DIEN DAN CHINH TRI VIET NAMDau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
=============================================================== CACH MANG VO SAN MOI ===============================================================
CÁCH MẠNG CÔNG NHÂN VÀ NÔNG DÂN Thể chế CSVN độc tài toàn trị đầy tham nhũng hiện nay đưa Kinh tế Việt Nam đến thụt lùi. Công nhân và Nông dân ngày càng nghèo. Những cuộc Đình Công báo hiệu cuộc Cách Mạng. Những giải quyết vá víu không thể giải quyết cho việc nổi dậy đã bắt đầu và còn tiếp đến một cuộc Tổng Nổi Dậy làm Cách Mạng để có một giải quyết căn bản.
PHONG TRÀO CÔNG NHÂN ĐẤU TRANH: LÁ THƯ CAN ĐẢM CỦA MỘT SỐ CÔNG NHÂN
Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc oOo Nỗi Niềm Khóc Hận Thương Tâm của tầng lớp công nhân lao động nhập cư nghèo từ các tỉnh về thành phố
Kính Gửi: Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh Đảng CSVN Bộ Chính Trị Trung Ương (TW) Đảng CSVN Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội do Đảng CSVN cầm quyền.
Chúng tôi có tên dưới đây: - Huỳnh Ngọc Cảnh, đại diện một số anh chị em công nhân khu công nghiệp AMATA Đồng Naị - Nguyễn Tấn Hoành, đại diện một số anh chị em Khu Công nghiệp Điện Bàn Quảng Nam. - Nguyễn Tấn Dung, đại diện một số anh chị em công nhân khu công nghiệp Biên Hoà IỊ - Dương Thái Phong, Huỳnh Tiến, Trương Long, Vũ Hà, Trần Tá, Võ Hải, Nguyễn thị Tuyết, thuộc khu công nghiệp Tân Bình và khu chế xuất Vĩnh Lộc. - Hoàng Anh Tuấn, Công Ty Giày da Gia Định, quốc lộ 13 Thủ Đức, Tp. Saigon
Thưa quý Ngài lãnh đạo Bộ Chính Trị TW Đảng CSVN Ngày trước miền Nam 1975, gia đình chúng tôi chưa được cách mạng giải phóng. Cha mẹ chúng tôi có nhà, có đất làm ăn khấm khá chưa biết làm thuê làm mướn là gì. Trong thời đó những nhà thương gia Ấn Độ, kỹ sư người Nhật, Hàn Quốc vào miền Nam làm thuê và mua bán. Họ hoàn toàn lệ thuộc vào người dân Việt Nam. Sau năm 1975, miền Nam được cách mạng giải phóng khỏi ách nô lệ, Đảng hô hào nâng đỡ và đấu tranh cho hai giai cấp công nhân và nông dân. Chính lá cờ Đảng CSVN thể hiện biểu tượng búa, liềm. Sự thật có phải như vậy không? Thưa, sự thật rất phũ phàng! Sau khi chiếm được miền Nam là cải tạo công thương nghiệp, đánh tư sản mại bản thì gia đình chúng tôi bị mất nhà, mất đất. Trong khi chúng tôi có tiền dư thóc để, thì chúng tôi bị lấy nhà và bị đuổi đi vùng sâu nước độc để khai phá đất hoang làm ăn. Do những cơn sốt rét vàng da, có những gia đình chết phân nửa, có những gia đình phải chết hết. Khi trở về thành phố thì nhà cao cửa rộng, ruộng vườn của mình thì bị cán bộ đảng viên thu sa.ch. Điều này chúng tôi có nói sai đâụ Những villa nhà lầu hiện nay là nhà của đảng viên, thì thử hỏi cha ông của mấy ông này mua nhà đất từ thời nào để lại cho mấy ông đảng viên này, nếu không phải cướp của chúng tôi thì từ đâu mà có. Cuộc đời chúng tôi còn sống thì vẫn còn bị cướp. Đời Cha tôi bị cướp, đời tôi cũng bị cướp. Những gia đình chúng tôi lên vùng kinh tế mới khai hoang được vài ba mẫu đất làm ăn, cuộc sống chưa ổn định thì trò cướp bóc lại theo đuổi theo người dân nghèo chúng tôi, kế đến là chiêu thức kêu gọi đầu tư rước ngoại bang vào, lại tiếp tục lấy đất của chúng tôị Bằng nhiều chiêu thức gạt gẫm lừa bịp gian manh quỷ quyệt, trù dập vu khống chụp mũ. Mọi thủ đoạn lấy cho bằng được đất của chúng tôị Thế thì chúng tôi người nông dân mà không có ruộng cày, ruộng mình bị lấy trắng tay, lấy giữa ban ngàỵ Ông Bà ta có câu "cướp đêm là giặc, cướp ngày quan tham!". Sự tính toán nham hiểm của Đảng, mà người dân chúng tôi sống không được mà chết cũng không xong. Chúng tôi có đất mất cả hai lần, thế thì muốn được sống phải đi làm thuê cho những ông chủ mà trước năm 1975, đất nước họ kinh tế thấp kém, họ phải tới Việt Nam làm mướn. Đó là sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta đã đưa dân tộc làm nô lệ cho ngoại bang!??
Thưa quý vị, Đất nước ta là đất nước cộng sản theo chủ thuyết Lênin chuyên chính vô sản, giải phóng cho hai tầng lớp nông dân và công nhân. Nhưng nay ta có đảng lãnh đạo suốt 30 năm mà người dân chúng tôi phải è cổ, cho bọn thương gia bóc lột là saỏ Sự tính toán của đảng ta là đẩy tầng lớp nông dân và sức trẻ thanh niên làm tôi mọị Bản thân chúng tôi bị vắt cạn kiệt sức lao động, mà nhà nước và đảng đã chủ mưu tính toán lấy sạch đất đai của dân, thì buộc chúng tôi phải làm nô lê.. Nhưng chúng tôi không phải làm nô lệ cho một ông chủ, một bản thân, mà phải chia ra làm tôi mọi bị bóc lột từ nhiều phía, nhiều cơ quan.
Như tôi, Nguyễn thị Tuy ết, người con gái nhỏ bé 21 tuổi cũng như anh chị em khác, bị những khâu chia chác mồ hôi, sức lao động như sau:
Tôi ở Kiên Giang đi cùng chúng tôi là bốn chị em khác lên tại Saigon xin vào công tỵ Trước khi đi, địa phương đã thu của tôi bốn mươi lăm nghìn đồng (VN$45,000) tiền lao động công ích, tiền an ninh là hai mươi lăm nghìn (VN$25,000). Mức thuế thân này chúng tôi phải đóng trước khi rời khỏi địa phương, như mỗi năm tôi phải đóng hai lần, cộng cả thảy là một trăm năm mươi nghìn đồng, chưa tính tiền xe đi lại hầu hạ mấy ông cán bộ cấp Xã. Vào xin được việc làm, phải mướn phòng trọ mỗi tháng hai trăm năm mươi ngàn đồng (VN$250,000); tiền điện, tiền nước là sáu mươi nghìn đồng (VN$60,000).Như vậy, tính ra tôi phải bắt buộc chi tiêu tối thiểu là bốn trăm sáu mươi nghìn đồng (150,000+250,000+60,000= VN$460,000). Trong khi lương của tôi chỉ được một triệu, là mức lương đã làm được ba (3) tháng, tay nghề tương đối đã rành. Còn mới vào sáu (6) tháng đầu, chỉ có bảy, tám trăm ngàn, tính ra ăn uống và phương tiện đi lại thì không mua nỗi áo quần để mặc. Những lúc bệnh nhẹ cũng không có tiền mua vài liều thuốc. Mấy chị em cùng đi với tôi có người thì bỏ về cào tôm, lượm sò. Số còn lại họ không làm nổi vì công việc quá cực. Thức đêm tăng ca không tăng tiền, họ đành vào những quán café ôm, rồi sau đó họ sa vào lưới của xã hội tạo ra, bán rẻ trinh tiết cho những tay có tiền. Ở Việt Nam hiện nay ai là những kẻ có lắm tiền, chỉ có những kẻ quan chức cán bộ mới có nhiều tiền mà thôị Chính họ dồn ép tuổi thanh xuân chúng tôi vào đường cùng để cướp của người này, đem mua những thứ khác, có phải vậy không Ngài Tổng Bí Thử Chúng tôi phân tích không sai, mong ông hãy nghĩ tới người Việt Nam máu đỏ da vàng, không phân biệt Kinh hay Thươ.ng. Cha ông đã nói nước Việt Nam là Một, dân tộc Việt Nam là Một. Vậy quý vị còn có chút lương tâm con người không? Hiện nay chúng tôi vẫn bám víu vào công việc tại nhà máy bao bì cho ông chủ Đài Loan. Ở đây thật đau lòng, chúng tôi như người bị tù, vì công đoàn là bộ phận an ninh của Đảng và an ninh nội bộ luôn bám sát chúng tôị Bộ phận công đoàn sẵn sàng lợi dụng những người nhẹ dạ không biết thương nhau trong đám công nhân, để phát triển thành đoàn viên, là cánh tay hậu bị của đảng làm công cụ cho công đoàn, sẵn sàng đàn áp chúng tôi bằng những tờ báo cáo mật hay chỉ trích một khi chúng tôi có sự đòi hỏi chính đáng . Chúng tôi là những công nhân có tên trên đây đại diện cho một số anh chị em công nhân trong nước có tiếng nói chung, yêu cầu và đề xuất những điều kiện sau đây với Bộ Chính Trị và TW Đảng CSVN như sau:
Trả lương cho chúng tôi theo đúng hợp đồng của nhà nước Việt Nam với các nhà đầu tư, thương gia nước ngoài có công ty xí nghiệp tại Việt Nam theo mức giá đồng USD thị trường.
Mức lương phải ngang bằng các công nhân các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia ...
Dẹp bỏ Công đoàn do đảng (CS) xây dựng đưa vào các công ty xí nghiệp.
Không được phát triển đoàn, đảng trong hệ thống công nhân chúng tôi, để rồi quay lại đàn áp chúng tôị Vì chúng tôi chỉ là những người đi làm mướn làm thuê bình thường, không muốn tham gia chính trị, chúng tôi không muốn hệ thống độc tài độc quyền đeo đẳng chúng tôi, vì chúng tôi đã quá khổ rồị
Chúng tôi có quyền tự hợp đồng lao động cá nhân và tập thể khi đã dẹp bỏ hệ thống công đoàn, vì tổ chức công đoàn không đem lại quyền lợi thiết thực cho chính người công nhân chúng tôi, mà chính họ lại ăn theo phần trăm sản xuất của chúng tôi, và mỗi khi chúng tôi muốn đòi hỏi quyền lợi chính đáng phải được sự đồng ý của công đoàn là phi lý.
Chúng tôi không phải đóng góp những khoản tiền như xoá đói giảm nghèo và các loại tiền do Công đoàn phát động và trừ thẳng vào lương của chúng tôi như trước đây đã có.
Chúng tôi phải được quyền lợi như: bảo hiểm y tế, tiền lương hưu sau khi hết độ tuổi lao động, bảo hiểm tai nạn lao động rủi ro ...
Chúng tôi có quyền hội họp riêng tư, có quyền lập hội, gây quỹ, có quyền đấu tranh, có quyền đình công đòi hỏi các quyền lợi chính đáng, phù hợp mức lương, tương xứng với công sức lao đô.ng. Những đòi hỏi ước vọng này, chúng tôi được thực hiện cũng không gây ảnh hưởng kinh tế thị trường và nền an ninh, như nhà nước và bộ phận công an thường cho là thế lực thù địch gây ảnh hưởng kinh tế quốc giạ
Nếu chúng tôi không được thực hiện 8 điểm yêu cầu trên, chúng tôi sẽ chọn một điểm phát động đấu tranh giành quyền làm chủ các nhà máy, xí nghiệp công ty của những tay tư bản ngoại quốc, như trước đây chủ nghĩa CS đã làm. Và chúng tôi làm đúng chính sách chủ trương của đảng cộng sản Việt Nam, là nơi nào có bóc lột, áp bức, nơi đó phải vùng lên đồng loạt giành quyền làm chủ; đánh đổ các tập đoàn tư bản, giành quyền làm chủ cho dân nghèọ Vậy chúng tôi mong bộ Chính Trị TW Đảng, Bộ Công An xem xét cho người công nhân chúng tôi được những quyền lợi mà đảng đã từng hô hào là chống bóc lột, chống tư bản, chống nghèo đói, mà nay đảng và nhà nước đang làm ngược lạị Chúng tôi đã có tên và địa chỉ, mong quý Ngài quan tâm. Yêu cầu các giới truyền thông hải ngoại, các cơ quan quốc tế đấu tranh cho quyền lợi dân nghèo bị đàn áp bóc lột, trong đó có tầng lớp công nhân Việt Nam chúng tôi đang bị bóc lột tận xương tuỷ. Kính mong CLB Hoa-Mai, Đài Hoa-Mai truyền thanh trực tiếp về Việt Nam. Trân trọng kính chàọ
TÔN GIÁO, PHONG TRÀO, ĐOÀN THỂ KÊU GỌI YỂM TRỢ CÔNG NHÂN & NÔNG DÂN VIỆT NAM
=> PHONG TRÀO DÂN CHỦ VIỆT NAM KÊU GỌI CHO QUYỀN CÔNG NHÂN => MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN KÊU GỌI YỂM TRỢ CÔNG NHÂN => GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT YỂM TRỢ CÔNG NHÂN & NÔNG DÂN => PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY NHIỆT LIỆT YỂM TRỢ CÔNG NHÂN VÀ NÔNG DÂN => PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000 & DIỄN ĐÀN QUỐC TẾ CỦA CÁC PHONG TRÀO DÂN CHỦ VN YỂM TRỢ CÔNG NHÂN ĐẤU TRANH
VÌ QUYỀN DẠ DẦY MÀ TỰ ĐỘNG NỔI DẬY: ĐÌNH CÔNG ĐẤU TRANH MANG TÍNH CHẤT THUẦN NHẤT KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Từ đầu cho đến giờ, khi nhìn những cuộc Đình Công đấu tranh, chúng tôi thấy rõ rệt cái nguồn gốc là quyền DẠ DẦY và việc TỰ ĐỘNG nổi dậy của giới Lao động nghèo khổ mà còn bị bóc lột dã man. Đây là việc đấu tranh hoàn toàn mang tính chất kinh tế, chứ không phải do sự xúi giục của những tranh chấp Chính trị. Động lực nổi dậy của quần chúng là việc tranh đấu cho sự sống còn của thân xác mình. Đó là vấn đề NHÂN SINH cá nhân ở cấp bậc tối “hạ tầng cơ sở“. Nó không đến từ sự xúi giục nào của các cấp “thượng tầng kiến trúc“ như từ giới Trí thức, Tôn giáo, Chính trị... Chính vì vậy, chúng tôi so sánh việc tự động nổi dậy đấu tranh cho quyền sống thân xác này giống như việc quần chúng đứng lên làm Cách Mạng như Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Nga 1917 hay Cách Mạng Lật Đổ Cộng sản 1989. Nhưng khi đọc trên Diễn Đàn, chúng tôi thấy một số tác giả những bài viết có khuynh hướng muốn cắt nghĩa nguồn gốc Đình Công mang mầu sắc tranh chấp Chính trị, hoặc bị ảnh hưởng từ những “chỉ đạo“ nào đó ngoài khối Công nhân. Từ nhận thức khác nhau về nguồn gốc Đình Công đấu tranh, chúng ta nghĩ đến hai hậu quả sau đây: 1) Nếu nguồn gốc nổi dậy hoàn toàn là do động lực Kinh tế ở cấp thấp nhất là quyền Dạ Dầy, thì giới Công Nhân và Nông Dân hoàn toàn được mọi người ủng hộ, từ Dân tộc Việt Nam đến Thế giới. Không ai có quyền đàn áp, khủng bố một cuộc đấu tranh như vậy. Cụ thể là Cộng sản Việt Nam không có quyền đàn áp việc đấu tranh đòi quyền sống thân xác tối thiểu này. Cũng vậy, khi Phong trào Đình Công đòi hỏi có một CÔNG ĐOÀN LAO ĐỘNG ĐỘC LẬP, thì đó là để bảo vệ cái quyền Kinh tế tối sơ cho Nhân sinh, nên Nhà Nước phải tôn trọng. Công đoàn này đứng hoàn toàn trong phạm vi Kinh tế, chứ không phải là phương tiện đấu tranh Chính trị. Chúng tôi đã nói chuyện với Tổ chức Lao động Quốc tế (Bàn Giấy Lao Động Quốc tế: BIT/ILO, Trụ sở tại Geneva). Họ có thể can thiệp khi Công Đoàn hoàn toàn mang tính cách Kinh tế cho giới nghèo. 2) Nếu hiểu Phong trào Đình Công hiện nay mang mầu sắc tranh chấp Chính trị, thì đảng CSVN có thể viện cớ để đàn áp, khủng bố. Quốc tế cũng không sốt sắng lắm để can thiệp bởi lẽ họ không muốn động chạm nhiều đến chính trị nội bộ của một nước. Cũng vậy, việc đòi hỏi thành lập CÔNG ĐOÀN LAO ĐỘNG ĐỘC LẬP phải hoàn toàn nằm trong phạm vi Kinh tế. Nếu Công Đoàn này được hiểu như một Tập thể mang mầu sắc đấu tranh Chính trị, thì đảng CSVN viện lý do để không bao giờ cho phép thành lập. Trong Thư mà Đại diện Công nhân đấu tranh cho quyền sống thân xác, các Đại diện này đã khẳng định rõ rệt rằng họ chỉ muốn làm việc kiếm sống cho thân xác, mà không muốn liên hệ đến Chính trị: “Vì chúng tôi chỉ là những người đi làm mướn làm thuê bình thường, không muốn tham gia chính trị“. Chính đảng CSVN muốn chính trị hóa Công nhân cũng như họ chủ trương chính trị hóa ngay Tôn giáo. Nếu có động chạm đến Chính trị, thì đó là việc Công nhân muốn từ khước việc Chính trị hóa Công nhân mà thôi. Việc khẳng định của Công nhân rất rõ rệt. Vì vậy chúng tôi mong mỏi rằng tác giả của những bài viết về Đình Công đừng tìm cách giải thích cái gốc gác xa gần của Đình Công mang mầu sắc hoặc ảnh hưởng tranh chấp Chính trị. Như vậy, chúng ta tránh cho cuộc đấu tranh của Công nhân những hậu quả mà họ đã tuyên bố rõ rệt là họ không muốn. Đây là bài mở đầu để chúng tôi lần lượt viết một loạt bài về phương diện Kinh tế liên quan đến những cuộc Đình Công đấu tranh ở Việt Nam: 1) Hiện tượng Toàn cầu hóa bóc lột 2) Quản trị Xí nghiệp hệ trọng ở Quản trị Chi tiêu 3) Nhằm Lợi nhuận kinh tế tối đa mà không cần nghĩ đến nhân đạo 4) Cấu kết giữa Quyền lực Đồng tiền và Quyền lực Chính trị độc tài 5) Thế kẹt của Kinh tế Việt Nam 6) Thế cạnh tranh Thương mại Quốc tế ảnh hưởng tới Việt Nam 7) Thử đề nghị những giải quyết tức thời cho cuộc đấu tranh Công nhân Việt Nam 8) Phát động đấu tranh Hải ngoại trước Quyền lực tài phiệt quốc tế 9) Nông nghiệp Việt đủ bảo đảm cho quyền Dạ Dầy 10) Kết luận: Đoàn Kết Dân tộc cho giải quyết lâu dài Chúng tôi vui mừng thấy một số các Phong trào, Đoàn thể, Tôn giáo không những không do dự mà còn nhiệt liệt kêu gọi YỂM TRỢ việc đấu tranh thuần nhất Kinh tế này cho quyền Dạ Dầy của Dân nghèo. Tuy vậy, chúng tôi vẫn còn mong đợi việc lên tiếng của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và của Tổng Liên Hội Tin Lành Việt Nam. Đối với cuộc đấu tranh cho quyền Dạ Dầy của Nhân Công thuần túy Kinh tế, hai Giáo Hội này không thể viện cớ là muốn xa lánh Chính trị được bởi vì đây hoàn toàn là vấn đề NHÂN SINH, của người bị đánh trọng thương nằm bên lề đường. Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
ĐẤU TRANH THÀNH LẬP LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Những cuộc đình công từ đầu năm 2006 đến nay nhằm đấu tranh cho những điều kiện làm việc của giới thợ thuyền, cho đồng lương tương xứng và phù hợp với mức sống lên cao hiện nay, và cho những bảo đảm sức khoẻ và tuổi già.
Từ những năm trường, đảng cộng sản độc tài toàn trị cấu kết với tài phiệt ngoại lai để khai thác khối nhân công nghèo khổ Việt Nam, nghĩa là khối nhân công ấy phải cúi đầu chấp nhận làm việc như súc vật trước sứ cấu kết của hai quyền lực: quyền lực sức mạnh khủng bố của đảng CSVN và quyền lực của đồng tiền đến từ tài phiệt ngoại lai.
Tay chân mà hai quyền lực ấy xử dụng là Công đoàn Lao động do đảng Cộng sản điều hành nằm chính trong các Xí nghiệp. Họ là tay chân của hai quyền lực để nằm tại chỗ và trực tiếp dùng mọi cách bắt ép Công nhân phải tuân theo những bóc lột mà hai quyền lực kia chủ trương.
Những cuộc đình công đã bột phát và lan rộng. Hai quyền lực đàn áp và đám tay chân chó săn Công đoàn Lao động của đảng CSVN đang sửa soạn những biện pháp đàn áp cuộc đấu tranh chính đáng này của Công nhân VN hầu tiếp tục khai thác lao động Việt Nam nhũ cũ. Họ có thể xử dụng những hứa hẹn lừa bịp để làm giảm cường độ của cao trào đình công lúc này.
Khối Công nhân Việt Nam ý thức những mưu mô của CSVN và tài phiệt nước ngoài trong việc làm giảm cường độ của cao trào đấu tranh hoặc đàn áp thẳng tay khi họ có thể.
Vì vậy cao trào Đình Công hiện nay không phải chỉ nhằm đấu tranh cho tình trạng làm việc và lương bổng hiện tại, mà còn nhằm tới THÀNH LẬP MỘT LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP, một Tổ chức thường xuyên Phối hợp Công nhân và đấu tranh trường kỳ cho quyền lợi của Công nhân. Công đoàn này phải thay thế Công đoàn cũ của đảng làm tay sai chó săn cho đảng CSVN và tài phiệt ngoại lai. Công đoàn này phải ĐỘC LẬP do Công nhân Tự do thành lập để bênh đỡ cho quyền lợi của Công nhân.
4 TRONG 8 ĐIỀU ĐÒI HỎI CỦA ĐÌNH CÔNG
Trong 8 Điều đòi hỏi của Công Nhân đấu tranh, đã có 4 Điều nói về Công đoàn Công nhân do đảng Cộng sản điều khiển. Công nhân đấu tranh đòi chấm dứt những hành động chó săn, cấu kết với đảng và chủ ngoại lai để không những không bênh đỡ gì công nhân mà còn quay lại phản lại chính quyền lợi của Công nhân.
4 Điều nói về Công đoàn này như sau:
(i)=> "Dẹp bỏ Công đoàn do đảng (CS) xây dựng đưa vào các công ty xí nghiê.p."
(ii)=> "Không được phát triển đoàn, đảng trong hệ thống công nhân chúng tôi, để rồi quay lại đàn áp chúng tôi. Vì chúng tôi chỉ là những người đi làm mướn làm thuê bình thường, không muốn tham gia chính trị, chúng tôi không muốn hệ thống độc tài độc quyền đeo đẳng chúng tôi, vì chúng tôi đã quá khổ rồi."
(iii)=> "Chúng tôi có quyền tự hợp đồng lao động cá nhân và tập thể khi đã dẹp bỏ hệ thống công đoàn, vì tổ chức công đoàn không đem lại quyền lợi thiết thực cho chính người công nhân chúng tôi, mà chính họ lại ăn theo phần trăm sản xuất của chúng tôi, và mỗi khi chúng tôi muốn đòi hỏi quyền lợi chính đáng phải được sự đồng ý của công đoàn là phi lý."
(iv)=> "Chúng tôi không phải đóng góp những khoản tiền như xoá đói giảm nghèo và các loại tiền do Công đoàn phát động và trừ thẳng vào lương của chúng tôi như trước đây đã có."
Trong Điều (i), Công nhân đòi hỏi công khai việc phế bỏ những công đoàn do cộng sản thành lập để đưa vào các xí nghiệp.
Trong Điều (ii), Công nhân nói thẳng ra rằng họ chỉ biết đi làm để có đồng lương lo cho cuộc sống hằng ngày và chính thức bầy tỏ rằng họ không muốn đảng thành lập những đoàn thể trong các xí nghiệp để chính trị hóa đời sống họ theo đảng. Chính những đoàn thể này lại quay lại phản bội chính công nhân.
Trong Điều (iii), Công nhân tố cáo công đoàn CS một lần nữa là chính những công đoàn này không những không bênh đỡ quyền lợi của công nhân, mà còn kềm chế những đòi hỏi chính đáng của công nhân và còn ăn hớt phần trăm sản xuất của công nhân. Vì vậy Công nhân thẳng thắn đòi hỏi Cộng sản hãy để cho họ ĐỘC LẬP.
Trong Điều (iv), Công nhân tố cáo những Phong trào phát động của những công đoàn CS trong các xí nghiệp. Những Phong trào này là rặn ra những quẻ điếm "nịnh thần", "lấy điểm" trước đảng. Bất chấp sự ưng thuận của Công nhân, những Phong trào kêu gọi "xóa đói giảm nghèo" hoặc những đóng góp khác trừ thẳng vào lương của Công. Công nhân tuyên bố thẳng với đảng CSVN rằng hãy dẹp những trò điếm này đi.
LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP
Một Liên Đoàn Công Nhân Độc Lập phải được thành lập. Đây là nhu cầu đấu tranh trong tương lai cho quyền lợi của Công nhân. Đảng CSVN tự nhận là họ đại diện cho giới vô sản và đấu tranh chính yếu cho Công nhân. Nhưng với 4 Điều tuyên bố trên đây từ giới vô sản lao động, thì Đảng CSVN đã không những không làm trọn phận sự như đã hứa mà còn cấu kết với tài phiệt ngoại lai và xử dụng những đoàn thể của họ đặt trong các xí nghiệp để chính trị hóa đời sống công nhân và bóc lột, đe dọa, đàn áp chính đời sống Công nhân. Phủ nhận quyền nầy đối với đảng CSVN, Công nhân muốn có một Tổ chức để bênh đỡ thực sự cho QUYỀN SỐNG của họ. Tổ chức này do chính Công nhân quyết định thành lập và không mang mầu sắc chính tri.. Đảng CSVN không thể cấm đoán một Tổ chức như vậy được bởi vì Quyền Lập Hội là quyền mà chính Nhà Nước Việt Nam đã ký trong Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền. Tổ chức này không mang mầu sắc chính trị và Công nhân cũng yêu cầu đảng đừng dùng những thủ đoạn đen tối để nhằm chính trị hóa tổ chức này theo mình như đảng đã làm với đám ngợm giáo gian quốc doanh liếm trĩ luồn trôn bệnh hoạn.
LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP thực sự cần thiết cho những chức năng sau đây:
=> Tiếp tục cuộc đấu tranh chính đáng hiện giờ mà giới Công nhân đã phát động từ đầu năm đến nay qua các cuộc Đình Công. Nếu do những thủ đoạn nào đó qua những cấu kết đàn áp của đảng, của tài phiệt ngoại lai và của đám chó săn công đoàn cộng sản tại các xí nghiệp, mà cao trào Đình Công bị đàn áp, thì Tổ chức Công Đoàn Công Nhân Độc Lập vẫn đứng đó mà tiếp tục những đòi hỏi chính đáng cho Công nhân.
=> Nghiên cứu tường tận những điều kiện làm việc, lương bổng và bảo đảm sức khỏe cũng như tuổi già của Công nhân trong các xí nghiệp, không phải chỉ lúc này mà còn thường xuyên trong tương lai;
=> Khi có tranh chấp Chủ--Thợ, Tổ chức chính thức Đại diện cho Công nhân để thảo luận với Chủ, mong tìm những giải quyết thỏa đáng giữa Chủ và Thợ mà không cần sự can thiệp của quyền lực Chính trị vào đời sống Kinh tế tư nhân.
=> Phối hợp Lực lượng Công nhân để đấu tranh cho quyền lợi lao động khi cần, nghĩa là khi tài phiệt nước ngoài cố tình cấu kết với quyền lực chính trị để khai thác hoặc đàn áp tỏ tường đời sống Công nhân.
Khi mà còn một số Lãnh đạo Tôn giáo DỬNG DƯNG đối với cuộc đấu tranh cực nhọc của Công nhân hiện nay, mặc dù giới cực nhọc này là tín đồ, đã có lần xả thân đấu tranh cho Lãnh đạo Tôn giáo được phần nào Tự do Tôn giáo (thực là ăn cháo đái bát !, qua sông đấm cò vào sóng !); khi mà còn một số Trí thức DỬNG DƯNG coi đây là cuộc đấu tranh cho miếng ngô khoai hèn hạ của những đứa nghèo, chứ không phải cho những triết lý cao chín tầng trời của những vị đại Trí thức tháo chạy Cộng sản đi tỵ nạn bằng máy bay hoặc vì nghĩ nếu ủng hộ thì sợ bóng sợ gió khi về Việt Nam thăm Quê Hương; khi mà còn một số Đoàn thể, Phong trào Hải ngoại DỬNG DƯNG trước những cuộc Đình Công của giới lao động vì những Đoàn thể, Phong trào Hải ngoại này muốn nêu những khẩu hiệu đấu tranh thuộc nhân nghĩa cao vời để lấy tiếng cá nhân mà làm ăn ở Hải ngoại, chứ đâu cần gì đời sống mấy nhân công nghèo khổ ở Việt Nam.
Mặc cho những DỬNG DƯNG như vừa nói, Công nhân tự tin ở Lực Lượng của mình, nhất định đứng lên đòi hỏi thành lập một Tổ Chức Dấu Tranh cho riêng Lực Lương của mình: LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP.
Chúng tôi hoàn toàn và sát cánh với Công Nhân để đấu tranh đòi hỏi cho bằng được việc thành lập một LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP. Giáo sư Tiến sĩ NGUYUỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
TỪ QUYỀN DẠ DẦY ĐẾN LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ: MỞ ĐẦU: ĐÌNH CÔNG BÁO HIỆU KHỦNG HOẢNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế
Đầu năm 2006, những cuộc đình công, nhất là về ngành May Dệt và Dầy Dép, đã trở thành Phong trào bắt đầu từ những Khu Chế Xuất Sài-gòn, Bình Dương, rồi lan ra tòan Quốc. Đồng thời trên bình diện quốc tế, từ tháng Tư năm 2005, Hoa kỳ và Liên Aâu đã phản ứng mạnh đối với những hàng May Dệt của Trung cộng và gần đây nhất Liên Aâu đã quyết định tăng thuế nhập cảng những hàng Da Dầy Dép đến từ Trung quốc và Việt Nam. Những cuộc đình công tại Việt Nam có những lý do thuộc nội bộ và có những liên hệ đến cạnh tranh Kinh tế, Thương mại quốc tế. Chính vì vậy, nếu chế độ hiện hành ở Việt Nam chỉ dùng những biện pháp vá víu để giải quyết những lý do nội bộ về đình công, thì Đảng và Nhà Nước CSVN vẫn còn những lý do đến từ cạnh tranh quốc tế không thuộc thẩm quyền giải quyết của họ. Phải có những giải quyết “cách mạng“ căn bản phá bung chế độ chính trị hiện hành để có thể thiết lập một Môi Trường Chính trị—Luật pháp Dân chủ phù hợp (Environnement Politico-Juridique Démocratique Adéquat) cho một nền Kinh tế Tự do Thị trường thực sự hầu phát triển Kinh tế đất nước. Chỉ có phát triển Kinh tế thực sự mới có thể giải quyết được quyền DẠ DẦY của Dân chúng. Những cuộc đình công của giới Lao động Việt Nam hiện nay báo hiệu Khủng hoảng Chính trị. Phải đẩy những cuộc đình công này đi đến chỗ phá tan chế độ hiện hành để thiết lập một thể chế Chính trị-Pháp lý phù hợp với nền Kinh tế Tự do Thị trường đích thực để phát triển Đất Nước. Như vậy mới có thể giải quyết:
=> Quyền DẠ DẦY của Dân chúng trong nội bộ Việt Nam => Tăng khả năng cạnh tranh Kinh tế, Thương mại quốc tế để những giải quyết nội bộ không hoàn toàn bị lệ thuộc.
Chúng tôi nhớ câu nói của cựu Thủ tướng LÝ QUANG DIỆU Singapore khuyên Nhà Nước Cộng sản Việt Nam:“Khối đông đảo người Việt Nam ở nước ngoài là yếu tố rất may mắn cho việc phát triển Thương mại của Việt Nam“. Khối người này tha thiết đến việc phát triển Quê Hương, nhưng với điều kiện là chế độ độc tài toàn trị phải biến đi để nhường chỗ cho một thể chế Dân chủ đích thực. Việc hợp tác thực sự chỉ có thể có khi mà mọi người có Tự do và quyền Dân chủ để cùng xây dựng. Lực lượng đình công ngày nay báo hiệu Khủng hoảng Chính trị và là cái ngòi nổ rất lớn để toàn dân đứng lên quét sạch chế độ rác rưởi hiện hành và dùng quyền Dân chủ để xây dựng một chế độ Chính trị--Pháp lý khả dĩ làm điều kiện cho những phát triển Kinh tế Đất Nước. PHONG TRÀO QUỐC DÂN YỂM TRỢ CÔNG NHÂN ĐẤU TRANH phải được đẩy mạnh, trước hết là để bảo vệ những chiến sĩ công nhân can đảm đang lãnh đạo đình công, sau nữa là đẩy cuộc đấu tranh của công nhân đến Tổng Đình Công ép buộc thể chế rác rưởi độc tài phải biến đi để nhường chỗ cho một thể chế khả dĩ mang điều kiện Chính trị—Pháp lý Dân chủ thuận tiện cho việc giải quyết quyền DẠ DẦY cho Dân chúng.
Chúng tôi sẽ lần lượt viết một loạt bài QUAN ĐIỂM xoay quanh chủ đề này:
1) Quyền DẠ DẦY (Stomach Right) là quyền quan trọng nhất: “Có thực mới vực được đạo“ 2) Quần chúng nổi dậy trong Lịch sử quốc tế 3) Những lý do nổi dậy thuộc Quốc nội 4) Aûnh hưởng Kinh tế Thương mại quốc tế đến lý do đình công 5) Chế độ hiện hành không thể giải quyết đình công với những biện pháp vá víu 6) Những giải quyết tổng thể và căn bản trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực. 7) Nền Kinh tế Tự do Thị trường đích thực đòi phải lật đổ chế độ CSVN 8) Môi trường Chính trị—Pháp lý Dân chủ cho nền Kinh tế Tự do Thị trường 9) Sự phối hợp những Phong trào đấu tranh: quyền DẠ DẦY, quyền DÂN CHỦ, quyền TỰ DO NGÔN LUẬN 10) Kết luận: phải vứt bỏ ngay chiếc váy đụp để may váy mới với vải đẹp
Toàn dân có nhiệm vụ phải YỂM TRỢ Phong trào Công nhân đấu tranh này và đẩy Phong trào đến đến một Lực lượng quần chúng nổi dậy chấm dứt chế độ độc tài hiện hành. Đây không phải là vấn đề công nhân làm chính trị mà là việc cứu nước của giới công nhân bởi lẽ chính chế độ độc tài hiện hành là lý do chính yếu làm cho công nhân phải khốn cùng và làm cho cả Dân tộc đau khổ.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
(1) QUYỀN DẠ DẦY LÀ QUYỀN QUAN TRỌNG NHẤT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế
Bài này là bài thứ 1 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 1: Quyền DẠ DẦY (Stomach Right) là quyền quan trọng nhất. Hãy nhìn tính cách quan trọng bậc nhất của QUYỀN DẠ DẦY qua những khía cạnh sau đây: => Bản năng sinh vật tìm đồ ăn cho sống còn thân xác => Xếp hạng đơn giản của Dân gian Việt Nam => Quan tâm hàng đầu của chính trị đứng đắn => Cái nhìn của Tôn giáo: tỉ dụ Thiên Chúa Giáo => Chủ lực Cách Mạng: Giới nghèo bị bóc lột tận Quyền DẠ DẦY
Bản năng sinh vật tìm đồ ăn cho sống còn thân xác
Con người là một sinh vật. Cũng như mọi sinh vật, con người trước tiên từ bản năng sinh tồn thân xác phải tìm đủ mọi cách thế có được đồ ăn để nuôi dưỡng sự sống còn của thân thể mình. Tất cả đồ ăn vào DẠ DẦY, một bộ phận chính yếu biến chế đồ ăn thành chất liệu nuôi sống cơ thể. Khi gọi QUYỀN DẠ DẦY (Stomach Right), tức là cái Quyền Nuôi Sống Thân Xác. Đó là cái Quyền xếp hàng đầu trên các Nhân Quyền khác (Human Rights), bởi vì nếu thân xác chết rồi, thì cũng khỏi cần nói đến các Quyền khác của con người. Con người được may mắn nhất trong các loài tạo vật là có cái Trí khôn. Từ cái Trí khôn ấy mới có những cấu trúc tinh thần cao hơn loài vật. Nhưng tất cả những cấu trúc tinh thần ấy chính yếu xoay quanh việc đấu tranh để tìm sống thân thể, nghĩa là Quyền Dạ Dầy. Văn minh của con người gồm kiến thức hiểu biết cơ cấu luật thiên nhiên để việc kiếm sống của mình tăng phần hữu hiệu. Loài vật chỉ kiếm ăn theo bản năng không tiến bộ hoặc tiến hóa rất chậm, trong khi ấy con người nhờ Trí khôn mà có tiến bộ nhanh về cách thế kiếm ăn. Văn hóa của con người gồm những cách thế tương giao giữa mình và người khác cho khéo theo sự tinh tế chấp nhận của một cộng đồng gồm nhiều người. Cái văn hóa cũng xoay quanh chính yếu trong việc tranh đấu kiếm sống để bảo tồn thân xác. Sự tiến triển về Công Bằng và về Phương thức thực thi Công Bằng là điểm hệ trọng nhất của Văn hóa. Cái công bằng quan trọng nhất là về quyền Dạ Dầy của mỗi cá nhân trong cuộc sống chung cùng nhau đấu tranh tìm kiếm phương tiện nuôi sống thân thể. Tôn giáo không đến từ cấu trúc của Trí khôn con người, mà đến từ Mạc khải của Thần Linh. Luân lý của Tôn giáo không đi ngược Văn hóa từ sự cấu trúc của Trí khôn. Tóm lại, Quyền Dạ Dầy là chính yếu. Văn minh, Văn hóa, Tôn giáo xoay quanh hoặc tôn trọng triệt để cái quyền Dạ Dầy ấy.
Xếp hạng đơn giản của Dân gian Việt Nam
Câu nói đơn giản nhất và phổ biến nhất trong Dân gian là :“Có thực mới vực được Đạo“. Chữ Đạo ở đây không có nghĩa hạn hẹp chỉ nguyên về Tôn giáo. Nếu theo cách nói của Marx, thì việc kiếm sống vật chất bảo tồn thể xác là hạ tầng cơ sở “Có Thực“, còn việc cấu trúc Văn minh, Văn hóa là thượng tầng kiến trúc, “Đạo“. Dân gian đơn thuần cũng đã tuyên bố sự phân biệt này và nhấn mạnh đến hạ tầng cơ sở từ lâu rồi, bằng câu “Có thực mới vực được Đạo“. Dân quê Việt Nam cũng đã nhấn mạnh sự cần thiết hàng đầu của việc tìm kiếm vật chất nuôi sống thân thể khi phải đối chọi với những ai muốn khinh thường việc tìm kiếm vật chất sinh sống này. Câu nói rất rõ rệt của Dân gian:“Nhất Sĩ, nhì Nông; Hết gạo chạy rông; Nhất Nông, nhì Sĩ“.
Quan tâm hàng đầu của chính trị đứng đắn
Chính trị hiểu ở đây là cách thế quản trị một cộng đồng, một Nước. Cách thế quản trị đứng đắn là phải đặt trọng tâm vào việc tạo điều kiện, tôn trọng và bảo vệ cái quyền tìm kiếm vật chất để nuôi dưỡng thân xác của những người trong cộng đồng, nghĩa là chính trị xoay quanh chính yếu cái Quyền DẠ DẦY, tức là hạ tầng cơ sở. Khi nghĩ đến chính trị cho thượng tầng kiến thiết, thì điều hệ trọng nhất là điều hành thực thi CÔNG BẰNG liên hệ trực tiếp với việc tranh đua kiếm sống của cá nhân trong một công đồng. Tất cả những thể chế chính trị đứng đắn phải nhất thiết quan tâm đến Công Bằng giữa những cá nhân thuộc cộng đồng. Khi phân biệt tầng lớp xã hội, thì chính thể đứng đắn nào cũng phải quan tâm đến cái tầng lớp bao gồm đông đảo dân chúng nhất, đó là giới nghèo khó. Để thực thi sự quan tâm ấy, chế độ chính trị phải tìm đủ mọi cách tái phân phối phương tiện sống bằng cách hạ giá cả cho những nhu yếu phẩm trực tiếp liên hệ đến Quyền Dạ Dầy.
Cái nhìn của Tôn giáo: tỉ dụ Thiên Chúa Giáo
Để trình bầy sự quan tâm của Tôn giáo đến Quyền Dạ Dầy, tôi lấy tỉ dụ Thiên Chúa Giáo vì tôi là người Công giáo, có chút hiểu biết về Tôn giáo này. Tôi không dám lấy tỉ dụ Tôn giáo khác vì sợ mình thiếu hiểu biết mà nói sai trật đi. Có người quá đặt nặng đến việc cầu nguyện ở Nhà Thờ đến nỗi bỏ quên hoặc vi phạm quyền Dân sinh, nghĩa là Quyền Dạ Dầy. Tôi nghĩ đến chính Giáo huấn trực tiếp từ Chúa Giêsu, Thiên Chúa. Khi đoàn người tụ họp rất đông đảo để nghe Ngài giảng dậy, Ngài thấy đoàn người đói và Ngài không đang tâm để những người ấy nghe giảng mà bụng đói. Ngài đã làm phép lạ nhân Bánh và Cá cho đoàn người ăn no thì họ mới yên tâm nghe Ngài giảng được. Ngài thấu hiểu cái câu của Dân gian Việt Nam:“Có thực mới vực được Đạo“. Tôi sực nhớ đến KINH LẬY CHA do chính Chúa Giêsu dậy cho Nhân loại phải cầu nguyện như thế nào. Mọi Kinh Nguyện khác là do Nhân loại đặt ra để cầu nguyện. Nhưng KINH LẬY CHA là do chính Chúa Giêsu trực tiếp dậy Nhân loại: “Lậy Cha chúng tôi ở trên trời; chúng tôi nguyện danh Cha cả sáng; nước Cha trị đến; ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.“ “XIN CHA CHO CHÚNG TÔI HÔM NAY LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY;“ “Và tha nợ chúng tôi như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi;“ “Xin chớ để chúng tôi sa chước cám dỗ; nhưng cứu chúng tôi khỏi sự dữ.“ Câu đầu là bổn phận của kẻ thụ tạo, tuyên xưng sự tôn sùng của kẻ thụ tạo đối với Tạo Hóa. Sau khi ca tụng Danh Thiên Chúa rồi, thì Nhân loại xin Thiên Chúa ban cho mình điều mình mong mỏi. Chúa Giêsu dậy rằng điều mong mỏi để xin đầu tiên là thuộc về Quyền DẠ DẦY, hạ tầng cơ sở vật chất: “XIN CHA CHO CHÚNG TÔI HÔM NAY LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY;“ Còn những điều xin tiếp theo là thuộc về Luân lý, Luật lệ Tôn giáo, tức là thượng tần kiến thiết (theo kiểu nói của Marx). Chính Chúa Giêsu dậy trực tiếp thì không thể sai được bởi vì Ngài là Thiên Chúa. Thiên Chúa đã đặt quyền DẠ DẦY đứng hàng đầu trong các Quyền khác vậy.
Chủ lực Cách Mạng: Giới nghèo bị bóc lột tận Quyền DẠ DẦY
Giới nghèo, nghĩa là giới phải thường xuyên lo lắng đến Quyền DẠ DẦY chiếm đa số. Khi mà cái Quyền Dạ Dầy còn bị bóc lột, thì đó là điều giữa người với người không thể tha thứ được. Tôn giáo càng phải lên tiếng phản đối và yêu cầu phải tôn trọng cái Quyền Dạ Dầy này bởi vì Thiên Chúa đã đặt nó lên hàng đầu trong các Quyền khác. Cách Mạng là lật đổ một thể chế cố thủ đàn áp Nhân quyền, nhất là bóc lột cái Quyền Dạ Dầy. Với con số đông, trước sự bóc lột tận cái quyền Dạ Dầy cho sự sống thân xác, Giới Nghèo Bị Bóc Lột hoàn toàn có lý do và tự nhiên là Chủ Lực Cách Mạng.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
(2) QUẦN CHÚNG NỔI DẬY TRONG LỊCH SỬ QUỐC TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế
Bài này là bài thứ 2 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 2: Quần chúng nổi dậy trong Lịch sử Quốc tế. Bài này đề cập những điểm sau đây: => Những cuộc Đảo Chính thay đổi quyền hành => Những cuộc Cách Mạng Quần chúng thay đổi thể chế chính trị => Mẫu số chung của Cách Mạng Quần chúng và trường hợp Đình Công ở Việt Nam
Những cuộc Đảo Chính thay đổi quyền hành
Những Quốc gia, sau khi thâu hồi Độc Lập từ chế độ Thực dân, thường có những cuộc Đảo Chính do Quân đội chủ trương. Không thể gọi đây là những cuộc Cách Mạng bởi vì một cuộc Cách Mạng được hiểu như Quần chúng nổi dậy và đòi hỏi sự thay đổi không những về quyền hành, mà chính yếu là thể chế chính trị. Tại những Quốc gia mới thâu hồi Độc Lập, bắt đầu là một Quyền hành Dân sự với những ý niệm Tự do, Dân chủ rất tân tiến nhập cảng từ những nước đã mở mang. Thường nhân sự của Chính quyền Dân sự này là những người đã du học ở Mẫu quốc tại những Đại học lừng danh. Một thời gian sau khi thâu hồi Độc Lập, có hai lý do chính khiến Quân đội đứng lên lật đổ Chính quyền Dân sự và chuyển sang Chính quyền Quân sự: => Sinh viên Học sinh đấu tranh đòi hỏi những Giá trị lý tưởng Những Giáo sư tại các Đại học trong nước thường là những người đã học tại những Đại học mẫu quốc. Họ mang về những Giá trị lý tưởng từ mẫu quốc và đòi hỏi Chính quyền Dân sự vừa được thiết lập phải thi hành những Giá trị lý tưởng ấy. Khi so sánh những thực hiện của chính quyền Dân sự và những đòi hỏi lý tưởng giảng thuyết từ các Giáo sư, Sinh viên Học sinh bắt đầu có những cuộc biểu tình đòi hỏi Nhà Nước Dân sự. Khi những cuộc biểu tình được đẩy đến cao độ, Quân đội nhẩy vào làm Đảo Chính để thay đổi quyền hành. Quân đội nắm lấy quyền, thì Tự do Dân chủ bị thắt chặt lại. Thế là Sinh viên Học sinh tiếp tục đòi hỏi. Vì thế những cuộc Đảo Chính quân sự tiếp nối nhau. => Thâm nhập phá hoại của Cộng sản Tại những nước kém mở mang và mới thâu hồi Độc Lập, Cộng sản Quốc tế luôn luôn tìm cách thành lập những Mặt Trận Giải Phóng. Nga và Trung quốc hỗ trợ trực tiếp những Mặt Trận này. Họ bắt đầu cho người thâm nhập các Tổ chức xã hội để phá rối trật tự, tạo khó khăn cho những Chính quyền Dân sự. Đồng thời những Mặt Trận này phá hoại đời sống Kinh tế. Trước những bất ổn Xã hội và những phá hoại Kinh tế, Quân đội đứng ra làm Đảo Chính, mong thắt chặt trật tự cho Xã hội hơn và hy vọng có tình trạng ổn định để Dân chúng làm ăn. Hai lý do chính trên đây cắt nghĩa những cuộc chuyển Chính quyền Dân sự sang Chính quyền quân sự bằng những cuộc Đảo chính quân sự tại Nam Mỹ Châu, Phi Châu và Đông Nam Á Châu.
Những cuộc Cách Mạng Quần chúng thay đổi thể chế chính trị
Những cuộc Đảo Chính trên đây đến từ Lực lượng quân sự sẵn có trong nước. Trong đoạn này, chúng tôi nói đặc biệt đến những cuộc Cách Mạng thực sự mà Lực lượng chính đến từ Quần chúng đồng lòng đứng lên đấu tranh để thay đổi ngay thể chế chính trị. Xin kể ra đây những cuộc Cách Mạng mang ảnh hưởng lớn Quốc tế: => Cuộc Cách Mạng Pháp 1789 Đây là cuộc nổi dậy của Dân chúng Pháp nghèo khổ, bị bóc lột về quyền Dạ Dầy. Xin đừng quy cuộc Cách Mạng này cho giới Trí thức Pháp thời ấy. Giới Trí thức chỉ nhẩy vào cuộc để lý thuyết hóa và hệ thống hóa cái Lực lượng cơ bản của cuộc Cách Mạn: Dân nghèo đứng lên đòi quyền sống. Thực vậy, Vua Chúa giữ quyền độc tài tuyệt đối. Hàng quan tước và Tôn giáo chạy theo quyền Tuyệt đối của Vua Chúa thống trị. Nhưng những yếu tố chính làm động lực nổi dậy là hệ thống thuế khóa bóc lột của giới quyền quý khiến đời sống kinh tế của Dân chúng nghèo đến cùng cực. Năm 1791, một nhóm Trí thức muốn một thể chế chính trị Hòa giải Hòa hợp bằng cách thiết lập thể chế Quân chủ Lập hiến, nhưng Quần chúng Cách Mạng đã không chấp nhận, đòi hỏi phải đẩy cuộc Cách Mạng đến lật đổ hoàn toàn chế độ Quân chủ: chém đầu Vua để chấm dứt hẳn chế độ cũ quan quyền. Cuộc Cách Mạng Pháp là cuộc Cách Mạng của giới vô sản bị bóc lột đến cùng cực. => Cuộc Cách Mạng Nga 1917 Đây cũng là cuộc Cách Mạng của Dân chúng Nga nghèo cùng cực trước sự thống trị bất công của Nga hoàng. Lực lượng quần chúng nghèo khổ này không phải là do nhóm của Lenine một sớm một chiều tạo ra được. Đó là một tình trạng tích lũy mà Dân nghèo bị bóc lột cùng cực. Lenine là một nhà Trí thức, đã lấy lý thuyết của Marx để cắt nghĩa cho có hệ thống, nắm lấy lực lượng Dân nghèo để chuyển sang đấu tranh giai cấp đẫm máu. Cuộc Cách Mạng vô sản Nga cũng cùng một lý do như cuộc Cách Mạng Pháp => Cuộc Cách Mạng vô sản lật đổ Cộng sản Chính những năm lật đổ các chế độ Cộng sản tại Nga và Đông Aâu, chúng tôi sống tại Aâu Châu này và có dịp chứng kiến hàng ngày những biến chuyển của tình hình. Năm 1789, Cách Mạng của giới nghèo lật đổ quyền tuyệt đối của Vua Chúa Pháp; năm 1989, hai Thế kỷ sau, chính giới nghèo lật đổ quyền tuyệt đối của đảng Cộng sản. Những lý do mà quần chúng làm Cách Mạng cũng không khác gì hai cuộc Cách Mạng trên đây. Đảng Cộng sản thâu tóm quyền hành tuyệt đối về mình. Hê thống Kinh tế Chỉ huy Tập quyền đưa Dân chúng đến nghèo cùng cực mà chế độ không thể giải quyết. Dân chúng nghèo khổ, bị bóc lột, phải đứng lên nắm lấy quyền tự làm ăn sinh sống. Nếu Cách Mạng 1917 được Lenine gọi là Cách Mạng vô sản, thì việc lật đổ thể chế Cộng sản cũng gọi là cuộc Cách Mạng vô sản bởi vì giới nghèo khổ là chủ lực đứng lên. Chúng tôi vừa xem lại đoạn phim ghi từ các Đài Truyền Hình Aâu Châu vào ngày 11.11.1989, ghi cảnh Dân Đông Bá Linh nghèo khổ, kéo sang Tây Bá Linh xem hàng quà, đời sống sung túc. Mỗi người sang thăm Tây Bá Linh được Nhà Nước Tây Đức tặng cho số tiền chừng 200 đo-la để mua quà. Chỉ trong một ngày, có tới 500'000 người từ Đông Bá Linh sang thăm Tây Bá Linh. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, năm 1993, chúng tôi đã sang Varsovie và Moscou và chứng kiến cảnh nghèo khổ thực sự của Dân chúng. Một người lính Nga hỏi xin tôi một điếu thuốc lá vì thực sự anh không có tiền mua điếu thuốc lá.
Mẫu số chung của Cách Mạng Quần chúng và trường hợp Đình Công ở Việt Nam
Nhìn ba cuộc Cách Mạng trên đây, chúng ta thấy một mẫu số chung: => Lực lượng nồng cốt là Dân chúng nghèo khổ mà còn bị bóc lột đến cùng cực do chính những người nắm giữ quyền cai trị. Không những giới cầm quyền không giải quyết được tình trạng nghèo khổ, mà còn bóc lột thêm. Quyền Dạ Dầy là thiết thân nhất cho mọi người. Đụng đến quyền này, là có bùng nổ đòi hỏi và đấu tranh. => Lực lượng Cách Mạng quần chúng có sự căm phẫn trước bóc lột và bất công. Sư căm phẫn không phải một sớm một chiều mà có, nhưng đã được tích trữ âm ỉ trong những năm trường. Nó không phải là sự châm ngòi cũa giới Trí thức hoặc từ những cuộc biểu tình của giới Sinh viên Học sinh. => Một cuộc Cách Mạng đòi quyền sống như vậy phải đi đến cùng: lật đổ thể chế chính trị đã bóc lột họ, chứ không chấp nhận những giải quyết nửa vời gọi là Hòa giải Hòa hợp.
Những cuộc Đình Công tại Việt Nam hiện nay là sự nổi dậy của một tình trạng đói nghèo đã kéo dài 30 năm trường dưới quyền độc tài thống trị của đảng Cộng sản Việt Nam. Quyền Dạ Dầy đã bị bóc lột 30 năm. Lực lượng quần chúng Việt Nam nổi dậy, mang cùng mẫu số chung với ba cuộc Cách Mạng lớn trên đây.
Đúng đây là là cuộc Cách Mạng vô sản đòi quyền sống. Nó phải đi đến cùng, nghĩa là phải lật đổ hoàn toàn thể chế chính trị hiện hành. Việc yểm trợ của Tôn giáo, của Trí thức, của các Đoàn thể, Phong trào hải ngoại mang ý nghĩa TOÀN DÂN LÀM CÁCH MẠNG.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
(3) NHỮNG LÝ DO NỔI DẬY THUỘC QUỐC NỘI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế
Bài này là bài thứ 3 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 3: Những lý do nổi dậy thuộc Quốc nội. Bài này đề cập những điểm sau đây: => Nhận định của Luật sư Đỗ Thái Nhiên => Kinh tế vẫn là trong hệ thống chỉ huy => Công nhân bị bóc lột => Vật giá lên cao
Nhận định của Luật sư Đỗ Thái Nhiên
Chúng tôi trích lại đây nhận định của Luật sư ĐỖ THÁI NHIÊN về lý do những cuộc đình công để độc giả rộng đường dư luận:
“Nguyên nhân của phong trào đình công. Năm 1989, CSVN quy định lương tốithiểu của công nhân Việt Nam làm việc cho những doanh nghiệp có vốn đầu tư của ngoại quốc (gọi tắt: FDI ) là từ 45 đến 50 Mỹ Kim. Mười năm sau nhằm lấy lòng doanh nhân ngoại quốc, chính phủ CSVN bằng quyết định số 53/1999/QĐTTg ngày 26/3/1999 đã hạ mức lương tối thiểu của công nhân FDI xuống 35 ố 45 Mỹ Kim. Mặt khác, CS Việt Nam bao giờ cũng cưỡng bách công nhân phải nhận tiền lương với hối suất 01 Mỹ Kim đổi lấy 13910 đồng Việt Nam (giá cả thị trường hiện nay là trên dưới 16.000). Như vậy công nhân bị bóc lột hai lần: tiền lương quá thấp và hối xuất bị ép gíạ
Từ 1999 đến 2006, thu nhập bình quân theo đầu người gia tăng 50%, giá cả tiêu dùng gia tăng 40% (http://aseansec.org/macroeconomic/aq_ gdp 22.htm). Trong khi đó lương công nhân FDI hoàn tòan bị đông la.nh. Điều này giúp chúng ta hiểu được bằng cách nào CSVN đã đưa mức sống của công nhân xuống đáy xã hộị Đây là lý do giải thích tại sao bà Elin Gauffin (Uy Ban Công Nhân Quốc tế Thụy Điển Committee for workers international CWI Sweden 02/06/06) đã đưa ra nhận xét: “Công nhân tại Việt Nam thuộc thành phần bị bóc lột nhất thế giớiâ“. Đây cũng là lý do khiến cho Liên Hiệp Châu Au EU đánh thuế 16% trên số lượng giầy do CSVN xuất khẩu vào Au Châu.ï Châu Aïu cho rằng CSVN đã qui định giá giày thấp hơn bình thường, đã phá giá. Sở dĩ CSVN có khả năng phá giá là vì họ đã tận lực bóc lột tiền lương của công nhân.
Song song với việc trả lương chết đói như kể trên, giới chủ nhân FDI còn hành hạ công nhân Việt Nam qua nhiều hình thức khác nhau: đánh đập công nhân. Không cho công nhân đi vệ sinh trong giờ làm việc. Làm trái ý chủ, công nhân bị phạt quỳ gốị Phần cơm trưa do FDI cung cấp cho công nhân bị ghi nhận là “không ăn thì đói, ăn thì óiâ“. Chủ nhân tùy tiện tăng giờ làm việc hàng ngày của công nhân, nhưng trả lương cho giờ phụ trội lại thường bị giới chủ lờ đi... (talawas.org, tuoitre.com.vn, đài RFA Online ngày 4 tháng 3/2006, Thanh Niên Online ngày 3/3/2006: bài viết “Liên khúc đình công“...).
Hoạt dộng của kinh tế thị trường tự do đòi hỏi: mỗi khi có sự xung khắc quyền lợi giữa chủ và thợ thì nghiệp đoàn liên hệ sẽ đứng ra bảo vệ quyền lợi của công nhân. Dưới chế độ CSViệt Nam, liên đoàn lao động, còn gọi là công đoàn (một tổ chưc ngoại vi của đảng CSViệt Nam) đã làm gì để bảo vệ công nhân? Bản tin sau đây là câu trả lời mạnh mẽ dành cho câu hỏi vừa nêu: “Sáng thứ Năm, ngày 5 tháng 1 năm 2006, tại các khu chế xuất và khu công nghiệp, lực lượng thanh niên xung phong, đoàn viên thanh niên Cộng Sản, công an thành phố HCM, công an huyện Thủ Đức, công an tỉnh Bình Dương, cán bộ công đoàn, cán bộ liên đoàn lao động... đã bủa ra khắp mọi nẻo đường nhằm tìm cách phát hiện sớm và ngăn chặn kịp thời các vụ đình công (lời ông Vũ Huy Cận, Chủ Tịch Liên Đoàn Lao Động Thành Phố HCM tin RFA ngày 9 tháng 1 năm 2006)“. Liên đoàn lao động, công đoàn hiển nhiên là các loại “công an lao động“. Công đoàn chỉ biết phục vụ quyền lợi của đảng CSVN và của những chủ doanh nghiệp ngoại quốc (những người đã “trà nước“ rất hậu hỹ cho CSVN). Điều oái oăm là cho tới ngày nay công đoàn vẫn sống nhờ vào đồng tiền thu góp từ tay công nhân Việt Nam.
Trong khi công đoàn cộng sản vẫn diễn vở tuồng“ăn cây nọ rào cây kia“ thì tòa án lao động tại Việt Nam đã giải quyết những tranh chấp lao động như thế nàỏ Kính mời bạn đọc hướng mắt nhìn về tòa án lao động của CSVN: “trong mười năm qua, hệ thống tòa án chưa từng một lần xét xử một vụ tranh chấp lao động tập thể của người lao động“ (talawas.org ngày 19/1/2006: “Tính Chính Đáng Của Những Cuộc Đình Công Bất Hợp Pháp“, tác giả Lâm Yến).
Công Đoàn làm công tác “công an lao động“. Tòa án Lao Động thản nhiên “ngủ ngồi“ mười năm. Sống trong guồng máy lao động không có bộ phận thoát hơi an toàn, công nhân không còn giải pháp nào khác hơn là hành động đình công hàng loạt. Ngày 28/12/05 phong trào đình công thực sự làm cho dư luận chú ý. Chưa tới hai tuần sau đó, ngày 06/01/2006 Thủ Tướng CSVN Phan Văn Khải đã vội vàng ký quyết định tăng 40% lương tối thiểu cho công nhân FDI kể từ tháng 2/2006. Thế nhưng chữ ký chưa ráo mực, CSVN lại ra lệnh đình hoãn việc tăng lương này đến tháng 4/2006. Sự kiện vừa kể làm người VN nhớ tới một câu chuyện cũ: tháng 5/1975, CSVN đã thông báo để mọi người hiểu rằng thời hạn “học tập cải tạo“ dành cho quân nhân và viên chức VNCH chỉ là 10 ngàỵ Trong thực tế, 10 ngày trở thành một, hai thập niên. Mang chuyện “học tập cải tạo 1975“ đem so với lời hứa tăng lương hiện nay của CSVN, chúng ta không thể tìm thấy điều gì khác hơn hai chữ “dối gạt“. Đó là một trong những lý do giải thích tại sao phong trào đình công tại VN vẫn tiếp tục lan tràn từ Nam ra Bắc.
Kinh tế vẫn là trong hệ thống chỉ huy
Luật sư Đỗ Thái Nhiện lược kể ra những sự việc. Chúng tôi muốn đi vào nguyên do thất bại của một hệ thống Kinh tế chỉ huy (Systeme Economique dirigiste) từ chủ trương độc đảng và đảng muốn dành toàn quyền quản trị quốc gia cho mình. Kinh tế chỉ huy đã là định mệnh (fatalité) của sự sụp đổ của khối Cộng sản Nga và Đông Aâu. Sau sự sụp đổ này, đảng CSVN biết rõ rệt cái lý do là sự nghèo đói của Dân chúng đến từ hậu quả của một hệ thống Kinh tế chỉ huy, nhưng đảng đã cố thủ dùng mọi cách để bấu víu lấy quyền lực độc đảng. Không còn sự trợ cấp Kinh tế nào hết từ khối Cộng sản, đảng CSVN buộc phải mở cửa cho khối Kinh tế tự do và thị trường. Nhưng thời gian đầu, người nước ngoài vào Việt Nam lại gặp phải sức đè nén của cả một hệ thống Công ty quốc doanh. Nhà Nước Cộng sản buộc phải tuyên bố Đổi Mới, nghĩa là chấp nhận nguyên tắc Kinh tế tự do và thị trường, đồng thời nới rộng phạm vị hoạt động cho những Công ty tư nhân. Việc nới rộng này là về những hoạt động Kinh tế, nhưng về phương diện chính trị, thì đảng vẫn cố thủ giữ lấy quyền lực quản trị độc tài độc đảng. Buộc phải chấp nhận những nguyên tắc của hệ thống Kinh tế tự do và thị trường, nhưng sự thực hành những nguyên tắc này lại nằm hoàn toàn trong sự kiểm soát của quyền lực chính trị độc tài, nghĩa là một nền Kinh tế vẫn chưa thoát khỏi hệ thống chỉ huy: => Con cháu của đảng viên, nhất là cao cấp, có những ưu tiên nắm những hoạt động Kinh tế mà Nhà Nước nói đó là tư doanh. Đảng nắm toàn quyền quyết định, nhưng con cháu, bà con họ hàng của đảng nắm những hoạt động kinh tế hay giữ hệ thống môi giới cho quyền hội nhập kinh tế đến từ nước ngoài. Đó là một hệ thống Mafia chỉ huy Kinh tế. => Khi hệ thống chính trị vẫn là độc tài độc đảng, thì không thể nào tránh được nạn tham nhũng từ những người có quyền. Thánh nhân mà có toàn quyền, đứng cạnh đống vàng, dễ nẩy sinh lòng ăn cắp bởi lẽ mình có toàn quyền chặn họng những kẻ than vãn mất vàng. => Khi phải bảo vệ độc quyền độc đảng, thì vấn đề chỉ huy Kinh tế trở thành một điều kiện cho sự sống còn của quyền lực độc tài độc đảng. Thực vậy, trong hệ thống Kinh tế tự do tị trường thực sự, quyền lực chính trị chuyển dần sang quyền lực của đồng tiền. Quyền lực của đồng tiền tư bản tư nhân không thể đi đôi với quyền lực chính trị độc tài độc đảng. Vì muốn giữ chính trị độc tài độc đảng, nên buộc phải chỉ huy Kinh tế. Giữ nền Kinh tế chỉ huy như vậy dưới hình thức nguyên thủy hay với dạng thay đổi lừa dối, thì hậu quả vẫn là đưa đến đói nghèo và trở thành một định mệnh làm sụp đổ chế độ như Nga và Đông Aâu. Công đoàn Lao động hay “Công an Lao động“ là biện pháp mà đảng phải làm khi mà đảng không muốn bỏ thể chế chính trị độc tài độc đảng.
Công nhân bị bóc lột
Chúng tôi cũng muốn nói đến việc bóc lột Công nhân như một định mệnh (fatalité) của chế độ chính trị cố thủ giữ lấy độc quyền độc đảng. Ba khía cạnh sau đây buộc chế độ độc tài độc đảng phải làm việc bóc lột trên nhân công: (i) Bất ổn chính trị; (ii) Thiếu đầu tư nước ngoài; (iii) Chỉ huy và bắt chẹt Thị trương Lao động. Từ những Oâng tổ của nền Kinh tế Tự do và Thị trường như Adam Smith, David Ricardo, Stuart Mill... đều đòi hỏi nguyên tắc rằng Nhà Nước không được can thiệp trực tiếp vào hoạt động Kinh tế tư nhân tự do và thị trường. Tất cả một can thiệp của Nhà Nước đều gây ra tối thiểu Chi tiêu xã hội (Couts sociaux) tốn kém cho chính nền Kinh tế. Khi giữ một thể chế chính trị độc tài độc đảng, thì không thể nào tránh được việc can thiệp của Nhà Nước trực tiếp vào hệ thống Kinh tế. Thể chế chính trị Việt Nam, với những kềm kẹp Nhân quyền, Tôn giáo... tạo bất ổn chính trị. Tình trạng chính trị bất ổn làm những vốn đầu tư tránh xa, nhất là trong những ngành nghiệp phải cần vốn lâu dài hạn. Nếu có đầu tư, thì đó là vào ngắn hạn và vào sản xuất những hàng hóa mà chu trình khai thác rất ngắn (Cycle d’exploitation très court) để có thể gấp rút kéo lại vốn đầu tư, tránh trường hợp bất ổn chính trị. Vì thiếu vốn đầu tư nước ngoài như vậy, nên Nhà Nước phải buộc lòng phải dụ vốn nước ngoài bằng chỉ huy khối nhân lực trong tình trạng lương thấp. Đây là chính sách bán rẻ nhân công để dụ đầu tư nước ngoài. Thị trường nhân lực bị quyền lực chính trị can thiệp trắng trợn trong chiều hướng bóc lột nhân công để bán rẻ cho tài phiệt ngoại quốc. Lý do căn bản để Nhà Nước phải bóc lột bán rẻ nhân công cho ngoại quốc, đó chỉ là vì thể chế chính trị độc tài độc đảng bất ổn. Cái bất ổn chính trị làm cho vốn tránh xa. Để kéo níu vốn lại, thì phải bắt ép thị trường nhân lực chấp nhận lương rẻ mạt. CSVN đã bóc lột nhân công để phục vụ cho việc cố thủ giữ quyền lực chính trị độc tài độc đảng. Thêm vào việc bóc lột này, đó là hệ thống tham nhũng của cả một loạt cán bộ từ trên xuống dưới. Việc tham nhũng này làm cho giá thành tăng. Để có thể bù đắp cho việc tham nhũng này làm giá thành tăng, thì phải giảm lương ngần nào có thể đối với nhân công. Chính nhân công phải chịu trận cho hệ thống tham nhũng của quyền lực chính trị độc tài độc đảng.
Vật giá lên cao
Bình thường khi vật giá lên cao, thì đó có nghĩa là trong hệ thống Cung—Cầu tổng quát (Offre—Demande globale) phía Cầu cao hơn phía Cung. Nếu vật giá lên cao vì lý do này, thì tình trạng Kinh tế đang trên đà phát triển. Khi Cầu lớn hơn Cung một cách lành mạnh, thì việc tăng phía Cầu phải được cung cấp từ sự thu nhập của chính sản xuất của nền Kinh tế ấy. Tại Việt Nam, vật giá lên cao do tăng phía Cầu không đến từ sự thu nhập của chính sản xuất Kinh tế. Chúng ta nhìn sự tăng vật giá đến từ những lý do khác: => Nguồn tài trợ đến từ khối người Việt tỵ nạn nước ngoài. Mỗi năm có từ 4-5 tỉ đo-la đến từ khối người này. Số tiền này không phải là từ sự thu nhập của sản xuất Kinh tế Việt Nam. Thêm vào số tiền hàng năm, người Việt hải ngoại du lịch về Việt Nam, mang đo-la về chi tiêu, sẵn sàng chấp nhận giá cao tương đối với người ở quốc nội. Người từ nước ngoài sẵn sàng chấp nhận giá cao mà người trong nước không theo kịp. => Đồng thời một phần những thu nhập từ sản xuất Kinh tế lại rơi vào tay tài phiệt nước ngoài đầu tư và vào tay tham nhũng của cả một hệ thống đông đảo cán bộ đảng giữ quyền lực. Những lớp người này sẵn sàng chi tiêu cho vật giá cao mà giới nhân công bị bóc lột không đủ thu nhập để theo kịp vật giá cao ấy. Tình trạng vật giá lên cao, nhất là nơi thành thị, những khu ăn chơi, sánh với số lương bóc lột, khiến cho đời sống nhân công càng thiếu thốn cùng cực hơn trong cuộc sống. Nghèo vì đồng lương bóc lột do quyền lực thống trị của Nhà Nước cấu kết với tài phiệt nước ngoài; càng nghèo hơn nữa khi vật giá lên cao mà lý do là từ phía Cầu tăng lên mà những người Việt hải ngoại cũng như những kẻ nắm quyền chính trị tham nhũng sẵn sàng chấp nhận vật gía cao.
Tóm lại, Luật sư Đỗ Thái Nhiên tả thực trạng những lý do đình công. Chúng tôi phân tích những lý do trong một hệ thống Kinh tế vẫn bị chỉ huy từ một quyền lực chính trị độc tài độc đảng. Việc Nhà Nước quyết định tăng 40% số lương tối thiểu chỉ là vá víu, làm dịu đôi chút đình công. Phải giải quyết từ cái nguồn, mà theo phân tích ở trên, thì cái nguồn cội rễ của đình công là chính việc đảng CSVN cố thủ nắm cho riêng mình quyền thống trị độc tài. Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
(4) ẢNH HƯỞNG KINH TẾ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ ĐẾN LÝ DO ĐÌNH CÔNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế
Bài này là bài thứ 4 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 4: Ảnh hưởng Kinh tế Thương mại quốc tế đến lý do Đình Công . Nếu những lý do đến từ Quốc nội, thì những giải pháp từ trong nước có thể giải quyết nhất thời cho vấn đề đình công. Nhưng nếu những lý do đình có thuộc vào phạm vi Quốc tế, thì những giải pháp mà Nhà Nước muốn đưa ra phải nằm trong những thay đổi dài hạn thuộc việc chấp nhận một nền Kinh tế đi đôi với một Môi trường Chính trị—Luật pháp cho phù hợp. Bài này đề cập những điểm sau đây: => Khuynh hướng những Thị trường Quốc tế cạnh tranh => Việc khó khăn vá víu ngắn hạn đối với Thị trường Quốc tế
Khuynh hướng những Thị trường Quốc tế cạnh tranh
Chúng tôi đề cấp đến một số Thị trường Quốc tế mà khuynh hướng thay đổi có liên hệ đến vấn để giải quyết đời sống Công nhân Việt Nam.
Thị trường Tài chánh Tài chánh là máu chảy làm cho những dự án sản xuất có sức sống. Có dự án đẹp mà thiếu tài chánh, thì cũng không làm gì được. Những nguồn tài chánh chính yếu Quốc tế đến từ Hoa kỳ, Liên Aâu, Khối Ả rập dầu lửa và Khối những nước Á châu đã phát triển. Những quyết định đầu tư tùy thuộc hai yếu tố chính, đó là sự an toàn của vốn bỏ ra và mức độ lợi nhuận thu vào cao từ đầu tư. Hai yếu tố này rất dễ xung khắc nhau. Thực vậy, muốn bắt được cọp con, thì phải chấp nhận rủi ro vào hang cọp. Trước đây, trong thời chiến tranh lạnh, các nước chưa mở mang có những bất ổn chính trị làm tăng rủi ro tài chánh. Đó là thời kỳ mà Nam Mỹ, Phi châu, Á châu có nhan nhản những Mặt Trận Giải Phóng nhằm phá sự yên lành phát triển Kinh tế. Nhưng sau sự sụp đổ của Khối Cộng sản và từ đó những Mặt Trận Giải Phóng xẹp xuống, thì khuynh hướng chuyển đầu tư vào những nước thuộc vùng Nam Mỹ, Phi châu, Á châu tăng dần. Hoa kỳ vẫn giữ chặt khu vực đầu tư vào Nam Mỹ châu. Hiện nay, Hoa kỳ tăng đầu tư vào Phi châu đến 15%. Một nhà tài chánh nói với tôi, người Việt Nam, rằng chúng tôi dễ dàng đầu tư vào Phi châu hơn vào Việt Nam bởi lẽ khi có sa xẩy gì, thì chúng tôi có thể kiện Nhà Nước Phi châu, trong khi đó với Việt Nam, dưới chế độ độc tài toàn trị, chúng tôi rất khó lòng đưa ra kiện cáo. Trong một tháng làm việc về tài chánh tại Nassau, Bahamas, chúng tôi được biết rằng một số vốn đầu tư của Khối Ả rập dầu lửa đang tìm cách chuyển xuống phía Nam Mỹ. Khối Liên Aâu, sau khi những nước Đông Aâu gia nhập, vốn đầu tư chuyển về khối Đông Aâu hơn là xuống Phi châu hay sang vùng Á đông. Về phía Á châu, có hai khuynh hướng đầu tư: đối với ngành nghiệp dài hạn và sản phẩm kỹ nghệ cao, việc đầu tư chuyển sang phía Hoa kỳ và Liên Aâu; trong khi ấy một số vốn khác chuyển vào sản xuất những hàng thông dụng ngắn hạn tại chính trong vùng Á châu một là để tiêu thụ chính trong nước, hai là để xuất cảng sang những nước tiền tiến.
Thị trường hàng hóa ngắn hạn và thông dụng Chúng tôi nói đến những đồ dùng hàng ngày, nhiều khi chỉ dùng một vài lần rồi bỏ. Thị trường lớn nhất trong loại hàng hóa này là hàng che thân con người gồm Mũ, Khăn, May Mặc, Dầy Dép. Những nước đã phát triển Kỹ nghệ thì chú trọng vào những hàng cấp cao và dài hạn, đồng thời vì lương nhân công cao, nên việc sản xuất hàng thông dụng và che thân bán với giá rẻ không thể có được lợi nhuận cao, nên họ không làm. Những nước kém mở mang có dư dật nhân công với giá lương thấp, nên nếu sản xuất ở những nước này và xuất cảng sang những nước đã kỹ nghệ hóa với đời sống cao, thì lợi nhuận sẽ lớn hơn gấp bội. Đặc biệt là Thị trường May Mặc, Dầy Dép tại những nước đã kỹ nghệ hóa này đã có ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình đình công ở Việt Nam. Khi hạng ngạch “quotas“ về những hàng May Mặc này chưa được tháo khoán cho Trung quốc, thì Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu muốn nâng đỡ những nước kém mở mang như: Maroc, Tunisie, Madagascar, Bangladesh, Vietnam, Philippines...Những nước này có tỉ số nhân công rất lớn sống về ngành sản xuất May Mặc, Dầy Dép .Nhưng từ năm vừa rồi, hạng ngạch được tháo khoán cho Trung quốc, thì Thị trường May Mặc, Dầy Dép tại Mỹ và Liên Aâu bị khủng hoảng trầm trọng. Mỹ và Liên Aâu gọi đây là Tsumani hàng May Mặc, Dầy Dép từ Trung Cộng. Nạn tràn lan này không những gây nguy hại cho những nước nhỏ vừa kể ra trên đây, mà còn làm thiệt hại cho chính Hoa kỳ và một số nước thuộc Liên Aâu như Bồ Đào Nha, Ý đại lợi, Hy Lạp. Hoa kỳ và Liên Aâu đã lấy phản ứng cấp thời chống Tsumani. Liên Aâu cũng đã quyết định tăng thuế nhập cảng hàng Dầy Dép đến từ Trung quốc và Việt Nam tới 18% để bảo vệ quyền lợi cho những nước sản xuất những hàng này thuộc Liên Aâu. Đây là việc cạnh tranh ảnh hưởng tất nhiên đến đình công tại Việt Nam.
Thị trường Nhân lực Lao động Thị trường này cũng gặp cạnh tranh trong chiều hướng làm hạ đồng lương Lao động. Tại Liên Aâu này, sau khi những nước Đông Aâu gia nhập, sớ nhân lực cung cấp cho Thị trường tăng lên hẳn và số nhân lực này sẵng sàng nhận đồng lương thấp. Đó là khối nhân lực đến từ những nước nghèo mới thoát khỏi chế độ Cộng sản độc tài toàn trị. Tại Á đông, những quốc gia chưa mở mang cũng cung cấp khối nhân lực sẵn sàng nhận đồng lương hạ. Cạnh tranh nguy hiểm nhất cho Việt Nam đó là khối nhân công nghèo đói khổng lồ của Trung quốc. Nếu có sự tự do cạnh tranh tại những quốc gia như Bangladesh, Philippines, Thái lan..., thì tại Việt Nam và Trung Cộng, dưới chế độ Cộng sản độc tài toàn trị, khối nhân công này phải chấp nhận đồng lương quá hạ do tình hình cạnh tranh Kinh tế quốc tế, mà còn do quyền lực độc tài ép buộc cứng nhắc. Chính vì hai sức ép này mà tôi nói đến sự cấu kết giữa quyền lực chính trị độc tài và quyền lực đồng tiền ngoại lai lên khối Lao động Việt Nam và Trung Cộng đến chỗ vô nhân đạo. Thực vậy, Oâng Jean-Francois MONTEMONT, trong tờ LE COURRIER PICARD ngày 26.04.05, viết :"La Chine utilise limmense réservoir humain chassé des campagnes vers les colossales usines cotìeres òu lon travaille, dort et mangẹ....Veritables troupes de travailleurs dirigées par les commissaires politiques en costumes-cravates..." (Trung Quốc xử dụng kho dự trữ khổng lồ nhân lực lùa ra từ nhà quê kéo về những nhà máy khổng lồ dọc bờ biển ở đó người ta làm việc, ngủ và ăn...Đó chính là những đàn bầy thợ thuyền được chỉ huy bởi những cán bộ chính trị mặc áo vét với cà vạt...) (Vì việc cạnh tranh của Trung Cộng rất quan trọng, xin độc giả đọc thêm bài NGÀNH MAY DỆT VIỆT NAM:NẠN NHÂN CỦA TRUNG CỘNG, đăng lại trong số này ở Tiết Mục KINH TẾ—TÀI CHÁNH dưới đây)
Việc khó khăn vá víu ngắn hạn đối với Thị trường Quốc tế
Việc quyết định tăng lương tối thiểu cho Công nhân quyết định bởi Nhà Nước Việt Nam cho dù có được thực hiện đi chăng nữa cũng chỉ là giải quyết nhất thời vá víu thuộc phạm vi những lý do đình công từ Quốc nội. Đó là giải quyết thoa dịu chính trị hơn là giải quyết có cơ bản Kinh tế. Thực vậy, nếu lương nhân công tăng, cộng thêm với tham nhũng, giá thành của hàng Việt Nam càng lên cao hơn. Giá thành lên cao, thì giá bán cũng phải tăng lên, như vậy hàng Việt Nam sẽ yếu về phương diện cạnh tranh trên Thị trường Quốc tế. Còn nếu tài phiệt nước ngoài vẫn giữ giá bán như cũ để cạnh tranh trên Thị trường Quốc tế, thì lợi nhuận của họ thu vào sẽ kém đi. Khi không thu đủ lợi nhuận như ý muốn, tài phiệt nước ngoài có thể đóng cửa Công ty và rút ra khỏi Việt Nam. Đình Công càng tăng thêm. Phải tìm giải quyết cho khía cạnh Kinh tế, Thương mại này mới là căn bản, chứ không phải đưa quyết định vá víu ngắn hạn có tính cách mỵ dân nhất thời để cứu vãn chế độ chính trị. Việt Nam đang tìm mọi cách để vào Tổ Chức Thương Mại Quốc tế (WTO/OMC). Những hàng xử dụng thông thường và những hàng che thân thể Mũ, Quần Aùo, Dầy Dép, Màn Mùng mà tài phiệt nước ngoài muốn sản xuất ở Việt Nam là cốt ý xuất cảng bán với giá cao ở Thị trường Quốc tế. Vậy thay vì tăng lương x%, có lẽ tốt hơn là tiêu diệt tham nhũng để làm hạ chi tiêu giữ giá thành cạnh tranh (do đó giá bán) trên Thị trường tế thì mới có cơ bản Kinh tế (Kế toán Kỹ nghệ) thực sự. Trước sức cạnh tranh của các Thị trướng Quốc tế về Tài chánh, về hàng hoá thông dụng và may dệt, về lương nhân công, không thể vá víu bằng một giải quyết có tính cách chính trị mỵ dân, mà phải tìm những giải quyết hoàn toàn Kinh tế chuyên môn. Đình công có thể được thoa dịu ngắn hạn, nhưng trong dài hạn, với cạnh tranh Kinh tế Thương Mại Quốc tế, Đình Công sẽ bùng nổ để làm Cách Mạng lật đổ chế độ.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
(5) CHẾ ĐỘ HIỆN HÀNH KHÔNG THỂ GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG VỚI NHỮNG BIỆN PHÁP VÁ VÍU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế
Bài này là bài thứ 5 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 5: Chế độ hiện hành không thể giải quyết đình công với những biện pháp vá víu. Đình công có những lý do thuộc Quốc nội và những lý do thuộc Quốc tế. Giải quyết vấn đề đình công, nếu muốn có những giải quyết căn bản, thì phải nhằm tháo gỡ thỏa đáng những lý do ấy từ Quốc nội đến Quốc tế. Nếu không, đó chỉ là những giải quyết vá víu nhất thời. Bài này đề cập những điểm sau đây: => Tóm tắt những lý do đình công thuộc Quốc nội và Quốc tế => Tăng 40% lương tối thiểu chỉ là giải quyết vá víu chính trị => Cuộc đấu tranh của Công nhân vẫn tiếp tục => Đòi hỏi thương thảo tự do và độc lập giữa Chủ và Thợ
Tóm tắt những lý do đình công thuộc Quốc nội và Quốc tế
Trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 247/13.04.06, chúng tôi đã phân tích những lý do đình công thuộc Quốc nội. Chúng tôi đã lấy lại việc mô tả của Luật sư ĐỖ THÁI NHIÊN về tình trạng Công nhân Việt Nam bị bóc lột như thế nào. Đứng về mặt phân tích Kinh tế, những lý do đưa đến tình trạng nghèo đói của Dân chúng và Công nhân như sau: => Dù với những khẩu hiệu đổi mới, theo khuôn khổ Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng thực chất nền Kinh tế Việt Nam vẫn là Kinh tế chỉ huy của quyền hành độc đảng. Thế giới Cộng sản đã thất bại về chủ trương Kinh tế chỉ huy này bởi lẽ nó đưa đến nghèo đói và do đó kéo theo sụp đổ chính trị như một định mệnh không thể tránh (une Fatalité inévitable). => Cộng sản độc tài dùng toàn quyền điều hành Thị trường Nhân lực (Labour Market), cộng thêm với quyền tham nhũng, để bán rẻ Nhân công Việt Nam cho tài phiệt nước ngoài. Đây là chủ trương chung của đảng CSVN và của tham nhũng: tất cả những gì bán được là họ bán, ngay cả đàn bà, con gái vị thành niên. => Công nhân bị bán rẻ, buộc phải chấp nhận lâu năm tình trạng nghèo khổ do kết quả của nền Kinh tế chỉ huy, nay còn bị nghèo khổ hơn về khả năng tiêu thụ (Pouvoir d’Achat) vì vật giá lên cao do du lịch, do phía tham nhũng bất chính và do đồng bào tỵ nạn nước ngoài về chấp nhận giá cao. Ba lý do trên ở Quốc nội thuộc về phương diện Kinh tế. Trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 248/20.04.06, chúng tôi trình bầy những lý do thuộc cạnh tranh Kinh tế, Thương mại Quốc tế. Những lý do được tóm tắt như sau: => Thị trường tài chánh: Thị trường Việt Nam không đủ thu hút đầu tư quốc tế sánh với những vùng khác: Đông Aâu, Nam Mỹ, Phi châu và Trung Quốc. => Thị trường hàng hóa: Việt Nam sống nhiều về hàng May Dệt, Dầy Dép. Thị trường này bị tràn lan bởi hàng Trung Quốc. Ngoài ra, đối với những hàng hóa thông dụng khác, Trung quốc, Đông Aâu có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn Việt Nam nhiều. => Thị trường Nhân lực Lao động: Nước cạnh tranh nguy hiểm nhất là Trung Cộng vì họ có khối người khổng lồ và cũng áp dụng chính sách bán rẻ nhân công như Việt Nam.
Tăng 40% lương tối thiểu chỉ là giải quyết vá víu chính trị
Để giải quyết vấn đề đình công, Nhà Nước Việt Nam quyết định tăng lương tối thiểu 40% thêm. Đây chỉ là một giải quyết mang tính cách chính trị nhất thời vá víu để làm giảm cuộc đấu tranh của Công nhân trước tình trạng đảng bị đe dọa vì tham nhũng và trước Đại Hội đảng kỳ X. Nhưng việc tăng 40% có thực hay không bởi lẽ Chủ tìm cách giảm đi những phụ cấp hoặc tăng thêm giờ làm việc. Việc tăng 40% là do Chủ phải trả, chứ không phải là Nhà Nước bỏ tiền ra để cho thêm, nên Chủ phải tính toán thế nào để giá thành của hàng hóa xuất cảng khỏi tăng vọt làm mất Thị trường. Quyết định 40% là quyết định đơn phương của quyền lực chính trị. Đó không phải là giải quyết Kinh tế trong một nền Kinh tế nếu muốn nói đó là Kinh tế Tự do và Thị trường. Lương bổng là cái GIÁ của Thị trường Nhân lực, phải để Thị trường tự do và độc lập giải quyết theo những điều kiện Kinh tế, Thương mại. Nói về Thị trường Nhân lực (Labour Market), những nhà Kinh tế thường nói đến mức lương tối thiểu. Nói mức lương tối thiểu (salaire plancher/minimum), khi mà Thị trường này đang trên đà giảm lương (tendance de baisse du salaire). Trên đà giảm lương này, Công nhân dễ buộc lòng phải chấp nhận “Hiệu quả gian tà“(Effet pervers) mà nhà Kinh tế trứ danh SAMUELSON đã mô tả. Chủ xử dụng “Hiệu quả gian tà“ này để bóc lột Công nhân nữa. Nhưng chúng tôi muốn nhìn xem Thị trường Nhân lực Việt Nam có thật sự đang ở trên đà giảm lương hay không. Thực ra đồng lương 35 đo-la mỗi tháng mà Nhân công buộc phải chấp nhận trong nhiều năm trường đã là đồng lương quá chết đói rồi. Theo chúng tôi, thì Thị trường Nhân lực Việt Nam không ở trong tình trạng trên đà hạ lương xuống, mà nó chỉ có thể ở trên đà tăng lên. Khi quyền lực chính trị xen lấn vào để đặt một mức lương tối thiểu, đó không phải là lương tối thiểu, mà là mức lương tối đa trần nhà (salaire plafond/maximum) do Nhà Nước chỉ định để ngăn chặn đà tăng lương tự nhiên của Thị trường. Quyền lực chính trị định mức lương trần nhà tối đa như vậy tức là đứng về phe bao che cho Chủ, chứ không phải là cho Thợ nữa. Nó đi ngược lại chính Khuynh hướng Xã hội (Tendance socialiste), nếu muốn động chạm đến chính trị. Chúng tôi gọi việc tăng 40% chỉ là giải quyết chính trị vá víu. Tính cách vá víu của nó là ở chỗ giải quyết này không quan tâm đến tất cả những lý do đình công tại Quốc nội và thuộc Quốc tế như chúng tôi vừa tóm tắt ở đoạn trên đây. Chúng tôi sẽ có dịp bàn sâu vào những giải quyết có tính các toàn diện.
Cuộc đấu tranh của Công nhân vẫn tiếp tục
Một số người nghĩ rằng cuộc đấu tranh của Cộng nhân, nghĩa là Đình công, lắng dịu xuống. Chúng tôi không những không nghĩ như vậy, mà còn xác tín rằng việc tranh đấu của Công nhân vẫn tiếp tục và sẽ có ngày bùng nổ lớn bởi lẽ những lý do Kinh tế của Đình công thuộc Quốc nội và Quốc tế vẫn nằm đó. Khi giải quyết chỉ là chính trị và vá víu như trên, thì những lý do Kinh tế Quốc nội, Quốc tế chưa được giải quyết sẽ càng lớn lên và do đó cuộc đấu tranh của Nhân công sẽ bùng nổ toàn diện mà quyền lực chính trị không thể cản ngăn dù bằng những biện pháp khủng bố khát máu. Khi quyền Dạ Dầy bị đụng chạm, thì việc khủng bố khát máu không làm sợ hãi nữa bởi lẽ người nghèo đói sắp chết thì không biết sợ chết nữa. Lúc ấy, chính quyền lực chính trị khủng bố khát máu sẽ là nguyên cớ cho Dân nghèo tranh đấu bất bạo động trở thành tranh đấu bạo động. Đó là thực trạng bạo động của tất cả các cuộc Cách Mạng quần chúng: Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Nga 1917...
Đòi hỏi thương thảo tự do và độc lập giữa Chủ và Thợ
Chúng tôi nhắc lại đây điều kiện chủ chốt mà các nền Kinh tế Tự do và Thị trường là quyền lực Chính trị phải đứng ngoài những thương thảo giữa những Phe Kinh tế. Việc thương thảo này nhằm phân chia quân bình thỏa đáng về quyền lợi của cả những Phe Kinh tế tham dự. Quyền lực chính trị chỉ quan sát và đề phòng sự cấu kết của các Phe Kinh tế phương hại đến trật tự Xã Hội. Nếu Nhà Nước cần phải nhập cuộc thương thảo quyền lợi, thì cũng chỉ nhập cuộc như một Phe Kinh tế đồng đều như những Phe đang thương thảo. Không được xử dụng quyền lực chính trị để áp đặt những gì có lợi cho mình hay nghiêng về Phe Kinh tế này hay Phe kia. Chính vì vậy, những giải quyết Đình công cho những lý do thuộc Quốc nội và Quốc tế phải để cho Phe Chủ và Phe Thợ thương thảo tự do và độc lập. Để tôn trọng việc thương thảo này, thì trước hết đảng CSVN không được xử dụng Công đoàn Lao công Nhà Nước để áp đặt phía Thợ và ủng hộ phía Chủ. Phải để cho Nhân Công thành lập Liên đoàn Lao động ĐỘC LẬP để có thể thương thảo TỰ DO và ĐỘC LẬP với phía Chủ. Việc thương thảo tự do và độc lập nhằm giải quyết tòan diện những lý do đình công thuộc Quốc nội và Quốc tế. Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
(6) NHỮNG GIẢI QUYẾT TỔNG THỂ VÀ CĂN BẢN TRONG MỘT NỀN KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐÍCH THỰC Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế
Bài này là bài thứ 6 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 6: Những giải quyết tổng thể và căn bản trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực. Những lý do Đình Công thuộc Quốc nội và thuộc phạm vi cạnh tranh Kinh tế, Thương mại Quốc tế gồm nhiều những phức tạp liên hệ với nhau. Trong bài trước, chúng tôi nhận định rằng giải quyết của CSVN tăng lương tối thiểu lên 40% chỉ là giải quyết mang nặng yếu tố chính trị và chỉ là vá víu. Chúng ta phải nghĩ đến những giải quyết tổng thể và căn bản dựa trên những phân tích kỹ lưỡng những lý do đình công thuộc quốc nội và quốc tế. Những giải quyết tổng thể và căn bản như vậy không phải là dễ dàng đưa ra bởi lẽ những lý do kia rất phức tạp. Chúng tôi thành thực thú nhận rằng khả năng đơn độc của chúng tôi không có tham vọng đưa ra những giải quyết tổng thể và căn bản để mọi người công nhận là đúng. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng dù với hiểu biết hữu hạn và nhỏ bé của mình, thì mình cứ viết ra để những bậc đàn anh, những vị hiểu biết sâu rộng hơn sửa chữa và thêm ý kiến cốt ý làm lợi cho Quê Hương mến yêu của mọi người Việt Nam. Nghĩ như vậy, chúng tôi can đảm viết dù biết rằng kiến thức của mình hữu hạn và nhỏ bé.
Bài này đề cập những điểm sau đây: => Ưu tiên khuếch trương Nông nghiệp và Ngư nghiệp => Công nghệ hoá từng chặng vững chắc theo mức vốn tự tạo và khả năng chuyên nghiệp hấp thụ => Vai trò Khối người Việt Hải ngoại tham dự Kinh tế Quốc nội => Diệt tham nhũng để khỏi bóc lột quốc nội và tăng giá thành cạnh tranh quốc tế => Những điểm khả dĩ thỏa mãn tổng thể và căn bản cho Đình Công
Ưu tiên khuếch trương Nông nghiệp và Ngư nghiệp
Sau năm bức tường Bá Linh sụp đổ, tôi sang Varsovie và Moscou. Tôi gặp một Giáo sư Toán học tại Varsovie, Gs. CHỬ VĂN ĐÔNG. Giáo sư cùng đi với tôi sang Moscou thăm Dom 5 Cũ và Dom 5 Mới. Trong khi đàm đạo, Giáo sư nói rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói trước Quốc Hội gật rằng:“Những gì các nước làm không được, thì nước ta làm được. Năm tới, tôi hứa với dân Hà nội rằng mỗi buổi sáng, ai ai cũng được uống một CỐC SỮA TRÂU !“. Nhà nước CSVN chỉ huy Kinh tế không phải là vì cơm ăn áo mặc cho dân chúng, mà là cho vẻ vang chính trị của đảng CSVN. Họ muốn đốt mọi giai đoạn nền tảng cho đời sống Kinh tế. Tôi dám quả quyết với tất cả mọi ngưởi Việt Nam một chân lý rằng Dân chúng Việt Nam không thể bị chết đói với đồng lúa phì nhiêu của mình, với cá mắm dồi dào từ ngánh rạch đến trên 2000 cây số đi ra Biển Đông bắt cá tôm. Nước ta có GẠO, CÓ CÁ, CÓ MUỐI, thì Dân ta không thể chết đói được. Tại Thụy sĩ, tôi vô cùng đau buồn khi nghe tin Mẹ của tôi phải ăn bo-bo trên bờ ruộng lúa của đồng bằng sông Cửu Long. Những năm gần đây, người ta ca ngợi rằng Việt Nam đã có thanh bình, đà phát triển Kinh tế mỗi năm tăng 8%, nhưng đảng CSVN lại hô hào chương trình cứu đói giảm nghèo. Thật là nghịch lý vậy. Nhưng nghịch lý đã xẩy ra thực sự trên Đất Nước Việt Nam chỉ vì một chế độ chỉ lo chiêu bài công nghệ hoá phục vụ chế độ độc tài toàn trị. Người ta chỉ lo làm vẻ vang chế độ để bịp bợm Dân và Quốc tế cốt giữ lấy quyền hành cai trị. Đi vào vấn đề chuyên môn Kinh tế. Sản xuất là việc làm tăng giầu có cho Công ty hay Quốc gia. Việc sản xuất của Công ty hay Quốc gia tùy thuộc ba yếu tố:
Q = f ( K, L, t)
Q : Lượng sản xuất (Quantity); f: tùy thuộc (depends); K: Vốn (Capital); L: Nhân lực (Labour); t: Kỹ thuật (technology), Chính trị, Pháp lý hội nhập vào hai yếu tố chính là Vốn và Nhân lực.
Cái hướng đi của một nền Kinh tế Quốc gia tùy thuộc vào ba điều kiện vây quanh: (i) Điều kiện Địa lý thiên nhiên; (ii) Điều kiện Nhân lực; và (iii) Điều kiện Chính trị—Pháp lý, Văn hoá, Giáo dục, Tập quán... Như trên tôi vừa nói, dân chúng Việt Nam không thể nào chết đói vì (i) Điều kiện Địa lý thiên nhiên cung cấp Lúa Gạo, Hoa Trái với đồng bằng phì nhiêu và cung cấp Cá, Tôm... với sông rạch chằng chịt và Biển Đông chạy dài bao quanh. Về (ii) Điều kiện Nhân lực, Dân Việt Nam đã từ 4000 năm nay có khả năng khai thác hai nguồn lợi thiên nhiên này để sống còn no ấm. Dù bị Bắc phương ức hiếp, Dân Việt Nam đã chạy dài theo những cánh đồng bằng và ven theo bờ biển bởi vì thấy đó là bảo đảm cho Dạ Dầy của mình để sống còn, không bị chết đói.
Dân tộc Việt Nam, Lãnh thổ Việt Nam đã có hai Yếu tố dồi dào để sản xuất giầu có theo công thức của Kinh tế : Q = f(K,L,t). Việc sản xuất mang lại giầu có là tùy thuộc vào K (Vốn) và (L (Nhân lực). Nguồn vốn K của Việt Nam là Đồng Nội phì nhiêu và Sông Ngòi, Biển Cả đầy thủy sản. Hai nguồn vốn này có tính cách tái hồi vô tận không thể cạn được (ressources de Capital renouvelable, non epuisable). Nhân lực Việt Nam đã chuyên môn về Nông nghiệp và Ngư nghiệp từ bao ngàn năm. Vì vậy chúng tôi chủ trương rằng phải dành cho Việt Nam ưu tiên về khuếch trương Nông nghiệp và Ngư nghiệp. Dân chúng Việt Nam không cần phải ăn bo-bo, có cá lóc nướng cuốn bánh tráng để dân thoải mái, không phải nghe tiếng CSVN kêu than chống đói giảm nghèo quá tủi hổ. Khi đã no ấm do Nông nghiệp và Ngư nghiệp, Dân mới lạc quan, có sức khỏe nghĩ đến khuếch trương Công nghệ bán kiếm thêm, du lịch đây đó với đời. Về phương diện kiếm tài chánh cho Công nghệ hóa, trước tiên hãy tìm kiếm từ chính mình (ressources financieres internes), rồi tần tiện tích lũy đến tự lập tài chánh (autofinancement). Đó là nguyên tắc tối sơ của tài chánh. Đồng bằng Việt Nam và Sông ngòi Biển Cả Việt Nam là nguồn vốn tái hồi vô tận (ressources des capitaux renouvelables sans fin). Những hạt cây rơi xuống, không cần phải săn sóc, cũng mọc lên xanh um. Mỗi năm hai ba mùa lúa. Cá mang bầu tụ họp vào Vịnh Bắc Việt để đẻ con mỗi năm. Cá con lớn lên trôi xuống Phan Thiết, Cà Mâu để ngư phủ bắt. Tất cả là vốn tái hồi (Capital renouvelable) và là một trong những nguồn quan trọng để công nghệ hóa dần dần Đất Nước vậy (Autofinancement pour le Pays). Nếu biết tạo số vốn này, thì 31 năm rồi, Việt Nam đã có nguồn vốn tự lập khá vững chắc.
Công nghệ hoá từng chặng vững chắc theo mức vốn tự tạo và khả năng chuyên nghiệp hấp thụ
Điều kiện để công nghệ hóa vững chắc là phương tiện chuyên chở dễ dãi, có thị trường tiêu thụ, có vốn chủ động và nhân lực. Về phương tiện chuyên chở dễ dãi, Việt Nam có rất nhiều ưu điểm hơn biết bao những quốc gia khác. Nếu Trung Cộng hiện nay chỉ có khả năng khuếch trương công nghệ ở những thành phố ven biển (Villes cotieres), thì những thành phố của Việt Nam hầu như được coi là ven biển. Chỉ cần con đường giao thông dọc Bắc—Nam là đủ nối liền giao thông các thành phố nội địa và các thành phố này ra biển giao thông với quốc tế dễ dàng. Nói về Thị trường tiêu thụ, thì Việt Nam là nước đã có liên hệ lịch sử với hai cường quốc tư bản tiêu thụ : Pháp (qua đó là Liên Aâu) và Hoa kỳ. Người Việt Nam tỵ nạn trong hai khối tiêu thụ này là đầu cầu vô cùng quý giá cho việc phân phối hàng hóa cho hai khối. Chính là vấn đề Chính trị của chế độ hiện hành làm ngáng trở thị trường tiêu thụ hải ngoại. Việc vào Tổ chức Thương mại Hoàn cầu (WHO/OMC) mà không thay đổi thể chế có thể không có lợi bằng việc thay đổi thể chế mà chưa vào được WHO/OMC. Đối với nguồn vốn cho khuếch trương công nghệ, chúng ta phải luôn luôn giữ vững chủ trương nguồn vốn tự tạo (autofinancement) nếu chúng ta không muốn kéo dài kiếp làm thuê tùy thuộc ngoại lai khai thác về công nghệ. Như trên vừa trình bầy, Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam có khả năng của nguồn vốn tái hồi mỗi năm (Capital renouvelable annuel) cho một phần công nghệ khuếch trương từng chặng. Ngay cả đối với nguồn vốn nước ngoài khi cần, thì chúng ta cũng luôn phải ý thức rằng lúc cần như vậy thì đành chịu một tình trạng bị khai thác nào đó. Chúng ta có thể chấp nhận việc bị khai thác để vốn đầu tư nước ngoài có lợi nhuận rộng giữa giá bán ở những nước tiền tiến và giá thành quá hạ nơi chúng ta. Chúng ta phải luôn luôn nhấn mạnh một điều kiện bù trừ (condition compensatoire) cho tình trạng bị khai thác hiện tại bằng đòi hỏi việc tái đầu tư một phần lợi nhuận vào Việt Nam cho tương lai. Đây là sự hy sinh bị khai thác hiện tại cho tương lai khả năng vốn cho thế hệ con cháu. Những điều kiện về phương diện vốn như vừa trình bầy chỉ cho phép chúng ta khuếch trương công nghệ từng chặng. Không thể nhẩy vọt như mơ ước của CSVN để nhằm đánh bóng cho chính trị độc đảng của họ. Nói về khả năng Nhân lực, chúng ta cũng không nên quá phiêu lưu vào những công nghệ tân tiến nhất để chịu những rủi ro phá sản vì tài bất cập theo mơ ước. Xin đừng quá hồ hởi nói như Phạm Văn Đồng: “Những gì nước khác không làm được, thì VN làm được“. Hãy chú tâm vào những công nghệ sản xuất linh kiện và ráp nối để có kinh nghiệm học nghề thuần thục (Apprentissage). Về hai Yếu tố K và L trong công thức Q = f(K, L, t), thì chúng ta khuếch trương công nghệ từng chặng vững chắc vì điều kiện từ từ tạo Autofinancement mà mình làm chủ và có Apprentissage để mình có khả năng cạnh tranh thuần thục hơn người. Đó là việc khuếch trương công nghệ vững chắc chứ không phải mơ ước nhẩy vọt như CSVN khoác lác để dễ sa xuống hố mất cả chì lẫn chài và liên mồm than cứu đói giảm nghèo.
Vai trò Khối người Việt Hải ngoại tham dự Kinh tế Quốc nội
Không thể phủ nhận rằng người Việt tỵ nạn Hải ngoại không còn nhớ đến Quê Hương, trừ một số đông người Việt gốc Hoa nhiều khi có thái độ đối với Đất Nước đã cưu mang họ và đã cho họ lý do để được quyền tỵ nạn nhân danh Việt Nam, đã phát biểu ở nước ngoài rằng họ không còn nhớ đến Việt Nam. Khối người Việt tỵ nạn và con cháu học hành, làm ăn ở trên 70 quốc gia sẵn sàng hợp tác với Quốc nội trong việc phát triển Kinh tế Đất Nước với điều kiện là thể chế chính trị có Dân chủ thực sự, tôn trọng Nhân phẩm, Nhân quyền và Dân quyền. Khối người Việt này có những khả năng đóng góp rất lớn như sau: => Khả năng chất sám (Matìere grise), Yếu tố “t“: Đó là Yếu tố “t“ trong công thức sản xuất Quốc gia: Q = f(K, L, t), nghĩa là yếu tố Khoa học, Kỹ thuật (Technologie incorporée) làm tăng hiệu lực cho K (Vốn) và L (Nhân lực). Anh em trẻ Việt Nam học hành và thu thập rất giỏi Kỹ thuật, Khoa học tại những quốc gia tiền tiến này mà Nước Việt Nam không phải tiêu tốn một đồng nào. Họ là nguồn chất sám rất quan trọng đóng góp cho phát triển Quê Hương Việt Nam. => Khả năng Vốn và vận động Vốn nước ngoài, Yếu tố K: Vì vấn đề liên hệ gia đình còn ở Việt Nam và vì sự nhớ thương Quê Hương, mà khối người Việt tỵ nạn này đã cung cấp hàng năm cho Quê Hương số lượng ngoại tệ trung bình là 4 tỉ đo-la Mỹ. Tính từ 30 năm nay, thì số ngoại tệ (Vốn) từ khối người Việt tỵ nạn cho Việt Nam là 120 tỉ đo-la Mỹ. Nếu số vốn này không bị thất thoát, và được hướng về sản xuất, thì đó là một nguốn vốn từ nước ngoài quan trọng cho việc công nghệ hoá những hàng thông dụng dùng trong nước, những hàng linh kiện nhằm xuất cảng và những hàng may dệt cho các thị trường lớn Mỹ và Liên Aâu. Ngoài khả năng tự mang vốn về Việt Nam, khối người Việt này còn có khả năng kêu gọi vốn nước ngoài vì họ sống liền kề với những Công ty ngoại quốc. Công việc vận động vốn nước ngoài này của khối người Việt tỵ nạn đã bị làm khó dễ để ăn chận từ những người cầm quyền Việt Nam. Những Công ty Việt Nam ở nước ngoài dễ thảo luận việc liên doanh với những Công ty ngoại quốc hơn là những Công ty này vào Việt Nam để bị bắt buộc liên doanh hoặc qua môi giới của những Công ty quốc doanh tại Việt Nam. Đây là việc ngăn chặn rất quan trọng việc vận động vốn của khối người Việt tỵ nạn tại những Công ty nước ngoài. => Khả năng thương mại phân phối (Systeme de Distribution Commerciale): Khối người Việt sống tại 70 quốc gia trênThế giới là cái đầu cầu vô cùng quan trọng cho Hệ thống Phân phối Thương mại cho Việt Nam, nếu thể chế chính trị quốc nội có những điều kiện về Luật pháp, về Nhân quyền và Dân quyền mà khối nguời Việt Hải ngoại có thể chấp nhận hợp tác được. Khối người Việt tỵ nạn này đã có mọi điều kiện để làm đầu cầu cho Hệ thống Phân phối Thương mại ở nước ngoài. Họ đã có cơ sở, có khả năng ngoại ngữ giao dịch với khách hàng nước ngoài, có những liên hệ gần gũi với khách hàng của từng địa phương, và chính họ mang tinh thần muốn lựa chọn phân phối hàng của Việt Nam để đóng góp vào sự phát triển Quê Hương. Họ đã mang quốc tịch nước ngoài và được hưởng mọi điều kiện Luật pháp thương mại xuất nhập cảng và phân phối hàng hóa như một người bản xứ tại mỗi Quốc gia. Về mặt chuyên môn Kinh tế, Thương mại, nghĩa là bỏ ra một bên vấn đề Chính trị, thì nhà cầm quyền độc tài toàn trị Việt Nam đã chủ tâm đặt những trở ngại Kinh tế, Thương mại cho khối thương gia tỵ nạn làm việc đứng đắn. Cái trở ngại này đến từ tham nhũng thủ lợi từ giới cầm quyền. Dù Việt Nam, nếu nhập được vào WTO/OMC mà vẫn giữ hệ thống tham nhũng ở các cấp độ điều hành xuất cảng, thì hiệu quả cũng nhỏ nhoi mà thôi. Điều quan trọng của Tổ chức Thương mại Thế giới là hàng rào Quan thuế và giá cả Quan thuế. Dù những nước đã nhập WTO/OMC, họ vẫn có những quyền ưu tiên bảo vệ quyền lợi của riêng Quốc gia họ hoặc tìm cách xử dụng những biện pháp “không giá cả“ (Mesures non tarifaires) để tránh né những giá cả quan thuế công khai ký kết trong WTO/OMC (Tarifs douaniers contractuels dans WTO/OMC). Chính khối thương gia tỵ nạn nằm tại những Quốc gia này sẽ tìm cách cho Việt Nam hưởng những giá quan thuế đặc biệt (Tarifs douaniers spéciaux) của từng quốc gia và hưởng những biện pháp “không giá cả“ của mỗi quốc gia (Mesures non tarifaires). => Khả năng chống lại tài phiệt nước ngoài bóc lột lao động Việt Nam Người làm Kinh tế, Thương mại nhằm mục đích trước hết là tìm đủ mọi cách để gặt hái LỢI NHUẬN TỐI ĐA (Maximum du Bénéfice). Để có thể đạt lợi nhuận tối đa, họ phải tìm cách, một đàng bán hàng được giá cao, và sản xuất hàng với giá hạ ngần nào có thể. Những Công ty Mẹ ở tại những nước đã Kỹ nghệ hóa và đầu tư sản xuất ở Việt Nam hay những nước chưa mở mang. Họ bán hàng tại những nước này như Mỹ và Liên Aâu, Nhật, Nam Hàn... với giá cao vì mức sống cao. Họ tìm cách sản xuất hàng tại những nước chưa mở mang để có giá thành hạ ngần nào có thể. Trong việc quản trị Xí nghiệp sản xuất, vấn đề quan trọng là quản trị giá thành của hàng hóa. Nếu là những hàng cao cấp và cần Kỹ thuật cao, Công ty phải lựa chọn bỏ vốn dài hạn vào Kỹ thuật. Nhưng nếu là hàng thông dụng và linh kiện, thì họ chỉ bỏ ít vốn ngắn hạn vào cơ sở sản xuất Kỹ thuật, mà tận dụng Nhân lực hạ giá. Đó là việc lựa chọn quản trị giữa K và L trong công thức sản xuất Q = f(K, L, t). Tại Việt Nam, với tình trạng chính trị chưa thể tin cậy, những Công ty đầu tư sản xuất tận dụng Nhân lực hạ giá (L) để sản xuất linh kiện và hàng thông dụng. Họ cấu kết với Nhà Nước độc tài (có thể bằng tham nhũng) để Nhà Nước này bán rẻ Nhân công làm việc trong điều kiện “vô nhân đạo“ cho họ sản xuất hàng xuất khẩu bán tại những nước có giá bán cao. Trong Kinh tế, vấn đề điều kiện làm việc vô nhân đạo và lương tối thiểu bóc lột đã được đặt ra khi có sự cấu kết giữa quyền lực chính trị của một nước với những Công ty nước ngoài chỉ nghĩ đến lợi nhuận tối đa. Nếu Nhà Nước lại xử dụng Nghiệp đoàn Lao động của Nhà Nước để đứng về phe Chủ, thì việc bóc lột càng vô nhân đạo hơn vì Công nhân không còn tiếng nói. Chính về điểm này mà cần có một Liên đoàn Công nhân Độc lập. Những Nghiệp đoàn Công nhân độc lập này có thể có Đại diện làm việc tại nước ngoài tận nơi Công ty Mẹ và tại quốc gia của Công ty Mẹ, thì việc chống bóc lột vô nhân đạo dễ thành công hơn. Khối người Việt tỵ nạn sãn sàng có những Đại diện cho Liên đoàn Công nhân Độc lập của Việt Nam.
Diệt tham nhũng để khỏi bóc lột quốc nội và tăng giá thành cạnh tranh quốc tế
Tham nhũng là kẻ thù của phát triển Kinh tế, Thương mại trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự và biết tôn trọng đứng đắn Luật pháp Kinh tế, Thương mại. Tại những nước tiền tiến, mỗi khi một Xí nghiệp Nhà nước mất yếu tố cạnh tranh, thì người ta nghĩ ngay đến giải quyết Tư nhân hóa Xí nghiệp ấy (Privatisation de l’Entreprise). Điều đó có nghĩa là khả năng cạnh tranh của Công ty tư nhân cao hơn khả năng cạnh tranh của Công ty quốc doanh. Cái khả năng cạnh tranh của Công ty quốc doanh kém chỉ vì có sự xen lấn của quyền lực Nhà Nước vào Kinh tế, Thương mại. Tại Việt Nam, Kinh tế, Thương mại vẫn còn nằm trong hệ thống chỉ huy của quyền lực chính trị độc tài toàn trị, thì cái khả năng cạnh tranh Kinh tế, Thương mại phải ở mức độ thấp. Khả năng cạnh tranh phải dựa trên hai phương diện: Phẩm chất hàng hóa và Giá thành hàng hóa. “Cha chung không ai khóc“. Xí nghiệp thuộc Nhà Nước. Nhà Nước là chung, thì khi quản trị, cần gì phải khóc cho phẩm chất hàng hóa của Xí nghiệp, cần gì phải bù đầu nát óc như Tư nhân mà lo chu đáo phẩm chất hàng làm ra. Về phương diện Giá thành hàng hóa, yếu đó chính yếu của cạnh tranh, thì Công ty quốc doanh không thể căn cơ chi tiêu như Tư nhân bởi lẽ những người quản trị Công ty Nhà nước tiêu tiền chùa của Nhà Nước, trong khi ấy Tư nhân tiêu tiền của chính họ, nên họ phải chắt bóp căn cơ hơn. Đây là việc LÃNG PHÍ của các Công ty Nhà Nước khiến Giá thành tăng lên, mất một phần tính cách cạnh tranh. Đối với Công ty Tư nhân, nếu lãng phí giảm, thì lại bị cái nạn THAM NHŨNG của quyền Chính trị từ mọi cấp. Khi phải cho Tham nhũng, thì Tư nhân không lấy tiền túi riêng của mình ra mà cho. Tư nhân phải tìm mọi cách bù đắp Tham nhũng bằng giảm chi tiêu khác (augmentation de corruption = baisse d’autres dépenses) để giữ Gía thành cạnh tranh hoặc buộc lòng phải cho vào chi tiêu (augmentation de corruption = imputation au prix de revient) làm tăng Giá thành hàng hóa. Cái cách thứ nhất, nghĩa là giảm chi tiêu khác vì tham nhũng, được áp dụng ở Việt Nam. Xí nghiệp tư hay Công ty nước ngoài, khi phải cho THAM NHŨNG, đã tìm hết cách bắt Công nhân phải chịu cái chi tiêu tham nhũng này. Việc làm này rất dễ bởi lẽ kẻ nhận tham nhũng lại có toàn quyền lực bắt Công nhân phải chấp nhận lương chết đói, xử dụng chính Công đoàn Lao công Nhà Nước để giữ trật tự trong các Xí nghiệp, xử dụng khủng bố, đe dọa, đàn áp để khóa miệng Công nhân không được than vãn. Tóm lại, kẻ có toàn quyền lực mà ngồi cạnh đống tiền, thì dễ LÃNG PHÍ và ĂN CẮP. Kẻ có toàn quyền đòi và nhận THAM NHŨNG khiến hậu quả: (i) một là phải bóc lột Nhân công; đây là lý do chính của Đình Công thuộc Quốc nội; (ii) hai là phải tính vào Giá thành hàng hóa khiến mất tính cách cạnh tranh trong Thị trường thương mại Quốc tế; đây là lý do Đình Công thuộc phạm vi Quốc tế.
Những điểm khả dĩ thỏa mãn tổng thể và căn bản cho Đình Công
Chúng tôi luôn luôn khẳng định rằng giải quyết của Nhà Nước tăng 40% lương tối thiểu chỉ là một giải quyết vá víu mang nặng tính cách chính trị nhất thời. Những điểm trình bầy ở những phần trên đây cho thấy rằng những lý do đình công thuộc Quốc nội và những lý do liên hệ đến việc cạnh tranh Kinh tế, Thương mại Quốc tế vẫn còn tồn tại. Như vậy Đình Công chưa chấm dứt được bằng giải quyết vá víu, rất phiến diện và mang nặng tính chất chính trị. Hãy nhìn hiệu quả của việc tăng lương tối thiểu 40% này. Khi Nhà Nước lo sợ hậu quả chính trị của đình công, đã đơn phương tuyên bố tăng lương tối thiểu 40%. Những Công ty nước ngoài đã phản ứng liền, thậm chí còn đe dọa Nhà Nước Việt Nam là họ có thể rút vốn đầu tư khỏi Việt Nam. Đó chỉ là phản ứng tức thời cho việc tăng 40% đơn phương tuyên bố của Nhà Nước VN trước đe dọa hậu quả chính trị từ đình công. Nhưng tất nhiên tài phiệt nước ngoài sẽ tìm cách giải quyết việc tăng 40% này: => Họ sẽ giảm những chi tiêu khác mà công nhân phải chịu: tăng giờ làm việc, giảm phụ cấp, giảm phần ăn... Họ làm như vậy để giữ nguyên Giá thành cạnh tranh quốc tế. => Nếu thực sự họ cho việc tăng 40% này vào Giá thành hàng hóa, thì khả năng cạnh tranh Quốc tế của họ bị giảm đi. Dầu sao mức rộng của Lợi Nhuận của họ vẫn còn khả năng chịu đựng được việc kém đi một phần khả năng cạnh tranh này.
Chúng tôi muốn nói đến những giải quyết tổng thể và căn bản cho vấn đề đình công hay đúng hơn cho Thị trường Nhân Công Việt Nam. Những giải quyết tổng thể và căn bản này phải căn cứ trên tất cả những vấn đề mà chúng tôi đã trình bầy ở các đoạn trên đây. Những vấn đề này liên hệ mật thiết với nhau: @ Ưu tiên phát triển Nông nghiệp và Ngư nghiệp Một số đông những Công nhân đến từ giới Nông nghiệp. Họ trở thành Công nhân, nhưng đồng lương của họ phải dành để bảo trợ cuộc sống gia đình còn ở Nông thôn. Khi Nông nghgiệp và Ngư nghiệp phát triển và bảo đảm cho họ và gia đình họ không bị nghèo khổ, chết đói, thì họ có thế mạnh thương thảo trên Thị trường Nhân lực đối với Chủ cấu kết với Quyền lực chính trị bắt ép họ. @ Khả năng tự tạo vốn độc lập của Việt Nam trong công nghệ hóa Chúng tôi đã trình bầy rằng Việt Nam có những nguồn vốn tái lập hàng năm (Ressources des Capitaux renouvelables), đó là Nông nghiệp và Ngư nghiệp: những mùa lúa, hoa trái và nguồn thủy sản sông ngòi và Biển Đông. Nông nghiệp và Ngư nghiệp phát triển sẽ cung cấp cho việc công nghệ hóa từng chặng vững chắc cho những hàng thông dụng trong nước và những linh kiện xuất cảng. Việc công nghệ hóa từng chặng này không cần vốn khổng lồ và dài hạn. Số vốn đầu tư trong những công nghệ này mau mắn thu hồi lại (Investissements récupérables à court terme). Đối với những Công ty nước ngoài đầu tư, Công nhân có thể chấp nhận mức lương tương đối hạ để thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng yêu cầu điều kiện các Công ty ấy tái đầu tư một phần Lợi Nhuận ở Việt Nam. Sở hữu chủ của việc tái đầu tư này vẫn là Công ty nước ngoài, nhưng hiệu quả là cho tương lai dài hạn cho chính Công nhân và con cháu công nhân. Như vậy Công nhân có thể hy sinh tương đối ở đoản hạn để giữ thế cạnh tranh quốc tế cho quyền lợi Kinh tế dài hạn của chính họ và con cháu họ. Đây là việc rất quan trọng. Đừng để những Công ty nước ngoài bóc lột Công nhân để có Lợi nhuận lớn và mang tất cả Lợi nhuận ấy đi đầu tư nước khác. @ Tạo điều kiện hợp tác của Khối người Việt Hải ngoại Chúng tôi đã trình bầy ở trên rằng khối người Việt Hải ngoại là nguồn chất sám, có khả năng cung cấp vốn và kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài, là đầu cầu hữu hiệu cho Hệ thống Phân phối hàng hóa Việt Nam. Nước Do Thái sống giữa thù địch ở Trung Đông, không có những điều kiện địa lý tự nhiên cho phát triển Kinh tế, nhưng đã phát triển được và giữ vững Kinh tế, đó là nhờ khối Dân Do thái sống ở nước ngoài. Sau Dân Do Thái, người Việt Nam là Dân tộc cũng đi tỵ nạn trên 70 quốc gia. Xử dụng được khối người Việt Hải ngoại là làm tăng thêm phát triển Kinh tế, Thương mại của Việt Nam. Điều kiện để có thể xử dụng được khối người Việt Hải ngoại là vấn đề Chính trị. CSVN cố thủ giữ độc quyền cai trị và do đó loại trừ sự đóng góp hữu hiệu của khối người Việt tỵ nạn vào sự phát triển Kinh tế Đất Nườc. Chỉ cần một điều kiện là đảng CSVN từ bỏ chế độ độc tài toàn trị, khối người Việt Hải ngoại sẵn sàng đem khả năng mình vào việc phục vụ phát triển Kinh tế của Quê Hương.Việc phát triển Kinh tế tất nhiên là giải quyết tổng thể và căn bản nhất cho Đình Công. @ Diệt Lãng phí và Tham nhũng Chúng tôi không cần nói rằng Lãng phí và Tham nhũng là kẻ thù của Luân lý, mà nhất định nói rằng hai thứ đó chính yếu là Kẻ thù của Kinh tế Tự do và Thị trường. Không ai lấy tiền túi riêng của mình ra để Lãng phí và cho Tham nhũng. Những Nhà đầu tư vào Kinh tế đều tìm cách tính Lãng phí và Tham nhũng vào chi tiêu Xí nghiệp, nghĩa là vào Giá thành của hàng hóa (Imputation des gaspillages et des corruptions dans les calculs des Prix de Revient des produits). Đây là việc làm tăng Giá thành hàng hóa và làm mất khả năng cạnh tranh thương mại Quốc tế. Nếu các Xi nghiệp muốn giữ khả năng cạnh tranh quốc tế, nghĩa là giữ nguyên Giá thành sản xuất, thì buộc lòng họ phải quay lại đổ Lãng phí và Tham nhũng trên đầu Nhân công. Phải diệt Lãng phí và Tham nhũng. Đó là giải quyết quan trọng hàng đầu trong những giải quyết tổng thể và căn bản cho Đình Công. Lãng phí và Tham nhũng là con đẻ của tất cả những chế độ độc tài toàn trị. Không thể lấy lời khuyên tinh thần để kêu gọi bỏ lãng phí và tham nhũng bởi vì Thánh nhân có toàn quyền sinh sát mà ngồi bên đống tiền, thì cũng sinh lòng trắc ẩn dấu diếm tiền bạc, ăn cắp ăn xén. Phải có cơ cấu cho những ai có tiền, được quyền kiểm soát, phanh phui những ai làm lãng phí và đòi tham nhũng, nghĩa là phải có Dân chủ để Dân có quyền kiểm soát và chế tài những kẻ lãng phí và ăn tham nhũng vào tiền bạc của Quốc gia. Tổ chức chính trị phải có tối thiểu lưỡng đảng để kiểm soát tiền bạc lãng phí và tham nhũng. Phải có Tự do Ngôn luận để tư nhân có thể la lớn lên khi kẻ có quyền chính trị ăn cướp tiền của họ.
Trong việc đấu tranh hiện nay của Công Nhân qua những cuộc ĐÌNH CÔNG, Công nhân yêu cầu rõ rệt là phải cho họ có LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP để những người Đại diện của họ có thể đấu tranh chống lại việc tham nhũng của cường quyền cấu kết với thế lực tài phiệt ngoại lai mà bóc lột họ. Việc đòi hỏi này là hoàn toàn chính đáng vì đó là thuộc quyền DẠ DẦY, quyền quan trọng nhất trong danh sách Nhân quyền. Đó là giải quyết cấp bách để hợp tác đề nghị những giải quyết tiếp theo cho ĐÌNH CÔNG vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
(7) NỀN KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐÍCH THỰC ĐÒI PHẢI LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ CSVN Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế
Bài này là bài thứ 7 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 7: Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi phải lật đổ chế độ CSVN. Milton Friedman, nhà tư tưởng kinh tế hàng đầu của Hoa Kỳ, Giải Nobel Kinh tế, đã tuyên bố với nữ phóng viên Nathan Gardels trong một cuộc Phỏng vấn mới đây đăng trên báo New Perpectives:“ Không thể nào phát triển kinh tế tư hữu đồng thời với hệ thống chính trị độc đoán“
Khi viết về đầu đề hôm nay liên quan đến đình công, tôi hoàn toàn đứng ở phương diện Kinh tế mà phân tích. Kết luận của Kinh tế là đòi buộc phải lật đổ chế độ chính trị độc tài toàn trị của đảng CSVN nếu muốn phát triển Kinh tế Đất Nước và tất nhiên muốn giải quyết nạn đói nghèo của Dân chúng và việc Đình Công của Công nhân.
Chúng tôi nói tới những điểm sau đây: => Tư hữu là quyền xử dụng tự do những phương tiện sản xuất => Quyền lực chính trị không được can thiệp trực tiếp và Kinh tế tư nhân => Quyền lực độc tài là nguồn của lãng phí và tham nhũng => Kinh tế Mafia gia đình và Kinh tế Mafia toàn đảng
Tư hữu là quyền xử dụng tự do những phương tiện sản xuất
TƯ HỮU là định đề căn bản của nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Từ định đề này, người ta đặt những nguyên tắc cho những hoạt động Kinh tế tư nhân. Tư hữu là quyền tự nhiên của mọi sinh vật tìm cách kiếm ăn nuôi sống thân thể mình. Phương tiện sản xuất hay nói nôm na Phương tiện kiếm sống vì thuộc tư hữu, nên cá nhân sở hữu có quyền TỰ DO xử dụng những Phương tiện ấy. Thị trường là nơi trao đổi giữa những Phương tiện sản xuất và những kết quả của sản xuất. Khi mà quyền lực chính trị công cộng tước quyền tư hữu, quyền tự do xử dụng Phương tiện kiếm sống và tước đi quyền tự do trao đổi trên thị trường, thì không còn nền Kinh tế gọi là Tự do và Thị trường nữa. Nền Kinh tế chỉ huy bằng quyền lực chính trị bởi các đảng Cộng sản độc tài trên thế giới đã tước đoạt quyền tư hữu và quyền trao đổi thương mại trên thị trường. Hậu quả là nền Kinh tế chỉ huy bằng độc tài chính trị đã thất bại, nghĩa là Dân chúng đói nghèo. Lý do chính yếu thất bại của nền Kinh tế chỉ huy bởi quyền lực chính trị là đã diệt tính tự nhiên kích thích làm việc của những người làm Kinh tế. Tính tự nhiên là ai cũng ham tích lũy tư hữu để bảo đảm cho sự sống còn thân thể của mình. Những con vật cũng biết làm như vậy. Tước đoạt tư hữu là đi ngược với kích thích làm việc. Làm việc để cho vào của chung để người khác hưởng, thì có người chửi tục:“cố gắng làm con mẹ gì để mấy thằng lười hưởng“. Nền Kinh tế chỉ huy do quyền lực chính trị độc đoán bắt ép đã làm giảm hiệu năng Kinh tế cá nhân, do đó đi dần đến nghèo khó. Khi tuyên bố cho Kinh tế Tự do và Thị trường mà vẫn giữ quyền lực chính trị độc đoán trên Kinh tế, tức là điều trái ngược. Câu nói của Milton FRIEDMAN là nhắc lại chân lý này, nhắc lại sự trái ngược khi tuyên bố nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà vẫn giữ khư khư lấy quyền lực chính trị độc đoán toàn trị:“ Không thể nào phát triển kinh tế tư hữu đồng thời với hệ thống chính trị độc đoán“
Quyền lực chính trị không được can thiệp trực tiếp và Kinh tế tư nhân
Từ những Oâng tổ của nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhóm Kinh tế gia cổ điển Anh quốc như Adam Smith, David Ricardo, Stuart Mill..., đã đặt nguyên tắc cho quyền lực chính trị rằng họ chỉ là Cảnh sát và Trung lập đối với những hoạt động Kinh tế giữa các tư nhân (Etat Gendarme et Etat Neutre). Khi ý tưởng Xã hội ở thế kỷ 19 lớn mạnh, những nhà Kinh tế Tự do và Thị trường bị ảnh hưởng, nhưng cũng chỉ cho Nhà Nước “can thiệp“ vào Kinh tế như một thành phần giống các khối tư nhân dưới Luật Cung—Cầu cùng giống các thành phần tư nhân khác. Ý tưởng can thiệp bằng Cung—Cầu dần dần cũng đã bị công kích bởi vì quyền lực chính trị dễ lạm dụng để làm áp lực đối với các hoạt động Kinh tế tư nhân. Những nhà Kinh tế hiện nay đều công nhận rằng mỗi khi Nhà Nước can thiệp trực tiếp vào Kinh tế, đều gây ra những tốn kém xã hội (couts sociaux) và Chợ Đen, Chợ Đỏ... mà chính giới Kinh tế tư nhân, Dân chúng phải è cổ ra mà chịu. Phải để cho những hoạt động Kinh tế được quyền tự điều chỉnh giữa tư nhân, thì sự phát triển mới cân bằng. Một tỉ dụ mà những ai ở Đông Aâu và Nga đều biết. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, Nhà Nước vẫn bị ảnh hưởng bởi những ý tưởng Kinh tế chỉ huy cũ, đã can thiệp vào Thị trường để đặt giá bán “trần nhà“ (prix plafond), viện cớ phải bao vệ đời sống của đại đa số quần chúng. Nhưng chính đại đa số quần chúng này phải xếp hàng dài từng cây số để đợi mua thịt chẳng hạn. Thịt càng khan hiếm bởi vì chủ hàng thịt bán thịt Chợ Đen với giá cao, chứ không muốn bán giá “trần nhà“ (prix plafond) do Nhà Nước can thiệp chỉ định. Tổng thống ELSINE đã lấy một quyết định là để giá cả tự do mà Luật Cung—Cầu quyết định. Giá tăng lên cao vọt. Những thương gia Tây Aâu chuyển thịt sang bán vì ham giá bán caqo. Giá từ từ hạ xuống và quần chúng khỏi phải xếp hàng đợi từng tiếng đồng hồ.
Tại Việt Nam, mặc dầu Nhà Nước đã tuyên bố Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng quyền lực chính trị vẫn độc đoán và tìm mọi cách trực tiếp can thiệp vào đời sống Kinh tế. Nhà Nước vẫn độc tài toàn trị, chỉ huy Kinh tế. Công đoàn Công nhân do Nhà Nước nắm giữ, đã can thiệp ngay vào Thị trường Nhân lực tận những Xí nghiệp. Đó là một tỉ dụ. Những Công ty quốc doanh vẫn được quyền lực chính trị chủ động điều hành áp lực ưu tiên lên giới tư doanh.
Phải bỏ cái thể chế can thiệp này, nếu đã chấp nhận một nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự.
Quyền lực độc tài là nguồn của lãng phí và tham nhũng
Lãng phí và tham nhũng là kẻ thù của phát triển Kinh tế, dù là Kinh tế chỉ huy hay là Kinh tế Tự do và Thị trường. Chúng tôi đã phân tích nhiều trong bài trước về điểm này, nên chỉ nhắc ở đây ít điều tóm tắt. Chúng tôi xin nói rằng một Thánh nhân mà có toàn quyền đàn áp, bịt miệng Dân, thì khi ngồi cạnh đống tiền, cũng sinh lòng trắc ẩn mà ăn cướp ăn cắp, cất dấu của chung cho riêng mình. Tham nhũng đâu đâu cũng có. Cộng sản không thể gợi “tinh thần Cách Mạng“ mà diệt lãng phí, tham nhũng được. Cái lòng ham tư hữu của cải ở chính trong bụng cái người có“tinh thần Cách Mạng“ ấy. Cái lòng ham tư hữu thắng cái tinh thần xa xưa kia và đã sũp đổ rồi. Muốn làm giảm lãng phí và tham nhũng, thì phải phân quyền để người khác cũng có quyền tố cáo ngăn chận mới được. Độc tài, độc đảng, toàn quyền là điều kiện làm con vi trùng lãng phí và tham nhũng nẩy sinh và càng ngày càn lớn lên. Muốn làm cho con vi trùng ấy yếu đi, thì phải bỏ độc tài, bỏ độc đảng, bỏ toàn quyền thống trị. Phải có quyền đối lập, quyền tự do ngôn luận mới làm cho con vi trùng lãng phì và tham nhũng rụt vòi đi hoặc nhả mồi như con đỉa phải vôi. Tóm lại phải bỏ chế độ độc tài, độc đảng và toàn trị hiện nay.
Kinh tế Mafia gia đình và Kinh tế Mafia đảng
Khi Nhà Nước CSVN tuyên bố Kinh tế Tự do và Thị trường, mà họ vẫn giữ độc quyền chính trị, thì nền Kinh tế ấy dần dần chuyển sang nền Kinh tế Mafia gia đình. Những ccon ông cháu cha của quyền độc tài được đặc quyền hưởng nền Kinh tế tuyên bố ấy để chiếm tư hữu cho mình. Việc dành miếng ăn lớn cho con cháu của quyền lực này đã tạo những ghen tị, đối kháng giữa những người cao cấp trong đảng. Có những người đã là đảng viên cao cấp, hiện nay đã về hưu, không có thể có quyền cầm ô dù che chở cho con cháu nữa. Trong khi ấy, một số người khác đang nắm trọn quyền lực, dùng ô dù che chở cho con cháu rút tỉa công hữu cho tư hữu Mafia gia đình. Đây là nguồn chính yếu cho sự đố kỵ, tố cáo nhau giữa những người đã là đảng viên cao cấp. Chưa chắc việc thay đổi Ý thức hệ là nguồn công kích nhau giữa những đảng viên cao cấp. Tôi đã có dịp nói chuyện với một đảng viên cao cấp. Tôi nói rằng CSVN giữ quyền để dễ ăn tham nhũng và những nhóm trong đảng bầu cho nhau để giữ quyền cho nhóm. Người đảng viên này đã phản đối tôi, nói: “Oâng hiểu sai rồi. Phải nói ngược lại mới đúng, nghĩa là ông hiểu phải bầu cho nhau để GIỮ QUYỀN mà ăn THAM NHŨNG, nhưng sự thực vì CÙNG ĂN THAM NHŨNG, nên phải bầu cho nhau để GĨƯ QUYỀN mà bịt miệng kẻ khác. Vậy phải tham nhũng mới được bầu có quyền, chứ không phải có quyền mới ăn tham nhũng“.
Đại Hội đảng kỳ X mới cho phép mọi đảng viên được làm kinh tế tư nhân. Tại sao bây giờ mới quyết định như vậy ? Lý do chính của việc quyết định này là Ban Điều hành cao cấp của đảng đã ăn tham nhũng kếch xù, còn dùng ô dù che chở cho con cháu của mình ăn cướp của công làm tư hữu Kinh tế Mafia gia đình. Đảng viên cấp dưới thấy đó là bất công trong đảng. Người tham nhũng kếch xù, kẻ được ít. Những người cao cấp sợ sự ghen tị này sẽ sinh ra loạn trong đảng, nên phải quyết định cho mọi đảng viên làm kinh tế, nghĩa là mọi đảng viên có quyền can thiệp vào đời sống kinh tế tư nhân với quyền lực của đảng để mà tham nhũng ở mọi cấp. Aên tham nhũng thì phải ăn chung từ trên xuống dưới, thì mới có thể giữ được đoàn kết của đảng. Có ăn tham nhũng, thì mới hè nhau bầu quyyền cho nhau để bị miệng Dân. Với quyết định cho mọi đảng viên làm kinh tế, thì Kinh tế Tự do và Thị trường, từ Kinh tế Mafia gia đình, mới có thể chuyển sang Kinh tế Mafia toàn đảng được.
Những đoạn trên chỉ bàn về Kinh tế. Nếu muốn có một nền Kinh tế Tự do và Thị trường đứng đắn, thì phải từ bỏ quyền chính trị độc tài. Kinh tế gia trứ danh Milton FRIEDMAN nói lên chân lý:“ Không thể nào phát triển kinh tế tư hữu đồng thời với hệ thống chính trị độc đoán“
Plải lật đổ chế độ CSVN độc tài toàn trị vì nhu cầu phát triển Kinh tế Đất Nước.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
(8)MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ DÂN CHỦ CHO NỀN KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHUC LIÊN, Kinh tế
Bài này là bài thứ 8 trong loạt bài chủ đề về Đình Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động. Chủ đề 8 : Môi trường Chính trị—Pháp lý Dân chủ cho nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Hướng phát triển Kinh tế của một Nước tùy thuộc ba Môi trường: Môi trường Địa lý thiên nhiên, Môi trường Nhân sự và Môi trường Chính trị—Pháp lý. Nếu hai Môi trường đầu cò nhiều khó khăn thay đổi, thì Môi trường thứ ba tùy thuộc ở đường lối Tổ chức, Quản trị của một Quốc gia. Khi chấp nhận một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, thì phải quyết định về Tổ chức và Quản trị Quốc gia cho phù họp, chứ không thể lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia. Chúng tôi bàn về những điểm sau đây: => Những điểm căn yếu của nền Kinh tế Tự do và Thị trường => Chính trị: Đường lối Tổ chức vá Quản trị Quốc gia => Luật pháp: Bảo vệ những hoạt động Kinh tế
Những điểm căn yếu của nền Kinh tế Tự do và Thị trường
Hãy nhìn Lịch sử tiến triển của những nền Kinh tế. Khi còn sống lẻ loi kiếm ăn bằng hái cây rừng hoặc săn bắn, con người còn tó tự do giữ tư hữu, tự do quyết định hái cây rừng và săn bắn. Nhưng khi định cư và sống với nhau thành Cộng đồng, thành Quốc gia, thì có kẻ nắm quyền quản trị Cộng đồng hoặc Quốc gia. Những kẻ có quyền này bắt đầu tước hữu tư nhân. Lịch sử nhân loại dần dần tiến vào một nền Kinh tế mà những kết quả làm việc thuộc về những kẻ có quyền lực. Thậm chí cả con người làm việc cũng thuộc về kẻ nắm quyền. Chúng ta đứng trước một nền Kinh tế nô lệ. Con người làm việc kiếm phương tiện nuôi thân xác bị đồng hóa với gia súc. Người nắm quyền lực có quyền vứt bỏ, bán buôn chính con người lao động chân tay. Thời Kinh tế nô lệ cổ Hy Lạp và thời Kinh tế nô lệ Đế quốc La Mã. Văn hóa Ki tô giáo mạnh dần tại Aâu châu làm cho chế độ nô lệ giảm dần đi. Nhưng dân chúng lao động vẫn được coi là thuộc quyền Vua, Chúa. Giới làm Kinh tế vẫn bị coi rẻ sánh với giới quyền lực Vua, Chúa. Đến thời các Lãnh Chúa chia đất đai, xây lâu đài và đánh nhau, giới làm Kinh tế bắt đầu thu gom của cải riêng. Nhưng để có thể xây lâu đài và đi đánh nhau, các Vua, Chúa cần phải có tiền bạc. Giới tư bản (Classe bourgeoise) bắt đầu được đánh giá cao. Thậm chí Vua, Chúa còn bán tước hiệu Quý tộc cho giới tư bản này. Giới làm Kinh tế, từ vị trí nô lệ bị khinh chê, tiến lên vị trí được quý trọng vì họ có tư bản (tư sản). Chúng ta bắt đầu bước vào giai đoạn đầu của nền Kinh tế tư doanh và có quyền tích lũy tư sản. Khi những phát minh Khoa học và Kỹ thuật như Máy Hơi Nước chẳng hạn được áp dụng vào sản xuất Kinh tế, chúng ta bước vào cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ Anh quốc. Các nhà Kinh tế bắt đầu đặt ranh giới giữa quyền Chính trị và quyền làm Kinh tế tư nhân gọi là nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Ba ý niệm căn yếu sau đây được ngay cả quyền lực Chính trị chấp nhận cho nền Kinh tế Tự do và Thị trường: => Tôn trọng triệt để quyền TƯ HỮU (Propríeté privée) những phương tiện sản xuất và những kết quả thu hoạch từ hoạt động Kinh tế. => Vì là tư hữu, nên tư nhân có TỰ DO KINH DOANH(Libre entreprise) xử dụng tư hữu ấy cho việc hoạt động Kinh tế. => Tư nhân hoạt động trong lãnh vực mà họ có khả năng nhất. Trao đổi những khả năng hạng nhất của tư nhân với nhau, đó là phát triển Kinh tế Cộng đồng ở mức độ tối cao. Để gặt hái mức độ tối cao của Kinh tế Cộng đồng, tư nhân phải có quyền TỰ DO TRAO ĐỔI SẢN PHẨM (Libre Echange) ở Thị trường, nơi gặp gỡ Cung và Cầu.
Chính trị: Tổ chức và Đường lối Quản trị Quốc gia
Đời sống chung có những va chạm. Vì lòng tham luôn luôn có ở mỗi cá nhân, nên khi tư nhân hoạt động Kinh tế, có những lạm dụng bất công. Cạnh tranh phải có giữa tư nhân làm kinh tế, nhưng kèn cựa bất chính phải được giải quyết công bằng và phải bị chế tài. Có những lãnh vực thuộc Cộng đồng mà tư nhân khó lòng đảm trách như Quốc phòng, Trật tự Dân sự, Giáo dục công cộng... Những việc trên đây đòi hỏi một Tổ chức Quản trị chung gọi là quyền lực Chính trị. Cách thức Tổ chức quyền lực Chính trị ra sao là do những cá nhân của Cộng đồng quyết định. Cũng vậy, quyền lực Chính trị đề nghị đường lối Quản trị cũng phải được Dân thẩm định. Tóm lại việc quyết định về Tổ chức và Đường lối Quản trị Quốc gia trong những phạm vi vừa nói ở đoạn đầu của phần này phải do mọi tư nhân thuộc Cộng đồng quyết định theo NGUYÊN TẮC DÂN CHỦ. Nhưng đối với những hoạt động thuộc lãnh vực Kinh tế tư nhân, quyền lực Chính trị phải để tư nhân giải quyết với nhau. Cá nhân có quyền TỰ DO KINH DOANH và TỰ DO TRAO ĐỔI ở Thị trường. Nhà Nước không được quyền trực tiếp can thiệp vào khi không có những vi phạm tự do giữa các tư nhân mà không thể giải quyết giữa họ. Những nhà Kinh tế Tự do và Thị trường thuần túy đã chủ trương dứt khoát rằng đối với lãnh vực hoạt động Kinh tế, quyền lực Chính trị chỉ là Nhà Nước Trung Lập (Etat neutre) hoặc là Nhà Nước Cảnh sát (Etat Gendarme). Cảnh sát không được tự tiện can thiệp vào đời sống tư nhân khi mà tư nhân giữ đúng luật pháp. Cuối thế kỷ XIX, vì trào lưu ý tưởng Xã hội được đẩy lên cao độ, nên một số nhà Kinh tế Tự do và Thị trường đã cho quyền can thiệp của Nhà Nước vào phạm vi Kinh tế, nhưng CHỈ NHƯ MỘT ĐƠN VỊ KINH TẾ QUA NGẢ CUNG VÀ CẦU mà thôi. Dầu sao các nhà Kinh tế đều chú thích rằng mỗi khi có sự can thiệp của Nhà Nước, thì luôn luôn làm tăng chi phí xã hội (couts sociaux) và làm phát sinh Chợ Đen, Chợ Đỏ.
Luật pháp: Bảo vệ những hoạt động Kinh tế
Tất nhiên ngay Tổ chức và Đường lối quản trị của quyền lực Chính trị cũng phải được Dân chấp thuận theo nguyên tắc Dân chủ, huống chi là Luật pháp có tính cách lâu dài qua những thay đổi quyền lực Chính trị. Luật pháp được Dân quyết định cho nhiều phạm vị của cuộc sống chung Tập thể. Tuy nhiên ở đây, chúng tôi chỉ chú trọng đến Luật pháp liên hệ đến phạm vi hoạt động Kinh tế của tư nhân. Như ở phần trên đề cập, chúng tôi đã trình bầy ba điểm căn yếu của nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Luật pháp về ba điểm căn yếu này phải được quy định tĩ mỉ, không phải chỉ nhằm chế tài những vi phạm, mà quan trọng hơn cả là tạo một Môi trường thuận tiện, khuyến khích và nâng đỡ những hoạt động Kinh tế tư nhân: => Luật pháp tôn trọng triệt để quyền TƯ HỮU (Propríeté privée) => Luật pháp tôn trọng, khuyến khích và nâng đỡ TỰ DO KINH DOANH (Libre entreprise) qua hệ thống sinh hoạt Công ty. => Luật pháp về Thị trường để tôn trọng, khuyến khích và nâng đỡ TỰ DO TRAO ĐỔI (Libre Echange) và TỰ DO CẠNH TRANH (Libre Concurrence). Xin lưu ý rằng tất cả những vi phạm vào sự tự điều chế của Thị trường (Entraves à l’autorégularisation du Marché) đều dễ sinh ra những biến chứng nguy hại (Conséquences néfastes). Theo chủ trương của những nhà Kinh tế Tự do và Thị trường, không phải chỉ nguyên nghĩ đến Luật pháp tôn trọng, khuyến khích và nâng đỡ ba đều căn bản trên đây cho giới tư doanh, mà Luật pháp phải khai triển những biện pháp bắt buộc quyền lực Chính trị đứng ở phạm vi Nhà Nước Trung lập (Etat neutre) hay Nhà Nước Cảnh sát (Etat gendarme), nghĩa là Nhà Nước không được dùng quyền lực can thiệp trực tiếp vào lãnh vực Kinh tế tư nhân khi giữa tư nhân không có những vi phạm với nhau.
Ơû đầu bài này, chúng ta thấy Lịch sử những nền Kinh tế chuyển từ Kinh tế nô lệ khi mà quyền lực Chính trị nắm giữ mọi tài sản và coi cá nhân chỉ là một phương tiện (nô lệ) sản xuất cho Nhà Nước. Kinh tế tự do và thị trường đã được thiết lập với quyền TƯ HỮU. Hệ thống Kinh tế chỉ huy mà quyền lực Cộng sản chủ trương đã đi ngược dòng Lịch sử trở lại Kinh tế nô lệ từ thượng cổ Hy Lạp, La Mã vậy. Phải đạp nó đổ xuống. Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế