DIEN DAN CHINH TRI VIET NAMDau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
Ý thức hệ Cộng sản dựa trên lý luận của Karl Marx về Định mệnh Kinh tế Tư bản (Fatalité Economique Capitaliste). Kinh tế Tư bản đặt Tiền đề là TƯ HỮU. Vì tư hữu (Propríeté Privée) mà phải có Tự do kinh doanh (Liberté d’Entreprise) và rồi Tự do Trao đổi ở Thị trường (Libre Echange au Marché).
Karl Marx lý luận rằng nền Kinh tế Tư bản Tự do và Thị trường gồm những bóc lột của giới Tư bản đối với giới Lao động. Nền Kinh tế ấy vô sản hóa giới Lao động (Prolétarisation des Travailleurs) đến độ giới này chịu không nổi mà phải đứng lên làm Cách Mạng Vô sản đòi lại những Tư sản cho giới vô sản của mình. Dựa trên cách đo lường của những Giá trị sản phẩm Kinh tế mà nhà đại Kinh tế gia cổ điển Anh, David RICARDO, đã có sáng kiến đặt ra, Karl Marx nói đến việc đấu tranh của giới Lao động. Theo David RICARDO, Giá trị của một sản phẩm Kinh tế được đo lường bằng sức Lao động hội nhập vào sản phẩm. Tư bản vì vậy được coi là sự chiếm hữu sức Lao động từ giới Thợ thuyền để làm sở hữu của giới Tư bản. Giới này quay lại dùng Tư bản để bóc lột thêm giới Thợ thuyền nữa. Karl Marx gọi đây là vông thân Kinh tế (Alíenation Economique), nghĩa là Tư bản thuộc Thợ thuyền, nhưng Thợ thuyền đưa tặng cho giới Tư bản để rồi giới Tư bản quay lại bắt Thợ thuyền làm đầy tớ cho Tư bản.
Lénine lấy Lý luận này của Karl Marx làm ý thức hệ cho Cách Mạng Vô sản: NHỮNG NGƯỜI VÔ SẢN HÃY ĐỨNG LÊN ĐÒI LẠI TƯ BẢN CHO ĐOÀN NGŨ THỢ THUYỀN, dù bằng những biện pháp đẫm máu (Lutte des Classes sanglante). Nhưng giới Vô sản là đám đông, phải có một Nhóm người đứng ra quản trị những Tư sản vừa thu hồi được. Nhóm người này là đảng Cộng sản. Những Tư hữu trở thành Công hữu và do đảng Cộng sản nắm giữ, chỉ huy và làm Kinh tế. Đó là nền Kinh tế Chỉ huy (Economie Dirigiste) với Công hữu (Propríeté Collective) và với những Hoạch định Kinh tế của Nhà Nước (Plans Economiques Etatiques).
Nếu Karl Marx gọi việc Vô sản hóa là một tiến trình tự động (Processus automatique) và việc sụp đổ của nền Kinh tế Tư bản là một Định Mệnh của chính Tư bản (Fatalité d’auto- destruction du Capitalisme), thì Lịch sử sự sụp đổ của Thế giới Cộng sản cho thấy một Định mệnh khác hẳn, đó là việc tự sụp đổ của Cộng sản do chính giới Vô sản thiếu ăn đến cùng cực (Fatalité d’auto-destruction du Communisme).
Thực vậy, trong lúc nền Kinh tế Tư hữu Tự do và Thị trường tiếp tục phát đạt và Tư sản hóa dần dần giới Lao động, thì nền Kinh tế Công hữu và Chỉ huy lại càng vô sản hóa giới Lao động đến cùng cực. Đến lúc mà giới Lao động này quá đói khổ trong một nền Kinh tế do đảng Cộng sản chỉ huy, thì họ đứng lên lật đổ nền Kinh tế chỉ huy này và đảng Cộng sản độc tài chỉ huy.
Nga và các nước Đông Aâu đã bỏ độc tài độc đảng và lấy lại nền Kinh tế tư sản Tự do và Thị trường.
Viet Nam vẫn cố tình ngụy biện bám víu Ý thức hệ đã sai lầm lịch sử ấy. Dù cố tình ngụy biện vì quyền hành cho độc đảng của mình, nhưng cái Định mệnh tự hủy diệt vẫn lạnh lùng diễn ra mà chúng tôi nhìn qua ba giai đoạn sau đây:
1. Giai đoạn I: KHÉP KÍN
Bài học Lịch sử của sự sụp đổ Cộng sản ở Nga và Đông Aâu vẫn chưa cho Cộng sản Việt Nam sáng mắt. Đảng CSVN quá ham quyền hành và tin tưởng ở sự che chở của Trung Cộng. Việt Nam vẫn KHÉP KÍN cửa và sự đói nghèo của Dân chúng vẫn tiếp tục. Nhưng sự khép kín này không lâu vì Định mệnh tự hủy diệt vẫn lù lù trước mắt.
2. Giai đoạn II: MỞ CỬA
Dân chúng đói nghèo đến cùng cực với việc khép kín, việc cố thủ giữ lấy Kinh tế công hữu chỉ huy với độc tài độc đảng. Nhưng không còn viện trợ của Thế giới Cộng sản và Trung Cộng cũng phải lo lắng cho sự nghèo đói của mình, đảng Cộng sản Việt Nam đành phải tuyên bố MỞ CỬA cho Thế giới Tư bản với nền Kinh tế tư sản Tự do và Thị trường. Nhưng đảng vẫn thêm cái đuôi Định hướng Xã hội Chủ nghĩa để cứu vãn danh dự và làm cớ để giữ quyền độc tài độc đảng. Kết quả của MỞ CỬA này là Thế giới Tư bản có những cái nhìn nhiều hơn vào chế độ và Dân chúng có những liên hệ nhiều hơn với Thế giới bên ngoài để so sánh với những bẩn thỉu che dấu của chế độ. Cuộc Cách Mạng Truyền Thông Internet làm tăng cái nhìn từ nước ngoài và sự khám phá những bẩn thỉu che đậy của chế độ. MỞ CỬA, nhưng đảng CSVN vẫn tìm đủ mọi cách bấu víu lấy quyền hành độc đoán trong hoàn cảnh không giữ nổi truyền thông theo ý che đậy của mình.
Kết quả của Giai đoạn II MỞ CỬA này là những cuộc đình công của giới Thợ thuyền và việc đứng dậy của những nhà Dân chủ. Dân chúng không còn sợ hãi nữa vì không thể chịu được những che đậy bẩn thỉu, những đàn áp vì đảng bấu víu lấy quyền hành độc tài. Dân chúng đã tự động đứng lên ra báo thi hành quyền TỰ DO NGÔN LUẬN, tự động thành lập những Đoàn thể thi hành quyền TỰ DO LẬP HỘI. Họ đòi phải có Tự do, Dân chủ đa nguyên.
3. Giai đoạn III: HỘI NHẬP
Cái Định Mệnh Tự Hủy Diệt (Fatalité d’auto-destruction) cứ lù lù tiến tới ở Giái đoạn II MỞ CỬA như trên. Giai đoạn MỞ CỬA có những phát triển Kinh tế do sự làm ăn với Thế giới tư sản Tự do Thị trường. Đảng cố tình tuyên truyền rằng đó là công của đảng. Nhưng Dân chúng khám phá ra những tham nhũng và lãng phí có hệ thống của đảng, đó là kẻ thù của phát triển. Phải nói rằng sự phát triển hiện nay là do sự nhẫn nại làm ăn của Dân chúng Việt Nam, do nguồn vốn cung cấp hàng năm của khối người Tỵ nạn Cộng sản ở nước ngoài (USD.4.5 tỉ hàng năm), do tiếp cận hạn hẹp làm ăn với Thế giới Tư bản. Chính đảng Cộng sản làm thất thoát và trì hoãn việc phát triển này mới đúng.
Mất tin tưởng của Dân chúng quốc nội, đảng Cộng sản tìm những hỗ trợ ngoại lai để củng cố quyền lực Chính trị của mình. Thực vậy nếu đảng vẫn cảng cổ nói rằng Dân chúng Việt Nam tin tưởng ở đảng, thì hãy cho Dân chúng bầu phiếu Tự do để biểu lộ lòng tin tưởng ấy. Nhưng đảng không dám cho việc bầu cử tự do tín nhiệm ấy như chứng cớ cụ thể cho Thế giới biết. Đảng đã không dám làm mà chỉ tuyên truyền suông.
Mất tin tưởng của lòng Dân quốc nội và muốn dùng thế lực ngoại lai để tăng cường cho quyền độc tài đàn áp, trị Dân quốc nội, đảng CSVN nhận tổ chức APEC, đảng o bế Mỹ để có PNTR, đảng quyết tử vào WTO như gà mắc đẻ.
Đây là Giai đoạn III HỘI NHẬP với Thế giới Tư bản trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
Nhưng việc hội nhập này không phải là đi dự yến tiệc. Đảng luôn luôn tuyên truyền rằng hội nhập WTO là hốt tiền bạc. WTO không phải là yến tiệc mà là một ĐẤU TRƯỜNG và là đấu trường về tiền bạc. Nếu chỉ là đấu trường về danh dự hay hơn thua về lý thuyết, thì có thua kém một chút cũng không sao, mất keo này bầy keo khác. Nhưng đây là đấu trường về tiền bạc không thương tiếc nhau. Không thể nói câu mất keo này bầy keo khác. Tiền bạc mất là mất, không thể cứu vãn, bất hồi tố. Kẻ yếu thì mất tiền mà người mạnh được của không có gì thương hại.
Vào WTO là phải giữ đúng đắn quy luật của đấu trường, không thể chập chí chập mầu gian dối che đậy. Nếu kết quả của Giai đoạn II MỞ CỬA là Dân chúng lấy Hiến pháp ra để đứng lên, thì kết quả của Giai đoạn III HỘI NHẬP này, Thế giới lấy Luật Quốc tế ra để chấm dứt độc tài khủng bố, gian lận, che đậy.
Cái Định Mệnh Tự Hủy Diệt sẽ tiến tới cho Cộng sản Việt Nam ở Giai đoạn III HỘI NHẬP này vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
NHU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI HỎI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ HIỆN HÀNH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài MỞ ĐẦU: NHU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI HỎI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ HIỆN HÀNH
Chúng tôi phân đã tích về những lo âu, sợ sệt của đảng CSVN trước viễn tượng tương lai đang có những biến chuyển hướng về những đòi hỏi phát triển Kinh tế. Một đàng họ cố thủ nắm giữ lấy quyền hành, không phải là Ý thức hệ mà là việc có độc quyền, thì dễ bề tham nhũng. Tham nhũng lan tràn và còn tràn lan hơn nữa khi mà viễn tượng phát triển Kinh tế đang là mơ mộng cá nhân của từng đảng viên hiện nay đã được đảng cho làm Kinh tế cá nhân. Nhưng một đàng khác, họ cố thủ bấu víu lấy quyền lực độc tài vì những lo âu trong thâm tâm rằng khi mà họ mất quyền thì Dân đòi hỏi họ phải trả lời về tất cả những tội ác, nhất là về việc tham nhũng, cướp bóc tài sản của Dân.
Việc cối chầy, mặt dầy mày dạn bấu víu lấy quyền hành như vậy từ những lý do không chính đáng cho thấy rằng Đất Nước khó lòng phát triển Kinh tế khi có cơ hội thuận tiện. Chúng tôi rất thích bài QUAN ĐIỂM của Bán Nguyệt San TỰ DO NGÔN LUẬN số 10/01.09.2006 đã chọn đầu đề: “CÔN ĐỒ TRỊ NƯỚC MÃI NÊN CHĂNG??“. Nguyên cái đầu đề như vậy đủ tóm tắt lòng dạ của đám ba đá ba trợn không biết liêm xỉ, chịu đấm ăn xôi cố níu lấy quyền hành độc đoán và dùng bạo lực khủng bố Dân.
Đàm phán song phương với Hoa kỳ về Thương mại, tương lai vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC) là cơ hội mới sắp tới để nghĩ đến phát triển Kinh tế Đất Nước. Đảng CSVN đã làm mất một cơ hội phát triển Kinh tế chỉ vì làm nô lệ cho một Ý thức hệ ngoại lai và theo lệnh quốc tế của khối Cộng sản Liên Xô & Trung Cộng. Đó là cơ hội mà Dân Mỹ sẵn sàng tái thiết cả hai Miền Bắc và Nam Việt Nam sau khi ký Hòa Đàm Ba-Lê. Nếu không vì làm nô lệ cho khối Cộng sản xâm chiếm Miền Nam, thì đất nước chúng ta sau 30 năm yên lành phát triển Kinh tế với đóng góp của Hoa kỳ và khối Thế giới Tự do, nay đã là một trong những Con Rồng Kinh tế trong vùng. Chính những đảng viên cao cấp Cộng sản đã tiếc nuối cơ hội này.
Việc vào WTO và bình thường hóa Thương mại song phương với Hoa kỳ sẽ là cơ hội thứ hai. Nói đây là cơ hội phát triển, không có nghĩa là chúng tôi khẳng định rằng việc vào WTO sẽ hoàn toàn đưa lại những lợi điểm. Chúng tôi đã viết một số bài phân tích về những cái lợi và những cái hại. Biết những cài hại để tránh, thấy những cái lợi để mà gặt hái lấy cho Quê Hương.
Trong một số những bài viết ít tháng vừa qua tới nay, tôi đã nhấn mạnh về khía cạnh Kinh tế của những Phong trào Đấu Tranh. Chúng tôi đã mạnh dạn hô hào MẶT TRẬN KINH TẾ/ TÀI CHÁNH vì nhìn thấy tầm quan trọng của cơ hội này.
Bài hôm nay là bài MỞ ĐẦU để chúng tôi viết ba bài QUAN ĐIỂM lần lượt cho những số VietTUDAN kế tiếp:
Bài QUAN ĐIỂM thứ nhất: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI
Vào WTO, đây là một Văn Bản, Giấy Phép để những nước đã phát triển Kinh tế hoặc cường quốc Kinh tế vào Việt Nam làm một cuộc “Thuộc địa Kinh tế“. Thái Lan sẽ khống chế sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp Việt Nam. Những người về thăm Quê Hương đã thấy rằng Thái Lan bán gạo của họ, hoặc ngay đồ gia vị tại Thị trường Việt Nam. Trung Cộng sẽ diệt công nghệ Việt Nam về những sản phẩm thông dụng hàng ngày. Về những hàng hóa cao cấp hơn, có Nhật, Đài Loan, Đại Hàn và Tân Gia Ba. Các sản phẩm Mỹ, Aâu châu sẽ tràn vào. Những Dịch vụ nước ngoài như Kiểm toán, Bảo hiểm... sẽ thắng tại Việt Nam. Những Tiểu thương Việt Nam sẽ phải sống ngắc ngoải vì không trường vốn. Chúng tôi gọi đây là “Thuộc địa Kinh tế“ mà chúng ta phải tìm cách “Kháng chiến Kinh tế“ để chống lại.
Trong những cái hại này, có hai cái hại lớn nhất là: => Xử dụng độc tài, cấu kết với nogại lai để bóc lột nhân lực Việt Nam => Giết chế Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam
Bài QUAN ĐIỂM thứ hai: NHỮNG CÁI LỢI PHẢI THU LẤY
Trên đây là những điểm có hại. Chúng tôi cũng muốn nhìn những điểm lợi khi có sự bình thường hóa Thương mại với Hoa kỳ và khi đã vào WTO/OMC. Vào WTO và bình thường hóa Thương mại với Mỹ có nghĩa là chúng ta phải hiệp lực tăng cường xuất cảng những hàng hóa của Việt Nam để thu lấy ngoại tệ làm đà phát triển Kinh tế Đất Nước. Chúng tôi nhìn thấy những hàng hóa trong tầm nỗ lực sản xuất của mình:
=> Nông phẩm và Ngư phẩm => Hàng may mặc, Dầy dép che thân thông dụng => Nhận sản xuất những Linh kiện (Pìeces détachées) cho nước ngoài
Để có thể phát triển và xuất cảng những hàng này, nhất thiết cần phải có sự hợp tác thành thực và và lý tưởng giữa Quốc nội và Khối Người Việt tại Hải ngoại. Khối người Việt sống trên 70 quốc gia là đầu cầu không tốn kém của xuất cảng. Để có sự hợp tác thành thực và lý tưởng vì quyền lợi Đất Nước, phải có những Điều kiện Chính trị—Luật pháp phù hợp (Conditions Politico—Juridiques adéquates) mà hai bên đồng chấp nhận. Không thể kêu gọi Hoà hợp, Đoàn kết mà một bên chỉ muốn nắm trọn quyền định đoạt, còn một bên buộc phải cúi đầu vâng lời như đàn khỉ.
Bài QUAN ĐIỂM thứ ba: PHẢI BỎ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI ĐỂ TOÀN DÂN XÂY DỰNG THỂ CHẾ TỰ DO DÂN CHỦ
Trước những nguy hại của một cuộc “Thuộc địa Kinh tế“ mà toàn Dân trong cũng như ngoài Nước phải nắm chặt tay nhau để “Kháng chiến Kinh tế“; trước nỗ lực khai thác xuất cảng những hàng hóa Việt Nam mà khối người Việt tại Hải ngoại là một lực lượng rất chủ yếu, chúng ta thấy rõ cái NHU CẦU không thể không có được là phải phế bỏ THỂ CHẾ ĐỘC TÀI hiện hành tại Việt Nam. Không những đây là NHU CẦU để hợp tác, mà chính thể chế này còn là ung thối vì tham nhũng hoành hành cần phải được tẩy sạch. Nhân Dân Việt Nam tại Quốc nội và khối Người Việt tại Hải ngoại không thể và không muốn nỗ lực làm việc cho phát triển Đất Nước, khi mà họ thấy đảng CSVN, một nhóm người đã ung thối, lại dùng bạo quyền khủng bố để ăn cướp bẩn thỉu trên đầu Dân Chúng Việt Nam.
Bỏ cái chế độ độc tài hiện hành, diệt trừ những ung thối của bạo quyền độc đoán để thiết lập một Thể chế Tự do Dân chủ mà toàn Dân chấp nhận. Có như vậy thì mới có Hoà hợp, mới có Đoàn kết thực sự.
Thể chế Tự do Dân chủ Pháp trị là Điều kiện Chính trị—Pháp lý phù hợp cho sự phát triển Kinh tế trong cái cơ hội mới bình thường hóa Thương mại với Hoa kỳ và vào Tổ chức Mâu Dịch Thế Giới (WTO/OMC). Chúng tôi xin nhắc lại rằng người Dân làm Kinh tế chứ không phải Nhà Nước làm Kinh tế. Nhà Nước chỉ tạo cái Điều kiện Chính trị—Pháp lý mà các nhà Kinh tế gọi đây là Mội trường Chính trị—Pháp lý phù hợp (Environnement Politico—Juridique adéquat) cũng như hai Môi trường Địa lý Tài nguyên và Nhân lực (Environnements Géographiques—Ressources et Environnement Démographique). Ba Môi trường này uốn nắn cho hướng đi, tạo đà phát triển Kinh tế của một Quốc gia.
KẾT LUẬN:
Vào WTO/OMC, muốn “Kháng chiến Kinh tế“ chống lại “Thuộc địa Kinh tế“, muốn gặt hái những cái lợi qua xuất cảng, thì phải có nỗ lực làm việc của toàn Dân trong cũng như ngoài nước. Muốn có được sự hợp lực thực sự để làm việc, thì phải phế bỏ cái chế độ độc tài CS ung thối, tham nhũng, ăn cướp hiện nay để có một thể chế mà toàn Dân đồng chấp nhận.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ CSVN:
CƠ HỘI WTO: (I) TỔNG QUÁT: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Đây là Bài thứ Nhất trong loạt mà chúng tôi đã loan báo trong Bài MỞ ĐẦU trên đây. Bài này viết về những cái hại tổng quát). Khi viết loạt bài này và có thể những loạt bài kết tiếp để khai triển thêm những chi tiết, tôi muốn cho thấy rằng chính những đòi hỏi Phát triển Kinh tế tương lai bắt buộc phải phế bỏ chế độ độc tài CSVN hiện nay. Khi tôi nói là phải phế bỏ chế độ CSVN hiện hành, đó không phải là việc tôi đòi hỏi hoặc “làm chính trị“. Đó chỉ là đòi hỏi của những điều kiện phát triển thuần túy Kinh tế mà thôi.
Bài thứ Nhất nói về khi nhậpWTO, cơ hội phát triển Kinh tế, trước hết có NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI. Bài này sẽ đề cập đến hai phần như sau: => Những cái hại gặp phải khi vào WTO/OMC => Những biện pháp chống lại những cái hại.
NHỮNG CÁI HẠI GẶP PHẢI KHI VÀO WTO/OMC
Vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC), nghĩa là Việt Nam nhập vào Cạnh tranh của Thị trường tự do. Nói đến Cạnh tranh, việc trước hết là phải biết mình có khả năng có thể cạnh tranh với người khác hay không, nếu không người khác sẽ đánh cho mình chết trong trứng nước hoặc lụn bại luôn. Việc cạnh tranh là ở chính trên nước mình, chứ không phải là Thị trường quốc tế tại những nưỡng nước khác. Dường như CSVN sống trong mơ mộng rằng vào WTO/OMC là đi hốt bạc tại những nước khác, mà quên đi rằng những nước khác có quyền vào chính nước mình để thu bạc đem ra.
Khả năng cạnh tranh của Việt Nam
Yêu cầu chế độ đừng ngông nghênh kiêu ngạo tự khen mình, coi mình như nhất nhì thiên hạ. Tôi còn nhớ câu chuyện một Tùy viên Quân sự của Sứ quán Việt Cộng bên cạnh Liên Hiệp Quốc nói với tôi rằng: “Thế Giới có 5 Tướng tài, Việt Nam chiếm 3“. Tôi nhịn cười không được bởi vì thấy ông ấy nói thành thực và ngây ngô chứ không phải là nói diễu chơi cho vui. Vấn đề vào WTO/OMC không còn phải là tự khoe mình ngông nghênh, tuyên truyền cho chế độ nữa. Vào WTO/OMC là vấn đề tiền bạc thực tiễn: cạnh tranh không nổi thì mất tiền, cạnh tranh thắng thì có tiền. Còn nếu chỉ nhằm khoe khoang, mơ mộng, thì chết đói. Đó là thực tiễn, chứ không dỡn chơi.
Nếu xét về việc tiến triển phần nào Kinh tế hiện hành, đó là nhờ sự đấu tranh Kinh tế của khối tư doanh và nhờ chính yếu nguồn ngoại tệ từ phía Việt kiều. Một số người nhìn sự tiến triển ấy, đã lầm lẫn hoặc cố ý nịnh đầm, đã cho rằng đó là công của CSVN. Nói như vậy là không hiểu gì về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Dân làm Kinh tế và phát triển Kinh tế, chứ không phải quyền lực Chính trị. Khối Cộng sản đã chủ trương làm Kinh tế để bao cấp Dân và họ đã hoàn toàn thất bại đến chỗ Dân đòi lại quyền làm chủ Đất Nước để nắm trong tay quyền làm ăn phát triển Kinh tế.
Tại Việt Nam, Dân nghèo phải làm ăn để có đủ sống. Họ nhờ nguồn tài trợ từ khối người Tỵ nạn thương gia đình còn ở lại. Khi phải tự mình kiếm sống, họ phải tìm đủ mọi cách tránh né sự áp chế, dành quyền kinh tế từ những Công ty quốc doanh. Khi phải tự mình kiếm sống, họ đã phải cay đắng cho CSVN ăn bẩn, ăn thỉu để có thể có việc làm, có cơ hội doanh thương tự họ. Khi phải tự mình kiếm sống, người Dân đã phải cay đắng nhận những đồng lương bóc lột mà CSVN bán họ cho nước ngoài và ăn hớt tiền trên sức lao động của họ. Nhìn như vậy, xin hãy nói cho đúng rằng nếu có những tiến triển kinh tế hiện nay, thì đó là từ sự cố gắng vượt mực của Dân. Chính CSVN đã cản mũi kỳ đà sức cố gắng phát triển này của người Dân. Những ai há mõm khen CSVN làm cho Kinh tế phát triển một phần hiện nay, đó là những người nói ngu xuẩn, thiếu học về nguyên tắc phát triển Kinh tế. Tôi thẳng thắn nói vậy và sẵn sàng trả lời những ai ngu xuẩn khen tặng CSVN một cách nịnh đầm vô lương tâm và hèn hạ.
Sự phát triển kinh tế một phần hiện nay chưa cho phép Việt Nam tự hào rằng mình đã có đủ lực cạnh tranh trên Thị trường quốc tế. Vào WTO/OMC phải cấp tốc đẩy mạnh những gì đã có một phần phát triển. Việc đẩy mạnh này thiết yếu đòi phải dành quyền cho Dân bởi những phát triển kia là từ sức cố gắng của Dân, chứ không phải từ quyền lực CSVN, một quyền lực cản mũi kỳ đà cho phát triển.
Hàng hóa quốc tế diệt hàng hóa Việt Nam tại chính nước mình
Trên đây, chúng tôi nói tổng quát đến khả năng cạnh tranh của Việt Nam. Trong đoạn này, chúng tôi nhìn xem những hàng hóa nước ngoài diệt chính hàng hóa Việt Nam tại quốc nội như thế nào. Trong đoạn tiếp theo, chúng tôi quan sát khả năng cạnh tranh của những hàng hóa Việt Nam bên cạnh những hàng hóa nước ngoài trên Thị trường quốc tế.
=> HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP
Chúng tôi đã nhiều lần nói đến sự cạnh tranh chính yếu đến từ Thái Lan. Nguồn sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp (Conditions géographiques—Ressources naturelles) giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam. Nhân lực làm việc (Conditions démographiques) về những ngành này cũng không khác gì nhau. Nhưng có sự khác biệt rất rõ rệt về điều kiện Chính trị—Pháp lý (Conditions Politico-Juridiques): một đàng (Thái Lan) dành phần khai thác cho Tư nhân, một đàng (Việt Nam) dành cho quốc doanh (người của độc đảng) những quyền khai thác, bóc lột ưu tiên. Ai cũngt biết rằng khi việc khai thác nằm trong tay quyền lực Chính trị, thì không thể không có lãng phí và tham nhũng được bao che, và do đó năng xuất khai thác không thể nào được phát triển như trong Điều kiên Chính trị—Pháp lý Dân chủ.
Trong việc khai thác, hai yếu tố chính sản xuất là Vốn và Nhân lực (K: Capital, L:Labour). Nếu nhân lực sản xuất giống nhau giữa Thái Lan và Việt Nam, thì có sự chênh lệch rất rõ rệt việc đầu tư Vốn vào hai ngành nông nghiệp va ngư nghiệp giữa hai nước: Thái Lan đầu tư vốn 8 lần hơn Việt Nam vào hai ngành này.
Hiện nay, mặc dầu chưa vào WTO, mà hàng nông nghiệp và ngư nghiệp của Thái Lan đã cạnh rất ưu thế tại chính Việt Nam. Những hàng nông nghiệp của Thái Lan như gạo, trái cây... được coi là hàng sang và đã lan tràn ở Việt Nam. Dân Việt mua gạo Thái để ăn, mua trái cây của Thái để cúng vái, để ăn những dịp lễ. Những hàng gia vị của Thái cũng đang lan tràn tại chính quốc nội.
=> HÀNG KỸ NGHỆ BIẾN CHẾ NÔNG PHẨM VÀ NGƯ PHẨM
Việc phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp phải có Kỹ nghệ biến chế những sản phẩm này tại chỗ. Không có Kỹ nghệ này tại chỗ, thì rất khó phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp. Những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm nhằm nối dài thời gian xử dụng trong tương lai (thời gian) và mở rộng địa vực xử dụng đến những nơi không có những hàng nông nghiệp và ngư nghiệp (không gian). Tỉ dụ, nước Ý có kỹ nghệ làm Cà Chua Hộp để nâng đỡ việc trồng Cà Chua, nếu không Cà Chua dễ thối.
Kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tại Việt Nam, xứ có nguồn dồi dào về ngư nghiệp và nông nghiệp, lại thua kém hẳn Thái Lan, Tân Gia Ba và Đài Loan. Như vậy, những hàng kỹ nghệ biến chế nông phẩm và ngư phẩm tràn vào Việt Nam và cạnh tranh trong phần thắng.
=> HÀNG CÔNG NGHỆ THÔNG DỤNG HÀNG NGÀY
Đây là những hàng công nghệ thường dùng hàng ngày. Những hàng này không thuộc loại hàng hóa phức tạp (Produits sophistiqués) cần phải có một trình độ kỹ thuật cao. Tỉ dụ như bát đĩa, xoong chảo, nồi cơm điện, xe hai bánh, quạt máy, phích nước..., đó là những đồ công nghệ thông dụng hàng ngày.
Hiện nay, ngay chưa nhập WTO, những hàng này đang diệt những hàng tương tự sản xuất tại Việt Nam. Nhà Nước Việt Nam mới tuyên bố rằng khi vào WTO, những hàng này của Trung Cộng còn được giảm xuống 16% nữa cho thuế nhập cảng. Như vậy khả năng những hàng này cũa Tầu diệt hàng Việt Nam càng tăng lên hơn nữa.
Tại sao Trung Cộng có khả năng cạnh tranh cao về những hàng công nghệ này ? Trong sản xuất, việc cạnh tranh là giá thành của hàng hóa. Muốn hạ giá thành, thì phải tăng số lượng sản xuất. Trung Cộng có khả năng tăng lượng sản xuất vì họ có khối lượng dân số 1 tỉ rưỡi. Hàng sản xuất không sợ ứ đọng vì đã có khối dân không lồ bảo đảm việc tiêu thụ hết hàng hóa.
=> HÀNG KỸ NGHỆ MÁY MÓC CAO & PHỨC TẠP
Những hàng Kỹ nghệ Máy móc cao và phức tạp (Produits sophistiqués) hầu như chưa phát sinh tại Việt Nam, nên chưa nói đến việc cạnh tranh được. Việt Nam mới bắt đầu sản xuất thuê những linh kiện (pìeces détachées) cho những Công ty nước ngoài, chứ chưa ở mức độ sản xuất những máy móc phức tạp (Produits sophistiqués) như sản phẩm cuối cùng sẵn sàng cho tiêu thụ (Produits finis prêts à la consommation).
Việc cạnh tranh những hàng hóa này là việc cạnh tranh xử dụng Kỹ thuật tân tiến và cao (Haute Technologie moderne). Muốn có những Kỹ thuật tân tiến và cao, thì phải đầu tư những số Vốn lớn. Việt Nam chưa có khả năng Vốn lớn đầu tư, vì vậy hàng hóa trong phạm vi này không thể có khả năng cạnh tranh, thậm chí chưa sinh ra.
Những máy móc cao và phức tạp của những nước chung quanh sẽ tràn vào và diệt hàng Việt Nam trong trứng (chưa sinh ra). Những nước này là: Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba, ngay cả Thái Lan và Mã Lai.
=> NHỮNG DỊCH VỤ (SERVICES)
Dịch vụ đầu tiên là Dịch vụ Phân phối hàng hóa (Thương mại). Khi vào WTO, những Tổ chức phân phối đa quốc gia (Chaines de Distribution Multinationales) có quyền mở rộng Thị trường phân phối tại Việt Nam. Nếu không vào WTO, những Tiểu thương hoặc những Nhà phân phối quốc nội được che chở phần nào trước sức mạnh của những Tổ chức phân phối đa quốc gia. Khi vào WTO, những Tổ chức này dễ dàng bóp chết hệ thống phân phối quốc nội vì những Tổ chức đa quốc gia này có số vốn khổng lồ để che chở việc cạnh tranh bán hàng hóa.
Ngoài Dịch vụ Phân phối hàng hóa, còn nhưng Dịch vụ độc lập khác như Kiểm Toán, Bảo Hiểm, Nha sĩ, Bác sĩ... Nếu những Dịch vụ này hiện diện ở Việt Nam vì phải tôn trọng Tự do lưu thông hàng hóa và dịch vụ khi vào WTO, thì sự cạnh tranh rất là gay gắt cho những dịch vụ từ người Việt tại quốc nội. Dân Việt chọn lựa những Dịch vụ từ người nước ngoài vì có nhiều những tin tưởng hơn (!). Tỉ dụ chọn Kiểm toán nước ngoài hơn là Kiểm toán quốc nội; chọn Bảo Hiểm ngoại quốc có nhiều tin tưởng hơn...
Hàng hoá Việt Nam thua kém cạnh tranh trên Thị trường quốc tế
Ở đoạn trên, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh quan trọng nhất, đó là những hàng hóa nước ngoài cạnh tranh với những hàng hoá Việt Nam hoặc diệt chính những hàng hóa Việt Nam trên lãnh thổ của Quê Hương mình.
Trong đoạn này, chúng tôi nói đến việc cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam khi đứng bên cạnh hàng hóa các nước khác trên Thị trướng quốc tế:
=> Hàng nông nghiệp và ngư nghiệp Nói ngay đến khối người Việt tỵ nạn, họ đã phải tiêu thụ hàng nông nghiệp và ngư nghiệp Thái Lan trong 30 năm rồi. Trong thị trường quốc tế về hàng nông nghiệp và ngư nghiệp, còn phải kể đến những nước cạnh tranh khác: Nam Mỹ, các nước Đông Aâu, Aân độ, Nam Dương.
=> Hàng kỹ nghệ chế biến nông phẩm và ngư phẩm Việt Nam chưa sánh được ngay cả với những nước trong vùng như Đài Loan, Tân Gia Ba, Thái Lan, Mã Lai..., huống chi nói đến những nước đã mở mang trên Thế Giới. Những nước nông nghiệp, chăn nuôi như Nam Mỹ, đang mở mang mạnh kỹ nghệ chế biến thực phẩm. Đông Aâu đang mở mang mạnh về những kỹ nghệ biến chế thực phẩm này. Những nước tân tiến như Mỹ, Pháp, Ý, Tây Ban Nha...cần mở mang những kỹ nghệ biến chế nông phẩm này để nâng đỡ phát triển nông nghiệp của họ.
=> Hàng công nghệ thường dùng Hàng Trung Cộng đang tràn lan. Việt Nam khó cạnh tranh với Trung Cộng về những hàng hóa thông dụng hàng ngày này.
=> Những máy móc cao và phức tạp Không thể có, lúc này, sự cạnh tranh của Việt Nam ở Thị trường quốc tế về những máy móc. Tôi chưa thấy có chiếc Ti-Vi “made in Vietnam“ bán ở Thị trường Thụy sĩ.
=> Những Dịch vụ (Services) Đến bao giờ mới có Dịch vụ Kiểm toán Việt Cộng ở Thị trường Pháp, Đức... ?
NHỮNG BIỆN PHÁP CHỐNG LẠI NHỮNG CÁI HẠI
Phần trên đây phân tích về những điểm yếu, những cái nguy hại cho Việt Nam khi gia nhập WTO/OMC. Phần này nói đến những biện pháp nào để mong tránh hoặc ngăn chặn những cái nguy hại có thể xẩy ra.
Mặc dầu vào WTO rồi, nghĩa là phải thi hành Tự do Giao thương, nhưng có biện pháp nào tránh né cái Tự do đó hay không trong việc cạnh tranh? Đó là biện pháp tiêu cực.
Nhưng chúng ta phải nghĩ đến những biện pháp tích cực nhằm tăng cường cho chính khả năng cạnh tranh của mình.
Quyền che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh
Mặc dầu vào WTO, một Tổ chức luôn cổ võ Tự do Mậu dịch, cổ võ việc dành cho nhau Điều khoản “Quốc gia tối ưu đãi“ (Clause de la nation la plus favorisée), nghĩa là tuyên bố tình yêu với nhau, quyền Che chở cho những kỹ nghệ đang phát sinh vẫn được tôn trọng.
Đứng về mặt nguyên tắc và lý thuyết, Tự do Mậu dịch (Le Libre Echange) vẫn không khai trừ nguyên tắc Che Chở cho Kỹ nghệ đang phát sinh (Le Protectionnisme des Industries naissantes). Về nguyên tắc này, chúng tôi đã mới nói trong cuộc Phỏng vấn của Đài RFI (Radio France Internationale).
Nhân sự va chạm giữa CNUCED và WORLD BANK trong khuôn khổ Liên Hiệp Quốc qua cuộc Hội Nghị nhận định về sự phát triển của những nước nghèo hoặc đang mở mang, ngày 13.09.2006, Đài RADIO FRANCE INTERNATIONALE (RFI) phỏng vấn tôi về 4 câu hỏi:
1) Tại sao Trung Cộng có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Quốc tế ? CNUCED coi đây là một sự thành công mà các nước kém mở mang có thể học đòi theo, đồng thời công kích Ngân Hàng Thế Giới đã trợ lực tài chánh cho các nước nghèo mà hiệu quả không gặt hái được cụ thể.
2) Vậy các nước nghèo có thể áp dụng được chính sách xuất cảng hàng hóa mà Trung Cộng đã áp dụng hay không ?
3) Tại sao chính sách hỗ trợ tài chánh cho những nước nghèo mà Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) chủ trương trong nhiều năm nay lại không đưa đến những kết quả tốt cụ thể?
4) Nhận xét về hậu quả như thế nào khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC) ?
Tôi đã trả lời về 4 vấn đề này và Đài RFI đã phát thanh về Việt Nam ngày Thứ Năm 14.09.2006, trong chương trình từ 15g-16g (giờ Paris). Xin vào RFI để nghe: http://www.rfi.fr/langues/statiques/rfi_vietnamien.asp
Tôi đã trả lời về 4 vấn đề nêu ra trên đây. Câu hỏi thứ tư liên hệ đến Việt Nam khi vào WTO. Chúng tôi đã khai triển câu hỏi này trong phần trên đây, vì vậy chúng tôi không nhắc lại trong phần này nữa mà chỉ nhấn mạnh đến cái Quyền Che chở Kỹ nghệ đang phát sinh mặc dầu Việt Nam vào WTO với Tự do Mậu dịch (Libre Echange) để chúng ta tìm cách che chở những cái thiệt hại cho nước mình khi mình thiếu khả năng cạnh tranh.
=> Trả lời cho câu hỏi 1
Nếu CNUCED coi đây là một Mô hình Kinh tế sáng kiến bởi Trung Cộng, thì đó là không đúng. Đây chỉ là một Chính sách Thương mại quốc tế mà những nước kém mở mang có quyền Bảo vệ những ngành Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Chủ trương này không phải là sự phát minh của Trung Cô.ng. Việc chủ trương bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này đã có trong Lịch sử Thương mại của những nước tư bản. Sau Cách mạng Kỹ nghệ của Anh quốc, nước này trở thành mạnh nhất Thế giới (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20) và muốn chiếm Thị trường quốc tế, đã kêu gọi và cực lực thuyết minh cho Chính sách Tự do Mậu dịch (Libre Echange) dựa trên những Thuyết lý Kinh tế của Adam SMITH, David RICARDO và Stuart MILL. Chính thời này, Hoa kỳ và Đức, còn trong thời kỳ gây dựng cho những Kỹ nghệ đang phát sinh, đã chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh này (Protectionnisme des Industries naissantes) chống lại hàng hóa của Anh quốc. Lý thuyết gia Frederic LIST đã hùng hồn thuyết minh cho chủ trương Bảo vệ những Kỹ nghệ mới phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes). Ngày nay, Hoa kỳ và Đức đã trưởng thành về những Kỹ nghệ này, nên lại cực lực thuyết minh cho Tự do Mậu dịch (Libre Echange), thậm chỉ kêu gào cho Toàn cầu hóa (Globalisation). Vậy thì Tự do Mậu dịch (Libre Echange) hay Bảo vệ Mậu dịch (Protectionnisme) chỉ là tương đối tùy theo sức mạnh Kinh tế của nước đứng ra kêu gọị
Việc Trung Cộng bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh của mình là việc có quyền của những nước đang phát triển. Tự do Mậu dịch là một điều lý tưởng, những phải giả thiết rằng mọi Nước tham dự phải có sức mạnh Kinh tế đồng đềụ Điều này rất khó thực hiện trên Thế giới và luôn luôn là nguồn tranh cãi không lối thoát giữa đa số những nước nghèo và thiểu số những nước giầu qua những Vòng Thương Nghị (Tokyo Round, Kennedy Roung, Uruguay Round...) trong khuôn khổ GATT (tiền thân của WTO/OMC).
Việc Bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh khác với việc xử dụng quyền lực độc đoán bóc lột nhân công để có thể bán phá giá hàng hóa trên Thị trường Thế giớị Chấp nhận trên nguyên tắc rằng những nước đang mở mang có quyền bảo vệ những Kỹ nghệ đang phát sinh, nhưng không thể chấp nhận việc hai nước Trung Cộng và Việt Cộng xử dụng quyền độc tài để bóc lột lương nhân công và để hạ giá thành hàng hóa, từ đó bán phá giá trên Thị trường quốc tế.
=> Trả lời cho câu hỏi 2
Các Nước nghèo hoặc đang trên đà phát triển có quyền BẢO VỆ NHỮNG KỸ NGHỆ ĐANG PHÁT SINH, nhưng CNUCED không thể khuyên họ hãy trở tha `nh một nước Cộng sản chủ trương chế độ độc tài để bóc lột sức lao động của nhân công như Trung Cộng và Việt Cộng đang làm. CNUCED muốn lấy khôn lỏi của Kinh tế để đè bẹp Nhân quyền hay sao ?
=> Trả lời cho câu hỏi 3
Chủ trương của Ngân Hàng Thế Giới muốn trợ lực tài chánh cho những Nước nghèo là rất đúng bởi vì với chủ trương Toàn cầu hóa việc bán hàng hóa từ G8 hiện nay đồng thời cũng là việc Tập trung hóa Tài chánh về những nước giầu, thì hố sâu giầu nghèo giữa các nước sẽ khơi rô.ng.
Globalisation des Marchandises == Centralisation Financiere
Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) đã chủ trương việc tái phân phối tài chánh đến những nước nghèọ Đây là chủ trương rất nhân đạọ Nhưng tại sao chủ trương này không mang đến những hiệu quả tốt cụ thể. Tôi đã trả lời rất rõ rệt rằng sở dĩ không đạt được những hiệu quả tốt cụ thể là vì hai điều:
=> Việc tài trợ này qua các Chính phủ tại những nước kém mở mang. Những Chính phủ này có đầy tham nhũng lãng phí tài chánh làm thất toát số vốn tài trơ..
=> Ngân Hàng Thế Giới, một là thiếu phương tiện kiểm soát, hai là không đủ khả năng kiểm soát chặt chẽ về tài chánh đối với quyền lực chính trị của những nước ấỵ
Những Biện pháp không giá biểu
Tất cả những Đàm phán về Thương mại Song phương (Bilatéral: tỉ dụ Hoa kỳ—Việt Nam), từng Vùng (Régional: tỉ dụ Union Eropéenne) hay Thế Giới (Mondial: tỉ dụ WTO/OMC) đều mong đưa đến một Hợp Đồng về giá biểu. Những giá biểu này gọi là Giá Biểu Hợp Đồng cho Quan Thuế (Tarifs douaniers contractuels).
Khi nói đến Giá Biểu Hợp Đồng, thì hai nước, hoặc những nước cùng Vùng hoặc tất cả mọi nước trên Thế Giới coi nhau đồng đều và phải áp dụng những Giá Biểu đã kỳ kết.
Nhưng trên thực tế, có nước mạnh, nước yếu không đồng đều. Chính vì vậy, mặc dầu những Giá Biểu Hợp Đồng được ký kết mà mỗi nước tùy theo sức lực riêng, điều kiện cạnh tranh riêng, có thể áp dụng những Biện Pháp không Giá Biểu. Ngay cả trong phần Lý thuyết về Tự do Mậu dịch, những lý thuyết gia cũng biện minh cho những Biện Pháp không Giá Biểu gọi là “Les Mesures non-tarifaires“, như:
=> Biện Pháp Hạn chế Lượng (Contingentement/ Quotas) => Biện Pháp Kiểm soát Hối đoái (Controle de Change) => Biện Pháp Kỹ thuật (Mesure Technique) => Biện Pháp Hành chánh (Mesure Administrative)
Tất cả những Biện Pháp này là những “hiểu ngầm thông cảm hữu lý“ cho những nước quá bị thiệt thòi khi áp dụng đúng theo nhữn Giá Biểu Quan Thuế theo Hợp Đồng (Tarifs Douaniers Contractuels)
Đường lối nâng cao khả năng cạnh tranh
Hai Cách thế trình bầy trên đây: (1) Che Chở cho những Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes); và (2) Những biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires) là hai Cách thế mang tính cách tiêu cực trong những quan hệ Thương mại quốc tế khi mà những nước ký với nhau trong Hợp Đồng không có sức mạnh cạnh tranh đồng đều như nhau.
Đường lối nỗ lực tự mình nâng cao khả năng cạnh tranh là Chính sách luôn luôn được khuyến khích. Đường lối này phải đến từ sức mạnh Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực mà người Dân làm chủ Kinh tế, Nhà Nước không can thiệp trực tiếp vào đời sống Kinh tế bằng quyền lực. Chúng tôi sẽ bàn về điểm này trong Bài thứ Ba để đòi buộc phải phế bỏ chế độc CSVN hiện hành.
Trả lời Phỏng vấn của RFI, tôi đã lưu ý đến việc nâng cao cạnh tranh của Trung Cộng và Việt Cộng một cách bất chính và vi phạm Nhân quyền. Thực vậy, đây không phải là việc nâng cao cạnh tranh một cách lành mạnh trong ý nghĩa chính đáng Kinh tế. Trung Cộng và Việt Cộng đã dùng bạo quyền bóc lột sức lao động của công nhân, ép buộc công nhân phải chấp nhận đồng lương rẻ mạt, như vậy Nhà Nước mới hạ được giá thành của hàng hóa và có khả năng bất chính cạnh tranh. Không những bất chính trên Thị trường quốc tế, mà Trung Cộng và Việt Cộng còn dùng bạo quyền đàn áp Nhân quyền, bóc lột sứ lao động của Dân cho quyền lợi của cá nhân mình qua việc tham nhũng, lấy tiền thưởng của nước ngoài khi họ vào Việt mua sức lao động rẻ mạt mà Công nhân “không dám than vãn“ lên nghiệp đoàn Công nhân do chính đảng CSVN nắm giữ.
Quốc tế công kích và tăng thuế nhập cảng về hàng da từ Trung Cộng và Việt Cộng là vì tính cách bóc lột công nhân của hai nước này vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHÚ THÍCH:
Bài trên đây viết tổng quát về những cái hại (I: TỔNG QUÁT). Hai bài tiếp sau cũng viết về những cái hại. Hai cái hại quan trọng:
(II: BÓC LỘT CÔNG NHÂN)
(III: GIẾT NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP)
KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ CSVN:
CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI: (II) BÓC LỘT CÔNG NHÂN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài QUAN ĐIỂM của số báo tuần này được coi như một chú thích quan trọng của Bài QUAN ĐIỂM của số báo tuần trước với đầu đề: CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI.
Khi trình bầy những cái hại, chúng tôi thấy rằng khả năng cạnh tranh của Việt Nam còn yếu kém cả ở Thị trường Quốc nội cũng như trên Thị trường Quốc tế.
Làm thế nào để che chở cho hàng hóa Việt Nam ? Làm thế nào để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam ?
Chúng tôi đã trả lời về việc chống đỡ hàng hóa Việt Nam bằng quyền che chở cho kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des industries naissantes), bằng những biện pháp không giá biểu mà nhiều Quốc gia thường dùng (Mesures non-tarifaires). Nhưng nếu chỉ chống đỡ thì chưa đủ mà cần phải tìm cách tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam. Cách thế căn bản là Nhà Nước phải giao việc làm Kinh tế cho quyền người dân, nghĩa là một nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự với một Môi trường Chính trị—Luật pháp Dân chủ phù hợp (Environnement Politico-Juridique démocratique adéquat).
Nhưng hiện nay, Trung Cộng cũng như Việt Cộng muốn khư khư giữ lấy chế độ độc tài độc đảng và xử dụng biện pháp bóc lột nhân công làm phương tiện hạ giá thành sản xuất và từ dó tăng cạnh tranh hàng hóa bằng giá cả. Chúng tôi đã trả lời thẳng thắn cho Đài RFI (Radio France Internationale) rằng đây là biện pháp bất chính và những nước khác sẽ đưa ra biện pháp chế tài. Thực vậy, Quốc tế nhìn thấy rõ biện pháp bóc lột nhân công này của Trung Cộng và Việt Cộng. Tỉ dụ Liên Aâu cũng như Hoa kỳ tăng thuế nhập cảng cho một số hàng (hàng da) đến từ Trung Cộng và Việt Nam.
Khi trả lời cho RFI như vậy và khi viết vấn đề này trong bài QUAN ĐIỂM tuần vừa rồi, một số ý kiến nêu ra rằng trong điều kiện nghèo khổ của Việt Nam, Dân có thể chấp nhận đồng lương thấp còn hơn là không có việc làm, nghĩa là mình muốn ăn cơm, nhưng không có, đành phải ăn cháo còn hơn là phải nhịn ăn chết đói.
Chính vì cái điểm này mà chúng tôi viết thêm bài QUAN ĐIỂM phụ này để cắt nghĩa rõ vấn đề có nên ăn cháo, nghĩa là chấp nhận đồng lương thấp như biện pháp tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm hay không.
QUẢN TRỊ XÍ NGHIỆP LÀ QUẢN TRỊ CHI TIÊU
Ở một Thế giới Kinh tế càng tăng tự do mậu dịch bao nhiêu, thì việc tìm cách tăng giá bán càng khó khăn bấy nhiêu. Kinh tế gia Paul SAMUELSON nói rằng trong dài hạn của Kinh tế cạnh tranh thị trường, khoảng cách lợi nhuận giữa giá bán và giá thành sẽ triệt tiêu (Marge bénéficiaire s’annulle). Việc tăng giá bán để có lợi nhuận hầu như không thể làm được do cạnh tranh. Chỉ còn một cách tăng được lợi nhuận là quản trị chặt chẽ chi tiêu, giảm thiểu giá thành. Trong khoảng thời gian 15 năm vừa rồi, người ta nhận thấy hai hiện tượng rõ rệt sau đây:
=> Tái Tổ chức lại Xí nghiệp (Restructuration de l’Entreprise). Nhân lực (Force de travail / Labour) có tính cách dễ tái tổ chức lại hơn là máy móc sản xuất (Equipement). Tại những nước đã kỹ nghệ hóa, khi nói đến Tái Tổ chức lại Xí nghiệp, có nghĩa là sa thải nhân viên để hạ giá thành sản xuất.
=> Chuyển sản xuất đến những Xứ có nhân công rẻ Các Công ty đa quốc gia (Les Multinationales) chuyển việc sản xuất đến những nước có nhân công rẻ, như vậy có thể hạ giá thành. Khi nói đến Toàn cầu hóa sản xuất, có nghĩa là những Công ty đa quốc gia có thể chuyển sản xuất một cách tự do đến những nước có nhân công rẻ. Việc chuyển đơn vị sản xuất này đến những xứ nghèo khiến các Công ty đa quốc gia thu được lợi nhuận cao bởi vì giá bán những hàng hóa vẫn giữ ở mức độ cao tại những quốc gia tiền tiến có khả năng tiêu thụ cao.
CHẤP NHẬN LƯƠNG HẠ TRONG MỘT THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC TỰ DO CẠNH TRANH
Đây là điểm mà chúng tôi trả lời cho những Vị đã đưa ý kiến như bênh đỡ cho Trung Cộng và Việt Cộng khi chúng tôi tuyên bố với Đài RFI và viết trong bài QUAN ĐIỂM tuần trước rằng chúng tôi không đồng ý với Trung Cộng và Việt Cộng ở việc hạ giá lương làm phương tiện tăng khả năng cạnh tranh hàng hóa.
Lương bổng là cái GIÁ của thị trường được định bởi Cung và Cầu nhân lực. Cái Giá này lên xuống tuỳ theo lượng Cung và lượng Cầu của Nhân lực. Hai lực lượng Cung và Cầu phải có tự do thương thảo Giá cả (Lương) của Thị trường. Đồng lương có thể hạ nếu phẩm chất Nhân lực Việt Nam kém trong sự cạnh tranh quốc tế với Nhân lực của những Nước trong vùng. Nhân lực Việt Nam (Nhân công/ phía Cung của Thị trường) sẵn sàng chấp nhận cái Giá ấy của Thị trường trong điều kiện có TỰ DO thương thảo trực tiếp với phía Cầu của Nhân lực. Để có thể thực hiện được một Thị trường Nhân lực TỰ DO, cần phải có những điều kiện sau đây:
=> Nhà Nước không được can thiệp vào Thị trường bênh đỡ cho phía nào, trừ trường hợp có sự cấu kết của phía Cầu cố ý giảm lương. Trong trường hợp này, Nhà Nước đặt một mức Lương tối thiểu có tính cách xã hội (Plancher du Salaire) khi chiều hướng Giá lương theo đà xuống. Nhưng khi Lương theo đà lên, thì Nhà Nước phải để TỰ DO cho phía Cung (Nhân công) thương lượng với phía Cầu (Chủ). => Để có sự hiểu biết về Thị trường và đại diện thương lượng với phía Cầu (Chủ), Nhân công (phía Cung) cần phải có những Nghiệp Đoàn Độc Lập của mỗi ngành nghiệp. Chính những Nghiệp Đoàn Độc Lập này thông báo cho Nhân công về Thị trường và đại diện Nhân công để thương lượng về Giá cả (Lương lậu).
Nều hai điều kiện trên được thực hiện, thì những Vị nêu ý kiến có ý bênh đỡ cho Trung Cộng và Việt Cộng mới có lý do để nói.
KHÔNG CHẤP NHẬN LƯƠNG HẠ BÓC LỘT TRONG MỘT THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ CẤU KẾT GIỮA CHỦ VÀ QUYỀN ĐỘC TÀI CỦA NHÀ NƯỚC
Thị trường Nhân lực ở Trung Cộng và ở Việt Nam không phải là Thị trường TỰ DO định đoạt Giá cả giữa hai Lực Cung và Cầu. Nhà Nước quyết định Lương tối thiểu và giữ lâu dài không phải là trong chiều hướng bênh đỡ Nhân công có tính cách xã hội mà chính là sự cấu kết với phía Chủ (Cầu) để bắt ép Nhân công phải chấp nhận đồng lương bóc lột. Nhà Nước độc tài cũng không cho phép Nhân công được có những Nghiệp Đoàn Công nhân Độc lập để Đại diện thương thảo TỰ DO về Giá cả (Lương bổng) trên Thị trường Nhân lực. Tại sao vậy ?
=> Nhà Nước độc tài giữ lương hạ chết đói để bán Nhân công ấy cho Chủ. Nhà Nước độc tài cấu kết với Chủ để ăn hớt một phần lương của Công nhân. Tỉ dụ nếu không có sự can thiệp độc tài của Nhà Nước, đồng lương của Thị trường Tự do là 50 đo-la mỗi tháng chẳng hạn. Nhà Nước dùng quyền lực bắt nhân công nhận 30 đo-la mỗi tháng. Còn 20 đo-la kia sẽ được chia chác bẩn thỉu và ác nhân giữa quyền lực độc tài và phía Chủ. => Nhà Nước độc tài không cho phép Công nhân có Nghiệp Đoàn Công Nhân Độc Lập bởi lẽ như vậy thì Nhân công có thể thương thảo trực tiếp với Chủ khiến quyền lực Chính trị không ăn hớt bóc lột được gì trên đầu Nhân công. Tỉ dụ Lương Thị trường Tự do là 50 đo-la. Khi phía Cung (Nhân công) trực tiếp với phía Cầu (Chủ), nhân công có thể lãnh được 50 đo-la trọn vẹn. Còn nếu Nhân công đồng thuận với nhau về phía mình để lôi kéo đầu tư nước ngoài, họ có thể chấp nhận 40 đo-la mỗi tháng. Việc hạ lương để lôi kéo phía Chủ phải do chính Nhân Công quyết định tự do, chứ không phải Nhà Nước quyết định để ăn hớt bẩn thỉu trên đầu Nhân công. Khi chúng tôi không phê bình Trung Cộng và Việt Cộng về vấn đề Lương bổng, đó là chính ở điểm can thiệp độc đoán vào Thị trường để bóc lột.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
BÀI ĐỌC THÊM: PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC VIỆT NAM VÀ VIỆC CẦN THIẾT PHẢI CÓ NGHIỆP ĐOÀN ĐỘC LẬP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Hôm nay, tôi viết thêm bài nữa, hoàn toàn theo những phân tích đơn thuần Kinh tế về Thị trường Nhân Lực. Đây là bài học rất sơ học yếu lược về Kinh tế chính trị (Economie politique). Bài học đòi hỏi phải có Nghiệp Đoàn Lao Động Độc Lập, đại diện giới nghèo để bênh đỡ quyền lợi cho họ.
PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG VỀ MẶT KINH TẾ
Chúng tôi lần lượt phân tích những điểm sau đây:
@ Sức Lao Động là một Tư hữu không tách rời Sở hữu chủ @ Thị Trường Hàng Hóa nói chung @ Thị trường Nhân Lực nói riêng
Sức Lao Động là một Tư hữu không tách rời Sở hữu chủ.
Sức lao động của một người là tư hữu đầu tiên của riêng từ người. Đó là cái vốn đầu tiên để người ấy khai thác tìm phương tiện sống cho bản thân mình. Tư hữu Lao động khác với những tư hữu khác ở đặc tính là sức lao động không thể bán đứt cho người khác mà chỉ có thể cho thuê (On ne vend pas sa force de travail, mais on la loue seulement/ the people cannot sell the Labour, but they lease it only). Đó là tính cách không tách rời Tư hữu Lao động ra khởi Sở hữu chủ, nghĩa là không thể đổi chủ đối với Sức Lao Động. Ngay trong thời kỳ có chế độ Nô lệ, người ta có thể mua bán người nô lệ, nhưng không thể nói rằng người ta mua bán Sức lao động của người nô lệ. Sức lao động của một người nô lệ không thể tách rời chính người nô lệ ấy. Khi cha mẹ để lại cho con căn nhà, thì căn nhà này là tư hữu của người con và người con này có thể bán căn nhà (tư hữu) cho người khác đến làm chủ. Căn nhà cũng là tư hữu, nhưng là tư hữu có thể bán, không giống như tư hữu Lao động của riêng mỗi người.
Một hệ thống Kinh tế tôn trọng quyền tư hữu, thì buộc lòng phải cho Sở hữu chủ có quyền TỰ DO xử dụng tư hữu ấy. Nếu không có quyền xử dụng tư hữu, thì không thể gọi đó là tư hữu nữa. Đây là quyền tự do khai thác tư hữu trong hoạt động Kinh tế (Libre entreprise des propríetés privées). Sức Lao động là một tư hữu cơ bản không tách rời Sở hữu chủ vì vậy Sở hữu chủ có toàn quyền tự do quyết định xử dụng nó trong việc tìm phương tiện nuối sống mình.
Khi ngoại nhân, dù có quyền lực đến đâu đi nữa, cũng không thể nào quyết định xử dụng Tư hữu Lao động của một người (Sở hữu chủ) mà không có sự đồng thuận CHO THUÊ, quyết định tự do của Sở hữu chủ.
Thị Trường Hàng Hóa nói chung
Mỗi một hàng hóa tạo một Thị trường: Thị trường Gạo, Thị trường Cà phê, Thị trường Rau muống, Thị trường Nhà cửa, Thị trường tiền Đo-la, Thị trường Bảo Lãnh Ngân Hàng... Trên các Thị trường này, có thể MUA ĐỨT hay chỉ CHO THUÊ. Người ta có thể bán đứt một Bảo Lãnh Ngân Hàng hay chỉ cho thuê tờ Bảo Lãnh ấy. Khi mua bán đứt một hàng hóa thì phải thay đổi Sở hữu chủ. Còn nếu chỉ cho thuê, thì Sở hữu chủ không thay đổi, mà chỉ có sự nhượng quyền xử dụng tư hữu mà thôi trong một thời hạn quy định theo Hợp Đồng. Người xử dụng tư hữu của người khác không được toàn quyền phá hủy tư hữu ấy. Tỉ dụ nếu mua đứt một chiếc xe, Sở hữu chủ là chính mình, thì mình có thể bán xe cho người khác, thậm chí có thể tự do đập phá chiếc xe đó. Nhưng nếu là xe thuê (Leasing), thì mình không thể tiêu hủy chiếc xe bởi vì Sở hữu chủ là người khác.
Dù MUA BÁN hay THUÊ MƯỚN thì phải có hai bên: người có tư hữu và người chiếm hữu hoặc chỉ muốn quyền xử dụng. Người có tư hữu muốn bán hoặc chỉ cho thuê tư hữu thì phải nhận được một cái gì mới quyết định trao đổi. Tất nhiên người muốn chiếm hữu hoặc chỉ muốn quyền xử dụng một tư hữu cũng phải ưng thuận cho Sở hữu chủ một cái gì để trao đổi. Kinh tế không chấp nhận trường hợp những Thánh Nhân mang tư hữu ra chợ tặng không cho người khác. Kinh tế cũng không chấp nhận người muốn chiếm tư hữu người khác hoặc bắt ép người khác cho mình xử dụng mà không trả cho Sở hữu chủ một cái gì để trao đổi, nghĩa là Kinh tế không chấp nhận những cường quyền ăn cướp tư hữu người khác hoặc xử dụng tư hữu ấy mà không đền bù một cái gì.
Phía Sở hữu chủ mang tư hữu đến Thị trường (Chợ) với mục đích trao đổi gọi là phía CUNG của Chợ. Còn phía đến Chợ để mong chiếm hữu hoặc muốn có quyền xử dụng gọi là phía CẦU. Hai phía thảo luận, mặc cả với nhau để có một CÁI GIÁ trao đổi quyền tư hữu hay CÁI GIÁ nhượng quyền xử dụng (Leasing). Tỉ dụ LÃI SUẤT của Thị trường Vốn là CÁI GIÁ ưng thuận nhượng quyền xử dụng Vốn. CÁI GIÁ của Thị trường thay đổi tùy số lượng tham dự Chợ của hai phía CUNG, CẦU của Thị trường.
Một Thị trường gọi là TỰ DO khi phía CUNG cũng như phía CẦU có quyền TỰ DO tham dự Chợ. Một sức mạnh Thứ Ba nào đó (như Đầu Cơ, Chính trị...) can thiệp vào Chợ sẽ làm mất TỰ DO quyết định của phía CUNG và phía CẦU. Từ những ông Tổ cổ điển của Kinh tế Tự do Thị trường đều yêu cầu rằng quyền lực Chính trị đừng can thiệp vào Thị trường bởi vì Chợ Đen, Buôn Lậu, Tham Nhũng, Đầu Cơ, Tiêu Tốn Xã Hội (Couts sociaux) tự động phát sinh.
Khi phía CUNG có quá nhiều người tham dự cũng như phía CẦU có quá đông người, thì việc am tường về Chợ của từng cá nhân có thể không quán xuyến nổi hoặc bị cảnh lắm thầy thối ma làm giảm sức mạnh của mỗi phía. Chính vì vậy, số đông những cá nhân của mỗi phía chọn ra những người chuyên môn đại diện để thông tin về Chợ và để có quyết định thống nhất hơn làm tăng sức mạnh mỗi phía CUNG cũng như CẦU. Những người chuyên môn được làm đại diện này tạo thành những Hội, những Nghiệp Đoàn. Như vậy những Hội, những Nghiệp Đoàn hoàn toàn được tạo ra do nhu cầu Kinh tế trong việc thông tin, thương lượng... bênh vực quyền lợi của mỗi phía của Thị trường về GIÁ CẢ trao đổi. Tỉ dụ Hội những Ngư Dân nhằm thông tin, thương lượng về giá cả cá mắm chẳng hạn. Quyền lực Chính trị không được xen lấn vào quyết định của Thị trường, nhất nữa càng không được tự mình lập những Hội theo khuynh hướng Chính trị của Nhóm Đảng mình và dành quyền đại diện cho các phía của Chợ để quyết định về việc trao đổi Tư hũu trên Thị trường của các Tư nhân tham dự.
Thị trường Nhân Lực nói riêng
Thị trường Nhân Lực cũng là một cái Chợ mang những tính chất chung vừa trình bầy trên đây: TỰ DO quyết định, không có quyền lực Chính trị can thiệp cản trở hay ấn định, mỗi phía CUNG, CẦU cần có những Hội, những Nghiệp Đoàn đại diện đích thực cho mỗi phía. Nhưng tôi tách Thị Trường Nhân Lực ra riêng bởi lẽ có những đặc điểm sau đây:
=> Thị trường Nhân Lực chỉ có CHO THUÊ Sức Lao động
Như trên đã nói, tư hữu của mỗi cá nhân là Sức lao động của riêng họ và không thể tách rời khỏi Sở hữu chủ. Do đó Thị trường này không phải là Thị trường để bán đứt Sức Lao động, mà chỉ là CHO THUÊ Sức lao động mà thôi. Tiếng Việt mình phân biệt rất rõ về Thị trường này khi nói là đi THUÊ, đi MƯỚN thợ, chứ không bao giờ nói là đi MUA thợ bởi vì tư hữu Sức Lao động không bao giờ thay đổi Sở hữu chủ.
Cái GIÁ trao đổi của Thị trường Nhân Lực là ĐỒNG LƯƠNG. Khi nói đến THUÊ, MƯỢN phải có yếu tố THỜI GIAN can thiệp vào trong khi MUA ĐỨT một tư hữu thì không cần phải kể đến yếu tố thời gian. Tỉ dụ khi nói đến Lãi suất (Giá Thuê Vốn), thì phải định theo thời gian xử dụng Vốn nữa, trong khi ấy khi nói đến Mua Đứt số Vốn thì không cần phải kể đến thời gian nữa.
Phân tích như trên để chúng tôi nhấn mạnh rằng khi cho thuê Sức Lao động, người Công nhân có quyền xét Đồng Lương dựa trên : (i) giá trị cao thấp của Sức Lao động mà cá nhân có được; (ii) thời gian cho thuê sức lao động ấy.
=> Tính cách chuyển hoá linh động của Thị trường Nhân Lực
Ở những Thị trường hàng hóa, không có những thay đổi mau lẹ của giá trị hàng hóa, nên kém tính cách chuyển hóa linh động vì thế mà giá cả mua bán hoặc cho thuê có thể đứng lâu ở một mức độ. Nhưng ở Thị trường Nhân Lực, vì Sở hữu chủ có trí thông minh, hấp thụ những tiến triển kỹ thuật qua kinh nghiệm hoặc giáo dục, nên đồng lương không thể đứng nguyên ở một mức trong khoảng thời gian dài. Tỉ dụ giá thuê một con trâu để kéo cầy có thể giữ ở một mức trong khoảng thời gian dài nào đó bởi lẽ việc kéo cầy của con trâu vẫn như vậy từ năm này qua năm khác. Nhưng con người có óc thông minh hấp thụ những tiến bộ kỹ thuật, nên sức lao động của một Công nhân năm 1990 khác với sức lao động của một Công nhân năm 2000. Đồng lương phải linh động thay đổi theo những hấp thụ của trí thông minh ấy.
=> Mức sống tăng trưởng
Công nhân cho thuê Sức Lao động là để sống. Đây là sống thực, nghĩa là đồng lương của Công nhân phải theo với vật giá. Nếu các Thị trường hàng hóa không theo vật giá, thì Thị trường Nhân Lực phải định đồng lương theo vật giá. Nếu đồng lương chỉ theo con số (Valeur nominale) mà không theo khả năng mua hàng hóa để sống theo vật giá (Pouvoir d’achat), thì đó là điều rất tàn nhẫn. Thông thường, trong mọi xã hội, vật giá chuyển biến theo chiều đi lên. Nếu đồng lương đứng một chỗ, hoặc không theo kịp đà đi lên của vật giá, thì Công nhân càng ngày càng nghèo đi. Tỉ dụ với đà phát triển Kinh tế theo Nhà Nước VN tuyên bố là mỗi năm chừng 8.5%, thì đà phát triển này sẽ làm tăng vật giá. Nếu lương cho Công nhân không theo kịp đà tăng này, nghĩa là đứng ở một mức trong vòng 5 năm chẳng hạn, thì người Công nhân sẽ thấy mình nghèo khổ đi nhiều lắm.
=> Đồng lương đứng một chỗ sẽ gặp Hậu quả ác ôn của Samuelson (Effet pervers de Samuelson)
Các Thị trường hàng hóa không có cái hậu quả ác ôn này mà Samuelson, Giáo Kinh tế lừng danh của Hoa kỳ, đã gọi đặc biệt cho Thị trường Nhân Lực. Đối Thị trường của một hàng hóa, nếu giá bán hoặc giá cho thuê giảm dần, thì phía CUNG cũng giảm bớt cung cấp hàng hóa ấy trên Thị trường. Nhưng đối với Thị trường Nhân Lực, Samuelson thấy rằng nếu đồng lương đi theo chiều giảm xuống, thì Công nhân không thể giảm giờ cung cấp Sức Lao động cho Thị trường bởi lẽ họ phải giữ mức sống tối thiểu cho họ và cho gia đình họ. Nghĩa là Thị trường Nhân Lực sẽ gặp một nghịch lý, đó là khi lương giảm thì công nhân phải tăng Sức Lao động, tăng giờ làm việc, phải làm nhiều ca vì sự sống còn của họ và gia đình họ. Đây là nghịch lý ác ôn của CUNG ở Thị trường Nhân Lực.
Tại Thị trường Nhân Lực Việt Nam, đồng lương giữ ở một mức trong thời gian dài, trong khi ấy vật giá lên cao, nghĩa là đồng lương thực (Salaire réel) giảm, thì dân lao động phải tăng giờ làm việc để giữ mức sống tối thiểu và bần cùng của họ. Tăng giờ làm việc, rồi sinh bệnh tật, hoặc phải đi cho thuê Dâm..., đó là sự vô nhân đạo cho kẻ nghèo. Cái hậu quả ác ôn này (Effets pervers) hoàn toàn có tính cách Kinh tế.
=> Can thiệp Chính trị vào Thị trường Nhân lực Việt Nam.
Thị trường hàng hóa nói chung đã không muốn Nhà Nước can thiệp vào bởi lẽ Thị trường là nơi trao đổi hay cho thuê tư hữu TỰ DO của những cá nhân Sở hữu chủ. Nếu việc can thiệp này lại là do động lực Đầu Cơ, Tham Nhũng..., thì càng phải loại trừ ra hơn nữa. Nhìn vào các Thị trường hàng hóa tại Việt Nam, người ta nhận thấy rằng không những Nhà Nước can thiệp trực tiếp, mà còn xử dụng những Công ty quốc doanh (do dảng CSVN nắm giữ) hoặc bằng những Công ty tư doanh do con cháu những người có quyền Chính trị lợi dụng quyền thao túng. Đây là sự can thiệp Chính trị vào Kinh tế mà Thị trường hàng hóa Tự do không thể chấp nhận. Đây không phải việc chỉ trích mang mầu sắc Chính trị, mà là một sự chân nhận thực tế vi phạm những nguyên tắc cơ bản của hệ thống Kinh tế Thị trường Tự do. Người ta cũng chân nhận rằng giới tư doanh trên Thương trường cũng không có quyền lập Hội, Nghiệp Đoàn mà Thị trường đòi hỏi như chúng tôi đã phân tích ở đoạn trên đây.
Riêng về Thị trường Nhân Lực Việt Nam, việc can thiệp của quyền lực Chính trị vào Thị trường trực tiếp hoặc qua những đặc quyền hay đầu cơ, không những không tôn trọng Công nhân (Sở hữu chủ Sức Lao Động của họ), mà còn trở thành sự bóc lột và tệ hơn nữa là mang hâu quả ác ôn (Effet pervers) mà Samuelson đã phân tích.
Vi phạm đầu tiên là những Công đoàn do đảng (quyền Chính trị độc tài) nắm giữ. Những cuộc Đình Công vừa qua là hiện tượng mất tin tưởng của Công nhân vào những Công đoàn này mà những người lao động gọi là Công đoàn Công an Nhà Nước. Đây là việc vi phạm vào chính quyền tự do xử dụng quyền tư hữu Sức Lao động không thể tách rời người lao động trong suốt cuộc đời của họ. Nếu về phương diện Chính trị, với Điều 4 của Hiến Pháp, đảng CSVN nói rằng đảng là đại diện và tiên phong cho Dân, cho Công nhân, thì về mặt Kinh tế, đảng không thể tuyên bố như vậy được bởi lẽ đảng không còn bao cấp cho cuộc sống Công nhân nữa, mà chính Công nhân phải tự mình cho thuê sở hữu Sức Lao động để kiếm phương tiện nuôi sống mình và gia đình. Phải để chính những người Công nhân này chọn những người Đại diện cho chính họ vào một Nghiệp Đoàn Độc Lập hầu thông tin, thương thảo trên Thị trường cho có một giá (Lương) cho thuê sức Lao động của họ.
Chúng tôi cũng muốn nhắc ra đây một tỉ dụ về vi phạm của Nhà Nước đối với Thị trường Nhân Lực Việt Nam. Tỉ dụ đó là: Đài BBC cách đây chừng 10 ngày, khi phỏng vấn Oâng Lech VALESA, đã tiết lộ công khai rằng Nhà Nước đã ký những Hợp Đồng quan trọng với những Công ty nước ngoài, nên Nhà Nước không cần những Nghiệp Đoàn Độc Lập làm gì. Như vậy là quyền lực Chính trị đã coi những Sở hữu chủ (Công nhân) của sức Lao động (tư hữu) của họ không ra cái gì cả. Nói cách khác, quyền lực Chính trị đã truất hữu sức Lao động của Công nhân để cho ngoại bang THUÊ. Nhưng với giá cho thuê bao nhiêu ? Sở hữu chủ (Công nhân) cũng không biết luôn. Công nhân có thể nghĩ rằng với tình trạng tham nhũng, đầu cơ gia đình con ông cháu cha, đây là việc quyền lực Chính trị độc đoán đem cho thuê tư hữu sức Lao động của họ cho ngoại lai với giá mà trong đó những kẻ nắm quyền lực tham nhũng, đầu cơ gia đình đã chia một phần lương của họ với ngoại lai.
NẾU CÓ HẬU QUẢ CHÍNH TRỊ
Đây là Kết luận cho Phần Phân tích hoàn toàn có tính cách Kinh tế trên đây. Ơû Phần trên chúng ta cũng nhận thấy rằng Thị trường Lao động Việt Nam đòi hỏi: => Quyền lực Chính trị phải tôn trọng tư hữu của Công nhân, đó là Sức Lao động => Công nhân có quyền TỰ DO quyết định việc cho thuê tư hữu của mình => Tự động Đình Công và kêu gọi thành lập Nghiệp đoàn Độc lập là hiện tượng cụ thể chứng tỏ việc không tin vào những Công đoàn do Nhà Nước chỉ huy. => Tự do xử dụng quyền tư hữu, tự do quyết định giá cả cho thuê tư hữu và việc không tin vào Công đoàn nhà nước, tất cả cho Công nhân cái quyền chọn những người Đại Diện mà họ tin tưởng để làm việc giúp họ khi quyết định cho thuê Sức Lao động (tư hữu bất khả phân khỏi cá nhân mỗi người). Những Đại Diện này tập hợp thành những NGHIỆP ĐOÀN LAO ĐỘNG ĐỘC LẬP.
Đã bao chục năm nay, chính quyền lực đảng CSVN đã chính trị hóa những Nông dân, Công nhân, xử dụng họ như công cụ đấu tranh đẫm máu để cướp lấy quyền lực Chính trị độc tài cho mình.
Ngày nay, mục đích đấu tranh của những người nghèo này là Kinh tế, là cho quyền sống thân xác của họ. Nếu cuộc đấu tranh mang đến hậu quả có tính cách thay đổi thể chế Chính trị, thì đó không phải là MỤC ĐÍCH của họ mà quyền lực Chính trị muốn vu khống để khủng bố, đàn áp chính những kẻ mà đảng đã lợi dụng thủ lợi cho đảng trước đây.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ CSVN:
CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI: (II) GIẾT CHẾ NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Bài QUAN ĐIỂM của số báo tuần này là chú thích quan trọng thứ hai cho bài QUAN ĐIỂM chính đã viết trước: CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI .Chú thích thứ nhất là: CƠ HỘI WTO: BÓC LỘT CÔNG NHÂN ĐỂ TĂNG CẠNH TRANH (Xin đọc Phần KINH TẾ/ TÀI CHÁNH của số báo này).Và chú thích thứ hai hôm nay là: CƠ HỘI WTO: GIẾT CHẾT NÔNG DÂN VÀ NGƯ DÂN
Công nhân, Nông dân và Ngư dân là tầng lớp nghèo khổ và chiếm trên 80% dân số Việt Nam. Đảng Cộng sản VN mơ mộng hốt bạc với WTO, ăn tham nhũng và củng cố chế độ. Họ không nghĩ hoặc cố tình làm ngơ rằng mình tự do xuất cảng thì nước ngoài cũng tự do đem hàng hóa vào Việt Nam. Hàng hóa Việt Nam cạnh tranh yếu tại Thị trường Quốc tế, nghĩa là đem hàng ra ngoài èo ọt nhặt tiền còm, trong khi ấy tại chính Đất Nước mình, hàng nước ngoài vào giết hàng Việt Nam. Tệ hại hơn cả, đó là việc giết chế hàng Nông nghiệp và hàng Ngư nghiệp Việt Nam mà tầng lớp Dân nghèo Nông dân và Ngư dân phải bám lấy để sống.
CHÚNG TÔI LUÔN LUÔN KÊU GỌI PHẢI ĐẦU TƯ VÀO NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP
Có ba yếu tố chính khuôn đúc sự phát triển Kinh tế của một Quốc gia mà các nhà Kinh tế gọi đó là những Môi trường:
=> Môi trường Thiên nhiên của địa vực (Environnement naturel/ géographique) => Môi trường Nhân lực (Environnement démographique) => Môi trường Chính trị—Luật pháp (Environnement politico-juridique)
Môi trường thiên nhiên của địa vực Việt Nam là nông sản và thủy sản với những cánh đồng bát ngát mầu mỡ, với những ngàn cây số ven biển. Cái Môi trường này hướng Kinh tế Việt Nam trước tiên vào Nông nghiệp và Ngư nghiệp. Dân tộc chúng ta đã sống hết thế kỷ này sang thế kỷ kia với giải đất nông sản và ngư sản sẵn có, chỉ cần khai thác cho cuộc sống.
Chính vì vậy khi bắt đầu viết những loạt bài về việc vào WTO, trước tiên chúng tôi luôn hô hào phải đầu tư vào Nông nghiệp và Ngư nghiệp cho Dân sống đủ ăn hàng ngày đã.
Ngày 22.06.06, với bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 257, chúng tôi đề cập tới những điểm sau đây: => Sự quan trọng của Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam => CSVN: Công nghệ phục vụ cho tuyên truyền Chính trị => Nền Kỹ nghệ thực phẩm vững chắc
Sự quan trọng của Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam
Trước đây, sau khi Cộng sản chiếm Miền Nam, chúng ta đọc những tin rằng dân Việt Nam phải ăn bo bo mà lòng đau xót, trí hiểu không được. Việt Nam có dồi dào gạo, có nhiều cá tôm, có muối, có nước, thì Dân ta không thể nào chết đói được. Ngồi trên bờ ruộng lúa của đồng bằng Sông Cửu Long, mà Dân phải mở gói ra nhai bo bo, thì lòng đau lắm và đầu cũng khùng điên luôn vì hiểu không được.
=> Điều kiện thiên nhiên dồi dào cho Nông nghiệp
Đất đai Việt Nam dành cho Dân tộc điều kiện thiên nhiên phì nhiêu để phát triển những sản phẩm tối cần cho cuộc sống ấm no. Những đồng bằng sông Hồng Hà và Sông cử Long phì nhiêu cho Dân chúng sản xuất lúa gạo hai Mùa hoặc ba Mùa. Nước ta không thể thiếu lúa gạo. Về hoa trái, thì ai cũng biết rằng hạt rơi rụng đâu, thì cây mọc lên sinh hoa trái đó. Cả vùng đất đỏ đến vùng Tây nguyên đều là đất phì nhiêu để khai thác hoa trái, củ rễ... cho Dân sống thoải mái. Dân Việt không thể thiếu cơm gạo, thiếu hoa trái, thiếu củ rễ để Dạ Dầy Dân phải đến cồn cạo.
=> Điều kiện thiên nhiên dễ dàng cho xây cất nhà cửa với giá rẻ
Ngoài vấn đề đồ ăn, tài nguyên thiên nhiên về Lâm sản của Việt Nam có dư đủ để Nông dân và Ngư dân cất nhà cửa làm nơi cư ngụ. Thực vậy, truyền thống của Nông dân và Ngư dân là làm Nhà cửa bằng Tre, Luồng. Đây là việc làm nhà rất hợp với vị trí thiên nhiên khí hậu của nước ta. Dân Việt sống dọc bờ biển, dễ bị bão lụt tàn phá. Nếu làm Nhà bằng gỗ hoặc gạch ngói, thì tốn kém. Một trận bão lụt đủ tàn phá cả cơ nghiệp vào nhà gỗ, gạch ngói. Dân ta làm Nhà bằng Tre, Luồng. Tre, Luồng tại Việt Nam mọc lên rất nhanh. Nếu bão lụt tàn phá nhà bằng Tre, Luồng, thì vào rừng kiếm hoặc mua với giá rẻ để làm nhà mới.
=> Điều kiện thiên nhiên dồi dào cho Ngư nghiệp
Việt Nam có bờ biển chạy dài trên 2500 cây số. Miền Nam có sông ngòi chằng chịt. Vịnh Bắc Việt là nơi cá trú ẩn sinh con. Cá lớn lên đi theo ven biển đến Phan thiết, rồi Cà Mâu để Dân bắt. Sông ngòi Miền Nam nhiều tôm cá. Tôm cá sinh ra ở Biển Hồ bên Cao Mên, rồi lớn lên xuống những sông ngòi ở Miền Nam. Làm thế nào Dân có thể thiếu cá tôm để kho, luộc ăn với cơm gạo.
=> Tài chánh: tự tạo để khuếch trương Nông nghiệp và Ngư nghiệp
Tôi đã có dịp nói về tính cách tự tạo tài chánh này từ chính Nông nghiệp và Ngư nghiệp để đầu tư khuếch trương cho Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam. Tôi nói rằng:
@ Mặc dầu Lý thuyết Mác-Lê lấy Búa (Công nhân) và Liềm (Nông dân) làm biểu hiệu trên lá cờ, nhưng tại Việt Nam, Cộng sản phải dựa hoàn toàn trên Liềm vì 80% là Nông dân, nhất là ở thời mà Cộng sản phải nhờ khối người này để cướp chính quyền. @ Nhưng sau khi Cộng sản đã cướp được quyền lực rồi, thì Nông dân bị bỏ rơi. Thiếu đầu tư cho Nông nghiệp như xây Silo dự trữ thóc gạo. Mùa màng gặt hái đã thất thoát đi 30% số thu. Hạ tầng cơ sở cho nông thôn cũng bị bỏ quên. Nhà nước chỉ chú tâm vào sửa sang đường sá ở những Thành phố lớn có những khu công nghệ mà những Công ty nước ngoài hưởng @ Đảng và Nhà Nước lại nắm về xuất cảng Gạo và những sản phẩm khác của Nông nghiệp và Ngư nghiệp. Những thặng dư về số thu Nông nghiệp và Ngư nghiệp lại cho vào những phương diện khác: công nghệ cho vẻ vang chế độ hoặc túi riêng của những người cầm nắm quyền lực. @ Nông dân và Ngư dân không được tự do căn cơ tính toán, dùng những thặng dư thu vào từ Nông nghiệp và Ngư nghiệp để tạo vốn tự đầu tư cho việc khuếch trương hai ngành nghiệp thiết cần này.
=> Tài chánh tái tạo chu kỳ
Nguồn thiên nhiên Nông nghiệp và Ngư nghiệp có tính cách tái tạo chu kỳ. Thực vậy, nếu khai thác một hầm mỏ, như sắt chẳng hạn, thì sản phảm hầm mỏ xài rồi là hết. Sắt không thể sinh ra sắt mới, nghĩa là có tính cách tự tái tạo chu kỳ. Đó là những nguồn thiên nhiên bị khai thác rồi hết (Ressources naturelles épuisables). Trong khi ấy nguồn thiên nhiên Nông nghiệp, Ngư nghiệp, Lâm sản (Tre, Luồng) có tính cách tái tạo theo chu kỳ. Lúa sinh ra lúa, Cá sinh ra cá, Tre, Luồng lại mọc lên nhanh. Với tài nguyên Nông nghiệp, Ngư nghiệp, Lâm sản dồi dào của Việt Nam, người Dân không những no đủ, có nhà cửa đàng hoàng mà còn xuất cảng thặng dư để thu vào một số tài chánh. Cũng theo tính cách tái tạo chu kỳ của ba nguồn thiên nhiên, Tài chánh đến từ ba nguồn này có tính cách tái tạo chu kỳ (Sources financieres cycliques renouvelables)
CSVN: Công nghệ phục vụ cho tuyên truyền Chính trị
Ngoài việc mất tính cách Kích thích Kinh tế để làm tăng sức sản xuất, nền Kinh tế chỉ huy kế hoạch đã nhằm phục vụ cho việc tuyên truyền vẻ vang cho chế độ Chính trị, chứ không phải là phục vụ cho người Dân nghèo làm việc mong có miếng ăn vào Dạ Dầy để nuôi sống thân xác. Cộng sản bắt dân làm việc sản xuất để nuôi chủ thuyết Chính trị Xã Hội Chủ Nghĩa của đảng, chứ không phải là để nuôi thân xác của chính người dân làm việc cực khổ. Đó là sự thất bại và sụp đổ của Cộng sản.
Có một lần tại Hà Nội, tôi đã nói với một Oâng Giám đốc Ngân Hàng nhỏ. Oâng này là cháu ruột Oâng Lê Văn Châu, Phó Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam trước đây, sau sang làm về Thị trường Chứng khoán. Oâng Giám đốc Ngân Hàng nhỏ này muốn tôi can thiệp với một Tập Đoàn Tài chánh Hoa kỳ để cho vay USD.10'000'000.- Tôi hỏi vay để làm gì. Oâng ta nói rằng vay để trùng tu Nhà Hát Lớn Hải Phòng. Tôi trả lời thẳng thừng rằng nếu Oâng xin vay để mua đoàn xe hốt rác cho thành phố Hà Nội, thì tôi vui lòng can thiệp. Tôi thấy những cô gái từ Hà Đông lên Hà nội, phải hốt rác bằng hai tay trần khi mưa gió xình lầy. Trong khi ấy, nếu can thiệp cho vay trùng tu Nhà Hát Lớn để mấy cô cậu đến đó đú đỡn, thì tôi không muốn can thiệp.
Trong nhiều năm, chế độ luôn luôn lo đầu tư vào những thành phố lớn như Hà nội, Đà nẵng, Sài gòn..., dưới khẩu hiệu tuyên truyền là công nghệ hóa Đất Nước. Đây là việc muốn tuyên truyền cái bộ mặt tô phấn điểm son của chế độ trước Quốc tế. Dân nghèo đói, nhất là Nông dân, thì mặc mẹ Dân, miễn sao bộ mặt đảng được sơn phấn tô son. Tay họ muốn xách cặp Samsonite láng coóng, mà trong cặp không có một mẩu sandwich để ăn.
Chúng tôi không chống lại việc công nghệ hóa, nhưng phải biết phân biệt đâu là việc cần thiết cấp thời hơn cả và phải biết khả năng của mình lúc nào mới làm được. Làm Kinh tế là nhằm thu lợi nhuận thực sự, chứ không phải là cốt ý để cho người khác thấy mình có làm Kinh tế.
Nền Kỹ nghệ thực phẩm vững chắc
Khuếch trương Nông nghiệp và Ngư nghiệp mà không xây dựng một nền Kỹ nghệ Thực phẩm vững chắc, đó là thiếu sót. Thực vậy, Nông nghiệp và Ngư nghiệp càng phát triển bao nhiêu, thì Kỹ nghệ Thực phẩm càng phải xây dựng bấy nhiêu.
Những sản phẩm Nông nghiệp và Ngư nghiệp là những sản phẩm dễ hư (Produits périssables). Kỹ nghệ Thực phẩm là Kỹ nghệ nhằm bảo tồn những sản phẩm dễ hư ấy (Produits perissables) trong thời gian (Dans le temps). Kỹ nghệ này gồm các ngành nghiệp đông lạnh, sấy khô, đóng hộp, chế biến nước uống, làm sốt (sauces). Đó là tất cả những việc kỹ nghệ để kéo dài sản phẩm Nông nghiệp và Ngư nghiệp trong thời gian.
Tôi đã có dịp liên hệ và thăm một Công ty về sản phẩm Ngư nghiệp tại Vịnh Guinea Phi châu. Vùng này có nhiều cá, nhưng dân không được ăn cá tươi, mà lại phải ăn cá hộp với giá mắc hơn. Số là một Công ty Thụy Điển mua cá tươi của vùng này, chở về Thụy Điển để làm cá hộp. Từ Thụy Điển, Công ty chở cá hộp sang Phi châu bán. Sản phẩm Nông nghiệp và Ngư nghiệp phải có Kỹ nghệ Thực phẩm tại chỗ. Kỹ nghệ này trợ lực cho Nông nghiệp và Ngư nghiệp về những điểm chính sau đây:
=> Kéo dài thời gian cho những sản phẩm Nông nghiệp và Ngư nghiệp. Tỉ dụ nước Ý trồng nhiều cà chua. Nếu không có Kỹ nghệ làm sốt cà chua ở Ý hoặc nhờ bà Kerry làm Ketchup, thì cà chua sẽ thối.
=> Kỹ nghệ Thực phẩm tại chỗ làm cho sản phẩm Nông nghiệp và Ngư nghiệp khỏi bị ép giá. Vì tính cách dễ hư (périssables), nên phải có Kỹ nghệ Thực phẩm bên cạnh để điều hòa cung cầu theo mùa và tránh việc Nông dân và Ngư dân khỏi bị gian thương ép giá về sản phẩm. Tóm lại, Dân Việt không thể chết đói để chế độ la hoảng“Cứu đói giảm nghèo“. Đây là lỗi của chế độ. Phải khuếch trương ưu tiên Nông nghiệp, Ngư nghiệp và Lâm sản với Kỹ nghệ Thực phẩm đi kèm để hỗ trợ.
VÀO WTO: CHÍNH CSVN THÚ NHẬN NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP VN HIỆN NAY YẾU KÉM
Thứ tư, 23/8/2006, tôi đọc một bài trên VnExpress đăng tải lại bài của báo THANH NIÊN do chính CSVN, nhận định về sự yếu kém nguy hiểm của nông phẩm và ngư phẩm Việt Nam hiện nay. Đầu đề của bài viết này là : “Vào WTO, nông nghiệp phải đổi mới“.
Vào WTO, mới bắt đầu đổi mới Nông nghiệp, thì đã quá muộn rồi !
Tôi xin trích đăng lại bài báo ấy như sau: “Một cơn lốc hàng ngoại nhập sẽ tràn vào thị trường khi VN gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Sản phẩm nông nghiệp là lĩnh vực được dự báo sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất trong khi sức cạnh tranh của nông sản VN quá thấp, nông dân thì yếu thế.
Gia nhập WTO, chúng ta có thể thâm nhập thị trường nông sản thế giới... Thế nhưng nông dân sẽ là người chịu khổ nhiều nhất", đó là nhận định của một chuyên gia kinh tế khi dự báo về tương lai của nông sản VN.
Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI), việc giảm thuế nhập khẩu hàng nông sản theo thỏa thuận với Mỹ mà trước hết là thịt bò, thịt heo sẽ khiến sản phẩm trong nước cạnh tranh rất khó khăn, bởi giá thành chăn nuôi trong nước hiện rất cao. Hàng loạt mặt hàng nông sản chế biến từ nhiều nước khác, nhất là từ Trung Quốc, Thái Lan làm cho nông sản nước ta cũng khó "địch" nổi ngay trên sân nhà.
Tiến sĩ Võ Mai, Chủ tịch Hiệp hội Trái cây VN nhận định: "Nông dân hiện nay hầu như chưa có khái niệm gì về WTO, họ chỉ nghĩ đơn giản đó là công việc của Nhà nước. Như vậy làm sao có thể cạnh tranh khi hội nhập? Muốn cạnh tranh, trước hết phải bắt đầu từ chất lượng sản xuất, phải có sản phẩm chất lượng cao thì mới cạnh tranh được. Trong khi đó thực trạng hiện nay của VN là sản xuất manh mún, chất lượng quá kém. Ngay khi chưa gia nhập WTO, hiện nay trái cây VN đã bị lấn sân bởi trái cây ngoại rồi".
Ông Phạm Văn Minh, Giám đốc Công ty Phú An Sinh (TP HCM) nhận định, các doanh nghiệp kinh doanh thịt gà trong nước có thể thua lớn, bởi vì vì ưu thế lớn nhất của Mỹ là thị trường nội địa chỉ tiêu thụ phần ức gà, còn lại đem xuất khẩu hết nên giá cực rẻ. Người nuôi bò, heo thì có thể "sống" cầm chừng, vì người tiêu dùng chưa quen với việc sử dụng thịt heo, bò đông lạnh.
Theo ông Đoàn Ngọc Bông, Phó chủ tịch Phòng VCCI, để hội nhập WTO một cách hiệu quả, trước hết, Nhà nước cần có ngay chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, hỗ trợ theo lối mới phù hợp với quy tắc chung của WTO. Cụ thể, Nhà nước cần chăm lo phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp và nông thôn (như đường sá, điện, thủy lợi), ứng dụng công nghệ mới, cung cấp thông tin thị trường, phát triển nguồn nhân lực...
Hội Nông dân VN cũng tổ chức chương trình tôn vinh những sản phẩm nông nghiệp nhằm tạo cơ hội cho nông dân nâng cao khả năng cạnh tranh. Trong đó giải thưởng "Trâu vàng đất Việt" (Trâu để kéo cầy hay để xẻ thịt bán cạnh tranh !) lần đầu tiên được xây dựng trên tất cả các lĩnh vực, sản phẩm phục vụ cho nông nghiệp được xem là bước tiến lớn trong việc tạo thương hiệu cho nông sản VN.
Theo cam kết đa phương của VN trong các phiên đàm phán gia nhập WTO, các trợ cấp xuất khẩu đối với hàng nông sản sẽ phải được bỏ ngay lập tức.
Đây là dịp để chúng ta nhìn lại và làm cho cơ bản hơn. Chẳng hạn, Nhà nước phải đầu tư nhiều cho công tác nghiên cứu phát triển mới mong có được những loại cây hay con giống đủ khả năng cạnh tranh. Phải đầu tư nhiều cho công tác nghiên cứu thị trường. Doanh nghiệp tham gia thị trường còn rất thiếu những thông tin loại này để lường được chi phí, cách tiếp cận cho phù hợp... Một điều tôi muốn nói nữa là lâu nay hỗ trợ của Nhà nước nếu có cũng chủ yếu chảy vào các công ty nhà nước nhưng điều oái ăm là những công ty này lại làm ăn không hiệu quả". (Theo Thanh Niên)
VÀO WTO MÀ CHƯA ĐỦ LỰC CẠNH TRANH: ĐẢNG CSVN GIẾT CHẾT NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP VN
Nạn nhân đau khổ của việc vào WTO dưới chế độ độc tài độc đảng tham nhũng, chính là tầng lớp Dân nghèo Việt Nam. Công nhân không được quyền có Nghiệp Đoàn Độc Lập sẽ bị CSVN cấu kết với tài phiệt ngoại lai để bóc lột lương và sức lực lao động. Chúng tôi đã chú thích về điểm này trong bài QUAN ĐIỂM lần trước.
Nhưng thảm thương thay, đó là việc giết chết Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam. Nước ta vốn dĩ có Mội trường thiên nhiên dồi dào về Nông sản và Ngư sản. Chính lẽ chúng ta phải thắng những nước chung quanh về những sản phẩm này. CSVN hồ hởi vào WTO mà chưa sửa soạn về những sản phẩm này, tức là tạo dịp cho nước ngoài vào Việt Nam tự do để: => Giết chết khối Nông dân và Ngư dân chiếm trên 80% Dân số. => Nếu không chết, thì khối đa số người Dân nghèo cũng chỉ đời cha đến đời con đi làm thuê cho chủ nước ngoài khai thách chính tài nguyên thiên nhiên về Nông phẩm và Ngư phẩm của nước mình.
Hãy nhớ lại và cảm thấy lòng buồn tủi: trong trên 100 năm nay, chủ khai thác Kinh tế nước mình nằm trong tay người Pháp, rồi người Pháp gốc Việt, tiếp đến là người Tầu, rồi hậu quả của chế độ này, đó là những người Thái, Tầu, Aán, Đại Hàn, Nhật... sẽ đến làm chủ.
Để NÔNG NGHIỆP và NGƯ NGHIỆP Việt Nam bị giết chết hoặc sống ngắc ngoải, đó là trọng tội không những đối với Dân nghèo, mà còn đối với Tổ tiên đã hy sinh dành cho chúng ta ngày nay một Giải Đất quá giầu có về nguồn lợi Nông sản và Thủy sản.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ CSVN:
CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI LỢI PHẢI THU LẤY
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Loạt bài QUAN ĐIỂM này gồm 3 bài liên hệ đến cơ hội vào WTO. Chúng tôi đã viết Bài QUAN ĐIỂM thứ nhất: CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI HẠI PHẢI CHỐNG LẠI. Trong những cái hại này, chúng tôi đã nhấn mạnh đến hai phạm vi rất quan trọng bằng hai bài phụ, đó là việc BÓC LỘT LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐỂ TĂNG CẠNH QUỐC TẾ và việc GIẾT CHẾT NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP VIỆT NAM.
Bài QUAN ĐIỂM thứ hai: CƠ HỘI WTO: NHỮNG CÁI LỢI PHẢI THU LẤY.
Những cái lợi đó là gì và cho ai ? Có những cái lợi cho người này, nhưng là hại cho người khác. Đối với chúng tôi, điều quan trọng là những cái lợi cho cuộc sống của Dân và cho sự phát triển Đất Nước. Chúng ta thu lấy những cái lợi này. Còn những cái lợi cho đảng CSVN độc tài cấu kết với tài phiệt nước ngoài, đó là những cái hại cho Dân và Đất Nước, chúng ta phải tìm cách loại trừ.
ĐẢNG CSVN NHẰM NHỮNG CÁI LỢI CHO RIÊNG MÌNH
Qua những phân tích ở bài QUAN ĐIỂM thứ nhất về những cái hại, nhất là về việc bóc lột Lao động để tăng cạnh tranh và việc giết chết nông nghiệp và ngư nghiệp, chúng ta thấy rằng CSVN tìm hết cách bưng bít những điểm này, mà chỉ nóng lòng chấp nhận bất cứ điều kiện Quốc tế trên giấy tờ để mong vào được WTO như gà mắc đẻ. Tôi nói CSVN chấp nhận những điều kiện TRÊN GIẤY TỜ, nhưng trên thực tế, những điều kiện đòi hỏi của Quốc tế lại không được thực hiện đúng đắn. Chúng ta là người Việt Nam, chúng ta hiểu tình trạng thực của Việt Nam và chúng ta đã bao chục năm trường phải chịu đựng cảnh nói gian dối, nuốt lời của Cộng sản. Đảng CSVN mong vào WTO như gà mắc đẻ vì nhằm những cái lợi cho riêng đảng như sau đây.
Duy trì chế độ độc tài độc đảng
Đây là cái lợi ích Chính trị của đảng. Việc cai trị độc tài và tham nhũng đã tạo sự đứng dậy đấu tranh của Dân chúng Quốc nội. Trước việc đấu tranh của Dân, đảng CSVN lung lay. Đảng muốn lấy thế lực Quốc tế để củng cố quyền lực Chính trị của mình. Đảng gắng công tổ chức Hội nghị APEC cũng như nhận các điều kiện để vào WTO là nhằm mục đích lấy ngoại bang củng cố cho quyền lực trị Dân của mình, trong khi đó dùng khủng bố của Công an để khủng bố Dân chứ không lo thay đổi chế độ cho hợp lòng Dân Quốc nội. Đây chính là việc dùng quyền lực ngoại bang để củng cố quyền lực Chính trị của mình.
Nguồn làm giầu riêng cho đảng và con cháu đảng
Độc tài Chính trị để nắm quyền lực. Có quyền lực độc tài Chính trị, thì mới có quyền lực độc tài về Kinh tế, Thương mại. Khía cạnh Kinh tế, Thương mại này mới là điểm mà đảng không muốn nhả ra. Đảng đã nắm trọn đời sống Kinh tế cả nước và kết quả là Dân chúng nghèo đói. Đảng buộc lòng phải nhả ra một phần điều hành Kinh tế cho tư doanh. Ngày nay việc tham nhũng, kiếm chác bẩn thỉu đối với Quốc nội gặp những phản ứng. Dân không còn sợ hãi nữa và khi đảng đụng đến nồi cơm của Dân, thì Dân bắt đầu phản ứng, bảo vệ cho quyền sống dạ dầy của mình.
Chính vì vậy mà việc vào WTO là nguồn lợi tham nhũng rất ngon lành và to lớn cho đảng và con cháu đảng. Đối với những tham nhũng quốc tế này, đảng có thể bịt mắt Dân chúng. Đảng vẫn giữ cả một hệ thống độc quyền về Kinh tế, Thương mại.
Những Công ty quốc doanh là hệ thống nắm độc quyền Kinh tế, Thương mại của đảng, tối thiểu về những mặt hàng xuất nhập cảng chính yếu. Còn những hoạt động Kinh tế, Thương mại nào buộc lòng phải để cho tư doanh, thì quyền lực độc tài của những người cầm đầu đảng lại dành cho con cháu của họ nắm giữ dưới danh hiệu tư doanh. Đây là hệ thống Kinh tế, Thương mại Mafia Gia đình. Đại Hội đảng kỳ vừa rồi cho phép đảng viên (những kẻ có quyền độc tài độc đảng) làm Kinh tế, Thương mại, nghĩa là hệ thống Kinh tế, Thương mại Mafia Gia đình nới rộng ra hệ thống Kinh tế Mafia Đảng. Nếu có tư doanh thực thụ nào muốn làm Kinh tế, Thương mại nhân cơ hội nhập WTO, thì cũng phải tốn tiền bạc cho hệ thống Mafia Gia đình và Mafia Đảng. Đây là hai hệ thống ngồi mát ăn bát vàng trên đầu giới tư doanh thực thụ.
Tóm lại, hai cái lợi trên đây, Chính trị và tham nhũng Kinh tế, Thương mại Quốc tế khiến đảng chấp nhận trên giấy tờ (giả mạo) để vào cho bằng được WTO như gà mắc đẻ.
TÀI PHIỆT NGOẠI LAI CẤU KẾT VỚI ĐỘC TÀI ĐỂ THỦ LỢI
Quản trị chính yếu Kinh tế của những Xí nghiệp là quản trị Chi tiêu. Vì cạnh tranh quốc tế, giá bán hàng hóa trở thành rất khó khăn cho việc quản trị. Buộc phải chấp nhận giá bán cạnh tranh của Thị trường, các Xí nghiệp sản xuất tìm mọi cách để hạ giá thành và từ đó có thể làm tăng lợi nhuận.
Những sản phẩm cao cấp đòi phải trang bị máy móc (Equipement) tốn kém và dài hạn để sản xuất. Nhưng đối với những hàng tiêu thụ thông dụng hàng ngày, không cần phải trang bị máy móc phức tạp tốn kém và dài hạn để sản xuất, các Xí nghiệp chỉ cần dùng Nhân lực rẻ tiền có tính cách ngắn hạn để sản xuất. Ngay cả đối với những sản phẩm cao cấp phức tạp, các Xí nghiệp đã chia sản phẩm ra thành những bộ phận linh kiện (Pìeces détachées) để tản việc sản xuất ra nhiều nơi mà họ có thể tận dụng Nhân lực rẻ tiền để sản xuất. Đây là hệ thống sản xuất bằng ráp nối những linh kiện (Assemblement des pìeces détachées).
Nhân công Việt Nam là nhân công có giá trị vì ba yếu tố: (i) người Việt Nam nhẫn nại, chịu khó; (ii) người Việt Nam có óc thông minh, hiểu mau mắn công việc làm; (iii) nhân công Việt Nam khéo tay trong những công việc tay chân.
Khối nhân lực này là phương tiện cho những Xí nghiệp tìm tòi sản xuất hàng hóa thông dụng (Produits de consommation courante) và linh kiện (Pìeces détachées) với giá thành hạ. Điều lý tưởng (= ác tâm) của những Xí nghiệp này là họ cấu kết với một chế độ độc tài có thể bắt ép Nhân lực phải chấp nhận đồng lương rất thấp trong một khoảng thời gian dài. CSVN độc tài cấu kết với tài phiệt ngoại lai bóc lột lương nhân công để thủ lợi riêng: CSVN độc đoán giữ lương nhân công hạ để được tiền thưởng (tham nhũng) từ ngoại lai; tài phiệt ngoại lai cấu kết với CSVN để có nhân công rẻ tiền để hạ giá thành hàng hóa.
Theo thống kê, ngoại lai đầu tư (lợi dụng nhân công) ở Việt Nam phần lớn là từ những nước Á đông chung quanh và về những hàng tiêu thụ thông dụng và những linh kiện. Nhật, Nam Hàn sản xuất một số linh kiện tại Việt Nam. Đài Loan, Hồng Kông, Singapore sản xuất về hàng may mặc ở Việt Nam để xuất cảng.
Khi vào WTO, nghĩa là có tự do xuất cảng những hàng trên sang các nước đã kỹ nghệ hóa với thuế hạ và với giá bán cao ở những nước này, đó là điều lý tưởng cho những tài phiệt Á đông sản xuất và và bán trên Thị trường quốc tế để tăng lợi nhuận. Vào WTO, CSVN ham như gà mắc đẻ vì mục đích riêng của đảng. Vào WTO, tài phiệt ngoại lai Á đông xốn sang như người mắc đái vì cho phép họ dùng độc tài bóp chẹt lương nhân công và qua “Made in Vietnam“ họ tự do xuất cảng sang những nước có mức sống cao để bán thu lợi nhuận. Cùng mục đích riêng, hai nhóm này cấu kết với nhau để giữ Chính trị độc tài tại Việt Nam, hầu bóc lột lao động để thủ lợi. (Xin đọc thêm bài Phân tích Thị trường Nhân Lực VN đăng lại trong số này).
Những cái gọi là những cái lợi trên đây khi vào WTO là đứng theo quan điểm của đảng CSVN và của tài phiệt ngoại lai đi tìm nhân công rẻ để hạ giá thành hàng hóa. Nhưng đứng theo quan điểm người Dân Việt Nam, thì những cái lợi này có được là do sự bóc lột trên đầu Dân.
Chính vì vậy mà đảng CSVN chỉ ca tụng việc vào WTO và che dấu những cái hại mà chúng tôi đã phân tích trong bài QUAN ĐIỂM thứ nhất, đặc biệt về khía cạnh bóc lột Công nhân để tăng cạnh tranh và về việc giết chết nông nghiệp, ngư nghiệp Việt Nam. Đảng CSVN cũng xử dụng những Công ty quốc doanh, hệ thống Mafia Gia đình, hệ thống Mafia Đảng để giữ chặt những cái lợi Kinh tế/ Thương mại cho mình, đồng thời dễ dàng và kín đáo cấu kết với tài phiệt ngoại lai ở phương diện bóc lột nhân công Việt Nam.
Về phương diện này, một lần nữa, chúng tôi thấy rằng việc thành lập Công Đoàn Lao Động Độc Lập là điều cần thiết mà lý do hoàn toàn thuộc phạm vi Kinh tế/ Thương mại. Việc vào WTO gấp rút, thì việc lớn mạnh của Công Đoàn Lao Động Độc Lập cũng phải gấp rút để đấu tranh Kinh tế/ Thương mại thu cái lợi về cho giới Lao động và cho Dân.
NHỮNG CÁI LỢI MÀ DÂN CẦN ĐẤU TRANH ĐỂ THU VÀO CHO MÌNH VÀ ĐẤT NƯỚC
Chúng tôi cũng đứng ở hai khía cạnh để phân tích những cái lợi này: khía cạnh Chính trị và khía cạnh Kinh tế/ Thương mại. Tất nhiên về khía cạnh nào mặc lòng, thì Dân phải nỗ lực đấu tranh mạnh mới mong thu được những cái lợi.
Những cái lợi về mặt Chính trị
Như trong phần trên đã phân tích, CSVN mong vào WTO như gà mắc đẻ vì họ mong củng cố quyền lực Chính trị độc tài của mình. Nhưng khi vào WTO họ phải chấp nhận những điều kiện trên văn bản của Thế Giới Tự do. WTO là sản phẩm của cơ chế chủ trương nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Nếu tại Việt Nam, Cộng sản có thể dùng khủng bố, đàn áp để che đậy một mặt là viết trên văn bản có Kinh tế Tự do và Thị trường, một mặt lại áp dụng Kinh tế Chỉ huy của đảng, thì khi vào WTO rồi và khi đã chấp nhận những văn bản về Kinh tế Tự do và Thị trường, CSVN không thể dùng khủng bố, đàn áp để áp dụng những nguyên tắc Quốc tế theo kiểu côn đồ như họ làm ở Việt Nam được. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường, với cái nhìn nhiều hơn của Quốc tế, buộc CSVN phải tôn trọng một Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat).
Như gà mắc đẻ, CSVN đã đeo những nguyên tắc của nền Kinh tế Tự do và Thị trường vào cổ như cái tròng, thì Dân phải cầm vững lấy cái tròng này mà đấu tranh, với áp lực thực tiễn của Quốc tế, để bắt CSVN phải tôn trọng một thể chế Chính trị—Pháp lý cho phù hợp. Quốc tế buộc phải áp lực lên CSVN bởi vì chính CSVN đã cam kết với WTO khi chấp nhận vào Tổ chức này. Đây không phải là sự can thiệp của nước khác vào nội bộ Việt Nam như CSVN từng rao rêu bào chữa mà là cái quyền của Quốc tế đòi Việt Nam phải tôn trọng những cam kết khi vào WTO.
Đấu tranh cho những cái lợi Kinh tế, Thương mại
Về phương diện này, chúng tôi đã phân tích nhiều trong những đoạn trên và đặc biệt trong bài về Thị trường Nhân Lực Việt Nam. Hai phương diện, phải nỗ lực đấu tranh mới thu được những cái lợi cho Kinh tế Việt Nam:
=> Đẩy lui sự độc quyền Kinh tế của đảng, của hệ thống Mafia Gia đình và Mafia đảng.
=> Công nhân phải có Công đoàn Lao động Độc lập để đấu tranh chống lại sự cấu kết của độc tài với tài phiệt ngoại lai trong việc bóc lột lương của Công nhân.
Những Nghiệp Đoàn Độc Lập Việt có hoàn toàn lý do Kinh tế để đứng lên đại diện cho Nhân công đấu tranh chống lại việc bóc lột này vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ CSVN:
CƠ HỘI WTO: PHẢI BỎ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI ĐỂ TOÀN DÂN XÂY DỰNG THỂ CHẾ TỰ DO DÂN CHỦ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Đây là bài QUAN ĐIỂM thứ ba trong loạt bài mà chúng tôi gọi việc vào WTO là một CƠ HỘI để thay đổi thể chế Chính trị hầu tạo một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp (Environnement Politico—Juridique adéquat) cho phát triển Kinh tế đất nước. WTO có thể là một cơ hội tốt nếu chúng ta biết cùng nhau nỗ lực khai thác, nhưng WTO cũng có thể là một đấu trường để những quốc gia mạnh có cơ hội bắt Kinh tế của những nước yếu trở thành thuộc địa khai thác.
Với hai bài QUAN ĐIỂM thứ nhất và thứ hai trước bài thứ ba này, chúng tôi đã phân tích tỉ mỉ những CÁI NGUY HẠI PHẢI CHỐNG ĐỠ và NHỮNG CÁI LỢI PHẢI THU LẤY. Qua những phân tích hoàn toàn trong phạm vi Kinh tế, Thương mại của hai bài trước, chúng tôi muốn rút ra những KẾT LUẬN cho bài này về khía cạnh Chính trị làm môi trường cho việc CHỐNG ĐỠ NHỮNG CÁI NGUY HẠI hay làm điều kiện cho việc THU VÀO NHỮNG CÁI LỢI. Chúng tôi đề cập đến những điểm sau đây:
=> Tóm tắt những cái nguy hại đưa đến Thuộc địa Kinh tế
=> Vào WTO, phải có một thể chế Chính trị phù hợp
TÓM TẮT NHỮNG CÁI NGUY HẠI ĐƯA ĐẾN THUỘC ĐỊA KINH TẾ
Không phải chỉ riêng những phân tích của chúng tôi về những cái nguy hại trong hai bài QUAN ĐIỂM trước đây, mà chính những nhà Kinh tế quốc tế hoặc của chế độ CSVN đã xác nhận.
Những nguy hại từ hai bài phân tích của chúng tôi.
Đó là những nguy hại mà chúng tôi liệt kê tóm tắt như sau:
=> Hàng hóa nước ngoài, nhất là từ những nước chung quanh đã tiến trước, cạnh tranh và tiêu diệt, ở chính trên lãnh thổ mình, những hàng hóa thuộc công nghệ Việt Nam mới ở giai đoạn phát sinh (les Industries naissantes). Việt Nam dễ trở thành thuộc địa Kinh tế của Trung cộng về hàng công nghệ chẳng hạn.
=> Trong chế độ độc tài độc đảng hiện nay, tham nhũng cấu kết với tài phiệt ngoại lai để bóc lột lao động.
=> Thiệt hại nặng hơn cả là việc giết chế nông nghiệp và ngư nghiệp, nguồn phát triển sống còn của nước mình.
=> CSVN hồ hởi vào WTO nhằm mục đích chính yếu là cũng cố quyền lực Chính trị độc tài hơn là những đắn đo về Kinh tế.
Xác nhận những nguy hại từ những nhà Kinh tế
Những nhà Kinh tế quốc tế cũng như quốc nội (CSVN) đều nhìn thấy những nguy hại của việc vào WTO với tình trạng Kinh tế cũng như Chính trị hiện hành:
=> Tiến sĩ Carl THAYER, Giám đốc Diễn đàn Nghiên cứu Quốc phòng của Đại học New South Wales, đã nêu ra 6 cái nguy hại cho Việt Nam khi gia nhập WTO.
=> Ngày 7/11/06, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tổ chức một cuộc hội thảo với chủ đề "Xây dựng văn hoá doanh nghiệp, văn hoá doanh nhân trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế". Theo đó cho biết, 92% doanh nghiệp kinh doanh bình thường và kém. Chính CSVN xác nhận sự yếu kém của mình về cả sản xuất cụ thể lẫn kiến thức về doanh nghiệp. WTO không phải là nơi đại hội tưng bừng đến đó để chia phần bánh, mà là một đấu trường kẻ mạnh diệt kẻ yếu không thương tiếc. Đây là nơi đấu tranh về tiền bạc.
VÀO WTO, PHẢI CÓ MỘT THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ PHÙ HỢP
WTO là Tổ chức Thương mại Thị trường Tự do mà Tư hữu và Cá nhân là chủ động, không có sự can thiệp trắng trợn của quyền lực Chính trị. Vào Tổ chức, không thể quen thói gian lận, bịp bợm của một thể chế Chính trị độc tài độc đảng với hệ thống Công ty quốc doanh, hệ thống làm ăn Mafia gia đình, Mafia đảng.
Vào WTO, phải phế bỏ chế độ CSVN hiện hành
Đây không phải là sự đòi buộc mang tính cách đấu tranh Chính trị để chiếm quyền lực mà là sự đòi buộc cho tương lai phát triển Kinh tế Việt Nam. Cái chế độ này đã đưa Việt Nam đến tình trạng Kinh tế lúc này trước khi vào WTO với những nguy hại mà chúng tôi đã phân tích trên đây và được xác nhận bởi những nhà Kinh tế quốc tế và quốc nội. Nếu chúng ta vẫn duy trì chế độ độc tài độc đảng hiện hành, thì về mặt cụ thể, Việt Nam dễ trở thành một thuộc địa Kinh tế, và về mặt lý thuyết, không có sự phù hợp giữa Kinh tế / Thương mại Tự do Thị trường và thể chế độc tài độc đảng luôn áp chế Chính trị độc đoán vào sinh hoạt Kinh tế Tư nhân tự do.
Vào WTO, phải thiết lập thể chế Chính trị Dân chủ đa nguyên
Không thể dùng lời khuyên, khích lệ, cổ võ tinh thần mà diệt được Tham nhũng, kẻ thù của phát triển Kinh tế Tự do Thị trường. Đối lập quyền lực và Chính trị là biện pháp chính để ngăn chặn Tham nhũng. Những quy luật của Tổ chức Mậu dịch Quốc tế được thiết lập trên căn bản của nền Kinh tế Tự do Thị trường của những sinh hoạt Kinh tế tư nhân. Cần diệt Tham nhũng và cần theo quy luật WTO, thì phải thiết lập một thể chế Chính trị Dân chủ đa nguyên.
Trước những nguy hiểm của viễn tượng trở thành thuộc địa Kinh tế, Việt Nam cần phải phế bỏ chế độ độc tài độc đảng để thiết lập chế độ Dân chủ Pháp trị và đa nguyên mới mong huy động được những lực lượng Kinh tế ngăn cản những nguy hiểm và lấy đà cho phát triển Kinh tế tương lai của Đất nước. Một thể chế Dân chủ đa nguyên và Pháp trị mới tạo được sự đoàn kết Dân tộc thực sự để làm Kháng chiến Kinh tế, mới tạo được niềm tin Kinh tế thiết cần cho Quốc tế, mới không tréo cẳng ngỗng đối với những quy luật Thương mại WTO.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
KINH TẾ TƯƠNG LAI ĐÒI PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ CSVN:
CƠ HỘI WTO: ĐỘC TÀI CSVN TỰ SÁT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Khi viết về việc Việt Nam vào WTO, chúng tôi không đưa ý kiến về quyết định vào hay không vào, mà chúng tôi chỉ nêu ra NHỮNG CÁI NGUY HẠI PHẢI TÌM CÁCH CHỐNG ĐỠ và NHỮNG CÁI LỢI THÌ PHẢI THU LẤY. Những cái nguy hại là nguy hại cho Dân và những cái lợi là những cái lợi cho Dân. CSVN thì tính toán việc vào WTO là cho lợi riêng của đảng, nên họ vô cùng hồ hởi đến nỗi quên hẳn những cái nguy hại đang chực sẵn khi vào WTO.
Trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 277/09.11.2006 tuần trước nữa, khi viết về những cái lợi, chúng tôi đã đặt câu hỏi: lợi cái gì và lợi cho ai ? Khi phân tích, chúng tôi thấy rằng CSVN coi WTO như phương tiện CỦNG CỐ quyền lực Chính trị của thể chế độc tài độc đảng của mình, nhưng chúng tôi lại thấy rằng Dân cũng có thể coi WTO như phương tiện ĐẬP TAN quyền lực Chính trị của thể chế độc tài độc đảng của CSVN.
Về phương diện Kinh tế/ Thương mại, những cái hại phải chống đỡ hay những cái lợi mong thu được luôn luôn phải ở dưới điều kiện là Dân phải nắm quyền chủ động về Kinh tế/Thương mại, nghĩa là phải có sự tôn trọng Tự do Dân chủ cho cá nhân kinh doanh, cũng có nghĩa là việc cai trị độc tài độc đảng phải biến đi.
Về phương diện Chính trị, chúng tôi nhìn thấy rằng CSVN đã mất sự tin tưởng của Dân, nên vong ngoại, tìm thế lực ngoại lại để củng cố cho quyền lực đàn áp trị Dân của mình. Đúng hệt là một loại Chiêu Thống đi cầu thế lực ngoại lai giúp đỡ để trị Dân. CSVN bấu víu vào Mỹ (PNTR), bám lấy WTO để lòe Dân, bịp Dân và trị Dân. Chúng tôi cũng nhìn thấy trong ý đồ chính yếu này của CSVN như một việc sa lưới của đảng CSVN vào tử huyệt. Vào WTO, Cộng sản Việt Nam đi vào TỰ SÁT.
Khi tôi đọc bài CUỘC ĐẤU QUYẾT ĐỊNH, WTO: MỒ CHÔN ĐẢNG CS của Bác sĩ NGUYỄN ĐAN QUẾ, tôi vô cùng mừng rỡ và nhận ra ngay quan điểm của Bác sĩ về việc vào WTO và cái nhìn tương lai của cảnh gậy ông đập lưng ông của CSVN. Chính WTO là mồ chôn của CSVN.
Cái nhìn của tôi về WTO và ý đồ của CSVN trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 277/09.11.06 về mặt Chính trị rất gần với quan điểm của Bác sĩ NGUYỄN ĐAN QUẾ. Chúng tôi rất vui mừng khi đọc bài của Bác sĩ và coi đây là cái sườn trong cuộc đấu tranh sắp tới khi Việt Nam vào WTO.
Thực vậy, sau Thế Chiến thứ II, trước sự bành trướng của Cộng sản Staline, một trong mục đích của Chương trình Marshall 173 tỉ Mỹ kim là nhằm phát triển Kinh tế Aâu châu để các nước bị tàn phá bởi Thế Chiến khỏi rơi vào tay Cộng sản, thì Staline đã cấm các nước Đông Aâu không được nhận viện trợ tái thiết của Chương trình Marshall vì thấy đây là phương tiện chống lại bành trướng của Cộng sản quốc tế.
Khi Việt Nam còn nhận được viện trợ của Liên Xô, thì CSVN rào chặt bức Màn Tre. Nhưng khi Đế quốc Cộng sản sụp đổ, không còn viện trợ nữa, thì CSVN buộc phải mở cửa cho Thế giới Tư bản Tự do, mặc dầu biết đây là hiểm hoạ cho chế độ độc tài. Kết quả là Dân chúng Việt Nam thấy rõ hơn nữa mặt thật của chế độ và Thế giới Tự do quan sát và can thiệp khi có những khủng bố, đàn áp Dân. Kết quả cụ thể hơn hết là Dân đã đứng dậy đi đường của mình, ĐƯỜNG DÂN, DÂN CỨ ĐI, hết sợ hãi Cộng sản và được hỗ trợ bởi những con mắt nước ngoài nhìn vào. Việt Nam ngày nay vào WTO, tức là mở toang cánh cửa ra đả mọi nước nhìn vào và buộc lòng phải theo Luật pháp của Thế giới Tự do. Đây là việc độc tài độc đảng tự nhận điều kiện tự sát vậy.
Chúng tôi xin trích đăng Bài QUAN ĐIỂM của Viet TUDAN số 277/09.11.06 và Bài của Bác sĩ NGUYỄN ĐAN QUẾ về cái nhìn tương lai cho CSVN khi gia nhập WTO.
TRÍCH ĐĂNG BÀI QUAN ĐIỂM VietTUDAN số 277/09.11.06 Giáo sư NGUYỄN PHÚC LIÊN
Đảng CSVN nhằm những cái lợi cho riêng mình
Qua những phân tích ở bài QUAN ĐIỂM thứ nhất về những cái hại, nhất là về việc bóc lột Lao động để tăng cạnh tranh và việc giết chết nông nghiệp và ngư nghiệp, chúng ta thấy rằng CSVN tìm hết cách bưng bít những điểm này, mà chỉ nóng lòng chấp nhận bất cứ điều kiện Quốc tế trên giấy tờ để mong vào được WTO như gà mắc đẻ. Tôi nói CSVN chấp nhận những điều kiện TRÊN GIẤY TỜ, nhưng trên thực tế, những điều kiện đòi hỏi của Quốc tế lại không được thực hiện đúng đắn. Chúng ta là người Việt Nam, chúng ta hiểu tình trạng thực của Việt Nam và chúng ta đã bao chục năm trường phải chịu đựng cảnh nói gian dối, nuốt lời của Cộng sản. Đảng CSVN mong vào WTO như gà mắc đẻ vì nhằm những cái lợi cho riêng đảng như sau đây.
Duy trì chế độ độc tài độc đảng
Đây là cái lợi ích Chính trị của đảng. Việc cai trị độc tài và tham nhũng đã tạo sự đứng dậy đấu tranh của Dân chúng Quốc nội. Trước việc đấu tranh của Dân, đảng CSVN lung lay. Đảng muốn lấy thế lực Quốc tế để củng cố quyền lực Chính trị của mình. Đảng gắng công tổ chức Hội nghị APEC cũng như nhận các điều kiện để vào WTO là nhằm mục đích lấy ngoại bang củng cố cho quyền lực trị Dân của mình, trong khi đó dùng khủng bố của Công an để khủng bố Dân chứ không lo thay đổi chế độ cho hợp lòng Dân Quốc nội. Đây chính là việc dùng quyền lực ngoại bang để củng cố quyền lực Chính trị của mình mà đàn áp Dân.
Nguồn làm giầu riêng cho đảng và con cháu đảng
Độc tài Chính trị để nắm quyền lực. Có quyền lực độc tài Chính trị, thì mới có quyền lực độc tài về Kinh tế, Thương mại. Khía cạnh Kinh tế, Thương mại này mới là điểm mà đảng không muốn nhả ra. Đảng đã nắm trọn đời sống Kinh tế cả nước và kết quả là Dân chúng nghèo đói. Đảng buộc lòng phải nhả ra một phần điều hành Kinh tế cho tư doanh. Ngày nay việc tham nhũng, kiếm chác bẩn thỉu đối với Quốc nội gặp những phản ứng. Dân không còn sợ hãi nữa và khi đảng đụng đến nồi cơm của Dân, thì Dân bắt đầu phản ứng, bảo vệ cho quyền sống dạ dầy của mình.
Chính vì vậy mà việc vào WTO là nguồn lợi tham nhũng rất ngon lành và to lớn cho đảng và con cháu đảng. Đối với những tham nhũng quốc tế này, đảng mong có thể bịt mắt Dân chúng. Đảng vẫn giữ cả một hệ thống độc quyền về Kinh tế, Thương mại.
Những Công ty quốc doanh là hệ thống nắm độc quyền Kinh tế, Thương mại của đảng, tối thiểu về những mặt hàng xuất nhập cảng chính yếu. Còn những hoạt động Kinh tế, Thương mại nào buộc lòng phải để cho tư doanh, thì quyền lực độc tài của những người cầm đầu đảng lại dành cho con cháu của họ nắm giữ dưới danh hiệu tư doanh. Đây là hệ thống Kinh tế, Thương mại Mafia Gia đình. Đại Hội đảng kỳ vừa rồi cho phép đảng viên (những kẻ có quyền độc tài độc đảng) làm Kinh tế, Thương mại, nghĩa là hệ thống Kinh tế, Thương mại Mafia Gia đình nới rộng ra hệ thống Kinh tế Mafia Đảng. Nếu có tư doanh thực thụ nào muốn làm Kinh tế, Thương mại nhân cơ hội nhập WTO, thì cũng phải tốn tiền bạc cho hệ thống Mafia Gia đình và Mafia Đảng. Đây là hai hệ thống ngồi mát ăn bát vàng trên đầu giới tư doanh thực thụ.
Tóm lại, hai cái lợi trên đây, Chính trị và tham nhũng Kinh tế, Thương mại Quốc tế khiến đảng chấp nhận trên giấy tờ (giả mạo) để vào cho bằng được WTO như gà mắc đẻ. Đây là sự mong đợi của đảng, nhưng đảng có thể yên lành đạt những mục đích ấy hay không ?
Những cái lợi về mặt Chính trị cho Dân
Như trong phần trên đã phân tích, CSVN mong vào WTO như gà mắc đẻ vì họ mong củng cố quyền lực Chính trị độc tài của mình. Nhưng khi vào WTO họ phải chấp nhận những điều kiện trên văn bản của Thế Giới Tự do. WTO là sản phẩm của cơ chế chủ trương nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Nếu tại Việt Nam, Cộng sản có thể dùng khủng bố, đàn áp để che đậy một mặt là viết trên văn bản có Kinh tế Tự do và Thị trường, một mặt lại áp dụng Kinh tế Chỉ huy của đảng, thì khi vào WTO rồi và khi đã chấp nhận những văn bản về Kinh tế Tự do và Thị trường, CSVN không thể dùng khủng bố, đàn áp để áp dụng những nguyên tắc Quốc tế theo kiểu côn đồ như họ làm ở Việt Nam được. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường, với cái nhìn nhiều hơn của Quốc tế, buộc CSVN phải tôn trọng một Môi trường Chính trị—Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat).
Như gà mắc đẻ, CSVN đã đeo những nguyên tắc của nền Kinh tế Tự do và Thị trường vào cổ như cái tròng, thì Dân phải cầm vững lấy cái tròng này mà đấu tranh, với áp lực thực tiễn của Quốc tế, để bắt CSVN phải tôn trọng một thể chế Chính trị—Pháp lý cho phù hợp. Quốc tế buộc phải áp lực lên CSVN bởi vì chính CSVN đã cam kết với WTO khi chấp nhận vào Tổ chức này. Đây không phải là sự can thiệp của nước khác vào nội bộ Việt Nam như CSVN từng rao rêu bào chữa mà là cái quyền của Quốc tế đòi Việt Nam phải tôn trọng những cam kết khi vào WTO. Giáo sư NGUYỄN PHÚC LIÊN
CUỘC ĐẤU QUYẾT ĐỊNH WTO: MỒ CHÔN ĐẢNG CSVN BS. Nguyễn Đan Quế
Chủ thuyết Cộng Sản ngoại lai lỗi thời đã pha ' nát xã hội miền Bắc từ 1945 và trên cả nước sau 1975.
Trước tình trạng bế tắc sau khi cai trị cả nước trong mười năm, Cộng Sản VN đã chạy theo Liên Xô, đành chấp nhận đổi mới năm 1986. Sau khi Liên Xô sụp đổ, lại chạy theo Trung Cô.ng. Suốt 20 năm qua, Bộ Chính Trị luôn chạy theo đuôi đổi thay kinh tế - xã hội, không có đường lối, hoàn toàn bị động và vì vậy chỉ có những biện pháp vá víụ
Do vốn nước ngoài vào đầu tư, đặc biệt mậu dịch với Hoa kỳ sau hiệp ước song phương Mỹ - Việt (2001), hạ tầng xã hội Việt Nam đã thay đổi nhiềụ Muốn phát triển lâu dài, bền vững thì bắt buộc phải đầu tư vào con người; nghĩ a là phải tôn trọng nhân quyền và thể chế phải là dân chủ pháp trị: Thay đổi chính trị ở Việt Nam là bắt buộc, không thể tránh khỏị
Bây giờ gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO), nhu cầu thay đổi chính trị này lại càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, vì luật chơi của tổ chức này: Việt Nam phải đối xử công bằng với các công ty nước ngoài đến Việt Nam làm ăn (kể cả xuất-nhập khẩu) giống như các công ty bản địạ Ngược lại, Việt Nam cũng có quyền như vậy ở bất cứ nước hội viên nào trong WTỌ Hàng rào quan thuế giữa các nước sẽ bỏ dần. Tự do cạnh tranh với qui luật kinh tế thị trường sẽ quyết đi.nh. Dù muốn hay không, Việt Nam phải dứt khóat từ bỏ kinh tế chỉ huy và chuyển sang kinh tế thị trường. Đây là chuyện rất kho ' khăn cho nhà cầm quyền Hà Nội và cho đảng Cộng Sản Việt Nam, nhưng lại là cơ hội ngàn năm một thủa cho toàn dân Việt Nam và cho tổ quốc Việt Nam: Bằng vào Sức Mạnh Quần Chúng đánh đòn chí tử vào đúng thời điểm này, chúng ta sẽ mang lại dân chủ cho dân tộc tạ
Để có dân chủ ở Việt Nam chúng ta cần đánh thẳng vào khả năng tham mưu của Bộ Chính Trị đảng CSVN trên ba mặt trận:
Mặt trận kinh tế:
- Dẹp bỏ quốc doanh làm ăn thua lỗ. - Phát triển kinh tế tư nhân. - Xuất - nhập k hẩu tự do, phá vỡ thế nhà nước độc quyền.
1/ Với cung cách làm ăn hiện nay như được ưu đãi đat đai, thuế ít, ngân hàng hỗ trợ, man khai sổ sách ... các công ty quốc doanh là ổ tham nhũng ngốn tiền của dân, đa số vẫn thua lỗ, không địch nổi tư nhân trong nước. Bây giờ cạnh tranh với tư bản ngoại quốc thì làm sao tồn tại được.
Chúng ta chủ trương tư nhân trong - ngoài hợp tác với nhau, làm phá sản quốc doanh và kiến tạo khu vực tư nhân mạnh dẫn đầu cho nền kinh tế quốc dân (theo kinh tế thị trường đúng nghĩa).
2/ Chính khu vực tư nhân phát triển sẽ tạo nhiều công ăn việc làm, thu dụng số công nhân do đóng cửa quốc doanh . Tư nhân có sáng kiến, nhanh nhậy với kỹ thuật cao và nhất là ngân hàng ngoại quốc vào đầu tư sẽ cho vay những ai biết làm ăn có lờị
3/ Khi tư bản ngoại quốc vào, công nhân vì quyền lợi của bản thân và tương lai con cái mình, tất phải thành lập công đoàn tự do độc lập, để hưởng lương bổng và lao động theo tiêu chuẩn của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế. Công nhân VN từ đầu 2006 đã tự động đình công đòi hỏi theo hướng đó. Với các đại công ty, cơ xưởng có hàng chục ngàn thợ thuyền, phong trào công nhân sẽ lớn mạnh và công đoàn nhà nước dù muốn khống chế công nhân, cũng không làm được. Hơn nữa trong môi trường cạnh tranh toàn cầu, chính giới tư bản cũng muốn lực lượng sản xuất khoẻ mạnh và thoải mái không có cảm giác kềm kẹp bất an khi làm việc để có năng xuất cao và sản phẩm tốt, mang lại lợi nhuận nhiềụ
4/ Trong chiến tranh, nông dân bị bóc lột xương máu nhiều nhất. Trong hoà bình họ bị bỏ quên. Phơi lưng dưới nắng làm ra hạt gạo, lại bị thu mua mang đi xuất khẩụ Không được lợi lộc bao nhiêu từ khi đổi mớị Ký kết thúc thương thuyết song phương với Mỹ để vào WTO năm nay, Hà nội đã phải nhượng bộ khá nhiều về hàng nông sản. Đây chính là cốt lõi đấu tranh của nông dân trong những ngày tháng tới: . Đòi phải có quyền sở hữu đat đaị . Đòi có quyền tự do canh tác. . Đòi có quyền mang mảnh đất và sức lao động của mình trực tiếp hợp tác với tư nhân, kể cả ngoại quốc (có vốn, có máy cày, có thị trường tiêu thu....). . Sau khi làm đúng nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước, nông dân có toàn quyền muốn bán gạo cho ai thì bán, kể cả xuất cảng lấy đô lạ Rồi đây, công ty nước ngoài có quyền mở xuất - nhập cảng ở bên trong VN, nhà nước CS không thể dùng độc quyền thu mua lúa gạo, ép giá nông dân dễ dàng nữạ
Trở thành là một bộ phận cấu thành của nông nghiệp toàn cầu, đây chính là cơ hội nông dân thoát khỏi chế độ CS bóc lột, trực tiếp giao thiệp với nông dân trên thế giớị Tất nhiên nông dân VN sẽ đòi hỏi triệt để với chính quyền CS để lấy lại những thiệt thòi trong qúa khứ.
Mặt trận văn hoá
1/ Quan trọng nhất là vấn đề thông tin. Mâu thuẫn trầm trọng đang nẩy nở mạnh giữa giới thông tin, làm báo, đài, xuất bản với giới kiểm soát văn hóạ
Mặt trận đòi tự do thông tin, tự do báo chí sẽ lớn ma.nh. Chính quyền xiết sẽ bung, bị xé ràọ Truyền thông quốc tế ủng hộ mạnh mẽ đệ tứ quyền nàỵ
Dân sẽ ủng hộ những báo tường thuật, điều tra thất thoát. Bộ Chính Trị run vì sợ bị khuị Đây chính là cứ điểm cuối cùng nhà cầm quyền cộng Sản sẽ liều chết cố thủ bảo vệ, không chấp nhận tự do báo chí, nhưng họ sẽ thấ t bại vì:
. Quần chúng cần thông tin đa chiều, không muốn nghe tuyên truyền một chiều phỉnh phờ nữạ Chính nông dân và công nhân đang đòi quyền được thông tin đầy đủ và sớm nhất. Hiện nay, giới trẻ dùng Internet thoát vòng bưng bít thông tin của CS, nhưng chưa nhiều và còn bị giới hạn chặt chẽ.
. Vào WTO, các dịch vụ từ bưu chính viễn thông, điện thoại di động đến internet...phải mở cửạ Thế độc quyền thông tin khó giữ vững. Hà nội không thể không tôn trọng thoả thuận TRIPS (những khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ), vì liên quan đến nhiều vấn đề khác như phát triển phần mềm máy tính hay nhượng quyền sản xuất thuốc tây giá rẻ cho bệnh hiv-aids chẳng hạn.
. Cộng đồng nguời Mỹ gốc Việt đang làm áp lực và đòi hỏi phải có thông tin hai chiều, có nghĩa là nhà cầm quyền Cộng Sản hiện nay có thể đưa sách báo, phim ảnh, video, băng nhạc sang Mỹ thì họ cũng phải chấp nhận cho người Mỹ gốc Việt gửi về trong nước những văn hóa phẩm tương tư..
2/ Vấn đề giáo dục: . Trong khi sức sống xã hội nhộn nhịp với hiện diện của nhiều đại gia, và mũ chụp bưng bít thông tin vỡ ra từng mảng, liệu tiểu học, trung ho .c, đại học có thể tiếp tục dậy chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh được không? Chắc chắn giới trẻ không chịụ Phụ huynh càng không chịu, chắt bóp từng đồng cho con ăn học để thất nghiệp và lạc lõng. Hiện tượng bỏ học, bỏ thi cao chưa từng thấỵ
. Đầu tháng 7-2006 tân bộ trưởng Giáo Dục lại nói đến cải cách giáo dục. Không biết lần này là lần thứ mấỵ Lại rượu cũ bình mớị Không ai nghe nữạ Vấn đề là không có triết lý giáo dục. Càng thay đổi càng lung tung, càng nát bét.
. Để hoà nhập với thế giới, dân tộc ta đòi phải có ngay: - Một nền giáo dục tiến bộ mang tính: Nhân bả n, khoa học, đại chúng, khai phóng và sáng tạo, nhằm đào tạo con người chứ không phải đào tạo công cu.. - Một nền văn hoá đa nguyên nhằm phát triển con người chứ không phải điều kiện hoá con ngườị
Mặt trận chính trị
1/ Quần chúng VN quá chán ghét độc tài Cộng Sản ngự trị quá lâu trên đất nước này, gây ra không biết bao nhiêu tội ác, khổ đau, tang tóc cho khắp hang cùng ngõ hẻm.
Người dân không ai bảo ai, tự chọn thái độ không hợp tác với chính quyền, luồn lách để sống. Người dân xa lánh lãnh đạọ Bo ^. Chính Trị cũng phải than: nào là quần chúng đang mất hết niềm tin nơi đảng cầm quyền, nào là đường lối không đi vào cuộc sống ... Đơn giản là vì quần chúng sợ thòng lọng thắt cổ ho..
Bộ máy cầm quyền cồng kềnh, quan liêu, tham nhũng, vô hiệu năng, bị một nhúm người trong Bộ Chính Trị chi phối từ trên xuống và theo hàng ngang tại tất cả các cấp chính quyền. Sở dĩ còn tồn tại là nhờ bạo lực: công an và quân độị
Vấn đề là phải tách đảng độc tài ăn bám khỏi chính quyền, công an, quân đội do thuế của dân trả lương.
2/ Khi thi hành những điều khoản trong thương ước Mỹ-Việt có hiệu lực từ 2001, và sắp tới đây phải nghiêm chỉnh tuân thủ luật chơi của WTO, mâu thuẫn cơ bản sẽ lộ rõ công khai giữa một bên bộ máy chính quyền (bị ràng buộc bởi các điều khoản đã ký với quốc tế) và bên kia bộ máy đảng do Bộ Chính Trị cầm đầụ Đây là trực dịên đối kháng giữa kinh tế thị trường với nguyên tắc xã hội chủ nghĩạ
Trong thương trường, tin tức và biện pháp thay đổi từng giờ từng phút. Liệu Bộ Chính Trị với lãnh đạo tập thể không ai chịu trách nhiệm và chủ nghĩa Cộng Sản lỗi thời có đáp ứng được và lợi dụng được WTO để củng cố độc tàỉ Ai thua ai thắng đã quá rõ ràng. Luận điệu "cùng thắng" là cách nói của nước giầu giữ mặt cho nước nghèo (mà đây là nói những nước đã có kinh tế thị trường). Cộng Sản Việt Nam vồ lấy để dối dân, lừa đảng viên, tự lừa dối mình.
3/ Quốc tế và quần chúng Việt Nam mạnh mẽ đòi hỏi nhà cầm quyền phải minh bạch về thuế khóa và ngân sách; đòi thực thi nghiêm chỉnh những hiệp định song phương và quốc tế, đòi tôn trọng luật chơi của WTO; đòi quyền tư hữu, quyền sở hữu đất đai...và nhất là bác bỏ mọi đổ lỗi cho doanh nghiệp. Chính giới lãnh đạo yếu kém, dấu thông tin, không có quyết định k ịp thời, ăn trên đầu doanh nhân có khả năng, bè phái trong các bộ nghành, tham nhũng tràn lan từ cấp cao nhất là Bộ Chính Trị ...phải chịu trách nhiệm làm cho doanh nghiệp Vir65t Nam không có sức cạnh tranh, cũng như không lợi dụng được những cơ hội khi gia nhập WTỌ
4/ Ai cũng biết chống tham nhũng kiểu một mình một chợ của Cộng Sản Hà nội sẽ không đi đến đâu và chỉ là trò hề. Muốn chống tham nhũng hữu hiệu bắt buộc phải có những công cụ (hữu hiệu tùy công cụ tốt xấu): - tự do báo chí - tam quyền phân lập (hành pháp, lập pháp và tư pháp) - thay đổi định kỳ chính phủ qua bầu cử tự dọ Hiện phong trào quần chúng chống tham nhũng, chống lấy đất, lấy nhà, đòi tự do tôn giáo, chống đàn áp, nhất là đàn áp đồng bào Thượng ở Tây nguyên, đòi dân chủ hoá đảng, đòi quốc hội xứng đáng hơn...nghĩa là đòi Nhân Quyền và Dân Chủ đang dâng cao với ngày càng đông thế hệ trẻ tham gia, dưới nhiều hình thức và mức độ phong phú khác nhaụ
5/ Người Việt hải ngoại giúp sức cổ vũ và làm áp lực rất nhiềụ Quốc tế ủng hộ khá ma.nh. Nhưng Sức Mạnh Quần Chúng phải lên cao nữa, cô lập Bộ Chính Trị thêm nữạ
Khi Sức Mạnh Quần Chúng bắ t đầu thắng thế là lúc quyết định: chấm dứt độc tài Cộng Sản và dân chủ ra đờị
Sau khi gia nhập WTO, những gì sẽ xẩy ra?
Chế độ Cộng Sản biến chất sẽ tha hoá dữ dội dù muốn hay không.
Đây chính là lúc nhân dân ta đẩy mạnh phong trào đấu tranh cho Nhân Quyền, Dân Chủ và Lao Động đến thắng lợị Muốn thế Việt Nam cần:
1- Gia tăng đầu tư, buôn bán với nước ngoài và trao đổi hai chiều thông tin - giáo dục - văn hoá, văn hoá phẩm...
Độc tài Cộng Sản chết trong trận địa kinh tế thị trường phát triển, vì chiêu thức Dân Chủ của Sức Mạnh Quần Chúng quật ngã. Cũng trên nền kinh tế thị trường phát triển này mà mầm Dân Chủ mọc lên, lực lượng gieo trồng không ai khác là dân tộc tạ
2- Đẩy mạnh cải cách luật pháp, hành chánh (hiện Liên Hiệp Quốc và nhiều nước dân chủ đang giúp) cho phù hợp với luật lệ quốc tế sẽ giúp tách đảng ra khỏi chính quyền khi mâu thuẫn giữa đảng và chính quyền căng thẳng vì phải thi hành các hiệp định song phương và đa phương.
3- Nạn nhân bị cướp đất, cướp nhà, bị đàn áp...làm áp lực lên những đại biểu quốc hội (dù họ là đảng viên) để biến quốc hội thành diễn đàn khiếu nại của người dân thấp cổ bé miê.ng. Đồng thời xử dụng các đài ngoại quốc như đài phát thanh Tự Do Á Châu (RFA), đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA), đài BBC Luân Đôn, đài RFI... hỗ trợ để phơi bầy mọi vi phạm quyền sống căn bản của nhân dân Việt Nam.
4- Công nhâ n thành lập công đoàn tự do độc lập. Chắc chắn quốc tế ủng hô.. Các công ty đa quốc gia, các nhà đầu tư lớn, các tổ hợp thương mại lớn ... cũng muốn giao thiệp thẳng với đại diện công nhân. Thương nhân có lợi và đạt hiệu quả hơn là qua trung gian công đoàn nhà nước.
5- Năm 2007 Hà nội tổ chức bầu quốc hội kiểu "đảng cử dân bầu". Nhân dân ta cần tố cáo, lên án trò lừa bịp dân chủ nàỵ Đòi phải để ứng viên độc lập ra tranh cử. Đã có nhiều tiếng nói kêu gọi "phản ứng quần chúng" tẩy chay bầu cử dân chủ giả hiệụ
Tóm lại
Quy luật kinh tế thị trường của WTO ngày càng trực tiếp chi phối đời sống hàng ngày của người dân. Lãnh vực tư sẽ phát triển ma.nh. Dân chúng dần dà nắm thêm thẩm quyền kinh tế trong taỵ Cả thẩm quyền văn hoá nữa, dù chậm, do mở cửa bưu chính - viễn thông - điện thoại di động, internet... và nhiều khía cạnh văn hoá đa dạng khác ẩn mình trong tự thân mỗi sản phẩm.
Cùng với kinh tế và văn hoá, tư tưởng nhân quyền, dân chủ lan nhanh, kiểm soát không dễ. Đấy là chưa nói những tác nhân sống động như du lịch, về thăm gia đình, đi du học, trao đổi giáo dục - văn hoá, hội nghị, hội chơ....
Dân ta đang có lợi thế: - sân đấu ngoài trời, giữa lòng kinh tế toàn cầụ Có nhiều ủng hộ viên dân chủ. - đội ngũ quần chúng đông, chính nghĩa cao so với thiểu số độc tài phản đô.ng. - ba môn đấu là: a. Kinh tế thị trường: vốn là sở trường của tư nhân, và là sở đoản của Cộng Sản b. Văn hoá đa nguyên hấp dẫn hơn hẳn chủ nghĩa Mác-Lê-tư tưởng Ho ^` Chí Minh.. c. Chủ trương tam quyền phân lập đang được ủng hộ mạnh hơn bao giờ hết để thế độc tàị
Nhân dân Việt Nam có quyền tin tưởng lẽ tất thắng trong trận quyết đấu cuối cùng này, và khi chế độ Cộng Sản vĩnh viễn ra đi, sẽ chấm dứt hẳn mâu thuẫn quốc _ cộng trong lòng dân tộc tạ Mâu thuẫn này đã chia rẽ dân tộc Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ vừa quạ Mọi nuối tiếc và trì hoãn theo những cái đã hết vai trò lịch sử chỉ là vô ích. Toàn dân ta sẽ đoàn kết một lòng từ Nam ra Bắc để cho ra đời một đường lối mới, một thể chế chính trị mới dựa trên các cuộc bầu cử tự do và công bằng, nhằm giải quyết nạn cha ^.m tiến, giúp Việt Nam phát triển mau chóng và đưa Việt Nam hội nhập, thích ứng trong khung cảnh thế giới mới ngày nay. BS. Nguyễn Đan Quế
Hiện nay, những nhà Dân chủ đang nỗ lực đấu tranh trong Mặt trận Chính trị cho Tự do Dân chủ. Các nhà Dân chủ lấy Hiến pháp ra để thi hành.
Nhưng khi vào WTO rồi, thì Mặt trận quan trọng là Mặt trận Kinh tế/ Thương mại. Chính toàn Dân, nhất là những nhà Tư doanh lấy những cam kết của CSVN đối với WTO, đối với Thế giới ra mà đấu tranh. Những doanh nhân quốc tế sẽ đứng về phía Dân chúng làm ăn và tư doanh Việt Nam để đòi buộc CSVN phải tôn trọng những cam kết.
Khi mà tư nhân có tư hữu, thì họ phải có quyền Tự do xử dụng tư hữu. Khi mà tư nhân có tư hữu, thì họ phải có quyền làm chủ tư hữu ấy. Đây là quyền Tự do cụ thể và quyền làm chủ căn bản. Dân chủ phải bắt nguồn từ Cá nhân Chủ những gì của mình.Nguyên tắc Dân chủ của Xã hội là nguyên tắc giải quyết những vị phạm vào Cá nhân chủ. Khi cá nhân chủ được tôn trọng, thì cá nhân không cần nguyên tắc Dân chu.û
Khi bảo vệ những quyền liên hệ đến Kinh tế/ Tài chánh/ Thương mại, nghĩa quyền Tiến bạc, thì cuộc đấu tranh không phải chỉ là giữ thái độ bất bạo động hòa bình trước một kẻ đến ăn cướp tư hữu, tước đoạt quyền sống thể xác của mình. Khi cá nhân làm lụng vật vả kiếm được nồi cơm nồi khoai, mà kẻ cướp đến ngồi chỗm chệ ăn hết của họ, thì họ không thể ngồi yên hòa bình van xin, mà cầm giao con chó để lụi kẻ ăn cướp bóc lột tàn nhẫn kia.