*VietTUDAN ---- FINinfo@
*VTD-TUẦN BÁO/ Weekly
LOẠT BÀI QUAN ĐIỂM
Năm 2011-Tháng12-10
Năm 2011-Tháng09-07
Năm 2011-Tháng06-04
Năm 2011-Tháng03-01
Năm 2010-Tháng 12-07
Năm 2010-Tháng 06-01
Năm 2009-Tháng 12-07
Năm 2009-Tháng 06-01
Năm 2008-Tháng 12-01
Năm 2007-Năm 2006
Năm 2005-Năm 2004
Năm 2003-Năm 2001
L.B. NHẬN ĐỊNH THỜI SỰ
Năm 2011-Tháng12-10
Năm 2011-Tháng09-07
Năm 2011-Tháng06-04
Năm 2011-Tháng03-01
Năm 2010-Tháng 12-07
Năm 2010-Tháng 06-01
Năm 2009-Tháng 12-07
Năm 2009-Tháng 06-01
Năm 2008-Tháng 12-01
Năm 2007-Năm 2005
Năm 2004-Năm 2001
L.B.TIN NGẮN BÌNH LUẬN
Năm 2011-Tháng12-10
Năm 2011-Tháng09-07
Năm 2011-Tháng06-04
Năm 2011-Tháng03-01
=>Số/No.485/10.03.11
=>Số/No.484/03.03.11
=>Số/No.483/24.02.11
=>Số/No.482/17.02.11
=>Những Số ĐẶC BIỆT
*VTD-NHÂN & DÂN QUYỀN
*VTD-KINH TẾ/ TÀI CHÁNH
*VTD-CHÍNH TRỊ/ĐẢNG PHÁI
*VTD-XÃ HỘI/ LUẬT PHÁP
*VTD-TÔN GIÁO/ GIÁO HỘI
@FINinfo--Fin.SERVICES
@FINinfo--Fin.PROCEDURES
@FINinfo--Fin.DOCUMENTS
@FINinfo--Fin.ARCHIVES
VTD&FIN-LinhTinh/Varieties
VTD&FIN-ĐỘC GIẢ/Readers
VTD&FIN-GẶP GỠ/Meeting
VTD&FIN-LƯU TRỮ/Archives
 



 ==========================         =================================

  DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM          Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam 
  Vietnamese Political Forum                           Fight for Liberty&Democracy in Vietnam
  Tribune Politique Vietnamienne              Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam

 ==========================         =================================
  
 
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
          THỨ NĂM mỗi tuần/ THURSDAY weekly/ JEUDI hebdomadairement
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
 
       
===============================================================
                           
VietTUDAN --tuan bao/ VietTUDAN -- weekly 
===============================================================
                                
===========>   THƯỜNG XUYÊN : 4 Số Báo VietTUDAN / 4 Nos. VietTUDAN :
                                 =>
VTD So/No.485/10.03.11 
                                 =>
VTD So/No.484/03.03.11
                                 =>
VTD So/No.483/24.02.11
                                 =>
VTD So/No.482/17.02.11  

===========>   Những Số báo VietTUDAN ĐẶC BIỆT với Chủ đề:
                                 =>
ĐỊNH MỆNH TỰ HỦY DIỆT ĐỘC TÀI  (gồm 9 Bài)
                                 =>
HOÀNG SA & TRƯỜNG SA  (gồm 31 Bài)   



===============================================================
                     NHỮNG CHỦ ĐỀ phổ biến (xin BẤM vào tên Chủ đề)         
===============================================================
   
                                NHỮNG CHỦ ĐỀ PHỔ BIẾN TRONG
                                          
http://VietTUDAN.net
       Để đọc những Bài, xin quý Vị bấm (click) vào những Chủ Đề sau đây:

                                             *  Chủ đề Thời sự:
         ===>
TỪ CÁCH MẠNG ĐÒI QUYỀN DẠ DẦY TUNISIE… TỚI VIỆT NAM
                                        *  Chủ đề đang khai triển:
          ===>
TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH


*    Những Số báo VietTUDAN ĐẶC BIỆT với Chủ đề:

===>
ĐỊNH MỆNH TỰ HỦY DIỆT ĐỘC TÀI  (gồm 9 Bài)
===>
HOÀNG SA & TRƯỜNG SA  (gồm 31 Bài)

*    Về NHÂN & DÂN QUYỀN

===>
TỪ QUYỀN DẠ DẦY ĐẾN LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ  (gồm 12 Bài)
===>
TỪ CÁCH MẠNG ĐÒI QUYỀN DẠ DẦY TUNISIE… TỚI VIỆT NAM

*    Về KINH TẾ/ TÀI CHÁNH

===>
ĐÒI HỎI CỦA NỀN KINH TẾ TỰ DO THỊ TRƯỜNG  (gồm 6 Bài)
===>
TƯƠNG QUAN KINH TẾ-CHÍNH TRỊ  (gồm 9 Bài)
===>
VẤN ĐỀ VIỆT NAM VÀO WTO/OMC  (gồm 8 Bài)
===>
SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH  (gồm 15 Bài)
===>
KHỦNG HOẢNG TC/KT 2007/08: THỜI SỰ & NHẬN ĐỊNH  (gồm 10 Bài)
===>
DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG TC/KT THẾ GIỚI 2007/08  (gồm 12 Bài)
===>
HẬU QUẢ KHỦNG HOẢNG TC/KT CHO TQ & VN  (gồm 07 Bài)
===>
CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TQ: BÀI TRỪ HÀNG TẦU  (gồm 25 Bài)
===>
DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN  (gồm 22 Bài)
===>
DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ  (gồm 20 Bài)
===>
CĂNG THẲNG THƯƠNG MẠI/ TIỀN TỆ GIỮA MỸ-TẦU
===> ĐỘC CHIÊU QE2 USD.600 TỈ CỦA FED HẠ TẦU CỨU MY

*    Về CHÍNH TRỊ/ ĐẢNG PHÁI

===>
HÒA GIẢI HÒA HỢP
===> CHÍNH TRỊ UYỂN CHUYỂN BUSH & VIỆT NAM
===> KHỐI 8406 VÀ PHONG TRÀO DÂN CHỦ
===> ĐẢNG THĂNG TIẾN VIỆT NAM
===> ĐỘC TÀI QUỐC DOANH HÓA MỌI TỔ CHỨC DÂN SỰ
===> KHÔNG CÓ CẠNH TRANH, ĐỘC TÀI TỰ HỦ HÓA

*    Về XÃ HỘI/ LUẬT PHÁP

===>
LUẬT PHÁP LẤY NỀN TẢNG ĐỒNG THUẬN DÂN CHỦ
===> KHÔNG CÓ ƯU TIÊN CÁ NHÂN TRƯỚC LUẬT PHÁP

*    Về TÔN GIÁO/ GIÁO HỘI

===>
LM.NGUYỄN VĂN LÝ:”TỰ DO TÔN GIÁO HAY LÀ CHẾT“
===> ĐÁM NGỢM GIÁO GIAN QUỐC DOANH TAY SAI CSVN
===> PHÁP LỆNH TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO CỦA CSVN:”XIN-CHO“
===> GIÁM MỤC VN: TRÙM CHĂN HAY CHIA RẼ LÃNH ĐẠO
===> TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM TỪ ĐỨC TIN GIÁO DÂN
===> TGM.NGÔ QUANG KIỆT: CHỦ CHĂN CAN ĐẢM

  
==============================================================
Những Bài QUAN ĐIỂM, NHẬN ĐỊNH THỜI SỰ, TIN NGẮN BÌNH LUẬN trong các số VietTUDAN mỗi tuần được Lưu trữ vào những Phần riêng dưới đây (xin BẤM (CLICK) vào tên những Phần ấy):
==============================================================

                                      * LOẠT BÀI QUAN ĐIỂM

                                      * LOẠT BÀI NHẬN ĐỊNH THỜI SỰ

                                      * LOẠT BÀI TIN NGẮN BÌNH LUẬN


xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx

  


===============================================================
         LOAT BAI QUAN DIEM CHU DE HIEN HANH DANG TIEP TUC KHAI TRIEN
===============================================================





                                                      CHỦ ĐỀ:
                                         TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI
                                 DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH


                                                        Bài 07:

                                              MỨC ĐỘ ÁP DỤNG 
                               CÁCH MẠNG BẮC PHI CHO VIỆT NAM

                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tê
                                              Geneva, 24.02.2011
                                        Web : http://VietTUDAN.net


Tuần trước, chúng tôi viết bài Quan Điểm thứ 6 với đầu đề AI CẬP: ĐƯỜNG ĐI ĐẾN TỰ DO DÂN CHỦ NHIỀU CHƯỚNG NGẠI VÀ DỄ “CHỆCH HƯỚNG “. Việc chệch hướng này có thể do chính giới trẻ mang những ý niệm quá lý tưởng về những chữ Tự do, Dân chủ, Nhân quyền. Cũng có thể chính giới trí thức làm Chính trị trong nước muốn tiến nhanh đến vị trí nắm quyền hành mà đẩy đường đi theo hướng tắt bấp bênh hời hợt. Giới tính toán Chính trị quốc tế vì muốn một sự chuyển tiếp trong trật tự theo quyền lợi của mình mà chỉ trùm lên nguyện vọng của Cách Mạng quần chúng bằng giải quyết Chính trị mau chóng cho yên chuyện.

Trên các Diễn Đàn, trước cao trào Cách Mạng sôi động ở Bắc Phi và Trung Đông, chúng tôi đọc được những bài viết thôi thúc việc đứng lên của Việt Nam. Những bài viết ấy thường nhấn mạnh: BAO GIỜ ĐẾN VIỆT NAM ?

Với bài Quan Điểm thứ 7 tuần này, chúng tôi muốn phần tích những kinh nghiệm từ Bắc Phi và Trung Đông để có thể áp dụng cho Việt Nam, dưới những khía cạnh sau đây:

=> Động lực chính và nguyện vọng căn bản của Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông.  
=> Những bài học nào mà Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông cho chúng ta thấy ?
=> Áp dụng mức độ nào những bài học từ Bắc Phi và Trung Đông cho Việt Nam ?


Động lực chính và nguyện vọng căn bản
của Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông.

Chúng tôi đã nhiều lần phân tích về cái động lực cụ thể và chính yếu làm cho một cá nhân có đủ can đảm – hay đúng hơn liều chết – nổi dậy là cái DẠ DẦY cá nhân đó đói. Khi mà trên 40% dân chúng sống dưới mức nghèo khó với chưa đầy 2 đo-la mỗi ngày, thì khối quần chúng ấy đứng lên đòi quyền sống cho thân xác mình. Trong lúc sờ bụng thấy đói như vậy, họ lại nhìn thấy một thiểu số người cầm quyền giầu nứt khố. Đồng thời họ cũng hiểu rằng đám thiểu số cầm quyền giầu nứt khố này đã cướp bóc sức lực của họ và khai thác tài nguyên quốc gia để làm giầu riêng cho mình. Lòng GHEN TỨC và HẬN THÙ dần dần lớn lên trong người họ đối với đám thiểu số bóc lột kia. Đến một ngày nào đó tâm lý xã hội HẬN THÙ đến tột độ, cộng với DẠ DẦY đói cá nhân đến ngắc ngoải chết, thì khối quần chúng nghèo buộc phải đứng lên đứt khoát chấm dứt thiểu số giầu nứt khố bóc lột kia.

Đó là động lực chính yếu và cụ thể của Cách Mạng đứng lên đạp đổ kẻ đè đầu bóp cổ cướp bóc mình.

Đạp đổ rồi, họ phải xây dựng con đường Cách Mạng đã bắt đầu. Con đường xây dựng Cách Mạng, nếu cho đúng hướng, nghĩa là không “chệch hướng “, thì phải tôn trọng cái nguyện vọng căn bản của quần chúng. Không khó gì để thấy cái nguyện vọng căn bản của quần chúng. Thực vậy, khi DẠ DẦY họ đói mà phải liều chết đứng lên làm Cách Mạng, thì nguyện vọng gần nhất và cấp thiết nhất là phải có cái DẠ DẦY no.

Nếu giới trí thức chính trị quá xa vời với những phạm trù trừu tượng như Tự do, Dân chủ, Nhân quyền để nói rằng đó là nguyện vọng của quần chúng đói, thì quần chúng dễ thất vọng và có thể nổi xùng nói rằng: “Hỗi các ông làm Chính trị ! Các ông nhát như cáy không dám liều chết xuống đường. Bây giờ chúng tôi liều chết đuổi được đám cầm quyền cướp bóc rồi. Các ông nhẩy vào mượn DẠ DẦY đói của chúng tôi để nấu cháo Tự do, Dân chủ, Nhân quyền trừu tượng để các ông xúm lại với nhau húp mà quên cái DẠ DẦY đói của chúng tôi !”

Cuộc Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông là cuộc Cách Mạng DẠ DẦY. Chính yếu là như vậy, còn gọi là Hoa Lài, Hoa Bản Hạ hay Hoa Thối Địt, thì đó là tiếng gọi cho vui nhưng đừng quên cái DẠ DẠ đang đói mà quần chúng cần được thỏa mãn.

Tại sao Tunisie, Ai Cập rồi Libye đuởi được Độc tài rồi, nghĩa là có Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, mà dân chúng lại bỏ Tự do, Dân chủ, Nhân quyền để nhào ra biển sang Liên Âu. Họ ra đi vì lo sợ rằng người ta chỉ nhét vào DẠ DẦY họ mấy chữ trừu tượng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền thì không làm cho họ no được.

Phái đoàn Ngoại giao Liên Âu sang thăm Ai Cập mới đây và hứa gbíup USD.1 tỉ cho Ai Cập, đó là hiểu đúng nguyện vọng căn bản của Cách Mạng. Vua của Saudi Arabia trở về nước và hứa bỏ ra USD.35 tỉ để tăng lương cho công chức và nâng cấp sống cho tuổi trẻ, đó là Vua đã hiểu cái nguyện vọng căn bản của Cách Mạng vậy.


Những bài học nào mà Cách Mạng Bắc Phi
và Trung Đông cho chúng ta thấy ?

Nhìn cụ thể cái động lực chính và nguyện vọng căn bản của Cách Mạng tại Bắc Phi và Trung Đông như trên, chúng ta mới thấy những bài học để áp dụng cho cuộc nổi dậy và lập trường xây dựng Cách Mạng ở Việt Nam. Nhưng bài học ấy gồm những điểm sau đây:

1) Đây là cuộc Cách Mạng chính yếu của dân thành thị thất nghiệp và bụng đói. Đa số ở vào lớp tuổi trẻ và trung niên. Với 2 đo-la mỗi ngày mà phải sống ở thành thị, thì cái bụng đói càng ray rứt. Thực vậy, đất đai phần lớn là cát sa mạc, nên họ không thể sống với nông nghiệp. Nếu ở vùng quê nông nghiệp, thì với 2 đo-la mỗi ngày, họ có thể giải quyết bụng đói như Cụ NGUYỄN KHUYẾN vỗ bụng rau bình bịch. Nhưng ở thành thị, thì không có rau mà vỗ. Đó là tình trạng bụng đói của dân Bắc Phi và Trung đông.

2) Thất nghiệp, lớp tuổi trẻ và trung lưu có nhiều thời giờ dành cho máy Điện tử và Internet. Những nhà độc tài cấm tự do truyền thông báo chí, thì lớp người thất nghiệp này sử dụng Internet mà Nhà nuớc độc tài khó kiểm soát hết được. Cách Mạng Điện thoại Di động đóng phần không nhỏ cho cuộc hẹn hò nổi dậy, nhất nữa họ đã có sự quy tụ thường xuyên tại thành thị gần kề nhau để tụ họp lại. Không cần phải xa xôi như Bác Tám từ đồng nội lên Sài gòn.

3) Lòng HẬN THÙ của tâm lý xã hội đã lên đến cực độ đối với những nhà độc tài và gia đình. Việc khai thác nguồn dầu lửa cho túi riêng nằm sờ sờ ở sa mạc mà ai cũng nhìn thấy mỗi ngày. Nó khác với việc khai thác hầm mỏ ở rừng núi kín đáo như trường hợp ở Việt Nam. Những nhà độc tài tích luỹ tài sản kếch xù tại Bắc Phi và Trung Đông lại sống lâu năm, kéo dài tối thiểu từ 20 năm. Trong khi ấy, tại Việt Nam, đảng Cộng sản kéo dài, nhưng những Lãnh tụ thay đổi nhau mà tham nhũng vì vậy khó nhìn thấy sự tích lũy tài sản kếch xù đập vào mắt quần chúng. Thời gian lâu năm của một nhà độc tài tích lũy tài sản cho riêng mình và gia đình  làm hội tụ mạnh lòng HẬN THÙ vào một người và một gia đình. Đó là điểm cắt nghĩa lòng HẬN THÙ của quần chúng Bắc Phi và Trung Đông thành cao độ tột bực.

4) Cái lòng HẬN THÙ xã hội tột bực này khiến Lập trường của Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông dứt khoát:

* Họ phải đạp đổ hẳn kẻ độc tài, ngay cả không chấp nhận bè đảng của nhà độc tài liên hệ đến việc đứng chung với họ để cùng làm cuộc chuyển tiếp.
* Tất nhiên không chấp nhận chiêu bài “đối thoại “ hay “hòa hợp hòa giải “ để chi đi đến thêm bớt vào chế độ cũ một ít thay đổi gọi là CẢI CÁCH.
* Quần chúng đói khổ làm Cách Mạng nhất thiết phải đưa ra xét xử những nhà độc tài và đòi lại những tài sản mà những nhà độc tài này đã bóc lột dân chúng và khai thác tài nguyên quốc gia (dầu lửa và du lịch)


Áp dụng mức độ nào những bài học
từ Bắc Phi và Trung Đông cho Việt Nam ?

Sau những chục năm trường, đảng CSVN độc tài và độc quyền bóc lột nhân lực, khai thác tài nguyên quốc gia để làm của riêng giầu nứt khố. Hố sâu giầu nghèo mỗi ngày mỗi khơi rộng. Quần chúng nghèo khó, thêm khổ cực hơn nữa vì lạm phát, vật gia tăng vọt, đồng tiền phá giá. Quần chúng mang DẠ DẦY đói, động lực chính yếu cho nổi dậy. Đồng thời quần chúng Việt Nam chứng kiến nhóm đảng Fafia CSVN giầu lên vì tham nhũng. Những chứng kiến này đã tạo được lòng HẬN THÙ của quần chúng đối với nhóm đảng Mafia CSVN. Việt Nam đã có động lực chính yếu DẠ DÀY đói và tâm lý xã hội HẬN THÙ để nổi dậy dứt bỏ Cơ chế CSVN hiện hành-

Cũng như những bài viết trong thời gian này trên các Diễn Đàn, những câu câu hỏi mà chúng tôi đặt ra : (i) Lớp người nào khởi đầu ? (ii) Khả năng sử dụng truyền thông Internet ra sao ? (iii) Vai trò Hải ngoại đóng góp gì ?  (iv) Lập trường xây dựng Cách mạng dứt khoát ra sao ?

(i)  Lớp người nào khởi đầu ? 

Đả từ nhiều năm nay, khi Phong trào Dân Oan nổi dậy, chúng tôi đã luôn luôn nghĩ rằng chỉ có những người Dân Oan này mới đủ can đảm không sợ chết đứng lên đòi quyền sống. Nhưng trong thời Phong trào Dân Oan nổi dậy, thì cũng có Phong trào Dân chủ. Chúng tôi đã kêu gọi Phong trào trí thức Dân chủ hãy đứng chung với Phong trào Dân Oan để tổ chức nổi dậy. Nhưng Phong trào Dân chủ, có lẽ quá ngưỡng vọng vào thế “khuyến khích “ của Hoa kỳ, mà cứ ngày đêm rêu rao những từ ngữ trừu tượng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền xa rời với cuộc đấu tranh cụ thể của Dân Oan cho quyền DẠ DẦY (Stomach Right). Những phạm trù trí thức trừu tượng này của Phong trào Dân chủ không đủ sức kéo được quần chúng xuống đường. Quần chúng nghèo phải có cái gì cụ thể, gần kề họ, thì họ mới tin tưởng.

Tiếp theo Phong trào Dân Oan này, Phong trào Giáo Oan Tòa Khâm sứ Hà Nội, Giáo xứ Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm… nổi dậy đòi CÔNG LÝ. Họ đứng lên vì những miếng đất cụ thể và thấy những tham nhũng bất công của CSVN đối với những miếng đất ấy. Thêm vào đó, đây là việc đứng lên của những Giáo dân mang Đức Tin và và không ngại sợ bạo lực đàn áp, chống lại Đức Tin của họ. Chính lẽ cuộc Cách Mạng cứu nguy Dân Tộc phải lớn lên từ những Giáo dân này. Nhưng rất tiếc, một số Lãnh đạo Giáo gian quốc doanh đã tung ra chiêu bài “đối thoại “ làm tay sai cho CSVN, nhất là tâu trình thất lợi với Vatican để Vatican can thiệp vào loại trừ TGM NGÔ QUANG KIỆT để đặt tại Hà Nội một TGM quốc doanh NGUYỄN VĂN NHƠN. Đây là việc làm tòng phạm với tội ác của CSVN để dìm xuống một ngòi Cách Mạng cứu nguy Dân Tộc.

Việc làm phục vụ CSVN của cánh Lãnh đạo Tôn giáo như trên không những làm hại cho Đức Tin Giáo dân, mà còn là việc phá hoại sự đứng dậy để cứu nguy Dân Tộc khỏi ách độc tài CSVN.

Những cuộc Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông ngày này chứng minh cho  đám ngợm giáo gian biết rằng  lời kêu gọi đối thoại của họ chỉ làm lợi khí để độc tài tiếp tục cướp bóc bất công đối với Dân chúng.

Dầu sao Tinh Thần ĐỒNG CHIÊM đòi CÔNG LÝ của khối Công giáo vẫn còn đó và khối Dân Oan mất nhà đất vẫn mang trong lòng HẬN THÙ.

Lực lượng nổi dậy tại Việt Nam phải dựa vào Tinh thần ĐỒNG CHIÊM của khối Giáo dân Công giáo và vào Khối Dân Oan vẫn mang HẬN THÙ.

Chúng tôi ước ao rằng nhóm trí thức Chính trị đừng nổi dậy bằng miệng với những ý niệm trừu tượng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền xa vời với động lực nổi dậy chính yếu là DẠ DẦY và tinh thần chống BẤT CÔNG mà quần chúng thấy cụ thể trước mắt.

(ii) Khả năng xử dụng truyền thông Internet ra sao ?

Chúng tôi  thấy rằng cái khả năng này, giới trẻ Việt Nam có thừa để tổ chức một hệ thống truyền thông mà chính CSVN khó lòng ngăn cản được. Làm thế nào mà hệ thống truyền thông của giới trẻ không phải chỉ với nhau mà còn hội nhập vào Lực lượng Dân Oan và khối Giáo dân Công giáo để điều hợp cho có Phong trào liên kết. Giới trẻ giữ phần truyền thông điều hợp, nhưng Lực lượng Dân Oan và Giáo dân Công giáo mang sức mạnh đứng lên. Khối Giáo dân Công giáo cũng là những công dân và có nhiệm vụ cứu nước.

(iii) Vai trò Hải ngoại đóng góp gì ? 

Trước đây, người Việt Hải ngoại dường như chú trọng vào việc vận động dư luận và sự yểm trợ của một số Chính quyền nước ngoài. Nhưng thực tế cho thấy rằng nước ngoài dễ cho chúng ta những hy vọng thoa dịu suông, mà họ nghĩ về quyền lợi của nước họ trước hết. Chúng tôi thường viết rằng Dân tộc mình đau khổ thì hãy tin tưởng trước vào chính mình để tự cứu. Không ai thương mình bằng chính mình thương mình. Nhiều khi nước ngoài một đàng nói Nhân quyền để an ủi chúng ta, nhưng một đàng thì bắt tay với độc tài vì quyền lợi của nước họ.

Chúng tôi thấy rằng có hai việc cụ thể mà Hải ngoại có thể hỗ trợ cho Quốc nội:

=> Các Diễn Đàn hay cá nhân Việt kiều tìm mọi cách để phổ biến Thông tin Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông về cho những người thân thuộc hay các Tổ chức tại Việt Nam. Việt kiều tập trung mọi nỗ lực tấn công thông tin truyền thông về Việt Nam.

=> Việc hỗ trợ thứ hai cụ thể là Truy tìm Tài sản mà những Lãnh đạo CSVN biển thủ chuyển ra cất giấu tại nước ngoài. Phải phục hồi những tài sản bất chính này về cho Quốc gia.

(iv)  Lập trường xây dựng Cách mạng dứt khoát ra sao ?

Kinh nghiệm những chục năm trường phản bội của CSVN không cho phép chúng ta tin tưởng vào sự đứng chung với đảng Cộng sản VN nữa. Vì vậy, khi cuộc Cách Mạng nổi dậy, chúng ta dứt khoát:

=> Lật đổ hẳn Chế độ CSVN hiện hành

=> Không thể nói đến “đối thoại “ vì CSVN chỉ tìm mưu “đối thọi “ chúng ta mà thôi

=> Không có chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp mà những người làm Chính trị thời cơ đưa ra để nhằm nhẩy bàn độc.

=> Xây dựng DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ để có những điều kiện đi đến DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRỊ thực sự lâu dài và bền vững.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 24.02.2011
Web: http://VietTUDAN.net



                                                      CHỦ ĐỀ:
                                         TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI
                                 DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH

                                                       Bài 06:

                             AI CẬP: ĐƯỜNG ĐI ĐẾN TỰ DO DÂN CHỦ
                         NHIỀU CHƯỚNG NGẠI  VÀ DỄ “CHỆCH HƯỚNG“

                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tê
                                             Geneva, 17.02.2011
                                       Web : http://VietTUDAN.net



Ben ALI của Tunisie đã tự động tẩu thoát. Hosni MUBARAK cố thủ tính toán ngồi tại quyền trong một thời gian nữa. Dân chúng Tunisie nhìn thấy những chướng ngại trên con đường đi tới Tự do Dân chủ thực sự nếu những người cũ và dư đảng của Ben ALI giữ trách nhiệm chuyển tiếp chế độ trong “trật tự“. Tại Ai Cập, hai ngày cuối của Hosni MUBARAK cho phép giới bình luận nhận định về những chướng ngại mà cuộc Các h Mạng phải giải quyết với nhiều hy sinh nữa để có thể đạt tới một mức độ Tự do Dân chủ khả dĩ làm yên lòng dân chúng xuống đường trong 18 ngày.

Nhưng dầu sao bức tường thành ngăn chặn con đường xây dựng tương lai đã bị Cách Mạng đánh sập xuống. Ben ALI tẩu thoát, dân Tunixie hô to: “LA TUNISIE EST LIBRE“. Hosni MUBARAK xuống chức, dân Ai Cập giơ cao lá cờ : «EGYPT IS FREE« . Thế giới hoan nghênh sự thành công lớn lao của hai dân tộc đã đạp đổ được hai bức tường ngăn chặn con đường xây dựng TỰ DO (Liberté/ Freedom) tương lai mặc dù vẫn còn những chướng ngại.
 
Báo Đài đã nói nhiều và quá đẩy đủ về sự thành công của CÁCH MẠNG cho đến giai đoạn mà dân hai nước vui mừng ca vang : « La Tunisie est libre «  và « Egypt is free « . Chúng tôi không viết về những diễn tiến Cách Mạng cho đến giai đoạn này nữa vì có viết cũng bằng thừa.

Điều mà chúng tôi muốn phân tích trong bài này là CON ĐƯỜNG NHIỀU CHƯỚNG NGẠI ĐỂ ĐẠT ĐẾN TỰ DO DÂN CHỦ THỰC SỰ. Chúng tôi đã viết trong tuần trước hai bài nói về cái thực chất thúc đẩy làm Cách Mạng và cũng là cái đòi hỏi cụ thể của Cách Mạng. Chúng tôi cũng nhìn thấy những can thiệp của Chính giới quốc tế và của những nhà làm Chính trị trong nước làm cho cuộc Cách Mạng trở thành phức tạp và có thể đi « chệch hướng« , đó là chưa kể những chướng ngại sẵn có trên con đường dài đạt Tự do, Dân chủ đích thực. Bàn về con đường này, chúng tôi đề cập đến những khía cạnh sau đây :

=> Nhận định về hai ngày cuối của TT.Hosni MUBARAK 
=> Con đường đạt Tự do Dân chủ thực sự dễ «chệch hướng«
=> Con đường còn dài và những chướng ngại sẵn có
=> Kết luận ngắn : áp dụng bài học cho Việt Nam


Nhận định về hai ngày cuối
của TT.Hosni MUBARAK 

Chúng tôi theo sát Báo Đài về hai ngày cuối của TT.Hosni MUBARAK : chiều tối thứ Năm 10.02.2011 và chiều thứ Sáu 11.02.2011. Chúng tôi thay đổi ghi lại vào băng nhựa những Thông Tin của Đài Truyền Hình CNN và Đài Truyền Hình EuroNews.

Chiều tối thứ Năm 10.02.2011

Ngay từ buổi chiều 10.02.2011, trên xe về nhà, tôi nghe Radio và biết tin rằng tối nay TT.Hosni MUBARAK sẽ đọc trên Đài Truyền Hình Ai Cập bài diễn văn quan trọng trước quốc dân. Người ta nghĩ đây là bài diễn văn cuối cùng từ chức.

Tối đến dân chúng kéo về Công trường El Tahrir (Le Caire) mỗi lúc mỗi đông. Họ đinh ninh rằng tối nay TT.Hosni MUBARAK sẽ tuyên bố từ chức. Các Đài CNN và EuroNews  cũng trưng dẫn nhiều nguồn tin để dự đoán nội dung bài diễn văn từ chức như vậy. Nhưng thời gian chờ đợi bài diễn văn kéo dài bất thường làm nhiều người không đủ kiên nhẫn và bất bình. Nhưng rồi mãi tới khuya, người ta thấy TT.Hosni MUBARAK xuất hiện và mọi người chỉ đợi ông tuyên bố từ chức. Khối người khổng lồ biểu tình lặng yên để chờ đợi. Hai đài CNN và Euro News cũng ngưng bình luận để lắng nghe. Nhưng rồi mãi đến cuối bài diễn văn, vẫn chưa thấy câu ông tuyên bố từ chức mà lại thấy ông tuyên bố : « ông sinh ra tại Ai Cập và muốn chết tại đây « . Oâng giao một số quyền cho Phó Tổng Thống mà chính ông chỉ định. Bài diễn văn chấm dứt. Mọi người bàng hoàng trong một tâm lý bị cắt đứt những hy vọng trong lòng. Khối người biểu tình từ ngưỡng vọng, rồi thất vọng và đi đến nổi xùng.

Đài Euro News mời ba người đến tham dự cuộc bình luận : Chủ nhiệm tờ LE MONDE DIPLOMATIQUE, một Chuyên viên Nghiên cứu về Thế giới A-rập và một nữ Luật sư trẻ thuộc nhóm đối lập của Oâng El Baradei. Chúng tôi lưu ý nhất đến những nhận định vắn gọn, thực tế vào thẳng vấn đề của nữ Luật sư đối lập. Hỏi về tại sao Hosni MUBARAK già 82 tuổi, bệnh hoạn, vẫn cố níu lấy quyền hành, nữ Luật sư trẻ không ngần ngại nhận định :

* MUBARAK và Gia đình còn nhiều tài sản trong nước. Oâng muốn có nhiều thời gian tại quyền để tiêu tán tài sản ra nước ngoài.
* Oâng mật vụ Phó Tổng thống được trao quyền làm cuộc chuyển tiếp. Oâng này rất trung thành với Mubarak và không làm phiền toái Mubarak trong việc tiêu tán tài sản.

Tờ báo The Guardian của Anh tuần này cũng cắt nghĩa cùng một ý tưởng như vậy về việc trì hoãn từ chức của TT.Mubarak. Tờ báo viết : « Tài sản chưa chuyển đi cất dấu ở ngoại quốc, chắc còn một số, trong kho, ngân hàng, hay các công ty ở trong nước Ai cập. Việc TT Mubarak trì hoãn ra đi viện lẽ chuyển tiếp chánh quyền suông sẽ êm thấm có thể hiều là hoãn binh chi kế của Ông để “thu vén cuối“. Một số báo cáo cho biết ông Mubarak đã dùng 18 ngày hoãn binh trước khi từ chức để giấu tài sản cá nhân. » Tờ báo còn tiếp : »Ông Gamal Mubarak quản lý một công ty đầu tư tại London và có nghi ngờ công ty này đã giúp chuyển tiền của gia đình tới những nơi bí mật. »

Nữ Luật sư trẻ còn nói thêm rằng nếu Gia đình Mubarak thu tài sản nhiều tỉ như vậy, thì Phó Tổng thống cũng như cánh Tướng Lãnh già cũng phải thu những tiền tỉ. Không phải một mình Mubarak trì hoãn mà còn cả cánh đã cùng chia nhau ăn cướp. Thực vậy, Mubarak không thể ăn một mình mà được ngồi yên trong 30 năm trường. Đây là lẽ đương nhiên. Của bất nhân, nuốt một mình không xuôi. Chủ ăn thì tớ cũng có miếng.

Về việc cùng ăn này, tôi nhớ lại vụ TT.MARCOS. Tháng 3 năm 2000, Oâng Norikata MAMIYA, Chủ tịch Công ty OKINAWA TOSHI RESORT KAIHATSU Co.Ltd., dẫn một phái đoàn sang Geneva cùng với Oâng Norio KAMIYA đại diện Ngân Hàng OKINAWA BANK. Các Oâng trao cho tôi một Giấy Chứng Nhận Vàng thuộc quyền của Bà Loretta ESTRELLA, vợ của Oâng Pedro LAUREL. Oâng này trước đây là Bộ trưởng Phủ Tổng Thống của TT.MARCOS. Họ nhờ tôi kiếm Tài chánh dựa trên Gold Deposit như Collateral. Tôi nói với Oâng Chủ tịch người Nhật là tại sao có nhiều vàng như vậy. Oâng cưới và trả lời : « Tổng Thống có nhiều tiền, thì Bộ trưởng Phủ Tổng thống tất nhiên cũng phải có chứ. »

Chủ Mubarak và bè đảng cùng chia nhau làm giầu đã được Tờ The Guardian khẳng định :

« Báo Anh cho rằng giới quân nhân Ai Cập kiểm soát 15 phần trăm nền kinh tế trị giá 270 tỷ đô la của nước này.

Ngoài các lãnh địa riêng chỉ có các sĩ quan cao cấp hưởng thụ, các thương vụ của giới quân nhân trải rộng từ xuất nhập khẩu, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch và nhất là hàng không.

Hãng hàng không quốc gia Ai Cập AirEgypt được cho là "bến đỗ an toàn" của các cựu tướng lĩnh sau khi thôi binh nghiệp. »

Như vậy thời gian làm « Chuyển đổi Chính trị có trật tự «  do Phó Tổng thống trách nhiệm hay do Hội đồng Quân lực tối cao cũng là thời gian trì hoãn cho phép « an bài «  tài sản.

Chiều thứ Sáu 11.02.2011, ngày cuối cùng của Mubarak

Đêm thứ Năm 10.02.2011, tôi cũng thất vọng như những người biểu tình tại Công trường El Tahrir (Le Caire).  Chiều thứ Sáu, tôi lên Biel/Bienne cuối tuần, cách Geneva 150 cây số. Trên xe, Radio báo cho biết là sắp có thông tin quan trọng từ Phó Tổng thống trên Dài Truyền Hình. Đài Radio cũng cho biết là có lẽ TT.Hosni MUBARAK đã rời khỏi Thủ đô Le Caire.

Vừa vào đến nhà tại Biel/Bienne vào khoảng 17g30, mở Truyền Hình, Phó Tổng Thống hiện ra và tuyên bố hai điều :
* Tổng Thống Hosni MUBARAK từ chức
* Quyền hành được chuyển cho Hội đồng Tối cao Quân Lực. Hội đồng này điều hành việc « Chuyển tiếp Chính trị trong trật tự »

Thế là Hosni Mubarak chấm dứt 30 năm độc tài. Các Đài Truyền Hình chiếu lên hình ảnh vui mừng của dân Ai Cập với những chữ « EGYPT IS FREE « .

Hôm trước Mubarak khẳng định sẽ chết trên đất Ai Cập và bám chặt lấy quyền hành lúc này. Hôm nay ông châm dứt quyền hành độc tài 30 năm và đã ra đi khỏi Le Caire.

Động lực nào đã đưa đến quyết định nhanh chóng ấy ? Tối nhớ lại đêm hôm qua, Đài Euro News chiếu lên hình ảnh một Sĩ quan trẻ Quân đội đã đứng giữa đoàn người biểu tình và công khai đả kích Tướng Không quân Mubarak. Nữ Luật sư trẻ đối lập đã nhận định ngay rằng lớp Sĩ quan trẻ được huấn luyện bởi Hoa kỳ và họ chưa có dịp thâu được tài sản như lớp Sĩ quan già. Họ đứng hẳn về phía dân. Nếu có cuộc Đảo chánh, thì chính lớp Sĩ quan trẻ này sẽ làm đảo chánh chống lại lớp Sĩ quan già.

Hôm nay, tôi suy nghĩ nhân lời nhận định hôm qua của nữ Luật sư trẻ. Có lẽ Bộ Quốc phòng Mỹ, qua lớp Sĩ quan trẻ này làm áp lực lên lớp Sĩ quan già đòi TT.Hosni MUBARAK phải từ chức và trao quyền cho Quân đội.


Con đường đạt Tự do Dân chủ thực sự
dễ «chệch hướng«

Nói đến « chệch hướng «  thì trước hết phải định rõ động lực nào đã đẩy quần chúng đến Cách Mạng và xét xem việc đòi hỏi của Cách Mạng có được thỏa mãn hay không. Con đường đạt được đòi hỏi có những chướng ngại phải vượt qua ra sao.

Động lực và đòi hỏi của Cách Mạng

Như chúng tôi đã nhắc đi nhắc lại trong các bài viết trước là chúng tôi không muốn gọi đây là cuộc Cách Mạng Hoa Lài cho thơm tho văn vẻ, mà chúng tôi gọi đây là cuộc Cách Mạng DẠ DẦY dù có vẻ quê mùa. Nhưng đó là thực chất, đó là cái động lực chính yếu để quần chúng, không có tới 2 đo-la sống mỗi ngày, đứng lên làm Cách Mạng. Các Đài Truyền Hình và Báo Chí vẫn còn nhắc tới hôm nay rõ rệt rằng 40% dân chúng Ai Cập sống bên dưới mức gọi là nghèo khổ.

Động lực chính yếu đưa đến cuộc nổi dậy có hai điều :

=> Thứ nhất : DẠ DẦY cá nhân đói. Dạ dầy đói thì phải đứng lên đòi quyền sống thân xác, nếu không thì thân xác mình chết. Dạ Dầy là thuộc cá nhân. Không có Dạ Dầy xã hội. Mỗi cá nhân có BỤNG ĐÓI thì tự động đứng lên đòi miếng ăn, chứ không có ai thúc giục gì cá nhân đó cả. Nếu nói điêu ngoa như CSVN rằng đó  là «thế lực ngoại lai thúc giục « , thì lấy dùi đục giộng vào họng cho chúng câm đi. Cộng lại những cá nhân mang BỤNG ĐÓI này thì có tới 40% dân chúng
=> Thứ hai : Khi bụng mình đói mà hàng ngày chứng kiến thiểu số những người cầm quyền cướp bóc trên đầu mình và biển thủ tài sản chung làm của riêng giầu nứt khố, thì tự nhiên lòng HẬN THÙ lớn dần. Người ta gọi đây là HẬN THÙ xã hội. Bụng một cá nhân đói, thì không chuyển sang cho người khác biết được, nhưng lòng HẬN THÙ có thể truyền thông cho nhau. Vì vậy gọi là HẬN THÙ xã hội

Cái BỤNG ĐÓI cá nhân làm cho mỗi người tự động đứng lên. Cái HẬN THÙ xã hội làm cho cả xã hội quy mũi dùi vào nhóm người đã gây ra nguyên cớ của HẬN THÙ

Mang hai động lực chính yếu nổi dậy như vậy, thì đòi hỏi của Cách Mạng là phải thỏa mãn hai cái động lực trên đây, nghĩa là DẠ DẦY cá nhân có đồ ăn và những kẻ tạo ra HẬN THÙ xã hội phải biến đi cho khuất mắt. Chính vì vậy mà dân chúng Tunisie, mặc dầu Ben ALI đã biến đi, lòng HẬN THÙ xã hộiï vẫn đòi hỏi đồng bọn Ben ALI không được lảng vảng vào Chính quyền trước mặt dân. Tại Ai Cập, vì lòng HẬN THÙ xã hội, mà dân chúng nhất thiết đòi Hosni MUBARAK phải từ chức không được trì hõa. Họ không tin tưởng vào Phó Tổng thống, đồ đệ trung thành của Mubarak. Quyền hành lúc này trong tay Quân đội, nhưng sự hiện diện của lớp Sĩ quan già có thể sẽ gây những chướng ngại cho Cách Mạng.

Nếu chúng ta quên đi hai động lực cụ thể này, mà chỉ gọi đây là cuộc đòi hỏi Tự do Dân chủ một cách trừu tượng, thì cuộc Cách Mạng dễ đi « chệch hướng « . Mà dường như Hội đồng Quân lực Tối cao vô tình hay hữu ý mà chỉ nói đến « Chuyển tiếp Chính trị trong trật tự« sang những phạm trù trừu tượng Tự do Dân chủ. Chương trình chuyển tiếp của Hội đồng Quân lực là Bãi bỏ Quốc Hội hiện hành, Sửa đổi Hiến pháp, Tổ chức Bầu cử Tự do. Những việc làm này không trực tiếp thỏa mãn đòi hỏi cụ thể và căn bản của Cách Mạng là chuyển cái Bụng ĐÓI của dân nghèo thành Bụng NO. Dân nghèo đói bụng có lẽ không quan tâm đến việc bải bỏ Quốc Hội hay Bầu cử Tổng thống  bởi vì họ có bao giờ hy vọng ra để tranh cử Nghị viên Quốc Hội hay Tổng thống đâu. Đó là việc làm chuyển tiếp cho tầng lớp làm Chính trị với Bụng đã NO đủ.

Tự do Dân chủ thực sự

Nếu quên đi cái động lực căn bản là DẠ DẦY để chỉ nhắc tới Tự do Dân chủ, thì cũng phải định rõ cái Tự do Dân chủ thực sự chứ đừng lấy những phạm trù trừu tượng để phủ mêng mang lên đầu dân mà chính dân không cảm thấy Tự do Dân chủ nằm đích thực ở chỗ nào.

Chúng tôi thường nói rằng muốn thấy mình có Tự do thực sự thì mình phải có điều kiện độc lập để quyết làm hay không làm một điều gì. Nói đến điều kiện độc lập, trước tiên phải nói đến điều kiện Kinh tế. Bàn về điểm này, chúng tôi thường lấy tỉ dụ một Công ty Kinh tế. Một Công ty Kinh tế luôn luôn phải đặt nặng vấn đề tạo TỰ LẬP TÀI CHÁNH (Autonomie financìere). Khi không có tự lập tài chánh, thì Công ty không có độc lập để quyết định Mục đích và những Chương trình hoạt động. Khi Công ty chứa đầy những Tín dụng Ngân Hàng, thì khó lòng quyết định độc lập cách sinh hoạt được.

Cũng vậy, một cá nhân nghèo khổ, BỤNG ĐÓI veo, thì khó lòng có độc lập, Tự do nói thẳng thắn trước một người giầu mà mình muốn cậy nhờ họ giúp đỡ. Câu nói “Cái khó bó cái Khôn “là trong ý nghĩa mất Tự do và Độc lập khi phải phát biểu ra trung thực với cái Khôn mà mình thấy tỏ tường.

Tại Geneva, tôi có gặp một ít người Việt làm tại Liên Hiệp Quốc. Trước một số vấn đề trái khoáy liên hệ đến CSVN, tôi đề nghị họ lên tiếng, nhưng họ không dám làm vì sợ động chạm đến việc làm tại Liên Hiệp quốc. Họ mất độc lập và mất Tự do luôn.

Chúng tôi cũng có thể trưng dẫn chứng cớ Lịch sử Tự do, Dân chủ và Độc lập khi mà điều kiện Kinh tế để thực hiện chưa được sửa soạn cho đủ.  Phong trào các Thuộc địa đứng lên dành Độc Lập như đồng loạt xẩy ra tại Á châu, Phi châu và Nam Mỹ. Những cuộc nổi dậy này được hướng dẫn bởi những nhà Trí thức đã được hấp thụ những phạm trù cao đẹp Tự do, Dân chủ, Độc lập từ những Đại Học nổi danh ở Mẫu quốc như Sorbonne, Oxford, Cambridge.  Sau khi du học, họ trở về Thuộc địa và hướng dẫn cuộc nổi dậy dành Độc Lập. Dành lại Độc Lập rồi, một Chính quyền DÂN SỰ được thiết lập và chuyển đạt cho dân chúng Lý tưởng Tự do, Dân chủ và Độc Lập như họ đã được hấp thụ tại những Đại Học long danh Tây phương. Các nhà Sử học quan sát thấy sau một thời gian trung bình chừng 5 năm, những cuộc Đảo chính do Quân đội đứng lên lật đổ Chính quyền Dân sự để thiết lập Chính quyền Quân sự và nối lại liên hệ với Mẫu quốc đã dành Độc Lập cho Thuộc địa trước đây. Lý do của thay đổi đồng loạt này là những phạm trù Tự do, Dân chủ và Độc lập được mang về mà chưa sửa soạn điều kiện Kinh tế khả dĩ cho phép thực hiện.

Vì vậy vấn đề Tự do Dân chủ thực sự phải có điều kiện độc lập về Kinh tế. Chính vì vậy, nếu chỉ nói Tự do Dân chủ trừu tượng mà không lo trước hết về cái BỤNG ĐÓI của người dân để họ có độc lập về cuộc sống, thì chính họ cũng khó lòng thực hiện Tự do Dân chủ thực sự.

Nếu thực tình muốn cho người dân có được Tự do Dân chủ thực sự, thì phải làm cho họ có điều kiện tương đối độc lập về cuộc sống vật chất. Quan tâm đến điều này trước tiên, chúng ta mới đi đúng nguyện vọng của Cách Mạng, nghĩa là không sử dung những phạm trù Tự do Dân chủ trừu tượng mà làm “chệch hướng “ Cách Mạng.

Tính toán Chính trị quốc tế dễ làm “chệc hướng “ thêm 

Người dân Ai Cập đứng lên làm Cách Mạng là tự họ và cho, không bị xúi giục bởi hay phục vụ cho một quyền lợi nào ngoại quốc. Nhưng Ai Cập lại nằm ở một vị trí đặc biệt căng thẳng giữa của Trung đông và va chạm Hồi giáo với Tây phương.  Giới Chính trị quốc tế tính toán quyền lới cho nước mình hay cho khối của mình. Họ tìm giải quyết những vấn đề khác với những động lực chính làm quần chúng Ai Cập nổi dậy. Thậm chí những vấn đề này còn phải bắt dân Ai Cập phải hy sinh cực khổ nữa. Thực vậy, Hoa kỳ và Liên Âu quên đi động lực chính nổi dậy của quần chúng Ai Cập, mà chỉ quan tâm chính yếu đến những việc bảo vệ cho chính mình như sau :

* Lo sợ những thay đổi thất lợi chuyên chở qua Kênh Suez
* Lo sợ thay đổi chính sách của Ai Cập đối với Do Thái mà mình bảo vệ
* Lo sợ một Chính quyền theo Hồi giáo kiểu Iran tại Ai Cập

Chính vì những lo sợ này mà Hoa kỳ và Liên Âu không tích cực đi vào những giải quyết căn bản cho cuộc Cách Mạng Dạ Dầy của quần chúng Ai Cập. Thậm chí Liên Âu và Hoa kỳ có thể vẫn duy trì những chế độ độc tài để giữ « Trật Tự « , nghĩa là kềm kẹp dân chúng, nhất là Hồi Giáo, không chống lại mình.

Chủ trương ích kỷ này của Liên Âu và Hoa kỳ tất nhiên không giải quyết động lực chính yếu và chính đáng của quần chúng nổi dậy là DẠ DẦY và HẬN THÙ đối với kẻ bóc lột. Khi động lực chính yếu hiện nay của dân chúng không được giải quyết cụ thể, mà chỉ dùng những mỹ từ trừu tượng để bao che chủ trương ích kỷ của mình, thì cái « Trật Tự «  chỉ là tạm thời.

Những tính toán quyền lợi cho Chính trị quốc tế dễ khiến cuộc Cách Mạng đi “chệch hướng “, nghĩa là dân chúng Ai Cập phải cực nhọc nữa trên đường tiến đúng theo Mục đích  mà động lực Cách Mạng đã thúc đẩy họ đứng lên trong đổ máu.


Con đường còn dài và
những chướng ngại sẵn có

Hội đồng Quân lực Tối cao của Ai Cập giữ nhiệm vụ “Chuyển tiếp Chính trị trong trật tự“ để gọi là Thể chế Tự do Dân chủ, có thể đẩy mau chóng từ nay đến tháng 9. Nhưng đó là Tự do Dân chủ với những phạm trù trừu tượng mà quần chúng đói nghèo khó được hưởng cụ thể.

Con đường thực hiện Tự do Dân chủ thực sự còn dài bởi lẽ những điều kiện để thực hiện Tự do Dân chủ thực sự thuộc phạm vi Kinh tế không thể một sớm một chiều mà tạo ra được. Tuy dài, nhưng phải bắt đầu ngay để, với kiên nhẫn, mà dân tuần tự đi tới. Điều mà chúng tôi thấy lo ngại cho con đường dài này của Ai Cập, đó là những chướng ngại  phải vượt qua không dễ dàng. Những chướng ngại này thuộc lãnh vực Kinh tế.

=> Chướng ngại thứ nhất: Đó là nền Kinh tế Ai Cập trải qua một thời kỳ dài mà tài sản quy tụ vào một thiểu số giầu nứt khố. Tài sản quy tụ vào Gia đình Mubarak, lớp Tướng tá già thân cận và những người thuộc đảng của Mubarak. Còn dân chúng, 40%, sống bên dưới mức nghèo khổ. Làm thế nào việc phân phối tài sản dân dần bớt hố sâu giầu nghèo từ hai thái cực.

=> Chướng ngại thứ hai: Lãnh đạo quyền lực Quốc gia hiện giờ là trong tây Quân lực mà lớp Sĩ quan lớn tuổi nắm những lãnh vực sinh hoạt Kinh tế chính như Tờ The Guardian của Anh viết:

« Báo Anh cho rằng giới quân nhân Ai Cập kiểm soát 15 phần trăm nền kinh tế trị giá 270 tỷ đô la của nước này.

Ngoài các lãnh địa riêng chỉ có các sĩ quan cao cấp hưởng thụ, các thương vụ của giới quân nhân trải rộng từ xuất nhập khẩu, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch và nhất là hàng không.

Hãng hàng không quốc gia Ai Cập AirEgypt được cho là "bến đỗ an toàn" của các cựu tướng lĩnh sau khi thôi binh nghiệp. »

Các Lãnh đạo quân đội có thể vì bảo vệ quyền lợi Kinh tế của mình mà xen lấn giữ luôn quyền lực Chính trị, không tạo điều kiện cho dân thực hiện cụ thể Tự do Dân chủ.

=> Chướng ngại thứ ba: những nhà đầu tư nước ngoài rất thích làm việc với những chế độ độc tài nhận tham nhũng. Chỉ cần cho tham nhũng đỡ tốn kém, tư bản ngoại lai sử dụng độc tài để bịt miệng và khai thách nhân lực cũng như tài nguyên của quốc gia. Theo Đài Euro News mà chúng tôi đã viết tuần trước, thì Mubarak đã thu vào cho mình tới 20% lợi nhuận đối với những nhà đầu tư nước ngoài vào khai thác tại Ai Cập, nhất là về ngành du lịch. Nếu có Tự do Dân chủ thực sự cho dân, việc tư bản ngoại lai vào đầu tư có thể giảm dần.

Những chướng ngại trên đây là những cản trở lớn nhất làm kéo dài thời gian thực hiện Tự do Dân chủ thực sự tại Ai Cập với 40% dân số sống dưới mức nghèo khổ. Các Đài Truyền Hình hôm nay nói nhiều về những vấn đề Xã hội hơn là Chính trị.


Kết luận:
áp dụng bài học cho Việt Nam

Trước Đại Hội đảng kỳ XI vừa rồi, chúng tôi đã quyết định không thèm đọc về những dàn xếp nhân sự trong giới Lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN nữa bởi vì  nhóm kẻ cướp này vẫn cố thủ giữ lấy chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Đó là một cái Cơ chế mà chúng tôi ví như một đống phân để giòi Tham Nhũng Lãng Phí sinh ra và hoành hành. Con giòi nào cũng giống con giòi nào, thì khỏi cần phải mất giờ xem con giòi này làm Tổng bí thư, con kia làm Chủ tịch hay Thủ tướng.

Một cái Cơ chế cho độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế là một tuyên bố công khai trơ trẽn rằng đảng CSVN là “quân ăn cướp ngày” không còn một chút liêm xỉ xấu hổ gì cả. Chúng sẽ tiếp tục bóc lột dân chúng cho đến nghèo kiết xác, tiếp tục ăn cướp tài sản quốc gia làm của riêng giầu nứt khố. Dân chúng mang DẠ DẦY rỗng với lòng HẬN THÙ đã tích lũy tại Việt Nam còn lâu hơn Ai Cập.  Bài học cương quyết đi tới cùng của dân Tunisie và dân Ai Cập cho chúng ta phải có thái độ dứt khoát với đảng CSVN:

=> Không có Hòa Hợp Hòa Giải như một số người làm chính trị xôi thịt tại Hải ngoại hô hào để mong hớp được chút bánh rơi rụng do CSVN thẩy xuống.

=> Không có “đối thoại“ như một số Lãnh đạo Tôn giáo giả hình ngụy biện để tòng phạm với tội ác CSVN

=> Thâu hồi lại cho dân những tài sản, đất đai, nhà cửa mà đảng đã ăn cướp bẩn thỉu

=> Săn lùng những tài sản mà chúng chuyển ra nước ngoài cất giữ để phục hồi lại cho Việt Nam.

=> Không để chúng đứng chung trong tiến trình xây dựng Tự do Dân chủ thực sự cho dân bởi vì lịch sử đảo điên tráo trở phản bội của chúng đã có từ thời Hồ Chính Minh.

=> Dân Việt đứng lên làm Cách Mạng DỨT BỎ Cơ chế CSVN hiện hành phải cứng rắn gạt bỏ những tính toán Chính trị quốc tế. Việt Nam cũng đứng ở vị trí tính toán Chính trị quốc tế như Ai cập. Mỹ tính toán quyền lợi cho dân họ. Tầu tính toán quyền lợi cho dân Tầu. Không ai thương sót số phận của Dân mình bằng chính mình thương mình. Tự tin ở mình và tự mình đấu tranh cho chính mình, đừng để tính toán Chính trị quốc tế làm “chệch hướng“ cuộc Cách Mạng của Dân tộc Việt Nam.

Những điểm cương quyết như trên có nghĩa là phải quét sạch ngay từ lúc đầu những chướng ngại trên con đường dân tộc xây dựng Tự do và Dân chủ thực sự.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 17.02.2011
Web: http://VietTUDAN.net



                                                      CHỦ ĐỀ:
                                         TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI
                                 DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH

                                                       Bài 05:

                                   HẢI NGOẠI GÓP PHẦN CHO VIỆC
                                    THÂU HỒI TÀI SẢN CỦA ĐỘC TÀI

                           Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tê
                                              Geneva, 07.02.2011
                                         Web : http://VietTUDAN.net


(Chú thích: Tóm tắt ý tưởng chính của bài này đã được đài RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn để phát thanh về Việt Nam. Chúng tôi nhấn mạnh đến việc đóng góp của các Cộng đồng Việt Nam Hải ngoại trong việc vận động với các Chính quyền nước ngoài Phong tỏa và Hoàn lại cho Dân Việt Nam những Tài sản của những Lãnh đạo CSVN đã nhiều năm bóc lột dân chúng và khai thác tài nguyên quốc gia cho túi riêng và chuyển ra cất dấu tại nước ngoài.)



Nhiều khi tôi suy nghĩ: nếu ăn cướp được USD.5 triệu và tiêu tán đi được không bị thâu hồi, mà người ta chỉ cất chức và kết án tù chừng 3 năm, thì tôi cũng dám làm tên ăn cướp. Ngồi tù – nhất là ở Thụy sĩ – được ngủ phòng ấm áp mà không phải trả tiền dầu nhớt đốt lò sưởi, được ăn uống mỗi ngày ba bữa mà không phải chui vào bếp, được xem Tivi mà không phải đóng thuế, được cảnh sát canh phòng cho an toàn để mình ngủ ngon giấc, lại có Tuyên úy khuyên về phần linh hồn để được lên Thiên đàng sau này. Tù như vậy thì sướng quá ! Hãy tự nghĩ nếu sống ở ngoài tù, phải đi kiếm việc làm và làm việc cật lực trong 3 năm, chưa chắc đã kiếm được mấy trăm ngàn đo-la. Trong khi ngồi tù 3 năm, lại có lương 5 triệu đo-la, đáng đi ăn cướp lắm !

Tại Việt Nam, tỉ dụ những vụ tham nhũng như Vinashin làm mất tới USD.4.4 tỉ, mà chỉ phạt xuống chức, chứ không thấy Nhà Nước đưa ra vấn đề tìm lấy lại số tiền khổng lồ USD.4.4 tỉ. Dân chúng nghèo khổ quan tâm đến vấn đề lấy lại tài sản đã bị biển thủ, còn vấn đề kẻ tham nhũng mất chức hay không, họ không quan tâm cho lắm.

Ben ALI tự động bỏ chức Tổng Thống trốn chạy. Hosni MUBARAK có thể cáo bệnh, bỏ chức Tổng Thống, sang Anh quốc chữa bệnh và nghỉ ngơi.

Từ DẠ DẦY đói mà đứng lên, mang lòng HẬN THÙ với kẻ đã cướp bóc mình và tài sản quốc gia để mình phải nghèo khổ, dân chúng quan tâm chính yếu và cụ thể là đòi lại những gì đã bị những nhà độc tài biển thủ. Được chút Tự do và Dân chủ mà DẠ DẦY vẫn đói veo vì hậu quả của biển thủ, thì cuộc Cách Mạng còn thiếu sót và đi “chệch hướng“. Những nhà Trí thức Dân chủ hay những nhà Chính trị quốc tế dễ đưa ra Tự do, Dân chủ, Nhân quyền trừu tượng cho đẹp cho sang, mà quên đi lý do chính yếu là DẠ DẦY và HẬN THÙ do độc tài ăn cướp, có thể lái cuộc CÁCH MẠNG của dân chúng đi “chệch hướng“ khiến một số người nản lòng.
Độc tài và “Cướp ngày“
cũng là một

Nếu nắm được quyền Chính trị độc tài bịt miệng dân chúng, cấm đoán báo chí,  có thể ngụy biện Luật pháp để bỏ tù người chống đối, thì khi thấy Tiền bạc, Tài sản quốc gia nằm sờ sờ trước mắt, kẻ độc tài dễ dàng biển thủ. Không ai có thể than vãn. Còn nếu Độc tài Chính trị của cả một Đảng như ở Việt Nam mà nắm trọn Độc quyền Kinh tế được cả Đại Hội đảng quyết định như Cương Lĩnh, thì những bóc lột dân chúng, biển thủ tài sản quốc gia được chính Nhà Nước che chở bởi vì chính Đảng điều hành Nhà Nước.

Nhân những cuộc Cách Mạng tại Tunisie, Ai Cập…, báo chí truyền thông nói nhiều về những biển thủ của hai nhà độc tài Ben ALI, Hosni MUBARAK…, từng những tiền tỉ, trong khi ấy dân của những nước này thất nghiệp, mỗi ngày chỉ có thể sống với chừng 2 đo-la. Dân nghèo cực nổi dậy làm Cách Mạng. Điều quan trọng đối với dân không phải chỉ để Ben ALI và Gia đình thoát ra nước ngoài sống sung sướng với tiền tỉ biển thủ được, mà phải thâu lại những tài sản biển thủ ấy. Cũng vậy, dân Ai Cập không phải chỉ nguyên đòi hỏi Hosni MUBARAK xuống chức để ông và cả Gia đình sống yên lành như những tỉ phú, mà dân phải thâu lại tài sản quốc gia đã bị biển thủ.

Tại Việt Nam cũng vậy, khi cuộc Cách Mạng dứt bỏ Cơ Chế CSVN hiện hành, thì không phải chỉ để Lãnh đạo Đảng yên lành ở trong nước hay tại ngoại quốc hưởng thụ những tài sản đã biển thủ được, mà phải thâu hồi những tài sản ấy lại cho Quốc gia.

Bài này viết về vấn đề Phong tỏa Tài sản của những nhà Độc tài đã được chuyển ra nước ngoài nhằm hoàn lại những tài sản biển thủ ấy cho Quốc gia sở hữu. Những kiều bào sống tại nước ngoài, có gốc từ những Quốc gia dưới quyền cai trị độc tài, có thể đóng góp vào tiến trình Phong tỏa và Hoàn lại Tài sản Quốc gia đã bị những nhà độc tài biển thủ và chuyển ra ngoại quốc.


Chỉ đích danh những tên Độc tài
biển thủ Tài sản quốc gia
 
Những tỉ cụ thể :
=> Tại Á Đông : MARCOS, SUHARTO
=> Tại Trung Đông : Sadam HUSSEIN
=> Tại Trung Phi : MUBUTU
=> Tại Bắc Phi : Ben ALI, MUBARAK, KADAFI

Những Tài sản biển thủ thường được phân chia cho thành phần Gia đình và cất dấu tại nước ngoài, nhất là Thụy sĩ, Pháp, Anh, Hoa kỳ.

Tờ Financial Times 26.01.2011, để trưng dẫn tỉ dụ, đã công khai đưa ra danh dách một số nhà độc tài biển thủ tài sản quốc gia và chuyển ra nước ngoài:

* HAITI: Jean-Claude ‘Baby Doc’ DUVALIER cai trị từ 1971-1986, chuyển đi từ USD.300-900 triệu

* IVORY COAST : Laurent GBAGBO, hiện cố thủ giữ quyền hành, chuyển sang Thụy sĩ và hiện bị phong tỏa. Con số chưa công bố.

* TUNISIA : Zein al-Abidine Ben ALI, cai trị từ 1987-2011, chuyển tiền biển thủ sang nhiều quốc gia, con số ước lượng từ USD.8-9 tỉ. Thụy sĩ đã ra lệnh phong tỏa

* IRAQ : Saddam HUSSEIN, cai trị từ 1979-2003, biển thử từ USD.10-40 tỉ

* INDONESIA : Haji Muhammad SUHARTO, cai trị từ 1965-1998, biển thủ từ USD.15-35 tỉ.

Hai cơ chế Trung quốc và Việt Nam cho phép những nhà độc tài nắm giữ Kinh tế, thì việc biển thù càng trầm trọng.


Phong tỏa
những Tài sản biển thủ

1) Trường hợp mới nhất là Ben ALI và BAGBO

Tối hôm nay 19.01.2011, trong giờ Tin Tức lúc 19:30, Bà Tổng Thống CALMY-RAY đích thân tuyên bố trên Đài Truyền Hình TSR1 rằng THỤY SĨ QUYẾT ĐỊNH PHONG TỎA NHỮNG TRƯƠNG MỤC NGÂN HÀNG VÀ NHỮNG TÀI SẢN :

=> Của cựu Tổng Thống BAGBO (Cote d’Ivoire)

=> Của cựu Tổng Thống BEN ALI, của Gia đình Ông và của những người điều hành Chế độ của Ông.

Bà Tổng thống CALMY-RAY công bố chính thức rằng Lệnh Phong tỏa này bắt đầu có Hiệu Lực từ ngày hôm nay 19.01.2011 và kéo dài trong vòng 3 năm. Trong thời gian này, những Tài sản bị phong tỏa không thể rời khỏi Thụy sĩ và chờ đợi Luật pháp phân định. Theo Lệnh này của Trung ương Liên Bang Thụy sĩ, các Ngân Hàng phải khai trình những Trương mục liên hệ.

Đài Truyền Hình Thụy sĩ còn cho biết thêm những tin sau đây:

* Chính Bà Leila TRABELSI, vợ thứ hai của Ben ALI, thường gọi là Cô hớt tóc (La coiffeuse) đứng ở trung tâm cả một hệ thống Kinh tế đáng nghi ngờ.

* Em trai của Bà Leila TRABELSI, Bernard TRABELSI quản trị Du Lịch, Vạn Tải và Địa ốc, có lãnh vực Thương mại khổng lồ, có cả đoàn máy bay JET đậu tại Phi trường Geneva.

* Cháu trai của Bà Leila TRABELSI, tham nhũng, hiện có tòa nhà vương giả tại  Gia Nã Đại.

* Con rể của Ben ALI trở nên giầu có bất thường với những hoạt động Kinh tế mờ ám.

Thông tin của các Đài Truyền hình cho thấy hình ảnh Dân chúng biểu tình tại Tunisie, đòi hỏi dẫn độ cựu Tổng thống Ben ALI về Tunisie để xét xử và trao nộp Tài sản ăn cướp của nước Tunisie.

2) Dự phòng trường hợp của TT.MUBARAK

Đài Truyền Hình TSR1 tối hôm qua Chúa Nhật 6.2.2011 cho biết rằng tài sản ước lượng của Gia đình MUBARAK tối thiểu là vào khoảng USD.40 tỉ được chia nhau đứng tên cất giữ hoặc kinh doanh ở trong nước hay tại ngoại quốc:

=> TT.Osni MUBARAK
=> Vợ : Suzanne MUBARAK
=> Người con trai cả : Alaa MUBARAK, có nhà tại Manhattan
=> Người con trai thứ hai : Gamal MUBARAK, có dinh thự tại Luân Đôn

Tối nay, 07.02.2011, Đài Truyền Hình Euro News, đã lập đi lập lại Thông Tin về Tài sản của Gia đình MUBARAK.

Sau khi nói về cơ chế Mubarak tham nhũng, đàn áp nhân quyền, sử dụng bạo lực công an tra tấn, bỏ tù, và nói về tình trạng dân chúng thất nghiệp, sống với chừng 2 đo-la mỗi ngày, Đài Euro News, dưới đề mục EGYPT : MUBARAK’S FORTUNE, đã cho biết nhiều chi tiết hơn Đài Truyền Hình TSR1 Thụy sĩ về Tài sản của nhà độc tài Mubarak. Tài sản ước lượng từ USD.40 tỉ tới USD.70 tỉ được phân phối như sau :

=> TT. Hosni MUBARAK : USD.15 tỉ
=> Vợ : Suzanne MUBARAK : USD.1 tỉ
=> Con trai cả : Alaa MUBARAK : USD.8 tỉ
=> Con trai thứ hai : Gamal MUBARAK : USD.17 tỉ

Đài Euro News còn phê bình thêm rằng Tài sản của Gia đình MUBARAK còn lớn hơn Tài sản của người giầu nhất Thế giới.

Tài sản ấy được phân phối vào lãnh vực Địa ốc tại Hoa kỳ (New York và Los Angeles), tại Anh quốc (Luân Đôn) tại United Arab Emirates (Dubai).

Tài sản kếch xù này được tạo nên từ quyền lực độc tài tham nhũng:

* Lợi dụng quyền lực dành độc quyền mua rẻ hoặc chiếm lấy những đất đai quân đội vào những năm 1980 và sau đó bán lại với giá cao cho những Tập đoàn nước ngoài vào đầu tư du lịch.

* Bắt những Tập đoàn khai thác tài nguyên, du lịch và địa ốc phải dành cho Gia đình ông 20% tham dự lợi nhuận.

* Những Tập đoàn muốn đầu tư tại Ai Cập phải đóng tham nhũng mới có phép hoạt động. 

Đài cũng chiếu lên hình ảnh Mubarak già yếu, xuống bậc thang không vững bên cạnh vợ. Ông từ chối không ra ứng cử Tổng Thống kỳ tới là tất nhiên. Nhưng ông cố thủ giữ quyền cho đến tháng 9 này vì muốn có thời giờ để tiêu táng tài sản.

Kết luận của Bản Tin này, Đài chiếu lên hình ảnh TT.OBAMA thăm Ai Cập và đứng cạnh con đỡ đầu MUBARAK (DICTATOR MADE IN USA) chào Quốc kỳ. Chẳng lẽ suốt 30 năm trường, Hoa kỳ không biết nhà độc tài này biển thủ Tài sản đến USD.40—70 tỉ hay sao để khuyến cáo, mà phải đợi dân chúng Ai Cập bị bóc lột đói khổ, xuống đường chết chóc mới lên tiếng khuyến cáo ?

Chú thích cá nhân : Theo nguồn tin không chính thức từ giới Tài chánh/Ngân hàng quan tâm đến Tài sản của Gia đình MUBARAK, thì TT.MUBARAK, còn mang Quốc tịch Anh vì Vợ (Suzanne MUBARAK) gốc người Anh, có thể lấy lý do chữa bệnh để thoát khỏi Ai Cập và sang Anh quốc trong những ngày gần đây. Như vậy ông cũng là con rể của Anh quốc (MADE IN UNITED KINGDOM).


Nước giữ Tài sản ra lệnh
Phong tỏa khi có yêu cầu

Khi đưa tin về Tài sản của MUBARAK, Đài Truyền Hình Thụy sĩ TSR1 mời một Luật sư lên để cắt nghĩa cho biết những trường hợp nào ra lệnh Phong tỏa Tài sản. Luật sư cho biết những trường hợp sau đây :

1) Theo yêu cầu của Chính quyền chuyển tiếp của bản xứ
2) Theo yêu cầu của Luật sư đại diện một đoàn thể kiều bào nước đó tại Thụy sĩ
3) Theo đề nghị của sứ quán Thụy sĩ tại nước đó
4) Đơn giản hơn : Thụy sĩ tình nghi rửa tiền


Hoàn trả Tài sản biển thủ
cho Dân (Quốc gia) có quyền

Chúng tôi đã tìm thấy những trường hợp Phong tỏa trước đây và Thụy sĩ đã chuyển trả lại cho Quốc gia (Dân) có quyền đối với những Tài sản bị phong tỏa ấy. Những trường hợp này được đăng trên Nhật báo TRIBUNE DE GENEVE hôm nay, 20.01.2011, trang 3:

1)  Trường hợp TT. Ferdinand MARCOS, Phi Luật Tân

Ngày 25.03.1986, Liên Bang Thụy sĩ ra lệnh Phong tỏa Tài sản của cựu Tổng thống Ferdinand MARCOS trên Lãnh thổ Thụy sĩ. Sau những thủ tục Luật pháp sáng tỏ chứng minh năm 2003, Liên Bang Thụy sĩ đã chuyển trả cho Dân Phi Luật Tân số tiền là USD.683 triệu.

2)  Trường hợp Ông Sani ABACHA, Nigeria

Trương mục của Ông này đã bị Phong tỏa và Liên Bang Thụy sĩ đã chuyển trả cho Dân Nigera năm 2005 số tiền USD.500 triệu.

3) Trường hợp Ông Raul SALINAS, Mễ Tây Cơ

Ông này biển thủ tiền và chuyển qua Thụy sĩ. Trương mục bị phong tỏa và Liên Bang Thụy sĩ đã chuyển trả lại cho Dân Mễ Tây Cơ năm 2008 số tiền USD.74 triệu.

Những trường hợp trên cho thấy rằng khi Liên Bang Thụy sĩ Phong tỏa Tài sản để điều tra, thì khi Thủ tục Luật pháp chứng minh rồi, Tài sản bị phong tỏa được Liên Bang Thụy sĩ chuyển trở lại cho Quốc gia (Dân) hay Người có quyền.


Vai trò của Cộng đồng
Kiều bào Hải ngoại

Theo Luật sư cho biết nguyên tắc chung trên Đài Truyền Hình Thụy sĩ TSR1 tối 0.6.02.2011, thì Công đồng Kiều bào, qua Luật sư đại diện, có thể yêu cầu việc Phong tỏa Tài sản biển thủ.

Trở lại trường hợp cụ thể của Tài sản Ben ALI và Cộng đồng Kiều bào Tunisie tại Thụy sĩ. Thứ Ba ngày 18.01.2011, Nhật báo TRIBUNE DE GENÈVE đăng trên trang nhất một bài với đầu đề TRAQUE A GENEVE DES AVOIRS DU CLAN BEN ALI (SĂN LÙNG TẠI GENEVE NHỮNG TÀI SÃN CỦA BÈ ĐẢNG BEN ALI). Dựa theo bài báo này, chúng tôi đã viết trong Bài dưới đây rằng Hội Người Tunisie tại Thụy sĩ tích cực yểm trợ cuộc Cách Mạng tại nước họ bằng hành động cụ thể:

=>  Bao vây Ngân Hàng HSBC tại Geneva vì thấy hình bóng Cháu của Ben Ali cùng với một cận vệ lai vãng đến Ngân Hàng này.

=>  Nhân danh Hội Người Tunisie, họ liên lạc với Trung ương Liên Bang Thụy sĩ tại Thủ đô BERNE để yêu cầu Phong tỏa những Tài sãn của Ben Ali và bè đảng tại các Ngân Hàng và trên Lãnh thổ Thụy sĩ.

Qua những khả năng có thể làm được này, chúng ta người Việt ở hải ngoại có thể đóng góp cụ thể với cuộc đấu tranh tại Quốc nội.

Thực vậy, ngày 30.12.2010, dưới đầu đề TRÁCH NHIỆM ĐẤU TRANH QUỐC NỘI, chúng tôi đã đề nghị việc đóng góp cụ thể của người Việt Hải ngoại cho Quốc nội như sau:

“Điều đóng góp mà Quốc nội mong chúng ta làm, đó là canh chừng, tố cáo những tên THAM NHŨNG LÃNG PHÍ và con cháu chúng chuyển tiền bạc ăn cướp ra nước ngoài để sống sung sướng. Nếu có thể, yêu cầu nước ngoài chuyển những tiền ăn cướp đó trả lại cho dân Việt Nam.”

Người Việt Tỵ nạn sống trên 70 Quốc gia. Chúng ta có khả năng canh chừng việc này tại khắp nơi. Tại mỗi Quốc gia có người Việt Tỵ nạn sinh sống, nhất là tại những Quốc gia như Thụy sĩ, Hoa kỳ, Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Đức… có những Ngân Hàng có thể nhận Tiền ký thác, chúng ta thành lập những Ủy Ban phụ trách về vấn đề này. Ủy Ban này có thể gồm những Chuyên viên Tài chánh, Ngân Hàng và những Luật sư. Đó là việc đóng góp cụ thể cho cuộc đấu tranh tại Quốc nội.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 07.02.2011
Web: http://VietTUDAN.net



                                                      CHỦ ĐỀ:
                                         TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI
                                 DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH

                                                       Bài 04:

                                             NHỮNG NHÀ ĐỘC TÀI
                                    “MADE IN USA, FRANCE, CHINA“

                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                              Geneva, 02.02.2011
                                         Web: http://VietTUDAN.net



Chúng tôi đã viết bài về cuộc nổi dậy của dân chúng Tunisie vì quyền DẠ DẦY. Từ quyền Dạ Dầy ấy, dân chúng mang tâm lý xã hội chung là HẬN THÙ đối với những nhà độc tài đã bóc lột dân để mình giầu nứt khố và làm cho dân nghèo kiết xác. Đó là mẫu số chung làm dân chúng NHẤT TRÍ đòi dứt bỏ những nhà độc tài. Nhưng nếu những nhà độc tài ấy được “MADE IN…” và được che chở do tính toán Chính trị, thì đó là nguồn gây ra những phức tạp bởi bản chất Chính trị là pghức tạp do tính toán mưu mẹo cố thủ giữ lấy quyền hành. Chúng tôi viết bài này với đầu đề NHỮNG NHÀ ĐỘC TÀI “MADE IN USA, FRANCE, CHINA“ như là nguồn tính toán Chính trị có thể gây phức tạp cho cuộc Cách Mạng DẠ DẦY.

Suốt những chục năm trường, khi mà dân chúng chỉ sống mỗi ngày chưa tới 2 đô-la, bị những nhà độc tài cướp bóc quyền dạ dầy cho túi riêng họ, gia đình và nhóm đảng của họ, thì chính sách ngoại gia của Tây phương, Mỹ, Pháp… vì quyền lợi riêng Tây phương coi như là có trật tự để mình yên ổn hưởng thụ. Những ngườc độc tài như Ben ALI, Hosni MUBARAK lần lượt “Made in France“, “Made in USA“ đã tận tình phục vụ cho Pháp và Mỹ, trong khi ấy, nhân danh trật tự cho Tây phương, họ không cho Nhân quyền cho dân, nhất là bóc lột người dân cho túi riêng, nghĩa là họ giầu nứt khố và dân chết đói mặc dân.

DẠ DẦY đói veo chịu không nổi, dân chúng tự động nổi dậy đòi miếng ăn. Từ DẠ DÀY thiếu ăn mà nổi dậy, dân chúng tiến sang THÙ HẬN những kẻ giầu nứt khố đã làm mình nghèo kiết xác, nên họ đòi những tên côn đồ độc tài phải ra đi tức khắc, thiếu điều họ túm cổ giết tại chỗ. Dân chúng phải lo liệu kiếm cơm cho mình và con cái, không có thời giờ trì hoãn. Đó là thái độ bình thường và rất hữu lý. Trong khi đó những người Trí thức có ăn sung sướng ngồi tại dinh thự như điện ELYSEES (Sarkozy) hay tòa BẠCH ỐC (Obama) lại khuyên dân chúng hãy từ từ chuyển sang Dân chủ trừu tượng với chính những tên độc tài (Dictators made in France, USA).

Sau bao chục năm trường, tại sao những tên độc tài kia không chuyển sang Dân chủ, mà phải đợi khi dân nổi sùng, thì mới nói là từ từ chuyển sang. Phải có mưu mô gì đó. Nói như vậy sau mấy chục năm trường hà hiếp dân chúng, thì tất nhiên dân chúng “đếch tin“ nổi. Sao mà Tây phương (Sarkozy và Obama Trí thức) ngu muội về tâm lý những người nghèo nổi sùng như vậy ?

Xin lưu ý rằng Tây phương mang nặng văn minh Thiên chúa giáo (Civilisation Chrétienne), phải biết ngụ ngôn sau đây trong Phúc Âm về kẻ trọng thương nằm bên lề đường và người Samari mà chính Chúa Giêsu kể như sau:
“Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêricô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ có người Tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi, Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc.” (Lc 10, 30-35).

Trong suốt những chục năm trường, dân chúng bị trọng thương bởi những kẻ cướp. Mà những kẻ cướp này lại do chính mình tạo ra (Made in USA, in France). Người Tư tế (tỉ dụ Jacques CHIRAC, Nicolas SARKOZY) đi qua lại con đường ấy và nhìn thấy rõ kẻ trọng thương là dân Tunisie nằm bên đường suốt mấy chục năm trường, nhưng bỏ đi, làm ngơ. Cũng vậy thầy Lê-vi Obama biết rõ kẻ trọng thương là dân Ai Cập, nhưng đã không can thiệp trước đây và ngoảnh đi. Dân Tunisie và dân Ai Cập bị trọng thương gần chết, nên lúc này ráng hơi thở cuối cùng mà la lên xin cấp cứu tức khắc, thì thầy Tư tế Sarkozy và thầy Lê-vi Obama lại khuyên dân hãy kiên nhẫn nằm yên để gọi chính kẻ cướp Ben ALI và MUBARAK đến băng bó cho. Làm thế nào kẻ trọng thương, dân Tunisie và dân Ai Cập, tin tưởng nổi đám Ben ALI và đám MUBARAK đến băng bó vết thương cho mình được. Chính vì vậy mà dân biểu tình Tunisie và Ai Cập không thể tin được kẻ đã đánh mình trọng thương, có thể cứu vớt mình. Nếu có kẻ ngoại đạo Samari như Bin LADEN đến băng bó vết thương, thì người bị trọng thương ắt chấp nhận vì mình sắp chết rồi.

Tunisie: Ben ALI “Made in France“

Pháp có những liên hệ đặc biệt với Tunisie và Ben ALI về Kinh tế/Thương mại. Kiều bào Pháp làm ăn tại Tunisie rất đông. Những ngày đầu dân chúng Tunisie nổi lên làm Cách Mạng chống lại cơ chế bóc lột của Ben ALI và bè lũ, thái độ của Pháp bị nghi ngờ là muốn ủng hộ Ben ALI để đàn áp những cuộc dân chúng biểu tình. Pháp có thể cần một nhà độc tài để đàn áp dân chúng Tunisie vì quyền lợi của nước Pháp tại đây. Một số trong giới Chính trị  Pháp đã công kích Bà Ngoại trưởng Pháp tại chính Quốc Hội vì ý tưởng của Bà hé cho thấy rằng Pháp và Cơ chế hiện hành Ben ALI có thể hợp tác về công an để giữ an ninh. Thủ tướng FILLON phải bênh đỡ gượng gạo Bà Ngoại trưởng. Nhưng dân chúng Tunisie nhất định đi tới cùng làm Pháp dấu nhẹm đi thái độ lúc đầu của mình. Cho dù nhà độc tài Ben ALI có ‘MADE IN FRANCE’ để bóc lột dân Tunisie và tước đoạt Nhân quyền của dân nước này, nhưng sức nổi dậy của dân chúng là bảo vệ QUYỀN SỐNG con người của mình, thì bất chấp đó là ‘Made in France, in USA,… hay từ bất cứ nước nào’
 
Ai-Cập: Mubarak “Made in USA“
 
Dân chúng Ai Cập đã nổi dậy và biểu tình mạnh mẽ trong 9 ngày nay. Đặc biệt trong hai ngày thứ Sáu 28.01.2011 và thứ Bẩy 29.01.2011, Đài Truyền Hình CNN triền miên đưa tin về những cuộc Biểu tình và bình luận về phản ứng của Hoa Kỳ đối với việc nổi dậy đòi TT.MUBARAK phải ra đi. Hôm qua, thứ Ba, 01.02.2011, hàng triệu dân Ai Cập biểu tình đòi kẻ cướp Mubarak và đồng bọn phải ra đi mà hạn chó là thứ Sáu 04.02.2011. MUBARAK đã là con cưng của Hoa kỳ từ nhiều thế hệ Tổng Thống Mỹ cho đến nay. Người con cưng ấy là nhà độc tài, bóc lột dân chúng Ai Cập. Ngày nay dân chúng khổ cực ấy đứng lên đòi MUBARAK phải ra đi. Làm thế nào mà Hoa kỳ yên lặng trước cuộc Cách Mạng của dân: con cưng MUBARAK của mình là một tên ham quyền cố vị và độc tài đàn áp, tước đoạt Nhân quyền dân chúng Ai Cập. Chính Hoa kỳ muốn nêu cao những vấn đề Nhân quyền, trong khi ấy con cưng MUBARAK của mình đã chà đạp Nhân quyền đối với dân Ai Cập trong nhiều chục năm. Cuộc nổi dậy của dân chúng Ai Cập là chính đáng cần phải được khuyến khích, cổ võ của mọi người và từ mọi nước. Tối hôm qua, Đài Truyền Hình A2 của Pháp đã đưa hình Thủ tướng FILLON Pháp tuyên bố hoàn toàn ủng hộ ý chí của dân chúng Ai Cập nổi dậy để tiễu trừ nhà độc tài. Đài CNN đưa lên hình ảnh người con cưng MUBARAK này đã thân thiện thế nào đối với nhiều đời Tổng Thống Mỹ.

Tại nhiều nước, kiều dân Ai Cập và dân bản xứ đã tổ chức những cuộc Biểu tình ủng hộ cuộc nổi dậy của dân chúng quốc nội Ai Cập: tại Liên Hiệp quốc Nữu ước, tại Liên Hiệp quốc Geneva, tại chính Thủ đô Hoa Thỉnh Đốn. Tại đây, cuộc biểu tình dương cao một tấm biểu ngữ thiệt lớn với hàng chữ ‘DICTATOR MADE IN USA’. Trong chữ DictatOr, có chữ ‘O’ được gắn hình của Mubarak. Ở một nước vẫn tự hào là Dân chủ gương mẫu như nước Mỹ, mà ‘DictatOr’ lại được sản xuất từ chính nước này để đàn áp nhân quyền, cướp miếng ăn của một dân tộc như Ai Cập trong nhiều chục năm, thì đó là điều đáng được dân chúng Mỹ xét lại và điều chỉnh việc sản xuất với nhãn hiệu ‘DICTATOR MADE IN USA’

Hôm qua, 01.02.2011, Mubarak ra trước Đài Truyền hình nói là ông vẫn giữ chức vụ Tổng thống đến hết nhiệm kỳ và hứa rằng:
=> Sẽ không ra ứng củ trong nhiệm kỳ tới đựoc bầu vào tháng 9 này,
 => Sẽ hướng dẫn dân bầu cử Tổng thống trong nhiệm kỳ mới để cải tổ Chế độ theo hướng Dân chủ.

Sau việc tuyên bố hứa hẹn này của Mubarak, TT.Obama kêu gọi dân chúng Ai-Cập hãy theo lới con cưng “Made in USA“ mà đừng biểu tình, chờ đợi Mubarak băng bó vết thương cho mình trong trật tự.

Sao mà khờ thế ! Dân chúng khốn khổ Ai Cập không khờ như Mubarak và Obama để tin tưởng kẻ cướp và con cưng của Obama băng bó vết thương cho mình trong “Trật tự “. Vì vậy mà dân chúng bị trọng thương vẫn đòi hỏi kẻ cướp Mubarak phải cút đi tức khác mà hạn chót là thứ Sáu 04.02.2011 này, để chính dân băng bó lấy vết thương của mình cho chắc ăn. Thái độ của Mubarak và Obama dễ dàng đẩy kẻ bị trọng thương là dân Ai Cập phải chấp nhận người ngoại Samari, khối Islamistes.

Để chận đứng việc lựa chọn này, tại sao Mubarak không từ chức và để dân Ai Cập quyết định sự sống còn của họ. Dân Ai Cập không ngu dốt như Mubarak và Obama nghĩ đâu. Phải tôn trọng họ. Có thể chính thái độ của Mubarak và Obama sẽ đẩy họ đi đến chống Mỹ sau này.

Tờ Financial Times ngày 02.02.2011, sau cuộc biểu tình trừng triệu người Ai cập hôm qua 01.02.2011 và sau lời tuyên bố của Mubarak và Obama về việc vẫn giữ Mubarak để làm công việc thay đổi với “Trật Tự “,  đã viết trên trang nhất như sau:
“The rally means there is hope. You know why Mubarak needs to go. It is because this was the era of corruption, of ferries sinking thousands people, the police brutality against the people. It is the the era in which he became American and Israeli agent.” (Cuộc đại biểu tình có nghĩa là có hy vọng. Các ông biết tại sao Mubarak cần phải ra đi. Đó là vì trước đây là thời kỳ của tham nhũng, của những chiếc phà làm chìm bao ngàn người, của dã man công an đối với nhân dân. Đó là thời kỳ mà hắn (Mubarak) trở thành nhân viên làm việc cho Mỹ và Do thái).

Khi mà người dân đứng lên và hiểu rõ Mubarak là nhân viên làm việc cho Mỹ và Do thái, thì họ không thể để cho Mubarak tiếp tục dẫn chế độ đến Dân chủ được.

Tác giả Pierre CORMON, dưới đầu đề QUAND LE MASQUE TOMBE EN EGYPE (KHI MẶT NẠ RƠI XUỐNG TẠI AI CẬP), đã viết ở trang 10 của Nhật báo Le Monde 02.02.2010 về Mubarak:
“Personne ne se gênait pour critiquer en privé le president Moubarak, que beaucoup appellent “l’âne”. L’âne doit disparaitre.” (Không ai bận tâm khi công kích tư nhân Tổng thống Moubarak mà nhiều người gọi là “con lừa“. Con lừa phải biến đi vậy.)

Nếu dân Việt Nam nổi dậy,
Tên độc tài Dũng có “Made in USA” hay không ?

Vì quyền lợi riêng của nước mình, mà nhiều nước miệng thì nói bô bô bảo vệ Nhân quyền, nhưng tay thì chìa ra cấu kết với những nhà độc tài để đàn áp Nhân quyền đối với dân chúng.
 
Về mặt Kinh tế, những nhà tài phiệt nước ngoài thích làm việc với Cơ chế độc tài để khai thác nhân lực và tài nguyên của một nước. Tài phiệt nước ngoài chỉ cần cho nhà độc tài một món tiền THAM NHŨNG, thế là nhà độc tài bóp chặt cổ họng dân chúng không được nói gì phẩn đối việc khai thác tài nguyên quốc gia, việc bóc lột nhân lực bằng cách trả lương nhân công chết đói. Đây là việc cấu kết tàn nhẫn lắm. Về mặt chính trị quốc gia, có lẽ Hoa Kỳ thích chơi với độc tài CSVN trong việc bảo vệ quyền lợi Mỹ ở Biển Đông. Tôi xin nói quyền lợi Mỹ ở Biển Đông, còn việc Trung quốc chiếm Hoàng Sa, thì Mỹ lại tránh né lấy cớ đây là tranh chấp chủ quyền song phương giữa hai nước.
 
Khi dân chúng Việt Nam nổi dậy DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN hiện hành, thì phải đi tới cùng, bất chấp Tầu, bất chấp Mỹ dù ‘NGUYỄN TẤN DŨNG MADE IN CHINA’ hay ‘NGUYỄN TẤN DŨNG MADE IN USA’.
 
Người Việt Nam bị CSVN độc tài đàn áp, thì đứng lên và DỨT KHOÁT với CSVN, không cần phải nể CSVN là con cưng của Tầu hay của Mỹ. Tầu hay Mỹ không thương dân Việt Nam như chính mình thương mình và dân Việt phải tự cứu lấy chính mình, chứ đừng ỷ nại cậy nhờ hão huyền vào người khác.
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 02.02.2011
Web: http://VietTUDAN.net

 



                                                       CHỦ ĐỀ:
                                          TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI 
                                  DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH

                                                         Bài 03:

                              CÁCH BIỆT GIẦU NGHÈO BẤT CHÍNH TẠO
                           TÂM LÝ QUẦN CHÚNG GHEN GHÉT HẬN THÙ
   
                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                              Geneva, 27.01.2011
                                       Web : http://VietTUDAN.net


Tuần trước, dưới Chủ đề TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH, chúng tôi viết về thái độ Dân chúng Tunisie nhất quyết loại bỏ Cơ chế cai trị độc tài và bóc lột của Ben ALI và đảng của ông. Lý do chính đứng lên của Dân chúng là đòi quyền sống, hay nói cụ thể hơn là đòi quyền DẠ DẦY.ø Năm 2003, TT.Jacques CHIRAC thăm Tunis, đã tuyên bố như gián tiếp nói với Ben ALI lý do chính của việc nổi dậy tương lai : «Le premier de droits de l’homme, c’est de manger » (Quyền đầu tiên của những Nhân quyền, đó là quyền ăn uống) (Nhật báo Le Monde 17.01.2011, trang 6). 

Ông Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp quốc, người có nhiều kinh nghiệm về những nước nghèo thiếu lương thực, thường cảnh cáo những Chính phủ của những nước này mỗi khi có Lạm phát làm dân chúng nghèo thiếu ăn : “Si le prix continuent à augmenter, je ne seris pas surprise qu’on assiste à des eumeutes de faim “ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên rằng người ta chứng kiến những cuộc bạo loạn vì đói) (Trả lời cho cuộc Phỏng vấn của Báo Financial Times 19.06.2008 nhân cuộc Họp của FAO mà ông Jacques DIOUF kêu gọi các nước giầu giúp đỡ các nước nghèo về lương thực).

Viết về cuộc Cách Mạng tại Tunisie vì Kinh tế, chúng tôi không thể không nhìn thấy tương lai nổi dậy của quần chúng Việt Nam. Thực vậy, cuối năm 2010, tình trạng tụt dốc Kinh tế Việt Nam càng trầm trọng, rồi Lạm phát, Vật giá tăng vọt, Phá giá đồng bạc, Ngân sách thiếu hụt, Dực trữ ngoại hối chỉ còn USD.14 tỉ chỉ đủ cho chừng hai tháng nhập cảng, những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh bị hạ điểm tin tưởng Tín dụng do vụ Vinashin tỏ ý quỵt nợ. Những lý do Kinh tế ấy cho thấy viễn tượng nổi dậy của các Lực Lượng quốc nội.

Chính vì vậy, trong bài mở đầu cho Chủ đề TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH, chúng tôi viết như kêu gọi những Lực Lượng quốc nội, thuộc mọi thành phần, đứng lên bảo vệ quyền DẠ DẬY, nghĩa  là cứu lấy chính mình khỏi chết đói. Chẳng quốc tế nào thương mình hơn chính mình thương lấy mình

Nếu quyền DẠ DẦY mang tính cách cá nhân và vật chất buộc cá nhân đói ăn phải đứng lên, thì còn một yếu tố nổi dậy nữa thuộc tâm lý quần chúng để cuộc nổi dậy mang tính cách xã hội đồng loạt. Chúng tôi muốn nói đến sự GHEN GHÉT, HẬN THÙ mà xã hội quy tội vào một tầng lớp bóc lột. Tầng lớp bóc lột này có thể dành ra một số tiền bố thí để làm cho DẠ DẦY người nghèo có chút cơm cháo dằn bụng mà có thể tạm thời không nổi dậy nữa, nhưng khi tâm lý xã hội đã ghen ghét và hận thù, thì những bố thí cho miếng cơm cháo không những không làm bớt ghen tức và hận thù, mà ngược lại còn làm quần chúng càng ghét và thù hận thêm. Thực vậy, Lê-Nin, từ bụng đói của dân chúng thợ thuyền và nông dân, đã chuyển quần chúng sang tâm lý ghen tức, hận thù xã hội để đẩy cuộc đấu tranh giai cấp đến đẫm máu. Đảng CSVN đã tạo một tâm lý xã hội ghen tương, thù hận giới địa chủ để mở những cuộc đấu tố tàn bạo giữa người với người.

Cuộc nổi dậy của Tunisie, từ tình trạng thất nghiệp, thiếu thốn về Kinh tế, còn mang tâm lý xã hội thù ghét Ben ALI và đảng của ông bóc lột. Cách Mạng Tunisie đang lan sang các nước độc tài Bắc Phi châu. Các Đài Truyền Hình tối hôm nay 26.01.2011 đều đưa lên những hình ảnh nổi dậy tại Ai Cập. Nhà Bình Luận của Đài Euro News tại Le Caire đã nhận định rằng từ việc nổi dậy vì lý do Kinh tế, dân chúng Ai Cập chuyển sang đấu tranh Chính trị nhằm loại bỏ giới thống trị bóc lột. Các nhà độc tài Bắc Phi châu quyết định bỏ tiền túi ra để hạ giá thực phẩm cho dân chúng đỡ đói, nhưng họ không thể làm giảm tâm lý xã hội đã chất chứa từ lâu là ghen ghét và thù hận họ đã tàn nhẫn bóc lột cả nước cho túi riêng. Khi quyền DẠ DẦY chuyển sang tâm lý xã hội GHEN GHÉT, HẬN THÙ này, thì những nhà độc tài bóc lột khó lòng lấy tiền riêng mà làm giảm được.

Nếu xã hội cùng đói ăn với nhau, thì không có nổi dậy, mà mọi người có thể cùng nhau hợp tác cố gắng phát triển Kinh tế để cứu đói giảm nghèo. Tụt giốc Kinh tế làm dạ dầy dân khổ sở, nhưng nếu đó là tình trạng Kinh tế chung, thì dân có thể thông cảm và không nổi dậy. Nhưng nếu việc tụt dốc Kinh tế không phải tình trạng làm ăn sút kém chung, mà là do một nhóm đảng cầm quyền Chính trị cướp bóc những cố gắng của quần chúng để làm giầu riêng cho nhóm đảng, thì việc tụt dốc Kinh tế chuyển sang tâm lý xã hội GHEN GHÉT và HẬN THÙ đối với cái nhóm đảng đã cướp bóc của chung làm của riêng giầu có. Bắt đầu từ DẠ DÀY đói, cuộc nổi dậy trở thành toàn diện do chính cái tâm lý xã hội GHEN GHÉT và THÙ HẬN kẻ bóc lột để mình giầu nứt khố giữa một quần chúng nghèo kiết xác.

Tại Trung quốc,
ÔN NHƯ BẢO ý thức
sức mạnh của tâm lý xã hội
GHEN GHÉT HẬN THÙ Giầu--Nghèo

Một số lớn báo chí Tây phương ca tụng Trung quốc trở thành giầu có hiện nay. Nói như vậy là sai. Phải phân biệt Dân Trung quốc vẫn nghèo, chỉ có đảng Cộng sản Trung quốc giầu mà thôi. 80% dân chúng Trung quốc vẫn nghèo khổ. Chỉ có đảng CSTQ và giới liên hệ là giầu vì khai thác nhân lực dân Trung quốc bán cho tư bản nước ngoài để làm giầu cho nhóm đảng

Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, viết tóm gọn và xác thực về Kinh tế/ Thương mại tập quyền chỉ huy nhóm đảng ở Trung quốc như sau:

“It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries”

(Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay).

Chính Thủ tướng Oân Gia Bảo đã phát biểu ngày 14.03.2010 trước Quốc Hội Nhân Dân nỗi lo lắng về thực trạng của nền Kinh tế tập quyền chỉ huy của nhóm đảng Mafia:

“L’inflation, plus une redistribution inéquitable des revenus et la corruption pourraient affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement”

(Lạm phát, thêm vào đó là một sự phân phối không đồng đều những thu nhập và tham nhũng có thể tác hại đến sự ổn định xã hội và ngay cả đến sự ổn định nhà nước” (Le Monde 16.03.2010, trang 16)
 
Chính nhật báo Le Monde cũng tả hố sâu nghèo nàn của quần chúng nông thôn và thiểu số giầu nứt khố của nhóm đảng Mafia như sau:

“La Chine est alarmée par le fait que le fossé ville-campagne va continuer à se creuser dans la mesure òu le pays se focalise sur le développement urbain et pas du monde rural.”

(Trung quốc bị báo động bởi sự việc là hố sâu thành phố—nhà quê sẽ tiếp tục tự đào sâu thêm ở mức độ nước này đặt tiêu điểm phát triển thành thị và không phải là lãnh vực nông thôn)

Cách đây 6 năm, số người giầu từ 150 triệu Đo-la, liên hệ với đảng CSTQ, là 100 người. Ngày nay con số đó đã tăng lên 1’000 người (Le Monde 16.03.2010, p.16).

Thú nhận những điểm như trên đây rồi, chính Ôn Gia Bảo tuyên bố một điều làm cho những ai thường ca tụng “cường quốc Kinh tế Trung quốc” phải ngạc nhiên:

“Cela prendra cent ans, même plus pour que la Chine devienne un pays moderne”

(Điều đó còn cần 100 năm, ngay cả lâu hơn nữa, để Trung quốc trở thành một nước tân tiến) (Le Monde 16.03.2010, trang 16).

Lạm phát ở Trung quốc đang làm cho nhóm đảng Mafia CSTQ lo sợ. Vật giá lên cao, nhất là thực phẩm, không làm cho cuộc sống của những người thuộc nhóm đảng CSRQ lo ngại vì họ dư thừa tiền bạc ăn cướp được, nhưng họ lo sợ DẠ DẦY thiếu ăn của 80% dân chúng nổi dậy và chuyển sang đấu tranh xã hội và chính trị do tâm lý xã hội GHEN GHÉT và THÙ HẬN giới cầm quyền bóc lột. Tăng trưởng Kinh tế cao, nhưng vào túi riêng nhóm đảng Mafia CSTQ chuyển ra nước ngoài chứ không tạo Mãi lực cho dân chúng nội địa. Báo chí khen Trung quốc tích trữ được tới USD.2500 tỉ, nhưng tại sao nhóm đảng Mafia CSTQ không đầu tư phát triển cho dân chúng nội địa nghèo khổ, mà lại dùng tiền đó để giúp hoặc mua tài sản tại những nước giầu khác. Đó chỉ là cái cớ chuyển tài sản ra khỏi Trung quốc mà họ đang lo sợ một cuộc quần chúng nổi dậy GHEN GHÉT và HẬN THÙ chính họ.


Tại Việt Nam,
hố sâu giầu nghèo đã và đang tạo
Tâm lý xã hội GHEN GHÉT, HẬN THÙ

Hiện tượng hố sâu cách biệt bất chính Giầu—Nghèo mỗi ngày mỗi tăng tạo tâm lý quần chúng GHEN GHÉT và HẬN THÙ với đảng CSVN. Mỗi lần viết về hiện tượng này, tôi không thể quên những câu Thơ của Thương binh NGUYỄN CUNG THƯƠNG viết từ Sài Gòn:

Chúng tao lết lê trên thành phố Cáo Hồ
Nên biết rõ từng tên đại ác
Trên bàn tiệc máu xương dân tộc
Nhà hàng nào chúng cũng ăn nhậu
Bé gái nào cũng bị chúng mua trinh!
Chúng ta sẽ tỉa từng thằng
Đất nước cần nhiều "quốc táng"
Bớt được mạng thằng Cộng Sản nào
Thì địa ngục xã hội chủ nghĩa này
Còn có chút sáng láng hơn

Chúng tôi xin kể ra một số sự việc từ THAM NHŨNG LÃNG PHÍ đưa nhóm đảng Mafia CSVN giầu nứt khố. Không cần phải có Lê-Nin tác động để gây HẬN THÙ của giới vô sản để làm cuộc thanh trừng giai cấp đẫm máu. Không cần đảng CSVN huấn luyện cho nông dân để gây HẬN THÙ mà mở những cuộc đấu tố bẩn thỉu giết “địa chủ “. Tâm lý dân chúng Việt Nam ngày nay GHEN GHÉT và HẬN THÙ tự động tích lũy vì chứng kiến trước mắt những cướp bóc bất công do nhóm đảng Mafia CSVN làm. Những tỉ dụ HẬN THÙ như sau:

1) Một bà mẹ Dân Oan khiếu kiện đã tụt quần phản đối Tham nhũng cướp nhà đất của bà mà Nguyễn Tấn Dũng chịu trách nhiệm. Việc làm này của một người đàn bà Việt Nam chứng tỏ sự HẬN THÙ đến cực độ của Bà.

2) Hơn 4 tỉ đô-la của Vinashin vào túi những tên lãnh đạo nào của nhóm đảng Mafia CSVN. Dân chúng nghèo khổ không HẬN THÙ sao được.

3) Dân chúng thấy hàng ngày những cảnh tiêu xài hoang phí, từ ăn chơi đến xe hơi nhà lầu, của những con ông cháu cha thuộc đảng hoặc giới thân cận với đảng.

4) Báo chí Uùc nêu đích danh Lê Đức Thúy, cựu Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, ăn hối lộ để cho con đi học tại Anh quốc tốn kém. Giới trẻ Việt Nam làm sao không GHEN TỨC và HẬN THÙ với chính Lê Đức Thúy và con của ông.

5) Nguyễn Tấn Dũng và Nông Đức Mạnh ngang nhiên dùng chức vụ để đưa con lên vị trí lãnh đạo nhằm nối tiếp quyền lực THAM NHŨNG LÃNG PHÍ của mình. Giới Trí thức tất nhiên GHEN GHÉT và HẬN THÙ.

6) Báo chí tại chính quốc nội đã đưa ra hình ảnh cách biệt Giầu—Nghèo như sau:

=> Ăn một bát phở giá 750.000 đồng (gần 40 đô-la)

« Kể từ nửa năm trở lại đây, anh Thắng – chủ một công ty hoạt động trong lĩnh vực bất động sản tại Hà Nội – thường đến ăn món phở khá nổi tiếng tại nhà hàng của một khách sạn trên đường Láng Hạ.

Loại phở này có 6 loại khác nhau với nhiều mức giá khác và chênh nhau tương đối lớn, gồm: Phở bò Kobe gyu ‘5’ giá 750.000 đồng/bát; phở bò Kobe ‘M’ giá 500.000 đồng/bát. “Bình dân” hơn là phở bò Wagyu Úc giá 220.000 đồng/bát. “Bình dân” hơn nữa là phở bò Mỹ giá 125.000 đồng/bát. 2 loại có giá thấp nhất là phở bò Úc ‘S’ giá 85.000 đồng/bát và phở nạm bò Mỹ giá 70.000 đồng/bát. »

(Trích Vietnamnet)

=> Cụ ông gần 100 tuổi đạp xích lô

«Cụ Đặng Huyền (người địa phương vẫn thường gọi là cụ Huần) năm nay 99 tuổi nhưng vẫn đạp xích lô. Hai năm trở lại đây, do sức khỏe yếu nên cụ Huyền không chở khách và hàng thường xuyên nữa nhưng mỗi khi có khách nhờ chở đồ nhẹ, cụ ông vẫn nhận lời cốt để có thêm tiền lo cho bữa cơm của hai vợ chồng già.

Bén duyên với nghề đạp xích lô từ khi 30 tuổi, đến nay cụ Huần đã có 69 năm làm nghề này. Con trai bỏ quê vào Nam làm ăn, hơn 30 năm nay mất liên lạc, cuộc sống gia đình cụ chỉ biết nhờ vào đồng công đạp xích lô ít ỏi và sự đùm bọc của làng xóm. »

(Trích VNExpress.net)


Lương công nhân Việt Nam mỗi tháng là 47 đô-la. Lương tháng không cho phép ăn được hai bát phở của giới làm địa ốc thân cận với đảng CSVN cướp nhà đất của dân.

Ngày 19.01.2011, Tác giả NGUYỄN QUANG DUY, từ Melbourne, viết về Chênh lệch giàu nghèo của cả Trung quốc và Việt Nam như sau:
 
“Cũng như tại Trung Hoa , nhiều lãnh đạo cộng sản Việt Nam và gia đình đã lợi dụng chức quyền để trở thành những nhà đại tư bản hay tập đòan tư bản đỏ. Nhiều đảng viên cộng sản nhờ lợi dụng quyền thế tham nhũng cũng đã nhanh chóng trở nên giàu có.
 
Tình trạng tham nhũng gắn liền với quyền lực và quyền thế. Chả thế khi được báo Pháp Luật phỏng vấn, ông Nguyễn Chí Dũng, Bí thư kiêm Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Ninh Thuận, và là đại biểu Đại hội đảng cộng sản lần này cho biết: “Tôi rất đồng tình với việc đưa tiêu chí không tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí để lựa chọn nhân sự khóa này. Nhưng bây giờ tìm được người gọi là ‘sạch sẽ’ một tí thì chắc là cũng khó, cũng hiếm”.
 
Trong khi tham nhũng lạm quyền tràn lan trong guồng máy đảng Cộng sản, thì mức lương công nhân lại quá thấp, nên khỏang cách chênh lệch giàu nghèo càng ngày càng mở rộng giữa tầng lớp công nhân và giới cầm quyền cộng sản.
   
Nhiều tầng lớp xã hội khác như những người về hưu, quân nhân, công chức, dân nghèo thành thị, mức sống trực tiếp chịu ảnh hửơng từ nạn phát phi mã do mô hình tăng trưởng Trung Quốc gây nên. Cả Trung Quốc lẫn Việt Nam , sự bất bình đẳng và chênh lệch giàu nghèo giữa một thiểu số cầm quyền cộng sản và đại đa số dân tộc sẽ là ngòi nổ cho trái bom ổn định chính trị mà hai đảng Cộng sản bằng bạo lực đang cố công dẹp tắt.”


Kết luận tóm gọn

Dân chúng Tunisie đã nổi dậy từ cụ thể Dạ Dầy bị đói. Toàn dân quyết liệt đi tới cùng, nghĩa là từ khởi điểm của dạ dầy, tâm lý chung GHEN GHÉT và HẬN THÙ đối với Ben ALI và bè nhóm bóc lột làm cho toàn dân nhất định tiễu trừ Chính trị. Tin tức Truyền Hình hôm nay cho biết là Chính phủ phải tuyên bố giải tán đảng hiện hành của Ben ALI, đồng thời phải ra yêu cầu quốc tế truy bắt vợ chồng Ben ALI về Tunisie xử tội.

Cũng tối hôm nay, nhà Bình luận của Đài Truyền Hình Euro News cho biết sự chuyển biến đấu tranh tại Ai Cập, từ thiếu ăn Kinh tế, tâm lý quần chúng GHEN GHÉT và HẬN THÙ đã chuyển sang đấu tranh Chính trị, đòi trừng phạt TT. MOUBARAK và con của Oâng cũng như đảng đang nắm quyền.

Hố sâu Giầu—Nghèo do bất công cướp bóc của nhóm đảng Mafia CSVN cầm quyền tạo cho toàn dân tâm lý chung xã hội là GHEN GHÉT và HẬN THÙ đối với Cơ chế CSVN hiện hành.

Khi mà Lạm phát, Vật giá tăng, dân nghèo cực khổ đến mức độ đứng lên, thì tâm lý chung xã hội GHEN GHÉT và HẬN THÙ của toàn dân sẽ đi đến DỨT KHOÁT PHẾ BỎ CƠ CHẾ CSVN hiện hành. Dân chúng đã quá biết những mưu toan lừa đảo của đảng CSVN trong quá dài bao chục năm. Những cải cách, nới rộng Nhân quyền trừu tượng chỉ là bình phong để rồi CSVN lùi một bước nhằm tiến hai bước nữa. Tâm lý GHEN GHÉT, HẬN THÙ ấy không cho phép những kẻ theo đóm ăn tàn, hoạt đầu chính trị nhằm nhẩy bàn độc, luồn trôn CSVN, dùng những chiêu bài đối thoại, hòa giải hòa hợp, làm lá chắn cho CSVN lợi dụng. Tâm lý GHEN GHÉT, HẬN THÙ đẩy ý chí của toàn dân đến DỨT ĐIỂM với bè lũ Mafia nhóm đảng CSVN đã bao năm trường cướp bóc cho đầy túi riêng.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 27.01.2011
Web: http://VietTUDAN.net



                                                     CHỦ ĐỀ:
                                        TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI
                                DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH

                                                      Bài 02:

                                                     TUNISIE:
                                   DÂN CHÚNG MUỐN CHẤM DỨT
                      CHỨ KHÔNG HÒA HỢP VỚI DƯ ĐẢNG BEN ALI

                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                             Geneva, 19.01.2011
                                       Web : http://VietTUDAN.net

 

Tại Irak, Saddam HUSSEIN độc tài và đảng của ông bị lật đổ, nhưng bằng sức mạnh quân sự ngoại lai, chứ không phải bằng  chính dân chúng Irak nổi dậy.

Cuộc nổi dậy của quần chúng Tunisie lật đổ Ben ALI và đảng RCD mới thực là cuộc Cách Mạng từ lòng Dân. Thực vậy, không những không có một thế lực thù địch nào ngoại lai đóng góp vào, mà còn có những quốc gia, vì quyền lợi riêng của quốc gia mình, muốn ủng hộ nhà độc tài Ben ALI  để phá cuộc Cách Mạng của Dân chúng Tunisie đã bị tước đoạt Nhân quyền, sống 23 năm dước ách độc tài của Cơ chế bạo lực công an, đời sống nghèo khó cùng quẫn vì nhóm đảng  và gia đình Ben ALI thâu tóm mọi hoạt động Kinh tế. Pháp vì quyền lợi riêng mình mà hy sinh vấn đề Nhân quyền cho dân chúng Tunisie. Những thế lực độc tài bên cạnh như Lybie, Algérie chắc chắn không muốn có cuộc Cách Mạng này vì sợ Cách Mạng lan sang nước mình. Nếu lấy trường hợp Dân chúng Việt Nam nổi dậy để dứt bỏ Cơ chế CSVN, thì Trung quốc gần kề có thể giúp CSVN trong việc đàn áp dân chúng. Thậm chí ngay cả Hoa kỳ, vấn đề Nhân quyền cho dân chúng Việt Nam trở thành thứ yếu, mà họ muốn sử dụng một ác quyền CSVN để làm hàng rào cho họ trong những vấn đề Biển Đông trước đe dọa của Trung quốc.

Chính Dân Việt Nam mới tha thiết đến những vấn đề Nhân quyền của mình. Dân Tunisie cũng mới đau khổ khi chính họ mất những quyền căn bản làm người.

Quần chúng Việt Nam nghèo đói, chứ đâu có phải là dân Mỹ mà Mỹ phải quan tâm. Quần chúng Tunisie thất nghiệp khổ cực, chứ đâu có phải là dân Pháp mà TT.Sarkozy quan tâm. Khi mình mang bụng đói sắp chết, thì chính mình tự thiết thân mà đứng lên, chứ đừng trông người khác thương mình vì họ no đủ và còn toan tính thủ lợi thêm nữa để ăn no béo map thêm. Ai chết mặc ai.

Thực vậy, Cơ chế cai trị của Ben ALI, Tổng thống Tunisie, giống hệt như Cơ chế CSVN cai trị. Ben ALI và nhóm đảng của ông kéo dài 23 năm làm dân Tunisie cùng cực và nổi dậy. Cơ chế CSVN, từ năm 1975, đã kéo dài 36 năm, làm dân cực khổ trong nền Kinh tế Mafia nhóm đảng khai thác, bóc lột tài nguyên và nhân lực Việt Nam, nhưng Dân Việt vẫn cúi đầu làm tôi mọi hay sao cho nhóm đảng Mafia này ?


Quyền sống thân xác hay quyền DẠ DẦY 
là lý do chính của quần chúng Tunisie nổi dậy

Năm 2003, khi TT.Jacques CHIRAC thăm Tunis, đã tuyên bố : «Le premier de droits de l’homme, c’est de manger » (Quyền đầu tiên của những Nhân quyền, đó là quyền ăn uống) (Nhật báo Le Monde 17.01.2011, trang 6). Đúng vậy, quyền DẠ DÀY là quyền quan trọng nhất và luôn luôn là lý do chính của các cuộc nổi dậy của quần chúng.

Tunisie của Ben ALI phát triển về Kinh tế với độ tăng trưởng 5% hàng năm, nhưng đó là độ tăng trưởng vào túi riêng của nhóm đảng và gia đình Ben ALI, chứ dân chúng mỗi ngày mỗi rơi vào bần cùng.

Ben ALI lên nắm quyền từ 07.11.1987, thay thế Habib BOURGUIBA. Oâng tuần tự thiết lập một Cơ chế cai trị dân mà Nhật báo Le Monde 17.01.2011, trang 6, viết như sau:

»Le système Ben Ali est né. Il ne fera que se renforcer au fil du temps, jusqu’à rendre l’atmosphère irrespirable… La presse est muselée, le multipartisme  interdit -- à l’exception d’une opposition de décor --, la liberté d’association confisquée et la justice instrumentalisée. Chacun vit sous le règne de l’arbitraire. Quiconque se rebiffe s’expose à des représailles de tous ordres, des plus violentes aux plus mesquines : tabassages en règle, passeports confisqués, lignes téléphoniques coupés, courrier Internet détourné, domiciles mis à sac, locaux professionnels cambriolés ou encore campagnes d’insultes ordurìeres, en particulier à l’égard des femmes «

(Hệ thống Ben Ali được khai sinh. Chỉ cần tăng cường, theo dòng thời gian, cho đến lúc làm bầu khí ngột ngạt không thở được… Báo chí bị bịt miệng, đa đảng bị cấm đoán – trừ một thứ đối lập để làm kiểng --, quyền tự do họp hội bị thâu lại và luật pháp biến thành phương tiện cắt nghĩa cầm quyền. Mỗi người sống trong cai trị độc đoán. Ai lên tiếng phản đối sẽ gặp phải những trả đũa đủ loại, từ những trả đũa bạo lực đến những trả đũa bần tiện nhất: tra tấn đánh đập, tịch thu thông hành, cắt đường giây điện thoại, thư điện tử bị đánh lạc đi, nhà ở bị vây hãm, cơ quan nghề nghiệp bị đánh cắp hoặc còn nữa là mở phong trào mạ lị tục tĩu, đặc biệt là đối với nữ giới).

Cách cai trị này giống hệt như ở Việt Nam. Không hiểu Ben Ali có mướn thầy CSVN sang dậy hay không ?

Để có thể thực hiện một Cơ chế cai trị như vậy, Ben Ali phải tổ chức một lực lượng Công an hùng hậu mà số đông thuộc những thành phần bất hảo được đưa từ trong tù ra. Nhật báo Le Monde 17.01.2011, trang 6, trích lời của chính Ben Ali:

« Les délinquants ! Nous allons les sortir de prison pour leur confier des tâches de police !»

(Những du đãng tội phạm ! Chúng ta sẽ đưa ra khỏi nhà tù và giao cho chúng những nhiệm vụ của công an !)

Theo Nhật báo Le Figaro 17.01.2011, trang 2, Cơ chế cai trị trên 10.5 triệu dân Tunisie được bảo đảm bởi một đảng duy nhất và một lực lượng công an hùng hậu. Tờ báo viết :

«La herse qui pesait lourdement sur la socíeté tunisienne était très serrée. Il y avait d’abord le parti unique, le Rassemblement Constitutionnel Démocratique (RCD) de Ben Ali. Il compte 1.5 millions d’adhérents, pour 10.5 millions d’habitants. Il infiltre profondément la socíeté tunisienne, puis qu’il a des cellules jusqu’à dans les entreprises privées.

La surveillance des individus était policìere : on comptait en Tunisie 130'000 policiers (pour 50 000 soldats) dont les deux tiers en civil. «

(Hàng rào sắt nhọn, đè nặng nề trên xã hội Tunisie, thật thắt chặt lại. Đầu tiên là một đảng duy nhất, đảng Tập họp Dân chủ Hiến pháp, của chính Ben Ali. Đảng có tới 1.5 triệu đảng viên, cho 10.5 dân Tunisie. Đảng len lỏi vào sâu trong xã hội Tunisie, bởi vì đảng có những đơn vị xâm nhập vào ngay những công ty tư nhân.

Việc kiểm soát những cá nhân giao cho công an: tại Tunisie, lực lượng công an có tới 130’000 người (trong khi ấy quân đội chỉ có 50 000 lính). Hai phần ba số công an mặc thường phục dân sự (công an chìm len lỏi)

Cho dù dân Tunisie có kiên nhẫn chịu đựng sống dưới một hệ thống cai trị ngột ngạt không thở được như vậy (theo báo Le Monde : « atmosphère irrespirable »), nhưng cái lý do chính để quần chúng đứng lên chấm dứt cơ chế Ben Ali là cái quyền DẠ DẦY theo như lời tuyên bố của TT.Jacques CHIRAC năm 2003 : «Le premier de droits de l’homme, c’est de manger » (Quyền đầu tiên của những Nhân quyền, đó là quyền ăn uống) (Nhật báo Le Monde 17.01.2011, trang 6).

Thực vậy, độc đảng của Ben Ali và Gia đình, họ hàng của ông, nhất là dòng họ Trabelsi của vợ thứ hai của Ben Ali, nắm trọn mọi ngành nghiệp Kinh tế của Tunisie, từ Du lịch, Khách sạn, Xây Cất, Dịa ốc, đến Ngân Hàng. Gia đình, họ hàng, đảng viên chính… xây cất những Biệt thự đồ sộ trên những khu đất cướp lại từ dân chúng.

Dưới đầu đề LE CLAN TRABELSI, SYMBOLE DES INJUSTICES (Bè đảng Trabelsi, biểu tượng của những bất công), nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ ) 17.01.2011, trang 5, viết :

«Le peuple est accablé d’impôts, la vie est trop chère, et tous ces hommes de la famille Trabelsi se sont enrichis sur notre dos. C’es eux qui nous ont volés et puis, c’est la Révolution.«

(Dân chúng bị đè nặng bởi các loại thuế, đời sống trở nên quá đắt đỏ, và tất cả những người thuộc gia đình Trabelsi đã trở thành giầu có trên lưng của chúng tôi. Chính họ là những người đã cướp bóc chúng tôi và rồi bây giờ là cuộc Cách Mạng).

Đống lửa Cách Mạng Tunisie âm ỷ trong một cơ chế cai trị khắt khe. Cái quyền DẠ DẦY bị cướp giựt. Chỉ cần một cái ngòi lửa châm thêm thì Cách Mạng bùng nổ. Ngòi lửa đó là một thanh niên trí thức thất nghiệp, Mohammed BOUAZIZI.

Mohammed BOUAZIZI, 23 tuổi, tốt nghiệp Đại học, nhưng kiếm không ra việc. Anh can đảm đi bán hàng rong rau cỏ hoa trái ngoài đường với một xe kéo nhỏ tự chế. Nhật báo Le Figaro 17.01.2011, trang 2, tả ngòi lửa cho Cách Mạng như sau :

«Un garçon de 23 ans, Mohammed BOUAZIZI, s’était immolé par le feu devant la préfecture. Il réclamait qu’un policier lui rende sa charrette de fruits et légumes, sa charrette de misère, que l’agent lui avait volée pour la cinquìeme fois. La femme fonctionnaire qui l’avait recu l’avait giflé pour lui apprendre à rester à sa place. Mohammed, désespéré, s’était arrosé d’essence, il avait craqué une allumette devant le batiment administratif de cette femme.«

(Một thanh niên 23 tuổi, Mohammed BOUAZIZI, tự thiêu trước tòa thị chính. Anh yêu cầu công an trả lại chiếc xe kéo hoa trái rau cỏ cho anh, chiếc xe kéo nghèo khổ, mà nhân viên công an đã ăn cắp của anh tới lần thứ 5.  Người đàn bà tiếp anh đã tát vào mặt anh để dậy anh phải ngồi vào chỗ. Mohammed, thất vọng, đã tưới xăng lên mình, anh bật que diêm tự thiêu ngay trước ngôi nhà hành chánh của người đàn bà này)

Ngòi lửa Mohammed đã châm đúng vào đống lửa đang âm ỉ của quần chúng Tunisie. Dân chúng xuống đường khắp nước. Ben Ali hứa tạo công ăn việc làm, nhưng quần chúng không thể tin tưởng vào những lời hứa của Ben Ali cũng như nhóm đảng của ông nữa.

Thứ Sáu, 14.01.2011, Ben Ali cùng với vợ và người trong gia đình trốn khỏi Tunisie. Trước khi đi, Ben Ali và vợ đã đến Ngân Hàng lấy theo 1.5 tấn vàng. Máy bay sang Pháp, nhưng Pháp không cho xuống, Ben Ali phải bay sang Seaoudi Arabia để lánh nạn.

Dân Tunisie sống tại Aâu châu cùng đứng lên với Quốc nội. Tại Thụy sĩ, kiều bào Tunisie đã biểu tình, canh chứng Ngân Hàng HSBC để đề phòng họ hàng của Ben Ali đến rút tiền ra. Hội người Tunisie tại Thụy sĩ đã xin Liên Bang Thụy sĩ khóa trương mục liên hệ đến tài sản của Gia đình Ben Ali.

Ben ALI trốn đi ra nước ngoài, đó là thành công quan trọng của cuộc Cách Mạng quần chúng Tunisie. Nhưng dư đảng của Ben ALI vẫn còn nằm trong nước. Dân chúng tạm ngưng biểu tình. Một Chính phủ gọi là Hợp nhất Quốc gia (Union Nationale) được tuyên bố ngày 17.01.2011 gồm trong đó những Bộ trưởng thuộc đối lập. Nhưng khi nhìn thành phần các Bộ trưởng, dân chúng Tunisie lại xuống đường biểu tình vì cuộc Cách Mạng quần chúng này muốn DỨT BỎ HẲN BEN ALI VÀ DƯ ĐẢNG CỦA NHÀ ĐỘC TÀI. Dân chúng không muốn Hòa Hợp Hòa Giải với những thành phần đã từng gây tội ác, bóc lột họ. Trước ý chí Cách Mạng muốn DỨT ĐIỂM như vậy, 4 Bộ trưởng thuộc đối lập từ chức khỏi Chính phủ và hai ông Chủ tịch Foued MEBAZAA, Thủ tướng Mohammed GHANNOUCHI (trước đây thuộc đảng RCD của Ben ALI) cũng phải tuyên bố ra khỏi đảng này. Đây là một cái gương mà dân chúng Việt Nam, khi nổi dậy, củng phải DỨT KHOÁT LOẠI TRỪ CSVN, chứ không nửa nạc nửa mờ Hòa Hợp mà bị lừa.

Quần chúng Tunisie khởi đầu cuộc Cách Mạng mà Báo chí Quốc tế đang phổ biến khả năng bành trướng sang các nước khác từ Maroc, Algérie, Lybie, Ai cập, đến Yemen bởi vì những nước này cũng áp đặt những cơ chế cai trị độc tài, cũng khai thác tài nguyên quốc gia cho nhóm đảng và gia đình để dân chúng sống trong cảnh nghèo khổ. Sự giầu có của những nước này về dầu lửa chỉ là cho nhóm đảng và gia đình, chứ không cho quần chúng.


Cách Mạng trong Lịch sử
luôn phát xuất từ quyền DẠ DẦY

Những cuộc Cách Mạng trong Lịch sử đều bắt nguồn từ quyền DẠ DẦY. Đó là Lịch sử đối chọi giữa quần chúng thiếu ăn và thiểu số nhóm đảng cực giầu bằng khai thác của chung thành của riêng.

* Cuộc Cách Mạng Pháp 1789 không bắt nguồn từ những bài diễn thuyết của giới Trí thức, nhưng từ quần chúng thiếu bánh mì giữa cảnh vua chúa và giáo sĩ tiêu xài xa hoa, dư thừa cao luơng mỹ vị trong những tiệc tùng linh đình hàng ngày. Tiếng thanh la của một bé gái kêu xin đồ ăn đốt bùng lên Cách Mạng Pháp 1789.

* Cuộc Cách Mạng 1917 của Lê-Nin cũng hoàn toàn dựa trên giới vô sản đứng trước giầu sang của Hoàng tộc. Quyền DẠ DẦY là nồng cốt để Lê-Nin đẩy Cách Mạng sang đấu tranh giai cấp tới đẫm máu.

* Cuộc Cách Mạng Nga và Đông Aâu 1989 chấm dứt Cơ chế Cộng sản cũng có nguyên do chính là sự thất bại của hệ thống Kinh tế Tập quyền Chỉ huy. Nền Kinh tế ấy đã đẩy dân Nga và dân Đông Aâu vào nghèo khổ cùng cực. Quyền DẠ DẦY buộc dân chúng phải đứng lên chấm dứt Chế độ Cộng sản.

* Cuộc Cách Mạng tại Tunisie và lan rộng ra các nước độc tài khác cũng bắt nguồn từ thiếu ăn của quần chúng giữa sự giầu sang của nhóm đảng bóc lột như chúng tôi viết ở phần trên đây.


Đến bao giờ những Lực Lượng Quốc nội VN
đứng lên DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN hiện hành

Cơ chế CSVN hiện hành cai trị dân còn khắc nghiệt hơn Ben Ali của Tunisie : độc đảng, lực lượng công an dùng bạo lực, không có tự do báo chí, cá nhân bị kiểm soát, những phản kháng bị ghép vào Điều 88 để bắt tù, điện thoại bị cắt, Internet bị kiểm soát…

Nhưng điều quan trọng hơn cả là độc tài giữ trọn quyền khai thác tài nguyên quốc gia và bóc lột nhân lực VN cho túi riêng của nhòm đảng, gia đình.

Chúng tôi đã viết một bài dài về tình trạng tụt dốc Kinh tế do hệ thống Tập đoàn quốc doanh. Tình trạng Lạm phát, phá giá Tiền tệ làm dân đã nghèo, còn càng lâm vào cực khổ hơn.

Với tình trạng như vậy hiện nay, chúng tôi đã kêu gọi rằng LỰC LƯỢNG QUẦN CHÚNG QUỐC NỘI buộc phải đứng lên chấm dứt CƠ CHẾ CSVN hiện hành vì quyền DẠ DẦY.

Nhưng bao giờ quần chúng bị bóc lột tại Việt Nam mới đứng dậy ? Thời điểm là do Lực Lượng Quốc nội TRÁCH NHIỆM và tự định đoạt vậy.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 20.01.2011
Web: http://VietTUDAN.net



                                                     CHỦ ĐỀ:
                                        TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI
                                DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH

                                                      Bài 01:

                                 MINH ĐỊNH LÃNH VỰC ĐẤU TRANH
                               CỦA NHỮNG LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI

                          Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                             Geneva, 13.01.2011
                                       Web: http://VietTUDAN.net



Kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng CSVN luôn luôn vu khống cho những ai góp ý khác với ý đảng bằng Điều 88 để kết tội chống lại và nhằm lật đổ Chính quyền Nhân dân mà họ đang cố thủ giữ lấy. Dù cho những ai chỉ đòi hỏi quyền sống tối thiểu, CSVN cũng nại ra Điều khoản 88 để quy tội về Chính trị. Ông Lê Chí Quang, vì lòng yêu nước trước nạn Tầu xâm lăng biên giới, cũng bị kết án Chính trị. Việt kiều về thăm Quê hương, nếu họ muốn bắt, thì cũng có thể vu không dấu súng ống để làm Khủng bố nhằm lật đổ Chính quyền. Mới đây nhất, Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà-Vũ, đầu tiên là ngụy tạo gái, sau đó cũng lan sang Điều 88 chống lại Chính quyền.

Khi khai triển Chủ đề: TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH, và nhìn lại những kinh nghiệm vu khống trơ tẽn của CSVN, chúng tôi thấy cần phải minh định ngay từ Bài 01 của loạt Bài tiếp theo rằng Lãnh vực Đấu tranh của những Lực Lượng Quốc nội đứng lên là:

=> Phi Chính trị
=> Đòi Quyền sống cho thân xác
=> Dứt bỏ một Cơ chế phát sinh lan tràn Tham nhũng Lãng phí


Phi Chính trị

Nếu hiểu Làm Chính trị theo ý nghĩa đảng phái, tranh chấp Ý thức hệ, đối chọi những Chủ trương quản trị Quốc gia, để nắm lấy Chính quyền nhằm thực hiện Chủ trương quản trị Quốc gia theo Ý thức hệ chọn lựa, thì những Lực Lượng quốc nội mà chúng tôi kêu gọi không nằm trong những Lãnh vực Chính trị đảng phái này.

Thực vậy, khi viết Bài Mở đầu cho Chủ đề đăng kèm dưới đây, chúng tôi đã trình bay rõ rệt Lý do Phá sản Quốc gia gồm (i) Tụt lùi Kinh tế vĩ mô, (ii) Vật giá nhẩy vọt và (iii) Phá giá Tiền tệ làm những nguyên cớ cốt lõi để những Lực Lượng Quốc nội buộc lòng phải đứng lên. Nếu họ không đứng lên, thì chính họ sẽ chết. Họ đứng lên đấu tranh để thân xác họ khỏi bị chết, chứ không phải vì tranh chấp Ý thức hệ hay chủ trương nắm lấy quyền hành quản trị Quốc gia gì cả.

Như vậy, Lãnh vực đấu tranh của họ là PHI CHÍNH TRỊ hiểu theo Chính trị đảng phái như chúng tôi vừa trình bầy trên đây.

Minh định Lãnh vực đấu tranh như vậy để khi CSVN cố chấp lấy Điều 88 ra để bất bớ những Lực Lượng này, thì chúng ta có quyền lôi cả dòng họ của chúng ra mà phỉ nhổ. Lôi Hồ Chí Minh ra mà chữi rằng hắn không biết dậy đàn lớp con cháu của đảng CSVN cố chấp vu khống. Nếu tên ngu Nguyễn Tấn Dũng vẫn cối chầy vu Điều 88 cho những Lực Lượng này thì hãy lôi con gái hắn ra mà nhiếc rằng “con không khôn hơn cha “ đểø khuyên thằng cha đừng cối chầy, lôi xui gia của hắn ra mà quở trách rằng sống bên Mỹ biết phải trái mà không biết dậy xui gia Dũng đừng làm như côn đồ mà mất danh hai họ. 

Đòi Quyền sống cho thân xác

Cũng như đã viết rõ trong Bài Mở đầu, những Lực Lượng đứng lên là đòi quyền sống cho thân xác, nếu không DẠ DÀY họ đói meo và phải chết. Chúng tôi không nói đến Nhân quyền tổng quát và trừu tượng như ý niệm Dân chủ, Tự do… Chúng tôi chĩ hạn hẹp Lãnh vực đấu tranh cho quyền cụ thể là DẠ DẦY.

Đây là Lãnh vực đấu tranh ở mức độ sinh vật cho sống còn của thân xác. Con chim khi bị cướp miếng mồi là con giun, thì nó cũng xả thân rượt theo để tối thiểu dành lại được nữa con giun. Hai con cá dưới ao cũng dành dựt với nhau con tép để nuôi thân mình. Con thú rừng cũng còn biết đái vào gốc cây để dành khu vực săn mồi như tư hữu kiếm ăn.

Cuộc đấu tranh sẽ diễn ra giữa các Lực Lượng Quốc nội và CSVN  là cuộc đấu tranh giữa CSVN, một đảng ăn cướp bóc lột miếng ăn, và quần chúng bị cướp bóc mất miếng ăn. Khi quần chúng còn có bữa ăn dàn xếp với đàn kiến cào trong bụng, thì họ có thể chưa vội đứng lên tranh đấu. Nhưng khi đảng cướp vì Tham nhũng Lãng phí mà phá sãn Kinh tế Quốc gia, làm Vật giá tăng vọt, khiến DẠ DẦY quần chúng đói veo, thì buộc lòng họ phải đứng lên dành lại miếng ăn để khỏi bị chết đói.

Cuộc đấu tranh này sẽ không có thời giờ để ĐỐI THOẠI với kẻ cướp đã cối chầy bao chục năm nay bởi vì DẠ DẦY dân đói sắp chết rồi, không còn thời gian lãi nhải với đám kẻ cướp mặt dầy mày dạn chai lỳ. Cuộc đấu tranh này là ĐỐI THỌI khi kẽ cướp còn lỳ lợm. Nó dứt khoát như những vần Thơ của thương binh NGUYỄN CUNG THƯƠNG tại Sài Gòn:

     Tao cụt một chân một tay,
     Nhưng còn một tay
     Viết thư giùm cho thằng mù hai mắt
     Nghe nói ở xứ người chúng mày "cày" như trâu
     Nhưng không quên đồng đội
     Chia đô la cho chúng tao, như chia máu ngày nào
     Tao cũng sớt cho mấy thằng bạn: phế binh Việt Cộng!
     Chúng cũng què đui sứt mẻ như nhau
     Bởi đảng của chúng bây giờ là lũ đầu trâu..

    Có điều tao không thể hiểu
    Bao nhiêu năm qua
    Chúng mày cứ mãi dặn dò
    Thế giới văn minh, đừng làm gì bạo động
    Liệu chúng mày có thể hoà hợp được không
    Với lũ kên kên hổ báo?
    Những con thú cực kỳ giầu có
    Mang " thẻ đỏ , tim đen "
    Nợ Nga, sợ Tầu, lạy Mỹ
    Với quan thầy cung cúc tận tụy
    Quay về đàn áp dân đen
    Chúng đóng đinh Jesus lần nữa
    Bịt Miệng Cha, trói Phật, nhốt Sư quản lý chùa

     Chúng tao lết lê trên thành phố Cáo Hồ
     Nên biết rõ từng tên đại ác
     Trên bàn tiệc máu xương dân tộc
     Nhà hàng nào chúng cũng ăn nhậu
     Bé gái nào cũng bị chúng mua trinh!
     Chúng ta sẽ tỉa từng thằng
     Đất nước cần nhiều "quốc táng"
     Bớt được mạng thằng Cộng Sản nào
     Thì địa ngục xã hội chủ nghĩa này
     Còn có chút sáng láng hơn

    Hãy gửi tiền cho những nhà tu
    Để họ mở cửa nhà tù
    Còn chúng tao là chiến sĩ
    Hãy gửi về cho chúng tao vũ khí
    Thằng cụt tay sẽ chỉ cho thằng mù mắt bấm cò
    Thằng còn chân sẽ cõng thằng què quặt
    Trận chiến sau cùng này sẽ không có Dương Văn Minh!

    Thương binh NGUYỄN CUNG THƯƠNG

Cuộc đấu tranh cuối củng giữa CSVN ăn cướp và những Lực Lượng dành lại những gì đã bị cướp để mình khỏi chết đói sẽ dứt khoát, không có Dương Văn Minh để Hòa Hợp Hòa Giải, không có giờ đối thoại nữa, không có thái độ như Trí thức văn minh “bất bạo động“, mà sẵn sàng BẠO ĐỘNG (bắn bỏ).

Thương binh NGUYỄN CUNG THƯƠNG, tàn tật, không đấu tranh Chính trị lập đảng phái để nắm quyền quản trị Quốc gia, mà hoàn toàn nằm trong Lãnh vực Kinh tế, tìm quyền sống cho thân xác mình.

Dứt bỏ một Cơ chế phát sinh lan tràn
Tham nhũng Lãng phí

Chủ đề là Trách nhiệm Quốc nội DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH. Mục đích của những Lực Lượng Quốc nội đứng lên không phải là chống lại Chính quyền theo Điều 88 mà CSVN lấy ra để vu khống bắt tù người ngay. Mục đích tiến tới của đấu tranh là DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH. Tại sao vậy ?

THAM NHŨNG LÃNG PHÍ là Quốc nạn dẫn đến Phá sản Quốc gia gồm (i) Tụt lùi Kinh tế vĩ mô, (ii) Vật giá nhẩy vọt và (iii) Phá giá Tiền tệ. Tình trạng Kinh tế hiện nay của Việt Nam là:

LẠM PHÁT, VẬT GIÁ TĂNG VỌT, NGÂN SÁCH THIẾU HỤT TRẦM TRỌNG, DỰ TRỮ NGOẠI HỐI CẠN KIỆT, ĐỒNG TIỀN VIỆT NAM PHÁ GIÁ XUỐNG DỐC, MẤT TIN TƯỞNG CỦA GIỚI ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÌ THÁI ĐỘ HÈN HẠ MUỐN QUỴT NỢ, NHỮNG TẬP ĐOÀN QUỐC DOANH BỊ CÁC TỔ CHỨC THẨM ĐỊNH QUỐC TẾ HẠ ĐIỂM.

THAM NHŨNG LÃNG PHÍ không phải là do từng cá  nhân, nên không diệt được bởi vì cái mầm Tham Nhũng Lãng Phí nằm sẵn trong mỗi người. Nhân chi sơ, Tính Tham nhũng Lãng phí.

Cái mầm THAM NHŨNG LÃNG PHÍ phát sinh, lớn lên và lan tràn khi gặp MÔI TRƯỜNG thuận tiện. Cái môi trường này ví như đống phân để Tham nhũng Lãng phí như những con giòi sinh ra nhung nhúc.

Cái CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH chính là cái MÔI TRƯỜNG làm phát sinh, lớn lên và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế. Đó là MÔI TRƯỜNG của Tham nhũng Lãng phí. Đó là ĐỐNG PHÂN để sinh nở và lan tràn  giòi tham nhũng lãng phí.

Từ khi Hội Nghị Trung ương 12 sửa soạn cho Đại Hội đảng thứ XI quyết định “Nhà Nước nắm chủ đạo Kinh tế”, thì đó là CSVN vẫn duy trì CƠ CHẾ, vẫn giữ ĐỐNG PHÂN, nghĩa là vẫn giữ MÔI TRƯỜNG cho THAM NHŨNG LÃNG PHÍ, thì chúng tôi không thèm viết hoặc đọc những gì nói về Đại Hội đảng nữa bởi vì Đại Hội này cũng chỉ thay đổi vị trí của đám giòi Tham nhũng Lãng phí giống như nhau. Con giòi nào cũng giống con giòi nào !

Cuộc đấu tranh của những Lực Lượng Quốc nội DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH có nghĩa một cách đơn giản là lấy xẻng HỐT CÁI ĐỐNG PHÂN giòi bọ đi để Dân, nhất là quần chúng nghèo khổ, có thể kiếm được miếng ăn và chung sức Phát triển Đất Nước. Đó là TRÁCH NHIỆM CỨU QUỐC của các Lực Lượng Quốc nội vậy.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 13.01.2011
Web: http://VietTUDAN.net

 



                                                    CHỦ ĐỀ: 
                                       TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI 
                               DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH
                                     (BÀI  MỞ ĐẦU CHO CHỦ ĐỀ)
 

                        Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                           Geneva, 06.01.2011
                                     Web : http://VietTUDAN.net

 

Những ngày cuối năm 2010, chúng tôi đã viết hai bài: (i) NHỮNG LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI ĐỨNG LÊN DẸP KINH TẾ MAFIA QUỐC DOANH CSVN; (ii) TRÁCH NHIỆM ĐẤU TRANH TỪ QUỐC NỘI. Hai bài này là định hướng cho Chủ đề: TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH mà chúng tôi bắt đầu khai triển từ năm nay 2011.

Chúng tôi không viết và đăng bài nói về Đại Hội đảng kỳ XI diễn ra trong tháng này vì hai lý do: thứ nhất, Hội Nghị Trung Ương 12 CSVN sửa sọan cho Đại Hội đảng năm 2011 đã quyết định duy trì Kinh tế quốc doanh làm chũ đạo, nghĩa là họ vẫn duy trì Cơ chế Độc tài Chính trị nắm  Độc quyền Kinh tế để vơ vét tài sản Quốc gia và bóc lột Nhân lực Việt Nam; thứ hai, Đại Hội đảng chỉ là việc xào nấu lại những Lãnh đạo mà những Lãnh đạo này cũng chỉ là những con giòi tham nhũng lãng phí như nhau trong Cơ chế.

Điều quan trọng là phải DỨT BỎ chính cái Cơ chế CSVN hiện hành, chứ không phải là việc xào nấu những lãnh đạo trong Cơ chế vốn là môi trường phát sinh THAM NHŨNG LÃNG PHÍ làm vỡ nợ Kinh tế Quốc gia.

Việc vỡ nợ Kinh tế Quốc gia do hệ thống Tập đoàn Kinh tế nhà nước đã hiện ra thực sự trong những tháng gần đây mà điển hình là Tập đoàn Vinashin. Cái hậu quả của vỡ nợ và tụt hậu Kinh tế này làm toàn Dân quốc nội phải chịu. Chính vì vậy mà Quốc nội buộc lòng phải đứng lên hành động để chấm dứt cái Cơ chế CSVN hiện hành. Chấm dứt Cơ chế này để toàn dân đoàn kết bảo vệ vẹn toàn Lãnh thổ trước đe dọa xâm lăng Trung quốc, để mọi người chung lưng phát triển Đất Nước trong bền vững lâu dài.

 

Tình trạng phá sản
của Kinh tế quốc doanh

Tình trạng phá sản quy tụ về 3 điểm chính:
(i) Tụt dốc Kinh tế vĩ mô
(ii) Vật giá nhẩy vọt;
(iii) Phá giá Tiền tệ. Cả 3 điểm có những liên hệ hỗ tương với nhau.


(i) Tụt dốc Kinh tế vĩ mô

Vinashin chỉ là cái mụn đã âm ỉ từ lâu, nay phát ra như một tỉ dụ của sự phá sản của những Tập đoàn Kinh tế nhà nước. Đây không phải chỉ nguyên một Tập đoàn riêng lẻ phá sản, mà là một tỉ dụ cho một tình trạng phá sản của một chủ trương Kinh tế gọi là vĩ mô. Chính Nguyễn Tấn Dũng đã nhờ cậy Giáo sư Michael PORTER, Đại học Havard,  thẩm định về chủ trương Kinh tế vĩ mô nhà nước. Giáo sư đã viết Tập Phúc trình và kết luận như sau:

“Khi xem xét kỹ mô hình phát triển được áp dụng từ trước tới nay để xem có tiếp tục phù hợp với Việt Nam nữa không, câu trả lời của tôi là không”.

“Mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào việc khai thác các lợi thế có sẵn như tài nguyên và nhân công giá rẻ. “

 “Các mất cân đối vĩ mô lớn như cán cân thương mại và tài khoản vãng lai, tỷ lệ tiết kiệm – đầu tư, lạm phát và tỷ giá hối đoái có thể gây ra những hậu quả “không thể xem thường. Ít nhất, chúng tạo ra tâm lý với các nhà đầu tư rằng, rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam là rất cao. Các mất cân đối vĩ mô này có thể làm phát sinh khủng hoảng, khi niềm tin bị xói mòn và các dòng vốn nước ngoài chảy khỏi Việt Nam”.

“Việt Nam là quốc gia sẽ bị tắc ở mức thu nhập trung bình thấp và phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước có thu nhập thấp hơn đang trỗi dậy”.


Không phải chỉ mình Giáo sư Michael PORTER thấy sự tụt dốc của nền kinh tế gọi là vĩ mô này, mà cả World Bank, IMF/FMI, những Ngân Hàng quốc tế, những nhà Tư vấn cấp cao nước ngoài đều cảnh cáo Việt Nam là phải chữa trị chính những sai lầm Kinh tế vĩ mô, nếu không thì bị các nước láng giềng vượt qua.

Khi mà những Tập đoàn Thẩm định quốc tế như MOODY’S, STANDARD & POOR’S hạ điểm mức tin tưỡng các Công ty và Ngân Hàng VN, đó là họ thẩm định khả năng Kinh tế, Tín dụng trong tương lai dựa ttên những tụt dốc đang diễn ra.


(ii) Vật giá nhẩy vọt

Vật giá nhẫy vọt, Lạm phát tăng nhanh ở Việt Nam đến từ hai lý do chính:

* Giảm hiệu lực sản xuất của những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh. Khi nhận một số vốn để sản xuất hàng hóa, nếu hiệu lực sản xuất kém để lượng hàng hóa xuống, thì tất nhiên giá thành sãn xuất tăng tương đối với số vốn nhận được.

* Nhà Nước muốn bảo vệ chủ trương Kinh tế quốc doanh, nên đổ thêm vốn vào mà không kiểm điểm sự tương xứng hiệu lực của sản xuất đối với số vốn cung cấp. Khối tiền càng phồng lên, mà lượng hàng hóa yếu kém, thì Vật giá tất nhiên tăng vọt sánh với đồng tiền được thổi phồng. Điều tệ hại hơn nữa là Ngân sách Nhà nước thiếu hụt, mà cứ phải đổ tiền vào cho những Tập đoàn quốc doanh, nên đành phải in tiền thêm làm Lạm phát Tiền tệ, phá giá đồng bạc Việt Nam. Người dân Việt Nam thừa hiểu cái trò này, nên không còn tin tưởng vào đồng bạc VN nữa.

Báo chí quốc nội đang la hoảng về tình trạng Vật giá nhãy vọt đến chóng mặt:

“SÀI GÒN (TH) - Lạm phát gia tăng nhanh chóng trong mấy tháng qua, vượt qua mặt những chỉ tiêu mà Quốc Hội đề ra cũng như các biện pháp “bình ổn giá” mà nhà cầm quyền quảng cáo. Hậu quả, những người có đồng lương cố định và đại đa số quần chúng đều nghèo khó lại thêm phần khốn đốn.

Tờ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam trong một bản tin ngày 29 tháng 11, 2010 về “lo âu đường đi của giá” nói rằng, ‘luôn có trên 50% bạn đọc cho biết họ đang thực sự gặp khó khăn.’

Theo các con số do Tổng Cục Thống Kê ở Hà Nội đưa ra, lạm phát tăng nhanh nhất ba tháng trở lại đây của năm nay và là mức gia tăng tệ hại nhất trong suốt 20 tháng qua. Ðây là hệ quả của chính sách đánh sụt giá đồng nội tệ nhằm cứu ngành sản xuất xuất cảng gây ảnh hưởng dây chuyền lên cả nền kinh tế.

Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, giá cả gia tăng 11.09% trong tháng 11, 2010 so với một năm trước. Ðây là tỉ lệ lạm phát gia tăng nhiều nhất từ tháng 3, 2009 mà vào thời điểm đó lạm phát nằm ở 11.25%. Tháng 10, 2010, lạm phát là 9.66%. Nếu chỉ tính từng tháng một thì lạm phát của tháng 11 đã tăng hơn tháng mười 1.86%.

Cuối năm 2009, Quốc Hội của chế độ Hà Nội biểu quyết “chỉ tiêu lạm phát trong năm 2010 phải dưới 7%”. Nhưng đến tháng 5, 2010, thấy không kềm nổi, nhà cầm quyền trung ương “xin điều chỉnh chỉ tiêu lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI)” lên “không quá 8%”. 

“Giá của tất cả mọi loại thực phẩm mà chúng tôi mua ở các chợ địa phương đều gia tăng đáng kể so với tháng trước”. Craig Jackson, quản lý nhà hàng Al Fresco (cũng có chi nhánh ở Hà Nội) nói như vậy và phải trình bày với thức khách lý do “những bất ổn trong tỉ giá” đã làm giá thực phẩm tăng vọt.

Theo báo Người Lao Động hôm 20 tháng 11, 2010 vừa qua, các siêu thị ở Sài Gòn đã tăng giá ít nhất 10%. Gạo, một thứ căn bản của bữa ăn người Việt Nam, lên giá ít nhất cũng 4%, trong khi nhà cầm quyền khoe năm nay sẽ xuất cảng 6.5 triệu tấn gạo.

Nói chung, giá thực phẩm đã gia tăng 14.78% so với một năm trước trong đó một số thứ còn tăng đến 20.45%, theo Tổng Cục Thống Kê nói trên.

Theo tờ Người Lao Động, một số mặt hàng khác gắn liền với đời sống hàng ngày là đường và gas cũng tăng đáng kể.

Báo Người Lao Động dẫn nguồn tin từ Cục Quản Lý Giá (Bộ Tài Chính Việt Nam), nói giá bán lẻ đường trắng trong nước 15 ngày đầu tháng 11 khoảng 19,000-21,000 đồng/kg, tăng 1,000 đồng/kg so với tháng 10.”


(iii) Phá giá Tiền tệ.

Bản Tin của BBC ngày 10.12.2010 như sau:

“Tiền đồng 'đang có vấn đề rất nghiêm trọng'

Ngân hàng đầu tư Mỹ Morgan Stanley nói đồng tiền Việt Nam ‘có vấn đề rất nghiêm trọng’ trong bối cảnh kinh tế yếu và mậu dịch bị thâm hụt, báo tài chính Mỹ Bloomberg đưa tin ngày 9/12.

Thực trạng cán cân thanh toán xấu đi, nền kinh tế yếu và thâm hụt mậu dịch đang tạo "sức ép lớn đáng kể " đối với tiền đồng, Stewart Newnham, chuyên viên nghiên cứu chiến lược tiền tệ tại Morgan Stanley nói tại một hội nghị ở Tp HCM.

Kể từ hồi tháng Năm 2008, thời điểm ông Newnham nói đồng tiền Việt Nam theo gót chân “khủng hoảng tiền tệ” như Thái Lan (1997), tiền đồng đã mất giá 17% so với đôla Mỹ.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều chỉnh tỷ giá tiền đồng 2% (18.932 VND /USD) vào ngày 18 tháng Tám là lần phá giá thứ ba kể từ tháng 11 năm ngoái.

Trong tuần này Quỹ Tiền tệ Quốc tế cảnh báo nguồn dự trữ ngoại hối quốc gia của Việt Nam ở mức "thấp".

IMF cho biết dự trữ ngoại hối của Việt Nam vào cuối tháng Chín ở mức chỉ đủ trang trải cho 1,8 tháng nhập khẩu.”

Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh thâm thụt công quỹ. Nhà nước phải bơm vào bằng đồng tiền phá giá. Tất nhiên dân chúng phải mua vàng và đo-la với giá chợ đen. Đồng Tiền VN sẽ phải phá giá nữa như các nước Á châu trong cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Tiền tệ năm 1997.

Ông Stewart Newnham của Morgan Stanley, khi nói về Lạm phát phá giá đồng bạc Việt Nam, đã nhắc tới cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Tiền tệ Á châu năm 1997, khiến chúng tôi nhớ lại cách đây mấy năm, 2007, chúng tôi đã viết 5 bài liên tiếp về cuộc Khũng hoãng Tài chánh/Tiền tệ Á châu 1997, dựa trên những tài liệu của Bà Francoise NICOLAS. Chính năm 2007, chúng tôi đã sang Thái Lan quan sát tình trạng phá sản của một số Xí nghiệp chịu hậu quã của việc phá giá đồng tiền.

Về việc can thiệp Chính trị (Pouvoir politique) vào quyền lực Tiền tệ (Pouvoir monétaire), Kinh tế gia Florin AFTALION đã viết:

“L’inflation est un moyen de financement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet á court terme d’accorder des hausses de salaire et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages. «

(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy.)


Kinh tế gia Florin AFTALION nói đến « trong ngắn hạn « và « bởi những người làm chính trị “. Tại Việt Nam, thì không phải là ngắn hạn, mà đã làm ba lần rồi và có còn làm tiếp trường kỳ nữa ; rồi không phải chỉ « bởi những người làm chính trị “ suông, mà bởi một chế độ Chính trị độc tài độc đảng.

Dân chúng bài trừ và quốc tế không còn tin vào đồng Tiền VN là phải.

Xin nhắc thêm rằng tại Nam Dương, cuộc Khủng hoảng 1997 phá giá đồng tiền đã đưa đến hậu quả Chính trị là sự sụp đổ nhà độc tài SUHARTO.

Tóm lại, trong những tháng chót của năm 2010, bức tranh Kinh tế nhà nước Việt Nam được phơi bầy cho cả Quốc tế và Quốc nội nhìn thấy: LẠM PHÁT, VẬT GIÁ TĂNG VỌT, NGÂN SÁCH THIẾU HỤT TRẦM TRỌNG, DỰ TRỮ NGOẠI HỐI CẠN KIỆT, ĐỒNG TIỀN VIỆT NAM PHÁ GIÁ XUỐNG DỐC, MẤT TIN TƯỞNG CỦA GIỚI ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÌ THÁI ĐỘ HÈN HẠ MUỐN QUỴT NỢ, NHỮNG TẬP ĐOÀN QUỐC DOANH BỊ CÁC TỔ CHỨC THẨM ĐỊNH QUỐC TẾ HẠ ĐIỂM.

Cái hậu quả của tình trậng thê thảm Kinh tế này đổ lên đầu Dân.


Trách nhiệm đứng lên hành động để
Dứt bỏ Cơ chế CSVN hiện hành

Chính toàn dân phải chịu hậu quả của tụt dốc và vỡ nợ của nền Kinh tế quốc doanh do Cơ chế chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế.

Chúng tôi muốn nói đến tính cách tất yếu của những Lực Lượng Quốc nội buộc lòng phải đứng lên nhận trách nhiệm hành động. Những Lực Lượng này không phải là do khuyên giải, cổ võ mà đứng lên. Việc đứng lên là tất yếu vì quyền DẠ DẦY của mình. Không đứng lên lật đổ Cơ Chế hiện hành, thì mình chết. Tính cách tất yếu là ở chỗ đó.

Những Lực Lượng nào ?

1) Lực Lượng đại đa số quần chúng nghèo

Khi Vật giá tăng vọt, thì khối đại đa số dân nghèo phải cùng cực, thiếu ăn. Nền Kinh tế quốc doanh Mafia CSVN thâm thụt công quỹ, bóc lột sức lao động, làm đại đa số dân chúng đã nghèo mà còn bị khổ cực vì thiếu ăn. Lạm phát, vật giá tăng vọt đẩy dân nghèo vào cùng cực và phải tự đứng lên lật đổ cơ chế.

2) Lực lượng Công chức, Công an và Quân đội

Đây là những thành phần lãnh lương cố định. Khi vật giá tăng vọt, đồng tiền mất giá, thì những thành phần lãnh lương cố định thấy mình nghèo đi. Càng phá giá đồng bạc VN, càng tăng vật giá, thì những thành phần này càng bị đẩy vào tình trạng nghèo cùng cực. Họ phải đứng lên.

3) Lực lượng Lãnh đạo đảng CSVN

Những Lãnh đạo đương quyền tham nhũng, vơ vét công quỹ. Nhưng những Lãnh đạo hồi hưu không thể ngồi yên. Trâu buộc ghét trâu ăn. Lực Lượng Lãnh đạo này không phải vì bất đồng Chính kiến mà đứng lên, nhưng chính là sự phân chia tham nhũng không đồng đều. Trước khi đánh cướp Ngân Hàng, thì mọi người cấu kết. Nhưng sau khi cướp được tiền rồi mà phân chia không đồng đều, thì lấy súng bắn giết nhau. Vì trâu buộc ghét trâu ăn, nên Lực Lượng Lãnh đạo này đứng lên mà bắn nhau. Số cán bộ Cộng sản hồi hưu, lãnh tiền cố định, nay thấy mình nghèo đi vì Lạm phát và vật giá tăng vọt, sẽ tăng cường tham gia Lực Lượng này.

4) Lực Lượng trẻ Thanh niên Sinh viên

Mỗi năm, số người trẻ Thanh niên Sinh viên tại Việt Nam tăng lên 1 triệu và phải kiếm công ăn việc làm. Việc tụt dốc Kinh tế làm cho họ thất nghiệp và phải chịu cảnh vật giá tăng vọt. Trong khi ấy, họ so sánh với một thiểu số con cháu đảng ăn chơi, tiêu xài hoang phí, còn xuất ngoại. Việc so sánh trong cãnh thất nghiệp của họ sẽ tạo sự ganh tị, ghen ghét. Lớp người trẻ Thanh niên Sinh viên sẽ nhập cuộc đấu tranh để chấm dứt những người giữ quyền lực chính trị để THAM NHŨNG LÃNG PHÍ gây tụt dốc Kinh tế.

5) Lực Lượng Tôn Giáo chống Bất Công, đòi Công Lý

Lực Lượng Giáo dân Công giáo đã đứng lên khởi đầu là Tòa Khâm sứ Hà Nội, rồi Xứ Thái Hà, lan vào Tam Tòa, Đồng Chiêm. Tất cả việc đứng lên này có nguyên do là chống BẤT CÔNG cũa Nhà Nước về đất đai. Mà việc bất công này lại cũng là do THAM NHŨNG của quyền lực Chính trị trưng dụng đất đai đẻ bán hoặc khai thác cho túi riêng của mình. Chống bất công như vậy cũng đồng nghĩa là chống THAM NHŨNG. CSVN đã sử dụng một số Lãnh đạo Tôn giáo quốc doanh để nhằm diệt Lực Lượng này. Nhưng TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM (=chống BẤT CÔNG, đòi CÔNG LÝ) vẫn luôn luôn tồn tại bởi lẽ nó phát xuất từ Đức Tin và Lương Tâm của chính Giáo dân. Việc đấu tranh theo TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM này đang bùng dậy tại xứ Thái Nguyên hiện lúc này.

6) Lực Lượng Tư doanh

Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh thiếu hụt ngoại tệ để nhập siêu vì dự trữ ngoại hối của Nhà nước chỉ còn không tới hai tháng để nhập cảng. Theo Kinh tế gia Lê Đăng Doanh, thì "số ngoại tệ Việt Nam có trong dân thì không phải là ít”, nghĩa là giới Tư doanh còn có thể vận dụng ngoại tệ để nhập cảng. Chính vì điểm này mà Lực Lượng Tư doanh nắm ưu thế đứng lên đấu tranh dành lại quyền Kinh tế mà từ trước đến nay các Tập đoàn quốc doanh nắm chủ động. Giới Tư doanh có cơ hội thực hiện Dân chủ hóa Kinh tế để tiến dần đến Dân chủ hóa Chính trị như một hệ luận tất nhiên.


Chủ đề TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH nhằm theo rõi sự lớn mạnh của những Lực Lượng Quốc nội và cổ võ những HÀNH ĐỘNG cụ thể trong việc DỨT BỎ Cơ chế. Những đối thoại nhằm vá víu Cơ chế đã trở thành những phương tiện tuyên truyền làm bình phong để đảng CSVN che dấu cái cốt lõi là duy trì Cơ chế ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ NẮM ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để dễ bề khai thác Tài sản Quốc gia và bóc lột Nhân lực Việt Nam làm của riêng cho từng cá nhân của đảng. Đối thoại với CSVN cũng như đàn gẩy tai trâu. Đối với con trâu lỳ lợm, phải lấy roi mà quất thì nó mới đi. Theo hô hào của Lãnh đạo cao cấp CSVN, 22 Trí thức thuộc đảng lên tiếng đóng góp cho đảng nhân dịp Đại Hội đảng kỳ XI này, nhưng những góp ý của họ bị cấm không được đăng cho dân chúng biết. Toàn dân hãy đứng lên ĐỐI THỌI chứ đừng ĐÓI THOẠI vô ích nữa.

Chúng tôi đã viết hai cuốn sách nói về việc phải dứt bỏ Cơ chế CSVN hiện hành, nên không viết thêm về khía cạnh này trong Chủ đề. Việc tụt lùi Kinh tế và vỡ nợ Quốc gia trong những năm tháng gần đây là bằng chứng cụ thể để kết án Cơ chế CSVN và để toàn Dân quốc nội đứng lên HÀNH ĐỘNG chấm dứt Cơ chế, trước hết là cứu DẠ DẦY của chính mình, sau nữa là bảo toàn Lãnh thổ và phát triển Đất Nước cho kịp với đà tiến của những nước trong vùng và Thế giới.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 6.12.2010
Web: http://VietTUDAN.net






xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
GIU LAI NHUNG LOAT BAI CHU DE TRUOC DE CHUYEN VAO PHAN LUU TRU=====>
******************************************************************************************************



                                     CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ:

                                                         Bài 8:

                                                        ẤN ĐỘ
                                 CƯỜNG QUỐC KINH TẾ TƯƠNG LAI:
                                MỘT BÀI HỌC DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ

 
                          Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                     UNICODE: http://viettudan.net
                                              Geneva, 01.04.2009

 

(Tóm tắt nội dung bài này vừa được Đài RFI phỏng vấn phát thanh về Việt Nam để dân chúng thấy rằng Việt Nam rập theo Kinh tế Trung quốc, đó chỉ là Kinh kế cướp bóc cho nhóm đảng CSVN mà thôi. Khi nói trên RFI, vì hạn hẹp thời gian, nên không nói hết. Vì vậy tôi phổ biến bài này  về những chi tiết cho Phỏng vấn.)



Viết về ẤN ĐỘ, một cường quốc Kinh tế tương lai, như một bài học dưới Chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ, chúng tôi dựa trên những bài báo hòan tòan có tính cách thời sự :

*        Le Monde 09.03.2010: UNE LECON INDIENNE par Martin WOLF        

*        The Wall Street Journal 10.03.2010: INDIA’S MICROLENDERS TO SHARE DATA by Eric BELLMAN

*        Financial Times 10.03.2010: SUGAR SUFFERS AS INDIA RAISES OUTPUT ESTIMATE by Chris BLOOD

*        Financial Times 11.03.2010: PUTIN SEEKS TO BOLSTER LINK WITH NEW DELHI by James LAMONT

*        The Wall Street Journal 11.03.2010: INDIA: WOMEN AND DEMOCRATY

*        Le Monde 11.03.2010: EN INDE, GUERRES DES TERRES ENTRE PAYSANS ET INDUSTRIELS par Julien BOUISSOU

*        Le Monde 11.03.2010: LES DEPUTES INDIENS VOTENT L’INSTAURATION D’UN QUOTA DE FEMMES AU PARLEMENT par Julien BOUISSOU

 
Hai Quốc gia đông dân nhất và nhì Thế giới, đó là Trung quốc và Aán độ. Cả hai thuộc Á-châu và được Thế giới xếp vào những nước bắt đầu phát triển mạnh (Pays émergents). Nếu việc phát triển Kinh tế Trung quốc lấy độc đảng làm gốc và hiệu quả của phát triển là cho một nhóm người, thì Aán Độ lấy dân làm gốc cho phát triển và hiệu quả của phát triển là cho dân. Nền Kinh tế Aán Độ phát triển song hành với xây dựng Dân chủ. Đó là bài học qúy giá cho Chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ của chúng tôi áp dụng cho Việt Nam.

Chính Kinh tế gia Martin WOLF cũng lấy tựa đề bài viết của Oâng trong Le Monde 09.03.2010 là “UNE LECON INDIENNE“ (BÀI HỌC ẤN ĐỘ). Vào thập niên 1970, Kinh tế gia Martin WOLF là người Trách Nhiệm chính của Ngân Hàng Thế Giới tại Aán Độ. Oâng là bạn thân từ 39 năm nay của Kinh tế gia Montek Singh AHLUWALIA, Phó Chủ tịch  ỦY BAN KẾ HỌACH KINH TẾ ẤN ĐỘ, đứng sau Thủ tướng MANMOHAN SINGH.

Viết chính yếu về Kinh tế Aán độ như một bài học tích cực cho Việt Nam cần được áp dụng, chúng tôi cũng nhắc đến Kinh tế Trung quốc, với những nan đề đang gặp phải hiện nay, làm một bài học cho Việt Nam, nhưng là bài học tiêu cực cần phải tránh.

Chúng tôi đề cập đến những điểm sau đây:

=>     Kinh tế Trung quốc, một bài học phải tránh

=>     Kinh tế Aán độ: Môi trường Chính trị—Luật pháp Dân chủ

=>     Aán Độ: Dân chủ hóa Chương trình phát triển Kinh tế bền vững

 
Kinh tế Trung quốc,
một bài học phải tránh

Kinh tế Trung quốc là Kinh tế hướng ngọai, lệ thuộc vào thăng trầm của những nước ngòai, nhất là những cường quốc Kinh tế đã phát triển. Chính Thủ tướng ÔN GIA BẢO, trong Diễn văn trước Quốc Hội Nhân dân ngày 14.03.2010, đã tuyên bố rằng 60% xuất cảng của Trung quốc là từ những Công ty nước ngòai liên doanh sản xuất tại Trung quốc do Nhân lực rẻ. (Le Monde 16.03.2010, trang 16)

Chúng tôi xin trích ra đây đọan tóm tắt rất gọn và xác thực về Kinh tế Trung quốc, đăng trong Financial Times 09.03.2010, trang 10, để độc giả so sánh với việc Phát triển Kinh tế Aán độ mà chúng tôi sẽ viết dài trong hai phần sau đó:

“It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay). (Financial Times 09.03.2010, p.10)

Đó là nền Kinh tế sản xuất những “gadgets” để mau chóng xuất cảng mua vui cho những người tiêu thụ tại những xứ khác, do một nhóm đảng tổ chức thu tiền nhanh vào cho mình và rồi chuyển những tiền ấy ra đặt tại những xứ giầu Tây phương.  Người dân chỉ được hưởng một phần rất nhỏ hiệu quả Kinh tế qua đồng lương bóc lột. Đó là Kinh tế Trung quốc.

Bình thường, thì những Lãnh đạo chính trị độc tài bưng bít không dám nói ra những khuyết điểm của một nền Kinh tế do chính mình điều hành Kế họach Phát triển. Nhưng lần này, ngày 14.03.2010 trước Quốc Hội Nhân dân, một Thủ tướng đành phải thú nhận những đe dọa cho Kinh tế Trung quốc có thể dẫn đến những bất ổn Xã hội và Chính trị. Oân Gia Bảo nói rõ rệt như sau:

“L’inflation, plus une redistribution inéquitable des revenus et la corruption pourraient affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement”

(Lạm phát, thêm vào đó là một sự phân phối không đồng đều những thu nhập và tham nhũng có thể tác hại đến sự ổn định xã hội và ngay cả đến sự ổn định nhà nước” (Le Monde 16.03.2010, trang 16)

Lạm phát (Inflation)

Trung quốc đang lo sợ lạm phát. Tháng hai vừa rồi lạm phát tăng 2.7% và Nhà nước đang lo sợ rằng lạm phát tòan năm có thể lên 2 con số. Chính Oân Gia Bảo đã nhắc lại rằng năm 1989, vụ đẫm máu tại Thiên An Môn là do lạm phát tăng lên hai con số.

Sự phân phối không đồng đều những thu nhập
(Redistribution inéquitable des revenus)

Đúng theo hình ảnh Kinh tế Trung quốc mà Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, đã tóm tắt như trên đây. Đó là Kinh tế Mafia đảng CSTQ, bóc lột nhân lực đại đa số dân Trung quốc mà không cho họ hưởng tương xứng với thu nhập, đám Mafia đảng trở thành giầu sụ và tiền thu nhập lại chuyển ra nước ngòai đầu tư chứ không đầu tư trong nước để đa số dân nghèo có thể được hưởng. Đồng Nhân Dân Tệ là tiền của Tầu mà chính đám Mafia giầu có lại sợ giữ tiền Tầu, nên mua đồng Đo-la để trữ. Tờ Le Monde ngày 16.03.2010, trang 16 viết:

“La Chine est alarmée par le fait que le fossé ville-campagne va continuer à se creuser dans la mesure òu le pays se focalise sur le développement urbain et pas du monde rural.”

(Trung quốc bị báo động bởi sự việc là hố sâu thành phố—nhà quê sẽ tiếp tục tự đào sâu thêm ở mức độ nước này đặt tiêu điểm phát triển thành thị và không phải là lãnh vực nông thôn)

Cách đây 6 năm, số người giầu từ 150 triệu Đo-la, liên hệ với đảng CSTQ, là 100 người. Ngày nay con số đó đã tăng lên 1’000 người (Le Monde 16.03.2010, p.16)

Tham nhũng (Corruption)

Tham nhũng mọi cấp tràn lan. Không cho hối lộ, thì công việc không chạy. Đó là lời nhận xét của một doanh nhân nước ngòai làm việc với Trung quốc. Ký giả Jamil ANDERLINI từ Bắc kinh đã viết trên tờ FINANCIAL TIMES ngày 27.01.2010, trang 17, viết về con trai của Oân Gia Bảo, Oân Yunsong, và con trai của Hồ Cẩm Đào, Hồ  Heifeng, nhờ quyền hành của Bố mình mà hòanh hành tham nhũng.

Tác hại đến ổn định Xã hội, ngay cả ổn định Nhà nước
(Affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement)

Oân Gia Bảo đã nói trước Quốc Hội Nhân Dân rằng những sự việc trên đây đang diễn ra trong nền Kinh tế Trung quốc và sẽ đưa tới sự bất ổn Xã Hội và Chính trị. Sự nổi dậy của khối dân nghèo nếu có lạm phát làm họ thiếu ăn. Những bóc lột sức lao động đã làm giầu cá nhân thuộc đảng CSTQ đến một lúc sẽ làm nhân công không thể chịu đựng được và nổi dậy. Sự tị hiểm, uất hận sẽ tăng lên trong giới trẻ và trí thức khi nhìn những tệ đoan, bất công trên đây. Hình ảnh nổi dậy Thiên An Môn là một tỉ dụ cụ thể lịch sử.

Thú nhận những điểm như trên đây rồi, Oâng Gia Bảo tuyên bố một điều làm cho những ai thường ca tụng “cường quốc Kinh tế Trung quốc” phải ngạc nhiên:

“Cela prendra cent ans, même plus pour que la Chine devienne un pays moderne” (Điều đó còn cần 100 năm, ngay cả lâu hơn nữa, để Trung quốc trở thành một nước tân tiến) (Le Monde 16.03.2010, trang 16)

Trong bài viết về tương lai phát triển Kinh tế Trung quốc, Tác giả Minxin PEI (Chuyển ngữ: Minh Huy) đã viết:

“Kiểu phát triển ăn xổi của Trung Cộng là dựa vào năng lượng giá rẻ và không có chi phí cho môi sinh sẽ không còn đứng vững trong tương lai gần.”

Tác giả Ian BREMMER, trong một bài mới nhất đăng trên tờ Financial Times 29.03.2010, đã viết về sự lệ thuộc của Kinh tế Trung quốc vào Hoa kỳ và việc tự ý thức phải tạo Mãi lực nội địa để Kinh tế có độc lập. Tác giả viết:

“This rethink began when the western financial meltdown put millions of Chinese out of work in early 2009”

“China saw the US as indispensable to its rise”

“China is signalling that it wants its model of growth to rely more on its growing consumer base. Some Chinese officials predict Beijing can create a truly consumption-driven economy in five years (?). But it will not happen this rapidly, for political and structural reasons.”

(Việc nghĩ lại (Tầu) đã bắt đầu khi mà việc đổ vỡ tài chánh Tây phương đã làm cho những triệu người Trung quốc mất việc trong năm 2009.

Trung quốc đã thấy rằng Hoa-kỳ là cần thiết cho việc đứng lên của mình.

Trung quốc đang cho biết rằng mô hình phát triển của họ lệ thuộc vào căn bản mãi lực của chính họ. Một số nhân viên chính quyền tiên đóan rằng Bắc Kinh có thể tạo một nền Kinh tế tự tiêu thụ trong vòng 5 năm (?). Nhưng việc này không xẩy ra nhanh chóng như vậy được bởi những lý do chính trị và tổ chức cơ sở) (Financial Times 29.03.2010, trang 9)

 
Kinh tế Aán độ:
Môi trường Chính trị—Luật pháp Dân chủ

Kinh tế Trung quốc, nói là Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng thực chất vẫn là Kinh tế Tập quyền trực tiếp hay gián tiếp và một đảng duy nhất. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự đòi hỏi một Môi trường Chính trị—Luật pháp Dân chủ phù hợp (Environnement Politico-Juridique Démocratique Adéquat). Nền Kinh tế Aán độ được phát triển song hành với Môi trường Chính trị—Luật pháp Dân chủ.

Qua những bài báo liệt kê trên đây liên quan đến Phát triển Kinh tế Aán Độ, nhất là bài của Kinh tế gia Martin WOLF, chúng tôi ghi nhận những điểm như sau.

Người dân và tính tình

Dân Aán Độ ít ồn ào hơn dân Trung quốc. Người ta thường nói rằng người Aán Độ thuộc lọai người suy tư  đầu óc, chiêm ngưỡng (contemplatifs). Con số bí hiểm 0 (zéro) được phát sinh từ Aán Độ chứ không phải từ A-rập. Người ta không hiểu “zéro“ là gì, mặc dầu nó hiện hữu. Có người cắt nghĩa đó là ý niệm Niết Bàn. Phật Giáo được phát sinh từ Aán Độ, một Tôn giáo lấy giải thóat cá nhân và tự mình giải thóat làm trọng. Tính chiêm ngưỡng (contemplatif) và ảnh hưởng Tôn giáo là nền tảng tính tình dân Aán Độ. Ngày nay, người ta thường nhận thấy dân Aán Độ rất giỏi về ngành điện tử.

Nền tảng Dân chủ

Dân chủ chỉ là một Nguyên Tắc giải quyết tương đối những tranh chấp khi mà những cá nhân sống chung với nhau thành một cộng đồng. Như vậy CÁ NHÂN CHỦ là nền tảng để từ đó mới xây dựng nguyên tắc dân chủ. Một xã hội nào biết tôn trọng cá nhân, thì tự động họ xây dựng nguyên tắc DÂN CHỦ. Tôn giáo tại Aán Độ đã un đúc cho dân tinh thần phải tôn trọng CÁ NHÂN CHỦ. Chúng tôi không bao giờ chấp nhận ngụy biện của Cộng sản cho rằng dân trí còn ngu nên không thể cho Dân Chủ. Thực vậy, Dân Chủ không phải là kết quả của Dân trí mà là nguyên tắc thực tiễn giải quyết giữa những cá nhân chủ khi có va chạm.

Cái tinh thần tôn trọng cá nhân luôn luôn đòi hỏi việc xây dựng hệ thống quản trị Xã hội theo nguyên tắc Dân chủ:

=>     Phân quyền, tránh tập trung quyền hành để dễ dẫn đến độc tài. Aán Độ theo hệ thống phân quyền dưới thể chế Liên Bang.

=>     Khi quyền hành được tản ra, thì những tranh chấp chính trị cũng đỡ hẳn tính cách gay gắt, ác độc. Một chủ trương tập quyền như Cộng sản chẳng hạn, thì đó là nguồn gốc tranh chấp, thậm chí đến thanh trừng nội bộ một các tàn nhẫn.

Xã hội Aán Độ được xây dựng, phát triển theo những nguyên tắc Dân chủ. Nó khác với Xã hội Trung quốc hiện nay. Thực vậy, nếu phải so sánh từ cách thế đấu tranh đến quản trị xã hội, chúng ta cũng nhận thấy sự khác nhau giữa Trung quốc và Aán độ:

*        Aán độ dành Độc lập do một cuộc đấu tranh bất bạo động. Thánh GANDHI chủ trương cuộc đấu tranh không bằng lực lượng võ khí, mà bằng sức đòan kết của tòan dân cô đọng trong tinh thần bất bạo động. Đây là cuộc đấu tranh không phải từ một nhóm đảng dùng sức mạnh mà đặt để, nhưng là hợp nhất tinh thần của tòan dân đứng sau Thánh GANDHI để Nước Anh phải trả lại Độc Lập cho Dân. Trong khi ấy, Trung quốc dành lại quyền hành do một nhóm đảng Chính trị dùng sức mạnh dành dựt lấy quyền hành cho nhóm đảng mình. Đó là cuộc đấu tranh nặng tính cách nhóm đảng tranh chấp quyền hành.

*        Từ ngày dành lại Độc Lập đến nay, Aán độ dứng ở vị trí Khối không liên kết (non-alignés) giữa những tranh chấp Ý thức hệ Cộng sản hay Tự do. Nhà Nước nghĩ đến Dân của họ và xây dựng Dân chủ theo những điều kiện của Dân của họ. Trong khi ấy, từ ngày MAO TRẠCH ĐÔNG nắm quyền dến bây giờ, Dân chúng Trung quốc luôn luôn phải sống dưới chế độ độc tài theo Ý thức hệ Cộng sản. Ý thức DÂN CHỦ bị bóp chết tại Trung quốc, trong khi đó Ý thức này được mỗi ngày mỗi khai triển cho Dân Aán độ.

*        Cũng phải lưu ý rằng tinh thần mở rộng của giới Lãnh đạo Aán độ có môi trường phát triển hơn vì sự rộng lớn của Thuộc địa Anh. Trong khi ấy, giới Lãnh đạo Trung cộng mang tinh thần kép kín trong nội địa của mình. Việc khép kín này tiếp tục, trừ việc mở cửa kinh tế mang tính chộp dựt ăn xổi ở thì.
 

Aán độ: Dân chủ hóa
Chương trình phát triển Kinh tế bền vững

Ơû phần đầu, khi nói về Kinh tế Trung quốc, chúng tôi đã viết rằng đó là Kinh tế Mafia nhóm đảng, lệ thuộc vào nước ngòai, không tạo mãi lực nội địa và làm mất Độc lập Kinh tế của mình.

Kinh tế Aán độ nhằm người dân của mình, tạo mãi lực cho dân Aán độ để có Độc lập Kinh tế. Việc phát triển độc lập này mang tính cách bền vững của nền Kinh tế.

Phát triển Kinh tế bởi cá nhân và cho cá nhân

Chính cá nhân là tác nhân Kinh tế chính và cá nhân làm kinh tế trước tiên là phục vụ cho chính mình chứ không phải hy sinh cả cuộc đời để phục vụ cho một Lý thuyết trừu tượng, một Chủ nghĩa Xã hội để những người nhân danh Chủ nghĩa mà bóc lột cá nhân. Cá nhân có sống, thì Chủ nghĩa mới có. Cá nhân chết, thì Chủ nghĩa trở thành trống rỗng. Ai cũng lo lắng đến cái bụng đói của mình trước tiên.  Và rất hiếm người lo đến cái bụng đói của người khác trước khi nghĩ đến cái bụng của mình. Vậy hãy để cho mỗi cá nhân làm ăn để lo lắng trước tiên đến việc nuôi sống thân xác mình.

Một xã hội mà nền Kinh tế được tản ra cho từng cá nhân, nền kinh tế ấy mới có nhiều sáng kiến và sự thăng bằng phát triển mới bền vững và lâu dài. Nền Kinh tế được đặt trên nền tảng cá nhân, những công ty gia đình, những công ty nhóm nhỏ... mà tiến lên là nền Kinh tế phát triển có nhiều sáng kiến và bền vững nhất.

Tôn trọng cá nhân, lấy cá nhân trách nhiệm, phát triển những nguyên tắc dân chủ để giải quyến, nền Kinh tế Aán Đo,ä dù không ồn ào, yên lặng tiệm tiến, sẽ phát triển trong bền vững và lâu dài.

Một tỉ dụ điển hình mà chúng tôi thường lấy ra làm tỉ dụ, đó là sự đổi hướng của Kinh tế Ý cách đây 30 năm. Thời ấy, nền Kinh tế Ý dựa trên những đại Công ty. Tình trạng đình công xẩy ra như cơm bữa làm Kinh tế Ý tê liệt. Người Ý mang tinh thần tôn trọng gia đình cao nhất Aâu châu. Từ nền Kinh tế Đại Công ty bị tê liệt, dân Ý đã chuyển Kinh tế về hệ thống Gia đình. Mọi người trong Gia đình phải tuân theo MAMA mà làm việc, không được đình công, nếu không MAMA không cho ăn Spaghetti nữa. Nền Kinh tế đặt nền tảng trên Gia đình đã dần dần phát triển lớn mạnh đến ngày nay.

Chương trình Phát triển Kinh tế Aán Độ

Theo tinh thần trên đây lấy cá nhân làm tác nhân kinh tế chính, một Chương trình phát triển Kinh tế đã được họach định cho cả nước. Kinh tế gia Martin WOLF đã tóm tắt Chương trình ấy ở những điểm sau đây:

“Les Infrastructures, l’Agriculture, la Reglementation du Travail, le Secteur Bancaire, l’Energie, l’Education et le Commerce de détail“

(Những hạ tầng cơ sở, NÔNG NGHIỆP, LUẬT LỆ LAO ĐỘNG, Lãnh vực Ngân Hàng, Năng lượng, Giáo dục và THƯƠNG MẠI NHỎ) (Le Monde 09.03.2010, p.2)

Việc xây dựng hạ tầng cơ sở là lãnh vực của Nhà Nước. Chúng tôi viết chữ hoa cho một số lãnh vực để độc giả lưu ý rằng Kế họach Kinh tế này đặt trọng tâm vào người nghèo và những đơn vị Kinh tế nhỏ làm căn bản:

=>     NÔNG NGHIỆP :

Đó là lãnh vực ưu tiên đầu tiên của Kế họach. Việc phát triển nông nghiệp là tạo cho đa số dân nghèo có đủ miếng ăn, rồi sau đó tạo cho dân nghèo có khả năng tiêu thụ để mới có thể sản xuất công kỹ nghệ phục vụ cho chính trong nội địa. Đó cũng là tạo độc lập về Kinh tế. Kinh tế Trung quốc hiện giờ không có độc lập vì nó lệ thuộc vào xuất cảng phục vụ ngọai quốc.

=>     LUẬT LỆ LAO ĐỘNG:

Đây cũng là sự lo lắng cho khối người nghèo phải đi bán sức lao động của mình để nuôi thân. Phải có những luật lệ cho công bằng, tránh những tình trạng bóc lột lao động.

=>     THƯƠNG MẠI NHỎ:

Đây cũng là chủ trương đi từ những đơn vị nhỏ thương mại mà tiến lên. Từ tiểu thương, rồi tiến dần lên đại thương. Săn sóc, hỗ trợ những Thương mại nhỏ để phân phối các nơi. Hãy nhìn Kinh tế Việt Nam để thấy khác biệt giữa hai chủ trương. Trong bao chục năm trường, Nhà Nước Việt Nam bỏ rơi Nông Nghiệp, một lãnh vực mà chúng ta có cả khả năng thiên nhiên để phát triển cho 75% dân số nghèo tại nông thôn. Nhà Nước Việt Nam chỉ nhằm bán Lao động cho tài phiệt nước ngòai, rồi xuất khẩu Lao động phục vụ ngọai quốc mà không lo phát triển những Luật lệ bảo vệ công bằng cho giới Lao động. Về thương mại, mỗi thành phố chỉ chuyên lo khuếch trương Siêu thị mà ít nâng đỡ những Tiểu thương, thậm chí còn tàn nhẫn đi hốt những người nghèo buôn thúng bán mẹt ở những góc phố. Tìm cách nâng đỡ họ. Họ là những Tiểu thương đấy, để họ có chỗ buôn bán độ thân và tiến dần lên Trung thương hoặc có thể là Đại thương sau này.

Hệ thống Tiểu Tài chánh “Microfinance“

Hệ Tiểu Tài chánh “Microfinance“ đi song hành rất nhịp nhàng với việc khuếch trương Nông Nghiệp và việc nâng đỡ các Tiểu thương. Hệ thống Tài chánh này cũng nhằm nâng đỡ tính năng động và sáng kiến của tuổi trẻ. Tính đa dạng của nền Kinh tế tùy thuộc vào tuổi trẻ. Trong những năm làm Tài chánh cho những Dự án, chúng tôi thường đưa ra một số tỉ dụ để công kích chính những Ngân Hàng lớn. Tỉ dụ sau đây thường được đưa ra khi phải chạm trán với Ngân Hàng:

Một sinh viên trẻ mới học xong. Anh đang mang cả bầu nhiệt huyết để thực hiện Dự án mà trong suốt thời gian học anh mơ mộng. Anh viết Dự án. Xử dụng môn học Phân tích Chi tiêu Xí nghiệp (Analyse des Charges Industrielles) để tính tóan rất kỹ. Xử dụng môn Marketing và Ước lượng Thu nhập  để cho thấy rằng Lợi nhuận từ mỗi chặng thực hiện Dự án là bao nhiêu. Đọc Dự án, tôi cảm phục anh sinh viên nghèo mới ra trường này.Nhưng phải có VỐN thì mới thực hiện được Dự án. Anh can đảm đến Ngân Hàng để trình bầy Dự án với những Chi—Thu đã tính tóan kỹ.

Anh xin Ngân Hàng cho vay vốn để thực hiện Dự án của mình. Anh chấp nhận mọi kiểm sóat của Ngân Hàng. Ngân Hàng khen anh, nhưng trả lời rằng:“Vậy Bank Guarantee hay Standby Letter of Credit của anh đâu để làm Collateral cho vốn vay ?“. Anh sinh viên nghèo chua chát ra đi và nghĩ: thực là ngược ngạo ! Để lấy được Bank Guarantee hay Standby Letter of Credit, thì anh phải có tiền đặt trong Ngân Hàng làm Deposit. Mà nếu anh đã có tiền rồi để làm Deposit, thì anh cần gì phải đến Ngân Hàng kia để xin vay. Có lẽ anh phải đi làm vất vả trong 10 năm để có tiền làm Deposit. Nhưng 10 năm sau, thì sức lực anh đã giảm, anh không muốn theo đuổi Dự án như lúc mới ra trường.

Tôi rất khâm phục ý tưởng đặc biệt của Aán Độ đã thiết lập hệ thống Microfinance, nghĩa là cho những người nghèo, những cá nhân muốn làm ăn vay. Hệ thống này đã trở thành thời danh mà vị sáng lập đã được khen tặng giải Nobel Hòa Bình.

Chương trình Phát triển Kinh tế Aán Độ đặt trọng tâm vào những người nghèo muốn làm việc: Nông dân, Lao động và Tiểu thương. Cùng với Chương trình nghĩ đến người nghèo như vậy, Aán Độ đã có sáng kiến tổ chức hệ thống Tiểu Tài chánh “Microfinance“ để giúp phương tiện làm ăn cho dân nghèo thiếu vốn như anh sinh viên trên kia. Đó là hai ngả giúp hữu hiệu cho phát triển Kinh tế từ nền tảng. Xin lưu ý: thống kê cho thấy rằng dân nghèo vay nợ làm ăn là dân hòan vốn rất chu đáo “Bon payeur“ !
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN,  Kinh tế
Geneva, 30.03.2010

 



                               CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ: 

                                                    Bài 07:

                                                 MỸ VÀ TẦU
                              TRONG THẾ ĐẤU ĐÁ THƯƠNG MẠI 
 

                       Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                  UNICODE: http://viettudan.net
                                          Geneva, 25.03.2009
 

Đây là bài thứ ba chúng tôi viết về căng thẳng Thương mại giữa Hoa kỳ và Trung quốc mà bắt nguồn là việc Trung quốc cố thủ giữ tỷ giá đồng Nhân D6an Tệ thấp đối với Đo-la Mỹ. Bài thứ nhất khi CHU TIỂU XUYÊN, THỐNG ĐỐC Ngân Hàng Trung ương Trung quốc tuyên bố trong cuộc Họp báo ngày 06.03.2010 rằng Trung quốc có thể nâng tỷ giá đồng Yuan. Bài thứ hai nhân bài Diễn văn của chính Thủ tướng ÔN GIA BẢO ngày 14.03.2010, trong đó Oân Gia Bảo lại tuyên bố rất cứng rắn rằng Trung quốc sẽ không bao giờ khuất phục trước những áp lực nước ngòai về việc nâng tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ. Bài thứ ba hôm nay muốn phân tích quan điểm của Trung quốc và Hoa kỳ về sự cân bằng ích lợi chung của nền Kinh tế tòan cầu.

Nội dung mỗi bài trên đây đã được Đài RFI phỏng vấn và phát thanh về Việt Nam.
 

Tài liệu tham khảo

Chúng tôi theo rõi vấn đề tỷ giá đồng Yuan và sự căng thẳng Thương mại giữa Hoa kỳ và Trung quốc qua những tin tức hòan tòan mang tính cách thời sự đăng trên các báo lớn quốc tế như tờ The Wall Street Journal, tờ Financial Times, tờ Le Monde và tờ Le Figaro. Chúng tôi liệt kê nguồn những tài liệu này để độc giả tiện tham khảo:

*        Le Figaro 15.03.2010, trang 18 :

         PEKIN REJETTE LES CRITIQUES AMERICAINES

*        Financial Times 15.03.2010, trang 1 :

         CHINA PREMIER BRANDS PRESSURE OVER RENMINBI PROTECTIONISM

*        The Wall Street Journal 15.03.2010, trang 1:

         CHINA TAKES AIM AT U.S. OVER ECONOMY

*        Le Monde 16.03.2010, trang 16:

         CHINE: LE PREMIER MINISTRE RECONNAIT L’AGGRAVATION DES  
         INEGALITES SOCIALES

*        The Wall Street Journal 16.03.2010, trang 23 :

         BEIJING IS STILL THE TOP HOLDER OF U.S.DEBT

*        Web Alternatives Economiques par Jacques ADDA, Article Web 17.03.2010:

         LA DOUBLE FACE DU YUAN

*        Financial Times 16.03.2010, trang 1:

         CONGRESS LETTER URGES ACTION ON RENMINBI

*        Fiancial Times 17.03.2010, trang 3:

         BEIJING ON OFFENSIVE OVER RENMINBI

*        The Wall Street Journal 17.03.2010, trang 1 & 3:

         CHINA ATTACKS QUALITY OF FOREIGN GOODS

*        Le Monde 18.03.2010, trang 16:

         TAUX DE CHANGE DU YUAN: PUGILAT AMERICANO-CHINOIS

*        Financial Times 18.03.2010, trang 2 :

         WORLD BANK OPTIMISTIC ON CHINA ?

*        The Wall Street Journal 18.03.2010, trang 14:

         MULTINATIONAL COMPANIES SOUR ON THEIR DEALINGS WITH CHINA.

*        Financial Times 22.03.2010, trang 6:

         CHINA’S US TRADE ALLIES LOSING FIGHT WITH HAWKS

*        Le Figaro 22.03.2010, trang 25:

         COMMERCE: LA CHINE DEFIE LES OCCIDENTAUX

*        The Wall Street Journal 23.03.2010, trang 10 :

         WEN MEETS WITH BUSINESS

*        The Wall Street Journal 24.03.2010, trang 9:

         RARE CHINA DEFICIT COULD BACK POLICY

*        Financial Times 24.03.2010, trang 8:

         ARBITRARY CHINA

 
Bài thứ ba hôm nay trình bầy ba khía cạnh:

=>     Quan điểm của Tây phương về mất can bằng Kinh tế tòan cầu

=>     Quan điểm của Trung quốc: con dao hai lưỡi của tỷ giá đồng Yuan

=>     Nếu vấn đề tỷ giá đồng Yuan không được giải quyết, thì hậu quả ra sao
 

Quan điểm của Tây phương
về mất can bằng Kinh tế tòan cầu

Hai yếu tố chính về phát triển kinh tế Thế giới từ 1990 như sau:

=>     Tiêu thụ tăng mạnh từ phía Tây phương từ 1990

=>     Đầu tư sản xuất tại Trung quốc tăng vọt song hành

Tiêu thụ tăng mạnh từ phía Tây phương từ 1990,
rồi tụt dốc với Khủng hỏang

Thị trường tiêu thụ chính yếu hàng hóa của Thế giới quy tụ vào Hoa kỳ và Liên Ậu. Tỉ dụ ngay ngày nay, sức tiêu thụ hàng hóa của 1’300 triệu người Trung quốc chỉ bằng 16% sức tiêu thụ của 300 triệu dân Mỹ, chưa kể Liên Âu. Trong thời gian này, các Ngân Hàng cấp phát dễ dàng Tín dụng cho Tiêu thụ. Cụ thể Tín dụng nguy hiểm Địa ốc (Subprime Mortgage Credit). Những Credit Cards Tiêu thụ được nhân lên.

Nhưng từ khi có Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế 2007-2009,  tiêu thụ Tây phương tụt dốc mà lý do là Thất nghiệp tăng, do đó thu nhập giảm, rồi tình trạng nợ nần của các Quốc gia Tây phương, nhất là Hoa kỳ làm giảm Tiêu thụ nhà nước.

Nhưng tại Trung quốc, hàng hóa vẫn tăng để giữ đà phát triển làm hàng hóa phụ trội xuất cảng của Trung quốc kéo theo khuynh hướng xuống giá của Tây phương. Theo Tây phương, Trung quốc cần phải  cân bằng sản xuất của mình bằng cách tăng mãi lực của nội địa để tiêu thụ những hàng hóa phụ trội. Nhưng Trung quốc đã làm ngược lại là thay vì đầu tư vào vấn đề xã hội, giáo dục, họ lại cho đầu tư vào những công ty sản xuất làm tăng thêm phụ trội hàng hóa.
 

Đầu tư sản xuất tại Trung quốc tăng vọt song hành,
đòi hỏi phải giảm hẳn xuống

Chính sách cân bằng Kinh tế Thế giới đòi hỏi: Trung quốc phải tăng Lãi suất, tăng Tỷ giá đồng Nhân dân tệ. Hai việc này có hiệu lực làm giảm đầu tư vào sản xuất, đồng thời cắt việc nâng đỡ xuất cảng để dành phụ trội cho Tiêu thụ nội địa.

Nhưng Trung quốc đã không làm như vậy, mà ngược lại Trung quốc cho chi tiêu vào Hạ tầng cơ sở và giúp đỡ các Công ty sản xuất, nghĩa là không tăng mãi lực nội địa. Họ tăng cường những công ty xi-măng, bauxite, lọc dầu và hóa chất. Về mặt Tiền tệ, theo giá cố định với Đo-la, khi đo-la xuống trong thời gian vừa qua, đồng Nhân dân tệ càng xuống và do đó họ tăng xuất cảng và càng làm tăng thất nghiệp cho Tây phương.
 

Quan điểm của Trung quốc:
con dao hai lưỡi của tỷ giá đồng Yuan

Trung quốc không nhìn tình trạng Kinh tế Tòan vầu như Tây phương. Họ đã gatï bỏ một cách cứng nhắc những yêu cầu của Tây phương cho tình trạng cân bằng của Kinh tế tòan cầu như đề nghị về Lãi suất tăng để giảm đầu tư và nâng tỷ giá đồng Nhân dân tệ để giảm xuất cảng và tăng cường tiêu thụ nội địa. Trong cuộc họp báo ngày 14.03.2010, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã gạt hẳn việc tăng lãi suất và nâng tỷ giá đồng nhân dân tệ. Trung quốc, để biện minh cho quan điểm của mình, họ đã nói:

Về chi tiêu nhà nước trong nội địa

Họ đã nêu ra: 27’000 nhà cửa xã hội, 200’000 cây số đường sá, 1 500 cây số đường xe lửa và tăng bảo trợ hưu dưỡng và sức khỏe. Nhưng ảnh hưởng này có tính cách dài hạn chứ không nhằm giải quyết sự mất cân bằng hiện nay của kinh tế tòan cầu là giảm xuất cảng và tăng liền mãi lực nội địa để tiêu thụ hàng hóa phụ trội do tăng cường đầu tư vào sản xuất.

Về nâng tỷ giá đồng nhân dân tệ

Trung quốc nêu ra những nguy hiểm sau đây:

*        Nâng tỷ giá đồng Yuan sẽ tạo tình trạng đầu cơ vốn nước ngòai vào Trung quốc và tạo thổi phồng đầu cơ tại Thị trường Chứng khóan để kiếm lợi nhuận do chênh lệc tỷ giá đồng Yuan. Trung quốc nêu ra tỷ dụ Nam Hàn và Ba Tây cũng như Nhật vào những năm 1980.

*        Tình trạng vốn nước ngòai ào vào còn làm tăng lạm phát, điều mà họ rất sợ vì lạm phát có thể gây xáo trộn xã hội và chính trị. Thủ tướng Ôn Gia Bảo đặc biệt nhấn mạnh về điểm này trong bài Diễn văn ngày 14.03.2010.

*        Trung quốc cần phải giữ tỷ giá thấp để nâng đỡ xuất cảng. Trung quốc cần phải duy trì xuất cảng để giải quyết nạn thất nghiệp đang tăng mạnh tại nước họ. Mỗi năm, Trung quốc phải giải quyết 24 triệu người trẻ và dân kiếm việc du mục đến từ đồng quê. Không có xuất cảng, rồi công ty đóng của, thì số tăng thất nghiệp hàng năm này sẽ gây xáo trộn xã hội và chính trị.

Theo thông tin mới nhất trong những ngày 23/24.03.2010, thì Trung quốc dường như đang muốn dùng thủ thuật hõan binh để “đánh lừa” làm giảm căng thẳng với Tây phương, bằng:

*        Gửi Thứ trưởng Kinh tế sang Mỹ để thảo luận

*        Xử dụng những Công ty Liên quốc (Multinationales) tại Trung quốc (chiếm 60% số hàng xuất cảng) để áp lực lên Hoa kỳ. Thủ tướng Ôn Gia Bảo gặp đại diện những Công ty nước ngòai thứ hai vừa rồi (Tin của The Wall Street Journal, 23.03.2010, p.10)

*        Họ tuyên bố thống kê tháng 03/2010 cho thấy Trung quốc nhập cảng nhiều hơn xuất cảng: “Top Chinese officials have in recent days said numbers for March could show China imported more than it exported this month” (Những nhân viên cao cấp Trung quốc tuyên bố trong những ngày gần đây rằng những con số tháng Ba cho thấy Trung quốc nhập cảng nhiều hơn xuất cảng) (The Wall Street Journal 24.03.2010, p.9) 
 

Nếu vấn đề tỷ giá đồng Yuan
không được giải quyết, thì hậu quả ra sao

Tây phương coi quan điểm của Trung quốc là một Chủ nghĩa trọng Kim gây hấn, hay cũng gọi là Chủ nghĩa con buôn gây hấn (Mercantilisme agressif) đang làm phát sinh mau chóng một Chiến tranh Thương mại giữa Trung quốc và các nước Tây phương Hoa kỳ và Âu châu.

Nếu Trung quốc không tuân thủ luật tái cân bằng Kinh tế tòan cầu, nghĩa là cứ khăng khăng giữ thái độ Con Buôn gây hấn như trên, nhất là không nâng cao mãi lực nội địa để tiêu thụ những phụ trội hàng hóa, mà cứ giữ tỷ giá đồng Nhân dân tệ thấp để tăng xuất cảng hàng hóa làm thiệt hại những nước khác, nhất là Tây phương, thì Chiến tranh Thương mại giữa Tây phương và Trung quốc phải xẩy ra.

130 Nghị sĩ Quốc Hội và một số Thượng nghị sĩ đã đưa Dự Luật áp lực lên TT.Obama để làm mạnh với Trung quốc. Trung quốc khăng khăng giữ quan điểm của mình. Tây phương bị đẩy dần dần vào thế chủ trương Che Chở Kinh tế/Thương mại. Hoa kỳ đang đi đến xếp Trung quốc vào lọai Giảo họat Tiền tệ (Label Currency Manipulator)

Một số chuyên viên Thương mại đã hình dung cho Hoa kỳ những biện pháp như:

=>     Hoa kỳ có thể yêu cầu IMF/FMI (Qũy Tiền Tệ Quốc tế) để đưa ra những trừng phạt về tiền tệ.

=>     Hoa kỳ có thể đưa Trung quốc ra WTO/OMC (Tổ Chức Mậu Dịch Thế giới) để khiếu nại về vấn đề xử dụng tỷ giá hối đóai nâng đỡ sản xuất và thương mại.

=>     Hoa kỳ cũng có thể lấy những lý do nội tại để định thuế quan cho những hàng nhập cảng từ Trung quốc. Chúng ta đi vào những biện pháp trả đũa vậy (Mesures de représailles).
 

Tăng mãi lực nội địa có nghĩ là dần dần Dân chủ hóa Kinh tế. Đây là việc mà một Chế độ độc tài không muốn làm. Họ muốn khai thác triệt để nhân lực của khối người nghèo nội địa. Một sự nổi dậy của dân nghèo bị khai thác có thể xẩy ra, đó là điều mà Oân Gia Bảo đã lo sợ trong bài Diễn Văn của Oâng trước Quốc Hội Nhân Dân vào ngày 14.03.2010.
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.03.2010

 


 
                                      CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ:

                                                           Bài 06:

                                             TỶ GIÁ ĐỒNG YUAN VÀ
                                         CĂNG THẲNG THƯƠNG MẠI 
                                                       MỸ VÀ TẦU

 
                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                        UNICODE: http://viettudan.net
                                                 Geneva, 18.03.2009

 
Trước đây người Pháp dùng cái tên IndoChine để chỉ khu vực địa lý giữa Aán độ và Tầu, trong đó có Việt Nam. Tuần vừa rồi, chúng tôi viết bài nhận định theo dòng thời sự: ẤN ĐỘ, MỘT CƯỜNG QUỐC KINH TẾ TƯƠNG LAI Á CHÂU và chúng tôi định viết bài QUAN ĐIỂM hôm nay với những phân tích về hướng phát triển của Kinh tế Aán độ trong phạm vi chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ.

Chúng ta ở giữa hai nước đông dân số, Trung quốc và Aán độ, cả hai được xếp vào những nước bắt đầu phát triển (Pays émergents).  Kinh tế Trung quốc tập trung những phát triển dưới quyền lực độc tài độc đảng, chú tâm vào xuất cảng, nghĩa là hướng ngọai. Kinh tế Aán độ tản những họat động phát triển tới dân chúng trong nước, nghĩa là hướng nội, dưới chủ trương tản quyền kinh tế hay cũng gọi là dân chủ hóa kinh tế.

Định viết bài QUAN ĐIỂM hôm nay về Ấn độ như một tỉ dụ cho chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ. Nhưng tình hình căng thẳng về vấn đề Tiền tệ và Mậu dịch giữa Hoa-kỳ và Trung quốc trở thành gay gắt sau cuộc Họp báo Chúa Nhật vừa rồi, 14.03.2010, của Thủ tướng  Oân Gia Bảo tại Bắc Kinh. Oâng công kích mạnh Hoa kỳ và coi Hoa kỳ đang đi đến Che Chở Mậu Dịch (Protectionnism). Đồng thời từ Hoa Thịnh Đốn, 130 Nghị viên Quốc Hội và một số Thương Nghị sĩ viết thư yêu cầu Obama phải làm mạnh với Trung quốc về tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ, thậm chí yêu cầu xử dụng quan thuế để chế tài Trung quốc nếu Trung quốc vẫn ương ngạnh.

Tuần trước, chúng tôi đã viết một bài QUAN ĐIỂM về phạm vi này với đầu đề: TRUNG QUỐC XUỐNG NƯỚC VÌ LO SỢ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI. Chúng tôi nói Trung quốc xuống nước theo những tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, và của Dương Khiết Trì, Ngọai trưởng Trung quốc. Nhưng tuần này, Thủ tướng Oân Gia Bảo lại lên nước cứng nhắc, khiến chúng tôi tạm để một bên về Kinh tế Aán độ và viết tiếp về sự căng thẳng đấu đá giữa Trung quốc và Hoa kỳ về Tiền tệ và Thương mại.

Trong bốn ngày gần đây, thứ Hai, thứ Ba, thứ Tư và thứ Năm hôm nay, nhiều bài viết về vấn đề căng thẳng đấu đá này trên các Nhật Báo lớn quốc tế. Nguyên xem những đầu đề viết, chúng ta đã thấy tầm căng thẳng đã lên cao như thế nào và những căng thẳng này không thể giải quyết một sớm một chiều mà yên. Nó còn kéo dài. Chính vì vậy mà chúng tôi xin liệt kê những đầu đề đó để qúy độc giả thấy tầm quan trọng của căng thẳng và cũng để qúy độc giả tiện vào đọc những bài sau đây để nhận định thêm :

*        Le Figaro 15.03.2010, trang 18 :

         PEKIN REJETTE LES CRITIQUES AMERICAINES

*        Financial Times 15.03.2010, trang 1 :

         CHINA PREMIER BRANDS PRESSURE OVER RENMINBI PROTECTIONISM

*        The Wall Street Journal 15.03.2010, trang 1:

         CHINA TAKES AIM AT U.S. OVER ECONOMY

*        Le Monde 16.03.2010, trang 16:

         CHINE: LE PREMIER MINISTRE RECONNAIT L’AGGRAVATION
         DES  INEGALITES SOCIALES

*        The Wall Street Journal 16.03.2010, trang 23 :

         BEIJING IS STILL THE TOP HOLDER OF U.S.DEBT

*        Financial Times 16.03.2010, trang 1:

         CONGRESS LETTER URGES ACTION ON RENMINBI

*        Fiancial Times 17.03.2010, trang 3:

         BEIJING ON OFFENSIVE OVER RENMINBI

*        The Wall Street Journal 17.03.2010, trang 1 & 3:

         CHINA ATTACKS QUALITY OF FOREIGN GOODS

*        Le Monde 18.03.2010, trang 16:

         TAUX DE CHANGE DU YUAN: PUGILAT AMERICANO-CHINOIS

*        Financial Times 18.03.2010, trang 2 :

         WORLD BANK OPTIMISTIC ON CHINA ?

*        The Wall Street Journal 18.03.2010, trang 14:

          MULTINATIONAL COMPANIES SOUR ON THEIR DEALINGS WITH CHINA.

 

Chỉ nguyên đọc những đầu đề trên đây, chúng ta đã mường tượng ra tầm quan trọng của đấu đá giữa Hoa kỳ và Trung quốc và những vấn đề phức tạp chạm đến nồi cơm của mỗi nước. Chúng tôi không thể đi vào những chi tiết của những bài trên đây với phạm vi một bài QUAN ĐIỂM hôm nay. Phải cần những bài QUAN ĐIỂM tiếp theo nữa để đi vào chi tiết và nhất là theo rõi công việc đấu đá cho nồi cơm mỗi nước sẽ đi về đâu, sẽ có những trừng phạt quan thuế hay không (Sanctions par Taxes douanìeres), mỗi nước đưa ra những biện pháp không giá biểu như thế nào (Mesures non-tarifaires) và những biện pháp trả thù ra sao (Mesures de représailles).

Vì vậy bài QUAN ĐIỂM hôm nay chỉ nêu ra những điểm chính căng thẳng về Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ và những dự phóng xử dụng trừng phạt quan thuế về Thương mại từ hai phía Trung quốc và Hoa kỳ.
 

Thái độ từ phía Trung quốc

Chúng tôi nghĩ rằng những công kích từ phía Trung quốc về vụ việc Google, về việc Hoa kỳ bán võ khí cho Đài Loan, về việc Obama gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma... dần dần rồi cũng quên đi. Nhưng vấn đề gai góc tạo căng thẳng là Trung quốc coi việc giữ Tỷ giá thấp của đồng Yuan như một chính sách Tiền tệ chung cho phát triển Kinh tế Trung quốc. Trung quốc làm việc cho xuất cảng. Nếu xuất cảng tụt dốc, thì sản xuất kinh tế Trung quốc chết. Chính sách giữ Tỷ giá đồng Yuan thấp đối với Đo-la là nhằm cạnh tranh tăng xuất cảng, nghĩa là đồng thời nuôi dưỡng sản xuất. Chính vì vậy đối với Trung quốc, khi nói đến Tiền tệ, thì cũng phải nói đến tình trạng kinh tế chung của nước này.

Một số báo chí đã thổi phồng Kinh tế Trung quốc khi chỉ nhìn những thành phố ven biển, khi thấy những “gadgets” Made in China tràn ngập ở các Siêu thị bên này, khi nghĩ rằng chế độ chính trị Trung quốc cũng giống những chế độ dân chủ Tây phương.

Chúng tôi xin lập lại đây hình ảnh tóm tắt rất xác thực về Kinh tế Mafia độc đảng Trung Cộng với tất cả những tính tóan cho quyền lợi cá nhân của độc đảng cầm quyền:

Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, viết về hiệu quả Kinh tế/Thương mại Trung quốc như sau: “It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay).

Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung cộng, ở trong lòng nền Kinh tế như trên vừa tóm tắt, “ở trong chăn”, nên biết rõ tỏ tường chăn có rận rệp như thế nào. Vì vậy trong bài diễn văn nhân Mùa Xuân kết thúc Khóa họp Quốc Hội Nhân Dân ở Bắc Kinh, Chúa Nhật 14.03.2010, ông đã nhấn mạnh đến hai điểm chính: (i) Tình hình Kinh tế có những đe dọa để dẫn đến bất ổn xã hội; (ii) Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ/Đo-la là chính sách Tiền tệ cứu vãn Kinh tế.

Tình hình Kinh tế có những đe dọa
dẫn đến bất ổn xã hội, chính trị

Bình thường, thì những Lãnh đạo chính trị độc tài bưng bít không dám nói ra những khuyết điểm. Nhưng lần này, một Thủ tướng đành phải thú nhận những đe dọa cho Kinh tế Trung quốc có thể dẫn đến những bất ổn Xã hội và Chính trị. Oân Gia Bảo nói rõ rệt như sau:

“L’inflation, plus une redistribution inéquitable des revenus et la corruption pourraient affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement” (Lạm phát, thêm vào đó là một sự phân phối không đồng đều những thu nhập và tham nhũng có thể tác hại đến sự ổn định xã hội và ngay cả đến sự ổn định nhà nước” (Le Monde 16.03.2010, trang 16)

Tại sao Thủ tướng Oân Gia Bảo phải thú nhận như vậy. Một số những nhà quan sát cho rằng việc thú nhận này có lẽ được xử dụng làm cái cớ để Trung quốc nhất thiết duy trì Tỷ giá thấp đồng Yuan mong cứu nền kinh tế đang chao đảo.

=>     Lạm phát (Inflation)

Trung quốc đang lo sợ lạm phát. Tháng hai vừa rồi lạm phát tăng 2.7% và Nhà nước đang lo sợ rằng lạm phát tòan năm có thể lên 2 con số. Chính Oân Gia Bảo đã nhắc lại rằng năm 1989, vụ đẫm máu tại Thiên An Môn là do lạm phát tăng lên hai con số.

=>     Sự phân phối không đồng đều những thu nhập
         (Redistribution inéquitable des revenus)

Đúng theo hình ảnh Kinh tế Trung quốc mà Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, đã tóm tắt như trên đây. Đó là Kinh tế Mafia đảng CSTQ, bóc lột nhân lực đại đa số dân Trung quốc mà không cho họ hưởng tương xứng với thu nhập, đám Mafia đảng trở thành giầu sụ và tiền thu nhập lại chuyển ra nước ngòai đầu tư chứ không đầu tư trong nước để đa số dân nghèo có thể được hưởng. Đồng Nhân Dân Tệ là tiền của Tầu mà chính đám Mafia giầu có lại sợ giữ tiền Tầu, nên mua đồng Đo-la để trữ. Tờ Le Monde ngày 16.03.2010, trang 16 viết: “La Chine est alarmée par le fait que le fossé ville-campagne va continuer à se creuser dans la mesure òu le pays se focalise sur le développement urbain et pas du monde rural.” (Trung quốc bị báo động bởi sự việc là hố sâu thành phố—nhà quê sẽ tiếp tục tự đào sâu thêm ở mức độ nước này đặt tiêu điểm phát triển thành thị và không phải là lãnh vực nông thôn)

Cách đây 6 năm, số người giầu từ 150 triệu Đo-la, liên hệ với đảng CSTQ, là 100 người. Ngày nay con số đó đã tăng lên 1’000 người (Le Monde 16.03.2010, p.16)

=>     Tham nhũng (Corruption)

Tham nhũng mọi cấp tràn lan. Không cho hối lộ, thì công việc không chạy. Đó là lời nhận xét của một doanh nhân nước ngòai làm việc với Trung quốc. Ký giả Jamil ANDERLINI từ Bắc kinh đã viết trên tờ FINANCIAL TIMES ngày 27.01.2010, trang 17, viết về con trai của Oân Gia Bảo, Oân Yunsong, và con trai của Hồ Cẩm Đào, Hồ  Heifeng:

“The children of  China’s Leaders enjoy unparalelled access to decision-makers and are seen as essential facilitators by foreign businesses operating in the country. But while their names can help attract investors, any public perception in China that they are trading on their family’s name can be politically devastating and details of their activities are often regarded as state secrets. Internet searches for information on NEW HORIZON and Winston WEN were blocked in China yesterday. In similar situation in July last year, the Central Propaganda Department ordered all Chinese search engines to block searches related corruption probe in Namibia involving Nuctech, the airport scanner group controlled by Hu Haifeng, 38-year-old son of Hu Jintao, China’s president“. (Những con cái của các Lãnh đạo tại Trung quốc được hưởng liên hệ không sánh được về việc liên hệ trực tiếp với những người có quyền quyết định và được coi như là những người dàn xếp chính yếu bởi nhà kinh doanh nước ngòai làm việc trọng xứ Tầu. Nhưng trong khi tên của những con cái các Lãnh tụ này có thể quyến rũ những nhà đầu tư, thì bất cứ những sự biết đến của quần chúng rằng những người con này đang làm ăn dựa trên tên gia đình của họ có thể gây tàn phá về mặt chính trị, và những chi tiết họat động của họ thường được coi là những bí mật nhà nước. Những truy tìm tin tức bằng Internet về Tập đòan New Horizon và về Winston ÔN (On Yunsong) đã được ngăn chặn lại hôm qua tại Trung quốc. Trong hòan cảnh giống như vậy vào tháng Bẩy năm ngóai, Bộ Tuyên truyền Trung ương đã ra lệnh xử dụng tất cả những phương tiện tìm kiếm đóng chặt những truy tìm bằng chứng tham nhũng ở Namibia liên hệ đến NUCTECH, Tập đòan Air Scanner dưới quyền kiểm sóat của Hồ Haifeng, con trai 38 tuổi của Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch Trung quốc).

Con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, con rể của Tướng Võ Nguyên Giáp, tại Việt Nam, nhờ quyền lực độc tài đảng, mà làm ăn giầu có, lại thêm môi giới quyền lực ăn hối lộ.

=>     Tác hại đến ổn định Xã hội, ngay cả ổn định Nhà nước
         (Affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement)

Oân Gia Bảo đã nói trước Quốc Hội Nhân Dân rằng những sự việc trên đây đang diễn ra trong nền Kinh tế Trung quốc và sẽ đưa tới sự bất ổn Xã Hội và Chính trị. Sự nổi dậy của khối dân nghèo nếu có lạm phát làm họ thiếu ăn. Những bóc lột sức lao động đã làm giầu có cá nhân thuộc đảng CSTQ đến một lúc sẽ làm nhân công không thể chịu đựng được và nổi dậy. Sự tị hiểm, uất hận sẽ tăng lên trong giới trẻ và trí thức khi nhìn những tệ đoan, bất công trên đây. Hình ảnh nổi dậy Thiên An Môn là một tỉ dụ cụ thể lịch sử.

Thú nhận những điểm như trên đây rồi, Oâng Gia Bảo tuyên bố một điều làm cho những ai thường ca tụng “cường quốc Kinh tế Trung quốc” phải ngạc nhiên: “Cela prendra cent ans, même plus pour que la Chine devienne un pays moderne” Điều đó còn cần 100 năm, ngay cả lâu hơn nữa, để Trung quốc trở thành một nước tân tiến) (Le Monde 16.03.2010, trang 16)

Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ/Đo-la
là chính sách Tiền tệ cứu vãn Kinh tế.

Sau khi thú nhận những nguy hiểm của  Kinh tế Trung quốc như trên, Thủ tướng Oân Gia Bảo nhất quyết bảo vệ chính sách Tiền tệ của Trung quốc nhằm bảo vệ xuất cảng và do đó sản xuất kinh tế trong nước. Có thể việc thú nhận này là để làm bối cảnh cho ông khẳng định cứng nhắc về chính sách Tiền tệ của Trung quốc.

Trước cuộc Họp báo ngày thứ Bẩy 06.03.2010, Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã mạnh mẽ kêu gọi việc phế bỏ Đo-la để chọn một đơn vị Tiền tệ khác. Nhưng trong cuộc Họp báo này, ông đã xuống nước. Bản tin của Reuters đánh đi từ Bắc Kinh ngày 08.03.2010, tóm tắt như sau (Bản dịch Pháp ngữ của Gwénaelle BARZIC):

“Lors de la session annuelle de l’Assemblée nationale populaire (Parlement), le gouverneur de la Banque populaire de Chine Zhou Xiaochuan a déclaré que Pékin serait un jour ou l’autre contraint d’abandonner cette politique “spéciale” du yuan, qui fait partie des diverses mesures prises par les autorités pour limiter l’impact de la crise. L’expérience a montré que ces politiques ont été positives, en contribuant à la fois au resdressement de notre économie et de l’économie mondiale. Les problèmes concernant le retrait de ces politiques apparaitront tôt ou tard. Si nous devons retirer ces politiques inhabituelles et revenir à des politiques économiques ordinaires, nous devons être extrêmement prudents dans le choix du calendrier. Cela inclut également la politique de taux de change du renminbi.” (Nhân dịp họp hàng năm của Quốc Hội Nhân dân, Thống dốc Ngân Hàng nhân dân Trung quốc Chu Tiểu Xuyên đã tuyên bố rằng Bắc Kinh, một ngày nào đó, buộc phải bỏ chính sách “đặc biệt” của đồng Yuan, chính sách làm thành phần của những biện pháp quyết định bởi Nhà Nước nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của khủng hỏang. Kinh nghiệm cho thấy rằng những chính sách này là tích cực, đóng góp vào việc khôi phục nền kinh tế của chúng ta và nền kinh tế của thế giới. Những vấn đề liên quan đến việc rút lại những chính sách này sớm muộn sẽ đến. Nếu chúng ta phải rút lại những chính sách bất thường này, chúng ta phải hết sức thận trọng trong việc lựa chọn lịch trình. Điều này cũng bao gồm cả chính sách tỷ giá của đồng nhân dân tệ.)

Nhưng trong bài diễn văn của Thủ tướng Oâng Gia Bảo, Chúa Nhật 14.03.2010, ông khẳng định nhất quyết không để những nước khác chỉ tay áp lực bắt Trung quốc phải nâng tỷ giá tiền tệ:

“We oppose all countries engaging in mutual finger-pointing or taking strong measures to force other nations to appreciate their currencies. (Chúng tôi chống lại tất cả những nước chỉ tay ra lệnh hay lấy những biện pháp mạnh để buộc những nước khác phải nâng tỷ giá tiền tệ của họ) (Financial Times 15.03.2010, trang 1).

Đồng thời Oân Gia Bảo cũng tuyên bố ngược lại lời khẳng định của Thống đốc Ngân Hàng Chu Tiểu Xuyên cho rằng đồng Yuan đã có tỷ giá thấp sánh với Đo-la. Oân Gia Bảo nói:

“The Chinese currency is not undervalued” (Đồng tiền Trung quốc không đánh giá thấp xuống). (Financial Times 15.03.2010, trang 1).

Chối bỏ rằng đồng Yuan không bị đánh thấp giá xuống, Oân Gia Bảo chuyển sang thế tấn công Hoa kỳ:

“What I don’t understand is depreciating one’s own currency, and attempting to pressure other to appreciate, for the purpose of increasing exports. In my view, that is protectionism !” (Điều mà tôi không hiểu nổi là một đàng hạ tỷ giá đồng tiền của mình, và một đàng làm áp lực để bắt người khác nâng tỷ giá tiền của họ, chỉ vì mục đích làm tăng xuất cảng của mình. Theo quan điểm của tôi, đó là Che Chở Kinh tế !) ((Financial Times 15.03.2010, p.1).

Theo như việc trình bầy những nguy hiểm của nền Kinh tế Trung quốc như Oân Gia Bảo nói trong đọan trên, thì việc cứng nhắc giữ chính sách Tỷ giả Tiền tệ của Trung quốc là điều bó buộc bởi những lý do sau đây:

=>     Trung quốc bị cắt giảm việc đặt mua hàng từ Hoa kỳ và Liên Aâu. Nếu bây giờ tăng Tỷ giá đồng Yuan nữa, thì Trung quốc mất thêm xuất cảng nữa.

=>     Việc tăng tỷ giá đồng Yuan cũng là việc làm giảm cạnh tranh của hàng hóa Trung quốc tại những nước nghèo và đối với hàng hóa của những nước bắt đầu phát triển cùng sản xuất những hàng hóa giống như Trung quốc.

=>     Một nguy hiểm nữa:  những nhà Tài chánh đầu cơ khi biết đồng Yuan có khuynh hướng tăng tỷ giá, họ thẩy vốn vào Trung quốc để hưởng lợi khi đồng Yuan tăng giá lên.

=>     Khi những vốn đầu cơ này vào Trung quốc, tình trạng lạm phát càng trở thành nguy cơ và tác hại đến ổn định xã hội và chính trị. Đây là điều mà Nhà Nước độc tài CSTQ sợ hãi nhất. Đảng CSTQ sẽ không chịu đựng được sức nổi dậy của 4/5 dân số nghèo Trung quốc.
 

Thái độ cứng rắn từ phía Hoa-kỳ

Phía Hoa kỳ cũng có những lý do phải cứng rắn đối với việc giữ tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ thấp đối với Đo-la. Tỷ giá thấp ấy đã giúp Trung quốc tăng cạnh tranh hàng hóa, nghĩa là tăng xuất cảng. Trung quốc tăng xuất cảng không phải chỉ cạnh tranh với hàng Hoa kỳ tại chính đất Mỹ, mà còn đối với những vùng Kinh tế khác nữa, như Liên Aâu, Khu vực Thái Bình Dương, Trung Đông và Nam Mỹ. Lý do thúc đẩy quyết định mạnh hơn cả và trực tiếp cho Chính quyền Obama là:

=>     Tình trạng thất nghiệp ở Mỹ tăng gần 10%

=>     Lương bổng theo chiều hạ xuống tại Mỹ

=>     Những Công ty Liên quốc gia (Multinationales) chuyển sản xuất sang Tầu để có giá thành hạ xuống. Việc này càng làm tăng thất nghiệp tại Mỹ.

Những lý do này buộc Hoa kỳ phải cứng rắn:

=>     Yêu cầu Trung quốc phải tăng tỷ giá đồng Yuan, một yếu tố chính của cạnh tranh Trung quốc.

=>     Nếu Trung quốc vẫn ương ngạnh giữ cứng nhắc tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ thấp để thủ lợi, thì Hoa kỳ phải dùng những biện pháp mạnh (Mesures fortes) như tăng thuế quan nhập khẩu, xử dụng những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires) hay những Biện pháp trả đũa (Mesures de représailles.

Đây là nội dung của Lá thư của các Nghị sĩ và một số Thượng nghị sĩ yêu cầu TT.Obama phải thi hành.

Ký giả Daniel DOMBEY từ Hoa Thịnh Đốn đã viết trên tờ Financial Times ngày 16.03.2010, trang 1, như sau:

“More than 100 memebers of the US Congress yesterday called on the Obama administration to label China a currency manipulator, in a move that highlighted the pressure on Washington to take a more confrontational stance towards Beijing

 (Trên 100 thành viên của Quốc Hội Hoa kỳ đã yêu cầu Chính quyền Obama phải kêu Trung quốc là người xử dụng biến hóa tiền tệ, trong một phong trào nhấn mạnh áp lực lên Washington để lấy vị trì chạm trán mạnh hơn với Bắc Kinh)

Hai Thượng nghị sĩ Chuck SCHUMER, Dân chủ New York, và Lindsey GRAHAM, Cộng hòa South Carolina, cũng lên tiếng tố cáo:

Beijing’s refusal to let its currency appreciate was damaging the US economic recovery and hurting American competitiviness”.

China’s currency manipulation would be unacceptable even in good economic times. At a time of 10 per cent of unemployment, we will simply not stand for it.”

(Việc từ chối của Bắc Kinh không để tỷ do tiền của họ tăng đã làm hại việc phục hồi Kinh tế Hoa kỳ và làm tổn hại tính cạnh tranh của Mỹ)

(Việc uốn nặn điên đảo đồng tiền Trung quốc không thể chấp nhận được ngay cả trong thời nền kinh tế yên lành. Ơû thời điểm có 10% thất nghiệp, chúng ta không thể đứng khoanh tay như vậy được.) (Financial Times 17.03.2010, p.3)

Trên đây là một số áp lực từ phía Quốc Hội và hai Thượng nghị sĩ  áp đặt lên Chính quyền Obama để mạnh mẽ đòi hỏi việc tăng tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ. Nhưng Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung quốc đã có phản ứng cứng nhắc về vấn đề tỷ giá đồng Yuan mà Trung quốc coi như chính sách bao trùm quốc gia chứ không chỉ nguyên bảng cân đối thương mại. “La Chine considère la question du taux de change relève des affaires politiques nationales, et pas de la balance commerciale.” (Trung quốc kể vấn đề tỷ giá hối đóai liên hệ đến những phạm vi chính trị quốc gia, chứ không chỉ nguyên bảng cân đối thương mại) (Le Monde 18.03.2010, p.16). Chính vì vậy mà Oân Gia Bảo đã trình bầy dài dòng đến tình trạng Kinh tế chung nguy hiểm của Trung quốc như chúng tôi đã đề cập đến ở phần trên đây.

Một số chuyên viên Thương mại đã hình dung cho Hoa kỳ một số những biện pháp như:

=>     Hoa kỳ có thể yêu cầu IMF/FMI (Qũy Tiền Tệ Quốc tế) để đưa ra những trừng phạt về tiền tệ.

=>     Hoa kỳ có thể đưa Trung quốc ra WTO/OMC (Tổ Chức Mậu Dịch Thế giới) để khiếu nại về vấn đề xử dụng tỷ giá hối đóai nâng đỡ sản xuất và thương mại.

=>     Hoa kỳ cũng có thể lấy những lý do nội tại để định thuế quan cho những hàng nhập cảng từ Trung quốc. Chúng ta đi vào những biện pháp trả đũa vậy (Mesures de représailles).
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 18.03.2010

 


                                      CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ:

                                                           Bài 05:


                                         TRUNG QUỐC XUỐNG NƯỚC
                                                        VÌ LO SỢ
                                          CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI

 

                             Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                          UNICODE: http://viettudan.net
                                                Geneva, 11.03.2010


 
Đầu tuần này, 08.03.2010, giới Tài chánh có những ngạc nhiên và nghi ngờ về thái độ của Trung quốc trước áp lực Tiền tệ và Thương mại Quốc tế, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu. Đài RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn chúng tôi ngay chiều 08.03.2010 về thái độ này của Trung quốc. Thực vậy, trong cuộc Họp báo thứ Bẩy 06.03.2010, những lời tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, về khả năng tăng tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ (Yuan)/Đo-la không đi theo những tuyên bố cứng nhắc của Thủ tướng Oân Gia Bảo trước đó rằng Trung quốc không nhượng bộ đối với bất cứ áp lực nào từ nước ngòai về tỷ giá Yuan/Đo-la. Trong khi ấy, cũng trong cuộc Họp báo ngày hôm sau, Chúa nhật 07.03.210, Dương Khiết Trì, Ngọai trưởng Trung quốc, nhắc ra những căng thẳng hiện nay giữa Hoa kỳ và Trung quốc với những vụ như : (i) Hoa kỳ bán vũ khí cho Đài Loan mà Trung cộng vẫn coi là một Tỉnh của mình, (ii) Hoa kỳ gặp Đức Đạt Lai Lạ Ma mà Trung quốc luôn luôn coi là người khuấy động mọi nơi nhằm tách Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ Trung quốc, (iii) Trung quốc chủ trương không trừng phạt về nguyên tử đối với Iran, một nước cung cấp dầu lửa, đứng hàng thứ ba, cho Trung quốc.

Đài RFI hỏi tôi câu cuối cùng là nếu Trung quốc chỉ hứa lần hồi, có thể để đánh lừa, thì liệu có thể xẩy ra một cuộc Chiến tranh Thương mại hay không ? Hỏi bất ngờ như vậy, tôi không dám khẳng định liền.

Hôm nay, trước khi viết bài này, tôi đọc thêm một số bài mà chính tôi đã viết trước đây về thái độ sợ sệt của Trung quốc đối với việc Che Chở Mậu dịch ngay trong những lần họp Davos, trong những dịp nhóm lại G20 và nhất là kiểm điểm lại 66 biện pháp Che Chở Mậu dịch mà các nước đã đưa ra, rồi nhớ rõ lại lời báo động gần đây nhất của ông LAMY, Tổng Giám đốc WTO, rằng lượng Mậu dịch Thế giới trong năm 2009 giảm 12%, một việc tụt dốc chưa từng có kể từ 20 năm nay.

Đọc lại những phân tích về tình trạng tụt dốc Mậu dịch Thế giới, tôi hiểu rằng nếu Trung quốc vẩn ương ngạnh tính tóan lừa đảo Thế giới, thì một cuộc Chiến tranh Thương mại rất có thể xẩy ra mà Trung quốc sẽ là nạn nhân. Có thể viễn tượng Chiến tranh Thương mại này đã làm cho Trung quốc phải tuyên bố như cuối tuần vừa rồi.

Chúng tôi đề cập những khía cạnh sau đây:

=>     Những gian giảo Thương mại của TQ làm Thế giới bực mình và có biện pháp

=>     Hoa kỳ bầy tỏ công khai thái độ cứng rắn 

=>     Phân tích thái độ xuống nước của Trung quốc

=>     Trung cộng là nạn nhân của Chiến tranh Thương mại

 

Những gian giảo Thương mại của TQ
làm Thế giới bực mình và có biện pháp

Việc gian giảo trong phẩm chất hàng hóa đã làm thương hiệu MADE IN CHINA giảm xuống khiến Trung quốc phải dùng Tài chánh trợ lực để bán hàng hóa tại những nước nghèo. Những hàng độc hại sẽ mang ảnh hưởng xấu cho sức khỏe dân nghèo trong dài hạn.

Trong nội địa Trung quốc

Nhà Nước Trung quốc đã áp dụng việc khai thác nhân công từ nông thôn một cách phi nhân bản. Những nhân công du mục này bị bóc lột. Chế độ hộ khẩu đã tước đọat quyền cư ngụ của những nhân công du mục không được trở thành những người thuộc thành thị để có thể được hưởng những quyền lợi khi đến các thành thị làm việc. Kinh tế Trung quốc tập trung vào những thành thị ven biển. Những nông dân từ nội địa ra thành thị làm công nhân và bị bóc lột sức lao động, không có những quyền lợi được hưởng của người cư ngụ tại thành thị. Những hiệu quả Kinh tế/Thương mại dành cho nhóm đảng Mafia Cộng sản và những dân thành thị được ưu đãi.

Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, viết về hiệu quả Kinh tế/Thương mại Trung quốc như sau: “It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay).

Những người tiêu thụ tại những nước giầu bắt đầu ngượng ngùng và khó chịu khi tiêu thụ hững hàng này từ sự bóc lột vô nhân bản.

Tại những nước trong vùng Á châu

Ngòai việc bóc lột nhân công như trên vừa nói, Trung quốc còn xử dụng tỷ giá hối đoái thấp của đồng Yuan để làm cho hàng hóa rẻ thêm nữa nhằm tăng cường xuất cảng. Những nước nghèo Á châu cũng làm việc cho xuất cảng và sản xuất những hàng hóa tương tự như Trung quốc. Việc tràn lan những hàng hóa rẻ tiền Trung quốc sang các nước nghèo Á châu giết chết sản xuất của những nước nghèo này. Đồng thời tỷ giá thấp đối với đồng Đo-la còn làm tăng thêm cạnh tranh của hàng Trung quốc đối với những nước nghèo chung quanh khi xuất cảng hàng hóa sang Tây phương liên hệ đến thanh khỏan Đo-la. Việc Trung quốc cố thủ giữ tỷ giá hạ đồng Yuan là lý do chính đang gây bực tức tại các nước Á châu khiến những nước chính trong khối ASEAN yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010. Ngòai ra Trung quốc còn xử dụng USD.45 tỉ cho những nước nghèo Á dông để thiết lập những cơ sở phân phối hàng, thậm chí cho hối lộ để đầu cơ. Thái độ nghi ngại của ASEAN là tất nhiên. Những nước Á châu như Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Việt Nam... đã quá am tường tính cách làm ăn của người Trung quốc.

Tại những nước Phi châu

Trung quốc xử dụng USD.42 tỉ cho một số nước Phi châu. Tại vùng này, Aâu châu đã lên tiếng gọi đây là chủ trương Tân thuộc địa của Trung quốc. Những nước Phi châu đã là cựu thuộc địa của Anh, Pháp, Bồ Đào Nha... Lục địa cổ Aâu châu cần nguyên vật liệu từ Phi châu. Cách đây chừng 25 năm, Mỹ đã có nhũng đụng độ với Pháp về quyền lợi dầu lửa tại vùng Vịnh Guinée. Mỹ cũng đành phải nhượng bộ với những cựu Thực dân Pháp lâu đời ở vùng này.

Trung quốc dễ xử dụng khí giới tiền bạc để hối lộ những chính phủ để lấy nhượng địa, tài nguyên cũng như mở những đầu cầu xuất cảng hàng hóa rẻ tiền, độc hại. Tình trạng hối lộ đã bị quốc tế công kích. Thực vậy, chính trong cuộc họp báo Chúa nhật ngày 07.03.2010 tại Bắc kinh, Dương Khiết Trì (Yang Jiechi), Ngọai trưởng Trung quốc, đã phải lên tiếng chống đỡ đối với những công kích quốc tế. Ký giả Geoff DYER từ Bắc kinh viết: “Mr.Yang also rejected criticism that China’s economic ties with Africa were encouraging more corruption and hurting labour conditions. Some people are not happy to see the development of China-Africa relations“. (Oâng Dương chối bỏ lời công kích rằng sự kết nối kinh tế của Trung quốc với Phi châu đã cổ võ tham nhũng và làm thiệt hại những điều kiện lao động. Một số người không hài lòng về việc mở rộng những liên hệ Trung quốc—Phi châu) (Financial Times 08.03.2010, p.2).

Thị trường Liên Aâu và Hoa kỳ

Đây là hai Thị trường tiêu thụ chính yếu. Từ năm 2001, khi Trung quốc nhập WTO, hàng Trung quốc, nhất là hàng may mặc, hàng da dầy, đồ chơi trẻ em, thực phẩm... lan tràn hai Thị trường này.

Trước khi xẩy ra cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, Liên Aâu và Hoa kỳ, vì hy vọng bán máy móc, những thiết bị kỹ nghệ cho Trung quốc, nên có những thả lỏng. Nhưng dần dần, nhất là trong cuộc Khủng hỏang, Liên Aâu và Hoa kỳ bắt đầu thắt chặt việc nhập cảng từ Trung quốc, cụ thể là những hàng hóa sau đây:

=>     Kiểm sóat chặt chẽ và từ chối những hàng mang độc hại

=>     Liên Aâu tăng thuế nhập đối với hàng may mặc và da dầy

=>     Mỹ tăng thuế nhập lốp xe hơi

=>     Những nước Đông Aâu và một số nước vùng Địa Trung hải bị canh tranh rất thiệt hại bởi hàng Trung quốc, nhất là hàng tiểu công nghệ.

 
Hoa kỳ bầy tỏ công khai thái độ cứng rắn 

Từ thời TT.BUSH, vấn đề Trung quốc cố thủ xử dụng tỷ giá thấp của đồng Yuan làm lợi khí cạnh tranh thương mại đã được Hoa kỳ yêu cầu Trung quốc hủy bỏ.

Nếu trong chuyến viếng thăm Trung quốc của TT.OBAMA, thái độ của Hoa kỳ chỉ dừng ở lới khuyên nhẹ nhàng, thì trong những thời gian gần đây, Chính quyền Obama đã công khai bầy tỏ thái độ cứng rắn.

Các Ký giả Andrew BATSON, Terence POON, Shai OSTER, đã viết: “Mr.Obama told Democratic Senators earlier this year that he will “get much tougher” with China on trade issues, including the currency. The US Treasury in April called China a “currency manipulator” (Oâng Obama đã nói với những Thượng nghị sĩ Dân chủ, dịp đầu năm nay, rằng ông sẽ “cứng rắn thực sự” đối với Trung quốc về những vấn đề thương mại, gồm cả vấn đề tiền tệ. Bộ trưởng Ngân khố, tháng tư vừa rồi, đã gọi Trung quốc là người “mưu mẹo xử dụng tiền tệ”. (The Wall Street Journal 08.03.2010, p.10).

Thái độ cứng rắn này còn được tỏ lộ trong những quyết định sau đây:

=>     Quyết định bán khí giới trị giá USD.6 tỉ cho Đài Loan mà Trung quốc coi là việc vi phạm chủ quyền của mình. Trung quốc vẫn coi Đài Loan là một Tỉnh thuộc chủ quyền Trung quốc.

=>     TT.Obama quyết định gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma mà Trung quốc coi là người phản lọan muốn tách rời Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ Trung quốc. Hoa kỳ đã  tiếp đón người thù địch của Trung quốc. 

 =>     Đối với vấn đề nguyên tử Iran, Hoa kỳ nhất quyết đặt những trừng phạt. Những trừng phạt này động chạm đến quyền lợi dầu lửa của Trung quốc. Iran là nước quan trọng thứ ba về việc cung cấp dầu lửa cho Trung quốc.

Những sự việc trên đây cho thấy sự căng thẳng giữa hai nước Mỹ và Trung quốc. Những căng thẳng này có thể dược đàm phán dàn hòa. Nhưng điều tối quan hệ đối với Trung quốc là vấn đề làm ăn Kinh tế. Sự căng thẳng này có thể dẫn tới tình trạng Che chở Mậu dịch gay gắt mà Trung quốc đã ngại sợ từ lâu: từ những cuộc họp Davos, từ những nhóm lại của G20 mà Trung quốc luôn luôn kêu gọi tự do mậu dịch. Che Chở Kinh tế/Thương mại đã trở thành như con ma ám ảnh trong đầu óc của Trung quốc. 

Ban Biên Tập Nhật Báo New York Times ngày 13 tháng 12 năm 2010 đã phác họa cái viễn tượng con ma Che Chở Kinh tế/ Thương mại đang rình rập mà nếu Trung quốc cứ ngoan cố, nó sẽ hiện ra (http://www.nytimes. com/2010/ 01/12/opinion/ 12tue1.html):

“Nền kinh tế của Trung Quốc có kết quả trong vòng 20 năm qua bằng cách mở cửa cho đầu tư từ nước ngoài và kềm giá đồng Quan (so với đồng Mỹ kim), họ đã phát triển nhờ vào sức tiêu thụ của các nước phát  triển.

Nhưng đồng thời chính sách này đã mang đến nhiều yếu kém cho nền kinh tế toàn cầu. Nếu Bắc Kinh tiếp tục đường lối nói trên thì nhiều nước sẽ phải dùng đến biện pháp duy nhất là bảo hộ mậu dịch nhằm ngăn chận hàng hoá giá rẻ giả tạo từ Trung Quốc. Cuộc chiến mậu dịch một khi xảy ra rất khó kiểm soát, sẽ ảnh hưởng đến xuất cảng của mọi quốc gia và chận đứng phát triển nơi nơi.

Hàng hoá Trung Quốc đổ ào ạt ra thế giới đã đè bẹp các nhà sản xuất tại các nước đang phát triển. Việc này nếu đã tệ hại  khi nền kinh tế thế giới còn phồn thịnh thì lại càng nguy hiểm hơn trong giai đoạn suy thoái hiện tại. Trong nhiều quốc gia các gói kích cầu đã không đạt được tác dụng vì tiền của chính phủ đầu tư rơi một phần nhằm mua đồ giá rẻ từ Trung Quốc nên không tạo công tạo được công ăn việc làm trong nước.

Sau khi thả nổi đồng Yuan tăng giá dần trong vòng ba năm, Bắc Kinh từ mùa hè năm 2008 đã siết đồng Nhân Dân Tuệ theo giá trị Mỹ Kim và trụt xuống so với Euro và tiền Yen, tạo áp lực nặng nề đến Âu Châu và Nhật Bản.

Chính sách “làm nghèo các nước lân bang” của Bắc Kinh khiến nền kinh tế thế giới khó phục hồi. Khi các gói kích cầu chấm dứt thì các nước sẽ phải dựa vào xuất cảng để phát triễn trong hoàn cảnh dân chúng trong nước cắt giảm chi tiêu, nhưng xuất cảng sẽ khó hơn nếu hàng hoá Trung Quốc tiếp tục đổ ồ ạt với giá rẻ mạt. Cán cân mậu dịch nghiên về Trung Quốc rõ rệt từ tháng 12-2009 sau khi sút giảm trong vòng 1 năm, và dự đoán sẽ nhảy vọt trong năm 2010.

Bắc Kinh có thể chọn lựa các chính sách lành mạnh hơn, chẳng hạn như dùng trử lượng ngoại tệ khổng lồ vào các chương trình xã hội: bảo hiểm sức khoẻ, giáo dục và lương bổng hưu trí nhằm nâng cao đời sống dân chúng.

Bắc Kinh chắc hẳn sẽ phải đối phó với biện pháp giới hạn mậu dịch nếu tiếp tục kềm giá đồng Quan. Chính quyền Obama đã phải nhượng bộ áp lực trong nước và tăng thuế lên vỏ xe hơi và ống sắt nhập cảng từ Trung Quốc. Quốc Hội Mỹ giờ này vẫn im lặng nhưng ngườì ta có thể cảm nhận tâm lý trả đủa tăng dần mọi nơi.

Ấn Độ đã nộp một chồng hồ sơ tố cáo các vi phạm mậu dịch tự do của Trung Quốc. Diễn Đàn Hợp Tác Mậu Dịch Á Châu – Thái Bình Dương mới đây kêu gọi “thả nổi giá biểu tiền tệ theo thị trường”, ý muốn ám chỉ chính sách siết giá đồng Yuan của Bắc Kinh.

Một trận chiến mậu dịch với Trung Quốc sẽ tác hại không lường và ảnh hưởng lan rộng toàn cầu. Tự chế là cần thiết, nhưng chúng tôi (Ban Biên Tập Báo New York Times) e rằng không ai có thể chờ đợi lâu hơn nữa vào Bắc Kinh thay đổi chính sách của họ“.

Ngày 14.01.2010, dưới đầu đề GIAN GIẢO KINH TẾ/THƯƠNG MAI TQ LÀM THẾ GIỚI BỰC TỨC VÀ CÓ BIỆN PHÁP, sau khi liệt kê ra những tính tóan gian trá Kinh tế/Thương mại, chúng tôi đã viết đọan kết luận như sau:

Tại cuộc Họp tại Luân Đôn của G20 đầu tháng tư 2009, vấn đề cấp bách cho G20 là Che Chở Kinh tế (Protectionism).

Chính những quốc gia thuộc G20 đã tự động lấy những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes). Tổng cộng đã đếm được 66 Biện Pháp. Đó là lời la hỏang của Oâng ZOELLICK, Chủ tịch  Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), của Oâng STRAUSS, Tổng Giám đốc Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF/FMI), của Ong LAMY, Tổng Giám đốc Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC).

Con Ma CHE CHỞ KINH TẾ (Spectre Protectionnisme/Spectre Protectionism) hiện ra nguyên hình, chứ không phải là bóng ma chập chờn. Đó là vấn đề mà G20 phải giải quyết thực sự. Nhưng vấn đề này không thể giải quyết được.

Những nước đến cuộc Họp thượng đỉnh sẽ cao giọng nêu ý chí triệt hạ Protectionism, nhưng thực tế mỗi nước đã tự động lấy những Biện Pháp Che Chở Kinh tế rồi. Vì vậy, về vấn đề này, những thành viên đến họp G20 chỉ nói xạo. Miệng nói lớn tiếng là Tự do Mậu Dịch, nhưng lại âm thầm làm Che Chở Kinh tế.

Khi ông LAMY, Tổng Giám đốc WTO báo cho Thế giới biết là Lượng Mậu dịch Thế giới giảm 12%, chưa từng có từ 20 năm nay, thì lời cảnh cáo này chắc chắn phải làm cho Trung quốc sợ hãi.

Là người Việt Nam, chúng ta dễ hiểu cái lo sợ nhất của Trung quốc. Đó là miếng ăn. Người Trung quốc gặp nhau, họ chào nhau là “Nị ăn cơm chưa ? “ chứ không nói là “Nị có khỏe không ?“. Họ lo lắng miếng ăn trước tiên. Đụng đến thiệt hại miếng ăn họ mới sợ, chứ còn mắng chửi họ, họ cũng chỉ cười hề hề cho qua chuyện.
 

Phân tích thái độ xuống nước của Trung quốc

Khi trả lời câu hỏi đầu tiên của Đài RFI về tại sao lúc này, qua những cuộc Họp báo cuối tuần vừa rồi, Trung cộng tỏ ra xuống nước về tỷ giá giữa đồng Nhân Dân Tệ và Đo-la, tôi trả lời liền rằng với thái độ công khai tỏ ra cứng rắn của Hoa kỳ, Trung cộng sợ nó biến thành những quyết định Che Chở Mậu dịch dứt khóat, hay một tình trạng Chiến Tranh Thương Mại bắt đầu từ Quan thuế, rồi những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires), đến những Biện pháp trả thù (Mesures de Représailles).       

Thực vậy, trước những cuộc Họp báo cuối tuần vừa rồi, người ta vẫn nhớ những lời tuyên bố ngạo mạn, đầy khinh miệt các nước khác thóat từ miệng Thủ tướng Oân Gia Bảo khi những nước khác muốn áp lực để Trung quốc tăng tỷ giá đồng Yuan: “We will not yield to any pressure... forcing us to appreciate (Yuan)” (Chúng tôi sẽ không nhượng bộ đối với mọi áp lực nào... buộc chúng tôi phải tăng tỷ giá (Nhân Dân Tệ) (Financial Times 08.03.2010, p.2).

Nhưng thứ Sáu 05.03.2010, chính Thủ tướng Oân Gia Bảo sửa lại thái độ cứng nhắc, ngạo mạn trên đây. Ký giả Andrew BATSON viết: “On Friday, Premier Wen Jiabao reaffirmed that China will continue to keep the Yuan “basically stable””. (Ngày thứ Sáu, Thủ tướng Oân Gia Bảo tái khẳng định rằng Trung quốc sẽ tiếp tục giữ đồng Yuan “ổn định một cách căn bản”.  Nhưng thế nào là “ổn định một cách căn bản”?  Đây là câu nói trống, nhưng dầu sao cũng để cho thấy khả năng thay đổi khi mà những quyền lực liên hệ đến đồng Yuan quyết định việc thay đổi như thế nào.

Thái độ của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc cũng đã thay đổi đối với đồng Đo-la. Chính ông đại diện Trung quốc, lớn tiếng kêu gọi Thế giới hãy truất ngôi Đo-la và thay thế vào đó bằng một Đơn vị Tiền tệ khác. Ngày 23.03.2009, Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã cho đăng lên mạng www.pbc.gov.cn lời tuyên bố như sau (theo bản dịch của Nhật báo LE MONDE ngày 10.11.2009, p.3) :

”L’objectif adéquat est donc de créer une monnaie de réserve internationale qui soit déconnectée de nation individuelle et se montre capable de rester stable sur le long terme. Comparée à la gestion séparée des réserves par chaque pays, la gestion centralisée d’une partie des réserves globales par une institution internationale de référence sera bien plus efficace pour contrer la spéculation et stabiliser les marchés financiers.” (Mục đích phù hợp là tạo ra một đồng Tiền dự trữ quốc tế tách rời ra khỏi một quốc gia riêng lẻ và có khả năng đứng bền vững trong trường kỳ. So sánh với việc quản trị riêng lẻ những dự trữ của từng quốc gia, việc quản trị tập trung những dự trữ tổng quát bởi một Tổ chức Quốc tế làm quy chiếu sẽ hữu hiệu hơn nhiều để chống lại đầu cơ và tạo bền vững cho những Thị trường Tài chánh).

Nhưng thái độ của Chu Tiểu Xuyên đã thay đổi kể từ cuộc Phát biểu ngày thứ Bẩy 06.03.2010. Đồng Yuan vẫn bám chặt lấy đồng Đo-la va có thể trở lại trạng thái thay đổi tỷ giá bình thường theo chuyển biến của Đo-la. Bản tin của Reuters đáng đi từ Bắc Kinh ngày 08.03.2010, tóm tắt như sau (Bản dịch Pháp ngữ của Gwénaelle BARZIC):

“Lors de la session annuelle de l’Assemblée nationale populaire (Parlement), le gouverneur de la Banque populaire de Chine Zhou Xiaochuan a déclaré que Pékin serait un jour ou l’autre contraint d’abandonner cette politique “spéciale” du yuan, qui fait partie des diverses mesures prises par les autorités pour limiter l’impact de la crise. L’expérience a montré que ces politiques ont été positives, en contribuant à la fois au resdressement de notre économie et de l’économie mondiale. Les problèmes concernant le retrait de ces politiques apparaitront tôt ou tard. Si nous devons retirer ces politiques inhabituelles et revenir à des politiques économiques ordinaires, nous devons être extrêmement prudents dans le choix du calendrier. Cela inclut également la politique de taux de change du renminbi.” (Nhân dịp họp hàng năm của Quốc Hội Nhân dân, Thống dốc Ngân Hàng nhân dân Trung quốc Chu Tiểu Xuyên đã tuyên bố rằng Bắc Kinh, một ngày nào đó, buộc phải bỏ chính sách “đặc biệt” của đồng Yuan, chính sách làm thành phần của những biện pháp quyết định bởi Nhà Nước nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của khủng hỏang. Kinh nghiệm cho thấy rằng những chính sách này là tích cực, đóng góp vào việc khôi phục nền kinh tế của chúng ta và nền kinh tế của thế giới. Những vấn đề liên quan đến việc rút lại những chính sách này sớm muộn sẽ đến. Nếu chúng ta phải rút lại những chính sách bất thường này, chúng ta phải hết sức thận trọng trong việc lựa chọn lịch trình. Điều này cũng bao gồm cả chính sách tỷ giá của đồng nhân dân tệ.)

Qua những lời tuyên bố này, những quan sát viên tài chánh/thương mại quốc tế thấy Chu Tiểu Xuyên tìm cách chữa nhẹ đi những chủ trương gian giảo của Trung quốc, như:

*        Oâng nói rằng đây là những chính sách “đặc biệt” được quyết định để chống khủng hỏang. Thực ra đây là những chính sách thường xuyên, nhất là chính sách giữ tỷ giá đồng Yuan thấp, nhằm cạnh tranh xuất cảng đã được áp dụng từ lâu, chứ không phải chỉ đặc biệt trong thời khủng hỏang.

*        Oâng cũng cố tình nói rằng những chính sách này không những có lợi cho kinh tế Trung quốc mà cho cả kinh tế thế giới nữa. Thực ra đây là những chính sách không những hòan tòan có lợi cho Trung quốc, mà còn nhằm giết những kinh tế các nước khác nữa.

Những lời tuyên bố sẽ rút lại những chính sách “đặc biệt” và bất thường để trở lại những nguyên tắc kinh tế bình thường chỉ là muốn tung ra một hy vọng, nhưng người ta không biết việc rút lại những chính sách ấy ở thời điểm nào.

Đặc biệt chính sách tiền tệ, người ta không biết sẽ tăng tỷ giá đồng Yuan khi nào và tăng bao nhiêu.

Trước những áp lực cấp bách của Thế giới, Trung quốc chỉ tung ra lời hứa như một hy vọng trống trải bởi vì không cho biết tầm mức quan trọng thay đổi như thế nào và bao giờ mới thay đổi.

Ngòai ra, đây chỉ là những lời tuyên bố của Thống đốc Ngân Hàng, còn việc quyết định thay đổi chính sách phải tùy thuộc Chính phủ, tùy thuộc những Bộ liên hệ mà chính yếu là Bộ Thương Mại. Thực vậy ông Chen Deming, Bộ trưởng Thương mại đã cho biết rằng để có thể lấy lại mức xuất cảng như trước cuộc Khủng hỏang, cần tối thiểu 3 năm nữa. Như vậy việc bỏ tỷ giá đồng Yuan thấp thiết cần để nâng đỡ xuất cảng, chưa có thể xẩy ra trong tương lai gần được.

Thế giới, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu, không thể chỉ vì một hy vọng thay đổi trống trải, không định thời điểm, không cho thấy tầm vóc, mà cứ ngồi đợi Trung quốc, hứng chịu những hậu quả thiệt thòi về thương mai hay sao.

Người ta cũng có thể hiểu rằng những tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên chỉ vì sự đe dọa Che Chở Kinh tế/Thương mại mà phải nói ra để làm giảm sự căng thẳng mậu dịch quốc tế, nhất là trước thái độ công khai cứng rắn của Hoa kỳ và Liên Aâu. 
 

Trung cộng là nạn nhân
của Chiến tranh Thương mại

Obama có thể nói “Buy America” mà không ngại sợ. Nhưng Hồ Cẩm Đào không dám nói ra câu “Buy China” vì ông luôn luôn sợ hãi Con Ma Che Chở Kinh tế/ Thương mại. Nếu những lời tuyên bố thay đổi trên đây của Trung quốc chỉ là một mưu kế làm giảm căng thẳng để rồi Trung quốc vẫn tiếp tục những chính sách thương mại thủ lợi cho mình, đồng thời làm hại cho những nước khác, thì liệu Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước thuộc vùng Kinh tế Thái Bình Dương có ngồi yên hay phải tuyên bố những biện pháp Che Chơ Kinh tế/Thương mại. Dù ý chí của Trung quốc có thành thực thay đổi đi nữa, thì một số nhà Tài chánh nhận thấy rằng Trung quốc rất khó lòng đưa ra một lịch trình tăng tỷ giá đồng Yuan của mình vì hai lý do chính yếu sau đây:

*        Kinh tế Trung quốc dồn tòan lực vào xuất cảng. Việc tăng tỷ giá đồng Yuan ảnh hưởng trực tiếp đến tụt dốc xuất cảng, nhất là ở thời kỳ mà Hoa kỷ cũng như Liên Aâu giảm nhập cảng.

*        Lý do thứ hai thuộc phạm vi tài chánh. Một lịch trình tăng tỷ giá đồng Yuan sẽ làm cho vốn nước ngòai ào vào Trung quốc để thu lợi do việc tăng tỷ giá đồng Yuan. Sự chênh lệch tỷ giá giữa hai thời điểm đủ cho vốn lưu động đầu tư nước ngòai ào vào để chia lợi do chênh lệch tỷ giá đồng tiền. Việc vốn nước ngòai ào vào này còn tạo ra tình trạng lạm phát mà Trung quốc rất sợ hãi.

Như vậy việc tăng tỷ giá đồng Yuan có tính cách khó khăn khách quan đứng về mặt tài chánh. Nếu vẫn khư khư giữ tỷ giá thấp, thì cái nguy hiểm là tạo một tình trạng căng thẳng quốc tế dẫn đến Che Chở Kinh tế/Thương mại. Còn nếu quyết định thực sự tăng tỷ giá, tạo hướng tăng đồng Yuan, thì vốn đầu cơ nước ngòai dồn vào để chia phần chênh lệch tỷ giá.

Dầu sao Con Ma Che Chở Kinh tế/Thương mại đã hiện ra và Oâng LAMY, Tổng Giám đốc WTO đã công bố việc tụt dốc 12% về lương mậu dịch thế giới như chúng tôi đã trình bầy trên đây. Tình trạng căng thẳng hiện nay giữa Trung quốc và Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước thuộc Khối Thái Bình Dương có thể đưa đến những Biện pháp khắt khe không giá biểu (Mesures non-tarifaires) và những Biện pháp trả đũa thương mại (Mesures de Représailles commerciales bilatérales).  Đây là tình trạng Chiến tranh Thương mại. Khi mà biên giới quan thuế đóng lại, thì nạn nhân của cuộc Chiến tranh này là Trung quốc bởi lẽ Dân chúng Trung quốc thiếu Khả năng Tiêu thụ, không đủ khả năng mua tất cả những hàng hóa do chính Trung quốc sản xuất ra. Nên lưu ý rằng Khả năng tiêu thụ của 1’300 triệu dân Trung quốc chỉ tương đương với 16% số Tiêu thụ của 300 triệu dân Mỹ.

Không có tiêu thụ, thì sản xuất chết !
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 11.03.2010





                                     
CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ:

                                                           Bài 04:


                                       TỪ LẠM PHÁT, TIỀN MẤT GIÁ
                                          ĐẾN DÂN NGHÈO NỔI DẬY

 
                            Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                        UNICODE: http://viettudan.net
                                               Geneva, 04.03.2009

 

Tuần trước, chúng tôi viết bài về phá giá đồng bạc Việt Nam theo tỷ giá đối với Đo-la liên quan đến tình trạng thiếu ngọai tệ của Nhà Nước CSVN. Việc tuyên bố phá giá nội tệ ngày 11.02.2010 do Ngân Hàng Nhà Nước quyết định và có thể liên tiếp những quyết định phá giá nữa là do chính những nhà Kinh tế, Tài chánh trong nước phân tích chứ không phải chúng tôi từ Hải ngọai nhận định để CSVN chống chữa với Dân rằng đó là do tuyên truyền chống Cơ Chế hiện hành bởi “thế lực thù địch” ngọai lai. Chúng tôi dựa trên tình trạng mỗi ngày nhóm Mafia CSVN càng thiếu hụt ngọai tệ để nội tệ mỗi ngày mỗi mất giá trị, nghĩa là phá giá liên tiếp.

Phá giá đồng nội tệ đi song hành với tình trạng LẠM PHÁT tăng nhanh ở Việt Nam. Viết về tình trạng tăng nhanh lạm phát, chúng tôi cũng trích dẫn chính những phân tích và nhận định của những nhà Kinh doanh, những Ngân Hàng gia, những Giáo sư Kinh tế/Tài chánh từ Quốc nội để đám Mafia CSVN không chống chế, lừa gạt được Dân chúng bằng cách cố hữu nói trên báo đài độc chiều rằng đó là do “thế lực thù địch” hải ngọai vu khống.

Tình trạng lốc xóay phá giá nội tệ và lốc xóay lạm phát, vật giá nhẩy vọt sẽ làm cho đại đa số dân nghèo, cho những nông dân, ngư dân, công nhân và công chức có thu nhập không thay đổi trở thành thiếu thốn chi tiêu, thậm chí đói ăn. Chịu đựng không nổi cảnh đã nghèo khổ lại phải đói ăn thêm vì lốc xóay phá giá nội tệ và lạm phát, vật giá tăng vọt, đại đa số Dân chúng sẽ nổi dậy chấm dứt đám Mafia CSVN cướp bóc dân và bán nước.

Chúng tôi viết những điểm sau đây:

=>     Nhận định từ Quốc nội về tình trạng Lạm phát

=>     Phân tích những lý do chính của Lạm phát

=>     Không chịu nổi hậu quả Lạm phát, Dân chúng nghèo đói nổi dậy

 

Nhận định từ Quốc nội về
tình trạng Lạm phát

Một số Phóng viên, Ký giả đã phỏng vấn những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế/Tài chánh tại quốc nội về tình trạng Lạm phát hiện này.

Bài đăng trên Vietnamnet do Phước Hà thực hiện
Cập nhật lúc 18:37, Thứ Năm, 28/02/2008 (GMT+7)

Chỉ số tăng giá tiêu dùng hai tháng đầu năm lên đến 6,02%, đã đi được 2/3 so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra, trong khi vẫn còn 10 tháng ở phía trước. Các chuyên gia kinh tế tỏ ra không có nhiều bất ngờ và cho rằng cần có các giải pháp đồng bộ hơn để chặn đứng lạm phát.

=>     Ông Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam:

Tốc độ tăng giá 2 tháng đầu năm lên tới 6,02% là quá cao. Đặc biệt, có những nguyên nhân chủ quan, trong đó có một nguyên nhân chính là ngân hàng đã bỏ lượng tiền lớn ra mua USD chưa thu về hết được, đầu tư nhưng hiệu quả còn thấp, ngân sách bội chi tăng lên. 

=>     Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính:

Con số 6,02% tăng cao quá. Nhìn cả một quá trình, đây là tăng cao nhất trong hơn 10 năm lại đây. Đây là một cảnh báo đối với nền kinh tế. Những tháng tới, nếu có tăng 0,5% thôi như dự báo tháng 3 của Tổ điều hành thị trường, thì cả năm cũng không thể thực hiện nghị quyết Quốc hội đề ra.

Biện pháp tiền tệ đã được thực hiện. Giá cả đang lao nhanh như thế thì những biện pháp ra chỉ có tính ngăn chặn thôi. Trong kiềm chế lạm phát, giải pháp tài chính tiền tệ có ý nghĩa quan trọng, trong đó giải pháp tiền tệ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Lạm pháp do tiền tệ !

Các ngân hàng thương mại hiện dư nợ quá lớn nên buộc phải huy động vốn, đua nhau tăng lãi suất để hút vốn về khiến cho thị trường những ngày gần đây hỗn loạn. Khi tăng lãi suất huy động lên thì cũng có tác dụng phụ là cho vay cao dẫn đến ảnh hưởng tăng trưởng. Lãi suất cao thì chi phí cao, giá thành cao thì cũng tác động đến lạm pháp. 

Các ngân hàng đưa lãi suất lên cao, trong khi hoạt động của ngân hàng nước ta nguồn thu chủ yếu từ chênh lệch vay và cho vay chiếm đến 70% làm cho chi phí các ngân hàng tăng lên, năng lực tài chính yếu đi năng lực cạnh tranh giảm. Ngân hàng Nhà nước Phát hành tín phiếu với 20.300 tỷ đồng với lãi suất 7,8%, mỗi tháng lo trả 100 tỷ đồng lãi và đồng thời tăng dự trữ bắt buộc cũng phải trả thêm 100 tỷ nữa. Giải pháp tiền tệ như con dao hai lưỡi.

Chính sách tài chính  phải xem lại để làm sao chi đầu tư phải hiệu quả, chi thường xuyên phải tiết kiệm, cái nào cần phải giảm, cái nào phải bỏ. Đầu tư phải hiệu quả, mua sắm tài sản công phải tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí... Chi tiêu công phải siết chặt lại, chống lãng phí, tiết kiệm tiêu dùng, tiết kiệm sản xuất - hạ giá thành sản phẩm, đầu tư hiệu quả.

=>     Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

Việc chống lạm phát năm 2008 này phải được đặt lên ưu tiên hàng đầu, hơn cả mục tiêu tăng trưởng. Vì suốt bốn năm liền lạm phát cao, cộng lại đã lên tới 40%. Điều này đồng nghĩa với việc đồng tiền mất giá, đội giá thành sản phẩm lên cao, tăng thêm dự án treo, còn đời sống người dân bị ảnh hưởng nặng.

Như vậy, về phương diện đối nội, phân phối nguồn lực đã bị lệch và tác động đến đời sống.

Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình. Nếu môi trường VN vẫn bất ổn, lòng tin của nhà đầu tư sẽ giảm đi, ảnh hưởng đến cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư bỏ đi cũng sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn.

Lạm phát ảnh hưởng cũng sẽ làm cho sức cạnh tranh trong nước giảm đáng kể.

NHNN cũng đã vừa sử dụng kết hợp cả hai loại biện pháp dài hạn và tức thì. Biện pháp hành chính như bán 20.300 tín phiếu.

 

Ngay sau đó NHNN lại bơm ra 39.000 tỷ đồng. Điều này khiến sự vận động của dòng tiền thành bất thường, gây hiệu ứng tiêu cực.


Bài trên RFA do Mặc Lâm thực hiện
2010-03-01

Ngân Hàng Phát Triển Châu Á vừa đưa ra thông báo tỏ ý lo ngại cho việc lạm phát tiếp theo sau suy thoái kinh tế của nhiều nước khu vực Đông Nam Á.

Việt Nam là một trong các nước được đánh giá là sẽ có tình trạng lạm phát có thể lên tới hai con số trong năm nay.

=>     GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, chia sẻ them về vấn đề này:

Ngân Hàng Nhà Nước quyết định tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng USD và tiền đồng VN tăng thêm 603 đồng tương đương với 3,3%. Tôi cho rằng việc này cũng coi như một sự phá giá của đồng VN, tức là cái tình trạng nhập siêu của Việt Nam ngày nay lại càng gia tăng. Mà hiện nay, nếu theo tỷ giá này thì nó càng gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu, điều đó là điều hiển nhiên rồi.

Tôi cho rằng điều này cũng không thể nào khác được bởi vì trong tình trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay, tất cả các mặt hàng nhập ngoại đều khan hiếm cả, quỹ ngoại tệ trong nước thì cũng không có nhiều, thế thì bây giờ đành phải theo chiều hướng như đã biết.

Theo tôi thì con đường mà hiện nay Việt Nam có thể làm được là vẫn tăng tỷ giá lên để có thể găm được một ít ngoại tệ ở trong nước, và có thể có một điều kiện là làm thế nào đó cho tình trạng ngoại tệ bớt đi ra nước ngoài hơn để tăng ngoại tệ.

Chứ bây giờ mà trả nợ cho nước ngoài thì như anh biết đấy, tức là cái thực lực về tiền tệ của dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện nay cũng không phải là nhiều mà còn dùng cho nhiều mục tiêu, do đó mà việc tăng vốn ngoại tệ trong nước để mà trả nợ nước ngoài thì rất hạn chế.

Theo các chuyên gia kinh tế nhận định thì rất nhiều công trình có đầu tư lớn của nhà nước đang còn dở dang và những công trình này không thể ngừng lại được. Để giải quyết chúng nhà nước phải chấp nhận bỏ thêm một số tiền rất lớn trong ngân sách. Tôi nghĩ là bây giờ tình trạng lạm phát thì ai cũng đã nhìn thấy rõ mà cái này thì các nhà khoa học và kinh tế cũng đã cảnh báo cho chính phủ, không phải là từ bây giờ mà từ năm ngoái rồi. Đương nhiên là về tình trạng của nền kinh tế thì những khoản chi bất đắc dĩ thì nhà nước vẫn phải chi thôi.

Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ. Cái thứ hai nữa là có thể trong thời gian tới nhà nước cũng có thể phải phát hành thêm trái phiếu, có thể là công trái trong đợt tới để giảm bớt số tiền trong lưu thông. Tôi nghĩ là hai nguồn đó ở trong nước thì trong tầm tay, thế còn bây giờ như anh biết đấy, tức là các nguồn ODA hoặc FDI vào thì nhiều khi nó được sử dụng không hiệu quả lắm, mà chủ yếu là dành cho các khoản chi công nghiệp chế biến.

Còn các công nghiệp khác ở trong nước thì ODA và FDI rất là ít cho nên chúng tôi cũng chưa biết là chính phủ sẽ làm như thế nào, nhưng mà chúng tôi cũng có khuyến cáo là chính phủ nên xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi của chính phủ, không dàn trải, phải nâng cao hiệu quả. Đồng thời phải suy nghĩ đến việc phát hành công trái phiếu trong đợt tới.

Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ.

Mới đây Ngân Hàng Phát Triển Châu Á vừa đưa ra nhận định là trong năm nay Việt Nam sẽ phải đối phó với lạm phát lên đến hai con số. Tôi nghĩ là lạm phát hiện nay nó đúng trong thực tại mà chưa thống kê hết thôi, chứ còn nếu thống kê hết thì nó có thể đến 2 con số trong hiện nay rồi, bởi vì bắt đầu từ đầu tháng 3 giá điện tăng. Trước đó thì chúng ta thấy giá dầu tăng liên tục, từ đầu năm tới giờ mới được 2 tháng mà tăng 2 lần. Thế thì tình trạng lạm phát lên đến 2 con số thì tôi cho là hiện thực và nó cũng đúng tầm, đúng với điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay.

 
Phân tích những lý do chính của Lạm phát

Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, phát biểu một câu làm chúng tôi lưu ý đặc biệt: “Suốt bốn năm liền lạm phát cao, cộng lại đã lên tới 40%. Điều này đồng nghĩa với việc đồng tiền mất giá. Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình.“

Từ câu nói, chúng tôi rút ra ba điểm sau đây:

*        Lạm phát có nghĩa là đồng tiền mất giá;

*        Trong 4 năm, đồng tiền VN mất giá 40%;

*        Việt Nam khác với những nước trong khu vực về Cơ Chế Chính trị-Kinh tế

Phân tích của chúng tôi dựa trên ba điểm trên đây với trích dẫn từ những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế/Tài chánh của chính Cơ Chế CSVN.

Lạm phát có nghĩa là đồng tiền mất giá

Tuần trước, chúng tôi đã viết một bài dài có tính cách giáo khoa “TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ”. Trong bài này, chúng tôi đã định nghĩa rằng đồng Tiền chỉ là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises).

Trong Chế độ BẢN VỊ KHẢ NĂNG MUA HÀNG (Régime du Pouvoir d’Achat), cái GIÁ TRỊ của một đơn vị Tiền bạc mà một người đang cầm là TƯƠNG ĐƯƠNG HÀNG HÓA HAY DỊCH VỤ mà người đó nhận được khi chuyển đồng tiền sang tay người khác. Nếu 100 Đồng VN năm 2008 mua được hai hột vịt lộn, nhưng năm 2009 chỉ được 1 hột vịt lộn, thì ta nói rằng Vật giá hay Lạm phát tăng 50%, có nghĩa Đồng Tiền VN mất giá 50%.

Lý thuyết đơn giản về chuyển biến tương quan giữa đồng tiền và tương đương hàng hàng hóa được tóm tắt trong Công thức của FISHER:

M.V
------   =   P
  T

M : Khối lượng tiền cho vào Kinh tế; V: Tốc độ chạy nhanh chậm của đồng tiền; T: Tổng cộng Hàng hóa và Dịch vụ trong một hạn kỳ nhất định; P: Khả năng chuyên chở của đồng tiền tương đương Hàng hóa, Dịch vụ.

Công thức ấy tóm tắt cho chúng ta hai lý do chính của việc mất giá của đồng tiền hay thay đổi tương đương Hàng hóa, Dịch vụ mà người ta gọi là Lạm phát hay Vật giá tăng.

Lý do thứ nhất đến từ Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng hay giảm. Lý do do này thuộc lãnh vực Tiền bạc.

Lý do thứ hai đến từ việc sản xuất Kinh tế thực (T) giảm hay tăng, có hiệu lực hay không.

Khi Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng mà sản xuất Kinh tế thực (T) đứng yên, thì có Lạm phát. Lạm phát còn mạnh hơn nữa khi nền sản xuất Kinh tế còn giảm xuống. Khi Khối Tiền lưu hành (M.V) đứng yên, mà nền sản xuất Kinh tế thực (T) giảm, chúng ta cũng có lạm phát.

Chính sự tương đương Hàng hóa, Dịch vụ này mà các Lý thuyết gia về Tiền tệ nói đến tính cách Hội nhập Tiền tệ vào Lãnh vực Kinh tế thực. Với quan điểm Hội nhập Tiền tệ này mà người ta phân biệt Đồng Tiền thực và Đồng Tiền giả. Đồng Tiền mới được Ngân Hàng Trung Ương in ra chỉ là một tờ giấy không hơn không kém, chưa có Giá trị. Đồng Tiền đã Hội nhập, nghĩa là qua chu trình sản xuất Kinh tế thực, mới có Giá trị. Không phải Đồng Tiền mới in ra, thả vào xã hội mà không qua chu trình sản xuất Kinh tế thực, tự nhiên có Giá trị như Đồng Tiền thực đã được Hội nhập mà người Dân đang giữ trong tay. Việc in Tiền mới thả bừa vào Xã hội để đánh lận con đen giữa hai Đồng Tiền thực (đã Hội nhập) và Đồng Tiền giả (mới in ra chưa Hội nhập) là hành động ăn cướp của quyền lực Chính trị và quyền lực Tiền bạc đối với Dân.

Vào những thập niên 1980, việc đánh lận con đen này đã làm Lạm phát tới hàng 1000% tại một số nước Phi châu và Nam Mỹ. Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết về những trường hợp gian lận này:

“L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy).

Với hai lý do chính có tính các giáo khoa thuộc lãnh vực Tiền Tệ và lãnh vực sản xuất Kinh tế thực, chúng tôi phân tích cho trường hợp Lạm phát tại Việt Nam cùng với những xác nhận trong phần trên từ những Giáo sư, Cố vấn Khinh tế/Tài chánh thuộc Cơ Chế CSVN.

Trong 4 năm, đồng tiền VN mất giá 40%

Theo Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, trong 4 năm, đồng Tiền VN mất giá 40%. Điều này có nghĩa là việc mất giá của đồng tiền VN không phải là có tính cách nhất thời, giai đọan với những lý do bất thường mà Nhà Nước CSVN thường nêu ra để cắt nghĩa cho dân chúng để chữa lỗi. Lý do mất giá đồng Tiền Việt Nam mang tính cách thường xuyên và trường kỳ.

Dưới chủ trương Kinh tế tập quyền chỉ huy, chúng tôi không nói đến làm gì vì nền Kinh tế này thất bại hòan tòan. Nhưng hãy kể từ 10 năm nay, từ thời đổi mới, mở cửa và tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, thì đồng Tiền VN có thể nói là mất giá 100%, nghĩa là lạm phát, vật giá tăng 100%.

=>     Lãnh vực Vốn, Tiền tệ (M.V)

Những Công ty, Tổng Công ty Nhà Nước làm việc với vốn, Tiền của quốc gia. Vốn, Tiền của quốc gia được thả lỏng cho những Công ty Nhà Nước. Những dự án thi nhau trình lên Nhà Nước để lấy vốn. Có ba lọai dự án chính:

*        Những dự án thuộc ngành nghiệp chuyên môn

*        Những dự án thuộc hệ thống Bộ

*        Những dự án thuộc vùng, mỗi Tỉnh

Thời kỳ đầu của đổi mới, mở cửa, những dự án của những Công ty quốc doanh được coi như việc thưởng công chiến tranh. Dần dần sau này, những dự án dễ dàng được cấp vốn thường là do những con ông cháu cha có quyền trong đảng.

Việc cấp vốn là theo tiêu chuẩn liên hệ quyền hành trong đảng, chứ không tất nhiên theo tieo tiêu chuẩn cần thiết và hiệu quả Kinh tế. Ví tính cách liên hệ quyền lực trong đảng, nên việc kiểm sóat xử dụng vốn cũng không thể xiết chặt giữa các quyền lực trong đảng được bởi lẽ cùng ăn bẩn như nhau thì bỏ qua những bẩn thỉu của nhau. Những chủ dự án nếu làm ăn không thành công hay thua lỗ, thì đã có vốn nhà nước cấp phát thêm.

Đối với mỗi dự án từ vốn nhà nước, trước hết chủ dự án phải nghĩ đến cắt xén cho túi riêng mình. Sau đó việc chi tiêu trong Công ty hay Tổng Công ty cũng không được người Trách nhiệm kiểm sóat chặt chẽ bởi lẽ nếu người Trách nhiệm khắt khe kiểm sóat, thì những người dưới kiểm sóat ngược lại khắt khe với mình. Đây là cả hệ thống lãng phí vốn quốc gia.

@      Chúng tôi xin trích bài viết của Bloger Người Buôn Gió :

“Phát triển kinh tế hay tư duy nhiệm kỳ?
Người Buôn Gió

Mấy chữ “tư duy nhiệm kỳ” nghe mà phát ghét. Ở đó bao hàm tất cả những cái gì là hủ bại nhất trong tính cách dân tộc, nhất là cái tính cách ăn xổi ở thì. Ăn xổi ở thì thì làm bất kỳ việc nào cũng cốt qua loa cho xong đi, để mà còn nặng túi trở về với gia đình, chăm sóc cái tổ ấm vốn đã lo đâu vào đấy trong khi đang tại chức. Cho nên mọi việc anh làm, tiếng là vì dân, nhân danh thật to tát, cuối cùng chỉ là đổ vỏ ra đấy để cho kẻ đến sau đi hót. Và chu trình cứ thế lặp đi lặp lại, trở thành một đại họa cho dân. Một thành phố Hà Nội mà càng cải tạo lại càng nhếch nhác chẳng phải vì thế thì còn gì. Nghe đâu ngài đương kim trọng thần của nhiệm kỳ này đang cố tranh thủ một mảnh đất nào đấy ở Hồ Mây, cái đích ngài cố ngắm cho trúng, chứ đâu phải là nghĩ suy về những quy hoạch tổng thể cho Hà Nội ngàn năm “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như cụ Hồ nói. Trách gì mới vài năm trước khi nước mưa biến cả thành phố thành sông thì có vị quan to đã có ngay một câu thật nổi tiếng: Dân Hà Nội bây giờ quen dựa dẫm vào Nhà nước mất rồi. Thì chính là vì dựa dẫm vào Nhà nước mà dân chúng Thủ đô chúng tôi cứ tưởng rồi sẽ có đường phố khang trang, đi lại thông thoáng hơn, nào hay bây giờ ra đường đã thấy ngay những con đường do Nhà nước cải tạo đã đang tắc ứ. Còn các khu Hà Nội mới mở từ khi Thủ đô ta giải phóng đến nay nhất là từ khi có đồng vốn vay nước ngoài để làm kinh tế thị trường, thì nhiều nơi lại còn ngõ ngách chật hẹp, chen chúc, lúc nhúc còn hơn cả Hà Nội 36 phố phường thuở xưa. Những nơi ấy xe cộ tha hồ mà tắc.”

Những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế cho Cơ Chế CSVN, không ai không nhắc đến lý do thiếu kiểm sóat chặt chẽ Tiền, Vốn của Nhà Nước.

@      Ông Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam nói đến “đầu tư nhưng hiệu quả còn thấp, ngân sách bội chi tăng lên.” 

@      Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính, nhấn mạnh “Chính sách tài chính  phải xem lại để làm sao chi đầu tư phải hiệu quả, chi thường xuyên phải tiết kiệm, cái nào cần phải giảm, cái nào phải bỏ. Đầu tư phải hiệu quả, mua sắm tài sản công phải tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí... Chi tiêu công phải siết chặt lại, chống lãng phí, tiết kiệm tiêu dùng, tiết kiệm sản xuất - hạ giá thành sản phẩm, đầu tư hiệu quả.”

@      GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, nói thẳng đến các Dự án và chi tiêu của Chính phủ: ”Theo các chuyên gia kinh tế nhận định thì rất nhiều công trình có đầu tư lớn của nhà nước đang còn dở dang và những công trình này không thể ngừng lại được. Để giải quyết chúng nhà nước phải chấp nhận bỏ thêm một số tiền rất lớn trong ngân sách. Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ. Còn các công nghiệp khác ở trong nước thì ODA và FDI rất là ít cho nên chúng tôi cũng chưa biết là chính phủ sẽ làm như thế nào, nhưng mà chúng tôi cũng có khuyến cáo là chính phủ nên xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi của chính phủ, không dàn trải, phải nâng cao hiệu quả.

Khi lượng Tiền, Vốn bỏ ra, thả lỏng cho những Dự án chuyên môn, cho những Dự án Bộ hay những Dự án Địa phương (Tỉnh), mà hiệu quả Kinh tế không đạt được, thì đồng Tiền không Hội nhập đầy đủ, nghĩa là không có tương đương Hàng hóa hay Dịch vụ bảo đảm Giá trị của đồng Tiền.  Đồng Tiền mất giá, lạm phát đã nhiều năm trường là do sự thả lỏng này. Nhà Nước lấy Tiền, Vốn đâu mà thả lỏng ra như vậy ? Tại sao không có thể nghĩ rằng trong suốt những năm trường, Nhà Nước độc tài đã ra lệnh cho Ngân Hàng Nhà Nước in tiền mới (chưa Hội nhập Kinh tế), thả vào nền Kinh tế để đánh lận với đồng Tiền thực (đã Hội nhập Kinh tế) mà dân chúng đang giữ.

=>     Lãnh vực Thực hiện hiệu quả Kinh tế (T)

Người làm Kinh tế có câu nói: “Làm ra Tiền đã khó, mà tiêu Tiền còn khó hơn”. Thực vậy, tiêu Tiền không phải là vất Tiền ra cửa sổ. Tiêu Tiền theo ý nghĩa Kinh tế là phải làm thế nào để một đồng chi ra, phải thu vào tối thiểu hơn một đồng, nghĩa là nếu không có lợi nhuận, thì thà đừng tiêu. Việt Nam cũng có câu: ”Tiêu Tiền Chùa”, nghĩa là tiêu Tiền của chung thì dễ dàng phung phí, không cần nghĩ đến hiêu quả. Phải nghĩ đến hiệu quả trước khi quyết định chi tiêu.

Những Công ty, Tổng Công ty quốc doanh không làm ăn cho có hiệu quả tương xứng vì những lý do sau đây:

*        Đây là Công ty Nhà Nước, lợi nhuận làm ra do cố gắng làm việc hữu hiệu, cũng thuộc về Nha Nước. Vì vậy không cần cố gắng nhiều.

*        Người đứng trách nhiệm Công ty nghĩ đến cắt xén thưởng công cho mình trước khi làm Kinh tế thực sự để sinh lợi nhuận.

*        Những sản phẩm công nghệ ngày nay là sự chắp nối những linh kiện rời trong hệ thống sản xuất từng phần (sous-traitance). Những Công ty Nhà Nước khó lòng phân công với nhau để sản xuất từng phần trong mục đích giảm giá thành sản phẩm cuối cùng. Những Công ty công nghệ Nhà nước chọn những dễ dãi là nhập siêu những thành phần từ nước ngòai để đem về ráp nối chặng chót. Vì vậy sản phẩm chặng chót có giá thành cao lên vì nhập siêu những linh kiện.

*        Mỗi lần nhập siêu linh kiện là mỗi lần những chủ Công ty nhà nước lại có dịp thông đồng kín đáo với người bán từ nước ngòai để tăng giá mua, cắt xén cho vào túi riêng của mình.

*        Cuối cùng, nếu Công ty không làm việc cho có hiệu lực, thua lỗ, thì đã có Tiền, Vốn quốc gia bù thêm vào.

Theo Công thức tóm tắt của FISHER mà chúng tôi đưa ra trên đây, thì khi nền Kinh tế không có hiệu quả, số sản phảm (T) giảm, thì Khối Tiền lưu hành (M.V) không có Hàng hóa và Dịch vụ tương xứng. Đồng Tiền mất giá, lạm phát, đồng tiền mua được ít hàng, nghĩa là vật giá tăng.

@      Bloger Người Buôn Gió viết rất đúng về thái độ làm việc của những người trách nhiệm các Công ty Nhà Nước:” Các kế hoạch xây dựng càng xây càng hỏng, nào hầm Thủ Thiêm, đường hầm Kim Liên…; có nhà máy như Dung Quất tưởng đã vận hành từ  lâu thì nay lại phát hiện thêm 100 lỗi trong khi thi công nên phải tạm ngưng, không biết sẽ còn ngưng đến bao giờ. Các đại tập đoàn đứng sau Nhà nước, tưởng lập ra là cốt tăng thêm GDP, giúp cho an sinh được cải thiện, dân đỡ khổ hơn, nào hay anh nào cũng dài mồm than lỗ, mới ra Tết mọi thứ sản phẩm của họ đã tăng giá vùn vụt, nghĩa là họ chỉ góp phần vào bĩ cực mà chẳng thấy có thái lai.”

@      Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính, nhấn mạnh như một hiệu lệnh: “Đầu tư phải hiệu quả”.  

@      GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, cũng nhất thiết khuyến cáo: “Phải nâng cao hiệu quả”.
 

Việt Nam khác với những nước trong khu vực
về Cơ Chế Chính trị—Kinh tế

Xin nhắc lại lời của Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nói: “Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình.“. 
Có lẽ Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, không dám nói ra một điều làm Việt Nam khác với các nước trong khu vực vì ngại sợ rằng Công an CSVN lại mời ông lên làm việc, rồi truy tố ông ra tòa theo Điều 88 Bộ Hình Luật. Riêng tôi, tôi đã nói từ lâu rằng cái Cơ Chế CSVN làm Kinh tế, gọi là nền Kinh tế Tự do và Thị trường định hướng XHCN, khác hẳn với việc làm Kinh tế Tự do và Thị trường ở những nước trong khu vực. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường của những nước trong khu vực tôn trọng Môi trường Chính trị—Luật pháp dân chủ phù hợp (Environnement Politico-Juridique démocratique adéquat), trong khi ấy Việt Nam cố thủ chủ trương Chính trị độc tài nắm trọn độc quyền Kinh tế. Cái khác là ở chỗ đó và chính cái khác này làm cho Lạm phát và đồng Tiền mất giá cao hơn nhiều sánh với những nước trong khu vực.

Kinh tế Việt Nam là Kinh tế nhóm đảng Mafia CSVN độc tài cướp bóc của cải dân chúng và quốc gia cho riêng mình, chứ không phải nền Kinh tế do Dân và cho Dân. Vì nắm giữ cả hai quyền, nên Tiền, Vốn nhà nước bỏ lỏng ra để Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng theo ý đảng và họat động Kinh tế không cần hiệu quả để không đủ sản phẩm tương xứng (T) bảo đảm cho giá trị đồng Tiền. Lạm phát, Phá giá đồng Tiền là như vậy. 
 

Không chịu nổi hậu quả Lạm phát,
Dân chúng nghèo đói nổi dậy

Khi viết về cuộc Khủng hỏang Tài chánh Á-châu năm 1997 làm đồng tiền một số lớn những nước Á châu mất giá, Bà Francoise NICOLAS đã đưa ra tỉ dụ tình trạng lạm phát đã làm dân chúng đói nghèo nổi dậy đạp đổ chế độ độc tài SUHARTO sau 32 năm cai trị.

Thực vậy khi vật giá tăng vọt, đồng tiền mà họ tiết kiệm mất giá, những người lãnh lương như công nhân, công chức thì không được tăng lương là bao nhiêu, đa số rơi vào cảnh nghèo đói. Những người giữ quyền hành Chính trị, đặc quyền làm ăn bóc lột thì giầu có, vẫn tiêu pha, nhập siêu. Việc nổi dậy của đại đa số dân chúng nghèo đói không đến từ một thế lực ngọai lai nào khuyến dụ mà từ BỤNG ĐÓI của Dạ Dầy. Sức mạnh nổi dậy trước khi bị chết đói làm họ không sợ chết nữa.  Nếu họ biết rằng việc mất giá Tiền tiết kiệm và Tiền lương của họ là do sự gian lận in tiền mới ra để lừa đảo đánh lận con đen với Tiền thực của họ, thì cuộc nổi dậy còn tăng thêm thù hận đến giết lát nữa.

Chúng tôi xin trích một đọan của bài viết của Oâng VŨ QUANG VIỆT đăng trên báo Lao Động (số 197, ngày 25.8, và số 198, ngày 27.8.2007) :“Tôi rất đồng ý với các nhà kinh tế đã nhận định là ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào lạm phát có nguyên nhân in tiền nhiều quá. Tại sao lại in tiền nhiều ? Vì nhà nước chi nhiều hơn số thuế thu được. Vấn đề là nhà nước bắt ông Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu. Điều này có nghĩa là bắt NHNN in tiền. Tiền nhiều hơn hàng làm ra thì tất phải lạm phát. Thời chống lạm phát cuối những năm 1980, hầu hết mọi người trong chính phủ đều cho rằng phải tăng năng suất, phải tăng cung để giảm lạm phát. Tôi đã đặt cho các bạn ấy một câu hỏi. Thế khả năng tăng sản xuất thật một năm là bao nhiêu ? Cao nhất như Trung Quốc thì cũng chỉ 10-15% là cùng, nhưng các ông lại đang tăng tiền tới cả vài trăm phần trăm một năm. Các ông có tăng sản xuất nổi vài trăm phần trăm một năm không ?“

Để kết, chúng tôi xin lấy lời nhận định của Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám Đốc FAO, tuyên bố với báo Financial Times: ”Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.” (Nếu giá cả tiếp tục tăng, thì tôi không ngạc nhiên về việc người ta chứng kiến những nổi dậy vì đói khổ) (LE MONDE, No.19523, Thứ Tư 31.10.2007)
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 04.02.2010



                                     CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ:

                                                           Bài 03:

                                             ĐỒNG YUAN ĐỘC ĐÓAN:
                                        MẶT TRẬN XÂM LĂNG TIỀN TỆ

 
                               Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                         UNICODE: http://viettudan.net
                                                 Geneva, 25.02.2009

 

 Trong thời thống trị của đồng Đo-la từ Hội Nghị Bretton Woods 1944 cho đến ngày nay, chúng ta đã thấy những lời đứng lên muốn cải cách hệ thống Tiền tệ. Ngòai Staline gọi hệ thống Tiền tệ là “Impérialisme du Dollar”, còn TT. Charles De GAULLE lên tiếng vì sợ tình trạng bếp bênh cho Euro-Dollar, còn khối A-rập xử dụng Pétro-Dollar làm áp lực với Hoa-kỳ để bênh đỡ Palestine.

Nhật báo LE MONDE ngày 10.11.2009, p.2, đã trích đăng lại lời công kích của TT.De GAULLE như sau:

“Ngày 4 tháng Hai năm 1965, Charles De GAULLE, Tổng thống Pháp, tuyên bố trong một cuộc họp rằng:”Nhiều quốc gia chấp nhận, theo nguyên tắc, đồng Đo-la như giá trị vàng để thanh tóan những chênh lệch trong Bảng Cân Bằng Thanh tóan Quốc tế. Đây là điều làm cho Hoa kỳ nhận nợ một cách như cho không đối với ngọai quốc vì chính Hoa kỳ phát hành phương tiện thanh trả cho chính mình. Nhìn những hậu quả có thể làm khủng hỏang, chúng tôi nghĩ rằng phải kịp thời tìm phương tiện ngăn chặn trường hợp như vậy. Chúng tôi nhận định rằng những giao dịch thương mại quốc tế cần phải được thiết lập trên một căn bản tiền tệ không có những nghi ngại và không mang dấu vết của một nước đặc biệt nào.”

Lời tuyên bố đã gây một “tiểu chiến tranh tiền tệ” giữa TT.De GAULLE và TT.Richard NIXON.

Chế độ BẢN VỊ—US$---VÀNG (Etalon—Devise US$--Vàng) vẫn được tiếp tục cho đến ngày nay (Xin đọc bài TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ đăng trong số này).
 

Những đòi hỏi mới của Trung quốc

Kinh tế Trung quốc đặt trọng tâm vào xuất cảng và đã xuất cảng thật nhiều để thu vào tồn trữ một khối Đo-la khổng lồ mà chúng ta có thể gọi là khối Sino-Dollar dưới hình thức cho Hoa-kỳ nhận nợ. Mỹ công khai nhận nợ, nhưng Trung quốc đã xậm xụi quyết định độc đóan về Tỷ giá hạ thấp đồng Yuan đối với Đo-la tới 50% nhằm phục vụ cho hàng xuất cảng của mình. Nhân cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế 2007/09, được cổ võ bởi TT.Nicolas SARKOZY và một số nước bắt đầu phát triển, Trung quốc đứng lên công kích hệ thống thanh trả Thương mại quốc tế lấy đồng US$ làm căn bản. Trung quốc lo lắng cho sự bấp bênh lên xuống của đồng US$ mà mình đang tích trữ một khối khổng lồ, nhất cho chính Hoa-kỳ nhận nợ. CNN ngày 17.02.2010 đã chạy hàng chữ trên Truyền Hình:”CHINA LOSING APPETITE FOR US DEBT !”.

Ngược lại, Hoa kỳ, ngay từ thời TT.BUSH, đã luôn luôn yêu cầu Trung quốc nâng giá đồng Yuan lên cho đúng với Tỷ giá của Thị trường. Nhưng Trung quốc vẫn cố chấp độc đóan quyết định Tỷ giá đồng Yuan thấp đối với Đo-la để giữ tính cạnh tranh xuất cảng của hàng hóa của mình. Trung quốc cũng bất chấp những than vãn về điểm này từ những nước khác cũng làm việc cho xuất cảng.

Trung quốc kêu gọi kiểm sóat chặt chẽ hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh quốc tế, nhưng ai cũng biết rằng không thể nào kiểm sóat Ngân Hàng/Tài chánh của chính Trung quốc độc đóan, được coi là “bí mật quân sự”. Trung quốc muốn kéo vây cánh nhằm thay thế đồng US$ bằng một Đơn Vị Tiền mới. Ngày 23.03.2009, Oâng Zhou XIAO-CHUAN, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã cho đăng lên mạng www.pbc.gov.cn lời tuyên bố như sau (theo bản dịch của Nhật báo LE MONDE ngày 10.11.2009, p.3) :

”L’objectif adéquat est donc de créer une monnaie de réserve internationale qui soit déconnectée de nation individuelle et se montre capable de rester stable sur le long terme. Comparée à la gestion séparée des réserves par chaque pays, la gestion centralisée d’une partie des réserves globales par une institution internationale de référence sera bien plus efficace pour contrer la spéculation et stabiliser les marchés financiers.” (Mục đích phù hợp là tạo ra một đồng Tiền dự trữ quốc tế tách rời ra khỏi một quốc gia riêng lẻ và có khả năng đứng bền vững trong trường kỳ. So sánh với việc quản trị riêng lẻ những dự trữ của từng quốc gia, việc quản trị tập trung những dự trữ tổng quát bởi một Tổ chức Quốc tế làm quy chiếu sẽ hữu hiệu hơn nhiều để chống lại đầu cơ và tạo bền vững cho những Thị trường Tài chánh).
 

Phản ứng Quốc tế thế nào đối với
việc Tuyên Chiến Tiền Tệ này

Như chúng tôi đã nhấn mạnh về tính cách PHỔ QUÁT (Universalité) cắt nghĩa trong bài mang tính cách giáo khoa TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ, Tiền tệ là một sự chấp nhận tự do và là tư hữu hòan tòan của mỗi cá nhân. Quyền lực Tiền tệ mang tính độc lập với quyết định Chính trị. Chúng tôi rất ngại ngùng xử dụng nhũng tiếng “Chiến Tranh Tiền Tệ” được tuyên bố bởi những người điều hành Chính trị. Không một cá nhân nào tư hữu Tiền bạc muốn để cho Nhà Nước “chiến tranh tiền tệ” để mình mất tiền. Một đồng tiền được chấp nhận hay không phải là do đồng thuận của từng cá nhân tư hữu.

Đồng Đo-la từ năm 1944 đến nay đã lan tràn khắp Thế giới đến nỗi một đứa con nít cũng biết nói:”One Dollar, please !” . Nó chưa biết nói: “One Yuan, please !”

Ký giả Cécile PRUDHOMME, dưới đầu đề :”Ni l’Euro ni Yuan ne parviendront, à moyen terme, à remplacer le Billet vert comme pivot du système financier international. UNE DOMINATION CONTESTÉE, MAIS PAS MENACÉE !” (Cho cả Euro, cả Yuan cũng chưa, trong trung hạn, thay thế Giấy bạc xanh đang làm mốc cho hệ thống Tài chánh quốc tế. MỘT SỰ THỐNG TRỊ BỊ PHẢN ĐỐI, NHƯNG KHÔNG BỊ ĐE DỌA !) (Le Monde 10.03.2009, p.2).

Ký giả đã trích ngay ra lời của TT.NIXON trả lời cho TT.De GAULLE: ”Le Dollar est notre monnaie, et votre problème !” (Đồng Đo-la là đồng tiền của chúng tôi, còn vấn đề là thuộc về các ông !”. Thực vậy, Hoa kỳ không hề dùng quân đội bắt ép người khác phải chấp nhận đồng Đo-la. Việc người khác chấp nhận Đo-la là việc đồng thuận tự do vậy.

Ký giả đưa ra những con số cho thấy tầm quan trọng của Đo-la đã ăn rễ sâu rộng hiện nay:”Theo điều tra của Ngân Hàng Thanh Tóan Quốc tế (BRI), đồng Đo-la đại diện 86.3% ở Thị trường Hối đóai, nơi trao đổi mỗi ngày USD.3’200 tỉ. 37% cho đồng Euro Liên Âu, 16.5% cho đồng Yen Nhật và 15% cho đồng Bảng Anh.”. Một sự hiện diện như vậy với cả một bộ máy tổ chức điều hành Hối đóai không thể một sớm một chiều thay thế.

Đối với Liên Aâu, mặc dầu Sarkozy hớn hở cổ võ cho đề nghị thay đổi, nhưng Oâng Jean-Claude TRICHET, Thống đốc Ngân Hàng Liên Aâu, ngày 8.10.2009, đã tuyên bố: ”Mon prédécesseur et moi-même avons toujours dit que nous ne faisions pas campagne pour une utilisation internationale de l’euro” (Vị tiền nhiệm và chính tôi đã luôn luôn nói rằng chúng tôi không cổ động cho việc xử dụng quốc tế cho đồng Euro).

Thái độ của Nhật cũng ủng hộ việc duy trì đồng Đo-la. Oâng Hiroshisa FUJII, Bộ trưởng Tài chánh Nhật, đã tuyên bố ngày 27.10.2009: “Le dollar demeurait une devise solide et il était de ce fait naturel que le billet vert reste pour le Japon une monnaie de réserve. Il est clair que le dollar est encore la plus forte monnaie du monde”. (Đồng Đo-la đã đứng như một đồng tiền chắc chắn và vì lẽ tất nhiên đó, tờ giấy bạc xanh còn đứng đối với nước Nhật làm đồng tiền dự trữ. Tỏ tường rằng đồng Đo-la còn là đồng tiền mạnh nhất Thế giới)

Trước thái độ còn tin tưởng và ủng hộ đồng Đo-la như vậy của Liên Aâu và của Nhật, Trung quốc tìm tòi những con đường khác để lấn dần đất của đồng Đo-la.
 

Tìm XÂM LĂNG ĐỒNG YUAN
đối với một số nước nghèo

Nhật báo Le Monde Economie ngày 23.02.2010, trang 1, cho đăng bài nói về việc Trung quốc mang đồng Yuan của mình đi tìm xâm lăng tại những nước nghèo.

Trung quốc đã tìm xâm lăng trong lãnh vực tiền tệ với những lý do nổi xùng thuộc lãnh vực Chính trị. Đây không hẳn là Chiến Tranh Tiền tệ, va chạm giữa hai đồng Tiền Yuan và Đo-la, thuần túy thuộc lãnh vực Tiền tệ. Nhật báo Le Monde nêu ra những lý do: ”La confrontation sino-américaine gagne en intensité. Ventes d’armes à Taiwan, visite du dalai-lama à Washington: l’administration Obama donne des gages de fermeté à l’égard de Pékin.” (Việc va chạm Tầu—Mỹ tăng độ mạnh. Bán vũ khí cho Đài Loan, cuộc viếng thăm của Đức Dalai-Lama tại Hoa Thịnh Đốn: Chính quyền Obama tỏ thái độ cứng rắn đối với Bắc Kinh). 

Trung quốc đã ký kết những Liên đối mậu dịch cho phép thanh khỏan thương mại bằng đồng Yuan như sau:

=>     Những hiệp ước mậu dịch ký kết với Hong Kong, Hàn Quốc, Malaysia, Bêlarus, Indonesia và Argentina năm 2009 cho phép các nước này xử dụng đồng Yuan trong các vụ mua bán.

=>     Đồng Yuan Trung Quốc được phép xử dụng ngoài nước: tại Lào, Việt Nam, Mông Cổ và Nga từ năm 2003.

=>     Trong vòng 5 năm, các hợp đồng ký kết bằng đồng yuan đã tăng thêm và chiếm 30% khối trao đổi mậu dịch giữa Trung Quốc và ASEAN .

Trung quốc tìm những con đường nhỏ này để cạnh tranh đồng Yuan đối với đồng Đo-la tại một số nước nghèo. Nhưng thử hỏi một số người tư hữu tài sản có muốn giữ tài sản mình bằng đồng Yuan hay không ? Đồng Yuan là Tiền tệ của Trung quốc, được quyết định Tỷ gia một cách độc tài, dưới luật lệ Tiền bạc không có tự do cho chính những Sỡ hữu chủ tài sản. Chọn giữ đồng Yuan nguy hiểm hay chọn giữ đồng Đo-la trong khuôn khổ luật pháp triệt để tôn trọng tư hữu cá nhân ? 
 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.02.2010



                            NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:
 
                                                   HẢI NGỌAI
                                           CẤM VẬN NGỌAI TỆ
                                          ĐỐI VỚI MAFIA CSVN


                        Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                            Geneva, 25.02.2010

 

HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:

=>     Tạm ngưng du lịch Việt Nam

=>     Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết

=>     Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.

 
Đấu tranh chống lại CSVN, chúng tôi luôn luôn đứng ở lãnh vực Kinh tế. Lực lượng đấu tranh chính yếu là tại Quốc nội. Hải ngọai yểm trợ cho Quốc nội. Có hai Mặt Trận mà Hải ngọai có thể đóng góp hữu hiệu, đó là Mặt Trận Thông Tin về Quốc nội và Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế chống lại Mafia CSVN cướp bóc Dân chúng.

Đối với Mặt Trận Thông Tin về Việt Nam, Hải ngọai phải tăng cường luôn luôn vì chúng ta có phương tiện và vì Truyền Thông hiện nay là từ trời rơi xuống mà CSVN khó lòng ngăn chặn. Đối với Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế, chúng ta phân biệt những điểm tế nhị. Chúng ta tránh những gì có thể làm hại đến đời sống làm ăn kiếm sống vất vả của Dân chúng, nhưng đối riêng với Mafia CSVN cướp bóc, thì chúng ta kêu gọi trừ diệt không thương tiếc.

Từ khi CSVN tuyên bố phá giá nội tệ, chúng tôi thấy đây là dịp mà Hải ngọai phải nắm lấy để tấn công nhóm đảng Mafia CSVN mà không ngại sợ liên hệ đến cuộc sống làm ăn vất vả của Dân chúng. Việc buộc lòng phá giá đồng bạc Việt Nam cho thấy một tình trạng khan hiếm ngọai tệ có thể đưa Cơ Chế đến phá sản. Chúng tôi muốn kêu gọi Hải ngọai đòan kết, cứng rắn xử dụng mọi biện pháp CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Cơ Chế Mafia CSVN cướp bóc.
 

CSVN khan hiếm ngọai tệ trầm trọng

Từ khi cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế cho đến nay, CSVN đang rơi vào tình trạng khan hiếm ngọai tệ như sau:

=>     Đầu tư nước ngòai giảm 82% vì chính nước ngòai cũng đang trải qua Khủng hỏang. Ngày nay, không Nhà Nước Tây phương nào, Liên Aâu và Mỹ, không thiếu hụt Ngân sách. Tình trạng khủng hỏang đang diễn ra nguy hiểm tại một số nước Liên Aâu: Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha... Liên Aâu đang khó khăn trong việc cứu vớt những nước này, nên khó lòng nghĩ đến đầu tư vào Việt Nam xa xôi nguy hiểm. Trung Đông cũng phải quan tâm đến vấn đề Dubai.

=>     Aâu, Mỹ du lịch Việt Nam giảm 70%. Xuất cảng của Việt Nam sang Liên Aâu và Hoa kỳ giảm 62%, đó là chưa kể những hàng hóa bị cấm đóan vì độc hại và những hàng bị tăng thuế nhập cảng như tôm cá vào Mỹ, đồ may mặc, da giầy vào Liên Aâu. Khi du lịch giảm, hàng xuất cảng giảm, thì làm sao có thể tăng ngọai tệ được.

=>     Trong khi ấy, những hàng nhập siêu cho Việt Nam lại tăng mạnh và quá mức. Cán cân thương mại nhập/xuất mất thăng bằng. Nhập siêu tức là ngọai tệ đi ra.
 

Đình trệ chung về Mậu dịch Quốc tế

Nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ) ngày hôm nay 25.02.2010, trang 17, đăng những lời tuyên bố của chính Oâng Pascal LAMY, Tổng Giám đốc WTO:

“Le commerce international enregistré l’an dernier un recul sans précédent depuis la Seconde Guerre Mondiale en raison de crise 12%, et l’année 2010 s’annonce médiocre avec déjà des signes inquíetants pour la reprise économique espérée. Le commerce mondial a été victime de la crise et s’est contracté de 12% en volume en 2009”. (Thương mại quốc tế ghi nhận năm vừa rồi một sự lùi lại chưa bao giờ xẩy ra từ Thế Chiến Thứ Hai với 12% giảm, và năm 2010 báo hiệu xấu với những dấu hiệu đáng lo ngại cho việc phục hồi kinh tế như ao ước. Thương mại hòan cầu đã là nạn nhân của khủng hỏang và đã lùi 12% tính về lượng giao dịch trong năm 2009.)

Oâng nói thêm về những lý do của việc lùi chưa từng có này:

“Selon OIT, le nombre de chomeurs a atteint un niveau sans précédent de 200 millions de personnes, par conséquent le manque du pouvoir d’achat. La chute brutale des échanges commerciaux s’explique principalement par un repli de la demande des plus grandes économies, ainsi que par une raréfaction des prêts bancaires pour financer les transactions commerciales.” (Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, số thất nghiệp đã đạt tới mức chưa từng có là 200 triệu người. Việc tụt dốc tàn nhẫn của những trao đổi thương mại được giải thích chính yếu bởi việc cắt đi việc đặt mua hàng từ những nền kinh tế lớn nhất, cũng như bởi việc khan hiếm những món cho vay ngân hàng để tài trợ cho những thương vụ thương mại.)

Những tuyên bố trên đây của Oâng Tổng Giám đốc WTO chứng tỏ rằng những con số ca tụng tăng trưởng cũng như xuất cảng từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam là những khóac lác tuyên truyền mà thôi.
 

Phá giá đồng bạc Việt Nam là hậu quả tất nhiên

Trong bài viết dài về TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ đăng trong số này, chúng tôi đã cắt nghĩa một cách giáo khoa rằng đồng nội tệ của một quốc gia mạnh hay yếu là do Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ, do Cán Cân Chuyển Vốn vào. Chúng tôi đã viết và cắt nghĩa như sau:

Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.

Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh hay yếu?

Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.

Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giûam giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.

Tại Việt Nam, ngọai tệ không những không vào mà còn thất thóat ra ngòai nhiều.  Người trong nước tăng Cầu ngọai tệ, nên tỷ giá ngọai tệ tăng. Phía Cung nội tệ tăng để mua ngọai tệ phục vụ nhập siêu. Cung nội tệ tăng, thì tỷ giá nội tệ sánh với ngọai tệ bị mất giá.

Tình trạng khan hiếm ngọai tệ và Đình trệ xuất cảng càng kéo dài bao nhiêu, thì đồng bạc Việt Nam càng phá giá bấy nhiêu. Lần phá gia trước Tết (11.02.2010) chưa phải là lần cuối, mà việc phá giá còn tiếp tục.

Bản Tin Reuters do John Ruwitch, đánh đi từ Hà Nội như sau:

“HÀ NỘI (Tin Reuters) – CS Việt Nam có nguy rơi vào vòng xoáy buộc phải phá giá đồng nội tệ liên tục ngoại trừ có các chính sách đi kèm với các biện pháp đối với thị trường ngoại hối nhằm kiểm soát lạm phát và giới hạn thâm thủng mậu dịch, ngày càng gia tăng, một cách có hiệu quả.

Lạm phát đang gia tăng trở lại và thâm thủng mậu dịch đang mở rộng làm trở ngại các cố gắng của các giới chức chính quyền nhằm thu hút đồng Mỹ kim dân chúng đang cất giữ trở lại dòng luân lưu tiền tệ và giảm thiểu sự thất thoát nguồn dự trữ ngoại tệ.

Ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngày thứ Năm (February 11) phá giá đồng nội tệ 3,25% đồng thời áp mức tối đa đối với hối suất dành cho đồng Mỹ kim gởi tại ngân hàng. Đây là lần phá giá thứ 3 kể từ tháng 12 năm 2008, dẫn đến hối suất tham khảo hằng ngày của ngân hàng trung ương giảm hơn 11% trong hơn một năm.

Bui Kien Thanh, một cựu cố vấn cho chính phủ VN, nói rằng cả hai động thái đều không đáp ứng được nhu cầu bức thiết cho các thay đổi về chính sách mang tính rộng lớn.

“Dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước sẽ tiếp tục thu nhỏ và Ngân hàng nhà nước buộc phải có hành động nhằm bảo vệ giá trị hối đoái của đồng nội tệ,” ông Thanh nói.

“Sẽ không có sự chấm dứt đối với vòng xoáy tồi tệ này. Một phương cách mới và một chính sách tiền tệ mới là cần thiết nhằm thổi một luồng sinh khí mới vào nền kinh tế, thay cho các hành động mang tính đối phó và các luật lệ không phù hợp.”

Đồng nội tệ được kiểm soát trong một biên độ hối đoái, đã và đang chịu nhiều áp lực bị phá giá trong gần 2 năm qua khi nền kinh tế phát triển quá nóng và rồi sau đó giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.


Các chính sách trong quá khứ nhằm chận đứng sự tuột dốc giá trị của đồng bạc VN gần như không có hiệu quả. “
 

Hải ngọai hãy cứng rắn dồn sức
CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Mafia CSVN

Đã bao chục năm trường, mỗi năm Hải ngọai chúng ta đã chuyển về Việt Nam cho Gia đình trung bình USD.4-6 tỉ. CSVN không biết ơn mà vẫn luôn luôn coi chúng ta là thù địch, vẫn tàn nhẫn bóc lột đàn áp Dân chúng hay những người trong Gia đình của chúng ta. Đây là dịp mà chúng ta phải dặn bảo nhau, mở Phong trào Hải ngọai CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với đám nhóm đảng Mafia CSVN tàn bạo, cướp bóc.

Lạm phát bắt đầu tăng. Với lạm phát tăng và đồng bạc phá giá, Dân chúng sẽ đứng lên !


HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:

=>     Tạm ngưng du lịch Việt Nam

=>     Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết

=>     Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.

 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.02.2010





                                                    TIỀN TỆ VÀ
                                    NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ

 
                         Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
                                             Geneva, 24.02.2010

 

Nội dung bài này mang tính cách giáo khoa: chúng tôi trình bầy những quan niệm về Tiền tệ và định vị trí, vai trò của nó trong mọi lãnh vực họat động Kinh tế. Ngân Hàng là trái tim, Tiền tệ là mạch máu cho sức khỏe Kinh tế.

Chúng ta cần những quan niệm giáo khoa rõ rệt để có chung một tiếng nói, một nhận định về những tranh chấp, thậm chí chiến tranh, giữa các đồng Tiền: đồng Đo-la Mỹ, đồng Euro, đồng Bảng Anh, đồng Yen Nhật, đồng Franc Thụy sĩ, đồng Yuan Trung quốc. Trong những Thế kỷ trước, đồng Florin Hòa Lan đã một thời nắm ưu thế; tiếp đến là đồng Bảng Anh lên kế vị; và từ Hội Nghị Tiền tệ Bretton Woods năm 1944, đồng Đo-la Mỹ tràn lan khắp Thế giới mà Staline gọi là “Impérialisme du Dollar” (Đế quốc Đo-la).

Trong suốt thời kỳ thống trị của Đo-la đến ngày nay, có nhiều những cuộc nổi dậy chống Đo-la. Aâu châu được tái thiết sau Thế Chiến II và phát triển Kinh tế, bán hàng hóa cho các cựu thuộc địa, thu tiền vào bằng Đo-la tích lũy tại Aâu châu thành khối Euro-Dollar. Các nước A-rập Trung đông bán dầu lửa và tích lũy Đo-la thành khối Petro-Dollar. Cuộc nổi dậy đầu tiên là từ TT.De GAULLE nhân danh Euro-Dollar khi Oâng muốn bắt tay với Nga. Cuộc nổi dậy thứ hai nhân danh Petro-Dollar từ những nước A-rập nhằm bênh đỡ cho Palestine.

Ngày nay, nhân cuộc Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh/Kinh tế 2007-90 bắt đầu từ Hoa kỳ, lan ra khắp Thế giới ở những nơi nào mang ảnh hưởng ưu thế của Đo-la, một số Quốc gia đặt lại vai trò thống trị của Đo-la.  Được sự cổ võ của TT.Sarkozy và một vài Quốc gia trong khối G20, Trung quốc lên tiếng mạnh nhất chống lại Đo-la.

Thực vậy, Trung quốc tích lũy khối Đo-la khổng lồ, có thể gọi là Sino-Dollar. Là chủ nợ bằng Đo-la đối với Hoa-kỳ, nhưng cứ nganh ngánh mất ăn mất ngủ khi mà đồng Đo-la chuyển biến lên xuống. Đồng tiền liền với khúc ruột mà ! CNN ngày 17.02.2010 chạy hàng chữ trên Đài “China losing appetite for US debt”. Các báo Le Monde ngày hôm sau 18.02.2010, p.12; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.32, cũng lên tiếng phụ họa về cảnh ăn không ngon, ngủ không yên này của Trung quốc. Trung quốc lên tiếng đòi hỏi lần lượt những vấn đề sau đây:

*        Kiểm sóat chặt chẽ hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh mà đồng Đô-la giữ ưu thế

*        Thay thế đồng Đo-la bằng một Đơn vị Tiền tệ chung nào đó trong khuôn khổ IMF

*        Hiện nay, Trung quốc dùng Thương mại để bành trướng đồng YUAN xâm lăng ra nước ngòai (Xin đọc bài Quan Điểm đăng trong số VietTUDAN 436/25.02.2010).

Những vấn đề Tranh chấp, thậm chí Chiến tranh, về Tiền tệ trên đây khiến chúng tôi thấy cần viết những quan niệm giáo khoa về Tiền tệ nói chung để chúng ta có cùng một tiếng nói khi nhận định về các Tranh chấp.

Chúng tôi xin trình bầy lần lượt những điểm:

=>     Phát minh và chuyển biến của Tiền tệ
=>     Những Chế độ Tiền tệ và định Tỷ giá
=>     Những Thị trường liên quan đến Tiền tệ
=>     Cán cân Thương mại và đồng Tiền mạnh
=>     Làm thế nào Tiền đẻ ra Tiền
 

Phát minh và chuyển biến của Tiền tệ

Không ai nhai nuốt đồng 100 Đo-la để khỏi đói, mà dùng đồng 100 Đô mua đồ ăn để ăn thì bụng mới không đói được. Như vậy đồng tiền chỉ là thứ yếu, là phương tiện để mua hàng hóa phục vụ cho những nhu cầu của con người. Hàng hóa thực của sản xuất Kinh tế là chính yếu, còn đồng tiền là phụ. Chính vì vậy, đồng tiền được định nghĩa là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises) hay “Phương tiện chuyên chở trao đổi hàng hóa” (Moyen de véhiculer les échanges des marchandises).

Xem những câu định nghĩa như vậy, thì chính việc phát triển trao đổi hàng hóa (Thương mại) đòi hỏi việc phát minh ra Tiền tệ và sự Chuyển biến của Tiền tệ cho phù hợp với đà phát triển Thương mại nội địa hay quốc tế. Phát minh và Chuyển biến Tiền tệ qua những giai đọan như sau:

1)      Trao đổi hiện vật (Echange de Troc)

Trao đổi hiện vật, nghĩa là hàng hóa trao đổi lấy hàng hóa. Một người có dư  5 con gà, nhưng lại muốn có cái ghế để ngồi. Họ mang 5 con gà để đổi lấy cái ghế. Nhưng một người khác chỉ có dư 4 con gà, mà lại muốn cái ghế. Việc trao đổi gà lấy ghế trở thành bế tắc. Chẳng lẽ chặt cái ghế ra làm 5 phần và họ chỉ lấy 4 phần của cái ghế.

Cái bế tắc đầu tiên cho trao đổi hiện vật là việc phân chia hàng hóa thành những thành phần nhỏ. Chính cái bế tắc thương mại này đã đòi hỏi phải phát minh ra một phương tiện có thể phân chia ra càng nhỏ càng hay. “La DIVISIBILITE pousse le Commerce à inventer la Monnaie” (Tính cách khả phân đẩy Thương mại đến phát minh Tiền tệ).

2)      Tiền-Hàng hóa (Monnaie-Marchandise)

Ý tưởng đầu tiên là chọn một lọai hàng hóa mang tính cách khả phân tốt nhất. Một số bộ lạc Phi châu đã chọn Răng Sư tử làm đơn vị trao đổi các hàng hóa khác. Tại Á châu, dân chúng chọn Đấu Gạo làm Đơn Vị trị giá việc trao đổi hàng hóa. Xem việc chọn lựa này, vì tính cách khả phân, Tiền tệ còn mang tính Khan hiếm (Rareté) và tính Phổ quát ( Universalité). Thực vậy, Răng Sư Tử không phải là dễ kiếm, do đó Tiền mới qúy. Nếu chọn những viên sỏi làm Tiền, thì ai cũng kiếm được. Cũng vậy, chọn Đấu Gạo làm Tiền trung gian Thương mại, đó là nhấn mạnh tính Phổ quát (Universalité) của hàng hóa lựa chọn. Ở Á châu, Gạo là phổ quát nhất, ai cũng chấp nhận.

Tóm lại, một đồng Tiền phải mang tính Khả phân (Divisibilité) để dễ dàng làm trung gian trao đổi; một đồng Tiền phải mang tính Khan hiếm (Rareté) để tự nó mang một giá trị; một đồng tiền phải mang tính Phổ quát (Universalité) nghĩa là mọi người cùng công nhận.

3)      Tiền Kim lọai (Monnaie Métallique)

Hàng hóa mỗi ngày mỗi nhiều. Những tác nhân Kinh tế mỗi ngày mỗi giầu có thêm và người ta nghĩ đến Tiết kiệm, tích lũy hàng hóa cho tuổi già hay cho con cháu sau này. Tiền bạc trở thành một phương tiện tích lũy tài sản. Nếu chọn Tiền bạc bằng một hàng hóa nào đó, thì hàng hóa dễ trở thành hư hỏng, mất giá trị trong thời gian. Đây là tính cách thứ tư mà người ta đòi hỏi Tiền tệ phải có, đó là tính Kéo dài (Durabilité) trong thời gian. Không ai muốn tiết kiệm tiền bạc mà trong thời gian bị hư hỏng, mất giá. Tính cách Kéo dài (Durabilité) này đã thúc đẩy việc lựa chọn Kim lọai làm Tiền tệ. Đầu tiên là chọn Sắt, nhưng Sắt dễ bị rỉ. Người ta chọn Đồng khó bị rỉ hơn. Nhưng Đồng dễ kiếm, phạm vào tính Hiếm có (Rareté). Người ta chọn Bạc vừa khó bị hư hỏng vừa hiếm có hơn Đồng. Cuối cùng VÀNG được chọn lựa như Tiền tệ Kim lọai chót. Thực vậy, Tiền Vàng mang đủ 4 tính chất : Khả phân (Divisibilité) thành cân lượng thật nhỏ; Hiếm có (Rareté) nên tự nó có giá trị nội tại (Valeur en soi); Phổ quát (Universalité) vì cả Thế giới, ai cũng chấp nhận vàng; Kéo dài (Durabilité) vì vàng không bị rỉ.

Hiện nay, giữa các đồng Tiền, VÀNG vẫn là nơi ẩn náu (Refuge) khi các Tiền tệ bị giao động.

4)      Tiền Giấy

Những bế tắc Thương mại đã thúc đẩy phát minh Tiền tệ. Ở thời kỳ Thương mại hiện vật (Commerce de Troc), tính cách bất khả phân hàng hóa khiến người ta phát minh ra Tiền tệ trung gian mang tính khả phân tối đa.

Ở thời kỳ phát triển Thương mại Quốc tế từ Trung Cổ Aâu châu, một bế tắc nữa khiến người ta phải phát minh ra Tiền Giấy. Thực vậy, Trung Cổ Aâu châu là thời kỳ phân chia đất đai cho các Lãnh chúa. Mỗi vùng nhỏ có một Lâu đài Lãnh chúa quy tụ dân chúng chung quanh thành những Thành phố. Mỗi vùng tổ chức những Chợ Phiên của Thành phố để trao đổi hàng hóa, tỉ dụ Chợ Phiên Bruxelles, Chợ Phiên Milano, Chợ Phiên Munich... Thương gia từ Thành phố Milano muốn mua hàng hóa ở Chợ Phiên Bruxelles. Mua hàng, phải trả Tiền. Nhưng nếu Tiền tệ là Kim lọai, Vàng chẳng hạn, thì phải chở Vàng từ Milano đến Bruxelles để trả. Chở Vàng từ Milano đi Bruxelles, vượt qua rặng núi Alpes, thì sợ ăn cướp, không có an ninh giữa một thời giặc giã của các Lãnh Chúa.

Cái bế tắc của thời kỳ phát triển Thương mại quốc tế này là An ninh (Sécurité) cho Tiền bạc khi mang Tiền đi xa để mua hàng. Việc phát minh qua những giai đọan như sau:

=>     Chứng minh thư ký thác (Certificat de Dépôt)

Vàng không được chở đi, mà chỉ được ký thác tại một Nhà Ký Thác (Maison de Dépôt). Nhận và giữ vàng của Thương gia, Cơ sở Ký thác cho Thương gia một Tờ Giấy chứng minh số vàng ký thác. Thương gia từ Milano chỉ cần mang Tờ Giấy Chứng Minh Ký thác sang Bruxelles, đế trình Chứng Minh thư tại một Cơ sở Ký thác khác tại đây để đổi thành vàng mà mua hàng. Như vậy khi chỉ mang một Tờ Giấy Chứng Minh Thư Ký thác từ Milano sang Bruxelles, Thương gia có An ninh (Sécurité) hơn là chuyên chở qua rặng núi Alpes trùng điệp cả một lượng vàng nặng chĩu.

Chứng Minh Thư Ký Thác (Certificat de Dépôt) là hình thức đầu tiên của Tiền Giấy ngày nay. Những Cở Sở Ký Thác (Maison de Dépôt) trở thành những Ngân Hàng ngày nay.

Xin chú thích thêm rằng trên Tờ Chứng Minh Thư Ký thác, luôn luôn có hai Chữ Ký. Qúy vị lưu ý rằng trên các Tờ Giấy Bạc hiện nay vẫn giữ hai Chữ Ký. Các Giấy tờ Ngân Hàng đụng chạm đến Tiền bạc phải có hai Chữ Ký. Vấn đề đặt ra là làm thế nào Cơ Sở Ký Thác tại Bruxelles nhận ra Tờ Chứng Minh Thư Ký thác là thật hay giả.  Ở thời kỳ này, vấn đề kiểm chứng (Vérification) bằng truyền thông chưa có. Việc kiểm chứng ở thời kỳ này đặt trên cơ sở liên hệ Gia đình với những bí mật giao hẹn trước với nhau trong Gia đình. Đây là điểm cắt nghĩa tại sao ngành Ngân Hàng được bành trướng phần lớn giữa những người Do-thái. Thực vậy, những liên hệ Gia đình Do-thái ở khắp Aâu châu và họ phát triển những Cơ sở quản trị Tiền tệ.

=>     Tiền Giấy phát hành từ Ngân Hàng Trung Ương
         (Billet de Banque émis par la Banque Centrale)

Có hai biến cố dẫn đến việc phát hành Tiền Giấy duy nhất của Ngân Hàng Trung ương hay Ngân Hàng Quốc gia, Ngân Hàng Phát Hành (Banque Centrale, Banque Nationale, Banque d’Emission). Biến cố thứ nhất là các Lãnh chúa bị dẹp và thành lập những Quốc gia rộng lớn. Biến cố thứ hai là các Chứng Minh Ký Thác trở thành nhiều và phức tạp, hầu như chỉ dành cho những Thương gia chuyên biệt, trong khi dó đại da số Dân chúng cần phương tiện Tiền tệ mua bán.

Hai biến cố trên đây khiến các Quốc gia thành lập MỘT Ngân Hàng Trung ương để in ra MỘT lọai Chứng Minh Ký Thác, TIỀN GIẤY duy nhất cho Quốc gia, để dân chúng nhận biết và xử dụng làm Phương tiện trao đổi hàng hóa.

Ngân Hàng Trung ương hay Ngân Hàng Quốc gia được giao hai nhiệm vụ chính yếu:

*        Phát hành Tiền tệ (Emission des Billets de Banque)
*        Điều hành khối tiền cho vào phát triển Kinh tế/ Thương mại cho phù hợp (Gestion adéquate de la Masse monétaire mise en circulation dans  l’Economie et le Commerce).

Hai nhiệm vụ này được thực hiện theo đòi hỏi Kinh tế/Thương mại của Dân chúng có tính cách lâu dài, chứ không tùy thuộc những quyết định nhất thời mang mầu sác Chính trị của Nhà Nước cai trị. Ơû khía cạnh này, chúng ta có thể nói Quyền lực Tiền tệ mang tính cách độc lập với Quyền lực Chính trị (L’autorité monétaire est indépendante du pouvoir politique).

5)      Phát hành Tiền tệ Tư nhân (Emission monétaire privée)

Theo như định nghĩa lúc ban đầu về Tiền tệ, đồng tiền được định nghĩa là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises) hay “Phương tiện chuyên chở trao đổi hàng hóa” (Moyen de véhiculer les échanges des marchandises). Như vậy, tất cả mọi Phương tiện ngòai TIỀN MẶT (Tiền Giấy phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương) có thể được xử dụng để mua bán hàng hóa đều có thể được gọi là Tiền tệ.

Tính cách Phổ quát (Universalité) của tờ Giấy Bạc phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương làm mất An ninh (Sécurité). Thực vậy, cầm một xấp Giấy Bạc 100 Đô ra phất phơ khoe khoang trước các Cô trong Bar, có thể bị giết khi ra khỏi Bar như chơi. Cái lý do là thằng ăn cướp, cô bán Bar hay mình có thể xử dụng những tờ Giấy Bạc 100 Đô như nhau. Chúng ta mất An ninh khi cầm tờ Giấy Bạc. Vì vậy, mọi người muốn Ký thác những tờ Giấy Bạc ấy tại Ngân Hàng tư để chỉ lấy những Chứng Minh Thư Ký thác (giống như Ký thác Vàng trước đây) để có những Carnet de Chèques, Credit Cards, Promissory Notes, Stanby Letter of Credit, Bank Guarantees... mà mua bán hàng hóa.

Đây là việc phát hành Tiền tệ của lãnh vực Tư nhân. Việc phát hành này không những chỉ dựa trên TIỀN MẶT hiện có và ký thác, mà còn bao trùm cả tiền bạc khả thể (Monnaie virtuelle) ước mong nhận được trong lai.  Lãnh vực tương lai này đã tạo thành Kỹ Nghệ Tài chánh của giới nắm giữ Tiền tệ. Nhưng tương lai giống như bài hát “Que sera sera” bấp bênh. Giới phát hành Tiền tệ tương lai đã tạo nên những Khủng hỏang. 


Những Chế độ Tiền tệ và định Tỷ giá

Đại thể, Tiền tệ đã trải qua những Chế độ (Régimes Monétaires) quy định mà mục đích là làm cho những người giữ Tiền có một sự chắc chắn nào đó về tài sản tiết kiệm của mình. Làm thế nào mà những người tiết kiệm dưới hình thức Tiền tệ có thể thấy tài sản của mình ít bị mất?

Chúng tôi trình bầy ba chế độ sau đây cho đến nay:

1)      Chế độ BẢN VỊ VÀNG (Etalon-Or)

Mỗi quốc gia, hòan tòan độc lập, định giá Tiền tệ riêng của mình dựa trên Cân lượng Vàng tương đương cho Đơn vị Tiền. Tỉ dụ một Quan Thụy sĩ, CHF.1 = 0.020gr Or fin; một Đo-la Mỹ, USD.1 = 0.040gr Or fin.

Tất cả những Quốc gia định giá trị Tiền bạc của mình dựa trên cân lượng vàng thuộc về Chế độ Bản Vị Vàng.

Trong cùng một Chế độ như vậy, các nước mới có thể định Tỷ giá Tiền tệ giữa hai nước. Theo tỉ dụ trên đây, thì hối suất giữa đồng Đo-la Mỹ và Quan Thụy sĩ sẽ là:

Tỷ giá Đo-la Mỹ/Quan Thụy sĩ:  

                     0.040 gr Or fin
USD.1.-   =     -------------------    =    CHF.2.-
                     0.020 gr Or fin                      

 
Trong Chế độ Bản Vị Vàng, Tỷ giá Tiền tệ mang tính cách khách quan và khó lòng thay đổi vì dựa trên cân lượng vàng không thay đổi trừ khi một quốc gia tự ý định lại cân lượng vàng cho đồng Tiền của mình. Trong Chế độ này, người ta cấm luôn Thị trường Vàng song hành với Tiền tệ. Người giữ Tiền bạc chắc chắn về giá trị đổng tiền bởi lẽ có sự hóan chuyển (Convertibilité) Tiền thành Vàng.

2)      Chế độ BẢN VỊ-TIỀN TRUNG GIAN-VÀNG
         (Etalon-Devise-Or)

Chế độ trên đây kéo dài khá lâu. Nhưng Thế Chiến II đã buộc phải thay đổi Chế độ Tiền tệ. Thực vậy, Thế Chiến II đã làm các nước Aâu-châu mất hết Vàng để bảo đảm cho việc định giá trị Tiền bạc của mình. Chỉ có đồng Đo-la Mỹ và đồng Quan Thụy sĩ còn đủ vàng bảo chứng cho Tiền tệ của mình.

Những đồng Quan Pháp, Mark Đức, Lire Ý... hòan tòan mất giá.

Trước tình trạng này, Hoa kỳ kêu gọi Hội Nghị Bretton Woods về Tiền tệ năm 1944 để định lại giá trị về Tiền tệ. Hội Nghị quyết định ba điều:

1)      Chế độ Tiền tệ vẫn lấy cân lượng Vàng làm gốc   

2)      Lấy một đồng Tiền trung gian còn Vàng bảo đảm giá trị. Đồng Đo-la Mỹ được chọn

3)      Thiết lập Qũy Hỗ Trợ Tiền bạc, đó là IMF hiện nay

Theo quyết định của Hội Nghị, thì Tiền mỗi nước được định theo giá trị đồng Đo-la Mỹ để rồi qua đó mới có hóan chuyển sang cân lượng vàng.

Tỉ dụ một Quan Pháp được định giá trị là USD.20 cents; một Quan Thụy sĩ được định giá trị là USD.80 cents.

Từ đó, Tỷ giá giữa đồng Quan Pháp và đồng Quan Thụy sĩ được định như sau:

Tỷ giá Quan Thụy sĩ/ Quan Pháp:  

                    USD.80 cents
CHF.1.-   =     -----------------    =   FF.4.-
                    USD.20 cents

 
Như vậy, Tỷ giá Tiền tệ giữa các nước vẫn không bấp bênh vì định nghĩa đồng Đo-la vẫn dựa trên cân lượng vàng. Nhưng tính hóan chuyển gián tiếp sang vàng thay đổi nếu Hoa kỳ thay đổi định giá cân lượng vàng cho đồng Tiền của mình. Thế giới bắt đầu cảm thấy một sự lệ thuộc vào quyết định giá trị của đồng Đo-la. Nếu Hoa kỳ tự ý tái quyết định cân lượng vàng cho đồng Đo-la, thì Thế giới phải tuân theo khi muốn hóan chuyển Tiền của mình thành vàng.

Chính vì cảm thấy sự lệ thuộc này, mà Staline đã gọi đây là “Impérialisme du Dollar” (Đế quốc Đo-la), mà TT. De GAULLE đã phản đối nhân danh Euro-Dollar, mà các nước giữ Pétro-Dollar lên tiếng.

3)      Chế độ BẢN VỊ KHẢ NĂNG MUA HÀNG
         (Régime du Pouvoir d’Achat)

Mặc dầu vàng vẫn được dùng dưới hình thức Lingot để bảo đảm Tiền tệ, nhưng Dân chúng xa vời với vấn đề định giá tương đương vàng cho Đơn vị Tiền tệ của mỗi nước. Điều thiết thân hơn hết của Dân chúng là tương đương hàng hóa mà họ có thể mua được với một Đơn vị Tiền tệ mà họ đang giữ.

Trên thực tế, Dân chúng chấp nhận một Chế độ Tiền tệ được dịnh nghĩa dựa trên Khả năng hóan chuyển sang hàng hóa mà họ xử dụng hàng ngay.

Tỉ dụ tại Mỹ, USD.1.- có thể mua được 600gr khoai tây và tại Thụy sĩ CHF.1.- có thể mua được 400gr khoai tây.

Tỷ giá giữa Đo-la Mỹ và Quan Thụy sĩ:  

                    600gr khoai tây
USD.1.-  =      --------------------   =   CHF.1.50
                     400gr khoai tây

 
Đây là Tỷ giá thực tiễn nhất mà người Dân chấp nhận cho đời sống của họ. Nhưng Tỷ giá này lại không mang tính cách cố định như dựa trên so sánh cân lượng vàng hàm chứa trong định nghĩa Tiền tệ của mỗi nước. Tỷ giá dựa trên khả năng đổi lấy hàng hóa thay đổi không lường vì tình trạng sản xuất Kinh tế mỗi nước có những thay đổi theo mùa, theo năm. Khả năng phát triển Kinh tế đều đặn của một nước là nền tảng bảo đảm cho giá trị vững bền của đồng Tiền của nước đó.

Với Chế độ Bản Vị Khả năng Mua hàng (Régime du Pouvoir d’Achat) tình trạng Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế hiện nay đã làm cho các nước lo lắng vì giữ quá nhiều Dự trữ Tiền tệ bằng Đo-la. Trung quốc giữ khối Đo-la khổng lồ, ăn không ngon, ngủ không yên là phải.

Trên đây, chúng tôi lấy tỉ dụ một mặt hàng là khoai tây. Trong tính tóan tổng quát cho Quốc gia, người ta kể mọi mặt hàng tiêu thụ tính thành một Chỉ số Tổng quát được tóm gọn trong Công thức sau đây của FISHER:

    M.V
  -----------    =    P
      T

M : Khối Tiền tệ cho vào nền Kinh tế; V: Tốc độ lưu hành Tiền tệ; T: Sản xuất/ Thương mại hàng hóa trong một thời kỳ nhất định; P: Mức độ Tổng quát những Giá cả (Niveau Général des Prix). Chính dựa trên thay đổi của P mà người ta nói đến Lạm phát mà lý do có thể là tăng Khối Tiền lưu hành hay là giảm Khả năng Sản xuất/Thương mại mà những Cơ quan trách nhiệm điều hành Khối Tiền chưa có những biện pháp điều chỉnh kịp thời.

Cũng ở trong Chế độ Bản Vị Khả năng Mua hàng này mà một số Quốc gia, nhất là những Nhà Nước độc tài, khi gặp thiếu hụt Ngân sách, dễ dàng in Tiền mới cho vào Khối Tiền M để làm Lạm phát hòan tòan có tính cách Tiền tệ. Đây là một tội ác đối với Dân chúng đang tích giữ Tiền bạc có khả năng mua hàng thực sự. Đồng Tiền mới in ra chưa được chuyển qua hệ thống sản xuất Kinh tế để có tương đương hàng hóa. Nhà Nước độc tài tung đồng Tiền mới ra để tiêu dùng lẫn lộn với đồng Tiền cũ đã có khả năng tương đương hàng hóa. Đây là việc làm mất giá cho đồng Tiền cũ.

Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết: “L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy).

 
Những Thị trường liên quan đến Tiền tệ

Chúng tôi muốn phân biệt bốn Thị trường sau đây rất gần nhau, cùng khởi nguồn từ đồng Tiền: Thị trường Tiền tệ, Thị trường Tài chánh (Vốn), Thị trường Chứng khóan, Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng. Mỗi Thị trường nhằm thu Lợi nhuận từ những phương diện khác nhau.

=>     Thị trường Tiền tệ

Nói đến Thị trường là nói đến hai phía Cung và Cầu. Thị trường Tiền tệ có phía Cung một đồng Tiền để bán và phía Cầu cùng đồng Tiền ấy để mua. Nếu phía Cung đồng Tiền nhiều hơn, thì đồng Tiền ấy giảm giá trị, nghĩa là dùng một đồng Tiền khác để mua, thì mua được lượng nhiều hơn (Valeur nominale). Cũng vậy, nếu trên Thị trường có nhiều người Cầu, thì đồng Tiền trở thành mắc giá và khi dùng đồng Tiền khác để mua, thì lượng mua được sẽ ít hơn. Đây là vấn đề chênh lệc Tỷ giá do Cung và Cầu.

Nếu Thị trường hòan tòan tự do thay đổi theo Cung, Cầu, thì lượng Tiền trao đổi sẽ làm cân bằng Tỷ giá. Nhưng nếu Tỷ giá có sự can thiệp cứng nhắc của một quyền lực ngọai tại, thì Thị trường Tiền tệ sẽ có hai giá: Giá chính thức bó buộc và Giá chợ đen lén lút. Đây là trường hợp Thị trường Tiền tệ tại Trung quốc và tại Việt Nam giữa đồng Đo-la và đồng Tiền của mỗi Quốc gia.

=>     Thị trường Tài chánh (Vốn)

Nếu Thị trường Tiền tệ nhằm vào chênh lệc Tỷ giá, thì Thị trường Tài chánh nhằm vào Lãi suất. Lãi suất, cái Giá của Thị trường, tăng giảm là do Cung và Cầu Vốn. Phía Cầu Vốn là những Công ty làm việc trong lãnh vực Kinh tế thực. Phía Cung Vốn là những Ngân Hàng, những Tập thể Tài chánh. Các Công ty tìm vay Vốn với Giá rẻ, nghĩa là Lãi suất thấp. Trong khi ấy, những Ngân Hàng, những Tập đòan Tài chánh tìm nơi cho thuê Vốn với Lãi suất cao.

Trong thời Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế 2007/09, các Ngân Hàng Trung ương hạ Lãi suất chỉ đạo xuống thấp, nghĩa là làm cho Giá thuê vốn trở thành rẻ để những Công ty có thể thuê Vốn dễ dàng mà họat động khôi phục nền Kinh tế thực.

=>     Thị trường Chứng khóan

Thị trường Chứng khóan cũng là Thị trường Tài chánh. Thị trường Tài chánh chính hiệu trên đây là sự va chạm giữa phía Công ty Cầu Vốn và phía có Tiền Cung Vốn. Nguồn lợi là Lãi suất.

Thị trường Chứng Khóan cũng là Thị trường Tài chánh, nhưng là nơi gặp gỡ các Thương gia mua bán những Giá trị các Công ty ghi tên trên Thị trường. Nguồn thu lợi chính yếu là chênh lệch lên xuống Giá trị các Công ty ghi trên Thị trường. Những người tham dự vào Thị trường Chứng khóan có khuynh hướng tác động đầu cơ để làm cho Giá cả Thị trường lên xuống mà lấy lợi.

Thị trường này cho những lợi nhuận cao và mau mắn. Đây là Thị trường vĩ đại quay vòng quanh Thế giới 24/24 giờ. Khủng hỏang khởi nguồn từ Subprime Mortgage Credits làm cho Thị trường Chứng khóan xẹp xuống đen tối, nhưng rồi trong một thời gian ngắn các Thị trường Chứng khóan sôi động lại vì số vốn tham dự vào Thị trường này khổng lồ để các Ngân Hàng và Tập đòan Tài chánh thi nhau thu lợi nhuận từ chênh lệc Giá trị các Công ty niêm yết.

=>     Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng.

Có lẽ đây là Thị trường không được công khai phổ biến cho lắm, nhưng vẫn hiện diện như trợ lực cho Thị trường Tài chánh. Thực vậy, để có thể vay được Vốn, phải có thế chấp bảo đảm cho việc hòan vốn. Thế chấp thường được đòi hỏi là những Bank Guarantees, Standby Letter of Credit phát hành do những Ngân Hàng đáng tin cậy. Việc xếp hạng tin cậy giữa các Ngân Hàng khác nhau. Tỉ dụ nếu Bảo Lãnh của Bank of America có giá trị tin tưởng 95%, thì Bảo Lãnh phát hành bởi Banco Da Brazil chỉ mang tin tưởng được 60% chẳng hạn. Sự chênh lệc tin tưởng này lại làm phát sinh ra những Phát hành Tái Bảo Lãnh.

Những Công ty vay Vốn vào Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng này để mua bán những Thế chấp làm Collateral mà vay Vốn.
 

Cán cân Thương mại và đồng Tiền mạnh

Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.

Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh ?

Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.

Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giàm giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.

Trung quốc, do xuất cảng, thu vào nhiều Đo-la tất nhiên đồng Yuan phải trở thành mắc hơn. Nhưng Nhà Nước độc tài Trung Cộng đã cố tình giữ giá đồng Yuan hạ để nâng dỡ cho xuất cảng mà thôi.
 

Làm thế nào Tiền đẻ ra Tiền

Vớiõ 4 Thị trường liên hệ đến Tiền bạc như chúng tôi đã trình bầy trên đây, giới Ngân Hàng và Tài chánh có nhiều phương tiện để làm ăn thu Lợi nhuận mà chưa chắc đã cần phải qua lãnh vực họat động Kinh tế thực.

Giới Ngân Hàng và Tài chánh nắm giữ khối hiện Kim khổng lồ, đồng thời họ lại có khả năng phát hình tư nhân Tín dụng, tương lai Kim (Monnaie virtuelle) để đầu tư kiếm lời. Người ta nói đến sự tách rời ra của giới Ngân Hàng và Tài chánh để lập một KỸ NGHỆ TÀI CHÁNH riêng với những Sản phẩm Tài chánh đặc biệt để làm sinh lời. Sản phẩm Subprime Mortgage Credit là một trong những tỉ dụ.

Khi làm việc về Tài chánh, chúng tôi đã gặp những Khách hàng đặt câu hỏi: khi bỏ Tiền vào, Ngân Hàng chỉ cho lợi nhuận hàng năm tối đa 5%, tại sao Ngân Hàng xử dụng Tiền của chúng tôi để làm ăn thu và lợi nhuận 50% chẳng hạn ?

Lợi nhuận cao ! HYI :High Yield Investment ! Tiền đẻ ra Tiền !

Năm 2004, chúng tôi đã viết một tỉ dụ đơn giản bằng tiếng Anh để cắt nghĩa Lợi nhuận cao. Chúng tôi xin tóm tắt bằng tiếng Việt tỉ dụ ấy: TỈ DỤ MỘT ÔNG CHÀ GIÀ CHO VAY KIẾM LỜI Ở GÓC CHỢ BẾN THÀNH.

Oâng Chà Già có 100 đồng làm vốn để cho vay kiếm lời. Oâng ra đứng ở góc Chơ Bến Thành. Khách hàng xin vay của Oâng là những Bà buôn thúng bán mẹt, chồng chết vì chiến tranh, nên mua buôn bán lẻ rau cỏ tại mấy góc phố. Mỗi buổi sáng Oâng cho một Bà vay 100 đồng với điều kiện là chiều tối trả lại vốn và thêm Tiền lời là 0.50 xu. Đối với các Bà cần vốn mua hàng buôn bán độ nhật, thì giá thuê vốn 0.50 là quá rẻ.

Oâng Chà Già làm việc 5 ngày một Tuần. Như vậy mỗi Tuần Oâng thu vào được 2.5 đồng. Mỗi Tháng 4 Tuần, Oâng thu vào được 10 đồng Tiền lời. Oâng làm việc một Năm 10 tháng, còn để 2 tháng đi nghỉ hè. Như vậy một năm làm việc 10 tháng, ông thu Lợi nhuận vào là 100 đồng.

   0.50 mỗi ngày
x 5 ngày mỗi tuần
x 4 tuần mỗi tháng 
x 10 tháng mỗi năm
= 100 đồng Lợi nhuận trong một năm, nghĩa là Lợi nhuận 100% hàng năm cho số vốn đầu tư.

Đó là Lợi nhuận cao có thể thực hiện được. Đây không phài là điều mơ mộng hão huyền mà là sự tính tóan cụ thể mà ai cũng thấy. Nếu có lúc nào đó, chúng ta khẳng định có thể kiếm Lợi nhuận đầu tư là 100%, nhiều người cho rằng chúng ta nói khùng điên. Nhưng thực tế có thể làm được như tỉ dụ Oâng Chà Già.

Không có gì là bí ẩn để cắt nghĩa Lợi Nhuận cao. Lợi nhuận là việc thu vào cái kết quả sau một CHU TRÌNH KHAI THÁC (Cycle d’Exploitation). Một Chu Trình Khai Thác được định nghĩa là từ khi mua sắm nguyên vật liệu, rồi biến chế thành sản phẩm và chấm dứt ở việc bán sản phẩm để thu vào được số thặng dư đối với chi tiêu. Chu trình Khai Thác mang thời gian dài ngắn khác nhau tùy theo ngành nghiệp và sản phẩm. Tỉ dụ Chu trình Khai Thác nông nghiệp như trồng Cà Chua có thể kéo dài 2 tháng, từ khi mua cây con cho đến khi cây lớn ra trái và đem trái đi bán.

Nguyên tắc thu vào lợi nhuận cao và mau là phải rút ngắn CHU TRÌNH KHAI THÁC, hay nói cách khác là TĂNG TỐC ĐỘ QUAY của Chu Trình (Accélération de la Vitesse de Rotation). Chúng ta càng quay mau, thì lợi nhuận càng vào nhiều

Đối với Chu Trình Mua/Bán ở các Thị trường Tiền tệ, Thị trường Tài chánh và Chứng khóan, các Ngân Hàng/Tập đòan Tài Chánh có thể rút rất ngắn lại một Chu Trình thực hiện Thương vụ. Việc thu ngắn Chu trình Thương vụ Tài chánh mỗi ngày mỗi dễ dàng do phương tiện truyền thông điện tử mau chóng. Chỉ trong một tiếng đồng hồ, những Traders có thể hòan thành một Chu trình Thương vụ Tài chánh để thu vào Lợi nhuận.

Nếu Oâng Chà Già trên đây muốn tăng vận tốc Chu trình cho vay của Oâng, Oâng có thể cho vay một ngày hai lần cho hai Bà buôn thúng bán mẹ. Như vậy Lợi nhuận hàng năm của Oâng sẽ tăng gấp đôi mặc dầu Oâng chỉ thu vào có 0.50