*VietTUDAN ---- FINinfo@
*VTD-TUẦN BÁO/ Weekly
=>Số/No.485/10.03.11
=>Số/No.484/03.03.11
=>Số/No.483/24.02.11
=>Số/No.482/17.02.11
=>Những Số ĐẶC BIỆT
*VTD-NHÂN & DÂN QUYỀN
*VTD-KINH TẾ/ TÀI CHÁNH
BÀI VIẾT CHỦ ĐỀ
BÀI VIẾT ĐỌC LẬP
Chủ đề 10 về KTTC
Chủ đề 11 về KTTC
Chủ đề 12 về KTTC
Chủ đề 13 về KTTC
Chủ đề 14 về KTTC
Chủ đề 15 về KTTC
Chủ đề 16 về KTTC
*VTD-CHÍNH TRỊ/ĐẢNG PHÁI
*VTD-XÃ HỘI/ LUẬT PHÁP
*VTD-TÔN GIÁO/ GIÁO HỘI
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN-LinhTinh/Varieties
VTD&FIN-ĐỘC GIẢ/Readers
VTD&FIN-GẶP GỠ/Meeting
VTD&FIN-LƯU TRỮ/Archives
 



 ==========================         =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================


===============================================================
                                       KINH TE TU DO & THI TRUONG
===============================================================





****************************************KHỦNG HOẢNG*****************************************
                                    TÀI CHÁNH/ KINH TẾ THẾ GIỚI
                                                       2007-08

 

                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                       Web: http://www.viettudan.net

 


NỘI DUNG TẬP TÀI LIỆU NÀY:


1. NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI
2. TT.PHÁP SARKOZY VÀ G20 HỌP TẠI WASHINGTON
3. BẦU TỔNG THỐNG MỸ 2008 GIỮA TSUMANI TÀI CHÁNH/KINH TẾ
4. TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM: KINH TẾ TỤT DỐC RÕ RỆT
5. TRUNG QUỐC: TỪNG NGÀN XÍ NGHIỆP DẸP TIỆM
6. CHI TIẾT DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH/KINH TẾ THẾ GIỚI
7. LẠM PHÁT TIỀN TỆ VÀ KHỦNG HOẢNG CỦA MỘT NHÀ NƯỚC ĐỘC TÀI
8. CSVN: TỘI HÌNH LẠM PHÁT TIỀN TỆ ĂN CƯỚP CỦA DÂN
9. KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH BẮT ĐẦU TỪ 2007
10. KHỞI NGUỒN KHỦNG HOẢNG TỪ TÍN DỤNG ĐỊA ỐC SUBPRIME 



1.    NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH
       PHÁT ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
27.11.2008



Từ khi OBAMA được bầu làm Tổng Thống Hoa Kỳ 04.11.2008 cho đến cuối tuần vừa rồi 21.11.2008, tình trạng các Thị trường Chứng khoán tụt dốc mạnh. Nhưng điều lo ngại hơn cả là từ Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh, cuộc khủng hoảng lan sang Lãnh vực Kinh tế, nhất là các ngành sản xuất Xe hơi, Máy móc Điện tử và Truyền thông, từ Nhật qua Liên Aâu và Hoa kỳ. Số thất nghiệp trong Lãnh vực này tăng lên mau chóng. Người ta cũng quan sát thấy hiện tượng tụt giá (Déflation) đe dọa.

Trước viễn tượng cấp bách ấy, Thứ Hai 24.11.2008, OBAMA họp báo tại Chicago tuyên bố Chương trình Phát dộng Kinh tế (Plan de RELANCE ECONOMIQUE) lên tới USD.800 tỉ và Thứ Tư 26.11.2008, tại Bruxelles, José Manuel BORROSO, Uûy Ban Liên Aâu, cũng tuyên bố Chương trình Phát động Kinh tế (Plan de RELANCE ECONOMIQUE) tổng cộng là Euro.200 tỉ.

Căn bản cho những Chương trình Phát động Kinh tế này dựa trên Lý thuyết của John Maynard KEYNES, Nhà Toán học và Kinh tế gia Anh, nghiên cứu những biện pháp khôi phục Kinh tế sau cuộc Đại khủng hoảng 1929-30.

Chúng tôi đề cập đến những khía cạnh sau đây:

=> Những đặc tính của Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế 2007/08  
=> Căn bản Lý thuyết của John Maynard KEYNES
=> Nhận định về những Chương trình Phát động Kinh tế
=> Mấy quan sát về Kinh tế Việt Nam

Những ý tưởng của Bài Phụ Bản 07 này đã được tóm tắt nói qua Đài Phát Thanh RFI (Radio France Internationale) truyền thanh về Việt Nam.


Những đặc tính của
Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế 2007/08  

Những Ngân Hàng gia, Kinh tế gia và các Nhà Nước dường như chỉ chú trọng đến cuộc Khủng hoảng Tài chánh khởi nguồn từ Tín dụng Subprime Địa ốc (Mortgage Subprime Credits). Nhưng nếu xét những phát triển Kinh tế nhiều năm trước, người ta phải lưu ý đến những lý do ngoài vấn đề Tín dụng Subprime Địa ốc.

Một số những tác nhân Kinh tế và Nhà Nước thường ca tụng chủ trương Toàn Cầu hóa Tài chánh/Kinh tế (Mondialisation Financìere et Economique). Riêng chúng tôi, chủ trương Toàn Cầu hóa Tài chánh/ Kinh tế không phải là hoàn toàn được ca tụng bởi vì có những khía cạnh nguy hiểm của nó. Thực vậy, nhìn thấy McDONALD’s lan tràn, chúng tôi đã có lần nói rằng tôi thích ngồi lề đường ăn đĩa xôi nấu bắp, chứ không phải lúc nào cũng Big Mac, Hamburger King, Hamburger Queen...

Không phải Tự do Mậu dịch (Libre Echange) giữa các Nước luôn luôn là tốt. Có những Nước, cần phải có sự Che chở cho Kỹ nghệ đang phát triển (Protectionnisme des Industries naissantes). Những nước đã mạnh về Kinh tế như G8 chẳng hạn, thì họ chủ trương Tự do Mậu dịch, Toàn Cầu hóa vì họ có sức mạnh thắng trong mậu dịch.

Tổng thể, chúng ta thấy chủ trương Tòa Cầu Hóa mang đến hai hậu quả sau đây:

* Về Hàng hóa của Lãnh vực Kinh tế thực: Toàn Cầu hóa có nghĩa là mở toang biên giới để những nước mạnh Kinh tế tha hồ chiếm Thị trường mới để phân phối tự do Hàng hóa của họ đến mọi nơi, tận những nước nghèo khổ. 

* Về Tiền bạc của Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh: Toàn Cầu Hóa có nghĩa là Tập Trung Tiền bạc về những nước giầu từ những nước nghèo mua Hàng hóa do chủ trương Tòa Cầu hóa Hàng hóa đến tận nông thôn mỗi nước nghèo.

Tóm lại Toàn Cầu hóa Mậu dịch có nghĩa là phát tán Hàng hóa từ những nước giầu đến mọi nơi để bán và Tập trung Tiền bạc về những Ngân Hàng của những nước giầu. Tôi thường viết công thức sau đây:

 TOÀN CẦU HOÁ HÀNG HÓA = TẬP TRUNG HÓA TIỀN BẠC
 (Mondialisation des marchandises = Centralisation Monétaire)

Khi Tiền bạc của Thế giới tập trung về những Ngân Hàng của những nước giầu rồi, thì những Ngân Hàng này lại dùng Tiền thu được để cho những Công ty tại những nước giầu vay để sản xuất thêm Hàng hóa phát tán ra những nước nghèo theo chủ trương Toàn Cầu Hóa. Những Ngân Hàng lớn rất khó cho những nước nghèo vay mặc dầu số tiền tập trung về Ngân Hàng lại đến từ việc bán Hàng hóa tại những nước nghèo.

Phát triển Kinh tế Thế giới trong nhiều năm trước cuộc Khủng hoảng hiện nay được ghi nhận với những đặc tính sau đây:

* Giảm sút việc sản xuất những Nhu Yếu Phẩm cho 80% nhân số nghèo Thế giới. 80% nhân số Thế giới cần Thực phẩm để nuối thân xác. Việc sản xuất Thực phẩm (Produits alimentaires) giảm sút hẳn.

* Những nước giầu và đã kỹ nghệ hóa lại tăng gấp bội việc sản xuất những Hàng hóa cho việc ăn chơi thỏa thích, xa xỉ phẩm (Produits de plaisir, de luxe). Tỉ dụ Xe hơi sang trọng, Máy móc về nhạc, Truyền hình, Điện thoại lưu động... Những người tiêu thụ thuộc vào thiểu số 20% nhân số Thế giới cho những hàng hóa này.

* Những nước nghèo, chính lẽ phải chú trọng vào việc phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp để sản xuất Thực phẩm cho 90% dân số, thì lại chú trọng vào việc sản xuất những Hàng hóa ăn chơi, xa xỉ phẩm nhằm phục vụ cho dân tiêu thụ tại những nước giầu.

Chính vì vậy mà cuộc Khủng hỏang hiện nay 2007/08 phải kể đến 3 giai đoạn đã diễn ra như sau:

1) Khủng hoảng Thực phẩm
 
Trước khi Tín dụng Subprime Địa ốc (Mortgage Subprime Credits) tạo nguồn cho xuất hiện Khủng hoảng Tài chánh, thì xẩy ra cuộc Khủng hoảng Thực phẩm Thế giới. Vất giá Thực phẩm tăng vọt. 90% dân nghèo Thế giới không đủ khả năng mua thực phẩm mà sống qua ngày. Đây là hậu quả của một nền Kinh tế Thế giới giảm sản xuất Thực phẩm, trong khi đó nhân số dân nghèo tăng lên . Phía CẦU của Thực phẩm tăng lên, trong khi đó phía CUNG  của Thực phẩm giảm xuống. Giá cả thực phẩm của Thị trường tăng vọt. Đó là luật CUNG, CẦU của Kinh tế.

Để đối phó với cuộc Khủng hoảng Thực phẩm này, 163 nước đã họp lại tại Roma để tìm cách giải quyết hay cứu vớt. Nhưng Thế giới, nhất là những nước giầu có khả năng, không có một Chương trình Bailout nào hay một Chương trình Phát động Kinh tế Thực phẩm nào. Đa số 80% dân nghèo Thế giới khổ sở vì vật giá tăng vọt đến nỗi không đủ đồ ăn. Họ khổ sở hơn nhiều sánh với những người thất nghiệp từ Ngân Hàng hay từ những hãng sản xuất Xe hơi tại những nước giầu. Hàng trăm, hàng ngàn tỉ Đo-la, Euro đang được các Nhà Nước, các Quốc Hội quyết định bỏ ra để cứu vớt ngân hàng, phát động sản xuất những hàng hóa xa xỉ phẩm, giúp đỡ những ngưới thất nghiệp từ Lãnh vực xa xỉ phẩm này.

2) Khủng hoảng Tài chánh

Chủ trương Toàn Cầu Hóa = Tập Trung Hóa Tiền bạc/Tài chánh vào những Ngân Hàng lớn Thế giới. Những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh xử dụng Khối tiền tập trung để làm một Kỹ nghệ biến chế ra những Sản phẩm Tài chánh (Produits financiers) để buôn bán kiếm Lợi nhuận khổng lồ với nhau ở những Thị trường Chứng khóan. Một trong những sản phẩm này mang chất độc (Mortgage SUBPRIME Credit = Mortgage TOXIC Credit) bắt đầu làm hại Lãnh vực Tài chánh từ tháng 7/2007 và bùng nổ ngày 15.09.2008 tàn phá Wall Street. Từ Wall Street, Tsumani Tài chánh lan ra khắp Thế giới. Tất cả mọi nước đều phải bỏ ra những tiền tỉ để cứu mạng các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh. Hoa kỳ ngoài việc cứu vớt FANNIE MAE, FREDDIE MAC và AIG với USD.300 tỉ, còn phải dành ra Plan Bailout Paulson USD.700 tỉ để mua những sản phẩm Tài chánh ung thối của Lãnh vực Ngân Hàng.

3) Khủng hoảng Kinh tế

Nếu Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh có phần ổn định, thì Lãnh vực Kinh tế thực lại bắt đầu mắc bệnh. Người ta nhận thấy rằng cơn bệnh khủng hoảng tập trung vào những Hàng xa xỉ phẩm, ăn chơi. Lãnh vực này đã tăng Hàng hóa xa xỉ phẩm theo cấp số nhân. Việc sản xuất đủ loại Xe hơi, đủ loại Máy móc âm thanh và hình ảnh, đủ loại điện thoại di động... để thúc đẩy dân chúng xử dụng như phong trào, đôi lúc cuồng loạn.

Vì việc sản xuất trong Lãnh vực xa xỉ phầm tăng lên theo cấp số nhân, nên hậu quả sẽ là: CUNG nhiều hơn CẦU. Đây là tình trạng đang làm khởi đầu hiện tượng tụt giá những hàng xa xỉ phẩm (Déflation). Sản xuất quá nhiều, bán không hết, hàng ứ đọng, thì giá phải xuống, xí nghiệp bị đe dọa.

Tình trạng đang đưa đến việc Nhà Nước phải bỏ ra từng trăm, ngàn tỉ Đo-la, Euro nữa để làm những Chương trình Phát động Kinh tế (Plan de Relance Economique). Đài Phát Thanh RFI (Radio France Internationale) hỏi tôi xem có lạc quan trước tình trạng Khủng hoảng Kinh tế này hay không. Tôi trả lời là tôi lạc quan vì coi đây là một cuộc làm xẹp bớt cái bong bóng mà Lãnh vực hàng xa xỉ phẩm đã cố tình thổi phồng lên quá lớn. Phải cho xẹp xuống cho đúng mức.


Căn bản Lý thuyết
của John Maynard KEYNES

Những Chương trình Phát động Kinh tế, từ Chương trình ĐỘC LẬP NĂNG LỰC DẦU LỬA của McCAIN, đến Chương trình TẠO KHẢ NĂNG TIÊU THỤ NỘI ĐỊA USD.586 tỉ của Trung quốc, Chương trình USD.800 tỉ của Hoa kỳ (OBAMA), Chương trình EURO.200 tỉ của Liên Aâu (MORROSO) có nền tảng Lý thuyết của John Maynard KEYNES.

Tác giả Claire GUELAUD, dưới đầu đề UNE POLITIQUE ECONOMIQUE KEYNESIENNE đã nói về Chương trình mang tính cách dài hạn và tổng quát:”...Aller au-delà ou s’orienter vers une intervention plus globale et une relance budgétaire de type keynésien ? (... Vượt quá mức (hiện hành) hay hướng về một sự can thiệp tổng quát hơn và một sự phát động ngân sách theo kiểu Keynes hay không ?) (LE MONDE, Mercredi 26.11.2008, page 2).

John Maynard KEYNES, Nhà Toán học và Kinh tế Anh, đã nghiên cứu Cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30 và những biện pháp khôi phục.

Cũng bắt đầu từ Lãnh vực Tài chánh, cuộc Đại Khủng Hoảng Kinh tế 1929-30 xẩy ra mau chóng và toàn diện mà lý do chính là tình trạng Sản xuất quá mức Hàng hóa (Surproduction) thời ấy khi mà Khả năng Tiêu thụ/ Khả năng Thu nhập của quần chúng giảm xuống.

Các nhà Kinh tế đã chứng nhận hiện tượng Tụt dốc Giá cả (Spirale déflationiste) mà không biết đâu là mức cuối cùng. Cái chu trình tụt giá như sau:

Thu nhập quần chúng yếu đi (Revenu diminue) trong khi ấy Sản xuất Hàng hóa quá nhiều (Surproduction des Produits). Như vậy CUNG lớn hơn CẦU mà hậu quả trực tiếp là Giá cả Hàng hóa giảm xuống (Prix de vente diminue). Bán Hàng hóa với giá hạ, Lợi nhuận yếu hoặc thua lỗ, nên các Công ty sản xuất buộc phải thải Thợ ( Chomage augmente). Thất nghiệp tăng có nghĩa là Thu nhập quần chúng càng yếu đi. Chu trình quay lại từ đầu làm cho việc tụt dốc giá cả càng tụt dốc thêm (Spirale déflationiste).

Các biện pháp khôi phục Kinh tế là phải làm thế nào để tăng Khả năng tiêu thụ/Khả năng thu nhập của quần chúng để phía CẦU tăng lên. Như vậy mới có thể làm ngưng việc tụt dốc giá cả (Stoper la spirale déflationiste).

Biện pháp thứ nhất là giúp đỡ trực tiếp cho dân chúng dưới hình thức Trợ Lực Xã Hội (Aide Sociale), kiểu Welfare còn tồn đọng đến ngày nay.

Cũng lưu ý tìm kiếm những biện pháp, nhà Toán học/Kinh tế gia KEYNES không chủ trương việc Giúp đỡ Xã Hội trực tiếp, mà phải kiếm việc cho quần chúng làm và trả lương, như vậy làm giảm thất nghiệp và làm tăng khả năng thu nhập tiêu thụ.

KEYNES chủ trương những Chương trình xây dựng Hạ tầng cơ sở lớn mà Nhà Nước bỏ vốn đầu tư vào (Grands Travaux Publics). Hoa kỳ đã áp dụng biện pháp của KEYNES bằng những Chương trình xây cất hệ thống Đường Sá, xây cất những Tòa nhà Hành chánh lớn, xây dựng những Đập Nước... Những người thất nghiệp được xử dụng trong những chương trình này và họ có lương, tăng khả năng tiêu thụ. Phía CẦU tăng và chận đứng việc tụt dốc giá cả (Stoper la spirale déflationiste). Giá cả bắt đầu xoay chiều lên, các Công ty có lợi nhuận và lại thuê Thợ làm việc. Kinh tế phục hồi.

Vì là nhà Toán học, nên KEYNES đã nhìn ảnh hưởng của việc đầu tư vào những Chương trình Xây dựng lớn (Grands Travaux) có tầm ảnh hưởng theo cấp số nhân, nghĩa là đầu tư một đồng, thì có thể tạo việc tăng thu nhập của quần chúng đến 4, 5 lần hơn theo công thức:

            0      1        2       3      4               n          1
K  =   c +   c   +   c  +   c  +  c  +  .......  c   =    ----------    
                                                                        1  -  c

c  :  phần dành ra từ thu nhập của dân chúng dùng vào việc tiêu thụ hàng hóa. Tỉ dụ khi thu vào 1 đồng, dân chúng dành ra 0,75 xu để mua hàng hóa (c = 0.75).

K : được gọi là Số Nhân Đầu Tư của KEYNES (Multiplicateur keynésien).

Vậy, nếu Nhà Nước bỏ ra 2'000 đồng để đầu tư, thì việc tăng thu nhập cho Kinh tế sẽ là:

                                      1                            1                     
2'000  x  K  = 2’000  x  ----------  =   2'000  x -------------  =    2'000 x 4    =    8'000.-
                                  1  -  c                     1 – 0.75             

Ba điểm của biện pháp áp dụng Số Nhân Đầu Tư của KEYNES dược nhấn mạnh như sau:

=> Mức độ (c) mà nhân công xử dụng đồng lương thu được vào việc tiêu thụ là yếu tố tạo những ảnh hưởng nội tại của nền Kinh tế (Effets endogènes) từng đợt để có thể đạt hiệu quả cuối cùng nhân lên. 

=> Việc tiêu thụ phải được thực hiện trong lòng của nền Kinh tế, chứ không được thất thoát ra ngoài. Tỉ dụ tại nước Đức, nếu nhân công được xử dụng lại là những người từ Đông Aâu, những người này mang lương về nước họ để chi tiêu, thì sẽ giảm hẳng hiệu quả Kinh tế cho nước Đức.

=> Tài trợ cho những Chương trình đầu tư là xử dụng Vay nợ của Nhà nước theo Chính sách Tài chánh Déficit Budgétaire. Chính sách này là việc chuyển nợ từ đời Cha sang đời Con bởi vì chính đời Con được hưởng những hiệu quả của việc đầu tư vào Hạ tầng Cơ sở Kinh tế.


Nhận định về những
Chương trình Phát động Kinh tế

Chương trình Bailout Paulson USD.700 tỉ nhằm cứu Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh chứ không nhằm trực tiếp vào việc phát động Lãnh vực Kinh tế. Chính sách giảm Lãi suất Chỉ đạo của FED, CEB và các Ngân Hàng Trung ương từng Quốc gia nhằm gián tiếp hỗ trợ các Công ty về giá vay vốn.

Chúng tôi chỉ muốn nhắc ra đây những CHƯƠNG TRÌNH PHÁT ĐỘNG KINH TẾ có ảnh hưởng trực tiếp đến Lãnh vực Kinh tế thực.

1) Chương trình ĐỘC LẬP NĂNG LƯỢNG DẦU LỬA của McCAIN.

Chương trình này mang tầm ảnh hưởng tổng quát và dài hạn cho nền Kinh tế Hoa kỳ dựa trên Lý thuyết của J.M.KEYNES và trên những kinh nghiệm đã được áp dụng có hiệu quả tại Hoa kỳ sau cuộc Đại Khủng hoảng 1929-30.

Cuộc Khủng hoảng hiện nay, bắt đầu tư Ngân Hàng/Tài chánh. Lãnh vực Kinh tế thực cũng bắt đầu thải Thợ. Một số Hàng hóa ứ đọng, nhất là Lãnh vực Xe Hơi, Máy Móc Điện tử, Truyền Thông (Mobile Phones chẳng hạn). Người ta có thể nói là những Hàng hóa của Lãnh vực này nhiều quá (Surproduction) mà quần chúng thiếu hụt Khả năng tiêu thụ/ Giảm thu nhập. Phía CẦU thấp hơn phía CUNG, nên Hàng hóa ứ đọng và phải xuống giá.

Chương trình Kinh tế của McCAIN là đầu tư vào việc tạo ĐỘC LẬP NĂNG LỰC DẦU HỎA gồm việc đầu tư vào Khai thác Dầu từ Alaska, đặt ống dẫn dầu (Oleoduc/Pipe Line), đóng những Tankers chuyên chở Dầu...  Tất cả những Công trình Xây dựng lớn này (Grands Travaux) là biện pháp để chống Khủng hoảng, xử dụng khối thất nghiệp, làm tăng Khả năng tiêu thụ của quần chúng và khôi phục Kinh tế.

Nếu Lãnh vực Xe Hơi, ngành Điện tử, Truyền Thông... vì ứ đọng hàng hóa mà phải thải Thợ, thì những người thất nghiệp này được xử dụng ngay vào Chương trình Kinh tế của McCAIN. Chương trình làm tăng Khả năng tiêu thụ của quần chúng và sẽ mua những Hàng hóa bị ứ đọng để khôi phục những Xí nghiệp liên hệ.

Hoa kỳ có khả năng Bailout giới Ngân Hàng/Tài chánh đến USD.700 tỉ.  Tại sao, trước tình trạng Khủng hoảng lan sang Lãnh vực Kinh tế, Hoa kỳ không bỏ ra USD.200 tỉ để đầu tư vào những công trình xây dựng lớn, tỉ dụ như chương trình ĐỘC LẬP NĂNG LỰC DẦU HỎA của McCAIN.

Nếu đầu tư vào chương trình USD.200 tỉ, thì số tăng thu nhập/khả năng tiêu thụ của quần chúng được tính theo KEYNES như sau:

USD.200 tỉ   x   K   =   USD.200 tỉ   x   4    =     USD.800 tỉ.

2) Chương trình TẠO KHẢ NĂNG TIÊU THỤ NỘI ĐỊA của Trung quốc

Nền Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng, nghĩa là lệ thuộc vào mức tiêu thụ nước ngoài, nhất là Hoa kỳ, Liên Aâu... Cuộc khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế làm giảm khả năng tiêu thụ của những Quốc gia này, nghĩa những nước này giảm mua hàng Trung quốc.

Trung quốc buộc lòng phải kích thích tiêu thụ nội địa nếu muốn đà phá triển sản xuất giữ được mức độ cân bằng bù trừ nào đó. Hai tác giả Aaron BACK và J.R.WU, trong The Wall Street Journal, ngày 13.11.2008, trang 24, còn nhận xét một điều đáng lo ngại cho Trung quốc là chính việc tiêu thụ nội địa đang giảm xuống:”China’s retail sales growth SLOWED in October.” (Độ tăng bán lẻ của Trung quốc đã hạ xuống trong tháng 10). Cùng nhận xét như vậy, Tác giả Andrew BATSON, trong The Wall Street Journal ngày 12.11.2008, trang 17, đã trích dẫn Thống kê của Nhà Nước: “The consumer index  rose 4% in October from a year earlier, compared with 4.6% in September and well down from February’s peak of 8.7%” (Chỉ số tiêu dùng đã tăng 4% trong tháng 10 tính từ đầu năm trước, sánh với 4.6% trong tháng 9 và giảm xuống nhiều sánh với độ cao nhất của tháng 2.). Như vậy việc nâng đỡ tiêu thụ nội địa không phải chỉ là bù trừ việc giàm mua hàng từ nước ngoài, mà còn chống lại chính việc đang giảm việc tiêu thụ từ chính trong nội địa Trung quốc.

Đảng và Nhà Nước Trung quốc vừa quyết định dành ra USD.586 tỉ. Đây là Chương trình mang tính cách dài hạn, trong khi ấy vấn đề xuống dốc Kinh tế nằm trong cấp thời và ngắn hạn phải giải quyết. Thực vậy, chương trình USD 586 tỉ đặt trọng tâm vào xây dựng hạ tầng cơ sở Kinh tế như đường sá, cầu cống, ống dẫn dầu...

Nhận định về hiệu lực của Chương trình này, dưới hàng chữ lớn CRITICS OF GOVERNMENT’S INFRASTRUCTURE SPREE WORRY EFFORT WILL END UP BEING WASTE OF MONEY, Oâng Andrew BATSON viết ngày hôm qua 12.11.2008 trong THE WALL STREET JOURNAL như sau:

“This road boom is taking place in a poor, largely rural country where only about 10% of the population have their driver’s licenses... New roads and buildings are going unused and will end up being waste of money. In the poorest areas, some highways are often empty but for crops farmers spread out on them to dry in the sun.” ( Cuộc bùng dậy xây đường sá này xẩy ra ở một xứ nghèo nàn, chính yếu là dồng quê nơi mà chỉ vào khoảng 10% dân số có bằng lái xe... Những con đường mới và cao ốc sẽ không được xử dụng và sẽ kết thúc bằng tiêu phí tiền bạc. Ở những vùng nghèo khổ nhất, nhiều xa lộ thường vắng xe trống rỗng trừ trường hợp những người dân quê xử dụng để phơi nắng cho khô sản phẩm nông nghiệp dưới ánh mặt trời.)

Thực sự thì việc xây dựng hệ thống đường sá đã được hoạch định từ những chục năm trước và chương trình muốn chấm dứt mãi tới năm 2020. Đây là việc chi tiêu mang tính dài hạn, trong khi ấy Trung quốc cần phải có biện pháp cấp thời để khả năng tiêu thụ nội địa bù trừ cho việc cắt giảm đặt mua hàng hiện nay từ nước ngoài. Số tiền USD.586 tỉ là dự chi cho toàn Chương trình bao trùm một thời gian dài. Người ta dự đoán rằng nếu chương trình được khởi công lại, thì Trung quốc cũng chỉ tiêu cho hạ tầng cơ sở khoảng 1/5 tổng số tiền đã tuyên bố.

3) Chương trình PHÁT ĐỘNG KINH TẾ HOA KỲ USD.800 tỉ (OBAMA)

Thứ Hai 24.11.2008, trong cuộc Họp Báo tại Chicago, OBAMA tuyên bố Chương trình Phát động Kinh tế USD.800 tỉ. Chương trình nhằm tạo 2.5 triêu công ăn việc làm. Chương trình được tuyên bố, nhưng OBAM từ chối không đi vào chi tiết ở giai đoạn này.

Báo LE MONDE Mercredi 26.11.2008, trang 12, viết: “Il était attendu sur son “plan de relance”, mais refusé d’en préciser les détails à ce stade” (Người ta đợi Oâng nói về “chương trình phát động”, nhưng Oâng đã từ chối không nói rõ về những chi tiết ở giai đoạn này.”

Chúng ta phải đợi tới ngày Oâng nhận chức 20.01.2009. Tuy nhiên, dự định thực hiện tổng quát đã được tiết lộ:”L’idée est d’investir dans les grands chantiers d’infrastructures: écoles et hopitaux publics, routes, ponts et surtout développement d’énergies alternatives.” ( Ý tưởng là đầu tư  vào những công trình xây cất lớn Hạ tầng cơ sở: trường học và những bệnh viện công, đường sá, cầu cống và nhất là việc khai triển những khả năng năng lực thay thế.” (LE MONDE Mercredi 26.11.2008, page 12)

Nếu so sánh hai Chương trình McCAIN và OBAMA, chúng ta thấy Chương trình của McCAIN quy tụ vào một công trình rõ rệt hơn, nhất là hướng công trình toàn diện vào những hậu quả Kinh tế. Năng lượng là yếu tố cốt lõi động cơ của nền Kinh tế. Tong khi đó, Chương trình của OBAMA thiên về lãnh vực Xã hội, nghĩa là không quy tụ mũi dùi chính yếu về lãnh vực kinh tế. Những lãnh vực như đường sá và cầu cống, thì Hoa kỳ đã được mở mang, nên việc tiêu dùng vốn không mấy cần thiết.

4) Chương trình PHÁT ĐỘNG KINH TẾ LIÊN ÂU Euro.200 tỉ

Gọi là Chương trình PHÁT ĐỘNG KINH TẾ LIÊN ÂU thì không đúng, mà phải gọi là Phong trào Phát Động Kinh tế các Nước trong Liên Au mới đúng bởi vì các Nước trong Liên Aâu mang những nhược điểm sau đây để không thể có một Chương trình duy nhất:
* Liên Aâu chưa phải là một Liên Bang
* Các nước trong khối Liên Aâu nghĩ về mình trước tiên, nhất là về vấn đề tiền bạc.
* Các nước trong khối Liên Aâu chưa có sự đồng nhất
* Tình hình phát triển Kinh tế của mỗi nước cũng khác nhau
* Khả năng tài chánh của mỗi nước cũng khác nhau.

Trong con số Euro.200 tỉ nêu ra, chỉ có Euro.30 tỉ là từ quỹ chung của Liên Aâu.  Chương trình thực hiện Phát động Kinh tế của mỗi nước cũng không đồng nhất.  Tỉ dụ nước Anh xử dụng phương pháp giảm Thuế TVA 17% để kích thích các Công ty có vốn đầu tư. Nước Đức có khả năng bỏ vốn ra hơn, nhưng khi bỏ vốn ra, họ muốn cứu Kỹ nghệ xe hơi của họ, chứ không cứu hãng Renault... Cũng vậy, nước Ý cứu Fiat của họ chứ không muốn cứu hãng VW của Đức. Ngoài ra, trong số 27 nước trong khối Liên Aâu, thì phần lớn đang nghèo, mới thoát ra khỏi chế độ Cộng sản.

Một điểm quan trọng nữa mà ngay mỗi nước như Pháp, Đức... cũng khó thực hiện những công trình xây dựng hạ tầng cơ sở theo Lý thuyết của KEYNES vì nhân công làm việc trong các công trình lại đến từ những nước khác, nhất là từ Đông Aâu. Họ lãnh lương và đưa về nước họ, nên hiệu quả đầu tư không đạt được theo Số Nhân Cấp Số của KEYNES.


Mấy quan sát về Kinh tế Việt Nam

Đây là khía cạnh phụ thêm mà Đài Phát Thanh RFI (Radio France Internationale) yêu cầu chúng tôi phát biểu để phát thanh về Việt Nam. Chúng tôi xin tóm tắt trả lời vắn gọn như sau:

=> CSVN thường rêu ra những chương trình công nghệ hóa. Nhưng thực ra 2/3 những Công ty Việt Nam làm việc thuê cho những Công ty nước ngoài về ngành may mặc, đồ chơi, những linh kiện thô sơ để những công ty nước ngoài mang về xứ họ hoặc bán cho Thị trường Hoa kỳ hay Liên Aâu. Một số những công ty nhỏ từ Đài Loan, Hong Kong... mở xưởng sản xuất những hàng loại thông thường để cung cấp cho Thị trường các nước khác, nhất là Tây phương. Tình trạng sản xuất ở Việt Nam sẽ dẹp tiệm như vùng Quảng Đông hiện nay.

=> Vì ăn xổi ở thì theo chương trình gọi là công nghệ hóa, Việt Nam đã thiếu hẳn đầu tư trong lãnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp, nền tảng của Kinh tế bền vững của Việt Nam.

Kết quả: Hoa kỳ, Liên Aâu giảm tiêu thụ, thì người ta giảm mua hàng, các công ty làm thuê cho nước ngoài sẽ đóng của, trong khi ây việc phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp Việt Nam đã bị quá chậm đối với Thái Lan.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 



2.   TT.PHÁP SARKOZY VÀ G20
      HỌP TẠI WASHINGTON

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
17.11.2008



G20 TẠI WASHINGTON:
CÀ PHÊ MỸ NHẠT NHẼO
16.11.2008

Theo rõi TT.SARKOZY trong những múa may của Ông từ ngày bùng nổ cuộc Khủng hoảng Tài chánh tháng 9 vừa rồi, chúng tôi, mặc dầu đoán trước kết quả cuộc Họp thượng đỉnh G20 tại Washington, cũng xin thông tin đến quý Vị rắng kết quả cuộc Họp giống như việc gặp gỡ cuối tuần uống Cà-phê, nhưng lại là Cà-phê Mỹ rót ra từ bình Pot lạt lẽọ

Hoa kỳ và Gia Nã Đại đã không cần nói tế nhị với SARKOZY nữa, rằng: 

=> Chúng tôi chủ trương nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà Cá nhân là tác nhân kinh tế chính.

=> Nếu có muốn kiểm soát và điều hành hệ thống Tài chánh, thì mỗi nước tự kiểm soát và điều hành hệ thống riêng của nước mình.
 

Những thất bại ghi nhận
của SARKOZY

Theo rõi từ đầu cuộc Khủng hoảng Tài chánh đến giờ, tôi thấy những múa may của "le petit Sarkozy" như muốn người ta quên đi những vấn đề cần phải giải quyết cụ thể cho chính nước Pháp. Ông ta như ôm đồm Quốc tế ở những vấn đề dài hạn không thể giải quyết và cố tình làm quên đi hậu quả Khủng hoảng cụ thể đang diễn ra cấp bách cho nước Pháp cần phải được giải quyết ngay:

=>  Nhân cuộc Họp Liên Hiệp qua dịp Khủng hoảng Tài chánh bùng nổ, Ông đọc bài Diễn Văn theo hướng của Nam Mỹ công kích Hoa kỳ. Những ý tưởng công kích này đã có từ lâu, qua những Rounds của GATT về xung khắc Norđ-Sud và qua những lần Họp thường niên G8. TT BUSH tỏ ra rất khó chịu về thái độ này của Sarkozỵ

=>  Trở về Âu châu, Ông mời các Nguyên Thủ các Quốc gia lớn Liên Âu về Họp tại Paris để ĐOÀN KẾT giải quyết Khủng hoảng theo ý tưởng của Ông. Nhưng Bà Thủ tướng MERKEL của Đức và Ông Thủ tướng BROWN của Anh từ chối đứng chung để giải quyết và muốn đứng riêng mỗi nước dùng tiền của mình để giải quyết những vấn đề riêng của nước mình. SARKOZY thất bại không quy tụ người khác dưới trướng của mình được.

=>  SARKOZY  của Liên Âu sang Họp ASEM thường niên giữa Âu và Á châu tại Bắc Kinh. Ông lên tiếng nịnh bợ ca ngợi sự phát triển Kinh tế thành công của Trung quốc và khen ngợi Trung quốc thu nhập số vốn dự trũ lớn bảo đảm Kinh tế trước cơn bão Khủng hoảng Tài chánh. SARKOZY năn nỉ Trung quốc nhập cuộc để cùng giải quyết Khủng hoảng Thế giớị Trung quốc đã trả lời trắng toẹt cho SARKOZY rằng Trung quốc cũng có những khó khăn phải giải quyết và nói rắng chính Liên Âu cũng mỗi người tìm giải quyết những vấn đề riêng của nước mình, làm sao chung tôi đứng chung được. SARKOZY cũng thất bại kêu gọi Trung quốc đứng chung.

=>  Cuộc Họp G20 tại Washington cũng trong ý tưởng của "Le petit Sarkozy" muốn phùng bụng lên như con Cóc để la hò bao trùm Thiên ha.. C'est un petit qui aime se gonfler.
Nhưng khốn thay, Ông đã đi vào vấn đề Tiền bạc, Tài chánh, Lãnh vực mà người ta không muốn những người ngoài NHÒM NGÓ đến tiền bạc riêng của người tạ

Tóm lại cái thất bại của SARKOZY là muốn NHÒM NGÓ, kiểm soát, điều hành tiền bạc của người khác.
 

SARKOZY không biết những biến chuyển
của đồng DOLLAR

Tại Brussells, SARKOZY tuyên bố:

"The time when we had a single currency (the dollar), one line to be followed, that era is over and came to an end on September 18 when responsibility was taken, without our opinion being asked, with the failure of a major banking institution and the consequences that followed"(Thời kỳ mà chúng ta chỉ có một đồng tiền duy nhất (đồng Dollar), một hướng đi phải theo, thời kỳ ấy đã hết và chấm dứt ngày 18 tháng 9 khi mà trách nhiệm phải lấy, mà không có hỏi ý kiến của chúng ta, với sự thát bại của tổ chức Ngân Hàng và những hậu quả nối tiếp) (By George PARKER, FINANCIAL TIMES, Monday 10.11.2008, page 3)

Qua câu tuyên bố này, SARKOZY như tốcáo việc Hoa kỳ qua sự duy trì ưu thế của đồng Đo-la để nắm độc quyền chỉ đạo Tài chánh Thế giớị Nói như vậy tỏ ra Sarkozy không biết gì về Lịch sử biến chuyển của đồng Dollar từ Hội Nghị BRETTON-WOODS 1944 để cứu vớt Tiền tệ cho Âu châụ

Từ Régime Etalon-Or, việc bảo chứng Tiền tệ chuyển sang Re1gime EtalonĐEVISE-Or. Tiền tệ vẫn được bảo chứng bằng VÀNG. Đồng Đollar còn vàng, nhưng những Tiền khác (trừ Swiss Franc), nên đồng Dollar trở thành một DEVISE trung gian cung cấp việc bảo chứng vàng. Chỉ có thế thôị

Khi Âu châu được tái thiết sau Thế chiến, nhờ Chương trình MARSHALL với USD.173 tỉ do Mỹ cung cấp, Âu châu tái thiết và tái chiếm các thuộc địa để  phục hồi Kinh tế. 

Trong những giao dịch buôn bán hàng hóa, Âu châu không muốn thâu vào bằng Tiền của nước mình, mà bằng đồng Đollar. Mỹ không bao giờ bắt ép các nước phải buôn bán với nhau bằng đồng Dollar. Những chính các nước đã tự dộng giao dịch thương mại với nhau qua đồng Dollar. Đây không phải là lỗi của Hoa kỳ.

Đồng thời cũng trong thời kỳ này, khối Ả râp bán dầu lửa, cũng chỉ thu vào Tiền Dollar.

Vì vậy, Thế giới có thêm hai Kho chứa Đollar:

=> Euro-DOLLAR : Tiền Dollar thu vào và giữ lại tại những Quốc gia Âu châu

=> Petro-DOLLAR: Tiền Dollar thu vào do bán dầu lửa và do các nước Ả rập cất giữ.

Chính vì vậy mà nẩy sinh ra hai cuộc chiến tranh Tiền tệ (Guerres Monétaires). 

Năm 1966, TT. Charles De GAULLES đứng chạng hảng hai hàng. Ông chơi với Nga, bỏ OTAN. Ông muốn chọc Mỹ, nên đã yêu cầu Mỹ phải chuyên chở khối VÀNG sang Pháp để lấy lại EuroĐollar mà nước Pháp đang giữ. Mỹ đã trả lời chấm dứt nhiệm vụ CONVERTIBILITE của đồng Dollar vì cũng trong thời ấy, lượng vàng sản xuất từ Nga và Nam Phi đã làm phát sinh Chợ Vàng song hành,điều vi phạm Régime Etalon-DEVISE-Or.

Năm 1967, ngày 04.06, dưới thời Bà Thủ tướng Goldar MEIR, cuộc chiến tranh thần tốc xẩy  ra giữa Do Thái và A rập tại Trung Đông. Những nước A rập tố cáo Mỹ hỗ trợ Do-Tháị Khối A-rập tuyên chiến Guerre Monétaire với Mỹ bằng cách yêu cầu Mỹ chuyên chở Vàng sang khối A rập để đổi lấy PetroĐollar mà họ đang giữ. Mỹ cũng đã trả lời rằng Dollar chấm dứt nhiệm vụ CONVERTIBILITẸ

Sau năm 1966/1967, Tiền tệ Thế giới bỏ Régime Etalon DEVISE-Or khởi đầu từ Bretton-Woods 1944.

Bây giời Tiền tệ của mỗi nước được bảo chứng bởi Kinh tế của Quốc gia đó mà thôị

Nhưng trên Thương trường, người ta thấy đồng Dollar vẫn là đồng Tiền vững chắc hơn cả vì nền Kinh tế Mỹ mạnh hơn các nước khác.

Vì vậy, các Ngân Hàng, các Quốc gia tích trữ đồng DOLLAR không phải là do Mỹ bắt buộc theo như tinh thần câu nói của SARKOZY, mà chính là sự lựa chọn TỰ DO từ mỗi nước vào sự TIN TƯỞNG tự do vào sức mạnh Kinh tế bảo chứng cho đồng tiền.

Luật sư SARKOZY, học Luật, không học Lịch sử Tiền tệ, nhất là đồng Dollar, nên đã không biết rằng đồng DOLLAR đã chấm dứt nhiệm vụ hỗ trợ các tiền bạc khác từ năm 1966/1967. Hoa kỳ không bắt buộc ai phải trữ DOLLAR hết. Vì vậy lời kết án của SARKOZY trong câu nói ở Brussells là thiếu nền tảng Pháp lý.   
  
 

SARKOZY ÂM MƯU G20
ĐẢO CHÁNH DOLLAR  
15.11.2008

Khi Dài Phát thanh RFI (Radio France Internationale), trong cuộc Phỏng vấn ngày Thứ Ba 11.11.2008 hồi 11 giờ sáng, tôi đả cắt nghĩa về Hội nghị Tiền tệ BRETTON-WOODS 1944  tại Mỹ và việc thành lập Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF/FMI).
 
SARKOZY muốn âm mưu
đảo chánh đồng Dollar

Trong tờ FINANCIAL TIMES, Monday 10.11.2008, trang 3, tác giả George PARKER từ Luân Đôn đã viết những điều công kích của SARKOZY từ cuộc Họp thương đỉnh Brussels như sau: "The time when we had a single currency (the dollar), one line to be followed, that era is over and came to an end on September 18 when responsibility was taken, without our opinion being asked, with the failure of a major banking institution and the consequences that followed" (Thời kỳ mà chúng ta chỉ có một đồng tiền duy nhất (đồng Dollar), một hướng đi phải theo, thời kỳ ấy đã hết và chấm dứt ngày 18 tháng 9 khi mà trách nhiệm phải lấy, mà không có hỏi ý kiến của chúng ta, với sự thát bại của tổ chức Ngân Hàng và những hậu quả nối tiếp)
 

Vị trí đồng DOLLAR
từ Bretton-Woods 1944

Hội nghị Tiền Tệ Bretton-Woods 1944 không phải là Hội nghị mà Hoa kỳ chủ mưu đặt sự thống trị của Dollar. Thời ấy, Tiền tệ đang trong hệ thống Re1gime-Etalon-Or, nghĩa là lấy lượng VÀNG làm bảo chứng cho Tiền tê.. Nhưng Hoa kỳ thấy rắng tất cả các nước tham chiếm đều mất hết Vàng để có thể bảo đàm được giá trị của Tiền tê.. Chỉ còn hai nước còn có Vàng để bảo đảm Tiền tệ, đó là Hoa kỳ và Thụy sĩ.

Hoa kỳ muốn cứu Tiền tệ Âu châu, nên mời Họp tại Bretton-Woods 1944 để định lại hệ thống bảo đảm Tiền tê.. Đang từ hệ thống Régime Etalon-Or, Hội nghị đã chọn Régime EtalonĐEVISE-Or, nghĩa là Vàng vẫn còn là bảo đảm của Tiền tệ, nhưng phải qua một DEVISE còn có Vàng ba3o đảm, tỉ dụ như Dollar hay Swiss Franc.

Mục đích Bretton-Woods là để cứu vớt Tiền tệ Quốc tế, nhưng sau đó Staline đã tuyên truyền rắng đây là việc Hoa kỳ dùng Tiền tệ để thống trị Thế giớị Những chữ EMPIRE DU DOLLAR là từ chế độ Staline tuyên truyền ra khắp Thế giớị

SARKOZY đã không biết cám ơn Hoa kỳ thời Thế chiến Thứ II đã cứu vớt dùm Tiền tệ Âu Châụ SARKOZY cũng đã quên rắng IMF/FMI (Quỹ Tiền Tệ Quốc tế) được khai sinh với mục đích cứu nguy tiền tệ của một nước khi cần tớị Hoa kỷ đã đóng vào Quy này tới 2/3 tổng số quỹ. Sau này, những nước tham dự nhỏ đã xử dụng IMF/FMI để công kích lại chính Hoa kỳ. Đồ vô ơn.

CẤP BÁCH: Hãy giải quyết Khủng hoảng hiện nay cho yên ổn. Sau đó muốn định lại hệ thống Tiền tệ, thì lúc ấy khủng hoảng đã qua, mình hạ hồi phân giảị
 
NGUYỄN PHÚC LIÊN 
  
 


HỌP NHÓM G20
TẠI WASHINGTON
 
NGUYỄN PHÚC LIÊN
14.11.2008


Nhóm G20 sẽ họp cuối tuần này tại Washington liên quan đến cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế đang diễn rạ

Hôm Thứ Ba 11.11.2008 hồi 11 giờ sáng, Đài Phát Thanh RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn tôi về cuộc Họp nàỵ Hôm nay Thứ Sáu 14.11.2008, hồi 4 giờ chiều Đài Phát Thanh Á Châu Tự do cũng hỏi tôi về cuộc họp G20 nàỵ

Tôi trả lời vắn gọn cho hai cuộc Phỏng vấn. Sợ rằng quá vắn gọn, nên không nói khúc chiết đủ ý, nên tôi viết thêm bài ngắn này để trình bầy những điểm chính về cuộc Họp.
 

Tại sao có cuộc Họp

Cuộc Họp này không phải là do đề nghị của Hoa kỳ mà phải tìm nguồn gốc nó từ TT Pháp SARKOZỴ

Trong cuộc Họp tại Liên Hiệp Quốc, TT SARKOZY, theo chiều Chính trị của phía Nam Mỹ đã đọc bài diễn văn công kích Hoa kỳ và không mấy làm hài lòng TT BUSH.

Sau đó, TT SARKOZY sang gặp TT BUSH. Trong cuộc gặp tại Camp David, TT SARKOZY đã nhấn mạnh đến cuộc Họp nàỵ TT BUSH hiểu nội dung của cuộc Họp là TT SARKOZY muốn dùng áp lực của những nước đang phát triển như Trung quốc, Brasil, Nam Phi, nhân cuộc Khủng hoảng, để :

=>  Chủ trương can thiệp của quyền lực Chính trị vào Ngân Hàng/Tài chánh có khuynh hướng Xã hội Chủ nghĩa;

=>  Muốn làm mất vị trí lãnh đạo Tài chánh Thế giới khởi tay Hoa kỳ.

TT BUSH đã trả lờ chung chung là Ông vẫn chủ trương nền Kinh tế/Tài chánh TỰ DO cho cá nhân hoạt đô.ng. Tuy vậy, vì TT SARKOZY nhấn mạnh, nên TT BUSH nói là Ông sẵn sàng tham dự nếu có cuộc Họp G20.
 

SARKOZY muốn lấy danh là 
người có sáng kiến và lãnh đạo

Báo giới gọi đây là mộ sự "tham vọng " của SARKOZỴ Ký giả George PARKER từ Luân Đôn viết dưới đầu đề EUROPE TO PRESS US ON REFORMS, viết :"Sarkozy in call for "AMBITIOUS" action. Nicolas Sarkozy, French President, wants the meeting in Washington to agree "ambitious, operational decisions". (FINANCIAL TIMES, Monday November 10, 2008, page 3).

Đây là mục đích muốn làm nổi bật mình lên và có mầu sắc Chính trị cá nhân và chiều lòng Nam Mỹ cũng như Trung Cộng hơn là nhắm vào mục đích giải quyết Khủng hoảng đang cấp bách thực sư..

Ý tưởng này không được sự hào hào hứng chấp nhận của Thủ tướng Đức Bà MERKEL. Thủ tướng Anh BROWN đã cho SARKOZY thấy rắng Ông thiên về chủ trương của TT BUSH.
 

Cuộc Họp sẽ không có
kết quả cụ thể

G20 gồm những nước đến tham dự không có sự đồng đều:

=> Về Lập trường Chính trị
=> Về Chủ trương  nền Kinh tế
=> Về khả năng Tài chánh mình đang giữ
=> Về lo2ngtho61ng cơ bản tổ chức sản xuất Kinh tế.
=> Về mức độ Kỹ thuật xử dụng trong sản xuất.

Tóm lại những nước đến Họp không mang tính cách đồng nhất, nên rất khó đi đến những quyết định tạo lập mộ Cơ quan bao trùm điều hành, kiểm soát mang tính cách chế tài giống như "tham vọng " của SARKOZỴ

Thử đặt câu hỏi với TT SARKOZY: "Liệu Trung Cộng có chấp nhận cho Hoa kỳ kiểm soát hệ thống Ngân Hàng của Trung Cộng hay không ?" Trả lời câu hỏi ấy cho thấy tham vọng của SARKOZY mang tính cách không tưởng.
 
Ý kiến của cá nhân tôi: cứ để Nhóm G20 Họp, uống ly Cà Fê Mỹ rồi Bye Bye trở về nước. Mỗi nước có khả năng tài chánh gì, thì mang ra mà giải quyết cấp thời cuộc khủng hỏang đang diễn ra trong nước mình.
 
NGUYỄN PHÚC LIÊN 
 








3.   BẦU TỔNG THỐNG MỸ 2008
      GIỮA TSUMANI TÀI CHÁNH/KINH TẾ


Bài 03:
RẤT TIẾC CHO
CHƯƠNG TRÌNH KINH TẾ CỦA McCAIN

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
12.11.2008


Trêân đài truyền hình Thụy sĩ tối 05.11.2008, nhà bình luận về cuộc bầu cử tại Hoa kỳ nhận xét rằng OBAMA chỉ có những lời hứa về thay đổi Kinh tế, nhưng người ta không biết rõ đó là những gì, trong khi ấy McCAIN đã đưa ra một Chương trình Kinh tế cụ thể và hữu lý, đó là Chương trình ĐỘC LẬP NĂNG LỰC DẦU LỬA nhằm khai thác và dẫn dầu từ Alaska về.

Cuộc Khủng hoảng Ngân Hàng/Tài chánh đã có những hy vọng ổn định. Nhưng cuộc Khủng hoảng đang lan sang Lãnh vực Kinh tế thực, bắt đầu nặng ở Kỹ nghệ Xe Hơi, từ Nhật sang Pháp rồi Hoa kỳ. Số người tất nghiệp tại Mỹ đã tăng 6.5%.

Trước việc lan sang Lãnh vực Kinh tế thực này, OBAMA vẫn chưa đưa ra những biện pháp Kinh tế cụ thể, thậm chí trong cuộc gặp ở Nhà Trắng, Oâng còn xin TT.BUSH cố gắng cứu Kỹ nghệ Xe Hơi của Hoa kỳ.

Trước việc Khủng hoảng lan sang Lãnh vực Kinh tế này và nhân dịp sắp có cuộc Họp Thượng Đỉnh của Nhóm G20 tại Mỹ để thảo luận những biện pháp chống Khủng Hoảng, Đài Phát Thanh RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn tôi mà câu hỏi đầu tiên là cuộc Đại Khủng Hoảng Kinh tế 1929-30 và những biện pháp khôi phục hầu có thể áp dụng gì cho tình hình Khủng hoảng Kinh tế hiện nay 2008.


Cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30
và những biện pháp khôi phục

Cũng bắt đầu từ Lãnh vực Tài chánh, cuộc Đại Khủng Hoảng Kinh tế xẩy ra mau chóng và toàn diện mà lý do chính là tình trạng Sản xuất quá mức Hàng hóa (Surproduction) thời ấy khi mà Khả năng Tiêu thụ/ Khả năng Thu nhập của quần chúng giảm xuống.

Các nhà Kinh tế đã chứng nhận hiện tượng Tụt dốc Giá cả (Spirale déflationiste) mà không biết đâu là mức cuối cùng. Cái chu trình tụt giá như sau:

Thu nhập quần chúng yếu đi (Revenu diminue) trong khi ấy Sản xuất Hàng hóa quá nhiều (Surproduction des Produits). Như vậy CUNG lớn hơn CẦU mà hậu quả trực tiếp là Giá cả Hàng hóa giảm xuống (Prix de vente diminue). Bán Hàng hóa với giá hạ, Lợi nhuận yếu hoặc thua lỗ, nên các Công ty sản xuất buộc phải thải Thợ ( Chomage augmente). Thất nghiệp tăng có nghĩa là Thu nhập quần chúng càng yếu đi. Chu trình quay lại từ đầu làm cho việc tụt dốc giá cả càng tụt dốc thêm (Spirale déflationiste).

Các biện pháp khôi phục Kinh tế là phải làm thế nào để tăng Khả năng tiêu thụ/Khả năng thu nhập của quần chúng để phía CẦU tăng lên. Như vậy mới có thể làm ngưng việc tụt dốc giá cả (Stoper la spirale déflationiste).

Biện pháp thứ nhất là giúp đỡ trực tiếp cho dân chúng dưới hình thức Trợ Lực Xã Hội (Aide Sociale), kiểu Welfare còn tồn đọng đến ngày nay.

Cũng lưu ý tìm kiếm những biện pháp, nhà Toán học/Kinh tế gia KEYNES không chủ trương việc Giúp đỡ Xã Hội trực tiếp, mà phải kiếm việc cho quần chúng làm và trả lương, như vậy làm giảm thất nghiệp và làm tăng khả năng thu nhập tiêu thụ.

KEYNES chủ trương những Chương trình xây dựng Hạ tầng cơ sở lớn mà Nhà Nước bỏ vốn đầu tư vào (Grands Travaux Publics). Hoa kỳ đã áp dụng biện pháp của KEYNES bằng những Chương trình xây cất hệ thống Đường Sá, xây cất những Tòa nhà Hành chánh lớn, xây dựng những Đập Nước... Những người thất nghiệp được xử dụng trong những chương trình này và họ có lương, tăng khả năng tiêu thụ. Phía CẦU tăng và chận đứng việc tụt dốc giá cả (Stoper la spirale déflationiste). Giá cả bắt đầu xoay chiều lên, các Công ty có lợi nhuận và lại thuê Thợ làm việc. Kinh tế phục hồi.

Vì là nhà Toán học, nên KEYNES đã nhìn ảnh hưởng của việc đầu tư vào những Chương trình Xây dựng lớn (Grands Travaux) có tầm ảnh hưởng theo cấp số nhân, nghĩa là đầu tư một đồng, thì có thể tạo việc tăng thu nhập của quần chúng đến 4, 5 lần hơn theo công thức:

          0      1        2        3          4           n           1
K  =   c +   c   +   c  +   c  +  c  +  .......  c   =    ----------    
                                                                       1  -  c

c  :  phần dành ra từ thu nhập của dân chúng dùng vào việc tiêu thụ hàng hóa. Tỉ dụ khi thu vào 1 đồng, dân chúng dành ra 0,75 xu để mua hàng hóa (c = 0.75).

K : được gọi là Số Nhân Đầu Tư của KEYNES (Multiplicateur keynésien).

Vậy, nếu Nhà Nước bỏ ra 2'000 đồng để đầu tư, thì việc tăng thu nhập cho Kinh tế sẽ là:

                                     1                              1                     
2'000  x  K  = 2’000  x  ----------  =   2'000  x -------------  =    2'000 x 4    =    8'000.-
                                  1  -  c                      1 – 0.75             


Rất tiếc cho Chương trình
Kinh tế của McCAIN

Cuộc Khủng hoảng hiện nay, bắt đầu tư Ngân Hàng/Tài chánh. Lãnh vực Kinh tế thực cũng bắt đầu thải Thợ. Một số Hàng hóa ứ đọng, nhất là Lãnh vực Xe Hơi, Máy Móc Điện tử, Truyền Thông (Mobile Phones chẳng hạn). Người ta có thể nói là những Hàng hóa của Lãnh vực này nhiều quá (Surproduction) mà quần chúng thiếu hụt Khả năng tiêu thụ/ Giảm thu nhập. Phía CẦU thấp hơn phía CUNG, nên Hàng hóa ứ đọng và phải xuống giá.

Chương trình Kinh tế của McCAIN là đầu tư vào việc tạo ĐỘC LẬP NĂNG LỰC DẦU HỎA gồm việc đầu tư vào Khai thác Dầu từ Alaska, đặt ống dẫn dầu (Oleoduc/Pipe Line), đóng những Tankers chuyên chở Dầu...  Tất cả những Công trình Xây dựng lớn này (Grands Travaux) là biện pháp để chống Khủng hoảng, xử dụng khối thất nghiệp, làm tăng Khả năng tiêu thụ của quần chúng và khôi phục Kinh tế.

Chương trình xây dụng ĐỘC LẬP NĂNG LỰC DẦU HỎA đã có một nền tảng Lý thuyết mà nhà Toán học/Kinh tế gia KEYNES đã chứng minh bằng toán học. Hoa kỳ đã có kinh nghiệm xử dụng thành công biện pháp của KEYNES để phục hồi Kinh tế sau cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30.

Nếu Lãnh vực Xe Hơi, ngành Điện tử, Truyền Thông... vì ứ đọng hàng hóa mà phải thải Thợ, thì những người thất nghiệp này được xử dụng ngay vào Chương trình Kinh tế của McCAIN. Chương trình làm tăng Khả năng tiêu thụ của quần chúng và sẽ mua những Hàng hóa bị ứ đọng để khôi phục những Xí nghiệp liên hệ.

Hoa kỳ có khả năng Bailout giới Ngân Hàng/Tài chánh đến USD.700 tỉ.  Tại sao, trước tình trạng Khủng hoảng lan sang Lãnh vực Kinh tế, Hoa kỳ không bỏ ra USD.200 tỉ để đầu tư vào những công trình xây dựng lớn, tỉ dụ như chương trình ĐỘC LẬP NĂNG LỰC DẦU HỎA của McCAIN.

Nếu đầu tư vào chương trình USD.200 tỉ, thì số tăng thu nhập/khả năng tiêu thụ của quần chúng được tính theo KEYNES như sau:

USD.200 tỉ   x   K   =   USD.200 tỉ   x   4    =     USD.800 tỉ.

Rất tiếc cho Chương trình Kinh tế rất rõ rệt của McCAIN, đã có lý thuyết Keynes cắt nghĩa, tính toán và nhất là đã được chính Hoa kỳ áp dụng có hiệu quả sau cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30.




Bài 02:
OBAMA LÀM VỐN MỸ
ĐI TỴ NẠN NƯỚC NGOÀI

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
09.11.2008


Giới Tài chánh chờ đón kết quả cuộc bầu cử ở Hoa kỳ ngày 04.11.2008. Từ 6g00 sáng Thứ Năm, 06.11.2008 (giờ Thụy sĩ), tôi mở đài Truyền Hình CNBC để theo rõi phản ứng của các Thị trường Chứng khoán Uùc châu và Á châu từ giờ mở của; rồi tiếp tục theo rõi sang Aâu châu và Mỹ châu theo ánh sáng lên của Mặt Trời.

Kết quả: tôi đã ghi lại vội trong Bài 01 rất vắn gọn đăng kèm liền dưới đây.

Oâng Aladin NGUYỄN cũng theo rõi. Oâng đã nghe Đài FOXNEWS và viết cho tôi như sau:

Bác NPL,
 
Hôm qua, tôi coi tin tức trên đài FOXNEWS, nghe ông Dick Morris, cố vấn tối cao của TT Bill Clinton lúc trước, bàn luận về thị trường tụt dốc (xuống 10%) đó là thị trường chứng khoán không tin tưởng chính sách "đánh tư sản mại bản" của Obama.  Nên vì thế, những stock holders đem bán tháo stocks của mình hết, bán nhanh bán lẹ trước khi Obama nhậm chức vào tháng 1 năm 2009, vì bởi đến ngày đó nếu họ bán ra sẽ bị lổ nặng vì Obama sẽ đánh thuế rất nặng vào những nguời tài phiệt này.  
 
Họ thật sự sợ lắm, sợ cái cảnh bị Obama đè đầu đè cổ người ta ra mà khứa cổ, lấy tiền, rồi đem tiền đó chia cho những người .. ăn không ngồi rồi, ăn bám vào welfare, lười biếng không chịu đi làm, ở nhà chờ Obama đến cứu..  spread the wealth..
 
Đó là những lời nhận định, bình luận của ông Dick Morris, cố vấn của TT Clinton, đã nói trên đài truyền  hình FOXNEWS hôm qua, lúc 9 giờ tối (www.foxnews.com).
 
Đúng như bác NPL nói, là những người ủng hộ cho Obama vẫn còn đang say men trên sự chiến thắng của họ.“ 


Oâng Cố vấn tối cao của TT. CLINTON nói đúng cái tim đen của giới làm Tài chánh/ Kinh tế có Lợi nhuận thu vào lớn.

Thực vậy, không ai thích trả thuế, từ người nghèo cho đến người giầu hay nói cách khác ai cũng tìm cách trốn thuế nếu có thể làm được. Có thể nói là người giầu có phương tiện trốn thuế dễ hơn người nghèo.

Chúng tôi đã có dịp sống hơn 40 năm tại Aâu châu này ngay từ thời thịnh của các đảng Cộng sản Pháp và Ý bên cạnh những đảng khác. Khi các đảng Cộng sản bị cuốn theo chiều gió của Liên xô và Đông Aâu, thì những đảng gọi là Xã Hội đại diện cho phía Tả. Chúng tôi đã thuộc lòng cách tranh cử mỵ dân của họ: đánh thuế cao người giầu để phân phát cho người nghèo sống cho thoải mái. Gọi là lớp người nghèo, có thể đó là những người nghèo thật sự hay chỉ là những người lười biếng không muốn làm việc. Giới trẻ, thanh niên sinh viên, chưa từng phải vật lộn làm việc, cũng bị lôi cuốn theo tuyên truyền mỵ dân kiểu Xã Hội Chủ nghĩa này.

Nhưng giới đã làm ăn và thành công, thì mỗi lần một Nhà Nước rơi vào tay đảng Xã Hội, thì họ tìm cách chuyển tiền bạc đi tỵ nạn để trốn thuế, nhất nữa tìm nơi an toàn để cất kỹ tiền bạc.

Sống tại Thụy sĩ, làm việc với giới Tài chánh/ Ngân Hàng, chúng tôi có nhiều dịp quan sát những làn sóng tỵ nạn tiền bạc. Tôi thường nói rằng khi nào mà Thế giới có loạn lạc về chiến tranh hay khủng hoảng Tài chánh, thì Thụy sĩ MỞ RỘNG BIÊN GIỚI để đón Tiền tỵ nạn; và khi nào Thế giới yên lành, thì Thụy sí đóng chặt BIÊN GIỚI để Tiên bạc khỏi ra.


Tôi xin kể một số những sự việc làm tỉ dụ:

=>  Khi Oâng MITTERAND, đảng Xã Hội, lên cầm quyền tại Pháp trước đây, Oâng tuyên bố phải thắt dây buộc bụng, người Pháp chỉ nên du lịch trong nội địa, dùng kiểm soát và hạn định tài chánh để ngăn cản việc đi nghỉ hè tại nước ngoài. Oâng cũng đưa ra những chương trình quốc hữu hóa một số Xí nghiệp. Việc hồ hởi tuyên bố khuynh hướng Xã Hội Chủ nghĩa đã tạo ra làn sóng tỵ nạn Tiền Pháp sang Thụy sĩ. Pháp phải tăng cường biên phòng chung quanh thành phố Geneva để kiểm soát tỵ nạn tiền tệ theo đường bộ. Nhưng người ta đã thấy những BoatMoney chuyển tiền từ Thonon (Pháp) băng qua Hồ Léman sang Lausanne.  

=> Cách đây chừng 15 năm, mặc dầu Mỹ chưa có OBAMA, nhưng cũng đã có những người Mỹ tìm cách mang Đo-la đi tỵ nạn. Thực vậy, tôi có 3 người Mỹ, xuyên qua giới thiệu của một người bạn Việt sống tại Texas, hẹn gặp tôi để thảo luận về tài chánh. 3 người đó thuộc Giáo Hội Tin Lành Baptiste. Họ muốn hỏi tôi xem gửi tiền ở Ngân Hàng tại đâu cho chắc chắn và thuế thấp bởi vì bên Mỹ đánh thuế cao. Tôi đã phải chỉ họ lên tận vùng núi Pyrennées và gửi tiền tại một Ngân Hàng thuộc Andora nằm giữa Pháp và Tây Ban Nha.

=> Cách đây 5 năm, tôi cũng đã có dịp làm việc trong hai tháng tại Nassau, Bahamas, về những Offshore Funds, nhất là của Mỹ, tại đây. Xin lưu ý rằng những Tập đoàn Liên quốc gia của Mỹ kiếm được Lợi nhuận nhiều bên ngoài Lãnh thổ Hoa kỳ. Nếu mang những Lợi nhuận đó về, thì phải đóng thuế cao, nên họ cho những Lợi nhuận ấy chạy vòng vòng bên ngoài Lãnh thổ Mỹ. Giới Tài chánh gọi đây là những Offshore Funds.

Xin lưu ý độc giả rằng từ Á sang Aâu và Mỹ, phải có những nơi mà chúng tôi gọi là Thiên đàng Thuế khoá Tài chánh. Tỉ dụ, Á châu có Signapore; Trung đông có Dubai; Aâu châu có Liechenstein, Andora, Monaco; Mỹ châu có Nassau, Bahamas; và cho toàn Thế giới, có Thuyï sĩ.

=> Cuối năm 2007 vừa rồi, Đức đã công khai và kịch liện tố cáo Liechenstein vì họ bắt được danh sách giới Tài phiệt Đức trốn thuế gửi tiền sang Liechenstein, rồi chuyển đến các Ngân Hàng Thụy sĩ nằm bên cạnh. Trong cuộc Họp Aâu châu trung tuần tháng 10 vừa rồi tại Paris để thào luận về biện pháp chung Aâu châu cứu vãn Khủng hoảng Ngân Hàng/ Tài chánh. Hai Bộ trưởng Tài chánh Pháp và Đức công khai chỉ trích Thụy sĩ. Thâm chí Bộ trưởng Tài chánh Đức muốn đề nghị xếp Thụy sĩ vào Danh sách đen (Liste noire) của những nơi gọi là Thiên đàng trốn thuế. Thụy sĩ nhất định phản bác lại. Bộ trưởng Ngoại giao Thụy sĩ Calmy RAY đã nói rằng chúng tôi không có lỗi gì cả và được toàn quyền định về chế độ Thuế khóa của nước chúng tôi và nếu nước Đức muốn tránh việc trốn thuế của Công dân nước mình, thì đừng LẤY THUẾ CAO.


Oâng Cố vấn tối cao Dick MORRIS của Cựu TT.CLINTON đã nhận định rất đúng về hậu quả của chủ trương Xã Hội của OBAMA đối với vấn đề tranh cử mà các đảng Xã Hội tại Aâu châu đã làm từ lâu để mỵ dân lấy phiếu đối với giới trẻ chưa phải vật lộn kiếm sống và đang ước ao giúp đỡ xã hội.

Chủ trương Xã Hội hay chỉ là tuyên truyền mỵ dân chiếm phiếu, OBAM có thể tạo ra làn sóng TỴ NẠN VỐN từ Hoa kỳ sang các nước khác.

Điều này là điều vô cùng tai hại cho Kinh tế Hoa kỳ vậy.

 

Bài 01:
MẦU ĐEN CỦA
CHỨNG KHOÁN KHẮP THẾ GIỚI
TRẢ LỜI CHO LIÊN HOAN CỦA OBAMA

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
06.11.2008


Thị trường chứng khoán gồm những con người làm ăn thực sự về Tài chánh và Kinh tế. Phản ứng của Thị trường Chứng khoán là phản ứng của những người liên hệ đến tính toán ăn thua tiền bạc thực sự, không mang những xúc động hồ hời tình cảm  nhất thời.

Cuộc bầu cử tại Hoa kỳ giữa cơn khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế cho thấy hai lớp người bầu phiếu. Một bên, số người trẻ và những người da đen trong các khu phố bình dân nhìn ở OBAMA một sự giải phóng tình dục, một sự trợ giúp xã hội. Họ chưa từng tính toán xít xao làm ăn để kiếm từng đồng bạc trong đời sống tài chánh và kinh tế. Một bên, số người đã từng trải kiếm sống, thường là những người đã lớn tuổi, tính toán kỹ lưỡng tiền bạc, nhìn ở McCAIN một chương trình cứu vớt thực sự cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế đang diễn ra.

Trong lúc phía những người bầu cho OBAMA đang say sưa liên hoan mừng rỡ đến quá độ, thì các Thị trường Chứng khoán, gồm những người đã từng trải làm ăn, bắt đầu từ Uùc châu, Á châu, mang những Chỉ số với mũi tên chỉ xuống trước viễn tượng OBAMA. Những người làm ăn thực sự về Tài chánh/Kinh tế chắc chắn phải kể chính yếu biến cố Lịch sử của việc thắng cử của OBAMA trong quyết định của họ ở Thị trường Chứng khóan. Như vậy, những mũi tên đỏ của khắp các Thị trường Chứng khoán chỉ xuống chứng tỏ rằng họ chưa có lòng tin ở khả năng của OBAMA về mặt Kinh tế/Tài chánh, hoặc chứng tỏ một sự thất vọng cho việc thất cử của McCAIN với chương trình Kinh tế/Tài chánh mà họ coi là cụ thể hơn. Từ Uùc, Á châu, rồi Aâu châu và Mỹ châu, Thị trường chứng khoán trở thành đen. Trong ngày thứ Năm, 06.11.2008, tất cả các Ngân Hàng Trung ương tại Aâu châu quyết định đề phòng bằng đồng loạt hạ Lãi suất Chỉ đạo xuống. Điều đó chứng tỏ một sự lo ngại cho tương lai Khủng hoảng sau OBAMA lan trầm trọng sang Lãnh vực Kinh tế thực.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




4.   TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM:
      KINH TẾ TỤT DỐC RÕ RỆT

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
30.10.2008


Mục đích của chúng tôi khi viết về cuộc Khủng hoảng Tài chánh 1997 của Á châu và nhất là theo rõi cuộc Khủng hoảng Tài chánh hiện nay của Thế giới là để: (i) phân tích tình trạng bấp bênh phát triển Kinh tế tại Việt Nam theo mẫu Trung quốc; (ii) xem hậu quả của của cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay 2007/08 lên hai nước Cộng sản này như thế nào.


Bối cảnh hệ thống Ngân Hàng
Tại Trung quốc và Việt Nam

Vào những năm 1997, những nước bắt đầu phát triển tại Á châu có một hệ thống Ngân Hàng luộm thuộm, quyết định tài chánh mang tính gia đình hay quyền lực Chính trị. Khi Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF/FMI) lập Plan Bailout cho những nước bị Khung hoảng 1997, IMF đòi buộc những nước này trước tiên là phải chỉnh đốn lại hệ thống Ngân Hàng, đặt Cơ quan kiểm soát độc lập đối với các Ngân Hàng.

Đối với Trung quốc và Việt Nam ngày nay, trong lúc hai nước này ca ngợi độ phát triển Kinh tế cao của họ, thì người ta cũng quan sát thấy tính cách luộm thuộm của hệ thống Ngân Hàng hai nước và những quyết định Tín dụng Ngân Hàng bị ảnh hưởng trầm trọng bởi liên hệ gia đình, phe nhóm băng đảng chính trị.

Tại Trung quốc, Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “... un système bancaire national perchus de mauvais crédits... “(LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (... một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15).

Tại Việt Nam, chính Nguyễn Tấn Dũng đã phải than lên rằng có những Ngân Hàng đã lấy vốn ngắn hạn để đầu tư cho những dụ án dài hạn.
 
Ký giả Gia Huy đã viết đãng trong VietNamNet ngày 09.10.2008 như sau:”Bức tranh kinh tế xã hội 2008 có nhiều biến động đã bộc lộ thực tại đời sống ngân hàng từ quản lý vĩ mô đến việc quản trị điều hành, việc thực thi chiến lược quản lý tiền tệ cũng như các kế hoạch kinh doanh và hàng loạt các vấn đề liên quan khác. Chính sách tiền tệ quốc gia và kinh doanh tài chính ngân hàng còn nhiều bất cập. Khi có biến cố thị trường tất cả đều bị động chạy theo. Công cụ và kiểm soát quản trị rủi ro có không ít vấn đề.”

Cái bối cảnh của hệ thống Ngân Hàng tại Việt Nam và Trung quốc cũng có những điểm giống năm 1997 tại những quốc gia bị Khủng hoảng Tài chánh trong vùng như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn mà chính IMF/FMI đòi đỏi phãi cải tổ như một điều kiện được hưởng Plan Bailout của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế.

Một bối cảnh của hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh như vậy tự nó là nguồn Khủng hoảng cho Tài chánh/ Kinh tế cho một nước theo như phân tích của Bà Francoise NICOLAS về cuộc Khủng hoảng Á châu năm 1997.

Và trước cuộc Khủng hoảng Thế giới hiện nay về Ngân Hàng/Tái chánh, hai nước Trung quốc, Việt Nam, với bối cảnh Ngân Hàng/Tài chánh luộm thuộm lúc này, không thể chống đỡ lại tầm ảnh hưởng Tài chánh đang diễn ra trên Thế giới.

Chúng tôi nhìn tầm ảnh hưởng Tài chánh Thế giới dưới ba góc cạnh: (i) về Vốn nước ngoài; (ii) về Giảm sút độ tăng trưởng Kinh tế; (iii) về Xáo trộn xã hội ảnh hưởng lên Chính trị.

Với hạn hẹp của bài viết và với những dữ kiện chưa dồi dào ở bước đầu của tầm ảnh hưởng, chúng tôi chỉ phác họa tổng quát hướng đi của tầm ảnh hưởng. Chúng tôi sẽ viết tiếp tục để khai triển thêm theo với thời gian và theo những dữ kiện từ từ thu lượm.


Aûnh hưởng trực tiếp
Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08
Lên Trung Cộng và Việt Nam về Vốn nước ngoài

Trung Cộng và Việt Nam chủ trương Chính trị độc tài độc đảng và chế độ Chính trị ấy nắm độc quyền Kinh tế. Ở hai nước, Lao động bị kềm chế ở mức lương thấp. Nhiều những bài báo cáo Quốc tế đã viết về Lao động tại hai nước như một sự khai thác Nhân lực bất chấp Nhân quyền. Tại Trung quốc, nhân công từ những vùng nghèo khổ nội địa kéo về các tỉnh công nghệ ven biển  và làm việc cực nhọc như những đàn súc vật. Tại Việt Nam, đồng quê bị bỏ rơi, nông dân về những khu chế xuất công nghệ làm việc trong những điều kiện tồi tệ.

Các Công ty Liên quốc nước ngoài (Le Multinationales Etrangeres), trong chủ trương quản trị Chi tiêu cho xí nghiệp (Gestion des Charges de l’Entreprise) đã tìm đến hai nước này để khai thác nhân công rẻ với sự đồng ý và phụ lực khai thác của một chính thể độc tài độc đảng khóa miệng nhân công.

Vốn nước ngoài đổ vào hai nước này để mở xưởng chế xuất hàng hóa không phải là Vốn Đầu tư lâu dài cho hai nước, mà là Vốn ngắn hạn khai thác nhân lực nhằm sản xuất hàng hóa rẻ mạt xuất khẩu sang những nước đã Kỹ nghệ hóa để bán với giá cao.

Với cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay, hệ thống Ngân Hàng/Tài chánh tại những nước đã Kỷ nghệ hóa như Mỹ và Liên Aâu rơi vào tình trạng thiếu Vốn. Trong tình trạng này, họ có thể cắt xuống hoạc rút Vốn ra từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam. Có những Dự án đã ký kết, nhưng có thể không được giải ngân vì tình trạng thiếu Vốn.

Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho vấn đề Vốn ở Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés  sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence...”. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề...”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)

Oâng Jonathan MANTHORPE, Vancouver Sun 13/10/08, đã nhận xét: “Nhưng các vấn đề của các quốc gia đang phát triển còn tuỳ thuộc vào sự phát triển đầu tư và các thị trường trong quỹ đạo kinh tế toàn cầu chuyển động chung quanh Hoa Ky.“ø

Trong THE WALL STREET JOURNAL Europe, ngày 15.10.2008, dưới đầu đề CHINA DRAWS LESS CAPITAL, Ký giả Andrew BATSON đã viết: ”Capital flows into China have slowed sharply and even reversed in recent months, according to official data that show how the financial crisis has disheartened investors and disrupted banks in this fast-growing nation” (page 4) (“Trào lưu Vốn chảy vào Trung quốc đã chậm lại mạnh and ngay cả chảy ngược lại trong những tháng gần đây, theo những dữ kiện cho thấy, cuộc khủng hoảng tài chánh đã làm mất can đảm những nhà đầu tư và đã làm ngưng trệ các ngân hàng trong cái nước đang phát triển mau lẹ này.” (trang 4)

Đối với Trung quốc, tình trạng Vốn nước ngoài đã như vậy, huống chi đối với Việt Nam. Việt Nam còn bị thiếu vốn trầm trọng hơn Trung quốc vì nguồn Vốn nọi địa yếu kém hơn Trung quốc.


Aûnh hưởng trực tiếp
Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08
Lên Trung Cộng và Việt Nam về Độ Tăng trưởng Kinh tế.

Tại những nước đã Kỹ nghệ hóa, các Chính phủ đang lo ngại tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh lan sang Lãnh vực Kinh tế thực làm cho đà Tăng trưởng giảm xuống trong những năm tới.

Ba lý do chính cát nghĩa tầm ảnh hưởng của cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới đối với Lãnh vực Kinh tế thực tại Trung quốc và Việt Nam, nghĩa là làm giảm Độ tăng trưởng Kinh tế tại hai nước này:

=> Lý do thứ nhất: Khi nguồn Vốn nước ngoài giảm thiểu và nguồn Vốn nội địa không đủ, thì tất nhiên một số Công ty không trường vốn sẽ bị phá sản. Tại Liên Aâu và Hoa kỳ, những Công ty có nguồn vốn nội địa và những Công ty này đã tạo trong nhiều năm rồi số vốn riêng của họ tích lũy (Cumulation des Fonds propres) để có độc lập về Tài chánh (Autonomie Financìere), nhưng tại những nước mới bắt đầu phát triển, những Công ty lệ thuộc vào Thị trường Tài chánh mang tính cách bấp bênh.

=> Lý do thứ hai: Cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới làm cho các nước Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước trong vùng Á châu giảm thiểu việc mua hàng mà trước đây Trung quốc và Việt Nam vẫn cung cấp cho họ: những linh kiện cho Kỹ nghệ hay những hàng thường dùng cho dân chúng. Nên lưu ý rằng việc chế xuất hàng hóa từ Trung quốc hay Việt Nam là để cung cấp cho nước ngoài tới 70%. Việc giảm thiểu mua hàng này từ những nước đã Kỹ nghệ hóa tất nhiên làm ngưng trệ Kinh tế Trung quốc và Việt Nam, nghĩa là làm giảm độ Tăng trưởng Kinh tế.

=> Lý do thứ ba: Sau những cuộc Khủng hoảng, những Quốc gia dù có chủ trương Tự do Mậu dịch mấy đi nữa, cũng dễ có khuynh hướng Che chở (Protectionnisme) cho những Công ty quốc gia mình tại nội địa. Tại cuộc họp thượng đỉnh giữa Liên Aâu và Canada, dưới đầu đề A QUEBEC, MR.SARKOZY MET EN GARDE CONTRE LE PROTECTONNISME, Báo LE MONDE ngày Thứ Hai 20.10.2008 đã viết như sau: “Derrìere la crise bancaire, le spectre du protectionnisme qui hanta les années 1930. Avant de rencontrer, Samedi 18 Octobre, le président américain George BUSH dans sa résidence de Camp David, Nicolas SARKOZY, président en exercice de l’Union Européenne (UE), et le président de la Commission, José Manuel BARROSO, ont lancé vendredi, depuis Québec, un appel contre la fermeture des frontìeres.” (Đàng sau cuộc khủng hoảng tài chánh, con quỉ Che Chở (Protectionnisme) đã hiện về trong những năm 1930. Trước khi gặp, Thứ Bảy 18.10, Tổng thống Mỹ George BUSH ở Camp David, Nicolas SARKOZY, Chủ tịch đương nhiệm của Liên Aâu, và Oâng Chủ tịch Uûy Ban Liên Aâu, đồng kêu gọi hôm Thứ Sáu, từ Québec, chống lại việc đóng các biên giới.).

Dù không công khai tuyên bố Che Chở, nhưng các nước áp dụng những Biện Pháp Không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để hạn chế nhập khẩu. Trong trường hợp Che Chở, hay những Biện pháp không giá biểu, thì Trung quốc và Việt Nam điều bị thiệt hại vì hai nước này làm việc cho xuất cảng.

Thứ Hai 20.10.2008, Trung quốc công khai cho biết rằng độ tăng trưởng Kinh tế của họ từ 11% xuống tới 9% trong Tam Cá Nguyệt thứ ba của năm nay.

Trong Tờ FINANCIAL TIMES, thứ Hai 20.10.2008, Ký giả Geoff DYER tại Bắc Kinh còn trích lời Oâng HA Jiming, Kinh tế trưởng của China International Capital Corporation ỡ Bắc Kinh, tiên đoán rằng độ tăng trưởng Kinh tế Trung công có thể thụt xuống 7.3% (Ha Jiming, Chief Economist at China International Capital Corporation in Beijing, predicts that growth will fall to 7.3 per cent.)

Tờ THE WALL STREET JOURNAL Europe Thứ Hai 20.10.2008 loan tin về tình trạng một số khá nhiều Công ty tại Trung quốc sẽ phá sản. Đặc biệt tờ báo còn loan tin sự phá sản của Công ty sản xuất đồ chơi với 6’500 nhân công làm việc.

Tờ FINANCIAL TIMES hôm nay Thứ Ba 21.10.2008 cho chạy tít lớn ở trang nhất: CHINA GROWTH SLOWS SHARPLY. Cũng vậy, Tờ THE WALL STREET JOURNAL hôm nay thứ Ba cũng đăng bài dài về sự xuống dốc của Kinh tế Trung Cộng với đầu đề THE WORLD FEELS CHINA’S DECLINING GROWTH.

Việt Nam, cùng một thể chế Chính trị với Trung Cộng, cùng một hệ thống Kinh tế làm việc cho xuất cảng, tất nhiên chịu cùng những hậu quả của cuộc Khủng hoảng Tài chánh như tại Trung quốc. Chính Báo Việt Nam đã loan tin tình trạng phá sản tới 20% các Công ty.

Jonathan Manthorpe, Vancouver Sun 13/10/08, đã viết: “Ông Dũng đã giảm bớt sự ước lượng mức tăng trưởng của tổng sản lượng nội địa trong năm nay xuống còn 7% từ mục tiêu ban đầu là 9%. Nhưng ít nhà kinh tế tin rằng mục tiêu đó thực tế vì mức tăng trưởng chỉ có 6.5% trong 9 tháng đầu năm và triển vọng cho những tháng còn lại thì thậm chí còn tối tăm ảm đạm hơn“.


Aûnh hưởng gián tiếp
Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08
Lên Trung Cộng và Việt Nam về Xã Hội và Chính trị.

Tình trạng Kinh tế xuống dốc tất nhiên ảnh hưởng tới những vấn đề Xã hội và Chính trị mà hai đảng Cộng sản Trung quốc và Việt Nam phải lo lắng.

Giáo sư TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés  sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence. Si les exportations chinoises reviennent à une croissance à un chiffre, le produit intérieur brut pourrait perdre deux points de croissance... Les autorités craignent des troubles sociaux. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề... Nếu những xuất cảng của Trung quốc trở về độ tăng có một con số, thì sản xuất nội địa sẽ mất độ tăng... Chính quyền đang lo sợ những xáo trộn xã hội”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)

Oâng còn nói thêm rằng những xáo trộn xã hội này gồm việc phải thải nhân công đã bỏ nội địa xa xôi về các thành phố ven biển làm việc. Bây giờ đẩy họ về nội địa nghèo khó không phải là dễ dàng. Tại Việt Nam, nhân công cũng từ thôn quê miền Nam, từ những tỉnh miền Trung nghèo khổ và từ những tỉnh miền Bắc kéo về Thủ đô. Khi họ bị sa thải, làm thế nào đẩy họ tở về nguyên quán.

Để giải quyết vấn đề này, Trung ương đảng CS Trung quốc đã họp kín 4 ngày trong tuần vừa rồi. Ký giả GILLIAN WONG, Associated Press Writer Gillian Wong, Associated Press Writer – Sun Oct 12, 11:20 am ET AP, đã viết: “BEIJING – China's ruling Communist Party on Sunday said it would seek to expand its massive internal market to counter the global economic slowdown that has reduced international demand for Chinese goods. The party, led by President Hu Jintao, released a statement at the end of a four-day meeting of its Central Committee where it also approved a plan aimed at doubling rural incomes by 2020.”(Bắc Kinh—Ban Điều hành đảng Cộng sản Trung quốc nói là Trung quốc tìm cách khai triển thị trường nội địa kếch xù của họ để bù trừ vào việc đình trệ của kinh tế tổng quát đã giảm thiểu việc đặt mua hàng của quốc tế đối với hàng hóa Trung quốc. Đảng, lãnh đạo bởi Chủ tịch HU JINTAO, tuyên bố sau 4 ngày họp của Trung ương đảng rằng đảng đã chấp nhận một chương trình nhằm tăng gấp đôi thu hoạch nông thôn vào khoảng năm 2020.”

Đây là chương trình không dễ thực hiện và rất tốn kém bởi vì trong nội địa Trung quốc, phải mất tối thiểu 20 năm nữa mới có thể có một hệ thống đường sá khả dĩ hỗ trợ cho phát triển kinh tế nông thôn.

Tại Việt Nam, vì quá hồ hởi với việc công nghệ hóa, nên đảng CSVN đã hầu như bỏ quên nông thôn. Đây là điều vô cùng đáng tiếc bởi vì Việt Nam có căn bản địa lý đồng bằng để phát triển mau chóng nông nghiệp.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế










5.    KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRUNG QUỐC:
       TỪNG NGÀN XÍ NGHIỆP DẸP TIỆM

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
13.11.2008


Phụ Bản 05 (Phần I) lần trước nói tổ quát về những ảnh hưởng của cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế Thế giới lên Kinh tế Trung quốc và Việt Nam. Phụ Bản 06 này (Phần II) đi vào những Lãnh vực Kinh tế rõ rệt của Trung quốc đang bị thụt lùi trầm trọng.

Tờ THE WALL STREET JOURNAL Europe, hôm qua Thư Tư 12.11.2008, dưới đầu đề SIGNS OF AN ECONOMIC SLOWDOWN ARE ALSO SPREADING IN CHINA, viết như sau: “Signs of a slowdown in China are spreading, with weak economic data for October illustrating why the government hurried to announce its massive stimulus plan. New data announced Tuesday shows slowing imports, weakening home prices and a drop in export orders, all pointing to a sharp decline in activity that will take time to reverse” (By Andrew BATSON in Beijing and Norihiko SHIROUZU in Guangzhou, China, page 16) (Những dấu chỉ của một cuộc xuống dốc tại Trung quốc đang lan tràn, với những dữ kiện của kinh tế yếu kém cho tháng 10 chứng tỏ lý do tại sao Nhà Nước đã phải vội vã tuyên bố một chương trình kích thích khổng lồ. Những dữ kiện mới được tuyên bố hôm Thứ Ba chứng tỏ những nhập cảng đang tuột dốc, những giá cả tiêu thụ nội địa đang yếu nhược đi và một sự rơi giảm hẳn những đặt mua hàng cho xuất cảng, tất cả đang chứng tỏ rõ rệt một sự giảm sút sâu đậm trong hoạt động mà phải có thời gian mới có thể lấy lại.)

Câu nhận định trên đây của hai Tác giả sống tại Trung quốc tóm tắt tổng quát tình trạng tụt dốc Kinh tế của Trung quốc.

Chúng tôi muốn đi vào chi tiết của những Lãnh vực hoạt động rõ rệt sau đây:

=> Thương hiệu “Made in China” mất hẳn giá trị
=> Tụt hẳn giá Địa ốc
=> Đóng cửa các Xí nghiệp
=> Chương trình kích thích nội địa
=> Thất nghiệp và lo sợ xáo trộn xã hội


Thương hiệu “Made in China”
mất hẳn giá trị

Thương hiệu của một Quốc gia là sự thẩm định đầu tiên và TỔNG QUÁT của người tiêu thụ về phương diện giá cả và về phẩm chất của hàng hóa. Từ đó, người tiêu thụ mới đi thẩm định từng món hàng trước khi quyết định số lượng mua. Khi nhìn Thương hiệu: Made in USA, Made in France, Made in Germany, Made in Switzerland, Made in Japan, Made in Singapore, Made in China..., mỗi người tiêu thụ nghĩ về giá cả và phẩm chất của hàng hóa do tên một nước tạo ra trong đầu óc của khách hàng.

Khi hàng Trung quốc bắt đầu tràn lan trên Thế giới, nhất là sau khi nhập WTO, Thương hiệu Made in China làm cho người tiêu thụ nghĩ liền đến giá cả hạ. Trong thời gian đầu cách đây chừng 50 năm, Thương hiệu Made in Japan cũng cho khách hàng nghĩ ngay đến giá hạ. Nhưng ngày nay, Thương hiệu Made in Japan tạo trước tiên cho khách hàng không phải là giá hạ nữa mà là có kỹ thuật cao, đáng được tin tưởng.

Từ Thương hiệu Made in China cho ý tưởng đầu tiên là giá thấp, Trung quốc phải tiến dần đến kiện toàn kỹ thuật để khách hàng tin tưởng và phẩm chất như Nhật đã đạt được. Nhưng ngược lại, Thương hiệu Made in China hiện nay đã mất hẳn giá trị vì những việc làm sau đây của chính Trung quốc:

=> Đồ ăn cho súc vật: chó ăn té đùng ra chết tại Hoa kỳ
=> Đồ chơi cho trẻ con có những chất sơn mang chất độc tạo bệnh tật
=> Chất Mélanine trong sữa bột tạo bệnh thận cho chính trẻ em tại Trung quốc
=> Những kẹo bánh cũng có pha quá mức của chất Mélanine
=> Chất Mélanine này cũng được xử dụng trong việc chế những đồ dùng bằng nhựa như chén bát, đũa nhựa, đồ dùng nhà bếp
=> Một số những quần áo, chăn mền từ Trung quốc cũng bị khám phá ra là có chất làm hại da của người xử dụng
=> Siêu thị CARREFOUR của Pháp đã phải thường tiền chữa bệnh cho những khách hàng mua ghế xa-long từ Trung quốc. Ngồi, nằm nhiều trên những xa-long ấy, sẽ bị bệnh ngứa, nổi sần lằn da.
=> Ý quốc mới tịch thu một số lượng lớn dầy dép bằng da được sản xuất từ Trung quốc. Da có chất nhuộm làm ung thư chân. 
=> Một điều rất quan trọng là Trung quốc giữ quán quân về việc làm đồ giả mà vẫn đề là sản xuất tại những nước nguồn gốc của hàng hóa đó: tỉ dụ Đồng hồ giả sản xuất từ Trung quốc, nhưng vẫn đề là Made in Switzerland; những ví da của phụ nữ sản xuất từ Trung quốc, nhưng vẫn đề là Mande in Italy... Thuốc men chữa bệnh sản xuất từ Trung quốc, đã lan tràn sang các nước nghèo, nhất là Phi châu. Điểm này đã tạo cho khách hàng hiểu những đồ Trung quốc là giả mạo và không thể tin tưởng.

Thương hiệu Made in China đã tuột dốc đến nỗi có nhiều những tiệm phân phối phải dấu cất hàng hóa hay tìm cách đề trại đi. Thương hiệu Made in China đã trở thành một sự xấu hổ vậy. Một số Công ty Đức, trước đây sản xuất tại Trung quốc, nay đưa việc sản xuất về Đức để nhờ Thương hiệu Made in Germany. Họ xử dụng nhân công từ những nước Đông Aâu để có giá rẻ. Như vậy một đàng lợi dụng được Thương hiệu Made in Germany, một đàng tránh hẳn Thương hiệu Made in China đã mất hẳn giá trị.


Tụt hẳn giá Địa ốc

Trong suốt 8 năm vừa rồi, người ta ca ngợi “boom housing construction” tại Trung quốc. Những cao ốc được mọc lên như nấm tại các thành phố ven biển, nhất là tại Thượng Hải. Thời gian này cũng trùng với thời gian xây cất các cơ sở, khách sạn cho Thế Vận Hội Bắc Kinh. Tất cả những xây cất nhà cửa này mang khía cạnh phô trương sự thành công của đảng Cộng sản Trung quốc.

Dân chúng từ các vùng quê trong nội địa kéo về các thành phố ven biển. “Anywhere from 15 million to 20 million people move to Chinese cities each year” (Từ mọi nơi, từ 15 tới 20 triệu người kéo về các thành thị Trung quốc mỗi năm) (Andrew BATSON, Beijing, THE WALL STREET JOURNAL, 24.10.2008, page 9). Nhưng theo Andrew BATSON, thì việc xây cao ốc không phải là cho dân chúng từ các vùng quê kéo về vì những người này chưa đủ khả năng mua nhà.

Nếu cuộc Khủng hoảng Tài chánh tại Hoa kỳ bắt đầu bằng vỡ lở Tín dụng  (Mortgage Subprime Credits), thì cuộc Khủng hoảng địa ốc hiện nay tại Trung quốc đến từ sự chi tiêu quá đáng để phục vụ cho Chính trị. Việc chi tiêu quá đáng này, sau những xây cất cơ sở Thế Vận Hội, gặp đúng lúc bùng nổ Khủng hoảng Tài chánh Thế giới, khiến tình trạng ứ đọng Địa ốc trở thành trầm trọng.

Dưới đầu đề BEIJING MOVES TO STIMULATE HOME-BUYING đăng trong THE WALL STREET JOURNAL Europe, 24.10.2008, Andreww WATSON đã viết:

“Sales of new housing in China have plummeted in recent months as buyers get spooked by deteriorating economy and weakening prices. With economic growth also slowing more than expected, officials have moved from truying to rein in prices to encouraging buyers. This week, they announced tax breaks, smaller down-payment requirements and lower loan rates for first time home buyers.”

“More than 80 million people are employed directly in the construction industry, so a prolonged downturn also threatens to lead to more unemployment and social unrest.”  

(Việc bán những nhà mới tại Trung quốc đã tụt xuống trong những tháng gần đây khi những người mua hoảng sợ vì kinh tế giảm hẳn xuống và giá cả yếu hẳn đi. Với độ tăng trưởng kinh tế yếu kém hơn như mong đợi, phía nhà nước can thiệu vào bằng cách giữ giá cả để cổ võ những người mua. Tuần này, phía nhà nước đã tuyên bố những việc giảm thuế, đòi tiền cọc nhỏ hơn và cho tín dụng với lãi suất hạ cho những người mua nhà đầu tiên.

(Hơn 80 triệu người được xử dụng trực tiếp trong kỹ nghệ xây cất, vì vậy một sự yếu kém kinh tế kéo dài đe dọa dẫn đến thất nghiệp nhiều hơn và xáo động xã hội.”

Oâng William XIN, Tài chánh trưởng của China Housing & Land Development Inc., đã tuyên bố:”Now everybody believes the price will go down. And the developpers don’t want to sell at a lower price. Nobody wants to sell, and nobody wants to buy” (The Wall Steet Journal, 24.10.2008, page 9) (Bây giờ mọi người tin là giá sẽ xuống. Va những người xây cất không muốn bán với giá hạ. Không ai muốn bán, và không ai muốn mua.”

Cũng theo Andrew BATSON, kỹ nghệ xây cất liên hệ đến những sản xuất khác: “Housing sales have plummeted. That, in turn, is affecting imports of pivotal  raw materials like iron ore, used to make steel.” (Norihiko SHIROUZOU, The Wall Street Journal, 12.11.2008, page 16) (Việc bán nhà cửa chìm sâu xuống. Điều này đang ảnh hưởng tới việc nhập cảng những vật dụng thô như quạng sắt để chế thép). Những tỉ dụ đình trệ về những sản xuất liên hệ đến Địa ốc: giá xi măng, giá sắt thép hạ tới gần 50%; những đồ trang bị nhà cửa cũng đình trệ như máy lạnh giảm mua tới 21%.


Đóng cửa các Xí nghiệp

Trong đoạn đầu chúng tôi đã viết về Thương hiệu Made in China và những lý do đang tàn phá những hàng Trung quốc, nhất là về vải vóc, chăn màn, đồ chơi trẻ con, giầy dép... nghĩa là những hàng nhẹ nhằm xuất cảng. Gặp thời Khủng hoảng Tài chánh, Kinh tế tại những Quốc gia tiêu thụ lớn như Hoa kỳ và Liên Aâu, những đặt hàng từ những Quốc gia này giảm hẳn xuống, tất nhiên những Công ty nhỏ và trung bình của Trung quốc quy tụ chung quanh vùng Quảng Đông làm việc cho Lãnh vực này đang đi đến phá sản.

Nhật báo LE MONDE số 19844 ngày Thứ Năm hôm nay 13.11.2008, dưới đầu đề EN CHINE, DES MILLIERS D’ENTREPRISES FERMENT DANS LA REGION DE CANTON (Tại Trung quốc, hàng ngàn xí nghiệp đóng cửa trong vùng Quảng Đông), đã viết như sau:

“Le vaisseau amiral de l’économie chinoise navigue par gros temps, secoue par la tempete de la crise financiere: la province de Guangdong qui, voici trente ans, fut la figure de proue de l’extraordinaire décollage de la Chine et y symbolisa plus tard la réussite, est aujourd’hui l’une des régions les plus touchées de la République populaire. “On pourrait dire que c’est ici que tout a commencé et que c’est ici que tout pourrait finir”” (page 15) (Đô đốc kỳ hạm đang thảnh thơi lướt sóng, bị chao động bời cơn bão khủng hoảng tài chánh: tỉnh Quảng Đông, ba mươi năm trước đây, đã là bộ mặt dẫn đầu của cuộc cất cánh lạ lùng của Trung quốc và đã là biểu tương của sự thành công sau đó, ngày nay trở thành một trong những vùng bị thiệt hại nhất của nước Cộng hòa Nhân dân. “Người ta có thể nói rằng chính từ nơi này mà mọi sự đã bắt đầu và rằng cũng chính từ nơi này mà mọi sự sẽ chấm dứt.””).

Vùng Quảng Đông chiếm 1/3 những xuất cảng của Trung quốc, đứng hàng thứ 8 cho thu nhập thuế và chiếm 25% những đầu tư nước ngoài. Sự sụp đổ Kinh tế của Quảng Đông trở thành trầm trọng cho Kinh tế Trung quốc.

Bruno PHILIP, tác giả bài báo trên đây, viết tiếp:

“Depuis fin 2007, la machine à produire du miracle s’est grippée et le krach de septembre a amplifíe la tendance. Entre Janvier et Juillet, plus de 3’000 PME de l’industrie de jouet, la plupart des sous-traitants, ont fermé boutique... Les experts remarquent que 95% d’entre elles ne reviendront pas en Chine continentale.” (Từ cuối năm 2007, bộ máy sản xuất phép lạ kinh tế bị bệnh rút co lại và cuộc khủng hoảng tháng Chín đã làm tăng thêm hướng xuống ấy. Trong giữa tháng Giêng và tháng Bẩy, hơn 3’000 Xí nghiệp nhỏ và trung bình về kỹ nghệ đồ chơi, phần lớn làm cho những Công ty khác, đã dẹp tiệm... “Những chuyên viên cho biết rắng 95% trong số những Xí nghiệp này sẽ không trở lại Trung quốc lục địa nữa”.)

Chính việc đóng cửa nhiều ngàn Xí nghiệp như vậy mà Chính phủ Trung quốc mới họp tuần này để tìm giải pháp nâng đỡ các Xí nghiệp khác đang hấp hối.

Tờ FINANCIAL TIMES Thứ Năm 13.11.2008 viết :”China, worried by slowing growth and widespread reports of FACTORY CLOSURES, is to step up support for manufacturers”. Chính phủ không thể không có biện pháp năng đỡ xuất cảng nhằm cứu những xí nghiệp còn đang bị đe dọa đóng cử này.


Chương trình kích thích nội địa

Nền Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng, nghĩa là lệ thuộc vào mức tiêu thụ nước ngoài, nhất là Hoa kỳ, Liên Aâu... Cuộc khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế làm giảm khả năng tiêu thụ của những Quốc gia này, nghĩa những nước này giảm mua hàng Trung quốc.

Trung quốc buộc lòng phải kích thích tiêu thụ nội địa nếu muốn đà phá triển sản xuất giữ được mức độ cân bằng bù trừ nào đó. Hai tác giả Aaron BACK và J.R.WU, trong The Wall Street Journal, ngày 13.11.2008, trang 24, còn nhận xét một điều đáng lo ngại cho Trung quốc là chính việc tiêu thụ nội địa đang giảm xuống:”China’s retail sales growth SLOWED in October.” (Độ tăng bán lẻ của Trung quốc đã hạ xuống trong tháng 10). Cùng nhận xét như vậy, Tác giả Andrew BATSON, trong The Wall Street Journal ngày 12.11.2008, trang 17, đã trích dẫn Thống kê của Nhà Nước: “The consumer index  rose 4% in October from a year earlier, compared with 4.6% in September and well down from February’s peak of 8.7%” (Chỉ số tiêu dùng đã tăng 4% trong tháng 10 tính từ đầu năm trước, sánh với 4.6% trong tháng 9 và giảm xuống nhiều sánh với độ cao nhất của tháng 2.). Như vậy việc nâng đỡ tiêu thụ nội địa không phải chỉ là bù trừ việc giàm mua hàng từ nước ngoài, mà còn chống lại chính việc đang giảm việc tiêu thụ từ chính trong nội địa Trung quốc.

Đảng và Nhà Nước Trung quốc vừa quyết định dành ra USD.586 tỉ. Đây là Chương trình mang tính cách dài hạn, trong khi ấy vấn đề xuống dốc Kinh tế nằm trong cấp thời và ngắn hạn phải giải quyết. Thực vậy, chương trình USD 586 tỉ đặt trọng tâm vào xây dựng hạ tầng cơ sở Kinh tế như đường sá, cầu cống, ống dẫn dầu...

Nhận định về hiệu lực của Chương trình này, dưới hàng chữ lớn CRITICS OF GOVERNMENT’S INFRASTRUCTURE SPREE WORRY EFFORT WILL END UP BEING WASTE OF MONEY, Oâng Andrew BATSON viết ngày hôm qua 12.11.2008 trong THE WALL STREET JOURNAL như sau:

“This road boom is taking place in a poor, largely rural country where only about 10% of the population have their driver’s licenses... New roads and buildings are going unused and will end up being waste of money. In the poorest areas, some highways are often empty but for crops farmers spread out on them to dry in the sun.” ( Cuộc bùng dậy xây đường sá này xẩy ra ở một xứ nghèo nàn, chính yếu là dồng quê nơi mà chỉ vào khoảng 10% dân số có bằng lái xe... Những con đường mới và cao ốc sẽ không được xử dụng và sẽ kết thúc bằng tiêu phí tiền bạc. Ở những vùng nghèo khổ nhất, nhiều xa lộ thường vắng xe trống rỗng trừ trường hợp những người dân quê xử dụng để phơi nắng cho khô sản phẩm nông nghiệp dưới ánh mặt trời.)

Thực sự thì việc xây dựng hệ thống đường sá đã được hoạch định từ những chục năm trước và chương trình muốn chấm dứt mãi tới năm 2020. Đây là việc chi tiêu mang tính dài hạn, trong khi ấy Trung quốc cần phải có biện pháp cấp thời để khả năng tiêu thụ nội địa bù trừ cho việc cắt giảm đặt mua hàng hiện nay từ nước ngoài. Số tiền USD.586 tỉ là dự chi cho toàn Chương trình bao trùm một thời gian dài. Người ta dự đoán rằng nếu chương trình được khởi công lại, thì Trung quốc cũng chỉ tiêu cho hạ tầng cơ sở khoảng 1/5 tổng số tiền đã tuyên bố.


Thất nghiệp và lo sợ xáo trộn xã hội

Chỉ tính cụ thể 80 triệu người được xử dụng trong ngành Xây cất Nhà cửa đang trong tình trạng bị đe dọa sa thải, cộng với số nhân công dùng trong 3’000 xí nghiệp đã bị đóng cửa tại vùng Quảng Đông, Nhà nước Trung quốc phải đứng trước nạn thất nghiệp mới nhất lên tới con số chứng 100 triêu người. Những người này phần lớn đến từ những vùng quê thuộc nội địa. Việc đẩy họ về nguyên quán có thể gây những xáo trộn xã hội.

Trong LE MONDE số ra ngày 13.11.2008, trang 15, Ký giả Bruno PHILIP đã viết như sau: “Les conséquences de la crise se font déjà sentir sur l’emploi. Selon le site www.Sina.com, des miliers d’ouvriers migrants sont en train de quitter le delta de la rivìere des Perles et rentrent dans leurs campagnes, faute de travail. Des responsables de la gare de Canton ont indiqué que 130’000 voyageurs quittent chaque jour la métropole en train.” (Những hậu quả của khủng hoảng đã cảm thấy đối với việc làm. Theo diễn đàn www.Sina.com , từng ngàn thợ di dân đang bỏ châu thổ của con sông Ngọc và trở về thôn quê của họ vì thiếu việc làm. Những người trách nhiệm của nhà ga xe lửa Quảng Đông cho biết rằng mỗi ngày có 130’000 người bỏ nơi thành thị này bằng xe lửa.)  

Tác giả Alain FAUJAS, trong LE MONDE ngày 11.11.2008, trang 13, đã nhận định về tình trạng xáo động xã hội liên quan đến Chính trị như sau: “MANIFESTATIONS POPULAIRES—Le taux de croissance inquìete Pékin qui voit se multiplier les manifestations  populaires contre l’inflation et les fermetures d’entreprises dans le sud de la Chine. On prête au gouvernement l’intention de maintenir coute que coute la croissance  au-dessus de 7%, niveau jugé indispensable pour la stabilité politique du pays. (NHỮNG BIỂU TÌNH DÂN CHÚNG—Độ tăng trưởng kinh tế làm cho Bắc Kinh lo lắng vì nhìn thấy những cuộc biểu tình dân chúng đang được nhân lên chống lại lạm phát và việc đóng cửa những xí nghiệp thuộc miền Nam Trung quốc. Người ta nói rằng Nhà nước phải cố thủ giữ bằng bất cứ giá nào độ tăng trưởng bên trên 7%, mức độ được coi là cần thiết để giữ yên ổn Chính trị cho đất nước.)

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 




                                              6.    DIỄN BIẾN
                        KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH/KINH TẾ THẾ GIỚI



Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
Chiều 14.10.2008


NỘI DUNG GỒM NHỮNG BÀI:

@ THỤY SĨ: YÊN LẶNG LÀ VÀNG
@ THỨ HAI XANH 13.10.2008: EUROPEAN PLANS BAILOUTS EURO.1300 TỈ 
@ SÁNG THỨ NĂM 09.10.2008: XIẾT CỔ NGÂN HÀNG VÀ TRỢ LỰC KINH TẾ
@ THỨ TƯ 08.10.2008: KINH TẾ CHẮC TRONG TSUMANI TÀI CHÁNH
@ THỨ HAI 06.10 VÀ THỨ BA 07.10.2008 ĐEN CHO Á VÀ ÂU CHÂU
@ HAI KỸ NGHỆ SONG HÀNH: TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ THỰC
@ US CONGRESS  VÀ PLAN BAILOUT $700 TỈ 
@ US$ 700 TỈ CỨU VỚT WALL STREET CỦA CHÍNH QUYỀN BUSH
@ WALL STREET: BA NGÀY PHÁ SẢN NGÂN HÀNG
@ THẾ CHẤP ĐỊA ỐC NGUY HIỂM
@ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH  HOA KỲ BẮT ĐẦU TỪ 2007


Để có thể phát triển BỀN VỮNG và LÂU DÀI, phải có ĐỘT BIẾN đến từ đại đa số quần chúng có CAN ĐẢM đứng lên đối chọi với một thể chế Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế như ở Việt Nam hiện nay. Cái lòng CAN ĐẢM của quần chúng đến từ:

=> Một là từ Lòng Tin Tôn Giáo khi mà lòng tin ấy bị bạo lực đàn áp. Trường hợp này đang xẩy ra với khởi đầu là Xứ Thái Hà và Tòa Khâm sứ. Cái lầm lẫn của CSVN là đã vu khống, đã xử dụng bạo lực để làm bất công. Từ hai miếng Đất, cuộc đấu tranh hiện nay đang đứng ở bình diện bao trùm tổng quát: CÔNG LÝ và SỰ THẬT.
=> Hai là từ cái Dạ Dầy đói mà quần chúng phải buộc lòng đứng lên và có thể sẵn sàng làm BẠO ĐỘNG như tất cả các cuộc CÁCH MẠNG Pháp 1789 hay Nga 1917. Thay vì chết đói, thì quần chúng phải đứng lên dành lại miếng cơm từ những kẻ đã cướp bóc mình.

Chính vì phương diện Kinh tế này của đại đa số quần chúng Việt Nam (75% dân số) mà chúng tôi theo rõi những cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế đẩy quần chúng đến đói khổ cùng cực để từ đó họ buộc lòng phải đứng lên dành lấy miếng ăn. Thực vậy CSVN đã bao chục năm chủ trương Độc tài Chính trị nắm trọn Độc quyền Kinh tế để Tham nhũng Lãng phí lan tràn. Một thể chế như vậy không thể nào làm cho Đất Nước phát triển BỀN VỮNG và LÂU DÀI được. Hố sâu cách biệt Giầu-Nghèo mỗi ngày mỗi khơi sâu.

Những cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế càng đẩy Dân nghèo vào chỗ cùng cực để từ đó mà lòng CAN ĐẢM BÓ BUỘC phải có để liều chết đứng dậy loại bỏ cơ chế đã làm cho họ đói khổ cùng cực.

Chúng tôi đã đi tìm hiểu và viết rất nhiều về những cuộc Khủng hoảng Tài chánh và Kinh tế :

=> Cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế Á châu năm 1997 để tìm hiểu những nguyên do có thể áp dụng vào trường hợp Việt Nam.

=> Chúng tôi tha thiết đến những cuộc Đình công của giới Công nhân và việc Dân Oan đứng lên đòi Nhà Đất.

=> Đầu năm nay, Lạm phát và Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế đã bùng nổ ra tại Việt Nam sâu rộng hơn các nước khác trong vùng.

=> Hiện nay, cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế từ Hoa kỳ đang bao trùm Thế giới. Cuộc Khủng hoảng này chắc chắn mang tầm ảnh hưởng quan trọng đến tình hình Tài chánh và Kinh tế tại Việt Nam vốn đang bị bệnh tật nặng nề với thể chế hiện hành. Vì mục đích tối hậu là Việt Nam, nên chúng tôi theo rõi sát cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế Thế giới hiện nay. 

=> Chúng tôi sẽ viết một loạt bài Chủ đề về ẢNH HƯỞNG KHỦNG HOẢNG CHO KINH TẾ VIỆT NAM, tuy nhiên ngay lúc này chúng tôi lo lắng cho việc Nhà Nước CSVN sẽ phạm một tội tầy đình về Hình sư là LẠM PHÁT TIỀN TỆ, nên đã viết cảnh cáo. Chúng tôi trích ra đây lời nhận xét của Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés  sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence. Si les exportations chinoises reviennent à une croissance à un chiffre, le produit intérieur brut pourrait perdre deux points de croissance... Les autorités craignent des troubles sociaux. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề... Nếu những xuất cảng của Trung quốc trở về độ tăng có một con số, thì sản xuất nội địa sẽ mất độ tăng... Chính quyền đang lo sợ những xáo trộn xã hội”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)

Oâng còn nói thêm rằng những xáo trộn xã hội này gồm việc phải thải nhân công đã bỏ nội địa xa xôi về các thành phố ven biển làm việc. Bây giờ đẩy họ về nội địa nghèo khó không phải là dễ dàng.

Nhận xét này rất giống cho tình trạng ở Việt Nam.  Vốn nước ngoài đã đổ vào Việt Nam làm việc. Kinh tế Việt Nam làm việc 70% cho xuất cảng ra nước ngoài. Cuộc khủng hoảng Tài chánh hiện nay làm cho Việt Nam thiếu vốn và làm giảm xuất cảng hàng ra nước ngoài. Các Xí nghiệp phá sản vì thiếu vốn và thiếu khách đặt mua hàng. Nhân công từ các vùng quê kéo về thành thị để làm việc trong các xí nghiệp. Bây giờ sa thải họ và phải đẩy họ trở lại những vùng quê nghèo nàn. Việc xáo trộn xã hội không thể tránh được.

Tình trạng thiếu vốn nước ngoài,  khan hiếm (mắc mỏ) vốn nội địa và giảm sút đặt mua hàng của nước ngoài sẽ đưa đến phá sản những xí nghiệp. Kinh tế suy thoái sẽ đưa đến tình trạng thiếu hụt số thu cho Nhà Nước. Cộng thêm vào đó, lại có tình trạng mất cân bằng cán cân thương mại do nhập siêu quá nhiều. Đồng thời Nhà Nước đang phải gánh vác số chi khổng lồ cho những lãng phí từ các Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước chỉ đợi sự cung cấp vốn từ Nhà Nước.

Ngân sách của Nhà Nước tất nhiên thiếu hụt. Nhà Nước bị đẩy đến tình trạng phải tìm đủ mọi cách để có đủ Ngân sách chi tiêu. Nhà Nước trong những năm trường đã mang những món nợ lớn đối với nước ngoài, nên việc vay mượn thêm không phải là dễ dàng.
 
Với tình trạng như vậy, Nhà Nước độc tài nghĩ đến việc phát hành Tiền tệ mới để tiêu dùng. Đây là việc Lạm phát Tiền tệ mà chúng tôi đã viết dài.

Chúng tôi xin nhắc lại đây lời của  Giáo sư Florin AFTALION, người đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:

”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2)

(... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)

 



THỤY SĨ: YÊN LẶNG LÀ VÀNG

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
14.10.2008


Tôi sống tại Thụy sĩ đã 41 năm và dậy học về Tài chánh tại xứ Ngân Hàng này đã trên 30 năm. Tôi thường nói rằngkhi nào Thế giới có loạn, thì Thụy sĩ mở cửa biên giới để tiền vào tự do và khi nào Thế giới bình yên thì đóng cửa biên giới để tiền khỏi chạy ra.

Điều đó xấu hay tốt ? Tôi trả lời không được.

Khi một người có tiền triệu, tiền tỉ, thì việc đầu tiên mà người đó lo lắng là làm thế nào cất tiền cho kỹ để khỏi bị mất trước khi nghĩ đến làm ăn kiếm tiền thêm hay làm việc xã hội để có tiếng nhân đức. Cụ thể, nếu quý vị có 5 triệu đo la trong tay, quý vị cất ở đâu cho vững chắc: (i) không bị mất vì ngân hàng phá sản; (ii) không bị lạm phát mất giá đồng tiền.

Cất ở Ngân Hàng bên Mỹ ? Hệ thống Ngân Hàng bên Mỹ lỏng lẻo, dễ bị phá sản.

Cất ở bên Pháp ? Hệ thống Ngân Hàng bên Pháp dễ như con gà Cốc Cô Ri Cô gáy nhiều khó tin, đồng thời cứ nhăm nhe quốc hữu hóa theo Xã hội Chủ nghĩa.

Cất ở bên Tầu ? Mấy chú chệt nhuộm tiền bằng nước tương pha thêm mélanine thì chết

Cuối cùng tự nhiên thấy cất tiền ở núi đồi Thụy sĩ thì yên trí hơn. Thụy sĩ là nước nhỏ chỉ có 7 triệu dân. Chính trị của nước nhỏ chẳng có ảnh hưởng quốc tế, lại thêm trung lập. Luật pháp rất minh bạch. Dân chủ lại trực tiếp từ dân. Cứ lấy được 200'000 chữ ký, thì Nhà Nước Liên Bang phải cho Dân bầu phiếu quyết định.

Một nước Thụy sĩ nhỏ như vậy mà có hai Ngân Hàng UBS (Union Bank of Switzerland) và Crédit Suisse đứng vào số 10 Ngân Hàng lớn nhất Thế giới.

Trong cuộc Khủng Hoảng Ngân Hàng/ Tài chánh Thế giới hiện nay, Nhà Nước Liên Bang Thụy sĩ không hề LA HOẢNG. Nếu UBS và CREDIT SUISSE có mất tiền về Mortgage SUBPRIME Credit, thì họ thảo luận với BNS (Banque Nationale Suisse) để hỗ trợ giúp đỡ mà không cần phải hò hổng khoe khoang.

Nhà Nước Liên Bang Thụy sĩ chỉ hội họp với các Chủ Ngân Hàng để nội bộ dàn xếp cứu nhau. Ngân Hàng Trung Ương Thuỵ sĩ (BNS=Banque Nationale Suisse) có dư đủ tiền và khối vàng khổng lồ đã mua từ Thế chiến Thứ II để bảo đảm đồng tiền Thụy sĩ. BNS đã phải bán đi 300 tấn vàng dư thừa để khỏi mang tiếng và để giúp việc xã hội.

Nhà Nước Liên Bang Thụy sĩ bảo đảm cho người tiết kiệm và có hệ thống Ngân Hàng tại mỗi Bang BC (Banque Cantonale) để bảo đảm 100% cho những người gửi tiền ở Ngân Hàng.

Thụy sĩ họp với nhau, không cần phải rêu rao có Plan Bailout, không cần phải đi Washington, đi Paris... để cùng tuyên bố cho có tiếng. Họ giữ vững Ngân Hàng của họ trong yên lặng. Thực là YÊN LẶNG LÀ VÀNG.

Thực vậy, khi giữ yên lặng, họ cho những người có tiền triệu, tiền tỉ biết rằng nếu gửii tiền vào Ngân Hàng Thụy sĩ, thì người gửi tiền được hoàn toàn bảo đảm vì những lý do sau đây
=> Đồng tiền Thụy sĩ không bị mất giá
=> Hai Ngân Hàng Thụy sĩ UBS và CREDIT SUISSE lớn trong 10 Ngân Hàng Thế giới
=> Thụy sĩ là nước nhỏ, chỉ có 7 triêu dân nên các cường quốc không thèm để ý tới, Chính trị trung lập và có Dân chủ trực tiếp với Luật pháp minh bạch.
=> Ngân Hàng Thụy sĩ có sự Kín Đáo Ngân Hàng (Secret Bancaire) cho mỗi cá nhân gửi tiền. Nhiều nguyên thủ quốc gia các nước khác gửi tiền mà họ không nói gì cả. 

Ngày hôm qua 13.10.2008, trong lúc các Ngân Hàng Thế giới lo lắng về thiếu vốn lưu động (Liquidités) và phá sản, thì hai Ngân Hàng Thụy sĩ:
UBS (Union Bank of Switzerland)
CREDIT SUISSE

quảng cáo cho khắp Thế giới rằng họ giữ tiền chắc chắn, đáng được tin cậy.

Cuộc Khủng hoảng Ngân Hàng/ Tài chánh này sẽ làm cho Ngân Hàng Thụy sĩ giầu thêm.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế





THỨ HAI XANH 13.10.2008:
EUROPEAN PLANS BAILOUTS EURO.1300 TỈ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
14.10.2008

Trong bài dưới đây, đọc giả đã biết rằng từ 4 giờ sáng Thứ Năm 09.10.2008, tôi thức dậy mở Đài CNBC để xem tình hình các Thị trường Chứng khoán Á châu. Mầu xanh của những mũi tên chỉ lên. Một niềm hy vọng. Nhưng rồi từ trưa Thứ Năm 09.10.2008, mầu xanh chuyển sang mầu đỏ và đỏ đậm với mũi tên chỉ xuống Hỏa ngục.

Mũi tên đỏ chỉ xuống Hỏa ngục
trong hai ngày Tứ Năm 09.10 và THỨ SÁU 10.10.2008

Mầu đỏ của mũi tên bắt đầu từ Á châu rồi lan sang Aâu châu, Mỹ châu trong ngày 09.10.2008.

Ngày 10.10.2008, độ giảm của mũi tên đỏ càng trở thành trầm trọng. Đài CNBC cho biết tình trạng tụt giốc trong ngày 100.10.2008 như sau:
Chỉ số FTSE Anh quốc:  tụt xuống 8.85%
Chỉ số DAX Đức quốc:  tụt xuống 7.01%
Chỉ số CAC Páp quốc:  tụt xuống 7.73%
Chỉ số SMI Thụy sĩ:   tụt xuống 7.79%

Đài Phát thanh RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn tôi lúc 13:30 ngày THỨ SÁU 10.10.2008 và hỏi rằng tại sao tôi viết về niềm hy vọng buổi sáng thứ Năm 09.10.2008 mà bây giờ các Thị trường Chứng Khoán khắp Thế giới lại tụt giốc như vậy.

Tôi vẫn tin vào sự vững chắc của Lãnh vực Kinh tế thực và tin vào cái Lo-gic của việc các Ngân Hàng Trung Ương hỗ trợ trực tiếp Lãnh vực Kinh tế thực. Việc giao động Thị trường Chứng Khoán Thế giới có thể là vì tính cách đầu cơ ém giá của giới đầu tư trước khi mua bán.

Lảnh đạo Chính trị Liên Aâu
chạy vắt giò lên cổ

Những ngày cuối tuần 11-12.10.2008, các Lãnh đạo Chính trị Aâu châu đã làm việc không ngủ. Các Tổng trưởng Tài chánh, nhân cuộc họp thường niên IMF-WORLD BANK, đã kéo sang Mỷ.

Bộ trưởng Ngân khố Mỹ, Henry Paulson Jr., đề ra Hành động Cấp bách và Đặc biệt (Une Action Urgente et Exceptionnelle) gồm 5 điểm:
1) Ngăn cản việc phá sản các Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh
2) Cung cấp mọi phương tiện để các Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh có thể có vốn lưu động (Liquidités)
3) Khuyến khích và tạo điều kiện để các Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh cho các Công ty vay vốn
4) Làm thế nào bảo đảm sự an toàn cho những người tiết kiệm gửi tiền vào các Ngân Hàng
5) Kiểm điểm những tín dụng nghi ngờ tại các Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh.

Nhóm G7 chấp nhận trong Hành động Cấp bách và Đặc biệt này một việc quốc hữu hóa bán phần những Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh.

Trong khi ấy các Thủ Lãnh Chính phủ tại Aâu châu họp nhau Chúa Nhật 12.10.2008 tại Paris đồng thuận những Chương trình đồng loạt Cứu vớt các Ngân Hàng và hỗ trợ Vốn lưu động (Liquidités) để các Ngân Hàng cho nhau vay mượn. Những món tiền chính yếu mà mỗi nước bỏ ra trong nhóm Euro Group 15 như sau:
=> Anh quốc:    dành ra Euro.633 tỉ
=> Đưc quốc:    dành ra Euro.480 tỉ
=> Pháp quốc:    dành ra Euro.360 tỉ
=> Tây Ban Nha:    dành ra Euro.100 tỉ
=> Ý quốc:    dành ra Euro.40 tỉ



THỨ HAI XANH 13.10.2008:
Thị Trường Phục Hồi

Từ sáng sớm Thứ Hai 13.10.2008, từ Á châu đến Aâu châu và Mỹ châu, các Đài Truyền Hình vừa nói vừa cười vui như Tết: NHỮNG MŨI TÊN XANH RỜN chỉ lên Thiên Đàng. Chúng tôi nói xanh RỜN vì độ tăng của các Chỉ số tăng lên rất cao để bù lại hai ngày Thứ Năm và Thứ Sáu tuần trước:
Á-châu:
Từ sáng sớm Thứ hai, người ghi nhận
Tokyo :    nghỉ Lễ ngày Thứ Hai
Hong Kong:  tăng 8.37%
Shanghai:   tăng 3.65%
Sydney:   tăng 5.55%
Aâu-châu:
Chỉ số FTSE Anh:  tăng 8.26%
Chỉ số DAX Đức:  tăng 11.4%
Chỉ số CAC Pháp:  tăng 11.18%
Chỉ số S&P/MIB Ý: tăng 11.9%
Chỉ số SMI Thụy sĩ: tăng 12.0%
Wall Street New York:
Chỉ số DOW:  tăng 4.8%




SÁNG THỨ NĂM HY VỌNG 09.10.2008:
XIẾT CỔ NGÂN HÀNG VÀ TRỢ LỰC KINH TẾ THỰC

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
Sáng sớm 09.10.2008 


Chúng tôi viết bài dưới đầu đề HAI KỸ NGHỆ SONG HÀNH: TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ THỰC để cho thấy rằng cái nguyên nhân chính của cuộc Khủng hoảng Mỹ và Thế giới hiện nay là do giới Ngân Hàng/Tài chánh lộng hành, đi với những sản phẩm riêng của Lãnh vực của họ để thu Lợi nhuận với tốc độ điện tử.

Cơn Tsumani Tài chánh thổi giữa họ, trong khi ấy Lãnh vực Kinh tế thực chưa có những giao động tương tự như những năm 1929-30. Kinh tế thực vẩn đứng vững.

Thấy rõ vấn đề như vậy, nên từ hôm THỨ BA 07.10.2008, bài lên tiếng của Oâng Ben BERNANKE, Chủ tịch FED Ngân Hàng Trung ương Mỹ, khởi đầu cho một cuộc Thống Nhất Thế Giới của những Ngân Hàng Trung ương, quyền lực của Tiền tệ. Các Ngân Hàng Trung Ương thống nhất hành động về ba phương diện sau đây:

1) Bảo đảm cho Dân Tiết kiệm gửi Tiền tại các Ngân Hàng. Một số Ngân Hàng ngắc ngoải bên bờ phá sản . Việc cứu các Ngân Hàng chính yếu là để cứu Dân tiết kiệm gửi tiền vào Dépôts.
2) Nhưng điều quan trọng hơn cả là che chở cho LÃNH VỰC KINH TẾ THỰC khỏi bị ảnh hưởng nặng nề về cuồng phong Tài chánh để có thể chuyển sang KHỦNG HOẢNG KINH TẾ.
3) Các Tập đoàn Kinh tế lớn đều tạo Độc Lập Tài chánh cho mình (Autonomie Financìere) bằng tích luỹ dự trữ trích ra hàng năm từ Lợi nhuận (Réserves). Tuy nhiên quyền lực Tiền tệ (Pouvoir Monétaire) nhận thấy rằng Thị trường hiện nay thiếu Vốn Lưu động (Liquidités/ Fonds de Roulement). Vậy quyền lực Tiền tệ (các Ngân Hàng Trung ương) phải trực tiếp can thiệp trong Lãnh vực này.

Nếu những Plan Bailout Mỹ $700 tỉ hay của Anh Euro.360 tỉ, của Pháp, Đức Euro.1'600 tỉ, Tây Ban Nha Euro.34 tỉ... là nhằm cứu một số Ngân Hàng để bảo đảm cho Dân Tiết kiệm, thì các Ngân Hàng Trung ương Mỹ, Liên Aâu, Anh, Pháp, Đức, Thụy sĩ, Uùc, Nhật, Hong Kong, Nam Hàn phải hành động đồng loạt với nhau trong sự đoàn kết Thế giới để có thể cung cấp trực tiếp cho Thị trường, cho nền KINH TẾ THỰC  số Vốn Lưu động (Liquidités/ Fonds de Roulement).

Để thực hiện việc này, các Ngân Hàng Trung Ương trên Thế giới đã đồng loạt giảm LÃI SUẤT chỉ đạo, nghĩa là làm cho giá thuê Vốn rẻ đi. Đây là việc giúp cho Liquidités lưu hành dễ dàng.

Các Ngân Hàng Trung ương
đồng loạt GIẢM LÃI SUẤT chỉ đạo

Ngày hôm qua, THỨ TƯ 08.10.2008, các Ngân Hàng Trung Ương chính trên Thế giới đồng loạt cắt giảm LÃI SUẤT chỉ đạo:

FED, Ngân Hàng Trung Ương Hoa kỳ:  Lãi suất giảm từ 2.0% xuống 1.5%
ECB, Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu:  Lãi suất giảm từ 4.25% xuống 3.75%
Bank of England:     Lãi suất giàm từ 5.0% xuống 4.5%
BNS, Ngân Hàng Trung Ương Thụy sĩ:  Lải suất giảm từ 3.0% xuống 2.5%
Sweden’s Riksbank:     Lãi suất giảm từ 4.75% xuống 4.25%

Từ đêm vừa rồi, Đài Truyền Hình CNBC cũng loan báo việc giàm Lải suất của các Ngân Hàng Trung Ương của Nam Hàn, Đài Loan, Hong Kong và Uùc. Riêng các Ngân Hàng Trung Ương Nhật và Trung quốc cũng đang do dự xem độ giàm sẽ suống bao nhiêu.

Những Chương trình cứu vớt
Ngân Hàng Aâu châu cũng được công khai tuyên bố

=> Anh quốc
Sau khi cứu vớt Ngân Hàng Northern Rock vào tháng hai vừa rồi, Anh quốc mới bỏ ra Euro.63 tỉ để cứu Ngân Hàng Bradford & Bingley. Nhà Nước Anh cũng dành ra Euro.68 tỉ để tái cấp vốn cho những Ngân Hàng Lloyds TSB, HSBC, Royal Bank of Scotland, Standard Chartered, Barclays.
=> Đức quốc
Bà Thủ tướng Angela MERKEL tăng thêm vốn lưu hành (Liquidités) cho Tập đoàn Hypo Real Estate số tiền Euro.15 tỉ, mặc dầu đã bào đảm Tín dụng cho Tập đoàn này số tiền Euro.35 tỉ. Nhà Nước Liên Bang Đức cũng dành ra số tiền Euro.1'600 tỉ để bảo đảm an toàn cho Dân tiết kiệm gửi tiền tại các Ngân Hàng.
=> Pháp quốc:
Nhà Nước Pháp đã cứu vớt Ngân Hàng Dexia với số tiền Euro.3 tỉ. Hai Ngân Hàng Caisse d’Epargne và Banque Populaire đã đứng chung với nhau để có số vốn chung Euro.40 tỉ.
=> Tây Ban Nha:
Chính quyền ZAPATERO dành khẩn cấp số tiền Euro.34 tỉ nhằm hỗ trợ các Ngân Hàng và Lãnh vực Kinh tế.

Thị Trường Chứng Khoán
lắng dịu và khởi sắc

Quan sát kỹ những biến động trong tuần vửa rồi và các ngày Thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư tuần này, người ta thấy giới đầu tư chưa tin tưởng và những Plan Bailouts của Hoa kỳ cũng như Aâu châu cho các Ngân Hàng. Những Chỉ số Chứng Khoán khắp Thế giới vẫn tụt giốc nặng nề.

Tuy nhiên, thừ khi các Ngân Hàng Trung Ương tuyên bố trực tiếp cung cấp Vốn Lưu động (Liquidités/ Fonds de Roulement) cho Thị trường, nhất là cho LÃNH VỰC KINH TẾ THỰC, bằng biện pháp đồng loạt GIẢM LÃI SUẤT chỉ đạo để giá thuê Vốn rẻ đi, thì chúng ta thấy triệu chứng tin tưởng từ giới đầu tư tại các Thị trường Chứng khoán.

Trưa hôm qua, Đài truyển hình TF1 Pháp tuyên bố Chỉ số CAC Paris không xuống mà còn lên được 0.09%. Đây là triệu chứng HY VỌNG nên chúng tôi viết liền vào buổi chiều THỨ TƯ 08.10.2008 để báo tin HY VỌNG này giữa Tsumani Tài chánh vẫn còn thổi mạnh.

Hôm nay THỨ NĂM 09.10.2008, từ 4 giờ sáng, chúng tôi mở Đài Truyền Hình CNBC để xem phản ứng của các Thị trường Chứng Khoán Á-châu đối với việc cắt Lãi suất đồng loạt ra sao. Trên màn ảnh Tivi, những Chỉ số Á châu không có mầu đỏ với mũi tên chỉ xuống như các ngày THỨ HAI và THỨ BA ĐEN nữa, mà ngược lại mầu xanh mũi tên chỉ lên cho thấy NIỀM HY VỌNG tổng quát.

Lúc 10 giờ sáng, mở Đài CNN, thì thấy các Chỉ số Thị trường Aâu châu cũng với những mũi tên xanh chỉ lên.

Từ lâu rồi, chúng tôi không có thiện cảm cho lắm đối với giới Ngân Hàng/ Tài chánh. Họ buôn bán giữa họ những Sản phẩm Tài chánh do chính họ đẻ ra để kiếm Lợi nhuận với siêu tốc độ như chúng tôi đã trình bầy trong bài dưới đầu đề HAI KỸ NGHỆ SONG HÀNH: TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ THỰC. Nếu giới Ngân Hàng/ Tài chánh tạo ra những cuồng phong, thì chúng tôi vẩn nghĩ rằng để họ tự đào thải.

Chúng tôi luôn luôn tha thiết đến việc làm thế nào Lãnh vực KINH TẾ THỰC được an toàn để những người mang bắp thịt, mang chất sám làm việc cho SẢN XUẤT KINH TẾ THỰC khỏi thất nghiệp. Nếu giới Ngân Hàng/ Tài chánh bị thất nghiệp, thì cũng không thương tiếc cho lắm vì trước đó họ đã thắt cà vạt, mặc đồ lớn, ăn lương cao rồi.

Chúng tôi hoàn toàn hoan nghênh sự hiệp nhất của quyền lực Tiền tệ khắp Thế giới (các Ngân Hàng Trung Ương) cắt lãi suất, trực tiếp trợ lực Vốn Lưu động (Liquidités/ Fonds de Roulement) cho Lãnh vực KINH TẾ THỰC

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



THỨ TƯ 08.10.2008: KINH TẾ CHẮC
TRONG TSUMANI TÀI CHÁNH

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
Chiều 08.10.2008 

Những thông tin trong bài này dựa theo FINANCIAL TIMES (Europe), THE WALL STREET JOURNAL (Europe), LE MONDE (Pháp), LE TEMPS (Thụy sĩ), ngày 08.10.2008. Đồng thời chúng tôi cũng theo rõi các Đài Truyển Hình TSR1 (Thụy sĩ) và hai Đài TF1 (Pháp), A2 (Pháp).

Mặc dầu Đài Truyền hình TSR1 Thụy sĩ loan tin sáng sớm hôm nay, cơn Tsumani vẫn hoành hành tại Á châu, nhất là tại Tokyo. Chỉ số NIKKEI Tokyo tụt xuống thêm 9%. Đây là việc mà từ 25 năm nay chưa bao giờ có. Đài Truyền hình hỏi trực tiếp Đại diện của mình tại Nhật là Oâng BAUMGARTNER để cho biết chi tiết. Lời bình luận của Oâng BAUMGARTNER không có gì bi quan. Theo Oâng, thì đây là hiện tượng các nhà đầu tư Tây phương bán tháo tại Thị trường Tokyo để lấy tiền mặt (Liquidités) mà Thị trường Tài chánh Thế giới đang cần.

Nếu Plan Bailout USD.700 tỉ của PAULSON nhằm chống đở cho phía Ngân Hàng, thì các Ngân Hàng Trung ương khắp Thế giới nhằm vào việc bảo đảm cho Dân Tiết kiệm gửi tiền ở các Ngân Hàng, nhất là cung cấp cho Lãnh vực KINH TẾ THỰC khỏi bị ảnh hưởng nặng nề bởi Lãnh vực quay cuồng của hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh. Cơn lốc Tài chánh Ngân Hàng sẽ hạ xuống, nhưng các Nước chú trọng đến giới Tiết kiệm gửi tiền tại Ngân Hàng được bảo đảm và nhất là nền Kinh tế Thực khỏi rơi vào Khủng hoảng như những năm 1929-30.

Chúng tôi đã viết bài dưới đầu đề HAI KỸ NGHỆ SONG HÀNH: TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ THỰC cùng đăngi trong loạt bài này để độc giả hiểu sự tách rời của hai Lãnh vực.

Các Ngân Hàng Trung Ương thi hành nhiệm vụ của mình, đó là lo liệu cho Lãnh vực Kinh tế Thực có quỹ Tiền mặt (Liquidités/ Fonds de Roulement) để Kinh tế sản xuất và Thương mại trao đổi vận hành đều đặn. Tuy cuồng phong Wall Street Ngân Hàng thổi mạnh, không cho Credits để đầu tư, nhưng các Ngân Hàng Trung ương có đủ Tiền để cung cấp cho Lãnh vực Kinh tế thực để giữ sức khỏe của mình giữa cơn sóng cuồng Tài chánh do Ngân Hàng.


Ben BERNANKE, Chủ tịch FED,
Ngân Hàng Trung Ương Hoa kỳ, lên tiếng
 
Tờ THE WALL STREET JOURNAL, ngày 08.10.2008, dưới đầu đề FED WILL LEND TO COMPANIES, đã viết như sau:
’In an historic and risky step by the central bank, the FED said it would make loans directly to companies in the USD.1.6 trillion commercial paper market, which provides life-blood short-term financing for firms ranging from AT&T Inc. to Coca-Cola Co. to United Parcel Service Inc.’

Những món vay này sẽ với giá hạ (’further interest-rate cuts’).

Chính sách này nhằm hỗ trợ cho nền Kinh tế thực không xuyên qua hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh.

Các Ngân Hàng Trung Ương Aâu châu

Không có những Plan Bailout Paulson như Hoa ký, nhưng các Ngân Hàng Trung ương trực tiếp nhẩy vào cuộc: một mặt trợ lực các Ngân Hàng yếu kém để bảo đãm cho Dân tiết kiệm gửi tiền tại Ngân Hàng, một mặt cung cấp Tiền rẻ cho Lãnh vực Kinh tế thực. Các Ngân Hàng Trung ương đã quyết định hạ Lãi suất xuống để giá thuê tiền rẻ đi.

Iceland khởi đầu bằng bỏ ra Euro.4 tỉ. Bank of England bỏ ra 35 tỉ Bảng Anh để tăng thêm Tiền mặt (Liquidités) cho Thị trường và đồng thời cứu một số Ngân Hàng, như Royal Bank of Scotland chẳng hạn. Đức bảo đảm cho Dân tiết kiệm gửi Ngân Hàng tới mức 100%, chống đỡ cho Lãnh vực Kinh tế và cứu Tập đoàn Hypo Real Estate với tổng số dự trù bỏ ra là Euro.1621 tỉ. Tây Ban Nha dành cho Thị trường số Tiền Euro.34 tỉ.

Một điểm nữa làm cho Lãnh vực Kinh tế thực lạc quan, đó là giá Dầu lửa giảm.

Trưa hôm nay THỨ TƯ HY VỌNG 08.10.2008, Đài Truyền Hỉnh TF1 của Pháp loan tin rằng chỉ số CAC Chứng khoán Paris, thay vì giảm, đã tăng lên được 0.09%





Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế 
THỨ HAI 06.10 VÀ THỨ BA 07.10.2008 ĐEN
CHO Á VÀ ÂU CHÂU

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
Sáng sớm 08.10.2008  


Bài hôm nay ghi nhận hai điểm:
=> Thị trường Chứng khoán Á châu và Aâu châu thụt giá trầm trọng
=> Thất bại của Quỹ cứu nguy chung của Aâu châu

Chứng khoán Á và Aâu châu
thụt giá trầm trọng

Mặc dầu Plan Bailout USD.700 tỉ được Thượng viện Mỹ chấp thuận ngày 01.10.2008 và được US Congress House tái bỏ phiếu chấp thuận ngày 03.10.2008, nhưng vẫn chưa đủ tạo niềm tin để giữ vững giá các Thị trường Chứng khoán.

THỨ HAI 06.10.2008 và THỨ BA 07.10.2008 được giới Tài chánh gọi là hai ngày đen bao trùm các Thị trường Chứng khoán Aâu, Á châu.

Tình trạng thụt giá các Thị trường trong ngày THỨ HAI và tiếp theo THỨ BA như sau:

Tại Á châu:
 Chỉ số NIKKEI Tokyo:   giảm 4.3%
 Chỉ số HANG SENG Hong Kong:  giảm 5.0%
Tại Aâu châu:
 Chỉ số RTS Moscou:   giảm 19.1%
 Chỉ số DAX Frnakfurt:   giảm 7.07%
 Chỉ số CAC Paris:   giảm 9.04%
 Chỉ số SMI Zurich:   giảm 6.12%
 Chỉ số FTSE London:   giảm 7.9%
 Chỉ số S&P/MIB Milan:   giảm 8.2%

Các giới đầu tư thẩm định rằng Plan Bailout USD.700 tỉ, mặc dầu được chấp thuận, nhưng con số USD.700 tỉ vẫn chưa đủ ngay cho Thị trường Mỹ, trong khi ấy các Ngân Hàng Á châu và nhất là Aâu châu đang gặp những khó khăn trầm trọng. Có những Ngân Hàng đang đứng bên bờ phá sản. Tình trạng thụt giá trầm trọng tại Aâu châu cũng còn do việc Liên Aâu không thể đoàn kết trong Dự án Cứu Nguy chung.

Thất bại của
Quỹ cứu nguy chung của Aâu châu

Do sáng kiến của TT.SARKOZY Pháp, một cuộc họp thượng đỉnh mệnh danh là G4 được triệu tập về Paris ngày THỨ BẨY 04.10.2008 trong mục đích tạo một Qũy Cứu Nguy chung co Liên Aâu. Nhóm G4 gồm Pháp, Đức, Anh và Ý. Nhưng mổi nước có những liên hệ Kinh tế và Tài chánh không đồng nhất.

Anh quốc với Luân Đôn là trung tâm Tài chánh mạnh sau Wall Street New York, luôn luôn liên kết với Hoa kỳ không những về Tài chánh, Kinh tế mà còn rất nhiều phương diện khác. Đức có khả năng Kinh tế và Tài chánh mạnh hơn Pháp rất nhiều và muốn đi với Hoa kỳ hơn đi với Pháp. Ý cũng có nhiều liên hệ Kinh tế với Hoa kỳ hơn là Pháp. Tính cách không đồng đều về khả năng Tài chánh và không giống nhau về liên hệ Kinh tế đã khiến cuộc họp thượng đỉnh này thất bại trong việc lập một Quỹ chung.

Ngoài ra, qua thái độ của TT.Pháp SARKOZY, với bài Diễn văn công kích Mỹ tại Liên Hiệp Quốc cách đây không lâu và với ngầm ý làm cho Liên Aâu tách rời khỏi Hoa kỳ về Tài chánh, các nước khác Anh, Đức, Ý không muốn Liên Aâu đứng tách ra như một khối.

Cuộc họp đưa đến kết luận là mỗi nước lo việc cứu nguy cho nước mình. Quyết định này cùng với việc thấy số tiền USD.700 tỉ của Hoa kỳ chưa đủ, nên các Thị trường Chứng khoán Aâu châu thụt giá trầm trọng trong ngày THỨ HAI 06.10 và THỨ BA 07.10.2008

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế





HAI KỸ NGHỆ SONG HÀNH:
TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ THỰC

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
05.10.2008


Chúng tôi viết một số kinh nghiệm và suy nghĩ về hai Lãnh vực Kinh tế thực và Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh xen kẽ ở đây để hiểu hơn thái độ của Chính quyền BUSH và Lập trường của US Congress khi bỏ phiếu lần thứ nhất từ chối Plan Bailout USD.700 tỉ.

Chính quyền BUSH có 3 nhân vật tỏ thái độ đối với cuộc Khủng hoảng Ngân Hàng/Tài chánh. Tổng Thống BUSH không thích gì Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh đã tạo ra một Kỹ nghệ Tài chánh riêng của mình để buôn bán với nhau khiến Khủng hoảng phát sinh. Oâng thiên về việc để Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh tự đào thải. Đây là thái độ để LEHMAN BROTHERS chết mà không thương tiếc. Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố và là Ngân Hàng gia chuyên nghiệp, đã cố gắng cứu vãn Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh. Oâng Ben BERNANKE, Chủ tịch Ngân Hàng Trung ương Mỹ FED, đứng về phương diện điều chỉnh Tiền tệ/ Vốn và thiên về việc trợ lực Lãnh vực Kinh tế thực thuộc các Công ty sản xuất.

Những Nghị sĩ đại diện Dân chúng trong US Congress House muốn bênh đỡ Dân chúng, nên đã từ chối lần bầu thứ nhất cho Plan Bailout USD.700 tỉ nhằm cứu Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh. Đại đa số Dân chúng đóng thuế là những người lãnh lương từ Lãnh vực Kinh tế thực. Việc khủng hoảng đến từ Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh. Tại sao phải bắt đại đa số Dân chúng đóng thuế phải góp tiền cứu vớt?

Trình bày hai Lãnh vực này và nhất là cách thế làm giầu mau chóng của Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh để độc giả hiểu những thái độ trên đây, nhất là hiểu tại sao US Congress House phải bỏ phiếu lại lần thứ hai.

Lý thuyết về sự Tách rời hay
Hội nhập giữa hai Lãnh vực

Có hai giai đoạn đưa ra những Lý thuyết cắt nhgĩa tương quan giữa đồng Tiền (tờ giấy 1'000 đồng chẳng hạn) và Đời sống Kinh tế với hàng hóa thực (tô phở chẳng hạn). Không ai nhai tờ giấy 1'000 đồng để bụng khỏi đói. Nhưng ăn tô phở thì bụng hết đói. Việc hết đói là đời sống kinh tế thực, trong khi ấy tờ giấy 1'000 đồng chỉ là phương tiện mua tô phở. Vì vậy, người ta phân biệt ra hai Lãnh vực: Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực và Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh. Hai Lãnh vực có những liên hệ như thế nào ?

=> Lý thuyết Định Lượng Tiền bạc (Théorie Quantitative de la Monnaie)

Đây là Lý thuyết đơn giản và tiên khởi cắt nghĩa tương quan giữa Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh và Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực. Lý thuyết được đưa ra đầu tiên ở Thế kỷ XVIII bởi David HUME và Richard CANTILLON. Theo hai tác giả này, thì nếu tăng gấp đôi lượng tiền cho một cộng đồng Kinh tế, thì tức khắc vật giá sẽ tăng lên gấp đôi. Nhưng phải đợi đến cuối Thế kỷ XIX và đầu Thế kỷ XX, thì Irving FISHER mới đưa ra Công thức sau đây:

  M.V
--------   =   P
    T

M : Lượng Tiền thả ra cho cộng đồng Kinh tế; V : Tốc độ lựong Tiền lưu hành; T: Những sản phẩm thực Kinh tế lưu hành trong Cộng đồng; P: Mức tổng quát giá cả.

Cứ theo Công thức của FISHER, thì nếu lượng tiền lưu hành (M.V) không thay đổi, mà Lượng hàng hóa lưu hành (T) sút kém, thì Vật giá tổng quát (P) tăng lên. Đây là Lạm phát thực. Nhưng nếu mức sản xuất và lưu hành hàng hóa giữ nguyên, mà vì lý do nào đó Lượng Tiền lưu hành tăng lên, thì Vật giá tổng quát (P) cũng tăng lên. Đây là Lạm phát về phía Tiền tệ. Việc tăng Lượng Tiền có thể do việc tung ra cộng đồng một số Tiền mới in, hoặc do việc tăng tốc độ lưu hành Tiền tệ (V). Tỉ dụ bình thường Công nhân lĩnh lương tháng. Nhưng nếu áp dụng việc trả Lương tuần (như bên Mỹ), thì tốc độ lưu hành Tiền sẽ được nhân tăng lên.

=> Lý thuyết Hội nhập Tiền tệ (Théorie de l’Intégration Monétaire)

Từ J.M.KEYNES, nhất là Milton FRIEDMAN, trường phái Chicago, thì Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh không đứng ngoài Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực như khách bàng quan. Phải có một sự Hội nhập Tiền tế, Tài chánhä vào Lãnh vực Đời sống Kinh tế để lượng tiền mới mang một giá trị mua bán.  Chu trình Hội nhập như sau:

Đồng Tiền mới in ra từ Ngân Hàng Phát Hành (Trung ương) chưa mang giá trị mua bán. Đó chỉ là một mảnh giấy không hơn không kém. Đồng Tiền ấy phải qua hệ thống sản xuất dưới dạng trả lương cho Công nhân chẳng hạn. Công nhân nhận được đồng Tiền. Đây là đồng Tiền bắt đầu có giá trị mua bán. Khi hàng hóa sản xuất thực được đưa ra Chợ, Công nhân mang đồng Tiền đến mua hàng hóa, thì có sự tương đương của đồng Tiền với Hàng hóa. Khi có sự tương đương như vậy, thì đây là đồng Tiền thực, có giá trị mua bán.

Chính đời sờng sản xuất Kinh tế thực đã mang lại cho tờ giấy Tiền lúc ban đầu có một giá trị (Pouvoir d’Achat).

Bây giờ nếu vì một lý do nào đó, Ngân Hàng Phát Hành in ra một lượng Tiền mới tinh mà không cho lượng tiền mới ấy vào Chu trình Hội nhập, thì lượng Tiền mới này củng chỉ là mớ giấy chưa có giá trị mua bán (Pouvoir d’Achat). Nếu Nhà Nước đem số Tiền mới in này thả đại vào Lượng Tiền đang lưu hành, thì đó là hành động lưu manh đánh lận con đen pha lộn Tiền thực (đã Hội nhập) và Tiền chưa có khà năng Kinh tế (chưa Hội nhập). Đây là hành động ăn ướp giá trị Tiền thực của Công nhân... Khối Tiền đã Hội nhập cộng chung với Khối Tiền chưa Hội nhập làm cho Vật giá tăng lên, nghĩa là Tiền mất giá. Đây là hành động ăn cướp Tiền tệ phải xử tử hình theo Luật Tiền tệ.

Một Nhà Nước tự động tăng lượng Tiền mới chưa Hội nhập Kinh tế là Nhà Nước đáng phải chịu tội tử hình này.

=> Từ Tiền tệ, Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh phát hành những Phương tiện thanh toán (Moyens de paiement)

Hệ thống Ngân Hàng Thương mại không phát hành Tiền công khai (Billets de  Banque) như Ngân Hàng Trung Ương, nhưng lại phát hành Tiền Tín dụng (Monnaies Scripturales) như Credit Cards, Cheques, Letter of Credit, Promissory Notes, Bank Guarantees, Standby Letter of Credit. Đây là những phương tiện mua bán giống như Tiền tệ. Khi các Ngân Hàng Thương Mại phát hành bừa bãi Tiền tệ tương lai (Virtual Money) chưa có hiện thực để tiêu dùng cho hàng hóa hiện tại như vậy, thì đó là nguồn làm tăng Khối Tiền đang lưu hành và do đó làm Lạm phát Tiền tệ. Việc phát hành này còn tệ hơn nữa khi mà những Ngân Hàng Thương mại lại thiếu phần tiền cọc tối thiểu bảo chứng.

Ngoài việc phát hành những loại Tiền Tín dụng (Monnaies Scripturales) của hệ thống Ngân Hàng, những Tập đoàn Bảo Hiểm phát hành những Bảo Hiểm Tài chánh (Financial Insurances) có thể xử dụng như Phương tiện thanh toán (Moyens de Paiement) giống như Tiền tệ.

Những phát hành trên đây trở thành những Sản phẩm Tài chánh (Produits Financiers) riêng của Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh và họ buôn bán với nhau để kiếm lời rất mau lẹ trong lãnh vực riêng của mình.

Lợi nhuận lớn và rất mau
với những Sản phẩm Tài chánh

Đả những chục năm nay, người ta nói đến những Financial Traders và đến những Lợi nhuận cao (High Yield) gần như phép lạ. Financial Traders là những người chuyên môn buôn bán (Buy/Sell) những phát hành Ngân Hàng (Bank Notes) hay những Sản phẩm Tài chánh (Produits Financiers).

Từ Mỹ sang Aâu châu, khi phải cứu Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh, các Chính quyền nhấn mạnh đến việc không cho phép những Ngân Hàng gia nhẩy dù vàng với những Bonus khổng lồ từ việc buốn bán những Sản phẩm Tài chánh. Những Ngân Hàng/ Tài chánh gia lãnh lương và Bonus hàng năm mấy chục triệu. Oâng Chủ tịch Ngân Hàng UBS Thụy sĩ lãnh lương mỗi giờ làm việc là CHF.13'500.-/h (chừng USD.13'000.- mỗi giờ làm việc), trong khi đó Ngân Hàng UBS mất USD.45 tỉ vì Mortgage Subprime Credit.

Làm thế nào  làm ra Lợi nhuận cao và mau chóng như vậy ?

Cách đây 4 năm, tôi viết một cách bình dân để cắt nghĩa về tốc độ kiếm Lợi nhuận cao của Lãnh vực buôn bán những Sản phẩm Tài chánh (Financial Products). Tôi viết bằng tiếng Anh cho một số khách hàng nước ngoài. Đây là tiếng Anh viết theo kiểu Việt Nam, xin quý Vị thông thạo tiếng Anh tha thứ.
 


HIGH YIELD WAS ALREADY A POPULAR FINANCIAL METHOD
IN POOR COUNTRIES

HIGH YIELD INVESTMENT IS NOT A NEW INVENTION OF A SELECTED GROUP OF HIGHEST BANKERS,  BUT THIS WAS A POPULAR METHOD PRACTISED IN THE CORNER OF A VEGETABLE MARKET LONG TIME AGO IN POOR COUNTRIES.

By Prof.Dr.NGUYEN PHUC LIEN, Economist
Geneva 08 February 2004


This history of High Yield Investment is real. Readers can ask for confirmation from any Vietnamese people who knew the Ben Thanh Market in Saigon. This is the history of Mr.CHA GIA (from India or Pakistan) who lends cash to poor women buying and selling vegetables in this Market.

The Banker CHA GIA (from India or Pakistan)

This Banker has small capital, for example $ 100. In Ben Thanh Market , there are very poor women who have to take care alone of her 4 children after the death of her husband in the Vietnam War. They sell soups along the roads or vegetables in the Market early in the morning. These poor women have no capital at all. The Banker Cha Gia know them very well and personally.

This Banker comes every day to a corner of the Market. In the morning, he lends $100 to a woman who sells vegetables. At noon, this woman returns $100 to him, plus $ 1.5 interest. In the afternoon, he lends the same amount $100 to other woman who sells soups along the roads. About 18h00, this woman returns to him the capital $100 plus $ 1.5 of interest .

The Banker Cha Gia realizes 2 lending operations per day. His net profit is $ 3 per day. If he works 5 days (5 banking days) per week, his profit is $ 15 per week, i.e. he takes 15% per week.
 
For a regular High Yield Investment, the Trader realizes trading operations during 40 weeks. For our Banker Cha Gia, during 40 weeks per year, his profit per year will be :

    $ 15 x 40 weeks =  $ 600.00

It means that our Banker Cha Gia can realize a Profit of  600%  per year. That is really the High Yield Investment  of our Banker Cha Gia.

If you go to Banks, for example UBS, DEUTSCH BANK, CITIBANK, BANK OF AMERICA… and you ask their Junior Bankers if they can give you a Profit 50% per year, they will declare immediately that it is impossible !!! 
But the above example of our Banker Cha Gia shows really that the realization of 600% profit is possible.

Explanation of the Possibility of High Yield

The Junior Bankers from UBS, DEUTSCH BANK, CITIBANK… declared the impossibility of realizing 50% of profit because they have habitude of thinking of interest rate per year, for example 3%,  5%, 6%... per year.  They cannot imagine that our Banker Cha Gia can realize interest rate 3% daily. Each day of our Banker Cha Gia is equivalent to one year of the Bankers in UBS, CITIBANK…When our Banker Cha Gia works during 20 days per month, the profit will be equivalent to the Bankers in UBS…who have to work during many years.

The Profit is the result of an EXPLOITATION CYCLE. Each turnover (rotation) of an exploitation cycle will give a profit or loss. An exploitation cycle can be finalized during two years, one year, one month, one week, one day or one hour.

In order to get high profit during a fixed period, we have to repeat many times the exploitation cycle, i.e. we have to reduce the time of realizing a cycle. That is the principle of SPEED ACCELERATION of exploitation cycle. A countryman cannot accelerate the cycle of season of tomato. In industry, the acceleration depends on physic condions of production. In Banks, the exploitation cycle of BUY/SELL bank instruments can be done with very short time. Each exploitation cycle, banking operation, can be finalized during one day or one hour.

In the commerce of Financial Instruments, the Trader can realize 3-5 trading Operations per day. This Speed Acceleration of Rotation (Turnover) of exploitation cycle allows the Trader to obtain very high return per day. When you ask the Trader how much he can give you the profit per week, per month, he will reply to you that it depends on how many trading operations he can realize per day.

Actually, with the rapidity of the electronic communication and with the screening the financial instruments, the Traders and Bankers can accelerate better the speed of realizing a trading operation. Consequently, the Profit becomes higher during a fixed period of Program.

Conclusion: our above  Banker Cha Gia can realize two exploitation cycles (two operations) per day and he gets  600% of profit per year. The Traders and Bankers in UBS, CITIBANK…, with their quickness of electronic communication and with the financial products ready on screen, can realize better than our Banker Cha Gia the speed acceleration of operations, and consequently a higher Profit.

Prof.Dr.NGUYEN PHUC LIEN, Economist     



US CONGRESS  VÀ PLAN BAILOUT $700 TỈ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/
01.10.2008
CẬP NHẬT/UPDATED: 04.10.2008

 

Chiều tối THỨ TƯ 01.10.2008 : Thượng Viện Mỹ thông qua Plan Bailout $700 tỉ
Ngày THỨ SÁU 03.10.2008: US CONGRESS HOUSE tái bỏ phiếu và chấp thuận Plan
Chiều THỨ SÁU 03.10.2008: Tổng Thống BUSH vừa ký nhận Văn Bản thành Luật
THỨ BẢY 04.10.2008: TT.Pháp SARKOZY mời họp G4 tại Paris



US CONGRESS TÁI BỎ PHIẾU
PLAN BAILOUT $700 TỈ
01.10.2008
 
Việc từ chối của US Congress đối với Plan Bailout USD.700 tỉ thực sự đã làm Wall Street thiệt hại ước lượng lên tới USD.1000 tỉ đo lạ Theo những nhà bình luận Âu châu, thì chính phía Dân biểu Cộng Hòa đã vì sợ Dân chúng trong cuộc bầu phiếu chọn Dân biểu vào 04.11.2008 này, nên đã không muốn ủng hộ Chương trình Cứu Vớt liên quan đến Chính quyền BUSH mà họ coi như không được đa số Dân chúng ủng hô..

Chính quyền BUSH, trước tình trạng này, vẫn không giải giáp. 
 
FED, Ngân Hàng Trung ương Mỹ
tăng cường tìm giải pháp

Tờ THE WALL STREET JOURNAL, ngày 30.09.2008 đã viết với đầu đề "FED pressed to take Steps":

"If the economy worsens, the FED could cut interest rates further, so it is too soon to say if the FED is prepared to take that step.

Before the House vote Monday, FED officials already had taken ađitional steps to ensure that financial institutions would get the cash they needed to run their operations.

The FED said  it would double the size of its so-called Term Auction Facility designed to help cash-strapped banks, to USD.300 billion. It will also expand its swap facilities with other central banks, aimed at sending dollars abroad, by USD.330 billion to USD.630 billion."

(by Maya Jackson Randall & Jon Hilsenrath)
 
Chính quyền BUSH tiếp tục
thảo luận với lưỡng đảng

Hai ứng củ viên Tổng Thống đồng một quan điểm là kêu gọi Lưỡng đảng hãy bỏ phiếu lại vì tình trạng nguy hại đang lan tràn mạnh sau việc bỏ phiếu từ chối ngày Thứ Hai 29.09.2008.

Những Lãnh tụ của hai đảng cũng vận động để US Congress bỏ phiếu lại trong ngày THỨ NĂM 03.10.2008 nàỵ

Tổng Thống BUSH nói trước Dân chúng rằng Ông hiểu sự khó khăn bỏ phiếu của Dân biểu trong ngày Thứ Hai vừa rồi và Ông hy vọng các Dân biểu xét lại để bỏ phiếu chấp thuận trong ngày Thứ Năm tớị
 
Bình luận từ Âu châu

Thủ tướng Anh BROWN tỏ ra rất tiếc cho việc từ chối của US Congress đối với Plan Bailout USD.700 tỉ. Bà Thủ tướng Đức MERKEL cũng tỏ ra thất vọng vì việc từ chối vội vàng của US Congress đối với Plan Bailout.

Các Ngân Hàng Trung ương Âu châu đang lo lắng cứu vớt 3 Ngân Hàng lớn Âu châu ở bờ phá sản. Âu châu hy vọng US Congress sẽ xét lại trong ngày Thứ Năm tới đâỵ

Ký giả đại diện Đài Truyền Hình TSR1 Thụy sĩ tại Hoa kỳ đã nhận xét như sau:

"Hy vọng US Congress sẽ chấp thuận trong ngày Thứ Năm tới vì số phiếu chênh lệch không có bao nhiêụ Theo tình hình thảo luận khá sôi nổi hiện nay, thì chính đảng Dân chủ sẽ cứu vớt Chương trình USD.700 tỉ của Chính quyền Cộng Hòa BUSH, bởi đây không còn là vấn đề Chính trị nữa mà là sự cấp bách của Tài chánh, Kinh tế".
(TSR1, tối 30.09.2008)

Tin chót sáng Thứ Tư 01.10.2008

Mở THE WALL STREET JOURNAL (Europe) sáng sớm THỨ TƯ 01.10.2008, ngay trang 1, tôi đọc thấy tin  sau đây.

Ký giả John D. McKINNON, dưới đầu đề US LAWMAKERS SCRAMBLE TO REVIVE BAILOUT THIS WEEK đã viết như sau: “American lawmakers worked to save the White House’s historic $700 billion financial-rescue package, after a stunning defeat in the US House of Representatives that initially sent stock markets around the world into a tailspin and added to concerns that the US faces a prolonged recession if the legislation isn’t revived.“  
 



CHƯƠNG TRÌNH
US$ 7000 TỈ BỊ TỪ CHỐI
30.09.2008
 
Các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh đã ngấp ngoải  sống sót từ 
 

THỨ HAI ĐEN 15.09.2008
(BLACK MONDAY 15.09.2008)
   
Chính quyền BUSH cuối cùng đã bỏ ra 85 tỉ đo-la để cứu AIG (American International Group) vào phút chót cuối ngày THỨ TƯ 17.09.2008.
 
Tiếp liền sau đó, PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ được tuyên bố bời Chính quyền BUSH nhằm cứ vớt hệ thống Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh bị vi trùng Mortgage SUBPRIME Credit đục rỗng. 

Đây là cái lỗi của hệ thống Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh đã cho ra những Sản phẩm Tài chánh (Produits Financiers/ Financial Products) riêng của lãnh vực mình để buôn bán với nhau và thâu vào những Lợi nhuận không lồ và mau le.. 

Trong tuần vừa rồi, cho đến hết Chúa nhật 28.09.2008, những Lãnh tụ các nhóm Nghị sĩ đã thảo luận với Chính quyền BUSH. Thậm chí hai ứng Cử viên Tổng Thống cũng cắt ngang cuộc tranh cử để về Washington họp với Tổng thống BUSH và những Lãnh tự Nghị sĩ. 

Theo những thông tin từ các cuộc thảo luận này bởi những Lãnh tụ Nghị sĩ, thì PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ sẽ được chấp nhận. 

Ngày thứ Hai 29.09.2008, US Congress House sẽ biểu quyết. Nhưng kết quả biểu quyết là 228/208 phiếu không chấp nhận CHƯƠNG TRÌNH CỨU VỚT US$ 700 TỈ. Thứ hai này đã trở thành:  
 

THỨ HAI ĐEN NGHỊT 29.09.2008
(BLACKEST MONDAY 29.09.2008)
 
không những cho các Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh Mỹ tại Wall Street, mà còn cho nhiều Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh Âu châu và Á châu trên khắp các Thị trường Chứng khoán Thế giớị 

Tại sao có quyết định TỪ CHỐI của US Congress House, mặc dầu Lãnh tụ các nhóm của Lưỡng đảng đã thoả thuận với Chính quyền Bush ? 

=> Phải chăng Dân chúng (Dân đóng thuế) đã quá ghét giới Ngân Hàng và Tài chánh đã sống cho riêng mình trên những Lợi nhuận khổng lồ và mau chóng khó tưởng tượng nổi ? 

=> Những Dân biểu, sống liền với Dân và còn mang tâm tình ghét giận trên đây của Dân ? 

=> Dân đóng thuế và đa số Dân biểu muốn bảo đảm tối đa cho Dân để Dân đóng thuế không bị mất mát khi phải đi dùng tiền của mình cứu vớt những Ngân Hàng gia và Tài chánh gia mà họ đang ghét ? 

=> Tổng Thống BUSH cũng đã tuyên bố trong Diễn văn trước Dân chúng Mỹ tuần trước rằng Ông luôn luôn chủ trương Luật đào thải trong Tài chánh, Kinh tế, nghĩa là ai chơi với nguy hiểm (Risks) để có lợi nhuận lớn, thì phải chịu hậu quả của mình. Tuy nhiên Ông đưa ra Plan Bailout US$ 700 tỉ để cứu vớt hệ thống Tài chánh chỉ vì lo sợ cuộc Khủng hoảng Tài chánh sẽ lan sang Lãnh vực Kinh tế khiến Thất nghiệp lan tràn. ? 

Trong một bầu không khí như vậy, và trước một món tiền khổng lồ US$ 700 tỉ, US Congress House lưỡng lự và đã bầu phiếu không thuận. 

Chúng tôi viết vội hôm nay và tiếp tục theo rõi những biến chuyển và nhất là những dự án khác xem có thể cứu vớt hệ thống Ngân Hàng và Tài chánh như thế nàọ  
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế  
 




US$ 700 TỈ CỨU VỚT WALL STREET
CỦA CHÍNH QUYỀN BUSH

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
25.09.2008

Ngày 18.09.2008, chúng tôi đã viết về BA NGÀY PHÁ SẢN Ở WALL STREET. Ngày cuối, Thứ TƯ 17.09.2008, chúng tôi viết với lạc quan sau khi Chính quyền Mỹ bỏ thêm ra 85 tỉ đo la để cứu AIG (American International Group). Oâng Marco ANNUNZIATA,  Trưởng Bộ phận Phân tích Tài chánh của UNICREDIT đã cho ý kiến: ’L’accélération  de la consolidation du secteur financier américain prend des allures certes dramatiques, mais nous arrivons au stade final de la crise’ (Journal LE TEMPS, Suisse, 18.09.2008, p.2) (Việc tiến hành nhập lại của lãnh vực tài chánh Mỹ thực mang những bước đi bi thảm, nhưng chúng ta đi tới chặng cuối cùng của khủng hoảng).

Nhưng nguy hiểm Khủng hoảng Tài chánh vẩn tiếp tục và người ta thấy triệu chứng lan sang Lãnh vực Phát triển Kinh tế quốc gia, tạo ra Khủng hoảng Kinh tế kiểu 1929-30, thất nghiệp...

Chính quyền BUSH, trước viễn tượng Khủng hoảng Ngân Hàng, Tài chánh lan sang Kinh tế, tạo thất nghiệp, đã tuyên bố ngày Thứ NĂM 18.09.2008 một Chương trình Cứu vớt với US$ 700 tỉ. Trước đó, Chính quyền Mỹ đã bỏ ra tổng cộng là 600 tỉ rồi, bây giờ PLAN BAILOUT thêm 700 tỉ nữa.

Con số 700 tỉ phải quyết định mau chóng vì tình hình Khủng hoảng cấp bách.  Để có thể quyết định một món tiền lớn như vậy, Quốc Hội Mỹ và Chính quyền phải làm việc đêm ngày trong những lo lắng đợi kết quả của toàn Thế giới.

Cái lỗi của các Ngân Hàng và
các Tập đoàn Tài chánh

Các nhà Kinh tế phân biệt hai lãnh vực: (i) Lãnh vực Ngân Hàng và Tài chánh liên hệ trực tiếp với quản trị Tiền bạc, vốn; (ii) Lãnh vực Kinh tế điều hành sản xuất và Thương mại. Cuộc Khủng hoảng 1929-30 bắt đầu từ Lãnh vực Kinh tế với việc sản xuất quá nhiều do xử dụng những khám phá Khoa học và hệ thống sản xuất dây chuyền lan tràn.

Người ta gọi rằng Lãnh vực Kinh tế cho ra những sản phẩm thực để tiêu thụ thỏa mãn những nhu cầu thực, trong khi đó Lãnh vực Ngân Hàng và Tài chánh cho ra những sản phẩm riêng của mình liên hệ đến Tín dụng Tiền bạc. Câu nói: người ta không nhai đồng 100 đo la để dạ dầy no, mà phải ăn bánh thịt mới no được. Những sản phẩm Kinh tế là đời sống thực.

Nhưng phía Ngân Hàng và Tài chánh đưa ra những sản phẩm tài chánh (Produits financiers) xa với đời sống thực và trao đổi buôn bán trong Lãnh vực riêng của họ để làm giầu. Việc làm giầu trong lãnh vực Tài chánh, Ngân Hàng rất nhanh chóng với lợi nhuận khổng lồ. Lợi nhuận thu vào cao và mau chóng là do tốc độ vận hành mau chóng một chu kỳ thương vụ (Vitesse accélérée de Rotation d’un Cycle d’exploitation).

Trong những năm gần đây, giới Ngân Hàng và Tài chánh đã thu vào những Lợi nhuận khổng lồ qua việc đầu cơ những sản phẩm Tài chánh. Cuộc Khủng hoảng Tài chánh lần này là do Kỹ nghệ những sản phẩm Tài chánh được thực hiện qua những tốc độ vận hành điện tử. Đồng thời Toàn cầu hóa Sản phẩm Kinh tế ra cùng Thế giới, tận những nước nghèo cũng là việc Tập trung Tiền bạc, Tài chánh vào những nước lớn. Chính Oâng GREENSPAN đã phải than lên rằng việc Tòan cầu hóa sản phẩm Kinh tế và việc Tập trung Tài chánh về những Ngân Hàng lớn đã tạo cảnh đói nghèo cho bao nhiêu triệu người tại những nước kém mở mang.

Đối với cuộc Khủng hoảng Ngân Hàng và Tài chánh này một khuynh hướng rộng lớn là công kích phía Ngân Hàng, Tài chánh với những sản phẩm riêng của họ được trao đổi để kiếm lợi nhuận cao chính trong Lãnh vực của họ. Trong cuộc Hop Khoáng Đại của Liên Hiệp Quốc vửa qua, những bài công kích phía Tài chánh đến từ phía Nam Mỹ, Phi châu và ngay cả từ Pháp (Tổng Thống Nicocals SARKOZY)

Quan sát thái độ của Chính quyền Mỹ, người ta cũng thấy quan điểm rất cứng rắn của Tổng Thống BUSH. Trong bài viết về ngày Thứ TƯ 17.09.2008, chúng tôi đã cắt nghĩa tại sao Chính quyền Mỹ để cho Ngân Hàng LEHMAN BROTHERS đã 158 tuổi mà phải phá sản. Tổng Thống BUSH ngay trong bài nói đêm 24.09.2008 hôm qua cũng vẫn nhắc lại rằng Oâng chũ trương nền Kinh tế Tự do, nên nếu Khủng hoảng Tài chánh là do cái lỗi của Ngân Hàng, thì cứ để họ chết theo luật đào thải. Không thể lấy tiền cuả dân đóng thuế để cứu vớt những Ngân Hàng đã thu nhiều lợi nhuận giầu có trong những năm trường.

Tuy vậy PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ được đưa ra chỉ vì sợ rằng cuộc Khủng hoảng Tài chánh này đang có triệu chứng lan sang Lãnh vực Kinh tế, tạo những thất nghiệp, thiệt hại cho những quỹ bảo đảm tuổi già. 

Phản ứng Chứng khoán
đối với PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ

Sau khi tuyên bố ngày Thứ NĂM 18.09.2008, các giá chứng khoán ngày thứ SÁU 19.09.2008 khắp nơi tăng lên. Tuy nhiên việc tăng này chỉ cầm chừng vì những công kích từ Hội Nghị Khóang Đại của Liên Hiệp Quốc.

Giới đầu tư còn có sự sợ hãi không hiểu Chương trình 700 tỉ đo la có được Quốc Hội Mỹ chấp nhận hay không. Đồng thời vì Chương trình được đề nghị cấp bách, nên Chính quyền BUSH cũng chưa kịp đưa ra những chi tiết, đồng những nhà đầu tư cũng phải có thời gian tìm hiểu hướng Cứu Vớt như thế nào.

Cuối tuần qua đi, Thứ HAI 22.09.2008, các giá chứng khoán lại thụt xuống và những nhà đầu tư chờ đợi phản ứng của phía Nghị sĩ Quốc Hội.

Phản ứng của Nghị sĩ
đối với PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ

Oâng Ben BERNANKE, Chủ tịch FED, và Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, phải điều trần trước đại điện các Khối trong Quốc Hội. Oâng Ben BERNANKE nhấn mạnh đến vấn đề thiếu vốn của Thị trường có thể đưa đến đình trệ Kinh tế. Oâng trình bầy đây không phải là việc cho vay để cứu các Ngân Hàng, mà là việc mua những sản phẩm yếu kém của phía Tài chánh.

Các Nghị sĩ, cả phía Dân chủ và Cộng hòa đưa ra những chất vấn sau đây:

=> Không thể để một Chi phiếu trắng (Cheque blanc) trong tay một Ngân Hàng gia chuyên nghiệp như Oâng Henry PAULSON Jr. mà chưa biết những chương trình cụ thể;
=> Các Nghị sĩ nhất thiết yêu cầu rằng Plan Bailout US$ 700 không thể để những mất mát mà dân chúng đóng thuế phải chịu đựng.
=> Cần phải có những Luật vững chắc bảo đảm cho việc xử dụng US$ 700 tỉ và phải có những điều kiện kiểm soát những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh.

Việc trao đổi làm việc giữa Chính quyền BUSH và các Nghị sĩ tiếp tục. Với việc trao đổi nghi ngại hai bên như vậy, giới đầu tư chưa thể quyết định, nên giá chứng khoán cầm chừng.

Ngày Thứ BA 23.09.2008, người ta vẫn chưa biết PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ có được chấp thuận hay không.

Ngày Thứ TƯ 24.09.2008, người ta ghi nhận một số triệu chứng có tính cách tích cực theo hướng cổ võ cho Chương trình Cứu Vớt 700 tỉ:

=> Nhà Tỉ phú BUFFETT bỏ ra đầu tư cho GOLDMAN SACHS một lượng vốn lớn 5 tỉ đo la. Đây là điểm lạc quan cho Thị trường
=> Vốn của một số Ngân Hàng lớn của Nhật nhằm đầu tư vào các Ngân Hàng Mỹ
=> Khối vốn A-Rập từ Dubai không trực tiếp vào thẳng Mỹ, nhưng qua ngả Anh (BARCLAYS) nhằm mua những Ngân Hàng Mỹ.

Đây là khía cạnh tích cực cho Thị trường Wall Street. Đứng về phương diện này, các Nghị sĩ có thể nghĩ rằng phải tìm các ngăn chặn việc xâm chiếm những Ngân Hàng Mỹ bằng vốn nước ngoài, nhất là vốn từ Trung đông.

Thượng  Nghị sĩ McCAIN cắt ngang cuộc Tranh cử Tổng thống để trờ về Washington vì Plan Bailout US$ 700 Ti. Chính Tổng thống BUSH cũng mời Oâng OBAMA cùng về Washington để thảo luận về Chương trình 700 tỉ. Từ London, Thủ tướng Anh cũng sang Washington vì Plan Bailout 700 tỉ đo la này.

Đêm Thứ TƯ 24.09.2008, Tổng thống BUSH ngỏ lời với Quốc Dân Hoa kỳ về tầm quan trọng của PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ. Tổng thống nhấn mạnh đến những điểm sau đây:
=> Oâng khẳng định lại rằng chính Oâng luôn luôn chủ trương nền Kinh tế Tự do. Các Ngân Hàng sống chết theo luật đào thải. 
=> Tuy nhiên Oâng bầy tỏ sự lo lắng cuộc Khủng hoảng này lan sang Khung hoảng Kinh tế với những nguy hiểm, tình trạng thất nghiệp xẩy ra. Đó là lý do chính để phải đưa ra Chương trình Cứu Vớt 700 tỉ do-la.

Cũng trong ngày hôm nay, Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố cũng cắt nghĩa thêm cho sáng tỏ về tính cách Thương mại của 700 tỉ đo-la:

=> Mua lại những sản phẩm tài chánh xấu đang ở giá thấp hiện hành

=> Mua với giá cao hơn gia hiện hành một chút. Như vậy làm cho giá thị trường theo chiều hướng tăng lên

=> Khi tăng lên rồi, có thể bán, như vây thu lại tiền mà không thiệt hại gì cho dân chúng đóng thuế.

Tình hình chiều nay hồi 18H00 (Giờ Thụy sĩ)
Thứ NĂM 25.09.2008

Khi viết đến đây, tôi thấy trên Đài CNN thông tin với hình của một số Nghị sĩ:
=> Nghị sĩ Chris DODD, Dân chủ: ủng hộ Chương trình
=> Nghị sĩ Robert BENNET, Cộng Hòa: ủng hộ Chương trình
=> Dân Biểu Barney FRANK, Dân chủ: ủng hộ Chương trình

Tin của Truyền Hình Thụy sĩ TSR1 loan như sau:

06:16 25.09.2008:
Plan Paulson: démocrates et républicains se sont mis d'accord
Les démocrates et les républicains du Congrès américain sont d'accord sur les bases du plan de sauvetage financier présenté par l'administration Bush, a déclaré l'un des responsables démocrates. Ce dossier porte sur 700 milliards de dollars.
06:16 giờ/ 25.09.2008

(Chương trình Paulson: dân chủ và cộng hòa cùng nhau đồng ý
Một trong những người Trách nhiệm của phía Dân chủ tuyên bố rằng phía Dân chủ và phía Cộng hòa của Quốc Hội Mỹ đồng ý trên những căn bản của Chương trình cứu vớt tài chánh đề nghị bởi Chính quyền Bush. Hồ sơ này gồm 700 tỉ đo la.)

Chúng tôi vừa vào Đài Truyền Hình CNBC và nhận thấy những Chĩ sớ quan trong của Wall Street mang màu xanh mũi tên đang lên.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



WALL STREET: BA NGÀY PHÁ SẢN NGÂN HÀNG

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
18.09.2008

Chúng tôi quan tâm theo rõi cuộc Khủng hoảng Tài chánh tại Hoa kỳ và tầm ảnh hưởng của nó qua Aâu châu và Á đông.  Khi mà Thị trường Tài chánh Thế giới giao động như vậy, thì ảnh hưởng của nó tất nhiên không thể tránh được ở Việt Nam, nơi mà hệ thống Ngân Hàng và việc phát triển Kinh tế đang bị vi trùng Tham nhũng Lãng phí hoành hành do sự cấu kết giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế trong tay một nhóm người. Việt Nam thiếu vốn nội địa, nghĩa là lệ thuộc vào vốn nước ngoài. Phát triển Kinh tế Việt Nam cũng lệ thuộc Thị trường ngoại quốc. Khi mà có khủng hoảng Tài chánh Thế giới, thì tầm ảnh hưởng chắc chắn sẽ phải xẩy ra ở Việt Nam. Tầm ảnh hưởng ấy trở thành tai hại hơn nữa khi chính vấn đề vốn và kinh tế của mình đang trong cơn bệnh hoạn như ngày nay. Đó là mục đích tìm hiểu quan trọng khi chúng tôi theo rõi những biến chuyển Khủng hoảng của Thị trường Tài chánh hoàn cầu.

Bài này ghi lại những biến động chung quanh Wall Street từ THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 cho đến hết ngày THỨ TƯ 17.09.2008. Tất nhiên tại New York, trong những tuần trước và liền sát với THỨ HAI ĐEN, những cuộc Hội Họp liên tục giữa các Thủ lãnh Ngân Hàng và Tài chánh, rồi với Đại diện Ngân khố Nhà nước diễn ra. Xin độc giả đọc thêm những bài về Tín dụng Subprime Địa ốc (Mortgage Subprime Credit) mà chúng tôi đã viết từ năm ngoái và đầu năm nay đăng lại trong số báo này. Chính Tín dụng Subprime (Toxic) Địa ốc này là nguyên nhân gây mất mát của những Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh, rồi tạo biến động tất nhiên ở Wall Street và các Thị trường chứng khoán trên khắp Thế giới. 


THỨ TƯ 17.09.2008:
ĐỂ LEHMAN BROTHERS CHẾT NHƯNG CỨU AIG
(AMERICAN INTERNATIONAL GROUP)

Trước quan điểm được tuyên bố bởi Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, trong những ngày trước về quan điểm cứng rắn của Nhà Nước Liên Bang Mỹ về số phận những Ngân Hàng, và việc nhất định từ chối hỗ trợ của FED để BARCLAYS có thể mua LEHMAN BROTHERS, khắp Thế giới chờ mong tin về số phận của Tập đoàn Bảo Hiểm khổng lồ AIG (American International Group). Cả Thế giới trông tin vì lãnh vực hoạt động của AIG bao trùm rộng lớn mọi nơi.

Quan điểm của Nhà Nước Liên Bang Mỹ về
các Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh

Từ năm ngoái đến giờ, những thua lỗ và những biến động xẩy ra ở nơi những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh và tại những Thị trường Chứng khoán. Người ta cũng quan sát thấy rằng những Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh thua lỗ nhiều và có thể đi đến phá sản là vì họ đã nhúng tay vào lãnh vực Tín dụng Subprime Địa ốc với tất cả những cái rủi ro (Risks) của Business. Trong những năm trường, những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh này đã thu vào những lợi nhuận rất cao. Thực vậy muốn ăn lớn thì phải có rủi ro. Họ đã vào hang cọp để bắt cọp con.

Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, đã từng điều hành Ngân Hàng GOLMAN SACHS, nên hiểu rõ những cái nguy hiểm (risks) thuộc lãnh vực này. Quan điểm của Nhà Nước Liên Bang Mỷ, qua lời khẳng định của Henry PAULSON là khi đã quyết định chơi với nguy hiểm để có lợi nhuận cao, thì phải chịu cái hậu quả của nguy hiểm, dù đó là phá sản. Nói đơn giản: được ăn thua chịu.

Về phương diện phát triển Kinh tế quốc gia, người ta thấy lãnh vực Sản xuất, Thương Mại, Việc làm cho Nhân lực,  ít có những xáo trộn xong hành với lãnh vực Tài chánh. Nền Kinh tế có chút đình trệ, nhưng không có những biến động coi là Khủng hoảng như những năm 1929-30.

Có thể nói rằng  thái độ của Nhà Nước Liên Bang là:

=> Nhà Nước để cho phía các Tổ chức Ngân Hàng, Tài chánh chơi với nguy hiểm, tự đào thải

=> Nhà Nước canh chừng và bảo vệ nền Kinh tế phát triển đều đặn, tránh những biến động mạnh. 

=> Không thể lấy tiền của Dân đóng thuế để cứu những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh tư nhân chơi với rủi ro để kiếm lợi nhuận cao bỏ túi riêng. Khi họ có lợi nhuận cao, họ có chia cho Dân đâu. Vậy khi họ gặp phá sản, tại sao lấy tiền của Dân ra cứu họ. 

Ngân Hàng LEHMAN BROTHERS với 158 tuổi đã bị để cho chết trong quan điểm trên của Nhà Nước.

Nhà Nước Liên Bang vào phút chót cứu
AIG (American International Group) với 85 tỉ

AIG là một Tổ chức Bảo Hiểm có tầm hoạt động rộng lớn khắp Thế giới. AIG xử dụng 116'000 nhân viên và có 74 triệu khách hàng bảo hiểm trên 130 quốc gia. Nhửng khách hàng ấy không phải hẳn là những cá nhân nhưng là những Tập thề, Ngân Hàng hay Quốc gia. Với trị giá tài sản 180 tỉ đo-la, AIG là một trong 5 Tập đoàn Kinh tế tư nhân lớn nhất của Hoa kỳ. Lãnh vực hoạt động của AIG liên hệ đến hệ thống Tài chánh Thế giới và nhất là về những bảo hiểm nhân mạng, cuộc sống và tuổi già của nhiều triêu dân chúng. AIG còn bào hiểm rộng lớn cho những Quốc gia về những Obligations. Tuy nhiên lãnh vực rủi ro của AIG là đã đụng chạm đến Tín dụng Subprime địa ốc. Mộ lảnh vực nữa là đã đưa ra sàn phẩm CDS-CREDIT DEFAULT SWAP, một Hợp đồng Bảo Đảm Rủi ro cho Tín dụng. Số lượng Bảo Đảm này năm 2004 là 6’396 tỉ đo-la và cuối năm 2007 lên vọt tới số lượng 57'894 tỉ đo-la.

Trong suốt những ngày vửa rồi, chính Oâng Henry PAULSON đã hết lòng dàn xếp với giới Ngân Hàng tư nhân, ngay cả thúc đẩy những Ngân Hàng Trung ương Aâu châu trợ lực để cứu AIG.

Cuới cùng Tổng thống Bush, Chủ tịch Ngân Hàng Trung ương Hoa kỳ (FED) và Bộ trưởng Ngân khố Mỹ phài quyết định bỏ ra 85 tỉ đo la để cứu AIG vì nếu AIG phá sản thì hậu quả bao trùm Thế giới.

Nhà Nước Liên Bang Mỹ, sau khi cứu AIG, còn phải cứu ai nữa không khi mà quan điểm của Nhà Nước quyết theo như chủ trương vừa trình bầy ở đoạn trên ? Oâng Marco ANNUNZIATA,  Trưởng Bộ phận Phân tích Tài chánh của UNICREDIT đã cho ý kiến:’L’accélération  de la consolidation du secteur financier américain prend des allures certes dramatiques, mais nous arrivons au stade final de la crise’ (Journal LE TEMPS, Suisse, 18.09.2008, p.2) (Việc tiến hành nhập lại của lãnh vực tài chánh Mỹ thực mang những bước đi bi thảm, nhưng chúng ta đi tới chặng cuối cùng của khủng hoảng).

Một số người có khuynh hướng Xã Hội Chủ Nghỉa, qua việc Nhà Nước Liên Bang cứu  FANNIE MAE, FREDDIE MAC, BEAR STEARNS và AIG, đã vội miệng công kích rằng đó là một việc can thiệp của Chính trị Nhà Nước vào lãnh vực Kinh tế tư nhân trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

Xin nhớ rằng đây là việc tư nhân yêu cầu Nhà Nước cứu giúp mình khi hoạn nạn, chứ không phải Nhà Nước tìm đến để can thiệp xen lấn. Cũng nói ngay rằng Nhà Nước Liên Bang Mỹ là một Nhà Nước Dân chủ chứ không phải là Nhà Nước độc tài.

Một Bình luận gia trên Đài Truyền hình TSR1, ngày 14.09.2008 đã nói một câu có ý khen ngợi tính cách rộng lượng của Nhà Nước Mỹ trong việc trợ lực này: “Quand il y a des Profits, on désire de les privatiser; mais quand il y a des Pertes, on souhaite de les nationaliser“. (Khi có nhiều Lợi nhuận, thì người ta muốn tư nhân hóa; nhưng khi có những Mất mát, thì người ta mong mỏi quốc hữu hóa).

Tình trạng mất mát của các Ngân Hàng
vì vào lãnh vực rủi ro Tín dụng Subprime Địa ốc

Có những Ngân Hàng, Tập đoàn Tài chánh không muốn công bố vì muốn giữ thế giá hoặc chỉ mất chừng mấy trăm triệu hay bên dưới 4 hay 5 tỉ đo la. Tính cho đến hôm nay, việc mất mát vì Mortgage Subprime (Toxic) Credit được một số Ngân Hàng tuyên bố như sau:
* CITIGROUP (Mỹ)  : mất 55.1 tỉ đo la
* MERRILL LYNCH (Mỹ)  : mất 52.2 tỉ đo la
* UBS (Thụy sĩ)  : mất 44.2 tỉ đo la
* HSBC (Anh)  : mất 27.4 tỉ đo la
* WACHOVIA (Mỹ)  : mất 22.7 tỉ đo la
* BANK OF AMERICA (Mỹ)  : mất 21.2 tỉ đo la
* WASHINGTON MUTUAL (Mỹ)  : mất 14.8 tỉ đo la
* MORGAN STANLEY (Mỹ)  : mất 14.4 tỉ đo la
* IKB (Đức)  : mất 14.4 tỉ đo la
* JP MORGAN CHASE (Mỹ)   : mất 14.3 tỉ đo la

(Theo nguồn của BLOOMBERG)



THỨ BA 16.09.2008
KHỦNG HOẢNG CREDIT CARDS ?
(CREDIT CARDS CRISIS?)

Thiết lập Quỹ Chống Phá Sản
(Anti-Bankruptcy Funds/ Fonds Anti-Faillite)

Đây là một ý tưởng theo mẫu của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF/ FMI) được thiết lập năm 1944. Thời kỳ này, Tiền tệ của các nước còn trong hệ thống bảo chứng bằng Vàng (Regime Etalon-Or). Nhưng Thế Chiến Thứ Hai đã làm cho các nước Aâu châu mất hết Vàng, vì thế Tiền Aâu châu đã mất hết giá vì không còn bảo chứng. Hoa kỳ đã triệu tập Hội Nghị Thế Giới về Tiền tệ tại Bretton-Woods năm 1944 để quyết định việc bảo chứng bằng đồng Dollar vì chỉ có Hoa kỳ mới còn Vàng. Tiền tệ chuyển sang hệ thống bảo chứng bằng đồng tiền mạnh Dollar (Regime Etalon-Devise-Or/ Regime Etalon-Dollar-Or).

Hội Nghị cũng quyết định thành lập Quỹ Tiền Tệ Quốc tế với mục đích hỗ trợ những nước thành viên có biến động yếu kém đi về Tiền tệ.

Cũng theo mẫu và mục đích tiên khời của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế, ngày Chúa Nhật 14.09.2009, mười Ngân Hàng lớn Hoa kỳ và ngoại quốc đã quyết định thành lập QUỸ CHỐNG PHÁ SẢN (Anti-Bankruptcy Funds/ Fonds Anti-Faillite) mà mục đích là để hỗ trợ giữa các Ngân Hàng thành viên khi đứng bên bờ phá sản. 10 Ngân Hàng lớn đó là: BANK OF AMERICA (Mỹ), BARCLAYS (Anh), CITIGROUP (Mỹ), CREDIT SUISSE (Thụy sĩ),  DEUTSCHE BANK (Đức), GOLDMAN SACHS (Mỹ), JP MORGAN CHASE (Mỹ), MERRYLL LYNCH (Mỹ), MORGAN STANLEY (Mỹ) và UBS (Thụy sĩ). Mỗi Ngân Hàng đóng vào Quỹ đó 7 tỉ đo-la.

Có lẽ cũng nhờ Quỹ này mà Bank Of America mua lại Merrill Lynch vì cùng là thành viên.

Vấn đề AIG (American International Group)
Vẫn còn sôi bỏng


AIG là Tập đoàn Bảo Hiểm lớn nhất của Mỹ. Những mất mát lớn mới đây của Tam cá nguyệt 2 của Tập đoàn được ghi nhận như sau:
* Bảo Hiểm Tổng Quát (General Insurance) : mất 827 triệu đo-l
* Bảo Hiểm Sinh mạng và Dịch vụ Hưu trí (Life Insurance & Retirement Services): mất 2.4 tỉ đo-la.
* Quản trị Tài sản (Asset Management): mất 314 triệu đo-la
* Những Dịch vụ Tài chánh (Financial Services): mất 5.9 tỉ đo-la

Với những mất mát mới đây, AIG ở trong tình trạng giao động gay gắt. Trị giá của AIG tại Thị trường Chứng khoán Wall Street tụt dốc: 60% mất giá trong ngày thứ HAI và 19% thêm nữa trong ngày thứ BA. Việc phá sản của AIG không những làm giao động mạnh hệ thống Tài chánh của Hoa kỳ, mà còn cả cho Aâu châu và Á châu nữa. Phải cứu AIG bằng mọi giá.

Mạc dầu đã được hứa 50 tỉ đo-la hỗ trợ từ FED, nhưng AIG cần tới con số tối thiểu 70 tỉ đo-la. FED đã kêu gọi những Ngân Hàng còn mạnh như Goldman Sachs, JP Morgan Chase hỗ trợ. Đồng thời FED cũng kêu gọi sự tiếp sức từ những Ngân Hàng Trung ương của Aâu châu. Thống đốc Tiểu bang New York cũng cho biết có thể hỗ trợ 20 tỉ đo-la. Oâng Hank GREENBERG, cựu Chủ tịch AIG, trong một Thư đăng trong Financial Times, cũng nhấn mạnh rằng nếu hệ thống Ngân Hàng tư nhân không đủ cứu AIG, thì nhất thiết FED phải tăng cường thêm.

Quan điểm của FED trong
cơn Khủng hoảng Tài chánh

Quan điểm của FED, qua những tuyên bố của Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố, và của Oâng Tim GEITHNER, Chủ tịch của FED New York, trong những cuộc Hội họp cứu nguy các Tập đoàn Tài chánh, gồm những điểm sau đây:
=> Đây là việc Khủng hoảng về Tài chánh liên hệ thiết yếu đến những Tập đoàn quá đi sâu vào những Nghiệp vụ Thương mại, nhất là vào lãnh vực Tín dụng Subprime Địa ốc. Vì vậy, nếu có một số Tập đoàn phải chết đi, thì đó cũng là việc họ đã chấp nhận trước đây những rủi ro (Risks). Do đó không thể bắt quỹ đóng góp của những người trả thuế đến cứu vớt những rùi ro nghề nghiệp của tư nhân.
=>  Việc khủng hoảng Tài chánh này chưa mang đến hậu quả là Khủng hoảng Kinh tế Hoa kỳ. Cái lỡi phá sản là hoạt động thương mại của các Ngân Hàng ở Thị trường Tài chánh. Việc chết đi của một số Ngân Hàng có thể làm sạch sẽ hơn Thị trường Tài chánh.
=> Chính vì vậy mà FED nhất định giữ Lãi suất 2%. Việc thay đổi Lãi suất có thể gây thiệt hại cho những Tập đoàn sản xuất Kinh tế.

Từ Khủng hoảng Tín dụng Subprime Địa ốc
Đến Khủng hoảng Tín dụng Tiêu dùng
(Credit Cards Crisis)

Giới Tài chánh không muốn dùng chữ Subprime Credit nữa mà gọi thẳng là Toxic Credit (Tín dụng nhiễm độc). Người ta đang lo ngại từ Khủng hoảng Tín dụng Toxic Địa ốc, có thể các Ngân Hàng sẽ phải chịu một cơn lốc thứ hai là Thẻ Tín dụng Tiêu dùng (Credit Cards Crisis).

Thục vậy, người ta dễ lạm dụng Thẻ Credit để Tiêu dùng trở thành một món nợ không thể hoàn lại. Tại Hoa kỳ, chỉ cần mang theo người Credit Card và Drive License là đủ mua bán mọi nơi. Việc mua bán qua Internet cũng xử dụng Credit Cards và lan rộng ngoài phạm vi Hoa kỳ.

Giới quan tâm đến cuộc Khủng hoảng Credit Cards đã ước tính Toxic Credit cho Thẻ Tiêu dùng có thể lên tới con số rất lớn. Mỗi Gia đình tại Mỹ trung bình xử dụng tới 6 Credit Cards. Mỗi Credit Card mang nợ trung bình là 10'000 đo-la.  Giới Ngân Hàng tính tổng cộng tại Hoa kỳ số tiền Toxic Credits cho những Cards này lên tới 1'000 tỉ đo-la.

Ý kiến riêng: Tốt hơn hết là khi mấy Oâng ra ngoài buổi tối, nên để Credit Cards ở nhà cho các bà xã giữ. Chỉ lên bỏ vào túi tiền mặt chừng 20 đo-la. Uống bia hết tiền mặt thì về nhà. Còn nếu có sẵn Credit Cards trong túi, thì khi hơi men bốc lên rồi, mà ngồi cạnh nữ giới với ánh đèn mầu, thì dễ dàng mang Credit Cards ra trả cho lên mặt anh hùng !.




THỨ HAI ĐEN 15.09.2008:
BIẾN ĐỘNG TÀI CHÁNH TẠI WALL STREET

THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 cho Wall Street. Mà Wall Street giao động, thì tầm ảnh hưởng lan rộng ra Thế Giới. Hệ thống Ngân Hàng và Tài chánh Thế giới bị bệnh. Những Ngân Hàng mất tiền, thậm chí phá sản. Cái nguyên do của tình trạng bệnh tật này là Khủng hoảng Tín dụng Địa ốc của Hoa kỳ (Mortgage Subprime Credit Crisis)

Ngày 13.12.2007, chúng tôi đã viết về Tín dụng Subprime Địa ốc là gì nhân việc Ngân Hàng UBS của Thụy sĩ tuyên bố mất 11 tỉ đo la. Ngày 24.01.2008, chúng tôi đã viết về Khủng hoảng Thị trường Chứng khoán từ Mỹ, Aâu, Á cũng do nguyên nhân Tín dụng Subprime Địa ốc.

Chúng tôi đăng lại hai bài này để hiểu cái nguyên nhân Tín dụng Subprime Địa ốc là gì nhân THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 hôm qua.

Từ tuần trước, Ngân Hàng Trung ương Hoa kỳ FED đã đứng ra trách nhiệm cứu và kiểm soát hai Đại Tập đoàn Tài chánh Địa ốc của Mỹ FANNIE MAE và FREDDIE MAC với 200 tỉ đo la. FED cũng cứu AIG, American International Group, một Tập đoàn Bào Hiểm lớn nhất của Mỹ, với 50 tỉ đo-la. FED cũng trợ lực 30 tỉ đo la để JP MORGAN CHASE mua BEAR STEARNS vào tháng 3 vừa rồi. Nhắc lại rằng JP MORGAN CHASE là sự nhập lại của JP MORGAN và CHASE MANHATTAN vào cuối năm 2000.

Lần này đến lượt MERRILL LYNCH và LEHMAN BROTHERS. Suốt cuối tuần vừa rồi, Những Đại diện Ngân Hàng lớn họp liên hồi để cứu hai Tập đoàn này. Đây là hai Tập đoàn đầu tư nhiều trong lãnh vực Subprime Địa ốc Hoa kỳ. Đối với hai Tập đoàn này, FED không muốn cứu nữa. Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố, và Oâng Tim GEITHNER, Chủ tịch của FED New York, cũng đến họp về trường hợp của Merrill Lynch và Lehman Brothers. Nhưng hai Oâng yêu cầu phải tìm giải pháp Kỹ nghệ chứ FED không thể xử dụng tiền Dân đóng thuế để cứu hai Tập đoàn tư nhân này.

BANK OF AMERICA quyết định mua MERRILL LYNCH. Nhưng còn LEHMAN BROTHERS ? Một số Ngân Hàng như BARCLAY’S, BANK OF AMERICA cũng có ý định xét mua LEHMAN BROTHERS, nhưng muốn FED trợ lực chịu những nguy hiểm. Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, nhất quyết từ chối.

Thứ Hai 15.09.2008, LEHMAN BROTHERS tuyên bố phá sản. Wall Street giao động, nhất là giá các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh. Tập đoàn LEHMAN BROTHERS được thành lập từ năm 1850 và được 158 tuổi. Số nhân viên làm việc lên tới 15'000 người.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế




7.     LẠM PHÁT TIỀN TỆ VÀ
        KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH 
        CỦA MỘT NHÀ NƯỚC ĐỘC TÀI

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
02.10.2008



Vào tháng 10 năm ngoái 2007, khi viết về những triệu chứng Lạm phát trong những nước bắt đầu phát triển, trong đó có Việt Nam, chúng tôi đã dựa trên những bài viết của những Nhà Kinh tế chuyên nghiệp, những Giáo sư Kinh tế như Alain FAUJAS, Florin AFTALION đăng trong nhật báo LE MONDE số 19523, thứ Tư, ngày 31.10.2007 với những đầu đề như: (1) L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm Phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển); (2) L’INFLATION DETRUIT UNE ECONOMIE, MEME SI LES POLITIQUES PEUVENT L’APPRECIER (Lạm Phát phá hủy một nền Kinh tế, ngay cả khi Chính trị có thể chuộng nó); (3) LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh hoạn vì vật giá tăng).

Kinh tế gia Alain FAUJAS đã khẳng định như sau:”Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois ou vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit de plein fouet des prix arbitraires” (LE MONDE, Mercredi 31.10.2007, page 13) (Khi có xâm lấn chính trị (các đảng Cộng sản Trung quốc hay Việt Nam) vào thương mại, tài chánh và kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng tay những giá cả độc đoán).

Giáo sư Florin AFTALION đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2) (... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)

Sau khi viết xong loạt bài này, thì đầu năm 2008, tình hình Lạm phát bùng nổ ở Việt Nam với mức cao đặc biệt. Vật giá tăng vọt và Dân nghèo khổ cực. Nhà nước ồn ào đưa ra những biện pháp chống Lạm phát. Thế rồi sau hồi ồn ào với những biện pháp để mỵ dân, Dân nghèo vẫn tiếp tục sống trong khổ cực vì vật giá, nhưng Nhà nước yên tiếng không và người ta không biết kết quả của những biện pháp chống Lạm phát ra sao.

Cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế tại Việt Nam bùng nổ từ đầu năm 2008. Rồi ngày nay, cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế đang diễn ra trầm trọng từ Hoa kỳ, Liên Aâu và toàn Thế giới, chắc chắn mang ảnh hưởng tàn phá thêm đến Tài chánh/Kinh tế Việt Nam. 

Bài QUAN ĐIỂM thứ 5 trong loạt bài Chủ đề này chỉ hạn hẹp vào Lạm phát ở phương diện Tiền tệ. Chúng tôi bàn tới những khía cạnh sau đây:

=> Tình trạng Lạm phát là như thế nào
=> Lý thuyết về Tương quan Tiền tệ và Đời sống Kinh tế thực
=> Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) ở Việt Nam
=> Lạm phát Tiền tệ được che chở ở một Nhà Nước dộc tài nắm Độc quyền Kinh tế


Tình trạng Lạm phát là như thế nào

Tình trạng Lạm phát có thể được định nghĩa theo những góc nhìn khác nhau. Giáo sư Joseph DEISS là cựu Bộ trưởng Kinh tế và cựu Tổng Thống Thụy sĩ. Chúng tôi đưa ra những định nghĩa của Gs Joseph DEISS vì cũng là đồng nghiệp của chúng tôi (Trích trong cuốn ANALYSE ECONOMIQUE DE LA SUISSE, Collection Vie et Economie, Edition Fragnìeres Suisse 1982).

Đứng về Thị trường tiêu thụ thực của Sản phẩm, thì “L’inflation est une situation de déséquilibre: il y a inadaptation entre l’offre et la demande de biens et de services“ (Lạm phát là tình trạng mất thăng bằng: một việc không cân xứng giữa cung và cầu cũa hàng hóa và dịch vụ).

Đứng về liên quan đến Tiền tệ, thì “L’inflation est un processus de hausse des prix. La monnaie se déprécie par rapport aux marchandises et elle perd une partie de son pouvoir d’achat. (Lạm phát là một tiến trình tăng giá cả. Tiền tự mất giá so với hàng hóa et đồng tiền mất một phần khả năng mua bán hàng của nó.)

Như đầu đề của Bài đã hạn định, chúng tôi chỉ quan tâm đến câu định nghĩa thứ hai về Lạm phát trong tương quan giữa Tiền tệ và Hàng hóa Kinh tế thực. Chính mối tương quan này mà chúng ta phải tìm hiểu Lạm phát Tiền tệ đã dự phần vào Lạm phát tổng quát ở Việt Nam như thế nào.

Chúng tôi muốn lấy một tỉ dụ nôm na cho dễ hiểu tình trạng Lạm phát liên quan đến Tiền tệ. Người Công nhân lĩnh lương được 150'000 đồng. Anh dành ra 40'000 đồng để mỗi sáng đi ăn phở. Đầu năm, giá tô phở là 2'000 đồng. Như vậy là anh có thể ăn được 20 tô phở. Phở là hàng hóa thực của Kinh tế. Đến giữa năm, giá mỗi tô phở là 4'000 đồng. Lương của anh vẫn giữ nguyên 150'000 đồng/ tháng và anh vẫn chỉ có thể dành ra 40'000 đồng để ăn phở Như vậy lúc này, anh chỉ có thể mua được có 10 tô phở. Nếu việc sản xuất phở giảm lượng đi, thì đó là Lạm phát của đời sống Kinh tế thực. Nhưng nếu việc sản xuất lượng phở vẫn như cũ, thì việc Lạm phát này có hai lý do: một là người bán phở tăng giá vì tình trạng Kinh tế chung hoặc là do đầu cơ; hai là số Tiền 40'000 đồng anh đang cầm đã mất giá, nghĩa là không còn khả năng mua phở như đầu năm.

Chính ở khía cạnh mất giá đồng tiền này mà chúng tôi đi tìm những lý do cho Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire). Cái việc mất giá đồng tiền này không phải là do anh làm. Vậy thì do ai ? 

Lý thuyết về Tương quan Tiền tệ
và Đời sống Kinh tế thực

Có hai giai đoạn đưa ra những Lý thuyết cắt nhgĩa tương quan giữa đồng Tiền (tờ giấy 1'000 đồng chẳng hạn) và Đời sống Kinh tế với hàng hóa thực (tô phở chẳng hạn). Không ai nhai tờ giấy 1'000 đồng để bụng khỏi đói. Nhưng ăn tô phở thì bụng hết đói. Việc hết đói là đời sống kinh tế thực, trong khi ấy tờ giấy 1'000 đồng chỉ là phương tiện mua tô phở. Vì vậy, người ta phân biệt ra hai Lãnh vực: Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực và Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh. Hai Lãnh vực có những liên hệ như thế nào ?

=> Lý thuyết Định Lượng Tiền bạc (Théorie Quantitative de la Monnaie)

Đây là Lý thuyết đơn giản và tiên khởi cắt nghĩa tương quan giữa Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh và Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực. Lý thuyết được đưa ra đầu tiên ở Thế kỷ XVIII bởi David HUME và Richard CANTILLON. Theo hai tác giả này, thì nếu tăng gấp đôi lượng tiền cho một cộng đồng Kinh tế, thì tức khắc vật giá sẽ tăng lên gấp đôi. Nhưng phải đợi đến cuối Thế kỷ XIX và đầu Thế kỷ XX, thì Irving FISHER mới đưa ra Công thức sau đây:

  M.V
--------   =   P
    T

M : Lượng Tiền thả ra cho cộng đồng Kinh tế; V : Tốc độ lựong Tiền lưu hành; T: Những sản phẩm thực Kinh tế lưu hành trong Cộng đồng; P: Mức tổng quát giá cả.

Cứ theo Công thức của FISHER, thì nếu lượng tiền lưu hành (M.V) không thay đổi, mà Lượng hàng hóa lưu hành (T) sút kém, thì Vật giá tổng quát (P) tăng lên. Đây là Lạm phát thực. Nhưng nếu mức sản xuất và lưu hành hàng hóa giữ nguyên, mà vì lý do nào đó Lượng Tiền lưu hành tăng lên, thì Vật giá tổng quát (P) cũng tăng lên. Đây là Lạm phát về phía Tiền tệ. Việc tăng Lượng Tiền có thể do việc tung ra cộng đồng một số Tiền mới in, hoặc do việc tăng tốc độ lưu hành Tiền tệ (V). Tỉ dụ bình thường Công nhân lĩnh lương tháng. Nhưng nếu áp dụng việc trả Lương tuần (như bên Mỹ), thì tốc độ lưu hành Tiền sẽ được nhân tăng lên.

=> Lý thuyết Hội nhập Tiền tệ (Théorie de l’Intégration Monétaire)

Từ J.M.KEYNES, nhất là Milton FRIEDMAN, trường phái Chicago, thì Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh không đứng ngoài Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực như khách bàng quan. Phải có một sự Hội nhập Tiền tế, Tài chánhä vào Lãnh vực Đời sống Kinh tế để lượng tiền mới mang một giá trị mua bán.  Chu trình Hội nhập như sau:

Đồng Tiền mới in ra từ Ngân Hàng Phát Hành (Trung ương) chưa mang giá trị mua bán. Đó chỉ là một mảnh giấy không hơn không kém. Đồng Tiền ấy phải qua hệ thống sản xuất dưới dạng trả lương cho Công nhân chẳng hạn. Công nhân nhận được đồng Tiền. Đây là đồng Tiền bắt đầu có giá trị mua bán. Khi hàng hóa sản xuất thực được đưa ra Chợ, Công nhân mang đồng Tiền đến mua hàng hóa, thì có sự tương đương của đồng Tiền với Hàng hóa. Khi có sự tương đương như vậy, thì đây là đồng Tiền thực, có giá trị mua bán.

Chính đời sờng sản xuất Kinh tế thực đã mang lại cho tờ giấy Tiền lúc ban đầu có một giá trị (Pouvoir d’Achat).

Bây giờ nếu vì một lý do nào đó, Ngân Hàng Phát Hành in ra một lượng Tiền mới tinh mà không cho lượng tiền mới ấy vào Chu trình Hội nhập, thì lượng Tiền mới này củng chỉ là mớ giấy chưa có giá trị mua bán (Pouvoir d’Achat). Nếu Nhà Nước đem số Tiền mới in này thả đại vào Lượng Tiền đang lưu hành, thì đó là hành động lưu manh đánh lận con đen pha lộn Tiền thực (đã Hội nhập) và Tiền chưa có khà năng Kinh tế (chưa Hội nhập). Đây là hành động ăn ướp giá trị Tiền thực của Công nhân... Khối Tiền đã Hội nhập cộng chung với Khối Tiền chưa Hội nhập làm cho Vật giá tăng lên, nghĩa là Tiền mất giá. Đây là hành động ăn cướp Tiền tệ phải xử tử hình theo Luật Tiền tệ.

Một Nhà Nước tự động tăng lượng Tiền mới chưa Hội nhập Kinh tế là Nhà Nước đáng phải chịu tội tử hình này.

Lạm phát Tiền tệ
(Inflation Monétaire) ở Việt Nam

Theo những lý luận trên đây, nhất là việc Hội nhập Tiền tệ, chúng ta xem đâu là cái phần Lạm phát Tiền tệ làm cho tình trạng Lạm phát ở Việt Nam trở thành trầm trọng. Cái phần này làm cho đồng Tiền Việt Nam mất giá. Trước khi nói đến tình trạng Lạm phát Tiền tệ ở Việt Nam, chúng tôi đưa ra những tỉ dụ lạm phát có tính cách Lịch sử.

Xin nhắc lại lời khẳng định của Giáo sư Florin AFTALION về những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:

”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2)
(... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)

Vào những thập niên 1980, tình trạng Lạm phát Tiền tệ lan tràn tại Phi Châu và Nam Mỹ. Lạm phát Tiền tệ ở Ba Tây lên tới mức 1000% vào thập niên 1980.

Tỉ dụ một Sĩ quan cấp Tá từ trong rừng tại Phi châu, dẫn quân về Thủ đô làm Đảo chánh (Cách Mạng). Trong tình trạng chiến tranh dành quyền hành, nền Kinh tế thực không tăng mà còn tụt dốc, nghĩa là số lượng hàng hóa(T) giảm hẳn. Nhưng Oâng Tá ấy lên làm Nguyên Thủ Quốc gia, bây giờ phải nuôi quân sĩ và nuôi công chức. Làm thế nào để trả lương hàng tháng. Oâng đến Ngân Hàng Phát Hành và yêu cầu Thống Đốc in cho 10 tỉ đơn vị tiền hiện hành. Oâng Thống Đốc thấy đây là trái nguyên tắc phát hành Tiền tệ. Nhưng Oâng Tá Nguyên Thủ Quốc kề súng lục vào màng tai Thống Đốc. Thế là 10 tỉ tiền mới được in ra để Oâng Tá trả ương lính và công chức. Tỉ dụ khối Tiền đã hội nhập (M.V) và có giá trị mua bán hiện giờ là 5 tỉ và lượng hàng hóa sản xuất và lưu hành (T) là 20'000'000 đơn vị. Vật giá tổng quát (P) được tính hiện hành với khối tiền đã hội nhập kinh tế như sau:

   M.V                 5'000'000'000 đơn vị tiền
---------  =   P  =    ----------------------------------   =   Giá  =  250 đơn vị tiền cho 1 đơn vị hàng
     T                    20'000'000 đơn vi hàng

Nhưng vì tình trạng chiến tranh, Đảo Chánh, Cách Mạng, nên số lượng hàng sản xuất và lưu hành giảm xuống chỉ còn 10'000'000 đơn vị. Đồng thời Oâng Tá thả  trực tiếp (không Hội nhập Kinh tế) số tiền mới in 10 tỉ vào cộng đồng Kinh tế qua ngả trả lương trực tiếp cho lính và công chức. Giá tổng quát của Thị trường sẽ lạm phát như sau:

   M.V               15'000'000'000 đơn vị tiền
---------  =   P  =   ----------------------------------   =  Giá  = 1’500 đơn vị tiền cho 1 đơn vị hàng
     T                   10'000'000 đơn vi hàng

Lạm phát tổng quát tăng 500%. Nếu không tăng lượng tiền mới in ra và nếu chỉ có giảm lượng hàng, thì lạm phát chỉ tăng 200%. Như vậy trong 500% Lạm phát tổng quát, Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) là 300%. Cái Lạm phát 200% là do yếm kém Kinh tế.

Qua tỉ dụ tính toán trên đây, chúng ta có thể nói rằng tình trạng Lạm phát ở Việt Nam đặc biệt cao hơn các Quốc gia trong vùng mặc dầu cùng ở trong hoàn cảnh Kinh tế chung như nhau. Việc lạm phát cao trội đặc biệt này ở Việt Nam đến từ hai phía:
* Về sản xuất Kinh tế thực sự: yếu kém từ những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước chỉ lo tham nhũng, lãng phí mà không lo tăng năng suất hoạt động trong ngành nghiệp. Các Tập đoàn này làm những việc bên lề như dùng vốn chơi chứng khoán chẳng hạn.
* Về phía Tiền tệ: đó là sự phát hành không Hội nhập Kinh tế những phương tiện Tiền tệ:
=> Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam theo lệnh của quyền lực Chính trị độc tài, cho in Tiền mới ra (chưa Hội nhập Kinh tế) để thả vào Lượng Tiền thực đã Hội nhập. Đây là việc làm cướp bóc Tiền thực của người dân đã kiếm được qua Hội nhập Kinh tế (Tiền lương). Hành động này là hành động ăn cướp đáng tội tử hình. Nếu chúng ta lưu ý đến những vụ đổi Tiền ở Việt Nam, thì đây cũng là dịp để ăn cướp Tiền thực có giá trị mua bán hàng hóa.
=> Hệ thống Ngân Hàng Thương mại không phát hành Tiền công khai (Billets de  Banque) như Ngân Hàng Nhà Nước, nhưng lại phát hành Tiền Tín dụng (Monnaies Scripturales) như Credit Cards, Cheques, Letter of Credit, Promissory Notes, Bank Guarantees, Standby Letter of Credit. Đây là những phương tiện mua bán giống như Tiền tệ. Khi các Ngân Hàng Thương Mại phát hành bừa bãi Tiền tệ tương lai (Virtual Money) chưa có hiện thực để tiêu dùng cho hàng hóa hiện tại như vậy, thì đó là nguồn làm tăng Khối Tiền đang lưu hành và do đó làm Lạm phát Tiền tệ. Việc phát hành này còn tệ hơn nữa khi mà những Ngân Hàng Thương mại lại thiếu phần tiền cọc tối thiểu bảo chứng. Tôi xin kể ra tỉ dụ cụ thể: cách đây 5 năm, tôi nhận được một tờ Bảo Lãnh Ngân Hàng (Bank Guarantee) phát hành bởi Ngân Hàng Hàng Hải Việt Nam. Tờ Bảo Lãnh trị giá tiền mặt (Face Value) là USD.300'000'000.-, trong khi đó tôi biết vốn của Ngân Hàng này chưa tới USD.10'000'000.- Tờ Bảo Lãnh được chuyển qua Texas cho một Công ty Mỹ gốc Việt, rồi chuyển qua California. Từ California, tờ Bảo Lãnh được chuyển về Tân Đề Li cho một Công ty Tài chánh Aán độ. Công ty này chuyển sang Geneva cho tôi để nhờ tôi lo liệu đầu tư vào Chương Trình Lợi Nhuận Cao. Việc phát hành này làm tăng Khối Tiền và tất nhiên đưa đến Lạm phát Tiền tệ, nếu chúng ta xử dụng mua bán trong Lãnh vực Kinh tế thực sự.

Lạm phát Tiền tệ
được toàn quyền áp dụng trong CƠ CHẾ 
Chính trị độc tài nắm Độc quyền Kinh tế

Như trong phần trên, chúng ta đã thấy việc Lạm phát Tiền tệ do quyết định dộc đoán của một Oâng Tá nắm quyền là hành động ăn cướp Tiền bạc của giới làm Kinh tế lương thiện, nhất của giới lao động bán sức lực mình đổi lấy đồng Tiền thực.

Việc cướp bóc qua Lạm phát Tiền tệ như vậy rất khó thấy cho Dân chúng. Làm thế nào Dân cầm Tiền đã Hội nhập Kinh tế phân biệt được với đồng Tiền mới in ra trái phép do Nhà Nước tung ra. Việc này khó thấy ngay trong một Thề chế có Dân chủ, cho Tự do Báo chí.

Nếu trong một CƠ CHẾ do Độc tài Chính trị  nắm Độc quyền Kinh tế, lại không cho Tự do Báo Chí, thì làm thế nào mà Dân chúng nhìn thấy những cuộc ăn cướp khổng lồ qua Lạm phát Tiền tệ. Không thể tin lời hứa CSVN không làm Lạm phát Tiền tệ.

Lãnh vực Tiền tệ là Lãnh vực không thể làm việc với lòng tin tưởng. Trai gái yêu nhau, thề nguyền chung sống như hình với bóng, thậm chí thề hứa chết cho nhau. Nhưng khi cưới nhau, thì phải ký giấy Tiền anh, anh tiêu và Tiền em, em tiêu (Séparation des biens) không còn tin nhau nữa.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 








8.     CSVN:
        TỘI HÌNH LẠM PHÁT TIỀN TỆ ĂN CƯỚP


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
09.10.2008


Trên bất cứ tờ giấy bạc nào của Thụy sĩ, đều đề rõ rệt câu sau đây:”Les Billets de Banque sont protégés par le Droit Pénal” (Những giấy bạc Ngân Hàng được che chở bởi Hình Luật).  Nếu Nhà Nước bắt được ai in bạc giả, người đó bị xử theo Hình Luật tới án tử hình.

Chính theo tinh thần này mà chúng tôi viết lời Cảnh Cáo Nhà nước CSVN. Dân có quyền đòi hỏi xử án Nhà Nước nếu Nhà Nước tự động in giấy bạc mới không có bảo chứng Kinh tế để pha trộn với giấy bạc đã được bảo chứng bằng sức làm việc của người Dân.

Chúng tôi đã viết bài về Lạm phát Tiền tệ in kèm dưới đây. Trong tình hình Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện giờ và trong tình trạng thiếu vốn của Kinh tế Việt Nam lúc này, Nhà Nước có thể tự động quyết định in thêm giấy bạc chưa được bảo chứng để xử dụng, pha trộn với giấy bạc đã mang giá trị tiêu dùng (Billets portant du Pouvoir d’Achat). Giấy bạc mới in ra, chưa qua hệ thống bảo đảm Kinh tế, chỉ là mảnh giấy không có giá trị mua bán (Sans Pouvoir d’Achat). Việc tung những giấy bạc này vào khối tiền đang lưu hành là hành động ăn cướp mồ hôi nước mắt Dân.

Chúng tôi viết lời Cảnh Cáo vì thấy rằng hoàn cảnh đang đẩy Nhà Nước Việt Nam độc tài vào con đường ăn cướp, bất công này với phương tiện phát hành Tiền tệ từ quyết định Chính trị độc đoán nằm trong tay mình. Những ý do như sau:

1) Trong tình trạng Lạm phát, Nhà Nước coi như khối Tiền lưu hành quá nhiều, nên muốn thâu và thắt chặt khối tiền về. Khối tiền lưu hành trước đây quá lớn theo nhận định của Nhà Nước, nhưng sự tăng phồng đó, một phần là do số ngoại tệ, nhưng một phần cũng là do Nhà Nước đã làm Lạm phát Tiền tệ do việc in giấy bạc chưa bảo chứng tung ra.

2) Nhà Nước quyết định tăng Lãi suất lên cao quá độ. Việc đánh lên Lãi suất như vậy có hai hậu quả: (i) Nhà Nước muốn dụ Dân tăng Tiết kiệm để gửi Tiền vào Ngân Hàng; (ii) Nhưng việc tăng Lãi suất cao như vậy lại làm cho Thị trường thiếu vốn vì giá thuê vốn lên quá cao. Phương diện thứ hai này đang tàn phá các Doanh Nghiệp (trừ doanh nghiệp Nhà Nước lấy vốn chùa do Nhà Nước cung cấp). Các doanh nghiệp thiếu vốn và đang đi đến phá sản. Đây là tình trạng mà chính Nhà Nước công nhận. 

3) Cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay mang đến cho Việt Nam hai hậu quả:

a) Vì Khủng hoảng, Hoa kỳ và Liên Aâu cũng như những nước Á châu sẽ giảm tiêu thụ, giảm mua hàng từ Việt Nam. Xin lưu ý rằng hoạt động Kinh tế của Việt Nam là nhằm xuất cảng (70%) ra nước ngoài, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu.  Vì vậy hoạt động của những Xí nghiệp sản xuất sẽ giàm hẳn xuống.

b) Việc phát triển Kinh tế Việt Nam dựa chính yếu trên vốn đầu tư nước ngoài. Cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới đang làm khan hiếm vốn tại chính nước ngoài: Hoa kỳ, Liên Aâu hay những nước trong vùng. Như vậy việc khan hiếm vốn nội địa do quá tăng Lãi suất cộng thêm với việc khan hiếm vốn nước ngoài do Khủng hoảng Tài chánh sẽ làm cho Kinh tế Việt Nam hoàn toàn thiếu vốn.

Chúng tôi trích ra đây lời nhận xét của Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés  sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence. Si les exportations chinoises reviennent à une croissance à un chiffre, le produit intérieur brut pourrait perdre deux points de croissance... Les autorités craignent des troubles sociaux. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề... Nếu những xuất cảng của Trung quốc trở về độ tăng có một con số, thì sản xuất nội địa sẽ mất độ tăng... Chính quyền đang lo sợ những xáo trộn xã hội”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)

Oâng còn nói thêm rằng những xáo trộn xã hội này gồm việc phải thải nhân công đã bỏ nội địa xa xôi về các thành phố ven biển làm việc. Bây giờ đẩy họ về nội địa nghèo khó không phải là dễ dàng.

Nhận xét này rất giống cho tình trạng ở Việt Nam.  Vốn nước ngoài đã đổ vào Việt Nam làm việc. Kinh tế Việt Nam làm việc 70% cho xuất cảng ra nước ngoài. Cuộc khủng hoảng Tài chánh hiện nay làm cho Việt Nam thiếu vốn và làm giảm xuất cảng hàng ra nước ngoài. Các Xí nghiệp phá sản vì thiếu vốn và thiếu khách đặt mua hàng. Nhân công từ các vùng quê kéo về thành thị để làm việc trong các xí nghiệp. Bây giờ sa thải họ và phải đẩy họ trở lại những vùng quê nghèo nàn. Việc xáo trộn xã hội không thể tránh được.

Tình trạng thiếu vốn nước ngoài,  khan hiếm (mắc mỏ) vốn nội địa và giảm sút đặt mua hàng của nước ngoài sẽ đưa đến phá sản những xí nghiệp. Kinh tế suy thoái sẽ đưa đến tình trạng thiếu hụt số thu cho Nhà Nước. Cộng thêm vào đó, lại có tình trạng mất cân bằng cán cân thương mại do nhập siêu quá nhiều. Đồng thời Nhà Nước đang phải gánh vác số chi khổng lồ cho những lãng phí từ các Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước chỉ đợi sự cung cấp vốn từ Nhà Nước.

Ngân sách của Nhà Nước tất nhiên thiếu hụt. Nhà Nước bị đẩy đến tình trạng phải tìm đủ mọi cách để có đủ Ngân sách chi tiêu. Nhà Nước trong những năm trường đã mang những món nợ lớn đối với nước ngoài, nên việc vay mượn thêm không phải là dễ dàng.

Với tình trạng như vậy, Nhà Nước độc tài nghĩ đến việc phát hành Tiền tệ mới để tiêu dùng. Đây là việc Lạm phát Tiền tệ mà chúng tôi đã viết dài  đính kèm dưới đây.

Chúng tôi xin nhắc lại đây lời của  Giáo sư Florin AFTALION, người đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2) (... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)

Chúng tôi viết bài Cảnh Cáo Nhà Nước CSVN vì thấy tình trạng chung Kinh tế và Tài chánh đang đẩy CSVN độc tài đến việc phạm cái TỘI LỖI Lạm phát Tiền tệ này. Tội này phải được xử theo Hình Luật.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 



9.     KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH
        BẮT ĐẦU TỪ 2007


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
24.01.2008
(UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html

VietTUDAN không phải là một tuần báo chuyên về Kinh tế/Tài chánh, mà là một báo đấu tranh nhằm loại bỏ chế độ độc tài hiện nay tại Việt Nam. Chúng tôi xác tín rằng khả năng có thể lật đổ được hệ thống độc tài của đảng CSVN không phải là từ những đối thoại qua lý luận với những quan niệm trừu tượng, nhất nữa đến từ những lẻo mép che đậy hào nhoáng của một số trí thức chính trị cơ hội. Lịch sử những cuộc Cách Mạng lật đổ những hệ thống độc tài phải đến từ quần chúng đói nghèo nhất, tức là đấu tranh cho quyền DẠ DẦY (Stomach Right) cụ thể: Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Vô Sản 1917, Chôn Vùi Cộng sản Nga và Đông Aâu 1989.

Chúng tôi chủ trương MẶT TRẬN KINH TẾ/TÀI CHÁNH và từ lâu tuần báo VietTUDAN đã có những loạt bài Chủ đề như TƯƠNG QUAN KINH TẾ/CHÍNH TRỊ, HỘI NHẬP WTO: ĐỊNH MỆT TỰ HỦY DIỆT ĐỘC TÀI CSVN và trong thời gian này, CHỦ ĐỀ: SỰ SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH với 12 Bài.

Trong phạm vi Chủ đề của thời gian này, chúng tôi trình bầy về cuộc Khủng hoảng Tài chánh Á châu năm 1997. Những nước bắt đầu phát triển, trong đó có Việt Nam, chúng tôi nhìn qua bài học Á châu 1997, thấy những yếu tố đưa đến Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế. Ngoài những yếu tố tương tự như năm 1997, chúng tôi còn thấy hiện nay Thế Giới đang có triệu chứng dẫn đến cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế toàn diện mà Việt Nam không thể chống cự nổi. Vì vậy cách đây một tháng, chúng tôi đã viết Phụ Bản 1 về KHỦNG HOẢNG THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG SUB-PRIME ĐỊA ỐC HOA KỲ (American SUB-PRIME MORTGAGE Market).


Bài này trình bầy ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN DỤNG SUB-PRIME ĐỊA ỐC LAN TRÀN SANG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÁNH VÀ KINH TẾ: Suy thoái Sản xuất (Baisse de la Production), Vật Giá Tăng (Augmentation de l’Indice des Prix de consommation), Khả năng Tiêu thụ giảm (Baisse du Pouvoir d’Achat).

Aûnh hưởng Sub-Prime Địa ốc xuất hiện

Chúng tôi lấy ngày 18.01.2008 như ngày khẳng định sự xuất hiện công khai của những ảnh hưởng của Khủng hoảng Thị trường Sub-Prime Tín dụng Địa Oác. Trước thời điểm này, chúng tôi đã viết về tình trạng tuyên bố mất tiền của những Ngân Hàng, của những Hãng Bảo Hiểm lớn có liên hệ với Thị trường: CitiGroup, UBS, Allianz, Swiss Re... Chúng tôi cũng đã viết về tình trạng vật giá lên cao, nhất là cho nhu yếu phẩm như đồ ăn, tại Âu châu, Trung Cộng và đặc biệt Việt Nam.

Ngày 18.01.2008, Đài Truyền Hình Pháp la hoảng về hậu quả Khủng Hoảng Thị trường Tín Dụng Sub-Prime Địa ốc Mỹ, rồi lời kêu gọi của Federal Reserve yêu cầu Tổng Thống Bush tìm giải pháp cứu nguy Kinh tế Mỹ. Chỉ số DOW Wall Street mất 8 điểm. Thực vậy:“Shortly after lunch, Bernanke called a quick meeting of Fed Officials who decide interest-rate policy. Meanwhile, Treasury Secretary Henry Paulson Jr., watching the same market turmoil spread to Europe, was sufficiently anxious that he called President George W.Bush at the White House at 3:15 p.m.“ (International Herald Tribune).

Tổng Thống Bush sau khi mệt mỏi trở về từ Trung Đông, cũng như Oâng Henry Paulson, phải làm việc cuối tuần để có thể tuyên bố những biện pháp kích thích cho Kinh tế: “Paulson, having spent the weekend hashing out the details of an economic stimulus package with congressional leaders, ...“ (International Herald Tribune).

Những ngày nghỉ cuối tuần... rồi còn thêm ngày nghỉ Thứ Hai Luther King. Nhưng chính ngày nghỉ Thứ Hai Luther King, Thị Trường Chứng Khoán Wall Street đóng cửa, thì Cơn Lốc thổi vào các Thị trường Chứng Khóan Á đông, rồi theo Mặt Trời mọc, tràn sang Aâu châu. Các Chỉ số Chứng Khoán thụt xuống từ 7 đến 10%.

Truyền Thông Aâu châu ngày 22.01.2008 đề lớn: CNN:"Stock Markets go into freefall !", TRIBUNE DE GENEVE: "Les Bourses plongent. Faut-il avoir peur ?, LE TEMPS: "Tres inquiets, les marche's boursiers ce`dent a` la panique", INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE: "Markets plummet worldwide", FINANCIAL TIMES: "Panic sparks global plunge".

Trong khi ấy, những nhân vật trọng yếu phải quyết định về đời sống Kinh tế khắp Thế Giới lại đang trên máy bay tụ về Thụy sĩ  để tham dự WORLD ECONOMIC FORUM trên vùng núi tuyết DAVOS khai mạc ngày 23.01.2008.

Họp tại vùng núi tuyết Davos Thụy sĩ với Chương Trình thảo luận về những đề tài đã sửa soạn sẵn, nhưng 2500 người tham dự hoàn toàn để đầu óc vào Cơn Lốc đang làm các Thị Trường Chứng Khoán trên Thế Giới lên xuống như bóng ma bất định. Cựu Thủ tướng Anh, Tony Blair tại Davos đã tuyên bố với Đài CNBC: “Chúng ta đứng trước một tình trạng bất ổn. Những biến động Kinh tế, Tài chất có những chi tiết mà Chính trị không hiểu được !“.

Những thăng trầm Thị trường chứng khoán
trong những ngày từ 22-24.01.2008

Thị trường nhìn về những Biện pháp Stimulus Kinh tế của Tổng Thống Bush, rồi nhìn những quyết định của các Ngân Hàng Trung ương về Lãi xuất chỉ đạo mà phản ứng.

Những Biện pháp Stimulus Package của Chính quyền Bush

Khủng hoảng Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc của Hoa kỳ đã khiến số vốn lưu hành thiếu, nghĩa là lan sang Thị trường Tài chánh, khiến cho Giá vay vốn (Lãi suất) tăng. Các Công ty sản xuất hạn hẹp lại việc vay vốn đầu tư hay tái đầu tư. Đây là ảnh hưởng lan sang Thị trường Hàng hóa Tiêu thụ. Khi giảm đầu tư để sản xuất, thì lượng hàng hóa rút xuống. CUNG yếu hơn CẦU và hậu quả là Giá cả hàng hóa cao lên. Khắp thế giới, tăng vật giá, nhất là những nhu yếu phẩm, đồ ăn. Thêm vào việc tăng giá này là việc tăng giá dầu lửa. Vật giá tăng, nhất là nhu yếu phẩm, thì khả năng mua hàng của dân chúng với đồng lương không tăng theo kịp, tất nhiên yếu kém đi. Thêm vào đó, khi giảm sản xuất, thì một số nhân công bị sa thải.

Ngay từ cuối năm 2007, các nhà Kinh tế đã báo động về tầm ảnh hưởng này cho Kinh tế chung. Người ta có những yếu tố để kết luận rằng tối thiểu từ năm 2008, Kinh tế Hoa kỳ, Aâu châu và những nước bắt đầu phát triển có những Suy thoái (Recession)

Các nước nhìn xem Hoa kỳ có những Biện pháp nào để chống lại hoặc tránh tình trạng Suy thoái Kinh tế này.

Trong tình trạng cấp bách của nghỉ cuối tuần, Tổng Thống Bush chỉ có thể cho thấy sơ sơ về những Biện pháp gọi là Stimulus nhằm nâng đỡ phía Dân tiêu thụ (CẦU) tăng cao như kích thích cho phía Sản xuất tăng CUNG. Biện pháp Stimulus về CẦU này phải có thời gian để có thể tạo ảnh hưởng thực sự lên phía các Công ty để tăng sản xuất.

Nhưng các Thị trường Chứng khoán thì cấp bách và cho rằng những biện pháp Stimulus của Tổng Thống Bush không đủ sức để có thể tránh Suy thoái Kinh tế (Recession economique) mỗi ngày mỗi hiện ra rõ hơn. Cái nhìn như vậy đã làm Chỉ số các Thị trường Chứng khoán khắp nơi chìm xuống ngày 22 ĐEN (22 NOIR).

FED quyết định đánh thẳng vào Lãi suất (Interest Rate)

Để có thể ngăn chặn mau chóng Cơn Lốc đang làm chìm xuống các Thị trường Chứng khoán, FED (Federal Reserve) quyết định đánh thẳng vào Giá cả (Interest Rate) của Vốn bởi vì Thị trường Chứng khoán liên hệt trực tiếp với Thị trường Tài chánh (Vốn) này.

Xin nói tóm tắt về Thị trường Vốn (Marché de Capitaux). Cũng như bất cứ Thị trường, có CUNG và CẦU là những lực định cái GIÁ để trao đổi Vốn. Cái Giá Vốn được gọi là Lãi suất (Interest Rate). Khi số CUNG vốn mạnh hơn CẦU, thì Lãi suất có khuynh hướng giảm; khi số CẦU vốn mạnh hơn, thì Lãi suất có khuynh hướng tăng lên. Hiện tình lúc này của Thị trường Vốn  là thiếu phía CUNG vốn vì các Ngân Hàng và những Nhà Đầu tư đang bị lo sợ vì khủng hoảng của Thị trường Tín dụng Sub-Prime Địa ốc nên dè dặt cho Vốn ra, nghĩa là mức độ CẦU vốn cao hơn CUNG, do đó Lãi suất có khuynh hương tăng cao lên.

Những Ngân Hàng Trung Ương có quyền can thiệp vào Thị trường về Lãi suất để có thể ảnh hưởng tới CUNG và CẦU vốn.

Chủ tịch Ben Bernanke của Federal Reserve FED đã quyết định ngày 22.01.2008 hạ Lãi suất chỉ đạo từ 4.25% xuống 3.5%, nghĩa là cắt đi một lần tới 0.75%. Đây là việc cắt Lãi suất mạnh nhất từ 25 năm nay.

Phản ứng tức khắc của các Thị trường chứng khoán Á châu ngày 23.01.2008 là các Chỉ số Thị trường tăng lên. Nhưng các Thị trường Chứng Khoán Aâu châu và Mỹ vẫn giữ ở độ giảm âm. Tại Á châu, Ngân Hàng Trung ương Hong Kong cũng giảm Lãi suất. Đồng thời những Vốn do Nhà Nước ảnh hưởng cũng cho Vốn vào Thị trường. Các Thị trường Chứng khoán Á châu tái hồi.

Thái độ của Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu và Ngân Hàng Anh

Như trên đã nói, trong ngày 23.01.2008, Chỉ số các Thị trường Chứng khoán Aâu châu vẫn giữ ở độ giảm âm. Lý do là Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu không coi việc xuống Chỉ số Chứng khoán là quan trọng. Oâng Chủ tịch Jean-Claude Trichet của Ngân Hàng Trung Ương Liên Aâu đã đặt trọng tâm vào vấn đề Lạm phát, vấn đề Suy thoái Kinh tế, vấn đề Khả năng tiêu thụ suy giảm hơn là vào thăng trầm chỉ số của các Thị trường Chứng khoán.

“Jean-Claude Trichet, ECB president, emphasised the priority that the bank attached to combating inflation and a belief that eurozone growth would remain robust...“ (Financial Times 24.01.2008) (Jean Claude Trichet, Chủ tịch của Ngân Hàng Trung ương Liên Aâu, đã nhấn mạnh đến ưu tiên việc chống lại lạm phát và tin tưởng vào việc làm độ tăng Kinh tế vùng Euro  được vững...). Theo Oâng, việc hạ Lãi suất có thể làm cho lạm phát càng tăng hơn vì dân chúng và các công ty có sẵn vốn, tiêu thụ mạnh hơn khiến lạm phát càng cao.

Đối với Ngân Hàng Quốc gia Anh (Bank of England), Mervyn King, Thống Đốc, cũng có nhiều những lo lắng về lạm phát, nên không sốt sắng cho lắm để theo Hoa kỳ cắt Lãi suất. “Mervyn King, the Bank’s Governor, suggests the latest volatility in the markets will not change the committee’s cautious approach to cutting rates.“(Financial Times 24.01.2008) (Mervyn King, Thống đốc Ngân Hàng Anh, gợi cho biết là những giao động gần đây nhất trên các Thị trường sẽ không thay đổi thái độ phân tích dè dặt trong việc cắt Lãi suất).

Viết đến đây, lúc 21 giờ ngày 24.01.2008, nhìn trên Đài CNBC, chúng tôi thấy những Chỉ số các Thị trường Chứng khoán từ Á châu, qua Aâu châu đến Mỹ, đã tái hồi, thậm chí có những Chỉ số còn lên cao hơn trước.

Ý kiến từ World Economic Forum Davos về
Khủng hoảng và tầm ảnh hưởng

Những nhân vật chủ chốt của nền Kinh tế, của những Tập đoàn Liên Quốc gia về Sản xuất, Đầu tư, và Thương mại vẫn còn ở trên vùng núi tuyết Davos Thụy sĩ vì ngày mai, 25.01.2005, Hội thảo mới chấm dứt. Chúng tôi nhìn thấy Algore, Tony Blair, Bill Gate, Kissinger, Soros, Condoleezza Rice, Hamid Karzai, ...

Nếu Cơn Lốc của ngày 22 ĐEN (22 NOIR) đã ngưng thổi làm cho 2500 người đến tham dự này đỡ có những lo lắng nhất thời về giao động các Thị trường Chứng khoán, thì những vấn đề then chốt vẫn còn đó đối với họ: Suy thoái Kinh tế (Economic Recession), Giảm độ tăng trưởng Kinh tế (Baisse du Taux de croissance), Lạm phát (Inflation), Tăng giá Thực phẩm (Augmentation du Prix des Produits alimentaires), Khả năng Tiêu thụ giảm (Baisse du Pouvoir d’Achat).

Đối với những nước bắt đầu phát triển mà việc xuất khẩu lệ thuộc vào các Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu, thì việc Khủng hoảng Tài chánh (Vốn)/ Kinh tế  của Hoa kỳ và Liên Aâu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc những nước bắt đầu phát triển này:

=> Cắt đi việc mua hàng từ những nước bắt đầu phát triển như Trung Cộng và Việt Nam chẳng hạn
=> Không những Vốn đầu tư không tăng lên cho những nước bắt đầu phát triển này, mà có thể còn bị rút về Hoa kỳ và Liên Aâu để cứu lấy Kinh tế của nước họ.

Những vấn đề then chốt thuộc Kinh tế vừa nhắc ra mà những người tham dự World Economic Forum Davos còn quan tâm lo lắng sẽ là Chủ đề tiếp nối của chúng tôi, sau khi đã viết xong 12  Bài thuộc Chủ đề hiện hành.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế











10.     NHỮNG TÍN DỤNG 
          THẾ CHẤP ĐỊA ỐC NGUY HIỂM


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
13.12.2007
(UNICODE) Web: http://VietTUDAN.net/11658/index.html


Chúng tôi đã viết 5 bài trong 12 bài chủ để này. Những bài đã viết quy tụ vào việc phân tích cuộc Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh năm 1997 tại Á đông và việc lấy lại đà phát triển trong những điều kiện còn bấp bênh như thế nào.

Chính lẽ tuần này, chúng tôi viết bài thứ sáu phân tích những nền kinh tế của những nước bắt đầu phát triển cao như Nam Phi, Nga, Trung Cộng và nhất là Việt Nam. Những bài tiếp theo này dựa một phần vào những nhận định của hai bài đăng trên Nhật Báo LE MONDE số 19523/ 31.10.2007: L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển) và LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh vì vật giá tăng), trong đó Trung quốc và Việt Nam được nhắc ra rõ rệt.


Nhưng vì đầu tuần này, ngày 10.12.2007, Đài Truyền Hình Thụy sĩ loan một tin rất quan trọng về Tài chánh mang tính cách khủng hoảng. Đó là Ngân Hàng UBS đã tuyên bố thua lỗ 11 tỉ Đo-la vì đầu tư vào những Tín dụng Thế chấp nhiều may rủi của Hoa kỳ (sub-prime) vào lãnh vực Địa ốc, nên chúng tôi viết đặc biệt về phương diện này như một PHỤ BẢN 1. Thực ra sự giao động trong lãnh vực Tài chánh về phương diện này đã bắt đầu vào tháng 8/2007 và còn ảnh hưởng tới ngày nay. Chúng tôi viết như một PHỤ BẢN bởi vì trong suốt 5 bài về Khủng Hoảng 1997, Bà Francoise NICOLAS luôn luôn nhắc đến Tín dụng nghi ngờ (créances douteuses) cho Địa ốc như là một trong lý do chính cho cuộc Khủng hoảng năm 1997. Cũng vậy, trong những bài kế tiếp về những quốc gia bắt đầu phát triển cao hiện nay, vấn đề Tín dụng dài hạn cho Địa ốc bằng phát hành những phương tiện đầu tư tương lai (création des moyens de financement virtuel) mang những mầm mống Khủng hoảng trước việc không chắc chắn của phát triển Kinh tế (Incertitude de la croissance économique future).


Vì vậy, bài PHỤ BẢN này mang tính cách quan trọng trong việc cắt nghĩa Khủng hoảng 1997 và những Khủng hoảng có thể xẩy ra trong tương lai.

Chúng tôi bàn đến những điểm sau đây về lãnh vực này:

=> Một vài tỉ dụ dẫn nhập  
=> Giao động về Tín dụ nguy hiểm thế chấp Địa ốc (sub-prime) như thế nào
=> Khủng hoảng 1997 và đe dọa hiện nay ở những nước bắt đầu phát triển


Một vài tỉ dụ dẫn nhập

Tôi xin kể ra hai tỉ dụ mà chính tôi được chứng kiến. Tỉ dụ thứ nhất là việc mua nhà của một người bạn. Một bạn cùng học tại Đại học Thụy sĩ mà tôi biết rất rành. Anh sống đời sinh viên chật vật. Khi học xong, anh xin được việc làm trong một Ngân Hàng tại Thụy sĩ với mức độ lương khá cao. Làm được một năm, anh quyết định mua nhà bằng lấy tín dụng của Ngân Hàng dựa trên khả năng trả tiền hàng tháng của đồng lương cao. Tất nhiên ngôi nhà là thế chấp, nghĩa là Ngân Hàng có thể thu ngôi nhà, nếu không trả được nợ đã vay. Được một vài năm, vì một lý do nào đó, có thể là Ngân Hàng mà anh đang làm bị thua lỗ, nên phải thải nhân viên, anh đã mất việc làm. Kiếm lại được việc làm với đồng lương cao không phải là dễ dàng trong lúc mà nền Kinh tế chung bị giao động. Tin tưởng vào đồng lương tương lai cao sẽ kèo dài trong suốt thời gian phải hoàn vốn, nhưng lúc này anh thất nghiệp, làm thế nào hoàn vốn mỗi tháng hay mỗi tam cá nguyệt. Nếu anh đã có lương từ lâu và đã tiết kiệm được một số tiền, thì lúc này có thể dùng tiền đã tiết kiệm mà hoàn vốn. Nhưng anh mới làm việc được một năm, nên tiền tiết kiệm không có bao nhiêu. Tất nhiên theo Hợp đồng Tín dụng thế chấp Địa ốc, Ngân Hàng đã thu lại nhà để bán, trừ vào tiền nợ. Anh và cả gia đình đã bị đuổi khỏi nhà và đi xin trợ cấp xã hội.

Tỉ dụ thứ hai mang tính cách hồ hởi thương mại mà tôi được biết. Có một bà Việt Nam mở Tiệm phở bình dân xậm xụi tại Quartier Latin tại Paris. Tiệm phở xậm xụi, nhưng sinh viên đến ăn đông nghẹt. Đông khách, thu tiền nhiều, bà trở thành giầu có. Bà mua căn nhà bên cạnh, mở thành Tiệm phở lớn, trang hoàng rất khang trang đẹp đẽ. Chính bà cũng xí xọn môi son má phấn cho đẹp bà xồn xồn. Bà chỉ muốn ngồi két thu tiền và mướn người nấu phở, chạy bàn, rửa tô chén. Nhưng không hiểu tại sao, số người đến ăn phở lại giảm hẳn xuống, trong khi ấy bà phải trả nợ sang căn nhà, trả tiền lương thuê mướn người làm. Những tiền tiết kiệm trước đây đổ vào tín dụng sang căn nhà. Tiệm phải đóng cửa để rồi sang lại cho người khác với giá thua lỗ. Một vài sinh viên cho ý kiến: trước đây đến quán xậm xụi của bà để ăn vì thấy bà chảy mồ hôi nhễ nhãi, tay bốc bánh phở, tay bốc thịt và rau cỏ. Nay thấy bà son phấn, tiệm khang trang, thì tự nhiên lại ít ham tới ăn.  Tất nhiên khi bà lấy tín dụng đầu tư vào căn nhà mới khang trang là bà dựa trên số thu từ sự ước tính đông khách hàng trong tương lai đến ăn phở. Nhưng bà đã không dự tính được những yếu tố tương lai có thể làm cho khách hàng không tới đông để bà có số thu như ước tính. Tương lai có những cái may rủi (risques).

Giao động về Tín dụ nguy hiểm
thế chấp Địa ốc (sub-prime) như thế nào 

Vào tuần lễ đầu tháng 08.2007, các Thị trường Chứng khoán bắt đầu từ Mỹ rồi Âu châu có những giao động về những Giá trị chứng khoán thế chấp Địa ốc. Việc giao động này lan sang Lãi suất Tiền tệ. Xin lưu ý rằng Lãi xuất là cái giá của Vốn liên hệ đến luật Cung và Cầu. Khi giao động Lãi suất, thì Kinh tế bị ảnh hưởng. Ngân Hàng Trung ương của mỗi nước có nhiệm vụ phải canh cừng sự tăng giảm của Lãi suất chỉ đạo được coi như việc can thiệp vào tiến triển đều đặn của một nền Kinh tế Tự do và Thị trường tôn trọng Cung và Cầu.

Cái nguồn xẩy ra từ Mỹ thuộc về lãnh vực Địa ốc. Đây và việc cho Tín dụng thế chấp địa ốx xây cất dài hạn. Có những việc cho Tín dụng mà không xét kỹ khả năng hoàn trả. Từ đó người ta gọi credit sub-prime. Những nhà đầu tư hay những bộ phận đầu tư của Ngân Hàng thường không trực tiếp với khách hàng. Những Tổ chức về Tín dụng Thế chấp trực tiếp với khách hàng mua, xây cất nhà. Những Tổ chức này nhận những Hợp đồng nợ, nhưng khi có nhiều quá vượt tầm vốn của họ thì họ phải chạy tìm vốn tại những Ngân Hàng. Họ mang trình nộp những Hợp đồng nhận nợ cho các Ngtân Hàng để có vốn. Các Ngân Hàng nhận được những loại nhận nợ đủ thứ. Những Ngân Hàng này gọp chung lại  và cho ra Sản phẩm Tài chánh ở Thị trường Chứng khoán để bán gọi vốn thêm từ những nhà đầu tư. Hai sản phẩm sau đây tạo thành Thị trường chứng khoán sub-prime thế chấp địa ốc (Sub-prime Mortgage Markets), đó là MBO (Mortgage backed Obligation) và CBO (Collateral backed Obligation). Một số Tổ chức định giá an toàn cho những sản phẩm này.  Những Tư nhân hay Tổ chức (Funds) hoặc Ngân Hàng có thể mua những sản phẩm trên Thị trường chứng khoán địa ốc sub-prime. Việc giao động ở Thị trường Chứng khoán là ở những Sản phẩm Tài chánh Thế chấp Địa ốc bán đi mua lại trên Thị trường này. Phương diện này có thể được gọi là hệ thống mới, phát sinh tại Hoa kỳ. Nhưng việc làm giao động có tính cách dây chuyền bắt đầu từ những Khách hàng Nhận nợ mà gặp những khó khăn hoàn trả giống như anh bạn của tôi trong tỉ dụ trên đây trở thành thất nghiệp không thể hoàn trả cho tín dụng đã ký nhận.

Ngày 10.08.2007, trên tờ International Herald Tribune, Floyd NORRIS đã viết như sau:“In the past decade a new financial architecture emerged—one that relied less on banks as intermediaries and more on securities. Mortgages were financed by investments in securities that were supposed to be safe.“ (Trong thập niên vừa qua, một kiến trúc tài chánh mới được thành hình—kiến trúc liên hệ ít hơn tới những ngân hàng như trung gian và nhiều hơn đến những sản phẩm chứng khoán. Những tín dụng thế chấp đã được tài trợ bởi đầu tư vào những sản phẩm chứng khoán được kể là an toàn). Việc an toàn này thường được đánh giá cao thấp bởi Moody’s and Standard & Poor’s chẳng hạn. Tin tưởng vào những sản phẩm này để bỏ tiền đầu tư hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đã trở thành may rủi.

Vậy nếu trong những sản phẩm chứng khoán ấy có những nguy hiểm được phát hiện bởi sub-prime, thì giới đầu tư có thái độ thay đổi Cung và Cầu đầu tư tài chánh. Biến động về những sản phẩm này trong tháng 8 vừa rồi đã làm cho Thị trường khan hiếm đầu tư, nghĩa là khan hiếm vốn lưu hành. Những nhà đầu tư hoặc những ngân hàng đầu tư ngưng bỏ vốn hoặc mất vốn khi những sản phẩm chứng khoán thế chấp địa ốc xuống cấp tin tưởng.

Về việc phát hiện những sản phẩm chứng khoán tài chánh có những điểm yếu kém được một Ngân Hàng gia Thụy sĩ cắt nghĩa trực tiếp cho tôi bằng tỉ dụ sau đây. Người Thụy sĩ, nhất là Thuyï sĩ Đức thường ăn Xúc-xích (Lạp xưởng Tây), nên Ngân Hàng gia Thụy sĩ đã lấy Lạp xưởng Tây ví với sản phẩm chứng khoán thế chấp ở Thị trường. Những Ngân Hàng  đã nhận được những Hợp đồng nhận nợ hổ lốn đủ mọi thứ nào là da gà, da heo, thịt ba rọi, thịt nạc mông... và xay chung cho nát ra để làm xúc xích. Khi bán trên Thị trường, thì người ta gọi là cây xúc xích tổng quát, nhưng không phân biệt da gà, da heo...Nếu có người khám phá ra sau này có mãnh da gà mà họ kiêng không ăn, thì họ bỏ. Cũng vậy, nếu người A-rập tìm thấy miếng da heo, họ quảng xúc xích đi. Sản phẩm chứng khoán thế chấp ở Thị trường có thể bị người đầu tư thấy được những tín dụng không bảo đảm, không an toàn. Sự biến động ở Thị trường Chứng khoán trong tháng 8 là ở chỗ người đầu tư ngưng lại không tin tưởng rằng sản phẩm xúc xích ấy làm bằng thị nạc ngon, mà có pha da gà, da heo, thậm chí ngay cả thịt chuột không đáng tin tưởng (sub-prime/ risque).

Những Ngân Hàng đầu tư hoặc những Quỹ đầu tư (Investment Funds) đã mua nhiều những sản phẩm chứng khoán thế chấp này, nên bây giờ họ thấy lỗ do sự giao động. Nhiều Tổ chức sản phẩm đã sạt nghiệp. Một số lớn Ngân Hàng hoặc Quỹ đầu tư Mỹ và Aâu châu bắt đầu bị lỗ vốn về những sản phẩm chứng khoán thế chấp nghi ngờ này (sub-prime/ risque).

Hãy lấy một số tỉ dụ thua lỗ vì liên hệ đến Thị trường chứng khoán thế chấp sub-prime:

*  Ngày 03.08.2007: ALLIANZ Đức, Hãng Bảo Hiểm AAA tuyên bố vì đầu tư vào US
     Sub-Prime Mortgage Market, bị thiệt thòi 2 tỉ Đo-la    
* Ngày 06.08.2007: MUNICH RE Đức, Hãng Tái Bảo Hiểm AAA, thiệt thòi 1 tỉ Đo-la
* Ngày 08.08.2007: ING GROUP Hòa Lan, thiệt thòi 4.5 tỉ Đo-la
* Ngày 09.09.2007: BNP PARIBAS Pháp, khóa sổ tổng cộng 5 tỉ Đo-la
* Ngày 17.09.2007: NORTHERN ROCK Anh, phá sản. Ngân Hàng Anh trợ lực $25tỉ
* Ngày 01.10.2007: UBS Thụy sĩ, thiệt thòi 4 tỉ Đo-la
* Ngày 30.10.2007: UBS Thụy sĩ, tuyên bố mất 700 triệu Đo-la
* Ngày 01.11.2007: CREDIT SUISSE Thuỵ sĩ, thiệt thòi 1 tỉ Đo-la
* Ngày 04.11.2007: CITI GROUP Mỹ, thiệt thòi 11 tỉ Đo-la
* Ngày 10.12.2007: UBS Thụy sĩ, thiệt thòi 9 tỉ Đo-la

Một số những Ngân Hàng hay Quỹ Đầu tư đã mua, nhưng không muốn tuyên bố ra những thiệt thòi nhỏ có thể làm thiệt hại thanh danh của mình.
Trong thời gian biến động tháng 8/2007, Vốn của Thị trường trở thành khan hiếm, Lãi suất tăng. Ngân Hàng Trung ương phải can thiệt bằng cách cho vốn vào Thị trường để có thể giữ Lãi suất:

* US Federal Reserve cho vào 17 tỉ Đo-la
* ECB, Ngân Hàng Trung Ương Aâu-châu cho vào 130 tỉ Đo-la
* Ngân Hàng Trung ương Anh quốc đã trợ lực cho Thị trường của họ với 25 tỉ

Những việc đổ vốn vào này là để giúp những Ngân Hàng và có mục đích điều hành Lãi suất đừng để phương hại đến nền Kinh tế.

Lãnh vực Địa ốc, với US sub-prime Markets đã làm thiệt hại cho hệt thống Ngân Hàng và những Tổ chức đầu tư. Nếu là ở những vùng Kinh tế khác, thì lãnh vực này tất nhiên gây ra cuộc Khủng hoảng lớn. Đối với Aâu châu và Hoa kỳ, đây chỉ là giao động vì họ có những phương tiện khổng lồ để chống đỡ. Tỉ dụ ngay cả đối với UBS, việc thiệt thòi 15 tỉ Đo-la chỉ là con số nhỏ sánh với số Dự trữ phòng bị liên tục là 50 tỉ Đo-la và sánh với Total Assets là 2'484 tỉ Đo-la của Ngân Hàng. Xin lưu ý tiền lương hàng năm của Oâng GOSPEL, Chủ tịch UBS, vẫn giữ là 26 triêu quan Thụy sĩ, nghĩa là khoảng 22 triệu Đo-la.


Khủng hoảng 1997 và
đe dọa hiện nay ở những nước bắt đầu phát triển

Có nhiều những lý do mà chúng tôi đã viết trong 5 bài trước đây đưa đến Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh Á châu năm 1997 gồm Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn. Nhưng một trong những lý do chính là hệ thống Ngân Hàng của những nước đó với việc cho Tín dụng nghi ngờ (Créances douteuses) trong lãnh vực Địa ốc. Hiện nay, đối với những nước bắt đầu phát triển mạnh, người ta cũng nhìn nhận phong trào xây cất nhà cửa đồ sộ được đẩy mạnh. Nhưng moi tiền đâu ra để xây cất quá đáng ?

Hai tỉ dụ cụ thể mà chúng tôi đưa ra ở phần đầu bài này mang lại cho chúng ta những cái nhìn đơn giản và bình dân của những phá sản, của những Khủng hoảng: một anh bạn mua nhà vội vàng bị đuổi ra khỏi nhà vì đã không lượng khả năng vững chắc việc hoàn vốn; một bà bán phở đang làm ăn lên, nhưng quá hồ hởi chi tiêu quá mức độ làm ra tiền của mình trong tương lai hay đúng hơn ước tính tương lai không sát thực tế.

Chúng tôi muốn nhìn một số điểm chung giữa Khủng hoảng 1997 của 4 nước Á đông như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn và những nguy hiểm khủng hoảng của một số nước bắt đầu phát triển hiện nay như Trung Cộng, Việt Nam

=> Đối với tất cả những nước vừa nhắc tên ra, người ta quan sát thấy rõ huynh hướng đẩy mạnh Tín dụng Địa ốc. Thực vậy, đối với những cá nhân mới thoát ra cảnh nghèo đói, họ có khuynh hướng tiêu xài quá số thu nhập, nghĩa là họ tiêu vào tiền tương lai, mà tương lai thì luôn luôn có những cái mình không chắc. Một nước mới phát triển, dễ dàng có khuynh hướng đẩy mạnh việc xây cất nhà cửa quá mức cần thiết. Tỉ dụ việc xây cất thành phố Bangkok trong những năm 1995-1996. Ngày nay, những thành phố như Thượng Hải, Sài Gòn, Hà Nội... được xây cất các xác nhà quá tầm mức xử sụng nội dung. Thực ra chính việc xử dụng nội dung mới đo được thực lực những sinh hoạt Kinh tế đẻ ra tiền. Việc chi tiêu của Chính quyền về xây cất đồ sộ càng được đẩy mạnh hơn nữa như muốn chứng tỏ sự vẻ vang của quyền lực.

=> Việc kiểm soát tính cách khả thi Kinh tế tương xứng của mỗi công trình xây cất không được thẩm định kỹ lưỡng đi song hành với timing khả năng thu hồi hoàn nợ. Chính về điểm này, mà những Tín dụng xây cất trở thành nguy hiểm. Đó là những Tín dụng nghi ngờ (Créances douteuses). Trong thời gian trước Khủng hoảng 1997, hệ thống Ngân Hàng trong những nước liên hệ với Khủng hoảng đã cho Tín dụng có tính cách tình cảm gia đình hoặc quen biết. Quỹ Tiền Tệ Quốc tế khi can thiệp vào, đã đòi buộc phải có một Tổ chức độc lập để kiểm soát vấn đề Tín dụng, nhất là Tín dụng địa ốc. Tại những quốc gia bắt đầu phát triển hiện nay, một số những dự án xây cất lớn được quyết định tài trợ theo tiêu chuẩn chính trị hơn là tính cách khả thi Kinh tế. Việc tài trợ lại bằng những phương tiện tài chánh ngân hàng lạm phát.

=> Điểm thứ ba nguy hiểm mà chúng tôi nhấn mạnh đó là sự không tương xứng theo thời gian tính của vốn đầu tư và của khai thác Kinh tế. Chính tính cách dài hạn của vốn càng làm tăng tính cách nguy hiểm của Tín dụng. Việc thu nhập Kinh tế với những hàng hóa sản xuất cho tiêu dùng ngắn hạn không đi đôi với việc xây cất với tín dụng dài hạn. Sư chênh lệch về thu nhập ngắn hạn và về chi tiêu dài hạn là điều rất nguy hiểm trong vấn đề quản trị tài chánh. Đối với những nước liên hệ với cuộc Khủng hoảng 1997, chính Quỹ Tiền Tệ Quốc tế đã đòi điều kiện chấm dứt và cải thiện ngay những Tín dụng dài hạn không phù hợp với việc khai thác Kinh tế ngắn hạn. Đối với những nước bắt đầu phát triển hiện nay, việc xây cất nhà cửa như dồn dập. Lấy lại những tỉ dụ Thành phố Thượng hải, Thành phố Sài-gòn, Thành phố Hà Nội... Tài trợ cho những xây cất này là sự phát hành phương tiện chi tiêu dựa trên ước tính dài hạn Kinh tế tương lai, trong khi ấy những chương trình khai thác Kinh tế/ Thương mại, một là thay đổi bấp bênh, hai là không tài nào làm timing cho năm, mười năm với những hàng hóa sản xuất căn yếu cho tiêu thụ ngắn hạn. Bấp bênh Khủng hoảng là ở chỗ đó. Đối với Việt Nam, nên nhớ là số tiền nợ đã lên tới 20 tỉ Đo-la.

Một sự Khủng hoảng Tín dụng địa ốc tại những nước này rất khó lòng chống đỡ. Những nước Aâu, Mỹ có thể chống đỡ bởi vì nền Kinh tế của họ đã được bền vũng phát triển lâu đời rồi, bởi vì hàng hoá chính yếu của họ mang tính dài hạn và kỹ thuật, và bởi vì họ đã tích luỹ khối lượng Tài chánh khổng lồ.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


 
                                            ******************************





---------------------------------------------------------------
CHU DE: KINH TE TU DO THI TRUONG DOI HOI
---------------------------------------------------------------


CÔNG HỮU, TƯ HỮU
VÀ HAI CHỦ TRƯƠNG KINH TẾ


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


Nhà Nước và Đảng đã phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong mức độ nào?
Cái nền Kinh tế Tự do và Thị trường chỉ là một Hệ luận của sự chấp nhận Tiền đề căn bản là TƯ HỮU. Cũng vậy, cái chủ trương Kinh tế Tập quyền Kế ho.ach cũng chỉ là Hệ luận hữu lý của Tiền đề truất hữu cá nhân để Đảng giữ hết, gọi là CÔNG HỮU. Tôi muốn theo dòng lý luận từ hai cái Tiền đề CÔNG HỮU và TƯ HỮU ấy để cho thấy rằng việc giải thể chế độ chuyên chính hiện tại là một kết luận hòan tòan hữu lý của tư duy. Sự cấu trúc lý luận này không phải là chính trị, mà là từ cái đầu của những ai chưa bị điên khùng bệnh ho.an. Sự cấu trúc lý luận này đi từng bước rất đơn giản ở mức độ học trò. Nhưng cái sự đơn giản học trò này cho thấy rằng việc đi tới giải thể chế độ chuyên chính hiện nay là có tính cách hữu lý hiển nhiên của lương tâm, chứ không xiên xẹo lắt léo như Cộng sản và những tay sai cố gán vào vấn đề xung động tình cảm.
 Chúng tôi bắt đầu bằng Tiền đề Công hữu và Hệ luận của nó để thấy việc giải thể đã được bắt đầu và chúng ta chỉ cần kiện toàn nó.
Từ Tiền đề CÔNG HỮU đến Kinh tế Kế hoach Tập quyền
và những bế tắc trong việc giải quyết vấn đề then chốt là đói nghèo

1. Tiền đề CÔNG HỮU 
Thực ra phải nói Đảng Hữu mới đúng bởi vì Đảng nắm trọn quyền quyết định trên tài sản Quốc gia. Đảng Cộng sản phủ nhận Tư hữu và chủ trương Công hữu. Khi chưa nắm được trọn vẹn quyền hành, họ vu khống đủ điều dù tàn nhẫn nhất để gây hận thù giữa giới lao động và giới hữu sản để đấu tranh giai cấp mà mục đích chính yếu ở giai đọan này là chiếm quyền. Họ chưa nói vội việc vô sản hóa, sợ làm thất vọng một số lao công
 Khi giới lao động đã giúp họ nắm trọn quyền rồi, thì họ bắt đầu tiến trình truất hữu, dù bằng phương pháp đẫm máu. Của riêng trở thành của chung, của Nhân dân. Nhưng nhân dân là ai? Tôi là nhân dân, anh là nhân dân, nó là nhân dân...ai cũng là nhân dân để cuối cùng nhân dân chẳng là ai rõ rệt hết. Lúc ấy Đảng mới đứng ra tự nói, hoặc khủng bố để nhân dân buộc phải nói rằng Đảng là Đại diện nhân dân để giữ tài sản của nhân dân truất hữu được từ nhân dân.
 Có lần tôi cười nói với một ông Giám đốc Ngân hàng rằng: Cái gì cũng mang nhân dân ra để chịu đựng: Quân đội nhân dân, Tòa án nhân dân, Hội đồng nhân dân..., nhưng khi tài sản vào Công hữu thì không gọi là nhân dân nữa mà là Ngân Hàng Nhà Nước (chứ không phải là Ngân Hàng Nhân dân).
 CÔNG HỮU hay đúng hơn ĐẢNG HỮU là như vâ.y.



2. Quyền XỬ DỤNG Công hữu
 Trên nguyên tắc nhân dân là Chủ hữu sở của Công hữu, nhưng nhân dân không có quyền xử dụng Công hữu bởi vì nhân dân là mọi người mà nếu mọi người cùng xử dụng thì là lo.an. Vì vậy chỉ có Đảng, đại diện nhân dân, được tòan quyền xử dụng mà thôi. Nhân dân có tiếng mà không có miếng. Một người mang tiếng là Chủ hữu sở mà lại không có quyền xử dụng vật sở hữu của mình, thì việc sở hữu trở thành vô nghĩa. Cá nhân, thành phần của nhân dân, mang tiếng là chủ hữu sở của Công hữu, nhưng không có quyền tự do xử dụng Công hữu.



3. Kinh tế KẾ HOACH TẬP QUYỀN sản xuất
 Tất cả mọi phương tiện làm ăn là Công hữu. Nhân dân, hay cá nhân không có quyền xử dụng công hữu, nên không thể nào có Kế ho.ach làm ăn tư nhân.Vì chỉ có Đảng có quyền xử dụng Công hữu, tất cả những phương tiện sản xuất, nên Kế ho.ach làm ăn chỉ có đảng bầy đặt ra. Đó là ý nghĩa của nền Kinh tế Kế ho.ach. Kinh tế này Tập trung bởi vì chỉ có Đảng được xử dụng những phương tiện sản xuất. Như vậy, nền Kinh tế Kế ho.ach Tập trung là Hệ luận hữu lý của chủ trương Công hữu, cái Tiền đề. Nhân dân chủ hữu sở phải tuân lệnh làm theo Kế ho.ach Nhà Nước. Không cá nhân nào có thể có sáng kiến khác làm ăn bởi vì nếu có sáng kiến đi nữa, thì cá nhân ấy cũng không có phương tiện thực hiê.n. Họ không có quyền tự do xử dụng phương tiện sản xuất. Những Kế ho.ach Tập quyền này không cho phép tự do sáng kiến cá nhân trong nền Kinh tế Cộng sản.
4. Kinh tế HOACH ĐỊNH BAO CẤP tiêu thụ
 Tại điểm này, Đảng mới tuyên truyền ý nghĩa xã hô.i. Cá nhân lao động theo khả năng. Ai mạnh khỏe thì vác đá nặng thay cho người yếu. Ai có tài giỏi, thì làm việc thay cho kẻ ngu dốt. Thật đúng là lý tưởng xã hội, hoặc có thể nói là lý tưởng nên Thánh của nhân dân. Nhưng khi tiêu thụ những kết quả sản xuất, thì phải theo nhu cầu cá nhân do Nhà Nước xét định và cung cấp. Nhân dân chỉ nhận được những phần tiêu thụ hầu như đồng đều theo kế ho.ach của Nhà Nước. Việc ho.ach định tiêu thụ này nhằm tránh người này xài sang hơn người kia, tránh việc cá nhân tiết kiệm để tạo tư hữu và dành phần thặng dư vào Công hữu cho Đảng xử du.ng.
 Nền Kinh tế Kế Ho.ach Tập trung, Hệ luận hữu lý của Tiền đề Công hữu, đã mang lại những thất bại mà chúng tôi đã nhiều lần gọi là Định mệnh nội tại của chủ trương Chính trị Cộng sản (Fatalite Politico-Economique) đã giải thể những chế độ ở Liên Xô và Đông Aâu. Những thất bại của nền Kinh tế Kế ho.ach Tập quyền này gồm những điểm sau đây:
-> Cái thất bại thứ nhất là ở chính chủ trương Công hữu. Yù thức tư hữu là tự nhiên ở mỗi sinh vâ.t. Tư hữu là bản năng bảo vệ sinh tồn. Con Sóc cũng biết kiếm những hạt tích trữ giấu kín dành dụm cho Mùa Đông. Mỗi người phải tích trữ những phương tiện sống riêng tư, thủ thân. Cái quân bình, hay hòa bình giữa những cá nhân là ở chỗ không xâm phạm tư hữu chính đáng của người khác bởi vì chính mình không muốn người khác xâm phạm đến tư hữu của mình.
-> Cái thất bại thứ hai là người dân ý thức được rằng Đảng Cộng sản đã đánh đĩ hai tiếng nhân dân để nắm chủ quyền xử dụng Công hữu. Nhân dân chỉ là bình phong xảo quyệt để Nhóm Đảng Cộng sản tước đọat sở hữu và nắm trọn quyền định đọat cuộc sống của từng cá nhân, thành phần của hai tiếng nhân dân bù nhìn, rỗng tuếch.
-> Cái thất bại thứ ba của nền Kinh tế Kế ho.ach Tập quyền là giết chết những sáng kiến sinh động cá nhân tự do. Dù cho cá nhân tự do sáng kiến đi nữa, nhưng không được xử dụng những phương tiện thực hiện sáng kiến, thì sáng kiến cũng chẳng mang lại hiệu quả bởi vì có thực hiện được đâu mà có hiệu quả. Trong một Công ty cũng vậy, nhất là những Công ty thuộc ngành nghiệp cao cấp kỹ thuật, tổ chức tập quyền là bóp chết sáng kiến và trách nhiệm cá nhân, và do đó hiệu năng thấp mà phí tổn tăng.
-> Cái thất bại thứ tư là nền Kinh tế Ho.ach định bao cấp giết chết động lực khuyến khích lao đô.ng. Người khỏe vác dùm đá nặng cho người yếu, đó là lời khuyên xã hội quá lý tưởng. Nhưng nếu người khác cứ gỉa vờ yếu để đùn việc nặng cho người khác, thì đó là nguồn làm cho những người khỏe trở thành ù lì ra. Cái chế tài cũng như cái khuyến khích lao động nằm ở sự được hưởng những kết quả của lao đô.ng. Người làm việc cả ngày theo khả năng mà chỉ được hưởng theo nhu cầu đồng đều như một đảng viên phất phơ chỉ tay một ngón, thì người đó cũng chán nản hết muốn cố gắng làm viê.c. Xin chú thích là chỉ tay năm ngón còn lịch sự, nhưng chỉ tay một ngón là ra lệnh độc đóan.
-> Cái thất bại thứ năm của nền Kinh tế Kế ho.ach Tập trung dựa trên Công hữu là việc biển thủ và lãng phí Công hữu. Cha chung không ai khóc. Đó là thái độ lãng phí tự nhiên của những kẻ không có quyền. Nhưng về những người có quyền hành nằm trong tay, đồng thời có quyền xử dụng Công hữu và quyền định đọat Kế ho.ach, thì việc cướp của Công làm của riêng là điều hiển nhiên.
-> Cái thất bại thứ sáu là Đảng Cộng sản đã độc đóan lấy tòan diện năng lực Quốc gia để phục vụ chủ trương chính trị bang nhóm của họ. Chúng tôi đã nhiều lần phân biệt rằng Dân tộc Việt Nam như nước dòng sông chảy triền miên bất tận, trong khi ấy những khuynh hướng chính trị chỉ là những gợn sóng lăn tăn trên mặt nước sống, khi nhô lên, khi thấp xuống hoặc biến hẳn. Bang nhóm chính trị Cộng sản đã ép buộc dòng nước sông phải phục vụ cho làn sóng lăn tăn. Đó là chủ trương độc đóan, muốn những làn sóng khác biến đi, đó là nguồn gây chia rẽ Dân tô.c. Chủ trương độc đóan ấy không thể tồn tại vì nó đi ngược với sự tự nhiên.
 Cái kết quả của nền Kinh tế Kế ho.ach Tập quyền, với những thất bại chính yếu vừa kể trên đây, tất nhiên đưa đến thối lui Kinh tế, làm cho Dân chúng đói nghèo mà Đảng Cộng sản bất lực không giải quyết được nếu vẫn khư khư giữ lấy chủ trương chính trị và kinh tế như vâ.y. Cô gái vị thành niên từ Bến Tre lên Sài gòn bán thân kiếm sống, những cô gái quê Hà Đông về Hà Nội ngêu ngao Karaôkê là hậu quả tất nhiên của nền Kinh tế Kế ho.ach Tập trung mà Đảng Cộng sản Viê.t-Nam cố thủ  áp đặt lên đầu Dân tộc mà họ gọi là nhân dân.




Từ Tiền đề TƯ HỮU đến Kinh tế Tự do Thị trường
và những  giải quyết cho vấn đề then chốt là đói nghèo


 Chúng tôi lấy lại những điểm đã được trình bầy tuần tự trong phần Kinh tế Kế hoạch Tập trung để quý Vị tiện bề so sánh hai nền Kinh tế.



1. Tiền đề TƯ HỮU
 Tư hữu là bản năng tư nhiên của những sinh vật kiếm sống và bảo tồn sự sống của mình từ khi sinh ra cho đến khi chết. Con Sóc biết kiếm hột dấu kỹ cho mình phòng Mùa Đông la.nh. Xem những phim về súc vật, chúng ta thấy những con vật đã đi tiểu tiện vòng vòng ở một khu đất để cho đồng loại khi ngửi mùi nước tiểu ấy thì biết rằng đây là vùng đất đã bị chiếm hữu. Loài vật từ bản năng biết chia ranh giới khu vực tư hữu.
 Cộng sản chủ trương Công hữu, nhưng không thể đi đến chỗ khẳng định dứt khoát rằng thân xác của mỗi người là công hữu. Tôi muốn bắt đầu quyền tư hữu bằng tư hữu chính thân xác của tôi. Cộng sản chưa dám nói rằng thân xác của một nữ cán bộ của Đảng là công hữu, bởi vì nếu thân xác của nữ cán bộ này là công hữu, thì Đảng có quyền quyết định xử dụng thân xác của cô, quyết định dùng thân xác của cô  làm hộ lý tùy theo Kế hoạch của Đảng.
 Khi thân xác của tôi thuộc về tôi, thì tôi phải lo lắng tìm phương tiện bảo tồn nó. Tôi phải có quyền tư hữu tối thiểu một số phương tiện giúp tôi kiếm sống.
 Về phương diện này, một trong những Thông điệp quan trọng của Tòa Thánh Vatican về Học thuyết Xã hội đã lấy tên là Tư hữu, trong đó quyền tư hữu không phải là điều chủ trương mà là quyền tự nhiên.



2. Quyền XỬ DỤNG Tư hữu
 Khi chấp nhận quyền Tư hữu, thì hệ luận trực tiếp là Chủ hữu sở phải có quyền xử dụng tư hữu ấy. Nói cho tư hữu mà không cho quyền xử dụng, thì đó là nghịch lý, không phải là quyền tư hữu nữa. Trong sự tôn trọng tư hữu của người khác, Chủ hữu sở phải có quyền tự do xử dụng những phương tiện tư hữu của mình để làm ăn kiếm sống, bảo tồn thân xác của mình. Trong nền Kinh tế Tự do Thị trường, đây là cái quyền tự do kinh doanh (Libre entreprise).



3. Kinh tế TỰ DO KINH DOANH sản xuất
 Như trên vừa nói, nền Kinh tế Tự do kinh doanh chỉ là cái hệ luận tiếp theo của sự chấp nhận quyền Xử dụng Tư hữu gắn liền với bản năng tư hữu tự nhiên. Mỗi cá nhân có quyền xử dụng những phương tiện sản xuất tư hữu của mình đề lo kiếm sống. Nhà Nước không được can thiệp vào công việc mưu sống này của tư nhân bởi vì sự mất còn của kinh doanh là sự mất còn của tư hữu, chứ không phải là công hữu. Những luật lệ của Nhà Nước phải hướng về phía tích cực là tạo những điều kiện cho sự phát triển tự do kinh doanh. Nhà Nước đứng quan sát sự phát triển tự do kinh doanh và là trọng tài để giữ quân bình giữa những đơn vị tư doanh. Quan niệm về vị trí của Nhà Nước như vậy đã được khai triển bởi những Nhà Kinh tế cổ điển Anh (les Classiques Anglais) như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL. Sau đó dưới sự thúc đẩy của khuynh hướng Xã hội, Nhà Nước được tăng một chút quyền, nhưng chỉ ở phạm vi cho ra những Chỉ đạo chung (Directives générales), chứ không có quyền can thiệp (Intervention) vào nội bộ Kinh tế tư doanh. Nói một cách nôm na rằng tiền vốn là của người ta, để cho người ta làm ăn. Nếu Nhà Nước can thiệp vào để bó buộc cách thế làm ăn, người ta bị thua lỗ, mất vốn, Nhà Nước có thường tiền cho người ta hay không ?



4. Kinh tế TỰ DO tiêu thụ cá nhân
 Việc tự do tiêu thụ cũng đến từ cái quyền tư hữu những sản phẩm. Khi cá nhân xử dụng vốn tư để làm ăn sinh lời, thì tư nhân có quyền thụ hưởng cái kết quả do mình làm ra. Cái quyền được tự do chiếm hữu những kết quả làm ăn là động lực căn bản của nền kinh tế tự do sản xuất. Không có cái quyền tư hữu những kết quả sản xuất này, nền kinh tế sẽ bị tê liê.t. Nếu những kết quả của những cố gắng sản xuất lại bị bó buộc nhường cho người khác, thì chẳng ai muốn cố gắng làm việc nữa. Nếu chịu khó dùng vốn tư của mình để làm ăn, thua lỗ thì tư nhân ráng chịu, còn nếu khi được lời thì lại phải bó buộc nộp cho Nhà Nước tiêu xài, thì chẳng ai muốn làm việc nữa. Việc san sẻ những lợi tức mà cá nhân kiếm được chỉ là những lời khuyên, cổ võ, chứ không phải là việc bó buộc, chế tài.



5. Kinh tế THỊ TRƯỜNG
 Thị trường chỉ là hậu quả của cá nhân tự do kinh danh sản xuất và cá nhân tự do tiêu thụ. Người ta gọi đó là CHỢ (Economie de Marché). Thay vì lấy uy quyền và Kế hoạch của Nhà Nước để điều hợp Kinh tế, thì cái CHỢ làm công việc điều hợp này giữa CUNG từ sản xuất và CẦU từ tiêu thụ. Với bảo đảm của  một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp (Assurance de l’Environneme Politico-Juridique adéquat) Cái CHỢ là nơi thể hiện thực sự quyền TỰ DO và quyền DÂN CHỦ cụ thể nhất. Nhà Nước chỉ đứng ở thế làm trọng tài nếu có những vi phạm luật chợ giữa những cá nhân, nhưng chính những cá nhân tự do cung, tự do cầu mới là những chủ lực giữ sự quân bình của nền Kinh tế tôn trọng Thị trường. Cái CHỢ thay thế cho Kế hoạch của Nhà Nước trong nền Kinh tế Thị trường. Còn đối với nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Nhà Nước ngồi chình ình ra ở Chợ, bó buộc những cá nhân sản xuất, những cá nhân tiêu thụ mang hàng quà đến để Nhà Nước quyết định chia cho chút ít hay là chiếm trọn gói cho Nhà Nước. Một nền Kinh tế như vậy, thì không ma dại nào làm hùng hục để mang kết quả đến cho Nhà Nước hưởng.
 Nhìn vào hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường như vừa trình bầy ở trên, chúng ta nhận thấy những điểm sau đây:
-> Lợi điểm thứ nhất của nền Kinh tế này là một sự khuyến khích cố gắng làm việc bởi vì cá nhân có quyền tư hữu những kết quả của công việc làm của mình. Thực vậy, làm việc mà bỏ chung vào để người khác cùng hưởng, thì đó là sự khuyến khích lười biếng. Nhưng nếu những kết quả làm việc thuộc về mình, thì mình cố gắng làm việc đêm ngày. Anh SAMPRAS chơi Tennis, nếu những giải phải bỏ chung vào để Nhà Nước tùy nghi phân phối cho người khác, thì có lẽ anh hết cố gắng tập luyện đêm ngày nữa. Các cô bán hàng người Nga trong chế độ Liên xô, rất đẹp, trường túc, nhưng rất tiếc là thiếu nụ cười, bởi vì có cố gắng cười với khách hàng thì Nhà Nước cũng chẳng thêm cho đồng lương. Kinh tế Tự do Thị trường tạo điều kiện tự nhiên tăng năng suất rất cao.
-> Lợi điểm thứ hai là việc cổ võ Tiết kiê.m. Tiết kiệm là tiến trình đi đến độc lập của một nền Kinh tế và cũng cho một Quốc gia nữa. Điều kiện của Tiết kiệm là phải tôn trọng Tư hữu, hay nói cách khác quyền Tư hữu khuyến khích Tiết kiê.m. Thực vậy không ai dành dụm để dâng tiền cho Nhà Nước (Công hữu) xài. Tất cả các nước Xã hội Chủ nghĩa  không những thiếu vốn mà còn thiếu nợ, bởi vì không ai tiết kiệm cả. Họ nói là có độc lập, nhưng tôi không tin bởi vì nghèo quá phải đi ăn mày, người giầu sẽ đặt điều kiện cho lời tuyên bố độc lập của họ. Nền kinh tế tôn trọng Tư hữu cổ võ tiết kiê.m. 
-> Lợi điểm thứ bagiảm thiểu Lãng phí. Thực vậy, Lãng phí là tình trạng’’Cha chung không ai khóc’’, ’’Tiêu xài tiền Chùa’’,’’Xài tiền người khác chứ không phải của mình’’. Xin nhớ rằng Đồng tiền liền với khúc ruô.t. Khi đồng tiền là tư hữu, thì Chủ hữu sở biết căn cơ, không lãng phí. Trong nền Kinh tế Tự do Thị trường, người ta còn khuyến khích cho những tư nhân tiêu xài lãng phí để tăng tiêu thụ, kích thích sản xuất. Chỉ có trong nền Kinh tế với Công hữu mới có hiện tượng kêu gọi chống lãng phí.
-> Lợi điểm thứ tư là có sự kiểm soát phanh phui Tham nhũng. Thực vậy, Tham nhũng có cả ở trong hai nền Kinh tế. Tham nhũng ở đâu cũng giống nhau, nhưng cái khác nhau là trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường, người ăn tham nhũng dễ bị phanh phui lật tẩy bởi vì có tự do báo chí, có sự đối lập về quyền hành, có sự trừng phạt của Luật pháp đồng đều, có sự phản kháng của chính cá nhân cho tham nhũng; trong khi ấy ở nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, việc tham nhũng có quyền hành bao che và dễ trở thành định chế, không có đối lực phanh phui. 
-> Lợi điểm thứ năm và rất quan trọng là trong hệ thống Tổ chức của nền Kinh tế Tự do Thị trường, chất xám của Nhân lực được nâng đỡ phát triển. Thực vậy, hệ thống tổ chức quyền hành theo kiểu Cấp bậc tập trung Kim tự tháp (Organisation hierarchique pyramidale) chỉ áp dụng cho sản xuất những sản phẩm thô sơ với nhân công rẻ và ở trình độ kiến thức thấp. Chúng ta ở vào thời đại mà những phương tiện truyền thông, giáo dục, thông tin được chuyển đi với tốc độ siêu thanh. Kỹ thuật tiến triển theo cấp số nhân. Kiến thức, chất xám được thu thập mau lẹ. Những sản phẩm trở thành tinh vi và phúc ta.p. Trong một khung cảnh tiến hóa của thời đại như vậy, tổ chức Trung ương Tập quyền theo kiểu Tổ chức Cấp bậc Kim tự tháp cho Nhân lực đầy chất xám và cho sản phẩm tinh vi là một việc làm phản tiến bộ. Nhất là thêm vào đấy, tính cách độc quyền, sự áp đặt của Kế hoạch được trợ lực bởi Công an khủng bố là việc làm tiêu diệt kiến thức và những sinh động sáng tạo của nó. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường tôn trọng sự tiến bộ này của chất xám cá nhân. Những khuôn mẫu Tổ chức phân quyền hoặc theo Nhóm trách nhiệm (Organisation décentralisée modulaire/ Organisation par Groupes Responsables) được áp dụng để nâng đỡ tối đa sự tiến bộ của chất xám.




KẾT LUẬN: Con đường giải thể chế độ Cộng sản

 Trình bầy hai nền Kinh tế như trên, chúng tôi muốn nói rằng cuộc đấu tranh ngày hôm nay, không phải là việc xung động tình cảm nhất thời, mà là một sự cố gắng tìm kiếm một con đường, trong sự phân tích bình thản của lý trí, nhằm tôn trọng những quyền căn bản làm người của Dân Việt và nhằm sự phát triển nền Kinh tế đất nước. Việc phát triển Kinh tế này cốt ý giải quyết cấp bách tình trạng đói nghèo hiện nay, đồng thời nhắm sự phát triển tương lai cho Nước Việt sánh kịp với những nước khác trong vùng.
 Bộ Chính trị Đảng, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải và Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng loạt khẳng định sự chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
 Dân Việt ghi nhận lời khẳng định này. Chúng tôi cùng Dân đấu tranh để Đảng và Nhà Nước phải tôn trọng lời khẳng đi.nh. Việc đấu tranh của chúng ta là nhất thiết đòi hỏi Cộng sản Việt Nam phải thi hành đúng đắn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự.
 Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi hỏi phải có một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ (Environnement Politico-Juridique adequat) đích thực để bảo đảm sự thực hiện đúng đắn. Nếu Đảng và Nhà Nước hứa hẹn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn cố thủ giữ lấy cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cũ của nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Đảng và Nước là những đứa nói láo, làm việc tréo cẳng ngỗng, đem râu ông nọ cắm cằm bà.
 Chúng ta quyết tâm đấu tranh cho bằng được một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà họ đã khằng đi.nh. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý chỉ có thể gọi là phù hợp khi mà:

1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
(Chúng tôi sẽ trình bầy trong những số báo tới về sự phù hợp như thế nào của từng điểm  trên đây đối với đòi hỏi của nền Kinh tế Tự do và Thị trường) 

 Dân Việt, trong cũng như ngoài nước đấu tranh đòi hỏi những điều trên đây là việc làm giúp đỡ Đảng và Nhà Nước có can đảm thực hiện điều mong ước của chính Đảng và Nhà Nước. Cộng sản và những người bồi Cộng không có quyền nói rằng cuộc đấu tranh hôm nay là chống lại Nhà Nước hiện hành. Đảng và Nhà Nước đã công khai chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường, thì Dân yêu cầu  Đảng và Nhà Nước thực hiện cho đúng đắn nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Dân xin nhắc cho Đảng và Nhà Nước biết rằng mỗi một nền Kinh tế có một Môi trường Chính tri—Pháp lý phù hợp riêng. Không thể làm tréo cẳng ngỗng, không thể lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia.
 Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà Đảng và Nhà Nước đã long trọng chấp nhận chỉ có thể có khi mà Đảng và Nhà Nước thực hiện 5 điểm vừa liệt kê trên đây.  
 Làm theo yêu cầu chính đáng của Dân trong việc thực hiện đúng đắn một Môi trường Chính trị—Pháp lý phù hợp với nền Kinh tế Tự do và Thị trường , tức là Đảng Cộng sản  tự làm công việc giải thể chế độ hiện hành của mình trong êm dịu. 
 Dân cũng yêu cầu Quốc hội giúp đỡ Đảng để làm công việc giải thể chế độ này trong êm dịu.
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐÒI HỎI:
XÓA BỎ ĐIỀU 4 CỦA HIẾN PHÁP




Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế



Với bài CÔNG HỮU, TƯ HỮU VÀ HAI CHỦ TRƯƠNG KINH TẾ đăng trong VietTUDAN số 197/13.01.2005, chúng tôi coi đó là bài dẫn nhập cho một loạt bài mà chúng tôi tiếp tục khai triển trong đề mục KINH TẾ, TÀI CHÁNH.
 Bộ Chính Trị của Đảng CSVN, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đồng lọat khẳng định rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường là giải pháp cứu vãn cho tình trạng đói nghèo hiện nay của Dân chúng và là con đường phải theo để phát triển Kinh tế Việt-Nam trong tương lai cho kịp với những nước chung quanh trong vùng.
Nhà Nước và Đảng đã phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong mức độ nào?
Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi hỏi phải có một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ (Environnement Politico-Juridique adequat) đích thực để bảo đảm sự thực hiện đúng đắn. Nếu Đảng và Nhà Nước hứa hẹn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn cố thủ giữ lấy cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cũ của nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Đảng và Nước là những đứa nói láo, làm việc tréo cẳng ngỗng, đem râu ông nọ cắm cằm bà.
 Chúng ta quyết tâm đấu tranh cho bằng được một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà họ đã khằng định. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý chỉ có thể gọi là phù hợp khi mà những điểm sau đây được thực hiện:

1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

 Bài này bàn về đòi hỏi XÓA BỎ ĐIỀU 4 CỦA HIẾN PHÁP với những điểm như sau:
=> Những đặc tính căn bản của một Công ty Tư bản Tư doanh
=> Điều 4 của Hiến Pháp không phù hợp với những đặc tính căn bản của Công ty Tư bản Tư doanh




Những đặc tính căn bản
của một Công ty Tư bản Tư doanh 

Đơn vị tác động trong một nền Kinh tế là Công ty hợp lại do những tư nhân, bằng sự góp vốn tư, với quyền tự tổ chức, gọi là Xí nghiệp tư doanh tư bản, hay Công ty do Nhà Nước đứng ra tổ chức, với vốn do Nhà Nước cung cấp, gọi là Xí nghiệp quốc doanh.
 Chúng tôi chỉ bàn ở đây Công ty tư bản tư doanh.
Trong một số báo trước, chúng tôi đã viết về những Đặc tính căn bản này. Hôm nay chúng tôi nhắc lại đây vì là điều cần thiết để chứng minh rằng việc đòi hỏi xóa Điều 4 của Hiến Pháp là một đòi hỏi Kinh tế chứ không nguyên là một đòi hỏi chính trị. Đê trình bầy những Đặc tính căn bản này, chúng tôi bắt đầu định nghĩa một Công ty Tư bản để từ định nghĩa ấy, rút ra những Đặc tính căn bản.
 Đã từ lâu, chúng tôi chọn câu định nghĩa sau đây:
’’Xí nghiệp tư bản là một TỔ CHỨC, TỰ TRỊ VỀ TÀI CHÁNH, giới thiệu NHỮNG SẢN PHẨM KINH TẾ trên THỊ TRƯỜNG để trao đổi, nhằm mục đích đạt được LỢI NHUẬN tối đa’’
 Từ câu định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra những Đặc đính và Điều kiện sau đây:

1. Xí nghiệp phải có tự trị TỔ CHỨC
 Xí nghiệp là một tổ hợp gồm chính yếu Nhân lực (Labor) và Vốn (Capital). Nhân lực chỉ gồm sức làm việc của người, chứ không được bao gồm vào đó sức làm việc của bất cứ loài vật nào như Trâu, Bò, Ngựa, Voi... vân vân. Sự phân biệt này dựa trên điểm căn bản là Người có trí khôn để có thể có tiến bộ làm tăng hiệu lực lao động của mình, trong khi ấy tất cả sức làm việc của các loài vật khác dù có mạnh hơn người nhiều, nhưng không có trí khôn để sáng tạo những tiến bộätừ kỹ thuật đến phương pháp làm hành động. Việc phân biệt này rất quan trọng ở chỗ nếu một tổ chức mà không nâng đỡ sự tiến bộ tự do của trí óc con người, thì tổ chức ấy làm hại chính hiệu năng sản xuất.
 Vốn (Capital) được định nghĩa bao gồm tất cả những phương tiện sản xuất khác không phải là Nhân lực: máy móc, dụng cụ, các loài vật làm chung với người...
 Để có thể gọi một Xí nghiệp là có TỔ CHỨC, cần phải thỏa mãn những điều kiện sau đây:
a. Định MỤC ĐÍCH của tổ hợp hoạt động, dù ngắn hạn hay dài hạn.
 Không thể gọi là Xí nghiệp nếu tổ hợp hoạt động gồm người và vốn cùng làm việc mà mỗi đơn vị nhìn một hướng khác nhau. Việc định Mục đích này phải được thực hiện trong nội bộ của Xí nghiệp, nghĩa là không được có một áp lực nào của ngoại tại, với mục đích khác, xen lấn vào để áp đặt.
b. PHÂN CÔNG làm việc
 Việc phân công dựa trên khả năng của mỗi đơn vị làm việc trong tổ chức. Trong khi phân công, Xí nghiệp luôn luôn lấy điểm đối chiếu là cái Mục đích đã đặt ra ở trên. Tỉ dụ nếu một đơn vị trong tổ chức, cùng nhận công tác làm việc, nhưng lại mang mục đích kiểm soát nhằm phục vụ mục đích của Tổ chức khác,  thì không thể chấp nhận được. Cũng vậy, nếu một người thiếu khả năng cần thiết cho Tổ chức, nhưng vì là con ông, cháu cha mà được đặt vào chỗ làm việc của Tổ chức, thì hiệu năng của Tổ chức bị giảm sút.
c. ĐIỀU HỢP công việc của các đơn vị.
 Từ mục đích cùng đặt ra, sự Phân công làm việc được hoặch định. Nhưng công việc được chia ra mà không có sự ĐIỀU HỢP vào một nhịp điệu ăn khớp với nhau, thì cũng không đạt được hiệu năng của Tổ chức. Sự cần thiết điều hợp này đòi hỏi phải có Ban Điều hành.
d. KIỂM ĐIỂM việc thi hành (Feedback)
 Việc kiểm điểm này cũng phải lấy Mục đích làm điểm quy chiếu và lấy hệ thống Điều hợp làm căn cứ sửa chữa. Kiểm điểm đây không có nghĩa là kiểm soát để chế tài, mà là để chỉnh đốn lại (feedback) những hoạt động đơn vị cho phù hợp với hệ thống điều hợp để đạt mục đích đã định.
 Với tất cả những điều kiện của tổ chức như trên, chúng ta thấy rằng cái quyền Tự Trị là một điều kiện bất khả xâm phạm của một Tổ chức nếu Tổ chức muốn đạt được hiệu năng tối đa.

2. Tự trị về TÀI CHÁNH
 Về phương diện kinh tế, cái quyền lực đến từ đồng tiền. Mức độ độc lập của một Tổ chức được đo bằng mức độ tự trị về tiền bạc. Nhân điểm này, chúng ta cũng có thể hiểu rằng, một nước nghèo về kinh tế rất khó giữ được sự độc lập về chính trị.
 Khi khởi đầu một Xí nghiệp, Tổ chức có ít quyền tự trị vì phải lệ thuộc vào những ảnh hưởng của những người nắm Tín dụng. Cố gắng liên tục của một Xí nghiệp tư bản là tần tiện để tạo sự tự trị về tài chánh. Thực vậy, không có tự trị về tài chánh, thì Xí nghiệp không có những mạnh dạn để quyết định Mục đích của mình.
 Chúng tôi nghĩ đến một Công ty quốc doanh với tài chánh lệ thuộc vào quyết định của Nhà Nước, của Đảng, nghĩa là của quyền lực chính trị ngoại tại, thì Công ty ấy khó lòng có khả năng đặt những mục đích sáng tạo của mình.

3. Giới thiệu SẢN PHẨM KINH TẾ trên Thị trường để trao đổi
 Để có thể gọi một sản phẩm là SẢN PHẨM KINH TẾ thuần túy, cần phải có những điều kiện sau đây:
a. Tính cách Hiếm có của sản phẩm
 Chính cái tính hiếm có của sản phẩm tạo cái giá trị nội tại của sản phẩm. Phải để cho Xí nghiệp tự do đặt vào sản phẩm sự cá biệt để tạo tính hiếm có của sản phẩm. Sự hiếm có này làm cho Kinh tế Thị trường có tính cách đa diện của mặt hàng khác nhau theo với óc sáng tạo của mỗi Xí nghiệp.
b. Tính cách có thể Trao đổi của sản phẩm
 Đây là tính chất của mặt hàng phù hợp với nhu cầu của người tiêu thụ. Thị trường là nơi trao đổi sản phẩm, nghĩa là phải có số đông muốn mua hàng của mình. Chính bản chất của sản phẩm tự nó tạo nên Thị trường rồi. Sản phẩm nhằm người mua và người mua có quyền tự do chọn lựa, không bị những ảnh hưởng ngoài ý muốn của mình.
 Xin lưu ý rằng trong câu định nghĩa, chúng tôi dùng chữ  giới thiệu sản phẩm để nêu rõ tính cách tôn trọng tự do, tôn trọng việc tự quyết định tiêu thụ của khách hàng. Kỹ nghệ gia hay Thương gia không có quyền xử dụng quyền lực của mình hay của ai khác để bắt ép khách hàng phải mua. Họ chỉ có quyền giới thiệu sản phẩm của mình lên Thị trường, còn việc mua hay không là do quyền tự do chọn lựa của người tiêu thụ. Về điểm này, trong những chế độ độc tài, có rất nhiều vi phạm.

4. THỊ TRƯỜNG
 Thị trường là nơi gặp gỡ tự do để người bán giới thiệu sản phẩm và người mua tự do quyết định trao đổi. Những quyết định về giá cả phải theo luật tự do cung cầu ở Thị trường. Thị trường là nơi tượng trưng cho việc thể hiện tự do của mỗi cá nhân về mặt làm ăn kinh tế. Khi nói Kinh tế Thị trường là nói đến tự do cá nhân trong việc quyết định quyền làm ăn của mình. Thị trường là động cơ điều hợp cuộc sống Kinh tế . Nó là nơi thể hiện cụ thể cái ý nghĩa Dân chủ trong việc điều hành Kinh tế quốc gia. Để hiểu hơn về ý nghĩa Dân chủ của Thị trường, chúng tôi muốn nói đến nền Kinh tế Tập trung Chỉ huy hoặc Kinh tế Kế hoạch (Economie dirigiste ou Economie des Plans). Trong nền kinh tế này, tất cả quyền quyết định sản xuất hay tiêu thụ phải theo sự chỉ dẫn hoặc kế hoạch của Trung ương Nhà Nước, của Đảng và Bộ Chính trị. Nền kinh tế ấy tất nhiên phản lại tự do cá nhân và dân chủ.

5. LỢI NHUẬN tối đa
 Đây là lợi nhuận kinh tế, tài chánh, nghĩa là ’’tiền bạc’’, chứ không phải là lợi nhuận về xã hội, về luân lý hay đạo đức. Người làm Kinh tế  nhằm mục đích tối hậu của mình là kiếm được càng nhiều càng hay về  ’’tiền bạc’’. Khi còn nghèo, làm kinh tế để cho bụng no. Khi đã có đồng ra đồng vào, thì làm kinh tế để có được nhiều tiện nghi hơn, để cho đời sống của mình và của con cháu mình được bảo đảm trong hiện tại và cho tương lai.
 Ý thức hệ Cộng sản đã bắt người làm kinh tế phải phục vụ cho nhóm đảng Cộng sản, nghĩa là mục đích tối hậu là phục vụ chính trị, mà là chính trị phe đảng chứ không phải của toàn dân. Sự ép đặt này của Cộng sản dẫn đến kiệt quệ về kinh tế, và tình trạng đói bụng này của Dân đã là động cơ chính yếu làm cho chế độ Cộng sản Liên xô và những nước Đông Aâu phải tự giải thể. Suốt 27 năm trường không chiến tranh, Cộng sản Việt-Nam đã làm cho Dân ’’đói nghèo’’ để đến nỗi Nha Nướcø phải đi năn nỉ lòng thương hại của những nước khác để họ cho vay qua World Bank cho việc ’’xóa đói giảm nghèo’’ của nước mình. Họ đã bắt Dân làm ăn, không được nhìn mục đích kinh tế, mà phải nhìn và phục vụ chính trị của Đảng Cộng sản.



 
Điều 4 của Hiến Pháp không phù hợp với
những đặc tính căn bản của Công ty Tư bản Tư doanh

Điều 4 của Hiến Pháp dành quyền quản trị Đất Nước cho một Đảng duy nhất, đó là Đảng Cộng sản Việt-Nam. Cái độc quyền này, dù được trao phó một cách dân chủ, hoặc do sự ’’đánh đĩ’’hình thức dân chủ hay do sự cưỡng chế chiếm quyền bằng khủng bố, thì vẫn là điều không phù hợp với việc thi hành và phát triển những đặc tính căn bản của một Công ty Tư bản Tư doanh như vừa trình bầy trên đây. Xin lưu ý là trong bài này, chúng tôi chỉ nói trong bình diện hòan tòan Kinh tế, chứ không đề cập vấn đề ở phạm vi Chính trị.
 Chúng tôi lần lượt trình bầy những điều không phù hợp đối với những đặc tính.

1. Tự trị về TỔ CHỨC 
 Trong một chế độ dành độc quyền cho Đảng CSVN, Đảng luôn luôn tìm đủ một thủ đọan để củng cố quyền hành của mình. Việc đầu tiên của Đảng là chủ trương gài người vào trong bất cứ một Tổ chức nào, dù đó là những Tổ chức Tôn giáo, Giáo dục, Văn hóa, Xã hội hoặc ngay cả Thể thao. Gài người vẫn chưa đủ, Đảng còn dành quyền phê chuẩn, chế tài những việc chỉ định quyền hành trong nội bộ của những Tổ chức. Việc làm này của Đảng nhằm mục đích làm cho tất cả các Tổ chức phải ủng ho hoặc tối thiểu không phản đối cái quyền độc đóan của mình do Điều 4 của Hiến Pháp cho phép.
 Nhìn vào thực tế hình thành những Công ty tư nhân hiện nay ở Việt-Nam. Trong giai đọan đầu của chính sách Đổi Mới và cởi mở, một số Công ty nước ngòai và một số Tư nhân Việt Nam từ Hải ngọai muốn mở cơ sở làm ăn.
 Những can thiệp độc đóan của Nhà Nước đã làm cho đợt này thất bại. Chúng tôi vẫn nhớ lời nhận xét của Oâng Lãnh sự Thụy sĩ tại Việt-Nam khi Oâng cho ý kiến cho giới Kinh doanh Thụy sĩ tại Zurich:’’L’euphorie des entreprises vietnamiennes tombe’’(Sự hồ hởi trổ bông của những Công ty Việt Nam rụng xuống). Trong thời gian này, chúng tôi cũng đại diện cho một Tập đòan Tài chánh Hoa kỳ để làm việc về tài chánh với một số Công ty, nên đã có dịp nhận xét những thất bại của việc hình thành này do chính tính cách độc đóan của chế độ.
 Chúng tôi chỉ nói đến các Công ty  hòan tòan tư nhân và điều hành bởi người Việt Nam.
 Giới Việt kiều về làm ăn, nhưng tất nhiên không thể mang về trường vốn. Những việc can thiệp sau đây vào Tổ chức tư doanh đã làm cho một số đông những người này mất vốn ra đi. Việc đầu tiên là xin Giấy phép: tòan bộ hành chánh rất phức tạp và chậm chạp. Một Công ty cho tôi xem hồ sơ và nói rằng họ phải xin đến con dấu thứ 24 mà vẫn chưa ổn công việc. Lý do của sự phức tạp là Đảng phải nghĩ ra đủ mọi cơ quan hành chánh để xếp chỗ làm việc cho đảng viên. Sự chậm chạp là mỗi cơ quan giữ quyền tìm cách bới lá tìm sâu trong các hồ sơ để tìm cớ đe dọa đổi lấy tiền hối lộ. Một số người thuộc Chính quyền trước năm 1975 còn bị bới móc luôn về phương diện chính trị. Đây là chính câu chuyện bản thân tôi gặp phải. Khi tôi đại diện Tập đòan Tài chánh về để nói chuyện về Dự án Kho hàng tại Biên giới Tân Thanh (Đồng Đăng). Oâng Tổng Lãnh sự tại Thụy sĩ khuyên tôi lấy Visa Du lịch cho mau hơn. Về ở một Khách sạn tại Hà Nội. Ngày hôm sau, công an điện thọai đến Khách sạn hẹn gặp tôi. Tôi báo tin cho Oâng Nguyễn Ngọc Lương, cựu Tổng Lãnh sự tại Geneve và làm Đại diện cho tôi tại Hà Nội. Vừa báo tin cho Oâng ấy biết, Oâng phải chạy ngay đến Khách sạn để ngồi chờ vì Oâng nói với tôi rằng Oâng không muốn những người công an ấy đưa tôi đi nơi nào khác ngòai Khách sạn. Khỏang 11 giờ sáng, hai công an đến Khách sạn và tuyên bố rằng chính lẽ họ yêu cầu tôi đến sở Công an để làm việc, nhưng vì nể tôi là một Giáo sư ở nước ngòai, nên họ đến tận Khách sạn. Họ nói cho tôi biết là tôi mang Visa Du lịch, không được quyền nói về Tài chánh. Tất cả những bới móc tìm kiếm lý do để can thiệp vào những công chuyện làm ăn khiến những tư nhân nản lòng. Nhiều người mang vốn về làm ăn, mới ngồi chờ đợi, chạy chọt các cơ quan hành chánh phức tạp, xin xong được Giấy phép, thì số vốn mang về đã hết hơn một nửa.
 Một số những tư nhân ở Việt Nam đứng ra làm ăn. Họ có thể lo liệu những Giấy tờ hành chánh mau hơn vì phần lớn hoặc là con ông cháu cha trong Đảng, hoặc là quen thân với Đảng, hoặc chính họ là cựu Đảng viên. Những người này lo liệu Giấy phép mau hơn, nhưng lại không có vốn. Họ xin vay vốn Nhà Nước qua 5 Ngân Hàng Thương Mại thuộc Nhà Nước. Nhà Nước nắm vốn, thì tất nhiên vốn là nguồn để tổ chức Công ty lệ thuộc vào Nhà Nước. Không thể có tự trị khi mà người khác nắm vốn, tức là nắm mạch tim của mình. Chính nơi những Công ty của lớp người này mà đã xẩy ra nhiều những vụ hè nhau ăn cướp tiền của công. Những người làm Ngân hàng bị khiển trách, mất chức, những Công ty tuyên bố sạt nghiệp, nhưng những người này ăn cánh với nhau để cướp của công.
 Khi xin Giấy phép xong rồi, thì việc tổ chức làm ăn còn gặp rất nhiều những can thiệp của quyền hành ngọai tại. Oâng Nguyễn Quang A, một cựu Sinh viên phía Đông Aâu, về mở một Công ty Điện tóan. Trong bữa ăn ’’ốc thuốc bắc’’ bên bờ Hồ Tây, ông nói với sự bực tức rằng:’’Trong cái xã hội làm ăn hiện nay, thằng nào làm ăn mà nhô đầu lên cao hơn những thằng khác, thì có cái máy chém quyền lực quay ngày đêm trên đầu mình và chém đứt cái đầu nhô lên.’’Thực vậy, cái độc đóan về quyền lực lúc nào cũng sẵn sàng xen vào Công ty bằng cách xếp cho con ông cháu cha làm việc, gây khó khăn để kiếm chác, lấy danh nghĩa giúp Mẹ chiến sĩ, Thương phế binh, Trẻ mồ côi...để xin tiền ủng hộ có tính cách bó buộc mà một phần những tiền ủng hộ này lại không đến tay những Mẹ chiến sĩ vân vân.
 Đối với những Tổ chức Tôn giáo, Văn hóa, Xã hội..., Đảng can thiệp vào tính cách tự trị của tổ chức vì Đảng, về mặt tiêu cực, cố ý cầm chân những Tổ chức để không phản đối họ; và, về mặt tích cực, Đảng xử dụng những Tổ chức để ủng hộ Chính trị độc đóan của Đảng như tỉ dụ Phái đòan Tôn giáo mới sang Hoa kỳ trong tháng 5 vừa rồi.
 Đối với những Công ty Tư doanh, sống trong chế độ độc quyền cho phép bởi Điều 4 của Hiến Pháp, những Đảng viên với quyền hành, từ lớn đến nhỏ, can thiệp tổ chức của những Công ty Tư doanh, gây khó khăn, với mục đích không tất nhiên là để ủng hộ chế độ, nhưng chính yếu là những người có quyền lực muốn kiếm chác nồi cơm lớn nhỏ cho chính bản thân mình.
 Chúng ta có thể khẳng định rằng tất cả những tư nhân, trong cũng như từ ngòai về, khi tổ chức làm ăn ở Việt-Nam, đều cảm thấy cái sức ép can thiệp của quyền lực chính trị độc đóan vào nội bộ làm ăn của mình. Cái quyền lực độc đóan được Điều 4 của Hiến Pháp cho phép. Hòan tòan đứng ở phương diện Kinh tế mà nói, khi cái Điều 4 này còn nằm chình ình ở trong Hiến Pháp, thì sự vi phạm của quyền lực chính trị vào tính cách TỰ TRỊ của tổ chức một Công ty Tư bản Tư doanh không thể tránh được. Phải xóa bỏ Điều 4 của Hiến Pháp vì nhu cầu thực hiện đích thực nền Kinh tế Tự do và Thị trường, trong đó những Công ty Tư bản là những đơn vị chủ chốt của nền Kinh tế.

2. Tự trị về TÀI CHÁNH  
 Vốn tư là do Tiết kiệm. Tiết kiệm là một phần của thu họach dành dụm ra ngòai việc chi tiêu. Tiền tiết kiệm như vậy cũng là do công sức làm việc kiếm tiền. Người ta thường nói rằng:’’Kiếm tiền đã khó, mà tiêu tiền còn khó hơn’’. Thực vậy việc tiêu tiền trong tư doanh là với chủ ý làm tiền được nhiều hơn số mình đã tiết kiệm và dùng để kinh doanh. Nói như vậy để chúng ta thấy rằng người bỏ vốn ra để kinh doanh muốn làm chủ cái số vốn để tự mình trách nhiệm về sự mất còn, chứ không muốn bỏ mồ hôi nước mắt ra để những người không bỏ vốn có quyền quyết định trên cách thế làm ăn. Người bỏ vốn muốn có sự tự trị.
 Đối với một Công ty, việc độc lập của những quyết định cách thế làm ăn tùy thuộc vào sự độc lập của Tài chánh. Thực vậy, trong một Công ty nặc danh hùn vốn, ai có nhiều tiền hùn vào là người đó có quyền, không cần phải xét người đó khôn ngoan, thông minh hay mát dây điện. Nó khờ khạo, nhưng nó có nhiều tiền đóng góp, thì nó có quyền, không cần phải cãi vã lý thuyết này hay ý thức hệ kia gì cả. Thực vậy, người bỏ tiền nhiều vào Công ty, mà họ không có quyền quyết định quan trọng về Công ty, mà để cho người khác quyết định một cách vô trách nhiệm về sự mất còn của vốn của họ, thì họ rút ra khỏi Công ty. Một Công ty vắn vốn, phải sống bằng tín dụng của một Ngân Hàng, thì Ngân hàng sẽ có quyền duyệt xét kinh doanh, nghĩa là Công ty mất quyền tự trị.
 Đối với việc đóng góp vốn quốc tế đầu tư, những nhà tư bản chú trọng đến khía cạnh an tòan của vốn hơn là vấn đề lợi nhuận cao. Thực vậy có hai thái độ : (i) đầu tư với lợi nhuận thấp nhưng an tòan vốn được bảo đảm tối đa. Đây là thái độ của hầu hết những nhà đại tư bản; (ii) đầu tư với lợi nhuận cao đi song hành với những rủi ro cao. Đây là thái độ của những nhà trung và tiểu tư bản còn ở trong tuổi hăng say làm tài chánh, còn mang máu ’’đánh bài cào’’. Nhưng dầu vậy họ vẫn luôn luôn dành một số vốn phòng thân và vốn bảo đảm cho tuổi già. Khi tôi làm Luận án Tiến sĩ về Thị trường Chứng khóan của Thụy sĩ, thì công việc là nghiên cứu những Nhóm lượng Kỳ phiếu (Portefeuilles) tiến gần đến Rủi ro Zero, nghĩa là rủi ro nhỏ nhất. Thị trường Chứng khóan của Thụy sĩ được coi là Thị trường ít biến động cũng như đồng tiền của họ. Trên con đường phát triển của những Công ty ký danh ở Thị trường, phải dùng những dữ kiện thống kê hàng ngày trong vòng 10 năm để nghiên cứu  cái Ma trận gồm những phương sai và những đồng phương sai của những sai số giữa những Công ty thành phần trong nhóm (Estimation de la Matrice de Variances-Covariances des Erreurs dans la Régression) để tìm ra những Giá trị ký danh tại Thị trường mà những Giá trị này cho những Rủi ro nhỏ nhất. Đây là thái độ căn bản của những nhà Tài chánh quốc tế và những nhà Tư bản. Song hành với việc nghiên cứu những dữ kiện thống kê, chúng tôi cũng phải nghiên cứu những Aån số Kinh tế, Chính trị, Chiến tranh, Thiên tai...ảnh hưởng tới những Giá trị ký danh ở Thị trường Chứng khóan. Nếu Chiến tranh, Thiên tai...được coi là những ẩn số có tính cách giai đọan, thì tình trạng Kinh tế và thể chế Chính trị của một nước được coi như những ẩn số thường xuyên ảnh hưởng trên những Giá trị ký danh chứng khóan.
 Những người bỏ vốn đầu tư thường căn cứ trên những chỉ số tin tưởng về tài chánh cung cấp bởi những Tổ chức quốc tế nghiên cứu những dữ kiện thống kê. Theo cuốn MOODY’S COUNTRY CREDIT STATISTICAL HANDBOOK, phát hành tháng Giêng 2002, thì sự tin tưởng vào vấn đề tài chánh của Việt-Nam ở chỉ số B1 với định nghĩa như sau:’’Assurance of interest and principal payments or of maintenance of other terms of the contract over any long period of time is small’’(Việc bảo đảm trả lời và vốn hoặc việc bảo đảm việc tuân giữ những kỳ hạn của hợp đồng qua bất cứ hạn kỳ dài nào thì rất nhỏ nhoi, lỏng lẻo.’’ Cái chỉ số ấy tất nhiên không cho tin tưởng của những nhà đầu tư vào tính cách an tòan của vốn cho vay đối với Việt-Nam.
 Nhìn vấn đề gọi vốn cho Công ty và nhìn thái độ của những nhà tư bản và những nhà tài chánh quốc tế như trên vừa trình bầy, chúng ta thấy rằng việc kêu vốn và quản trị độc lập Tài chánh của một Công ty tư bản đúng nghĩa ở Việt-Nam gặp những trở ngại quan trọng bởi Điều 4 của Hiến Pháp cho quyền thiết lập một chế độc độc tài chuyên chính ở Việt-Nam. Những năm trường kinh nghiệm của cái chế độ này cho thấy sự suy thóai của nền Kinh tế đến đói nghèo, thêm vào đó việc tham nhũng và lãng phí lan tràn của những người nắm độc quyền quản trị đã được cho phép bằng chính Hiến Pháp.
 Những người bỏ vốn ra cho Công ty tư bản không muốn vốn của mình bị ảnh hưởng quyết định một cách độc đóan bởi quyền lực chính trị ngọai tại. Những nhà tư bản và tài chánh quốc tế không muốn đem vốn vào Việt-Nam ở trong một chế độ độc tài độc đảng, không đối lập, không tự do báo chí, luật pháp bị đặt dưới quyền chính trị, để số vốn khi gặp rủi ro, không có đường khiếu nại để cứu vãn trong một chế độ chuyên chính thiết lập bởi Điều 4 của Hiến Pháp.
 Đặc tính độc lập về Tài chánh, tự trị của Tư bản đòi hỏi phải xóa bỏ Điều 4 của Hiến Pháp, nếu muốn có sự thực hiện đúng đắn của nền Kinh tế Tự do và Thị trường

3. Tự do GIỚI THIỆU SẢN PHẨM trên Thị trường.
 Phương diện này liên hệ chính yếu đến vấn đề tự do đề nghị tiêu thụ và tự do tiêu thụ. Tất nhiên những mặt hàng sản xuất là ở trong khuôn khỏ luật định. Chúng tôi chỉ muốn nói đến phương diện khi những mặt hàng theo qui định được sản xuất rồi, Nhà Nước không được quyền can thiệp vào những phương án giới thiệu sản phẩm cho Thị trường, nơi trao đổi sản phẩm để phục vụ những nhu cầu tiêu thụ của người mua. Phương diện này thuộc về cả một ngành học đang được phát triển sâu rộng: ngành Marketing.
 Thị trường ở đây không phải chỉ hạn hẹp ở trong nội địa Việt-Nam, mà còn bao trùm tất cả những khả thể tiêu thụ Quốc tế, từ những vùng vây quanh Việt-Nam cho đến những Thị trường xa hơn của năm Châu.
 Trong hiện trạng, Đảng và Nhà Nước, với độc quyền quản trị cho phép bởi Điều 4 của Hiến Pháp, chủ trương hạn chế những Công ty Thương mại, Dịch vụ tư nhân để  giữ quyền ấy cho những Công ty quốc doanh trực thuộc vào quyền lợi của Đảng. Quyền Tự do GIỚI THIỆU SẢN PHẨM cho Thị trường bị chế độ độc quyền hạn định về nhiều phương diện. Chúng tôi chỉ kể ra những hạn định chính sau đây:
=> Chế độ lấy sản phẩm phải qua tay những Công ty quốc doanh  
=> Chế độ Quota (Hạng ngạch) xuất cảng và nhập cảng dành ưu tiên cho những Công ty quốc doanh
=> Chế độ Kiểm sóat ngọai hối là phương tiện chế tài xuất nhập cảng đối với Công ty tư nhân
=> Dùng những biện pháp Hành chánh hoặc Kỹ thuật  để ngăn chặn việc xuất nhập cảng của tư nhân
 Những biện pháp trên đây nhằm thâu quyền thương mại vào tay Đảng mà Điều 4 của Hiến Pháp đã độc đóan cho phép.

4. THỊ  TRƯỜNG 
 Về phương diện Kinh tế, Thị trường là nơi thể hiện cái quyền lực dân chủ thực sự để điều hành đời sống kinh tế của một Cộng đồng, trong khi ấy chế độ độc tài, cho phép bởi Điều 4 của Hiến Pháp, chủ trương dùng quyền lực chính trị và những Kế họach nhà nước để điều hợp đời sống kinh tế.
 Quan niệm về một nền Kinh tế Tự do và Thị trường đã thiết lập từ những tác giả Cổ điển Anh (Auteurs classiques Anglais) như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL. Theo những tác giả này, thì Nhà Nước không được can thiệp vào đời sống kinh tế của tư nhân. Nếu có những vi phạm Luật pháp của Thị trường, thì Nhà Nước làm nhiệm vụ của một Cảnh sát để bảo vệ Luật mà thôi. Quan niệm chính thống này về đời sống Kinh tế, với trào lưu ý tưởng xã hội, đã có chút thay đổi bởi những Kinh tế gia Tân-Cổ điển (Néo-Classiques), nghĩa là quyền can thiệp hạn hữu và tùy trường hợp cấp bách của Nhà Nước được cho phép. Nhưng khi Nhà Nước can thiệp, thì không được với tư cách quyền lực chính trị, mà chỉ với tư cách như một Diễn viên (Acteur) cũng như những Diễn viên khác qua lực CUNG—CẦU kinh tế của Thị trường. Tỉ dụ trong trường có biến động của Thị trường Tài chánh hay Thị trường Tiền tệ,  Ngân Hàng Quốc gia có thể can thiệp vào bằng cách điều hợp Khối Tiền lưu hành bằng luật CUNG—CẦU cho những Thị trường ấy. Biện pháp OPEN MARKET mà Mỹ đã xử dụng là một tỉ dụ về việc can thiệp hữu hạn và cấp bách của Quyền lực Tiền tệ (Autorité Monétaire) vào Thị trường tự do tư nhân. Theo quan niệm THỊ TRƯỜNG của nền Kinh tế Tự do, thì tuyệt nhiên Nhà Nước không được xử dụng quyền lực chính trị để can thiệp và áp đảo trực tiếp vào THỊ TRƯỜNG bởi vì sự can thiệp và áp đảo này là sự khống chế TỰ DO và DÂN CHỦ đang được thể hiện thực thụ ở Thị trường.
 Ngược lại, khi Cộng sản thiết lập chế độ của họ, thì quan niệm Thị trường đã hòan tòan bị phế bỏ. Nhà Nước, không phải trong ý niệm can thiệp, mà đã nắm tòan quyền trên đời sống Kinh tế và dùng những Kế họach độc đóan để điều hợp cung cầu theo ý của Nhà Nước. Họ thay thế Thị trường bằng những Điểm Phân Phối, gọi là Hợp Tác Xã Nhà Nước. Cái Điều 4 của Hiến Pháp cho phép Đảng Cộng sản thiết lập hay tái lập hệ thống Kinh tế Kế họach Tập trung và quyền điều hành trực tiếp đời sống Kinh tế của tư nhân.
 Như vậy, nếu Bộ Chính trị Đảng, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đã đồng lọat tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà vẫn còn giữ chình ình cái Điều 4 trong Hiến Pháp, đó là việc tréo cẳng ngỗng hoặc cố tình lừa đảo.

5. LỢI NHUẬN tối đa
 Người làm việc bác ái thì chuyên chú làm công việc giúp đỡ tha nhân; người làm kinh tế thì mục đích của họ là đạt được LỢI NHUẬN tiền bạc tối đa. Không phải mình làm việc bác ái mà lên mặt khinh chê những người làm Kinh tế nhằm lợi nhuận. Nhưng thử hỏi nếu không làm ra tiền bạc thì lấy đâu mà đi giúp đỡ người khác, làm việc bác ái. Còn tệ hơn nữa, nhiều người khóac chiếc áo bác ái, làm việc xã hội, để che đậy cho những việc cướp bóc, lừa đảo tha nhân thủ lợi vật chất cho cá nhân mình, phạm luật công bằng xã hội.
 Mục đích tối hậu của một Công ty tư doanh là kiếm được lợi nhuận tối đa. Khi đòi Tự trị về tổ chức nội bộ, đòi tự trị về tài chánh, đòi tự do giới thiệu sản phẩm trên thị trường, đòi thực hiện quan niệm đích thực THỊ TRƯỜNG, mà Điều 4 của Hiến Pháp đang là cản trở cho những đòi hỏi chính đáng ấy, những người làm Kinh tế nhằm mục đích tối hậu là tăng hiệu năng tối đa đầu tư của vốn bỏ ra. Hiệu năng này được tượng trưng bằng kết quả là LỢI NHUẬN TỐI ĐA thu vào được.
 Về mục đích thu LỢI NHUẬN tối đa này, Cộng sản và một số Nhóm theo Chủ thuyết Xã hội, nêu ra LỢI NHUẬN xã hội, thường công kích tính cách thiếu nhân đạo, hoặc chỉ chuyên chú đến cá nhân. Lời công kích này dễ quyến dũ một số người tôn giáo hoặc một số thanh niên sống với ngưỡng vọng lý tưởng.
 Những người chủ trương Kinh tế tư bản Tự do và Thị trường trả lời lại những công kích ấy và tuyên bố họ thực tiễn và cũng tha thiết đến vấn đề nhân đạo và tinh thần xã hội giúp đỡ tha nhân.
 Chúng tôi xin kể ra đây hai tỉ dụ.
 Tỉ dụ thứ nhất về sự cần thiết của hiệu năng Kinh tế. Một nhân công phục vụ cho một Công ty tư bản trong vòng 20 năm. Trong hệ thống dây chuyền sản xuất với Kỹ thuật mới, người công nhân ấy không theo kịp nữa và do đó hiệu năng sản xuất của dây chuyền bị sút kém, lợi nhuận vì đó mà giảm xuống. Ban Giám đốc quyết định sa thải nhân công này. Khuynh hướng đặt nặng vấn đề nhân đạo và xã hội công kích rằng việc sa thải này không có lòng nhân đạo và tinh thần xã hội đối với một nhân công đã đóng góp vào lợi nhuận của Công ty trong vòng 20 năm. Khuynh hướng làm Kinh tế theo hiệu năng phản ứng lại và tuyên bố rằng việc sa thải nhân công mang tính cách nhân đạo và xã hội đối với mọi người trong Công ty.  Khuynh hướng này nói rằng nếu không sa thải nhân công này, thì lợi nhuận xuống và đi đến thua lỗ, Công ty sẽ bị phá sản và lúc ấy mọi người bị sa thải chứ không phải chỉ nguyên một nhân công kia. Ai nhân đạo và có tinh thần xã hội hơn ai ? Làm kinh tế vì nhằm sự phát triển kinh tế, còn vấn đề xã hội, bác ái được giải quyết bằng nhiều phương cách.
 Tỉ dụ thứ hai về giải quyết vấn đề chênh lệch xã hội. Những nước theo nền Kinh tế Tự do và Thị trường đã tìm giải quyết vấn đề xã hội bằng việc Tái Phân phối những Thu nhập (Redistribution des Revenus) mà không làm tổn hại đến sức kích thích làm việc theo hiệu năng. Hãy để cho người làm Kinh tế làm việc theo lợi nhuận tối đa. Nhưng dùng hệ thống thuế cấp tiến đối với những Thu nhập cao, xử dụng những thuế thâu được này để hạ giá nhu yếu phẩm và thực hiện những công trình xã hội, giáo dục, nhà thương... cho những người có Thu nhập thấp. Chúng ta thấy tại Hoa kỳ, những người có thu nhập cao bị đánh thuế rất nặng. Những nhu yếu phẩm như đồ ăn, quần áo...thì giá thấp cho đại đa số dân chúng.  Đây là chủ trương xã hội mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường giải quyết bằng Tái Phân phối Thu nhập, trong khi ấy tôn trọng Lợi nhuận tối đa như kích thích cơ bản cho những cố gắng của tư nhân sản xuất.   
Việc làm kinh tế để bảo đảm cho Dạ dầy là một cái quyền mà tất cả mọi chính thể phải tôn trọng đối với cá nhân khi mà chính thể ấy không bảo đảm được cho cái bụng đói của cá nhân. Còn việc nghĩ đến giúp đỡ tha nhân chỉ là một lời khuyên luân lý. Điều 4 của Hiến Pháp cho phép một Đảng thực hiện lời khuyên luân lý, cấm đóan cái quyền căn bản cá nhân làm kinh tế để bảo đảm Dạ dầy của mình. Chế độ Cộng sản giống như cái người vừa nói ở trên: độc quyền khóac cái áo bác ái, vênh vang tự xưng mình làm việc xã hội, để che đậy cho những việc cướp bóc, lừa đảo dân chúng, để thủ lợi vật chất cho từng cá nhân của Đảng, vị phạm chính luật công bằng xã hội. HÃY TÔN TRỌNG LUẬT CÔNG BẰNG ĐỐI VỚI THA NHÂN trước khi muốn làm việc xã hội giúp tha nhân. 
Kết luận: CHẤP NHẬN KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG, THÌ PHẢI BỎ ĐIỀU 4 CỦA HIẾN PHÁP bởi vì cái Điều 4 này cho phép thiết lập hoặc tái thiết lập một thể chế chuyên chính đi ngược lại quyền làm kinh tế của cá nhân để bảo đảm cho cái Dạ dầy của họ. Những đặc tính căn bản của một Công ty tư bản tư doanh vừa trình bầy ở trên cho thấy rằng cái Điều 4 của Hiến Pháp là căn nguyên của tất cả những cản trở việc thực hiện đúng đắn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.



Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐÒI HỎI:
TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ




Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Với bài CÔNG HỮU, TƯ HỮU VÀ HAI CHỦ TRƯƠNG KINH TẾ đăng trong VietTUDAN số 197/13.01.2005, chúng tôi coi đó là bài dẫn nhập cho một loạt bài mà chúng tôi tiếp tục khai triển trong đề mục KINH TẾ, TÀI CHÁNH.
 Bộ Chính Trị của Đảng CSVN, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đồng lọat khẳng định rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường là giải pháp cứu vãn cho tình trạng đói nghèo hiện nay của Dân chúng và là con đường phải theo để phát triển Kinh tế Việt-Nam trong tương lai cho kịp với những nước chung quanh trong vùng.
Nhà Nước và Đảng đã phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong mức độ nào?
Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi hỏi phải có một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ (Environnement Politico-Juridique adequat) đích thực để bảo đảm sự thực hiện đúng đắn. Nếu Đảng và Nhà Nước hứa hẹn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn cố thủ giữ lấy cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cũ của nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Đảng và Nước là những đứa nói láo, làm việc tréo cẳng ngỗng, đem râu ông nọ cắm cằm bà.
 Chúng ta quyết tâm đấu tranh cho bằng được một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà họ đã khằng định. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý chỉ có thể gọi là phù hợp khi mà những điểm sau đây được thực hiện:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

 Bài này bàn về Điểm thứ hai: TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ PHẢI ĐƯỢC TÔN TRỌNG. Dàn bài như sau:
 => Tự do Ngôn luận và Báo chí là quyền tự nhiên;
 => Tự do Ngôn luận và Báo chí là khí giới của những người không có quyền lực;
=> Tự do Ngôn luận và Báo chí là một đòi hỏi thiết cần cho nền Kinh tế Tự do và Thị trường




TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ LÀ QUYỀN TỰ NHIÊN



 Cái tình cảm, suy tư là những gì vô hình, phải nhờ cái thân xác hữu hình mà biểu lộ ra để khi đồng lọai thấy những biểu lộ hữu hình ấy thì biết tình cảm, suy tư nơi người khác như thế nào. Con cá khi mừng vui cũng biết thóat ra mõm những âm thanh ríu rít. Con chim đực khi muốn cua con chim cái, cũng biết hót lên những âm thanh để con chim cái biết. Con người khi bực tức cũng biết nghiến răng hậm hực, nắm tay dậm chân hay la thét lên. Khi nhìn người khác mà lòng tỏ ra khinh thường, thì mắt nhìn người đối diện từ trên xuống dưới. Còn khi mắt nhìn từ dưới lên trên, thì lòng cảm thấy như ngưỡng mộ người đối diện. Ai cũng biết rằng người ta tỏ tình bằng đôi mắt: nhìn qua đôi mắt để biết yêu hay không.
 Cái quyền dùng thân xác để biểu lộ tình cảm hay suy tư là cái quyền tự nhiên của lòai vật cũng như của con người. Cấm đóan những biểu lộ ấy là muốn biến sinh vật trở thành những cái máy vô tri vô giác. Viết đến đây, tôi tự nhiên nhớ lại những màn diễn sân khấu của chế độ độc tài Cộng sản. Để diễn tả ý chí cách mạng, những vũ nữ từ hậu trường xếp hàng một kéo ra sân khấu sau lá cờ máu, nắm tay giơ lên, mắt nhìn cờ máu, chạy từ phía này sang phía kia của sân khấu. Từ Tây sang Đông, các nước Cộng sản làm rập theo một khuôn mẫu ấy.  Tôi có cảm tưởng những nghệ sĩ không được biểu lộ tình cảm mình, mà phải làm theo đúng cách thế biểu lộ mà Đảng muốn. Họ trở thành những con rô-bô được vặn dây cót, múa may theo chương trình mà Đảng đã đặt sẵn trong những con rô-bô này. Người không còn tự do là người nữa.
 Cái quyền biểu lộ (Droit d’expression) là cái quyền tự nhiên gắn liền với mọi sinh vật, trong đó có con người.
 Nơi con người, tình cảm, nhất là lý trí được phát triển không biên giới. Con người lại có khả năng xử dụng phong phú tiếng nói để biểu lộ tình cảm và cái tư duy vô biên giới của mình. Đây là cái quyền NGÔN LUẬN của con người. Không ai có thể cấm đóan những tình cảm, những suy tư vô hình của người khác. Không ai có thể lấy đi khỏi người khác tính cách Tự do của Tình cảm và của Suy tư. Tình cảm và Suy tư phải được bộc lộ ra, phải được NÓI RA. Cái quyền TỰ DO NGÔN LUẬN (Nói Ra) gắn liền với cái quyền TỰ DO RUNG ĐỘNG TÌNH CẢM và TỰ DO SUY TƯ. Không cho quyền Tự do Ngôn luận là đi ngược với bản tính tự nhiên biểu lộ của con người. Những người muốn cấm cái quyền Ngôn luận này  là không những muốn biến đồng lọai thành những con vật, mà muốn biến người ta thành những đồ vật (máy) vô tri vô giác. Yêu nhau cũng chỉ là hai cái máy thủ thỉ theo dây cót mà Đảng vặn lên; suy nghĩ cũng phải theo những người ’’đầu não tư tưởng của Đảng’’. Thực là một chính sách độc tài vô nhân đạo.
 Khi mà cái Tình cảm được tự do, Suy tư cá nhân được tự do, nhưng nếu cấm đóan việc nói ra, con người cảm thấy cực kỳ bực tức và đau đớn. Một đứa trẻ chưa biết nói, khi thấy ai nhìn mình với bộ mặt dữ tợn, nó cũng cảm thấy sự ghét thương, nhưng chưa biết nói, nên nó dùng tiếng khóc để biểu lộ một cách tự nhiên từ bản năng. Người Cộng sản muốn cấm tiếng khóc của đứa trẻ con này hay sao ? Khi người ta thấy kẻ cướp đến nhà, dùng bạo lực khủng bố, đàn áp để lấy của cải, người ta nhìn rõ sự bất công, muốn phát biểu ra, Cộng sản cấm người này không được nói ra hay sao ? Khi người ta có chứng cớ những đảng viên Cộng sản tham nhũng, Đảng Cộng sản không cho phép người ta nói ra việc tham nhũng ấy hay sao ? Tôi đọc bài của Mục sư Kiều Tuấn Nam viết rằng Mục sư Giáo Hội trưởng Phạm Xuân Thiều của Hội Thánh Tin Lành Miền Nam đã uất ức mà chết sau chuyến đi của Phái đòan Tôn giáo sang Hoa kỳ giải’’lao’’ theo kiểu Lê Quang Vịnh. Trong chuyến đi giải lao này, Lê Quang Vịnh đã bắt ép Mục sư Thiều đọc bài diễn văn trái với tình cảm và suy tư của mình, nên Mục sư cảm thấy người uất ức mà không’’Ngôn luận’’ được, và vì vậy đã đứng tim mà chết. Việc cấm đóan tự do ngôn luận không phải là do tôi bịa đặt ra để nói xấu Cộng sản, nhưng là một thực tế mà người Việt Nam nào cũng đã phải sống.
 Tôi không hiểu Cộng sản là một giống gì mà chúng dám cấm TỰ DO BIỂU LỘ, cái quyền tự nhiên gắn liền với mọi sinh vật, và dám cấm TỰ DO NGÔN LUẬN, cái quyền tự nhiên gắn liền với Tự do Tình cảm và Tự do Suy tư của con người.
 Tiến thêm một nấc nữa, con người có khả năng sáng chế ra chữ viết. Con người muốn viết biểu lộ những tình cảm và suy tư của mình để thông đạt đến người khác hoặc để lưu trữ trong thời gian cái nội tâm của mình cho những người đến sau. Báo chí viết xử dụng cái phát minh cao qúy này của con người để truyền thông những tình cảm và tư duy. Tiếng nói (Ngôn luận) hay Chữ viết (Báo chí) đều là quyền tự nhiên gắn liền với quyền tự do Biểu lộ trên căn bản quyền Tự do rung động Tình cảm và quyền Tự do Suy tư vô biên giới.
 Cấm những quyền Tự do Ngôn luận và quyền Tự do Báo chí là phản lại tự nhiên, đi ngược với bản tính Sinh vật, bản tính Con người và phản lại Tiến bộ của Trí tuệ.
 Cộng sản thường viện cớ những kẻ’’lạm dụng’’ Tự do Ngôn luận và Tự do Báo chí để cấm đóan Ngôn luận và Báo chí. Làm như vậy là không thành thực với chính lương tâm của mình. Xin nói cho đúng với sự thực: NGƯỜI CỘNG SẢN CHỈ MUỐN MỌI NGƯỜI CA TỤNG MÌNH hoặc TỐI THIỂU ĐỪNG XỈ VẢ MÌNH VÌ BIẾT MÌNH LÀM BẬY ĐÁNG BỊ XỈ VẢ, nên đã cấm Tự do Ngôn luận và Tự do Báo chí. Nếu thực tình có ai’’lạm dụng’’ những quyền Tự do ấy, thì đem ra Luật pháp mà xử và bắt tội, chứ không vì sự’’lạm dụng’’nếu có này của một ít người, mà cấm đóan luôn cả hai quyền Tự do Ngôn luận và Báo chí là những quyền tự nhiên của con người.




TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ LÀ
KHÍ GIỚI CỦA NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CÓ QUYỀN LỰC
 


Dường như một con chó thông minh, khi gặp những người nào ghiền ăn món cầy tơ, thì nó sủa như xỉ vả. Nhiều tác giả những chuyện phim cho thấy rằng có những con chó khi gặp người có bụng bất lương, chúng linh cảm và tỏ ra thái độ gầm gừ hay sủa thành tiếng. Việt-Nam mình thường nói đến chó hùa, đó là hiện tượng dùng số đông để phản ứng.
 Trên kia, chúng tôi đã lấy tỉ dụ một đứa trẻ, dù chưa biết nói, nhưng thấy ai nhìn nó với bộ mặt dữ tợn, nó òa lên khóc. Trẻ con, khi một đứa khóc, rất dễ kéo theo những tiếng khóc của đứa khác.Có thể đây cũng là bản năng của những kẻ yếu, phải hợp sức để phản ứng.
 Một người dân quê bị mất đất đai một cách bất công do những kẻ có quyền hành độc đóan ăn cướp, cũng cố gắng bầy tỏ bằng lá đơn than vãn, rủ những người cùng cảnh ngộ để cùng làm đơn cho có sức mạnh, đến nói với báo chí để may ra họ có tạo thêm được chút dư luận mà đấu tranh. Tỉ dụ cụ thể là Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng với khỏang đất của Nhà Chung, rồi Đan Viện Thiên An với những mẫu đất tư bị lấy, đã lên tiếng phản đối, đã đưa ra công luận ở nước ngòai để tìm một sự trợ lực.
 Những kẻ yếu, từ con vật như con chó, cho đến đứa trẻ con, rồi người nhà quê, đến những vị trong tôn giáo không có quyền điều hành việc Nước, cũng đều có phản ứng trước bất công là phải nói lên, phải kêu những người cùng cảnh ngộ nói lên cho mạnh, phải đưa ra công luận như là một phương tiện, khí giới tranh đấu cho hòan cảnh không có quyền của mình.
 Khi những người điều hành việc Nước, đã dành trọn độc quyền cho mình bởi Điều 4 của Hiến Pháp, làm những điều bất công, khủng bố để tham nhũng vô liêm xỉ đối với Dân chúng là những người không có quyền, thì những người này tất nhiên phải nói lên (Ngôn luận), phải nhờ đến Báo chí để mong tìm được khí giới trợ lực cho việc đấu tranh chống bất công. Người dân không có quân đội, không được tự động tổ chức đòan thể tạo sức mạnh hợp quần. Xin chú thích rằng cái tiếng ’’quân đội nhân dân’’ là cái tiếng nói láo. Đó là quân đội của quyền lực Đảng. Cộng sản đã cướp đất, khủng bố để tham nhũng kẻ không có quyền lực, mà còn cấm luôn cái Ngôn Luận  và Tự do Báo chí, đó là hành động tước đọat hết mọi quyền phản ứng của người yếu trước những bất công do chính mình làm. Chúng tôi không nói điêu ngoa để vu khống cho Cộng sản. Thực vậy, những miếng đất tư đã bị chiếm đọat, không phải vì quyền lợi của Đất Nước, mà là vì quyền lợi đích thực cá nhân của những kẻ có quyền lực trong Đảng Cộng sản. Chúng tước đọat của tư, nói là cho ích lợi công để che đậy trắng trợn, nhưng thực tình là để bán quyền xử dụng cho những Công ty nước ngòai, lấy tiền chia chác giữa những cá nhân có quyền của Đảng. Khi Công ty nước ngòai muốn xây khu ăn chơi, thì họ tước đọat đất tư của Nhà Chung, của Đan Viện Thiên An..., dưới danh hiệu cho quyền lợi chung của Đất Nước, nhưng thực ra là quyền lợi của những cá nhân có quyền của Đảng và cho Công ty nước ngòai muốn tổ chức đĩ điếm, trụy lạc, ăn chơi ở Việt-Nam để thu tiền. Hãy nhìn kỹ Công ty nào, Liên doanh nào là chủ những Dự án ấy thì hiểu liền cái lý do dùng quyền ăn cướp đất đai của tư nhân. Chắc chắc chúng tôi cũng không bịa đặt ra chuyện Tham nhũng để đổ oan cho Cộng sản bởi vì chính Đại Hội Đảng kỳ IX đã đồng thanh nói lên, chính Bí thư Nông Đức Mạnh mới đây cũng đã nói trước Quốc hội về sự lan tràn của tệ đoan này của Đảng.
 Cấm đóan quyền Tự do Ngôn luận của những kẻ yếu nạn nhân của bất công, cấm đóan Tự do Báo chí là khí giới của những nạn nhân này, đó là những cấm đóan vô nhân đạo. Dùng quyền độc đóan cướp đọat tài sản của kẻ yếu, đàn áp người yếu một cách dập dụi, còn cấm đóan nạn nhân không được than vãn gì cả, đó là hành động bất nhân của những kẻ vô lương tâm, không phải là con người nữa.
 Tự do NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ là khí giới tối thiểu của kẻ yếu, khi bị cường quyền bóc lột, đè nén. Cấm Tự do Ngôn luận, Tự do Báo chí cũng như cấm con chó thấy kẻ dữ đến ăn trộm mà không được sủa,  cấm đứa trẻ con thấy bộ mặt ngáo ộp nhìn nó mà không được khóc, cấm bà nhà quê mất mấy sào ruộng để sống trót tuổi già mà không được nói, cấm những kẻ không quyền hành khi bị khủng bố tước đọat mà không được than nhất là còn phải mở miệng ca tụng chế độ tốt đẹp đã làm ơn làm phước. Cấm như vậy là vô nhân đạo lắm, là đe tiện lắm Cộng sản ơi!



   
TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ LÀ MỘT ĐÒI HỎI THIẾT CẦN
CHO NỀN KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG




 Trên kia, chúng tôi nói về tính cách tự nhiên của sự biểu lộ tình cảm và tư duy, nói đến Tự do Ngôn luận và Báo chí như một khí giới tối thiểu của những người không có quyền. Đối với hai quyền này, người ta có thể yên lặng và hy sinh được vì nhu cầu sốngcủa thân xác. Tôi muốn nói đến cái quyền quan trọng nhất, tức là cái quyền bảo vệ an tòan cho Dạ dầy. Thực vậy, đồng tiền liền với khúc ruột, người ta có thể hy sinh tinh cảm, có thể cắn răng từ chối quyền bộc lộ những tư duy, nhưng khi động chạm đến nồi cơm, đến sự mất những phương tiện vật chất để sống, đến sự an tòan tương lai của đời sống thân xác, thì việc bảo vệ nồi cơm của mỗi người trở thành một đòi hỏi quan trọng nhất.
 Hãy nhìn tỉ dụ sau đây. Cặp trai tài gái sắc thương yêu nhau. Người con trai dám quả quyết với người yêu rằng nếu không lấy nhau được thì chàng sẵn sàng chết. Nàng cũng thề thốt với chàng rằng nếu bị ép buộc cản trở mà nàng không lấy được chàng, thì nàng sẵn sàng uống thuốc chuột tự tử. Tình cảm đẹp nhưng mộng mơ của hai trái tim vàng đáng qúy thay, cha mẹ đôi bên dù có thù nhau giữa hai gia đình như Romeo—Julietta cũng phải kính trọng tình cảm này để chàng và nàng lấy nhau. Tuy vậy, ngay lúc cưới nhau, chàng và nàng quên sự cao độ của tình cảm, đã cầm bút ký vào bản Hợp đồng sống chung, nhưng tài sản riêng lại tách mỗi người một giỏ. Cái nồi cơm, sự đề phòng sự an tòan cho Dạ dầy của mỗi cá nhân cô cậu thắng cả tình cảm đẹp như mộng.
 Trong cái nền Kinh tế Tự do và Thị trường này, việc kiếm phương tiện bảo đảm cho Dạ dầy của mỗi cá nhân, việc đề phòng an tòan cho những phương tiện đã tư hữu được là điều tối quan trọng. Người ta đánh nhau, chém giết nhau để dành dựt những phương tiện bảo đảm sự sống còn của thể xác.Nhấn mạnh về sự bảo tòan tư hữu, phương tiện bảo đảm cho sự sống còn của thân xác, chúng tôi muốn trình bầy những điểm sau đây để cho thấy rằng Tự do Ngôn luận và Tự do Báo chí là những phương tiện tối quan trọng để đấu tranh nhằm bảo vệ nồi cơm, nhằm thu lại bát cơm đã bị cướp đọat.



1. Luật Pháp rõ rệt và Tôn trọng Luật Pháp  
 Ngày 26.07.2002 vừa qua, trong cuộc Phỏng vấn của Bà Ký giả Kiều Mỹ Duyên, Oâng Trần Thiện đặt một câu hỏi mà tôi không đủ thời giờ để trả lời dài và căn kẽ. Oâng nói rằng ông biết một Tướng Cộng sản tên là Tấn. Tướng này đã tuyên bố rằng tụi tư bản giống như con rắn, lúc này chúng rút đầu vào, chưa bỏ vốn ra làm ăn. Tướng Cộng sản đe dọa rằng chúng tôi đợi tư bản thò cái đầu ra là chúng tôi chém đứt.
 Lời đe dọa hung hăng của Tướng Tấn thật là ngu dốt. Tốt hơn hết là đừng hung hăng tuyên bố chém đầu tư bản, yên lặng để chúng thò đầu ra, rồi chém mà không nói gì. Tụi tư bản cũng đã dư biết là Cộng sản ăn cướp, bây giờ nghe Tướng Tấn tuyên bố hung hăng, chúng không dại gì mà thò đầu ra để Cộng sản chém đâu. Một trăm người bán, một vạn người mua. Tư bản không đầu tư vào Việt-Nam vì không có an tòan cho vốn, thì chúng đi làm ăn ở nước khác như Phi-luật-tân, Thái-lan, Mã-lai...Quả thực đúng như vậy, cái thực trạng hiện nay là Tư bản đang rút vốn ra khỏi Việt-Nam. Không những chúng không thò đầu ra nữa, mà chúng còn co giò chạy đi luôn để bảo đảm an tòan của vốn. Điều thiệt hại là Dân chúng Việt-Nam phải chịu hậu quả của cái độc quyền hung hăng của một người như Tướng Tấn.
 Tôi muốn trả lời thêm rằng Tư bản chúng cũng khôn lắm. Có người nào còn bỏ vốn ra, nghĩa là còn thò đầu ra, thì nó còn ngo ngoe cái lưỡi rắn mà Tướng Tấn không chém nổi. Tôi kể ra đây câu chuyện về Phương án cho vay vốn Hỗ trợ (Sustained Loan) mà chính tôi cùng một Tập đòan Tài chánh Tây phương đề nghị. Với Sustained Loan, Tập đòan Tài chánh đòi Hợp đồng Kiểm sóat chi tiêu cho Dự án và Kiểm sóat việc thực hiện đúng đắn Công trình xây cất của Dự án. Tôi được chỉ định bởi Tập đòan Tài chánh để kiểm sóat chi tiêu. Phía Việt-Nam hí hửng nói với nhau rằng cứ ký đại Hợp đồng Kiểm sóat bởi vì trong đầu óc của họ nghĩ rằng làm thế nào kiểm sóat được. Thực vậy, họ định lừa đảo để ăn qụyt. Trong đầu họ nghĩ rằng khi lấy tiền rồi, thì họ xé bỏ Hợp đồng, nghĩ rằng khi Oâng Liên về kiểm sóat thì họ thủ tiêu thẩy xác trong rừng là yên chuyện. Chẳng nước nào dám mang quân đội vào can thiệp để lấy xác Oâng Liên về chôn làm gì. Người Đại diện Tài chánh của tôi tại Hà Nội nghe được câu chuyện này, đã thương tình tôi, nói rằng tôi phải cẩn thận về hậu quả của Hợp đồng Kiểm sóat Chi tiêu. Tôi hiểu liền và nhờ người Đại diện nóirằng tôi không ngại ngùng gì và tôi đã dự phòng trước để họ chém tôi không nổi. Tôi cắt nghĩa như sau: biện pháp kiểm sóat tài chánh của tôi là không bao giờ tôi giải ngân một trật về một Ngân Hàng Việt-Nam. Nếu tôi giải ngân như vậy, thì chính Ngân Hàng còn về hùa với phía Chủ Dự án Việt-Nam mà ăn cướp. Tôi cho họ biết rằng tôi sẽ mở một Trương mục ở một Ngân Hàng nước ngòai nằm tại Tây phương. Trương mục này mang hai chữ ký (Joint Signatories), một của Chủ Dự án và một là của chính tôi, người kiểm sóat tài chánh. Khi nào tôi kiểm sóat xong và chấp nhận cho những khỏan chi tiêu, phải có chữ ký của tôi cùng với chữ ký của Chủ Dự án, thì Ngân Hàng nước ngòai mới cho tiền ra khỏi Trương mục. Tôi biết trước là họ chẳng thương tiếc gì tôi và sẵn sàng xé Hợp đồng, giết tôi thẩy vào rừng, nhưng tôi tin chắc rằng họ thương tiếc đồng tiền nằm trong Trương mục. Nếu họ đe dọa tôi, thì tôi không ký, tiền không ra nổi và Tập đòan Tài chánh đã thủ thế bắt đền thiệt hại, tịch thu công trình để bán lại cho những Công ty nước ngòai đang muốn vào Việt-Nam làm ăn. Tôi thò đầu ra, còn ngo ngoe cái lưỡi mà Tướng Tấn không dám chém vì khi chém là Oâng ấy chém chính Oâng ta.
 Câu chuyện trên đây muốn nói rằng phía Cộng sản hiện nay chưa có Luật Pháp sáng sủa để bảo đảm an tòan của vốn, của nồi cơm thiết thân của Tư bản, nhất nữa là CỘNG SẢN NẮM TÒAN QUYỀN LÀM LUẬT HAY PHẾ LUẬT VÀ KHÔNG CÓ TINH THẦN TÔN TRỌNG LUẬT PHÁP. Thực vậy, có Luật là một chuyện, nhưng cái Tinh thần Tôn trọng Luật Pháp mới là điều quan trọng hơn, nhất nữa đối với những kẻ nắm trọn mọi quyền trong tay mình. Vì vậy Luật Pháp bảo vệ nồi cơm cá nhân trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường phải rõ rệt và phải có tinh thần tôn trọng Luật pháp.



2. Biện pháp xử dụng Tự do Ngôn Luận và Tự do Báo chí đi trước Luật Pháp.
 Trong trên 10 năm nay, làm thực hành ở trong Thị trường Tài chánh Quốc tế, mặc dầu với Luật Pháp rất chi tiết và rõ rệt, với tinh thần chung áp dụng Luật pháp nghiêm minh của Tây phương, nhưng vẫn có những ’’Financial barbaries’’ (Những man rợ tài chánh) xẩy ra trên Thị trường Tài chánh Quốc tế này. Tôi đã có một lần nói về chính những vụ man rợ ấy trên Đài Truyên Hình Thụy sĩ, một xứ sở nổi tiếng về tôn trọng Luật pháp nghiêm minh, nhất là về Ngân Hàng và Tài chánh. Chuyện man rợ xẩy ra chính tại Zurich, nước Thụy sĩ. Tôi kết luận rằng trước khi đưa những man rợ ra Tòa án cho Luật sư hai bên cãi vã, trích dẫn những chi tiết dài thoòng về Luật pháp mà thân chủ đã mất tiền lại phải tốn kém thêm tiền cho Luật sư, thì những nhà Tài chánh thực tiễn xử dụng đến Ngôn Luận và Báo chí để lấy để tấn công trực tiếp cái quyền lợi tài chánh của chính kẻ gây ra ’’Financial barbaries’’. Giải quyết thực tiễn như vậy đỡ tốn thêm tiền và mau chóng hơn những Phiên tòa mà Luật sư hai bên trích dẫn dài lòng thòng hết Điều khỏan này, Mục 1, 2, 3,..., Tiểu mục a,b, c,...kia kéo dài những tháng hoặc năm trường tốn kém.
 Khi đụng chạm đến tiền bạc, nghĩa là Kinh tế, thì chữ TÍN nhỏ lắm. Làm Kinh tế và đụng chạm tới tiền bạc, thì hãy bắt đầu bằng chữ không tín nhiệm. Nếu muốn tin, thì để kinh nghiệm các thương vụ trước đã. Ngay cả khi đã tin rồi, thì cũng phải lo liệu đề phòng sau 3 lần tin, lần thứ bốn bị lừa và bị lừa lớn để sạt nghiệp ngóc đầu lên không nổi. Thử hỏi đôi bạn trẻ yêu nhau và tin tưởng nhau hết mực để cưới nhau như trên đã nói, nhưng khi đụng đến tiền bạc, thì quên lời hứa tin tưởng mà ký Hợp đồng mỗi bên lo tiền bạc của riêng mình.
 Như trên tôi vừa nói, những nhà Tài chánh thực tiễn muốn giải quyết bằng Tự do Ngôn Luận và Công luận đụng chạm trực tiếp đến quyền lợi vật chất cá nhân để giải quyết những’’Financial barbaries’’ trước khi đưa ra Tòa cho Luật Pháp trích dẫn Luật lòng thòng tốn kém. Tôi có hai kinh nghiệm và áp dụng hai giải pháp.
 Khi người vay vốn cam đoan sự đứng đắn của mình, những Tập đòan Tài chánh không tin vào lời cam đoan bằng Hợp đồng, bởi vì người ta có thể xé Hợp đồng. Nhưng những Tập đòan Tài chánh biết rằng không ai xé đồng tiền, vì vậy họ thường bắt người xin vay vốn đóng Performance Bond (Tiền cọc thi hành đứng đắn). Tôi có hai Khách hàng đóng Tiền cọc cho một Tập đòan Tài chánh. Quá hạn Hợp Đồng mà phía Tài chánh vì lý do nào đó, đã giữ tiền cọc hơn sáu tháng sau. Tôi đề nghị với hai Khách hàng là để tôi viết thông báo việc cố chấp này của Tập đòan Tài chánh cho những đồng nghiệp của chính Tập đòan Tài chánh ngoan cố này và công bố nội vụ lên Báo chí.  Làm như vậy, tôi muốn dùng áp lực của những đồng nghiệp của Tập đòan và Công luận để ép buộc Tập đòan Tài chánh phải hòan lại Performance Bond. Một khách hàng của tôi muốn làm ăn tiêu lòn, đã không muốn tôi xử dụng áp lực bạn hữu và công luận, nên nói rằng để họ tự trách nhiệm và dùng Luật Pháp sau này. Khách hàng thứ hai thì đồng ý cho tôi xử dụng biện pháp thực tiễn mà không đưa ra Luật Pháp. Kết quả là Khách hàng thứ hai này đã nhận lại đủ số tiền đã đóng cọc USD.150'000.-, vì Tập đòan Tài chánh sợ mất danh tiếng và mất liên hệ làm ăn. Họ sợ mất nồi cơm to hơn của chính họ, nên phải hòan tiền lại. Còn Khách hàng thứ nhất, sau 5 tháng nịnh bợ tiêu lòn với Tập đòan Tài chánh, cuối cùng đành phải đưa ra Luật Pháp, nhưng cho đến nay vẫn còn lòng thòng chưa lấy lại được tiền đã đóng USD.100'000.- Thêm vào đó phải trả tốn kém cho Luật sư.
 Những câu chuyện cụ thể, thực tiễn kể ra trên đây cho chúng ta thấy :
=> Trong việc làm ăn Kinh tế cá nhân, người ta  nhìn sự mất còn của nồi cơm lớn hơn những giá trị luân lý như tin tưởng, thành thật, yêu thương, bác ái, tinh thần xã hội vân vân;
=> Trong nền Kinh tế tư bản, người bỏ vốn ra phải nghĩ những biện pháp thực tiễn để bảo đảm sự an tòan của đồng vốn đã bỏ ra;
=> Những biện pháp an tòan này đánh thẳng vào cái quyền lợi của kẻ làm bậy trước khi xử dụng Luật Pháp bởi vì những kẻ làm bậy này nghĩ kế dùng tiền mua Luật sư để hõan binh chi kế, đòi hỏi trừ hết tiền này đến tiền kia;
=> Những biện pháp thực tiện đánh thẳng vào quyền lợi của kẻ làm bậy đó là phải có Tự do Ngôn Luận và Tự do Báo chí. Những phương tiện này phải có trước những điều khỏan tỉ mỉ của Luật Pháp.
 Trong thể chế chuyên chính độc đảng cho phép bởi Điều 4 của Hiến Pháp hiện nay ở Việt Nam, cộng thêm Luật Pháp chưa được phân minh rõ rệt bảo đảm nồi cơm, mà Luật Pháp ấy cũng do một người làm ra, một người có quyền phế đi và cũng chính người đó ngồi Tòa xử Luật, thì phương tiện thực tiễn Tự do Ngôn luận và Tự do Báo chí trở thành tối quan hệ để bảo đảm phần nào nồi cơm trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Phải cho QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN và QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ làm phương tiện phanh phui những kẻ làm bậy, đánh trực tiếp vào nồi cơm của những kẻ làm bậy này. Tham nhũng càng tăng, thì quyền Tự do Ngôn Luận và quyền Tự do Báo chí càng cần thiết.

3. Tự do Ngôn Luận và Tự do Báo chí là những cái búa tạ đập Tham nhũng
 Oâng Nông Đức Mạnh kêu gọi tinh thần cán bộ, tinh thần Cách mạng của Đảng để chống lại Tham nhũng, Lãng phí, nghĩa là lấy những giá trị luân lý, xã hội ra để khuyên kẻ cướp nhả nồi cơm đã biển thủ được. Lời kêu gọi của Oâng giống như chuyện tiếu lâm khi lấy những giá trị tinh thần để diệt kẻ cướp quen nghề chà đạp lên tinh thần.
 Tôi nhớ lại thời Oâng Mitterand, Đảng Xã hội Pháp, lên làm Tổng thống Pháp khóa đầu, Dân chúng Pháp lo sợ việc quốc hữu hóa một số ngành nghiệp, nhất là Ngân Hàng, đã mang tiền lẩn qua Thụy sĩ và Luxembourg để gửi. Oâng lên tiếng kêu gọi tinh thần Dân Pháp hãy thắt lưng buộc bụng, hãy nghĩ đến nước Pháp mà du lịch trong quốc nội và khi ra nước ngòai chỉ được mang đi 2'000 quan Pháp chi tiêu. Oâng càng khuyên bao nhiêu, thì tiền vốn của Pháp càng tán lọan chạy ra nước ngòai, nhất nữa người ta thấy chính con ruột của Oâng có những nghi ngờ mở Trương mục ở Geneve để giữ tiền bên Thụy sĩ. Thời ấy, khi nói với bạn hữu Thụy sĩ, tôi thường cười rằng:’’Việt Nam có cảnh ’’boat people’’ phải bỏ hết cơ nghiệp liều thân ra đi vì Cộng sản; ngày nay tại nước Pháp cũng có cảnh ’’boat money’’ liều mình vượt hồ Leman từ Thonon (Pháp) sang Lausanne (Thụy sĩ) vì Xã hội chủ nghĩa’’. Phải có biện pháp thực tiễn, chứ không phải lời khuyên tinh thần và luân lý khi đụng chạm tới nồi cơm cá nhân.
 Tại Việt-Nam cũng vậy, tình trạng Tham nhũng còn bi thảm hơn. Làm sao những lời khuyên tinh thần, luân lý mà diệt trừ được tham nhũng. Cái tiếu lâm là ở chỗ đó.
 Đối với những thành phần tham nhũng của Đảng CSVN, tôi cũng như một số người còn có lương tâm của Đảng thường gọi những tên tham nhũng này là bầy chó đói. Thực vậy, trong những năm trường chủ chó để bụng chúng đói vì chính chủ cũng đói nữa. Khi Đổi Mới, Mở Cửa, cho Tư bản vào làm ăn. Những con chó đói thấy nào cá, nào thịt, nào xương trắng phau bầy ra trước mặt. Đàn chó đói nhào vô ăn, chen lấn nhau mà ăn, còn hầm hè gừ gừ xem con này ăn nhiều, con kia ăn ít. Khi những người tư bản bầy cá bầy thịt ra, muốn mắng chử mấy con chó đói, định xua đuổi chúng đi, thì chính người chủ của đàn chó đói lại cấm đóan người kia không được mắng chửi chó, thậm chí không được xì xào với nhau xem con chó này ăn nhiều, con chó kia ăn ít. Nghĩa là đàn chó đói nhào vô ăn cá thịt của người ta, chủ chó còn bao che cho chó, còn dùng biện pháp đàn áp người có cá và thịt.
 Oâng Nguyễn Khoa Điềm tả cảnh tham nhũng:’’... kể từ khi Việt Nam đi theo kinh tế thị trường nhưng đồng thời cũng đẻ ra tham nhũng, lãng phí phơi bày rõ hơn những thiếu sót, bất cập cũng như khả năng và tư cách lãnh đạo của người CSVN.’’ Chẳng có gì khó hiểu, Kinh tế Tư bản và Thị trường có cá và thịt, đàn chó tham nhũng kia đã đói lại còn được bao che, nên nhào vô ăn hồng hộc, đó là lẽ tự nhiên.
 Xin Oâng Nông Đức Mạnh và Đảng Cộng sản đừng lấy những lời khuyên tinh thần để chống tham nhũng nữa. Những lời ấy tiếu lâm lắm. Tôi khuyên Oâng Nông Đức Mạnh và Đảng Cộng sản, nếu thương Dân thực tình, nếu muốn diệt Tham nhũng thực tâm, hãy dùng những biện pháp thực tiễn mà diệt một cách hữu hiệu. Hãy hủy bỏ Điều 4 của Hiến Pháp cho phép những kẻ tham nhũng có quyền độc đóan. Hãy cho TỰ DO NGÔN LUẬN và TỰ DO BÁO CHÍ để Dân cầm hai cái búa tạ ấy mà đập bể đầu đám chó đói.
 Kinh tế Tự do và Thị trường đòi phải có Tự do Ngôn luận và Tự do Báo chí vậy.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế


KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐÒI HỎI:
ĐỐI LẬP CHÍNH TRỊ PHẢI HIỆN DIỆN




Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Với bài CÔNG HỮU, TƯ HỮU VÀ HAI CHỦ TRƯƠNG KINH TẾ đăng trong VietTUDAN số 197/13.01.2005, chúng tôi coi đó là bài dẫn nhập cho một loạt bài mà chúng tôi tiếp tục khai triển trong đề mục KINH TẾ, TÀI CHÁNH.
 Bộ Chính Trị của Đảng CSVN, Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đồng lọat khẳng định rằng nền Kinh tế Tự do và Thị trường là giải pháp cứu vãn cho tình trạng đói nghèo hiện nay của Dân chúng và là con đường phải theo để phát triển Kinh tế Việt-Nam trong tương lai cho kịp với những nước chung quanh trong vùng.
Nhà Nước và Đảng đã phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong mức độ nào?
Nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực đòi hỏi phải có một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ (Environnement Politico-Juridique adequat) đích thực để bảo đảm sự thực hiện đúng đắn. Nếu Đảng và Nhà Nước hứa hẹn một nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn cố thủ giữ lấy cái Môi trường Chính trị—Pháp lý cũ của nền Kinh tế Kế hoạch Tập quyền, thì Đảng và Nước là những đứa nói láo, làm việc tréo cẳng ngỗng, đem râu ông nọ cắm cằm bà.
 Chúng ta quyết tâm đấu tranh cho bằng được một MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ—PHÁP LÝ PHÙ HỢP của nền Kinh tế Tự do và Thị trường mà họ đã khằng định. Cái Môi trường Chính trị—Pháp lý chỉ có thể gọi là phù hợp khi mà những điểm sau đây được thực hiện:
1) Điều 4 của Hiến Pháp dành độc quyền cho Cộng sản phải được xóa đi;
2) Tự do Ngôn luận và Báo chí phải được tôn trọng;
3) Đối lập chính trị phải hiện diện;
4) Quyền Tư hữu phải được Pháp Luật bảo đảm;
5) Tư doanh cũng như quốc doanh có đồng đều những quyền lợi cạnh tranh trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.

 Bài QUAN ĐIỂM này bàn về Điểm thứ ba: ĐỐI LẬP CHÍNH TRỊ PHẢI HIỆN DIỆN. Những số sau sẽ lần lượt bàn tới từng Điểm kế tiếp.
 Những điều sẽ bàn trong bài QUAN ĐIỂM này như sau:
 => Thế nào gọi là đối lập ?
 => Hiểu đối lập chính trị ra sao ?
=> Sự cần thiết của đối lập trong việc quản trị Đất Nước và trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.




THẾ NÀO GỌI LÀ ĐỐI LẬP ?



 Trong phần này, chúng tôi muốn tìm hiểu cái vị trí đích thực của Đối lập, bởi vì có những danh từ dễ gây lầm lẫn như: Phản đối, Chống lại, Phá phách, Chửi bới, Bêu xấu, Công kích vân vân. Chúng tôi muốn kể ra những trường hợp không phải là Đối lập để dễ định phạm vi của Đối lập đứng đắn.



=> Những gì không thể gọi là Đối lập. Xin kể ra những trường hợp cụ thể.
 Tỉ dụ thứ nhất về trường hợp những người chuyên môn nói ngược lại cốt ý nêu cái danh cá nhân của mình. Tôi có một người bạn cùng học tại Đại học bên Thụy sĩ này. Chúng tôi chơi với nhau rất thân vì hai người chế ống điếu cầy (điếu Ba-du-ka) để thỉnh thỏang hút thuốc lào. Chúng tôi đều tham gia đòan thể Sinh viên. Mỗi lần họp Đòan thể mà có anh bạn thuốc lào qúy của tôi, là mỗi lần có những cãi vã, có những ý kiến ngược lại Ban chấp hành. Sau một cuộc họp về tổ chức Tết, tôi hỏi anh bạn rằng tại sao chương trình tổ chức đã nói với anh rồi, mà trong phiên họp anh lại chuyên môn nói ngược lại, rồi phản đối như hận thù khiến cuộc họp kéo dài từng hai tiếng đồng hồ. Anh ta cười vui vẻ và nói:’’Trong cuộc họp, mình phải nói ngược lại để mình nổi tiếng, chứ mình có hằn thù gì đâu!!!’’ Qúy Vị nào đã từng điều hành những Đòan thể ái hữu, thì có khá nhiều kinh nghiệm về những trường hợp này. Việc anh phản đối không có nghĩa là Đối lập gì cả mà chỉ vì anh ta muốn nói để nêu cái tên của anh ta mà thôi.
 Tỉ dụ thứ hai lấy ra từ một số kinh nghiệm thấy được ở  trên Diễn đàn Internet hiện nay. Chúng tôi rất thích thú đọc những bài viết trên Internet của Cộng đồng Việt-Nam Hải ngọai bởi vì đây là dịp để có thể hội nhập với đời sống Cộng đồng Việt-Nam khi mà mỗi người sống ở mỗi nước khác nhau, có dịp nhắc lại những gì của Quê Hương Việt-Nam. Sau một thời gian, tôi thấy có một ít người thích bới lá tìm sâu, chuyên môn tìm cách đả kích, nhất là đối những ai muốn viết đứng đắn để hội nhập với Cộng đồng. Tôi nhận thấy một số Vị có tâm hồn muốn tham dự thực tình với Cộng đồng, sau khi bị bới móc oan uổng, dễ đi đến chỗ rút lui ở ẩn, chứ không muốn đối chọi cho phức tạp nữa. Sau khi đọc một số bài của một số ít người chỉ muốn bới lá tìm sâu này, tôi có cảm tưởng là họ chỉ muốn làm như anh bạn của tôi trên đây. Họ muốn chửi bới, nói ngược lại để nêu cái danh của mình mà thôi, chứ không phải viết xây dựng để rồi ’’hữu xạ tự nhiên hương’’. Đọc kỹ một số bài của số ít người này, thì thấy nội dung viết của họ không chân thực. Một bông Hồng, có mùi hương, được biết đến; nhưng một bãi cứt chó cũng có mùi và người đi đường cũng phải lưu ý tới. Trường hợp chủ ý của một số ít người này khi viết Phản đối, Công kích... không thể gọi là Đối lập được.
 Tỉ dụ thứ ba là sự tranh dành tiếng tăm cho mỗi Đòan thể, mỗi Nhóm...Về điểm này, tôi cũng đã có một số kinh nghiệm. Một số người muốn là Sáng Lập viên của những Phong trào, Đòan thể, Nhóm Đảng...Mà Phong trào càng bao trùm các Phong trào khác càng hay. Từ đó mới xẩy ra việc đấu tranh, thay vì cho mục đích tối hậu là chống Cộng, thì lại đấu tranh hàng ngang để Phong trào của mình thắng Phong trào bạn cùng mục đích chống Cộng. Điều đó có nghĩa rằng trước khi chống Cộng, thì các Phong trào chống nhau chí chóe đã. Phong trào này bắt đầu đối kháng Phong trào kia, thậm chí tìm cách hạ nhục những Phong trào bạn để chỉ còn Phong trào mình làm bá chủ. Hãy nhớ lại tỉ dụ Lịch sử đau lòng mà Nhóm Cộng sản của Oâng Hồ Chí Minh đã độc ác giết các Đảng viên của Việt-Nam Quốc Dân Đảng. Mọi người, mọi Nhóm thời ấy đều có mục đích tối hậu là đánh đuổi thực dân Pháp. Nhưng Oâng Hồ Chí Minh đã đê hèn giết những bạn cùng chống Pháp để làm bá chủ. Hành động này không thể gọi là Đối lập được.



=> Đối lập theo đúng nghĩa
 Tôi thườngnói với bạn hữu rằng nếu bắt đầu bằng bới lá tìm sâu, chỉ trích, thì thế nào cũng đi đến chia rẽ, thanh tóan nhau. Không cần phải lúc nào cũng rêu rao kêu gọi đòan kết, thì đòan kết sẽ tới, mà yên lặng nhìn vào cái tâm của mình và hãy bắt đầu tìm ra một điểm tốt dù nhỏ nhất để cùng thực hiện, thì tự nhiên sẽ quên đi những gì không tốt và sự đòan kết sẽ tới dần dần. Đây là thái độ cần thiết tiên khởi khi nói đến Đối lập.
 Việc Đối lập đích thực giữa hai hay nhiều Nhóm phải giả thiết là các Nhóm ấy cùng nhìn về một đích điểm đi tới. Nếu hai Nhóm, mỗi nhóm đặt mục đích hòan tòan đó6i chọi nhau, thì đó là trường hợp thù địch, chứ không thể nói là Đối lập. Việc Đối lập giữa các Nhóm là ở sự lựa chọn những Phương tiện khác nhau để đi đến Mục đích giống nhau. Chính cái Mục đích phân biệt ra sự Đối lập và sự Thù nghịch. Khi nói đến Lực lượng đối lập, thì điều ấy có nghĩa là hai Lực lượng có thể sống chung, nhưng đấu tranh cho Phương pháp thực hiện riêng của mỗi Nhóm nhằm đi tới Mục đích giống nhau. Sự Đối lập có thể đi đến Đối thọai.
 Khi những Lực lượng đặt Mục đích hòan tòan đối chọi nhau, thì đó là trường hợp Thù địch, chứ không phải Đối lập. Với trường hợp Thù địch, thì các Lực lượng không thể đi đến Đối thọai, mà chỉ đi đến ’’Đối thọi’’ tiêu diệt nhau.
 Trong Biện chứng pháp ’’Đề Phản Đề Hợp Đề’’ (Thèse Anti-ThèseSynthèse), điều ấy có nghĩa là phải đặt ra cùng một Vấn Đề, rồi đưa ra những Phản Đề mà kết luận Hợp Đề phải trong phạm vi cái Vấn Đề đã đặt ra. Phản Đề ở đây là Đối lập. Còn nếu đầu tiên đặt ra hai Vấn Đề hòan tòan khác nhau, thì không thể có Phản Đề, cũng chẳng đi tới Hợp Đề. Đó là trường hợp không thể nói là Đối lập, mà là cảnh Oâng nói gà, Bà nói vịt. Nếu hai cái Đề lại hòan tòan đối chọi sống chết ngay từ lúc đầu, thì không những không có Phản Đề và Hợp Đề, mà Oâng thì tìm cách đánh tiết canh vịt của Bà, còn Bà thì nhè lúc Oâng đi vắng mà bắt con gà của Oâng để làm món cháo gà xé phay. Đó không phải là Đối lập, mà là Thù địch.
 Tóm lại, chúng tôi muốn hiểu Đối lập đích thực ở ý nghĩa rằng những Lực lượng khác nhau có cùng một Mục đích, nhưng Phương pháp đi tới mục đích không giống nhau nhưng có thể Đối thọai. Trong ý nghĩa Đối lập, có ý nghĩa cạnh tranh Đường lối dẫn đến mục đích.




HIỂU ĐỐI LẬP CHÍNH TRỊ RA SAO ?



 Hai tiếng Đối lập đã được cắt nghĩa ở trên. Chính trị ? Hai tiếng ấy gây rất nhiều những ý nghĩ, những phản ứng ? Một số người ghét bỏ hai tiếng ấy đến nỗi nghe ai nói đến Chính trị là tránh xa hoặc khinh chê ra mặt. Một số Lãnh đạo Tôn giáo thì lấy câu ’’Tôn giáo không làm Chính trị’’ để làm bình phong che dấu sự nhát đảm của mình trước vấn đề trách nhiệm Lãnh đạo một Tổ chức khi chính Tổ chức ấy đang bị đàn áp. Người cầm quyền bính Quốc gia cũng dễ nói vỏn vẹn ’’Oâng ấy làm Chính trị’’ để kết án người ta ngồi tù. Riêng tôi, tôi có cảm nghĩ rằng Làm Chính trị là một quyết định cao đẹp, không có gì phải mặc cảm, né tránh. Những suy nghĩ, phản ứng khác nhau ấy là do việc mỗi người hiểu làm Chính trị là gì.
 Theo tôi nghĩ, những phản ứng ngại sợ hai tiếng Chính trị cũng một phần do chính những người Làm Chính Trị đã không làm đúng theo cái ý nghĩa cao đẹp của người làm Chính trị. Thực vậy, một số những người Làm Chính Trị đã chỉ nghĩ đến những mưu mẹo lừa lọc không chính đáng để triệt hạ Đối lập mà dành độc quyền nhằm biển thủ công qũy. Vì vậy mà khi nói đến ai làm chính trị, có người mang ấn tượng xấu vì nghĩ tới số người lừa lọc, mưu mẹo, nắm được quyền, cướp công qũy, rồi cao chạy xa bay hưởng thụ những gì ăn cướp được.
 Cũng như việc minh định ý nghĩa của Đối lập ở phần trên, chúng tôi muốn nói đến cái ý nghĩa đích thực cao đẹp của việc LÀM CHÍNH TRỊ.
 Làm Chính trị là một lựa chọn cũng như những lựa chọn khác trong cuộc đời. Lựa chọn làm Chính trị là lựa chọn một Đường lối Quản trị việc Nước mà mục đích là phục vụ quyền lợi cho Dân và cho Đất Nước. Dân chúng ủy quyền Quản trị Đất Nước cho một người hay một Nhóm là khi Dân xét rằng Đường lối Quản trị của người ấy hay của Nhóm ấy có ưu điểm hơn Đường lối của người khác hay Nhóm khác trong việc làm lợi cho Dân và cho Đất Nước.
 LÀM CHÍNH TRỊ theo đúng ý nghĩa vừa nói trên đây, đó là việc cao đẹp và hãnh diện. Đáng chê trách là những người làm chính trị không để cho Dân có quyền lựa chọn Đường lối Quản trị của mình, mà dùng mưu mẹo lừa đảo, hoặc dùng áp lực khủng bố để tự chiếm lấy quyền Quản trị, rồi lợi dụng quyền hành mà cướp bóc của công. Những người này không những không nhằm mục đích làm chính trị là phục vụ quyền lợi của Dân và của Đất Nước, mà còn khủng bố bắt Dân phục vụ cho tư lợi hay cho quyền lợi phe phái riêng của Nhóm mình. Không thể gọi những người này là những người LÀM CHÍNH TRỊ theo ý nghĩa cao đẹp của sự lựa chọn của chúng ta được. Chúng ta không thể gọi họ là những người làm chính trị ngang hàng với chúng ta. Họ chỉ là những tên cướp trắng trợn, dùng khủng bố để cướp quyền hành, rồi nắm quyền hành mà độc đóan ăn cướp của cải.
 Khi ghép bốn chữ ĐỐI LẬP CHÍNH TRỊ theo như những ý nghĩa vừa minh định ở những đọan trên đây thì việc Đối lập Chính trị phải hiểu rằng những Lực lượng đối lập phải ở trên bình diện những người làm chính trị theo ý nghĩa cao đẹp, phải mang cùng một mục đích phục vụ cho quyền lợi của Dân tộc và của Đất Nước, chỉ có sự khác nhau về Đường lối Quản trị Đất Nước mà thôi. Sự khác biệt này phải trình bầy cho Dân thông suốt để Dân có tòan quyền lựa chọn trao quyền Quản trị cho ai thì trao.




SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỐI LẬP TRONG VIỆC QUẢN TRỊ ĐẤT NƯỚC
VÀ TRONG MỘT NỀN KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG




 Viết bài QUAN ĐIỂM trong tuần này cho VietTUDAN số 90/16.08.02, chúng tôi lại gặp đúng cái Tin Lịch sử rằng các bậc Lão thành tại Quê Hương đã công khai viết Thư cho chế độ hiện hành để thành lập ĐỐI LẬP. Đêm hôm kia, tôi điện thọai về Hà Nội và may mắn được thưa chuyện với Cụ TRẦN ĐẠI SƠN, một trong những người đã ký tên.
 Tôi biết rằng những người đang nắm quyền hành độc đóan quản trị Đất Nước hiện nay không phải là những người làm Chính trị tôn trọng ý nghĩa cao đẹp của việc LÀM CHÍNH TRỊ như đã trình bầy ở những phần trên. Họ chỉ là những tên dùng đàn áp khủng bố để cướp quyền, cướp của công, phục vụ cho cá nhân và cho Nhóm Đảng của họ.
 Đối Lập trước những kẻ không tôn trọng đối lập như vậy, đó là một sự can đảm thực sự. Cha NGUYỄN VĂN LÝ đã lên tiếng yêu cầu một ý nghĩa Chính trị thực thụ giữa những tên không tôn trọng Chính trị. Tôi cảm phục cái DŨNG cực độ của Cha Lý mà tái nhập cuộc đấu tranh mới chừng hơn một năm rưỡi nay. Bây giờ, những Cụ Lão thành đã công khai lên tiếng Đối Lập Chính Trị với ý nghĩa cao đẹp của bốn chữ ấy giữa những tên cướp quyền và cướp của. Các Cụ chắc chắn ý thức được sự khủng bố tàn nhẫn của những tên cướp, nhưng các Cụ vẫn làm. Lời đầu tiên mà tôi thưa với Cụ TRẦN ĐẠI SƠN là tôi vô cùng cảm phục cái DŨNG của các Cụ. Tôi mong mỏi rằng Dân Việt không thể để những ngọn đuốc sáng của cái DŨNG này bị dập tắt đi. Tôi nói với Cụ rằng xin cho tôi, một người không có cái DŨNG của các Cụ, được hết lòng ủng hộ sự cương nghị nêu gương Lịch sử nơi các Cụ. Tôi xin được phép, nếu các Cụ cho phép, được lên tiếng hô hào tại nước ngòai để hòan tòan yểm trợ sự cương trực bất khuất của các Cụ. Tôi nghĩ đến những Vị Lãnh đạo Tinh thần Tôn giáo của tôi, đã yên lặng trước những đau khổ của một Cha Lý, của những cô gái quá nghèo đói mà phải bán thân sớm mặc cho tinh thần, cho đạo đức bị dầy đạp,  mà tôi buồn.



=> Đòi hỏi tiến tới Đối Lập Chính trị thực sự
 Trong sự chuyên chính cai trị hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam, tòan Dân và những Vị làm Chính trị chân chánh phải đòi hỏi Đảng Cộng sản tôn trọng cái ý nghĩa đích thực của việc LÀM CHÍNH TRỊ, nghĩa là họ phải xóa bỏ Điều 4 của Hiến Pháp hiện hành. Điều 4 này đểu cán và mất dậy lắm. Đó là sự lừa đảo trắng trợn. Thực vậy:
- Quốc hội do họ đặt đa số tuyệt đối người của Đảng trong đó
- Đảng viết ra Điều 4 và cho vào Hiến Pháp để chính Quốc hội của họ chấp nhận
- Họ tuyên bố là Dân cho họ quyền độc đóan lãnh đạo, quản trị Nước
- Họ coi Nước là Đảng và Đảng là Nước
- Họ bắt Dân phục vụ ’’Nước’’ hay đúng hơn là cho Đảng của họ
- Ai phát biểu khác với ý của Đảng, thì họ đổ tội cho là phản lại Nước để trị tội 
Chúng tôi chưa gọi Phong trào Đối lập hiện nay là việc Đối Lập Chính trị theo đúng nghĩa, mà Phong trào mới còn đang ở giai đọan đòi hỏi Cộng sản phải đi đến Đối Lập Chính Trị thực sự, nếu ho (CS) ï còn liêm xỉ nhận mình là những người Làm Chí