dục ngoài công lập”.
 
Vậy cơ sở tư thục-tôn giáo nầy không thuộc quyền sở hữu công lập mà là thuộc quyền sở hữu của cộng đồng Giáo xứ Sáo Cát như đã trình bày.
 
2. Về cơ sở của Giáo Xứ trong nơi thờ tự, ngoài việc được Nhà Nước bảo hộ theo chính sách qua các Nghị Định và Pháp Lệnh, Thông Tư số 01/1999/TGCP, mục III, số 1 còn nói: “Cơ sở thờ tự của các tổ chức tôn giáo cho mượn có thời hạn nay đã hết hạn thì phải trả lại. Nếu có nhu cầu sử dụng phải thỏa thuận với tổ chức tôn giáo”.
 
Trước đây, dù đã qua thời gian dài, nhưng tinh thần chính sách của Nhà Nước đối với nơi thờ tự và cả cơ sở của tôn giáo vẫn hợp thời tôn trọng, do đó Bộ Trưởng Thủ Tướng (Ông Vũ Thân) lên tiếng trong Quyết Định ký ngày 22-11-1977, số 1474-VP8: “Một số địa phương có ý định sử dụng cơ sở tôn giáo làm cho các người tu hành và các tín hữu thắc mắc kêu ca, ảnh hưởng không tốt về mặt chính trị. Do đó.... yêu cầu UBND các cấp mỗi khi muốn trưng thu, trưng dụng…, hết sức tránh những việc làm tự tiện gây ảnh hưởng không tốt trong quần chúng tôn giáo”.
 
* Xét hành vi của UBND Thị Trấn Lăng Cô và Trường Tiểu học Thị Trấn Lăng Cô tùy tiện chiếm dụng cơ sở tư thục-tôn giáo nầy như hiện nay và không một bàn hỏi về sự đồng ý của Giáo xứ,  hành vi đó có phù hợp với chính sách của Nhà Nước hay không?
 
3. Căn Cứ Quyết định số 1447/GD&ĐT của Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Ông Trần Hồng Quân, ra ngày 2-6-1994 qui định rõ: “Không dùng nơi phụng tự và sinh hoạt tôn giáo để tổ chức trường lớp”.
 
* Xét hành vi tùy tiện chiếm dụng của UBND Thị Trấn Lăng Cô và của Trường Tiểu Học Thị Trấn Lăng Cô để sinh hoạt trường lớp liên quan tới cơ sở tư thục-tôn giáo của Giáo Xứ trong nơi thờ tự như hiện nay, có phù hợp với đường lối chính sách của Nhà Nước và Bộ Giáo Dục và Đào Tạo không?
 
4. Căn Cứ Nghi Định 26, điều 11, triệt 3 qui định: “Nhà, đất và các tài sản khác đã được tổ chức, cá nhân tôn giáo chuyển giao cho các cơ quan Nhà nước quản lý, sử dụng do thực hiện chính sách của Nhà Nước Việt Nam... hoặc tặng, hiến cho Nhà Nước thì đều thuộc quyền sở hữu của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.
 
* Xét rằng cơ sở tư thục-tôn giáo của Giáo Xứ Sáo Cát trong nơi thờ tự đang bị UBND và Trường Tiểu Học Thị Trấn Lăng Cô tùy tiện chiếm dụng mà không có một sự đồng ý nào của Giáo Xứ về sự chuyển giao hoặc tặng, hiến, hành vi tùy tiện chiếm dụng của UB và Trường Tiểu Học Thị Trấn Lăng Cô có phù hợp với chính sách của Nhà Nước tôn trọng và bảo hộ nơi thờ tự của tôn giáo và bảo hộ cơ sở của tôn giáo không? (x.NĐ 26, đ11; PL, đ 26 ).
 
5. Căn cứ Thông Tư số 01/1999/TGCP, mục III, số 1 còn nói: “Cơ sở thờ tự của các tổ chức tôn giáo cho mượn có thời hạn nay đã hết hạn thì phải trả lại. Nếu có nhu cầu sử dụng phải thỏa thuận với tổ chức tôn giáo”.
 
Căn cứ Báo Thanh Niên Số 66: Kỳ họp thứ 11: Quốc Hội khóa IX thảo luận dự thảo Nghị Quyết về giao dịch dân sự về nhà ở: “Ngày 31-12-1998 là hạn chót các cơ quan phải trả lại nhà đã mượn hoặc ở nhờ. Chậm nhất là 31-12-2000 đối với nhà cho thuê; 31-12-1998 đối với nhà cho mượn, hoặc ở nhờ”.
 
Nơi đây, cơ sở tư thục-tôn giáo của Giáo Xứ nằm trong nơi thờ tự của Giáo Xứ, từ trước đến nay không bao giờ cho mượn, chuyển giao, hoặc tặng hiến, nhưng bị tùy tiện chiếm dụng thì càng phải trả lại theo công bằng xã hội khi Giáo xứ yêu cầu trả lại quyền sở hữu của Giáo Xứ trên cơ sở tư thục-tôn giáo nầy.
 
Hoặc Căn Cứ Thông Tư “nếu có nhu cầu sử dụng phải thỏa thuận với tổ chức tôn giáo”. Giáo Xứ không bao giờ được ai hỏi ý kiến và không bao giờ có sự thỏa thuận nào với ai trong vấn đề liên quan tới cơ sở tư thục-tôn giáo nầy của Giáo Xứ, nhưng trên thực tế, cơ sở tư thục-tôn giáo nầy của Giáo Xứ cứ qua thời gian mãi bị tùy tiện chiếm dụng, và bị tước đoạt một cách không phù hợp với đường lối chính sách tôn trọng tài sản và bảo hộ tôn giáo của Nhà Nước và không phù hợp với Quyết định của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (x. QĐ số 1447). Hành vi tùy tiện chiếm dụng và tước đoạt như thế có phù hợp không?
 
Một sự kiện rất cụ thể sau đây để chứng minh về sự truất bỏ quyền sở hữu của Giáo Xứ Sáo Cát trên cơ sở của mình: Vào tháng 03-2003, Linh Mục Cựu Quản Xứ Lê văn Cao và toàn thể Giáo Xứ Sáo Cát gởi yêu cầu UBND Thị Trấn Lăng Cô trả lại cơ sở tư thục-tôn giáo nầy cho Giáo Xứ vì Giáo Xứ đang trên đà phát triển cần hòa nhập với văn minh thời đại với các nhu cầu mục vụ cấp bách. Nhưng được đại diện Chính Quyền, ông Trần Bình Trọng, Chủ Tịch UBND Thị Trấn Lăng Cô trong công văn số 03/CV2003-UBND đề ngày 10-04-2003, trả lời cho Linh Mục và giáo dân Giáo xứ Sáo Cát, rằng: “Từ ngày thống nhất đất nước (1975) cho đến nay, các Linh mục và giáo dân thuộc Giáo Xứ Sáo Cát đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, cùng với nhân dân trong xã xây dựng quê hương Lộc Hải trở thành Thị Trấn Lăng Cô ngày nay”. Vừa mới đề cao tinh thần tích cực góp phần của Giáo Xứ Sáo Cát, Ông Chủ tịch tiếp ngay sau đó truất bỏ quyền sở hữu của Giáo xứ  trên chính cơ sở Tiểu học Tư Thục Đồng Nguyên do Giáo xứ sở hữu xây dựng, khi ông viết rằng: “Cơ Sở 2, Trường Tiểu Học Lăng Cô ở trên địa bàn thôn Đồng Dương đã và đang được sử dụng vào việc dạy cho con em của nhân dân địa phương... Cho nên phải tiếp tục sử dụng ngôi trường nói trên  phục vụ mục đích dạy học cho con em trên địa bàn”.  Ông Chủ Tịch chính thức xác nhận sự tùy tiện chiếm dụng và tước đoạt khi gọt bỏ cái danh hiệu “Tiểu học Tư Thục Đồng Nguyên” để dán vào đó cái danh hiệu mới “Cơ Sở 2, Trường Tiểu Học Lăng Cô” mà không có một thỏa thuận nào của Giáo Xứ. (Xin xem hình ảnh 1 và 2 minh thị kèm theo ở trang 9).
 
- Ông Chủ tịch đã dựa vào lý do “dạy học cho con em” để dùng phương sách “tước đoạt cơ sở và quyền sở hữu của Giáo Xứ”, nên tiếp tục minh nhiên quyết định: “UBND Thị Trấn Lăng Cô không chấp thuận những nội dung trong văn thư yêu cầu của Linh Mục và HĐGX. UBND Thị Trấn Lăng Cô trả lời để Linh Mục, HĐGX, Trường Tiểu Học Thị Trấn Lăng Cô biết để thực hiện”.
 
* Xét rằng công văn trả lời của ông Trần Bình Trọng, Chủ Tịch UBND, là một quyết định “tước đọat và không trả lại” và cũng “không thỏa thuận với tổ chức tôn giáo” lại còn xác định “biết để thực hiện”, nghĩa là “quyết ý chiếm dụng, tước đoạt quyền sở hữu của Giáo Xứ Sáo Cát, để sử dụng cơ sở và sinh hoạt trường ốc trong nơi thờ tự”, ngược với ý muốn của cộng đồng giáo dân, ngược với Quyết định số 1447/GD&ĐT của Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Ông Trần Hồng Quân, ra ngày 2-6-1994 qui định rõ: “Không dùng nơi phụng tự và sinh hoạt tôn giáo để tổ chức trường lớp”, ngược với đường lối chính sách của Nhà Nước tôn trọng và bảo hộ tài sản và nơi thờ tự của tôn giáo. Như thế quyết định ấy có  hợp pháp, hợp  lý, hợp tình không?  Quyết định ấy còn làm phai mờ vai trò trách nhiệm của lãnh đạo và của ngành giáo dục trong việc qui hoạch trường lớp cho quốc dân xứng hợp đã được Nghị Định 43 minh nhiên đề cập.
 
6. Cơ sở tư thục-tôn giáo nầy nằm trong nơi thờ tự của Giáo Xứ và đã không chuyển giao quyền sở hữu, hoặc tặng hiến cho bất cứ ai cả. Như trong số 1 trên đây cần được  nhắc lại:
 
Căn cứ Nghị Định số 43/2000/NĐ-CP, chương III, điều 13d  nói rõ: “Tư thục là cơ sở giáo dục ngoài công lập”.
 
Căn cứ Nghị Định 26/1999/NĐCP trong điều 11, số 1 : “Nhà Nước bảo hộ nơi thờ tự của tổ chức tôn giáo”, và số 2 nói : “Tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gìn giữ, tu bổ nơi thờ tự”.
 
Căn cứ Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo, điều 26 : “...nghiêm cấm việc xâm phạm”.
 
Vậy cơ sở Tư Thục-tôn giáo nầy không thuộc sở hữu công lập mà là sở hữu của cộng đồng Giáo xứ Sáo Cát, nên cần phải được tôn trọng và bất khả xâm phạm, nghĩa là loại trừ những hành vi tùy tiện chiếm dụng, tước đoạt bất hợp pháp để sinh hoạt trường lớp trong nơi thờ tự của tôn giáo, đồng thời loại trừ kế hoạch đưa cơ sở nầy vào công lập  ngược hoàn toàn với ý muốn của cộng đồng giáo dân Giáo Xứ Sáo Cát. Đối với các cơ sở tư thục, Nhà Nước bảo hộ quyền sở hữu tài sản (x. NĐ 43 điều 26, 2), phương chi đây là một cơ sở vừa tư thục vừa tôn giáo đều được Nhà Nước bảo hộ.
 
7. Việc sinh hoạt trường lớp trong nơi thờ tự từ ấy đến nay đã và đang gây qúa nhiều phiền toái cho nơi thờ tự của Giáo Xứ !!! Biết khi nào mới có thể thấy được sự tôn trọng chính chắn nơi thờ tự của tôn giáo, và thỏa mãn công bằng xã hội  khi tình trạng quyết ý chiếm đoạt vẫn tồn tại duy trì ?! (xem hình ảnh minh thị sự phiền toái cho Giáo Xứ ở trang 10-11).
 
8. Bất cứ xâm phạm nào liên quan tới cơ sở của tôn giáo và quyền sở hữu của tôn giáo trong nơi thờ tự, ngược với chính sách của Nhà Nước, đều là vi phạm đường lối chính sách của Nhà Nước bảo hộ tài sản tôn giáo và nơi thờ tự tôn giáo; ngược với các quyết định của Bộ Giáo Dục Đào Tạo đã tiên liệu cũng là vi phạm các quyết định của Chính Phủ; và vi phạm quyền sở hữu của Giáo Xứ Sáo Cát trong chính nơi thờ tự của mình và gây ảnh hưởng không tốt trong quần chúng tôn giáo.
 
9. Giáo Xứ Sáo Cát đồng tâm nhất trí nói lên chính kiến của mình, yêu cầu UBND Thị Trấn Lăng Cô xét giải quyết và tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Xứ để minh chứng sự công bằng xã hội,  “của ai cứ nấy”, chấm dứt sự tùy tiện chiếm dụng, tước đoạt bất hợp pháp, gây nhiều phiền toái hiện nay cho nơi thờ tự của Giáo Xứ và gìn giữ ảnh hưởng tốt trong quần chúng tôn giáo rất hiểu biết trong thế giới văn minh ngày nay.
 
10. Giáo Xứ Sáo Cát chúng tôi trình bày minh bạch căn cứ vào đường lối và chính sách của Nhà Nước cũng như của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo để được xét giải quyết công minh, vì rằng Nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân (x. NĐ 43, điều 12, số 1) mà trách nhiệm lãnh đạo và ngành giáo dục cần phải quan tâm và qui hoạch xứng hợp.
 
III. Đề nghị giải quyết
 
Vì các nhu cầu mục vụ cấp thiết trong Thế giới văn minh, Đất Nước phát triển, Thị Trấn vươn lên, chúng tôi đề nghị UBND Thị Trấn Lăng Cô nhanh chóng quan tâm giải quyết các điều liên quan tới Nghị Định 43 và yêu cầu của chúng tôi :
 
1/ Qui hoạch mạng lưới trường học cho quốc dân ở khu vực xứng hợp với văn hóa, văn minh của một Thị Trấn và tôn trọng đường lối chính sách của Nhà Nước bảo hộ nơi thờ tự, đồng thời phù hợp với các Quyết Định của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã ban hành, để tái lập sự công bằng xã hội, tôn trọng nơi thờ tự của tôn giáo và xây dựng nét văn hóa, văn minh, xứng hợp của của một Thị Trấn Lăng Cô đang trên đà phát triển.
 
2/ Qui hoạch mạng lưới trường học xứng hợp cho quốc dân là trách nhiệm của các lãnh đạo và ngành Giáo Dục để chấm dứt phiền toái đã, đang và tiếp tục xảy ra không công bằng ngoài ý muốn trong nơi thờ tự của Giáo Xứ  Sáo Cát chúng tôi.
 
3/ Trên nguyên tắc : Thời gian chuyển tiếp qui hoạch mạng lưới trường học xứng hợp cho quốc dân và xét giải quyết công minh cho yêu cầu trả lại cơ sở và quyền sở hữu của Giáo Xứ Sáo Cát chúng tôi trên cơ sở đang bị tước đoạt ngay chính trong nơi thờ tự, thời gian kể từ ngày ký văn thư này (14-09-2007) đến 31 tháng 10 năm 2007 (tham chiếu Nghị Định 84/2007/NĐ-CP ban hành 25-05-2007).
 
Trên thực tế: Trong khi chuyển tiếp qui hoạch, hai bên sẽ luôn thể hiện trong sự hiểu biết, nhẫn nại, chờ đợi và thông cảm lẫn nhau, để cùng nhau hài hòa giải quyết, xây dựng một nền văn hóa, văn minh cho Thị Trấn và cho cả Tôn Giáo trong thế giới hôm nay giữa lòng Thị Trấn Lăng Cô đang phát triển tràn đầy hy vọng cho một tương lai tốt đẹp hơn.
 
Trong khi chờ đợi UBND Thị Trấn Lăng Cô xét giải quyết, xin nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành của chúng tôi.
 
Sáo Cát ngày 14 tháng 09 năm 2007
 
Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ Sáo Cát đồng ký
Nguyễn Phát, Nguyễn Vinh, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Văn Ghi, Nguyễn Đức Hồng, Hoàng Ngọc Thu, Nguyễn Trường, Nguyễn Thanh Quang, Nguyễn Trần, Nguyễn Huệ, Đặng Minh Chánh, Trần Thục, Nguyễn Văn Diệm, Cái Bình, Nguyễn Tính, Nguyễn Văn Dương, Nguyễn Tha, Nguyễn Văn Lớn (ký tên từng người)
 
Xác nhận của Linh Mục Quản Xứ
 
Xin Chính quyền các cấp xét giải quyết cho yêu cầu chính đáng của Giáo Xứ Sáo Cát. Chân thành cám ơn.
 
(ký tên và đóng dấu)
 
Lm. Phaolô Trần Khôi
 
Nơi nhận:
- Như trên
- Tòa Tổng Giám Mục Huế (để tường).
- Lưu Vp GX.






                            CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
                                      Độc lập - Tự Do - Hạnh phúc

                                                Giáo Xứ Sáo Cát
                                                 01/QĐ-GX/2007


                                                  QUYẾT ĐỊNH


v/v Quyết định thu hồi Cơ sở Tư thục-Tôn giáo
của Giáo Xứ Sáo Cát trong nơi thờ tự.
 
 
Kính gởi Ông Hiệu Trưởng và Ban Giám Hiệu Trường Tiểu học Lăng Cô 
Kính thưa Ông Hiệu Trưởng và Ban Giám Hiệu
 
Chúng tôi, Hội Đồng Giáo Xứ và toàn thể Giáo dân Giáo Xứ Sáo Cát, được sự chấp thuận của Linh Mục Quản Xứ, thuộc thôn Đồng Dương, Thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên, Huế, xin gởi văn bản nầy để bày tỏ với Ông Hiệu Trưởng và Ban Giám Hiệu Trường Tiểu Học Lăng Cô một sự việc liên quan đến cơ sở Tiểu Học Tư Thục Đồng Nguyên trong chính nơi thờ tự của chúng tôi. Hy vọng Ông Hiệu Trưởng và Ban Giám Hiệu sẽ hiểu rõ hơn nữa vấn đề chúng tôi muốn đề cập nhằm cùng giúp nhau xây dựng sự công bình xã hội trong trật tự và sự thật, hầu can đảm mở ra một sự đổi mới  tốt đẹp hướng về tương lai sáng ngời hơn cho Trường và cho cả Giáo Xứ chúng tôi giữa lòng một Thị trấn đang trên đà cần phát triển về mọi phương diện.
 
Với sự kính trọng và hiểu biết, chúng tôi xin dựa vào đường lối và chính sách của Nhà Nước và Bộ Giáo Dục và Đào Tạo để trình bày vấn đề như sau:
 
1. Căn cứ :
- Căn cứ Bộ Luật Dân Sự. Bộ luật nầy đã được Quốc Hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp 7 thông qua ngày 14-06-2005.
- Căn cứ Bộ Luật Hình Sự 2005-Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam,  ngày 12-11-2005
- Căn cứ Tờ trình Giáo Xứ Sáo Cát Số 01/TT/GX/2007 gởi UBND Thị trấn Lăng Cô ngày 14-09-2007.
- Căn cứ Nghị Định 26/1999/NĐCP trong điều 11, số 1 (xác định lại NĐ 69/HĐBT, 21-03-1991) qui định rằng: “Nhà Nước bảo hộ nơi thờ tự của tổ chức tôn giáo”, và số 2 nói: “Tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gìn giữ, tu bổ nơi thờ tự”.
- Căn cứ Thông Tư số 01/1999/TT/TGCP hướng dẫn thực hiện Nghị Định của Chính Phủ số 26/1999/NĐ-CP ngày 19-04-1999 như sau: “Cơ sở thờ tự của tổ chức tôn giáo là sở hữu chung của cộng đồng tín đồ được Nhà Nước bảo hộ” (Mục III, số 1. Điều 70 Hiến Pháp, điều 234 Bộ luật Dân Sự cũng đề cập tới điều nầy). Và “Không để cơ sở thờ tự  bị lấn chiếm. Nhà Nước bảo hộ cơ sở thờ tự tôn giáo”.
- Căn cứ Pháp Lệnh Tín Ngưỡng Tôn Giáo, số 21/2004/PL-UBTVQH11, Điều 26 ra ngày 18-06-2004 xác định: “Tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ, nghiêm cấm việc xâm phạm tài sản đó”  và Nghị Định 22/2005/NĐ-CP ngày 01-03-2005 hướng dẫn thi hành Pháp Lệnh.
- Căn cứ Thông Tư số 01/1999/TGCP, mục III, số 1 nói: “Cơ sở thờ tự của các tổ chức tôn giáo cho mượn có thời hạn nay đã hết hạn thì phải trả lại. Nếu có nhu cầu sử dụng phải thỏa thuận với tổ chức tôn giáo”.
- Căn cứ vào Bộ Trưởng Thủ Tướng (Ông Vũ Thân) lên tiếng, ký ngày 22-11-1977, số 1474-VP8: “Một số địa phương có ý định sử dụng cơ sở tôn giáo làm cho các người tu hành và các tín hữu thắc mắc kêu ca, ảnh hưởng không tốt về mặt chính trị. Do đó… yêu cầu UBND các cấp mỗi khi muốn trưng thu, trưng dụng…, hết sức tránh những việc làm tự tiện gây ảnh hưởng không tốt trong quần chúng tôn giáo”.
- Căn cứ Quyết định số 1447/GD&ĐT của Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Ông Trần Hồng Quân,  ra ngày 02-06-1994 qui định rõ: “Không dùng nơi phụng tự và sinh hoạt tôn giáo để tổ chức trường lớp”.
-  Căn cứ vào các công văn cũ: Nghị Định 297-CP (1977), Nghị Định 69/HĐBT (1991).
- Căn cứ Chỉ Thị 379/TTG (1993) trong tinh thần đổi mới.
- Căn cứ  Báo Thanh Niên Số 66: Kỳ họp thứ 11: Quốc Hội khóa IX thảo luận dự thảo Nghị Quyết về giao dịch dân sự về nhà ở: “Ngày 31-12-1998 là hạn chót các cơ quan phải trả lại nhà đã mượn hoặc ở nhờ. Chậm nhất là 31-12-2000 đối với nhà cho thuê; 31-12-1998 đối với nhà cho mượn, hoặc ở nhờ”.
- Căn cứ Nghị Định của Chính Phủ số 43/2000/NĐ-CP ngày 30-08-2000 chương III, điều 13d cũng nói rõ: “Tư thục là cơ sở giáo dục ngoài công lập”.
- Căn cứ vào công văn của Chủ Tịch UBND Thị Trấn Lăng Cô, số 03/CV2003-UBND đề ngày 10-04-2003,  trả lời cho Linh mục và giáo dân Giáo xứ Sáo Cát.
- Căn cứ Lịch sử Giáo Xứ Sáo Cát, trong quyển “Lược Sử các Giáo Xứ” của Tổng Giáo Phận Huế, Tập 1, trang 466.
- Căn cứ Nghị Định 43/2000/NĐ-CP : “Qui hoạch mạng lưới trường học, và nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân” (x. NĐ 43, điều 12, số 1).
 
2. Trình bày:
 
Căn cứ vào chính sách Nhà Nước và Bộ Giáo Dục và Đào Tạo liên quan tới nơi thờ tự và trường học trong nơi thờ tự, Giáo Xứ chúng tôi đã trực tiếp trình bày bằng văn bản qua Tờ Trình số 01/TT/GX/2007 ký ngày 14-09-2007 lên UBND Thị Trấn Lăng Cô, để xin hoàn trả lại cơ sở Tư Thục-Tôn Giáo - là cơ sở Tiểu Học Tư Thục Đồng Nguyên của chúng tôi - mà Ông Hiệu Trưởng và Trường Tiểu Học Lăng Cô đang trực tiếp quản lý qua nhiều năm và đã trở thành vấn đề vô cùng phiền toái cho Giáo Xứ chúng tôi  !
 
- Sau khi gởi Tờ Trình lên UBNDTTLC với tất cả nội dung minh bạch căn cứ trên đường lối chính sách của Nhà Nước và của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo liên quan tới việc phục hồi quyền sở hữu của chúng tôi trên cơ sở bị tước đoạt trong nơi thờ tự.
 
- Và sau thời gian hiệu lực do luật  trong tương quan với UBNDTTLC mà không có một công văn chính thức nào của UBNDTTLC có ý kiến phủ định, Tờ Trình của chúng tôi tự nó (ipso facto) có giá trị hiệu lực pháp lý - vừa do sự và vừa do luật - về quyền sở hữu trọn vẹn của chúng tôi trên cơ sở bị tước đoạt. Hành vi hành chánh của UBNDTTLC như thế có ý nghĩa mặc nhiên và cả minh nhiên công nhận.
 
Vì thế, với tất cả kính trọng, chúng tôi gởi văn bản nầy để trực tiếp vấn đề với Ông Hiệu Trưởng và Ban Giám Hiệu nhằm góp phần xây dựng nét đẹp văn hóa lương thiện và tinh thần trách nhiệm trong một xã hội đang cố gắng đạt tới công bằng.
 
2.1. Căn cứ vào đường lối chính sách của Nhà Nước, chúng tôi xin đề ra nơi đây vài điểm liên quan để cùng nhau suy nghĩ :
 
1/ Việc tước đoạt quyền sở hữu của cá nhân hay của một pháp nhân (=tôn giáo) đối với cơ sở (=tài sản) của họ, không có luật nào bênh vực cho hành vi tước đoạt ấy!
 
2/ Việc tước đoạt cơ sở của kẻ khác tự bản chất là xấu, không có luật nào bênh vực cho hành vi tước đoạt xấu ấy ! (Tham chiếu Bộ Luật Hình Sự) .
 
3/ Người được uỷ quyền trực tiếp quản lý tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao , hoặc người chiếm hữu tài sản bất hợp pháp đã giao tài sản đó cho người thứ ba quản lý thì khi bị chủ sở hữu tài sản yêu cầu hoàn trả, người thứ ba có nghĩa vụ hoàn trả tài sản đó; phương chi là cơ sở của chúng tôi bị tước đoạt trong chính nơi thờ tự, chiếu luật, cả người tước đoạt cơ sở và cả người được giao cho quản lý cơ sở bị tước đoạt càng phải nhanh chóng hoàn trả lại khi bị chủ sở hữu tài sản yêu cầu hoàn trả. Không có luật nào bênh vực cho hành vi tuớc đoạt và quản lý bất hợp pháp như thế !
 
2.2. Căn cứ vào đường lối chính sách, luật lệ của Nhà Nước và quyết định của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, chúng tôi đã lên tiềng nói chính thức với UBNDTTLC và hôm nay với Ông Hiệu Trưởng và Ban Giám Hiệu Trường Tiểu Học Lăng Cô, để cùng giúp nhau chân thành suy nghĩ và cảm thông cho phía chúng tôi, đồng thời chúng tôi cũng rất cảm thông đầy hiểu biết gánh nặng trách nhiệm lớn lao của Ông Hiệu Trưởng và Ban Giám Hiệu trong việc cần phải qui hoạch mạng lưới trường học xứng hợp cho quốc dân theo tinh thần của Nghị Định 43 . Việc ấy là trách nhiệm của thẩm quyền (UBNDTTLC)và ngành giáo dục. Dĩ nhiên rất cần nhiều thời gian để khai triển và giải quyết việc qui hoạch, và rất cần sự can đảm hướng về tương lai với trách nhiệm.
 
2.3. Xét theo bổn phận và trách nhiệm: Vì chúng tôi không có đủ tư cách, bổn phận và trách nhiệm trong việc qui hoạch mạng lưới trường học cho quốc dân theo Nghị Định 43, chỉ có UBNDTTLC và ngành giáo dục mới có đủ tư cách trách nhiệm trực tiếp đối với trường.   Đây chính là trách nhiệm đúng đắn của Thẩm quyền và của Trường, chứ không phải trách nhiệm của Giáo Xứ Sáo Cát chúng tôi trong việc qui hoạch trường ốc. Do đó, chúng tôi đề nghị Ông Hiệu Trưởng và Ban Giám Hiệu trường Tiểu Học Lăng Cô trình bày nhu cầu cấp thiết của học đường lên cơ quan có thẩm quyền, việc ấy là trách nhiệm chính đáng, đúng đắn và phù hợp với chức năng của Ông Hiệu Trưởng và Ban Giám Hiệu của Trường theo tinh thần của Nghị Định 43. Như thế chúng ta đang cùng nhau nhìn thẳng vấn đề và dám anh dũng mở ra sự đổi mới tốt đẹp cho Trường, cho xã hội và cho sự an vui của mọi người, nhất là cho Giáo Xứ chúng tôi đang chịu đựng quá nhiều phiền toái trong nơi thờ tự suốt 32 năm qua  !
 
2.4. Xét rằng suốt 32 năm dài, Giáo Xứ  chúng tôi đã cống hiến cho sự nghiệp chung trong đó cho trường Tiểu Học Lăng Cô nhiều hữu ích không thể phủ nhận được, như trong thư của Ông Trần Bình Trọng Cựu Chủ Tịch UBND Thị Trấn Lăng Cô trong công văn số 03/CV2003-UBND đề ngày 10-04-2003, trả lời cho Linh Mục và giáo dân Giáo xứ Sáo Cát rằng : “Từ ngày thống nhất đất nước (1975) cho đến nay, các Linh mục và giáo dân thuộc Giáo Xứ Sáo Cát đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, cùng với nhân dân trong xã xây dựng quê hương Lộc Hải trở thành Thị Trấn Lăng Cô ngày nay”. Vậy mà tiếng nói của chúng tôi như bị lãng quên, như bị khinh rẻ, không được tôn trọng! Vì thế, chúng tôi cứ cam chịu những phiền toái trong nơi thờ tự mà chỉ ai trí thức hiểu biết mới thấu hiểu được  ! Năm 2003 Giáo Xứ đã xin hoàn trả lại cơ sở, nhưng lại bị tiếp tục tước đoạt ngang xương  ! Năm 2007 chúng tôi xin lại một lần nữa, và nay chiếu luật, cơ sở và quyền sở hữu chúng tôi trên cơ-sở-bị-tước-đoạt được phục hồi trọn vẹn. 
 
Thời gian đã viên mãn, chúng tôi rất cần thu hồi cơ sở của chúng tôi để  chăm sóc sửa chữa vì cơ sở được Trường sử dụng qúa lâu năm mà không thể bảo trì được, bị hư hoại và xuống cấp trầm trọng, nguy hiểm đến tính mạng trong các sinh hoạt chung, đồng thời để lo cho các công việc khẩn thiết của Giáo Xứ với bao nhiêu nhu cầu mục vụ trong thời đại văn minh hôm nay mà vì bị cấn kẹt với trường từ ấy đến nay chưa thể thực hiện được.
 
2.5. Kéo dài tình trạng lưỡng nan như thế chỉ vì lịch sự, tế nhị, tôn trọng, cảm thông đối với Trường, không ai sửa chữa được gì tốt đẹp hơn mà thêm bực bội phiền hà cho nhau! Chỉ có sự đơn giản đầy lương thiện rất trí thức, rất nhân bản, mới có thể giải tỏa vấn đề, nghĩa là của ai cứ nấy mới giúp trường và chúng tôi tiến đến chân trời mới tốt đẹp hơn!  Hãy dám đối diện với những khó khăn của tương lai, chúng ta mới có thể đột biến phát triển mới, mở ra nhiều chiều kích mới và thăng hoa vẻ đẹp văn hoá cho xã hội, cho con người, cho Trường và cho cả chúng tôi nữa trong Thị Trấn của chúng ta. Tiếng nói chính trực nhỏ bé của chúng tôi hôm nay dù chưa được lắng nghe, nhưng rất tích cực  và hy vọng sẽ khai mở cho con em chúng ta con đường tương lai tươi sáng hơn vì sẽ có ngôi trường mới, xứng hợp đúng qui cách hơn, đạt chuẩn quốc gia như ước mơ của Huyện Phú Lộc dám nhìn xa và phấn đấu đến năm 2010 , chứ không phải bị gò bó tù túng, nóng nảy đáng thương cho con em chúng ta và cả Thầy Cô trong nơi thờ tự không hợp qui cách như hiện nay. Hãy can đảm nhìn xa, quyết tâm khắc phục những khó khăn tương lai mới có thể thay đổi diện mạo bên ngoài và hướng tới hiệu quả đào tạo đạt chuẩn hơn .
 
3. Quyết định
 
Trong thời gian chuyển tiếp, chúng tôi đề nghị Ông Hiệu Trưởng và Ban Giám Hiệu trực tiếp với UBNDTTLC để lên phương án giải quyết mới . Chúng tôi có phương án cảm thông với Trường trong việc chuyển tiếp giải quyết như trong Tờ trình có đề cập.
 
Với văn bản này, chúng tôi báo trước quyết định của chúng tôi để Ông Hiệu Trưởng và Ban Giám Hiệu can đảm tiên liệu cho trường: hết niên khóa 2007-2008, nghĩa là đến hết ngày 15-06-2008, chúng tôi thu hồi cơ sở Tư thục-Tôn giáo trong nơi thờ tự của chúng tôi như đã trình bày trong văn bản này.
 
Kính chúc Ông Hiệu Trưởng và Ban Giám Hiệu Trường Tiểu Học Lăng Cô khỏe hơn, cao hơn, xa hơn và có nhiều can đảm để hy vọng mở ra một chân trời mới cho Trường và cho nền văn hóa Thị Trấn ngày càng tốt đẹp hơn.
 
Sáo Cát, ngày 15-10-2007
 
Hội đồng Mục vụ Giáo xứ Sáo Cát đồng ký:
 
Nguyễn Phát, Nguyễn Vinh, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Văn Ghi, Nguyễn Đức Hồng, Hoàng Ngọc Thu, Nguyễn Trường, Nguyễn Thanh Quang, Nguyễn Trần, Nguyễn Huệ, Đặng Minh Chánh, Trần Thục, Nguyễn Văn Diệm, Cái Bình, Nguyễn Tính, Nguyễn Văn Dương, Nguyễn Tha, Nguyễn Văn Lớn.
 
Xác nhận của Linh Mục Quản Xứ:
 
Xin Ông Hiệu Trưởng và Ban Giám Hiệu của Trường Tiểu Học Lăng Cô vui lòng quan tâm đến vấn đề tế nhị và chí tình của Giáo xứ Sáo Cát. Chân thành cảm ơn.
 
(Ký tên và đóng dấu)
 
Lm Phaolô Trần Khôi, Quản Xứ
 
Nơi nhận:
- Như trên
- UBND Thị Trấn Lăng Cô (để báo cáo)
- Lưu Vp Giáo xứ



=========================
pho bien/ publication 07.11.2007
=========================


                 CHỦ ĐỀ: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH 
 
                                                        Bài 1:
                       NHỮNG HIỆN TƯỢNG BẤP BÊNH KINH TẾ CHUNG  
                            CỦA NHỮNG NƯỚC BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN



                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Đây là bài thứ nhất trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ nhất này mang đầu đề là NHỮNG HIỆN TƯỢNG BẤP BÊNH KINH TẾ CHUNG CỦA NHỮNG NƯỚC BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN. Nói là những hiện tượng chung, nghĩa là những nước thời khủng hoảng tài chánh năm 1997 như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn hay những nước bắt đấu phát triển hiện nay như Nga, Trung quốc, Việt Nam đều mang những hiện tượng Kinh tế bấp bênh như nhau. Nói một hiện tượng kinh tế bấp bênh, nghĩa là một hiện tượng nổi lên xem như đầy hy vọng tốt đẹp, nhưng lại mang nền tảng không vững chắc, chỉ cần một sự lay động, thì cả tòa hy vọng xây dựng có thể sụp đổ.

Những nhà kinh tế phân biệt ba mức độ phát triển Kinh tế của một nước dựa trên số thu hàng năm trung bình của đầu người. Có những bài báo muốn ca ngợi Trung Cộng, đã viết rằng Kinh tế Trung Cộng đứng thứ 4 trên Thế giới về thu nhập. Nhưng phải biết rằng đó là thu nhập cho 1 tỉ rưỡi người, trong khi ấy sự thu nhập của Thụy Điển, Thụy sĩ... chỉ đứng hàng thứ 10 chẳng hạn, nhưng là cho khối dân chỉ có 6 hoặc 7 triệu. Việc so sánh số thu nhập hàng năm của đầu người mới là mức đo sự phát triển Kinh tế thực sự.

Có ba mức độ thu nhập: (i) số thu nhập đầu người gọi là mới thoát ra khỏi cảnh nghèo đói; (ii) số thu nhập trung gian đủ sống; (iii) số thu nhập cao giầu có. Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn năm 1997 được gọi là những nước bắt đầu phát triển để dân tương đối thoát ra khỏi cảnh nghèo đói. Người ta gọi Nga, Trung Cộng, Việt Nam là những nước bắt đầu phát triển kinh tế (les pays économiquement émergents), nghĩa là không nói đến nạn chết đói, nhưng cũng không thể nói rằng mọi người đã thoát ra khỏi cảnh cùng cực. Ngày nay, người ta mới chỉ xếp Nam Hàn vào những nước với thu nhập ở mức trung gian và đang vươn lên lãnh vực thu nhập giầu có.

Đối với những nước gọi là bắt đầu phát triển Kinh tế (Pays économiquement émergents) như vừa cắt nghĩa trên đây, người ta nhận thấy những hiện tượng Kinh tế bấp bênh chung như sau:

=> Bấp bênh thứ 1: Dân chúng chi tiêu với số thu nhập dự đoán tương lai
=> Bấp bênh thứ 2: Nhà nước thực hiện dự án bằng tiền khả thể
=> Bấp bênh thứ 3: Sản xuất những hàng tiêu thụ ngắn hạn
=> Bấp bênh thứ 4: Lệ thuộc vào thị trường nước ngoài với nhiều cạnh tranh


Bấp bênh thứ 1
Dân chúng chi tiêu với số thu nhập dự đoán tương lai

Thái độ tiêu thụ của người dân tùy thuộc vào mức độ thu nhập: (i) mức thứ nhất: những người vừa thoát khỏi cảnh nghèo khổ; (ii) mức thứ hai: những người thu nhập trung bình và đều đặn; (iii) mức thứ ba: những người thu nhập giầu có.

Từ một xã hội đang sống cảnh nghèo khó và mới có những hoạt động kinh tế thoát ra khỏi cảnh khổ cực, thì lớp dân chúng ở mức thu nhập thứ nhất chiếm đại đa số tới 85%, số ở mức thứ hai chiếm tối đa 10% gồm những người trong các cơ quan hành chánh và văn phòng các hãng xưởng, số thuộc mức thứ ba chừng 5% gồm những người mới giầu lên như làm ăn trúng số hoặc tham nhũng. Những người mới giầu này tiêu xài rất hoang phí với tâm lý trưởng giả học làm sang mà người ta gọi là có tiền muốn tiêu kiểu xì-nô-bít làm quý tộc (snobisme). Về mặt Kinh tế, việc tiêu xài của lớp người này không có phương hại gì cả vì họ tiêu cái tiền họ có thực, cứ việc nịnh cho họ phổng mũi lên mà tiêu xài để mình lấy tiền không thương tiếc.

Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến sự bấp bênh do đại đa số 85% vừa thoát khỏi cảnh nghèo khổ mà thôi.  Lớp người này có nhu cầu tiêu thụ rất chính đáng vì hai lý do sau đây:

=> Lý do tâm lý: trước đây họ không được tiêu thụ vì nghèo quá, bây giờ có khả năng hoặc hiện tại hoặc tin tưởng tương lai, thì họ tiêu thụ để bù lại;

=> Lý do mức sống xã hội: cái mức sống xã hội không phải chỉ nguyên trong nước mà còn bị ảnh hưởng từ quốc tế do sư quảng bá truyền thông.

Một phần những tiêu thụ được trả bằng thu nhập hiện tại, nhưng một phần lớn được trả bằng THU NHẬP HỨA HẸN TƯƠNG LAI (Revenu futur) vì tin tưởng ở nền Kinh tế bắt đầu phát triển có thể bảo đảm số lương cho họ trong những năm tới. Họ đi vay mượn để tiêu thụ hiện tại và sẽ trả góp trong tương lai. Đây là hệ thống tín dụng cho tiêu thụ (Crédit à la consommation/ Prêt comptant à la consommation). Với 85% dân chúng mới thoát khỏi cảnh nghèo khổ và với cường độ tiêu thụ để bù lại (Consommation de rattrapage), thì vật giá tất nhiên tăng lên nhanh chóng cho những xã hội như vậy. Nếu việc tăng vật giá đi song hành với việc tăng thu nhập, thì không những không có gì nguy hiểm cho nền kinh tế mà còn là dấu hiệu đáng lạc quan cho kinh tế.

Nhưng nếu độ tăng tiêu thụ, tăng vật giá được trả bằng hy vọng thu nhập tương lai, thì SỰ BẤP BÊNH TÀI CHÁNH là ở chỗ đó. Tiêu thụ hiện tại là thực 100%, nhưng đồng lương tương lai không ai có thể bảo đảm 100%. Trong một nền kinh tế mới phát triển, cái bấp bênh của đồng lương tương lai có thể tới 30-40% (Risque 30-40%).

Hiện tượng này cắt nghĩa một phần vật giá tăng vọt ở những nước bắt đầu phát triển kinh tế với những bếp bênh về tài chánh cho tín dụng tiêu thụ.

Lấy t