|  |
|  | 
| | | ========================== =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
|  | |
=============================== =========== SO/ NO. vtd0278b/20.11.06 DAC BIET CHU DE ============== APEC & WTO ===============================
APEC&WTO: ĐỊNH MỆNH TỰ HỦY DIỆT
1. ĐỊNH MỆNH KINH TẾ: CỘNG SẢN ĐỘC TÀI TỰ HỦY DIỆT 02
2. NHU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI HỎI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ HIỆN HÀNH 05
3. CƠ HỘI WTO: (I) TỔNG QUÁT: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI 08
4. CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI: (II) BÓC LỘT CÔNG NHÂN 17
5. BÀI ĐỌC THÊM: PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC VIỆT NAM VÀ VIỆC CẦN THIẾT PHẢI CÓ NGHIỆP ĐOÀN ĐỘC LẬP 20
6. CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI: (II) GIẾT CHẾT NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP 24
7. CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI LỢI PHẢI THU LẤY 30
8. CƠ HỘI WTO: PHẢI BỎ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI ĐỂ TOÀN DÂN XÂY DỰNG THỂ CHẾ TỰ DO DÂN CHỦ 34
9. CƠ HỘI WTO: ĐỘC TÀI CSVN TỰ SÁT 37
============================================================== |
| | | ĐỊNH MỆNH KINH TẾ: CỘNG SẢN ĐỘC TÀI TỰ HỦY DIỆT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Ý thức hệ Cộng sản dựa trên lý luận của Karl Marx về Định mệnh Kinh tế Tư bản (Fatalité Economique Capitaliste). Kinh tế Tư bản đặt Tiền đề là TƯ HỮU. Vì tư hữu (Propríeté Privée) mà phải có Tự do kinh doanh (Liberté d’Entreprise) và rồi Tự do Trao đổi ở Thị trường (Libre Echange au Marché).
Karl Marx lý luận rằng nền Kinh tế Tư bản Tự do và Thị trường gồm những bóc lột của giới Tư bản đối với giới Lao động. Nền Kinh tế ấy vô sản hóa giới Lao động (Prolétarisation des Travailleurs) đến độ giới này chịu không nổi mà phải đứng lên làm Cách Mạng Vô sản đòi lại những Tư sản cho giới vô sản của mình. Dựa trên cách đo lường của những Giá trị sản phẩm Kinh tế mà nhà đại Kinh tế gia cổ điển Anh, David RICARDO, đã có sáng kiến đặt ra, Karl Marx nói đến việc đấu tranh của giới Lao động. Theo David RICARDO, Giá trị của một sản phẩm Kinh tế được đo lường bằng sức Lao động hội nhập vào sản phẩm. Tư bản vì vậy được coi là sự chiếm hữu sức Lao động từ giới Thợ thuyền để làm sở hữu của giới Tư bản. Giới này quay lại dùng Tư bản để bóc lột thêm giới Thợ thuyền nữa. Karl Marx gọi đây là vông thân Kinh tế (Alíenation Economique), nghĩa là Tư bản thuộc Thợ thuyền, nhưng Thợ thuyền đưa tặng cho giới Tư bản để rồi giới Tư bản quay lại bắt Thợ thuyền làm đầy tớ cho Tư bản.
Lénine lấy Lý luận này của Karl Marx làm ý thức hệ cho Cách Mạng Vô sản: NHỮNG NGƯỜI VÔ SẢN HÃY ĐỨNG LÊN ĐÒI LẠI TƯ BẢN CHO ĐOÀN NGŨ THỢ THUYỀN, dù bằng những biện pháp đẫm máu (Lutte des Classes sanglante). Nhưng giới Vô sản là đám đông, phải có một Nhóm người đứng ra quản trị những Tư sản vừa thu hồi được. Nhóm người này là đảng Cộng sản. Những Tư hữu trở thành Công hữu và do đảng Cộng sản nắm giữ, chỉ huy và làm Kinh tế. Đó là nền Kinh tế Chỉ huy (Economie Dirigiste) với Công hữu (Propríeté Collective) và với những Hoạch định Kinh tế của Nhà Nước (Plans Economiques Etatiques).
Nếu Karl Marx gọi việc Vô sản hóa là một tiến trình tự động (Processus automatique) và việc sụp đổ của nền Kinh tế Tư bản là một Định Mệnh của chính Tư bản (Fatalité d’auto- destruction du Capitalisme), thì Lịch sử sự sụp đổ của Thế giới Cộng sản cho thấy một Định mệnh khác hẳn, đó là việc tự sụp đổ của Cộng sản do chính giới Vô sản thiếu ăn đến cùng cực (Fatalité d’auto-destruction du Communisme).
Thực vậy, trong lúc nền Kinh tế Tư hữu Tự do và Thị trường tiếp tục phát đạt và Tư sản hóa dần dần giới Lao động, thì nền Kinh tế Công hữu và Chỉ huy lại càng vô sản hóa giới Lao động đến cùng cực. Đến lúc mà giới Lao động này quá đói khổ trong một nền Kinh tế do đảng Cộng sản chỉ huy, thì họ đứng lên lật đổ nền Kinh tế chỉ huy này và đảng Cộng sản độc tài chỉ huy.
Nga và các nước Đông Aâu đã bỏ độc tài độc đảng và lấy lại nền Kinh tế tư sản Tự do và Thị trường.
Viet Nam vẫn cố tình ngụy biện bám víu Ý thức hệ đã sai lầm lịch sử ấy. Dù cố tình ngụy biện vì quyền hành cho độc đảng của mình, nhưng cái Định mệnh tự hủy diệt vẫn lạnh lùng diễn ra mà chúng tôi nhìn qua ba giai đoạn sau đây:
1. Giai đoạn I: KHÉP KÍN
Bài học Lịch sử của sự sụp đổ Cộng sản ở Nga và Đông Aâu vẫn chưa cho Cộng sản Việt Nam sáng mắt. Đảng CSVN quá ham quyền hành và tin tưởng ở sự che chở của Trung Cộng. Việt Nam vẫn KHÉP KÍN cửa và sự đói nghèo của Dân chúng vẫn tiếp tục. Nhưng sự khép kín này không lâu vì Định mệnh tự hủy diệt vẫn lù lù trước mắt.
2. Giai đoạn II: MỞ CỬA Dân chúng đói nghèo đến cùng cực với việc khép kín, việc cố thủ giữ lấy Kinh tế công hữu chỉ huy với độc tài độc đảng. Nhưng không còn viện trợ của Thế giới Cộng sản và Trung Cộng cũng phải lo lắng cho sự nghèo đói của mình, đảng Cộng sản Việt Nam đành phải tuyên bố MỞ CỬA cho Thế giới Tư bản với nền Kinh tế tư sản Tự do và Thị trường. Nhưng đảng vẫn thêm cái đuôi Định hướng Xã hội Chủ nghĩa để cứu vãn danh dự và làm cớ để giữ quyền độc tài độc đảng. Kết quả của MỞ CỬA này là Thế giới Tư bản có những cái nhìn nhiều hơn vào chế độ và Dân chúng có những liên hệ nhiều hơn với Thế giới bên ngoài để so sánh với những bẩn thỉu che dấu của chế độ. Cuộc Cách Mạng Truyền Thông Internet làm tăng cái nhìn từ nước ngoài và sự khám phá những bẩn thỉu che đậy của chế độ. MỞ CỬA, nhưng đảng CSVN vẫn tìm đủ mọi cách bấu víu lấy quyền hành độc đoán trong hoàn cảnh không giữ nổi truyền thông theo ý che đậy của mình.
Kết quả của Giai đoạn II MỞ CỬA này là những cuộc đình công của giới Thợ thuyền và việc đứng dậy của những nhà Dân chủ. Dân chúng không còn sợ hãi nữa vì không thể chịu được những che đậy bẩn thỉu, những đàn áp vì đảng bấu víu lấy quyền hành độc tài. Dân chúng đã tự động đứng lên ra báo thi hành quyền TỰ DO NGÔN LUẬN, tự động thành lập những Đoàn thể thi hành quyền TỰ DO LẬP HỘI. Họ đòi phải có Tự do, Dân chủ đa nguyên.
3. Giai đoạn III: HỘI NHẬP
Cái Định Mệnh Tự Hủy Diệt (Fatalité d’auto-destruction) cứ lù lù tiến tới ở Giái đoạn II MỞ CỬA như trên. Giai đoạn MỞ CỬA có những phát triển Kinh tế do sự làm ăn với Thế giới tư sản Tự do Thị trường. Đảng cố tình tuyên truyền rằng đó là công của đảng. Nhưng Dân chúng khám phá ra những tham nhũng và lãng phí có hệ thống của đảng, đó là kẻ thù của phát triển. Phải nói rằng sự phát triển hiện nay là do sự nhẫn nại làm ăn của Dân chúng Việt Nam, do nguồn vốn cung cấp hàng năm của khối người Tỵ nạn Cộng sản ở nước ngoài (USD.4.5 tỉ hàng năm), do tiếp cận hạn hẹp làm ăn với Thế giới Tư bản. Chính đảng Cộng sản làm thất thoát và trì hoãn việc phát triển này mới đúng.
Mất tin tưởng của Dân chúng quốc nội, đảng Cộng sản tìm những hỗ trợ ngoại lai để củng cố quyền lực Chính trị của mình. Thực vậy nếu đảng vẫn cảng cổ nói rằng Dân chúng Việt Nam tin tưởng ở đảng, thì hãy cho Dân chúng bầu phiếu Tự do để biểu lộ lòng tin tưởng ấy. Nhưng đảng không dám cho việc bầu cử tự do tín nhiệm ấy như chứng cớ cụ thể cho Thế giới biết. Đảng đã không dám làm mà chỉ tuyên truyền suông.
Mất tin tưởng của lòng Dân quốc nội và muốn dùng thế lực ngoại lai để tăng cường cho quyền độc tài đàn áp, trị Dân quốc nội, đảng CSVN nhận tổ chức APEC, đảng o bế Mỹ để có PNTR, đảng quyết tử vào WTO như gà mắc đẻ.
Đây là Giai đoạn III HỘI NHẬP với Thế giới Tư bản trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
Nhưng việc hội nhập này không phải là đi dự yến tiệc. Đảng luôn luôn tuyên truyền rằng hội nhập WTO là hốt tiền bạc. WTO không phải là yến tiệc mà là một ĐẤU TRƯỜNG và là đấu trường về tiền bạc. Nếu chỉ là đấu trường về danh dự hay hơn thua về lý thuyết, thì có thua kém một chút cũng không sao, mất keo này bầy keo khác. Nhưng đây là đấu trường về tiền bạc không thương tiếc nhau. Không thể nói câu mất keo này bầy keo khác. Tiền bạc mất là mất, không thể cứu vãn, bất hồi tố. Kẻ yếu thì mất tiền mà người mạnh được của không có gì thương hại.
Vào WTO là phải giữ đúng đắn quy luật của đấu trường, không thể chập chí chập mầu gian dối che đậy. Nếu kết quả của Giai đoạn II MỞ CỬA là Dân chúng lấy Hiến pháp ra để đứng lên, thì kết quả của Giai đoạn III HỘI NHẬP này, Thế giới lấy Luật Quốc tế ra để chấm dứt độc tài khủng bố, gian lận, che đậy.
Cái Định Mệnh Tự Hủy Diệt sẽ tiến tới cho Cộng sản Việt Nam ở Giai đoạn III HỘI NHẬP này vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
NHU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI HỎI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ HIỆN HÀNH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài MỞ ĐẦU: NHU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI HỎI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ HIỆN HÀNH
Chúng tôi phân đã tích về những lo âu, sợ sệt của đảng CSVN trước viễn tượng tương lai đang có những biến chuyển hướng về những đòi hỏi phát triển Kinh tế. Một đàng họ cố thủ nắm giữ lấy quyền hành, không phải là Ý thức hệ mà là việc có độc quyền, thì dễ bề tham nhũng. Tham nhũng lan tràn và còn tràn lan hơn nữa khi mà viễn tượng phát triển Kinh tế đang là mơ mộng cá nhân của từng đảng viên hiện nay đã được đảng cho làm Kinh tế cá nhân. Nhưng một đàng khác, họ cố thủ bấu víu lấy quyền lực độc tài vì những lo âu trong thâm tâm rằng khi mà họ mất quyền thì Dân đòi hỏi họ phải trả lời về tất cả những tội ác, nhất là về việc tham nhũng, cướp bóc tài sản của Dân.
Việc cối chầy, mặt dầy mày dạn bấu víu lấy quyền hành như vậy từ những lý do không chính đáng cho thấy rằng Đất Nước khó lòng phát triển Kinh tế khi có cơ hội thuận tiện. Chúng tôi rất thích bài QUAN ĐIỂM của Bán Nguyệt San TỰ DO NGÔN LUẬN số 10/01.09.2006 đã chọn đầu đề: “CÔN ĐỒ TRỊ NƯỚC MÃI NÊN CHĂNG??“. Nguyên cái đầu đề như vậy đủ tóm tắt lòng dạ của đám ba đá ba trợn không biết liêm xỉ, chịu đấm ăn xôi cố níu lấy quyền hành độc đoán và dùng bạo lực khủng bố Dân.
Đàm phán song phương với Hoa kỳ về Thương mại, tương lai vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC) là cơ hội mới sắp tới để nghĩ đến phát triển Kinh tế Đất Nước. Đảng CSVN đã làm mất một cơ hội phát triển Kinh tế chỉ vì làm nô lệ cho một Ý thức hệ ngoại lai và theo lệnh quốc tế của khối Cộng sản Liên Xô & Trung Cộng. Đó là cơ hội mà Dân Mỹ sẵn sàng tái thiết cả hai Miền Bắc và Nam Việt Nam sau khi ký Hòa Đàm Ba-Lê. Nếu không vì làm nô lệ cho khối Cộng sản xâm chiếm Miền Nam, thì đất nước chúng ta sau 30 năm yên lành phát triển Kinh tế với đóng góp của Hoa kỳ và khối Thế giới Tự do, nay đã là một trong những Con Rồng Kinh tế trong vùng. Chính những đảng viên cao cấp Cộng sản đã tiếc nuối cơ hội này.
Việc vào WTO và bình thường hóa Thương mại song phương với Hoa kỳ sẽ là cơ hội thứ hai. Nói đây là cơ hội phát triển, không có nghĩa là chúng tôi khẳng định rằng việc vào WTO sẽ hoàn toàn đưa lại những lợi điểm. Chúng tôi đã viết một số bài phân tích về những cái lợi và những cái hại. Biết những cài hại để tránh, thấy những cái lợi để mà gặt hái lấy cho Quê Hương.
Trong một số những bài viết ít tháng vừa qua tới nay, tôi đã nhấn mạnh về khía cạnh Kinh tế của những Phong trào Đấu Tranh. Chúng tôi đã mạnh dạn hô hào MẶT TRẬN KINH TẾ/ TÀI CHÁNH vì nhìn thấy tầm quan trọng của cơ hội này.
Bài hôm nay là bài MỞ ĐẦU để chúng tôi viết ba bài QUAN ĐIỂM lần lượt cho những số VietTUDAN kế tiếp:
Bài QUAN ĐIỂM thứ nhất: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI
Vào WTO, đây là một Văn Bản, Giấy Phép để những nước đã phát triển Kinh tế hoặc cường quốc Kinh tế vào Việt Nam làm một cuộc “Thuộc địa Kinh tế“. Thái Lan sẽ khống chế sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp Việt Nam. Những người về thăm Quê Hương đã thấy rằng Thái Lan bán gạo của họ, hoặc ngay đồ gia vị tại Thị trường Việt Nam. Trung Cộng sẽ diệt công nghệ Việt Nam về những sản phẩm thông dụng hàng ngày. Về những hàng hóa cao cấp hơn, có Nhật, Đài Loan, Đại Hàn và Tân Gia Ba. Các sản phẩm Mỹ, Aâu châu sẽ tràn vào. Những Dịch vụ nước ngoài như Kiểm toán, Bảo hiểm... sẽ thắng tại Việt Nam. Những Tiểu thương Việt Nam sẽ phải sống ngắc ngoải vì không trường vốn. Chúng tôi gọi đây là “Thuộc địa Kinh tế“ mà chúng ta phải tìm cách “Kháng chiến Kinh tế“ để chống lại.
Trong những cái hại này, có hai cái hại lớn nhất là: => Xử dụng độc tài, cấu kết với nogại lai để bóc lột nhân lực Việt Nam => Giết chế Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam
Bài QUAN ĐIỂM thứ hai: NHỮNG CÁI LỢI PHẢI THU LẤY
Trên đây là những điểm có hại. Chúng tôi cũng muốn nhìn những điểm lợi khi có sự bình thường hóa Thương mại với Hoa kỳ và khi đã vào WTO/OMC. Vào WTO và bình thường hóa Thương mại với Mỹ có nghĩa là chúng ta phải hiệp lực tăng cường xuất cảng những hàng hóa của Việt Nam để thu lấy ngoại tệ làm đà phát triển Kinh tế Đất Nước. Chúng tôi nhìn thấy những hàng hóa trong tầm nỗ lực sản xuất của mình:
=> Nông phẩm và Ngư phẩm => Hàng may mặc, Dầy dép che thân thông dụng => Nhận sản xuất những Linh kiện (Pìeces détachées) cho nước ngoài
Để có thể phát triển và xuất cảng những hàng này, nhất thiết cần phải có sự hợp tác thành thực và và lý tưởng giữa Quốc nội và Khối Người Việt tại Hải ngoại. Khối người Việt sống trên 70 quốc gia là đầu cầu không tốn kém của xuất cảng. Để có sự hợp tác thành thực và lý tưởng vì quyền lợi Đất Nước, phải có những Điều kiện Chính trị—Luật pháp phù hợp (Conditions Politico—Juridiques adéquates) mà hai bên đồng chấp nhận. Không thể kêu gọi Hoà hợp, Đoàn kết mà một bên chỉ muốn nắm trọn quyền định đoạt, còn một bên buộc phải cúi đầu vâng lời như đàn khỉ.
Bài QUAN ĐIỂM thứ ba: PHẢI BỎ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI ĐỂ TOÀN DÂN XÂY DỰNG THỂ CHẾ TỰ DO DÂN CHỦ
Trước những nguy hại của một cuộc “Thuộc địa Kinh tế“ mà toàn Dân trong cũng như ngoài Nước phải nắm chặt tay nhau để “Kháng chiến Kinh tế“; trước nỗ lực khai thác xuất cảng những hàng hóa Việt Nam mà khối người Việt tại Hải ngoại là một lực lượng rất chủ yếu, chúng ta thấy rõ cái NHU CẦU không thể không có được là phải phế bỏ THỂ CHẾ ĐỘC TÀI hiện hành tại Việt Nam. Không những đây là NHU CẦU để hợp tác, mà chính thể chế này còn là ung thối vì tham nhũng hoành hành cần phải được tẩy sạch. Nhân Dân Việt Nam tại Quốc nội và khối Người Việt tại Hải ngoại không thể và không muốn nỗ lực làm việc cho phát triển Đất Nước, khi mà họ thấy đảng CSVN, một nhóm người đã ung thối, lại dùng bạo quyền khủng bố để ăn cướp bẩn thỉu trên đầu Dân Chúng Việt Nam.
Bỏ cái chế độ độc tài hiện hành, diệt trừ những ung thối của bạo quyền độc đoán để thiết lập một Thể chế Tự do Dân chủ mà toàn Dân chấp nhận. Có như vậy thì mới có Hoà hợp, mới có Đoàn kết thực sự.
Thể chế Tự do Dân chủ Pháp trị là Điều kiện Chính trị—Pháp lý phù hợp cho sự phát triển Kinh tế trong cái cơ hội mới bình thường hóa Thương mại với Hoa kỳ và vào Tổ chức Mâu Dịch Thế Giới (WTO/OMC). Chúng tôi xin nhắc lại rằng người Dân làm Kinh tế chứ không phải Nhà Nước làm Kinh tế. Nhà Nước chỉ tạo cái Điều kiện Chính trị—Pháp lý mà các nhà Kinh tế gọi đây là Mội trường Chính trị—Pháp lý phù hợp (Environnement Politico—Juridique adéquat) cũng như hai Môi trường Địa lý Tài nguyên và Nhân lực (Environnements Géographiques—Ressources et Environnement Démographique). Ba Môi trường này uốn nắn cho hướng đi, tạo đà phát triển Kinh tế của một Quốc gia.
KẾT LUẬN:
Vào WTO/OMC, muốn “Kháng chiến Kinh tế“ chống lại “Thuộc địa Kinh tế“, muốn gặt hái những cái lợi qua xuất cảng, thì phải có nỗ lực làm việc của toàn Dân trong cũng như ngoài nước. Muốn có được sự hợp lực thực sự để làm việc, thì phải phế bỏ cái chế độ độc tài CS ung thối, tham nhũng, ăn cướp hiện nay để có một thể chế mà toàn Dân đồng chấp nhận.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ CSVN:
CƠ HỘI WTO: (I) TỔNG QUÁT: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Đây là Bài thứ Nhất trong loạt mà chúng tôi đã loan báo trong Bài MỞ ĐẦU trên đây. Bài này viết về những cái hại tổng quát). Khi viết loạt bài này và có thể những loạt bài kết tiếp để khai triển thêm những chi tiết, tôi muốn cho thấy rằng chính những đòi hỏi Phát triển Kinh tế tương lai bắt buộc phải phế bỏ chế độ độc tài CSVN hiện nay. Khi tôi nói là phải phế bỏ chế độ CSVN hiện hành, đó không phải là việc tôi đòi hỏi hoặc “làm chính trị“. Đó chỉ là đòi hỏi của những điều kiện phát triển thuần túy Kinh tế mà thôi.
Bài thứ Nhất nói về khi nhậpWTO, cơ hội phát triển Kinh tế, trước hết có NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI. Bài này sẽ đề cập đến hai phần như sau: => Những cái hại gặp phải khi vào WTO/OMC => Những biện pháp chống lại những cái hại.
NHỮNG CÁI HẠI GẶP PHẢI KHI VÀO WTO/OMC
Vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC), nghĩa là Việt Nam nhập vào Cạnh tranh của Thị trường tự do. Nói đến Cạnh tranh, việc trước hết là phải biết mình có khả năng có thể cạnh tranh với người khác hay không, nếu không người khác sẽ đánh cho mình chết trong trứng nước hoặc lụn bại luôn. Việc cạnh tranh là ở chính trên nước mình, chứ không phải là Thị trường quốc tế tại những nưỡng nước khác. Dường như CSVN sống trong mơ mộng rằng vào WTO/OMC là đi hốt bạc tại những nước khác, mà quên đi rằng những nước khác có quyền vào chính nước mình để thu bạc đem ra.
Khả năng cạnh tranh của Việt Nam
Yêu cầu chế độ đừng ngông nghênh kiêu ngạo tự khen mình, coi mình như nhất nhì thiên hạ. Tôi còn nhớ câu chuyện một Tùy viên Quân sự của Sứ quán Việt Cộng bên cạnh Liên Hiệp Quốc nói với tôi rằng: “Thế Giới có 5 Tướng tài, Việt Nam chiếm 3“. Tôi nhịn cười không được bởi vì thấy ông ấy nói thành thực và ngây ngô chứ không phải là nói diễu chơi cho vui. Vấn đề vào WTO/OMC không còn phải là tự khoe mình ngông nghênh, tuyên truyền cho chế độ nữa. Vào WTO/OMC là vấn đề tiền bạc thực tiễn: cạnh tranh không nổi thì mất tiền, cạnh tranh thắng thì có tiền. Còn nếu chỉ nhằm khoe khoang, mơ mộng, thì chết đói. Đó là thực tiễn, chứ không dỡn chơi.
Nếu xét về việc tiến triển phần nào Kinh tế hiện hành, đó là nhờ sự đấu tranh Kinh tế của khối tư doanh và nhờ chính yếu nguồn ngoại tệ từ phía Việt kiều. Một số người nhìn sự tiến triển ấy, đã lầm lẫn hoặc cố ý nịnh đầm, đã cho rằng đó là công của CSVN. Nói như vậy là không hiểu gì về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Dân làm Kinh tế và phát triển Kinh tế, chứ không phải quyền lực Chính trị. Khối Cộng sản đã chủ trương làm Kinh tế để bao cấp Dân và họ đã hoàn toàn thất bại đến chỗ Dân đòi lại quyền làm chủ Đất Nước để nắm trong tay quyền làm ăn phát triển Kinh tế.
Tại Việt Nam, Dân nghèo phải làm ăn để có đủ sống. Họ nhờ nguồn tài trợ từ khối người Tỵ nạn thương gia đình còn ở lại. Khi phải tự mình kiếm sống, họ phải tìm đủ mọi cách tránh né sự áp chế, dành quyền kinh tế từ những Công ty quốc doanh. Khi phải tự mình kiếm sống, họ đã phải cay đắng cho CSVN ăn bẩn, ăn thỉu để có thể có việc làm, có cơ hội doanh thương tự họ. Khi phải tự mình kiếm sống, người Dân đã phải cay đắng nhận những đồng lương bóc lột mà CSVN bán họ cho nước ngoài và ăn hớt tiền trên sức lao động của họ. Nhìn như vậy, xin hãy nói cho đúng rằng nếu có những tiến triển kinh tế hiện nay, thì đó là từ sự cố gắng vượt mực của Dân. Chính CSVN đã cản mũi kỳ đà sức cố gắng phát triển này của người Dân. Những ai há mõm khen CSVN làm cho Kinh tế phát triển một phần hiện nay, đó là những người nói ngu xuẩn, thiếu học về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Tôi thẳng thắn nói vậy và sẵn sàng trả lời những ai ngu xuẩn khen tặng CSVN một cách nịnh đầm vô lương tâm và hèn hạ.
Sự phát triển kinh tế một phần hiện nay chưa cho phép Việt Nam tự hào rằng mình đã có đủ lực cạnh tranh trên Thị trường quốc tế. Vào WTO/OMC phải cấp tốc đẩy mạnh những gì đã có một phần phát triển. Việc đẩy mạnh này thiết yếu đòi phải dành quyền cho Dân bởi những phát triển kia là từ sức cố gắng của Dân, chứ không phải từ quyền lực CSVN, một quyền lực cản mũi kỳ đà cho phát triển.
Hàng hóa quốc tế diệt hàng hóa Việt Nam tại chính nước mình
Trên đây, chúng tôi nói tổng quát đến khả năng cạnh tranh của Việt Nam. Trong đoạn này, chúng tôi nhìn xem những hàng hóa nước ngoài diệt chính hàng hóa Việt Nam tại quốc nội như thế nào. Trong đoạn tiếp theo, chúng tôi quan sát khả năng cạnh tranh của những hàng hóa Việt Nam bên cạnh những hàng hóa nước ngoài trên Thị trường quốc tế.
=> HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP
Chúng tôi đã nhiều lần nói đến sự cạnh tranh chính yếu đến từ Thái Lan. Nguồn sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp (Conditions géographiques—Ressources naturelles) giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam. Nhân lực làm việc (Conditions démographiques) về những ngành này cũng không khác gì nhau. Nhưng có sự khác biệt rất rõ rệt về điều kiện Chính trị—Pháp lý (Conditions Politico-Juridiques): một đàng (Thái Lan) dành phần khai thác cho Tư nhân, một đàng (Việt Nam) dành cho quốc doanh (người của độc đảng) những quyền khai thác, bóc lột ưu tiên. Ai cũngt biết rằng khi việc khai thác nằm trong tay quyền lực Chính trị, thì không thể không có lãng phí và tham nhũng được bao che, và do đó năng xuất khai thác không thể nào được phát triển như trong Điều kiên Chính trị—Pháp lý Dân chủ.
Trong việc khai thác, hai yếu tố chính sản xuất là Vốn và Nhân lực (K: Capital, L:Labour). Nếu nhân lực sản xuất giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam, thì có sự chênh lệch rất rõ rệt việc đầu tư Vốn vào hai ngành nông nghiệp va ngư nghiệp giữa hai nước: Thái Lan đầu tư vốn 8 lần hơn Việt Nam vào hai ngành này.
Hiện nay, mặc dầu chưa vào WTO, mà hàng nông nghiệp và ngư nghiệp của Thái Lan đã cạnh rất ưu thế tại chính Việt Nam. Những hàng nông nghiệp của Thái Lan như gạo, trái cây... được coi là hàng sang và đã lan tràn ở Việt Nam. Dân Việt mua gạo Thái để ăn, mua trái cây của Thái để cúng vái, để ăn những dịp lễ. Những hàng gia vị của Thái cũng đang lan tràn tại chính quốc nội.
=> HÀNG KỸ NGHỆ BIẾN CHẾ NÔNG PHẨM VÀ NGƯ PHẨM
Việc phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp phải có Kỹ nghệ biến chế những sản phẩm này tại chỗ. Không có Kỹ nghệ này tại chỗ, thì rất khó phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp. Những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm nhằm nối dài thời gian xử dụng trong tương lai (thời gian) và mở rộng địa vực xử dụng đến những nơi không có những hàng nông nghiệp và ngư nghiệp (không gian). Tỉ dụ, nước Ý có kỹ nghệ làm Cà Chua Hộp để nâng đỡ việc trồng Cà Chua, nếu không Cà Chua dễ thối.
Kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tại Việt Nam, xứ có nguồn dồi dào về ngư nghiệp và nông nghiệp, lại thua kém hẳn Thái Lan, Tân Gia Ba và Đài Loan. Như vậy, những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tràn vào Việt Nam và cạnh tranh trong phần thắng.
=> HÀNG CÔNG NGHỆ THÔNG DỤNG HÀNG NGÀY
Đây là những hàng công nghệ thường dùng hàng ngày. Những hàng này không thuộc loại hàng hóa phức tạp (Produits sophistiqués) cần phải có một trình độ kỹ thuật cao. Tỉ dụ như bát đĩa, xoong chảo, nồi cơm điện, xe hai bánh, quạt máy, phích nước..., đó là những đồ công nghệ thông dụng hàng ngày.
Hiện nay, ngay chưa nhập WTO, những hàng này đang diệt những hàng tương tự sản xuất tại Việt Nam. Nhà Nước Việt Nam mới tuyên bố rằng khi vào WTO, những hàng này của Trung Cộng còn được giảm xuống 16% nữa cho thuế nhập cảng. Như vậy khả năng những hàng này cũa Tầu diệt hàng Việt Nam càng tăng lên hơn nữa.
Tại sao Trung Cộng có khả năng cạnh tranh cao về những hàng công nghệ này ? Trong sản xuất, việc cạnh tranh là giá thành của hàng hóa. Muốn hạ giá thành, thì phải tăng số lượng sản xuất. Trung Cộng có khả năng tăng lượng sản xuất vì họ có khối lượng dân số 1 tỉ rưỡi. Hàng sản xuất không sợ ứ đọng vì đã có khối dân không lồ bảo đảm việc tiêu thụ hết hàng hóa.
=> HÀNG KỸ NGHỆ MÁY MÓC CAO & PHỨC TẠP
Những hàng Kỹ nghệ Máy móc cao và phức tạp (Produits sophistiqués) hầu như chưa phát sinh tại Việt Nam, nên chưa nói đến việc cạnh tranh được. Việt Nam mới bắt đầu sản xuất thuê những linh kiện (pìeces détachées) cho những Công ty nước ngoài, chứ chưa ở mức độ sản xuất những máy móc phức tạp (Produits sophistiqués) như sản phẩm cuối cùng sẵn sàng cho tiêu thụ (Produits finis prêts à la consommation).
Việc cạnh tranh những hàng hóa này là việc cạnh tranh xử dụng Kỹ thuật tân tiến và cao (Haute Technologie moderne). Muốn có những Kỹ thuật tân tiến và cao, thì phải đầu tư những số Vốn lớn. Việt Nam chưa có khả năng Vốn lớn đầu tư, vì vậy hàng hóa trong phạm vi này không thể có khả năng cạnh tranh, thậm chí chưa sinh ra.
Những máy móc cao và phức tạp của những nước chung quanh sẽ tràn vào và diệt hàng Việt Nam trong trứng (chưa sinh ra). Những nước này là: Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba, ngay cả Thái Lan và Mã Lai.
=> NHỮNG DỊCH VỤ (SERVICES)
Dịch vụ đầu tiên là Dịch vụ Phân phối hàng hóa (Thương mại). Khi vào WTO, những Tổ chức phân phối đa quốc gia (Chaines de Distribution Multinationales) có quyền mở rộng Thị trường phân phối tại Việt Nam. Nếu không vào WTO, những Tiểu thương hoặc những Nhà phân phối quốc nội được che chở phần nào trước sức mạnh của những Tổ chức phân phối đa quốc gia. Khi vào WTO, những Tổ chức này dễ dàng bóp chết hệ thống phân phối quốc nội vì những Tổ chức đa quốc gia này có số vốn khổng lồ để che chở việc cạnh tranh bán hàng hóa.
Ngoài Dịch vụ Phân phối hàng hóa, còn nhưng Dịch vụ độc lập khác như Kiểm Toán, Bảo Hiểm, Nha sĩ, Bác sĩ... Nếu những Dịch vụ này hiện diện ở Việt Nam vì phải tôn trọng Tự do lưu thông hàng hóa và dịch vụ khi vào WTO, thì sự cạnh tranh rất là gay gắt cho những dịch vụ từ người Việt tại quốc nội. Dân Việt chọn lựa những Dịch vụ từ người nước ngoài vì có nhiều những tin tưởng hơn (!). Tỉ dụ chọn Kiểm toán nước ngoài hơn là Kiểm toán quốc nội; chọn Bảo Hiểm ngoại quốc có nhiều tin tưởng hơn...
Hàng hoá Việt Nam thua kém cạnh tranh trên Thị trường quốc tế
Ở đoạn trên, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh quan trọng nhất, đó là những hàng hóa nước ngoài cạnh tranh với những hàng hoá Việt Nam hoặc diệt chính những hàng hóa Việt Nam trên lãnh thổ của Quê Hương mình.
Trong đoạn này, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam khi đứng bên cạnh hàng hóa các nước khác trên Thị trướng quốc tế:
=> Hàng nông nghiệp và ngư nghiệp Nói ngay đến khối người Việt tỵ nạn, họ đã phải tiêu thụ hàng nông nghiệp và ngư nghiệp Thái Lan trong 30 năm rồi. Trong thị trường quốc tế về hàng nông nghiệp và ngư nghiệp, còn phải kể đến những nước cạnh tranh khác: Nam Mỹ, các nước Đông Aâu, Aân độ, Nam Dương.
=> Hàng kỹ nghệ chế biến nông phẩm và ngư phẩm Việt Nam chưa sánh được ngay cả với những nước trong vùng như Đài Loan, Tân Gia Ba, Thái Lan, Mã Lai..., huống chi nói đến những nước đã mở mang trên Thế Giới. Những nước nông nghiệp, chăn nuôi như Nam Mỹ, đang mở mang mạnh kỹ nghệ chế biến thực phẩm. Đông Aâu đang mở mang mạnh về những kỹ nghệ biến chế thực phẩm này. Những nước tân tiến như Mỹ, Pháp, Ý, Tây Ban Nha...cần mở mang những kỹ nghệ biến chế nông phẩm này để nâng đỡ phát triển nông nghiệp của họ.
=> Hàng công nghệ thường dùng Hàng Trung Cộng đang tràn lan. Việt Nam khó cạnh tranh với Trung Cộng về những hàng hóa thông dụng hàng ngày này.
=> Những máy móc cao và phức tạp Không thể có, lúc này, sự cạnh tranh của Việt Nam ở Thị trường quốc tế về những máy móc. Tôi chưa thấy có chiếc Ti-Vi “made in Vietnam“ bán ở Thị trường Thụy sĩ.
=> Những Dịch vụ (Services) Đến bao giờ mới có Dịch vụ Kiểm toán Việt Cộng ở Thị trường Pháp, Đức... ?
NHỮNG BIỆN PHÁP CHỐNG LẠI NHỮNG CÁI HẠI
Phần trên đây phân tích về những điểm yếu, những cái nguy hại cho Việt Nam khi gia nhập WTO/OMC. Phần này nói đến những biện pháp nào để mong tránh hoặc ngăn chặn những cái nguy hại có thể xẩy ra.
Mặc dầu vào WTO rồi, nghĩa là phải thi hành Tự do Giao thương, nhưng có biện pháp nào tránh né cái Tự do đó hay không trong việc cạnh tranh? Đó là biện pháp tiêu cực.
Nhưng chúng ta phải nghĩ đến những biện pháp tích cực nhằm tăng cường cho chính khả năng cạnh tranh của mình.
Quyền che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh
Mặc dầu vào WTO, một Tổ chức luôn cổ võ Tự do Mậu dịch, cổ võ việc dành cho nhau Điều khoản “Quốc gia tối ưu đãi“ (Clause de la nation la plus favorisée), nghĩa là tuyên bố tình yêu với nhau, quyền Che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh vẫn được tôn trọng.
Đứng về mặt nguyên tắc và lý thuyết, Tự do Mậu dịch (Le Libre Echange) vẫn không khai trừ nguyên tắc Che Chở cho Kỹ nghệ đang phát sinh (Le Protectionnisme des Industries naissantes). Về nguyên tắc này, chúng tôi đã mới nói trong cuộc Phỏng vấn của Đài RFI (Radio France Internationale).
Nhân sự va chạm giữa CNUCED và WORLD BANK trong khuôn khổ Liên Hiệp Quốc qua cuộc Hội Nghị nhận định về sự phát triển của những nước nghèo hoặc đang mở mang, ngày 13.09.2006, Đài RADIO FRANCE INTERNATIONALE (RFI) phỏng vấn tôi về 4 câu hỏi:
1) Tại sao Trung Cộng có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Quốc tế ? CNUCED coi đây là một sự thành công mà các nước kém mở mang có thể học đòi theo, đồng thời công kích Ngân Hàng Thế Giới đã trợ lực tài chánh cho các nước nghèo mà hiệu quả không gặt hái được cụ thể.
2) Vậy các nước nghèo có thể áp dụng được chính sách xuất cảng hàng hóa mà Trung Cộng đã áp dụng hay không ?
3) Tại sao chính sách hỗ trợ tài chánh cho những nước nghèo mà Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) chủ trương trong nhiều năm nay lại không đưa đến những kết quả tốt cụ thể?
4) Nhận xét về hậu quả như thế nào khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC) ?
Tôi đã trả lời về 4 vấn đề này và Đài RFI đã phát thanh về Việt Nam ngày Thứ Năm 14.09.2006, trong chương trình từ 15g-16g (giờ Paris). Xin vào RFI để nghe: http://www.rfi.fr/langues/statiques/rfi_vietnamien.asp
Tôi đã trả lời về 4 vấn đề nêu ra trên đây. Câu hỏi thứ tư liên hệ đến Việt Nam khi vào WTO. Chúng tôi đã khai triển câu hỏi này trong phần trên đây, vì vậy chúng tôi không nhắc lại trong phần này nữa mà chỉ nhấn mạnh đến cái Quyền Che chở Kỹ nghệ đang phát sinh mặc dầu Việt Nam vào WTO với Tự do Mậu dịch (Libre Echange) để chúng ta tìm cách che chở những cái thiệt hại cho nước mình khi mình thiếu khả năng cạnh tranh.
=> Trả lời cho câu hỏi 1
Nếu CNUCED coi đây là một Mô hình Kinh tế sáng kiến bởi Trung Cộng, thì đó là không đúng. Đây chỉ là một Chính sách Thương mại quốc tế mà những nước kém mở mang có quyền Bảo vệ những ngành Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Chủ trương này không phải là sự phát minh của Trung Cô.ng. Việc chủ trương bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này đã có trong Lịch sử Thương mại của những nước tư bản. Sau Cách mạng Kỹ nghệ của Anh quốc, nước này trở thành mạnh nhất Thế giới (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20) và muốn chiếm Thị trường quốc tế, đã kêu gọi và cực lực thuyết minh cho Chính sách Tự do Mậu dịch (Libre Echange) dựa trên những Thuyết lý Kinh tế của Adam SMITH, David RICARDO và Stuart MILL. Chính thời này, Hoa kỳ và Đức, còn trong thời kỳ gây dựng cho những Kỹ nghệ đang phát sinh, đã chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này (Protectionnisme des Industries naissantes) chống lại hàng hóa của Anh quốc. Lý thuyết gia Frederic LIST đã hùng hồn thuyết minh cho chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ mới phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Ngày nay, Hoa kỳ và Đức đã trưởng thành về những Kỹ nghệ này, nên lại cực lực thuyết minh cho Tự do Mậu dịch (Libre Echange), thậm chỉ kêu gào cho Toàn cầu hóa (Globalisation). Vậy thì Tự do Mậu dịch (Libre Echange) hay Bảo vệ Mậu dịch (Protectionnisme) chỉ là tương đối tùy theo sức mạnh Kinh tế của nước đứng ra kêu gọị
Việc Trung Cộng bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh của mình là việc có quyền của những nước đang phát triển. Tự do Mậu dịch là một điều lý tưởng, những phải giả thiết rằng mọi Nước tham dự phải có sức mạnh Kinh tế đồng đềụ Điều này rất khó thực hiện trên Thế giới và luôn luôn là nguồn tranh cãi không lối thoát giữa đa số những nước nghèo và thiểu số những nước giầu qua những Vòng Thương Nghị (Tokyo Round, Kennedy Roung, Uruguay Round...) trong khuôn khổ GATT (tiền thân của WTO/OMC).
Việc Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh khác với việc xử dụng quyền lực độc đoán bóc lột nhân công để có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Thế giớị Chấp nhận trên nguyên tắc rằng những nước đang mở mang có quyền bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh, nhưng không thể chấp nhận việc hai nước Trung Cộng và Việt Cộng xử dụng quyền độc tài để bóc lột lương nhân công và để hạ giá thành hàng hóa, từ đó bán phá giá trên Thị trường quốc tế.
=> Trả lời cho câu hỏi 2 Các Nước nghèo hoặc đang trên đà phát triển có quyền BẢO VỆ NHỮNG KỸ NGHỆ ĐANG PHÁT SINH, nhưng CNUCED không thể khuyên họ hãy trở tha `nh một nước Cộng sản chủ trương chế độ độc tài để bóc lột sức lao động của nhân công như Trung Cộng và Việt Cộng đang làm. CNUCED muốn lấy khôn lỏi của Kinh tế để đè bẹp Nhân quyền hay sao ?
=> Trả lời cho câu hỏi 3
Chủ trương của Ngân Hàng Thế Giới muốn trợ lực tài chánh cho những Nước nghèo là rất đúng bởi vì với chủ trương Toàn cầu hóa việc bán hàng hóa từ G8 hiện nay đồng thời cũng là việc Tập trung hóa Tài chánh về những nước giầu, thì hố sâu giầu nghèo giữa các nước sẽ khơi rô.ng.
Globalisation des Marchandises == Centralisation Financiere
Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) đã chủ trương việc tái phân phối tài chánh đến những nước nghèọ Đây là chủ trương rất nhân đạọ Nhưng tại sao chủ trương này không mang đến những hiệu quả tốt cụ thể. Tôi đã trả lời rất rõ rệt rằng sở dĩ không đạt được những hiệu quả tốt cụ thể là vì hai điều:
=> Việc tài trợ này qua các Chính phủ tại những nước kém mở mang. Những Chính phủ này có đầy tham nhũng lãng phí tài chánh làm thất toát số vốn tài trơ..
=> Ngân Hàng Thế Giới, một là thiếu phương tiện kiểm soát, hai là không đủ khả năng kiểm soát chặt chẽ về tài chánh đối với quyền lực chính trị của những nước ấỵ
Những Biện pháp không giá biểu
Tất cả những Đàm phán về Thương mại Song phương (Bilatéral: tỉ dụ Hoa kỳ—Việt Nam), từng Vùng (Régional: tỉ dụ Union Eropéenne) hay Thế Giới (Mondial: tỉ dụ WTO/OMC) đều mong đưa đến một Hợp Đồng về giá biểu. Những giá biểu này gọi là Giá Biểu Hợp Đồng cho Quan Thuế (Tarifs douaniers contractuels).
Khi nói đến Giá Biểu Hợp Đồng, thì hai nước, hoặc những nước cùng Vùng hoặc tất cả mọi nước trên Thế Giới coi nhau đồng đều và phải áp dụng những Giá Biểu đã kỳ kết.
Nhưng trên thực tế, có nước mạnh, nước yếu không đồng đều. Chính vì vậy, mặc dầu những Giá Biểu Hợp Đồng được ký kết mà mỗi nước tùy theo sức lực riêng, điều kiện cạnh tranh riêng, có thể áp dụng những Biện Pháp không Giá Biểu. Ngay cả trong phần Lý thuyết về Tự do Mậu dịch, những lý thuyết gia cũng biện minh cho những Biện Pháp không Giá Biểu gọi là “Les Mesures non-tarifaires“, như:
=> Biện Pháp Hạn chế Lượng (Contingentement/ Quotas) => Biện Pháp Kiểm soát Hối đoái (Controle de Change) => Biện Pháp Kỹ thuật (Mesure Technique) => Biện Pháp Hành chánh (Mesure Administrative)
Tất cả những Biện Pháp này là những “hiểu ngầm thông cảm hữu lý“ cho những nước quá bị thiệt thòi khi áp dụng đúng theo nhữn Giá Biểu Quan Thuế theo Hợp Đồng (Tarifs Douaniers Contractuels)
Đường lối nâng cao khả năng cạnh tranh
Hai Cách thế trình bầy trên đây: (1) Che Chở cho những Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes); và (2) Những biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires) là hai Cách thế mang tính cách tiêu cực trong những quan hệ Thương mại quốc tế khi mà những nước ký với nhau trong Hợp Đồng không có sức mạnh cạnh tranh đồng đều như nhau.
Đường lối nỗ lực tự mình nâng cao khả năng cạnh tranh là Chính sách luôn luôn được khuyến khích. Đường lối này phải đến từ sức mạnh Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực mà người Dân làm chủ Kinh tế, Nhà Nước không can thiệp trực tiếp vào đời sống Kinh tế bằng quyền lực. Chúng tôi sẽ bàn về điểm này trong Bài thứ Ba để đòi buộc phải phế bỏ chế độc CSVN hiện hành.
Trả lời Phỏng vấn của RFI, tôi đã lưu ý đến việc nâng cao cạnh tranh của Trung Cộng và Việt Cộng một cách bất chính và vi phạm Nhân quyền. Thực vậy, đây không phải là việc nâng cao cạnh tranh một cách lành mạnh trong ý nghĩa chính đáng Kinh tế. Trung Cộng và Việt Cộng đã dùng bạo quyền bóc lột sức lao động của công nhân, ép buộc công nhân phải chấp nhận đồng lương rẻ mạt, như vậy Nhà Nước mới hạ được giá thành của hàng hóa và có khả năng bất chính cạnh tranh. Không những bất chính trên Thị trường quốc tế, mà Trung Cộng và Việt Cộng còn dùng bạo quyền đàn áp Nhân quyền, bóc lột sứ lao động của Dân cho quyền lợi của cá nhân mình qua việc tham nhũng, lấy tiền thưởng của nước ngoài khi họ vào Việt mua sức lao động rẻ mạt mà Công nhân “không dám than vãn“ lên nghiệp đoàn Công nhân do chính đảng CSVN nắm giữ.
Quốc tế công kích và tăng thuế nhập cảng về hàng da từ Trung Cộng và Việt Cộng là vì tính cách bóc lột công nhân của hai nước này vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHÚ THÍCH:
Bài trên đây viết tổng quát về những cái hại (I: TỔNG QUÁT). Hai bài tiếp sau cũng viết về những cái hại. Hai cái hại quan trọng:
(II: BÓC LỘT CÔNG NHÂN)
(III: GIẾT NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP)
|
| | | KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ CSVN:
CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI: (II) BÓC LỘT CÔNG NHÂN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài QUAN ĐIỂM của số báo tuần này được coi như một chú thích quan trọng của Bài QUAN ĐIỂM của số báo tuần trước với đầu đề: CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI.
Khi trình bầy những cái hại, chúng tôi thấy rằng khả năng cạnh tranh của Việt Nam còn yếu kém cả ở Thị trường Quốc nội cũng như trên Thị trường Quốc tế.
Làm thế nào để che chở cho hàng hóa Việt Nam ? Làm thế nào để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam ?
Chúng tôi đã trả lời về việc chống đỡ hàng hóa Việt Nam bằng quyền che chở cho kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des industries naissantes), bằng những biện pháp không giá biểu mà nhiều Quốc gia thường dùng (Mesures non-tarifaires). Nhưng nếu chỉ chống đỡ thì chưa đủ mà cần phải tìm cách tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam. Cách thế căn bản là Nhà Nước phải giao việc làm Kinh tế cho quyền người dân, nghĩa là một nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự với một Môi trường Chính trị—Luật pháp Dân chủ phù hợp (Environnement Politico-Juridique démocratique adéquat).
Nhưng hiện nay, Trung Cộng cũng như Việt Cộng muốn khư khư giữ lấy chế độ độc tài độc đảng và xử dụng biện pháp bóc lột nhân công làm phương tiện hạ giá thành sản xuất và từ dó tăng cạnh tranh hàng hóa bằng giá cả. Chúng tôi đã trả lời thẳng thắn cho Đài RFI (Radio France Internationale) rằng đây là biện pháp bất chính và những nước khác sẽ đưa ra biện pháp chế tài. Thực vậy, Quốc tế nhìn thấy rõ biện pháp bóc lột nhân công này của Trung Cộng và Việt Cộng. Tỉ dụ Liên Aâu cũng như Hoa kỳ tăng thuế nhập cảng cho một số hàng (hàng da) đến từ Trung Cộng và Việt Nam.
Khi trả lời cho RFI như vậy và khi viết vấn đề này trong bài QUAN ĐIỂM tuần vừa rồi, một số ý kiến nêu ra rằng trong điều kiện nghèo khổ của Việt Nam, Dân có thể chấp nhận đồng lương thấp còn hơn là không có việc làm, nghĩa là mình muốn ăn cơm, nhưng không có, đành phải ăn cháo còn hơn là phải nhịn ăn chết đói.
Chính vì cái điểm này mà chúng tôi viết thêm bài QUAN ĐIỂM phụ này để cắt nghĩa rõ vấn đề có nên ăn cháo, nghĩa là chấp nhận đồng lương thấp như biện pháp tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm hay không.
QUẢN TRỊ XÍ NGHIỆP LÀ QUẢN TRỊ CHI TIÊU
Ở một Thế giới Kinh tế càng tăng tự do mậu dịch bao nhiêu, thì việc tìm cách tăng giá bán càng khó khăn bấy nhiêu. Kinh tế gia Paul SAMUELSON nói rằng trong dài hạn của Kinh tế cạnh tranh thị trường, khoảng cách lợi nhuận giữa giá bán và giá thành sẽ triệt tiêu (Marge bénéficiaire s’annulle). Việc tăng giá bán để có lợi nhuận hầu như không thể làm được do cạnh tranh. Chỉ còn một cách tăng được lợi nhuận là quản trị chặt chẽ chi tiêu, giảm thiểu giá thành. Trong khoảng thời gian 15 năm vừa rồi, người ta nhận thấy hai hiện tượng rõ rệt sau đây:
=> Tái Tổ chức lại Xí nghiệp (Restructuration de l’Entreprise). Nhân lực (Force de travail / Labour) có tính cách dễ tái tổ chức lại hơn là máy móc sản xuất (Equipement). Tại những nước đã kỹ nghệ hóa, khi nói đến Tái Tổ chức lại Xí nghiệp, có nghĩa là sa thải nhân viên để hạ giá thành sản xuất.
=> Chuyển sản xuất đến những Xứ có nhân công rẻ Các Công ty đa quốc gia (Les Multinationales) chuyển việc sản xuất đến những nước có nhân công rẻ, như vậy có thể hạ giá thành. Khi nói đến Toàn cầu hóa sản xuất, có nghĩa là những Công ty đa quốc gia có thể chuyển sản xuất một cách tự do đến những nước có nhân công rẻ. Việc chuyển đơn vị sản xuất này đến những xứ nghèo khiến các Công ty đa quốc gia thu được lợi nhuận cao bởi vì giá bán những hàng hóa vẫn giữ ở mức độ cao tại những quốc gia tiền tiến có khả năng tiêu thụ cao.
CHẤP NHẬN LƯƠNG HẠ TRONG MỘT THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC TỰ DO CẠNH TRANH
Đây là điểm mà chúng tôi trả lời cho những Vị đã đưa ý kiến như bênh đỡ cho Trung Cộng và Việt Cộng khi chúng tôi tuyên bố với Đài RFI và viết trong bài QUAN ĐIỂM tuần trước rằng chúng tôi không đồng ý với Trung Cộng và Việt Cộng ở việc hạ giá lương làm phương tiện tăng khả năng cạnh tranh hàng hóa.
Lương bổng là cái GIÁ của thị trường được định bởi Cung và Cầu nhân lực. Cái Giá này lên xuống tuỳ theo lượng Cung và lượng Cầu của Nhân lực. Hai lực lượng Cung và Cầu phải có tự do thương thảo Giá cả (Lương) của Thị trường. Đồng lương có thể hạ nếu phẩm chất Nhân lực Việt Nam kém trong sự cạnh tranh quốc tế với Nhân lực của những Nước trong vùng. Nhân lực Việt Nam (Nhân công/ phía Cung của Thị trường) sẵn sàng chấp nhận cái Giá ấy của Thị trường trong điều kiện có TỰ DO thương thảo trực tiếp với phía Cầu của Nhân lực. Để có thể thực hiện được một Thị trường Nhân lực TỰ DO, cần phải có những điều kiện sau đây:
=> Nhà Nước không được can thiệp vào Thị trường bênh đỡ cho phía nào, trừ trường hợp có sự cấu kết của phía Cầu cố ý giảm lương. Trong trường hợp này, Nhà Nước đặt một mức Lương tối thiểu có tính cách xã hội (Plancher du Salaire) khi chiều hướng Giá lương theo đà xuống. Nhưng khi Lương theo đà lên, thì Nhà Nước phải để TỰ DO cho phía Cung (Nhân công) thương lượng với phía Cầu (Chủ). => Để có sự hiểu biết về Thị trường và đại diện thương lượng với phía Cầu (Chủ), Nhân công (phía Cung) cần phải có những Nghiệp Đoàn Độc Lập của mỗi ngành nghiệp. Chính những Nghiệp Đoàn Độc Lập này thông báo cho Nhân công về Thị trường và đại diện Nhân công để thương lượng về Giá cả (Lương lậu).
Nều hai điều kiện trên được thực hiện, thì những Vị nêu ý kiến có ý bênh đỡ cho Trung Cộng và Việt Cộng mới có lý do để nói.
KHÔNG CHẤP NHẬN LƯƠNG HẠ BÓC LỘT TRONG MỘT THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ CẤU KẾT GIỮA CHỦ VÀ QUYỀN ĐỘC TÀI CỦA NHÀ NƯỚC
Thị trường Nhân lực ở Trung Cộng và ở Việt Nam không phải là Thị trường TỰ DO định đoạt Giá cả giữa hai Lực Cung và Cầu. Nhà Nước quyết định Lương tối thiểu và giữ lâu dài không phải là trong chiều hướng bênh đỡ Nhân công có tính cách xã hội mà chính là sự cấu kết với phía Chủ (Cầu) để bắt ép Nhân công phải chấp nhận đồng lương bóc lột. Nhà Nước độc tài cũng không cho phép Nhân công được có những Nghiệp Đoàn Công nhân Độc lập để Đại diện thương thảo TỰ DO về Giá cả (Lương bổng) trên Thị trường Nhân lực. Tại sao vậy ?
=> Nhà Nước độc tài giữ lương hạ chết đói để bán Nhân công ấy cho Chủ. Nhà Nước độc tài cấu kết với Chủ để ăn hớt một phần lương của Công nhân. Tỉ dụ nếu không có sự can thiệp độc tài của Nhà Nước, đồng lương của Thị trường Tự do là 50 đo-la mỗi tháng chẳng hạn. Nhà Nước dùng quyền lực bắt nhân công nhận 30 đo-la mỗi tháng. Còn 20 đo-la kia sẽ được chia chác bẩn thỉu và ác nhân giữa quyền lực độc tài và phía Chủ. => Nhà Nước độc tài không cho phép Công nhân có Nghiệp Đoàn Công Nhân Độc Lập bởi lẽ như vậy thì Nhân công có thể thương thảo trực tiếp với Chủ khiến quyền lực Chính trị không ăn hớt bóc lột được gì trên đầu Nhân công. Tỉ dụ Lương Thị trường Tự do là 50 đo-la. Khi phía Cung (Nhân công) trực tiếp với phía Cầu (Chủ), nhân công có thể lãnh được 50 đo-la trọn vẹn. Còn nếu Nhân công đồng thuận với nhau về phía mình để lôi kéo đầu tư nước ngoài, họ có thể chấp nhận 40 đo-la mỗi tháng. Việc hạ lương để lôi kéo phía Chủ phải do chính Nhân Công quyết định tự do, chứ không phải Nhà Nước quyết định để ăn hớt bẩn thỉu trên đầu Nhân công. Khi chúng tôi không phê bình Trung Cộng và Việt Cộng về vấn đề Lương bổng, đó là chính ở điểm can thiệp độc đoán vào Thị trường để bóc lột.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
BÀI ĐỌC THÊM: PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC VIỆT NAM VÀ VIỆC CẦN THIẾT PHẢI CÓ NGHIỆP ĐOÀN ĐỘC LẬP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Hôm nay, tôi viết thêm bài nữa, hoàn toàn theo những phân tích đơn thuần Kinh tế về Thị trường Nhân Lực. Đây là bài học rất sơ học yếu lược về Kinh tế chính trị (Economie politique). Bài học đòi hỏi phải có Nghiệp Đoàn Lao Động Độc Lập, đại diện giới nghèo để bênh đỡ quyền lợi cho họ.
PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG VỀ MẶT KINH TẾ
Chúng tôi lần lượt phân tích những điểm sau đây:
@ Sức Lao Động là một Tư hữu không tách rời Sở hữu chủ @ Thị Trường Hàng Hóa nói chung @ Thị trường Nhân Lực nói riêng
Sức Lao Động là một Tư hữu không tách rời Sở hữu chủ.
Sức lao động của một người là tư hữu đầu tiên của riêng từ người. Đó là cái vốn đầu tiên để người ấy khai thác tìm phương tiện sống cho bản thân mình. Tư hữu Lao động khác với những tư hữu khác ở đặc tính là sức lao động không thể bán đứt cho người khác mà chỉ có thể cho thuê (On ne vend pas sa force de travail, mais on la loue seulement/ the people cannot sell the Labour, but they lease it only). Đó là tính cách không tách rời Tư hữu Lao động ra khởi Sở hữu chủ, nghĩa là không thể đổi chủ đối với Sức Lao Động. Ngay trong thời kỳ có chế độ Nô lệ, người ta có thể mua bán người nô lệ, nhưng không thể nói rằng người ta mua bán Sức lao động của người nô lệ. Sức lao động của một người nô lệ không thể tách rời chính người nô lệ ấy. Khi cha mẹ để lại cho con căn nhà, thì căn nhà này là tư hữu của người con và người con này có thể bán căn nhà (tư hữu) cho người khác đến làm chủ. Căn nhà cũng là tư hữu, nhưng là tư hữu có thể bán, không giống như tư hữu Lao động của riêng mỗi người.
Một hệ thống Kinh tế tôn trọng quyền tư hữu, thì buộc lòng phải cho Sở hữu chủ có quyền TỰ DO xử dụng tư hữu ấy. Nếu không có quyền xử dụng tư hữu, thì không thể gọi đó là tư hữu nữa. Đây là quyền tự do khai thác tư hữu trong hoạt động Kinh tế (Libre entreprise des propríetés privées). Sức Lao động là một tư hữu cơ bản không tách rời Sở hữu chủ vì vậy Sở hữu chủ có toàn quyền tự do quyết định xử dụng nó trong việc tìm phương tiện nuối sống mình.
Khi ngoại nhân, dù có quyền lực đến đâu đi nữa, cũng không thể nào quyết định xử dụng Tư hữu Lao động của một người (Sở hữu chủ) mà không có sự đồng thuận CHO THUÊ, quyết định tự do của Sở hữu chủ.
Thị Trường Hàng Hóa nói chung Mỗi một hàng hóa tạo một Thị trường: Thị trường Gạo, Thị trường Cà phê, Thị trường Rau muống, Thị trường Nhà cửa, Thị trường tiền Đo-la, Thị trường Bảo Lãnh Ngân Hàng... Trên các Thị trường này, có thể MUA ĐỨT hay chỉ CHO THUÊ. Người ta có thể bán đứt một Bảo Lãnh Ngân Hàng hay chỉ cho thuê tờ Bảo Lãnh ấy. Khi mua bán đứt một hàng hóa thì phải thay đổi Sở hữu chủ. Còn nếu chỉ cho thuê, thì Sở hữu chủ không thay đổi, mà chỉ có sự nhượng quyền xử dụng tư hữu mà thôi trong một thời hạn quy định theo Hợp Đồng. Người xử dụng tư hữu của người khác không được toàn quyền phá hủy tư hữu ấy. Tỉ dụ nếu mua đứt một chiếc xe, Sở hữu chủ là chính mình, thì mình có thể bán xe cho người khác, thậm chí có thể tự do đập phá chiếc xe đó. Nhưng nếu là xe thuê (Leasing), thì mình không thể tiêu hủy chiếc xe bởi vì Sở hữu chủ là người khác.
Dù MUA BÁN hay THUÊ MƯỚN thì phải có hai bên: người có tư hữu và người chiếm hữu hoặc chỉ muốn quyền xử dụng. Người có tư hữu muốn bán hoặc chỉ cho thuê tư hữu thì phải nhận được một cái gì mới quyết định trao đổi. Tất nhiên người muốn chiếm hữu hoặc chỉ muốn quyền xử dụng một tư hữu cũng phải ưng thuận cho Sở hữu chủ một cái gì để trao đổi. Kinh tế không chấp nhận trường hợp những Thánh Nhân mang tư hữu ra chợ tặng không cho người khác. Kinh tế cũng không chấp nhận người muốn chiếm tư hữu người khác hoặc bắt ép người khác cho mình xử dụng mà không trả cho Sở hữu chủ một cái gì để trao đổi, nghĩa là Kinh tế không chấp nhận những cường quyền ăn cướp tư hữu người khác hoặc xử dụng tư hữu ấy mà không đền bù một cái gì.
Phía Sở hữu chủ mang tư hữu đến Thị trường (Chợ) với mục đích trao đổi gọi là phía CUNG của Chợ. Còn phía đến Chợ để mong chiếm hữu hoặc muốn có quyền xử dụng gọi là phía CẦU. Hai phía thảo luận, mặc cả với nhau để có một CÁI GIÁ trao đổi quyền tư hữu hay CÁI GIÁ nhượng quyền xử dụng (Leasing). Tỉ dụ LÃI SUẤT của Thị trường Vốn là CÁI GIÁ ưng thuận nhượng quyền xử dụng Vốn. CÁI GIÁ của Thị trường thay đổi tùy số lượng tham dự Chợ của hai phía CUNG, CẦU của Thị trường.
Một Thị trường gọi là TỰ DO khi phía CUNG cũng như phía CẦU có quyền TỰ DO tham dự Chợ. Một sức mạnh Thứ Ba nào đó (như Đầu Cơ, Chính trị...) can thiệp vào Chợ sẽ làm mất TỰ DO quyết định của phía CUNG và phía CẦU. Từ những ông Tổ cổ điển của Kinh tế Tự do Thị trường đều yêu cầu rằng quyền lực Chính trị đừng can thiệp vào Thị trường bởi vì Chợ Đen, Buôn Lậu, Tham Nhũng, Đầu Cơ, Tiêu Tốn Xã Hội (Couts sociaux) tự động phát sinh.
Khi phía CUNG có quá nhiều người tham dự cũng như phía CẦU có quá đông người, thì việc am tường về Chợ của từng cá nhân có thể không quán xuyến nổi hoặc bị cảnh lắm thầy thối ma làm giảm sức mạnh của mỗi phía. Chính vì vậy, số đông những cá nhân của mỗi phía chọn ra những người chuyên môn đại diện để thông tin về Chợ và để có quyết định thống nhất hơn làm tăng sức mạnh mỗi phía CUNG cũng như CẦU. Những người chuyên môn được làm đại diện này tạo thành những Hội, những Nghiệp Đoàn. Như vậy những Hội, những Nghiệp Đoàn hoàn toàn được tạo ra do nhu cầu Kinh tế trong việc thông tin, thương lượng... bênh vực quyền lợi của mỗi phía của Thị trường về GIÁ CẢ trao đổi. Tỉ dụ Hội những Ngư Dân nhằm thông tin, thương lượng về giá cả cá mắm chẳng hạn. Quyền lực Chính trị không được xen lấn vào quyết định của Thị trường, nhất nữa càng không được tự mình lập những Hội theo khuynh hướng Chính trị của Nhóm Đảng mình và dành quyền đại diện cho các phía của Chợ để quyết định về việc trao đổi Tư hũu trên Thị trường của các Tư nhân tham dự.
Thị trường Nhân Lực nói riêng
Thị trường Nhân Lực cũng là một cái Chợ mang những tính chất chung vừa trình bầy trên đây: TỰ DO quyết định, không có quyền lực Chính trị can thiệp cản trở hay ấn định, mỗi phía CUNG, CẦU cần có những Hội, những Nghiệp Đoàn đại diện đích thực cho mỗi phía. Nhưng tôi tách Thị Trường Nhân Lực ra riêng bởi lẽ có những đặc điểm sau đây:
=> Thị trường Nhân Lực chỉ có CHO THUÊ Sức Lao động
Như trên đã nói, tư hữu của mỗi cá nhân là Sức lao động của riêng họ và không thể tách rời khỏi Sở hữu chủ. Do đó Thị trường này không phải là Thị trường để bán đứt Sức Lao động, mà chỉ là CHO THUÊ Sức lao động mà thôi. Tiếng Việt mình phân biệt rất rõ về Thị trường này khi nói là đi THUÊ, đi MƯỚN thợ, chứ không bao giờ nói là đi MUA thợ bởi vì tư hữu Sức Lao động không bao giờ thay đổi Sở hữu chủ.
Cái GIÁ trao đổi của Thị trường Nhân Lực là ĐỒNG LƯƠNG. Khi nói đến THUÊ, MƯỢN phải có yếu tố THỜI GIAN can thiệp vào trong khi MUA ĐỨT một tư hữu thì không cần phải kể đến yếu tố thời gian. Tỉ dụ khi nói đến Lãi suất (Giá Thuê Vốn), thì phải định theo thời gian xử dụng Vốn nữa, trong khi ấy khi nói đến Mua Đứt số Vốn thì không cần phải kể đến thời gian nữa.
Phân tích như trên để chúng tôi nhấn mạnh rằng khi cho thuê Sức Lao động, người Công nhân có quyền xét Đồng Lương dựa trên : (i) giá trị cao thấp của Sức Lao động mà cá nhân có được; (ii) thời gian cho thuê sức lao động ấy.
=> Tính cách chuyển hoá linh động của Thị trường Nhân Lực
Ở những Thị trường hàng hóa, không có những thay đổi mau lẹ của giá trị hàng hóa, nên kém tính cách chuyển hóa linh động vì thế mà giá cả mua bán hoặc cho thuê có thể đứng lâu ở một mức độ. Nhưng ở Thị trường Nhân Lực, vì Sở hữu chủ có trí thông minh, hấp thụ những tiến triển kỹ thuật qua kinh nghiệm hoặc giáo dục, nên đồng lương không thể đứng nguyên ở một mức trong khoảng thời gian dài. Tỉ dụ giá thuê một con trâu để kéo cầy có thể giữ ở một mức trong khoảng thời gian dài nào đó bởi lẽ việc kéo cầy của con trâu vẫn như vậy từ năm này qua năm khác. Nhưng con người có óc thông minh hấp thụ những tiến bộ kỹ thuật, nên sức lao động của một Công nhân năm 1990 khác với sức lao động của một Công nhân năm 2000. Đồng lương phải linh động thay đổi theo những hấp thụ của trí thông minh ấy.
=> Mức sống tăng trưởng
Công nhân cho thuê Sức Lao động là để sống. Đây là sống thực, nghĩa là đồng lương của Công nhân phải theo với vật giá. Nếu các Thị trường hàng hóa không theo vật giá, thì Thị trường Nhân Lực phải định đồng lương theo vật giá. Nếu đồng lương chỉ theo con số (Valeur nominale) mà không theo khả năng mua hàng hóa để sống theo vật giá (Pouvoir d’achat), thì đó là điều rất tàn nhẫn. Thông thường, trong mọi xã hội, vật giá chuyển biến theo chiều đi lên. Nếu đồng lương đứng một chỗ, hoặc không theo kịp đà đi lên của vật giá, thì Công nhân càng ngày càng nghèo đi. Tỉ dụ với đà phát triển Kinh tế theo Nhà Nước VN tuyên bố là mỗi năm chừng 8.5%, thì đà phát triển này sẽ làm tăng vật giá. Nếu lương cho Công nhân không theo kịp đà tăng này, nghĩa là đứng ở một mức trong vòng 5 năm chẳng hạn, thì người Công nhân sẽ thấy mình nghèo khổ đi nhiều lắm.
=> Đồng lương đứng một chỗ sẽ gặp Hậu quả ác ôn của Samuelson (Effet pervers de Samuelson)
Các Thị trường hàng hóa không có cái hậu quả ác ôn này mà Samuelson, Giáo Kinh tế lừng danh của Hoa kỳ, đã gọi đặc biệt cho Thị trường Nhân Lực. Đối Thị trường của một hàng hóa, nếu giá bán hoặc giá cho thuê giảm dần, thì phía CUNG cũng giảm bớt cung cấp hàng hóa ấy trên Thị trường. Nhưng đối với Thị trường Nhân Lực, Samuelson thấy rằng nếu đồng lương đi theo chiều giảm xuống, thì Công nhân không thể giảm giờ cung cấp Sức Lao động cho Thị trường bởi lẽ họ phải giữ mức sống tối thiểu cho họ và cho gia đình họ. Nghĩa là Thị trường Nhân Lực sẽ gặp một nghịch lý, đó là khi lương giảm thì công nhân phải tăng Sức Lao động, tăng giờ làm việc, phải làm nhiều ca vì sự sống còn của họ và gia đình họ. Đây là nghịch lý ác ôn của CUNG ở Thị trường Nhân Lực.
Tại Thị trường Nhân Lực Việt Nam, đồng lương giữ ở một mức trong thời gian dài, trong khi ấy vật giá lên cao, nghĩa là đồng lương thực (Salaire réel) giảm, thì dân lao động phải tăng giờ làm việc để giữ mức sống tối thiểu và bần cùng của họ. Tăng giờ làm việc, rồi sinh bệnh tật, hoặc phải đi cho thuê Dâm..., đó là sự vô nhân đạo cho kẻ nghèo. Cái hậu quả ác ôn này (Effets pervers) hoàn toàn có tính cách Kinh tế.
=> Can thiệp Chính trị vào Thị trường Nhân lực Việt Nam.
Thị trường hàng hóa nói chung đã không muốn Nhà Nước can thiệp vào bởi lẽ Thị trường là nơi trao đổi hay cho thuê tư hữu TỰ DO của những cá nhân Sở hữu chủ. Nếu việc can thiệp này lại là do động lực Đầu Cơ, Tham Nhũng..., thì càng phải loại trừ ra hơn nữa. Nhìn vào các Thị trường hàng hóa tại Việt Nam, người ta nhận thấy rằng không những Nhà Nước can thiệp trực tiếp, mà còn xử dụng những Công ty quốc doanh (do dảng CSVN nắm giữ) hoặc bằng những Công ty tư doanh do con cháu những người có quyền Chính trị lợi dụng quyền thao túng. Đây là sự can thiệp Chính trị vào Kinh tế mà Thị trường hàng hóa Tự do không thể chấp nhận. Đây không phải việc chỉ trích mang mầu sắc Chính trị, mà là một sự chân nhận thực tế vi phạm những nguyên tắc cơ bản của hệ thống Kinh tế Thị trường Tự do. Người ta cũng chân nhận rằng giới tư doanh trên Thương trường cũng không có quyền lập Hội, Nghiệp Đoàn mà Thị trường đòi hỏi như chúng tôi đã phân tích ở đoạn trên đây.
Riêng về Thị trường Nhân Lực Việt Nam, việc can thiệp của quyền lực Chính trị vào Thị trường trực tiếp hoặc qua những đặc quyền hay đầu cơ, không những không tôn trọng Công nhân (Sở hữu chủ Sức Lao Động của họ), mà còn trở thành sự bóc lột và tệ hơn nữa là mang hâu quả ác ôn (Effet pervers) mà Samuelson đã phân tích.
Vi phạm đầu tiên là những Công đoàn do đảng (quyền Chính trị độc tài) nắm giữ. Những cuộc Đình Công vừa qua là hiện tượng mất tin tưởng của Công nhân vào những Công đoàn này mà những người lao động gọi là Công đoàn Công an Nhà Nước. Đây là việc vi phạm vào chính quyền tự do xử dụng quyền tư hữu Sức Lao động không thể tách rời người lao động trong suốt cuộc đời của họ. Nếu về phương diện Chính trị, với Điều 4 của Hiến Pháp, đảng CSVN nói rằng đảng là đại diện và tiên phong cho Dân, cho Công nhân, thì về mặt Kinh tế, đảng không thể tuyên bố như vậy được bởi lẽ đảng không còn bao cấp cho cuộc sống Công nhân nữa, mà chính Công nhân phải tự mình cho thuê sở hữu Sức Lao động để kiếm phương tiện nuôi sống mình và gia đình. Phải để chính những người Công nhân này chọn những người Đại diện cho chính họ vào một Nghiệp Đoàn Độc Lập hầu thông tin, thương thảo trên Thị trường cho có một giá (Lương) cho thuê sức Lao động của họ.
Chúng tôi cũng muốn nhắc ra đây một tỉ dụ về vi phạm của Nhà Nước đối với Thị trường Nhân Lực Việt Nam. Tỉ dụ đó là: Đài BBC cách đây chừng 10 ngày, khi phỏng vấn Oâng Lech VALESA, đã tiết lộ công khai rằng Nhà Nước đã ký những Hợp Đồng quan trọng với những Công ty nước ngoài, nên Nhà Nước không cần những Nghiệp Đoàn Độc Lập làm gì. Như vậy là quyền lực Chính trị đã coi những Sở hữu chủ (Công nhân) của sức Lao động (tư hữu) của họ không ra cái gì cả. Nói cách khác, quyền lực Chính trị đã truất hữu sức Lao động của Công nhân để cho ngoại bang THUÊ. Nhưng với giá cho thuê bao nhiêu ? Sở hữu chủ (Công nhân) cũng không biết luôn. Công nhân có thể nghĩ rằng với tình trạng tham nhũng, đầu cơ gia đình con ông cháu cha, đây là việc quyền lực Chính trị độc đoán đem cho thuê tư hữu sức Lao động của họ cho ngoại lai với giá mà trong đó những kẻ nắm quyền lực tham nhũng, đầu cơ gia đình đã chia một phần lương của họ với ngoại lai.
NẾU CÓ HẬU QUẢ CHÍNH TRỊ
Đây là Kết luận cho Phần Phân tích hoàn toàn có tính cách Kinh tế trên đây. Ơû Phần trên chúng ta cũng nhận thấy rằng Thị trường Lao động Việt Nam đòi hỏi: => Quyền lực Chính trị phải tôn trọng tư hữu của Công nhân, đó là Sức Lao động => Công nhân có quyền TỰ DO quyết định việc cho thuê tư hữu của mình => Tự động Đình Công và kêu gọi thành lập Nghiệp đoàn Độc lập là hiện tượng cụ thể chứng tỏ việc không tin vào những Công đoàn do Nhà Nước chỉ huy. => Tự do xử dụng quyền tư hữu, tự do quyết định giá cả cho thuê tư hữu và việc không tin vào Công đoàn nhà nước, tất cả cho Công nhân cái quyền chọn những người Đại Diện mà họ tin tưởng để làm việc giúp họ khi quyết định cho thuê Sức Lao động (tư hữu bất khả phân khỏi cá nhân mỗi người). Những Đại Diện này tập hợp thành những NGHIỆP ĐOÀN LAO ĐỘNG ĐỘC LẬP.
Đã bao chục năm nay, chính quyền lực đảng CSVN đã chính trị hóa những Nông dân, Công nhân, xử dụng họ như công cụ đấu tranh đẫm máu để cướp lấy quyền lực Chính trị độc tài cho mình.
Ngày nay, mục đích đấu tranh của những người nghèo này là Kinh tế, là cho quyền sống thân xác của họ. Nếu cuộc đấu tranh mang đến hậu quả có tính cách thay đổi thể chế Chính trị, thì đó không phải là MỤC ĐÍCH của họ mà quyền lực Chính trị muốn vu khống để khủng bố, đàn áp chính những kẻ mà đảng đã lợi dụng thủ lợi cho đảng trước đây. Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ CSVN:
CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI: (II) GIẾT CHẾ NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài QUAN ĐIỂM của số báo tuần này là chú thích quan trọng thứ hai cho bài QUAN ĐIỂM chính đã viết trước: CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI .Chú thích thứ nhất là: CƠ HỘI WTO: BÓC LỘT CÔNG NHÂN ĐỂ TĂNG CẠNH TRANH (Xin đọc Phần KINH TẾ/ TÀI CHÁNH của số báo này).Và chú thích thứ hai hôm nay là: CƠ HỘI WTO: GIẾT CHẾT NÔNG DÂN VÀ NGƯ DÂN
Công nhân, Nông dân và Ngư dân là tầng lớp nghèo khổ và chiếm trên 80% dân số Việt Nam. Đảng Cộng sản VN mơ mộng hốt bạc với WTO, ăn tham nhũng và củng cố chế độ. Họ không nghĩ hoặc cố tình làm ngơ rằng mình tự do xuất cảng thì nước ngoài cũng tự do đem hàng hóa vào Việt Nam. Hàng hóa Việt Nam cạnh tranh yếu tại Thị trường Quốc tế, nghĩa là đem hàng ra ngoài èo ọt nhặt tiền còm, trong khi ấy tại chính Đất Nước mình, hàng nước ngoài vào giết hàng Việt Nam. Tệ hại hơn cả, đó là việc giết chế hàng Nông nghiệp và hàng Ngư nghiệp Việt Nam mà tầng lớp Dân nghèo Nông dân và Ngư dân phải bám lấy để sống.
CHÚNG TÔI LUÔN LUÔN KÊU GỌI PHẢI ĐẦU TƯ VÀO NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP
Có ba yếu tố chính khuôn đúc sự phát triển Kinh tế của một Quốc gia mà các nhà Kinh tế gọi đó là những Môi trường:
=> Môi trường Thiên nhiên của địa vực (Environnement naturel/ géographique) => Môi trường Nhân lực (Environnement démographique) => Môi trường Chính trị—Luật pháp (Environnement politico-juridique)
Môi trường thiên nhiên của địa vực Việt Nam là nông sản và thủy sản với những cánh đồng bát ngát mầu mỡ, với những ngàn cây số ven biển. Cái Môi trường này hướng Kinh tế Việt Nam trước tiên vào Nông nghiệp và Ngư nghiệp. Dân tộc chúng ta đã sống hết thế kỷ này sang thế kỷ kia với giải đất nông sản và ngư sản sẵn có, chỉ cần khai thác cho cuộc sống.
Chính vì vậy khi bắt đầu viết những loạt bài về việc vào WTO, trước tiên chúng tôi luôn hô hào phải đầu tư vào Nông nghiệp và Ngư nghiệp cho Dân sống đủ ăn hàng ngày đã.
Ngày 22.06.06, với bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 257, chúng tôi đề cập tới những điểm sau đây: => Sự quan trọng của Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam => CSVN: Công nghệ phục vụ cho tuyên truyền Chính trị => Nền Kỹ nghệ thực phẩm vững chắc
Sự quan trọng của Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam
Trước đây, sau khi Cộng sản chiếm Miền Nam, chúng ta đọc những tin rằng dân Việt Nam phải ăn bo bo mà lòng đau xót, trí hiểu không được. Việt Nam có dồi dào gạo, có nhiều cá tôm, có muối, có nước, thì Dân ta không thể nào chết đói được. Ngồi trên bờ ruộng lúa của đồng bằng Sông Cửu Long, mà Dân phải mở gói ra nhai bo bo, thì lòng đau lắm và đầu cũng khùng điên luôn vì hiểu không được.
=> Điều kiện thiên nhiên dồi dào cho Nông nghiệp
Đất đai Việt Nam dành cho Dân tộc điều kiện thiên nhiên phì nhiêu để phát triển những sản phẩm tối cần cho cuộc sống ấm no. Những đồng bằng sông Hồng Hà và Sông cử Long phì nhiêu cho Dân chúng sản xuất lúa gạo hai Mùa hoặc ba Mùa. Nước ta không thể thiếu lúa gạo. Về hoa trái, thì ai cũng biết rằng hạt rơi rụng đâu, thì cây mọc lên sinh hoa trái đó. Cả vùng đất đỏ đến vùng Tây nguyên đều là đất phì nhiêu để khai thác hoa trái, củ rễ... cho Dân sống thoải mái. Dân Việt không thể thiếu cơm gạo, thiếu hoa trái, thiếu củ rễ để Dạ Dầy Dân phải đến cồn cạo.
=> Điều kiện thiên nhiên dễ dàng cho xây cất nhà cửa với giá rẻ
Ngoài vấn đề đồ ăn, tài nguyên thiên nhiên về Lâm sản của Việt Nam có dư đủ để Nông dân và Ngư dân cất nhà cửa làm nơi cư ngụ. Thực vậy, truyền thống của Nông dân và Ngư dân là làm Nhà cửa bằng Tre, Luồng. Đây là việc làm nhà rất hợp với vị trí thiên nhiên khí hậu của nước ta. Dân Việt sống dọc bờ biển, dễ bị bão lụt tàn phá. Nếu làm Nhà bằng gỗ hoặc gạch ngói, thì tốn kém. Một trận bão lụt đủ tàn phá cả cơ nghiệp vào nhà gỗ, gạch ngói. Dân ta làm Nhà bằng Tre, Luồng. Tre, Luồng tại Việt Nam mọc lên rất nhanh. Nếu bão lụt tàn phá nhà bằng Tre, Luồng, thì vào rừng kiếm hoặc mua với giá rẻ để làm nhà mới.
=> Điều kiện thiên nhiên dồi dào cho Ngư nghiệp
Việt Nam có bờ biển chạy dài trên 2500 cây số. Miền Nam có sông ngòi chằng chịt. Vịnh Bắc Việt là nơi cá trú ẩn sinh con. Cá lớn lên đi theo ven biển đến Phan thiết, rồi Cà Mâu để Dân bắt. Sông ngòi Miền Nam nhiều tôm cá. Tôm cá sinh ra ở Biển Hồ bên Cao Mên, rồi lớn lên xuống những sông ngòi ở Miền Nam. Làm thế nào Dân có thể thiếu cá tôm để kho, luộc ăn với cơm gạo.
=> Tài chánh: tự tạo để khuếch trương Nông nghiệp và Ngư nghiệp
Tôi đã có dịp nói về tính cách tự tạo tài chánh này từ chính Nông nghiệp và Ngư nghiệp để đầu tư khuếch trương cho Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam. Tôi nói rằng:
@ Mặc dầu Lý thuyết Mác-Lê lấy Búa (Công nhân) và Liềm (Nông dân) làm biểu hiệu trên lá cờ, nhưng tại Việt Nam, Cộng sản phải dựa hoàn toàn trên Liềm vì 80% là Nông dân, nhất là ở thời mà Cộng sản phải nhờ khối người này để cướp chính quyền. @ Nhưng sau khi Cộng sản đã cướp được quyền lực rồi, thì Nông dân bị bỏ rơi. Thiếu đầu tư cho Nông nghiệp như xây Silo dự trữ thóc gạo. Mùa màng gặt hái đã thất thoát đi 30% số thu. Hạ tầng cơ sở cho nông thôn cũng bị bỏ quên. Nhà nước chỉ chú tâm vào sửa sang đường sá ở những Thành phố lớn có những khu công nghệ mà những Công ty nước ngoài hưởng @ Đảng và Nhà Nước lại nắm về xuất cảng Gạo và những sản phẩm khác của Nông nghiệp và Ngư nghiệp. Những thặng dư về số thu Nông nghiệp và Ngư nghiệp lại cho vào những phương diện khác: công nghệ cho vẻ vang chế độ hoặc túi riêng của những người cầm nắm quyền lực. @ Nông dân và Ngư dân không được tự do căn cơ tính toán, dùng những thặng dư thu vào từ Nông nghiệp và Ngư nghiệp để tạo vốn tự đầu tư cho việc khuếch trương hai ngành nghiệp thiết cần này.
=> Tài chánh tái tạo chu kỳ
Nguồn thiên nhiên Nông nghiệp và Ngư nghiệp có tính cách tái tạo chu kỳ. Thực vậy, nếu khai thác một hầm mỏ, như sắt chẳng hạn, thì sản phảm hầm mỏ xài rồi là hết. Sắt không thể sinh ra sắt mới, nghĩa là có tính cách tự tái tạo chu kỳ. Đó là những nguồn thiên nhiên bị khai thác rồi hết (Ressources naturelles épuisables). Trong khi ấy nguồn thiên nhiên Nông nghiệp, Ngư nghiệp, Lâm sản (Tre, Luồng) có tính cách tái tạo theo chu kỳ. Lúa sinh ra lúa, Cá sinh ra cá, Tre, Luồng lại mọc lên nhanh. Với tài nguyên Nông nghiệp, Ngư nghiệp, Lâm sản dồi dào của Việt Nam, người Dân không những no đủ, có nhà cửa đàng hoàng mà còn xuất cảng thặng dư để thu vào một số tài chánh. Cũng theo tính cách tái tạo chu kỳ của ba nguồn thiên nhiên, Tài chánh đến từ ba nguồn này có tính cách tái tạo chu kỳ (Sources financieres cycliques renouvelables)
CSVN: Công nghệ phục vụ cho tuyên truyền Chính trị
Ngoài việc mất tính cách Kích thích Kinh tế để làm tăng sức sản xuất, nền Kinh tế chỉ huy kế hoạch đã nhằm phục vụ cho việc tuyên truyền vẻ vang cho chế độ Chính trị, chứ không phải là phục vụ cho người Dân nghèo làm việc mong có miếng ăn vào Dạ Dầy để nuôi sống thân xác. Cộng sản bắt dân làm việc sản xuất để nuôi chủ thuyết Chính trị Xã Hội Chủ Nghĩa của đảng, chứ không phải là để nuôi thân xác của chính người dân làm việc cực khổ. Đó là sự thất bại và sụp đổ của Cộng sản.
Có một lần tại Hà Nội, tôi đã nói với một Oâng Giám đốc Ngân Hàng nhỏ. Oâng này là cháu ruột Oâng Lê Văn Châu, Phó Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam trước đây, sau sang làm về Thị trường Chứng khoán. Oâng Giám đốc Ngân Hàng nhỏ này muốn tôi can thiệp với một Tập Đoàn Tài chánh Hoa kỳ để cho vay USD.10'000'000.- Tôi hỏi vay để làm gì. Oâng ta nói rằng vay để trùng tu Nhà Hát Lớn Hải Phòng. Tôi trả lời thẳng thừng rằng nếu Oâng xin vay để mua đoàn xe hốt rác cho thành phố Hà Nội, thì tôi vui lòng can thiệp. Tôi thấy những cô gái từ Hà Đông lên Hà nội, phải hốt rác bằng hai tay trần khi mưa gió xình lầy. Trong khi ấy, nếu can thiệp cho vay trùng tu Nhà Hát Lớn để mấy cô cậu đến đó đú đỡn, thì tôi không muốn can thiệp.
Trong nhiều năm, chế độ luôn luôn lo đầu tư vào những thành phố lớn như Hà nội, Đà nẵng, Sài gòn..., dưới khẩu hiệu tuyên truyền là công nghệ hóa Đất Nước. Đây là việc muốn tuyên truyền cái bộ mặt tô phấn điểm son của chế độ trước Quốc tế. Dân nghèo đói, nhất là Nông dân, thì mặc mẹ Dân, miễn sao bộ mặt đảng được sơn phấn tô son. Tay họ muốn xách cặp Samsonite láng coóng, mà trong cặp không có một mẩu sandwich để ăn.
Chúng tôi không chống lại việc công nghệ hóa, nhưng phải biết phân biệt đâu là việc cần thiết cấp thời hơn cả và phải biết khả năng của mình lúc nào mới làm được. Làm Kinh tế là nhằm thu lợi nhuận thực sự, chứ không phải là cốt ý để cho người khác thấy mình có làm Kinh tế.
Nền Kỹ nghệ thực phẩm vững chắc
Khuếch trương Nông nghiệp và Ngư nghiệp mà không xây dựng một nền Kỹ nghệ Thực phẩm vững chắc, đó là thiếu sót. Thực vậy, Nông nghiệp và Ngư nghiệp càng phát triển bao nhiêu, thì Kỹ nghệ Thực phẩm càng phải xây dựng bấy nhiêu.
Những sản phẩm Nông nghiệp và Ngư nghiệp là những sản phẩm dễ hư (Produits périssables). Kỹ nghệ Thực phẩm là Kỹ nghệ nhằm bảo tồn những sản phẩm dễ hư ấy (Produits perissables) trong thời gian (Dans le temps). Kỹ nghệ này gồm các ngành nghiệp đông lạnh, sấy khô, đóng hộp, chế biến nước uống, làm sốt (sauces). Đó là tất cả những việc kỹ nghệ để kéo dài sản phẩm Nông nghiệp và Ngư nghiệp trong thời gian.
Tôi đã có dịp liên hệ và thăm một Công ty về sản phẩm Ngư nghiệp tại Vịnh Guinea Phi châu. Vùng này có nhiều cá, nhưng dân không được ăn cá tươi, mà lại phải ăn cá hộp với giá mắc hơn. Số là một Công ty Thụy Điển mua cá tươi của vùng này, chở về Thụy Điển để làm cá hộp. Từ Thụy Điển, Công ty chở cá hộp sang Phi châu bán. Sản phẩm Nông nghiệp và Ngư nghiệp phải có Kỹ nghệ Thực phẩm tại chỗ. Kỹ nghệ này trợ lực cho Nông nghiệp và Ngư nghiệp về những điểm chính sau đây:
=> Kéo dài thời gian cho những sản phẩm Nông nghiệp và Ngư nghiệp. Tỉ dụ nước Ý trồng nhiều cà chua. Nếu không có Kỹ nghệ làm sốt cà chua ở Ý hoặc nhờ bà Kerry làm Ketchup, thì cà chua sẽ thối.
=> Kỹ nghệ Thực phẩm tại chỗ làm cho sản phẩm Nông nghiệp và Ngư nghiệp khỏi bị ép giá. Vì tính cách dễ hư (périssables), nên phải có Kỹ nghệ Thực phẩm bên cạnh để điều hòa cung cầu theo mùa và tránh việc Nông dân và Ngư dân khỏi bị gian thương ép giá về sản phẩm. Tóm lại, Dân Việt không thể chết đói để chế độ la hoảng“Cứu đói giảm nghèo“. Đây là lỗi của chế độ. Phải khuếch trương ưu tiên Nông nghiệp, Ngư nghiệp và Lâm sản với Kỹ nghệ Thực phẩm đi kèm để hỗ trợ.
VÀO WTO: CHÍNH CSVN THÚ NHẬN NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP VN HIỆN NAY YẾU KÉM
Thứ tư, 23/8/2006, tôi đọc một bài trên VnExpress đăng tải lại bài của báo THANH NIÊN do chính CSVN, nhận định về sự yếu kém nguy hiểm của nông phẩm và ngư phẩm Việt Nam hiện nay. Đầu đề của bài viết này là : “Vào WTO, nông nghiệp phải đổi mới“.
Vào WTO, mới bắt đầu đổi mới Nông nghiệp, thì đã quá muộn rồi !
Tôi xin trích đăng lại bài báo ấy như sau: “Một cơn lốc hàng ngoại nhập sẽ tràn vào thị trường khi VN gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Sản phẩm nông nghiệp là lĩnh vực được dự báo sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất trong khi sức cạnh tranh của nông sản VN quá thấp, nông dân thì yếu thế.
Gia nhập WTO, chúng ta có thể thâm nhập thị trường nông sản thế giới... Thế nhưng nông dân sẽ là người chịu khổ nhiều nhất", đó là nhận định của một chuyên gia kinh tế khi dự báo về tương lai của nông sản VN.
Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI), việc giảm thuế nhập khẩu hàng nông sản theo thỏa thuận với Mỹ mà trước hết là thịt bò, thịt heo sẽ khiến sản phẩm trong nước cạnh tranh rất khó khăn, bởi giá thành chăn nuôi trong nước hiện rất cao. Hàng loạt mặt hàng nông sản chế biến từ nhiều nước khác, nhất là từ Trung Quốc, Thái Lan làm cho nông sản nước ta cũng khó "địch" nổi ngay trên sân nhà.
Tiến sĩ Võ Mai, Chủ tịch Hiệp hội Trái cây VN nhận định: "Nông dân hiện nay hầu như chưa có khái niệm gì về WTO, họ chỉ nghĩ đơn giản đó là công việc của Nhà nước. Như vậy làm sao có thể cạnh tranh khi hội nhập? Muốn cạnh tranh, trước hết phải bắt đầu từ chất lượng sản xuất, phải có sản phẩm chất lượng cao thì mới cạnh tranh được. Trong khi đó thực trạng hiện nay của VN là sản xuất manh mún, chất lượng quá kém. Ngay khi chưa gia nhập WTO, hiện nay trái cây VN đã bị lấn sân bởi trái cây ngoại rồi".
Ông Phạm Văn Minh, Giám đốc Công ty Phú An Sinh (TP HCM) nhận định, các doanh nghiệp kinh doanh thịt gà trong nước có thể thua lớn, bởi vì vì ưu thế lớn nhất của Mỹ là thị trường nội địa chỉ tiêu thụ phần ức gà, còn lại đem xuất khẩu hết nên giá cực rẻ. Người nuôi bò, heo thì có thể "sống" cầm chừng, vì người tiêu dùng chưa quen với việc sử dụng thịt heo, bò đông lạnh.
Theo ông Đoàn Ngọc Bông, Phó chủ tịch Phòng VCCI, để hội nhập WTO một cách hiệu quả, trước hết, Nhà nước cần có ngay chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, hỗ trợ theo lối mới phù hợp với quy tắc chung của WTO. Cụ thể, Nhà nước cần chăm lo phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp và nông thôn (như đường sá, điện, thủy lợi), ứng dụng công nghệ mới, cung cấp thông tin thị trường, phát triển nguồn nhân lực...
Hội Nông dân VN cũng tổ chức chương trình tôn vinh những sản phẩm nông nghiệp nhằm tạo cơ hội cho nông dân nâng cao khả năng cạnh tranh. Trong đó giải thưởng "Trâu vàng đất Việt" (Trâu để kéo cầy hay để xẻ thịt bán cạnh tranh !) lần đầu tiên được xây dựng trên tất cả các lĩnh vực, sản phẩm phục vụ cho nông nghiệp được xem là bước tiến lớn trong việc tạo thương hiệu cho nông sản VN.
Theo cam kết đa phương của VN trong các phiên đàm phán gia nhập WTO, các trợ cấp xuất khẩu đối với hàng nông sản sẽ phải được bỏ ngay lập tức.
Đây là dịp để chúng ta nhìn lại và làm cho cơ bản hơn. Chẳng hạn, Nhà nước phải đầu tư nhiều cho công tác nghiên cứu phát triển mới mong có được những loại cây hay con giống đủ khả năng cạnh tranh. Phải đầu tư nhiều cho công tác nghiên cứu thị trường. Doanh nghiệp tham gia thị trường còn rất thiếu những thông tin loại này để lường được chi phí, cách tiếp cận cho phù hợp... Một điều tôi muốn nói nữa là lâu nay hỗ trợ của Nhà nước nếu có cũng chủ yếu chảy vào các công ty nhà nước nhưng điều oái ăm là những công ty này lại làm ăn không hiệu quả". (Theo Thanh Niên)
VÀO WTO MÀ CHƯA ĐỦ LỰC CẠNH TRANH: ĐẢNG CSVN GIẾT CHẾT NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP VN
Nạn nhân đau khổ của việc vào WTO dưới chế độ độc tài độc đảng tham nhũng, chính là tầng lớp Dân nghèo Việt Nam. Công nhân không được quyền có Nghiệp Đoàn Độc Lập sẽ bị CSVN cấu kết với tài phiệt ngoại lai để bóc lột lương và sức lực lao động. Chúng tôi đã chú thích về điểm này trong bài QUAN ĐIỂM lần trước.
Nhưng thảm thương thay, đó là việc giết chết Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam. Nước ta vốn dĩ có Mội trường thiên nhiên dồi dào về Nông sản và Ngư sản. Chính lẽ chúng ta phải thắng những nước chung quanh về những sản phẩm này. CSVN hồ hởi vào WTO mà chưa sửa soạn về những sản phẩm này, tức là tạo dịp cho nước ngoài vào Việt Nam tự do để: => Giết chết khối Nông dân và Ngư dân chiếm trên 80% Dân số. => Nếu không chết, thì khối đa số người Dân nghèo cũng chỉ đời cha đến đời con đi làm thuê cho chủ nước ngoài khai thách chính tài nguyên thiên nhiên về Nông phẩm và Ngư phẩm của nước mình.
Hãy nhớ lại và cảm thấy lòng buồn tủi: trong trên 100 năm nay, chủ khai thác Kinh tế nước mình nằm trong tay người Pháp, rồi người Pháp gốc Việt, tiếp đến là người Tầu, rồi hậu quả của chế độ này, đó là những người Thái, Tầu, Aán, Đại Hàn, Nhật... sẽ đến làm chủ.
Để NÔNG NGHIỆP và NGƯ NGHIỆP Việt Nam bị giết chết hoặc sống ngắc ngoải, đó là trọng tội không những đối với Dân nghèo, mà còn đối với Tổ tiên đã hy sinh dành cho chúng ta ngày nay một Giải Đất quá giầu có về nguồn lợi Nông sản và Thủy sản.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ CSVN:
CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI LỢI PHẢI THU LẤY
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Loạt bài QUAN ĐIỂM này gồm 3 bài liên hệ đến cơ hội vào WTO. Chúng tôi đã viết Bài QUAN ĐIỂM thứ nhất: CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI. Trong những cái hại này, chúng tôi đã nhấn mạnh đến hai phạm vi rất quan trọng bằng hai bài phụ, đó là việc BÓC LỘT LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐỂ TĂNG CẠNH QUỐC TẾ và việc GIẾT CHẾT NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP VIỆT NAM.
Bài QUAN ĐIỂM thứ hai: CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI LỢI PHẢI THU LẤY.
Những cái lợi đó là gì và cho ai ? Có những cái lợi cho người này, nhưng là hại cho người khác. Đối với chúng tôi, điều quan trọng là những cái lợi cho cuộc sống của Dân và cho sự phát triển Đất Nước. Chúng ta thu lấy những cái lợi này. Còn những cái lợi cho đảng CSVN độc tài cấu kết với tài phiệt nước ngoài, đó là những cái hại cho Dân và Đất Nước, chúng ta phải tìm cách loại trừ.
ĐẢNG CSVN NHẰM NHỮNG CÁI LỢI CHO RIÊNG MÌNH
Qua những phân tích ở bài QUAN ĐIỂM thứ nhất về những cái hại, nhất là về việc bóc lột Lao động để tăng cạnh tranh và việc giết chết nông nghiệp và ngư nghiệp, chúng ta thấy rằng CSVN tìm hết cách bưng bít những điểm này, mà chỉ nóng lòng chấp nhận bất cứ điều kiện Quốc tế trên giấy tờ để mong vào được WTO như gà mắc đẻ. Tôi nói CSVN chấp nhận những điều kiện TRÊN GIẤY TỜ, nhưng trên thực tế, những điều kiện đòi hỏi của Quốc tế lại không được thực hiện đúng đắn. Chúng ta là người Việt Nam, chúng ta hiểu tình trạng thực của Việt Nam và chúng ta đã bao chục năm trường phải chịu đựng cảnh nói gian dối, nuốt lời của Cộng sản. Đảng CSVN mong vào WTO như gà mắc đẻ vì nhằm những cái lợi cho riêng đảng như sau đây.
Duy trì chế độ độc tài độc đảng
Đây là cái lợi ích Chính trị của đảng. Việc cai trị độc tài và tham nhũng đã tạo sự đứng dậy đấu tranh của Dân chúng Quốc nội. Trước việc đấu tranh của Dân, đảng CSVN lung lay. Đảng muốn lấy thế lực Quốc tế để củng cố quyền lực Chính trị của mình. Đảng gắng công tổ chức Hội nghị APEC cũng như nhận các điều kiện để vào WTO là nhằm mục đích lấy ngoại bang củng cố cho quyền lực trị Dân của mình, trong khi đó dùng khủng bố của Công an để khủng bố Dân chứ không lo thay đổi chế độ cho hợp lòng Dân Quốc nội. Đây chính là việc dùng quyền lực ngoại bang để củng cố quyền lực Chính trị của mình.
Nguồn làm giầu riêng cho đảng và con cháu đảng
Độc tài Chính trị để nắm quyền lực. Có quyền lực độc tài Chính trị, thì mới có quyền lực độc tài về Kinh tế, Thương mại. Khía cạnh Kinh tế, Thương mại này mới là điểm mà đảng không muốn nhả ra. Đảng đã nắm trọn đời sống Kinh tế cả nước và kết quả là Dân chúng nghèo đói. Đảng buộc lòng phải nhả ra một phần điều hành Kinh tế cho tư doanh. Ngày nay việc tham nhũng, kiếm chác bẩn thỉu đối với Quốc nội gặp những phản ứng. Dân không còn sợ hãi nữa và khi đảng đụng đến nồi cơm của Dân, thì Dân bắt đầu phản ứng, bảo vệ cho quyền sống dạ dầy của mình.
Chính vì vậy mà việc vào WTO là nguồn lợi tham nhũng rất ngon lành và to lớn cho đảng và con cháu đảng. Đối với những tham nhũng quốc tế này, đảng có thể bịt mắt Dân chúng. Đảng vẫn giữ cả một hệ thống độc quyền về Kinh tế, Thương mại.
Những Công ty quốc doanh là hệ thống nắm độc quyền Kinh tế, Thương mại của đảng, tối thiểu về những mặt hàng xuất nhập cảng chính yếu. Còn những hoạt động Kinh tế, Thương mại nào buộc lòng phải để cho tư doanh, thì quyền lực độc tài của những người cầm đầu đảng lại dành cho con cháu của họ nắm giữ dưới danh hiệu tư doanh. Đây là hệ thống Kinh tế, Thương mại Mafia Gia đình. Đại Hội đảng kỳ vừa rồi cho phép đảng viên (những kẻ có quyền độc tài độc đảng) làm Kinh tế, Thương mại, nghĩa là hệ thống Kinh tế, Thương mại Mafia Gia đình nới rộng ra hệ thống Kinh tế Mafia Đảng. Nếu có tư doanh thực thụ nào muốn làm Kinh tế, Thương mại nhân cơ hội nhập WTO, thì cũng phải tốn tiền bạc cho hệ thống Mafia Gia đình và Mafia Đảng. Đây là hai hệ thống ngồi mát ăn bát vàng trên đầu giới tư doanh thực thụ.
Tóm lại, hai cái lợi trên đây, Chính trị và tham nhũng Kinh tế, Thương mại Quốc tế khiến đảng chấp nhận trên giấy tờ (giả mạo) để vào cho bằng được WTO như gà mắc đẻ.
TÀI PHIỆT NGOẠI LAI CẤU KẾT VỚI ĐỘC TÀI ĐỂ THỦ LỢI
Quản trị chính yếu Kinh tế của những Xí nghiệp là quản trị Chi tiêu. Vì cạnh tranh quốc tế, giá bán hàng hóa trở thành rất khó khăn cho việc quản trị. Buộc phải chấp nhận giá bán cạnh tranh của Thị trường, các Xí nghiệp sản xuất tìm mọi cách để hạ giá thành và từ đó có thể làm tăng lợi nhuận.
Những sản phẩm cao cấp đòi phải trang bị máy móc (Equipement) tốn kém và dài hạn để sản xuất. Nhưng đối với những hàng tiêu thụ thông dụng hàng ngày, không cần phải trang bị máy móc phức tạp tốn kém và dài hạn để sản xuất, các Xí nghiệp chỉ cần dùng Nhân lực rẻ tiền có tính cách ngắn hạn để sản xuất. Ngay cả đối với những sản phẩm cao cấp phức tạp, các Xí nghiệp đã chia sản phẩm ra thành những bộ phận linh kiện (Pìeces détachées) để tản việc sản xuất ra nhiều nơi mà họ có thể tận dụng Nhân lực rẻ tiền để sản xuất. Đây là hệ thống sản xuất bằng ráp nối những linh kiện (Assemblement des pìeces détachées).
Nhân công Việt Nam là nhân công có giá trị vì ba yếu tố: (i) người Việt Nam nhẫn nại, chịu khó; (ii) người Việt Nam có óc thông minh, hiểu mau mắn công việc làm; (iii) nhân công Việt Nam khéo tay trong những công việc tay chân.
Khối nhân lực này là phương tiện cho những Xí nghiệp tìm tòi sản xuất hàng hóa thông dụng (Produits de consommation courante) và linh kiện (Pìeces détachées) với giá thành hạ. Điều lý tưởng (= ác tâm) của những Xí nghiệp này là họ cấu kết với một chế độ độc tài có thể bắt ép Nhân lực phải chấp nhận đồng lương rất thấp trong một khoảng thời gian dài. CSVN độc tài cấu kết với tài phiệt ngoại lai bóc lột lương nhân công để thủ lợi riêng: CSVN độc đoán giữ lương nhân công hạ để được tiền thưởng (tham nhũng) từ ngoại lai; tài phiệt ngoại lai cấu kết với CSVN để có nhân công rẻ tiền để hạ giá thành hàng hóa.
Theo thống kê, ngoại lai đầu tư (lợi dụng nhân công) ở Việt Nam phần lớn là từ những nước Á đông chung quanh và về những hàng tiêu thụ thông dụng và những linh kiện. Nhật, Nam Hàn sản xuất một số linh kiện tại Việt Nam. Đài Loan, Hồng Kông, Singapore sản xuất về hàng may mặc ở Việt Nam để xuất cảng.
Khi vào WTO, nghĩa là có tự do xuất cảng những hàng trên sang các nước đã kỹ nghệ hóa với thuế hạ và với giá bán cao ở những nước này, đó là điều lý tưởng cho những tài phiệt Á đông sản xuất và và bán trên Thị trường quốc tế để tăng lợi nhuận. Vào WTO, CSVN ham như gà mắc đẻ vì mục đích riêng của đảng. Vào WTO, tài phiệt ngoại lai Á đông xốn sang như người mắc đái vì cho phép họ dùng độc tài bóp chẹt lương nhân công và qua “Made in Vietnam“ họ tự do xuất cảng sang những nước có mức sống cao để bán thu lợi nhuận. Cùng mục đích riêng, hai nhóm này cấu kết với nhau để giữ Chính trị độc tài tại Việt Nam, hầu bóc lột lao động để thủ lợi. (Xin đọc thêm bài Phân tích Thị trường Nhân Lực VN đăng lại trong số này).
Những cái gọi là những cái lợi trên đây khi vào WTO là đứng theo quan điểm của đảng CSVN và của tài phiệt ngoại lai đi tìm nhân công rẻ để hạ giá thành hàng hóa. Nhưng đứng theo quan điểm người Dân Việt Nam, thì những cái lợi này có được là do sự bóc lột trên đầu Dân.
Chính vì vậy mà đảng CSVN chỉ ca tụng việc vào WTO và che dấu những cái hại mà chúng tôi đã phân tích trong bài QUAN ĐIỂM thứ nhất, đặc biệt về khía cạnh bóc lột Công nhân để tăng cạnh tranh và về việc giết chết nông nghiệp, ngư nghiệp Việt Nam. Đảng CSVN cũng xử dụng những Công ty quốc doanh, hệ thống Mafia Gia đình, hệ thống Mafia Đảng để giữ chặt những cái lợi Kinh tế/ Thương mại cho mình, đồng thời dễ dàng và kín đáo cấu kết với tài phiệt ngoại lai ở phương diện bóc lột nhân công Việt Nam.
Về phương diện này, một lần nữa, chúng tôi thấy rằng việc thành lập Công Đoàn Lao Động Độc Lập là điều cần thiết mà lý do hoàn toàn thuộc phạm vi Kinh tế/ Thương mại. Việc vào WTO gấp rút, thì việc lớn mạnh của Công Đoàn Lao Động Độc Lập cũng phải gấp rút để đấu tranh Kinh tế/ Thương mại thu cái lợi về cho giới Lao động và cho Dân.
NHỮNG CÁI LỢI MÀ DÂN CẦN ĐẤU TRANH ĐỂ THU VÀO CHO MÌNH VÀ ĐẤT NƯỚC
Chúng tôi cũng đứng ở hai khía cạnh để phân tích những cái lợi này: khía cạnh Chính trị và khía cạnh Kinh tế/ Thương mại. Tất nhiên về khía cạnh nào mặc lòng, thì Dân phải nỗ lực đấu tranh mạnh mới mong thu được những cái lợi.
Những cái lợi về mặt Chính trị
Như trong phần trên đã phân tích, CSVN mong vào WTO như gà mắc đẻ vì họ mong củng cố quyền lực Chính trị độc tài của mình. Nhưng khi vào WTO họ phải chấp nhận những điều kiện trên văn bản của Thế Giới Tự do. WTO là sản phẩm của cơ chế chủ trương nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Nếu tại Việt Nam, Cộng sản có thể dùng khủng bố, đàn áp để che đậy một mặt là viết trên văn bản có Kinh tế Tự do và Thị trường, một mặt lại áp dụng Kinh tế Chỉ huy của đảng, thì khi vào WTO rồi và khi đã chấp nhận những văn bản về Kinh tế Tự do và Thị trường, CSVN không thể dùng khủng bố, đàn áp để áp dụng những nguyên tắc Quốc tế theo kiểu côn đồ như họ làm ở Việt Nam được. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường, với cái nhìn nhiều hơn của Quốc tế, buộc CSVN phải tôn trọng một Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat).
Như gà mắc đẻ, CSVN đã đeo những nguyên tắc của nền Kinh tế Tự do và Thị trường vào cổ như cái tròng, thì Dân phải cầm vững lấy cái tròng này mà đấu tranh, với áp lực thực tiễn của Quốc tế, để bắt CSVN phải tôn trọng một thể chế Chính trị—Pháp lý cho phù hợp. Quốc tế buộc phải áp lực lên CSVN bởi vì chính CSVN đã cam kết với WTO khi chấp nhận vào Tổ chức này. Đây không phải là sự can thiệp của nước khác vào nội bộ Việt Nam như CSVN từng rao rêu bào chữa mà là cái quyền của Quốc tế đòi Việt Nam phải tôn trọng những cam kết khi vào WTO.
Đấu tranh cho những cái lợi Kinh tế, Thương mại
Về phương diện này, chúng tôi đã phân tích nhiều trong những đoạn trên và đặc biệt trong bài về Thị trường Nhân Lực Việt Nam. Hai phương diện, phải nỗ lực đấu tranh mới thu được những cái lợi cho Kinh tế Việt Nam:
=> Đẩy lui sự độc quyền Kinh tế của đảng, của hệ thống Mafia Gia đình và Mafia đảng.
=> Công nhân phải có Công đoàn Lao động Độc lập để đấu tranh chống lại sự cấu kết của độc tài với tài phiệt ngoại lai trong việc bóc lột lương của Công nhân.
Những Nghiệp Đoàn Độc Lập Việt có hoàn toàn lý do Kinh tế để đứng lên đại diện cho Nhân công đấu tranh chống lại việc bóc lột này vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ CSVN:
CƠ HỘI WTO: PHẢI BỎ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI ĐỂ TOÀN DÂN XÂY DỰNG THỂ CHẾ TỰ DO DÂN CHỦ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Đây là bài QUAN ĐIỂM thứ ba trong loạt bài mà chúng tôi gọi việc vào WTO là một CƠ HỘI để thay đổi thể chế Chính trị hầu tạo một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp (Environnement Politico—Juridique adéquat) cho phát triển Kinh tế đất nước. WTO có thể là một cơ hội tốt nếu chúng ta biết cùng nhau nỗ lực khai thác, nhưng WTO cũng có thể là một đấu trường để những quốc gia mạnh có cơ hội bắt Kinh tế của những nước yếu trở thành thuộc địa khai thác.
Với hai bài QUAN ĐIỂM thứ nhất và thứ hai trước bài thứ ba này, chúng tôi đã phân tích tỉ mỉ những CÁI NGUY HẠI PHẢI CHỐNG ĐỠ và NHỮNG CÁI LỢI PHẢI THU LẤY. Qua những phân tích hoàn toàn trong phạm vi Kinh tế, Thương mại của hai bài trước, chúng tôi muốn rút ra những KẾT LUẬN cho bài này về khía cạnh Chính trị làm môi trường cho việc CHỐNG ĐỠ NHỮNG CÁI NGUY HẠI hay làm điều kiện cho việc THU VÀO NHỮNG CÁI LỢI. Chúng tôi đề cập đến những điểm sau đây:
=> Tóm tắt những cái nguy hại đưa đến Thuộc địa Kinh tế
=> Vào WTO, phải có một thể chế Chính trị phù hợp
TÓM TẮT NHỮNG CÁI NGUY HẠI ĐƯA ĐẾN THUỘC ĐỊA KINH TẾ
Không phải chỉ riêng những phân tích của chúng tôi về những cái nguy hại trong hai bài QUAN ĐIỂM trước đây, mà chính những nhà Kinh tế quốc tế hoặc của chế độ CSVN đã xác nhận.
Những nguy hại từ hai bài phân tích của chúng tôi.
Đó là những nguy hại mà chúng tôi liệt kê tóm tắt như sau:
=> Hàng hóa nước ngoài, nhất là từ những nước chung quanh đã tiến trước, cạnh tranh và tiêu diệt, ở chính trên lãnh thổ mình, những hàng hóa thuộc công nghệ Việt Nam mới ở giai đoạn phát sinh (les Industries naissantes). Việt Nam dễ trở thành thuộc địa Kinh tế của Trung cộng về hàng công nghệ chẳng hạn.
=> Trong chế độ độc tài độc đảng hiện nay, tham nhũng cấu kết với tài phiệt ngoại lai để bóc lột lao động.
=> Thiệt hại nặng hơn cả là việc giết chế nông nghiệp và ngư nghiệp, nguồn phát triển sống còn của nước mình.
=> CSVN hồ hởi vào WTO nhằm mục đích chính yếu là cũng cố quyền lực Chính trị độc tài hơn là những đắn đo về Kinh tế.
Xác nhận những nguy hại từ những nhà Kinh tế
Những nhà Kinh tế quốc tế cũng như quốc nội (CSVN) đều nhìn thấy những nguy hại của việc vào WTO với tình trạng Kinh tế cũng như Chính trị hiện hành:
=> Tiến sĩ Carl THAYER, Giám đốc Diễn đàn Nghiên cứu Quốc phòng của Đại học New South Wales, đã nêu ra 6 cái nguy hại cho Việt Nam khi gia nhập WTO.
=> Ngày 7/11/06, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tổ chức một cuộc hội thảo với chủ đề "Xây dựng văn hoá doanh nghiệp, văn hoá doanh nhân trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế". Theo đó cho biết, 92% doanh nghiệp kinh doanh bình thường và kém. Chính CSVN xác nhận sự yếu kém của mình về cả sản xuất cụ thể lẫn kiến thức về doanh nghiệp. WTO không phải là nơi đại hội tưng bừng đến đó để chia phần bánh, mà là một đấu trường kẻ mạnh diệt kẻ yếu không thương tiếc. Đây là nơi đấu tranh về tiền bạc.
VÀO WTO, PHẢI CÓ MỘT THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ PHÙ HỢP
WTO là Tổ chức Thương mại Thị trường Tự do mà Tư hữu và Cá nhân là chủ động, không có sự can thiệp trắng trợn của quyền lực Chính trị. Vào Tổ chức, không thể quen thói gian lận, bịp bợm của một thể chế Chính trị độc tài độc đảng với hệ thống Công ty quốc doanh, hệ thống làm ăn Mafia gia đình, Mafia đảng.
Vào WTO, phải phế bỏ chế độ CSVN hiện hành
Đây không phải là sự đòi buộc mang tính cách đấu tranh Chính trị để chiếm quyền lực mà là sự đòi buộc cho tương lai phát triển Kinh tế Việt Nam. Cái chế độ này đã đưa Việt Nam đến tình trạng Kinh tế lúc này trước khi vào WTO với những nguy hại mà chúng tôi đã phân tích trên đây và được xác nhận bởi những nhà Kinh tế quốc tế và quốc nội. Nếu chúng ta vẫn duy trì chế độ độc tài độc đảng hiện hành, thì về mặt cụ thể, Việt Nam dễ trở thành một thuộc địa Kinh tế, và về mặt lý thuyết, không có sự phù hợp giữa Kinh tế / Thương mại Tự do Thị trường và thể chế độc tài độc đảng luôn áp chế Chính trị độc đoán vào sinh hoạt Kinh tế Tư nhân tự do.
Vào WTO, phải thiết lập thể chế Chính trị Dân chủ đa nguyên
Không thể dùng lời khuyên, khích lệ, cổ võ tinh thần mà diệt được Tham nhũng, kẻ thù của phát triển Kinh tế Tự do Thị trường. Đối lập quyền lực và Chính trị là biện pháp chính để ngăn chặn Tham nhũng. Những quy luật của Tổ chức Mậu dịch Quốc tế được thiết lập trên căn bản của nền Kinh tế Tự do Thị trường của những sinh hoạt Kinh tế tư nhân. Cần diệt Tham nhũng và cần theo quy luật WTO, thì phải thiết lập một thể chế Chính trị Dân chủ đa nguyên.
Trước những nguy hiểm của viễn tượng trở thành thuộc địa Kinh tế, Việt Nam cần phải phế bỏ chế độ độc tài độc đảng để thiết lập chế độ Dân chủ Pháp trị và đa nguyên mới mong huy động được những lực lượng Kinh tế ngăn cản những nguy hiểm và lấy đà cho phát triển Kinh tế tương lai của Đất nước. Một thể chế Dân chủ đa nguyên và Pháp trị mới tạo được sự đoàn kết Dân tộc thực sự để làm Kháng chiến Kinh tế, mới tạo được niềm tin Kinh tế thiết cần cho Quốc tế, mới không tréo cẳng ngỗng đối với những quy luật Thương mại WTO.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ CSVN:
CƠ HỘI WTO: ĐỘC TÀI CSVN TỰ SÁT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Khi viết về việc Việt Nam vào WTO, chúng tôi không đưa ý kiến về quyết định vào hay không vào, mà chúng tôi chỉ nêu ra NHỮNG CÁI NGUY HẠI PHẢI TÌM CÁCH CHỐNG ĐỠ và NHỮNG CÁI LỢI THÌ PHẢI THU LẤY. Những cái nguy hại là nguy hại cho Dân và những cái lợi là những cái lợi cho Dân. CSVN thì tính toán việc vào WTO là cho lợi riêng của đảng, nên họ vô cùng hồ hởi đến nỗi quên hẳn những cái nguy hại đang chực sẵn khi vào WTO.
Trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 277/09.11.2006 tuần trước nữa, khi viết về những cái lợi, chúng tôi đã đặt câu hỏi: lợi cái gì và lợi cho ai ? Khi phân tích, chúng tôi thấy rằng CSVN coi WTO như phương tiện CỦNG CỐ quyền lực Chính trị của thể chế độc tài độc đảng của mình, nhưng chúng tôi lại thấy rằng Dân cũng có thể coi WTO như phương tiện ĐẬP TAN quyền lực Chính trị của thể chế độc tài độc đảng của CSVN.
Về phương diện Kinh tế/ Thương mại, những cái hại phải chống đỡ hay những cái lợi mong thu được luôn luôn phải ở dưới điều kiện là Dân phải nắm quyền chủ động về Kinh tế/Thương mại, nghĩa là phải có sự tôn trọng Tự do Dân chủ cho cá nhân kinh doanh, cũng có nghĩa là việc cai trị độc tài độc đảng phải biến đi.
Về phương diện Chính trị, chúng tôi nhìn thấy rằng CSVN đã mất sự tin tưởng của Dân, nên vong ngoại, tìm thế lực ngoại lại để củng cố cho quyền lực đàn áp trị Dân của mình. Đúng hệt là một loại Chiêu Thống đi cầu thế lực ngoại lai giúp đỡ để trị Dân. CSVN bấu víu vào Mỹ (PNTR), bám lấy WTO để lòe Dân, bịp Dân và trị Dân. Chúng tôi cũng nhìn thấy trong ý đồ chính yếu này của CSVN như một việc sa lưới của đảng CSVN vào tử huyệt. Vào WTO, Cộng sản Việt Nam đi vào TỰ SÁT.
Khi tôi đọc bài CUỘC ĐẤU QUYẾT ĐỊNH, WTO: MỒ CHÔN ĐẢNG CS của Bác sĩ NGUYỄN ĐAN QUẾ, tôi vô cùng mừng rỡ và nhận ra ngay quan điểm của Bác sĩ về việc vào WTO và cái nhìn tương lai của cảnh gậy ông đập lưng ông của CSVN. Chính WTO là mồ chôn của CSVN.
Cái nhìn của tôi về WTO và ý đồ của CSVN trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 277/09.11.06 về mặt Chính trị rất gần với quan điểm của Bác sĩ NGUYỄN ĐAN QUẾ. Chúng tôi rất vui mừng khi đọc bài của Bác sĩ và coi đây là cái sườn trong cuộc đấu tranh sắp tới khi Việt Nam vào WTO.
Thực vậy, sau Thế Chiến thứ II, trước sự bành trướng của Cộng sản Staline, một trong mục đích của Chương trình Marshall 173 tỉ Mỹ kim là nhằm phát triển Kinh tế Aâu châu để các nước bị tàn phá bởi Thế Chiến khỏi rơi vào tay Cộng sản, thì Staline đã cấm các nước Đông Aâu không được nhận viện trợ tái thiết của Chương trình Marshall vì thấy đây là phương tiện chống lại bành trướng của Cộng sản quốc tế.
Khi Việt Nam còn nhận được viện trợ của Liên Xô, thì CSVN rào chặt bức Màn Tre. Nhưng khi Đế quốc Cộng sản sụp đổ, không còn viện trợ nữa, thì CSVN buộc phải mở cửa cho Thế giới Tư bản Tự do, mặc dầu biết đây là hiểm hoạ cho chế độ độc tài. Kết quả là Dân chúng Việt Nam thấy rõ hơn nữa mặt thật của chế độ và Thế giới Tự do quan sát và can thiệp khi có những khủng bố, đàn áp Dân. Kết quả cụ thể hơn hết là Dân đã đứng dậy đi đường của mình, ĐƯỜNG DÂN, DÂN CỨ ĐI, hết sợ hãi Cộng sản và được hỗ trợ bởi những con mắt nước ngoài nhìn vào. Việt Nam ngày nay vào WTO, tức là mở toang cánh cửa ra đả mọi nước nhìn vào và buộc lòng phải theo Luật pháp của Thế giới Tự do. Đây là việc độc tài độc đảng tự nhận điều kiện tự sát vậy.
Chúng tôi xin trích đăng Bài QUAN ĐIỂM của Viet TUDAN số 277/09.11.06 và Bài của Bác sĩ NGUYỄN ĐAN QUẾ về cái nhìn tương lai cho CSVN khi gia nhập WTO.
TRÍCH ĐĂNG BÀI QUAN ĐIỂM VietTUDAN số 277/09.11.06 Giáo sư NGUYỄN PHÚC LIÊN
Đảng CSVN nhằm những cái lợi cho riêng mình
Qua những phân tích ở bài QUAN ĐIỂM thứ nhất về những cái hại, nhất là về việc bóc lột Lao động để tăng cạnh tranh và việc giết chết nông nghiệp và ngư nghiệp, chúng ta thấy rằng CSVN tìm hết cách bưng bít những điểm này, mà chỉ nóng lòng chấp nhận bất cứ điều kiện Quốc tế trên giấy tờ để mong vào được WTO như gà mắc đẻ. Tôi nói CSVN chấp nhận những điều kiện TRÊN GIẤY TỜ, nhưng trên thực tế, những điều kiện đòi hỏi của Quốc tế lại không được thực hiện đúng đắn. Chúng ta là người Việt Nam, chúng ta hiểu tình trạng thực của Việt Nam và chúng ta đã bao chục năm trường phải chịu đựng cảnh nói gian dối, nuốt lời của Cộng sản. Đảng CSVN mong vào WTO như gà mắc đẻ vì nhằm những cái lợi cho riêng đảng như sau đây.
Duy trì chế độ độc tài độc đảng
Đây là cái lợi ích Chính trị của đảng. Việc cai trị độc tài và tham nhũng đã tạo sự đứng dậy đấu tranh của Dân chúng Quốc nội. Trước việc đấu tranh của Dân, đảng CSVN lung lay. Đảng muốn lấy thế lực Quốc tế để củng cố quyền lực Chính trị của mình. Đảng gắng công tổ chức Hội nghị APEC cũng như nhận các điều kiện để vào WTO là nhằm mục đích lấy ngoại bang củng cố cho quyền lực trị Dân của mình, trong khi đó dùng khủng bố của Công an để khủng bố Dân chứ không lo thay đổi chế độ cho hợp lòng Dân Quốc nội. Đây chính là việc dùng quyền lực ngoại bang để củng cố quyền lực Chính trị của mình mà đàn áp Dân.
Nguồn làm giầu riêng cho đảng và con cháu đảng
Độc tài Chính trị để nắm quyền lực. Có quyền lực độc tài Chính trị, thì mới có quyền lực độc tài về Kinh tế, Thương mại. Khía cạnh Kinh tế, Thương mại này mới là điểm mà đảng không muốn nhả ra. Đảng đã nắm trọn đời sống Kinh tế cả nước và kết quả là Dân chúng nghèo đói. Đảng buộc lòng phải nhả ra một phần điều hành Kinh tế cho tư doanh. Ngày nay việc tham nhũng, kiếm chác bẩn thỉu đối với Quốc nội gặp những phản ứng. Dân không còn sợ hãi nữa và khi đảng đụng đến nồi cơm của Dân, thì Dân bắt đầu phản ứng, bảo vệ cho quyền sống dạ dầy của mình.
Chính vì vậy mà việc vào WTO là nguồn lợi tham nhũng rất ngon lành và to lớn cho đảng và con cháu đảng. Đối với những tham nhũng quốc tế này, đảng mong có thể bịt mắt Dân chúng. Đảng vẫn giữ cả một hệ thống độc quyền về Kinh tế, Thương mại.
Những Công ty quốc doanh là hệ thống nắm độc quyền Kinh tế, Thương mại của đảng, tối thiểu về những mặt hàng xuất nhập cảng chính yếu. Còn những hoạt động Kinh tế, Thương mại nào buộc lòng phải để cho tư doanh, thì quyền lực độc tài của những người cầm đầu đảng lại dành cho con cháu của họ nắm giữ dưới danh hiệu tư doanh. Đây là hệ thống Kinh tế, Thương mại Mafia Gia đình. Đại Hội đảng kỳ vừa rồi cho phép đảng viên (những kẻ có quyền độc tài độc đảng) làm Kinh tế, Thương mại, nghĩa là hệ thống Kinh tế, Thương mại Mafia Gia đình nới rộng ra hệ thống Kinh tế Mafia Đảng. Nếu có tư doanh thực thụ nào muốn làm Kinh tế, Thương mại nhân cơ hội nhập WTO, thì cũng phải tốn tiền bạc cho hệ thống Mafia Gia đình và Mafia Đảng. Đây là hai hệ thống ngồi mát ăn bát vàng trên đầu giới tư doanh thực thụ.
Tóm lại, hai cái lợi trên đây, Chính trị và tham nhũng Kinh tế, Thương mại Quốc tế khiến đảng chấp nhận trên giấy tờ (giả mạo) để vào cho bằng được WTO như gà mắc đẻ. Đây là sự mong đợi của đảng, nhưng đảng có thể yên lành đạt những mục đích ấy hay không ?
Những cái lợi về mặt Chính trị cho Dân
Như trong phần trên đã phân tích, CSVN mong vào WTO như gà mắc đẻ vì họ mong củng cố quyền lực Chính trị độc tài của mình. Nhưng khi vào WTO họ phải chấp nhận những điều kiện trên văn bản của Thế Giới Tự do. WTO là sản phẩm của cơ chế chủ trương nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Nếu tại Việt Nam, Cộng sản có thể dùng khủng bố, đàn áp để che đậy một mặt là viết trên văn bản có Kinh tế Tự do và Thị trường, một mặt lại áp dụng Kinh tế Chỉ huy của đảng, thì khi vào WTO rồi và khi đã chấp nhận những văn bản về Kinh tế Tự do và Thị trường, CSVN không thể dùng khủng bố, đàn áp để áp dụng những nguyên tắc Quốc tế theo kiểu côn đồ như họ làm ở Việt Nam được. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường, với cái nhìn nhiều hơn của Quốc tế, buộc CSVN phải tôn trọng một Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat).
Như gà mắc đẻ, CSVN đã đeo những nguyên tắc của nền Kinh tế Tự do và Thị trường vào cổ như cái tròng, thì Dân phải cầm vững lấy cái tròng này mà đấu tranh, với áp lực thực tiễn của Quốc tế, để bắt CSVN phải tôn trọng một thể chế Chính trị—Pháp lý cho phù hợp. Quốc tế buộc phải áp lực lên CSVN bởi vì chính CSVN đã cam kết với WTO khi chấp nhận vào Tổ chức này. Đây không phải là sự can thiệp của nước khác vào nội bộ Việt Nam như CSVN từng rao rêu bào chữa mà là cái quyền của Quốc tế đòi Việt Nam phải tôn trọng những cam kết khi vào WTO. Giáo sư NGUYỄN PHÚC LIÊN
CUỘC ĐẤU QUYẾT ĐỊNH WTO: MỒ CHÔN ĐẢNG CSVN BS. Nguyễn Đan Quế
Chủ thuyết Cộng Sản ngoại lai lỗi thời đã pha ' nát xã hội miền Bắc từ 1945 và trên cả nước sau 1975.
Trước tình trạng bế tắc sau khi cai trị cả nước trong mười năm, Cộng Sản VN đã chạy theo Liên Xô, đành chấp nhận đổi mới năm 1986. Sau khi Liên Xô sụp đổ, lại chạy theo Trung Cô.ng. Suốt 20 năm qua, Bộ Chính Trị luôn chạy theo đuôi đổi thay kinh tế - xã hội, không có đường lối, hoàn toàn bị động và vì vậy chỉ có những biện pháp vá víụ Do vốn nước ngoài vào đầu tư, đặc biệt mậu dịch với Hoa kỳ sau hiệp ước song phương Mỹ - Việt (2001), hạ tầng xã hội Việt Nam đã thay đổi nhiềụ Muốn phát triển lâu dài, bền vững thì bắt buộc phải đầu tư vào con người; nghĩ a là phải tôn trọng nhân quyền và thể chế phải là dân chủ pháp trị: Thay đổi chính trị ở Việt Nam là bắt buộc, không thể tránh khỏị
Bây giờ gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO), nhu cầu thay đổi chính trị này lại càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, vì luật chơi của tổ chức này: Việt Nam phải đối xử công bằng với các công ty nước ngoài đến Việt Nam làm ăn (kể cả xuất-nhập khẩu) giống như các công ty bản địạ Ngược lại, Việt Nam cũng có quyền như vậy ở bất cứ nước hội viên nào trong WTỌ Hàng rào quan thuế giữa các nước sẽ bỏ dần. Tự do cạnh tranh với qui luật kinh tế thị trường sẽ quyết đi.nh. Dù muốn hay không, Việt Nam phải dứt khóat từ bỏ kinh tế chỉ huy và chuyển sang kinh tế thị trường. Đây là chuyện rất kho ' khăn cho nhà cầm quyền Hà Nội và cho đảng Cộng Sản Việt Nam, nhưng lại là cơ hội ngàn năm một thủa cho toàn dân Việt Nam và cho tổ quốc Việt Nam: Bằng vào Sức Mạnh Quần Chúng đánh đòn chí tử vào đúng thời điểm này, chúng ta sẽ mang lại dân chủ cho dân tộc tạ Để có dân chủ ở Việt Nam chúng ta cần đánh thẳng vào khả năng tham mưu của Bộ Chính Trị đảng CSVN trên ba mặt trận: Mặt trận kinh tế:
- Dẹp bỏ quốc doanh làm ăn thua lỗ. - Phát triển kinh tế tư nhân. - Xuất - nhập k hẩu tự do, phá vỡ thế nhà nước độc quyền.
1/ Với cung cách làm ăn hiện nay như được ưu đãi đat đai, thuế ít, ngân hàng hỗ trợ, man khai sổ sách ... các công ty quốc doanh là ổ tham nhũng ngốn tiền của dân, đa số vẫn thua lỗ, không địch nổi tư nhân trong nước. Bây giờ cạnh tranh với tư bản ngoại quốc thì làm sao tồn tại được.
Chúng ta chủ trương tư nhân trong - ngoài hợp tác với nhau, làm phá sản quốc doanh và kiến tạo khu vực tư nhân mạnh dẫn đầu cho nền kinh tế quốc dân (theo kinh tế thị trường đúng nghĩa).
2/ Chính khu vực tư nhân phát triển sẽ tạo nhiều công ăn việc làm, thu dụng số công nhân do đóng cửa quốc doanh . Tư nhân có sáng kiến, nhanh nhậy với kỹ thuật cao và nhất là ngân hàng ngoại quốc vào đầu tư sẽ cho vay những ai biết làm ăn có lờị
3/ Khi tư bản ngoại quốc vào, công nhân vì quyền lợi của bản thân và tương lai con cái mình, tất phải thành lập công đoàn tự do độc lập, để hưởng lương bổng và lao động theo tiêu chuẩn của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế. Công nhân VN từ đầu 2006 đã tự động đình công đòi hỏi theo hướng đó. Với các đại công ty, cơ xưởng có hàng chục ngàn thợ thuyền, phong trào công nhân sẽ lớn mạnh và công đoàn nhà nước dù muốn khống chế công nhân, cũng không làm được. Hơn nữa trong môi trường cạnh tranh toàn cầu, chính giới tư bản cũng muốn lực lượng sản xuất khoẻ mạnh và thoải mái không có cảm giác kềm kẹp bất an khi làm việc để có năng xuất cao và sản phẩm tốt, mang lại lợi nhuận nhiềụ
4/ Trong chiến tranh, nông dân bị bóc lột xương máu nhiều nhất. Trong hoà bình họ bị bỏ quên. Phơi lưng dưới nắng làm ra hạt gạo, lại bị thu mua mang đi xuất khẩụ Không được lợi lộc bao nhiêu từ khi đổi mớị Ký kết thúc thương thuyết song phương với Mỹ để vào WTO năm nay, Hà nội đã phải nhượng bộ khá nhiều về hàng nông sản. Đây chính là cốt lõi đấu tranh của nông dân trong những ngày tháng tới: . Đòi phải có quyền sở hữu đat đaị . Đòi có quyền tự do canh tác. . Đòi có quyền mang mảnh đất và sức lao động của mình trực tiếp hợp tác với tư nhân, kể cả ngoại quốc (có vốn, có máy cày, có thị trường tiêu thu....). . Sau khi làm đúng nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước, nông dân có toàn quyền muốn bán gạo cho ai thì bán, kể cả xuất cảng lấy đô lạ Rồi đây, công ty nước ngoài có quyền mở xuất - nhập cảng ở bên trong VN, nhà nước CS không thể dùng độc quyền thu mua lúa gạo, ép giá nông dân dễ dàng nữạ
Trở thành là một bộ phận cấu thành của nông nghiệp toàn cầu, đây chính là cơ hội nông dân thoát khỏi chế độ CS bóc lột, trực tiếp giao thiệp với nông dân trên thế giớị Tất nhiên nông dân VN sẽ đòi hỏi triệt để với chính quyền CS để lấy lại những thiệt thòi trong qúa khứ. Mặt trận văn hoá
1/ Quan trọng nhất là vấn đề thông tin. Mâu thuẫn trầm trọng đang nẩy nở mạnh giữa giới thông tin, làm báo, đài, xuất bản với giới kiểm soát văn hóạ
Mặt trận đòi tự do thông tin, tự do báo chí sẽ lớn ma.nh. Chính quyền xiết sẽ bung, bị xé ràọ Truyền thông quốc tế ủng hộ mạnh mẽ đệ tứ quyền nàỵ
Dân sẽ ủng hộ những báo tường thuật, điều tra thất thoát. Bộ Chính Trị run vì sợ bị khuị Đây chính là cứ điểm cuối cùng nhà cầm quyền cộng Sản sẽ liều chết cố thủ bảo vệ, không chấp nhận tự do báo chí, nhưng họ sẽ thấ t bại vì:
. Quần chúng cần thông tin đa chiều, không muốn nghe tuyên truyền một chiều phỉnh phờ nữạ Chính nông dân và công nhân đang đòi quyền được thông tin đầy đủ và sớm nhất. Hiện nay, giới trẻ dùng Internet thoát vòng bưng bít thông tin của CS, nhưng chưa nhiều và còn bị giới hạn chặt chẽ. . Vào WTO, các dịch vụ từ bưu chính viễn thông, điện thoại di động đến internet...phải mở cửạ Thế độc quyền thông tin khó giữ vững. Hà nội không thể không tôn trọng thoả thuận TRIPS (những khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ), vì liên quan đến nhiều vấn đề khác như phát triển phần mềm máy tính hay nhượng quyền sản xuất thuốc tây giá rẻ cho bệnh hiv-aids chẳng hạn. . Cộng đồng nguời Mỹ gốc Việt đang làm áp lực và đòi hỏi phải có thông tin hai chiều, có nghĩa là nhà cầm quyền Cộng Sản hiện nay có thể đưa sách báo, phim ảnh, video, băng nhạc sang Mỹ thì họ cũng phải chấp nhận cho người Mỹ gốc Việt gửi về trong nước những văn hóa phẩm tương tư..
2/ Vấn đề giáo dục: . Trong khi sức sống xã hội nhộn nhịp với hiện diện của nhiều đại gia, và mũ chụp bưng bít thông tin vỡ ra từng mảng, liệu tiểu học, trung ho .c, đại học có thể tiếp tục dậy chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh được không? Chắc chắn giới trẻ không chịụ Phụ huynh càng không chịu, chắt bóp từng đồng cho con ăn học để thất nghiệp và lạc lõng. Hiện tượng bỏ học, bỏ thi cao chưa từng thấỵ . Đầu tháng 7-2006 tân bộ trưởng Giáo Dục lại nói đến cải cách giáo dục. Không biết lần này là lần thứ mấỵ Lại rượu cũ bình mớị Không ai nghe nữạ Vấn đề là không có triết lý giáo dục. Càng thay đổi càng lung tung, càng nát bét. . Để hoà nhập với thế giới, dân tộc ta đòi phải có ngay: - Một nền giáo dục tiến bộ mang tính: Nhân bả n, khoa học, đại chúng, khai phóng và sáng tạo, nhằm đào tạo con người chứ không phải đào tạo công cu.. - Một nền văn hoá đa nguyên nhằm phát triển con người chứ không phải điều kiện hoá con ngườị
Mặt trận chính trị 1/ Quần chúng VN quá chán ghét độc tài Cộng Sản ngự trị quá lâu trên đất nước này, gây ra không biết bao nhiêu tội ác, khổ đau, tang tóc cho khắp hang cùng ngõ hẻm.
Người dân không ai bảo ai, tự chọn thái độ không hợp tác với chính quyền, luồn lách để sống. Người dân xa lánh lãnh đạọ Bo ^. Chính Trị cũng phải than: nào là quần chúng đang mất hết niềm tin nơi đảng cầm quyền, nào là đường lối không đi vào cuộc sống ... Đơn giản là vì quần chúng sợ thòng lọng thắt cổ ho.. Bộ máy cầm quyền cồng kềnh, quan liêu, tham nhũng, vô hiệu năng, bị một nhúm người trong Bộ Chính Trị chi phối từ trên xuống và theo hàng ngang tại tất cả các cấp chính quyền. Sở dĩ còn tồn tại là nhờ bạo lực: công an và quân độị Vấn đề là phải tách đảng độc tài ăn bám khỏi chính quyền, công an, quân đội do thuế của dân trả lương. 2/ Khi thi hành những điều khoản trong thương ước Mỹ-Việt có hiệu lực từ 2001, và sắp tới đây phải nghiêm chỉnh tuân thủ luật chơi của WTO, mâu thuẫn cơ bản sẽ lộ rõ công khai giữa một bên bộ máy chính quyền (bị ràng buộc bởi các điều khoản đã ký với quốc tế) và bên kia bộ máy đảng do Bộ Chính Trị cầm đầụ Đây là trực dịên đối kháng giữa kinh tế thị trường với nguyên tắc xã hội chủ nghĩạ Trong thương trường, tin tức và biện pháp thay đổi từng giờ từng phút. Liệu Bộ Chính Trị với lãnh đạo tập thể không ai chịu trách nhiệm và chủ nghĩa Cộng Sản lỗi thời có đáp ứng được và lợi dụng được WTO để củng cố độc tàỉ Ai thua ai thắng đã quá rõ ràng. Luận điệu "cùng thắng" là cách nói của nước giầu giữ mặt cho nước nghèo (mà đây là nói những nước đã có kinh tế thị trường). Cộng Sản Việt Nam vồ lấy để dối dân, lừa đảng viên, tự lừa dối mình. 3/ Quốc tế và quần chúng Việt Nam mạnh mẽ đòi hỏi nhà cầm quyền phải minh bạch về thuế khóa và ngân sách; đòi thực thi nghiêm chỉnh những hiệp định song phương và quốc tế, đòi tôn trọng luật chơi của WTO; đòi quyền tư hữu, quyền sở hữu đất đai...và nhất là bác bỏ mọi đổ lỗi cho doanh nghiệp. Chính giới lãnh đạo yếu kém, dấu thông tin, không có quyết định k ịp thời, ăn trên đầu doanh nhân có khả năng, bè phái trong các bộ nghành, tham nhũng tràn lan từ cấp cao nhất là Bộ Chính Trị ...phải chịu trách nhiệm làm cho doanh nghiệp Vir65t Nam không có sức cạnh tranh, cũng như không lợi dụng được những cơ hội khi gia nhập WTỌ 4/ Ai cũng biết chống tham nhũng kiểu một mình một chợ của Cộng Sản Hà nội sẽ không đi đến đâu và chỉ là trò hề. Muốn chống tham nhũng hữu hiệu bắt buộc phải có những công cụ (hữu hiệu tùy công cụ tốt xấu): - tự do báo chí - tam quyền phân lập (hành pháp, lập pháp và tư pháp) - thay đổi định kỳ chính phủ qua bầu cử tự dọ Hiện phong trào quần chúng chống tham nhũng, chống lấy đất, lấy nhà, đòi tự do tôn giáo, chống đàn áp, nhất là đàn áp đồng bào Thượng ở Tây nguyên, đòi dân chủ hoá đảng, đòi quốc hội xứng đáng hơn...nghĩa là đòi Nhân Quyền và Dân Chủ đang dâng cao với ngày càng đông thế hệ trẻ tham gia, dưới nhiều hình thức và mức độ phong phú khác nhaụ
5/ Người Việt hải ngoại giúp sức cổ vũ và làm áp lực rất nhiềụ Quốc tế ủng hộ khá ma.nh. Nhưng Sức Mạnh Quần Chúng phải lên cao nữa, cô lập Bộ Chính Trị thêm nữạ
Khi Sức Mạnh Quần Chúng bắ t đầu thắng thế là lúc quyết định: chấm dứt độc tài Cộng Sản và dân chủ ra đờị Sau khi gia nhập WTO, những gì sẽ xẩy ra? Chế độ Cộng Sản biến chất sẽ tha hoá dữ dội dù muốn hay không. Đây chính là lúc nhân dân ta đẩy mạnh phong trào đấu tranh cho Nhân Quyền, Dân Chủ và Lao Động đến thắng lợị Muốn thế Việt Nam cần:
1- Gia tăng đầu tư, buôn bán với nước ngoài và trao đổi hai chiều thông tin - giáo dục - văn hoá, văn hoá phẩm... Độc tài Cộng Sản chết trong trận địa kinh tế thị trường phát triển, vì chiêu thức Dân Chủ của Sức Mạnh Quần Chúng quật ngã. Cũng trên nền kinh tế thị trường phát triển này mà mầm Dân Chủ mọc lên, lực lượng gieo trồng không ai khác là dân tộc tạ
2- Đẩy mạnh cải cách luật pháp, hành chánh (hiện Liên Hiệp Quốc và nhiều nước dân chủ đang giúp) cho phù hợp với luật lệ quốc tế sẽ giúp tách đảng ra khỏi chính quyền khi mâu thuẫn giữa đảng và chính quyền căng thẳng vì phải thi hành các hiệp định song phương và đa phương.
3- Nạn nhân bị cướp đất, cướp nhà, bị đàn áp...làm áp lực lên những đại biểu quốc hội (dù họ là đảng viên) để biến quốc hội thành diễn đàn khiếu nại của người dân thấp cổ bé miê.ng. Đồng thời xử dụng các đài ngoại quốc như đài phát thanh Tự Do Á Châu (RFA), đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA), đài BBC Luân Đôn, đài RFI... hỗ trợ để phơi bầy mọi vi phạm quyền sống căn bản của nhân dân Việt Nam.
4- Công nhâ n thành lập công đoàn tự do độc lập. Chắc chắn quốc tế ủng hô.. Các công ty đa quốc gia, các nhà đầu tư lớn, các tổ hợp thương mại lớn ... cũng muốn giao thiệp thẳng với đại diện công nhân. Thương nhân có lợi và đạt hiệu quả hơn là qua trung gian công đoàn nhà nước.
5- Năm 2007 Hà nội tổ chức bầu quốc hội kiểu "đảng cử dân bầu". Nhân dân ta cần tố cáo, lên án trò lừa bịp dân chủ nàỵ Đòi phải để ứng viên độc lập ra tranh cử. Đã có nhiều tiếng nói kêu gọi "phản ứng quần chúng" tẩy chay bầu cử dân chủ giả hiệụ Tóm lại Quy luật kinh tế thị trường của WTO ngày càng trực tiếp chi phối đời sống hàng ngày của người dân. Lãnh vực tư sẽ phát triển ma.nh. Dân chúng dần dà nắm thêm thẩm quyền kinh tế trong taỵ Cả thẩm quyền văn hoá nữa, dù chậm, do mở cửa bưu chính - viễn thông - điện thoại di động, internet... và nhiều khía cạnh văn hoá đa dạng khác ẩn mình trong tự thân mỗi sản phẩm. Cùng với kinh tế và văn hoá, tư tưởng nhân quyền, dân chủ lan nhanh, kiểm soát không dễ. Đấy là chưa nói những tác nhân sống động như du lịch, về thăm gia đình, đi du học, trao đổi giáo dục - văn hoá, hội nghị, hội chơ.... Dân ta đang có lợi thế: - sân đấu ngoài trời, giữa lòng kinh tế toàn cầụ Có nhiều ủng hộ viên dân chủ. - đội ngũ quần chúng đông, chính nghĩa cao so với thiểu số độc tài phản đô.ng. - ba môn đấu là: a. Kinh tế thị trường: vốn là sở trường của tư nhân, và là sở đoản của Cộng Sản b. Văn hoá đa nguyên hấp dẫn hơn hẳn chủ nghĩa Mác-Lê-tư tưởng Ho ^` Chí Minh.. c. Chủ trương tam quyền phân lập đang được ủng hộ mạnh hơn bao giờ hết để thế độc tàị Nhân dân Việt Nam có quyền tin tưởng lẽ tất thắng trong trận quyết đấu cuối cùng này, và khi chế độ Cộng Sản vĩnh viễn ra đi, sẽ chấm dứt hẳn mâu thuẫn quốc _ cộng trong lòng dân tộc tạ Mâu thuẫn này đã chia rẽ dân tộc Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ vừa quạ Mọi nuối tiếc và trì hoãn theo những cái đã hết vai trò lịch sử chỉ là vô ích. Toàn dân ta sẽ đoàn kết một lòng từ Nam ra Bắc để cho ra đời một đường lối mới, một thể chế chính trị mới dựa trên các cuộc bầu cử tự do và công bằng, nhằm giải quyết nạn cha ^.m tiến, giúp Việt Nam phát triển mau chóng và đưa Việt Nam hội nhập, thích ứng trong khung cảnh thế giới mới ngày nay. BS. Nguyễn Đan Quế
Hiện nay, những nhà Dân chủ đang nỗ lực đấu tranh trong Mặt trận Chính trị cho Tự do Dân chủ. Các nhà Dân chủ lấy Hiến pháp ra để thi hành.
Nhưng khi vào WTO rồi, thì Mặt trận quan trọng là Mặt trận Kinh tế/ Thương mại. Chính toàn Dân, nhất là những nhà Tư doanh lấy những cam kết của CSVN đối với WTO, đối với Thế giới ra mà đấu tranh. Những doanh nhân quốc tế sẽ đứng về phía Dân chúng làm ăn và tư doanh Việt Nam để đòi buộc CSVN phải tôn trọng những cam kết.
Khi mà tư nhân có tư hữu, thì họ phải có quyền Tự do xử dụng tư hữu. Khi mà tư nhân có tư hữu, thì họ phải có quyền làm chủ tư hữu ấy. Đây là quyền Tự do cụ thể và quyền làm chủ căn bản. Dân chủ phải bắt nguồn từ Cá nhân Chủ những gì của mình.Nguyên tắc Dân chủ của Xã hội là nguyên tắc giải quyết những vị phạm vào Cá nhân chủ. Khi cá nhân chủ được tôn trọng, thì cá nhân không cần nguyên tắc Dân chu.û
Khi bảo vệ những quyền liên hệ đến Kinh tế/ Tài chánh/ Thương mại, nghĩa quyền Tiến bạc, thì cuộc đấu tranh không phải chỉ là giữ thái độ bất bạo động hòa bình trước một kẻ đến ăn cướp tư hữu, tước đoạt quyền sống thể xác của mình. Khi cá nhân làm lụng vật vả kiếm được nồi cơm nồi khoai, mà kẻ cướp đến ngồi chỗm chệ ăn hết của họ, thì họ không thể ngồi yên hòa bình van xin, mà cầm giao con chó để lụi kẻ ăn cướp bóc lột tàn nhẫn kia.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
================ Chu De HOANG SA-TRUONG SA =================== vtdTAP01/27.12.2006 ==============================================================
Lap truong dut khoat ve CSVN va Tau xam lang TU TINH THAN DIEN HONG RUT RA LAP TRUONG DUT KHOAT 02
Cong san ban nuoc va Tau xam lang HO CHI MINH & CSVN PHAN QUOC 08 TAU TU TUYEN BO VE HAI PHAN 09 CONG HAM DANG NUOC KY BOI PHAM VAN DONG 10 NHUNG KHANG DINH DANG NUOC 11 TAU TUYEN BO QUAN LY HOANG SA-TRUONG SA 12 BAC KINH BAC BO PHAN DOI CUA HA NOI 13 Nhung cuoc bieu tinh tai Quoc noi NGAY 09.12.2007: BIEU TINH CUA GIOI TRE TAI HA NOI VA SAI GON 14 BAO NOI LEN ROI 15 BAN TIN CUA CHUNG NHAN LICH SU 20 TIN AFP VA BINH LUAN VE BIEU TINH TAI HA NOI 21 LOI KE CUA MOT SINH VIEN TAI SAI GON 22 TRUNG CONG RA LENH CHO CSVN DEP BIEU TINH 25 NGAY 16.12.2007: BIEU TINH TAI HA NOI VA SAI GON 26 TRUNG CONG LUON THUC GIUC CSVN DEP BIEU TINH 27 THEO LENH CUA TAU, CSVN THUC SU NGAN CHAN BIEU TINH 28
Phan ung cua dan Viet noi ngoai SAI GON: MOT NGUOI BO UAT UC 33 TUYEN CAO CUA CONG DONG VN TAI UC CHAU 34 90 DOAN THE NGUOI VIET HAI NGOAI DONG KHANG DINH 36 Nhung bang chung Chu quyen tren Hoang Sa va Truong Sa NOI VOI GIOI TRE VE BIEN DONG 38 HOANG SA VA TRUONG SA CHUA BAO GIO LA LANH THO CUA TAU 51 HOANG SA VA TRUONG SA MAI MAI LA LANH THO CUA VIET NAM 56 Thai do dut khoat cua Dan Toc Viet Nam LAP TRUONG CUA NGUOI VIET TAI UC:CSVN PHAN BOI TO QUOC 58 4 TOI PHAN BOI TO QUOC CUA CSVN 59 TRUNG QUOC VA PHAN QUOC 67 PHAI DIET KE BAN NUOC TRUOC 72 Nhung bai Nhan dinh TAI SAO VIET NAM THICH HAY KHONG THICH TAU ? 74 VIET CONG HEN, TUOI TRE VIET NAM KHONG HEN 79 DAN CHU LA SUC MANH CHONG NGOAI XAM 81 TAM SA CHI DIEN NGHIA 85
Nhung Mat Tran cu the tan cong CSVN DANH CSVN O NHUNG DIEM KHONG THE CHOI CAI DUOC 89
TỪ TINH THẦN DIÊN HỒNG RÚT RA LẬP TRƯỜNG DỨT KHOÁT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài này viết lên Lập trường của chúng tôi VietTUDAN như thế nào trước những vấn đề đang được đặt ra như sau:
* Thái độ nào đối với việc Tầu xâm lăng Trường Sa và Hoàng Sa ? * Thái độ nào đối với Công Hàm ký bởi Phạm Văn Đồng ? * Uûng hộ những cuộc Biểu Tình của Sinh viên Học sinh Quốc nội như thế nào ? * Hành động cụ thể ra sao của người Việt tại Hải ngoại ?
Để trả lời cho những câu hỏi ấy, chúng tôi xin bàn những điểm sau đây:
=> Dịp Hợp nhất Tinh thần Dân tộc => Tinh thần Hội nghị Diên Hồng xưa và nay => Lấy Lập trường, Thái độ dứt khoát
Dịp Hợp nhất Tinh thần Dân tộc
Chúng tôi rất ít khi viết những bài kêu gọi sự Đoàn Kết và cũng ít khi than phiền về những chia rẽ vì chúng tôi xác tín rằng việc Đoàn Kết thực sự không đến từ những lời kêu gọi, nhất là những lời kêu gọi lại mang tính cách phô trương Luân lý, Dậy đời, nhất là còn được xử dụng như bình phong che đậy những mục đích riêng tư. Cũng vậy, mỗi cá nhân có toàn quyền sống cho mình, miễn là phải tôn trọng cá nhân khác cũng muốn sống trước hết cho cá nhân họ. Khi mỗi người sống cho cá nhân mình, điều đó chưa tất nhiên là chia rẽ. Việc muốn Đoàn Kết, Hợp lại, Tìm đến với nhau chính yếu là ở chỗ những cá nhân có MỤC ĐÍCH giống nhau hay không. Thực vậy, khi cùng có một ĐÍCH, thì lúc ấy tự nhiên tìm tới nhau, nương tựa nhau để cùng làm việc chung mong đạt MỤC ĐÍCH cho hữu hiệu hơn.
Trước cảnh Tầu xâm lăng Hòang Sa và Trường Sa, những người mang dòng máu Việt, cùng được thừa hưởng đất đai và biển cả do cùng một Tổ Tiên để lại, cùng mang truyền thống suy nghĩ và phản ứng thừa hưởng từ Oâng cha, bây giờ thấy mất mát, thì đây là dịp có thể đi đến một sự Hợp nhất, Đoàn kết Dân tộc. Hội nghị DIÊN HỒNG thời Vua TRẦN NHÂN TÔN đã thể hiện một sự Hợp nhất toàn vẹn. Trước cảnh Tầu xâm lăng hiện nay, Dân tộc Việt, nội cũng như ngoại, có cơ hội thể hiện một tinh thần DIÊN HỒNG thứ hai mà Tổ Tiên chúng ta đã nêu gương cách đây gần 800 năm.
Tinh thần Hội nghị Diên Hồng xưa và nay
Hội nghị DIÊN HỒNG xưa đã được thực hiện toàn vẹn. Chúng ta muốn có một tinh thần DIÊN HỒNG ấy, nhưng liệu ngày nay, Dân tộc có thể thực hiện được không ? và trong những điều kiện nào ?
Hội nghị DIÊN HỒNG xưa
Vua TRẦN NHÂN TÔN là một vị vua thông minh, đầy lòng thương Dân, được các tôi trung hết lòng kính phục và hợp tác. Vua hiểu rõ bụng dạ của quân Tầu đảo điên, đã không ưng thuận cho quân Tầu muốn mượn đường đi đánh Chiêm Thành để xâm chiếm nước ta. Kinh nghiệm để trối trăn:
Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn : “Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Tàu Hán. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta .Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:
"Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.“
(Trần Nhân Tôn)
Sứ của Tầu là Sài Thung sang nước ta hống hách, trịch thượng đối với Vua. Vua TRẦN NHÂN TÔNG vẫn nhũn nhặn xử sự vì biết quân binh của Tầu mạnh, nhưng vẫn giữ tiết thế của Vị Vua của một nước dù là nhỏ. Vua Tầu nằng nặc bắt Vua nước ta phải đích thân sang Trung quốc để chầu. Nhưng Vua TRẦN NHÂN TÔN tìm mọi cách từ chối không đi vì đó là sĩ diện của một Vị Vua và của một Nước phải chứng tỏ Độc lập. Ngài nói với Sài Thung: “Quả nhân xưa nay sinh trưởng ở trong cung không quen phong thổ, không thể nào đi được.“ Vua TRẦN NHÂN TÔN chỉ sai Chú của mình là Trần Di Aùi sang Tầu đi Sứ, thay cho mình.
Vua Tầu muốn mượn cớ này và mượn Trần Di Aùi để can thiệp vào việc phế bỏ nội bộ của Việt Nam. Từ đó, Vua Tầu sai đại binh sang với chủ đích thôn tính nước ta.
Vua TRẦN NHÂN TÔN phong cho TRẦN QUỐC TUẤN làm HƯNG ĐẠO Đại Vương lo chuyện chống đỡ. Thoát Hoan tiến quân xâm lăng nước ta. Trong tình thế như vậy, Vua TRẦN NHÂN TÔN đã triệu tập các bô lão dân gian, hội lại tại điện DIÊN HỒNG để hỏi ý Dân là nên chiến hay nên hòa. Các bô lão dân gian đều một lòng hô to: “QUYẾT ĐÁNH, QUYẾT ĐÁNH“.
Mặc dầu vậy, Vua vẫn lo lắng ngày đêm vì thương dân bị giết hại, nhất là khi thấy Hưng Đạo Vương bị lui về Vạn Kiếp trước sức tiến quân của Thoát Hoan lần thứ nhất. Lo lắng cho Dân, nên Vua đã đích thân đi chiếc thuyền nhỏ đến Hải Đông (Hải Dương) để hỏi Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN: “Thế giặc to như vậy, mà chống với nó thì dân sự tàn hại, hay là Trẫm chịu hàng đi để cứu muôn dân“. Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN hết lòng cương quyết trả lời: “Bệ hạ nói như vậy thì thật là lời nhân đức, nhưng mà Tôn Miếu, Xã Tắc thì sao ? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau sẽ hàng“.
Lòng vua thương Dân thực tình. Lòng quân sĩ hết mực trung thành gắn bó. Lòng Dân quyết chống ngoại xâm. MỤC ĐÍCH từ Dân đến Quân tướng và Vua là nhất thống, một mực chống xâm lăng. Đó là sự HÒA HỢP nhất thống, sự ĐOÀN KẾT một lòng. Cái sức mạnh thể chất là một phương diện khác. Trong một thân xác yếu đuối, có thể có một ý chí sắt đá, một tinh thần mạnh mẽ bền bỉ. Hội Nghị DIÊN HỒNG là một TINH THẦN, một Ý CHÍ nhất quyết đánh xâm lăng, ngay lúc này, hoặc trong 10 năm, 100 năm, 1000 năm sau.
Mặc dầu nước yếu, nhưng sự HÒA HỢP, sự ĐOÀN KẾT và lòng NHẤT QUYẾT đã đưa đến kết quả: Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để thoát thân về Tầu !
Một Hội nghị DIÊN HỒNG ngày nay
Trước việc xâm lăng Hoàng Sa và Trường Sa, tất cả người Việt trong cũng như ngoài nước muốn tiến đến với nhau để có một Hội Nghị DIÊN HỒNG như thời Tổ Tiên của chúng ta. Nhưng để có được một tinh thần Diên Hồng thời Vua TRẦN NHÂN TÔN, chúng ta phải xét những hoàn cảnh hiện nay xem có thể hội đủ những điều kiện như hồi ấy không. Nếu vẫn một ý chí quyết tiến đến sự Hòa Hợp, Đoàn Kết, thì chúng ta phải dứt khóat và cương quyết tạo những điều kiện để có thể tiến tới Hội Nghị DIÊN HỒNG . Hoàn cảnh hiện nay như sau:
=> Đối với Trung Cộng, CSVN, bọn nắm quyền hành độc đoán không mang trong lòng cái MỤC ĐÍCH duy nhất là chống xâm lăng, bảo vệ Tổ quốc như Vua Trần Nhân Tôn. Chúng tính toán Trung Cộng cho cái lợi riêng của băng đảng của chúng, chứ không phải vì quyền lợi tối thượng của Tổ quốc.
=> Không những không mang MỤC ĐÍCH chống xâm lăng, mà chúng, từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và bè lũ cầm quyền còn đi bán nhượng Đất và Biển để mua súng đạn về giết chính dân Việt mình, để cầu vinh cho băng đảng và cho cá nhân mỗi người. Không thể chối cãi được cái tội phản quốc từ Công Hàm do lệnh của Hồ Chính Minh và ký bởi Phạm Văn Đồng. Vua Trần Nhân Tôn cầm quyền cai trị, nhưng không làm như vậy
=> Không những ký Công Hàm phản quốc, mà cả đồng bọn cầm quyền độc tài, khi nghe lệnh Tầu Cộng phán ra, thì chúng sợ run lây bẩy, thưa dạ răm rắp. Hãy nhìn gương Vua Trần Nhân Tôn đối với vua Tầu, đối với Sứ thần Sài Thung của Tầu.
=> Từ những chục năm trường dưới quyền cai trị của băng đảng CSVN độc tài cho đến nay, tinh thần quật khởi của Dân chúng, nhất từ giới Trẻ là sức chính vươn lên của Dân tộc, bị băng đảng CSVN dùng đủ mọi hình thức khủng bố để tiêu diệt bởi vì chúng sợ rằng nếu để tinh thần quật khởi tồn tại trong dân chúng, thì quyền hành độc tài của chúng bị đe dọa.
=> Những cán bộ CSVN, từ các cấp mang nhiệm vụ điều hành công việc Quốc gia và trách nhiệm điều động tinh thần dân chúng, không nhất quyết cùng một Mục Đích chống xâm lăng, mà chúng chỉ nghĩ đến túi tiền riêng của chúng, tìm cách cho thoát tài sản ra nước ngoài. Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN , qua bài Hịch, đã bầy tỏ nỗi băn khoăn duy nhất là chống xâm lăng Tầu để cứu nước khỏi hoạn nạn.
=> Đối với Dân, thì CSVN không những không tôn trọng Dân để Dân thương, mà tìm hết cách để ăn cướp, bóc lột của cải của Dân. Dân có bị oan ức kêu than lên, thì chúng thẳng tay đàn áp. Làm thế nào Dân có thể ủng hộ chúng với những tiếng quyết liệt như Hội Nghị DIÊN HỒNG cách đây gần 800 năm.
=> Tuổi trẻ, Sinh viên Học sinh muốn nhen nhún lên để nói những tiếng của Hội Nghị DIÊN HỒNG thuở xưa, thì chúng ngăn cấm, bắt bớ theo lệnh của chủ Tầu Cộng. Thực vậy, Sinh viên Học sinh vừa đứng lên biểu tình, thì chúng đã cho lực lượng Công an diệt tinh thần vùng dậy này để chết trong trứng nước. Đây là một trọng tội đối với Tổ Tiên và Dân tộc, phạm chính đến Tinh thần DIÊN HỒNG.
Thêm vào đám cầm quyền độc tài (Vua) CSVN khắt máu này, còn có những kẻ nịnh thần vây quanh để mong theo đóm ăn tàn. Đám người theo đóm ăn tàn này gồm từ những Lãnh đạo Tôn giáo (đám ngợm giáo gian quốc doanh) hay những Trí thức Chính trị xôi thịt (đám hô hào Hòa Hợp Hòa Giải giả tạo), đứng chính trong hàng ngũ chúng ta, nhưng len lỏi chui rúc liếm trôn đám CSVN tội phạm bán nước. Đám liếm trôn này một đàng đứng trong hàng ngũ chúng ta để bàn rùn cái ý chí quyết tâm chống xâm lăng, một đàng đi tâng bốc, luồn trôn đám bán nước để đám này tiếp tục tội phản quốc.
Trong khung cảnh xã hội dân sự và tương giao quyền hành như vậy, thì không thể đạt tới Tinh thần DIÊN HỒNG xưa thiết cần cho công cuộc đuổi ngoại xâm bảo toàn lãnh thổ. Vì vậy để có thể đạt được Tinh thần DIÊN HỒNG theo gót Tổ Tiên, chúng ta trước hết phải tạo những điều kiện thực hiện được khung cảnh xã hội dân sự và tương giao quyền hành như thời Vua TRẦN NHÂN TÔN, nghĩa là người có quyền biết thương yêu Dân để Dân một lòng hợp tác với quyền hành, người hành xử việc công phải biết vì Dân, vì Đất Nước mà làm việc cho hữu hiệu ích Quốc, lợi Dân.
Lấy Lập trường, Thái độ dứt khoát
Lập trường của chúng tôi, Tuần báo Điện tử VietTUDAN và của chính cá nhân Nguyễn Phúc Liên, không phải là điều gì mới mẻ từ không trung rơi xuống, mà nó chỉ đơn giản là hệ luận từ những gì vừa mới phân tích trên đây, nghĩa là từ Tinh thần DIÊN HỒNG cách đây gần 800 năm. Những tiếng “Quyết Đánh ! Quyết Đánh!“ của các bô lão là sự bầy tỏ ra trong lúc hữu sự trước việc Thoát Hoan dàn binh xâm lăng. Nhưng những tiếng hô ấy đã sống tiềm tàng từ lâu đời trong Tinh thần người Việt. Chúng ta gọi đây là TINH THẦN QUẬT KHỞI ĐẤU TRANH ĐỂ SINH TỒN của nòi giống Việt. Không có tinh thần này triền miên, thì Việt Nam lúc này có lẽ chỉ là một Tỉnh như Quảng Đông, Quảng Tây... và người Việt chúng ta ăn nước tương chứ không ăn nước mắm, nói chuyện với nhau bằng tiếng Ngộ, Nị... chứ không bằng tiếng Anh, Tôi... Truyền thống Quật khởi Đấu Tranh để Sinh Tồn đã được un đúc nên từ ý chí của dòng giống Việt Anh dũng triền miên được lúc lúc nổi dậy khi cần như Hai Bà Trung, Bà Triệu, Ngô Quyền...và theo giòng Lịch sử, có thêm Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, rồi Lê Lợi, Quang Trung Nguyễn Huệ và ngay gần đây hơn có trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974.
Để có thể thực hiện một TINH THẦN DIÊN HỒNG như thời Vua TRẦN NHÂN TÔN, một sự HÒA HỢP Dân tộc đích thực, một sự ĐOÀN KẾT chân chính, Lập trường và Thái độ dứt koát của chúng tôi là:
1) Phải loại bỏ hẳn những kẻ đã bán Đất và Biển của Tổ quốc ra khỏi việc lãnh đạo công cuộc chống xâm lăng của Tầu nói riêng và ra khỏi việc lãnh đạo dân chúng nói chung. Những kẻ đã bán Đất và Biển ấy là đảng Cộng sản Việt nam. Việc bán Đất và Biển đã được quyết định bởi chính Hồ Chí Minh và Công Hàm phản quốc công khai được ký bởi Phạm Văn Đồng. Đảng CSVN, trong nhiều chục năm trường, vẫn tục việc phản bội Tổ quốc và bằng chứng cụ thể nhất là hiện nay đảng CSVN theo lệnh của Tầu để dẹp những cuộc biểu tình chống xâm lăng của Tầu. Do đó:
* Việc loại kẻ bán bán Đất và Biển ra khỏi việc lãnh đạo công cuộc chống xâm lăng là lẽ đương nhiên. Không thể giao cho kẻ cướp việc lãnh đạo chống cướp.
* Việc loại kẻ bán Đất và Biển ra khỏi việc lãnh đạo dân chúng cũng là điều hữu lý bởi lẽ công cuộc vận động quần chúng cho Tinh thần Đoàn Kết, Hòa Hợp DIÊN HÒNG cần những người mà dân tin tưởng vào lòng trung thực, biết kính trọng và yêu mến dân, trong khi ấy CSVN, một mặt đã là kẻ phản quốc, một mặt đã luôn luôn dùng sức mạnh khủng bố để đàn áp dân. Dân hết còn tin tưởng vào CSVN và vì vậy không thể để CSVN ở vị trí lãnh đạo quần chúng vậy.
2) Đối với những kẻ đã từng nịnh bợ hay làm tay sai cho CSVN như đám ngợm Giáo gian quốc doanh hoặc những Trí thức Chính trị theo đóm ăn tàn, chúng ta cũng phải loại ra khỏi hàng ngũ lãnh đạo công cuộc chống xâm lăng bởi vì chúng có thể trá hình đứng cùng chiến tuyến với chúng ta, nhưng chúng lại ngầm đi luồn trôn kẻ bán nước làm hại nỗ lực chống ngoại xâm của toàn dân.
Tuy nhiên đối với những lãnh vực chuyên môn như hành chánh, trật tự công cộng, kỹ thuật, cơ cấu tổ chức vẫn giữ vì như cầu hiện tại miễn là những lãnh vực ấy không bị Chính trị CSVN chỉ đạo.
3) Đặc biệt đối với Quân đội, chúng ta yêu cầu Quân đội làm đúng nhiệm vụ của mình, nghĩa là phi Chính trị, mà chỉ chú tâm lo công việc Quốc phòng. Việc chống xâm lăng hiện nay, theo tinh thần DIÊN HỒNG, đòi chính Quân đội, với sứ mệnh Quốc phòng, phải nhất thiết loại bỏ những kẻ bán nước, nghĩa là những kẻ đã dẩn lối cho ngoại xâm phạm vào việc Quốc phòng.
4) Trong ý chí phải tiến tới thực hiện Tinh thần DIÊN HÔNG của Tiền nhân để HÒA HỢP, ĐOÀN KẾT Dân tộc thực sự hầu đuổi quân Tầu xâm lăng ra khỏi bờ cõi, Toàn Dân mọi giới, không phân biệt Tôn Giáo, Chính trị hay Sắc Tộc, phải được Tự do triển nở Tinh thần DIÊN HỒNG trong chính con người của mình mà Truyền Thống Dân Tộc Quật khởi Đấu Tranh để Sinh Tồn vẫn triền miên sống trong mỗi người. Mọi người tương kính nhau, nâng đỡ nhau để triển nở Tinh thần DIÊN HỒNG làm sức mạnh đuổi quân xâm lăng như cha ông mình đã làm. Chúng ta phải hết lòng cổ võ mọi người Việt bầy tỏ lòng yêu Quê Hương, chống lại kẻ xâm lăng. Mọi hành động ngăn cản sự biểu lộ Tinh thần DIÊN HỒNG trong mục đích chống xâm lăng đều được coi là việc làm phản quốc.
5) Tiến đến thành lập một BAN CHỈ ĐẠO DÂN SỰ TỐI CAO gồm những người được Dân nể trọng, trong cũng như ngoài nước, nhưng không có những kẻ đã phạm tội bán nước trực tiếp hoặc những thành phần nịnh bợ, tiếp tay cho kẻ bán nước. Ban Chỉ Đạo Dân Sự Tối Cao này có nhiệm vụ lãnh đạo việc phát triển Tinh thần DIÊN HỒNG Hòa Hợp, Đoàn Kết Dân tộc thực sự thiết cần cho tổ chức thực hiện việc tôn trọng Nhân phẩm và bảo đảm Nhân quyền. Có như vậy Toàn dân mới đủ sức mạnh đuổi được xâm lăng, dù phải trường kỳ 10 năm, 100 năm hay 1000 năm .
Hội Nghi DIÊN HỒNG mang đến cho chúng ta một Tinh thần HÒA HỢP thực sự, một sự ĐOÀN KẾT chặt chẽ và một ÝCHÍ CHỐNG NGOẠI XÂM sắt đá, nhất là đối với Tầu.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
===============TỘI BÁN ĐẤT TỔ TIÊN ĐỂ CẦU VINH, ================== TRỜI KHÔNG THA, ĐẤT KHÔNG DUNG
Trong phần THỜI SỰ/THÔNG TIN này chúng tôi xếp những bài theo nội dung như sau:
• CSVN BÁN NƯỚC VÀ TẦU CÔNG KHAI CHIẾM HÒANG SA-TRƯỜNG SA • NHỮNG CUỘC BIỂU TÌNH TẠI QUỐC NỘI VÀ THÁI ĐỘ CỦA CSVN • PHẢN ỨNG TỔNG QUÁT CỦA KHỐI NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI • NHỮNG BẰNG CHỨNG CỦA CHỦ QUYỀN VIỆT NAM • LẬP TRƯỜNG DỨT KHOÁT: DIỆT KẺ BÁN NƯỚC, ĐUỔI QUÂN XÂM LĂNG • NHỮNG BÀI BÌNH LUẬN
===CSVN BÁN NƯỚC VÀ TẦU CÔNG KHAI CHIẾM HÒANG SA-TRƯỜNG SA===
CÔNG HÀM BÁN NƯỚC CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CSVN
!!! CS Việt Nam sau khi chiếm Miền Nam vào năm 1975 có trên 102 đảo nhỏ thuộc Trường Sa & Hoàng Sa của VNCH để lại .
!!! Năm 1988 bị Trung Quốc Chiếm hết còn lại 90 đảo
!!! Năm 2007 Việt Nam chỉ còn 21 đảo còn lại thuộc chủ quyền và có khuynh hướng bị Trung Quốc chiếm dần . Đảo Ba Đình vừa bị chiếm năm 2005 là một thí dụ .
Đây Là Công Hàm Bán Nước Của Việt Gian Cộng Sản!
Ngày 14 tháng 09 1958, thủ tướng Việt gian cộng sản Phạm Văn Đồng ký công hàm nhìn nhận chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng dựa theo bản tuyên bố ngày 4 tháng 09, 1958 của Trung Cộng.
Xin quý bạn đọc xem kỹ bản tuyên bố ngày 4 tháng 09, 1958 của Trung Quốc trong hình đính kèm. Bản tuyên bố này nói rất rõ là Tây Sa = Hòang Sa, và Nam Sa = Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Cộng!
CÔNG HÀM KÝ BỞI PHẠM VĂN ĐỒNG Thủ Tướng Phủ Nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hoà
Thưa Đồng chí Tổng lý, Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.
Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trên mặt bể.
Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng./.
Kính gửi: Hà-nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958. Đồng chí Chu An Lai (Ấn ký) Tổng lý Quốc vụ viện PHẠM VĂN ĐỒNG Nước Cộng hoà Nhân dân Trung-hoa Thủ tướng Chính Phủ tại BẮC KINH Nước Việt-nam Dân chủ Cộng Hòa
BẢN TỰ TUYÊN BỐ CỦA TRUNG CỘNG NGÀY 04.09.1958 VỀ HẢI PHẬN Trang Luật-học http://law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm
Dịch ra Việt-ngữ
Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải (Được thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958)
Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:
(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Đại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.
(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc
(4) Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
Đài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Đây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Đài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc
http://www.trungtamdukien.org/article.php?id_article=1028
Chú thích: Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands
NHỮNG KHẲNG ĐỊNH BÁN NƯỚC
Khẳng định ngày 15.06.1956
Ngày 15 tháng 6 năm 1956, hai tuần lễ sau khi Việt Nam Cộng Hoà (RVN) tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, Thứ trưởng Ngoại giao của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (DRV) đã nói với Ban Thường Vụ của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa (PRC) rằng “theo những dữ kiện của Việt Nam thì quần đảo Hoàng Sa (Xisha) và quần đảo Trường Sa (Nansha) là một bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc” . Hai năm sau đó, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đã ra bản tuyên bố xác định lãnh hải của họ. Bản tuyên bố này đã vạch ra rõ ràng cái khoảng khu vực của lãnh thổ Trung quốc có bao gồm cả Trường Sa . Để đáp lễ, Thủ tướng Viêt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (DRV), Phạm Văn Đồng đã gởi một bản công hàm đến Thủ tướng Trung quốc Chu Ân Lai, nhấn mạnh rằng “Chính Phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định này
Tài liệu Bộ Ngoại giao Trung quốc
Theo tài liệu "Chủ quyền tuyệt đối của Trung Quốc trên Quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa "của Bộ Ngoại giao Trung Quốc (Beijing Review, Feb. 18, 1980), Hà Nội đã "dàn xếp" vấn đề này trong quá khứ. Đại khái họ đã bảo rằng:
- Hồi tháng 6 năm 1956, hai năm sau ngày chính phủ của Hồ Chí Minh đã tái lập tại Hà Nội, Thứ trưởng Ngoại giao Bắc Việt Ung Văn Khiêm đã nói với Li Zhimin, Thường vụ viên của Toà Đại Sứ Trung quốc tại Bắc Việt, rằng "theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là môt bô phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc".
- Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Chính phủ Trung quốc đã tuyên bố bề rộng của lãnh hải Trung quốc là mười hai hải lý, được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, "bao gồm ... Quần Đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa ...". Mười ngày sau đó, Phạm Văn Đồng đã ghi rõ trong bản công hàm gởi cho Chu An Lai, rằng "Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa về vấn đề lãnh hải.
Tạp chí Kinh tế Viễn Đông
Cũng trong Tạp chí Kinh tế Viễn Đông số tháng 3 năm 1979, trang 11. Hồi tháng 9 năm 1958, khi Trung Quốc, trong bản tuyên bố của họ về việc gia tăng bề rộng của lãnh hải của họ đến 12 hải lý, đã xác định rằng quyết định đó áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của Trung Quốc, bao gồm cả Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, một lần nữa Hà Nội đã lên tiếng nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc trên 2 quần đảo đó. Ông Phạm Văn Đồng đã ghi nhận trong bản công hàm gởi cho lãnh tụ Trung Quốc Chu An Lai ngày 14/9/1958: "Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc" (xem Beijing Review 19/6/1958, trang 21 -- Beijing Review 25/8/1979, trang 25 -- Sự tồn tại của bản công hàm đó và tất cả nội dung đã được xác nhận tại Việt Nam trong BBC/FE, số 6189, ngày 9/8/1979, trang số 1.)
Việt Nam Cộng Hòa quyết giữ Chủ quyền, Cộng sản Miền Bắc phản bội
Vào năm 1957 khi Trung quốc phản đối sự chiếm đóng của Việt Nam tại đảo Robert, thì chính quyền Sài Gòn đã hoàn toàn kiểm soát hai đảo khác trong nhóm Crescent: đảo Pattle và đảo Money. Ba (3) đảo mà Nam Việt Nam chiếm giữ nằm bên phía tây của nhóm Crescent. Rồi đến tháng 8 năm 1958, chính quyền Saigon chiếm giữ đảo Duncan nằm bên khu vực phía đông của nhóm đảo Crescent, đối diện với nhóm Amphitrite. Hai tuần sau đó, chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố chủ quyền của họ trên toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa. Họ đã được sự ủng hộ của Bắc Việt
TRUNG QUỐC QUẢN LÝ HOÀNG SA, TRƯỜNG SA
TQ Nâng Cấp Huyện Quản Lý 2 Đảo Trường Sa, Hoàng Sa Việt Báo Thứ Ba, 12/4/2007, 12:02:00 AM
HÀ NỘI- Nhà nứơc CSVN có vẻ xem như là các đảo Trường Sa và Hoàng Sa khó có cơ hội đòi lại nổi.
Theo Thông tấn xã nhà nước TTXVN, ngày 3/12/2007, trả lời câu hỏi của phóng viên TTXVN đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam về tin Quốc Vụ Viện Trung Quốc vừa phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý 3 quần đảo trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao CSVN Lê Dũng phát biểu như sau: "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.Việt Nam phản đối việc Trung Quốc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý 3 quần đảo trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Hành động này đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, không phù hợp với nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước, không có lợi cho tiến trình đàm phán tìm kiếm biện pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển giữa hai bên."
BẮC KINH BÁC BỎ SỰ PHẢN ĐỐI CỦA HÀ NỘI DCVOnline – Tin ngắn
Trung Quốc gạt qua một bên sự phản đối của Việt Nam và tái xác nhận chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa
Bắc Kinh, Trung Quốc - Bắc Kinh lên tiếng hôm thứ Ba cho rằng Hà Nội phản đối chuyện hải quân Trung Quốc thao diễn quân sự ở quần đảo Hoàng Sa (Paracel) tuần trước là “vô căn cứ”, và Bắc Kinh tái xác nhận chủ quyền của mình trên quần đảo này.
“Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi đối với quần đảo Xisha này… Trung Quốc và Việt Nam không có gì để tranh cãi trong chuyện này,” phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc ông Qin Gang nói như trên.
Cũng cần nhắc là tuy cùng nói về một quần đảo, nhưng Trung Quốc dùng chữ “Xisha” và Việt Nam lại dùng chữ Hoàng Sa hay Paracel khi họ nói đến quần đảo này.
Ông Qin Gang còn nói thêm: “Cuộc thao diễn quân sự thường lệ ở vùng biển chung quanh quần đảo Xisha là những hoạt động bình thường của hải quân Trung Quốc trong vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Sự phản đối của Việt Nam là vô căn cứ và vô lý.”
Cho đến khi bản tin này đến với bạn đọc DCVOnline, các báo chí trong nước vẫn chưa có báo nào đưa tin. Và ngay cả sự phản đối cuộc thao diễn quân sự này của Hà Nội tuần rồi cũng rất yếu ớt, và sự phản đối này được đưa với một bản tin rất ngắn thoạt đầu đi trên Thông Tấn Xã Việt Nam và sau đó được một vài tờ báo mạng khác đăng lại một cách nhạt nhòa như không muốn người dân đọc và biết đến!
Điều này khác hẳn với Nhật Bản chẳng hạn, như cách đây ba tuần, hôm 5 tháng Mười Một, khi phó Thủ tướng Nga Sergei Naryshkin đến Nhật Bản để giải quyết chuyện tranh chấp quần đảo Kuril giữa hai nước ở vùng Hokkaido, chính quyền và báo chí Nhật Bản đã đưa tin hoàn toàn trung thực để dân biết, theo dõi và đóng góp ý kiến với chính phủ qua Quốc Hội.
Tưởng cũng cần nhắc lại, cuộc thao diễn quân sự của hải quân Trung Quốc mà Hà Nội phản đối lần này là thuộc vùng biển quanh quần đảo Hoàng Sa (Paracel). Chiến hạm của hải quân Việt Nam, loại BPS-500 được thiết kế và xây dựng dựa vào kiểu Tarantul III (Molniya) của Nga qua hợp đồng giữa VN và công ty Russia's Vympel Design Bureau (tổng cộng 10 chiếc). Hiện một số tàu này đang được đóng ở Saigon Shipbuilding Company, Sài Gòn theo hợp đồng với RVDB. Nguồn: Jane's Defense
Riêng về đảo Trường Sa (Spratly) thì hôm 9 tháng Bảy năm nay, hải quân Trung Quốc đã bắn vào tàu đánh cá của ngư phủ Việt Nam làm chết một người và bị thương tám người ở vùng biển quanh đảo Trường Sa. Chi tiết sự việc khó kiểm chứng khi tin tức từ hai bên đưa ra khác nhau, nhưng theo AFP và Reuters thì rất có thể những ngư phủ này xuất phát từ tỉnh Quảng Nam, họ bị bắn khi đang đánh cá trong hải phận đảo Trường Sa mà Trung Quốc cho rằng thuộc về họ.
Lúc sự việc bắn ngư phủ Việt Nam này xảy ra, tàu của hải quân Việt Nam có mặt trong vùng và nằm trong cự ly có thể khai hỏa, nhưng họ đã không làm thế vì tự biết hỏa lực họ rất yếu so với chiến hạm và hỏa lực của hải quân Trung Quốc.
Và trước đó, vào hôm tháng Tư, Trung Quốc lên tiếng phản đối Việt Nam vi phạm chủ quyền của Trung Quốc khi ký hiệp đồng khai thác dầu và khí đốt trị gía 2 tỉ Mỹ kim với BP ở vùng biển quanh đảo Trường Sa thuộc biển Nam Hải (South China Sea), họ đã cảnh cáo BP và kết qủa là hãng dầu BP phải rút đi. © DCVOnline
Nguồn: (1) China dismisses Vietnam protest over disputed islands. AFP, Inquirer.net, 27 November 2007 (2) China says Vietnam protest on navy exercise "groundless". Xinhua, 27 November 2007.
| | | |
======NHỮNG CUỘC BIỂU TÌNH TẠI QUỐC NỘI VÀ THÁI ĐỘ CỦA CSVN=======
NGÀY 16.12.2007
HÀ NỘI-SÀI GÒN: BIỂU TÌNH (Xin đọc Biểu Tình ngày 09.12.07 ở phần dưới)
Đảng cộng sản Việt Nam ra lệnh công an ngăn chặn, cản trở cuộc biểu tình yêu nước phản đối Trung quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của nhân dân. Sáng nay 16/12/2007, tiếp lời kêu gọi biểu tình phản đối TQ chiếm 2 quần đảo TS - HS của Việt Nam, đã có rất đông người, phần lớn là tuổi trẻ tham gia vào đoàn biểu tình và tuần hành trước ĐSQ TQ tại HN và LSQ TQ tại Sài Gòn. Tuy nhiên, vì các lời kêu gọi đã được công khai trước trên rất nhiều trang mạng và cả gửi qua tin nhắn, nên nhà cầm quyền biết và đã ra lệnh cho rất nhiều các lực lượng vũ trang ngăn chặn, cản trở cuộc biểu tình tuần hành yêu nước của nhân d ân VN. Họ không cho đoàn biểu tình có điều kiện tập hợp đối diện với ĐSQ và LSQ để trực tiếp hô vang những khẩu hiệu yêu nước. Họ phong tỏa các ngả đường hướng vào tòa ĐSQ và LSQ, nhằm ngăn chặn dòng người nhập vào đoàn biểu tình. Cuộc biểu tình đã không thể thực hiện được theo kịch bản sắp xếp ban đầu mà phải chuyển sang tuần hành.
Việc cản trở, ngăn chặn hành động biều tình yêu nước của nhân dân VN phản đối TQ chiếm 2 quần đảo TS và HS của công an dưới sự chỉ đạo của ĐCSVN đã bộc lộ rõ bản chất, tâm địa xấu xa của ĐCSVN. Khi đất nước lâm nguy, lãnh thổ bị xâm phạm mà họ lại cố tình làm ngơ và dửng dưng đứng ngoài cuộc. Phải chăng ĐCSVN phải nhún nhường trước đàn anh TQ để hòng giữ riệt cái ngai vàng độc đoán? Phải chăng có những thỏa thuận trước đây giữa VN với TQ như công hàm của cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng, phải chăng những hiệp định dở dang về phân chia lãnh hải, lãnh thổ, v,v.. đã níu chân ĐCSVN?
Chúng tôi kịch liệt lên án ĐCSVN về những hành động ngang trái này. Rất mong các cơ quan ngôn luận trên toàn thế giới ủng hộ chúng tôi.
Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam,
Đả đảo nhà cầm quyền bành trướng Trung Quốc,
Nước Việt Nam là của toàn thể nhân dân Việt Nam,
Yêu cầu chính phủ Việt Nam dừng ngay lập tức các hành động cản trở, ngăn chặn các hoạt động yêu nước của nhân dân Việt Nam. Huỳnh Dũng Thắng Gửi đi từ Hà Nội.
TIN GIỜ CHÓT VỀ BIỂU TÌNH
Biểu tình phản đối TQ tại Hà Nội: Khoảng 2000 người mặc áo đỏ và 2500 người mặc áo vàng, áo xanh tham gia tuần hành từ đầu đường Điện Biên Phủ , qua Đài tưởng niệm liệt sĩ Bắc Sơn, các phố Văn Miếu , Quốc Tử Giám, Cát Linh, Giảng Võ và kết thúc tại Khách sạn Hà Nội lúc 11h . Tuy việc biểu tình không được như dự kiến ban đầu nhưng cuộc tuần hành ngay sau đó lại thành công CỰC KỲ MỸ MÃN.
Người Đưa Tin
http://farm3.static.flickr.com/2030/2114428632_d1f49874d3.jpg< /font>
http://farm3.static.flickr.com/2061/2113652469_7657b41689.jpg
http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/4.jp
http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/2.jpg
http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/3.jpg
http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/4.jpg
http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/5.jpg
http://www9.ttvnol.com/uploaded2/luckycat0/6.jpg
TẦU KHÔNG NGƯNG KHUYẾN CÁO CSVN NGĂN NGỪA BIỂU TÌNH
Chính phủ Trung Quốc hôm qua lập lại khuyến cáo lãnh đạo Việt Nam cần ngăn ngừa những cuộc biểu tình phản đối Bắc Kinh đặt đơn vị hành chính trên các quần đảo Hòang Sa và Trường Sa.
Bộ ngoại giao Trung Quốc cho biết Bắc Kinh rất quan ngại về những cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Việt Nam.
Người phát ngôn bộ Ngoại giao Trung Quốc cho hay những cuộc biểu tình tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh gần trụ sở ngoại giao của Trung Quốc hôm Chủ nhật vừa rồi, cũng như hôm Chủ nhật 9 tháng 12, có thể làm tổn hại quan hệ hai nước.
Phát ngôn viên Tần Cương của bộ ngoại giao Trung Quốc nói Bắc Kinh hy vọng chính phủ Việt Nam sẽ biểu hiện thái độ có trách nhiệm cùng những biện pháp hữu hiệu để chặn đứng các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc diễn ta tại Việt Nam trong thời gian qua.
Phát ngôn nhân Tần Cương nói rằng Trung Quốc đã nhiều lần khẳng định chủ quyền trên vùng biển mà Bắc Kinh gọi là Nam Hải. Lãnh đạo hai nước cũng đã nhiều lần đề cập tới vấn đề này và đã đồng ý với nhau là sẽ giải quyết qua đối thoại để giữ gìn ổn định và hòa bình trong khu vực.
Hồi năm 1958, nguyên Thủ tướng Phạm văn Đồng đã gởi công hàm chính thức xác nhận sự ủng hộ bản tuyên bố của Trung Quốc giành chủ quyền trên các quần đảo Hòang Sa, Trường Sa và Trung Sa.
Trong những năm sau đó, các quan chức ngoại giao Hà Nội cũng nhiều lần khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trong khu vực này.
THEO LỆNH TẦU, CSVN BÁN NƯỚC CHO CÔNG AN NGĂN CHẶN BIỂU TÌNH
Cảnh sát bao vây ngăn chặn biểu tình chống Trung Quốc Sunday, December 16, 2007
Cảnh sát được huy động để ngăn chặn đoàn thanh niên biểu tình tại Hà Nội hôm 16 Tháng Mười Hai không được đến gần Tòa Ðại Sứ Trung Quốc.
Cảnh sát cơ động với đầy đủ áo giáp, súng, dùi cui, túa ra theo dõi đoàn biểu tình ở Hà Nội.
SÀI GÒN (NV) - Giới trẻ tại Việt Nam sáng Chủ Nhật 16 Tháng Mười Hai tiếp tục biểu tình thêm lần thứ nhì tại Hà Nội và Sài Gòn để phản đối việc Trung Quốc lập đơn vị hành chánh có quyền quản lý hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nhưng tất cả đã bị công an, an ninh, và cả cảnh sát du lịch ngăn chặn không cho đến gần tòa đại sứ và lãnh sự Trung Quốc.
Nhiều người đã bị đưa về đồn công an thẩm vấn và được thả ra. Tuy nhiên, có ít nhất hai người, một ở Hà Nội và một ở Sài Gòn, đến nay vẫn chưa biết có được thả hay không. Nhiều người từng tham gia cuộc biểu tình lần thứ nhất vào tuần trước cũng như nhiều nhà đấu tranh dân chủ đã bị bắt giữ ngay từ buổi sáng.
Cuộc biểu tình và các biện pháp ngăn chặn đã diễn ra một tuần sau lần biểu tình thứ nhất bên lề đường đối diện tòa đại sứ và lãnh sự trong ngày Chủ Nhật 9 Tháng Mười Hai. Sau lần biểu tình đó, phía Trung Quốc đe dọa rằng cuộc biểu tình gây ảnh hưởng tới quan hệ ngoại giao hai nước, và đòi hỏi Việt Nam phải “có các biện pháp hiệu quả nhằm ngăn chặn” những cuộc biểu tình này.
Theo ước tính của thông tấn xã AFP, có 300 người tham gia cuộc biểu tình tuần hành tại Hà Nội và 100 người tại Sài Gòn. Tuy nhiên, con số ở Sài Gòn chưa tính số người muốn tham gia cuộc biểu tình nhưng bị công an và an ninh chặn lại không cho tham dự. Hà Nội: Đoàn người đi tuần hành
Tại Hà Nội, hàng trăm thanh niên sinh viên, hầu hết mặc cùng một áo thun màu đỏ sao vàng, mang bảng khẩu hiệu, trong đó có cả khẩu hiệu bằng tiếng Anh được AFP thuật lại: “China hegemony jeopardises Asia” (Bá quyền Trung Quốc đe dọa Châu Á), “Beware of the invasion” (Hãy cảnh giác ngoại xâm)... Có cả những biểu ngữ viết: “We are small but not reconciled to China's invasion” (Chúng ta tuy nhỏ nhưng không khuất phục quân xâm lược Trung Quốc).
Tuy nhiên, theo thông tin báo Người Việt nhận được, ngay từ sáng sớm, các lực lượng an ninh đã thiết lập hàng rào và huy động rất nhiều nhân lực bao vây khu vực quanh tòa đại sứ, tọa lạc tại số 46 Hoàng Diệu, đối diện công viên Lê Nin.
Cả đoạn đường Hoàng Diệu, cả khu vực công viên, đều có công an và an ninh, mặc cảnh phục cũng như thường phục, canh gác. Lực lượng an ninh tham gia ngăn chặn đoàn biểu tình có công an, cảnh sát giao thông, cảnh sát phản ứng anh CS113 (tương tự cảnh sát dã chiến), cảnh sát cơ động. Hàng rào được đặt chặn ngang đường và khu tượng đài Lê Nin.
Tại khu vực này, theo tường thuật trên trang blog mang tên “Nhà báo tự do,” có khoảng 100 người biểu tình tụ tập thành nhiều nhóm, trong đó có khoảng vài chục người lớn tuổi và trẻ em. Khoảng 9 giờ 55, người biểu từ hai ngả nhập lại thành một, họ dự định tiến về phía Ðại Sứ Quán Trung Quốc nhưng bị chặn lại. 10 giờ 45, người biểu tình chuẩn bị diễu hành thì cảnh sát cơ động cầm đội mũ sắt, mặc áo giáp, cầm dùi cui, dàn hàng ngang dồn họ ra xa khu vực Ðại Sứ Quán Trung Quốc.
Đoàn biểu tình chuyển hướng diễu hành dọc các con đường quanh đó. Vừa đi, đoàn biểu tình vừa hô khẩu hiệu.
“Hoàng Sa! Trường Sa!” “Việt Nam! Việt Nam!”
Họ hô to những khẩu hiệu như vậy, và họ hát bài Tiến Quân Ca, Nối Vòng Tay Lớn, Dậy Mà Ði. Theo tin báo Người Việt nhận được nhưng chưa kiểm chứng được với nguồn khác, có một sinh viên bị bắt giữ mất mấy tiếng đồng hồ vì “hát bài Tiến Quân Ca quá to.”
Đoàn biểu tình rất cẩn thận trong việc hô khẩu hiệu. Theo lời một người tham dự, đoàn biểu tình tránh tất cả những khẩu hiệu nào có thể bị cho là chống đối mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Công an Việt Nam phát loa kêu gọi giải tán, sinh viên trả lời: “Không giải tán”. Công an đã tìm cách “cắt” nhỏ đoàn biểu tình để ép các nhóm nhỏ giải tán song vẫn có một số nhóm tiếp tục tuần hành.
Công an Hà Nội trà trộn vào đoàn biểu tình để điều tra. Một người tham gia đi tuần hành kể lại trên blog của mình:
“Đang đi thì có một anh nhanh bước theo cùng, hỏi: - Em là sinh viên à? - Em cũng đi biểu tình à - Em tự đi hay ai tổ chức? - Trường nào đông sinh viên đi nhất?”
Một người khác cũng đi biểu tình kể lại cảm tưởng khi bị công an bủa vây: “Cảm giác như mình đang là tên phản động, tên tội phạm, tên chống chính quyền.”
Áo thun đỏ sao vàng cũng là nguồn cho sự nghi ngờ. Người nói trên cũng kể khi đi bộ về lấy xe, họ đã “bị cảnh sát cơ động ngăn lại. Khi giải thích là giờ đoàn đã giải tán ra về và chúng tôi chỉ quay lại lấy xe thì cũng bị chỉ đi đường khác vòng xa hơn. Anh em đã phải nhắc nhau cởi áo cờ Tổ Quốc. Còn tôi phải kéo khóa áo khoác để che đi áo cờ Tổ Quốc bên trong.”
Người khác thì kể, “Hai anh nho nhỏ, mặc thường phục tiến lại, đòi thu cái áo của bạn C với vẻ mặt rất nghiệm nghị: 'Anh bạn cho xin cái áo làm kỷ niệm tí!' Tuy có trợn mắt ra nhìn nhưng cuối cùng thì cũng đành nộp áo thôi. Nhìn vào túi áo các anh, thấy cuộn tròn một đống cờ áo.”
Theo tin từ phía biểu tình, Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn đã bị công an bắt về đồn công an Thụy Khuê. Một số sinh viên cũng bị bắt, trong đó có người mang biển khẩu hiệu được trích trên bản tin AFP: “Chúng ta tuy nhỏ nhưng không khuất phục quân xâm lược Trung Quốc.”
Hình ảnh và video biểu tình được chuyển đi trên Internet cho thấy một số nhân vật nổi tiếng cũng tham gia biểu tình, như nhà văn Trang Hạ, dịch giả cuốn “Xin Lỗi Em Chỉ Là Con Ðĩ” bán chạy nhất trong năm qua và cũng là chủ nhân một trong những trang blog nhiều độc giả nhất.
Sài Gòn: An ninh nặng tay
Nếu đoàn biểu tình tại Hà Nội đã có cơ hội đi tuần hành trên các phố, thì tại Sài Gòn đoàn biểu tình bị giới hạn rất nhiều. Lực lượng an ninh đã được huy động ngay từ chiều hôm trước để giải tán khu vực quanh Tòa Tổng Lãnh Sự Trung Quốc ở góc đường Phạm Ngọc Thạch (Duy Tân) và Nguyễn Thị Minh Khai (Hồng Thập Tự).
Các quán cà phê nổi tiếng và ăn khách gần khu này như Sao, Napoli, đều bị bắt buộc đóng cửa. Một chiếc xe đặc dụng, vừa phá sóng điện thoại di động, vừa định vị và nghe lén điện thoại, được mang tới đậu ngay trên đường Phạm Ngọc Thạch. Nhà Văn Hóa Thanh Niên, ở đối diện tòa tổng lãnh sự, treo bảng đóng cửa “vì lý do sửa chữa sân bãi.” Công an dùng nhà văn hóa thanh niên làm trụ sở chỉ huy; một số xe tải bắt người được mang tới đậu tại đó.
Trang blog “Nhà báo tự do” tường thuật cuộc biểu tình cho biết đoàn người mặc áo thun trắng in bản đồ Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa, cùng với hàng chữ “Bọn Trung Quốc xâm lược, hãy cút khỏi Hoàng Sa & Trường Sa.”
Đoàn biểu tình đã không thể đến gần được tòa tổng lãnh sự. Ngoài lực lượng công an và an ninh chìm nổi, nhà chức trách còn huy động hàng mấy trăm cảnh sát du lịch bao vây đoàn biểu tình. Một nhóm bị dồn vào khu công viên sau lưng nhà thờ Ðức Bà, đối diện Sở Ngoại Vụ (Bộ Ngoại Giao cũ). Một nhóm rất đông, hơn 800 người, bị chặn từ xa không được đến gần.
Bị vây lại tại công viên, nhưng đoàn biểu tình vẫn hô vang khẩu hiệu:
“Hoàng Sa! Trường Sa!” “Hoàng Sa! Của Việt Nam!” “Trường Sa! Của Việt Nam!”
Và họ hát. Câu hát “Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại, xương da thịt này cha ông miệt mài...” trỗi lên và được nhiều người hưởng ứng.
Một nhà báo tại Sài Gòn qua email cho biết “Công an phá sóng điện thoại, không liên lạc với ai được, thêm nữa còn dùng xe nghe trộm đi vòng vòng.”
Nhà báo này cũng tiết lộ là có rất nhiều phóng viên báo chí trong nhóm tham gia biểu tình.
Nhạc sĩ Tô Hải, đã trên 80 tuổi, cũng xuất hiện tại nơi biểu tình và mạnh mẽ bảo vệ người trẻ bị công an chìm chỉ điểm bắt đi. (Xem trích đoạn blog nhạc sĩ Tô Hải trên trang A6.)
Bắt người
Trong số người đi biểu tình tại Sài Gòn có một cựu sĩ quan công an là cô Tạ Phong Tần, và một cựu chiến binh chiến trường Trường Sơn là ông Nguyễn Hoàng Hải, thường được biết đến với tên trên blog là “Ðiếu Cày.”
Theo lời kể trên blog “Nhà báo tự do,” ông Hải tức Điếu Cày bị một số cựu chiến binh vây lấy để khuyên can, đến khi không được thì họ “vận động con trai anh ra thuyết phục bố.”
Đến 3 giờ chiều, trên đường về, cả cô Tần lẫn ông Hải đã bị công an bắt. Theo lời ông Nguyễn Hoàng Hải viết trên blog của mình, “6 tên công an chìm bẻ tay, kẹp cổ, bóp yết hầu Ðiếu Cày ngay giữa đường phố Sài Gòn. Chúng nói với bà con là bắt tên buôn ma túy.”
Cô Tạ Phong Tần viết chi tiết: “Vừa quẹo qua ngã ba đường Phạm Ngọc Thạch-Võ Thị Sáu thì nghe có vụ đụng xe sau lưng, quay lại nhìn thấy bác Ðiếu Cày bị 3 chiếc xe máy và khoảng 6 thanh niên vây kín. Tôi chưa kịp hiểu mô tê gì thì có 4 thanh niên mặc thường phục đi 2 xe máy kè xe mình, giật phắt chìa khóa xe, ba lô, đồng thời nói: 'Chúng tôi là công an, nghi chị tàng trữ ma túy nên bắt giữ chị', và dùng vũ lực lôi tuột tôi lên xe chở về trụ sở công an phường 6 quận 3 đường Trần Quốc Thảo.” Tại đây cô bị thẩm vấn và bị quy tội biểu tình không xin phép. Cô đã tranh luận với họ. “Tiếp theo là cuộc tranh cãi tay ba giữa 1 bên là Tạ Phong Tần và bên kia là 2 người mặc thường phục. Chính xác là tranh cãi vì không ai chịu nhường ai lời nào,” cô viết.
Có hai người nữa cũng bị bắt tại Sài Gòn, là dịch giả Hà Vũ Trọng - người Canada gốc Việt với nhiều bài viết quen thuộc trên trang web Talawas, và ông Lê Quốc Quyết, em Luật Sư Lê Quốc Quân.
Nhạc sĩ Tuấn Khanh, từng xuất hiện từ đầu đến cuối cuộc biểu tình lần đầu và từng tranh luận tay đôi với phó chủ tịch thành phố trong buổi họp với thanh niên, sang tuần này đã bị công an tới nhà giam lỏng suốt ngày.
Tới tối, hầu hết mọi người đều được thả về. Tuy nhiên, có hai người mà người tham gia biểu tình lo ngại là đã bị bắt hiện nay chưa có tin tức. Một người là một nữ sinh viên tại Hà Nội, người mang tấm biển kèm khẩu hiệu “Chúng ta tuy nhỏ nhưng không khuất phục quân xâm lược Trung Quốc.” Có tin cho biết cô tên là Hương.
Một người nữa là một thanh niên tên Trần Bá An, cùng tham gia đoàn biểu tình và có máy video quay cảnh, tới nay đã bị công an bắt đi và vẫn chưa có tin tức. Anh Trần Bá An là bạn của Luật Sư Lê Quốc Quân và ông Quân đã lên tiếng báo động về trường hợp này.
NGÀY 09.12.2007
SINH VIÊN HỌC SINH BIỂU TÌNH CHỐNG TRUNG CỘNG XÂM LĂNG
HÀ NỘI 09.12.2007
Gần 600 Sinh Viên Học Sinh và Đồng Bào Đã Có Mặt Tại Sứ Quán Trung Quốc Biểu Tình Phản Đối TQ Xâm chiếm Hoàng Sa & Trường Sa
Vào Lúc 8 giờ sáng ngày chủ Nhật 09 tháng 12, sinh viên , học sinh đã kéo về Đại Sứ quán Trung Quốc Tại số 46 Hoàng Diệu , Hà Nội để phản đối Trung Quốc xâm lăng 2 quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa của Việt Nam . Công An CS đã có mặt nhưng làm ngơ cho cuộc biểu tình xảy ra . Nhiều xe công an đang đậu tại đường Điện Biên Phủ ngay sát phía sau vườn hoa Hoàng Diệu đối diện với Đại Sứ Quán Trung Quốc .
Công An mặc thường phục đứng trà trộn vào đoàn biểu tình của sinh viên học sinh . Cho tới lúc 9 giờ sáng , đồng bào đã kéo tới đây ngày càng đông lên gần 500 người để yểm trợ cho sinh viên học sinh đang có mặt nơi đây . Trên vườn hoa các sinh viên đã hô to khẩu hiệu "đả đảo TQ chiếm lĩnh HS & TS" , một số lớn la to khẩu hiệu như "Trường Sa & Hoàng Sa là của ..." "Mọi người khác đồng thanh la lên "Việt Nam ... Việt Nam" . "Nhân Dân VN ... Bảo Vệ Tổ Quốc" và "Việt Nam Muôn Năm ..." ""Đả đảo TQ xâm lược ..." "Dậy mà đi ...Hỡi đồng bào ơi ..." "Thanh niên VN ... Bảo Vệ Tổ Quốc ..." "Chúng tôi sẵn sàng ... Bảo vệ VN"
Vào lúc khoảng 10 giờ Đồng Bào và sinh viên đã tràn ra đường, con số biểu tình lúc nầy lên trên gần 600 người đang bước tới gần sát chân tường của Đại Sứ Quán Trung Quốc. Thấy biểu tình có thể lan rộng lớn hơn nên đại diện Công An đã ra thông báo kêu gọi mọi người hãy giải tán .
SÀI GÒN 09.12.2007
Một cuộc biểu tình khác ở Lãnh Sự Quán Trung Quốc tại Sài Gòn tại địa chỉ 39, đường Nguyễn Thị Minh Khai Sài Gòn cũng đã xảy ra vào lúc 9 giờ 30 phút . Số lượng sinh viên học sinh đến tham dự chỉ khoảng 400 người đã giăng các biểu ngữ cầm tay " Trường Sa và Hoàng Sa thuộc Chủ Quyền Của Việt Nam" "Hãy Trả Lại Trường Sa & Hoàng Sa cho Việt Nam ... " Một số đông đồng bào đã tập trung lại để xem các em sinh viên biểu tình . Đến 10 giờ thì Công An đã đến giải tán cuộc biểu t ình nhỏ nầy .
BÃO NỔI LÊN RỒI
Bão nổi lên rồi (tường thuật đầy đủ cuộc biểu tình 09/12/2007)
Phần 1 : Lòng yêu nước bất diệt khi Tổ Quốc lâm nguy
Có lẽ chưa bao giờ lòng yêu nước của tất cả mọi từng lớp trong xã hội và đặc biệt là giới trí thức trẻ như thanh niên - sinh viên lại dâng trào đến mạnh mẽ và quyết liệt đến vậy. Vì sao ư? Chính vì tất cả mọi người đều phẫn nộ trước sự lộng hành và bành trướng lãnh thổ của Bắc Kinh - vốn từ lâu là một người bạn " môi hở răng lạnh" của Việt Nam ta. Và phẫn uất vì sự im lặng và thái độ phản đối một cách yếu ớt của chính phủ. Nên họ đã xuống đường biểu tình để bày tỏ thái độ phản kháng của mình trước sự việc Trung Quốc đã lấn chiếm Hoàng Sa - Trường Sa
Liên tục mấy ngày trước đó, YIM của tôi và các bạn đều nhận rất nhiều lời kêu gọi, nội dung ấy của những YH ấy là như sau
"Hãy phản đối việc Quốc vụ viện TQ vừa phê chuẩn thành lập TP hành chính Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam, trực tiếp quản lý ba quần đảo Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa. Đúng 9h, Chủ nhật, ngày 09/12/2007, tổ chức biểu tình hòa bình. Tai TPHCM: Tổng lãnh sự quán CHND Trung Hoa, số 39 Nguyễn Thị Minh Khai, Q1. Tại Hà nội: Đại sứ quán CHND Trung Hoa, số 46 Hoàng Diệu. Khi đi mang theo biểu ngữ, quốc kỳ". ... Chúng tôi cũng có mặt để ghi nhận và hưởng ứng lời kêu gọi trên bằng cách cùng có mặt với giới trẻ Sài Gòn xuống đường.
Chúng tôi có mặt trước Nhà Văn Hóa Thanh Niên khá sớm, lúc đó còn rất vắng vẻ ... Đối diện với NVHTN - phía bên kia tòa Lãnh sự Trung Quốc chỉ có 2 anh công an. Mọi việc vẫn bình thường như không có chuyện gì sắp xảy ra.
Cá nhân tôi vẫn tưởng " tin biểu tình" chỉ là tin vịt và định quay xe trở về nhà.. Bổng nhiên tôi nhận được phone của người bạn báo tôi biết phải chạy ra ngay NVHTN. Quay xe trở lại, vội vã đi tìm chổ gởi xe tôi dần dần tiến đến trước cổng NVHTN. Lúc này, tôi đã thấy rất đông người tụ tập trước đó..nhưng hoàn toàn không biết họ là ai cả. Nhưng tôi đã thấy có một số người cầm cờ tổ quốc đứng đó. Linh tính cho tôi biết... sắp sửa xãy ra điều gì đó rồi chăng.
Và sự thật là như vậy, đúng như sự dự đoán của tôi. Bỗng nhiên một thanh niên bình thản trải 1 lá cờ ra ngay trên vỉa hè trước lề đường của NVHTN một là cờ của Trung Quốc, rồi anh ta điềm nhiên ngồi lên. Vài người khác chuyển lá cờ ra gần mé đường và hè nhau đạp lên. Hai thanh niên xung kích quanh quẩn gần đó vội chạy đến ngăn cản thì 1 thanh niên khác giắt một góc lá cờ vào cạp quần rồi băng qua đường, lá cờ TQ bị kéolê giữa lòng đường xen giữa hàng xe cộ. Lại thấy 2 bộ sắc phục nhào đến kè 2 bên và xô đẩy thanh niên này vào cổng NVHTN. Thế là bao nhiêu cặp mặt đều đổ đồn vào đó. Và cũng không biết từ đâu mọi người đã ùa ra đứng trước cổng NHVTH . Mang theo bên mình là nhưng băng-rôn, khẩu hiệu như : Đả đảo Trung Quốc, Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam ... Các hình ảnh về quần đảo Hoàng - Trường Sa .. và trên tay một số người là lá cờ của tổ quốc Việt Nam. Theo tôi nghĩ, có lẽ họ cũng giống như tôi, đã có mặt từ rất sớm nhưng lại " lảng vảng" ở đâu đó " âm thầm quan sát" tòa nhà của Lãnh sự Quán Trung Quốc. Việc trải dài lá cờ và có một số người đứng dẫm chân lên lá cờ cũng như là " phát súng nổ" để mở màn cho cuộc biểu tình tự phát này. Và dù không biết ai là ai , nhưng chúng tôi đã nhận dạng ra nhau trong tình yêu nước nồng nàn.
Nhanh chóng gia nhập vào đoàn người, chúng tôi tiến đến gần các em sinh viên. Song song lúc đó chúng tôi bị lực lượng bảo vệ của NVHTN đuổi không cho phép chúng tôi đứng biểu tình trước cửa. Và đoàn người sau khi đã hội ý .. tất cả mọi người đã kéo về góc bên kia đường nơi đối diện với lãnh sự quán Trung Quốc.
Và lực lượng tham gia biểu tình .. mỗi ngày một đông thêm.
Đối diện trước lãnh sự quán Trung Quốc, mọi người đã giăng cờ xí, băng rôn các hình ảnh và khẩu hiệu và đồng thanh hô thật to
" Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam " " Trả lại Hoàng Sa , trả lại Trường Sa " Đã đảo Trung Quốc " " Việt Nam muôn năm "
Và sau đó, những bài hát lại vang lên một cách mãnh liệt, như tất cả lòng yêu nước và sự phẩn uất này đều dồn vào trong từng câu , từng lời của bài hát : " Quốc ca" " Dậy mà đi" " Lên Đàng", " Như có bác trong ngày vui đại thắng" " Nối vòng tay lớn"
Cuộc biểu tình diễn ra rất " ôn hòa" nhưng khí thế của mọi người rất sục sôi ... tất cả chỉ vì Hoàng Trường Sa thân yêu của chúng ta. Lòng yêu nước sự tự hào của một dân tộc " quật cường và bất khuất" trước " ngoại bang " này đã được kế thừa của 4000 năm văn hiến. Các em thanh niên - sinh viên và mọi người đã vào cuộc. Mọi người đến đây, " không ai bảo ai" hoặc " bị lôi kéo" bởi ai cả. Sự hiện diện của mọi người có mặt ngày hôm đó chỉ vì LÒNG YÊU NƯỚC thế thôi.
Đáp lại sự phẩn nộ chính đáng này của mọi người thì lực lượng an ninh, dân quân, CSTT và bảo vệ tòa nhà lại kéo đên đông nghẹt. Tôi đếm được chắc khoảng có hơn 200 người. Họ không có dấu hiệu trấn áp hay đàn áp cuộc biểu tình tự phát này.. nhưng mọi góc đường để đi vào Lãnh Sự Quán Trung Quốc đều bị phong tỏa lúc đó. Bốn góc đường đều bị lực lượng an ninh " trấn giữ" . Và mặc dù không cho những ai gia nhập vào đoàn người biểu tình nhưng đoàn người vẫn tìm cách nào đó len lỏi vào đám đông và hòa nhập cùng với mọi người đang đứng sẵn đó với đầy đủ những câu khẩu hiệu, băng rôn và cờ xí rợp 1 góc đường. Và số lượng người tham gia càng ngày đông hơn và nhiều hơn và đồng thanh hơn trong những tiến la to " Hoàng Sa là của Việt Nam, Trường Sa là của Việt Nam" ...
Trước thái độ phản kháng rất mạnh mẽ và quyết liệt của đoàn người biểu tình. Lực lượng an ninh đã cử người sang điều đình với các em thanh niên - sinh viên lúc đó. Họ đề nghị " giải tán". Nhưng các em vẫn "đồng tâm và đồng lòng " đứng tại đó vẫn hô to " đã đảo Trung Quốc". Thấy sự giàn xếp không " êm xuôi " Bên Công An đã cử người mang 1 cái bàn to đặt ngay trong đoàn người và đề nghị mọi người ký tên phản đối và sau đó nên giải tán cuộc biểu tình này. Tuy nhiên, lực lượng trí thức trẻ thanh niên - sinh viên ký tên phản đối thì đồng ý nhưng để giải tán cuộc biểu tình thì KHÔNG.
Điều không ngờ đối với cá nhân tôi là, các em đã lấy " lá cờ của tổ quốc" trải lên mặt bàn và thay nhau kí tên vào đó. Điều này thể hiện sự phẩn uất trong lòng các em thật mãnh liệt hơn bao giờ hết. Lá cờ tổ quốc còn đó, nhưng lá cờ này đã từ lâu rồi không còn bay phất phới trên Hoàng Đảo Trường Sa và Hoàng Sa nữa. Nhưng chỉ được 20 phút, có một công an bắt dẹp cái bàn đi! Hình ảnh xúc động nhất theo tôi là các em còn quấn lá cờ vào người để cho các bạn ký tên của mình vào. Hành động ký tên vào lá cờ lần này khác hẳn với việc ký tên vào lá cờ như những lần " ủng hộ seagames, hoặc ký tên vì công lý cho chất độc màu da cam." Hành động thì như nhau, nhưng ý nghĩa của nó " thật to lớn gấp bao nhiêu triệu lần". Dũng cảm thay những lời hô to đòi Trường Sa và Hoàng Sa đầy" bất khuất và can đảm này". Các em đã không sợ gì cả... ngay những khi đối diện với các em (phía bên kia đường khoảng mười mấy mét thôi) lực lượng an ninh " dày đặc" và đang "chỉa" các máy quay phim, chụp hình về các em. Nhưng lòng yêu nước, sự dũng cảm " vượt qua sợ hãi đã chiến thắng tất cả. Chỉ vì các em và chúng tôi những người có mặt trong ngày hôm đó chỉ thể hiện LÒNG YÊU NƯỚC trong tiềm thức của mỗi con người trước tình trạng tổ quốc " lâm nguy" vì mất " đất và biển" vào tay " ngoại bang".
Cuộc biểu tình ôn hòa này kéo dài và bắt đầu từ lúc 9h sáng và kéo dài đến hơn 12h trưa cùng ngày. Dưới cái ánh nắng gắt gao, mọi người đểu thấm mết. Lúc này, có kẻ ngồi người đứng. (Tôi thì khá thấm mệt) nên ngồi ở 1 góc. Nhưng phía đối diện với Tòa lãnh sự vẫn hô to và vang lên những tiếng hô " bất khuất này". Lúc này, đoàn người lại được tiếp vận 3 thùng nước của một người yêu nước nào đó. Bà con và mọi người chạy đến chỗ nhận nước. Nhưng lực lượng an ninh đã " ngăn cản không cho đem nước vào". Thế là số phận của 3 thùng nước phải " để lại" dưới chân của lực lượng an ninh lúc đó. Và mọi người chạy ra lấy nước đem vào uống để lấy sức hô hào tiếp.
Đỉnh điểm của cuộc biểu tình ngày hôm ấy đã buộc " lãnh đạo của Thành Phố" , " Đoàn Thanh Niên " phải xuất hiện để điều đình. Sau một hồi thương thảo với các em, với sự góp sức của nhạc sị Tuấn Khanh, các em đã đồng ý theo chân ông Nguyễn Thành Tài phó chủ tịch UBND Thành phố vào hội trường nhà văn hóa thanh niên để " chất vấn" về việc " mất lãnh thổ và lãnh hải này"
Phần 2 : Sự truy vấn quyết liệt của thanh niên sinh viên và những câu trả lời chưa thỏa đáng của lãnh đạo Thành Phố.
Bước vào hội trường A4 của Nhà Văn Hóa Thanh Niên. Lúc này khoảng gần 1h chiều. Dù đã rất mệt mỏi trước đó vì phải đứng hơn 3 tiếng đồng hồ đối diện với Lãnh Sự Quán Trung Quốc nhưng hầu như tất cả mọi người có mặt ngày hôm đó đều quên đi tất cả .. sự mệt mỏi và cái đói. Mọi người đã nhanh chóng kiếm một chổ ngồi trong hội trường và hội trường dường như " nóng" lên vì câu nói đầu tiên của ông Nguyễn Thành Tài – Phó chủ tịch UBND Thành Phố. Ông ta cho rằng chúng tôi (tất cả mọi người thật " bạo động" trong ngày hôm đó.
Khi ông Tài vừa nói xong câu này, phía hội trường … hình như lúc này đã đầy nghẹt người với hàng loạt cánh tay giơ lên. Và 1 em là nam sinh viên chạy đến chổ microphone của ông Tài và xin được nói.
Em khẳng định và phản biện như sau " Cuộc biểu tình sáng ngày hôm nay hoàn toàn rất hòa bình và diễn ra trong trật tự .. không một chút manh động hay là có bất kỳ hành động quá khích nào. Và đề nghị bác không được nói đến chữ " bạo động" ở đây."
Em vừa nói xong, cả hội trường như tán đồng bằng cách vỗ tay đồng loạt. Câu khẳng định này của em là đại diện cho câu trả lời của chúng tôi. Vâng, chúng tôi có mặt tại đây chỉ vì muốn thể hiện Lòng Yêu Nước của mình. Chúng tôi rất " ôn hòa" bằng chứng là không có để cho việc gì xấu xảy ra ngày hôm đó. Thậm chí, trứơc khi qua NVHTN các bạn trẻ đã thu gom rác, vỏ chai nước thật gọn ghẽ. Và nếu có " bạo động" chúng tôi không bao giờ đồng ý theo chân ông Tài vào hội trường này chỉ với mong muốn được nghe ý kiến của lãnh đạo thành phố trước sự việc kiện trên mà thôi. Một thanh niên khác phát biểu: "Có thông tin nói, cuộc biểu tình này do kẻ xấu giật dây lợi dụng kích động. Thưa các bác, chúng cháu chỉ vì yêu nước mà bày tỏ. Chúng cháu không phải là con nít". Hội trường vỗ tay rầm rầm.
Sau đó, đại diện cho cơ quan ngoại giao của nhà nước. Một bác nào đó (không rõ tên) đã lên nói với chúng tôi với đại ý như sau. " Vấn đề Hoàng Sa – và Trường Sa không giải quyết bằng vũ khí mà sẽ giải quyết trên phương diện ngoại giao giữa hai nước với nhau. Đồng thời về phía Việt Nam, Phát ngôn viên của bộ ngoại giao ông Lê Dũng cũng đã có họp báo để phản đối rồi. Và chúng ta có đầy đủ bằng chứng để chứng minh chủ quyền của chúng ta trên hai hòn đảo Hoàng Sa và Trường Sa này …."
Hình như " rất không hài lòng" và " đầy bức xúc" trước câu trả lời của vị đại diện cơ quan ngoại giao này. Lại cũng một em sinh viên lên hỏi " Cháu đồng ý với bác là ông Lê Dũng đã họp báo phản đối, nhưng chẳng lẽ chúng ta chỉ nói bằng cái miệng hay sao? Trung Quốc có nói với chúng ta bằng cái miệng không vậy thưa bác" .. một lần nữa lại hàng loạt cái vỗ tay vang lên rầm rộ cả hội trường như tán đồng cho câu hỏi của em.
Một em khác lại hỏi: " Bác là đại diện của bộ ngoại giao, vậy bác có biết Hoàng Sa và Trường Sa chúng ta có bao nhiêu đảo và quần đảo không ? Cháu không biết ( lúc này em quay sang hỏi các bạn và hội trường " các bạn có biết không" ? Và một câu trả lời đồng thanh hô to là KHÔNG để đáp lại câu hỏi của em ấy. Em nói tiếp " Bác không biết, tụi cháu không biết … thế thì tại sao nhà nước không công khai việc này? Tại sao chỉ có báo Tuổi Trẻ duy nhất nêu lên vấn đề Hoàng - Trường Sa mà thôi trong khi các báo chí khác lại im lặng. Không được "bịt" thông tin như thế chứ"
Lại những tiếng vỗ tay ầm ĩ, câu hỏi này của riêng em cũng như câu hỏi của mọi người ở đây. Tại sao lại có sự bưng bít thông tin này mà giới trí thức trẻ thanh niên – sinh viên nói riêng và toàn xã hội Việt Nam nói chung không có quyền được biết đến. Khi đất đai lãnh thổ là của chung của cả một dân tộc. "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách". Quốc gia có biến loạn, bổn phận là những người công dân trong một nước đều phải được biết và có quyền được biết. Không thể bưng bít mãi một sự thật này. Lúc này, tôi có cảm tưởng như đại diện lãnh đạo của TP " toát mồ hôi hột" trước những câu truy vấn đầy mạnh mẽ và quyết liệt này. Đáp lại câu hỏi của các em đại diện lãnh đạo của TP đã trả lời " rất chung chung" và dường như chẳng ăn nhập vào vấn đề mà các em đã hỏi. Ông Tài nói " Chúng ta có tổ chức đi du lịch ở Hoàng Sa và Trường Sa, và hiện tại chúng ta có khoảng 200 chiến sĩ đang đóng quân tại hòn đảo này với khoảng 50 chiến sĩ là đoàn viên …." Một câu trả lời chẳng ăn nhập gì với câu hỏi.
Trong lúc biểu tình trước đó, hình như có một bạn nữ nào đó " rất bức xúc " về việc an ninh đã ngăn cản không cho vào tham gia với đoàn biểu tình. Em cũng chạy lên xin được nói " Chúng cháu đến đây, để thể hiện lòng yêu nước của mình… tại sao lực lượng an ninh lại ngăn cản lòng yêu nước của chúng cháu .. khi ngăn chặn chúng cháu lại và không cho cháu vào tham gia cùng mọi người… Tại sao? Tại sao??" Em nói đến đây thì em đã bật khóc nức nở, tiếng khóc như nghẹn ngào cõi lòng của mọi người hiện diện ngày hôm đó. Lãnh đạo vội phân bua: "Không, cảnh sát chỉ gìn giữ trật tự, chứ không ai đuổi các bạn". Phía dưới hội trường hét lớn: "Không đúng, họ ngăn cản, họ đuổi về"... Và hàng loạt các câu hỏi truy vấn thật mạnh mẽ và thẳng thắn đến những người đại diện lãnh đạo ngày hôm ấy. Nhạc sĩ Tuấn Khanh phát biểu là anh cũng không ngờ, giới trẻ rất quan tâm đến tình trạng của đất nước.. thay vì phải đi vào các quán bar, karaoke hay quay quẩn bên gia đình vào một ngày chủ nhật đẹp trời như vậy. Thì các em lại đồng loạt có mặt trong ngày hôm đó để minh chứng cho sự quan tâm của các em về hiện tình đất nước.
Có một thanh niên tha thiết: "Cháu xin các bác, các chú, vì tương lai dân tộc. Hãy để lại cho chúng cháu một giang sơn nguyên vẹn". Vì các em là tương lai của đất nước là thế hệ sẽ kế thừa những gì mà các bậc cha chú đi trước đã để lại. Trước tình trạng Trung Quốc xâm chiếm lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam chúng ta các em đã mạnh mẽ truy cứu đến trách nhiệm của nhà nước .. và trông chờ những hành động quyết liệt của nhà nước về việc bảo vệ chủ quyền của hai hòn đảo này. Chứ không phải chỉ biết phản đối một cách yếu ớt như vậy. Các em đã thẳng thừng đề nghị tổ | | | |
BẢN TIN CỦA CHỨNG NHÂN LỊCH SỬ: BIỂU TÌNH TẠI SÀI GÒN
SÀI GÒN - Theo thông tin từ blog Chứng Nhân Lịch Sử, sáng 9 tháng 12, 2007, trước cửa tòa lãnh sự Trung Quốc tại Sài Gòn, “hơn 500 người đã tập trung biểu tình chống việc Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa.”
Bản tin của Chứng Nhân Lịch Sử nói rằng người biểu tình tập trung từ lúc 8 giờ sáng tại Nhà Văn Hóa Thanh Niên, đối diện tổng lãnh sự Trung Quốc.
Các quán cà phê khu vực Hồ Con Rùa đầy kín người. Bản tin nói có cả nhân viên công an và mật vụ.
Khoảng hơn 9 giờ sáng, các văn nghệ sĩ bắt đầu xuất hiện. Chứng Nhân Lịch Sử nói rằng nhạc sĩ Tuấn Khanh, thi sĩ Thận Nhiên, họa sĩ Trịnh Cung, Phan Bá Thọ, nhà văn Nguyễn Đình Bổn, nhà báo Thu Hồng và nhiều người nữa, đã có mặt đầu tiên.
Một thanh niên đã trải lá cờ Trung Quốc ra rồi ngồi lên. Một người khác, trên tay cầm ảnh đảo Hoàng Sa, trải cờ Trung Quốc, rồi đạp lên.
Khoảng 9 giờ 30 phút, có người hô “tiến lên.” Ngay sau đó, nhiều tiếng vỗ tay đáp lại và đoàn người băng sang đường, tiến sang trước cổng lãnh sự quán Trung Quốc.
Công an tại đây lập tức dàn hàng chặn và đuổi mọi người sang bên kia đường với lý do: “An ninh.”
Đoàn biểu tình lui về hướng lề đường Nguyễn Thị Minh Khai, đối diện lãnh sự, xếp hàng trong trật tự, giương biểu ngữ, hô lớn: 'Đả đảo Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa', 'Trả Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam', 'Bọn xâm lược phải trở về nước'...
Người tụ tập ngày càng đông hơn. Công an phản ứng nhanh (113) của Việt Nam xuất hiện giải tán tất cả những người đang đứng ở các khu vực lân cận nhưng không tấn công đoàn biểu tình trước lãnh sự quán.
Cuộc biểu tình này, có lẽ thành hình theo lời kêu gọi trên Internet được phát đi nhiều ngày nay, sau khi Quốc Hội Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập thành phố cấp huyện có tên là Tam Sa, thuộc tỉnh Hải Nam để trực tiếp quản lý ba quần đảo trên biển Ðông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
HÀ NỘI BIỂU TÌNH CHỐNG TRUNG CỘNG
Trần Long
Theo tin AFP , hằng trăm ngườI đã xuống đường biểu tình tạI Hà NộI ngày Chủ Nhật 9.12.07 lúc 10g00 trước sứ quán Trung Cộng , đòi trả lạI các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho Việt Nam.
Giương cao cờ dỏ sao vàng, hơn 250 ngườI tung hô các khẩu hiệu “ Bảo vệ Quê Hương “ , "Đả đảo TC “ vang dậy phố phường dướI sự chứng kiến án binh bất động của công an . Sau gần một tiếng đồng hồ, cuộc biểu tình đã giảI tán mõt cách êm thắm.
Đây là lần đầu tiên, có cuộc biểu tình chống TC mà không bị công an đàn áp dưới sự chứng kiến của các thông tấn xã quốc tế như AFP, AP, v.v. Trước đây cũng có cuộc biểu tình chống Mỹ vào năm 2003 khi Mỹ xâm chiếm Irak.
Việc đòi lại các quần đảo HS-TS chỉ là hình thức bên ngoài vì làm sao lấy lại được khi Phạm văn Đồng đã ký công hàm nhìn nhận các quần đảo đó thuộc lãnh thổ TC trong khi Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh nặng nề để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của ông cha để lại.
Trước các sự kiện vừa xảy ra, chúng tôi xin đưa vài giả thuyết để quý đọc giả suy nghiệm và phán xét :
1- Chắc tất cả chúng ta đều đồng ý là cuộc biểu tình vừa qua là do Đảng CSVN yểm trợ, nên công an không có đàn áp và phổ biến rộng rãi cho giới truyền thông quốc tế.
2- Phải chăng là do Toàn Đảng CSVN hay một phe phái nào trong Đảng tổ chức biểu tình?
2.1. Nếu do Toàn Đảng CSVN dàn dựng , thì dụng ý của chúng để làm gì ?
- Phải chăng để hướng dẫn sự bất mãn của dân chúng trong nước hướng về việc chống ngoại xâm nhằm quên đi những đòi hỏi thực tế hàng ngày như đồng tiền bị phá giá, thất nghiệp, đình công, dân oan, v.v. ?
- Chứng tỏ cho Mỹ, Cộng Đồng Âu Châu, Nga thấy là CSVN cũng muốn thoát khỏi sự kềm kẹp của TC ( gọi là chiến thuật đu dây )
- Lấy lại “ Uy tín” sau khi bị mang tiếng là “ dâng Đất “ cho TC; như bức công hàm dưới đây cho thấy từ lúc Hồ chí Minh còn sống là chúng đã công nhân chủ quyền của TC trên các quần dảo TS-HS rồi.
LỜI KỂ CỦA MỘT SINH VIÊN SÀI GÒN
Thiên Duy Sinh viên từ TPHCM
Những thanh niên đi biểu tình hôm 9.12 nói chính phủ phải có trách nhiệm giáo dục lòng yêu nước. Từ vài ngày trước, trên các blog và Yahoo Messenger đã xuất hiện hàng loạt tin nhắn kêu gọi đi biểu tình để phản đối chính phủ Trung Quốc lập thành phố quản lý Trường Sa và Hoàng Sa.
Sáng ngày chủ nhật 9/12, các bạn sinh viên đã tụ tập trước lãnh sự quán Trung Quốc . Đáng kể nhất là sinh viên trường Hồng Bàng, một số bạn đến từ các trường đại học gần đó như trường Kiến Trúc, trường Kinh Tế,… người dân và các văn nghệ sỹ tại tpHCM.
Đầu tiên, mọi người tụ tập bên Nhà văn hóa Thanh niên, sau đó mới bước sang đối diện với lãnh sự quán Trung Quốc để biểu tình.
Cuộc biểu tình đã diễn ra trong bầu không khí đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ, của rạo rực lòng căm phẫn trước việc Trung Quốc thành lập huyện Tam Sa. Họ thống thiết kêu gọi chính phủ Việt Nam phải có hành động cụ thể trước mưu toan bành trướng của Bắc Kinh.
Ngoại trừ việc công an ngăn cản không cho một số nhóm thanh niên gia nhập đoàn biểu tình, ngăn chặn không cho tiếp tế nước uống, hoàn toàn không hề có hành động đàn áp. Dù vậy, mật vụ, an ninh, công an, dân quân, quản lý đô thị tập trung rất đông.
Rất đông các chiến sĩ công an cũng đã giúp giải tỏa giao thông, tránh ùn tắc đường khi đông đảo người dân dừng xe lại coi và cổ vũ.
Đoàn người biểu tình hô hào khẩu hiệu "Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam". Họ cũng kêu gọi chính phủ không nên nhu nhược, không để đất nước rơi vào tay Trung Quốc.
Tiếng nói thanh niên
Sau nhiều lần các cán bộ bên Thành Đoàn mời gọi mọi người qua Nhà văn hóa Thanh niên để nói chuyện với lãnh đạo – ông Nguyễn Thành Tài, phó Chủ tịch UBND tpHCM, các bạn sinh viên kéo qua hội trường A4 của Nhà văn hóa.
Ngoài ông Nguyễn Thành Tài, còn có đại diện cho Bộ ngoại giao, đại diện của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Thành Tài đã cố gắng tránh né chữ "biểu tình" nhưng điều này bị phản bác bởi những người tham gia. Họ khẳng định, đó chính là biểu tình, và chính phủ phải có trách nhiệm giáo dục thanh niên trong việc gìn giữ, bảo toàn lãnh thổ, lãnh hải quốc gia.
Có rất nhiều câu hỏi được nêu ra như sự không minh bạch thông tin về tình trạng Trường Sa – Hoàng Sa, cơ quan báo chí bị bịt miệng, cơ quan thành đoàn thiếu trách nhiệm và không thể hiện vai trò là người dẫn dắt thanh niên,… nhưng quan trọng nhất, bức xúc nhất vẫn là trách nhiệm của chính phủ trước nguy cơ xâm lăng của Trung Quốc.
Hầu hết các câu trả lời từ phía ông Nguyễn Thành Tài và các cán bộ thành đoàn đều đổ lỗi cho nước ta nghèo, còn lạc hậu, yếu kém về quân sự,… nhưng đồng loạt bị bác bỏ bởi các bạn thanh niên trong phòng họp.
Các bạn sinh viên cho rằng dù nước ta nghèo, yếu kém, nhưng việc không thông tin cho dân biết chính là trách nhiệm của chính quyền. Các bạn cũng nhắc lại truyền thống 4000 năm dựng nước và giữ nước nhằm nhắc nhở bổn phận của chính quyền. Biểu tình diễn ra ngày 9.12 ở cả Hà Nội và TPHCM
Không khí buổi họp lên đến cao trào khi có một bạn sinh viên nữ lên "Vì sao chúng cháu yêu nước mà bị công an ngăn cản?" Nước mắt bạn đã rơi làm bầu không khí càng thêm nóng bỏng.
Để giảm nhiệt, hai cán bộ Thành Đoàn đã lên phát biểu. Tuy nhiên, đại đa số thanh niên phía dưới phản đối những câu lý thuyết sáo rỗng của hai người này. Họ hét to "Xuống đi, chúng tôi nghe đủ rồi". Có người còn nói lớn: "Chúng tôi vào đây nghe lãnh đạo nói chuyện, không phải nghe quý vị nói chuyện".
Để trả lời cho câu hỏi "trách nhiệm của Thành Đoàn trong việc biểu tình của thanh niên, ông Nguyễn Thành Tài đã ra lệnh cho Thành Đoàn trong tuần sau phải tổ chức ngay một cuộc biểu tình để nói rõ quyết tâm của người Việt Nam bảo vệ đất nước. Ông cũng khẳng định sẽ cho thông tin chính xác, trung thực về sự kiện biểu tình này trên đài truyền hình, đài phát thanh và báo Tuổi Trẻ.
Đáng chú ý là ông Nguyễn Thành Tài đã nói ông ghi nhận hành động thể hiện lòng yêu nước của sinh viên Việt Nam. Điều này chứng tỏ ông công nhận hành động biểu tình của các bạn sinh viên là hành động yêu nước, đáng biểu dương.
Ở đây, ông Nguyễn Thành Tài đã dành được sự ủng hộ của sinh viên khi ông đã phát biểu nhiều câu thẳng thắn, được đông đảo thanh niên ủng hộ. Ông cũng đã nhận trách nhiệm trong việc công an có một số hành động sai trái khi ngăn cản thanh niên tham gia đoàn biểu tình.
Cảm nghĩ
Có lẽ đây là sự kiện biểu tình đầu tiên của sinh viên Việt Nam mà không có sự chỉ đạo của Thành Đoàn. Cuộc biểu tình đã thành công khi nó đã tác động được đến những lãnh đạo cao cấp và buộc họ phải xuống gặp thanh niên để cùng trao đổi.
Việc ông Nguyễn Thành Tài, một lãnh đạo cao cấp của thành phố xuống tận nơi gặp gỡ sinh viên đã chứng tỏ thái độ tôn trọng sinh viên của chính quyền. Đây là cách hành xử rất đáng biểu dương.
Cuộc biểu tình diễn ra trong ôn hòa, trật tự đã thể hiện ý thức chính trị, xã hội, pháp luật tốt của sinh viên Việt Nam. Các bạn đã chứng minh cho cả dân tộc và thế giới thấy bản lĩnh của sinh viên Việt Nam.
Dù vậy, việc Bộ ngoại giao cho rằng cuộc biểu tình yêu nước vừa qua là "chưa được phép" có thể sẽ khiến nhiệt huyết trong lòng các bạn giảm đi đôi chút.
Và có thể một số bạn sẽ nghi ngờ những lời phát biểu của ông phó chủ tịch UBND Nguyễn Thành Tài, làm chính quyền "mất điểm" trong mắt các bạn sinh viên.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Quý vị có ý kiến gì về câu chuyện xin gửi về Diễn đàn BBC ở địa chỉ vietnamese@bbc.co.uk
TRUNG CỘNG RA LỆNH CHO CSVN DẸP BIỂU TÌNH
Trung Quốc Ra Lệnh Cho Đảng CSVN Phải Đàn Áp Biểu Tình Quốc Hương (Hà Nội)
Quan thầy Trung Quốc vừa đưa ra lệnh cho đảng CSVN phải đàn áp biểu tình của sinh viên bằng một giọng điệu hống hách theo kiểu quan thầy Mã Viện ngày xưa. Người Việt Nam chưa bao giờ bị nhục nhã như vậy khi bọn Tàu Phù vừa chiếm đất vừa ra lệnh cho VN như người là bề trên . Sau khi ông Tần Cương mở lời tuyên bố hống hách thì CSVN và 600 báo đài giữ thái độ im lặng không khác gì là những con bù nhìn mà lâu lâu chỉ ú ớ lên một tiếng như ông Lê Dũng nói cho có lệ rồi sau đó im luôn.
Lịch sử VN đã chứng minh qua 1,000 năm quân Tàu Phù phải nhiều lần hoảng sợ vì những cuộc đối kháng của các anh hùng đất Việt như Lý Thường Kiệt, Quang Trung ….Chính Phủ Trung Quốc có uy thế lắm sao mà ngang nhiên ra lệnh đòi nhà cầm quyền và đảng CSVN phải đàn áp ngay chính những người Dân Việt , và những người dân nầy chỉ dùng hình thức ôn hòa biểu tình phản kháng Trung Quốc chiếm đất của VN ! .
Bọn bành trướng Trung Quốc đã dùng xe tăng và quân đội để bắn giết Dân của họ ở Thiên An Môn quá dễ dàng nên bọn Tàu Phù nầy xem người Dân VN như là cỏ rác . Trung Quốc muốn làm gì thì chỉ cần ra lệnh cho đảng CSVN là họ sẽ phải cuối đầu tuân lệnh . Đảng và nhà nước ta sẽ dùng ngay Công An “Nhân Dân “để đàn áp chính Nhân Dân mình theo lệnh bọn Thái Thú .
Đảng CSVN hay lắm cơ mà , đã từng rêu rao là có công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp Mỹ mà bây giờ hèn yếu thế . Hèn và yếu ớt như một cô gái nhỏ bị bọn Tàu Phù hiếp Dâm nhiều lần mà chỉ có biết ngồi khóc than thở , chỉ biết dâng hiến thêm chứ không có tinh thần phản kháng .
Tinh thần “Chống Mỹ Cứu Nước ” Tinh Thần Kháng Pháp ở đâu sao không thấy nữa hả những đảng viên CSVN hèn và nhu nhược kia ơi . Người dân Việt Nam sẵn sàng đổ máu để bảo vệ giang san mà sao những người tự xưng là anh hùng trong 2 cuộc kháng chiến kia hôm ngày nay phải ngồi im lặng nghe lệnh của quan thầy Trung Quốc thế ư . Không lẽ đảng CSVN lại còn hèn hơn cả Lê Chiêu Thống ??? Chúng ta hãy đọc những câu hóng hách mà bọn chó má Tàu Phù coi thường dân VN như cỏ rác : Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương nói: “Chúng tôi thực sự quan ngại về những diễn biến mới đây ở Việt Nam. Điều đó sẽ làm tổn hại quan hệ tốt đẹp giữa hai nước”. “Chúng tôi hy vọng chính phủ Việt Nam sẽ có thái độ trách nhiệm đồng thời có các biện pháp hiệu quả nhằm ngăn chặn những sự việc làm tổn hại đến quan hệ song phương như vậy“.
Sau khi ra lệnh xong , bọn Tàu vẫn cứ ngoan cố cho Hoàng Sa & Truo`ng sa là của họ : “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các quần đảo và vùng biển lân cận ở khu vực biển Nam Trung Hoa“.
Quốc Hương (Hà Nội)
========PHẢN ỨNG TỔNG QUÁT CỦA KHỐI NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI=========
TỪ QUỐC NỘI SÀI GÒN: MỘT NGƯỜI BỐ UẤT ỨC
Loi than tho cua mot nguoi Bo gia uat uc .
Tôi viết lá thư này mong nhận được sự đồng cảm, sự chia sẻ cho tâm trạng một người dân bình thường như tôi. Cũng xin thể tất cho tôi viết không được mạch lạc cho lắm, vì tâm trí tôi đang bị rối loạn, hoang mang, cay đắng … Vài bữa nay ở Sài Gòn nhiều việc càng nghĩ càng đớn đau.
Tôi có một cậu con trai, năm nay 17 tuổi, cái độ tuổi chuẩn bị cho nghĩa vụ quân sự. Theo suy nghĩ thông thường, đến tuổi thì phải đi bộ đội, đi để giữ gìn đất nước. Thế nhưng, theo những diễn biến những ngày gần đây tại Sài Gòn, tôi bị day dứt : tôi sẽ cho con tôi đi bộ đội, theo luật qui định về nghĩa vụ quân sự, nói là đi để giữ gìn biên cương của tổ quốc Việt Nam. Có thật vậy không ? Hay là đi để bảo vệ Đảng Cộng sản VN ?
Tôi, cũng như bao bậc cha mẹ khác, rứt ruột đẻ con, nuôi con ăn học trưởng thành, để rồi giao con mình đi cầm súng để bảo vệ cho nhóm cầm quyền Đảng Cộng sản VN thì đau quá, nhục quá ! Tôi muốn mọi người ở ngoài biên cương VN biết được sự thật sau : ở các tổ dân phố, các phường vài ngày qua tổ chức họp người dân, yêu cầu các bậc cha mẹ, người lớn kiểm soát không cho con của mình tham gia biểu tình (nghe nói vào ngày chủ nhật 16/12 hoặc trong sắp tới).
Mà biểu tình chống ai ? Chống Trung Quốc ngang nhiên lập thành phố trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Một chính quyền gì mà lại ngăn cản người dân biểu thị lòng yêu nước ? Tôi thật không hiểu nổi. Tôi ngồi dự họp tổ dân phố, nghe người ta phổ biến là trong cuộc biểu tình vừa rồi, có người dẫm lên lá cờ Trung Quốc, và đó là “quá khích”. Trời ơi ! Trong khi bọn Trung Quốc dẫm đạp lên mảnh đất Tổ quốc VN thì không sao, còn người dân VN mình dẫm lên lá cờ vì quá uất ức thì chính quyền VN e ngại “làm tổn hại đến quan hệ hai nước VN – TQ”, chính quyền tổ chức những cuộc họp “khủng bố” tinh thần của chính người dân VN ! Không có văn bản, mà ranh ma tổ chức thông báo miệng đến các tổ dân phố.
Tôi bần thần tự hỏi, chính quyền hiện hành có còn là chính quyền của dân tộc VN hay không ? Tự hỏi để rồi ngầm trả lời : không, không, không , chính quyền này không phải là của dân tộc VN, mà là chính quyền của đảng cộng sản VN ! Tôi và bao bậc cha mẹ khác lẽ nào đưa con mình đi cầm súng để bảo vệ đảng nô lệ như thế này ??? Tôi đã rớt nước mắt. Tệ hại quá, tôi phải “nướng” con tôi cho lũ cầm quyền phản dân tộc này ? Tôi sẽ phải làm thế nào ? Cầm súng bảo vệ đất nước thì tôi không sợ, cầm súng chống bọn xâm lấn Trung Quốc thì tôi sẵn sàng đưa con tôi lên đường ! Còn cầm súng, hi sinh con cái chúng tôi cho quyền lợi riêng của đảng cộng sản VN thì khác nào sự ngu xuẩn, hơn nữa, đó là sự nhục nhã ! Còn nếu không đưa con đi nghĩa vụ, tôi sẽ bảo nó trốn cách nào ? Giá như gia đình tôi có tiền của, như đám cán bộ nắm quyền, tôi sẽ “chạy” được cho con ra nước ngoài du học. Hàng triệu gia đình như gia đình tôi phải chạy ăn từng bữa thì làm gì có khả năng cao sang đó ? Chúng tôi sẽ đưa con cái chúng tôi trốn đi đâu?
Tôi đang phải trốn chạy, ngay trên chính quê hương VN của mình sao ???
Một sự thật nữa : ở các trường đại học, trong vài ngày qua, xuất hiện cái sự “phổ biến” từ phía đoàn thanh niên cộng sản HCM, cũng là phổ biến miệng, không ra văn bản, cho biết là những sinh viên vừa qua tham gia biểu tình sẽ bị đuổi học ! Yêu nước thì bị đuổi học ! Đòn phép khốn nạn này, tôi nghĩ, làm cho nhiều sinh viên nghèo khó rụt rè, sợ hãi. Cả một tương lai tối sầm, thất học thì làm sao thay đổi cuộc đời, giúp đỡ gia đình ? Cứ ngỡ là biểu thị lòng yêu nước, sẽ được chính quyền ủng hộ ! Chính quyền này, đảng cộng sản VN này không dám trấn áp người biểu tình (sẽ ăn nói ra làm sao trước dân, khác nào lộ ra bộ mặt bán nước, nô lệ ngoại bang), thay vì thế đi trấn áp ngầm !
Làm cách nào để giúp người dân VN thoát khỏi nỗi nhục này ?
Thông cảm cho tôi, khi nỗi sợ của tôi vẫn còn : viết lá thư mà không dám ký tên thật (cũng xin quí vị đừng nêu nickname, đừng nêu địa chỉ email của tôi). Tôi cầu khẩn quí vị lên tiếng trước quốc tế, cho biết rõ ràng những thủ đoạn hèn hạ kể trên (họp tổ dân phố, họp trong truờng đại học, để khủng-bố-tinh-thần) của chính quyền VN (nói đúng hơn là chính quyền của đảng cộng sản VN) để đè bẹp lòng yêu nước vừa trồi dậy thì phải chết tiệt hẳn. Xin quí vị lên tiếng thay cho tôi, lên tiếng giùm cho người dân trong nước VN. Được vậy, tôi sẽ nhớ ơn đến tận cuối đời.
Ngày xưa, Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc bán nước, đáng phỉ nhổ ! Lúc Thống, Tắc bán nước thì có bao giờ chúng dại mà nói thẳng ra trước toàn dân, mà chúng cũng phải đưa lý do về xây dựng quan hệ hữu hảo với thiên triều chứ ! Tôi đang nhìn thấy một kịch bản được lặp lại. Kính thư, Một người bố gia đình vừa sợ vừa uất
CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỰ DO ÚC CHÂU LÊN TIẾNG
TUYÊN CÁO V/V TRUNG CỘNG CƯỠNG CHIẾM CÁC ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM
Đầu tháng 12, 2007, Trung Cộng đã tuyên bố thành lập đơn vị hành chánh Tam Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam để quản lý ba quần đảo ngoài khơi Thái Bình Dương, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Đây là một hành động ngang ngược của Trung Cộng nhằm chính thức hóa việc cưỡng chiếm hai quần đảo thuộc chủ quyền Việt Nam mà cha ông chúng ta đã trao lại cho con cháu. Một lần nữa Trung Cộng lại thể hiện thái độ bá quyền trong những liên hệ bang giao xưa nay với chế độ Cộng Sản Việt Nam nhu nhược.
CĐNVTD/Úc Châu:
1. Khẳng định rằng các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ thuộc chủ quyền của nước VN, đã được chứng minh rõ ràng qua nhiều văn kiện lịch sử rằng người Việt đã khai thác và cư ngụ tại đó từ thế kỷ 17.
2. Cực lực lên án thái độ khiếp nhược của chế độ CSVN bất xứng, đã hành xử như một chư hầu của Trung Cộng, thể hiện qua bức Công Hàm ngày 14/9/1958 mà Phạm Văn Đồng ký gửi cho Chu Ân Lai công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên vùng biển Đông, qua hai Hiệp Định Phân Định Vùng Biển và Hiệp Định về Biên Giới Trên Đất Liền năm 2000 cắt đất và biển của tổ quốc cho Trung Cộng, cho đến những sự kiện xẩy ra gần đây như việc im tiếng, bất động trước việc hải quân TC bắn chết và bắt giữ ngư dân VN trái phép ở biển Đông năm 2005 và 2007.
3. Đòi hỏi CSVN, thay vì chỉ lên tiếng qua loa lấy lệ như hiện nay, phải phản kháng mạnh mẽ và quyết liệt đối với Trung Cộng, và có những hành động thực tế về công pháp quốc tế và quân sự nhằm bảo vệ lãnh thổ của đất nước. Tối thiểu là phải chính thức tuyên bố vô hiệu hóa bức Công Hàm bán nước năm 1958 của Phạm Văn Đồng và hai Hiệp Định năm 2000 cắt đất cắt biển cho Trung Cộng.
4. Ủng hộ những cuộc biểu tình của các sinh viên, thanh niên, nam phụ lão ấu VN trong nước phản đối Trung Cộng xâm phạm lãnh thổ của VN.
5. Kêu gọi nhân dân và quân đội trong nước hãy đứng lên bảo vệ tổ quốc Việt Nam thiêng liêng và đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN phải làm mọi cách để lấy lại gia tài đất, biển của tổ tiên như Ải Nam Quan, đã mất về tay Trung Cộng.
6. Cực lực lên án hành động cướp đất trắng trợn của Trung Cộng, vi phạm trầm trọng chủ quyền của quốc gia VN.
7. Kêu gọi các quốc gia yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới hãy vận động để ngăn chặn Trung Cộng ngang nhiên cướp đất của nước khác và áp đặt bá quyền trên vùng biển Đông, đi ngược lại tinh thần của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và đe dọa hòa bình tại Đông Nam Á.
Đồng tuyên cáo tại Úc Châu ngày 12 tháng 12 năm 200
CĐNVTD/Liên bang Úc Châu: Nguyễn Mạnh Tiến CĐNVTD/NSW: Võ Trí Dũng CĐNVTD/VIC: Nguyễn Thế Phong CĐNVTD/QLD: Bùi Trọng Cường CĐNVTD/Nam Úc: Đoàn Công Chánh Phú Lộc CĐNVTD/ACT: Lê Công CĐNVTD/Bắc Úc: Lê Tấn Thiện CĐNVTD/Wollongong: Trần Hương Thủy CĐNVTD/ Tây Úc: Phạm Lê Hoàng Nam
90 ĐOÀN THỂ HẢI NGOẠI ĐỒNG KHẲNG ĐỊNH
90 Đoàn Thể, Tổ Chức Cùng Khẳng Định Lập Trường về Hoàng Sa - Trường Sa
Ngày 10 tháng 12, 2007 -- Trước việc Trung Cộng tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để quản trị một số quần đảo, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa, 45 tổ chức, đoàn thể Việt Nam trên khắp thế giới, kể cả Việt Nam, đã cùng ký tên chung trong bản Khẳng Định Lập Trường để xác định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này.
Sau khi nêu rõ các hành động của Trung Cộng lấn chiếm lãnh thổ và hải đảo của Việt Nam, bản Khẳng Định Lập Trường đề ngày 7 tháng 12 năm 2007, đã cực lực lên án chủ nghĩa bá quyền của Trung Cộng và kêu gọi "dân chúng Việt Nam tích cực biểu tỏ thái độ phản đối hành vi ngang ngược của Trung Quốc, cụ thể nhất là tụ tập biểu tình trước sứ quán và lãnh sự quán Trung Quốc ở khắp nơi, đặc biệt tại Hà Nội và Sài Gòn".
Bản Khẳng Định Lập Trường cũng trình bày một số sự kiện xác định trách nhiệm của đảng CSVN trong việc làm mất đất đai và lãnh hải vào tay bá quyền phương Bắc.
Được biết vì thời gian gấp rút, một số đoàn thể không thông báo kịp thời sự tham gia. Vì vậy danh sách các đoàn thể ký tên sẽ còn tiếp tục gia tăng trong những ngày tới. Dưới đây là nguyên văn bản Khẳng Định Lập Trường và danh sách 45 tổ chức, đoàn thể với danh tánh người đại diện ký tên, tính đến trưa Thứ Hai, 10 tháng 12 năm 2007:
Bản Khẳng Định Lập Trường của Người Việt Trên Toàn Cầu về Hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 2 tháng 12 năm 2007, nhà cầm quyền CS Trung Quốc lại đi một bước nữa trong việc lấn lướt chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa khi tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để quản trị một số quần đảo, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Quyết định này là điểm kết của một chuỗi các hành động ngang ngược trong việc chiếm cứ các hải đảo của Việt Nam, gồm:
Ngày 19 tháng Giêng năm 1974, dùng hải quân cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa; Ngày 14 tháng Ba năm 1988, chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa; Ngày 14 tháng Tư năm 1988, tuyên bố sát nhập 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam.
Trước các sự kiện trên, chúng tôi, đại diện các đoàn thể Người Việt khắp nơi trên thế giới cùng lên tiếng thay cho những người Việt quan tâm đến đất nước:
Cực lực lên án chủ nghĩa bá quyền của Trung Quốc, thể hiện cụ thể và thô bạo qua việc dùng vũ lực cưỡng chiếm lãnh thổ và lãnh hải các nước lân bang;
Hoàn toàn phủ nhận chủ quyền Trung Hoa trên các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa;
Long trọng kêu gọi các quốc gia yêu chuộng hoà bình và công lý làm mọi cách để Trung Quốc hoàn trả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về cho Việt Nam ;
Khẩn thiết kêu gọi dân chúng Việt Nam tích cực biểu tỏ thái độ phản đối hành vi ngang ngược của Trung Quốc, cụ thể nhất là tụ tập biểu tình trước sứ quán và lãnh sự quán Trung Quốc ở khắp nơi, đặc biệt tại Hà Nội và Sài Gòn.
Nhân đây, chúng tôi muốn nêu lên trách nhiệm to lớn của đảng CSVN trong việc làm mất lãnh thổ và lãnh hải vào tay Trung Quốc. Bằng chứng cụ thể là:
Công Hàm ngày 14 tháng Chín năm 1958 do Phạm Văn Đồng ký, nhân danh Thủ Tướng Chính Phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã "công nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc".
Nhà cầm quyền CSVN đã hoàn toàn im lặng trước việc Trung Quốc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa sau cuộc hải chiến diễn ra ngày 19 tháng 1 năm 1974 giữa Hải quân Trung Quốc và Hải quân Việt Nam Cộng Hoà.
Để có đủ khả năng bảo vệ giang sơn của cha ông để lại, dân chúng Việt Nam phải đoàn kết thành một khối. Sự đoàn kết này chỉ có thể đạt được trong môi trường sinh hoạt dân chủ, nhân quyền được tôn trọng, và nhân phẩm con người được đề cao. Chỉ có thế toàn dân mới ngồi lại được thành một khối trước hiểm hoạ ngoại xâm.
Ngày 7 tháng 12 năm 2007 90 ĐOÀN THỂ ĐỒNG KÝ
| | | |
============NHỮNG BẰNG CHỨNG CỦA CHỦ QUYỀN VIỆT NAM===========
NÓI VỚI GIỚI TRẺ VỀ BIỂN ĐÔNG
NÓI VỚI CÁC BẠN TRẺ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ BIỂN ĐÔNG DẬY SÓNG
L.S. NGUYỄN HỮU THỐNG, Dec 13, 2007
Cali Today News - Biển Đông với Hoàng Sa, Trường Sa và Vịnh Bắc Việt là một vấn đề rối mù. Rối mù về địa lý, về pháp lý và nhất là do chiến thuật hỏa mù của Trung Quốc. Do đó, chúng ta cần trình bày vấn đề minh bạch và đơn giản.
VỀ ĐỊA LÝ
Hoàng Sa gồm 13 đảo san hô tí hon tại các vĩ tuyến 17-15 Bắc, phía đông Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi.
Trường Sa với 9 đảo nhỏ hơn nữa tại các vĩ tuyến 12-7 Bắc, dọc từ Cam Ranh về Nam Cà Mau. Có khoảng 500 đảo, cồn, đá, bãi nằm rải rác trên biển cả, từ Việt Nam qua Phi Luật Tân, không có thường dân cư ngụ và không tựï túc về kinh tế. Trong số này chỉ có hơn 50 đơn vị có địa danh, gồm 28 cao địa và hơn 20 đơn vị đá chìm và bãi ngầm.
a) Từ 1974 Trung Quốc chiếm toàn thể HOÀNG SA gồm 13 đảo:
7 đảo phía Đông Bắc thuộc Nhóm Tuyên Đức (Amphitrite) trong đó có Đảo Phú Lâm (Woody Island) hình bầu dục, diện tích 1.3km2. Nếu là hình chữ nhật, bề dài có thể là 1300m và bề ngang 1000m (bằng một công viên nhỏ). Phú Lâm là đảo lớn nhất tại Hoàng Sa và Trường Sa.
6 đảo phiá Tây Nam thuộc Nhóm Nguyệt Thiềm (Crescent), trong đó có Đảo Hoàng Sa (Pattel) rộng 0.56km2 bằng 1/2 Phú Lâm và bằng 1/1000 Phú Quốc (568 km2). b) Vùng biển TRƯỜNG SA bao la (180.000 dậm vuông) rộng gấp 10 lần Hoàng Sa, nhưng chỉ có 9 tiểu đảo.
Việt Nam chiếm 3 đảo: Trường Sa (Spratley), Nam Yết (Namyit) và Sinh Tồn (Sincowe).
Phi Luật Tân chiếm 5 đảo: Bình Nguyên (Flat), Vĩnh Viễn (Nanshan), Bến Lộc (West York), Loại Tá (Loaita) và Thị Tứ (Thitu).
Đài Loan chiếm Đảo Thái Bình (Itu Aba).
Đảo Trường Sa diện tích 0.13km2, bằng 1/10 Phú Lâm.
Có tin mới đây Đài Loan đã rút quân khỏi Đảo Thái Bình, hòn đảo lớn nhất tại Trường Sa.
Ngoài 3 đảo, Việt Nam còn chiếm 3 cồn (cay) là An Bang (Amboyna), Song Tử Tây (SouthWest) và Sơn Ca (Sand), cùng 7 đá nổi, 9 đá chìm và bãi ngầm, tổng cộng 22 đơn vị.
Ngoài 5 đảo, Phi Luật Tân còn chiếm 3 cồn , 2 đá nổi và 8 đá chìm, tổng cộng 18 đơn vị.
Trung Quốc chiếm 2 đá nổi (reef) là Đá Chữ Thập (Fiery Cross) và Đá Ga Ven (Gaven), cùng 6 đá chìm, tổng cộng 8 đơn vị.
Câu hỏi đặt ra là: Tại sao từ 1974 khi Trung Quốc chiếm toàn thể Hoàng Sa, và nhất là từ 1988 khi xâm lấn Trường Sa, họ lại không thừa thắng xông lên để chiếm thêm một số hải đảo mà phải lấy một hòn đá (Đá Chữ Thập) làm địa điểm chỉ huy ?
Thực ra Trung Quốc chỉ muốn thương thảo song phương với các quốc gia duyên hải về phương thức khai thác chung dầu khí tại thềm lục địa (không phải của họ).
VỀ PHÁP LÝ
Địa cầu gồm 3 phần đất và 7 phần nước. Nếu có luật quốc tế cho các lãnh thổ thì cũng phải có Luật Biển cho vùng lãnh hải. Năm 1982, 119 quốc gia ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (Law of the Sea Convention hay Los Convention) trong đó có Trung Quốc và Việt Nam.
Sau đây là định nghĩa về biển lịch sử, đường căn bản, biển lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh te,á thềm lục địa, hải đảo và quần đảo.
1. Biển Lịch Sử ( historic waters).
Theo Toà Án Quốc Tế và Điều 8 Luật Biển, biển lịch sử là nội hải nằm về phía đất liền, bên trong đường căn bản của biển lãnh thổ. Như vậy biển lịch sử không thể là Nam Hải cách lục địa Trung Hoa tới 2 000 cây số.
2. Đường căn bản (baselines) là lằn nước thủy triều xuống thấp.
3. Biển lãnh thổ (territorial sea) rộng 12 hải lý tính từ đường căn bản ra khơi.
4. Nối tiếp biển lãnh thổ 12 hải lý là Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý để đánh cá. (Exclusive Economic Zone, 200-mile-fishery zone).
5. Vùng Đặc Quyền Kinh Tế trùng điệp với Thềm Lục Địa (Continental Shelf) 200 hải lý để khai thác dầu khí.
Thềm lục địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải trong việc khai thác dầu khí. Quyền này không tùy thuộc vào điều kiện chiếm cứ (occupation) hay công bố (declaration) (Điều 77). Do đó việc Trung Cộng chiếm đóng một số đảo, đá, bãi tại Hoàng Sa và Trường Sa không có tác dụng tước đọat chủ quyền của Việt Nam tại thềm lục địa.
6. Hải đảo và quần đảo
Các hải đảo (như Đài Loan hay Tích Lan) được quyền có biển lãnh thổ 12 hải lý, và quy chế vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý. Tuy nhiên, các tiểu đảo không có thường dân cư ngụ và không tự túc về kinh tế (như Hoàng SaTrường Sa) không được hưởng quy chế này. (Điều 121).
Trong án lệ Lybia/Malta (l985) Tòa án không đồng hóa đảo Malta với lục địa, dầu rằng Malta có 350 ngàn dân cư ngụ trên một diện tích 122 dậm vuông.
Theo định nghĩa, quần đảo bao gồm các hải đảo nằm san sát bên nhau và có diện tích ít nhất bằng 1/9 vùng biển nơi tọa lạc (như các quần đảo Nam Dương hay Phi Luật Tân).
Như vậy:
1) Hoàng Sa Trường Sa không phải là “quần đảo” luật định vì có diện tích quá nhỏ (4 dặm vuông) trong một vùng biển bao la (180 ngàn dặm vuông).
2) Các tiểu đảo (trên 20 hòn) tại Hoàng Sa Trường Sa không phải là “đảo” luật định, và không được hưởng quy chế 200 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí.
ĐẤU LÝ VÀ ĐẤU PHÁP
Năm l982 với tư cách một ngũ cường, Trung Hoa hoan hỉ ký Công Ước về Luật Biển. Ký xong, Bắc Kinh mới thấy lo! Những điều khỏan trong Công Ứóc đã quá rõ rệt. Các quốc gia duyên hải chỉ được hưởng quy chế 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa kể từ biển lãnh thổ.
Trong khi đó Trường Sa cách lục địa Trung Hoa khoảng 750 hải lý, nên không nằm trong thềm lục địa của Trung Hoa. Hoàng Sa cũng cách Hoa Lục lối 270 hải lý.
Tại bờ biển Việt Nam, thềm lục địa chạy thoai thoải từ dãy Trường Sơn ra Hoàng Sa.Về địa hình, Hoàng Sa là một hành lang của Trường Sơn từ Cù Lao Ré ra khơi. Đây là những bình nguyên của thềm lục địa Việt Nam trên mặt biển. Năm 1925, nhà địa chất học quốc tế Tiến Sĩ Khoa Học A. Krempf, Giám Đốc Viện Hải Học Đông Dương, sau 2 năm nghiên cứu và đo đạc đã lập phúc trình và kết luận: “VỀ MẶT ĐIA CHẤT, NHỮNG ĐẢO HOÀNG SA LÀ THÀNH PHẦN CỦA VIỆT NAM” (Géologiquement les Paracels font partie du Vietnam).
Tại Trường Sa cũng vậy. Về độ sâu và địa hình đáy biển, các đảo cồn đá bãi Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của thềm lục địa Việt Nam. Tại bãi Tứ Chính , nơi khai thác dầu khí, biển sâu không tới 400m, và tại vùng đảo Trường Sa độ sâu chỉ tới 200m. Bãi Tứ Chính cách bờ biển Việt Nam khoảng 190 hải lý và cách lục địa Trung Hoa tới 780 hải lý. Trường Sa cách Việt Nam 220 hải lý và cách Hoa Lục 750 hải lý. Từ Trường Sa về bờ biển Trung Hoa có rãnh biển sâu hơn 4.600m.
Bị ràng buộc bởi Luật Biển với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý, Trung Hoa tung ra CHIẾN DỊCH HỎA MÙ, gây bất ổn, tranh chấp lung tung, thao diễn, phóng hỏa tiễn, lấn chiếm bừa bãi tại miền bờ biển để gây tiếng vang. Mục đích để phá rối an ninh trật tự, làm cản trở giao thông trên mặt biển, tạo áp lực, hù dọa và khuyến dụ các quốc gia Đông Nam Á hãy tạm gác vấn đề tranh chấp chủ quyền hải đảo để cùng nhau KHAI THÁC DÂÙ KHÍ CHUNG TẠI THỀM LỤC ĐỊA VÀ ĐÁNH CÁ CHUNG TẠI VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ.
BIỂN LICH SỬ: THỦ ĐẮC CHỦ QUYỀN DO KHÁM PHÁ
Năm 1982, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả, ngày đêm nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10 năm để kết luận rằng Nam Hải là Biển Lịch Sử của Trung Hoa Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc nằm sát bờ biển Việt Nam, cách Quảng Ngãi 40 hải lý, cách Natuna (Nam Dương) 30 hải lý, và cách Palawan (Phi Luật Tân) 25 hải lý. Nó chiếm trọn 3 tuí dầu khí: Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Natuna của Nam Dương và Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân
Trung Quốc đưa ra nhiều tài liệu lịch sử để chứng minh rằng từ đời Hán Vũ Đế 100 ngàn hải quân Trung Hoa đi tuần thám đã khám phá các đảo Nam Hải. Sự khám phá này được tiếp tục dưới đời nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh và nhà Thanh.
Những tài liệu lịch sử này không đáng tin cậy:
1. Chính sách bế quan tỏa cảng.
Suốt chiều dài lịch sử, Trung Hoa không bao giờ chủ trương chinh phục đại dương. Thuyết bế quan tỏa cảng được áp dụng từ đời nhà Tần (thế kỷ thứ 3 trước công nguyên). Vạn Lý Trường Thành không chỉ là một kiến trúc mà còn là một nhân sinh quan. Miền bờ biển được coi là nơi hoang vu man rợ. Đảo Hải Nam là chốn lưu đày các tù nhân biệt xứ. Cho đến thế kỷ 20, chính sách bế quan tỏa cảng vẫn được thi hành.
Với tâm lý tự cô lập, không thể có 100 ngàn quân Trung Hoa đời Tây Hán đi khám phá các đảo san hô tí hon tại Nam Hải. Rất có thể đó chỉ là 10 vạn quân của Tào Tháo mượn lệnh Hán Đế đi xâm chiếm Đông Ngô và đã bị Chu Du đánh tan trong trận Xích Bích.
Các chuyến hải hành đời nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh, và nhà Thanh chỉ là những cuộc nam chinh nhằm thôn tính Việt Nam. Lịch sử đã ghi việc Lê Đại Hành phá tan thủy binh của Lưu Trừng nhà Tống, quân Trần Hưng Đạo bắn chết Toa Đô và bắt sống Ô Mã Nhi nhà Nguyên, Lê Lợi đánh bại hải quân tiếp viện cho Vương Thông nhà Minh, và Quang Trung phá tan hải quân của đề đốc Hứa Thế Hanh nhà Thanh. Việc các thủy binh đời Minh Thành Tổ đi thăm viếng các quốc gia Á Châu nếu có, cũng không có tác dụng thủ đắc chủ quyền tại các hải đảo. Từ thế kỷ l5, các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha như Vasco de Gama và Magellan đã đi xuyên 3 đại dương từ Đại Tây Dương, vượt Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, khám phá hàng ngàn hải đảo kể cả Phi Luật Tân và Guam. Nhưng Bồ Đào Nha cũng không đòi chủ quyền các hải đảo này.
2. Danh xưng Nam Hải.
Theo chính các học giả Trung Hoa, Nam Hải là tên biển của Hoa Nam, cách Quảng Đông 50 dậm về phía Nam. Các nhà hàng hải Tây Phương muốn cho tiện nên gọi đó là Biển Nam Hoa (South China Sea) (ngọai nhân xưng Nam Trung Quốc Hải).
Theo Tự Điển Tối Tân Thực Dụng Hán Anh xuất bản tại Hồng Kông năm 1971 thì “Nam Hải là vùng biển kéo dài từ Eo Biển Đài Loan đến Quảng Đông”. (The Southern Sea stretching from the Taiwan Straits to Kwantung.)
Theo Từ Điển Từ Hải xuất bản năm 1948, thì Nam Hải thuộc chủ quyền hải phận chung của 5 nước là Trung Hoa, Việt Nam, Mã Lai, Phi Luật Tân và Đài Loan.
DO ĐÓ NAM HẢI KHÔNG PHẢI LÀ BIỂN CỦA TRUNG HOA VỀ PHÍA NAM. CŨNG NHƯ ẤN ĐỘ DƯƠNG KHÔNG PHẢI LÀ ĐẠI DƯƠNG CỦA ẤN ĐỘ.
Năm 1983, Trung Quốc vẽ lại bản đồ, đòi chủ quyền hải phận toàn thể vùng biển Đông Nam Á. Họ coi Nam Hải là một thứ nội hảiï theo kiểu Đế Quốc La Mã coi Địa Trung Hải là biển của chúng tôi (Mare Nostrum).
3. Luật pháp và án lệ.
Theo Tòa Án Quốc Tế, biển lịch sử chỉ là nội hải. Hơn nữa, Điều 8 Công Ước về Luật Biển (l982) đã kết thúc mọi cuộc tranh luận khi quy định: “Biển lịch sử hay nội hải của một quốc gia nằm về phía đất liền, bên trong đường căn bản của biển lãnh thổ” [The International Court of Justice has defined historic waters as internal waters. “Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal waters of the State” Art.8 Los Convention (1982)].
Như vậy Nam Hải không phải là Biển Lịch Sử của Trung Hoa, vì nó là ngoại hải và cách bờ biển Trung Hoa tới hai ngàn cây số.
Và công trình 10 năm nghiên cứu của 400 học giả Trung Quốc chỉ là công “dã tràng xe cát Biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì!”
THỦ ĐẮC CHỦ QUYỀN DO CHIẾM CỨ
Theo công pháp quốc tế, muốn thủ đắc chủ quyền các đất vô chủ (terra nullius), sự chiếm cứ phải có những đặc tính sau đây:
a) Chiếm cứ thực sự
Tại Trường Sa trong số 28 cao địa, Trung Hoa chỉ chiếm 2 đá nổi, trong khi Việt Nam chiếm 13. Và trong hơn 50 đơn vị có địa danh, Trung Hoa chỉ chiếm 8, so với 22 của Việt Nam.
b) Chiếm cứ hòa bình.
Trong những năm 1974 và 1988 Trung Hoa dùng võ trang chiếm Hoàng Sa và một số đá, bãi tại Trường Sa. Tuy nhiên sự chiếm cứ không có tính hòa bình nên không được luật pháp bảo vệ. Cũng như thời Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật Bản chiếm Hoàng Sa và Trường Sa bằng võ lực nên không có chủ quyền hợp pháp.
c) Chiếm cứ liên tục và trường kỳ
Không có sự phủ nhận rằng ít nhất từ 1816, dưới đời vua Gia Long, Việt Nam đã chiếm cứ công khai, liên tục, hòa bình các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bia chủ quyền do người Pháp dựng năm 1938 có ghi rõ:
République Francaise (Cộng Hòa Pháp) Empire d’Annam (Vương Quốc Việt Nam) Archipel des Paracels (Quần Đảo Hoàng Sa) 1816 -Ile de Pattle 1938 (Đảo Hoàng Sa)
Lịch sử Trung Hoa không mang lại bằng chứng nào cho biết họ đã liên tục chiếm cứ Hoàng Sa, Trường Sa từ đời Hán Vũ Đế hay ít nhất từ đời Mãn Thanh.
Sau Đệ Nhị Thế Chiến, khi quân đội Nhật Bản rút lui, Trung Hoa chiếm một phần Hoàng Sa (Nhóm Tuyên Đức phía Đông Bắc). Năm 1974 họ dùng võ trang chiếm nốt Nhóm Nguyệt Thiềm phía Tây Nam. Tại Trường Sa lần đầu tiên, năm l988, họ chiếm một số đá, bãi bằng võ lực. Sự chiếm cứ này vô hiệu vì không có tính hòa bình. Vả lại tới l974 và l988 các đảo Hoàng Sa-Trường Sa đã do Việt Nam chiếm đóng, nên không thể coi là đất vô chủ (terra nullius).
d) Hơn nữa sự chiếm cứ phải được thừa nhận bởi các quốc gia liên hệ.
1) Năm 1951 tại Hội Nghị Cựu Kim Sơn, 51 quốc gia đồng minh ký Hiệp Ước Hòa Bình Nhật Bản trong đó Nhật Bản từ bỏ chủ quyền về Hoàng Sa Trường Sa, nhưng không nói để trả cho nước nào. Đại biểu Liên Xô yêu cầu Hội Nghị biểu quyết trả cho Trung Hoa. Nhưng Hội Nghị đã bác bỏ thỉnh cầu này với 46 phiếu chống. Sau đó phái đòan Việt Nam lên diễn đàn minh thị công bố chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa Trường Sa, và không gặp sự phản kháng nào. 2) Sự thừa nhận chỉ có nghĩa nếu xuất phát từ các quốc gia duyên hải liên hệ. Vì các đảo này tọa lạc tại Biển Đông Nam Á, nên chỉ các quốc gia Đông Nam Á mới có thẩm quyền thừa nhận. Mà cho đến nay tất cả các quốc gia Đông Nam Á không nước nào thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa tại Hoàng Sa Trường Sa. 3) Tuy nhiên Bắc Kinh còn viện dẫn văn thư ngày 14-9-1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi Thủ Tướng Chu Ân Lai để chủ trương rằng Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Về mặt pháp lý sự thừa nhận này vô giá trị. Vì Trường Sa HoàngSa thuộc lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa. Vấn đề lãnh thổ và lãnh hải thuộc thẩm quyền của quốc dân do quốc hội đại diện, chứ không thuộc hành pháp là cơ quan chấp hành luật pháp của quốc hội. Vả lại Quốc Hội Việt Nam trong những năm 1956 và 1966 đã công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Một văn thư của Chính Phủ Hà Nội năm 1958 không có hiệu lực thừa nhận chủ quyền các hải đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa hồi đó.
THỀM LỤC ĐỊA
Vấn đề thực sự tại Trường Sa Hoàng Sa là vấn đề thềm lục địa nơi khai thác dầu khí.
Về Trường Sa. Tại Trường Sa bãi dầu khí Tứ Chính (Vanguard) cách bờ biển Việt Nam khoảng 190 hải lý và cách bờ biển Trung Hoa lối 780 hải lý, nên thuộc thềm lục địa Việt Nam.
Về Hoàng Sa. Hoàng Sa cách bờ biển Trung Hoa khoảng 270 hải lý và cách bờ biển Việt Nam lối 155 hải lý nên thuộc thềm lục địaViệt Nam. Khỏang cách từ cù lao Ré (Quảng Ngãi) ra đảo Tri Tôn chỉ có 123 hải lý. Về mặt địa hình đáy biển Hoàng Sa là sự tiếp nối tự nhiên của dẫy Trường Sơn từ đất liền chạy ra biển. Có thể nói Hoàng Sa là những bình nguyên của thềm lục địa Việt Nam trên mặt biển. Chiếu Luật Biển 1982 quyền của các quốc gia duyên hải tại thềm lục địa không tùy thuộc vào sự chiếm cứ (Điều 77). Do đó sự chiếm đóng võ trang của quân đội Trung Hoa không có tác dụng tước đoạt chủ quyền của Việt Nam tại thềm lục địa Hoàng Sa.
CÁC TIÊU CHUẨN:
Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc và Toà Án Quốc Tế đưa ra 10 tiêu chuẩn để phân ranh hải phận hay đồng hóa hải đảo vào lục địa:
1) Vị trí của các đảo đối với bờ biển tiếp cận. Tại vùng Hoàng Sa, đảo Tri Tôn chỉ cách lục địa Việt Nam 135 hải lý, trong khi đảo Hoàng Sa cách lục địa Trung Hoa tới 270 hải lý. 2) Diện tích các hải đảo so sánh với chiều dài bờ biển tiếp cận. Đảo Hoàng Sa quá nhỏ bé (0.56km2) chỉ bằng 1/1000 đảo Phú Quốc (568km2), trong khi bờ biển Việt Nam dài gấp 10 lần bờ đảo Hải Nam phía tiếp giáp Hoàng Sa. 3) Về độ sâu và địa hình đáy biển, các đảo, cồn, đá, bãi Hoàng Sa và Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên từ lục địa Việt Nam ra biển. Độ sâu tại Hoàng Sa là 900m và tại Trường Sa là 200m. Từ Hoàng Sa Trường Sa về Hoa Lục có 2 rãnh biển sâu hơn 2300m và 4600m. 4) Về mặt địa chất, sau 2 năm nghiên cứu và đo đạc, năm 1925 Tiến Sĩ Khoa Học A. Krempt xác nhận rằng “Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam “. 5) Về dân số, các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không có thường dân cư ngụ, và không thể tự túc về kinh tế. Trong khi đó số dân cư ngụ tại miền bờ biển Việt Nam đông gấp mười số dân sinh sống tại đảo Hải Nam. 6) Về sinh thực học và khí hậu tại Hoàng Sa và Trường Sa, các đảo san hô cũng như cây cỏ và sinh vật tiêu biểu cho vùng nhiệt đới (Việt Nam ), chứ không thấy ở vùng ôn đới (Trung Hoa).
7) Về Khu Đặc Quyền Kinh Tế (để đánh cá), Biển Đông (với Hoàng Sa và Trường Sa) là khu vực đánh cá căn bản của Việt Nam. Trong khi đó, ngoài hải phận về phía Tây, Đảo Hải Nam còn được thêm 200 hải lý để đánh cá về phía Đông thông qua Thái Bình Dương,. 8) Tại thềm lục địa Việt Nam những vùng có dầu khí nằm giữa Vịnh Bắc Việt và khu bãi Tứ Chính phía Đông Nam Cà Mau. Đây là nơi kết tầng các thủy tra thạch chứa đựng các chất hữu cơ do nước phù sa sông Hồng Hà và sông Cửu Long đổ ra biển từ hàng triệu năm nay. Do đó dầu khí nếu có là do các chất hữu cơ từ lục địa Việt Nam chứ không phải từ Hoa Lục. Hơn nữa, ngoài hải phận về phía Tây, Đảo Hải Nam còn được 200 hải lý thềm lục địa để khai thác dầu khí về phía Đông thông qua Thái Bình Dương. 9) Biển Đông với Hoàng Sa Trường Sa có ảnh hưởng kinh tế, chiến lược và an ninh quốc phòng mật thiết với Việt Nam hơn là Trung Hoa. Vì Trung Hoa còn có biển Hoàng Hải và Đông Trung Quốc Hải chạy thông qua Thái Bình Dương. 10) Các tài liệu, sách báo, họa đồ, các chứng tích lịch sử v...v... phải có tính xác thực. Dầu sao các tài liệu này không có giá trị bằng các yếu tố khách quan khoa học như địa lý, địa hình, địa chất, dân số, sinh thực học, khí hậu cùng những yếu tố về ảnh hưởng kinh tế, chiến lược và an ninh quốc phòng.
| | | |
VỀ VỊNH BẮC VIỆT
Vấn đề phân ranh thềm lục địa hay hải phận tại Vịnh Bắc Việt cũng phải được giải quyết theo 8 tiêu chuẩn: 1) Vị trí và sự hiện diện của các đảo 2) chiều dài bờ biển 3) mật độ dân số 4) độ sâu và địa hình đáy biển 5) địa chất 6) vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá 7) thềm lục địa để khai thác dầu khí 8) ảnh hưởng kinh tế, chiến lược và an ninh quốc phòng.
Đây là những điểm đặc thù ảnh hưởng đến việc phân định lãnh hải. Nếu đưa nội vụ ra trước Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa, Tòa Án Trọng Tài hay Tòa Án Quốc Tế, Việt Nam sẽ có ưu thế.
KẾ HOẠCH THÔN TÍNH BIỂN ĐÔNG CỦA TRUNG QUỐC
Theo Công Ước về Luật Biển, các quốc gia duyên hải chỉ có 200 hải lý, vừa là vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá, vừa là thềm lục địa để khai thác dầu khí. Trong khi đó Hoàng Sa tọa lạc ngoài lục địa Trung Hoa khoảng 270 hải lý, và Trường Sa cách Hoa Lục lối 750 hải lý, nên không thuộc hải phận của Trung Quốc. Đuối lý về pháp luật, Trung Quốc đưa ra thuyết Biển Lịch Sử để đòi chủ quyền toàn vùng Nam Hải.
Tuy nhiên Tòa Án Quốc Tế và Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển đã bác bỏ thuyết này.
Thất bại trong thuyết Biển Lịch Sử, Trung Quốc đề ra kế hoạch 4 bước để thôn tính Biển Đông về kinh tế:
1) Ký Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ để hủy bãi Hiệp Ước Bắc Kinh (theo đó Việt Nam được 63% hải phận và Trung Hoa được 37%). Nếu theo đường trung tuyến, Việt Nam sẽ được 53%. Tuy nhiên trên thực tế, phe Cộng Sản không theo đường trung tuyến và đã đưa ra 21 điểm phân định theo đó Việt Nam chỉ còn 45%.
2) Ký Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá để thiết lập Vùng Đánh Cá Chung rộng 61 hải lýù. Và trên thực tế Việt Nam chỉ còn 25% tại vĩ tuyến 17 và 32% tại vĩ tuyến 20. Với các tầu đánh cá lớn trọng tải trên 100 tấn, với các lưới cá dài 50 hải lý, và nhất là với sự đồng lõa cấu kết của đội tuần cảnh duyên hải, toàn thể Vịnh Bắc Việt sẽ biến thành khu vực đánh cá tự do cho đội kình ngư Trung Quốc mặc sức tận thu, vét sạch, và cạn tầu ráo máng.
3) Từ đánh cá chung đến hợp tác khai thác dầu khí chỉ còn một bước. Trong Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt có điều khoản quy định rằng, khi dầu khí được phát hiện, hai bên sẽ khởi sự hợp tác khai thác dầu khí.
Ngày nay tại Vịnh Bắc Việt, Trung Quốc đề ra nhiều dự án thăm dò và khai thác dầu khí, như “Dự Án Quỳnh Hải” phía Tây đảo Hải Nam và “Dự Án Vịnh Bắc Bộ” phía Bắc vĩ tuyến 20. (Khi dùng danh xưng “Vịnh Bắc Bộ”, Trung Quốc mặc nhiên nhìn nhận đó là Vịnh của Việt Nam về phía Bắc. Vì nếu là củaTrung Quốc thì phải gọi là Vịnh Nam Bộ mới đúng địa lý).
4) Với chính sách vết dầu loang, sau khi hoàn thành kế hoạch hợp tác đánh cá và khai thác dầu khí chung tại Vịnh Bắc Việt, hai bên sẽ tiến tới việc hợp tác đánh cá và khai thác dầu khí chung tại miền duyên hải Trung và Nam Việt. Điều đáng lưu ý là vùng lãnh hải này thuộc khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam nên thuộc chủ quyền tuyệt đối của Việt Nam.
Bằng kế hoạch thôn tính 4 bước, Bắc Kinh buộc Hà Nội hiến dâng toàn thể lãnh hải Việt Nam từ Vịnh Bắc Việt đến miền duyên hải Trung và Nam Việt tại Hoàng Sa Trường Sa theo lời cam kết của Hồ Chí Minh (Phạm Văn Đồng chỉ là kẻ thừa sai, bất lực, không có cả quyền bổ nhiệm một thứ trưởng theo lời tự thú của đương sự).
Như vậy, thuyết Biển Lịch Sử từng bị Tòa Án Quốc Tế và Công Ước về Luật Biển bác bỏ, nay lại có cơ hội trở thành hiện thực do kế hoạch 4 bước của Trung Quốc để thôn tính Biển Đông.
XÂM LẤN VÀ THÔN TÍNH
Sau đây là tiến trình xâm lấn và thôn tính Biển Đông của Trung Quốc trong 60 năm qua.
Năm 1945, sau Thế Chiến II, quân đội Trung Hoa giải giới quân đội Nhật đã thừa cơ chiếm cứ các đảo Hoàng Sa thuộc nhóm Tuyên Đức.
Năm 1946 Trung Hoa đổi tên vùng biển Nam Hải thành Đặc Khu Hành Chánh Hải Nam, và đổi tên Hoàng Sa thành Tây Sa và Trường Sa thành Nam Sa.
Năm 1956, để phát động chiến tranh võ trang thôn tính Miền Nam, Hà Nội phải trông cậy vào sự yểm trợ của Bắc Kinh. Vì sau cái chết của Stalin năm 1953, Liên Xô muốn chuyển sang đường lối Chung Sống Hòa Bình. Trong khi đó Mao Trạch Đông vẫn chủ trương “giải phóng 1000 triệu con người Á Châu khỏi ách Đế Quốc Tư Bản”.
Theo luật vay trả, muốn được cưu mang yểm trợ, phải có sự cam kết đền ơn trả nghĩa.
Ngày 15-6-1956, Ngoại Trưởng Ung Văn Khiêm minh thị tuyên bố:
“Hà Nội nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa”. Ngày 14-9-1958 do văn thư của Phạm Văn Đồng gởi Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước, xác nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa. Để biện minh cho lập trường của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, một tháng sau khi Trung Quốc tiến chiếm Trường Sa, báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của Đảng Cộng Sản, trong số ra ngày 26-4-1988 đã viết: “Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thì Việt Nam phải tranh thủ sự gắn bó của Trung Quốc, và ngăn chặn Hoa Kỳ sử dụng hai quần đảo nói trên”.
Và hồi tháng 5-1976, báo Saigon Giải Phóng trong bài bình luận việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực năm 1974, đã viết: “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi !”.
Có 3 lý do được viện dẫn cho lời cam kết của Hồ Chí Minh năm 1958:
a) Vì Hoàng Sa, Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 17-7 (Quảng Trị- Nam Cà Mâu) nên thuộc hải phận Việt Nam Cộng Hòa. Đối với Hà Nội nhượng Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc trong thời điểm này chỉ là bán da gấu!
b) Sau này, do những tình cờ lịch sử, nếu Bắc Việt thôn tính được Miền Nam thì mấy hòn đảo san hô tại Biển Đông đâu có ăn nhằm gì so với toàn thể lãnh thổ Việt Nam?
c) Giả sử cuộc “giải phóng Miền Nam” không thành, thì việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa Trường Sa thuộc lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa cũng có tác dụng làm suy yếu phe quốc gia về kinh tế, chiến lược và an ninh quốc phòng.
Năm 1972, sau thất bại Tết Mậu Thân (1968), để phát động chiến dịch Tổng Tấn Công Xuân Hạ hay Mùa Hè Đỏ Lửa, Hà Nội huy động toàn bộ các sư đoàn chính qui vào chiến trường Miền Nam. Để bảo vệ an ninh quốc ngoại chống sự phản kích của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ (như trong Chiến Tranh Triều Tiên), Hà Nội đã nhờ 300 ngàn quân Trung Quốc mặc quân phục Việt Nam đến trú đóng tại 6 tỉnh biên giới Bắc Việt.
Trong thời gian này, với thế thượng phong của người thầy cưu mang (và với sự ưng thuận mặc nhiên của Bắc Việt) Trung Quốc tự tiện ấn định Vùng Biển Cấm (Hands-Off Area) tại Vịnh Bắc Việt, cấm ngư dân Việt Nam không được lai vãng. Đây là vùng biển sâu giữa Vịnh có nhiều cá lớn và nhiều tiềm năng dầu khí.
Vùng Biển Cấm diện tích 7200 hải lý vuông, rộng 60 hải lý (1 kinh độ) từ kinh tuyến 107 Đông (phía Việt Nam) tới kinh tuyến 108 Đông (phía Hải Nam), và dài 120 hải lý (2 vĩ độ), từ vĩ tuyến 20 Bắc (Ninh Bình) đến vĩ tuyến 18 Bắc (Hà Tĩnh).
Theo lời thú nhận của Thứ Trưởng Ngoại Giao Lê Công Phụng từ đầu thập niên 1970, trong những cuộc thương thảo phân định lãnh hải, Trung Quốc “kiên trì” đề nghị thiết lập vùng đánh cá chung tại Vịnh Bắc Việt.
Với Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt và Hiệp Ước Hợp Tác Đánh Cá năm 2000, Vùng Biển Cấm 60 hải lý từ Ninh Bình đến Hà Tĩnh chồng lấn hay trùng điệp với Vùng Đánh Cá Chung 61 hải lý từ Ninh Bình đến Quảng Bình.
Năm 1974 sau khi Hoa Kỳ rút quân khỏi chiến trường Việt Nam, Trung Quốc thừa cơ chiếm nốt các đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Nguyệt Thiềm. Nếu hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh chiến đấu thì Bắc Việt chỉ làm thinh. Rồi trơ trẽn ngụy biện: “Chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi !” (Báo Saigon Giải Phóng).
Năm 1979 Chiến Tranh Việt Trung bùng nổ làm đình hoãn cuộc thương nghị về lãnh thổ và lãnh hải.
Tranh chấp Việt Trung kéo dài từ 1979 đến 1988. Trong thời gian này, ngày 12-11-1982 bằng văn thư gởi Liên Hiệp Quốc để công bố Đường Căn Bản của Biển Lãnh Thổ, Hà Nội đã xác định chủ quyền lãnh thổ Vịnh Bắc Việt theo Hiệp Ước Bắc Kinh (1887) theo đó Việt Nam được 63%.
Từ 1988, khi Liên Xô bị sa lầy tại A Phú Hãn và bị bối rối tại Đông Âu do phong trào Giải Thể Cộng Sản, Gorbachev đưa ra chủ trương không can thiệp vào công việc của các quốc gia đồng minh. Lúc này Hà Nội cũng bị sa lầy tại Căm Bốt. Vì Liên Xô không còn là chỗ tựa, Hà Nội phải muối mặt quay lại thần phục Bắc Kinh. Tháng 4, 1988, một tháng sau khi Trung Quốc xâm lấn Trường Sa, Báo Nhân Dân còn ngụy biện rằng Việt Nam đã nhượng Hoàng Sa Trường Sa cho Trung Quốc để ngăn chận Hoa Kỳ sử dụng hai quần đảo nói trên!
Năm 1991 khi Liên Xô sụp đổ, Việt Nam xin tái lập bang giao với Trung Quốc. Và năm 1992 khi Trung Quốc chiếm bãi dầu khí Vạn An phía Đông Nam Cà Mau, Việt Nam cũng chỉ phản kháng chiếu lệ.
Năm 1999, với Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung, Việt Nam nhượng cho Trung Quốc khoảng 800 km2 lãnh thổ Bắc Việt.
Năm 2000, với Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt, Hà Nội nhượng cho Bắc Kinh từ 12.000 km2 đến 21.000 km2 hải phận.
Ngày 25-12-2004 các phái bộ Trung-Việt tổ chức liên hoan ngày kỷ niệm 4 năm ký kết Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt và Hiệp Ước Hợp tác Nghề Cá.
Hai ngày sau, ngày 27-12-2004, nhà cầm quyền Bắc Kinh loan báo đã bắt giữ 80 ngư phủ Việt Nam về tội xâm nhập đánh cá bất hợp pháp. Các ngư phủ phản đối, nói họ vẫn truyền nối hành nghề đánh cá tại vùng biển này từ đời ông, đời cha. Nhưng lính tuần duyên Trung Quốc trả lời đã có hiệp định mới, và vùng biển này chính thức thuộc về Trung Quốc. Các ngư phủ không chịu, đòi báo cáo lên đội biên phòng Việt Nam. Lính hải quân Trung Quốc cười ngạo nghễ, ném thuốc nổ gần tàu, rồi lái tầu tuần duyên tông vô các tàu đánh cá khiến 23 ngư dân Việt Nam tại Đà Nẵng và Quảng Ngãi bị chết chìm, 6 người bị thương và 10 tàu đánh cá bị hư hỏng. Một số ngư dân khác tại Bình Định và Khánh Hòa cũng bị xua đuổi không được đến đánh cá tại ngoài khơi vùng biển Hoàng Sa. Những vụ sát hại dã man này không được phổ biến trên báo chí.
Hai tuần sau, ngày 8-01-2005, tại Vịnh Bắc Bộ, các tàu tuần duyên Trung Quốc bao vây và bắn xối xả vào các tàu đánh cá Việt Nam khiến 9 ngư dân Thanh Hóa bị thiệt mạng, 7 người bị thương và 8 người khác bị bắt đem đi.
Khi nội vụ phát giác, nhà cầm quyền Hà Nội còn muốn đổ tội cho “bọn hải tặc”. Trong khi đó, một vài tờ báoViệt Nam lại loan tin các ngư phủ Việt Nam bị “tàu nước ngoài" bao vây và dùng súng bắn xối xả. Và các hãng thông tấn ngoại quốc như AFP, Reuters đã xác định rằng đó chính là những tàu tuần duyên Trung Quốc. Vậy mà nhà cầm quyền Hà Nội chỉ dám phản kháng lấy lệ, chỉ lên án những hành động tự phát của các binh sĩ Trung Quốc và yêu cầu trừng phạt những cá nhân phạm pháp.
Thực ra đây không phải là những hành vi tự phát lẻ loi của một số binh sĩ vô trách nhiệm mà là cả một chính sách khủng bố của Trung Quốc để ngăn cấm ngư dân Việt Nam không được đến đánh cá tại vùng biển sâu, dành cho Trung Quốc độc quyền đánh cá, thăm dò và khai thác dầu khí. Hồi tháng 11, 2004, Trung Cộng còn ngang nhiên đưa một giàn khoan dầu khí từ Thượng Hải vào thềm lục địa Việt Nam chỉ cách bờ biển 63 km.
Ngày nay mọi người mới nhìn thấy ý đồ của Trung Quốc: Vùng Đánh Cá Chung quy định trong Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá chỉ là sự biến hình của Vùng Biển Cấm, cấm địa hay cấm hải do Trung Quốc ấn định từ đầu thập niên 1970. Mãi tới tháng 8, 2002 chính phủ Việt Nam mới lên tiếng phản đối việc Trung Quốc ấn định Vùng Biển Cấm đánh cá tại Vùng Đánh Cá Chung.
Từ sau ngày 30-6-2004 khi Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt và Hiệp Ước Hợp Tác Đánh Cá có hiệu lực thi hành, Trung Quốc tự ban cho họ độc quyền thao túng tại Vùng Biển Cấm trong Vịnh BắcViệt cũng như tại miền duyên hải Trung Việt. Theo ghi nhận của đội biên phòng Việt Nam, nội trong năm 2004, riêng tại vùng biển Đà Nẵng, các tàu thuyền Trung Quốc đã xâm nhập hải phận Việt Nam 1017 lần. Vậy mà không thấy có phản ứng nào về phía Việt Nam.
Thừa thắng xông lên, từ tháng 10 đến tháng 12/2004, lính hải quân Trung Quốc đã sát hại 23 ngư dân Đà Nẵng và Quảng Ngãi.
Ngày 8-1-2005, các tàu tuần duyên Trung Quốc lại dùng đại liên bắn chết 9 ngư dân Thanh Hóa trong Vùng Biển Cấm tại Vịnh Bắc Việt. Đây là những hành động cố sát có dự mưu trong đó Việt Cộng là kẻ đồng lõa bằng cách giúp phương tiện.
Một tuần sau vụ khủng bố 8-1-2005, Trung Quốc đổi giọng, bịa đặt rằng lực lượng tuần duyên Trung Quốc chỉ bắn chết những kẻ cướp có vũ khí khi những người này định cướp tàu đánh cá của Trung Quốc. Độc đáo hơn nữa, các tàu đánh cá (tí hon) của Việt Nam đã nổ súng trước vào các tàu tuần duyên (có trang bị súng đại liên) của Trung Quốc! Vừa đánh trống vùa ăn cướp, Trung Quốc muốn biến vụ cố sát của họ thành vụ cướp biển của hải tặc để đòi quyền tự vệ chính đáng. Theo qui định của Ủy Ban Liên Hợp, đối với các ngư dân hoạt động bình thường, các tàu biên phòng không được dùng võ khí để hăm dọa, bạo hành, đả thương hay cố sát. Các biện pháp xử lý chỉ có tính cách hành chánh như bắt giữ các ngư thuyền vi phạm qui luật, nhưng phải trả tàu và trả tự do cho ngư dân khi có sự bảo lãnh thích đáng.
Trong vụ khủng bố tại Vịnh Bắc Việt và vùng biển Hoàng Sa, lính tuần duyên Trung Quốc đã giết người vô tội vạ trong chính sách “sát nhất nhân, vạn nhân cụ” (giết một số ngư dân vô tội khiến hàng vạn người khác sợ không dám đi đánh cá tại miền duyên hải xa bờ).
TRƯỚC TÒA ÁN QUỐC DÂN
Tháng 6, 2004 khi các Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt có hiệu lực thi hành, thay mặt đồng bào trong nước không còn quyền được nói, Ủûy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền tại hải ngoại đã kết án Đảng Cộng Sản Việt Nam về 4 tội phản bội tổ quốc, với phần chủ văn như sau:
“Năm 1999 Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Biên Giới Việt Trung để nhượng đất biên giới cho Trung Quốc.
“Năm 2000, Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá để bán nước Biển Đông và dâng cá dâng dầu cho Trung Quốc.
“Năm 1958 bằng văn thư của Phạm Văn Đồng, Đảng Cộng Sản Việt Nam cam kết chuyển nhượng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.
“Những hành vi này cấu thành 4 tội phản bội Tổ Quốc bằng cách cấu kết với nước ngoài nhằm xâm phạm chủ quyền của quốc gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc, và xâm phạm quyền của Quốc Dân được sử dụng đầy đủ những tài nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của Đất Nước”.
T.M. ỦY BAN LUẬT GIA BẢO VỆ DÂN QUYỀN
L.S. NGUYỄN HỮU THỐNG
http://www.calitoday.com/news/view_article.html?article_id=39d424d76267343f3fc449698704d361
| | | |
HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CHƯA BAO GIỜ LÀ LÃNH THỔ CỦA TRUNG QUỐC
Trương Nhân Tuấn
Lược dịch và bổ-tức thêm từ Les Archipels Hoang-Sa et Truong-Sa Territoire Vietnamien – Ministère Des Affaires Etrangères 1981- CAOM Br 14279. 1/ Lý-lẽ của nhà cầm-quyền Trung-Quốc nhằm ngụy-biện các việc « khám-phá », « khai-khẩn » và « thâu huê-lợi » của dân-tộc Trung-Hoa tại Hoàng-Sa và Trường-Sa :
Hồ-sơ của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc công-bố ngày 30 tháng 1 năm 1980 viết rằng : “Trung-Hoa là nước đầu tiên đã khám-phá, khai-khẩn, thâu huê-lợi và quản-lý các quần-đảo gọi là Xisha (Tây-Sa) và Nansha (Nam-Sa). Từ ngàn năm nay, những chính-phủ Trung-Hoa liên-tục đã đặt quyền-pháp trên những nơi đây. Dân-tộc Trung-Hoa là người chủ tại hai quần-đảo nầy không thể phản-biện”. Tài liệu chứng-minh là hai tác-phẩm Nan Zhou Yi Wu Zhi (Nam Châu Dị Vật Chí của Vạn Chấn) và Funanzhuan (Phù-Nam Truyện của Khang Thái từ thời Tam-Quốc (220-265) và một danh-sách 6 tác-phẩm từ đời Tống đến đời Thanh (thế-kỷ 11 đến thế-kỷ thứ 19) là: Mong Liang Lu (Mộng Lương Lục), Qao Yi Zhi Luc (Ðảo Di Chí Lược), Dong Xi Yang Kao (Ðông Tây Dương Khảo), Shun Feng Xiang Song (Thuận Phong Tương Tống), Zhi Nan Zheng Fa (Chỉ Nam Chinh Pháp), Hai Guo Wen Jian Lu (Hải Quốc Văn Kiến Lục).
Hồ-sơ này xác-nhận rằng những tác-phẩm trên đây « kể lại những cuộc hành-trình của người Hoa đi đến Tây-Sa và Nam-Sa và những hoạt-động sản-xuất mà họ đã thực-hiện từ hơn ngàn năm » và « đã đặt tên lần-lượt cho hai quần đảo nầy với những tên sau đây : Jiurulozhou (Cửu Nhũ Loa Châu), Shitang (Thạnh-Ðường), Qianlishitang (Thiên-Lý Thạnh Ðường, Wanlishitang (Vạn-Lý Thạnh Ðường), Changsha (Trường-Sa) , Qianlichangsha (Thiên-Lý Trường-Sa), Wanlichangsha (Vạn-Lý Trường-Sa) » v.v...
Nhưng thực-tế thì các bộ sách đã dẫn không phải là « chính sử » của Trung-Quốc và nội-dung trích dẫn không đúng như vậy. Điểm ghi nhận là các bộ « chính sử » của Trung-Quốc thì không bộ nào viết Tây-Sa và Nam-Sa (hay dưới các tên khác) thuộc về Trung-Quốc. Bộ Nhị Thập Tứ Sử (bộ chính sử được tất cả các triều đại Trung Quốc thừa nhận) tức từ Sử ký ghi chép từ Thượng cổ đến Tần, Hán, cho đến Minh sử; và Thanh sử cảo soạn thời Dân Quốc, ở các mục Địa lý chí đều không đề cập đến các hòn đảo ở xa hơn đất Nhai Châu, Quỳnh Châu, tức Hải Nam ngày nay (xem Phạm Hoàng Quân, Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc, talawas, 11-12-2007).
Hai tác-phẩm thời Tam-Quốc thì nội-dung rất mơ-hồ, thiếu chính-xác, không có giá-trị sử-liệu và pháp-lý. Riêng 6 tác-phẩm từ đời Tống đến đời Thanh thì chỉ nhằm việc ghi-chép địa-lý, lịch-sử, tập-quán… của những xứ khác trong vùng Ðông-Nam Châu Á và vùng Nam Châu Á. Có sách viết về hải-trình từ Trung-Quốc đi đến các nước khác. Tuyệt-nhiên không có sách nào ghi lại sự có mặt của người Hoa tại hai quần-đảo nầy cũng như mô-tả về « hoạt-động sản-xuất » tại đó.
Những cái tên ngày xưa, theo Bắc-Kinh, là tên mà các tác-phẩm đó chỉ hai quần-đảo, giả-sử rằng thực-sự đúng là như thế, thì chúng chỉ là những tên mà người Hoa đã sử-dụng trong quá-khứ để mô-tả địa-lý các nước ngoài hay là những hải-trình ở trên Biển-Ðông, những cái tên của các địa-phương nầy không hề có giá-trị pháp-lý để chứng-minh rằng các quần-đảo đó thuộc Trung-Quốc.
Riêng về việc « khám-phá » của Trung-Quốc, giả-sử sự việc nầy đúng như thế, thì nó cũng không có một ý-nghĩa pháp-lý nào để chứng-minh rằng từ thời-kỳ đó, những quần-đảo mà người Trung-Quốc gọi là Tây-Sa và Nam-Sa thuộc lãnh-thổ của Trung-Quốc. Sự việc « khai-khẩn » và sự việc « thâu huê-lợi » của người Hoa tại Tây-Sa và Nam-Sa giả-sử có thật thì cũng chỉ là hành-động của cá-nhân, vì thế quốc-gia Trung-Quốc không có cách nào để nhận chủ-quyền ở hai quần-đảo đó.
2/ Vấn-đề giả-mạo dữ-kiện để minh-chứng thẩm-quyền của các triều-đại Trung-Quốc tại Hoàng-Sa và Trường-Sa qua hồ-sơ của bộ Ngoại-Giao Trung-Cộng.
Điểm chính mà công-luận đòi-hỏi chính-quyền Trung-Quốc phải chứng-minh là : từ bao giờ và bằng cách nào quốc-gia Trung-Quốc chiếm-đóng Tây-Sa và Nam-Sa ? Bắc-Kinh đã vô-phương giải-thích một cách đứng-đắn. Vì thế chính-quyền Trung-Quốc chỉ xác-nhận bằng những lời nói chung-chung như « những nhà cầm-quyền Trung-Quốc tiếp-nối đã hành-sử thẩm-quyền » tại hai quần-đảo. Và để chứng-minh họ đưa ra một số bằng-chứng trong thời-kỳ từ thế-kỷ thứ 11 đến thế-kỷ thứ 19, mà 3 bằng-chứng giả-mạo như sau :
2.1. Bằng-chứng 1 : Hồ-sơ đã ghi ở trên của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc đã trích-dẫn một đọan văn và cho là của Wu Jing Zong Yao (Vũ Kinh Tổng Yếu), viết dưới triều Renzong (1023-1063) Bắc-Tống : Triều-đình Bắc-Tống « ra lệnh cho quân-đội hoàng-gia tuần-tiễu xây-dựng ở Guangnan (hiện thời là Quảng-Ðông) một nơi đóng quân nhằm vào việc tuần-tiễu trên biển » và « xây-dựng những chiến-thuyền bằng loại có sống giữa (đao ngư - navire à quille)»... « Nếu người ta theo gió Ðông để cho thuyền đi về hướng Tây-Nam, mất 7 ngày để từ Tunmenshan (Ðồn Môn Sơn) đến Jiuruluozhou (Cửu Nhũ Loa Châu)».
Cho rằng rằng Jiuruluozhou (Cửu Nhũ Loa Châu) là « quần-đảo Tây-Sa », hồ-sơ trên kết-luận-rằng « triều-đình Bắc-Tống đã sử-dụng thẩm-quyền của mình ở quần-đảo Tây-Sa », và « hải-quân Trung-Quốc đã tuần-tiễu cho đến Tây-Sa ».
Nhưng sự-thật thì hoàn-toàn không đúng như thế. Wu Jing Zong Yao (Vũ Kinh Tổng Yếu) đã viết như sau : « ... ra lệnh cho quân-đội hoàng-gia thực-hiện việc tuần-tiễu, xây-dựng một trại quân cho việc tuần-tiễu trên biển tại hai bến tàu ở phía Ðông và phía Tây khoảng-cách là 280 trượng1, cách Tunmenshan (Đồn Môn Sơn) 200 lí2 và xây-dựng những chiến-thuyền bằng loại có sống giữa (đao ngư).
Nếu người ta theo gió Đông để cho thuyền đi về hướng Tây-Nam, mất 7 ngày để đi từ Tunmenshan (Đồn Môn Sơn)3 đến Jiuruluoshou (Cửu Nhũ Loa Châu), thêm 3 ngày nữa thì đến Pulaoshan (Bất Lao Sơn thuộc Huanzhou Hoàn-Châu) 4, sau khi đi thêm 300 lí về hướng Nam thì tới Lingshandong (Lăng Sơn Ðông). Ở phía Tây-Nam của nơi này thì có các nước Dashifu, Sizi, Tianzhu (Thiên-Trúc)5 . Không thể ước-lượng được khoảng-cách.6 »
Như thế rõ-ràng trong phần trích-dẫn ghi trên đây của Wu Jing Zong Yao (Vũ Kinh Tổng Yếu), một đoạn ghi lại việc hoàng-đế của Bắc-Tống ra lệnh « xây-dựng một trại quân dùng vào việc tuần-tiễu trên biển » ở bến Quảng-Châu (Guangzhou), một đoạn khác mô-tả vị-trí địa-lý của trại quân ghi trên, và một đoạn khác mô-tả hải-trình đi từ bến Quảng-Châu cho đến Ấn-Độ Dương. Không thấy chỗ nào ghi rằng hải-quân Trung-Hoa đi tuần-tiễu cho đến quần-đảo « Xisha » (Tây-Sa). Như thế, hồ-sơ của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc đã cắt một đoạn để dán vào một đoạn khác nhằm ngụy-tạo bằng-chứng để dành lấy Hoàng-Sa của Việt-Nam.7
2.2. Bằng-chứng 2 : Hồ-sơ dẫn trên của bộ Ngoại-Giao Quốc đã dựa lên những việc quan-sát thiên-văn xẩy ra ở Nam-Hải và đầu triều Nguyên (Yuan) để khẳng-định rằng « dưới triều Nguyên, quần-đảo Xisha - Tây-Sa - thuộc lãnh-thổ Trung-Hoa ».
Theo Yuanshi (Nguyên Chí), lịch-sử chính-thức của triều Nguyên (Yuan), những quan-sát thiên-văn đã thực-hiện vào đầu triều-đại nầy được kể lại như sau :
« Những đo-lường về bóng của mặt trời tại bốn biển được thực-hiện ở 27 vị-trí, phía Đông cho tới Kaoli - Cao-Ly, phía Tây cho tới Tianchi, phía Nam cho tới Zhuya, phía Bắc cho tới Tiele. »
Dưới tựa-đề « quan-sát bốn biển », Yuanshi (Nguyên Chí) đã ghi lại 27 vị-trí 9 mà nơi đó đã được thực-hiện những quan-sát thiên-văn, trong đó gồm có các nơi Kaoli (Cao-Ly), Tiele (Thiết-Lặc, Sibérie, Nga), Beihai (Bắc-Hải, vùng bờ biển ở Sibérie), Nanhai (tức biển Đông).
Những dữ-kiện đã ghi lại trong Nguyên Chí cho thấy rõ-ràng rằng những quan-sát thiên-văn tại 27 vị-trí không phải là việc « quan-sát khắp đất nước » như hồ-sơ của Bắc-Kinh đã khẳng-định, mà là việc « quan-sát ở bốn biển ».
Đó chính là lý-do mà Nguyên Chí cũng đã ghi-chú những vị-trí ở ngoài lãnh-thổ Trung-Quốc như Đại-Hàn, Thiết-Lặc, Bắc-Hải, Biển-Đông.10
Giả-sử rằng vị-trí quan-sát thiên-văn vùng « Nam Hải, Nanhai » ở tại Xisha (Tây-Sa tức Hoàng-Sa), việc nầy cũng không có nghĩa là Xisha thuộc lãnh-thổ Trung-Hoa từ thời Nguyên. Bộ Nguyên Chí cũng đã xác-nhận rằng lãnh-thổ Trung-Quốc về hướng Nam chỉ đến đảo Hải-Nam và không vượt qua sa-mạc Gobi11 ở phương Bắc.
2.3. Bằng-chứng 3 : Hồ-sơ của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc đã trích-dẫn việc một toán tuần-tiễu trên biển do Phó Đô-Đốc Wu Sheng chỉ-huy, từ 1710 và 1712, dưới đời nhà Thanh : « Khởi-hành từ Qiongya (Quỳnh Nha), đội hải-quân đi đến Tonggu (Ðông-Cô) và đi ngang qua Quizhouyang và Sigengsha, trải qua như vậy 3.000 lí, để tự mình thực-hiện một vòng kiểm-soát », để khẳng-định « Quizhouyang là vùng đảo Xisha – Tây-Sa, tại đó lực-lượng hải-quân của tỉnh Quảng-Đông đảm-trách việc tuần-tiễu ».
Nhưng sự thực thì hoàn-toàn không phải như vậy. Những địa-danh trong đoạn trích-dẫn trên đây thì ở trong vùng chung-quanh đảo Hải-Nam :
Quiongya là « vùng quân-sự Quiongya (đảo Hải-Nam) dưới triều Thanh, bộ chỉ-huy đóng ở Qiongshan gần thành-phố Hải-Khẩu (Haikou), ở phía Bắc đảo Hải-Nam.12
Tonggu thì là điểm Đông-Bắc đảo Hải-Nam.13
Qizhouyang chỉ vùng biển có 7 đảo mang tên Qizhou ở về phía Ðông đảo Hải-Nam.14
Sigengsha là một dãi cát ở phía Tây đảo Hải-Nam.15
Sư thật tìm thấy qua sự nghiên-cứu khách-quan ở những văn-bản gốc. Việc nầy cho thấy rằng bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc đã có hành-động cố ý giả-mạo để cho Qizhouyang trở thành « vùng đảo Tây-Sa » và việc tuần-tiễu của Wu Sheng chung quanh đảo Hải-Nam trở thành việc tuần-tiễu « vùng đảo Tây-Sa », cuối cùng kết-luận rằng vùng nầy ngày xưa « được lực-lượng hải-quân tỉnh Quảng-Đông phụ-trách việc tuần-tiễu ».
Sự đối-chiếu những đoạn trích-dẫn trên đây do Bắc-Kinh đưa ra với các bản chánh đã cho thấy rõ-rệt rằng ba điểm nầy không hề có một tương-quan nào với quần-đảo « Xisha ».
Bắc-Kinh cũng đã nói sai khi cho rằng một số địa-dư chí của các địa-phương của Trung-Quốc dưới thời Minh và Thanh có viết « Quảng-Châu (Wanzhou) bao gồm Qianlichangsha (Thiên-Lý Trường-Sa) và Wanlishitang (Vạn Lý Thạnh Ðường »16 nhằm mục-đích chứng-minh rằng « quần-đảo Xisha và Nansha vào thời đó thuộc Wanzhou (Quảng-Châu), phủ Qiongzhou (Quỳnh-Châu), tỉnh Quảng-Ðông ». Nhưng trong bộ Da Qing Yi Tongzhi (Ðại Thanh Nhất Thống Chí), bộ địa-dư chính-thức được viết bởi Viện Quốc-Gia Sử-Học dưới triều nhà Thanh với lời dẫn-nhập của hoàng-đế Xuanzong năm 1842, không hề có đoạn nào ghi-nhận rằng « Qianlichangsha Thiên-Lý Trường Sa» và « Wanlishitang Vạn-Lý Thạnh-Đường» thuộc về Wanzhou (Quảng-Châu), phủ Qiongzhou (Quỳnh-Châu), tỉnh Quảng-Ðông. Cũng có thể do lý-do nầy mà nhà cầm-quyền Bắc-Kinh đã không trích-dẫn đoạn nào thuộc bộ sách nầy, mặc dầu đây là một bộ sách chính-thức của Trung-Quốc.
Mặt khác, nhà cầm-quyền Bắc-Kinh cũng tạo dựng lên bằng-chứng đó là ba bản-đồ Trung-Quốc (tất-cả được thực-hiện dưới triều nhà Thanh)17. Người đọc có thể tự hỏi rằng tại sao họ không công-bố những bản-đồ nầy. Hành-động dấu-diếm nầy người ta có thể hiểu dễ-dàng, đó là tất cả những bản-đồ của Trung-Quốc, cho đến những năm đầu của Cộng-Hoà Trung-Hoa, thì không có ghi-nhận về Xisha và Nansha như là nhà cầm-quyền Bắc-Kinh đã tuyên-bố. Hay là họ phải cần thời-gian để vẽ bản-đồ ? Về việc đổ-bộ chớp-nhoáng quần-đảo Xisha, thừa lệnh của Tổng-Đốc Quảng-Đông Zhang Renjim, Đô-Đốc Hải-Quân Li Zhun cầm đầu 170 quan quân, vào năm 1909, đã đổ bộ lên một số đảo thuộc Xisha, thì đây là một hành-động bất-hợp-lệ, bởi vì ít nhất từ hàng thế-kỷ, Hoàng-Sa mà Trung-Quốc gọi là Xisha, đã là một lãnh-thổ của Việt-Nam. Đây không phải là một vùng hải-đảo vô chủ. Về việc đổ bộ của Hải-Quân Trung-Hoa Dân-Quốc trên đảo Phú-Lâm (Ile Boisée) thuộc Hoàng-Sa và đảo Itu Aba thuộc Trường-Sa vào tháng 12 năm 1946 là một hành-động xâm-lăng, bởi vì đã từ lâu, hai quần-đảo nầy đã thuộc chủ-quyền Việt-Nam. Về việc chiếm đóng của Cộng-Hòa Nhân-Dân Trung-Hoa tại nhóm đảo Đông-Bắc từ năm 1950 và từ 1974 nhóm Tây-Nam của quần-đảo Hoàng-Sa lúc đó dưới sự kiểm-soát của Việt-Nam Cộng-Hòa, cũng là một hành-động xâm-lăng bằng vũ-lực.
Việc xâm-lăng, xẩy ra chớp-nhoáng hay sau đó chiếm đóng lâu dài, hoặc bất-kỳ hành-động nào của Trung-Quốc ở Hoàng-Sa và trên đảo Itu Aba (Ba-Bình) thuộc Trường-Sa là một hành-vi xâm-phạm chủ-quyền và toàn-vẹn lãnh-thổ của Việt-Nam. Những hành-động nầy chà đạp luật-pháp quốc-tế và sẽ không đem lại cho kẽ gây-hấn bất-kỳ một quyền-hạn hay có một chủ-quyền nào ở những nơi nầy.
| | | |
HOÀNG SA MÃI MÃI LÀ LÃNH THỔ THIÊNG LIÊNG CỦA VIỆT NAM
Dương Trung Quốc (Bài này đã bị CSVN coi là “phản động“)
(VietNamNet) – Chủ quyền thiêng liêng đối với Trường Sa và Hoàng Sa đã được minh chứng bằng thời gian và lịch sử của nhiều thế kỷ những cư dân và Nhà nước VN đã quản lý và khai thác vùng lãnh thổ trên biển Đông này. >> HĐND Đà Nẵng khẳng định Hoàng Sa là huyện trực thuộc TP >> Cơ sở pháp lý xác lập chủ quyền VN tại Hoàng Sa
Cách đây hơn 3 thập kỷ, giữa lúc nhân dân Việt Nam đang tập trung nỗ lực vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; lại cũng là lúc một số nước lớn đang mặc cả và thoả hiệp với nhau để cản trở sự nghiệp thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam, thì ngày 19/01/1974, quân đội Trung Quốc đã tấn chiếm quần đảo Hoàng Sa, lúc này đang do chính quyền Sài Gòn quản lý.
Hơn ba thập kỷ qua, trong bối cảnh quan hệ Việt-Trung có những bước thăng trầm, Việt Nam vẫn luôn khẳng định Hoàng Sa cùng với Trường Sa là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của mình. Bởi vì chủ quyền ấy đã được minh chứng bằng thời gian và lịch sử của nhiều thế kỷ những cư dân và Nhà nước Việt Nam đã quản lý và khai thác vùng lãnh thổ trên biển Đông này.
Sự xác lập chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa (cũng như với Trường Sa) được minh chứng không chỉ bằng những tài liệu do người nước ngoài ghi chép như sách Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán viết năm 1696, hay của nhiều tác giả Tây phương như Le Poivre(1749), J,Chaigneau (1816-1819), Taberd (1833), Gutzlaff (1849)…; cũng như những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể liên quan đến hoạt động của các Đội Hoàng Sa xưa ở cửa biển Sa kỳ và đảo Lý Sơn (Cù lao Ré), mà còn được ghi lại trên nhiều thư tịch, trong đó có những văn bản mang tính chất Nhà nước của Việt Nam.
Cho đến nay chúng ta vẫn có bằng chứng đầy đủ về chủ quyền của nhà nước Đại Việt (gồm cả Đàng Ngoài của các chúa Trịnh và Đàng Trong của các chúa Nguyễn đều tôn phò nhà Lê) qua Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ Bản Đồ (của Đỗ Bá Công soạn năm Chính Hoà thứ 7-1686) và sách Phủ Biên Tạp Lục của bác học Lê Quý Đôn (1776)…
Tấm bản đồ trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ được vẽ theo bút pháp đương thời với lời chú rất rõ ràng:
“Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) dài tới 400 dặm… Họ Nguyễn mỗi năm và cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn…”
Còn bản đồ vẽ trong Toản Tập An Nam Lộ thì ghi chú rất rõ địa danh Bãi Cát Vàng trên biển khơi phía trước của những địa danh trên đất liền như các cửa biển Đại Chiêm, Sa Kỳ, Mỹ Á, phủ Quảng Nghĩa và các huyện Bình Sơn, Chương Nghĩa, Mộ Hoa .
Với sách Phủ Biên Tạp Lục của nhà bác học Lê Quý Đôn (1776), Hoàng Sa còn được mô tả kỹ hơn. Năm 1775, Lê Quý Đôn được Chúa Trịnh cử vào vùng đất Phú Xuân lãnh chức Hiệp trấn để lo việc bình định hai trấn mới thu hồi được từ Chúa Nguyễn là Thuận Hoá và Quảng Nam. Sách dành nhiều trang để mô tả về các “Đội Hoàng Sa” và “Bắc Hải” của chúa Nguyễn tổ chức cho dân vùng Tư Chính, Quảng Ngãi tổ chức thường kỳ việc vượt biển đến Hoàng Sa để thu luợm các sản vật đem về đất liền. Những tư liệu thu thập tại địa phương xã An Vĩnh (Cù lao Ré) còn nói tới “Đội Quế hương ” cũng là một hình thức tổ chức do dân lập xin phép nhà nước được ra khai thác ở Hoàng Sa.
Qua thời Nguyễn, kể từ đầu thế kỷ XIX, trong điều kiện nước Việt Nam (dưới triều Gia Long) và Đại Nam (kể từ triều Minh Mạng) đã chấm dứt tình trạng cát cứ và phân tranh, thống nhất quốc gia thì việc quản lý lãnh thổ được ghi chép đầy đủ và lưu trữ tốt hơn. Tấm bản đồ được lập thời Minh Mạng Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ vẽ rất rõ cả một dải lãnh thổ gồm những đảo trên biển Đông được ghi chú là “Vạn lý Trường Sa ” (tên gọi chung cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo quan niệm đương thời).
Hai bộ sách địa lý quan trọng của triều Nguyễn là phần Dư Địa Chí trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833) đều đề cập tới Hoàng Sa trong phần viết về phủ Tư Nghĩa và đều chép lại những nội dung của các tài liệu trước, trong đó có hoạt động của các “Đội Hoàng Sa”.
Bộ chính sử Đại Nam Thực Lục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn liên tục cho đến thập kỷ đầu của thế kỷ XX đều nhiều lần ghi lại các sự kiện liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa như một bộ phận của lãnh thổ quốc gia. Ngay trong phần Tiền Biên chép về các tiên triều, bộ biên niên sử này cũng nêu lại những sự kiện từ thời các Chúa Nguyễn liên quan đến các quần đảo này.
Một thống kê cho thấy trên bộ sử này, trong phần chính biên ghi chép cho đến thời điểm in khắc đã có 11 đoạn viết về những sự kiện liên quan đến hai quần đảo này. Nội dung cụ thể như là việc nhà nước điều cho thuỷ quân và Đội Hoàng Sa ra đảo để “xem xét và đo đạc thuỷ trình ” (quyển 50,52…đời Gia Long); cử người ra Hoàng Sa “dựng miếu, lập bia, trồng cây”, “vẽ bản đồ về hình thế”, “cắm bài gỗ dựng dấu mốc chủ quyền ” (quyển số 104, 122, 154, 165 đời Minh Mạng).
Ngoài ra còn các bộ sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ(1851) cũng ghi rõ những công việc nhà nước Đại Nam đã thực thi trên lãnh thổ Hoàng Sa. Và đặc biệt quý giá là những châu bản của các vị vua triều Nguyễn (tức là có thủ bút của nhà vua) có liên quan đến Hoàng Sa. Giá trị của những văn bản gốc này là sự thể hiện quyền lực của người đứng đầu quốc gia đối với vùng lãnh thổ này. Ví như, phê vào phúc tấu của bộ Công ngày 12-2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà vua viết :”Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước (ta), rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ “Năm Bính Thân Minh Mạng thứ 17, họ tên cai đội thuỷ quân phụng mệnh đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu ”; hay các châu phê về việc thưởng phạt người có công tội khi thực thi trách nhiệm ở Hoàng Sa, đạc vẽ bản đồ v.v…
Mãi đến năm 1909, lần đầu tiên Trung Quốc mới đề cập đến chủ quyền của mình đối với khu vực lãnh thổ này. Điều đó cho thấy, trong suốt 3 thế kỷ trước đó (XVII-XIX), các tài liệu thư tịch của Nhà nước Việt Nam kế thừa nhau đã liên tục thể hiện chủ quyền lịch sử và thực tiễn quản lý đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa.
Điều đáng nói là, vào thời điểm này, giữa lúc hai nước Việt-Trung đã xác lập được những quan hệ hữu nghị, hợp tác trên những nguyên tắc của "16 chữ vàng ” do chính các nhà lãnh đạo Trung Quốc đưa ra thì việc Quốc vụ viện Trung Quốc thành lập cái gọi là “thành phố cấp huyện Tam Sa” thuộc tỉnh Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đáng để chúng ta phải nhắc lại những bằng chứng và bài học lịch sử!
Dương Trung Quốc
| | | |
====LẬP TRƯỜNG DỨT KHOÁT: DẸP KẺ BÁN NƯỚC, ĐUỔI QUÂN XÂM LĂNG====
LẬP TRƯỜNG CỦA NGƯỜI VIỆT TẠI ÚC CHÂU: CSVN PHẢN BỘI TỔ QUỐC, KẺ BÁN NƯỚC
Người Việt tại Úc phản đối CSVN bán nước
Tin Sydney: Trong một cuộc họp khẩn vào tối Thứ Năm 20 tháng 12 năm 2007, quy tụ trên 40 hội đoàn tại Sydney, các Hội Đoàn đã cùng với Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu, tiểu bang NSW và Hội Đồng Tư Vấn Giám Sát, đồng thanh quyết định tổ chức một cuộc biểu tình rầm rộ trước tòa đại sứ CSVN tại Canberra vào ngày Thứ Bẩy 12 tháng Giêng năm 2008. Mục đích của cuộc biểu tình là lên án CSVN bán nước, kẻ đã dâng đất dâng biển cho Trung Quốc bằng nhiều văn bản lén lút mà người dân không được biết. Ngoài việc bầy tỏ lập trường và vạch rõ tội ác của tập đoàn Hà Nội, cuộc biểu tình còn nhắm mục đích vang vọng về Việt Nam để ủng hộ và nung nấu tinh thần yêu nước của người dân Việt Nam, nhận biết chính CSVN mới là kẻ thù của dân tộc Việt Nam. Cộng đồng người Việt tại NSW nhận định rằng một cuộc biểu tình chống Trung Quốc trước Lãnh Sự Quán Trung Quốc tại Sydney sẽ vô nghĩa, bởi vì nơi đó chỉ là một Lãnh Sự Quán nhỏ bé. Hơn nữa, trong việc mất Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc không phải là kẻ xâm lược mà Trung Quốc đã được CSVN dâng tặng phần đất của tổ tiên để củng cố quyền lực cho CSVN. Do đó, kẻ thù gây nên việc mất Hoàng Sa và Trường Sa chính là CSVN bán nước, kẻ có tội với dân tộc và tổ tiên Việt Nam. Cuộc biểu tình phải quy tụ người Việt tại các tiểu bang khác nữa chứ không phải chỉ ở NSW. Sau khi tỏ thái độ trước tòa đại sứ CSVN tại Canberra, đoàn biểu tình sẽ tiếp tục phản đối tại tòa đại sứ Trung Quốc, chống mưu đồ bành trướng của Trung Quốc. Mục đích chính của cuộc biểu tình vẫn là phản đối CSVN và vạch rõ tội bán nước, phản bội của tập đoàn CSVN, kêu gọi người Việt khắp nơi đồng thanh chống kẻ thù chung là CSVN. Một khi CSVN không còn cầm quyền thì người dân Việt Nam trong và ngoài nước sẽ cùng với một chính quyền vì dân và do dân bầu ra giành lại phần đất và biển đã mất do CSVN lén lút dâng tặng Trung Quốc. Ngày nào còn CSVN cầm quyền thì nước Việt nam sẽ còn tiếp tục mất đất mất biển như đã xẩy ra từ nhiều thập niên qua. Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu và tiểu bang NSW kêu gọi đồng bào Việt Nam tại Úc chuẩn bị cho cuộc biểu tình sắp tới.
4 TỘI PHẢN BỘI TỔ QUỐC của Đảng Cộng Sản Việt Nam Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
- Năm 1999 Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Biên Giới Việt Trung để nhượng đất biên giới cho Trung Quốc.
- Năm 2000, Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Phân Định Vịnh BắcBộ để bán nước Biển Đông cho Trung Quốc.
- Cũng trong năm này Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá để dâng cá dâng dầu cho Trung Quốc.
- Và năm 1958, bằng văn thư của Phạm Văn Đồng, Đảng Cộng Sản Việt Nam đồng ý chuyển nhượng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.
Những hành vi này cấu thành 4 tội phản bội tổ quốc bằng cách “cấu kết với nước ngoài nhằm xâm phạm chủ quyền của quốc gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc và xâm phạm quyền của quốc dân được sử dụng đầy đủ những tài nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của đất nước”.
I. TỘI NHƯỢNG ĐẤT BIÊN GIỚI CHO NƯỚC NGOÀI,
Năm 1949, sau khi thôn tính lục địa Trung Hoa, mục tiêu chiến lược của Quốc Tế Cộng Sản là nhuộm đỏ hai bán đảo Đông Dương và Triều Tiên.
Qua năm sau, 1950, với sự yểm trợ của các chiến xa Liên Xô và đại pháoTrung Quốc, Bắc Hàn kéo quân xâm lăng Nam Hàn. Mục đích để giành yếu tố bất ngờ. Tuy nhiên âm mưu thôn tính không thành do sự phản kích của quân lực Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc.
Từ 1951 cuộc chiến bất phân thắng bại đưa đến hòa đàm. Hai năm sau Chiến Tranh Triều Tiên kết thúc bởi Hiệp Định Đình Chiến Bàn Môn Điếm tháng 7, 1953. Thất bại trong chiến tranh Triều Tiên, Trung Cộng tập trung hỏa lực và kéo các đại pháo từ mặt trận Bắc Hàn xuống mặt trận Bắc Việt.
Để tiếp tế võ khí, quân trang, quân dụng, cung cấp cố vấn và cán bộ huấn luyện cho Bắc Việt, các xe vận tải và xe lửa Trung Cộng đã chạy sâu vào nội địa Việt Nam để lập các căn cứ chỉ huy, trung tâm huấn luyện, tiếp viện và chôn giấu võ khí. Thừa dịp này một số dân công và sắc dân thiểu số Trung Quốc kéo sang Việt Nam định cư lập bản bất hợp pháp để lấn chiếm đất đai.
Trong Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai khởi sự từ 1956, với các chiến dịch Tổng Công Kích, Tổng Khởi Nghĩa Tết Mậu Thân (1968) và Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), Bắc Việt huy động toàn bộ các sư đoàn chính quy vào chiến trường Miền Nam. Thời gian này để bảo vệ an ninh quốc ngoại chống sự phản kích của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ (như trong Chiến Tranh Triều Tiên), Bắc Việt nhờ 300 ngàn binh sĩ Trung Quốc mặc quân phục Việt Nam đến trú đóng tại 6 tỉnh biên giới Bắc Việt. Trong dịp này các binh sĩ, dân công và sắc dân thiểu số Trung Hoa đã di chuyển những cột ranh mốc về phía nam dọc theo lằn biên giới để lấn chiếm đất đai.
Trong Chiến Tranh Đông Dương Thứ Ba khởi sự từ 1979, để giành giật ngôi vị bá quyền, Trung Quốc đem quân tàn phá 6 tỉnh biên giới Bắc Việt. Và khi rút lui đã gài mìn tại nhiều khu vực rộng tới vài chục cây số vuông để lấn chiếm đất đai.
Ngày nay, dưới áp lực của Bắc Kinh, Hà Nội xin hợp thức hóa tình trạng đã rồi, nói là thể theo lời yêu cầu của các sắc dân thiểu số Trung Hoa đã định cư lập bản tại Việt Nam.
Năm 1999 họ đã ký Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung để nhượng cho Trung Quốc khoảng 800 km2 dọc theo lằn biên giới, trong đó có các quặng mỏ và các địa danh như Ải Nam Quan, Suối Phi Khanh tại Lạng Sơn và Thác Bản Giốc tại Cao Bằng...
II. TỘI BÁN NƯỚC BIỂN ĐÔNG CHO NƯỚC NGOÀI.
Kinh nghiệm cho biết các quốc gia láng giềng chỉ ký hiệp ước phân định lãnh thổ hay lãnh hải sau khi có chiến tranh võ trang, xung đột biên giới hay tranh chấp hải phận.
Trong cuốn “Biên Thùy Việt Nam“(Les Frontières du Vietnam), sử gia Pierre Bernard Lafont có viết bài “Ranh Giới Hải Phận của Việt Nam” (La Frontière Maritime du Vietnam). Theo tác giả, năm 1887, Việt Nam và Trung Hoa đã ký Hiệp Ước Bắc Kinh để phân chia hải phận Vịnh Bắc Việt theo đường kinh tuyến 108 Đông, chạy từ Trà Cổ Móng Cáy xuống vùng Cửa Vịnh (Quảng Bình, Quảng Trị). Đó là đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa tại Vịnh Bắc Việt. Vì đã có sự phân định Vịnh Bắc Việt theo Hiệp Ước Bắc Kinh, nên “từ đó hai bên không cần ký kết một hiệp ước nào khác.” Do những yếu tố địa lý đặc thù về mật độ dân số, số hải đảo, và chiều dài bờ biểnViệt Nam được 63% và Trung Hoa được 37% hải phận.
Năm 2000, mặc dầu không có chiến tranh võ trang, không có xung đột hải phận, bỗng dưng vô cớ, phe Cộng Sản đã ký Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ để hủy bãi Hiệp Ước Bắc Kinh 1887.
Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ là một hiệp ước bất công, vi phạm pháp lý và vi phạm đạo lý. Bất công và vi phạm pháp lý vì nó không tuân theo những tiêu chuẩn của Tòa Án Quốc Tế, theo đó sự phân ranh hải phận phải căn cứ vào các yếu tố địa lý, như số các hải đảo, mật độ dân số và chiều dài bờ biển. Ngày nay dân số Bắc Việt đông gấp 6 lần dân số đảo Hải Nam, và bờ biển Bắc Việt dài gấp 3 lần bờ đảo Hải Nam phía đối diện Việt Nam. Ngoài ra Việt Nam có hàng ngàn hòn đảo trong khi Hải Nam chỉ có 5 hay 6 hòn. Tại miền bờ biển hễ đã có đất thì phải có nước; có nhiều đất hơn thì được nhiều nước hơn; có nhiều dân hơn thì cần nhiều nước hơn. Vì vậy hải phận Việt Nam phải lớn hơn hải phận Trung Hoa (63% và 37% theo Hiệp Ước Bắc Kinh). Và cũng vì vậy vùng biển này có tên là Vịnh Bắc Việt.
Ngày nay phe Cộng Sản viện dẫn đường trung tuyến để phân ranh hải phận với tỷ lệ lý thuyết 53% cho Việt Nam. Như vậy Việt Nam đã mất ít nhất 10% hải phận, khoảng 12.000 km2. Tuy nhiên trên thực tế phe Cộng Sản đã không áp dụng nghiêm chỉnh đường trung tuyến. Họ đưa ra 21 điểm tiêu chuẩn phân định Vịnh Bắc Việt theo đó Việt Nam chỉ còn 45% hải phận so với 55% của Trung Quốc. Và Việt Nam đã mất 21.000 km2.
Bất công hơn nữa là vì nó không căn cứ vào những điều kiện đặc thù để phân định Vịnh Bắc Việt. Tại vĩ tuyến 20 (Ninh Bình, Thanh Hóa), biển rộng chừng 170 hải lý, theo đường trung tuyến Việt Nam được 85 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí (thay vì 200 hải lý theo Công Ước về Luật Biển). Trong khi đó, ngoài 85 hải lý về phía tây, đảo Hải Nam còn được thêm 200 hải lý về phía đông thông sang Thái Bình Dương. Theo án lệ của Tòa Án Quốc Tế, hải đảo không thể đồng hóa hay được coi trọng như lục địa. Vậy mà với số dân chừng 7 triệu người, đảo Hải Nam, một tỉnh nhỏ nhất của Trung Quốc, đã được hưởng 285 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí. Trong khi đó 42 triệu dân Bắc Việt chỉ được 85 hải lý. Đây rõ rệt là bất công quá đáng. Bị án ngữ bởi một hải đảo (Hải Nam) người dân Bắc Việt bỗng dưng mất đi 115 hải lý vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá và thềm lục địa để khai thác dầu khí. .
Hơn nữa, Hiệp Ước này còn vi phạm đạo lý vì nó đi trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền như Công Lý, Bình Đẳng, Hữu Nghị, không cưỡng ép, không thôn tính và không lấn chiếm.
III. TỘI DÂNG CÁC TÀI NGUYÊN VÀ NGUỒN LỢI THIÊN NHIÊN CHO NƯỚC NGOÀI.
Cùng ngày với Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ, Đảng Cộng Sản Việt Nam còn ký Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá. Ngày 15-6-2004, Quốc Hội phê chuẩn Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, trái với Điều 84 Hiến Pháp, Hiệp Ước Đánh Cá không được Quồc Hội phê chuẩn, chỉ được Chính Phủ “phê duyệt”.
Theo Hiệp Ước sau này, hai bên sẽ thiết lập một vùng đánh cá chung rộng 60 hải lý, mỗi bên 30 hải lý, từ đường trung tuyến biển sâu nhiều cá, khởi sự từ vĩ tuyến 20 (Ninh Bình, Thanh Hóa) đến vùng Cửa Vịnh tại vĩ tuyến 17 (Quảng Bình, Quảng Trị). Tại Quảng Bình biển rộng chừng 120 hải lý, theo đường trung tuyến Việt Nam được 60 hải lý. Trừ 30 hải lý cho vùng đánh cá chung, ngư dân chỉ còn 30 hải lý gần bờ. Trong khi đó Hải Nam được 290 hải lý để đánh cá.
Tại Ninh Bình, Thanh Hóa, biển rộng chừng 170 hải lý, theo đường trung tuyến, Việt Nam được 85 hải lý. Trừ 30 hải lý cho vùng đánh cá chung, ngư dân chỉ còn 55 hải lý gần bờ. Trong khi đó Hải Nam được 315 hải lý.
Hơn nữa, theo nguyên tắc hùn hiệp, căn cứ vào số vốn, số tầu, số chuyên viên kỹ thuật gia và ngư dân chuyên nghiệp, Trung Quốc sẽ là chủ nhân ông được toàn quyền đánh cá ở cả hai vùng, vùng đánh cá chung và vùng hải phận Trung Hoa.
Ngày nay Trung Quốc là quốc gia ngư nghiệp phát triển nhất thế giới. Trên mặt đại dương, trong số 10 tầu đánh cá xuyên dương trọng tải trên 100 tấn, ít nhất có 4 tầu mang hiệu kỳ Trung Quốc. Như vậy trong cuộc hợp tác đánh cá với Trung Quốc, Việt Nam chỉ là cá rô, cá riếc sánh với cá mập, cá kình: a) Trong số 17 quốc gia ngư nghiệp phát triển trên thế giới có tầu đánh cá lớn trọng tải trên 100 tấn, một mình Trung Quốc chiếm hơn 40 % số tầu, so với 5% của Hoa Kỳ, 3% của Nhật Bản và 2% của Đại Hàn, (Việt Nam không có mặt trong số 17 quốc gia này).
b) Các tầu đánh cá lớn này có trang bị các lưới cá dài với tầm hoạt động 60 dặm hay 50 hải lý. Do đó đoàn ngư thuyền Trung Quốc không cần ra khỏi khu vực đánh cá chung cũng vẫn có thể chăng lưới về phía tây sát bờ biển Việt Nam để đánh bắt hết tôm cá, hải sản, từ Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tới Quảng Bình, Quảng Trị. Chăng lưới đánh cá tại khu vực Việt Nam là vi phạm hiệp ước. Tuy nhiên các đội tuần cảnh duyên hải Việt Nam sẽ ngoảnh mặt làm ngơ. Là cơ quan kinh tài của Đảng, họ sẽ triệt để thi hành chính sách thực dụng làm giàu với bất cứ giá nào, kể cả bằng sự cấu kết với ngoại bang vi phạm luật pháp và hiệp ước.
Trong cuộc hùn hiệp hợp tác này không có bình đẳng và đồng đẳng. Việt Nam chỉ là kẻ đánh ké, môi giới mại bản, giúp cho Trung Quốc mặc sức vơ vét tôm cá hải sản Biển Đông, để xin hoa hồng (giỏi lắm là 10%, vì Trung Quốc có 100% tầu, 100% lưới và 95% công nhân viên).
c) Rồi đây Trung Quốc sẽ công nhiên vi phạm Hiệp Ước Hợp Tác Đánh Cá cũng như họ đã thường xuyên vi phạm Công Ước về Luật Biển. Chiếu Công Ước này các quốc gia duyên hải có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý để đánh cá. Nhưng cũng có nghĩa vụ phải bảo toàn và dinh dưỡng ngư sinh để dành hải sản cho biển cả và các thế hệ tương lai. Trung Quốc đã trắng trợn và thường xuyên vi phạm Công Ước về Luật Biển trong chính sách “tận thâu, vét sạch và cạn tầu ráo máng” áp dụng từ thời Đặng Tiểu Bình. Đó là chính sách thực dụng mèo đen mèo trắng, làm giàu là vinh quang, làm giàu với bất cứ giá nào.
Từ hơn 1/4 thế kỷ theo kinh tế thị trường, với sự phát triển công kỹ nghệ, thương mại, đánh cá và khai thác dầu khí, ngày nay tại vùng duyên hải Trung Hoa, các tài nguyên, hải sản và nguồn lợi thiên nhiên như tôm cá, dầu khí đã cạn kiệt. Trong khi đó nhu cầu canh tân kỹ nghệ hóa và nạn nhân mãn (của 1 tỷ 380 triệu người) đòi hỏi Trung Quốc phải mở rộng khu vực đánh cá và khai thác dầu khí xuống Miền Nam.
d) Với hơn 25 năm kinh nghiệm trong nghề cá, Trung Quốc đã huấn luyện được một đội ngũ công nhân viên đông đảo gồm các kỹ thuật gia, chuyên viên điện tử, và ngư dân có tay nghề. Trong khi đó về phía Việt Nam chỉ có một số công nhân không chuyên môn để sai phái trong các công tác tạp dịch hay công tác vệ sinh như rửa cá, rửa tầu v...v... Và rồi đây, bên cạnh các lao động nô lệ xuất khẩu tại Đông Nam Á , chúng ta sẽ có thêm một số lao động nô lệ tại Biển Đông trên các tầu đánh cá xuyên dương Trung Quốc.
IV. TỘI CHUYỂN NHƯỢNG CÁC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA TRƯỜNG SA CHO NƯỚC NGOÀI.
Với đà này Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ nhượng nốt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng. Họ đã nhiều lần công bố ý định này:
1) Ngày 15-6-1956, ngoại trưởng Ung Văn Khiêm minh thị tuyên bố: “Hà Nội nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa”.
2) Ngày 14-9-1958 qua lời Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước, xác nhận chủ quyền hải phận của Trung Quốc tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
3) Để biện minh cho lập trường của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, sau khi Trung Cộng tiến chiếm Trường Sa hồi tháng 3-1988, báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của Đảng Cộng Sản trong số ra ngày 26-4-1988 đã viết: “Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thì Việt Nam phải tranh thủ sự gắn bó của Trung Quốc, và ngăn chặn Hoa Kỳ sử dụng 2 quần đảo nói trên”. Đây chỉ là lời ngụy biện. Vì tại Thái Bình Dương, Hoa Kỳ có Đệ Thất Hạm Đội nên không cần đến các hải đảo Trường Sa và Hoàng Sa để làm căn cứ xuất phát hay địa điểm chỉ huy.
4) Và hồi tháng 5-1976, báo Saigon Giải Phóng trong bài bình luậân việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực đầu năm 1974, đã viết: “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi”.
Từ 1956, mục tiêu chiến lược của Đảng Cộng Sản Việt Nam là “giải phóng Miền Nam” bằng võ lực. Để chống lại Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và Đồng Minh, Hà Nội hoàn toàn trông cậy vào sự cưu mang nhiệt tình của người thầy phương Bắc. Vì sau cái chết của Stalin năm 1953, Lien Xô chủ trương chung sống hòa bình với Tây Phương, trong khi Mao Trạch Đông vẫn tuyên bố “sẽ giải phóng một ngàn triệu con người Á Châu khỏi ách Đế Quốc Tư Bản”.
Mà muốn được cưu mang phải cam kết đền ơn trả nghĩa. Ngày 14-9-1958, qua Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước cam kết chuyển nhượng cho Trung Quốc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Qua năm 1959, Đảng Cộng Sản phát động chiến tranh Giải Phóng Miền Nam.
Có 3 lý do được viện dẫn trong cam kết này:
a) Vì Hoàng Sa, Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 17-7 (Quảng Trị- Cà Mâu) nên thuộc hải phận Việt Nam Cộng Hòa. Đối với Hà Nội nhượng Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc trong thời điểm này chỉ là bán da gấu! (không phải tài sản của mình). b) Sau này do những tình cờ lịch sử, nếu Bắc Việt thôn tính được Miền Nam thì mấy hòn đảo san hô tại Biển Đông đâu có ăn nhằm gì so với toàn thể lãnh thổ Việt Nam? c) Giả sử cuộc “giải phóng Miền Nam” không thành, thì việc Trung Cộng chiếm Hoàng Sa Trường Sa thuộc lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa cũng có tác dụng làm suy yếu phe quốc gia về kinh tế, chính trị, chiến lược và an ninh quốc phòng.
KẾ HOẠCH THÔN TÍNH BIỂN ĐÔNG CỦA TRUNG CỘNG.
Năm 1982, với tư cách ngũ cường thuộc Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết, Trung Cộng hoan hỷ ký Công Ước về Luật Biển. Ký xong Công Ước, Bắc Kinh mới thấy lo! Theo Công Ước các quốc gia duyên hải chỉ có 200 hải lý, vừa là vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá, vừa là thềm lục địa để khai thác dầu khí. Trong khi đó Hoàng Sa tọa lạc ngoài lục địa Trung Hoa 270 hải lý, và Trường Sa cách Hoa Lục 750 hải lý, nên không thuộc hải phận (thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế đánh cá) của Trung Quốc.
Vì vậy, cuối năm 1982, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả Trung Hoa ngày đêm nghiên cứu thảo luận ròng rã trong suốt 10 năm, để kết luận rằng “Nam Hải là Biển Lịch Sửû của Trung Quốc từ thời Hán Vũ Đế ”.
Đây là thái độ trịch thượng võ đoán của phe đế quốc, cũng như Đế Quốc La Mã thời xưa coi Địa Trung Hải là “biển lịch sử của chúng tôi!”
Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc nằm sát bờ biển, cách Quảng Ngãi 40 hải lý, cách Nam Dương 30 hải lý, cách Mã Lai và Phi Luật Tân 25 hải lý. Nó bao gồm toàn thể vùng biển Hoàng Sa Trường Sa và chiếm trọn 3 túi dầu khí đang khai thác là Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Natuna của Nam Dương và Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân.
Tuy nhiên về mặt pháp lý, nếu Ấn Độ Dương không phải là đại dương của Ấn Độ, thì Nam Hải cũng không phải là biển của Trung Hoa về phía Nam.
Vả lại theo Tòa Án Quốc Tế La Haye, biển lịch sử chỉ là nội hải. Hơn nữa Thuyết Biển Lịch Sử của Trung Quốc cũng bị Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển bác bỏ trong Điều 8: “Biển lịch sử hay nội hải của một quốc gia tọa lạc trong lục địa hay đất liền, bên trong bờ biển hay đường căn bản” (đường căn bản là lằn mực thủy triều xuống thấp).
Do đó Biển Nam Hoa hay Nam Hải không phải là Biển Lịch Sử của Trung Quốc vì nó là ngoại hải và cách lục địa Trung Hoa hơn 2000 cây số.
Và công trình 10 năm nghiên cứu của 400 học giả Trung Hoa chỉ là công “dã tràng xe cát Biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”!
Thất bại trong thuyết Biển Lịch Sử, Trung Cộng đề ra kế hoạch 4 bước để xâm chiếm Biển Đông về kinh tế:
1) Ký kết Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ năm 2000 để hủy bãi Hiệp Ước Bắc Kinh 1887 (theo đó Việt Nam được 63% và Trung Hoa được 37%. Nếu theo đường trung tuyến, hai bên được chia đều 50%. Tuy nhiên trên thực tế, Trung Cộng không theo đường trung tuyến và đã đề ra 21 điểm tiêu chuẩn phân định theo đó Việt Nam chỉ còn 45% so với 55% của Trung Hoa.
2) Ký kết Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá năm 2000 để thiết lập Vùng Đánh Cá Chung 60 hải lý. Và Việt Nam chỉ còn 25% tại vĩ tuyến 17, và 32% tại vĩ tuyến 20. Với các tầu đánh cá viễn duyên, với các lưới cá dài 50 hải lý, và nhất là với sự cấu kết đồng lõa của đội tuần cảnh duyên hải Việt Nam, toàn thể Vịnh Bắc Việt sẽ biến thành khu đánh cá tự do cho đội kình ngư Trung Quốc mặc sức tận thu, vét sạch, và cạn tầu ráo máng.
3) Từ đánh cá chung đến hợp tác khai thác dầu khí chỉ còn một bước. Trong Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt có điều khoản quy định rằng, khi dầu khí được phát hiện, hai bên sẽ khởi sự hợp tác khai thác dầu khí. Dầu khí là do các chất hữu cơ kết tụ trong các thủy tra thạch kết tầng dưới đáy biển. Các chất hữu cơ này được nước phù sa Sông Hồng Hà từ Vân Nam và Sông Cửu Long, con sông dài nhất Đông Nam Á, từ cao nguyên Tây Tạng đổ ra Biển Đông từ cả triệu năm nay. Do đó dầu khí nếu có, là do các chất hữu cơ từ lục địa Việt Nam, chứ không phải từ Hoa Lục. Mặc dầu vậy, tại Vịnh Bắc Việt, Trung Quốc đã đề ra nhiều dự án thăm dò và khai thác dầu khí, như “Dự Án Quỳnh Hải” bên bờ đảo Hải Nam và “Dự Án Vịnh Bắc Bộ” phía Bắc vĩ tuyến 20. (Khi dùng danh xưng “Vịnh Bắc Bộ”, Trung Quốc mặc nhiên nhìn nhận rằng đó là Vịnh của Việt Nam về phía Bắc. Vì nếu là củaTrung Hoa thì phải gọi là Vịnh Nam Bộ mới đúng địa lý).
4) Với chính sách vết dầu loang, sau khi thành tựu kế hoạch đánh cá và khai thác dầu khí chung tại Bắc Việt, hai bên sẽ tiến tới việc hợp tác đánh cá và khai thác dầu khí chung tại miền duyên hải Trung và Nam Việt. Điều đáng lưu ý là vùng lãnh hải này thuộc thềm lục địa và khu đặc quyền kinh tế đánh cá 200 hải lý của Việt Nam nên thuộc chủ quyền tuyệt đối của Việt Nam. Ở đây không có sự trùng điệp hay chồng lấn hải phận như trường hợp Vịnh Bắc Việt.
Không ai ngu dại gì cho người nước ngoài đến đánh cá và khai thác dầu khí chung tại thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế riêng của nước mình. Chiếu Điều 77 Luật Biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải. Mọi sự chiếm cứ bất cứ từ đâu tới cũng đều vô hiệu, nhất là chiếm cứ võ trang (trường hợp Trung Cộng dùng võ trang chiếm Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa từ năm 1988).
Bằng kế hoạch thôn tính 4 bước, đế quốc Bắc Kinh buộc Hà Nội hiến dâng toàn thể hải phận Việt Nam từ Vịnh Bắc Việt đến vùng biển Hoàng Sa Trường Sa theo lời cam kết của Hồ Chí Minh (Phạm Văn Đồng chỉ là kẻ thừa sai, bất lực, vô quyền, không có cả quyền bổ nhiệm một thứ trưởng theo lời tự thú của đương sự).
Như vậy, Thuyết Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc từng bị Công Ước về Luật Biển và Tòa Án Quốc Tế bác bỏ, nay sẽ trở thành hiện thực do kế hoạch 4 bước thôn tính Biển Đông của Trung Cộng. Vì quyền lợi riêng tư, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã táng tận lương tâm nhượng đất, bán nước, dâng cá dâng dầu và dâng các hải đảo cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.
Hành động như vậy Đảng Cộng Sản Việt Nam đã 4 lần phản bội Tổ Quốc.
Vì những lý do nêu trên: Thay mặt đồng bào trong nước không còn quyền được nói.
Trước Tòa Án Quốc Dân và Tòa Án Lịch Sử ỦY BAN LUẬT GIA BẢO VỆ DÂN QUYỀN KẾT ÁN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ 4 TỘI PHẢN BỘI TỔ QUỐC.
| | | |
TRUNG QUỐC VÀ PHẢN QUỐC
Trần Gia Phụng ( Toronto , 10-12-2007) http://www.vietname xodus.org/ vne/index. php
1.- CHUYỆN DÀI TRUNG QUỐC Đối với người Việt Nam , Trung Quốc là chuyện dài bất tận, bắt đầu ngay từ thời tổ tiên chúng ta lập quốc, và có lẽ không khi nào chấm dứt, vì không thể nào thay đổi khu vực địa lý chính trị. Các nhà cầm quyền Trung Quốc, dù bất cứ chế độ nào, luôn luôn tìm cách thôn tính Việt Nam , bành trướng xuống Đông Nam Á. Điều nầy không cần chứng minh, người Việt Nam nào cũng biết. Gần đây, ngày 2-12-2007, Trung Quốc công bố rằng quốc vụ viện (quốc hội) của họ đã phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam, để trực tiếp quản lý ba quần đảo: Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa). Trong ba quần đảo nầy, tài liệu lịch sử Việt Nam cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam từ lâu đời. (Tài liệu của Lê Quý Đôn, Đại Nam nhất thống chí của nhà Nguyễn, thời Pháp thuộc, thời Trần Văn Hữu trong Hội nghị San Francisco (8-9-1951), thời Việt Nam Cộng Hòa…) Tức thì, tin Tam Sa gây phản ứng từ nhiều phía người Việt. Trước hết, phải kể đến nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam (CSVN) ở trong nước. Ngày thứ Hai, 3-12-2007, Thông tấn xã Việt Nam đã thuật lại lời của ông Lê Dũng, phát ngôn viên bộ Ngọai giao Việt Nam, như sau: “Hành động này đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của VN, không phù hợp với nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, không có lợi cho tiến trình đàm phán tìm kiếm biện pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển giữa hai bên…VN có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…Trước sau như một, VN chủ trương giải quyết các bất đồng thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 và tinh thần tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông năm 2002, nhằm giữ gìn hòa bình, ổn định trên biển Đông và khu vực.” (Tuổi Trẻ, 4-12-2007.)
Phản ứng của dân chúng Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước rất sôi nổi. Ở ngoài nước, người Việt phản ứng mạnh mẽ đã đành, mà ở trong nước, tại Hà Nội và Sài Gòn, cũng xảy ra những cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Đây là những cuộc biểu tình hết sức đặc biệt dưới chế độ CSVN, mà theo nhà văn Hoàng Hưng: “Trong cuộc đời hơn 50 năm sống dưới chế độ toàn trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, đây là lần đầu tiên tôi được tham dự một cuộc biểu tình tự phát của người dân. Người “tổ chức” cuộc biểu tình là các blogger đã truyền đi trên internet lời kêu gọi từ mấy hôm trước. Và bất chấp những ý kiến cảnh cáo răn đe, rằng kẻ kêu gọi là phần tử phản động, rằng tham gia biểu tình là chống lại đường lối giải quyết mâu thuẫn bằng con đường chính thống của nhà nước, là bị “bọn dân chủ” lợi dụng để chống chính quyền… cuộc biểu tình đã diễn ra suốt ba tiếng đồng hồ ở trung tâm thành phố trước sự chứng kiến của đông đảo lực luợng an ninh mà không có sự cố gì xảy ra… (Hoàng Hưng, “Khi lòng yêu nước không bị áp đ& #7863;t”, Talawas, 11-12-2007). Ở Sài Gòn, “9h sáng đến 12h30 trưa, ngày 9 tháng 12 năm 2007 - Ðây sẽ là một ngày có ba tiếng rưỡi thật đáng nhớ đối với riêng tôi và những người đã có mặt trước Lãnh sự quán Trung Quốc ở Sài Gòn hay tại Ðại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội, đặc biệt là đối với những người trẻ tuổi. Những người mà tôi không biết tên tuổi, gia cảnh, nhưng chắc chắn họ cũng như tôi, cùng trưởng thành dưới môi trường xã hội chủ nghĩa, dưới sự điều hành duy nhất của Ðảng Cộng sản trong suốt hơn 32 năm. đoàn kết bên nhau trong cùng một tiếng nói chung… Ðối với những người thuộc thế hệ tôi, thế hệ 8x, thì cuộc biểu tình này là lần biểu tình đầu tiên của cuộc đời, trong suốt hai mươi mấy năm sinh ra trên quê hương Việt Nam. Ðây, cuộc mở miệng đầu tiên của chúng tôi. Ðây, lần đầu tiên chúng tôi thực hiện một trong những quyền cơ bản của con người. Ðây, chúng tôi cảm nhận được nhiệt huyết sôi sục trên gương mặt nhau. Ðây, chúng tôi nhắc nhở cho chính phủ Việt Nam biết nhân dân Việt Nam còn tồn tại và biết họ cần làm những gì cho đất nước. Còn đối với những thế hệ xx khác ở miền Nam, có lẽ từ thời Ngô Ðình Diệm hay Nguyễn Văn Thiệu, thì mãi đến bây giờ họ mới có dịp sống lại cảm giác hãnh diện của tình yêu nước trong một tập thể. Còn đối với những người ngoài Bắc, có lẽ họ cũng đang thử ôn lại xem đã bao nhiêu năm rồi mới sống một ngày trọn vẹn và có ý nghĩa như ngày 9/12 hôm đó.” ( Lynh Bacardi, “Hãy tự cho chúng ta thêm nhiều lần lên tiếng”, Talawas, 12-12-2007.) 2.- TRUNG QUỐC VÀ PHẢN QUỐC Chuyện dài Trung Quốc chia thành hai tập rõ rệt. Tập thứ nhất, từ thời lập quốc đến thế kỷ 19, là những thiên anh hùng ca giữa nước của dân tộc, với các chương nổi bật như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Lê Lợi, Quang Trung... Tập thứ hai, từ đầu thế kỷ 20 cho đến nay, chuyện dài Trung Quốc hoàn toàn đổi chiều, chỉ là những trang thảm sử nhục nhã do đảng CSVN dựng nên. Tập hai nầy có thể chia làm hai chương chính từ 1924 đến 1954 và từ 1954 đến 1975. Chương thứ nhất bắt đầu với Nguyễn Ái Quốc. Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc (người Việt Nam có tên Nga là Lin hay Linov), ủy viên Đông phương bộ, phụ trách cục phương Nam, một cán bộ lãnh lương của Đệ tam Quốc tế Cộng sản (QTCS), từ Liên Xô qua Trung Hoa để phát triển cộng sản xuống vùng Đông Nam Á. Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc với đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH) và mời Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai đến giảng dạy tại những khóa huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc lập ra để đào tạo cán bộ. Nguyễn Ái Quốc chính là người đại diện QTCS đứng ra thành lập đảng CSVN tại Hương Cảng ngày 6-1-1930 (Sau vâng lệnh đảng CS Liên Xô, đổi thành ngày 3-2-1930.) Cuộc giao du giữa hai đảng CSVN và CSTH bắt đầu từ đây. Khi đến Trung Hoa lần thứ ba, Nguyễn Ái Quốc đến căn cứ Diên An, nơi đặt bộ chỉ huy CSTH, trong nhiều tuần lễ vào mùa thu năm 1938, có thể để học tập và huấn luyện. Trong giai đọan đầu của cuộc chiến chống Pháp, Việt Minh (một mặt trận của CSVN) thất bại, phải co cụm lên rừng núi và về nông thôn. Vì vậy, vừa được tin Mao Trạch Đông chiến thắng và thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ngày 1-10-1949, Hồ Chí Minh gởi liền hai đại diện là Lý Bích Sơn và Nguyễn Đức Thủy đến Bắc Kinh vào cuối năm đó để xin viện trợ. ( Qian g Zhai , China & Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, tt. 10-15.) Tiếp theo, đích thân Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh và Moscow vào đầu năm 1950. Tại Moscow, Hồ Chí Minh lãnh chỉ thị về thực hiện Cải cách ruộng đất sắt máu theo kiểu cộng sản. Trên đường về, trở lại Bắc Kinh, Hồ Chí Minh ký với các nhà lãnh đạo Trung Quốc Hiệp ước Phòng thủ Hỗ tương giữa hai bên. Từ đó, CSTH cử La Quý Ba sang làm cố vấn cho Hồ Chí Minh, và ào ạt viện trợ cho VM. Từ tháng 4 đến tháng 9-1950, Trung Quốc viện trợ cho VM 14,000 súng, 17,000 súng tự động, 150 trọng pháo đủ lọai, 2,800 tấn lúa, cùng đạn dược, quân phục, máy truyền tin, thuốc men…(Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập B, Houston: Văn Hóa, 1997, tr. 191.) Theo tài liệu của CSVN, từ tháng 12-1950 đến tháng 6-1954, “chính phủ nước Việt nam Dân chủ Cộng Hòa đã nhận được viện trợ của quốc tế là 21,517 tấn vật chất, bao gồm vũ khí, đạn dược, nguyên liệu quân giới, vận tảixăng dầu, gạo, thực phẩm, quân trang, quân y, thông tin, công binh (trong đó vũ khí đạn dược là 4,253 tấn; vận tải xăng dầu là 5,069 tấn; gạo, thực phẩm – 9,590 tấn.) Tổng số viện trợ trị giá 136 triệu đồng nhân dân tệ (34 triệu rúp) theo thanh tóan giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong số đó, v$ 1; khí trang bị kỹ thuật gồm có 24 khẩu sơn pháo 75 ly, 24 khẩu lự pháo 105 ly, 76 khẩu pháo cao xạ 37 ly (của Liên Xô), 12 khẩu pháo hỏa tiễn H6 (của Liên Xô, 715 xe ô tô vận tải (trong đó có 685 xe của Liên Xô).” (Lê Mậu Hãn chủ biên, Đại cương lịch sử Việt Nam , tập III, Hà Nội: Giáo Dục, 2001, tr. 103.) Viện trợ nhiều, thì ân tình nhiều. Sau năm 1954, Bắc Việt tiến lên xã hội chủ nghĩa, càng ngày càng nghèo đói, lấy gì trả nợ ân tình? Để đền ơn đáp nghĩa, nhà cầm quyền Hà Nội không có gì ngoài việc lấy của gia bảo là đất đai do cha ông để lại, để hiến dâng cho Bắc Kinh. Theo tài liệu về phía Trung Quốc, "Vào tháng Sáu năm 1956, hai năm sau khi chính phủ của ông Hồ Chí Minh đã thành lập tại Hà Nội, thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Ung văn Khiêm đã nói với ông Li Zhimin, tham tán sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, rằ ;ng theo dữ liệu của Việt Nam thì đảo Tây Sa (tức Paracels, Hòang Sa) và đảo Nansha (tức Spratleys, Trường Sa) là một phần thuộc Trung Quốc theo lịch sử." (Quan điểm của Bắc Kinh về chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, RFA 12-12-2007
Vì vậy, muốn chống TRUNG QUỐC hữu hiệu, trước tiên phải dẹp bỏ PHẢN QUỐC. Chỉ khi nào kẻ PHẢN QUỐC không còn, thì mới chấm dứt tình trạng nhượng bộ đất đai, mới có thể nói chuyện tập hợp tổng lực toàn dân, chống TRUNG QUỐC một cách hữu hiệu, như trước kia nhà Lý, nhà Trần đã làm.
3.- DẸP PHẢN QUỐC ĐỂ CHỐNG TRUNG QUỐC Trung Quốc là một trong những đại n&# 7841;n của lịch sử Việt Nam. Đại nạn nầy càng gia trọng khi những kẻ phản quốc cầm quyền, luôn luôn manh tâm bán đứng đất nước để mưu đồ quỵền lực và quyền lợi riêng tư. Hãy trở lui với phản ứng của nhà cầm quyền CSVN đối với vụ Tam Sa. Lê Dũng, phát ngôn viên bộ Ngọai giao Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nói: “Hành động này đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của VN, không phù hợp với nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, không có lợi cho tiến trình đàm phán tìm kiếm biện pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển giữa hai bên…VN có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…Trước sau như một, VN chủ trương giải quyết các bất đồng thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 và tinh thần tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông năm 2002, nhằm giữ gìn hòa bình, ổn định trên biển Đông và khu vực.” Có ba điều cần nhấn mạnh: 1) Trong sinh họat dân chủ, cấp cao nhất là Quốc hội. Việc Tam Sa do Quốc hội Trung Quốc quyết định. Vậy cấp cao hơn là ai? Phải chăng là Bộ Chính trị đảng CSTH? Bộ Chính trị đảng CSTH cũng nằm trong Quốc hội và điều khiển Quốc hội, thì còn ai cao hơn? 2) Đúng là lịch sử Việt Nam có đủ bằng chứng rằng các đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Tuy nhiên, TRUNG QUỐC nói rằng họ cũng có đủ bằng chứng cho thấy Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, và đảng CSVN đã nhượng các vùng đất và biển nầy cho Trung Quốc. Đảng CSVN trả lời sao đây? Đối với người Việt Nam, những bằng chứng nầy là bằng chứng PHẢN QUỐC của đảng CSVN. 3) Nói đến công ước Liên Hiệp Quốc, thì hiện nay, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vừa mới giữ ghế không thường trực hai năm trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Giải quyết những vụ tranh chấp, xâm lăng lãnh thổ giữa các nước trên thế giới, nằm trong chức năng của HĐBALHQ. Việt Nam đang ngồi trong Hội đồng mà không dám đưa vấn đề ra Hội đồng. Việt Nam cũng không đưa ra kiện tụng ở Tòa án Quốc tế đặt tại The Hague (Hòa Lan). Thế thì nói công ước quốc tế làm gì? “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Thế mà CSVN quá sợ nhà cầm quyền Bắc Kinh, nên không dám đánh. Quân đội Nhân dân “anh hùng” của CSVN đứng bất động. Không lẽ “anh hùng” là nhờ Quân đội nhân dân chỉ là công cụ để CSVN đàn áp dân chúng, giúp CSVN bán dần và bán rẻ đất đai của tổ tiên cho Trung Quốc? Cộng Sản Việt Nam sợ Trung Quốc đến nỗi ở trong nước không cho phép dân chúng biểu tình phản đối Trung Quốc. Một ví dụ cụ thể là thông báo của Trường Đại Học Công Nghệ thuộc Viện Đại Học Hà Nội được đưa lên mạng lưới thông tin quốc tế, khuyên sinh viên không nên tổ chức hay tham gia biểu tình mà phải chờ đO 07;i chủ trương của nhà nước theo đường lối ngọai giao. Trong khi đó, mặt khác CSVN vẫn sợ bị lên án là khiếp nhược trước sự xâm lăng từ phương Bắc, nên tuy cấm biểu tình, nhưng nhà cầm quyền CSVN không đàn áp, bắt giam những người phản đối và biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn ngày 9-12-2007, mà chỉ theo dõi, duy trì trật tự, khác với những cuộc tụ họp khiếu kiện gần đây của dân oan. Cũng có thể CSVN cũng cần những cuộc biểu tình nầy vì hai lẽ: Thứ nhất, dựa trên cơ sở lòng dân, Hà Nội sẽ kiếm cách thương thuyết với Bắc Kinh, xin nhẹ tay để khỏi bị tai tiếng phản quốc. Thứ hai, việc chống Trung Quốc sẽ giúp đánh lạc hướng dư luận dân chúng trong nước và trên thế giới, hiện đang xôn xao đòi hỏi tự do dân chủ, đòi tự do chính trị, tự do báo chí, đòi thả những người bất đồng chính kiến, thả những tù nhân lương tâm, đòi giải quyết những vụ khiếu kiện của dân oan. Nghĩa là trong cơn bối rối, Hà Nội muốn chuyển mục tiêu tranh đấu và lòng căm giận của dân chúng về phía Bắc Kinh, nhằm làm giảm nhẹ áp lực của dư luận đối với CSVN. Do đó, chúng ta cần thận trọng tránh cạm bẫy nầy của CSVN. < SPAN style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman';"> Khi tổ chức và tham gia biểu tình, các anh chị em thanh niên, sinh viên chẳng những dạy cho đảng CSVN một bài học thực hành đích đáng về lòng yêu nước, mà các anh chị em còn nhắc nhở việc thực hành bài học yêu nước nầy cho những nhà khoa bảng, trí thức, giáo sư, giáo viên, không phải chỉ nói chuyện lý thuyết suông, mà cần phải chuyể
|
|
|
|