
| | | ========================== =================================
DIEN DAN CHINH TRI VIET NAM Dau tranh cho Tu do & Dan chu tai Viet Nam Vietnamese Political Forum Fight for Liberty&Democracy in Vietnam Tribune Politique Vietnamienne Lutte pour la Liberte&Democratie au Vietnam
========================== ================================= |
| | | =============================================================== LOAT BAI QUAN DIEM CHU DE HIEN HANH DANG TIEP TUC KHAI TRIEN =============================================================== |
CHỦ ĐỀ: TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH
Bài 07:
MỨC ĐỘ ÁP DỤNG CÁCH MẠNG BẮC PHI CHO VIỆT NAM
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tê Geneva, 24.02.2011 Web : http://VietTUDAN.net
Tuần trước, chúng tôi viết bài Quan Điểm thứ 6 với đầu đề AI CẬP: ĐƯỜNG ĐI ĐẾN TỰ DO DÂN CHỦ NHIỀU CHƯỚNG NGẠI VÀ DỄ “CHỆCH HƯỚNG “. Việc chệch hướng này có thể do chính giới trẻ mang những ý niệm quá lý tưởng về những chữ Tự do, Dân chủ, Nhân quyền. Cũng có thể chính giới trí thức làm Chính trị trong nước muốn tiến nhanh đến vị trí nắm quyền hành mà đẩy đường đi theo hướng tắt bấp bênh hời hợt. Giới tính toán Chính trị quốc tế vì muốn một sự chuyển tiếp trong trật tự theo quyền lợi của mình mà chỉ trùm lên nguyện vọng của Cách Mạng quần chúng bằng giải quyết Chính trị mau chóng cho yên chuyện.
Trên các Diễn Đàn, trước cao trào Cách Mạng sôi động ở Bắc Phi và Trung Đông, chúng tôi đọc được những bài viết thôi thúc việc đứng lên của Việt Nam. Những bài viết ấy thường nhấn mạnh: BAO GIỜ ĐẾN VIỆT NAM ?
Với bài Quan Điểm thứ 7 tuần này, chúng tôi muốn phần tích những kinh nghiệm từ Bắc Phi và Trung Đông để có thể áp dụng cho Việt Nam, dưới những khía cạnh sau đây:
=> Động lực chính và nguyện vọng căn bản của Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông. => Những bài học nào mà Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông cho chúng ta thấy ? => Áp dụng mức độ nào những bài học từ Bắc Phi và Trung Đông cho Việt Nam ?
Động lực chính và nguyện vọng căn bản của Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông.
Chúng tôi đã nhiều lần phân tích về cái động lực cụ thể và chính yếu làm cho một cá nhân có đủ can đảm – hay đúng hơn liều chết – nổi dậy là cái DẠ DẦY cá nhân đó đói. Khi mà trên 40% dân chúng sống dưới mức nghèo khó với chưa đầy 2 đo-la mỗi ngày, thì khối quần chúng ấy đứng lên đòi quyền sống cho thân xác mình. Trong lúc sờ bụng thấy đói như vậy, họ lại nhìn thấy một thiểu số người cầm quyền giầu nứt khố. Đồng thời họ cũng hiểu rằng đám thiểu số cầm quyền giầu nứt khố này đã cướp bóc sức lực của họ và khai thác tài nguyên quốc gia để làm giầu riêng cho mình. Lòng GHEN TỨC và HẬN THÙ dần dần lớn lên trong người họ đối với đám thiểu số bóc lột kia. Đến một ngày nào đó tâm lý xã hội HẬN THÙ đến tột độ, cộng với DẠ DẦY đói cá nhân đến ngắc ngoải chết, thì khối quần chúng nghèo buộc phải đứng lên đứt khoát chấm dứt thiểu số giầu nứt khố bóc lột kia.
Đó là động lực chính yếu và cụ thể của Cách Mạng đứng lên đạp đổ kẻ đè đầu bóp cổ cướp bóc mình.
Đạp đổ rồi, họ phải xây dựng con đường Cách Mạng đã bắt đầu. Con đường xây dựng Cách Mạng, nếu cho đúng hướng, nghĩa là không “chệch hướng “, thì phải tôn trọng cái nguyện vọng căn bản của quần chúng. Không khó gì để thấy cái nguyện vọng căn bản của quần chúng. Thực vậy, khi DẠ DẦY họ đói mà phải liều chết đứng lên làm Cách Mạng, thì nguyện vọng gần nhất và cấp thiết nhất là phải có cái DẠ DẦY no.
Nếu giới trí thức chính trị quá xa vời với những phạm trù trừu tượng như Tự do, Dân chủ, Nhân quyền để nói rằng đó là nguyện vọng của quần chúng đói, thì quần chúng dễ thất vọng và có thể nổi xùng nói rằng: “Hỗi các ông làm Chính trị ! Các ông nhát như cáy không dám liều chết xuống đường. Bây giờ chúng tôi liều chết đuổi được đám cầm quyền cướp bóc rồi. Các ông nhẩy vào mượn DẠ DẦY đói của chúng tôi để nấu cháo Tự do, Dân chủ, Nhân quyền trừu tượng để các ông xúm lại với nhau húp mà quên cái DẠ DẦY đói của chúng tôi !”
Cuộc Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông là cuộc Cách Mạng DẠ DẦY. Chính yếu là như vậy, còn gọi là Hoa Lài, Hoa Bản Hạ hay Hoa Thối Địt, thì đó là tiếng gọi cho vui nhưng đừng quên cái DẠ DẠ đang đói mà quần chúng cần được thỏa mãn.
Tại sao Tunisie, Ai Cập rồi Libye đuởi được Độc tài rồi, nghĩa là có Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, mà dân chúng lại bỏ Tự do, Dân chủ, Nhân quyền để nhào ra biển sang Liên Âu. Họ ra đi vì lo sợ rằng người ta chỉ nhét vào DẠ DẦY họ mấy chữ trừu tượng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền thì không làm cho họ no được.
Phái đoàn Ngoại giao Liên Âu sang thăm Ai Cập mới đây và hứa gbíup USD.1 tỉ cho Ai Cập, đó là hiểu đúng nguyện vọng căn bản của Cách Mạng. Vua của Saudi Arabia trở về nước và hứa bỏ ra USD.35 tỉ để tăng lương cho công chức và nâng cấp sống cho tuổi trẻ, đó là Vua đã hiểu cái nguyện vọng căn bản của Cách Mạng vậy.
Những bài học nào mà Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông cho chúng ta thấy ?
Nhìn cụ thể cái động lực chính và nguyện vọng căn bản của Cách Mạng tại Bắc Phi và Trung Đông như trên, chúng ta mới thấy những bài học để áp dụng cho cuộc nổi dậy và lập trường xây dựng Cách Mạng ở Việt Nam. Nhưng bài học ấy gồm những điểm sau đây:
1) Đây là cuộc Cách Mạng chính yếu của dân thành thị thất nghiệp và bụng đói. Đa số ở vào lớp tuổi trẻ và trung niên. Với 2 đo-la mỗi ngày mà phải sống ở thành thị, thì cái bụng đói càng ray rứt. Thực vậy, đất đai phần lớn là cát sa mạc, nên họ không thể sống với nông nghiệp. Nếu ở vùng quê nông nghiệp, thì với 2 đo-la mỗi ngày, họ có thể giải quyết bụng đói như Cụ NGUYỄN KHUYẾN vỗ bụng rau bình bịch. Nhưng ở thành thị, thì không có rau mà vỗ. Đó là tình trạng bụng đói của dân Bắc Phi và Trung đông.
2) Thất nghiệp, lớp tuổi trẻ và trung lưu có nhiều thời giờ dành cho máy Điện tử và Internet. Những nhà độc tài cấm tự do truyền thông báo chí, thì lớp người thất nghiệp này sử dụng Internet mà Nhà nuớc độc tài khó kiểm soát hết được. Cách Mạng Điện thoại Di động đóng phần không nhỏ cho cuộc hẹn hò nổi dậy, nhất nữa họ đã có sự quy tụ thường xuyên tại thành thị gần kề nhau để tụ họp lại. Không cần phải xa xôi như Bác Tám từ đồng nội lên Sài gòn.
3) Lòng HẬN THÙ của tâm lý xã hội đã lên đến cực độ đối với những nhà độc tài và gia đình. Việc khai thác nguồn dầu lửa cho túi riêng nằm sờ sờ ở sa mạc mà ai cũng nhìn thấy mỗi ngày. Nó khác với việc khai thác hầm mỏ ở rừng núi kín đáo như trường hợp ở Việt Nam. Những nhà độc tài tích luỹ tài sản kếch xù tại Bắc Phi và Trung Đông lại sống lâu năm, kéo dài tối thiểu từ 20 năm. Trong khi ấy, tại Việt Nam, đảng Cộng sản kéo dài, nhưng những Lãnh tụ thay đổi nhau mà tham nhũng vì vậy khó nhìn thấy sự tích lũy tài sản kếch xù đập vào mắt quần chúng. Thời gian lâu năm của một nhà độc tài tích lũy tài sản cho riêng mình và gia đình làm hội tụ mạnh lòng HẬN THÙ vào một người và một gia đình. Đó là điểm cắt nghĩa lòng HẬN THÙ của quần chúng Bắc Phi và Trung Đông thành cao độ tột bực.
4) Cái lòng HẬN THÙ xã hội tột bực này khiến Lập trường của Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông dứt khoát:
* Họ phải đạp đổ hẳn kẻ độc tài, ngay cả không chấp nhận bè đảng của nhà độc tài liên hệ đến việc đứng chung với họ để cùng làm cuộc chuyển tiếp. * Tất nhiên không chấp nhận chiêu bài “đối thoại “ hay “hòa hợp hòa giải “ để chi đi đến thêm bớt vào chế độ cũ một ít thay đổi gọi là CẢI CÁCH. * Quần chúng đói khổ làm Cách Mạng nhất thiết phải đưa ra xét xử những nhà độc tài và đòi lại những tài sản mà những nhà độc tài này đã bóc lột dân chúng và khai thác tài nguyên quốc gia (dầu lửa và du lịch)
Áp dụng mức độ nào những bài học từ Bắc Phi và Trung Đông cho Việt Nam ?
Sau những chục năm trường, đảng CSVN độc tài và độc quyền bóc lột nhân lực, khai thác tài nguyên quốc gia để làm của riêng giầu nứt khố. Hố sâu giầu nghèo mỗi ngày mỗi khơi rộng. Quần chúng nghèo khó, thêm khổ cực hơn nữa vì lạm phát, vật gia tăng vọt, đồng tiền phá giá. Quần chúng mang DẠ DẦY đói, động lực chính yếu cho nổi dậy. Đồng thời quần chúng Việt Nam chứng kiến nhóm đảng Fafia CSVN giầu lên vì tham nhũng. Những chứng kiến này đã tạo được lòng HẬN THÙ của quần chúng đối với nhóm đảng Mafia CSVN. Việt Nam đã có động lực chính yếu DẠ DÀY đói và tâm lý xã hội HẬN THÙ để nổi dậy dứt bỏ Cơ chế CSVN hiện hành-
Cũng như những bài viết trong thời gian này trên các Diễn Đàn, những câu câu hỏi mà chúng tôi đặt ra : (i) Lớp người nào khởi đầu ? (ii) Khả năng sử dụng truyền thông Internet ra sao ? (iii) Vai trò Hải ngoại đóng góp gì ? (iv) Lập trường xây dựng Cách mạng dứt khoát ra sao ?
(i) Lớp người nào khởi đầu ?
Đả từ nhiều năm nay, khi Phong trào Dân Oan nổi dậy, chúng tôi đã luôn luôn nghĩ rằng chỉ có những người Dân Oan này mới đủ can đảm không sợ chết đứng lên đòi quyền sống. Nhưng trong thời Phong trào Dân Oan nổi dậy, thì cũng có Phong trào Dân chủ. Chúng tôi đã kêu gọi Phong trào trí thức Dân chủ hãy đứng chung với Phong trào Dân Oan để tổ chức nổi dậy. Nhưng Phong trào Dân chủ, có lẽ quá ngưỡng vọng vào thế “khuyến khích “ của Hoa kỳ, mà cứ ngày đêm rêu rao những từ ngữ trừu tượng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền xa rời với cuộc đấu tranh cụ thể của Dân Oan cho quyền DẠ DẦY (Stomach Right). Những phạm trù trí thức trừu tượng này của Phong trào Dân chủ không đủ sức kéo được quần chúng xuống đường. Quần chúng nghèo phải có cái gì cụ thể, gần kề họ, thì họ mới tin tưởng.
Tiếp theo Phong trào Dân Oan này, Phong trào Giáo Oan Tòa Khâm sứ Hà Nội, Giáo xứ Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm… nổi dậy đòi CÔNG LÝ. Họ đứng lên vì những miếng đất cụ thể và thấy những tham nhũng bất công của CSVN đối với những miếng đất ấy. Thêm vào đó, đây là việc đứng lên của những Giáo dân mang Đức Tin và và không ngại sợ bạo lực đàn áp, chống lại Đức Tin của họ. Chính lẽ cuộc Cách Mạng cứu nguy Dân Tộc phải lớn lên từ những Giáo dân này. Nhưng rất tiếc, một số Lãnh đạo Giáo gian quốc doanh đã tung ra chiêu bài “đối thoại “ làm tay sai cho CSVN, nhất là tâu trình thất lợi với Vatican để Vatican can thiệp vào loại trừ TGM NGÔ QUANG KIỆT để đặt tại Hà Nội một TGM quốc doanh NGUYỄN VĂN NHƠN. Đây là việc làm tòng phạm với tội ác của CSVN để dìm xuống một ngòi Cách Mạng cứu nguy Dân Tộc.
Việc làm phục vụ CSVN của cánh Lãnh đạo Tôn giáo như trên không những làm hại cho Đức Tin Giáo dân, mà còn là việc phá hoại sự đứng dậy để cứu nguy Dân Tộc khỏi ách độc tài CSVN.
Những cuộc Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông ngày này chứng minh cho đám ngợm giáo gian biết rằng lời kêu gọi đối thoại của họ chỉ làm lợi khí để độc tài tiếp tục cướp bóc bất công đối với Dân chúng.
Dầu sao Tinh Thần ĐỒNG CHIÊM đòi CÔNG LÝ của khối Công giáo vẫn còn đó và khối Dân Oan mất nhà đất vẫn mang trong lòng HẬN THÙ.
Lực lượng nổi dậy tại Việt Nam phải dựa vào Tinh thần ĐỒNG CHIÊM của khối Giáo dân Công giáo và vào Khối Dân Oan vẫn mang HẬN THÙ.
Chúng tôi ước ao rằng nhóm trí thức Chính trị đừng nổi dậy bằng miệng với những ý niệm trừu tượng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền xa vời với động lực nổi dậy chính yếu là DẠ DẦY và tinh thần chống BẤT CÔNG mà quần chúng thấy cụ thể trước mắt.
(ii) Khả năng xử dụng truyền thông Internet ra sao ?
Chúng tôi thấy rằng cái khả năng này, giới trẻ Việt Nam có thừa để tổ chức một hệ thống truyền thông mà chính CSVN khó lòng ngăn cản được. Làm thế nào mà hệ thống truyền thông của giới trẻ không phải chỉ với nhau mà còn hội nhập vào Lực lượng Dân Oan và khối Giáo dân Công giáo để điều hợp cho có Phong trào liên kết. Giới trẻ giữ phần truyền thông điều hợp, nhưng Lực lượng Dân Oan và Giáo dân Công giáo mang sức mạnh đứng lên. Khối Giáo dân Công giáo cũng là những công dân và có nhiệm vụ cứu nước.
(iii) Vai trò Hải ngoại đóng góp gì ?
Trước đây, người Việt Hải ngoại dường như chú trọng vào việc vận động dư luận và sự yểm trợ của một số Chính quyền nước ngoài. Nhưng thực tế cho thấy rằng nước ngoài dễ cho chúng ta những hy vọng thoa dịu suông, mà họ nghĩ về quyền lợi của nước họ trước hết. Chúng tôi thường viết rằng Dân tộc mình đau khổ thì hãy tin tưởng trước vào chính mình để tự cứu. Không ai thương mình bằng chính mình thương mình. Nhiều khi nước ngoài một đàng nói Nhân quyền để an ủi chúng ta, nhưng một đàng thì bắt tay với độc tài vì quyền lợi của nước họ.
Chúng tôi thấy rằng có hai việc cụ thể mà Hải ngoại có thể hỗ trợ cho Quốc nội:
=> Các Diễn Đàn hay cá nhân Việt kiều tìm mọi cách để phổ biến Thông tin Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông về cho những người thân thuộc hay các Tổ chức tại Việt Nam. Việt kiều tập trung mọi nỗ lực tấn công thông tin truyền thông về Việt Nam.
=> Việc hỗ trợ thứ hai cụ thể là Truy tìm Tài sản mà những Lãnh đạo CSVN biển thủ chuyển ra cất giấu tại nước ngoài. Phải phục hồi những tài sản bất chính này về cho Quốc gia.
(iv) Lập trường xây dựng Cách mạng dứt khoát ra sao ?
Kinh nghiệm những chục năm trường phản bội của CSVN không cho phép chúng ta tin tưởng vào sự đứng chung với đảng Cộng sản VN nữa. Vì vậy, khi cuộc Cách Mạng nổi dậy, chúng ta dứt khoát:
=> Lật đổ hẳn Chế độ CSVN hiện hành
=> Không thể nói đến “đối thoại “ vì CSVN chỉ tìm mưu “đối thọi “ chúng ta mà thôi
=> Không có chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp mà những người làm Chính trị thời cơ đưa ra để nhằm nhẩy bàn độc.
=> Xây dựng DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ để có những điều kiện đi đến DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRỊ thực sự lâu dài và bền vững.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.02.2011 Web: http://VietTUDAN.net
| | | |
CHỦ ĐỀ: TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH
Bài 06:
AI CẬP: ĐƯỜNG ĐI ĐẾN TỰ DO DÂN CHỦ NHIỀU CHƯỚNG NGẠI VÀ DỄ “CHỆCH HƯỚNG“
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tê Geneva, 17.02.2011 Web : http://VietTUDAN.net
Ben ALI của Tunisie đã tự động tẩu thoát. Hosni MUBARAK cố thủ tính toán ngồi tại quyền trong một thời gian nữa. Dân chúng Tunisie nhìn thấy những chướng ngại trên con đường đi tới Tự do Dân chủ thực sự nếu những người cũ và dư đảng của Ben ALI giữ trách nhiệm chuyển tiếp chế độ trong “trật tự“. Tại Ai Cập, hai ngày cuối của Hosni MUBARAK cho phép giới bình luận nhận định về những chướng ngại mà cuộc Các h Mạng phải giải quyết với nhiều hy sinh nữa để có thể đạt tới một mức độ Tự do Dân chủ khả dĩ làm yên lòng dân chúng xuống đường trong 18 ngày.
Nhưng dầu sao bức tường thành ngăn chặn con đường xây dựng tương lai đã bị Cách Mạng đánh sập xuống. Ben ALI tẩu thoát, dân Tunixie hô to: “LA TUNISIE EST LIBRE“. Hosni MUBARAK xuống chức, dân Ai Cập giơ cao lá cờ : «EGYPT IS FREE« . Thế giới hoan nghênh sự thành công lớn lao của hai dân tộc đã đạp đổ được hai bức tường ngăn chặn con đường xây dựng TỰ DO (Liberté/ Freedom) tương lai mặc dù vẫn còn những chướng ngại. Báo Đài đã nói nhiều và quá đẩy đủ về sự thành công của CÁCH MẠNG cho đến giai đoạn mà dân hai nước vui mừng ca vang : « La Tunisie est libre « và « Egypt is free « . Chúng tôi không viết về những diễn tiến Cách Mạng cho đến giai đoạn này nữa vì có viết cũng bằng thừa.
Điều mà chúng tôi muốn phân tích trong bài này là CON ĐƯỜNG NHIỀU CHƯỚNG NGẠI ĐỂ ĐẠT ĐẾN TỰ DO DÂN CHỦ THỰC SỰ. Chúng tôi đã viết trong tuần trước hai bài nói về cái thực chất thúc đẩy làm Cách Mạng và cũng là cái đòi hỏi cụ thể của Cách Mạng. Chúng tôi cũng nhìn thấy những can thiệp của Chính giới quốc tế và của những nhà làm Chính trị trong nước làm cho cuộc Cách Mạng trở thành phức tạp và có thể đi « chệch hướng« , đó là chưa kể những chướng ngại sẵn có trên con đường dài đạt Tự do, Dân chủ đích thực. Bàn về con đường này, chúng tôi đề cập đến những khía cạnh sau đây :
=> Nhận định về hai ngày cuối của TT.Hosni MUBARAK => Con đường đạt Tự do Dân chủ thực sự dễ «chệch hướng« => Con đường còn dài và những chướng ngại sẵn có => Kết luận ngắn : áp dụng bài học cho Việt Nam
Nhận định về hai ngày cuối của TT.Hosni MUBARAK
Chúng tôi theo sát Báo Đài về hai ngày cuối của TT.Hosni MUBARAK : chiều tối thứ Năm 10.02.2011 và chiều thứ Sáu 11.02.2011. Chúng tôi thay đổi ghi lại vào băng nhựa những Thông Tin của Đài Truyền Hình CNN và Đài Truyền Hình EuroNews.
Chiều tối thứ Năm 10.02.2011
Ngay từ buổi chiều 10.02.2011, trên xe về nhà, tôi nghe Radio và biết tin rằng tối nay TT.Hosni MUBARAK sẽ đọc trên Đài Truyền Hình Ai Cập bài diễn văn quan trọng trước quốc dân. Người ta nghĩ đây là bài diễn văn cuối cùng từ chức.
Tối đến dân chúng kéo về Công trường El Tahrir (Le Caire) mỗi lúc mỗi đông. Họ đinh ninh rằng tối nay TT.Hosni MUBARAK sẽ tuyên bố từ chức. Các Đài CNN và EuroNews cũng trưng dẫn nhiều nguồn tin để dự đoán nội dung bài diễn văn từ chức như vậy. Nhưng thời gian chờ đợi bài diễn văn kéo dài bất thường làm nhiều người không đủ kiên nhẫn và bất bình. Nhưng rồi mãi tới khuya, người ta thấy TT.Hosni MUBARAK xuất hiện và mọi người chỉ đợi ông tuyên bố từ chức. Khối người khổng lồ biểu tình lặng yên để chờ đợi. Hai đài CNN và Euro News cũng ngưng bình luận để lắng nghe. Nhưng rồi mãi đến cuối bài diễn văn, vẫn chưa thấy câu ông tuyên bố từ chức mà lại thấy ông tuyên bố : « ông sinh ra tại Ai Cập và muốn chết tại đây « . Oâng giao một số quyền cho Phó Tổng Thống mà chính ông chỉ định. Bài diễn văn chấm dứt. Mọi người bàng hoàng trong một tâm lý bị cắt đứt những hy vọng trong lòng. Khối người biểu tình từ ngưỡng vọng, rồi thất vọng và đi đến nổi xùng.
Đài Euro News mời ba người đến tham dự cuộc bình luận : Chủ nhiệm tờ LE MONDE DIPLOMATIQUE, một Chuyên viên Nghiên cứu về Thế giới A-rập và một nữ Luật sư trẻ thuộc nhóm đối lập của Oâng El Baradei. Chúng tôi lưu ý nhất đến những nhận định vắn gọn, thực tế vào thẳng vấn đề của nữ Luật sư đối lập. Hỏi về tại sao Hosni MUBARAK già 82 tuổi, bệnh hoạn, vẫn cố níu lấy quyền hành, nữ Luật sư trẻ không ngần ngại nhận định :
* MUBARAK và Gia đình còn nhiều tài sản trong nước. Oâng muốn có nhiều thời gian tại quyền để tiêu tán tài sản ra nước ngoài. * Oâng mật vụ Phó Tổng thống được trao quyền làm cuộc chuyển tiếp. Oâng này rất trung thành với Mubarak và không làm phiền toái Mubarak trong việc tiêu tán tài sản.
Tờ báo The Guardian của Anh tuần này cũng cắt nghĩa cùng một ý tưởng như vậy về việc trì hoãn từ chức của TT.Mubarak. Tờ báo viết : « Tài sản chưa chuyển đi cất dấu ở ngoại quốc, chắc còn một số, trong kho, ngân hàng, hay các công ty ở trong nước Ai cập. Việc TT Mubarak trì hoãn ra đi viện lẽ chuyển tiếp chánh quyền suông sẽ êm thấm có thể hiều là hoãn binh chi kế của Ông để “thu vén cuối“. Một số báo cáo cho biết ông Mubarak đã dùng 18 ngày hoãn binh trước khi từ chức để giấu tài sản cá nhân. » Tờ báo còn tiếp : »Ông Gamal Mubarak quản lý một công ty đầu tư tại London và có nghi ngờ công ty này đã giúp chuyển tiền của gia đình tới những nơi bí mật. »
Nữ Luật sư trẻ còn nói thêm rằng nếu Gia đình Mubarak thu tài sản nhiều tỉ như vậy, thì Phó Tổng thống cũng như cánh Tướng Lãnh già cũng phải thu những tiền tỉ. Không phải một mình Mubarak trì hoãn mà còn cả cánh đã cùng chia nhau ăn cướp. Thực vậy, Mubarak không thể ăn một mình mà được ngồi yên trong 30 năm trường. Đây là lẽ đương nhiên. Của bất nhân, nuốt một mình không xuôi. Chủ ăn thì tớ cũng có miếng.
Về việc cùng ăn này, tôi nhớ lại vụ TT.MARCOS. Tháng 3 năm 2000, Oâng Norikata MAMIYA, Chủ tịch Công ty OKINAWA TOSHI RESORT KAIHATSU Co.Ltd., dẫn một phái đoàn sang Geneva cùng với Oâng Norio KAMIYA đại diện Ngân Hàng OKINAWA BANK. Các Oâng trao cho tôi một Giấy Chứng Nhận Vàng thuộc quyền của Bà Loretta ESTRELLA, vợ của Oâng Pedro LAUREL. Oâng này trước đây là Bộ trưởng Phủ Tổng Thống của TT.MARCOS. Họ nhờ tôi kiếm Tài chánh dựa trên Gold Deposit như Collateral. Tôi nói với Oâng Chủ tịch người Nhật là tại sao có nhiều vàng như vậy. Oâng cưới và trả lời : « Tổng Thống có nhiều tiền, thì Bộ trưởng Phủ Tổng thống tất nhiên cũng phải có chứ. »
Chủ Mubarak và bè đảng cùng chia nhau làm giầu đã được Tờ The Guardian khẳng định :
« Báo Anh cho rằng giới quân nhân Ai Cập kiểm soát 15 phần trăm nền kinh tế trị giá 270 tỷ đô la của nước này.
Ngoài các lãnh địa riêng chỉ có các sĩ quan cao cấp hưởng thụ, các thương vụ của giới quân nhân trải rộng từ xuất nhập khẩu, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch và nhất là hàng không.
Hãng hàng không quốc gia Ai Cập AirEgypt được cho là "bến đỗ an toàn" của các cựu tướng lĩnh sau khi thôi binh nghiệp. »
Như vậy thời gian làm « Chuyển đổi Chính trị có trật tự « do Phó Tổng thống trách nhiệm hay do Hội đồng Quân lực tối cao cũng là thời gian trì hoãn cho phép « an bài « tài sản.
Chiều thứ Sáu 11.02.2011, ngày cuối cùng của Mubarak
Đêm thứ Năm 10.02.2011, tôi cũng thất vọng như những người biểu tình tại Công trường El Tahrir (Le Caire). Chiều thứ Sáu, tôi lên Biel/Bienne cuối tuần, cách Geneva 150 cây số. Trên xe, Radio báo cho biết là sắp có thông tin quan trọng từ Phó Tổng thống trên Dài Truyền Hình. Đài Radio cũng cho biết là có lẽ TT.Hosni MUBARAK đã rời khỏi Thủ đô Le Caire.
Vừa vào đến nhà tại Biel/Bienne vào khoảng 17g30, mở Truyền Hình, Phó Tổng Thống hiện ra và tuyên bố hai điều : * Tổng Thống Hosni MUBARAK từ chức * Quyền hành được chuyển cho Hội đồng Tối cao Quân Lực. Hội đồng này điều hành việc « Chuyển tiếp Chính trị trong trật tự »
Thế là Hosni Mubarak chấm dứt 30 năm độc tài. Các Đài Truyền Hình chiếu lên hình ảnh vui mừng của dân Ai Cập với những chữ « EGYPT IS FREE « .
Hôm trước Mubarak khẳng định sẽ chết trên đất Ai Cập và bám chặt lấy quyền hành lúc này. Hôm nay ông châm dứt quyền hành độc tài 30 năm và đã ra đi khỏi Le Caire.
Động lực nào đã đưa đến quyết định nhanh chóng ấy ? Tối nhớ lại đêm hôm qua, Đài Euro News chiếu lên hình ảnh một Sĩ quan trẻ Quân đội đã đứng giữa đoàn người biểu tình và công khai đả kích Tướng Không quân Mubarak. Nữ Luật sư trẻ đối lập đã nhận định ngay rằng lớp Sĩ quan trẻ được huấn luyện bởi Hoa kỳ và họ chưa có dịp thâu được tài sản như lớp Sĩ quan già. Họ đứng hẳn về phía dân. Nếu có cuộc Đảo chánh, thì chính lớp Sĩ quan trẻ này sẽ làm đảo chánh chống lại lớp Sĩ quan già.
Hôm nay, tôi suy nghĩ nhân lời nhận định hôm qua của nữ Luật sư trẻ. Có lẽ Bộ Quốc phòng Mỹ, qua lớp Sĩ quan trẻ này làm áp lực lên lớp Sĩ quan già đòi TT.Hosni MUBARAK phải từ chức và trao quyền cho Quân đội.
Con đường đạt Tự do Dân chủ thực sự dễ «chệch hướng«
Nói đến « chệch hướng « thì trước hết phải định rõ động lực nào đã đẩy quần chúng đến Cách Mạng và xét xem việc đòi hỏi của Cách Mạng có được thỏa mãn hay không. Con đường đạt được đòi hỏi có những chướng ngại phải vượt qua ra sao.
Động lực và đòi hỏi của Cách Mạng
Như chúng tôi đã nhắc đi nhắc lại trong các bài viết trước là chúng tôi không muốn gọi đây là cuộc Cách Mạng Hoa Lài cho thơm tho văn vẻ, mà chúng tôi gọi đây là cuộc Cách Mạng DẠ DẦY dù có vẻ quê mùa. Nhưng đó là thực chất, đó là cái động lực chính yếu để quần chúng, không có tới 2 đo-la sống mỗi ngày, đứng lên làm Cách Mạng. Các Đài Truyền Hình và Báo Chí vẫn còn nhắc tới hôm nay rõ rệt rằng 40% dân chúng Ai Cập sống bên dưới mức gọi là nghèo khổ.
Động lực chính yếu đưa đến cuộc nổi dậy có hai điều :
=> Thứ nhất : DẠ DẦY cá nhân đói. Dạ dầy đói thì phải đứng lên đòi quyền sống thân xác, nếu không thì thân xác mình chết. Dạ Dầy là thuộc cá nhân. Không có Dạ Dầy xã hội. Mỗi cá nhân có BỤNG ĐÓI thì tự động đứng lên đòi miếng ăn, chứ không có ai thúc giục gì cá nhân đó cả. Nếu nói điêu ngoa như CSVN rằng đó là «thế lực ngoại lai thúc giục « , thì lấy dùi đục giộng vào họng cho chúng câm đi. Cộng lại những cá nhân mang BỤNG ĐÓI này thì có tới 40% dân chúng => Thứ hai : Khi bụng mình đói mà hàng ngày chứng kiến thiểu số những người cầm quyền cướp bóc trên đầu mình và biển thủ tài sản chung làm của riêng giầu nứt khố, thì tự nhiên lòng HẬN THÙ lớn dần. Người ta gọi đây là HẬN THÙ xã hội. Bụng một cá nhân đói, thì không chuyển sang cho người khác biết được, nhưng lòng HẬN THÙ có thể truyền thông cho nhau. Vì vậy gọi là HẬN THÙ xã hội
Cái BỤNG ĐÓI cá nhân làm cho mỗi người tự động đứng lên. Cái HẬN THÙ xã hội làm cho cả xã hội quy mũi dùi vào nhóm người đã gây ra nguyên cớ của HẬN THÙ
Mang hai động lực chính yếu nổi dậy như vậy, thì đòi hỏi của Cách Mạng là phải thỏa mãn hai cái động lực trên đây, nghĩa là DẠ DẦY cá nhân có đồ ăn và những kẻ tạo ra HẬN THÙ xã hội phải biến đi cho khuất mắt. Chính vì vậy mà dân chúng Tunisie, mặc dầu Ben ALI đã biến đi, lòng HẬN THÙ xã hộiï vẫn đòi hỏi đồng bọn Ben ALI không được lảng vảng vào Chính quyền trước mặt dân. Tại Ai Cập, vì lòng HẬN THÙ xã hội, mà dân chúng nhất thiết đòi Hosni MUBARAK phải từ chức không được trì hõa. Họ không tin tưởng vào Phó Tổng thống, đồ đệ trung thành của Mubarak. Quyền hành lúc này trong tay Quân đội, nhưng sự hiện diện của lớp Sĩ quan già có thể sẽ gây những chướng ngại cho Cách Mạng.
Nếu chúng ta quên đi hai động lực cụ thể này, mà chỉ gọi đây là cuộc đòi hỏi Tự do Dân chủ một cách trừu tượng, thì cuộc Cách Mạng dễ đi « chệch hướng « . Mà dường như Hội đồng Quân lực Tối cao vô tình hay hữu ý mà chỉ nói đến « Chuyển tiếp Chính trị trong trật tự« sang những phạm trù trừu tượng Tự do Dân chủ. Chương trình chuyển tiếp của Hội đồng Quân lực là Bãi bỏ Quốc Hội hiện hành, Sửa đổi Hiến pháp, Tổ chức Bầu cử Tự do. Những việc làm này không trực tiếp thỏa mãn đòi hỏi cụ thể và căn bản của Cách Mạng là chuyển cái Bụng ĐÓI của dân nghèo thành Bụng NO. Dân nghèo đói bụng có lẽ không quan tâm đến việc bải bỏ Quốc Hội hay Bầu cử Tổng thống bởi vì họ có bao giờ hy vọng ra để tranh cử Nghị viên Quốc Hội hay Tổng thống đâu. Đó là việc làm chuyển tiếp cho tầng lớp làm Chính trị với Bụng đã NO đủ.
Tự do Dân chủ thực sự
Nếu quên đi cái động lực căn bản là DẠ DẦY để chỉ nhắc tới Tự do Dân chủ, thì cũng phải định rõ cái Tự do Dân chủ thực sự chứ đừng lấy những phạm trù trừu tượng để phủ mêng mang lên đầu dân mà chính dân không cảm thấy Tự do Dân chủ nằm đích thực ở chỗ nào.
Chúng tôi thường nói rằng muốn thấy mình có Tự do thực sự thì mình phải có điều kiện độc lập để quyết làm hay không làm một điều gì. Nói đến điều kiện độc lập, trước tiên phải nói đến điều kiện Kinh tế. Bàn về điểm này, chúng tôi thường lấy tỉ dụ một Công ty Kinh tế. Một Công ty Kinh tế luôn luôn phải đặt nặng vấn đề tạo TỰ LẬP TÀI CHÁNH (Autonomie financìere). Khi không có tự lập tài chánh, thì Công ty không có độc lập để quyết định Mục đích và những Chương trình hoạt động. Khi Công ty chứa đầy những Tín dụng Ngân Hàng, thì khó lòng quyết định độc lập cách sinh hoạt được.
Cũng vậy, một cá nhân nghèo khổ, BỤNG ĐÓI veo, thì khó lòng có độc lập, Tự do nói thẳng thắn trước một người giầu mà mình muốn cậy nhờ họ giúp đỡ. Câu nói “Cái khó bó cái Khôn “là trong ý nghĩa mất Tự do và Độc lập khi phải phát biểu ra trung thực với cái Khôn mà mình thấy tỏ tường.
Tại Geneva, tôi có gặp một ít người Việt làm tại Liên Hiệp Quốc. Trước một số vấn đề trái khoáy liên hệ đến CSVN, tôi đề nghị họ lên tiếng, nhưng họ không dám làm vì sợ động chạm đến việc làm tại Liên Hiệp quốc. Họ mất độc lập và mất Tự do luôn.
Chúng tôi cũng có thể trưng dẫn chứng cớ Lịch sử Tự do, Dân chủ và Độc lập khi mà điều kiện Kinh tế để thực hiện chưa được sửa soạn cho đủ. Phong trào các Thuộc địa đứng lên dành Độc Lập như đồng loạt xẩy ra tại Á châu, Phi châu và Nam Mỹ. Những cuộc nổi dậy này được hướng dẫn bởi những nhà Trí thức đã được hấp thụ những phạm trù cao đẹp Tự do, Dân chủ, Độc lập từ những Đại Học nổi danh ở Mẫu quốc như Sorbonne, Oxford, Cambridge. Sau khi du học, họ trở về Thuộc địa và hướng dẫn cuộc nổi dậy dành Độc Lập. Dành lại Độc Lập rồi, một Chính quyền DÂN SỰ được thiết lập và chuyển đạt cho dân chúng Lý tưởng Tự do, Dân chủ và Độc Lập như họ đã được hấp thụ tại những Đại Học long danh Tây phương. Các nhà Sử học quan sát thấy sau một thời gian trung bình chừng 5 năm, những cuộc Đảo chính do Quân đội đứng lên lật đổ Chính quyền Dân sự để thiết lập Chính quyền Quân sự và nối lại liên hệ với Mẫu quốc đã dành Độc Lập cho Thuộc địa trước đây. Lý do của thay đổi đồng loạt này là những phạm trù Tự do, Dân chủ và Độc lập được mang về mà chưa sửa soạn điều kiện Kinh tế khả dĩ cho phép thực hiện.
Vì vậy vấn đề Tự do Dân chủ thực sự phải có điều kiện độc lập về Kinh tế. Chính vì vậy, nếu chỉ nói Tự do Dân chủ trừu tượng mà không lo trước hết về cái BỤNG ĐÓI của người dân để họ có độc lập về cuộc sống, thì chính họ cũng khó lòng thực hiện Tự do Dân chủ thực sự.
Nếu thực tình muốn cho người dân có được Tự do Dân chủ thực sự, thì phải làm cho họ có điều kiện tương đối độc lập về cuộc sống vật chất. Quan tâm đến điều này trước tiên, chúng ta mới đi đúng nguyện vọng của Cách Mạng, nghĩa là không sử dung những phạm trù Tự do Dân chủ trừu tượng mà làm “chệch hướng “ Cách Mạng.
Tính toán Chính trị quốc tế dễ làm “chệc hướng “ thêm
Người dân Ai Cập đứng lên làm Cách Mạng là tự họ và cho, không bị xúi giục bởi hay phục vụ cho một quyền lợi nào ngoại quốc. Nhưng Ai Cập lại nằm ở một vị trí đặc biệt căng thẳng giữa của Trung đông và va chạm Hồi giáo với Tây phương. Giới Chính trị quốc tế tính toán quyền lới cho nước mình hay cho khối của mình. Họ tìm giải quyết những vấn đề khác với những động lực chính làm quần chúng Ai Cập nổi dậy. Thậm chí những vấn đề này còn phải bắt dân Ai Cập phải hy sinh cực khổ nữa. Thực vậy, Hoa kỳ và Liên Âu quên đi động lực chính nổi dậy của quần chúng Ai Cập, mà chỉ quan tâm chính yếu đến những việc bảo vệ cho chính mình như sau :
* Lo sợ những thay đổi thất lợi chuyên chở qua Kênh Suez * Lo sợ thay đổi chính sách của Ai Cập đối với Do Thái mà mình bảo vệ * Lo sợ một Chính quyền theo Hồi giáo kiểu Iran tại Ai Cập
Chính vì những lo sợ này mà Hoa kỳ và Liên Âu không tích cực đi vào những giải quyết căn bản cho cuộc Cách Mạng Dạ Dầy của quần chúng Ai Cập. Thậm chí Liên Âu và Hoa kỳ có thể vẫn duy trì những chế độ độc tài để giữ « Trật Tự « , nghĩa là kềm kẹp dân chúng, nhất là Hồi Giáo, không chống lại mình.
Chủ trương ích kỷ này của Liên Âu và Hoa kỳ tất nhiên không giải quyết động lực chính yếu và chính đáng của quần chúng nổi dậy là DẠ DẦY và HẬN THÙ đối với kẻ bóc lột. Khi động lực chính yếu hiện nay của dân chúng không được giải quyết cụ thể, mà chỉ dùng những mỹ từ trừu tượng để bao che chủ trương ích kỷ của mình, thì cái « Trật Tự « chỉ là tạm thời.
Những tính toán quyền lợi cho Chính trị quốc tế dễ khiến cuộc Cách Mạng đi “chệch hướng “, nghĩa là dân chúng Ai Cập phải cực nhọc nữa trên đường tiến đúng theo Mục đích mà động lực Cách Mạng đã thúc đẩy họ đứng lên trong đổ máu.
Con đường còn dài và những chướng ngại sẵn có
Hội đồng Quân lực Tối cao của Ai Cập giữ nhiệm vụ “Chuyển tiếp Chính trị trong trật tự“ để gọi là Thể chế Tự do Dân chủ, có thể đẩy mau chóng từ nay đến tháng 9. Nhưng đó là Tự do Dân chủ với những phạm trù trừu tượng mà quần chúng đói nghèo khó được hưởng cụ thể.
Con đường thực hiện Tự do Dân chủ thực sự còn dài bởi lẽ những điều kiện để thực hiện Tự do Dân chủ thực sự thuộc phạm vi Kinh tế không thể một sớm một chiều mà tạo ra được. Tuy dài, nhưng phải bắt đầu ngay để, với kiên nhẫn, mà dân tuần tự đi tới. Điều mà chúng tôi thấy lo ngại cho con đường dài này của Ai Cập, đó là những chướng ngại phải vượt qua không dễ dàng. Những chướng ngại này thuộc lãnh vực Kinh tế.
=> Chướng ngại thứ nhất: Đó là nền Kinh tế Ai Cập trải qua một thời kỳ dài mà tài sản quy tụ vào một thiểu số giầu nứt khố. Tài sản quy tụ vào Gia đình Mubarak, lớp Tướng tá già thân cận và những người thuộc đảng của Mubarak. Còn dân chúng, 40%, sống bên dưới mức nghèo khổ. Làm thế nào việc phân phối tài sản dân dần bớt hố sâu giầu nghèo từ hai thái cực.
=> Chướng ngại thứ hai: Lãnh đạo quyền lực Quốc gia hiện giờ là trong tây Quân lực mà lớp Sĩ quan lớn tuổi nắm những lãnh vực sinh hoạt Kinh tế chính như Tờ The Guardian của Anh viết:
« Báo Anh cho rằng giới quân nhân Ai Cập kiểm soát 15 phần trăm nền kinh tế trị giá 270 tỷ đô la của nước này.
Ngoài các lãnh địa riêng chỉ có các sĩ quan cao cấp hưởng thụ, các thương vụ của giới quân nhân trải rộng từ xuất nhập khẩu, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch và nhất là hàng không.
Hãng hàng không quốc gia Ai Cập AirEgypt được cho là "bến đỗ an toàn" của các cựu tướng lĩnh sau khi thôi binh nghiệp. »
Các Lãnh đạo quân đội có thể vì bảo vệ quyền lợi Kinh tế của mình mà xen lấn giữ luôn quyền lực Chính trị, không tạo điều kiện cho dân thực hiện cụ thể Tự do Dân chủ.
=> Chướng ngại thứ ba: những nhà đầu tư nước ngoài rất thích làm việc với những chế độ độc tài nhận tham nhũng. Chỉ cần cho tham nhũng đỡ tốn kém, tư bản ngoại lai sử dụng độc tài để bịt miệng và khai thách nhân lực cũng như tài nguyên của quốc gia. Theo Đài Euro News mà chúng tôi đã viết tuần trước, thì Mubarak đã thu vào cho mình tới 20% lợi nhuận đối với những nhà đầu tư nước ngoài vào khai thác tại Ai Cập, nhất là về ngành du lịch. Nếu có Tự do Dân chủ thực sự cho dân, việc tư bản ngoại lai vào đầu tư có thể giảm dần.
Những chướng ngại trên đây là những cản trở lớn nhất làm kéo dài thời gian thực hiện Tự do Dân chủ thực sự tại Ai Cập với 40% dân số sống dưới mức nghèo khổ. Các Đài Truyền Hình hôm nay nói nhiều về những vấn đề Xã hội hơn là Chính trị.
Kết luận: áp dụng bài học cho Việt Nam
Trước Đại Hội đảng kỳ XI vừa rồi, chúng tôi đã quyết định không thèm đọc về những dàn xếp nhân sự trong giới Lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN nữa bởi vì nhóm kẻ cướp này vẫn cố thủ giữ lấy chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Đó là một cái Cơ chế mà chúng tôi ví như một đống phân để giòi Tham Nhũng Lãng Phí sinh ra và hoành hành. Con giòi nào cũng giống con giòi nào, thì khỏi cần phải mất giờ xem con giòi này làm Tổng bí thư, con kia làm Chủ tịch hay Thủ tướng.
Một cái Cơ chế cho độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế là một tuyên bố công khai trơ trẽn rằng đảng CSVN là “quân ăn cướp ngày” không còn một chút liêm xỉ xấu hổ gì cả. Chúng sẽ tiếp tục bóc lột dân chúng cho đến nghèo kiết xác, tiếp tục ăn cướp tài sản quốc gia làm của riêng giầu nứt khố. Dân chúng mang DẠ DẦY rỗng với lòng HẬN THÙ đã tích lũy tại Việt Nam còn lâu hơn Ai Cập. Bài học cương quyết đi tới cùng của dân Tunisie và dân Ai Cập cho chúng ta phải có thái độ dứt khoát với đảng CSVN:
=> Không có Hòa Hợp Hòa Giải như một số người làm chính trị xôi thịt tại Hải ngoại hô hào để mong hớp được chút bánh rơi rụng do CSVN thẩy xuống.
=> Không có “đối thoại“ như một số Lãnh đạo Tôn giáo giả hình ngụy biện để tòng phạm với tội ác CSVN
=> Thâu hồi lại cho dân những tài sản, đất đai, nhà cửa mà đảng đã ăn cướp bẩn thỉu
=> Săn lùng những tài sản mà chúng chuyển ra nước ngoài cất giữ để phục hồi lại cho Việt Nam.
=> Không để chúng đứng chung trong tiến trình xây dựng Tự do Dân chủ thực sự cho dân bởi vì lịch sử đảo điên tráo trở phản bội của chúng đã có từ thời Hồ Chính Minh.
=> Dân Việt đứng lên làm Cách Mạng DỨT BỎ Cơ chế CSVN hiện hành phải cứng rắn gạt bỏ những tính toán Chính trị quốc tế. Việt Nam cũng đứng ở vị trí tính toán Chính trị quốc tế như Ai cập. Mỹ tính toán quyền lợi cho dân họ. Tầu tính toán quyền lợi cho dân Tầu. Không ai thương sót số phận của Dân mình bằng chính mình thương mình. Tự tin ở mình và tự mình đấu tranh cho chính mình, đừng để tính toán Chính trị quốc tế làm “chệch hướng“ cuộc Cách Mạng của Dân tộc Việt Nam.
Những điểm cương quyết như trên có nghĩa là phải quét sạch ngay từ lúc đầu những chướng ngại trên con đường dân tộc xây dựng Tự do và Dân chủ thực sự.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 17.02.2011 Web: http://VietTUDAN.net
| | | |
CHỦ ĐỀ: TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH
Bài 05:
HẢI NGOẠI GÓP PHẦN CHO VIỆC THÂU HỒI TÀI SẢN CỦA ĐỘC TÀI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tê Geneva, 07.02.2011 Web : http://VietTUDAN.net
(Chú thích: Tóm tắt ý tưởng chính của bài này đã được đài RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn để phát thanh về Việt Nam. Chúng tôi nhấn mạnh đến việc đóng góp của các Cộng đồng Việt Nam Hải ngoại trong việc vận động với các Chính quyền nước ngoài Phong tỏa và Hoàn lại cho Dân Việt Nam những Tài sản của những Lãnh đạo CSVN đã nhiều năm bóc lột dân chúng và khai thác tài nguyên quốc gia cho túi riêng và chuyển ra cất dấu tại nước ngoài.)
Nhiều khi tôi suy nghĩ: nếu ăn cướp được USD.5 triệu và tiêu tán đi được không bị thâu hồi, mà người ta chỉ cất chức và kết án tù chừng 3 năm, thì tôi cũng dám làm tên ăn cướp. Ngồi tù – nhất là ở Thụy sĩ – được ngủ phòng ấm áp mà không phải trả tiền dầu nhớt đốt lò sưởi, được ăn uống mỗi ngày ba bữa mà không phải chui vào bếp, được xem Tivi mà không phải đóng thuế, được cảnh sát canh phòng cho an toàn để mình ngủ ngon giấc, lại có Tuyên úy khuyên về phần linh hồn để được lên Thiên đàng sau này. Tù như vậy thì sướng quá ! Hãy tự nghĩ nếu sống ở ngoài tù, phải đi kiếm việc làm và làm việc cật lực trong 3 năm, chưa chắc đã kiếm được mấy trăm ngàn đo-la. Trong khi ngồi tù 3 năm, lại có lương 5 triệu đo-la, đáng đi ăn cướp lắm !
Tại Việt Nam, tỉ dụ những vụ tham nhũng như Vinashin làm mất tới USD.4.4 tỉ, mà chỉ phạt xuống chức, chứ không thấy Nhà Nước đưa ra vấn đề tìm lấy lại số tiền khổng lồ USD.4.4 tỉ. Dân chúng nghèo khổ quan tâm đến vấn đề lấy lại tài sản đã bị biển thủ, còn vấn đề kẻ tham nhũng mất chức hay không, họ không quan tâm cho lắm.
Ben ALI tự động bỏ chức Tổng Thống trốn chạy. Hosni MUBARAK có thể cáo bệnh, bỏ chức Tổng Thống, sang Anh quốc chữa bệnh và nghỉ ngơi.
Từ DẠ DẦY đói mà đứng lên, mang lòng HẬN THÙ với kẻ đã cướp bóc mình và tài sản quốc gia để mình phải nghèo khổ, dân chúng quan tâm chính yếu và cụ thể là đòi lại những gì đã bị những nhà độc tài biển thủ. Được chút Tự do và Dân chủ mà DẠ DẦY vẫn đói veo vì hậu quả của biển thủ, thì cuộc Cách Mạng còn thiếu sót và đi “chệch hướng“. Những nhà Trí thức Dân chủ hay những nhà Chính trị quốc tế dễ đưa ra Tự do, Dân chủ, Nhân quyền trừu tượng cho đẹp cho sang, mà quên đi lý do chính yếu là DẠ DẦY và HẬN THÙ do độc tài ăn cướp, có thể lái cuộc CÁCH MẠNG của dân chúng đi “chệch hướng“ khiến một số người nản lòng. Độc tài và “Cướp ngày“ cũng là một
Nếu nắm được quyền Chính trị độc tài bịt miệng dân chúng, cấm đoán báo chí, có thể ngụy biện Luật pháp để bỏ tù người chống đối, thì khi thấy Tiền bạc, Tài sản quốc gia nằm sờ sờ trước mắt, kẻ độc tài dễ dàng biển thủ. Không ai có thể than vãn. Còn nếu Độc tài Chính trị của cả một Đảng như ở Việt Nam mà nắm trọn Độc quyền Kinh tế được cả Đại Hội đảng quyết định như Cương Lĩnh, thì những bóc lột dân chúng, biển thủ tài sản quốc gia được chính Nhà Nước che chở bởi vì chính Đảng điều hành Nhà Nước.
Nhân những cuộc Cách Mạng tại Tunisie, Ai Cập…, báo chí truyền thông nói nhiều về những biển thủ của hai nhà độc tài Ben ALI, Hosni MUBARAK…, từng những tiền tỉ, trong khi ấy dân của những nước này thất nghiệp, mỗi ngày chỉ có thể sống với chừng 2 đo-la. Dân nghèo cực nổi dậy làm Cách Mạng. Điều quan trọng đối với dân không phải chỉ để Ben ALI và Gia đình thoát ra nước ngoài sống sung sướng với tiền tỉ biển thủ được, mà phải thâu lại những tài sản biển thủ ấy. Cũng vậy, dân Ai Cập không phải chỉ nguyên đòi hỏi Hosni MUBARAK xuống chức để ông và cả Gia đình sống yên lành như những tỉ phú, mà dân phải thâu lại tài sản quốc gia đã bị biển thủ.
Tại Việt Nam cũng vậy, khi cuộc Cách Mạng dứt bỏ Cơ Chế CSVN hiện hành, thì không phải chỉ để Lãnh đạo Đảng yên lành ở trong nước hay tại ngoại quốc hưởng thụ những tài sản đã biển thủ được, mà phải thâu hồi những tài sản ấy lại cho Quốc gia.
Bài này viết về vấn đề Phong tỏa Tài sản của những nhà Độc tài đã được chuyển ra nước ngoài nhằm hoàn lại những tài sản biển thủ ấy cho Quốc gia sở hữu. Những kiều bào sống tại nước ngoài, có gốc từ những Quốc gia dưới quyền cai trị độc tài, có thể đóng góp vào tiến trình Phong tỏa và Hoàn lại Tài sản Quốc gia đã bị những nhà độc tài biển thủ và chuyển ra ngoại quốc.
Chỉ đích danh những tên Độc tài biển thủ Tài sản quốc gia Những tỉ cụ thể : => Tại Á Đông : MARCOS, SUHARTO => Tại Trung Đông : Sadam HUSSEIN => Tại Trung Phi : MUBUTU => Tại Bắc Phi : Ben ALI, MUBARAK, KADAFI
Những Tài sản biển thủ thường được phân chia cho thành phần Gia đình và cất dấu tại nước ngoài, nhất là Thụy sĩ, Pháp, Anh, Hoa kỳ.
Tờ Financial Times 26.01.2011, để trưng dẫn tỉ dụ, đã công khai đưa ra danh dách một số nhà độc tài biển thủ tài sản quốc gia và chuyển ra nước ngoài:
* HAITI: Jean-Claude ‘Baby Doc’ DUVALIER cai trị từ 1971-1986, chuyển đi từ USD.300-900 triệu
* IVORY COAST : Laurent GBAGBO, hiện cố thủ giữ quyền hành, chuyển sang Thụy sĩ và hiện bị phong tỏa. Con số chưa công bố.
* TUNISIA : Zein al-Abidine Ben ALI, cai trị từ 1987-2011, chuyển tiền biển thủ sang nhiều quốc gia, con số ước lượng từ USD.8-9 tỉ. Thụy sĩ đã ra lệnh phong tỏa
* IRAQ : Saddam HUSSEIN, cai trị từ 1979-2003, biển thử từ USD.10-40 tỉ
* INDONESIA : Haji Muhammad SUHARTO, cai trị từ 1965-1998, biển thủ từ USD.15-35 tỉ.
Hai cơ chế Trung quốc và Việt Nam cho phép những nhà độc tài nắm giữ Kinh tế, thì việc biển thù càng trầm trọng.
Phong tỏa những Tài sản biển thủ
1) Trường hợp mới nhất là Ben ALI và BAGBO
Tối hôm nay 19.01.2011, trong giờ Tin Tức lúc 19:30, Bà Tổng Thống CALMY-RAY đích thân tuyên bố trên Đài Truyền Hình TSR1 rằng THỤY SĨ QUYẾT ĐỊNH PHONG TỎA NHỮNG TRƯƠNG MỤC NGÂN HÀNG VÀ NHỮNG TÀI SẢN :
=> Của cựu Tổng Thống BAGBO (Cote d’Ivoire)
=> Của cựu Tổng Thống BEN ALI, của Gia đình Ông và của những người điều hành Chế độ của Ông.
Bà Tổng thống CALMY-RAY công bố chính thức rằng Lệnh Phong tỏa này bắt đầu có Hiệu Lực từ ngày hôm nay 19.01.2011 và kéo dài trong vòng 3 năm. Trong thời gian này, những Tài sản bị phong tỏa không thể rời khỏi Thụy sĩ và chờ đợi Luật pháp phân định. Theo Lệnh này của Trung ương Liên Bang Thụy sĩ, các Ngân Hàng phải khai trình những Trương mục liên hệ.
Đài Truyền Hình Thụy sĩ còn cho biết thêm những tin sau đây:
* Chính Bà Leila TRABELSI, vợ thứ hai của Ben ALI, thường gọi là Cô hớt tóc (La coiffeuse) đứng ở trung tâm cả một hệ thống Kinh tế đáng nghi ngờ.
* Em trai của Bà Leila TRABELSI, Bernard TRABELSI quản trị Du Lịch, Vạn Tải và Địa ốc, có lãnh vực Thương mại khổng lồ, có cả đoàn máy bay JET đậu tại Phi trường Geneva.
* Cháu trai của Bà Leila TRABELSI, tham nhũng, hiện có tòa nhà vương giả tại Gia Nã Đại.
* Con rể của Ben ALI trở nên giầu có bất thường với những hoạt động Kinh tế mờ ám.
Thông tin của các Đài Truyền hình cho thấy hình ảnh Dân chúng biểu tình tại Tunisie, đòi hỏi dẫn độ cựu Tổng thống Ben ALI về Tunisie để xét xử và trao nộp Tài sản ăn cướp của nước Tunisie.
2) Dự phòng trường hợp của TT.MUBARAK
Đài Truyền Hình TSR1 tối hôm qua Chúa Nhật 6.2.2011 cho biết rằng tài sản ước lượng của Gia đình MUBARAK tối thiểu là vào khoảng USD.40 tỉ được chia nhau đứng tên cất giữ hoặc kinh doanh ở trong nước hay tại ngoại quốc:
=> TT.Osni MUBARAK => Vợ : Suzanne MUBARAK => Người con trai cả : Alaa MUBARAK, có nhà tại Manhattan => Người con trai thứ hai : Gamal MUBARAK, có dinh thự tại Luân Đôn
Tối nay, 07.02.2011, Đài Truyền Hình Euro News, đã lập đi lập lại Thông Tin về Tài sản của Gia đình MUBARAK.
Sau khi nói về cơ chế Mubarak tham nhũng, đàn áp nhân quyền, sử dụng bạo lực công an tra tấn, bỏ tù, và nói về tình trạng dân chúng thất nghiệp, sống với chừng 2 đo-la mỗi ngày, Đài Euro News, dưới đề mục EGYPT : MUBARAK’S FORTUNE, đã cho biết nhiều chi tiết hơn Đài Truyền Hình TSR1 Thụy sĩ về Tài sản của nhà độc tài Mubarak. Tài sản ước lượng từ USD.40 tỉ tới USD.70 tỉ được phân phối như sau :
=> TT. Hosni MUBARAK : USD.15 tỉ => Vợ : Suzanne MUBARAK : USD.1 tỉ => Con trai cả : Alaa MUBARAK : USD.8 tỉ => Con trai thứ hai : Gamal MUBARAK : USD.17 tỉ
Đài Euro News còn phê bình thêm rằng Tài sản của Gia đình MUBARAK còn lớn hơn Tài sản của người giầu nhất Thế giới.
Tài sản ấy được phân phối vào lãnh vực Địa ốc tại Hoa kỳ (New York và Los Angeles), tại Anh quốc (Luân Đôn) tại United Arab Emirates (Dubai).
Tài sản kếch xù này được tạo nên từ quyền lực độc tài tham nhũng:
* Lợi dụng quyền lực dành độc quyền mua rẻ hoặc chiếm lấy những đất đai quân đội vào những năm 1980 và sau đó bán lại với giá cao cho những Tập đoàn nước ngoài vào đầu tư du lịch.
* Bắt những Tập đoàn khai thác tài nguyên, du lịch và địa ốc phải dành cho Gia đình ông 20% tham dự lợi nhuận.
* Những Tập đoàn muốn đầu tư tại Ai Cập phải đóng tham nhũng mới có phép hoạt động.
Đài cũng chiếu lên hình ảnh Mubarak già yếu, xuống bậc thang không vững bên cạnh vợ. Ông từ chối không ra ứng cử Tổng Thống kỳ tới là tất nhiên. Nhưng ông cố thủ giữ quyền cho đến tháng 9 này vì muốn có thời giờ để tiêu táng tài sản.
Kết luận của Bản Tin này, Đài chiếu lên hình ảnh TT.OBAMA thăm Ai Cập và đứng cạnh con đỡ đầu MUBARAK (DICTATOR MADE IN USA) chào Quốc kỳ. Chẳng lẽ suốt 30 năm trường, Hoa kỳ không biết nhà độc tài này biển thủ Tài sản đến USD.40—70 tỉ hay sao để khuyến cáo, mà phải đợi dân chúng Ai Cập bị bóc lột đói khổ, xuống đường chết chóc mới lên tiếng khuyến cáo ?
Chú thích cá nhân : Theo nguồn tin không chính thức từ giới Tài chánh/Ngân hàng quan tâm đến Tài sản của Gia đình MUBARAK, thì TT.MUBARAK, còn mang Quốc tịch Anh vì Vợ (Suzanne MUBARAK) gốc người Anh, có thể lấy lý do chữa bệnh để thoát khỏi Ai Cập và sang Anh quốc trong những ngày gần đây. Như vậy ông cũng là con rể của Anh quốc (MADE IN UNITED KINGDOM).
Nước giữ Tài sản ra lệnh Phong tỏa khi có yêu cầu
Khi đưa tin về Tài sản của MUBARAK, Đài Truyền Hình Thụy sĩ TSR1 mời một Luật sư lên để cắt nghĩa cho biết những trường hợp nào ra lệnh Phong tỏa Tài sản. Luật sư cho biết những trường hợp sau đây :
1) Theo yêu cầu của Chính quyền chuyển tiếp của bản xứ 2) Theo yêu cầu của Luật sư đại diện một đoàn thể kiều bào nước đó tại Thụy sĩ 3) Theo đề nghị của sứ quán Thụy sĩ tại nước đó 4) Đơn giản hơn : Thụy sĩ tình nghi rửa tiền
Hoàn trả Tài sản biển thủ cho Dân (Quốc gia) có quyền
Chúng tôi đã tìm thấy những trường hợp Phong tỏa trước đây và Thụy sĩ đã chuyển trả lại cho Quốc gia (Dân) có quyền đối với những Tài sản bị phong tỏa ấy. Những trường hợp này được đăng trên Nhật báo TRIBUNE DE GENEVE hôm nay, 20.01.2011, trang 3:
1) Trường hợp TT. Ferdinand MARCOS, Phi Luật Tân
Ngày 25.03.1986, Liên Bang Thụy sĩ ra lệnh Phong tỏa Tài sản của cựu Tổng thống Ferdinand MARCOS trên Lãnh thổ Thụy sĩ. Sau những thủ tục Luật pháp sáng tỏ chứng minh năm 2003, Liên Bang Thụy sĩ đã chuyển trả cho Dân Phi Luật Tân số tiền là USD.683 triệu.
2) Trường hợp Ông Sani ABACHA, Nigeria
Trương mục của Ông này đã bị Phong tỏa và Liên Bang Thụy sĩ đã chuyển trả cho Dân Nigera năm 2005 số tiền USD.500 triệu.
3) Trường hợp Ông Raul SALINAS, Mễ Tây Cơ
Ông này biển thủ tiền và chuyển qua Thụy sĩ. Trương mục bị phong tỏa và Liên Bang Thụy sĩ đã chuyển trả lại cho Dân Mễ Tây Cơ năm 2008 số tiền USD.74 triệu.
Những trường hợp trên cho thấy rằng khi Liên Bang Thụy sĩ Phong tỏa Tài sản để điều tra, thì khi Thủ tục Luật pháp chứng minh rồi, Tài sản bị phong tỏa được Liên Bang Thụy sĩ chuyển trở lại cho Quốc gia (Dân) hay Người có quyền.
Vai trò của Cộng đồng Kiều bào Hải ngoại
Theo Luật sư cho biết nguyên tắc chung trên Đài Truyền Hình Thụy sĩ TSR1 tối 0.6.02.2011, thì Công đồng Kiều bào, qua Luật sư đại diện, có thể yêu cầu việc Phong tỏa Tài sản biển thủ.
Trở lại trường hợp cụ thể của Tài sản Ben ALI và Cộng đồng Kiều bào Tunisie tại Thụy sĩ. Thứ Ba ngày 18.01.2011, Nhật báo TRIBUNE DE GENÈVE đăng trên trang nhất một bài với đầu đề TRAQUE A GENEVE DES AVOIRS DU CLAN BEN ALI (SĂN LÙNG TẠI GENEVE NHỮNG TÀI SÃN CỦA BÈ ĐẢNG BEN ALI). Dựa theo bài báo này, chúng tôi đã viết trong Bài dưới đây rằng Hội Người Tunisie tại Thụy sĩ tích cực yểm trợ cuộc Cách Mạng tại nước họ bằng hành động cụ thể:
=> Bao vây Ngân Hàng HSBC tại Geneva vì thấy hình bóng Cháu của Ben Ali cùng với một cận vệ lai vãng đến Ngân Hàng này.
=> Nhân danh Hội Người Tunisie, họ liên lạc với Trung ương Liên Bang Thụy sĩ tại Thủ đô BERNE để yêu cầu Phong tỏa những Tài sãn của Ben Ali và bè đảng tại các Ngân Hàng và trên Lãnh thổ Thụy sĩ.
Qua những khả năng có thể làm được này, chúng ta người Việt ở hải ngoại có thể đóng góp cụ thể với cuộc đấu tranh tại Quốc nội.
Thực vậy, ngày 30.12.2010, dưới đầu đề TRÁCH NHIỆM ĐẤU TRANH QUỐC NỘI, chúng tôi đã đề nghị việc đóng góp cụ thể của người Việt Hải ngoại cho Quốc nội như sau:
“Điều đóng góp mà Quốc nội mong chúng ta làm, đó là canh chừng, tố cáo những tên THAM NHŨNG LÃNG PHÍ và con cháu chúng chuyển tiền bạc ăn cướp ra nước ngoài để sống sung sướng. Nếu có thể, yêu cầu nước ngoài chuyển những tiền ăn cướp đó trả lại cho dân Việt Nam.”
Người Việt Tỵ nạn sống trên 70 Quốc gia. Chúng ta có khả năng canh chừng việc này tại khắp nơi. Tại mỗi Quốc gia có người Việt Tỵ nạn sinh sống, nhất là tại những Quốc gia như Thụy sĩ, Hoa kỳ, Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Đức… có những Ngân Hàng có thể nhận Tiền ký thác, chúng ta thành lập những Ủy Ban phụ trách về vấn đề này. Ủy Ban này có thể gồm những Chuyên viên Tài chánh, Ngân Hàng và những Luật sư. Đó là việc đóng góp cụ thể cho cuộc đấu tranh tại Quốc nội.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 07.02.2011 Web: http://VietTUDAN.net
| | | |
CHỦ ĐỀ: TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH
Bài 04:
NHỮNG NHÀ ĐỘC TÀI “MADE IN USA, FRANCE, CHINA“
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 02.02.2011 Web: http://VietTUDAN.net
Chúng tôi đã viết bài về cuộc nổi dậy của dân chúng Tunisie vì quyền DẠ DẦY. Từ quyền Dạ Dầy ấy, dân chúng mang tâm lý xã hội chung là HẬN THÙ đối với những nhà độc tài đã bóc lột dân để mình giầu nứt khố và làm cho dân nghèo kiết xác. Đó là mẫu số chung làm dân chúng NHẤT TRÍ đòi dứt bỏ những nhà độc tài. Nhưng nếu những nhà độc tài ấy được “MADE IN…” và được che chở do tính toán Chính trị, thì đó là nguồn gây ra những phức tạp bởi bản chất Chính trị là pghức tạp do tính toán mưu mẹo cố thủ giữ lấy quyền hành. Chúng tôi viết bài này với đầu đề NHỮNG NHÀ ĐỘC TÀI “MADE IN USA, FRANCE, CHINA“ như là nguồn tính toán Chính trị có thể gây phức tạp cho cuộc Cách Mạng DẠ DẦY.
Suốt những chục năm trường, khi mà dân chúng chỉ sống mỗi ngày chưa tới 2 đô-la, bị những nhà độc tài cướp bóc quyền dạ dầy cho túi riêng họ, gia đình và nhóm đảng của họ, thì chính sách ngoại gia của Tây phương, Mỹ, Pháp… vì quyền lợi riêng Tây phương coi như là có trật tự để mình yên ổn hưởng thụ. Những ngườc độc tài như Ben ALI, Hosni MUBARAK lần lượt “Made in France“, “Made in USA“ đã tận tình phục vụ cho Pháp và Mỹ, trong khi ấy, nhân danh trật tự cho Tây phương, họ không cho Nhân quyền cho dân, nhất là bóc lột người dân cho túi riêng, nghĩa là họ giầu nứt khố và dân chết đói mặc dân.
DẠ DẦY đói veo chịu không nổi, dân chúng tự động nổi dậy đòi miếng ăn. Từ DẠ DÀY thiếu ăn mà nổi dậy, dân chúng tiến sang THÙ HẬN những kẻ giầu nứt khố đã làm mình nghèo kiết xác, nên họ đòi những tên côn đồ độc tài phải ra đi tức khắc, thiếu điều họ túm cổ giết tại chỗ. Dân chúng phải lo liệu kiếm cơm cho mình và con cái, không có thời giờ trì hoãn. Đó là thái độ bình thường và rất hữu lý. Trong khi đó những người Trí thức có ăn sung sướng ngồi tại dinh thự như điện ELYSEES (Sarkozy) hay tòa BẠCH ỐC (Obama) lại khuyên dân chúng hãy từ từ chuyển sang Dân chủ trừu tượng với chính những tên độc tài (Dictators made in France, USA).
Sau bao chục năm trường, tại sao những tên độc tài kia không chuyển sang Dân chủ, mà phải đợi khi dân nổi sùng, thì mới nói là từ từ chuyển sang. Phải có mưu mô gì đó. Nói như vậy sau mấy chục năm trường hà hiếp dân chúng, thì tất nhiên dân chúng “đếch tin“ nổi. Sao mà Tây phương (Sarkozy và Obama Trí thức) ngu muội về tâm lý những người nghèo nổi sùng như vậy ?
Xin lưu ý rằng Tây phương mang nặng văn minh Thiên chúa giáo (Civilisation Chrétienne), phải biết ngụ ngôn sau đây trong Phúc Âm về kẻ trọng thương nằm bên lề đường và người Samari mà chính Chúa Giêsu kể như sau: “Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêricô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ có người Tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi, Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc.” (Lc 10, 30-35).
Trong suốt những chục năm trường, dân chúng bị trọng thương bởi những kẻ cướp. Mà những kẻ cướp này lại do chính mình tạo ra (Made in USA, in France). Người Tư tế (tỉ dụ Jacques CHIRAC, Nicolas SARKOZY) đi qua lại con đường ấy và nhìn thấy rõ kẻ trọng thương là dân Tunisie nằm bên đường suốt mấy chục năm trường, nhưng bỏ đi, làm ngơ. Cũng vậy thầy Lê-vi Obama biết rõ kẻ trọng thương là dân Ai Cập, nhưng đã không can thiệp trước đây và ngoảnh đi. Dân Tunisie và dân Ai Cập bị trọng thương gần chết, nên lúc này ráng hơi thở cuối cùng mà la lên xin cấp cứu tức khắc, thì thầy Tư tế Sarkozy và thầy Lê-vi Obama lại khuyên dân hãy kiên nhẫn nằm yên để gọi chính kẻ cướp Ben ALI và MUBARAK đến băng bó cho. Làm thế nào kẻ trọng thương, dân Tunisie và dân Ai Cập, tin tưởng nổi đám Ben ALI và đám MUBARAK đến băng bó vết thương cho mình được. Chính vì vậy mà dân biểu tình Tunisie và Ai Cập không thể tin được kẻ đã đánh mình trọng thương, có thể cứu vớt mình. Nếu có kẻ ngoại đạo Samari như Bin LADEN đến băng bó vết thương, thì người bị trọng thương ắt chấp nhận vì mình sắp chết rồi.
Tunisie: Ben ALI “Made in France“
Pháp có những liên hệ đặc biệt với Tunisie và Ben ALI về Kinh tế/Thương mại. Kiều bào Pháp làm ăn tại Tunisie rất đông. Những ngày đầu dân chúng Tunisie nổi lên làm Cách Mạng chống lại cơ chế bóc lột của Ben ALI và bè lũ, thái độ của Pháp bị nghi ngờ là muốn ủng hộ Ben ALI để đàn áp những cuộc dân chúng biểu tình. Pháp có thể cần một nhà độc tài để đàn áp dân chúng Tunisie vì quyền lợi của nước Pháp tại đây. Một số trong giới Chính trị Pháp đã công kích Bà Ngoại trưởng Pháp tại chính Quốc Hội vì ý tưởng của Bà hé cho thấy rằng Pháp và Cơ chế hiện hành Ben ALI có thể hợp tác về công an để giữ an ninh. Thủ tướng FILLON phải bênh đỡ gượng gạo Bà Ngoại trưởng. Nhưng dân chúng Tunisie nhất định đi tới cùng làm Pháp dấu nhẹm đi thái độ lúc đầu của mình. Cho dù nhà độc tài Ben ALI có ‘MADE IN FRANCE’ để bóc lột dân Tunisie và tước đoạt Nhân quyền của dân nước này, nhưng sức nổi dậy của dân chúng là bảo vệ QUYỀN SỐNG con người của mình, thì bất chấp đó là ‘Made in France, in USA,… hay từ bất cứ nước nào’ Ai-Cập: Mubarak “Made in USA“ Dân chúng Ai Cập đã nổi dậy và biểu tình mạnh mẽ trong 9 ngày nay. Đặc biệt trong hai ngày thứ Sáu 28.01.2011 và thứ Bẩy 29.01.2011, Đài Truyền Hình CNN triền miên đưa tin về những cuộc Biểu tình và bình luận về phản ứng của Hoa Kỳ đối với việc nổi dậy đòi TT.MUBARAK phải ra đi. Hôm qua, thứ Ba, 01.02.2011, hàng triệu dân Ai Cập biểu tình đòi kẻ cướp Mubarak và đồng bọn phải ra đi mà hạn chó là thứ Sáu 04.02.2011. MUBARAK đã là con cưng của Hoa kỳ từ nhiều thế hệ Tổng Thống Mỹ cho đến nay. Người con cưng ấy là nhà độc tài, bóc lột dân chúng Ai Cập. Ngày nay dân chúng khổ cực ấy đứng lên đòi MUBARAK phải ra đi. Làm thế nào mà Hoa kỳ yên lặng trước cuộc Cách Mạng của dân: con cưng MUBARAK của mình là một tên ham quyền cố vị và độc tài đàn áp, tước đoạt Nhân quyền dân chúng Ai Cập. Chính Hoa kỳ muốn nêu cao những vấn đề Nhân quyền, trong khi ấy con cưng MUBARAK của mình đã chà đạp Nhân quyền đối với dân Ai Cập trong nhiều chục năm. Cuộc nổi dậy của dân chúng Ai Cập là chính đáng cần phải được khuyến khích, cổ võ của mọi người và từ mọi nước. Tối hôm qua, Đài Truyền Hình A2 của Pháp đã đưa hình Thủ tướng FILLON Pháp tuyên bố hoàn toàn ủng hộ ý chí của dân chúng Ai Cập nổi dậy để tiễu trừ nhà độc tài. Đài CNN đưa lên hình ảnh người con cưng MUBARAK này đã thân thiện thế nào đối với nhiều đời Tổng Thống Mỹ.
Tại nhiều nước, kiều dân Ai Cập và dân bản xứ đã tổ chức những cuộc Biểu tình ủng hộ cuộc nổi dậy của dân chúng quốc nội Ai Cập: tại Liên Hiệp quốc Nữu ước, tại Liên Hiệp quốc Geneva, tại chính Thủ đô Hoa Thỉnh Đốn. Tại đây, cuộc biểu tình dương cao một tấm biểu ngữ thiệt lớn với hàng chữ ‘DICTATOR MADE IN USA’. Trong chữ DictatOr, có chữ ‘O’ được gắn hình của Mubarak. Ở một nước vẫn tự hào là Dân chủ gương mẫu như nước Mỹ, mà ‘DictatOr’ lại được sản xuất từ chính nước này để đàn áp nhân quyền, cướp miếng ăn của một dân tộc như Ai Cập trong nhiều chục năm, thì đó là điều đáng được dân chúng Mỹ xét lại và điều chỉnh việc sản xuất với nhãn hiệu ‘DICTATOR MADE IN USA’
Hôm qua, 01.02.2011, Mubarak ra trước Đài Truyền hình nói là ông vẫn giữ chức vụ Tổng thống đến hết nhiệm kỳ và hứa rằng: => Sẽ không ra ứng củ trong nhiệm kỳ tới đựoc bầu vào tháng 9 này, => Sẽ hướng dẫn dân bầu cử Tổng thống trong nhiệm kỳ mới để cải tổ Chế độ theo hướng Dân chủ.
Sau việc tuyên bố hứa hẹn này của Mubarak, TT.Obama kêu gọi dân chúng Ai-Cập hãy theo lới con cưng “Made in USA“ mà đừng biểu tình, chờ đợi Mubarak băng bó vết thương cho mình trong trật tự.
Sao mà khờ thế ! Dân chúng khốn khổ Ai Cập không khờ như Mubarak và Obama để tin tưởng kẻ cướp và con cưng của Obama băng bó vết thương cho mình trong “Trật tự “. Vì vậy mà dân chúng bị trọng thương vẫn đòi hỏi kẻ cướp Mubarak phải cút đi tức khác mà hạn chót là thứ Sáu 04.02.2011 này, để chính dân băng bó lấy vết thương của mình cho chắc ăn. Thái độ của Mubarak và Obama dễ dàng đẩy kẻ bị trọng thương là dân Ai Cập phải chấp nhận người ngoại Samari, khối Islamistes.
Để chận đứng việc lựa chọn này, tại sao Mubarak không từ chức và để dân Ai Cập quyết định sự sống còn của họ. Dân Ai Cập không ngu dốt như Mubarak và Obama nghĩ đâu. Phải tôn trọng họ. Có thể chính thái độ của Mubarak và Obama sẽ đẩy họ đi đến chống Mỹ sau này.
Tờ Financial Times ngày 02.02.2011, sau cuộc biểu tình trừng triệu người Ai cập hôm qua 01.02.2011 và sau lời tuyên bố của Mubarak và Obama về việc vẫn giữ Mubarak để làm công việc thay đổi với “Trật Tự “, đã viết trên trang nhất như sau: “The rally means there is hope. You know why Mubarak needs to go. It is because this was the era of corruption, of ferries sinking thousands people, the police brutality against the people. It is the the era in which he became American and Israeli agent.” (Cuộc đại biểu tình có nghĩa là có hy vọng. Các ông biết tại sao Mubarak cần phải ra đi. Đó là vì trước đây là thời kỳ của tham nhũng, của những chiếc phà làm chìm bao ngàn người, của dã man công an đối với nhân dân. Đó là thời kỳ mà hắn (Mubarak) trở thành nhân viên làm việc cho Mỹ và Do thái).
Khi mà người dân đứng lên và hiểu rõ Mubarak là nhân viên làm việc cho Mỹ và Do thái, thì họ không thể để cho Mubarak tiếp tục dẫn chế độ đến Dân chủ được.
Tác giả Pierre CORMON, dưới đầu đề QUAND LE MASQUE TOMBE EN EGYPE (KHI MẶT NẠ RƠI XUỐNG TẠI AI CẬP), đã viết ở trang 10 của Nhật báo Le Monde 02.02.2010 về Mubarak: “Personne ne se gênait pour critiquer en privé le president Moubarak, que beaucoup appellent “l’âne”. L’âne doit disparaitre.” (Không ai bận tâm khi công kích tư nhân Tổng thống Moubarak mà nhiều người gọi là “con lừa“. Con lừa phải biến đi vậy.)
Nếu dân Việt Nam nổi dậy, Tên độc tài Dũng có “Made in USA” hay không ?
Vì quyền lợi riêng của nước mình, mà nhiều nước miệng thì nói bô bô bảo vệ Nhân quyền, nhưng tay thì chìa ra cấu kết với những nhà độc tài để đàn áp Nhân quyền đối với dân chúng. Về mặt Kinh tế, những nhà tài phiệt nước ngoài thích làm việc với Cơ chế độc tài để khai thác nhân lực và tài nguyên của một nước. Tài phiệt nước ngoài chỉ cần cho nhà độc tài một món tiền THAM NHŨNG, thế là nhà độc tài bóp chặt cổ họng dân chúng không được nói gì phẩn đối việc khai thác tài nguyên quốc gia, việc bóc lột nhân lực bằng cách trả lương nhân công chết đói. Đây là việc cấu kết tàn nhẫn lắm. Về mặt chính trị quốc gia, có lẽ Hoa Kỳ thích chơi với độc tài CSVN trong việc bảo vệ quyền lợi Mỹ ở Biển Đông. Tôi xin nói quyền lợi Mỹ ở Biển Đông, còn việc Trung quốc chiếm Hoàng Sa, thì Mỹ lại tránh né lấy cớ đây là tranh chấp chủ quyền song phương giữa hai nước. Khi dân chúng Việt Nam nổi dậy DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN hiện hành, thì phải đi tới cùng, bất chấp Tầu, bất chấp Mỹ dù ‘NGUYỄN TẤN DŨNG MADE IN CHINA’ hay ‘NGUYỄN TẤN DŨNG MADE IN USA’. Người Việt Nam bị CSVN độc tài đàn áp, thì đứng lên và DỨT KHOÁT với CSVN, không cần phải nể CSVN là con cưng của Tầu hay của Mỹ. Tầu hay Mỹ không thương dân Việt Nam như chính mình thương mình và dân Việt phải tự cứu lấy chính mình, chứ đừng ỷ nại cậy nhờ hão huyền vào người khác.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 02.02.2011 Web: http://VietTUDAN.net
| | | |
CHỦ ĐỀ: TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH
Bài 03:
CÁCH BIỆT GIẦU NGHÈO BẤT CHÍNH TẠO TÂM LÝ QUẦN CHÚNG GHEN GHÉT HẬN THÙ Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 27.01.2011 Web : http://VietTUDAN.net
Tuần trước, dưới Chủ đề TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH, chúng tôi viết về thái độ Dân chúng Tunisie nhất quyết loại bỏ Cơ chế cai trị độc tài và bóc lột của Ben ALI và đảng của ông. Lý do chính đứng lên của Dân chúng là đòi quyền sống, hay nói cụ thể hơn là đòi quyền DẠ DẦY.ø Năm 2003, TT.Jacques CHIRAC thăm Tunis, đã tuyên bố như gián tiếp nói với Ben ALI lý do chính của việc nổi dậy tương lai : «Le premier de droits de l’homme, c’est de manger » (Quyền đầu tiên của những Nhân quyền, đó là quyền ăn uống) (Nhật báo Le Monde 17.01.2011, trang 6).
Ông Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp quốc, người có nhiều kinh nghiệm về những nước nghèo thiếu lương thực, thường cảnh cáo những Chính phủ của những nước này mỗi khi có Lạm phát làm dân chúng nghèo thiếu ăn : “Si le prix continuent à augmenter, je ne seris pas surprise qu’on assiste à des eumeutes de faim “ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên rằng người ta chứng kiến những cuộc bạo loạn vì đói) (Trả lời cho cuộc Phỏng vấn của Báo Financial Times 19.06.2008 nhân cuộc Họp của FAO mà ông Jacques DIOUF kêu gọi các nước giầu giúp đỡ các nước nghèo về lương thực).
Viết về cuộc Cách Mạng tại Tunisie vì Kinh tế, chúng tôi không thể không nhìn thấy tương lai nổi dậy của quần chúng Việt Nam. Thực vậy, cuối năm 2010, tình trạng tụt dốc Kinh tế Việt Nam càng trầm trọng, rồi Lạm phát, Vật giá tăng vọt, Phá giá đồng bạc, Ngân sách thiếu hụt, Dực trữ ngoại hối chỉ còn USD.14 tỉ chỉ đủ cho chừng hai tháng nhập cảng, những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh bị hạ điểm tin tưởng Tín dụng do vụ Vinashin tỏ ý quỵt nợ. Những lý do Kinh tế ấy cho thấy viễn tượng nổi dậy của các Lực Lượng quốc nội.
Chính vì vậy, trong bài mở đầu cho Chủ đề TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH, chúng tôi viết như kêu gọi những Lực Lượng quốc nội, thuộc mọi thành phần, đứng lên bảo vệ quyền DẠ DẬY, nghĩa là cứu lấy chính mình khỏi chết đói. Chẳng quốc tế nào thương mình hơn chính mình thương lấy mình
Nếu quyền DẠ DẦY mang tính cách cá nhân và vật chất buộc cá nhân đói ăn phải đứng lên, thì còn một yếu tố nổi dậy nữa thuộc tâm lý quần chúng để cuộc nổi dậy mang tính cách xã hội đồng loạt. Chúng tôi muốn nói đến sự GHEN GHÉT, HẬN THÙ mà xã hội quy tội vào một tầng lớp bóc lột. Tầng lớp bóc lột này có thể dành ra một số tiền bố thí để làm cho DẠ DẦY người nghèo có chút cơm cháo dằn bụng mà có thể tạm thời không nổi dậy nữa, nhưng khi tâm lý xã hội đã ghen ghét và hận thù, thì những bố thí cho miếng cơm cháo không những không làm bớt ghen tức và hận thù, mà ngược lại còn làm quần chúng càng ghét và thù hận thêm. Thực vậy, Lê-Nin, từ bụng đói của dân chúng thợ thuyền và nông dân, đã chuyển quần chúng sang tâm lý ghen tức, hận thù xã hội để đẩy cuộc đấu tranh giai cấp đến đẫm máu. Đảng CSVN đã tạo một tâm lý xã hội ghen tương, thù hận giới địa chủ để mở những cuộc đấu tố tàn bạo giữa người với người.
Cuộc nổi dậy của Tunisie, từ tình trạng thất nghiệp, thiếu thốn về Kinh tế, còn mang tâm lý xã hội thù ghét Ben ALI và đảng của ông bóc lột. Cách Mạng Tunisie đang lan sang các nước độc tài Bắc Phi châu. Các Đài Truyền Hình tối hôm nay 26.01.2011 đều đưa lên những hình ảnh nổi dậy tại Ai Cập. Nhà Bình Luận của Đài Euro News tại Le Caire đã nhận định rằng từ việc nổi dậy vì lý do Kinh tế, dân chúng Ai Cập chuyển sang đấu tranh Chính trị nhằm loại bỏ giới thống trị bóc lột. Các nhà độc tài Bắc Phi châu quyết định bỏ tiền túi ra để hạ giá thực phẩm cho dân chúng đỡ đói, nhưng họ không thể làm giảm tâm lý xã hội đã chất chứa từ lâu là ghen ghét và thù hận họ đã tàn nhẫn bóc lột cả nước cho túi riêng. Khi quyền DẠ DẦY chuyển sang tâm lý xã hội GHEN GHÉT, HẬN THÙ này, thì những nhà độc tài bóc lột khó lòng lấy tiền riêng mà làm giảm được.
Nếu xã hội cùng đói ăn với nhau, thì không có nổi dậy, mà mọi người có thể cùng nhau hợp tác cố gắng phát triển Kinh tế để cứu đói giảm nghèo. Tụt giốc Kinh tế làm dạ dầy dân khổ sở, nhưng nếu đó là tình trạng Kinh tế chung, thì dân có thể thông cảm và không nổi dậy. Nhưng nếu việc tụt dốc Kinh tế không phải tình trạng làm ăn sút kém chung, mà là do một nhóm đảng cầm quyền Chính trị cướp bóc những cố gắng của quần chúng để làm giầu riêng cho nhóm đảng, thì việc tụt dốc Kinh tế chuyển sang tâm lý xã hội GHEN GHÉT và HẬN THÙ đối với cái nhóm đảng đã cướp bóc của chung làm của riêng giầu có. Bắt đầu từ DẠ DÀY đói, cuộc nổi dậy trở thành toàn diện do chính cái tâm lý xã hội GHEN GHÉT và THÙ HẬN kẻ bóc lột để mình giầu nứt khố giữa một quần chúng nghèo kiết xác.
Tại Trung quốc, ÔN NHƯ BẢO ý thức sức mạnh của tâm lý xã hội GHEN GHÉT HẬN THÙ Giầu--Nghèo
Một số lớn báo chí Tây phương ca tụng Trung quốc trở thành giầu có hiện nay. Nói như vậy là sai. Phải phân biệt Dân Trung quốc vẫn nghèo, chỉ có đảng Cộng sản Trung quốc giầu mà thôi. 80% dân chúng Trung quốc vẫn nghèo khổ. Chỉ có đảng CSTQ và giới liên hệ là giầu vì khai thác nhân lực dân Trung quốc bán cho tư bản nước ngoài để làm giầu cho nhóm đảng
Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, viết tóm gọn và xác thực về Kinh tế/ Thương mại tập quyền chỉ huy nhóm đảng ở Trung quốc như sau:
“It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries”
(Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay).
Chính Thủ tướng Oân Gia Bảo đã phát biểu ngày 14.03.2010 trước Quốc Hội Nhân Dân nỗi lo lắng về thực trạng của nền Kinh tế tập quyền chỉ huy của nhóm đảng Mafia:
“L’inflation, plus une redistribution inéquitable des revenus et la corruption pourraient affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement”
(Lạm phát, thêm vào đó là một sự phân phối không đồng đều những thu nhập và tham nhũng có thể tác hại đến sự ổn định xã hội và ngay cả đến sự ổn định nhà nước” (Le Monde 16.03.2010, trang 16) Chính nhật báo Le Monde cũng tả hố sâu nghèo nàn của quần chúng nông thôn và thiểu số giầu nứt khố của nhóm đảng Mafia như sau:
“La Chine est alarmée par le fait que le fossé ville-campagne va continuer à se creuser dans la mesure òu le pays se focalise sur le développement urbain et pas du monde rural.”
(Trung quốc bị báo động bởi sự việc là hố sâu thành phố—nhà quê sẽ tiếp tục tự đào sâu thêm ở mức độ nước này đặt tiêu điểm phát triển thành thị và không phải là lãnh vực nông thôn)
Cách đây 6 năm, số người giầu từ 150 triệu Đo-la, liên hệ với đảng CSTQ, là 100 người. Ngày nay con số đó đã tăng lên 1’000 người (Le Monde 16.03.2010, p.16).
Thú nhận những điểm như trên đây rồi, chính Ôn Gia Bảo tuyên bố một điều làm cho những ai thường ca tụng “cường quốc Kinh tế Trung quốc” phải ngạc nhiên:
“Cela prendra cent ans, même plus pour que la Chine devienne un pays moderne”
(Điều đó còn cần 100 năm, ngay cả lâu hơn nữa, để Trung quốc trở thành một nước tân tiến) (Le Monde 16.03.2010, trang 16).
Lạm phát ở Trung quốc đang làm cho nhóm đảng Mafia CSTQ lo sợ. Vật giá lên cao, nhất là thực phẩm, không làm cho cuộc sống của những người thuộc nhóm đảng CSRQ lo ngại vì họ dư thừa tiền bạc ăn cướp được, nhưng họ lo sợ DẠ DẦY thiếu ăn của 80% dân chúng nổi dậy và chuyển sang đấu tranh xã hội và chính trị do tâm lý xã hội GHEN GHÉT và THÙ HẬN giới cầm quyền bóc lột. Tăng trưởng Kinh tế cao, nhưng vào túi riêng nhóm đảng Mafia CSTQ chuyển ra nước ngoài chứ không tạo Mãi lực cho dân chúng nội địa. Báo chí khen Trung quốc tích trữ được tới USD.2500 tỉ, nhưng tại sao nhóm đảng Mafia CSTQ không đầu tư phát triển cho dân chúng nội địa nghèo khổ, mà lại dùng tiền đó để giúp hoặc mua tài sản tại những nước giầu khác. Đó chỉ là cái cớ chuyển tài sản ra khỏi Trung quốc mà họ đang lo sợ một cuộc quần chúng nổi dậy GHEN GHÉT và HẬN THÙ chính họ.
Tại Việt Nam, hố sâu giầu nghèo đã và đang tạo Tâm lý xã hội GHEN GHÉT, HẬN THÙ
Hiện tượng hố sâu cách biệt bất chính Giầu—Nghèo mỗi ngày mỗi tăng tạo tâm lý quần chúng GHEN GHÉT và HẬN THÙ với đảng CSVN. Mỗi lần viết về hiện tượng này, tôi không thể quên những câu Thơ của Thương binh NGUYỄN CUNG THƯƠNG viết từ Sài Gòn:
Chúng tao lết lê trên thành phố Cáo Hồ Nên biết rõ từng tên đại ác Trên bàn tiệc máu xương dân tộc Nhà hàng nào chúng cũng ăn nhậu Bé gái nào cũng bị chúng mua trinh! Chúng ta sẽ tỉa từng thằng Đất nước cần nhiều "quốc táng" Bớt được mạng thằng Cộng Sản nào Thì địa ngục xã hội chủ nghĩa này Còn có chút sáng láng hơn
Chúng tôi xin kể ra một số sự việc từ THAM NHŨNG LÃNG PHÍ đưa nhóm đảng Mafia CSVN giầu nứt khố. Không cần phải có Lê-Nin tác động để gây HẬN THÙ của giới vô sản để làm cuộc thanh trừng giai cấp đẫm máu. Không cần đảng CSVN huấn luyện cho nông dân để gây HẬN THÙ mà mở những cuộc đấu tố bẩn thỉu giết “địa chủ “. Tâm lý dân chúng Việt Nam ngày nay GHEN GHÉT và HẬN THÙ tự động tích lũy vì chứng kiến trước mắt những cướp bóc bất công do nhóm đảng Mafia CSVN làm. Những tỉ dụ HẬN THÙ như sau:
1) Một bà mẹ Dân Oan khiếu kiện đã tụt quần phản đối Tham nhũng cướp nhà đất của bà mà Nguyễn Tấn Dũng chịu trách nhiệm. Việc làm này của một người đàn bà Việt Nam chứng tỏ sự HẬN THÙ đến cực độ của Bà.
2) Hơn 4 tỉ đô-la của Vinashin vào túi những tên lãnh đạo nào của nhóm đảng Mafia CSVN. Dân chúng nghèo khổ không HẬN THÙ sao được.
3) Dân chúng thấy hàng ngày những cảnh tiêu xài hoang phí, từ ăn chơi đến xe hơi nhà lầu, của những con ông cháu cha thuộc đảng hoặc giới thân cận với đảng.
4) Báo chí Uùc nêu đích danh Lê Đức Thúy, cựu Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, ăn hối lộ để cho con đi học tại Anh quốc tốn kém. Giới trẻ Việt Nam làm sao không GHEN TỨC và HẬN THÙ với chính Lê Đức Thúy và con của ông.
5) Nguyễn Tấn Dũng và Nông Đức Mạnh ngang nhiên dùng chức vụ để đưa con lên vị trí lãnh đạo nhằm nối tiếp quyền lực THAM NHŨNG LÃNG PHÍ của mình. Giới Trí thức tất nhiên GHEN GHÉT và HẬN THÙ.
6) Báo chí tại chính quốc nội đã đưa ra hình ảnh cách biệt Giầu—Nghèo như sau:
=> Ăn một bát phở giá 750.000 đồng (gần 40 đô-la)
« Kể từ nửa năm trở lại đây, anh Thắng – chủ một công ty hoạt động trong lĩnh vực bất động sản tại Hà Nội – thường đến ăn món phở khá nổi tiếng tại nhà hàng của một khách sạn trên đường Láng Hạ.
Loại phở này có 6 loại khác nhau với nhiều mức giá khác và chênh nhau tương đối lớn, gồm: Phở bò Kobe gyu ‘5’ giá 750.000 đồng/bát; phở bò Kobe ‘M’ giá 500.000 đồng/bát. “Bình dân” hơn là phở bò Wagyu Úc giá 220.000 đồng/bát. “Bình dân” hơn nữa là phở bò Mỹ giá 125.000 đồng/bát. 2 loại có giá thấp nhất là phở bò Úc ‘S’ giá 85.000 đồng/bát và phở nạm bò Mỹ giá 70.000 đồng/bát. »
(Trích Vietnamnet)
=> Cụ ông gần 100 tuổi đạp xích lô
«Cụ Đặng Huyền (người địa phương vẫn thường gọi là cụ Huần) năm nay 99 tuổi nhưng vẫn đạp xích lô. Hai năm trở lại đây, do sức khỏe yếu nên cụ Huyền không chở khách và hàng thường xuyên nữa nhưng mỗi khi có khách nhờ chở đồ nhẹ, cụ ông vẫn nhận lời cốt để có thêm tiền lo cho bữa cơm của hai vợ chồng già.
Bén duyên với nghề đạp xích lô từ khi 30 tuổi, đến nay cụ Huần đã có 69 năm làm nghề này. Con trai bỏ quê vào Nam làm ăn, hơn 30 năm nay mất liên lạc, cuộc sống gia đình cụ chỉ biết nhờ vào đồng công đạp xích lô ít ỏi và sự đùm bọc của làng xóm. »
(Trích VNExpress.net)
Lương công nhân Việt Nam mỗi tháng là 47 đô-la. Lương tháng không cho phép ăn được hai bát phở của giới làm địa ốc thân cận với đảng CSVN cướp nhà đất của dân.
Ngày 19.01.2011, Tác giả NGUYỄN QUANG DUY, từ Melbourne, viết về Chênh lệch giàu nghèo của cả Trung quốc và Việt Nam như sau: “Cũng như tại Trung Hoa , nhiều lãnh đạo cộng sản Việt Nam và gia đình đã lợi dụng chức quyền để trở thành những nhà đại tư bản hay tập đòan tư bản đỏ. Nhiều đảng viên cộng sản nhờ lợi dụng quyền thế tham nhũng cũng đã nhanh chóng trở nên giàu có. Tình trạng tham nhũng gắn liền với quyền lực và quyền thế. Chả thế khi được báo Pháp Luật phỏng vấn, ông Nguyễn Chí Dũng, Bí thư kiêm Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Ninh Thuận, và là đại biểu Đại hội đảng cộng sản lần này cho biết: “Tôi rất đồng tình với việc đưa tiêu chí không tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí để lựa chọn nhân sự khóa này. Nhưng bây giờ tìm được người gọi là ‘sạch sẽ’ một tí thì chắc là cũng khó, cũng hiếm”. Trong khi tham nhũng lạm quyền tràn lan trong guồng máy đảng Cộng sản, thì mức lương công nhân lại quá thấp, nên khỏang cách chênh lệch giàu nghèo càng ngày càng mở rộng giữa tầng lớp công nhân và giới cầm quyền cộng sản. Nhiều tầng lớp xã hội khác như những người về hưu, quân nhân, công chức, dân nghèo thành thị, mức sống trực tiếp chịu ảnh hửơng từ nạn phát phi mã do mô hình tăng trưởng Trung Quốc gây nên. Cả Trung Quốc lẫn Việt Nam , sự bất bình đẳng và chênh lệch giàu nghèo giữa một thiểu số cầm quyền cộng sản và đại đa số dân tộc sẽ là ngòi nổ cho trái bom ổn định chính trị mà hai đảng Cộng sản bằng bạo lực đang cố công dẹp tắt.”
Kết luận tóm gọn
Dân chúng Tunisie đã nổi dậy từ cụ thể Dạ Dầy bị đói. Toàn dân quyết liệt đi tới cùng, nghĩa là từ khởi điểm của dạ dầy, tâm lý chung GHEN GHÉT và HẬN THÙ đối với Ben ALI và bè nhóm bóc lột làm cho toàn dân nhất định tiễu trừ Chính trị. Tin tức Truyền Hình hôm nay cho biết là Chính phủ phải tuyên bố giải tán đảng hiện hành của Ben ALI, đồng thời phải ra yêu cầu quốc tế truy bắt vợ chồng Ben ALI về Tunisie xử tội.
Cũng tối hôm nay, nhà Bình luận của Đài Truyền Hình Euro News cho biết sự chuyển biến đấu tranh tại Ai Cập, từ thiếu ăn Kinh tế, tâm lý quần chúng GHEN GHÉT và HẬN THÙ đã chuyển sang đấu tranh Chính trị, đòi trừng phạt TT. MOUBARAK và con của Oâng cũng như đảng đang nắm quyền.
Hố sâu Giầu—Nghèo do bất công cướp bóc của nhóm đảng Mafia CSVN cầm quyền tạo cho toàn dân tâm lý chung xã hội là GHEN GHÉT và HẬN THÙ đối với Cơ chế CSVN hiện hành.
Khi mà Lạm phát, Vật giá tăng, dân nghèo cực khổ đến mức độ đứng lên, thì tâm lý chung xã hội GHEN GHÉT và HẬN THÙ của toàn dân sẽ đi đến DỨT KHOÁT PHẾ BỎ CƠ CHẾ CSVN hiện hành. Dân chúng đã quá biết những mưu toan lừa đảo của đảng CSVN trong quá dài bao chục năm. Những cải cách, nới rộng Nhân quyền trừu tượng chỉ là bình phong để rồi CSVN lùi một bước nhằm tiến hai bước nữa. Tâm lý GHEN GHÉT, HẬN THÙ ấy không cho phép những kẻ theo đóm ăn tàn, hoạt đầu chính trị nhằm nhẩy bàn độc, luồn trôn CSVN, dùng những chiêu bài đối thoại, hòa giải hòa hợp, làm lá chắn cho CSVN lợi dụng. Tâm lý GHEN GHÉT, HẬN THÙ đẩy ý chí của toàn dân đến DỨT ĐIỂM với bè lũ Mafia nhóm đảng CSVN đã bao năm trường cướp bóc cho đầy túi riêng.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 27.01.2011 Web: http://VietTUDAN.net
| | | |
CHỦ ĐỀ: TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH
Bài 02:
TUNISIE: DÂN CHÚNG MUỐN CHẤM DỨT CHỨ KHÔNG HÒA HỢP VỚI DƯ ĐẢNG BEN ALI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 19.01.2011 Web : http://VietTUDAN.net
Tại Irak, Saddam HUSSEIN độc tài và đảng của ông bị lật đổ, nhưng bằng sức mạnh quân sự ngoại lai, chứ không phải bằng chính dân chúng Irak nổi dậy.
Cuộc nổi dậy của quần chúng Tunisie lật đổ Ben ALI và đảng RCD mới thực là cuộc Cách Mạng từ lòng Dân. Thực vậy, không những không có một thế lực thù địch nào ngoại lai đóng góp vào, mà còn có những quốc gia, vì quyền lợi riêng của quốc gia mình, muốn ủng hộ nhà độc tài Ben ALI để phá cuộc Cách Mạng của Dân chúng Tunisie đã bị tước đoạt Nhân quyền, sống 23 năm dước ách độc tài của Cơ chế bạo lực công an, đời sống nghèo khó cùng quẫn vì nhóm đảng và gia đình Ben ALI thâu tóm mọi hoạt động Kinh tế. Pháp vì quyền lợi riêng mình mà hy sinh vấn đề Nhân quyền cho dân chúng Tunisie. Những thế lực độc tài bên cạnh như Lybie, Algérie chắc chắn không muốn có cuộc Cách Mạng này vì sợ Cách Mạng lan sang nước mình. Nếu lấy trường hợp Dân chúng Việt Nam nổi dậy để dứt bỏ Cơ chế CSVN, thì Trung quốc gần kề có thể giúp CSVN trong việc đàn áp dân chúng. Thậm chí ngay cả Hoa kỳ, vấn đề Nhân quyền cho dân chúng Việt Nam trở thành thứ yếu, mà họ muốn sử dụng một ác quyền CSVN để làm hàng rào cho họ trong những vấn đề Biển Đông trước đe dọa của Trung quốc.
Chính Dân Việt Nam mới tha thiết đến những vấn đề Nhân quyền của mình. Dân Tunisie cũng mới đau khổ khi chính họ mất những quyền căn bản làm người.
Quần chúng Việt Nam nghèo đói, chứ đâu có phải là dân Mỹ mà Mỹ phải quan tâm. Quần chúng Tunisie thất nghiệp khổ cực, chứ đâu có phải là dân Pháp mà TT.Sarkozy quan tâm. Khi mình mang bụng đói sắp chết, thì chính mình tự thiết thân mà đứng lên, chứ đừng trông người khác thương mình vì họ no đủ và còn toan tính thủ lợi thêm nữa để ăn no béo map thêm. Ai chết mặc ai.
Thực vậy, Cơ chế cai trị của Ben ALI, Tổng thống Tunisie, giống hệt như Cơ chế CSVN cai trị. Ben ALI và nhóm đảng của ông kéo dài 23 năm làm dân Tunisie cùng cực và nổi dậy. Cơ chế CSVN, từ năm 1975, đã kéo dài 36 năm, làm dân cực khổ trong nền Kinh tế Mafia nhóm đảng khai thác, bóc lột tài nguyên và nhân lực Việt Nam, nhưng Dân Việt vẫn cúi đầu làm tôi mọi hay sao cho nhóm đảng Mafia này ?
Quyền sống thân xác hay quyền DẠ DẦY là lý do chính của quần chúng Tunisie nổi dậy
Năm 2003, khi TT.Jacques CHIRAC thăm Tunis, đã tuyên bố : «Le premier de droits de l’homme, c’est de manger » (Quyền đầu tiên của những Nhân quyền, đó là quyền ăn uống) (Nhật báo Le Monde 17.01.2011, trang 6). Đúng vậy, quyền DẠ DÀY là quyền quan trọng nhất và luôn luôn là lý do chính của các cuộc nổi dậy của quần chúng.
Tunisie của Ben ALI phát triển về Kinh tế với độ tăng trưởng 5% hàng năm, nhưng đó là độ tăng trưởng vào túi riêng của nhóm đảng và gia đình Ben ALI, chứ dân chúng mỗi ngày mỗi rơi vào bần cùng.
Ben ALI lên nắm quyền từ 07.11.1987, thay thế Habib BOURGUIBA. Oâng tuần tự thiết lập một Cơ chế cai trị dân mà Nhật báo Le Monde 17.01.2011, trang 6, viết như sau:
»Le système Ben Ali est né. Il ne fera que se renforcer au fil du temps, jusqu’à rendre l’atmosphère irrespirable… La presse est muselée, le multipartisme interdit -- à l’exception d’une opposition de décor --, la liberté d’association confisquée et la justice instrumentalisée. Chacun vit sous le règne de l’arbitraire. Quiconque se rebiffe s’expose à des représailles de tous ordres, des plus violentes aux plus mesquines : tabassages en règle, passeports confisqués, lignes téléphoniques coupés, courrier Internet détourné, domiciles mis à sac, locaux professionnels cambriolés ou encore campagnes d’insultes ordurìeres, en particulier à l’égard des femmes «
(Hệ thống Ben Ali được khai sinh. Chỉ cần tăng cường, theo dòng thời gian, cho đến lúc làm bầu khí ngột ngạt không thở được… Báo chí bị bịt miệng, đa đảng bị cấm đoán – trừ một thứ đối lập để làm kiểng --, quyền tự do họp hội bị thâu lại và luật pháp biến thành phương tiện cắt nghĩa cầm quyền. Mỗi người sống trong cai trị độc đoán. Ai lên tiếng phản đối sẽ gặp phải những trả đũa đủ loại, từ những trả đũa bạo lực đến những trả đũa bần tiện nhất: tra tấn đánh đập, tịch thu thông hành, cắt đường giây điện thoại, thư điện tử bị đánh lạc đi, nhà ở bị vây hãm, cơ quan nghề nghiệp bị đánh cắp hoặc còn nữa là mở phong trào mạ lị tục tĩu, đặc biệt là đối với nữ giới).
Cách cai trị này giống hệt như ở Việt Nam. Không hiểu Ben Ali có mướn thầy CSVN sang dậy hay không ?
Để có thể thực hiện một Cơ chế cai trị như vậy, Ben Ali phải tổ chức một lực lượng Công an hùng hậu mà số đông thuộc những thành phần bất hảo được đưa từ trong tù ra. Nhật báo Le Monde 17.01.2011, trang 6, trích lời của chính Ben Ali:
« Les délinquants ! Nous allons les sortir de prison pour leur confier des tâches de police !»
(Những du đãng tội phạm ! Chúng ta sẽ đưa ra khỏi nhà tù và giao cho chúng những nhiệm vụ của công an !)
Theo Nhật báo Le Figaro 17.01.2011, trang 2, Cơ chế cai trị trên 10.5 triệu dân Tunisie được bảo đảm bởi một đảng duy nhất và một lực lượng công an hùng hậu. Tờ báo viết :
«La herse qui pesait lourdement sur la socíeté tunisienne était très serrée. Il y avait d’abord le parti unique, le Rassemblement Constitutionnel Démocratique (RCD) de Ben Ali. Il compte 1.5 millions d’adhérents, pour 10.5 millions d’habitants. Il infiltre profondément la socíeté tunisienne, puis qu’il a des cellules jusqu’à dans les entreprises privées.
La surveillance des individus était policìere : on comptait en Tunisie 130'000 policiers (pour 50 000 soldats) dont les deux tiers en civil. «
(Hàng rào sắt nhọn, đè nặng nề trên xã hội Tunisie, thật thắt chặt lại. Đầu tiên là một đảng duy nhất, đảng Tập họp Dân chủ Hiến pháp, của chính Ben Ali. Đảng có tới 1.5 triệu đảng viên, cho 10.5 dân Tunisie. Đảng len lỏi vào sâu trong xã hội Tunisie, bởi vì đảng có những đơn vị xâm nhập vào ngay những công ty tư nhân.
Việc kiểm soát những cá nhân giao cho công an: tại Tunisie, lực lượng công an có tới 130’000 người (trong khi ấy quân đội chỉ có 50 000 lính). Hai phần ba số công an mặc thường phục dân sự (công an chìm len lỏi)
Cho dù dân Tunisie có kiên nhẫn chịu đựng sống dưới một hệ thống cai trị ngột ngạt không thở được như vậy (theo báo Le Monde : « atmosphère irrespirable »), nhưng cái lý do chính để quần chúng đứng lên chấm dứt cơ chế Ben Ali là cái quyền DẠ DẦY theo như lời tuyên bố của TT.Jacques CHIRAC năm 2003 : «Le premier de droits de l’homme, c’est de manger » (Quyền đầu tiên của những Nhân quyền, đó là quyền ăn uống) (Nhật báo Le Monde 17.01.2011, trang 6).
Thực vậy, độc đảng của Ben Ali và Gia đình, họ hàng của ông, nhất là dòng họ Trabelsi của vợ thứ hai của Ben Ali, nắm trọn mọi ngành nghiệp Kinh tế của Tunisie, từ Du lịch, Khách sạn, Xây Cất, Dịa ốc, đến Ngân Hàng. Gia đình, họ hàng, đảng viên chính… xây cất những Biệt thự đồ sộ trên những khu đất cướp lại từ dân chúng.
Dưới đầu đề LE CLAN TRABELSI, SYMBOLE DES INJUSTICES (Bè đảng Trabelsi, biểu tượng của những bất công), nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ ) 17.01.2011, trang 5, viết :
«Le peuple est accablé d’impôts, la vie est trop chère, et tous ces hommes de la famille Trabelsi se sont enrichis sur notre dos. C’es eux qui nous ont volés et puis, c’est la Révolution.«
(Dân chúng bị đè nặng bởi các loại thuế, đời sống trở nên quá đắt đỏ, và tất cả những người thuộc gia đình Trabelsi đã trở thành giầu có trên lưng của chúng tôi. Chính họ là những người đã cướp bóc chúng tôi và rồi bây giờ là cuộc Cách Mạng).
Đống lửa Cách Mạng Tunisie âm ỷ trong một cơ chế cai trị khắt khe. Cái quyền DẠ DẦY bị cướp giựt. Chỉ cần một cái ngòi lửa châm thêm thì Cách Mạng bùng nổ. Ngòi lửa đó là một thanh niên trí thức thất nghiệp, Mohammed BOUAZIZI.
Mohammed BOUAZIZI, 23 tuổi, tốt nghiệp Đại học, nhưng kiếm không ra việc. Anh can đảm đi bán hàng rong rau cỏ hoa trái ngoài đường với một xe kéo nhỏ tự chế. Nhật báo Le Figaro 17.01.2011, trang 2, tả ngòi lửa cho Cách Mạng như sau :
«Un garçon de 23 ans, Mohammed BOUAZIZI, s’était immolé par le feu devant la préfecture. Il réclamait qu’un policier lui rende sa charrette de fruits et légumes, sa charrette de misère, que l’agent lui avait volée pour la cinquìeme fois. La femme fonctionnaire qui l’avait recu l’avait giflé pour lui apprendre à rester à sa place. Mohammed, désespéré, s’était arrosé d’essence, il avait craqué une allumette devant le batiment administratif de cette femme.«
(Một thanh niên 23 tuổi, Mohammed BOUAZIZI, tự thiêu trước tòa thị chính. Anh yêu cầu công an trả lại chiếc xe kéo hoa trái rau cỏ cho anh, chiếc xe kéo nghèo khổ, mà nhân viên công an đã ăn cắp của anh tới lần thứ 5. Người đàn bà tiếp anh đã tát vào mặt anh để dậy anh phải ngồi vào chỗ. Mohammed, thất vọng, đã tưới xăng lên mình, anh bật que diêm tự thiêu ngay trước ngôi nhà hành chánh của người đàn bà này)
Ngòi lửa Mohammed đã châm đúng vào đống lửa đang âm ỉ của quần chúng Tunisie. Dân chúng xuống đường khắp nước. Ben Ali hứa tạo công ăn việc làm, nhưng quần chúng không thể tin tưởng vào những lời hứa của Ben Ali cũng như nhóm đảng của ông nữa.
Thứ Sáu, 14.01.2011, Ben Ali cùng với vợ và người trong gia đình trốn khỏi Tunisie. Trước khi đi, Ben Ali và vợ đã đến Ngân Hàng lấy theo 1.5 tấn vàng. Máy bay sang Pháp, nhưng Pháp không cho xuống, Ben Ali phải bay sang Seaoudi Arabia để lánh nạn.
Dân Tunisie sống tại Aâu châu cùng đứng lên với Quốc nội. Tại Thụy sĩ, kiều bào Tunisie đã biểu tình, canh chứng Ngân Hàng HSBC để đề phòng họ hàng của Ben Ali đến rút tiền ra. Hội người Tunisie tại Thụy sĩ đã xin Liên Bang Thụy sĩ khóa trương mục liên hệ đến tài sản của Gia đình Ben Ali.
Ben ALI trốn đi ra nước ngoài, đó là thành công quan trọng của cuộc Cách Mạng quần chúng Tunisie. Nhưng dư đảng của Ben ALI vẫn còn nằm trong nước. Dân chúng tạm ngưng biểu tình. Một Chính phủ gọi là Hợp nhất Quốc gia (Union Nationale) được tuyên bố ngày 17.01.2011 gồm trong đó những Bộ trưởng thuộc đối lập. Nhưng khi nhìn thành phần các Bộ trưởng, dân chúng Tunisie lại xuống đường biểu tình vì cuộc Cách Mạng quần chúng này muốn DỨT BỎ HẲN BEN ALI VÀ DƯ ĐẢNG CỦA NHÀ ĐỘC TÀI. Dân chúng không muốn Hòa Hợp Hòa Giải với những thành phần đã từng gây tội ác, bóc lột họ. Trước ý chí Cách Mạng muốn DỨT ĐIỂM như vậy, 4 Bộ trưởng thuộc đối lập từ chức khỏi Chính phủ và hai ông Chủ tịch Foued MEBAZAA, Thủ tướng Mohammed GHANNOUCHI (trước đây thuộc đảng RCD của Ben ALI) cũng phải tuyên bố ra khỏi đảng này. Đây là một cái gương mà dân chúng Việt Nam, khi nổi dậy, củng phải DỨT KHOÁT LOẠI TRỪ CSVN, chứ không nửa nạc nửa mờ Hòa Hợp mà bị lừa.
Quần chúng Tunisie khởi đầu cuộc Cách Mạng mà Báo chí Quốc tế đang phổ biến khả năng bành trướng sang các nước khác từ Maroc, Algérie, Lybie, Ai cập, đến Yemen bởi vì những nước này cũng áp đặt những cơ chế cai trị độc tài, cũng khai thác tài nguyên quốc gia cho nhóm đảng và gia đình để dân chúng sống trong cảnh nghèo khổ. Sự giầu có của những nước này về dầu lửa chỉ là cho nhóm đảng và gia đình, chứ không cho quần chúng.
Cách Mạng trong Lịch sử luôn phát xuất từ quyền DẠ DẦY
Những cuộc Cách Mạng trong Lịch sử đều bắt nguồn từ quyền DẠ DẦY. Đó là Lịch sử đối chọi giữa quần chúng thiếu ăn và thiểu số nhóm đảng cực giầu bằng khai thác của chung thành của riêng.
* Cuộc Cách Mạng Pháp 1789 không bắt nguồn từ những bài diễn thuyết của giới Trí thức, nhưng từ quần chúng thiếu bánh mì giữa cảnh vua chúa và giáo sĩ tiêu xài xa hoa, dư thừa cao luơng mỹ vị trong những tiệc tùng linh đình hàng ngày. Tiếng thanh la của một bé gái kêu xin đồ ăn đốt bùng lên Cách Mạng Pháp 1789.
* Cuộc Cách Mạng 1917 của Lê-Nin cũng hoàn toàn dựa trên giới vô sản đứng trước giầu sang của Hoàng tộc. Quyền DẠ DẦY là nồng cốt để Lê-Nin đẩy Cách Mạng sang đấu tranh giai cấp tới đẫm máu.
* Cuộc Cách Mạng Nga và Đông Aâu 1989 chấm dứt Cơ chế Cộng sản cũng có nguyên do chính là sự thất bại của hệ thống Kinh tế Tập quyền Chỉ huy. Nền Kinh tế ấy đã đẩy dân Nga và dân Đông Aâu vào nghèo khổ cùng cực. Quyền DẠ DẦY buộc dân chúng phải đứng lên chấm dứt Chế độ Cộng sản.
* Cuộc Cách Mạng tại Tunisie và lan rộng ra các nước độc tài khác cũng bắt nguồn từ thiếu ăn của quần chúng giữa sự giầu sang của nhóm đảng bóc lột như chúng tôi viết ở phần trên đây.
Đến bao giờ những Lực Lượng Quốc nội VN đứng lên DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN hiện hành
Cơ chế CSVN hiện hành cai trị dân còn khắc nghiệt hơn Ben Ali của Tunisie : độc đảng, lực lượng công an dùng bạo lực, không có tự do báo chí, cá nhân bị kiểm soát, những phản kháng bị ghép vào Điều 88 để bắt tù, điện thoại bị cắt, Internet bị kiểm soát…
Nhưng điều quan trọng hơn cả là độc tài giữ trọn quyền khai thác tài nguyên quốc gia và bóc lột nhân lực VN cho túi riêng của nhòm đảng, gia đình.
Chúng tôi đã viết một bài dài về tình trạng tụt dốc Kinh tế do hệ thống Tập đoàn quốc doanh. Tình trạng Lạm phát, phá giá Tiền tệ làm dân đã nghèo, còn càng lâm vào cực khổ hơn.
Với tình trạng như vậy hiện nay, chúng tôi đã kêu gọi rằng LỰC LƯỢNG QUẦN CHÚNG QUỐC NỘI buộc phải đứng lên chấm dứt CƠ CHẾ CSVN hiện hành vì quyền DẠ DẦY.
Nhưng bao giờ quần chúng bị bóc lột tại Việt Nam mới đứng dậy ? Thời điểm là do Lực Lượng Quốc nội TRÁCH NHIỆM và tự định đoạt vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 20.01.2011 Web: http://VietTUDAN.net
| | | |
CHỦ ĐỀ: TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH
Bài 01:
MINH ĐỊNH LÃNH VỰC ĐẤU TRANH CỦA NHỮNG LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 13.01.2011 Web: http://VietTUDAN.net
Kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng CSVN luôn luôn vu khống cho những ai góp ý khác với ý đảng bằng Điều 88 để kết tội chống lại và nhằm lật đổ Chính quyền Nhân dân mà họ đang cố thủ giữ lấy. Dù cho những ai chỉ đòi hỏi quyền sống tối thiểu, CSVN cũng nại ra Điều khoản 88 để quy tội về Chính trị. Ông Lê Chí Quang, vì lòng yêu nước trước nạn Tầu xâm lăng biên giới, cũng bị kết án Chính trị. Việt kiều về thăm Quê hương, nếu họ muốn bắt, thì cũng có thể vu không dấu súng ống để làm Khủng bố nhằm lật đổ Chính quyền. Mới đây nhất, Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà-Vũ, đầu tiên là ngụy tạo gái, sau đó cũng lan sang Điều 88 chống lại Chính quyền.
Khi khai triển Chủ đề: TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH, và nhìn lại những kinh nghiệm vu khống trơ tẽn của CSVN, chúng tôi thấy cần phải minh định ngay từ Bài 01 của loạt Bài tiếp theo rằng Lãnh vực Đấu tranh của những Lực Lượng Quốc nội đứng lên là:
=> Phi Chính trị => Đòi Quyền sống cho thân xác => Dứt bỏ một Cơ chế phát sinh lan tràn Tham nhũng Lãng phí
Phi Chính trị
Nếu hiểu Làm Chính trị theo ý nghĩa đảng phái, tranh chấp Ý thức hệ, đối chọi những Chủ trương quản trị Quốc gia, để nắm lấy Chính quyền nhằm thực hiện Chủ trương quản trị Quốc gia theo Ý thức hệ chọn lựa, thì những Lực Lượng quốc nội mà chúng tôi kêu gọi không nằm trong những Lãnh vực Chính trị đảng phái này.
Thực vậy, khi viết Bài Mở đầu cho Chủ đề đăng kèm dưới đây, chúng tôi đã trình bay rõ rệt Lý do Phá sản Quốc gia gồm (i) Tụt lùi Kinh tế vĩ mô, (ii) Vật giá nhẩy vọt và (iii) Phá giá Tiền tệ làm những nguyên cớ cốt lõi để những Lực Lượng Quốc nội buộc lòng phải đứng lên. Nếu họ không đứng lên, thì chính họ sẽ chết. Họ đứng lên đấu tranh để thân xác họ khỏi bị chết, chứ không phải vì tranh chấp Ý thức hệ hay chủ trương nắm lấy quyền hành quản trị Quốc gia gì cả.
Như vậy, Lãnh vực đấu tranh của họ là PHI CHÍNH TRỊ hiểu theo Chính trị đảng phái như chúng tôi vừa trình bầy trên đây.
Minh định Lãnh vực đấu tranh như vậy để khi CSVN cố chấp lấy Điều 88 ra để bất bớ những Lực Lượng này, thì chúng ta có quyền lôi cả dòng họ của chúng ra mà phỉ nhổ. Lôi Hồ Chí Minh ra mà chữi rằng hắn không biết dậy đàn lớp con cháu của đảng CSVN cố chấp vu khống. Nếu tên ngu Nguyễn Tấn Dũng vẫn cối chầy vu Điều 88 cho những Lực Lượng này thì hãy lôi con gái hắn ra mà nhiếc rằng “con không khôn hơn cha “ đểø khuyên thằng cha đừng cối chầy, lôi xui gia của hắn ra mà quở trách rằng sống bên Mỹ biết phải trái mà không biết dậy xui gia Dũng đừng làm như côn đồ mà mất danh hai họ.
Đòi Quyền sống cho thân xác
Cũng như đã viết rõ trong Bài Mở đầu, những Lực Lượng đứng lên là đòi quyền sống cho thân xác, nếu không DẠ DÀY họ đói meo và phải chết. Chúng tôi không nói đến Nhân quyền tổng quát và trừu tượng như ý niệm Dân chủ, Tự do… Chúng tôi chĩ hạn hẹp Lãnh vực đấu tranh cho quyền cụ thể là DẠ DẦY.
Đây là Lãnh vực đấu tranh ở mức độ sinh vật cho sống còn của thân xác. Con chim khi bị cướp miếng mồi là con giun, thì nó cũng xả thân rượt theo để tối thiểu dành lại được nữa con giun. Hai con cá dưới ao cũng dành dựt với nhau con tép để nuôi thân mình. Con thú rừng cũng còn biết đái vào gốc cây để dành khu vực săn mồi như tư hữu kiếm ăn.
Cuộc đấu tranh sẽ diễn ra giữa các Lực Lượng Quốc nội và CSVN là cuộc đấu tranh giữa CSVN, một đảng ăn cướp bóc lột miếng ăn, và quần chúng bị cướp bóc mất miếng ăn. Khi quần chúng còn có bữa ăn dàn xếp với đàn kiến cào trong bụng, thì họ có thể chưa vội đứng lên tranh đấu. Nhưng khi đảng cướp vì Tham nhũng Lãng phí mà phá sãn Kinh tế Quốc gia, làm Vật giá tăng vọt, khiến DẠ DẦY quần chúng đói veo, thì buộc lòng họ phải đứng lên dành lại miếng ăn để khỏi bị chết đói.
Cuộc đấu tranh này sẽ không có thời giờ để ĐỐI THOẠI với kẻ cướp đã cối chầy bao chục năm nay bởi vì DẠ DẦY dân đói sắp chết rồi, không còn thời gian lãi nhải với đám kẻ cướp mặt dầy mày dạn chai lỳ. Cuộc đấu tranh này là ĐỐI THỌI khi kẽ cướp còn lỳ lợm. Nó dứt khoát như những vần Thơ của thương binh NGUYỄN CUNG THƯƠNG tại Sài Gòn:
Tao cụt một chân một tay, Nhưng còn một tay Viết thư giùm cho thằng mù hai mắt Nghe nói ở xứ người chúng mày "cày" như trâu Nhưng không quên đồng đội Chia đô la cho chúng tao, như chia máu ngày nào Tao cũng sớt cho mấy thằng bạn: phế binh Việt Cộng! Chúng cũng què đui sứt mẻ như nhau Bởi đảng của chúng bây giờ là lũ đầu trâu..
Có điều tao không thể hiểu Bao nhiêu năm qua Chúng mày cứ mãi dặn dò Thế giới văn minh, đừng làm gì bạo động Liệu chúng mày có thể hoà hợp được không Với lũ kên kên hổ báo? Những con thú cực kỳ giầu có Mang " thẻ đỏ , tim đen " Nợ Nga, sợ Tầu, lạy Mỹ Với quan thầy cung cúc tận tụy Quay về đàn áp dân đen Chúng đóng đinh Jesus lần nữa Bịt Miệng Cha, trói Phật, nhốt Sư quản lý chùa
Chúng tao lết lê trên thành phố Cáo Hồ Nên biết rõ từng tên đại ác Trên bàn tiệc máu xương dân tộc Nhà hàng nào chúng cũng ăn nhậu Bé gái nào cũng bị chúng mua trinh! Chúng ta sẽ tỉa từng thằng Đất nước cần nhiều "quốc táng" Bớt được mạng thằng Cộng Sản nào Thì địa ngục xã hội chủ nghĩa này Còn có chút sáng láng hơn
Hãy gửi tiền cho những nhà tu Để họ mở cửa nhà tù Còn chúng tao là chiến sĩ Hãy gửi về cho chúng tao vũ khí Thằng cụt tay sẽ chỉ cho thằng mù mắt bấm cò Thằng còn chân sẽ cõng thằng què quặt Trận chiến sau cùng này sẽ không có Dương Văn Minh!
Thương binh NGUYỄN CUNG THƯƠNG
Cuộc đấu tranh cuối củng giữa CSVN ăn cướp và những Lực Lượng dành lại những gì đã bị cướp để mình khỏi chết đói sẽ dứt khoát, không có Dương Văn Minh để Hòa Hợp Hòa Giải, không có giờ đối thoại nữa, không có thái độ như Trí thức văn minh “bất bạo động“, mà sẵn sàng BẠO ĐỘNG (bắn bỏ).
Thương binh NGUYỄN CUNG THƯƠNG, tàn tật, không đấu tranh Chính trị lập đảng phái để nắm quyền quản trị Quốc gia, mà hoàn toàn nằm trong Lãnh vực Kinh tế, tìm quyền sống cho thân xác mình.
Dứt bỏ một Cơ chế phát sinh lan tràn Tham nhũng Lãng phí
Chủ đề là Trách nhiệm Quốc nội DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH. Mục đích của những Lực Lượng Quốc nội đứng lên không phải là chống lại Chính quyền theo Điều 88 mà CSVN lấy ra để vu khống bắt tù người ngay. Mục đích tiến tới của đấu tranh là DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH. Tại sao vậy ?
THAM NHŨNG LÃNG PHÍ là Quốc nạn dẫn đến Phá sản Quốc gia gồm (i) Tụt lùi Kinh tế vĩ mô, (ii) Vật giá nhẩy vọt và (iii) Phá giá Tiền tệ. Tình trạng Kinh tế hiện nay của Việt Nam là:
LẠM PHÁT, VẬT GIÁ TĂNG VỌT, NGÂN SÁCH THIẾU HỤT TRẦM TRỌNG, DỰ TRỮ NGOẠI HỐI CẠN KIỆT, ĐỒNG TIỀN VIỆT NAM PHÁ GIÁ XUỐNG DỐC, MẤT TIN TƯỞNG CỦA GIỚI ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÌ THÁI ĐỘ HÈN HẠ MUỐN QUỴT NỢ, NHỮNG TẬP ĐOÀN QUỐC DOANH BỊ CÁC TỔ CHỨC THẨM ĐỊNH QUỐC TẾ HẠ ĐIỂM.
THAM NHŨNG LÃNG PHÍ không phải là do từng cá nhân, nên không diệt được bởi vì cái mầm Tham Nhũng Lãng Phí nằm sẵn trong mỗi người. Nhân chi sơ, Tính Tham nhũng Lãng phí.
Cái mầm THAM NHŨNG LÃNG PHÍ phát sinh, lớn lên và lan tràn khi gặp MÔI TRƯỜNG thuận tiện. Cái môi trường này ví như đống phân để Tham nhũng Lãng phí như những con giòi sinh ra nhung nhúc.
Cái CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH chính là cái MÔI TRƯỜNG làm phát sinh, lớn lên và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế. Đó là MÔI TRƯỜNG của Tham nhũng Lãng phí. Đó là ĐỐNG PHÂN để sinh nở và lan tràn giòi tham nhũng lãng phí.
Từ khi Hội Nghị Trung ương 12 sửa soạn cho Đại Hội đảng thứ XI quyết định “Nhà Nước nắm chủ đạo Kinh tế”, thì đó là CSVN vẫn duy trì CƠ CHẾ, vẫn giữ ĐỐNG PHÂN, nghĩa là vẫn giữ MÔI TRƯỜNG cho THAM NHŨNG LÃNG PHÍ, thì chúng tôi không thèm viết hoặc đọc những gì nói về Đại Hội đảng nữa bởi vì Đại Hội này cũng chỉ thay đổi vị trí của đám giòi Tham nhũng Lãng phí giống như nhau. Con giòi nào cũng giống con giòi nào !
Cuộc đấu tranh của những Lực Lượng Quốc nội DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH có nghĩa một cách đơn giản là lấy xẻng HỐT CÁI ĐỐNG PHÂN giòi bọ đi để Dân, nhất là quần chúng nghèo khổ, có thể kiếm được miếng ăn và chung sức Phát triển Đất Nước. Đó là TRÁCH NHIỆM CỨU QUỐC của các Lực Lượng Quốc nội vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 13.01.2011 Web: http://VietTUDAN.net
| | | |
| CHỦ ĐỀ: TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH (BÀI MỞ ĐẦU CHO CHỦ ĐỀ)
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 06.01.2011 Web : http://VietTUDAN.net
Những ngày cuối năm 2010, chúng tôi đã viết hai bài: (i) NHỮNG LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI ĐỨNG LÊN DẸP KINH TẾ MAFIA QUỐC DOANH CSVN; (ii) TRÁCH NHIỆM ĐẤU TRANH TỪ QUỐC NỘI. Hai bài này là định hướng cho Chủ đề: TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH mà chúng tôi bắt đầu khai triển từ năm nay 2011.
Chúng tôi không viết và đăng bài nói về Đại Hội đảng kỳ XI diễn ra trong tháng này vì hai lý do: thứ nhất, Hội Nghị Trung Ương 12 CSVN sửa sọan cho Đại Hội đảng năm 2011 đã quyết định duy trì Kinh tế quốc doanh làm chũ đạo, nghĩa là họ vẫn duy trì Cơ chế Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế để vơ vét tài sản Quốc gia và bóc lột Nhân lực Việt Nam; thứ hai, Đại Hội đảng chỉ là việc xào nấu lại những Lãnh đạo mà những Lãnh đạo này cũng chỉ là những con giòi tham nhũng lãng phí như nhau trong Cơ chế.
Điều quan trọng là phải DỨT BỎ chính cái Cơ chế CSVN hiện hành, chứ không phải là việc xào nấu những lãnh đạo trong Cơ chế vốn là môi trường phát sinh THAM NHŨNG LÃNG PHÍ làm vỡ nợ Kinh tế Quốc gia.
Việc vỡ nợ Kinh tế Quốc gia do hệ thống Tập đoàn Kinh tế nhà nước đã hiện ra thực sự trong những tháng gần đây mà điển hình là Tập đoàn Vinashin. Cái hậu quả của vỡ nợ và tụt hậu Kinh tế này làm toàn Dân quốc nội phải chịu. Chính vì vậy mà Quốc nội buộc lòng phải đứng lên hành động để chấm dứt cái Cơ chế CSVN hiện hành. Chấm dứt Cơ chế này để toàn dân đoàn kết bảo vệ vẹn toàn Lãnh thổ trước đe dọa xâm lăng Trung quốc, để mọi người chung lưng phát triển Đất Nước trong bền vững lâu dài.
Tình trạng phá sản của Kinh tế quốc doanh
Tình trạng phá sản quy tụ về 3 điểm chính: (i) Tụt dốc Kinh tế vĩ mô (ii) Vật giá nhẩy vọt; (iii) Phá giá Tiền tệ. Cả 3 điểm có những liên hệ hỗ tương với nhau.
(i) Tụt dốc Kinh tế vĩ mô
Vinashin chỉ là cái mụn đã âm ỉ từ lâu, nay phát ra như một tỉ dụ của sự phá sản của những Tập đoàn Kinh tế nhà nước. Đây không phải chỉ nguyên một Tập đoàn riêng lẻ phá sản, mà là một tỉ dụ cho một tình trạng phá sản của một chủ trương Kinh tế gọi là vĩ mô. Chính Nguyễn Tấn Dũng đã nhờ cậy Giáo sư Michael PORTER, Đại học Havard, thẩm định về chủ trương Kinh tế vĩ mô nhà nước. Giáo sư đã viết Tập Phúc trình và kết luận như sau:
“Khi xem xét kỹ mô hình phát triển được áp dụng từ trước tới nay để xem có tiếp tục phù hợp với Việt Nam nữa không, câu trả lời của tôi là không”.
“Mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào việc khai thác các lợi thế có sẵn như tài nguyên và nhân công giá rẻ. “
“Các mất cân đối vĩ mô lớn như cán cân thương mại và tài khoản vãng lai, tỷ lệ tiết kiệm – đầu tư, lạm phát và tỷ giá hối đoái có thể gây ra những hậu quả “không thể xem thường. Ít nhất, chúng tạo ra tâm lý với các nhà đầu tư rằng, rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam là rất cao. Các mất cân đối vĩ mô này có thể làm phát sinh khủng hoảng, khi niềm tin bị xói mòn và các dòng vốn nước ngoài chảy khỏi Việt Nam”.
“Việt Nam là quốc gia sẽ bị tắc ở mức thu nhập trung bình thấp và phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước có thu nhập thấp hơn đang trỗi dậy”.
Không phải chỉ mình Giáo sư Michael PORTER thấy sự tụt dốc của nền kinh tế gọi là vĩ mô này, mà cả World Bank, IMF/FMI, những Ngân Hàng quốc tế, những nhà Tư vấn cấp cao nước ngoài đều cảnh cáo Việt Nam là phải chữa trị chính những sai lầm Kinh tế vĩ mô, nếu không thì bị các nước láng giềng vượt qua.
Khi mà những Tập đoàn Thẩm định quốc tế như MOODY’S, STANDARD & POOR’S hạ điểm mức tin tưỡng các Công ty và Ngân Hàng VN, đó là họ thẩm định khả năng Kinh tế, Tín dụng trong tương lai dựa ttên những tụt dốc đang diễn ra.
(ii) Vật giá nhẩy vọt
Vật giá nhẫy vọt, Lạm phát tăng nhanh ở Việt Nam đến từ hai lý do chính:
* Giảm hiệu lực sản xuất của những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh. Khi nhận một số vốn để sản xuất hàng hóa, nếu hiệu lực sản xuất kém để lượng hàng hóa xuống, thì tất nhiên giá thành sãn xuất tăng tương đối với số vốn nhận được.
* Nhà Nước muốn bảo vệ chủ trương Kinh tế quốc doanh, nên đổ thêm vốn vào mà không kiểm điểm sự tương xứng hiệu lực của sản xuất đối với số vốn cung cấp. Khối tiền càng phồng lên, mà lượng hàng hóa yếu kém, thì Vật giá tất nhiên tăng vọt sánh với đồng tiền được thổi phồng. Điều tệ hại hơn nữa là Ngân sách Nhà nước thiếu hụt, mà cứ phải đổ tiền vào cho những Tập đoàn quốc doanh, nên đành phải in tiền thêm làm Lạm phát Tiền tệ, phá giá đồng bạc Việt Nam. Người dân Việt Nam thừa hiểu cái trò này, nên không còn tin tưởng vào đồng bạc VN nữa.
Báo chí quốc nội đang la hoảng về tình trạng Vật giá nhãy vọt đến chóng mặt:
“SÀI GÒN (TH) - Lạm phát gia tăng nhanh chóng trong mấy tháng qua, vượt qua mặt những chỉ tiêu mà Quốc Hội đề ra cũng như các biện pháp “bình ổn giá” mà nhà cầm quyền quảng cáo. Hậu quả, những người có đồng lương cố định và đại đa số quần chúng đều nghèo khó lại thêm phần khốn đốn.
Tờ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam trong một bản tin ngày 29 tháng 11, 2010 về “lo âu đường đi của giá” nói rằng, ‘luôn có trên 50% bạn đọc cho biết họ đang thực sự gặp khó khăn.’
Theo các con số do Tổng Cục Thống Kê ở Hà Nội đưa ra, lạm phát tăng nhanh nhất ba tháng trở lại đây của năm nay và là mức gia tăng tệ hại nhất trong suốt 20 tháng qua. Ðây là hệ quả của chính sách đánh sụt giá đồng nội tệ nhằm cứu ngành sản xuất xuất cảng gây ảnh hưởng dây chuyền lên cả nền kinh tế.
Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, giá cả gia tăng 11.09% trong tháng 11, 2010 so với một năm trước. Ðây là tỉ lệ lạm phát gia tăng nhiều nhất từ tháng 3, 2009 mà vào thời điểm đó lạm phát nằm ở 11.25%. Tháng 10, 2010, lạm phát là 9.66%. Nếu chỉ tính từng tháng một thì lạm phát của tháng 11 đã tăng hơn tháng mười 1.86%.
Cuối năm 2009, Quốc Hội của chế độ Hà Nội biểu quyết “chỉ tiêu lạm phát trong năm 2010 phải dưới 7%”. Nhưng đến tháng 5, 2010, thấy không kềm nổi, nhà cầm quyền trung ương “xin điều chỉnh chỉ tiêu lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI)” lên “không quá 8%”.
“Giá của tất cả mọi loại thực phẩm mà chúng tôi mua ở các chợ địa phương đều gia tăng đáng kể so với tháng trước”. Craig Jackson, quản lý nhà hàng Al Fresco (cũng có chi nhánh ở Hà Nội) nói như vậy và phải trình bày với thức khách lý do “những bất ổn trong tỉ giá” đã làm giá thực phẩm tăng vọt.
Theo báo Người Lao Động hôm 20 tháng 11, 2010 vừa qua, các siêu thị ở Sài Gòn đã tăng giá ít nhất 10%. Gạo, một thứ căn bản của bữa ăn người Việt Nam, lên giá ít nhất cũng 4%, trong khi nhà cầm quyền khoe năm nay sẽ xuất cảng 6.5 triệu tấn gạo.
Nói chung, giá thực phẩm đã gia tăng 14.78% so với một năm trước trong đó một số thứ còn tăng đến 20.45%, theo Tổng Cục Thống Kê nói trên.
Theo tờ Người Lao Động, một số mặt hàng khác gắn liền với đời sống hàng ngày là đường và gas cũng tăng đáng kể.
Báo Người Lao Động dẫn nguồn tin từ Cục Quản Lý Giá (Bộ Tài Chính Việt Nam), nói giá bán lẻ đường trắng trong nước 15 ngày đầu tháng 11 khoảng 19,000-21,000 đồng/kg, tăng 1,000 đồng/kg so với tháng 10.”
(iii) Phá giá Tiền tệ.
Bản Tin của BBC ngày 10.12.2010 như sau:
“Tiền đồng 'đang có vấn đề rất nghiêm trọng'
Ngân hàng đầu tư Mỹ Morgan Stanley nói đồng tiền Việt Nam ‘có vấn đề rất nghiêm trọng’ trong bối cảnh kinh tế yếu và mậu dịch bị thâm hụt, báo tài chính Mỹ Bloomberg đưa tin ngày 9/12.
Thực trạng cán cân thanh toán xấu đi, nền kinh tế yếu và thâm hụt mậu dịch đang tạo "sức ép lớn đáng kể " đối với tiền đồng, Stewart Newnham, chuyên viên nghiên cứu chiến lược tiền tệ tại Morgan Stanley nói tại một hội nghị ở Tp HCM.
Kể từ hồi tháng Năm 2008, thời điểm ông Newnham nói đồng tiền Việt Nam theo gót chân “khủng hoảng tiền tệ” như Thái Lan (1997), tiền đồng đã mất giá 17% so với đôla Mỹ.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều chỉnh tỷ giá tiền đồng 2% (18.932 VND /USD) vào ngày 18 tháng Tám là lần phá giá thứ ba kể từ tháng 11 năm ngoái.
Trong tuần này Quỹ Tiền tệ Quốc tế cảnh báo nguồn dự trữ ngoại hối quốc gia của Việt Nam ở mức "thấp".
IMF cho biết dự trữ ngoại hối của Việt Nam vào cuối tháng Chín ở mức chỉ đủ trang trải cho 1,8 tháng nhập khẩu.”
Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh thâm thụt công quỹ. Nhà nước phải bơm vào bằng đồng tiền phá giá. Tất nhiên dân chúng phải mua vàng và đo-la với giá chợ đen. Đồng Tiền VN sẽ phải phá giá nữa như các nước Á châu trong cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Tiền tệ năm 1997.
Ông Stewart Newnham của Morgan Stanley, khi nói về Lạm phát phá giá đồng bạc Việt Nam, đã nhắc tới cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Tiền tệ Á châu năm 1997, khiến chúng tôi nhớ lại cách đây mấy năm, 2007, chúng tôi đã viết 5 bài liên tiếp về cuộc Khũng hoãng Tài chánh/Tiền tệ Á châu 1997, dựa trên những tài liệu của Bà Francoise NICOLAS. Chính năm 2007, chúng tôi đã sang Thái Lan quan sát tình trạng phá sản của một số Xí nghiệp chịu hậu quã của việc phá giá đồng tiền.
Về việc can thiệp Chính trị (Pouvoir politique) vào quyền lực Tiền tệ (Pouvoir monétaire), Kinh tế gia Florin AFTALION đã viết:
“L’inflation est un moyen de financement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet á court terme d’accorder des hausses de salaire et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages. «
(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy.)
Kinh tế gia Florin AFTALION nói đến « trong ngắn hạn « và « bởi những người làm chính trị “. Tại Việt Nam, thì không phải là ngắn hạn, mà đã làm ba lần rồi và có còn làm tiếp trường kỳ nữa ; rồi không phải chỉ « bởi những người làm chính trị “ suông, mà bởi một chế độ Chính trị độc tài độc đảng.
Dân chúng bài trừ và quốc tế không còn tin vào đồng Tiền VN là phải.
Xin nhắc thêm rằng tại Nam Dương, cuộc Khủng hoảng 1997 phá giá đồng tiền đã đưa đến hậu quả Chính trị là sự sụp đổ nhà độc tài SUHARTO.
Tóm lại, trong những tháng chót của năm 2010, bức tranh Kinh tế nhà nước Việt Nam được phơi bầy cho cả Quốc tế và Quốc nội nhìn thấy: LẠM PHÁT, VẬT GIÁ TĂNG VỌT, NGÂN SÁCH THIẾU HỤT TRẦM TRỌNG, DỰ TRỮ NGOẠI HỐI CẠN KIỆT, ĐỒNG TIỀN VIỆT NAM PHÁ GIÁ XUỐNG DỐC, MẤT TIN TƯỞNG CỦA GIỚI ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÌ THÁI ĐỘ HÈN HẠ MUỐN QUỴT NỢ, NHỮNG TẬP ĐOÀN QUỐC DOANH BỊ CÁC TỔ CHỨC THẨM ĐỊNH QUỐC TẾ HẠ ĐIỂM.
Cái hậu quả của tình trậng thê thảm Kinh tế này đổ lên đầu Dân.
Trách nhiệm đứng lên hành động để Dứt bỏ Cơ chế CSVN hiện hành
Chính toàn dân phải chịu hậu quả của tụt dốc và vỡ nợ của nền Kinh tế quốc doanh do Cơ chế chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế.
Chúng tôi muốn nói đến tính cách tất yếu của những Lực Lượng Quốc nội buộc lòng phải đứng lên nhận trách nhiệm hành động. Những Lực Lượng này không phải là do khuyên giải, cổ võ mà đứng lên. Việc đứng lên là tất yếu vì quyền DẠ DẦY của mình. Không đứng lên lật đổ Cơ Chế hiện hành, thì mình chết. Tính cách tất yếu là ở chỗ đó.
Những Lực Lượng nào ?
1) Lực Lượng đại đa số quần chúng nghèo
Khi Vật giá tăng vọt, thì khối đại đa số dân nghèo phải cùng cực, thiếu ăn. Nền Kinh tế quốc doanh Mafia CSVN thâm thụt công quỹ, bóc lột sức lao động, làm đại đa số dân chúng đã nghèo mà còn bị khổ cực vì thiếu ăn. Lạm phát, vật giá tăng vọt đẩy dân nghèo vào cùng cực và phải tự đứng lên lật đổ cơ chế.
2) Lực lượng Công chức, Công an và Quân đội
Đây là những thành phần lãnh lương cố định. Khi vật giá tăng vọt, đồng tiền mất giá, thì những thành phần lãnh lương cố định thấy mình nghèo đi. Càng phá giá đồng bạc VN, càng tăng vật giá, thì những thành phần này càng bị đẩy vào tình trạng nghèo cùng cực. Họ phải đứng lên.
3) Lực lượng Lãnh đạo đảng CSVN
Những Lãnh đạo đương quyền tham nhũng, vơ vét công quỹ. Nhưng những Lãnh đạo hồi hưu không thể ngồi yên. Trâu buộc ghét trâu ăn. Lực Lượng Lãnh đạo này không phải vì bất đồng Chính kiến mà đứng lên, nhưng chính là sự phân chia tham nhũng không đồng đều. Trước khi đánh cướp Ngân Hàng, thì mọi người cấu kết. Nhưng sau khi cướp được tiền rồi mà phân chia không đồng đều, thì lấy súng bắn giết nhau. Vì trâu buộc ghét trâu ăn, nên Lực Lượng Lãnh đạo này đứng lên mà bắn nhau. Số cán bộ Cộng sản hồi hưu, lãnh tiền cố định, nay thấy mình nghèo đi vì Lạm phát và vật giá tăng vọt, sẽ tăng cường tham gia Lực Lượng này.
4) Lực Lượng trẻ Thanh niên Sinh viên
Mỗi năm, số người trẻ Thanh niên Sinh viên tại Việt Nam tăng lên 1 triệu và phải kiếm công ăn việc làm. Việc tụt dốc Kinh tế làm cho họ thất nghiệp và phải chịu cảnh vật giá tăng vọt. Trong khi ấy, họ so sánh với một thiểu số con cháu đảng ăn chơi, tiêu xài hoang phí, còn xuất ngoại. Việc so sánh trong cãnh thất nghiệp của họ sẽ tạo sự ganh tị, ghen ghét. Lớp người trẻ Thanh niên Sinh viên sẽ nhập cuộc đấu tranh để chấm dứt những người giữ quyền lực chính trị để THAM NHŨNG LÃNG PHÍ gây tụt dốc Kinh tế.
5) Lực Lượng Tôn Giáo chống Bất Công, đòi Công Lý
Lực Lượng Giáo dân Công giáo đã đứng lên khởi đầu là Tòa Khâm sứ Hà Nội, rồi Xứ Thái Hà, lan vào Tam Tòa, Đồng Chiêm. Tất cả việc đứng lên này có nguyên do là chống BẤT CÔNG cũa Nhà Nước về đất đai. Mà việc bất công này lại cũng là do THAM NHŨNG của quyền lực Chính trị trưng dụng đất đai đẻ bán hoặc khai thác cho túi riêng của mình. Chống bất công như vậy cũng đồng nghĩa là chống THAM NHŨNG. CSVN đã sử dụng một số Lãnh đạo Tôn giáo quốc doanh để nhằm diệt Lực Lượng này. Nhưng TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM (=chống BẤT CÔNG, đòi CÔNG LÝ) vẫn luôn luôn tồn tại bởi lẽ nó phát xuất từ Đức Tin và Lương Tâm của chính Giáo dân. Việc đấu tranh theo TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM này đang bùng dậy tại xứ Thái Nguyên hiện lúc này.
6) Lực Lượng Tư doanh
Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh thiếu hụt ngoại tệ để nhập siêu vì dự trữ ngoại hối của Nhà nước chỉ còn không tới hai tháng để nhập cảng. Theo Kinh tế gia Lê Đăng Doanh, thì "số ngoại tệ Việt Nam có trong dân thì không phải là ít”, nghĩa là giới Tư doanh còn có thể vận dụng ngoại tệ để nhập cảng. Chính vì điểm này mà Lực Lượng Tư doanh nắm ưu thế đứng lên đấu tranh dành lại quyền Kinh tế mà từ trước đến nay các Tập đoàn quốc doanh nắm chủ động. Giới Tư doanh có cơ hội thực hiện Dân chủ hóa Kinh tế để tiến dần đến Dân chủ hóa Chính trị như một hệ luận tất nhiên.
Chủ đề TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH nhằm theo rõi sự lớn mạnh của những Lực Lượng Quốc nội và cổ võ những HÀNH ĐỘNG cụ thể trong việc DỨT BỎ Cơ chế. Những đối thoại nhằm vá víu Cơ chế đã trở thành những phương tiện tuyên truyền làm bình phong để đảng CSVN che dấu cái cốt lõi là duy trì Cơ chế ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ NẮM ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để dễ bề khai thác Tài sản Quốc gia và bóc lột Nhân lực Việt Nam làm của riêng cho từng cá nhân của đảng. Đối thoại với CSVN cũng như đàn gẩy tai trâu. Đối với con trâu lỳ lợm, phải lấy roi mà quất thì nó mới đi. Theo hô hào của Lãnh đạo cao cấp CSVN, 22 Trí thức thuộc đảng lên tiếng đóng góp cho đảng nhân dịp Đại Hội đảng kỳ XI này, nhưng những góp ý của họ bị cấm không được đăng cho dân chúng biết. Toàn dân hãy đứng lên ĐỐI THỌI chứ đừng ĐÓI THOẠI vô ích nữa.
Chúng tôi đã viết hai cuốn sách nói về việc phải dứt bỏ Cơ chế CSVN hiện hành, nên không viết thêm về khía cạnh này trong Chủ đề. Việc tụt lùi Kinh tế và vỡ nợ Quốc gia trong những năm tháng gần đây là bằng chứng cụ thể để kết án Cơ chế CSVN và để toàn Dân quốc nội đứng lên HÀNH ĐỘNG chấm dứt Cơ chế, trước hết là cứu DẠ DẦY của chính mình, sau nữa là bảo toàn Lãnh thổ và phát triển Đất Nước cho kịp với đà tiến của những nước trong vùng và Thế giới.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 6.12.2010 Web: http://VietTUDAN.net
| | |
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx GIU LAI NHUNG LOAT BAI CHU DE TRUOC DE CHUYEN VAO PHAN LUU TRU=====> ****************************************************************************************************** | | | |
CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ:
Bài 8:
ẤN ĐỘ CƯỜNG QUỐC KINH TẾ TƯƠNG LAI: MỘT BÀI HỌC DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 01.04.2009
(Tóm tắt nội dung bài này vừa được Đài RFI phỏng vấn phát thanh về Việt Nam để dân chúng thấy rằng Việt Nam rập theo Kinh tế Trung quốc, đó chỉ là Kinh kế cướp bóc cho nhóm đảng CSVN mà thôi. Khi nói trên RFI, vì hạn hẹp thời gian, nên không nói hết. Vì vậy tôi phổ biến bài này về những chi tiết cho Phỏng vấn.)
Viết về ẤN ĐỘ, một cường quốc Kinh tế tương lai, như một bài học dưới Chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ, chúng tôi dựa trên những bài báo hòan tòan có tính cách thời sự :
* Le Monde 09.03.2010: UNE LECON INDIENNE par Martin WOLF
* The Wall Street Journal 10.03.2010: INDIA’S MICROLENDERS TO SHARE DATA by Eric BELLMAN
* Financial Times 10.03.2010: SUGAR SUFFERS AS INDIA RAISES OUTPUT ESTIMATE by Chris BLOOD
* Financial Times 11.03.2010: PUTIN SEEKS TO BOLSTER LINK WITH NEW DELHI by James LAMONT
* The Wall Street Journal 11.03.2010: INDIA: WOMEN AND DEMOCRATY
* Le Monde 11.03.2010: EN INDE, GUERRES DES TERRES ENTRE PAYSANS ET INDUSTRIELS par Julien BOUISSOU
* Le Monde 11.03.2010: LES DEPUTES INDIENS VOTENT L’INSTAURATION D’UN QUOTA DE FEMMES AU PARLEMENT par Julien BOUISSOU
Hai Quốc gia đông dân nhất và nhì Thế giới, đó là Trung quốc và Aán độ. Cả hai thuộc Á-châu và được Thế giới xếp vào những nước bắt đầu phát triển mạnh (Pays émergents). Nếu việc phát triển Kinh tế Trung quốc lấy độc đảng làm gốc và hiệu quả của phát triển là cho một nhóm người, thì Aán Độ lấy dân làm gốc cho phát triển và hiệu quả của phát triển là cho dân. Nền Kinh tế Aán Độ phát triển song hành với xây dựng Dân chủ. Đó là bài học qúy giá cho Chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ của chúng tôi áp dụng cho Việt Nam.
Chính Kinh tế gia Martin WOLF cũng lấy tựa đề bài viết của Oâng trong Le Monde 09.03.2010 là “UNE LECON INDIENNE“ (BÀI HỌC ẤN ĐỘ). Vào thập niên 1970, Kinh tế gia Martin WOLF là người Trách Nhiệm chính của Ngân Hàng Thế Giới tại Aán Độ. Oâng là bạn thân từ 39 năm nay của Kinh tế gia Montek Singh AHLUWALIA, Phó Chủ tịch ỦY BAN KẾ HỌACH KINH TẾ ẤN ĐỘ, đứng sau Thủ tướng MANMOHAN SINGH.
Viết chính yếu về Kinh tế Aán độ như một bài học tích cực cho Việt Nam cần được áp dụng, chúng tôi cũng nhắc đến Kinh tế Trung quốc, với những nan đề đang gặp phải hiện nay, làm một bài học cho Việt Nam, nhưng là bài học tiêu cực cần phải tránh.
Chúng tôi đề cập đến những điểm sau đây:
=> Kinh tế Trung quốc, một bài học phải tránh
=> Kinh tế Aán độ: Môi trường Chính trị—Luật pháp Dân chủ
=> Aán Độ: Dân chủ hóa Chương trình phát triển Kinh tế bền vững
Kinh tế Trung quốc, một bài học phải tránh
Kinh tế Trung quốc là Kinh tế hướng ngọai, lệ thuộc vào thăng trầm của những nước ngòai, nhất là những cường quốc Kinh tế đã phát triển. Chính Thủ tướng ÔN GIA BẢO, trong Diễn văn trước Quốc Hội Nhân dân ngày 14.03.2010, đã tuyên bố rằng 60% xuất cảng của Trung quốc là từ những Công ty nước ngòai liên doanh sản xuất tại Trung quốc do Nhân lực rẻ. (Le Monde 16.03.2010, trang 16)
Chúng tôi xin trích ra đây đọan tóm tắt rất gọn và xác thực về Kinh tế Trung quốc, đăng trong Financial Times 09.03.2010, trang 10, để độc giả so sánh với việc Phát triển Kinh tế Aán độ mà chúng tôi sẽ viết dài trong hai phần sau đó:
“It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay). (Financial Times 09.03.2010, p.10)
Đó là nền Kinh tế sản xuất những “gadgets” để mau chóng xuất cảng mua vui cho những người tiêu thụ tại những xứ khác, do một nhóm đảng tổ chức thu tiền nhanh vào cho mình và rồi chuyển những tiền ấy ra đặt tại những xứ giầu Tây phương. Người dân chỉ được hưởng một phần rất nhỏ hiệu quả Kinh tế qua đồng lương bóc lột. Đó là Kinh tế Trung quốc.
Bình thường, thì những Lãnh đạo chính trị độc tài bưng bít không dám nói ra những khuyết điểm của một nền Kinh tế do chính mình điều hành Kế họach Phát triển. Nhưng lần này, ngày 14.03.2010 trước Quốc Hội Nhân dân, một Thủ tướng đành phải thú nhận những đe dọa cho Kinh tế Trung quốc có thể dẫn đến những bất ổn Xã hội và Chính trị. Oân Gia Bảo nói rõ rệt như sau:
“L’inflation, plus une redistribution inéquitable des revenus et la corruption pourraient affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement”
(Lạm phát, thêm vào đó là một sự phân phối không đồng đều những thu nhập và tham nhũng có thể tác hại đến sự ổn định xã hội và ngay cả đến sự ổn định nhà nước” (Le Monde 16.03.2010, trang 16)
Lạm phát (Inflation)
Trung quốc đang lo sợ lạm phát. Tháng hai vừa rồi lạm phát tăng 2.7% và Nhà nước đang lo sợ rằng lạm phát tòan năm có thể lên 2 con số. Chính Oân Gia Bảo đã nhắc lại rằng năm 1989, vụ đẫm máu tại Thiên An Môn là do lạm phát tăng lên hai con số.
Sự phân phối không đồng đều những thu nhập (Redistribution inéquitable des revenus)
Đúng theo hình ảnh Kinh tế Trung quốc mà Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, đã tóm tắt như trên đây. Đó là Kinh tế Mafia đảng CSTQ, bóc lột nhân lực đại đa số dân Trung quốc mà không cho họ hưởng tương xứng với thu nhập, đám Mafia đảng trở thành giầu sụ và tiền thu nhập lại chuyển ra nước ngòai đầu tư chứ không đầu tư trong nước để đa số dân nghèo có thể được hưởng. Đồng Nhân Dân Tệ là tiền của Tầu mà chính đám Mafia giầu có lại sợ giữ tiền Tầu, nên mua đồng Đo-la để trữ. Tờ Le Monde ngày 16.03.2010, trang 16 viết:
“La Chine est alarmée par le fait que le fossé ville-campagne va continuer à se creuser dans la mesure òu le pays se focalise sur le développement urbain et pas du monde rural.”
(Trung quốc bị báo động bởi sự việc là hố sâu thành phố—nhà quê sẽ tiếp tục tự đào sâu thêm ở mức độ nước này đặt tiêu điểm phát triển thành thị và không phải là lãnh vực nông thôn)
Cách đây 6 năm, số người giầu từ 150 triệu Đo-la, liên hệ với đảng CSTQ, là 100 người. Ngày nay con số đó đã tăng lên 1’000 người (Le Monde 16.03.2010, p.16)
Tham nhũng (Corruption)
Tham nhũng mọi cấp tràn lan. Không cho hối lộ, thì công việc không chạy. Đó là lời nhận xét của một doanh nhân nước ngòai làm việc với Trung quốc. Ký giả Jamil ANDERLINI từ Bắc kinh đã viết trên tờ FINANCIAL TIMES ngày 27.01.2010, trang 17, viết về con trai của Oân Gia Bảo, Oân Yunsong, và con trai của Hồ Cẩm Đào, Hồ Heifeng, nhờ quyền hành của Bố mình mà hòanh hành tham nhũng.
Tác hại đến ổn định Xã hội, ngay cả ổn định Nhà nước (Affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement)
Oân Gia Bảo đã nói trước Quốc Hội Nhân Dân rằng những sự việc trên đây đang diễn ra trong nền Kinh tế Trung quốc và sẽ đưa tới sự bất ổn Xã Hội và Chính trị. Sự nổi dậy của khối dân nghèo nếu có lạm phát làm họ thiếu ăn. Những bóc lột sức lao động đã làm giầu cá nhân thuộc đảng CSTQ đến một lúc sẽ làm nhân công không thể chịu đựng được và nổi dậy. Sự tị hiểm, uất hận sẽ tăng lên trong giới trẻ và trí thức khi nhìn những tệ đoan, bất công trên đây. Hình ảnh nổi dậy Thiên An Môn là một tỉ dụ cụ thể lịch sử.
Thú nhận những điểm như trên đây rồi, Oâng Gia Bảo tuyên bố một điều làm cho những ai thường ca tụng “cường quốc Kinh tế Trung quốc” phải ngạc nhiên:
“Cela prendra cent ans, même plus pour que la Chine devienne un pays moderne” (Điều đó còn cần 100 năm, ngay cả lâu hơn nữa, để Trung quốc trở thành một nước tân tiến) (Le Monde 16.03.2010, trang 16)
Trong bài viết về tương lai phát triển Kinh tế Trung quốc, Tác giả Minxin PEI (Chuyển ngữ: Minh Huy) đã viết:
“Kiểu phát triển ăn xổi của Trung Cộng là dựa vào năng lượng giá rẻ và không có chi phí cho môi sinh sẽ không còn đứng vững trong tương lai gần.”
Tác giả Ian BREMMER, trong một bài mới nhất đăng trên tờ Financial Times 29.03.2010, đã viết về sự lệ thuộc của Kinh tế Trung quốc vào Hoa kỳ và việc tự ý thức phải tạo Mãi lực nội địa để Kinh tế có độc lập. Tác giả viết:
“This rethink began when the western financial meltdown put millions of Chinese out of work in early 2009”
“China saw the US as indispensable to its rise”
“China is signalling that it wants its model of growth to rely more on its growing consumer base. Some Chinese officials predict Beijing can create a truly consumption-driven economy in five years (?). But it will not happen this rapidly, for political and structural reasons.”
(Việc nghĩ lại (Tầu) đã bắt đầu khi mà việc đổ vỡ tài chánh Tây phương đã làm cho những triệu người Trung quốc mất việc trong năm 2009.
Trung quốc đã thấy rằng Hoa-kỳ là cần thiết cho việc đứng lên của mình.
Trung quốc đang cho biết rằng mô hình phát triển của họ lệ thuộc vào căn bản mãi lực của chính họ. Một số nhân viên chính quyền tiên đóan rằng Bắc Kinh có thể tạo một nền Kinh tế tự tiêu thụ trong vòng 5 năm (?). Nhưng việc này không xẩy ra nhanh chóng như vậy được bởi những lý do chính trị và tổ chức cơ sở) (Financial Times 29.03.2010, trang 9)
Kinh tế Aán độ: Môi trường Chính trị—Luật pháp Dân chủ
Kinh tế Trung quốc, nói là Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng thực chất vẫn là Kinh tế Tập quyền trực tiếp hay gián tiếp và một đảng duy nhất. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự đòi hỏi một Môi trường Chính trị—Luật pháp Dân chủ phù hợp (Environnement Politico-Juridique Démocratique Adéquat). Nền Kinh tế Aán độ được phát triển song hành với Môi trường Chính trị—Luật pháp Dân chủ.
Qua những bài báo liệt kê trên đây liên quan đến Phát triển Kinh tế Aán Độ, nhất là bài của Kinh tế gia Martin WOLF, chúng tôi ghi nhận những điểm như sau.
Người dân và tính tình
Dân Aán Độ ít ồn ào hơn dân Trung quốc. Người ta thường nói rằng người Aán Độ thuộc lọai người suy tư đầu óc, chiêm ngưỡng (contemplatifs). Con số bí hiểm 0 (zéro) được phát sinh từ Aán Độ chứ không phải từ A-rập. Người ta không hiểu “zéro“ là gì, mặc dầu nó hiện hữu. Có người cắt nghĩa đó là ý niệm Niết Bàn. Phật Giáo được phát sinh từ Aán Độ, một Tôn giáo lấy giải thóat cá nhân và tự mình giải thóat làm trọng. Tính chiêm ngưỡng (contemplatif) và ảnh hưởng Tôn giáo là nền tảng tính tình dân Aán Độ. Ngày nay, người ta thường nhận thấy dân Aán Độ rất giỏi về ngành điện tử.
Nền tảng Dân chủ
Dân chủ chỉ là một Nguyên Tắc giải quyết tương đối những tranh chấp khi mà những cá nhân sống chung với nhau thành một cộng đồng. Như vậy CÁ NHÂN CHỦ là nền tảng để từ đó mới xây dựng nguyên tắc dân chủ. Một xã hội nào biết tôn trọng cá nhân, thì tự động họ xây dựng nguyên tắc DÂN CHỦ. Tôn giáo tại Aán Độ đã un đúc cho dân tinh thần phải tôn trọng CÁ NHÂN CHỦ. Chúng tôi không bao giờ chấp nhận ngụy biện của Cộng sản cho rằng dân trí còn ngu nên không thể cho Dân Chủ. Thực vậy, Dân Chủ không phải là kết quả của Dân trí mà là nguyên tắc thực tiễn giải quyết giữa những cá nhân chủ khi có va chạm.
Cái tinh thần tôn trọng cá nhân luôn luôn đòi hỏi việc xây dựng hệ thống quản trị Xã hội theo nguyên tắc Dân chủ:
=> Phân quyền, tránh tập trung quyền hành để dễ dẫn đến độc tài. Aán Độ theo hệ thống phân quyền dưới thể chế Liên Bang.
=> Khi quyền hành được tản ra, thì những tranh chấp chính trị cũng đỡ hẳn tính cách gay gắt, ác độc. Một chủ trương tập quyền như Cộng sản chẳng hạn, thì đó là nguồn gốc tranh chấp, thậm chí đến thanh trừng nội bộ một các tàn nhẫn.
Xã hội Aán Độ được xây dựng, phát triển theo những nguyên tắc Dân chủ. Nó khác với Xã hội Trung quốc hiện nay. Thực vậy, nếu phải so sánh từ cách thế đấu tranh đến quản trị xã hội, chúng ta cũng nhận thấy sự khác nhau giữa Trung quốc và Aán độ:
* Aán độ dành Độc lập do một cuộc đấu tranh bất bạo động. Thánh GANDHI chủ trương cuộc đấu tranh không bằng lực lượng võ khí, mà bằng sức đòan kết của tòan dân cô đọng trong tinh thần bất bạo động. Đây là cuộc đấu tranh không phải từ một nhóm đảng dùng sức mạnh mà đặt để, nhưng là hợp nhất tinh thần của tòan dân đứng sau Thánh GANDHI để Nước Anh phải trả lại Độc Lập cho Dân. Trong khi ấy, Trung quốc dành lại quyền hành do một nhóm đảng Chính trị dùng sức mạnh dành dựt lấy quyền hành cho nhóm đảng mình. Đó là cuộc đấu tranh nặng tính cách nhóm đảng tranh chấp quyền hành.
* Từ ngày dành lại Độc Lập đến nay, Aán độ dứng ở vị trí Khối không liên kết (non-alignés) giữa những tranh chấp Ý thức hệ Cộng sản hay Tự do. Nhà Nước nghĩ đến Dân của họ và xây dựng Dân chủ theo những điều kiện của Dân của họ. Trong khi ấy, từ ngày MAO TRẠCH ĐÔNG nắm quyền dến bây giờ, Dân chúng Trung quốc luôn luôn phải sống dưới chế độ độc tài theo Ý thức hệ Cộng sản. Ý thức DÂN CHỦ bị bóp chết tại Trung quốc, trong khi đó Ý thức này được mỗi ngày mỗi khai triển cho Dân Aán độ.
* Cũng phải lưu ý rằng tinh thần mở rộng của giới Lãnh đạo Aán độ có môi trường phát triển hơn vì sự rộng lớn của Thuộc địa Anh. Trong khi ấy, giới Lãnh đạo Trung cộng mang tinh thần kép kín trong nội địa của mình. Việc khép kín này tiếp tục, trừ việc mở cửa kinh tế mang tính chộp dựt ăn xổi ở thì.
Aán độ: Dân chủ hóa Chương trình phát triển Kinh tế bền vững
Ơû phần đầu, khi nói về Kinh tế Trung quốc, chúng tôi đã viết rằng đó là Kinh tế Mafia nhóm đảng, lệ thuộc vào nước ngòai, không tạo mãi lực nội địa và làm mất Độc lập Kinh tế của mình.
Kinh tế Aán độ nhằm người dân của mình, tạo mãi lực cho dân Aán độ để có Độc lập Kinh tế. Việc phát triển độc lập này mang tính cách bền vững của nền Kinh tế.
Phát triển Kinh tế bởi cá nhân và cho cá nhân
Chính cá nhân là tác nhân Kinh tế chính và cá nhân làm kinh tế trước tiên là phục vụ cho chính mình chứ không phải hy sinh cả cuộc đời để phục vụ cho một Lý thuyết trừu tượng, một Chủ nghĩa Xã hội để những người nhân danh Chủ nghĩa mà bóc lột cá nhân. Cá nhân có sống, thì Chủ nghĩa mới có. Cá nhân chết, thì Chủ nghĩa trở thành trống rỗng. Ai cũng lo lắng đến cái bụng đói của mình trước tiên. Và rất hiếm người lo đến cái bụng đói của người khác trước khi nghĩ đến cái bụng của mình. Vậy hãy để cho mỗi cá nhân làm ăn để lo lắng trước tiên đến việc nuôi sống thân xác mình.
Một xã hội mà nền Kinh tế được tản ra cho từng cá nhân, nền kinh tế ấy mới có nhiều sáng kiến và sự thăng bằng phát triển mới bền vững và lâu dài. Nền Kinh tế được đặt trên nền tảng cá nhân, những công ty gia đình, những công ty nhóm nhỏ... mà tiến lên là nền Kinh tế phát triển có nhiều sáng kiến và bền vững nhất.
Tôn trọng cá nhân, lấy cá nhân trách nhiệm, phát triển những nguyên tắc dân chủ để giải quyến, nền Kinh tế Aán Đo,ä dù không ồn ào, yên lặng tiệm tiến, sẽ phát triển trong bền vững và lâu dài.
Một tỉ dụ điển hình mà chúng tôi thường lấy ra làm tỉ dụ, đó là sự đổi hướng của Kinh tế Ý cách đây 30 năm. Thời ấy, nền Kinh tế Ý dựa trên những đại Công ty. Tình trạng đình công xẩy ra như cơm bữa làm Kinh tế Ý tê liệt. Người Ý mang tinh thần tôn trọng gia đình cao nhất Aâu châu. Từ nền Kinh tế Đại Công ty bị tê liệt, dân Ý đã chuyển Kinh tế về hệ thống Gia đình. Mọi người trong Gia đình phải tuân theo MAMA mà làm việc, không được đình công, nếu không MAMA không cho ăn Spaghetti nữa. Nền Kinh tế đặt nền tảng trên Gia đình đã dần dần phát triển lớn mạnh đến ngày nay.
Chương trình Phát triển Kinh tế Aán Độ
Theo tinh thần trên đây lấy cá nhân làm tác nhân kinh tế chính, một Chương trình phát triển Kinh tế đã được họach định cho cả nước. Kinh tế gia Martin WOLF đã tóm tắt Chương trình ấy ở những điểm sau đây:
“Les Infrastructures, l’Agriculture, la Reglementation du Travail, le Secteur Bancaire, l’Energie, l’Education et le Commerce de détail“
(Những hạ tầng cơ sở, NÔNG NGHIỆP, LUẬT LỆ LAO ĐỘNG, Lãnh vực Ngân Hàng, Năng lượng, Giáo dục và THƯƠNG MẠI NHỎ) (Le Monde 09.03.2010, p.2)
Việc xây dựng hạ tầng cơ sở là lãnh vực của Nhà Nước. Chúng tôi viết chữ hoa cho một số lãnh vực để độc giả lưu ý rằng Kế họach Kinh tế này đặt trọng tâm vào người nghèo và những đơn vị Kinh tế nhỏ làm căn bản:
=> NÔNG NGHIỆP :
Đó là lãnh vực ưu tiên đầu tiên của Kế họach. Việc phát triển nông nghiệp là tạo cho đa số dân nghèo có đủ miếng ăn, rồi sau đó tạo cho dân nghèo có khả năng tiêu thụ để mới có thể sản xuất công kỹ nghệ phục vụ cho chính trong nội địa. Đó cũng là tạo độc lập về Kinh tế. Kinh tế Trung quốc hiện giờ không có độc lập vì nó lệ thuộc vào xuất cảng phục vụ ngọai quốc.
=> LUẬT LỆ LAO ĐỘNG:
Đây cũng là sự lo lắng cho khối người nghèo phải đi bán sức lao động của mình để nuôi thân. Phải có những luật lệ cho công bằng, tránh những tình trạng bóc lột lao động.
=> THƯƠNG MẠI NHỎ:
Đây cũng là chủ trương đi từ những đơn vị nhỏ thương mại mà tiến lên. Từ tiểu thương, rồi tiến dần lên đại thương. Săn sóc, hỗ trợ những Thương mại nhỏ để phân phối các nơi. Hãy nhìn Kinh tế Việt Nam để thấy khác biệt giữa hai chủ trương. Trong bao chục năm trường, Nhà Nước Việt Nam bỏ rơi Nông Nghiệp, một lãnh vực mà chúng ta có cả khả năng thiên nhiên để phát triển cho 75% dân số nghèo tại nông thôn. Nhà Nước Việt Nam chỉ nhằm bán Lao động cho tài phiệt nước ngòai, rồi xuất khẩu Lao động phục vụ ngọai quốc mà không lo phát triển những Luật lệ bảo vệ công bằng cho giới Lao động. Về thương mại, mỗi thành phố chỉ chuyên lo khuếch trương Siêu thị mà ít nâng đỡ những Tiểu thương, thậm chí còn tàn nhẫn đi hốt những người nghèo buôn thúng bán mẹt ở những góc phố. Tìm cách nâng đỡ họ. Họ là những Tiểu thương đấy, để họ có chỗ buôn bán độ thân và tiến dần lên Trung thương hoặc có thể là Đại thương sau này.
Hệ thống Tiểu Tài chánh “Microfinance“
Hệ Tiểu Tài chánh “Microfinance“ đi song hành rất nhịp nhàng với việc khuếch trương Nông Nghiệp và việc nâng đỡ các Tiểu thương. Hệ thống Tài chánh này cũng nhằm nâng đỡ tính năng động và sáng kiến của tuổi trẻ. Tính đa dạng của nền Kinh tế tùy thuộc vào tuổi trẻ. Trong những năm làm Tài chánh cho những Dự án, chúng tôi thường đưa ra một số tỉ dụ để công kích chính những Ngân Hàng lớn. Tỉ dụ sau đây thường được đưa ra khi phải chạm trán với Ngân Hàng:
Một sinh viên trẻ mới học xong. Anh đang mang cả bầu nhiệt huyết để thực hiện Dự án mà trong suốt thời gian học anh mơ mộng. Anh viết Dự án. Xử dụng môn học Phân tích Chi tiêu Xí nghiệp (Analyse des Charges Industrielles) để tính tóan rất kỹ. Xử dụng môn Marketing và Ước lượng Thu nhập để cho thấy rằng Lợi nhuận từ mỗi chặng thực hiện Dự án là bao nhiêu. Đọc Dự án, tôi cảm phục anh sinh viên nghèo mới ra trường này.Nhưng phải có VỐN thì mới thực hiện được Dự án. Anh can đảm đến Ngân Hàng để trình bầy Dự án với những Chi—Thu đã tính tóan kỹ.
Anh xin Ngân Hàng cho vay vốn để thực hiện Dự án của mình. Anh chấp nhận mọi kiểm sóat của Ngân Hàng. Ngân Hàng khen anh, nhưng trả lời rằng:“Vậy Bank Guarantee hay Standby Letter of Credit của anh đâu để làm Collateral cho vốn vay ?“. Anh sinh viên nghèo chua chát ra đi và nghĩ: thực là ngược ngạo ! Để lấy được Bank Guarantee hay Standby Letter of Credit, thì anh phải có tiền đặt trong Ngân Hàng làm Deposit. Mà nếu anh đã có tiền rồi để làm Deposit, thì anh cần gì phải đến Ngân Hàng kia để xin vay. Có lẽ anh phải đi làm vất vả trong 10 năm để có tiền làm Deposit. Nhưng 10 năm sau, thì sức lực anh đã giảm, anh không muốn theo đuổi Dự án như lúc mới ra trường.
Tôi rất khâm phục ý tưởng đặc biệt của Aán Độ đã thiết lập hệ thống Microfinance, nghĩa là cho những người nghèo, những cá nhân muốn làm ăn vay. Hệ thống này đã trở thành thời danh mà vị sáng lập đã được khen tặng giải Nobel Hòa Bình.
Chương trình Phát triển Kinh tế Aán Độ đặt trọng tâm vào những người nghèo muốn làm việc: Nông dân, Lao động và Tiểu thương. Cùng với Chương trình nghĩ đến người nghèo như vậy, Aán Độ đã có sáng kiến tổ chức hệ thống Tiểu Tài chánh “Microfinance“ để giúp phương tiện làm ăn cho dân nghèo thiếu vốn như anh sinh viên trên kia. Đó là hai ngả giúp hữu hiệu cho phát triển Kinh tế từ nền tảng. Xin lưu ý: thống kê cho thấy rằng dân nghèo vay nợ làm ăn là dân hòan vốn rất chu đáo “Bon payeur“ !
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 30.03.2010
| | | |
CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ:
Bài 07:
MỸ VÀ TẦU TRONG THẾ ĐẤU ĐÁ THƯƠNG MẠI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 25.03.2009
Đây là bài thứ ba chúng tôi viết về căng thẳng Thương mại giữa Hoa kỳ và Trung quốc mà bắt nguồn là việc Trung quốc cố thủ giữ tỷ giá đồng Nhân D6an Tệ thấp đối với Đo-la Mỹ. Bài thứ nhất khi CHU TIỂU XUYÊN, THỐNG ĐỐC Ngân Hàng Trung ương Trung quốc tuyên bố trong cuộc Họp báo ngày 06.03.2010 rằng Trung quốc có thể nâng tỷ giá đồng Yuan. Bài thứ hai nhân bài Diễn văn của chính Thủ tướng ÔN GIA BẢO ngày 14.03.2010, trong đó Oân Gia Bảo lại tuyên bố rất cứng rắn rằng Trung quốc sẽ không bao giờ khuất phục trước những áp lực nước ngòai về việc nâng tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ. Bài thứ ba hôm nay muốn phân tích quan điểm của Trung quốc và Hoa kỳ về sự cân bằng ích lợi chung của nền Kinh tế tòan cầu.
Nội dung mỗi bài trên đây đã được Đài RFI phỏng vấn và phát thanh về Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
Chúng tôi theo rõi vấn đề tỷ giá đồng Yuan và sự căng thẳng Thương mại giữa Hoa kỳ và Trung quốc qua những tin tức hòan tòan mang tính cách thời sự đăng trên các báo lớn quốc tế như tờ The Wall Street Journal, tờ Financial Times, tờ Le Monde và tờ Le Figaro. Chúng tôi liệt kê nguồn những tài liệu này để độc giả tiện tham khảo:
* Le Figaro 15.03.2010, trang 18 :
PEKIN REJETTE LES CRITIQUES AMERICAINES
* Financial Times 15.03.2010, trang 1 :
CHINA PREMIER BRANDS PRESSURE OVER RENMINBI PROTECTIONISM
* The Wall Street Journal 15.03.2010, trang 1:
CHINA TAKES AIM AT U.S. OVER ECONOMY
* Le Monde 16.03.2010, trang 16:
CHINE: LE PREMIER MINISTRE RECONNAIT L’AGGRAVATION DES INEGALITES SOCIALES
* The Wall Street Journal 16.03.2010, trang 23 :
BEIJING IS STILL THE TOP HOLDER OF U.S.DEBT
* Web Alternatives Economiques par Jacques ADDA, Article Web 17.03.2010:
LA DOUBLE FACE DU YUAN
* Financial Times 16.03.2010, trang 1:
CONGRESS LETTER URGES ACTION ON RENMINBI
* Fiancial Times 17.03.2010, trang 3:
BEIJING ON OFFENSIVE OVER RENMINBI
* The Wall Street Journal 17.03.2010, trang 1 & 3:
CHINA ATTACKS QUALITY OF FOREIGN GOODS
* Le Monde 18.03.2010, trang 16:
TAUX DE CHANGE DU YUAN: PUGILAT AMERICANO-CHINOIS
* Financial Times 18.03.2010, trang 2 :
WORLD BANK OPTIMISTIC ON CHINA ?
* The Wall Street Journal 18.03.2010, trang 14:
MULTINATIONAL COMPANIES SOUR ON THEIR DEALINGS WITH CHINA.
* Financial Times 22.03.2010, trang 6:
CHINA’S US TRADE ALLIES LOSING FIGHT WITH HAWKS
* Le Figaro 22.03.2010, trang 25:
COMMERCE: LA CHINE DEFIE LES OCCIDENTAUX
* The Wall Street Journal 23.03.2010, trang 10 :
WEN MEETS WITH BUSINESS
* The Wall Street Journal 24.03.2010, trang 9:
RARE CHINA DEFICIT COULD BACK POLICY
* Financial Times 24.03.2010, trang 8:
ARBITRARY CHINA
Bài thứ ba hôm nay trình bầy ba khía cạnh:
=> Quan điểm của Tây phương về mất can bằng Kinh tế tòan cầu
=> Quan điểm của Trung quốc: con dao hai lưỡi của tỷ giá đồng Yuan
=> Nếu vấn đề tỷ giá đồng Yuan không được giải quyết, thì hậu quả ra sao
Quan điểm của Tây phương về mất can bằng Kinh tế tòan cầu
Hai yếu tố chính về phát triển kinh tế Thế giới từ 1990 như sau:
=> Tiêu thụ tăng mạnh từ phía Tây phương từ 1990
=> Đầu tư sản xuất tại Trung quốc tăng vọt song hành
Tiêu thụ tăng mạnh từ phía Tây phương từ 1990, rồi tụt dốc với Khủng hỏang
Thị trường tiêu thụ chính yếu hàng hóa của Thế giới quy tụ vào Hoa kỳ và Liên Ậu. Tỉ dụ ngay ngày nay, sức tiêu thụ hàng hóa của 1’300 triệu người Trung quốc chỉ bằng 16% sức tiêu thụ của 300 triệu dân Mỹ, chưa kể Liên Âu. Trong thời gian này, các Ngân Hàng cấp phát dễ dàng Tín dụng cho Tiêu thụ. Cụ thể Tín dụng nguy hiểm Địa ốc (Subprime Mortgage Credit). Những Credit Cards Tiêu thụ được nhân lên.
Nhưng từ khi có Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế 2007-2009, tiêu thụ Tây phương tụt dốc mà lý do là Thất nghiệp tăng, do đó thu nhập giảm, rồi tình trạng nợ nần của các Quốc gia Tây phương, nhất là Hoa kỳ làm giảm Tiêu thụ nhà nước.
Nhưng tại Trung quốc, hàng hóa vẫn tăng để giữ đà phát triển làm hàng hóa phụ trội xuất cảng của Trung quốc kéo theo khuynh hướng xuống giá của Tây phương. Theo Tây phương, Trung quốc cần phải cân bằng sản xuất của mình bằng cách tăng mãi lực của nội địa để tiêu thụ những hàng hóa phụ trội. Nhưng Trung quốc đã làm ngược lại là thay vì đầu tư vào vấn đề xã hội, giáo dục, họ lại cho đầu tư vào những công ty sản xuất làm tăng thêm phụ trội hàng hóa.
Đầu tư sản xuất tại Trung quốc tăng vọt song hành, đòi hỏi phải giảm hẳn xuống
Chính sách cân bằng Kinh tế Thế giới đòi hỏi: Trung quốc phải tăng Lãi suất, tăng Tỷ giá đồng Nhân dân tệ. Hai việc này có hiệu lực làm giảm đầu tư vào sản xuất, đồng thời cắt việc nâng đỡ xuất cảng để dành phụ trội cho Tiêu thụ nội địa.
Nhưng Trung quốc đã không làm như vậy, mà ngược lại Trung quốc cho chi tiêu vào Hạ tầng cơ sở và giúp đỡ các Công ty sản xuất, nghĩa là không tăng mãi lực nội địa. Họ tăng cường những công ty xi-măng, bauxite, lọc dầu và hóa chất. Về mặt Tiền tệ, theo giá cố định với Đo-la, khi đo-la xuống trong thời gian vừa qua, đồng Nhân dân tệ càng xuống và do đó họ tăng xuất cảng và càng làm tăng thất nghiệp cho Tây phương.
Quan điểm của Trung quốc: con dao hai lưỡi của tỷ giá đồng Yuan
Trung quốc không nhìn tình trạng Kinh tế Tòan vầu như Tây phương. Họ đã gatï bỏ một cách cứng nhắc những yêu cầu của Tây phương cho tình trạng cân bằng của Kinh tế tòan cầu như đề nghị về Lãi suất tăng để giảm đầu tư và nâng tỷ giá đồng Nhân dân tệ để giảm xuất cảng và tăng cường tiêu thụ nội địa. Trong cuộc họp báo ngày 14.03.2010, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã gạt hẳn việc tăng lãi suất và nâng tỷ giá đồng nhân dân tệ. Trung quốc, để biện minh cho quan điểm của mình, họ đã nói:
Về chi tiêu nhà nước trong nội địa
Họ đã nêu ra: 27’000 nhà cửa xã hội, 200’000 cây số đường sá, 1 500 cây số đường xe lửa và tăng bảo trợ hưu dưỡng và sức khỏe. Nhưng ảnh hưởng này có tính cách dài hạn chứ không nhằm giải quyết sự mất cân bằng hiện nay của kinh tế tòan cầu là giảm xuất cảng và tăng liền mãi lực nội địa để tiêu thụ hàng hóa phụ trội do tăng cường đầu tư vào sản xuất.
Về nâng tỷ giá đồng nhân dân tệ
Trung quốc nêu ra những nguy hiểm sau đây:
* Nâng tỷ giá đồng Yuan sẽ tạo tình trạng đầu cơ vốn nước ngòai vào Trung quốc và tạo thổi phồng đầu cơ tại Thị trường Chứng khóan để kiếm lợi nhuận do chênh lệc tỷ giá đồng Yuan. Trung quốc nêu ra tỷ dụ Nam Hàn và Ba Tây cũng như Nhật vào những năm 1980.
* Tình trạng vốn nước ngòai ào vào còn làm tăng lạm phát, điều mà họ rất sợ vì lạm phát có thể gây xáo trộn xã hội và chính trị. Thủ tướng Ôn Gia Bảo đặc biệt nhấn mạnh về điểm này trong bài Diễn văn ngày 14.03.2010.
* Trung quốc cần phải giữ tỷ giá thấp để nâng đỡ xuất cảng. Trung quốc cần phải duy trì xuất cảng để giải quyết nạn thất nghiệp đang tăng mạnh tại nước họ. Mỗi năm, Trung quốc phải giải quyết 24 triệu người trẻ và dân kiếm việc du mục đến từ đồng quê. Không có xuất cảng, rồi công ty đóng của, thì số tăng thất nghiệp hàng năm này sẽ gây xáo trộn xã hội và chính trị.
Theo thông tin mới nhất trong những ngày 23/24.03.2010, thì Trung quốc dường như đang muốn dùng thủ thuật hõan binh để “đánh lừa” làm giảm căng thẳng với Tây phương, bằng:
* Gửi Thứ trưởng Kinh tế sang Mỹ để thảo luận
* Xử dụng những Công ty Liên quốc (Multinationales) tại Trung quốc (chiếm 60% số hàng xuất cảng) để áp lực lên Hoa kỳ. Thủ tướng Ôn Gia Bảo gặp đại diện những Công ty nước ngòai thứ hai vừa rồi (Tin của The Wall Street Journal, 23.03.2010, p.10)
* Họ tuyên bố thống kê tháng 03/2010 cho thấy Trung quốc nhập cảng nhiều hơn xuất cảng: “Top Chinese officials have in recent days said numbers for March could show China imported more than it exported this month” (Những nhân viên cao cấp Trung quốc tuyên bố trong những ngày gần đây rằng những con số tháng Ba cho thấy Trung quốc nhập cảng nhiều hơn xuất cảng) (The Wall Street Journal 24.03.2010, p.9)
Nếu vấn đề tỷ giá đồng Yuan không được giải quyết, thì hậu quả ra sao
Tây phương coi quan điểm của Trung quốc là một Chủ nghĩa trọng Kim gây hấn, hay cũng gọi là Chủ nghĩa con buôn gây hấn (Mercantilisme agressif) đang làm phát sinh mau chóng một Chiến tranh Thương mại giữa Trung quốc và các nước Tây phương Hoa kỳ và Âu châu.
Nếu Trung quốc không tuân thủ luật tái cân bằng Kinh tế tòan cầu, nghĩa là cứ khăng khăng giữ thái độ Con Buôn gây hấn như trên, nhất là không nâng cao mãi lực nội địa để tiêu thụ những phụ trội hàng hóa, mà cứ giữ tỷ giá đồng Nhân dân tệ thấp để tăng xuất cảng hàng hóa làm thiệt hại những nước khác, nhất là Tây phương, thì Chiến tranh Thương mại giữa Tây phương và Trung quốc phải xẩy ra.
130 Nghị sĩ Quốc Hội và một số Thượng nghị sĩ đã đưa Dự Luật áp lực lên TT.Obama để làm mạnh với Trung quốc. Trung quốc khăng khăng giữ quan điểm của mình. Tây phương bị đẩy dần dần vào thế chủ trương Che Chở Kinh tế/Thương mại. Hoa kỳ đang đi đến xếp Trung quốc vào lọai Giảo họat Tiền tệ (Label Currency Manipulator)
Một số chuyên viên Thương mại đã hình dung cho Hoa kỳ những biện pháp như:
=> Hoa kỳ có thể yêu cầu IMF/FMI (Qũy Tiền Tệ Quốc tế) để đưa ra những trừng phạt về tiền tệ.
=> Hoa kỳ có thể đưa Trung quốc ra WTO/OMC (Tổ Chức Mậu Dịch Thế giới) để khiếu nại về vấn đề xử dụng tỷ giá hối đóai nâng đỡ sản xuất và thương mại.
=> Hoa kỳ cũng có thể lấy những lý do nội tại để định thuế quan cho những hàng nhập cảng từ Trung quốc. Chúng ta đi vào những biện pháp trả đũa vậy (Mesures de représailles).
Tăng mãi lực nội địa có nghĩ là dần dần Dân chủ hóa Kinh tế. Đây là việc mà một Chế độ độc tài không muốn làm. Họ muốn khai thác triệt để nhân lực của khối người nghèo nội địa. Một sự nổi dậy của dân nghèo bị khai thác có thể xẩy ra, đó là điều mà Oân Gia Bảo đã lo sợ trong bài Diễn Văn của Oâng trước Quốc Hội Nhân Dân vào ngày 14.03.2010.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 25.03.2010
| | | |
CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ:
Bài 06:
TỶ GIÁ ĐỒNG YUAN VÀ CĂNG THẲNG THƯƠNG MẠI MỸ VÀ TẦU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 18.03.2009
Trước đây người Pháp dùng cái tên IndoChine để chỉ khu vực địa lý giữa Aán độ và Tầu, trong đó có Việt Nam. Tuần vừa rồi, chúng tôi viết bài nhận định theo dòng thời sự: ẤN ĐỘ, MỘT CƯỜNG QUỐC KINH TẾ TƯƠNG LAI Á CHÂU và chúng tôi định viết bài QUAN ĐIỂM hôm nay với những phân tích về hướng phát triển của Kinh tế Aán độ trong phạm vi chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ.
Chúng ta ở giữa hai nước đông dân số, Trung quốc và Aán độ, cả hai được xếp vào những nước bắt đầu phát triển (Pays émergents). Kinh tế Trung quốc tập trung những phát triển dưới quyền lực độc tài độc đảng, chú tâm vào xuất cảng, nghĩa là hướng ngọai. Kinh tế Aán độ tản những họat động phát triển tới dân chúng trong nước, nghĩa là hướng nội, dưới chủ trương tản quyền kinh tế hay cũng gọi là dân chủ hóa kinh tế.
Định viết bài QUAN ĐIỂM hôm nay về Ấn độ như một tỉ dụ cho chủ đề DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ. Nhưng tình hình căng thẳng về vấn đề Tiền tệ và Mậu dịch giữa Hoa-kỳ và Trung quốc trở thành gay gắt sau cuộc Họp báo Chúa Nhật vừa rồi, 14.03.2010, của Thủ tướng Oân Gia Bảo tại Bắc Kinh. Oâng công kích mạnh Hoa kỳ và coi Hoa kỳ đang đi đến Che Chở Mậu Dịch (Protectionnism). Đồng thời từ Hoa Thịnh Đốn, 130 Nghị viên Quốc Hội và một số Thương Nghị sĩ viết thư yêu cầu Obama phải làm mạnh với Trung quốc về tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ, thậm chí yêu cầu xử dụng quan thuế để chế tài Trung quốc nếu Trung quốc vẫn ương ngạnh.
Tuần trước, chúng tôi đã viết một bài QUAN ĐIỂM về phạm vi này với đầu đề: TRUNG QUỐC XUỐNG NƯỚC VÌ LO SỢ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI. Chúng tôi nói Trung quốc xuống nước theo những tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, và của Dương Khiết Trì, Ngọai trưởng Trung quốc. Nhưng tuần này, Thủ tướng Oân Gia Bảo lại lên nước cứng nhắc, khiến chúng tôi tạm để một bên về Kinh tế Aán độ và viết tiếp về sự căng thẳng đấu đá giữa Trung quốc và Hoa kỳ về Tiền tệ và Thương mại.
Trong bốn ngày gần đây, thứ Hai, thứ Ba, thứ Tư và thứ Năm hôm nay, nhiều bài viết về vấn đề căng thẳng đấu đá này trên các Nhật Báo lớn quốc tế. Nguyên xem những đầu đề viết, chúng ta đã thấy tầm căng thẳng đã lên cao như thế nào và những căng thẳng này không thể giải quyết một sớm một chiều mà yên. Nó còn kéo dài. Chính vì vậy mà chúng tôi xin liệt kê những đầu đề đó để qúy độc giả thấy tầm quan trọng của căng thẳng và cũng để qúy độc giả tiện vào đọc những bài sau đây để nhận định thêm :
* Le Figaro 15.03.2010, trang 18 :
PEKIN REJETTE LES CRITIQUES AMERICAINES
* Financial Times 15.03.2010, trang 1 :
CHINA PREMIER BRANDS PRESSURE OVER RENMINBI PROTECTIONISM
* The Wall Street Journal 15.03.2010, trang 1:
CHINA TAKES AIM AT U.S. OVER ECONOMY
* Le Monde 16.03.2010, trang 16:
CHINE: LE PREMIER MINISTRE RECONNAIT L’AGGRAVATION DES INEGALITES SOCIALES
* The Wall Street Journal 16.03.2010, trang 23 :
BEIJING IS STILL THE TOP HOLDER OF U.S.DEBT
* Financial Times 16.03.2010, trang 1:
CONGRESS LETTER URGES ACTION ON RENMINBI
* Fiancial Times 17.03.2010, trang 3:
BEIJING ON OFFENSIVE OVER RENMINBI
* The Wall Street Journal 17.03.2010, trang 1 & 3:
CHINA ATTACKS QUALITY OF FOREIGN GOODS
* Le Monde 18.03.2010, trang 16:
TAUX DE CHANGE DU YUAN: PUGILAT AMERICANO-CHINOIS
* Financial Times 18.03.2010, trang 2 :
WORLD BANK OPTIMISTIC ON CHINA ?
* The Wall Street Journal 18.03.2010, trang 14:
MULTINATIONAL COMPANIES SOUR ON THEIR DEALINGS WITH CHINA.
Chỉ nguyên đọc những đầu đề trên đây, chúng ta đã mường tượng ra tầm quan trọng của đấu đá giữa Hoa kỳ và Trung quốc và những vấn đề phức tạp chạm đến nồi cơm của mỗi nước. Chúng tôi không thể đi vào những chi tiết của những bài trên đây với phạm vi một bài QUAN ĐIỂM hôm nay. Phải cần những bài QUAN ĐIỂM tiếp theo nữa để đi vào chi tiết và nhất là theo rõi công việc đấu đá cho nồi cơm mỗi nước sẽ đi về đâu, sẽ có những trừng phạt quan thuế hay không (Sanctions par Taxes douanìeres), mỗi nước đưa ra những biện pháp không giá biểu như thế nào (Mesures non-tarifaires) và những biện pháp trả thù ra sao (Mesures de représailles).
Vì vậy bài QUAN ĐIỂM hôm nay chỉ nêu ra những điểm chính căng thẳng về Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ và những dự phóng xử dụng trừng phạt quan thuế về Thương mại từ hai phía Trung quốc và Hoa kỳ.
Thái độ từ phía Trung quốc
Chúng tôi nghĩ rằng những công kích từ phía Trung quốc về vụ việc Google, về việc Hoa kỳ bán võ khí cho Đài Loan, về việc Obama gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma... dần dần rồi cũng quên đi. Nhưng vấn đề gai góc tạo căng thẳng là Trung quốc coi việc giữ Tỷ giá thấp của đồng Yuan như một chính sách Tiền tệ chung cho phát triển Kinh tế Trung quốc. Trung quốc làm việc cho xuất cảng. Nếu xuất cảng tụt dốc, thì sản xuất kinh tế Trung quốc chết. Chính sách giữ Tỷ giá đồng Yuan thấp đối với Đo-la là nhằm cạnh tranh tăng xuất cảng, nghĩa là đồng thời nuôi dưỡng sản xuất. Chính vì vậy đối với Trung quốc, khi nói đến Tiền tệ, thì cũng phải nói đến tình trạng kinh tế chung của nước này.
Một số báo chí đã thổi phồng Kinh tế Trung quốc khi chỉ nhìn những thành phố ven biển, khi thấy những “gadgets” Made in China tràn ngập ở các Siêu thị bên này, khi nghĩ rằng chế độ chính trị Trung quốc cũng giống những chế độ dân chủ Tây phương.
Chúng tôi xin lập lại đây hình ảnh tóm tắt rất xác thực về Kinh tế Mafia độc đảng Trung Cộng với tất cả những tính tóan cho quyền lợi cá nhân của độc đảng cầm quyền:
Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, viết về hiệu quả Kinh tế/Thương mại Trung quốc như sau: “It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay).
Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung cộng, ở trong lòng nền Kinh tế như trên vừa tóm tắt, “ở trong chăn”, nên biết rõ tỏ tường chăn có rận rệp như thế nào. Vì vậy trong bài diễn văn nhân Mùa Xuân kết thúc Khóa họp Quốc Hội Nhân Dân ở Bắc Kinh, Chúa Nhật 14.03.2010, ông đã nhấn mạnh đến hai điểm chính: (i) Tình hình Kinh tế có những đe dọa để dẫn đến bất ổn xã hội; (ii) Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ/Đo-la là chính sách Tiền tệ cứu vãn Kinh tế.
Tình hình Kinh tế có những đe dọa dẫn đến bất ổn xã hội, chính trị
Bình thường, thì những Lãnh đạo chính trị độc tài bưng bít không dám nói ra những khuyết điểm. Nhưng lần này, một Thủ tướng đành phải thú nhận những đe dọa cho Kinh tế Trung quốc có thể dẫn đến những bất ổn Xã hội và Chính trị. Oân Gia Bảo nói rõ rệt như sau:
“L’inflation, plus une redistribution inéquitable des revenus et la corruption pourraient affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement” (Lạm phát, thêm vào đó là một sự phân phối không đồng đều những thu nhập và tham nhũng có thể tác hại đến sự ổn định xã hội và ngay cả đến sự ổn định nhà nước” (Le Monde 16.03.2010, trang 16)
Tại sao Thủ tướng Oân Gia Bảo phải thú nhận như vậy. Một số những nhà quan sát cho rằng việc thú nhận này có lẽ được xử dụng làm cái cớ để Trung quốc nhất thiết duy trì Tỷ giá thấp đồng Yuan mong cứu nền kinh tế đang chao đảo.
=> Lạm phát (Inflation)
Trung quốc đang lo sợ lạm phát. Tháng hai vừa rồi lạm phát tăng 2.7% và Nhà nước đang lo sợ rằng lạm phát tòan năm có thể lên 2 con số. Chính Oân Gia Bảo đã nhắc lại rằng năm 1989, vụ đẫm máu tại Thiên An Môn là do lạm phát tăng lên hai con số.
=> Sự phân phối không đồng đều những thu nhập (Redistribution inéquitable des revenus)
Đúng theo hình ảnh Kinh tế Trung quốc mà Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, đã tóm tắt như trên đây. Đó là Kinh tế Mafia đảng CSTQ, bóc lột nhân lực đại đa số dân Trung quốc mà không cho họ hưởng tương xứng với thu nhập, đám Mafia đảng trở thành giầu sụ và tiền thu nhập lại chuyển ra nước ngòai đầu tư chứ không đầu tư trong nước để đa số dân nghèo có thể được hưởng. Đồng Nhân Dân Tệ là tiền của Tầu mà chính đám Mafia giầu có lại sợ giữ tiền Tầu, nên mua đồng Đo-la để trữ. Tờ Le Monde ngày 16.03.2010, trang 16 viết: “La Chine est alarmée par le fait que le fossé ville-campagne va continuer à se creuser dans la mesure òu le pays se focalise sur le développement urbain et pas du monde rural.” (Trung quốc bị báo động bởi sự việc là hố sâu thành phố—nhà quê sẽ tiếp tục tự đào sâu thêm ở mức độ nước này đặt tiêu điểm phát triển thành thị và không phải là lãnh vực nông thôn)
Cách đây 6 năm, số người giầu từ 150 triệu Đo-la, liên hệ với đảng CSTQ, là 100 người. Ngày nay con số đó đã tăng lên 1’000 người (Le Monde 16.03.2010, p.16)
=> Tham nhũng (Corruption)
Tham nhũng mọi cấp tràn lan. Không cho hối lộ, thì công việc không chạy. Đó là lời nhận xét của một doanh nhân nước ngòai làm việc với Trung quốc. Ký giả Jamil ANDERLINI từ Bắc kinh đã viết trên tờ FINANCIAL TIMES ngày 27.01.2010, trang 17, viết về con trai của Oân Gia Bảo, Oân Yunsong, và con trai của Hồ Cẩm Đào, Hồ Heifeng:
“The children of China’s Leaders enjoy unparalelled access to decision-makers and are seen as essential facilitators by foreign businesses operating in the country. But while their names can help attract investors, any public perception in China that they are trading on their family’s name can be politically devastating and details of their activities are often regarded as state secrets. Internet searches for information on NEW HORIZON and Winston WEN were blocked in China yesterday. In similar situation in July last year, the Central Propaganda Department ordered all Chinese search engines to block searches related corruption probe in Namibia involving Nuctech, the airport scanner group controlled by Hu Haifeng, 38-year-old son of Hu Jintao, China’s president“. (Những con cái của các Lãnh đạo tại Trung quốc được hưởng liên hệ không sánh được về việc liên hệ trực tiếp với những người có quyền quyết định và được coi như là những người dàn xếp chính yếu bởi nhà kinh doanh nước ngòai làm việc trọng xứ Tầu. Nhưng trong khi tên của những con cái các Lãnh tụ này có thể quyến rũ những nhà đầu tư, thì bất cứ những sự biết đến của quần chúng rằng những người con này đang làm ăn dựa trên tên gia đình của họ có thể gây tàn phá về mặt chính trị, và những chi tiết họat động của họ thường được coi là những bí mật nhà nước. Những truy tìm tin tức bằng Internet về Tập đòan New Horizon và về Winston ÔN (On Yunsong) đã được ngăn chặn lại hôm qua tại Trung quốc. Trong hòan cảnh giống như vậy vào tháng Bẩy năm ngóai, Bộ Tuyên truyền Trung ương đã ra lệnh xử dụng tất cả những phương tiện tìm kiếm đóng chặt những truy tìm bằng chứng tham nhũng ở Namibia liên hệ đến NUCTECH, Tập đòan Air Scanner dưới quyền kiểm sóat của Hồ Haifeng, con trai 38 tuổi của Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch Trung quốc).
Con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, con rể của Tướng Võ Nguyên Giáp, tại Việt Nam, nhờ quyền lực độc tài đảng, mà làm ăn giầu có, lại thêm môi giới quyền lực ăn hối lộ.
=> Tác hại đến ổn định Xã hội, ngay cả ổn định Nhà nước (Affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement)
Oân Gia Bảo đã nói trước Quốc Hội Nhân Dân rằng những sự việc trên đây đang diễn ra trong nền Kinh tế Trung quốc và sẽ đưa tới sự bất ổn Xã Hội và Chính trị. Sự nổi dậy của khối dân nghèo nếu có lạm phát làm họ thiếu ăn. Những bóc lột sức lao động đã làm giầu có cá nhân thuộc đảng CSTQ đến một lúc sẽ làm nhân công không thể chịu đựng được và nổi dậy. Sự tị hiểm, uất hận sẽ tăng lên trong giới trẻ và trí thức khi nhìn những tệ đoan, bất công trên đây. Hình ảnh nổi dậy Thiên An Môn là một tỉ dụ cụ thể lịch sử.
Thú nhận những điểm như trên đây rồi, Oâng Gia Bảo tuyên bố một điều làm cho những ai thường ca tụng “cường quốc Kinh tế Trung quốc” phải ngạc nhiên: “Cela prendra cent ans, même plus pour que la Chine devienne un pays moderne” Điều đó còn cần 100 năm, ngay cả lâu hơn nữa, để Trung quốc trở thành một nước tân tiến) (Le Monde 16.03.2010, trang 16)
Tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ/Đo-la là chính sách Tiền tệ cứu vãn Kinh tế.
Sau khi thú nhận những nguy hiểm của Kinh tế Trung quốc như trên, Thủ tướng Oân Gia Bảo nhất quyết bảo vệ chính sách Tiền tệ của Trung quốc nhằm bảo vệ xuất cảng và do đó sản xuất kinh tế trong nước. Có thể việc thú nhận này là để làm bối cảnh cho ông khẳng định cứng nhắc về chính sách Tiền tệ của Trung quốc.
Trước cuộc Họp báo ngày thứ Bẩy 06.03.2010, Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã mạnh mẽ kêu gọi việc phế bỏ Đo-la để chọn một đơn vị Tiền tệ khác. Nhưng trong cuộc Họp báo này, ông đã xuống nước. Bản tin của Reuters đánh đi từ Bắc Kinh ngày 08.03.2010, tóm tắt như sau (Bản dịch Pháp ngữ của Gwénaelle BARZIC):
“Lors de la session annuelle de l’Assemblée nationale populaire (Parlement), le gouverneur de la Banque populaire de Chine Zhou Xiaochuan a déclaré que Pékin serait un jour ou l’autre contraint d’abandonner cette politique “spéciale” du yuan, qui fait partie des diverses mesures prises par les autorités pour limiter l’impact de la crise. L’expérience a montré que ces politiques ont été positives, en contribuant à la fois au resdressement de notre économie et de l’économie mondiale. Les problèmes concernant le retrait de ces politiques apparaitront tôt ou tard. Si nous devons retirer ces politiques inhabituelles et revenir à des politiques économiques ordinaires, nous devons être extrêmement prudents dans le choix du calendrier. Cela inclut également la politique de taux de change du renminbi.” (Nhân dịp họp hàng năm của Quốc Hội Nhân dân, Thống dốc Ngân Hàng nhân dân Trung quốc Chu Tiểu Xuyên đã tuyên bố rằng Bắc Kinh, một ngày nào đó, buộc phải bỏ chính sách “đặc biệt” của đồng Yuan, chính sách làm thành phần của những biện pháp quyết định bởi Nhà Nước nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của khủng hỏang. Kinh nghiệm cho thấy rằng những chính sách này là tích cực, đóng góp vào việc khôi phục nền kinh tế của chúng ta và nền kinh tế của thế giới. Những vấn đề liên quan đến việc rút lại những chính sách này sớm muộn sẽ đến. Nếu chúng ta phải rút lại những chính sách bất thường này, chúng ta phải hết sức thận trọng trong việc lựa chọn lịch trình. Điều này cũng bao gồm cả chính sách tỷ giá của đồng nhân dân tệ.)
Nhưng trong bài diễn văn của Thủ tướng Oâng Gia Bảo, Chúa Nhật 14.03.2010, ông khẳng định nhất quyết không để những nước khác chỉ tay áp lực bắt Trung quốc phải nâng tỷ giá tiền tệ:
“We oppose all countries engaging in mutual finger-pointing or taking strong measures to force other nations to appreciate their currencies. (Chúng tôi chống lại tất cả những nước chỉ tay ra lệnh hay lấy những biện pháp mạnh để buộc những nước khác phải nâng tỷ giá tiền tệ của họ) (Financial Times 15.03.2010, trang 1).
Đồng thời Oân Gia Bảo cũng tuyên bố ngược lại lời khẳng định của Thống đốc Ngân Hàng Chu Tiểu Xuyên cho rằng đồng Yuan đã có tỷ giá thấp sánh với Đo-la. Oân Gia Bảo nói:
“The Chinese currency is not undervalued” (Đồng tiền Trung quốc không đánh giá thấp xuống). (Financial Times 15.03.2010, trang 1).
Chối bỏ rằng đồng Yuan không bị đánh thấp giá xuống, Oân Gia Bảo chuyển sang thế tấn công Hoa kỳ:
“What I don’t understand is depreciating one’s own currency, and attempting to pressure other to appreciate, for the purpose of increasing exports. In my view, that is protectionism !” (Điều mà tôi không hiểu nổi là một đàng hạ tỷ giá đồng tiền của mình, và một đàng làm áp lực để bắt người khác nâng tỷ giá tiền của họ, chỉ vì mục đích làm tăng xuất cảng của mình. Theo quan điểm của tôi, đó là Che Chở Kinh tế !) ((Financial Times 15.03.2010, p.1).
Theo như việc trình bầy những nguy hiểm của nền Kinh tế Trung quốc như Oân Gia Bảo nói trong đọan trên, thì việc cứng nhắc giữ chính sách Tỷ giả Tiền tệ của Trung quốc là điều bó buộc bởi những lý do sau đây:
=> Trung quốc bị cắt giảm việc đặt mua hàng từ Hoa kỳ và Liên Aâu. Nếu bây giờ tăng Tỷ giá đồng Yuan nữa, thì Trung quốc mất thêm xuất cảng nữa.
=> Việc tăng tỷ giá đồng Yuan cũng là việc làm giảm cạnh tranh của hàng hóa Trung quốc tại những nước nghèo và đối với hàng hóa của những nước bắt đầu phát triển cùng sản xuất những hàng hóa giống như Trung quốc.
=> Một nguy hiểm nữa: những nhà Tài chánh đầu cơ khi biết đồng Yuan có khuynh hướng tăng tỷ giá, họ thẩy vốn vào Trung quốc để hưởng lợi khi đồng Yuan tăng giá lên.
=> Khi những vốn đầu cơ này vào Trung quốc, tình trạng lạm phát càng trở thành nguy cơ và tác hại đến ổn định xã hội và chính trị. Đây là điều mà Nhà Nước độc tài CSTQ sợ hãi nhất. Đảng CSTQ sẽ không chịu đựng được sức nổi dậy của 4/5 dân số nghèo Trung quốc.
Thái độ cứng rắn từ phía Hoa-kỳ
Phía Hoa kỳ cũng có những lý do phải cứng rắn đối với việc giữ tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ thấp đối với Đo-la. Tỷ giá thấp ấy đã giúp Trung quốc tăng cạnh tranh hàng hóa, nghĩa là tăng xuất cảng. Trung quốc tăng xuất cảng không phải chỉ cạnh tranh với hàng Hoa kỳ tại chính đất Mỹ, mà còn đối với những vùng Kinh tế khác nữa, như Liên Aâu, Khu vực Thái Bình Dương, Trung Đông và Nam Mỹ. Lý do thúc đẩy quyết định mạnh hơn cả và trực tiếp cho Chính quyền Obama là:
=> Tình trạng thất nghiệp ở Mỹ tăng gần 10%
=> Lương bổng theo chiều hạ xuống tại Mỹ
=> Những Công ty Liên quốc gia (Multinationales) chuyển sản xuất sang Tầu để có giá thành hạ xuống. Việc này càng làm tăng thất nghiệp tại Mỹ.
Những lý do này buộc Hoa kỳ phải cứng rắn:
=> Yêu cầu Trung quốc phải tăng tỷ giá đồng Yuan, một yếu tố chính của cạnh tranh Trung quốc.
=> Nếu Trung quốc vẫn ương ngạnh giữ cứng nhắc tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ thấp để thủ lợi, thì Hoa kỳ phải dùng những biện pháp mạnh (Mesures fortes) như tăng thuế quan nhập khẩu, xử dụng những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires) hay những Biện pháp trả đũa (Mesures de représailles.
Đây là nội dung của Lá thư của các Nghị sĩ và một số Thượng nghị sĩ yêu cầu TT.Obama phải thi hành.
Ký giả Daniel DOMBEY từ Hoa Thịnh Đốn đã viết trên tờ Financial Times ngày 16.03.2010, trang 1, như sau:
“More than 100 memebers of the US Congress yesterday called on the Obama administration to label China a currency manipulator, in a move that highlighted the pressure on Washington to take a more confrontational stance towards Beijing”
(Trên 100 thành viên của Quốc Hội Hoa kỳ đã yêu cầu Chính quyền Obama phải kêu Trung quốc là người xử dụng biến hóa tiền tệ, trong một phong trào nhấn mạnh áp lực lên Washington để lấy vị trì chạm trán mạnh hơn với Bắc Kinh)
Hai Thượng nghị sĩ Chuck SCHUMER, Dân chủ New York, và Lindsey GRAHAM, Cộng hòa South Carolina, cũng lên tiếng tố cáo:
“Beijing’s refusal to let its currency appreciate was damaging the US economic recovery and hurting American competitiviness”.
“China’s currency manipulation would be unacceptable even in good economic times. At a time of 10 per cent of unemployment, we will simply not stand for it.”
(Việc từ chối của Bắc Kinh không để tỷ do tiền của họ tăng đã làm hại việc phục hồi Kinh tế Hoa kỳ và làm tổn hại tính cạnh tranh của Mỹ)
(Việc uốn nặn điên đảo đồng tiền Trung quốc không thể chấp nhận được ngay cả trong thời nền kinh tế yên lành. Ơû thời điểm có 10% thất nghiệp, chúng ta không thể đứng khoanh tay như vậy được.) (Financial Times 17.03.2010, p.3)
Trên đây là một số áp lực từ phía Quốc Hội và hai Thượng nghị sĩ áp đặt lên Chính quyền Obama để mạnh mẽ đòi hỏi việc tăng tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ. Nhưng Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung quốc đã có phản ứng cứng nhắc về vấn đề tỷ giá đồng Yuan mà Trung quốc coi như chính sách bao trùm quốc gia chứ không chỉ nguyên bảng cân đối thương mại. “La Chine considère la question du taux de change relève des affaires politiques nationales, et pas de la balance commerciale.” (Trung quốc kể vấn đề tỷ giá hối đóai liên hệ đến những phạm vi chính trị quốc gia, chứ không chỉ nguyên bảng cân đối thương mại) (Le Monde 18.03.2010, p.16). Chính vì vậy mà Oân Gia Bảo đã trình bầy dài dòng đến tình trạng Kinh tế chung nguy hiểm của Trung quốc như chúng tôi đã đề cập đến ở phần trên đây.
Một số chuyên viên Thương mại đã hình dung cho Hoa kỳ một số những biện pháp như:
=> Hoa kỳ có thể yêu cầu IMF/FMI (Qũy Tiền Tệ Quốc tế) để đưa ra những trừng phạt về tiền tệ.
=> Hoa kỳ có thể đưa Trung quốc ra WTO/OMC (Tổ Chức Mậu Dịch Thế giới) để khiếu nại về vấn đề xử dụng tỷ giá hối đóai nâng đỡ sản xuất và thương mại.
=> Hoa kỳ cũng có thể lấy những lý do nội tại để định thuế quan cho những hàng nhập cảng từ Trung quốc. Chúng ta đi vào những biện pháp trả đũa vậy (Mesures de représailles).
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 18.03.2010
| | | |
CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ:
Bài 05:
TRUNG QUỐC XUỐNG NƯỚC VÌ LO SỢ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 11.03.2010
Đầu tuần này, 08.03.2010, giới Tài chánh có những ngạc nhiên và nghi ngờ về thái độ của Trung quốc trước áp lực Tiền tệ và Thương mại Quốc tế, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu. Đài RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn chúng tôi ngay chiều 08.03.2010 về thái độ này của Trung quốc. Thực vậy, trong cuộc Họp báo thứ Bẩy 06.03.2010, những lời tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, về khả năng tăng tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ (Yuan)/Đo-la không đi theo những tuyên bố cứng nhắc của Thủ tướng Oân Gia Bảo trước đó rằng Trung quốc không nhượng bộ đối với bất cứ áp lực nào từ nước ngòai về tỷ giá Yuan/Đo-la. Trong khi ấy, cũng trong cuộc Họp báo ngày hôm sau, Chúa nhật 07.03.210, Dương Khiết Trì, Ngọai trưởng Trung quốc, nhắc ra những căng thẳng hiện nay giữa Hoa kỳ và Trung quốc với những vụ như : (i) Hoa kỳ bán vũ khí cho Đài Loan mà Trung cộng vẫn coi là một Tỉnh của mình, (ii) Hoa kỳ gặp Đức Đạt Lai Lạ Ma mà Trung quốc luôn luôn coi là người khuấy động mọi nơi nhằm tách Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ Trung quốc, (iii) Trung quốc chủ trương không trừng phạt về nguyên tử đối với Iran, một nước cung cấp dầu lửa, đứng hàng thứ ba, cho Trung quốc.
Đài RFI hỏi tôi câu cuối cùng là nếu Trung quốc chỉ hứa lần hồi, có thể để đánh lừa, thì liệu có thể xẩy ra một cuộc Chiến tranh Thương mại hay không ? Hỏi bất ngờ như vậy, tôi không dám khẳng định liền.
Hôm nay, trước khi viết bài này, tôi đọc thêm một số bài mà chính tôi đã viết trước đây về thái độ sợ sệt của Trung quốc đối với việc Che Chở Mậu dịch ngay trong những lần họp Davos, trong những dịp nhóm lại G20 và nhất là kiểm điểm lại 66 biện pháp Che Chở Mậu dịch mà các nước đã đưa ra, rồi nhớ rõ lại lời báo động gần đây nhất của ông LAMY, Tổng Giám đốc WTO, rằng lượng Mậu dịch Thế giới trong năm 2009 giảm 12%, một việc tụt dốc chưa từng có kể từ 20 năm nay.
Đọc lại những phân tích về tình trạng tụt dốc Mậu dịch Thế giới, tôi hiểu rằng nếu Trung quốc vẩn ương ngạnh tính tóan lừa đảo Thế giới, thì một cuộc Chiến tranh Thương mại rất có thể xẩy ra mà Trung quốc sẽ là nạn nhân. Có thể viễn tượng Chiến tranh Thương mại này đã làm cho Trung quốc phải tuyên bố như cuối tuần vừa rồi.
Chúng tôi đề cập những khía cạnh sau đây:
=> Những gian giảo Thương mại của TQ làm Thế giới bực mình và có biện pháp
=> Hoa kỳ bầy tỏ công khai thái độ cứng rắn
=> Phân tích thái độ xuống nước của Trung quốc
=> Trung cộng là nạn nhân của Chiến tranh Thương mại
Những gian giảo Thương mại của TQ làm Thế giới bực mình và có biện pháp
Việc gian giảo trong phẩm chất hàng hóa đã làm thương hiệu MADE IN CHINA giảm xuống khiến Trung quốc phải dùng Tài chánh trợ lực để bán hàng hóa tại những nước nghèo. Những hàng độc hại sẽ mang ảnh hưởng xấu cho sức khỏe dân nghèo trong dài hạn.
Trong nội địa Trung quốc
Nhà Nước Trung quốc đã áp dụng việc khai thác nhân công từ nông thôn một cách phi nhân bản. Những nhân công du mục này bị bóc lột. Chế độ hộ khẩu đã tước đọat quyền cư ngụ của những nhân công du mục không được trở thành những người thuộc thành thị để có thể được hưởng những quyền lợi khi đến các thành thị làm việc. Kinh tế Trung quốc tập trung vào những thành thị ven biển. Những nông dân từ nội địa ra thành thị làm công nhân và bị bóc lột sức lao động, không có những quyền lợi được hưởng của người cư ngụ tại thành thị. Những hiệu quả Kinh tế/Thương mại dành cho nhóm đảng Mafia Cộng sản và những dân thành thị được ưu đãi.
Tờ Financial Times ngày 09.03.2010, trang 10, viết về hiệu quả Kinh tế/Thương mại Trung quốc như sau: “It is absurd that a poor country (national income per capita was some $3,000 las year) should be devoting its human and physical resources to producing gadgets for the enjoyment of consumers elsewhere when ordinary Chinese are not reaping the fruits from this effort. A large part of proceeds is instead saved and recycled into lending to rich western countries” (Thật là phi lý một nước nghèo (thu nhập quốc gia theo vốn là khỏang $3,000 năm ngóai) đã hy sinh nguồn nhân lực và vật chất để sản xuất những lọai hàng nhất thời mua vui cho những khách tiêu thụ nơi khác trong khi ấy những người Trung quốc bình thường không được hưởng những thành quả từ sự cố gắng ấy. Một số lớn những thu nhập được tiết kiệm và chuyển thành những vốn cho những nước giầu Tây phương vay).
Những người tiêu thụ tại những nước giầu bắt đầu ngượng ngùng và khó chịu khi tiêu thụ hững hàng này từ sự bóc lột vô nhân bản.
Tại những nước trong vùng Á châu
Ngòai việc bóc lột nhân công như trên vừa nói, Trung quốc còn xử dụng tỷ giá hối đoái thấp của đồng Yuan để làm cho hàng hóa rẻ thêm nữa nhằm tăng cường xuất cảng. Những nước nghèo Á châu cũng làm việc cho xuất cảng và sản xuất những hàng hóa tương tự như Trung quốc. Việc tràn lan những hàng hóa rẻ tiền Trung quốc sang các nước nghèo Á châu giết chết sản xuất của những nước nghèo này. Đồng thời tỷ giá thấp đối với đồng Đo-la còn làm tăng thêm cạnh tranh của hàng Trung quốc đối với những nước nghèo chung quanh khi xuất cảng hàng hóa sang Tây phương liên hệ đến thanh khỏan Đo-la. Việc Trung quốc cố thủ giữ tỷ giá hạ đồng Yuan là lý do chính đang gây bực tức tại các nước Á châu khiến những nước chính trong khối ASEAN yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010. Ngòai ra Trung quốc còn xử dụng USD.45 tỉ cho những nước nghèo Á dông để thiết lập những cơ sở phân phối hàng, thậm chí cho hối lộ để đầu cơ. Thái độ nghi ngại của ASEAN là tất nhiên. Những nước Á châu như Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Việt Nam... đã quá am tường tính cách làm ăn của người Trung quốc.
Tại những nước Phi châu
Trung quốc xử dụng USD.42 tỉ cho một số nước Phi châu. Tại vùng này, Aâu châu đã lên tiếng gọi đây là chủ trương Tân thuộc địa của Trung quốc. Những nước Phi châu đã là cựu thuộc địa của Anh, Pháp, Bồ Đào Nha... Lục địa cổ Aâu châu cần nguyên vật liệu từ Phi châu. Cách đây chừng 25 năm, Mỹ đã có nhũng đụng độ với Pháp về quyền lợi dầu lửa tại vùng Vịnh Guinée. Mỹ cũng đành phải nhượng bộ với những cựu Thực dân Pháp lâu đời ở vùng này.
Trung quốc dễ xử dụng khí giới tiền bạc để hối lộ những chính phủ để lấy nhượng địa, tài nguyên cũng như mở những đầu cầu xuất cảng hàng hóa rẻ tiền, độc hại. Tình trạng hối lộ đã bị quốc tế công kích. Thực vậy, chính trong cuộc họp báo Chúa nhật ngày 07.03.2010 tại Bắc kinh, Dương Khiết Trì (Yang Jiechi), Ngọai trưởng Trung quốc, đã phải lên tiếng chống đỡ đối với những công kích quốc tế. Ký giả Geoff DYER từ Bắc kinh viết: “Mr.Yang also rejected criticism that China’s economic ties with Africa were encouraging more corruption and hurting labour conditions. Some people are not happy to see the development of China-Africa relations“. (Oâng Dương chối bỏ lời công kích rằng sự kết nối kinh tế của Trung quốc với Phi châu đã cổ võ tham nhũng và làm thiệt hại những điều kiện lao động. Một số người không hài lòng về việc mở rộng những liên hệ Trung quốc—Phi châu) (Financial Times 08.03.2010, p.2).
Thị trường Liên Aâu và Hoa kỳ
Đây là hai Thị trường tiêu thụ chính yếu. Từ năm 2001, khi Trung quốc nhập WTO, hàng Trung quốc, nhất là hàng may mặc, hàng da dầy, đồ chơi trẻ em, thực phẩm... lan tràn hai Thị trường này.
Trước khi xẩy ra cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, Liên Aâu và Hoa kỳ, vì hy vọng bán máy móc, những thiết bị kỹ nghệ cho Trung quốc, nên có những thả lỏng. Nhưng dần dần, nhất là trong cuộc Khủng hỏang, Liên Aâu và Hoa kỳ bắt đầu thắt chặt việc nhập cảng từ Trung quốc, cụ thể là những hàng hóa sau đây:
=> Kiểm sóat chặt chẽ và từ chối những hàng mang độc hại
=> Liên Aâu tăng thuế nhập đối với hàng may mặc và da dầy
=> Mỹ tăng thuế nhập lốp xe hơi
=> Những nước Đông Aâu và một số nước vùng Địa Trung hải bị canh tranh rất thiệt hại bởi hàng Trung quốc, nhất là hàng tiểu công nghệ.
Hoa kỳ bầy tỏ công khai thái độ cứng rắn
Từ thời TT.BUSH, vấn đề Trung quốc cố thủ xử dụng tỷ giá thấp của đồng Yuan làm lợi khí cạnh tranh thương mại đã được Hoa kỳ yêu cầu Trung quốc hủy bỏ.
Nếu trong chuyến viếng thăm Trung quốc của TT.OBAMA, thái độ của Hoa kỳ chỉ dừng ở lới khuyên nhẹ nhàng, thì trong những thời gian gần đây, Chính quyền Obama đã công khai bầy tỏ thái độ cứng rắn.
Các Ký giả Andrew BATSON, Terence POON, Shai OSTER, đã viết: “Mr.Obama told Democratic Senators earlier this year that he will “get much tougher” with China on trade issues, including the currency. The US Treasury in April called China a “currency manipulator” (Oâng Obama đã nói với những Thượng nghị sĩ Dân chủ, dịp đầu năm nay, rằng ông sẽ “cứng rắn thực sự” đối với Trung quốc về những vấn đề thương mại, gồm cả vấn đề tiền tệ. Bộ trưởng Ngân khố, tháng tư vừa rồi, đã gọi Trung quốc là người “mưu mẹo xử dụng tiền tệ”. (The Wall Street Journal 08.03.2010, p.10).
Thái độ cứng rắn này còn được tỏ lộ trong những quyết định sau đây:
=> Quyết định bán khí giới trị giá USD.6 tỉ cho Đài Loan mà Trung quốc coi là việc vi phạm chủ quyền của mình. Trung quốc vẫn coi Đài Loan là một Tỉnh thuộc chủ quyền Trung quốc.
=> TT.Obama quyết định gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma mà Trung quốc coi là người phản lọan muốn tách rời Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ Trung quốc. Hoa kỳ đã tiếp đón người thù địch của Trung quốc.
=> Đối với vấn đề nguyên tử Iran, Hoa kỳ nhất quyết đặt những trừng phạt. Những trừng phạt này động chạm đến quyền lợi dầu lửa của Trung quốc. Iran là nước quan trọng thứ ba về việc cung cấp dầu lửa cho Trung quốc.
Những sự việc trên đây cho thấy sự căng thẳng giữa hai nước Mỹ và Trung quốc. Những căng thẳng này có thể dược đàm phán dàn hòa. Nhưng điều tối quan hệ đối với Trung quốc là vấn đề làm ăn Kinh tế. Sự căng thẳng này có thể dẫn tới tình trạng Che chở Mậu dịch gay gắt mà Trung quốc đã ngại sợ từ lâu: từ những cuộc họp Davos, từ những nhóm lại của G20 mà Trung quốc luôn luôn kêu gọi tự do mậu dịch. Che Chở Kinh tế/Thương mại đã trở thành như con ma ám ảnh trong đầu óc của Trung quốc.
Ban Biên Tập Nhật Báo New York Times ngày 13 tháng 12 năm 2010 đã phác họa cái viễn tượng con ma Che Chở Kinh tế/ Thương mại đang rình rập mà nếu Trung quốc cứ ngoan cố, nó sẽ hiện ra (http://www.nytimes. com/2010/ 01/12/opinion/ 12tue1.html):
“Nền kinh tế của Trung Quốc có kết quả trong vòng 20 năm qua bằng cách mở cửa cho đầu tư từ nước ngoài và kềm giá đồng Quan (so với đồng Mỹ kim), họ đã phát triển nhờ vào sức tiêu thụ của các nước phát triển.
Nhưng đồng thời chính sách này đã mang đến nhiều yếu kém cho nền kinh tế toàn cầu. Nếu Bắc Kinh tiếp tục đường lối nói trên thì nhiều nước sẽ phải dùng đến biện pháp duy nhất là bảo hộ mậu dịch nhằm ngăn chận hàng hoá giá rẻ giả tạo từ Trung Quốc. Cuộc chiến mậu dịch một khi xảy ra rất khó kiểm soát, sẽ ảnh hưởng đến xuất cảng của mọi quốc gia và chận đứng phát triển nơi nơi.
Hàng hoá Trung Quốc đổ ào ạt ra thế giới đã đè bẹp các nhà sản xuất tại các nước đang phát triển. Việc này nếu đã tệ hại khi nền kinh tế thế giới còn phồn thịnh thì lại càng nguy hiểm hơn trong giai đoạn suy thoái hiện tại. Trong nhiều quốc gia các gói kích cầu đã không đạt được tác dụng vì tiền của chính phủ đầu tư rơi một phần nhằm mua đồ giá rẻ từ Trung Quốc nên không tạo công tạo được công ăn việc làm trong nước.
Sau khi thả nổi đồng Yuan tăng giá dần trong vòng ba năm, Bắc Kinh từ mùa hè năm 2008 đã siết đồng Nhân Dân Tuệ theo giá trị Mỹ Kim và trụt xuống so với Euro và tiền Yen, tạo áp lực nặng nề đến Âu Châu và Nhật Bản.
Chính sách “làm nghèo các nước lân bang” của Bắc Kinh khiến nền kinh tế thế giới khó phục hồi. Khi các gói kích cầu chấm dứt thì các nước sẽ phải dựa vào xuất cảng để phát triễn trong hoàn cảnh dân chúng trong nước cắt giảm chi tiêu, nhưng xuất cảng sẽ khó hơn nếu hàng hoá Trung Quốc tiếp tục đổ ồ ạt với giá rẻ mạt. Cán cân mậu dịch nghiên về Trung Quốc rõ rệt từ tháng 12-2009 sau khi sút giảm trong vòng 1 năm, và dự đoán sẽ nhảy vọt trong năm 2010.
Bắc Kinh có thể chọn lựa các chính sách lành mạnh hơn, chẳng hạn như dùng trử lượng ngoại tệ khổng lồ vào các chương trình xã hội: bảo hiểm sức khoẻ, giáo dục và lương bổng hưu trí nhằm nâng cao đời sống dân chúng.
Bắc Kinh chắc hẳn sẽ phải đối phó với biện pháp giới hạn mậu dịch nếu tiếp tục kềm giá đồng Quan. Chính quyền Obama đã phải nhượng bộ áp lực trong nước và tăng thuế lên vỏ xe hơi và ống sắt nhập cảng từ Trung Quốc. Quốc Hội Mỹ giờ này vẫn im lặng nhưng ngườì ta có thể cảm nhận tâm lý trả đủa tăng dần mọi nơi.
Ấn Độ đã nộp một chồng hồ sơ tố cáo các vi phạm mậu dịch tự do của Trung Quốc. Diễn Đàn Hợp Tác Mậu Dịch Á Châu – Thái Bình Dương mới đây kêu gọi “thả nổi giá biểu tiền tệ theo thị trường”, ý muốn ám chỉ chính sách siết giá đồng Yuan của Bắc Kinh.
Một trận chiến mậu dịch với Trung Quốc sẽ tác hại không lường và ảnh hưởng lan rộng toàn cầu. Tự chế là cần thiết, nhưng chúng tôi (Ban Biên Tập Báo New York Times) e rằng không ai có thể chờ đợi lâu hơn nữa vào Bắc Kinh thay đổi chính sách của họ“.
Ngày 14.01.2010, dưới đầu đề GIAN GIẢO KINH TẾ/THƯƠNG MAI TQ LÀM THẾ GIỚI BỰC TỨC VÀ CÓ BIỆN PHÁP, sau khi liệt kê ra những tính tóan gian trá Kinh tế/Thương mại, chúng tôi đã viết đọan kết luận như sau:
Tại cuộc Họp tại Luân Đôn của G20 đầu tháng tư 2009, vấn đề cấp bách cho G20 là Che Chở Kinh tế (Protectionism).
Chính những quốc gia thuộc G20 đã tự động lấy những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes). Tổng cộng đã đếm được 66 Biện Pháp. Đó là lời la hỏang của Oâng ZOELLICK, Chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), của Oâng STRAUSS, Tổng Giám đốc Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF/FMI), của Ong LAMY, Tổng Giám đốc Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC).
Con Ma CHE CHỞ KINH TẾ (Spectre Protectionnisme/Spectre Protectionism) hiện ra nguyên hình, chứ không phải là bóng ma chập chờn. Đó là vấn đề mà G20 phải giải quyết thực sự. Nhưng vấn đề này không thể giải quyết được.
Những nước đến cuộc Họp thượng đỉnh sẽ cao giọng nêu ý chí triệt hạ Protectionism, nhưng thực tế mỗi nước đã tự động lấy những Biện Pháp Che Chở Kinh tế rồi. Vì vậy, về vấn đề này, những thành viên đến họp G20 chỉ nói xạo. Miệng nói lớn tiếng là Tự do Mậu Dịch, nhưng lại âm thầm làm Che Chở Kinh tế.
Khi ông LAMY, Tổng Giám đốc WTO báo cho Thế giới biết là Lượng Mậu dịch Thế giới giảm 12%, chưa từng có từ 20 năm nay, thì lời cảnh cáo này chắc chắn phải làm cho Trung quốc sợ hãi.
Là người Việt Nam, chúng ta dễ hiểu cái lo sợ nhất của Trung quốc. Đó là miếng ăn. Người Trung quốc gặp nhau, họ chào nhau là “Nị ăn cơm chưa ? “ chứ không nói là “Nị có khỏe không ?“. Họ lo lắng miếng ăn trước tiên. Đụng đến thiệt hại miếng ăn họ mới sợ, chứ còn mắng chửi họ, họ cũng chỉ cười hề hề cho qua chuyện.
Phân tích thái độ xuống nước của Trung quốc
Khi trả lời câu hỏi đầu tiên của Đài RFI về tại sao lúc này, qua những cuộc Họp báo cuối tuần vừa rồi, Trung cộng tỏ ra xuống nước về tỷ giá giữa đồng Nhân Dân Tệ và Đo-la, tôi trả lời liền rằng với thái độ công khai tỏ ra cứng rắn của Hoa kỳ, Trung cộng sợ nó biến thành những quyết định Che Chở Mậu dịch dứt khóat, hay một tình trạng Chiến Tranh Thương Mại bắt đầu từ Quan thuế, rồi những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires), đến những Biện pháp trả thù (Mesures de Représailles).
Thực vậy, trước những cuộc Họp báo cuối tuần vừa rồi, người ta vẫn nhớ những lời tuyên bố ngạo mạn, đầy khinh miệt các nước khác thóat từ miệng Thủ tướng Oân Gia Bảo khi những nước khác muốn áp lực để Trung quốc tăng tỷ giá đồng Yuan: “We will not yield to any pressure... forcing us to appreciate (Yuan)” (Chúng tôi sẽ không nhượng bộ đối với mọi áp lực nào... buộc chúng tôi phải tăng tỷ giá (Nhân Dân Tệ) (Financial Times 08.03.2010, p.2).
Nhưng thứ Sáu 05.03.2010, chính Thủ tướng Oân Gia Bảo sửa lại thái độ cứng nhắc, ngạo mạn trên đây. Ký giả Andrew BATSON viết: “On Friday, Premier Wen Jiabao reaffirmed that China will continue to keep the Yuan “basically stable””. (Ngày thứ Sáu, Thủ tướng Oân Gia Bảo tái khẳng định rằng Trung quốc sẽ tiếp tục giữ đồng Yuan “ổn định một cách căn bản”. Nhưng thế nào là “ổn định một cách căn bản”? Đây là câu nói trống, nhưng dầu sao cũng để cho thấy khả năng thay đổi khi mà những quyền lực liên hệ đến đồng Yuan quyết định việc thay đổi như thế nào.
Thái độ của Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc cũng đã thay đổi đối với đồng Đo-la. Chính ông đại diện Trung quốc, lớn tiếng kêu gọi Thế giới hãy truất ngôi Đo-la và thay thế vào đó bằng một Đơn vị Tiền tệ khác. Ngày 23.03.2009, Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã cho đăng lên mạng www.pbc.gov.cn lời tuyên bố như sau (theo bản dịch của Nhật báo LE MONDE ngày 10.11.2009, p.3) :
”L’objectif adéquat est donc de créer une monnaie de réserve internationale qui soit déconnectée de nation individuelle et se montre capable de rester stable sur le long terme. Comparée à la gestion séparée des réserves par chaque pays, la gestion centralisée d’une partie des réserves globales par une institution internationale de référence sera bien plus efficace pour contrer la spéculation et stabiliser les marchés financiers.” (Mục đích phù hợp là tạo ra một đồng Tiền dự trữ quốc tế tách rời ra khỏi một quốc gia riêng lẻ và có khả năng đứng bền vững trong trường kỳ. So sánh với việc quản trị riêng lẻ những dự trữ của từng quốc gia, việc quản trị tập trung những dự trữ tổng quát bởi một Tổ chức Quốc tế làm quy chiếu sẽ hữu hiệu hơn nhiều để chống lại đầu cơ và tạo bền vững cho những Thị trường Tài chánh).
Nhưng thái độ của Chu Tiểu Xuyên đã thay đổi kể từ cuộc Phát biểu ngày thứ Bẩy 06.03.2010. Đồng Yuan vẫn bám chặt lấy đồng Đo-la va có thể trở lại trạng thái thay đổi tỷ giá bình thường theo chuyển biến của Đo-la. Bản tin của Reuters đáng đi từ Bắc Kinh ngày 08.03.2010, tóm tắt như sau (Bản dịch Pháp ngữ của Gwénaelle BARZIC):
“Lors de la session annuelle de l’Assemblée nationale populaire (Parlement), le gouverneur de la Banque populaire de Chine Zhou Xiaochuan a déclaré que Pékin serait un jour ou l’autre contraint d’abandonner cette politique “spéciale” du yuan, qui fait partie des diverses mesures prises par les autorités pour limiter l’impact de la crise. L’expérience a montré que ces politiques ont été positives, en contribuant à la fois au resdressement de notre économie et de l’économie mondiale. Les problèmes concernant le retrait de ces politiques apparaitront tôt ou tard. Si nous devons retirer ces politiques inhabituelles et revenir à des politiques économiques ordinaires, nous devons être extrêmement prudents dans le choix du calendrier. Cela inclut également la politique de taux de change du renminbi.” (Nhân dịp họp hàng năm của Quốc Hội Nhân dân, Thống dốc Ngân Hàng nhân dân Trung quốc Chu Tiểu Xuyên đã tuyên bố rằng Bắc Kinh, một ngày nào đó, buộc phải bỏ chính sách “đặc biệt” của đồng Yuan, chính sách làm thành phần của những biện pháp quyết định bởi Nhà Nước nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của khủng hỏang. Kinh nghiệm cho thấy rằng những chính sách này là tích cực, đóng góp vào việc khôi phục nền kinh tế của chúng ta và nền kinh tế của thế giới. Những vấn đề liên quan đến việc rút lại những chính sách này sớm muộn sẽ đến. Nếu chúng ta phải rút lại những chính sách bất thường này, chúng ta phải hết sức thận trọng trong việc lựa chọn lịch trình. Điều này cũng bao gồm cả chính sách tỷ giá của đồng nhân dân tệ.)
Qua những lời tuyên bố này, những quan sát viên tài chánh/thương mại quốc tế thấy Chu Tiểu Xuyên tìm cách chữa nhẹ đi những chủ trương gian giảo của Trung quốc, như:
* Oâng nói rằng đây là những chính sách “đặc biệt” được quyết định để chống khủng hỏang. Thực ra đây là những chính sách thường xuyên, nhất là chính sách giữ tỷ giá đồng Yuan thấp, nhằm cạnh tranh xuất cảng đã được áp dụng từ lâu, chứ không phải chỉ đặc biệt trong thời khủng hỏang.
* Oâng cũng cố tình nói rằng những chính sách này không những có lợi cho kinh tế Trung quốc mà cho cả kinh tế thế giới nữa. Thực ra đây là những chính sách không những hòan tòan có lợi cho Trung quốc, mà còn nhằm giết những kinh tế các nước khác nữa.
Những lời tuyên bố sẽ rút lại những chính sách “đặc biệt” và bất thường để trở lại những nguyên tắc kinh tế bình thường chỉ là muốn tung ra một hy vọng, nhưng người ta không biết việc rút lại những chính sách ấy ở thời điểm nào.
Đặc biệt chính sách tiền tệ, người ta không biết sẽ tăng tỷ giá đồng Yuan khi nào và tăng bao nhiêu.
Trước những áp lực cấp bách của Thế giới, Trung quốc chỉ tung ra lời hứa như một hy vọng trống trải bởi vì không cho biết tầm mức quan trọng thay đổi như thế nào và bao giờ mới thay đổi.
Ngòai ra, đây chỉ là những lời tuyên bố của Thống đốc Ngân Hàng, còn việc quyết định thay đổi chính sách phải tùy thuộc Chính phủ, tùy thuộc những Bộ liên hệ mà chính yếu là Bộ Thương Mại. Thực vậy ông Chen Deming, Bộ trưởng Thương mại đã cho biết rằng để có thể lấy lại mức xuất cảng như trước cuộc Khủng hỏang, cần tối thiểu 3 năm nữa. Như vậy việc bỏ tỷ giá đồng Yuan thấp thiết cần để nâng đỡ xuất cảng, chưa có thể xẩy ra trong tương lai gần được.
Thế giới, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu, không thể chỉ vì một hy vọng thay đổi trống trải, không định thời điểm, không cho thấy tầm vóc, mà cứ ngồi đợi Trung quốc, hứng chịu những hậu quả thiệt thòi về thương mai hay sao.
Người ta cũng có thể hiểu rằng những tuyên bố của Chu Tiểu Xuyên chỉ vì sự đe dọa Che Chở Kinh tế/Thương mại mà phải nói ra để làm giảm sự căng thẳng mậu dịch quốc tế, nhất là trước thái độ công khai cứng rắn của Hoa kỳ và Liên Aâu.
Trung cộng là nạn nhân của Chiến tranh Thương mại
Obama có thể nói “Buy America” mà không ngại sợ. Nhưng Hồ Cẩm Đào không dám nói ra câu “Buy China” vì ông luôn luôn sợ hãi Con Ma Che Chở Kinh tế/ Thương mại. Nếu những lời tuyên bố thay đổi trên đây của Trung quốc chỉ là một mưu kế làm giảm căng thẳng để rồi Trung quốc vẫn tiếp tục những chính sách thương mại thủ lợi cho mình, đồng thời làm hại cho những nước khác, thì liệu Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước thuộc vùng Kinh tế Thái Bình Dương có ngồi yên hay phải tuyên bố những biện pháp Che Chơ Kinh tế/Thương mại. Dù ý chí của Trung quốc có thành thực thay đổi đi nữa, thì một số nhà Tài chánh nhận thấy rằng Trung quốc rất khó lòng đưa ra một lịch trình tăng tỷ giá đồng Yuan của mình vì hai lý do chính yếu sau đây:
* Kinh tế Trung quốc dồn tòan lực vào xuất cảng. Việc tăng tỷ giá đồng Yuan ảnh hưởng trực tiếp đến tụt dốc xuất cảng, nhất là ở thời kỳ mà Hoa kỷ cũng như Liên Aâu giảm nhập cảng.
* Lý do thứ hai thuộc phạm vi tài chánh. Một lịch trình tăng tỷ giá đồng Yuan sẽ làm cho vốn nước ngòai ào vào Trung quốc để thu lợi do việc tăng tỷ giá đồng Yuan. Sự chênh lệch tỷ giá giữa hai thời điểm đủ cho vốn lưu động đầu tư nước ngòai ào vào để chia lợi do chênh lệch tỷ giá đồng tiền. Việc vốn nước ngòai ào vào này còn tạo ra tình trạng lạm phát mà Trung quốc rất sợ hãi.
Như vậy việc tăng tỷ giá đồng Yuan có tính cách khó khăn khách quan đứng về mặt tài chánh. Nếu vẫn khư khư giữ tỷ giá thấp, thì cái nguy hiểm là tạo một tình trạng căng thẳng quốc tế dẫn đến Che Chở Kinh tế/Thương mại. Còn nếu quyết định thực sự tăng tỷ giá, tạo hướng tăng đồng Yuan, thì vốn đầu cơ nước ngòai dồn vào để chia phần chênh lệch tỷ giá.
Dầu sao Con Ma Che Chở Kinh tế/Thương mại đã hiện ra và Oâng LAMY, Tổng Giám đốc WTO đã công bố việc tụt dốc 12% về lương mậu dịch thế giới như chúng tôi đã trình bầy trên đây. Tình trạng căng thẳng hiện nay giữa Trung quốc và Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước thuộc Khối Thái Bình Dương có thể đưa đến những Biện pháp khắt khe không giá biểu (Mesures non-tarifaires) và những Biện pháp trả đũa thương mại (Mesures de Représailles commerciales bilatérales). Đây là tình trạng Chiến tranh Thương mại. Khi mà biên giới quan thuế đóng lại, thì nạn nhân của cuộc Chiến tranh này là Trung quốc bởi lẽ Dân chúng Trung quốc thiếu Khả năng Tiêu thụ, không đủ khả năng mua tất cả những hàng hóa do chính Trung quốc sản xuất ra. Nên lưu ý rằng Khả năng tiêu thụ của 1’300 triệu dân Trung quốc chỉ tương đương với 16% số Tiêu thụ của 300 triệu dân Mỹ.
Không có tiêu thụ, thì sản xuất chết !
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 11.03.2010
| | | |
CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ:
Bài 04:
TỪ LẠM PHÁT, TIỀN MẤT GIÁ ĐẾN DÂN NGHÈO NỔI DẬY
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 04.03.2009
Tuần trước, chúng tôi viết bài về phá giá đồng bạc Việt Nam theo tỷ giá đối với Đo-la liên quan đến tình trạng thiếu ngọai tệ của Nhà Nước CSVN. Việc tuyên bố phá giá nội tệ ngày 11.02.2010 do Ngân Hàng Nhà Nước quyết định và có thể liên tiếp những quyết định phá giá nữa là do chính những nhà Kinh tế, Tài chánh trong nước phân tích chứ không phải chúng tôi từ Hải ngọai nhận định để CSVN chống chữa với Dân rằng đó là do tuyên truyền chống Cơ Chế hiện hành bởi “thế lực thù địch” ngọai lai. Chúng tôi dựa trên tình trạng mỗi ngày nhóm Mafia CSVN càng thiếu hụt ngọai tệ để nội tệ mỗi ngày mỗi mất giá trị, nghĩa là phá giá liên tiếp.
Phá giá đồng nội tệ đi song hành với tình trạng LẠM PHÁT tăng nhanh ở Việt Nam. Viết về tình trạng tăng nhanh lạm phát, chúng tôi cũng trích dẫn chính những phân tích và nhận định của những nhà Kinh doanh, những Ngân Hàng gia, những Giáo sư Kinh tế/Tài chánh từ Quốc nội để đám Mafia CSVN không chống chế, lừa gạt được Dân chúng bằng cách cố hữu nói trên báo đài độc chiều rằng đó là do “thế lực thù địch” hải ngọai vu khống.
Tình trạng lốc xóay phá giá nội tệ và lốc xóay lạm phát, vật giá nhẩy vọt sẽ làm cho đại đa số dân nghèo, cho những nông dân, ngư dân, công nhân và công chức có thu nhập không thay đổi trở thành thiếu thốn chi tiêu, thậm chí đói ăn. Chịu đựng không nổi cảnh đã nghèo khổ lại phải đói ăn thêm vì lốc xóay phá giá nội tệ và lạm phát, vật giá tăng vọt, đại đa số Dân chúng sẽ nổi dậy chấm dứt đám Mafia CSVN cướp bóc dân và bán nước.
Chúng tôi viết những điểm sau đây:
=> Nhận định từ Quốc nội về tình trạng Lạm phát
=> Phân tích những lý do chính của Lạm phát
=> Không chịu nổi hậu quả Lạm phát, Dân chúng nghèo đói nổi dậy
Nhận định từ Quốc nội về tình trạng Lạm phát
Một số Phóng viên, Ký giả đã phỏng vấn những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế/Tài chánh tại quốc nội về tình trạng Lạm phát hiện này.
Bài đăng trên Vietnamnet do Phước Hà thực hiện Cập nhật lúc 18:37, Thứ Năm, 28/02/2008 (GMT+7)
Chỉ số tăng giá tiêu dùng hai tháng đầu năm lên đến 6,02%, đã đi được 2/3 so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra, trong khi vẫn còn 10 tháng ở phía trước. Các chuyên gia kinh tế tỏ ra không có nhiều bất ngờ và cho rằng cần có các giải pháp đồng bộ hơn để chặn đứng lạm phát.
=> Ông Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam:
Tốc độ tăng giá 2 tháng đầu năm lên tới 6,02% là quá cao. Đặc biệt, có những nguyên nhân chủ quan, trong đó có một nguyên nhân chính là ngân hàng đã bỏ lượng tiền lớn ra mua USD chưa thu về hết được, đầu tư nhưng hiệu quả còn thấp, ngân sách bội chi tăng lên.
=> Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính:
Con số 6,02% tăng cao quá. Nhìn cả một quá trình, đây là tăng cao nhất trong hơn 10 năm lại đây. Đây là một cảnh báo đối với nền kinh tế. Những tháng tới, nếu có tăng 0,5% thôi như dự báo tháng 3 của Tổ điều hành thị trường, thì cả năm cũng không thể thực hiện nghị quyết Quốc hội đề ra.
Biện pháp tiền tệ đã được thực hiện. Giá cả đang lao nhanh như thế thì những biện pháp ra chỉ có tính ngăn chặn thôi. Trong kiềm chế lạm phát, giải pháp tài chính tiền tệ có ý nghĩa quan trọng, trong đó giải pháp tiền tệ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Lạm pháp do tiền tệ !
Các ngân hàng thương mại hiện dư nợ quá lớn nên buộc phải huy động vốn, đua nhau tăng lãi suất để hút vốn về khiến cho thị trường những ngày gần đây hỗn loạn. Khi tăng lãi suất huy động lên thì cũng có tác dụng phụ là cho vay cao dẫn đến ảnh hưởng tăng trưởng. Lãi suất cao thì chi phí cao, giá thành cao thì cũng tác động đến lạm pháp.
Các ngân hàng đưa lãi suất lên cao, trong khi hoạt động của ngân hàng nước ta nguồn thu chủ yếu từ chênh lệch vay và cho vay chiếm đến 70% làm cho chi phí các ngân hàng tăng lên, năng lực tài chính yếu đi năng lực cạnh tranh giảm. Ngân hàng Nhà nước Phát hành tín phiếu với 20.300 tỷ đồng với lãi suất 7,8%, mỗi tháng lo trả 100 tỷ đồng lãi và đồng thời tăng dự trữ bắt buộc cũng phải trả thêm 100 tỷ nữa. Giải pháp tiền tệ như con dao hai lưỡi.
Chính sách tài chính phải xem lại để làm sao chi đầu tư phải hiệu quả, chi thường xuyên phải tiết kiệm, cái nào cần phải giảm, cái nào phải bỏ. Đầu tư phải hiệu quả, mua sắm tài sản công phải tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí... Chi tiêu công phải siết chặt lại, chống lãng phí, tiết kiệm tiêu dùng, tiết kiệm sản xuất - hạ giá thành sản phẩm, đầu tư hiệu quả.
=> Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam
Việc chống lạm phát năm 2008 này phải được đặt lên ưu tiên hàng đầu, hơn cả mục tiêu tăng trưởng. Vì suốt bốn năm liền lạm phát cao, cộng lại đã lên tới 40%. Điều này đồng nghĩa với việc đồng tiền mất giá, đội giá thành sản phẩm lên cao, tăng thêm dự án treo, còn đời sống người dân bị ảnh hưởng nặng.
Như vậy, về phương diện đối nội, phân phối nguồn lực đã bị lệch và tác động đến đời sống.
Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình. Nếu môi trường VN vẫn bất ổn, lòng tin của nhà đầu tư sẽ giảm đi, ảnh hưởng đến cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư bỏ đi cũng sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn.
Lạm phát ảnh hưởng cũng sẽ làm cho sức cạnh tranh trong nước giảm đáng kể.
NHNN cũng đã vừa sử dụng kết hợp cả hai loại biện pháp dài hạn và tức thì. Biện pháp hành chính như bán 20.300 tín phiếu.
Ngay sau đó NHNN lại bơm ra 39.000 tỷ đồng. Điều này khiến sự vận động của dòng tiền thành bất thường, gây hiệu ứng tiêu cực.
Bài trên RFA do Mặc Lâm thực hiện 2010-03-01
Ngân Hàng Phát Triển Châu Á vừa đưa ra thông báo tỏ ý lo ngại cho việc lạm phát tiếp theo sau suy thoái kinh tế của nhiều nước khu vực Đông Nam Á.
Việt Nam là một trong các nước được đánh giá là sẽ có tình trạng lạm phát có thể lên tới hai con số trong năm nay.
=> GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, chia sẻ them về vấn đề này:
Ngân Hàng Nhà Nước quyết định tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng USD và tiền đồng VN tăng thêm 603 đồng tương đương với 3,3%. Tôi cho rằng việc này cũng coi như một sự phá giá của đồng VN, tức là cái tình trạng nhập siêu của Việt Nam ngày nay lại càng gia tăng. Mà hiện nay, nếu theo tỷ giá này thì nó càng gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu, điều đó là điều hiển nhiên rồi.
Tôi cho rằng điều này cũng không thể nào khác được bởi vì trong tình trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay, tất cả các mặt hàng nhập ngoại đều khan hiếm cả, quỹ ngoại tệ trong nước thì cũng không có nhiều, thế thì bây giờ đành phải theo chiều hướng như đã biết.
Theo tôi thì con đường mà hiện nay Việt Nam có thể làm được là vẫn tăng tỷ giá lên để có thể găm được một ít ngoại tệ ở trong nước, và có thể có một điều kiện là làm thế nào đó cho tình trạng ngoại tệ bớt đi ra nước ngoài hơn để tăng ngoại tệ.
Chứ bây giờ mà trả nợ cho nước ngoài thì như anh biết đấy, tức là cái thực lực về tiền tệ của dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện nay cũng không phải là nhiều mà còn dùng cho nhiều mục tiêu, do đó mà việc tăng vốn ngoại tệ trong nước để mà trả nợ nước ngoài thì rất hạn chế.
Theo các chuyên gia kinh tế nhận định thì rất nhiều công trình có đầu tư lớn của nhà nước đang còn dở dang và những công trình này không thể ngừng lại được. Để giải quyết chúng nhà nước phải chấp nhận bỏ thêm một số tiền rất lớn trong ngân sách. Tôi nghĩ là bây giờ tình trạng lạm phát thì ai cũng đã nhìn thấy rõ mà cái này thì các nhà khoa học và kinh tế cũng đã cảnh báo cho chính phủ, không phải là từ bây giờ mà từ năm ngoái rồi. Đương nhiên là về tình trạng của nền kinh tế thì những khoản chi bất đắc dĩ thì nhà nước vẫn phải chi thôi.
Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ. Cái thứ hai nữa là có thể trong thời gian tới nhà nước cũng có thể phải phát hành thêm trái phiếu, có thể là công trái trong đợt tới để giảm bớt số tiền trong lưu thông. Tôi nghĩ là hai nguồn đó ở trong nước thì trong tầm tay, thế còn bây giờ như anh biết đấy, tức là các nguồn ODA hoặc FDI vào thì nhiều khi nó được sử dụng không hiệu quả lắm, mà chủ yếu là dành cho các khoản chi công nghiệp chế biến.
Còn các công nghiệp khác ở trong nước thì ODA và FDI rất là ít cho nên chúng tôi cũng chưa biết là chính phủ sẽ làm như thế nào, nhưng mà chúng tôi cũng có khuyến cáo là chính phủ nên xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi của chính phủ, không dàn trải, phải nâng cao hiệu quả. Đồng thời phải suy nghĩ đến việc phát hành công trái phiếu trong đợt tới.
Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ.
Mới đây Ngân Hàng Phát Triển Châu Á vừa đưa ra nhận định là trong năm nay Việt Nam sẽ phải đối phó với lạm phát lên đến hai con số. Tôi nghĩ là lạm phát hiện nay nó đúng trong thực tại mà chưa thống kê hết thôi, chứ còn nếu thống kê hết thì nó có thể đến 2 con số trong hiện nay rồi, bởi vì bắt đầu từ đầu tháng 3 giá điện tăng. Trước đó thì chúng ta thấy giá dầu tăng liên tục, từ đầu năm tới giờ mới được 2 tháng mà tăng 2 lần. Thế thì tình trạng lạm phát lên đến 2 con số thì tôi cho là hiện thực và nó cũng đúng tầm, đúng với điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay.
Phân tích những lý do chính của Lạm phát
Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, phát biểu một câu làm chúng tôi lưu ý đặc biệt: “Suốt bốn năm liền lạm phát cao, cộng lại đã lên tới 40%. Điều này đồng nghĩa với việc đồng tiền mất giá. Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình.“
Từ câu nói, chúng tôi rút ra ba điểm sau đây:
* Lạm phát có nghĩa là đồng tiền mất giá;
* Trong 4 năm, đồng tiền VN mất giá 40%;
* Việt Nam khác với những nước trong khu vực về Cơ Chế Chính trị-Kinh tế
Phân tích của chúng tôi dựa trên ba điểm trên đây với trích dẫn từ những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế/Tài chánh của chính Cơ Chế CSVN.
Lạm phát có nghĩa là đồng tiền mất giá
Tuần trước, chúng tôi đã viết một bài dài có tính cách giáo khoa “TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ”. Trong bài này, chúng tôi đã định nghĩa rằng đồng Tiền chỉ là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises).
Trong Chế độ BẢN VỊ KHẢ NĂNG MUA HÀNG (Régime du Pouvoir d’Achat), cái GIÁ TRỊ của một đơn vị Tiền bạc mà một người đang cầm là TƯƠNG ĐƯƠNG HÀNG HÓA HAY DỊCH VỤ mà người đó nhận được khi chuyển đồng tiền sang tay người khác. Nếu 100 Đồng VN năm 2008 mua được hai hột vịt lộn, nhưng năm 2009 chỉ được 1 hột vịt lộn, thì ta nói rằng Vật giá hay Lạm phát tăng 50%, có nghĩa Đồng Tiền VN mất giá 50%.
Lý thuyết đơn giản về chuyển biến tương quan giữa đồng tiền và tương đương hàng hàng hóa được tóm tắt trong Công thức của FISHER:
M.V ------ = P T
M : Khối lượng tiền cho vào Kinh tế; V: Tốc độ chạy nhanh chậm của đồng tiền; T: Tổng cộng Hàng hóa và Dịch vụ trong một hạn kỳ nhất định; P: Khả năng chuyên chở của đồng tiền tương đương Hàng hóa, Dịch vụ.
Công thức ấy tóm tắt cho chúng ta hai lý do chính của việc mất giá của đồng tiền hay thay đổi tương đương Hàng hóa, Dịch vụ mà người ta gọi là Lạm phát hay Vật giá tăng.
Lý do thứ nhất đến từ Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng hay giảm. Lý do do này thuộc lãnh vực Tiền bạc.
Lý do thứ hai đến từ việc sản xuất Kinh tế thực (T) giảm hay tăng, có hiệu lực hay không.
Khi Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng mà sản xuất Kinh tế thực (T) đứng yên, thì có Lạm phát. Lạm phát còn mạnh hơn nữa khi nền sản xuất Kinh tế còn giảm xuống. Khi Khối Tiền lưu hành (M.V) đứng yên, mà nền sản xuất Kinh tế thực (T) giảm, chúng ta cũng có lạm phát.
Chính sự tương đương Hàng hóa, Dịch vụ này mà các Lý thuyết gia về Tiền tệ nói đến tính cách Hội nhập Tiền tệ vào Lãnh vực Kinh tế thực. Với quan điểm Hội nhập Tiền tệ này mà người ta phân biệt Đồng Tiền thực và Đồng Tiền giả. Đồng Tiền mới được Ngân Hàng Trung Ương in ra chỉ là một tờ giấy không hơn không kém, chưa có Giá trị. Đồng Tiền đã Hội nhập, nghĩa là qua chu trình sản xuất Kinh tế thực, mới có Giá trị. Không phải Đồng Tiền mới in ra, thả vào xã hội mà không qua chu trình sản xuất Kinh tế thực, tự nhiên có Giá trị như Đồng Tiền thực đã được Hội nhập mà người Dân đang giữ trong tay. Việc in Tiền mới thả bừa vào Xã hội để đánh lận con đen giữa hai Đồng Tiền thực (đã Hội nhập) và Đồng Tiền giả (mới in ra chưa Hội nhập) là hành động ăn cướp của quyền lực Chính trị và quyền lực Tiền bạc đối với Dân.
Vào những thập niên 1980, việc đánh lận con đen này đã làm Lạm phát tới hàng 1000% tại một số nước Phi châu và Nam Mỹ. Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết về những trường hợp gian lận này:
“L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy).
Với hai lý do chính có tính các giáo khoa thuộc lãnh vực Tiền Tệ và lãnh vực sản xuất Kinh tế thực, chúng tôi phân tích cho trường hợp Lạm phát tại Việt Nam cùng với những xác nhận trong phần trên từ những Giáo sư, Cố vấn Khinh tế/Tài chánh thuộc Cơ Chế CSVN.
Trong 4 năm, đồng tiền VN mất giá 40%
Theo Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, trong 4 năm, đồng Tiền VN mất giá 40%. Điều này có nghĩa là việc mất giá của đồng tiền VN không phải là có tính cách nhất thời, giai đọan với những lý do bất thường mà Nhà Nước CSVN thường nêu ra để cắt nghĩa cho dân chúng để chữa lỗi. Lý do mất giá đồng Tiền Việt Nam mang tính cách thường xuyên và trường kỳ.
Dưới chủ trương Kinh tế tập quyền chỉ huy, chúng tôi không nói đến làm gì vì nền Kinh tế này thất bại hòan tòan. Nhưng hãy kể từ 10 năm nay, từ thời đổi mới, mở cửa và tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, thì đồng Tiền VN có thể nói là mất giá 100%, nghĩa là lạm phát, vật giá tăng 100%.
=> Lãnh vực Vốn, Tiền tệ (M.V)
Những Công ty, Tổng Công ty Nhà Nước làm việc với vốn, Tiền của quốc gia. Vốn, Tiền của quốc gia được thả lỏng cho những Công ty Nhà Nước. Những dự án thi nhau trình lên Nhà Nước để lấy vốn. Có ba lọai dự án chính:
* Những dự án thuộc ngành nghiệp chuyên môn
* Những dự án thuộc hệ thống Bộ
* Những dự án thuộc vùng, mỗi Tỉnh
Thời kỳ đầu của đổi mới, mở cửa, những dự án của những Công ty quốc doanh được coi như việc thưởng công chiến tranh. Dần dần sau này, những dự án dễ dàng được cấp vốn thường là do những con ông cháu cha có quyền trong đảng.
Việc cấp vốn là theo tiêu chuẩn liên hệ quyền hành trong đảng, chứ không tất nhiên theo tieo tiêu chuẩn cần thiết và hiệu quả Kinh tế. Ví tính cách liên hệ quyền lực trong đảng, nên việc kiểm sóat xử dụng vốn cũng không thể xiết chặt giữa các quyền lực trong đảng được bởi lẽ cùng ăn bẩn như nhau thì bỏ qua những bẩn thỉu của nhau. Những chủ dự án nếu làm ăn không thành công hay thua lỗ, thì đã có vốn nhà nước cấp phát thêm.
Đối với mỗi dự án từ vốn nhà nước, trước hết chủ dự án phải nghĩ đến cắt xén cho túi riêng mình. Sau đó việc chi tiêu trong Công ty hay Tổng Công ty cũng không được người Trách nhiệm kiểm sóat chặt chẽ bởi lẽ nếu người Trách nhiệm khắt khe kiểm sóat, thì những người dưới kiểm sóat ngược lại khắt khe với mình. Đây là cả hệ thống lãng phí vốn quốc gia.
@ Chúng tôi xin trích bài viết của Bloger Người Buôn Gió :
“Phát triển kinh tế hay tư duy nhiệm kỳ? Người Buôn Gió
Mấy chữ “tư duy nhiệm kỳ” nghe mà phát ghét. Ở đó bao hàm tất cả những cái gì là hủ bại nhất trong tính cách dân tộc, nhất là cái tính cách ăn xổi ở thì. Ăn xổi ở thì thì làm bất kỳ việc nào cũng cốt qua loa cho xong đi, để mà còn nặng túi trở về với gia đình, chăm sóc cái tổ ấm vốn đã lo đâu vào đấy trong khi đang tại chức. Cho nên mọi việc anh làm, tiếng là vì dân, nhân danh thật to tát, cuối cùng chỉ là đổ vỏ ra đấy để cho kẻ đến sau đi hót. Và chu trình cứ thế lặp đi lặp lại, trở thành một đại họa cho dân. Một thành phố Hà Nội mà càng cải tạo lại càng nhếch nhác chẳng phải vì thế thì còn gì. Nghe đâu ngài đương kim trọng thần của nhiệm kỳ này đang cố tranh thủ một mảnh đất nào đấy ở Hồ Mây, cái đích ngài cố ngắm cho trúng, chứ đâu phải là nghĩ suy về những quy hoạch tổng thể cho Hà Nội ngàn năm “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như cụ Hồ nói. Trách gì mới vài năm trước khi nước mưa biến cả thành phố thành sông thì có vị quan to đã có ngay một câu thật nổi tiếng: Dân Hà Nội bây giờ quen dựa dẫm vào Nhà nước mất rồi. Thì chính là vì dựa dẫm vào Nhà nước mà dân chúng Thủ đô chúng tôi cứ tưởng rồi sẽ có đường phố khang trang, đi lại thông thoáng hơn, nào hay bây giờ ra đường đã thấy ngay những con đường do Nhà nước cải tạo đã đang tắc ứ. Còn các khu Hà Nội mới mở từ khi Thủ đô ta giải phóng đến nay nhất là từ khi có đồng vốn vay nước ngoài để làm kinh tế thị trường, thì nhiều nơi lại còn ngõ ngách chật hẹp, chen chúc, lúc nhúc còn hơn cả Hà Nội 36 phố phường thuở xưa. Những nơi ấy xe cộ tha hồ mà tắc.”
Những Giáo sư, Cố vấn Kinh tế cho Cơ Chế CSVN, không ai không nhắc đến lý do thiếu kiểm sóat chặt chẽ Tiền, Vốn của Nhà Nước.
@ Ông Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam nói đến “đầu tư nhưng hiệu quả còn thấp, ngân sách bội chi tăng lên.”
@ Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính, nhấn mạnh “Chính sách tài chính phải xem lại để làm sao chi đầu tư phải hiệu quả, chi thường xuyên phải tiết kiệm, cái nào cần phải giảm, cái nào phải bỏ. Đầu tư phải hiệu quả, mua sắm tài sản công phải tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí... Chi tiêu công phải siết chặt lại, chống lãng phí, tiết kiệm tiêu dùng, tiết kiệm sản xuất - hạ giá thành sản phẩm, đầu tư hiệu quả.”
@ GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, nói thẳng đến các Dự án và chi tiêu của Chính phủ: ”Theo các chuyên gia kinh tế nhận định thì rất nhiều công trình có đầu tư lớn của nhà nước đang còn dở dang và những công trình này không thể ngừng lại được. Để giải quyết chúng nhà nước phải chấp nhận bỏ thêm một số tiền rất lớn trong ngân sách. Bây giờ không thể kềm chế được cho nên biện pháp quan trọng nhất hiện nay là phải xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của chính phủ. Còn các công nghiệp khác ở trong nước thì ODA và FDI rất là ít cho nên chúng tôi cũng chưa biết là chính phủ sẽ làm như thế nào, nhưng mà chúng tôi cũng có khuyến cáo là chính phủ nên xem xét lại, tức là cơ cấu lại các khoản chi của chính phủ, không dàn trải, phải nâng cao hiệu quả.
Khi lượng Tiền, Vốn bỏ ra, thả lỏng cho những Dự án chuyên môn, cho những Dự án Bộ hay những Dự án Địa phương (Tỉnh), mà hiệu quả Kinh tế không đạt được, thì đồng Tiền không Hội nhập đầy đủ, nghĩa là không có tương đương Hàng hóa hay Dịch vụ bảo đảm Giá trị của đồng Tiền. Đồng Tiền mất giá, lạm phát đã nhiều năm trường là do sự thả lỏng này. Nhà Nước lấy Tiền, Vốn đâu mà thả lỏng ra như vậy ? Tại sao không có thể nghĩ rằng trong suốt những năm trường, Nhà Nước độc tài đã ra lệnh cho Ngân Hàng Nhà Nước in tiền mới (chưa Hội nhập Kinh tế), thả vào nền Kinh tế để đánh lận với đồng Tiền thực (đã Hội nhập Kinh tế) mà dân chúng đang giữ.
=> Lãnh vực Thực hiện hiệu quả Kinh tế (T)
Người làm Kinh tế có câu nói: “Làm ra Tiền đã khó, mà tiêu Tiền còn khó hơn”. Thực vậy, tiêu Tiền không phải là vất Tiền ra cửa sổ. Tiêu Tiền theo ý nghĩa Kinh tế là phải làm thế nào để một đồng chi ra, phải thu vào tối thiểu hơn một đồng, nghĩa là nếu không có lợi nhuận, thì thà đừng tiêu. Việt Nam cũng có câu: ”Tiêu Tiền Chùa”, nghĩa là tiêu Tiền của chung thì dễ dàng phung phí, không cần nghĩ đến hiêu quả. Phải nghĩ đến hiệu quả trước khi quyết định chi tiêu.
Những Công ty, Tổng Công ty quốc doanh không làm ăn cho có hiệu quả tương xứng vì những lý do sau đây:
* Đây là Công ty Nhà Nước, lợi nhuận làm ra do cố gắng làm việc hữu hiệu, cũng thuộc về Nha Nước. Vì vậy không cần cố gắng nhiều.
* Người đứng trách nhiệm Công ty nghĩ đến cắt xén thưởng công cho mình trước khi làm Kinh tế thực sự để sinh lợi nhuận.
* Những sản phẩm công nghệ ngày nay là sự chắp nối những linh kiện rời trong hệ thống sản xuất từng phần (sous-traitance). Những Công ty Nhà Nước khó lòng phân công với nhau để sản xuất từng phần trong mục đích giảm giá thành sản phẩm cuối cùng. Những Công ty công nghệ Nhà nước chọn những dễ dãi là nhập siêu những thành phần từ nước ngòai để đem về ráp nối chặng chót. Vì vậy sản phẩm chặng chót có giá thành cao lên vì nhập siêu những linh kiện.
* Mỗi lần nhập siêu linh kiện là mỗi lần những chủ Công ty nhà nước lại có dịp thông đồng kín đáo với người bán từ nước ngòai để tăng giá mua, cắt xén cho vào túi riêng của mình.
* Cuối cùng, nếu Công ty không làm việc cho có hiệu lực, thua lỗ, thì đã có Tiền, Vốn quốc gia bù thêm vào.
Theo Công thức tóm tắt của FISHER mà chúng tôi đưa ra trên đây, thì khi nền Kinh tế không có hiệu quả, số sản phảm (T) giảm, thì Khối Tiền lưu hành (M.V) không có Hàng hóa và Dịch vụ tương xứng. Đồng Tiền mất giá, lạm phát, đồng tiền mua được ít hàng, nghĩa là vật giá tăng.
@ Bloger Người Buôn Gió viết rất đúng về thái độ làm việc của những người trách nhiệm các Công ty Nhà Nước:” Các kế hoạch xây dựng càng xây càng hỏng, nào hầm Thủ Thiêm, đường hầm Kim Liên…; có nhà máy như Dung Quất tưởng đã vận hành từ lâu thì nay lại phát hiện thêm 100 lỗi trong khi thi công nên phải tạm ngưng, không biết sẽ còn ngưng đến bao giờ. Các đại tập đoàn đứng sau Nhà nước, tưởng lập ra là cốt tăng thêm GDP, giúp cho an sinh được cải thiện, dân đỡ khổ hơn, nào hay anh nào cũng dài mồm than lỗ, mới ra Tết mọi thứ sản phẩm của họ đã tăng giá vùn vụt, nghĩa là họ chỉ góp phần vào bĩ cực mà chẳng thấy có thái lai.”
@ Giáo sư TSKH Ngô Trí Long, Học viện Tài chính, nhấn mạnh như một hiệu lệnh: “Đầu tư phải hiệu quả”.
@ GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng Khoa Kinh Tế Tài Chánh - Đại Học Quản Lý Kinh Doanh, cũng nhất thiết khuyến cáo: “Phải nâng cao hiệu quả”.
Việt Nam khác với những nước trong khu vực về Cơ Chế Chính trị—Kinh tế
Xin nhắc lại lời của Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nói: “Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm phát thấp hơn của mình.“. Có lẽ Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, không dám nói ra một điều làm Việt Nam khác với các nước trong khu vực vì ngại sợ rằng Công an CSVN lại mời ông lên làm việc, rồi truy tố ông ra tòa theo Điều 88 Bộ Hình Luật. Riêng tôi, tôi đã nói từ lâu rằng cái Cơ Chế CSVN làm Kinh tế, gọi là nền Kinh tế Tự do và Thị trường định hướng XHCN, khác hẳn với việc làm Kinh tế Tự do và Thị trường ở những nước trong khu vực. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường của những nước trong khu vực tôn trọng Môi trường Chính trị—Luật pháp dân chủ phù hợp (Environnement Politico-Juridique démocratique adéquat), trong khi ấy Việt Nam cố thủ chủ trương Chính trị độc tài nắm trọn độc quyền Kinh tế. Cái khác là ở chỗ đó và chính cái khác này làm cho Lạm phát và đồng Tiền mất giá cao hơn nhiều sánh với những nước trong khu vực.
Kinh tế Việt Nam là Kinh tế nhóm đảng Mafia CSVN độc tài cướp bóc của cải dân chúng và quốc gia cho riêng mình, chứ không phải nền Kinh tế do Dân và cho Dân. Vì nắm giữ cả hai quyền, nên Tiền, Vốn nhà nước bỏ lỏng ra để Khối Tiền lưu hành (M.V) tăng theo ý đảng và họat động Kinh tế không cần hiệu quả để không đủ sản phẩm tương xứng (T) bảo đảm cho giá trị đồng Tiền. Lạm phát, Phá giá đồng Tiền là như vậy.
Không chịu nổi hậu quả Lạm phát, Dân chúng nghèo đói nổi dậy
Khi viết về cuộc Khủng hỏang Tài chánh Á-châu năm 1997 làm đồng tiền một số lớn những nước Á châu mất giá, Bà Francoise NICOLAS đã đưa ra tỉ dụ tình trạng lạm phát đã làm dân chúng đói nghèo nổi dậy đạp đổ chế độ độc tài SUHARTO sau 32 năm cai trị.
Thực vậy khi vật giá tăng vọt, đồng tiền mà họ tiết kiệm mất giá, những người lãnh lương như công nhân, công chức thì không được tăng lương là bao nhiêu, đa số rơi vào cảnh nghèo đói. Những người giữ quyền hành Chính trị, đặc quyền làm ăn bóc lột thì giầu có, vẫn tiêu pha, nhập siêu. Việc nổi dậy của đại đa số dân chúng nghèo đói không đến từ một thế lực ngọai lai nào khuyến dụ mà từ BỤNG ĐÓI của Dạ Dầy. Sức mạnh nổi dậy trước khi bị chết đói làm họ không sợ chết nữa. Nếu họ biết rằng việc mất giá Tiền tiết kiệm và Tiền lương của họ là do sự gian lận in tiền mới ra để lừa đảo đánh lận con đen với Tiền thực của họ, thì cuộc nổi dậy còn tăng thêm thù hận đến giết lát nữa.
Chúng tôi xin trích một đọan của bài viết của Oâng VŨ QUANG VIỆT đăng trên báo Lao Động (số 197, ngày 25.8, và số 198, ngày 27.8.2007) :“Tôi rất đồng ý với các nhà kinh tế đã nhận định là ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào lạm phát có nguyên nhân in tiền nhiều quá. Tại sao lại in tiền nhiều ? Vì nhà nước chi nhiều hơn số thuế thu được. Vấn đề là nhà nước bắt ông Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu. Điều này có nghĩa là bắt NHNN in tiền. Tiền nhiều hơn hàng làm ra thì tất phải lạm phát. Thời chống lạm phát cuối những năm 1980, hầu hết mọi người trong chính phủ đều cho rằng phải tăng năng suất, phải tăng cung để giảm lạm phát. Tôi đã đặt cho các bạn ấy một câu hỏi. Thế khả năng tăng sản xuất thật một năm là bao nhiêu ? Cao nhất như Trung Quốc thì cũng chỉ 10-15% là cùng, nhưng các ông lại đang tăng tiền tới cả vài trăm phần trăm một năm. Các ông có tăng sản xuất nổi vài trăm phần trăm một năm không ?“
Để kết, chúng tôi xin lấy lời nhận định của Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám Đốc FAO, tuyên bố với báo Financial Times: ”Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.” (Nếu giá cả tiếp tục tăng, thì tôi không ngạc nhiên về việc người ta chứng kiến những nổi dậy vì đói khổ) (LE MONDE, No.19523, Thứ Tư 31.10.2007)
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 04.02.2010
| | | |
CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ:
Bài 03:
ĐỒNG YUAN ĐỘC ĐÓAN: MẶT TRẬN XÂM LĂNG TIỀN TỆ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 25.02.2009
Trong thời thống trị của đồng Đo-la từ Hội Nghị Bretton Woods 1944 cho đến ngày nay, chúng ta đã thấy những lời đứng lên muốn cải cách hệ thống Tiền tệ. Ngòai Staline gọi hệ thống Tiền tệ là “Impérialisme du Dollar”, còn TT. Charles De GAULLE lên tiếng vì sợ tình trạng bếp bênh cho Euro-Dollar, còn khối A-rập xử dụng Pétro-Dollar làm áp lực với Hoa-kỳ để bênh đỡ Palestine.
Nhật báo LE MONDE ngày 10.11.2009, p.2, đã trích đăng lại lời công kích của TT.De GAULLE như sau:
“Ngày 4 tháng Hai năm 1965, Charles De GAULLE, Tổng thống Pháp, tuyên bố trong một cuộc họp rằng:”Nhiều quốc gia chấp nhận, theo nguyên tắc, đồng Đo-la như giá trị vàng để thanh tóan những chênh lệch trong Bảng Cân Bằng Thanh tóan Quốc tế. Đây là điều làm cho Hoa kỳ nhận nợ một cách như cho không đối với ngọai quốc vì chính Hoa kỳ phát hành phương tiện thanh trả cho chính mình. Nhìn những hậu quả có thể làm khủng hỏang, chúng tôi nghĩ rằng phải kịp thời tìm phương tiện ngăn chặn trường hợp như vậy. Chúng tôi nhận định rằng những giao dịch thương mại quốc tế cần phải được thiết lập trên một căn bản tiền tệ không có những nghi ngại và không mang dấu vết của một nước đặc biệt nào.”
Lời tuyên bố đã gây một “tiểu chiến tranh tiền tệ” giữa TT.De GAULLE và TT.Richard NIXON.
Chế độ BẢN VỊ—US$---VÀNG (Etalon—Devise US$--Vàng) vẫn được tiếp tục cho đến ngày nay (Xin đọc bài TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ đăng trong số này).
Những đòi hỏi mới của Trung quốc
Kinh tế Trung quốc đặt trọng tâm vào xuất cảng và đã xuất cảng thật nhiều để thu vào tồn trữ một khối Đo-la khổng lồ mà chúng ta có thể gọi là khối Sino-Dollar dưới hình thức cho Hoa-kỳ nhận nợ. Mỹ công khai nhận nợ, nhưng Trung quốc đã xậm xụi quyết định độc đóan về Tỷ giá hạ thấp đồng Yuan đối với Đo-la tới 50% nhằm phục vụ cho hàng xuất cảng của mình. Nhân cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế 2007/09, được cổ võ bởi TT.Nicolas SARKOZY và một số nước bắt đầu phát triển, Trung quốc đứng lên công kích hệ thống thanh trả Thương mại quốc tế lấy đồng US$ làm căn bản. Trung quốc lo lắng cho sự bấp bênh lên xuống của đồng US$ mà mình đang tích trữ một khối khổng lồ, nhất cho chính Hoa-kỳ nhận nợ. CNN ngày 17.02.2010 đã chạy hàng chữ trên Truyền Hình:”CHINA LOSING APPETITE FOR US DEBT !”.
Ngược lại, Hoa kỳ, ngay từ thời TT.BUSH, đã luôn luôn yêu cầu Trung quốc nâng giá đồng Yuan lên cho đúng với Tỷ giá của Thị trường. Nhưng Trung quốc vẫn cố chấp độc đóan quyết định Tỷ giá đồng Yuan thấp đối với Đo-la để giữ tính cạnh tranh xuất cảng của hàng hóa của mình. Trung quốc cũng bất chấp những than vãn về điểm này từ những nước khác cũng làm việc cho xuất cảng.
Trung quốc kêu gọi kiểm sóat chặt chẽ hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh quốc tế, nhưng ai cũng biết rằng không thể nào kiểm sóat Ngân Hàng/Tài chánh của chính Trung quốc độc đóan, được coi là “bí mật quân sự”. Trung quốc muốn kéo vây cánh nhằm thay thế đồng US$ bằng một Đơn Vị Tiền mới. Ngày 23.03.2009, Oâng Zhou XIAO-CHUAN, Thống đốc Ngân Hàng Trung ương Trung quốc, đã cho đăng lên mạng www.pbc.gov.cn lời tuyên bố như sau (theo bản dịch của Nhật báo LE MONDE ngày 10.11.2009, p.3) :
”L’objectif adéquat est donc de créer une monnaie de réserve internationale qui soit déconnectée de nation individuelle et se montre capable de rester stable sur le long terme. Comparée à la gestion séparée des réserves par chaque pays, la gestion centralisée d’une partie des réserves globales par une institution internationale de référence sera bien plus efficace pour contrer la spéculation et stabiliser les marchés financiers.” (Mục đích phù hợp là tạo ra một đồng Tiền dự trữ quốc tế tách rời ra khỏi một quốc gia riêng lẻ và có khả năng đứng bền vững trong trường kỳ. So sánh với việc quản trị riêng lẻ những dự trữ của từng quốc gia, việc quản trị tập trung những dự trữ tổng quát bởi một Tổ chức Quốc tế làm quy chiếu sẽ hữu hiệu hơn nhiều để chống lại đầu cơ và tạo bền vững cho những Thị trường Tài chánh).
Phản ứng Quốc tế thế nào đối với việc Tuyên Chiến Tiền Tệ này
Như chúng tôi đã nhấn mạnh về tính cách PHỔ QUÁT (Universalité) cắt nghĩa trong bài mang tính cách giáo khoa TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ, Tiền tệ là một sự chấp nhận tự do và là tư hữu hòan tòan của mỗi cá nhân. Quyền lực Tiền tệ mang tính độc lập với quyết định Chính trị. Chúng tôi rất ngại ngùng xử dụng nhũng tiếng “Chiến Tranh Tiền Tệ” được tuyên bố bởi những người điều hành Chính trị. Không một cá nhân nào tư hữu Tiền bạc muốn để cho Nhà Nước “chiến tranh tiền tệ” để mình mất tiền. Một đồng tiền được chấp nhận hay không phải là do đồng thuận của từng cá nhân tư hữu.
Đồng Đo-la từ năm 1944 đến nay đã lan tràn khắp Thế giới đến nỗi một đứa con nít cũng biết nói:”One Dollar, please !” . Nó chưa biết nói: “One Yuan, please !”
Ký giả Cécile PRUDHOMME, dưới đầu đề :”Ni l’Euro ni Yuan ne parviendront, à moyen terme, à remplacer le Billet vert comme pivot du système financier international. UNE DOMINATION CONTESTÉE, MAIS PAS MENACÉE !” (Cho cả Euro, cả Yuan cũng chưa, trong trung hạn, thay thế Giấy bạc xanh đang làm mốc cho hệ thống Tài chánh quốc tế. MỘT SỰ THỐNG TRỊ BỊ PHẢN ĐỐI, NHƯNG KHÔNG BỊ ĐE DỌA !) (Le Monde 10.03.2009, p.2).
Ký giả đã trích ngay ra lời của TT.NIXON trả lời cho TT.De GAULLE: ”Le Dollar est notre monnaie, et votre problème !” (Đồng Đo-la là đồng tiền của chúng tôi, còn vấn đề là thuộc về các ông !”. Thực vậy, Hoa kỳ không hề dùng quân đội bắt ép người khác phải chấp nhận đồng Đo-la. Việc người khác chấp nhận Đo-la là việc đồng thuận tự do vậy.
Ký giả đưa ra những con số cho thấy tầm quan trọng của Đo-la đã ăn rễ sâu rộng hiện nay:”Theo điều tra của Ngân Hàng Thanh Tóan Quốc tế (BRI), đồng Đo-la đại diện 86.3% ở Thị trường Hối đóai, nơi trao đổi mỗi ngày USD.3’200 tỉ. 37% cho đồng Euro Liên Âu, 16.5% cho đồng Yen Nhật và 15% cho đồng Bảng Anh.”. Một sự hiện diện như vậy với cả một bộ máy tổ chức điều hành Hối đóai không thể một sớm một chiều thay thế.
Đối với Liên Aâu, mặc dầu Sarkozy hớn hở cổ võ cho đề nghị thay đổi, nhưng Oâng Jean-Claude TRICHET, Thống đốc Ngân Hàng Liên Aâu, ngày 8.10.2009, đã tuyên bố: ”Mon prédécesseur et moi-même avons toujours dit que nous ne faisions pas campagne pour une utilisation internationale de l’euro” (Vị tiền nhiệm và chính tôi đã luôn luôn nói rằng chúng tôi không cổ động cho việc xử dụng quốc tế cho đồng Euro).
Thái độ của Nhật cũng ủng hộ việc duy trì đồng Đo-la. Oâng Hiroshisa FUJII, Bộ trưởng Tài chánh Nhật, đã tuyên bố ngày 27.10.2009: “Le dollar demeurait une devise solide et il était de ce fait naturel que le billet vert reste pour le Japon une monnaie de réserve. Il est clair que le dollar est encore la plus forte monnaie du monde”. (Đồng Đo-la đã đứng như một đồng tiền chắc chắn và vì lẽ tất nhiên đó, tờ giấy bạc xanh còn đứng đối với nước Nhật làm đồng tiền dự trữ. Tỏ tường rằng đồng Đo-la còn là đồng tiền mạnh nhất Thế giới)
Trước thái độ còn tin tưởng và ủng hộ đồng Đo-la như vậy của Liên Aâu và của Nhật, Trung quốc tìm tòi những con đường khác để lấn dần đất của đồng Đo-la.
Tìm XÂM LĂNG ĐỒNG YUAN đối với một số nước nghèo
Nhật báo Le Monde Economie ngày 23.02.2010, trang 1, cho đăng bài nói về việc Trung quốc mang đồng Yuan của mình đi tìm xâm lăng tại những nước nghèo.
Trung quốc đã tìm xâm lăng trong lãnh vực tiền tệ với những lý do nổi xùng thuộc lãnh vực Chính trị. Đây không hẳn là Chiến Tranh Tiền tệ, va chạm giữa hai đồng Tiền Yuan và Đo-la, thuần túy thuộc lãnh vực Tiền tệ. Nhật báo Le Monde nêu ra những lý do: ”La confrontation sino-américaine gagne en intensité. Ventes d’armes à Taiwan, visite du dalai-lama à Washington: l’administration Obama donne des gages de fermeté à l’égard de Pékin.” (Việc va chạm Tầu—Mỹ tăng độ mạnh. Bán vũ khí cho Đài Loan, cuộc viếng thăm của Đức Dalai-Lama tại Hoa Thịnh Đốn: Chính quyền Obama tỏ thái độ cứng rắn đối với Bắc Kinh).
Trung quốc đã ký kết những Liên đối mậu dịch cho phép thanh khỏan thương mại bằng đồng Yuan như sau:
=> Những hiệp ước mậu dịch ký kết với Hong Kong, Hàn Quốc, Malaysia, Bêlarus, Indonesia và Argentina năm 2009 cho phép các nước này xử dụng đồng Yuan trong các vụ mua bán.
=> Đồng Yuan Trung Quốc được phép xử dụng ngoài nước: tại Lào, Việt Nam, Mông Cổ và Nga từ năm 2003.
=> Trong vòng 5 năm, các hợp đồng ký kết bằng đồng yuan đã tăng thêm và chiếm 30% khối trao đổi mậu dịch giữa Trung Quốc và ASEAN .
Trung quốc tìm những con đường nhỏ này để cạnh tranh đồng Yuan đối với đồng Đo-la tại một số nước nghèo. Nhưng thử hỏi một số người tư hữu tài sản có muốn giữ tài sản mình bằng đồng Yuan hay không ? Đồng Yuan là Tiền tệ của Trung quốc, được quyết định Tỷ gia một cách độc tài, dưới luật lệ Tiền bạc không có tự do cho chính những Sỡ hữu chủ tài sản. Chọn giữ đồng Yuan nguy hiểm hay chọn giữ đồng Đo-la trong khuôn khổ luật pháp triệt để tôn trọng tư hữu cá nhân ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 25.02.2010 | | | |
NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ: HẢI NGỌAI CẤM VẬN NGỌAI TỆ ĐỐI VỚI MAFIA CSVN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 25.02.2010
HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:
=> Tạm ngưng du lịch Việt Nam
=> Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết
=> Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.
Đấu tranh chống lại CSVN, chúng tôi luôn luôn đứng ở lãnh vực Kinh tế. Lực lượng đấu tranh chính yếu là tại Quốc nội. Hải ngọai yểm trợ cho Quốc nội. Có hai Mặt Trận mà Hải ngọai có thể đóng góp hữu hiệu, đó là Mặt Trận Thông Tin về Quốc nội và Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế chống lại Mafia CSVN cướp bóc Dân chúng.
Đối với Mặt Trận Thông Tin về Việt Nam, Hải ngọai phải tăng cường luôn luôn vì chúng ta có phương tiện và vì Truyền Thông hiện nay là từ trời rơi xuống mà CSVN khó lòng ngăn chặn. Đối với Mặt Trận Tài chánh/Kinh tế, chúng ta phân biệt những điểm tế nhị. Chúng ta tránh những gì có thể làm hại đến đời sống làm ăn kiếm sống vất vả của Dân chúng, nhưng đối riêng với Mafia CSVN cướp bóc, thì chúng ta kêu gọi trừ diệt không thương tiếc.
Từ khi CSVN tuyên bố phá giá nội tệ, chúng tôi thấy đây là dịp mà Hải ngọai phải nắm lấy để tấn công nhóm đảng Mafia CSVN mà không ngại sợ liên hệ đến cuộc sống làm ăn vất vả của Dân chúng. Việc buộc lòng phá giá đồng bạc Việt Nam cho thấy một tình trạng khan hiếm ngọai tệ có thể đưa Cơ Chế đến phá sản. Chúng tôi muốn kêu gọi Hải ngọai đòan kết, cứng rắn xử dụng mọi biện pháp CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Cơ Chế Mafia CSVN cướp bóc.
CSVN khan hiếm ngọai tệ trầm trọng
Từ khi cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế cho đến nay, CSVN đang rơi vào tình trạng khan hiếm ngọai tệ như sau:
=> Đầu tư nước ngòai giảm 82% vì chính nước ngòai cũng đang trải qua Khủng hỏang. Ngày nay, không Nhà Nước Tây phương nào, Liên Aâu và Mỹ, không thiếu hụt Ngân sách. Tình trạng khủng hỏang đang diễn ra nguy hiểm tại một số nước Liên Aâu: Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha... Liên Aâu đang khó khăn trong việc cứu vớt những nước này, nên khó lòng nghĩ đến đầu tư vào Việt Nam xa xôi nguy hiểm. Trung Đông cũng phải quan tâm đến vấn đề Dubai.
=> Aâu, Mỹ du lịch Việt Nam giảm 70%. Xuất cảng của Việt Nam sang Liên Aâu và Hoa kỳ giảm 62%, đó là chưa kể những hàng hóa bị cấm đóan vì độc hại và những hàng bị tăng thuế nhập cảng như tôm cá vào Mỹ, đồ may mặc, da giầy vào Liên Aâu. Khi du lịch giảm, hàng xuất cảng giảm, thì làm sao có thể tăng ngọai tệ được.
=> Trong khi ấy, những hàng nhập siêu cho Việt Nam lại tăng mạnh và quá mức. Cán cân thương mại nhập/xuất mất thăng bằng. Nhập siêu tức là ngọai tệ đi ra.
Đình trệ chung về Mậu dịch Quốc tế
Nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ) ngày hôm nay 25.02.2010, trang 17, đăng những lời tuyên bố của chính Oâng Pascal LAMY, Tổng Giám đốc WTO:
“Le commerce international enregistré l’an dernier un recul sans précédent depuis la Seconde Guerre Mondiale en raison de crise 12%, et l’année 2010 s’annonce médiocre avec déjà des signes inquíetants pour la reprise économique espérée. Le commerce mondial a été victime de la crise et s’est contracté de 12% en volume en 2009”. (Thương mại quốc tế ghi nhận năm vừa rồi một sự lùi lại chưa bao giờ xẩy ra từ Thế Chiến Thứ Hai với 12% giảm, và năm 2010 báo hiệu xấu với những dấu hiệu đáng lo ngại cho việc phục hồi kinh tế như ao ước. Thương mại hòan cầu đã là nạn nhân của khủng hỏang và đã lùi 12% tính về lượng giao dịch trong năm 2009.)
Oâng nói thêm về những lý do của việc lùi chưa từng có này:
“Selon OIT, le nombre de chomeurs a atteint un niveau sans précédent de 200 millions de personnes, par conséquent le manque du pouvoir d’achat. La chute brutale des échanges commerciaux s’explique principalement par un repli de la demande des plus grandes économies, ainsi que par une raréfaction des prêts bancaires pour financer les transactions commerciales.” (Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, số thất nghiệp đã đạt tới mức chưa từng có là 200 triệu người. Việc tụt dốc tàn nhẫn của những trao đổi thương mại được giải thích chính yếu bởi việc cắt đi việc đặt mua hàng từ những nền kinh tế lớn nhất, cũng như bởi việc khan hiếm những món cho vay ngân hàng để tài trợ cho những thương vụ thương mại.)
Những tuyên bố trên đây của Oâng Tổng Giám đốc WTO chứng tỏ rằng những con số ca tụng tăng trưởng cũng như xuất cảng từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam là những khóac lác tuyên truyền mà thôi.
Phá giá đồng bạc Việt Nam là hậu quả tất nhiên
Trong bài viết dài về TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ đăng trong số này, chúng tôi đã cắt nghĩa một cách giáo khoa rằng đồng nội tệ của một quốc gia mạnh hay yếu là do Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ, do Cán Cân Chuyển Vốn vào. Chúng tôi đã viết và cắt nghĩa như sau:
Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.
Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh hay yếu?
Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.
Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giûam giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.
Tại Việt Nam, ngọai tệ không những không vào mà còn thất thóat ra ngòai nhiều. Người trong nước tăng Cầu ngọai tệ, nên tỷ giá ngọai tệ tăng. Phía Cung nội tệ tăng để mua ngọai tệ phục vụ nhập siêu. Cung nội tệ tăng, thì tỷ giá nội tệ sánh với ngọai tệ bị mất giá.
Tình trạng khan hiếm ngọai tệ và Đình trệ xuất cảng càng kéo dài bao nhiêu, thì đồng bạc Việt Nam càng phá giá bấy nhiêu. Lần phá gia trước Tết (11.02.2010) chưa phải là lần cuối, mà việc phá giá còn tiếp tục.
Bản Tin Reuters do John Ruwitch, đánh đi từ Hà Nội như sau:
“HÀ NỘI (Tin Reuters) – CS Việt Nam có nguy rơi vào vòng xoáy buộc phải phá giá đồng nội tệ liên tục ngoại trừ có các chính sách đi kèm với các biện pháp đối với thị trường ngoại hối nhằm kiểm soát lạm phát và giới hạn thâm thủng mậu dịch, ngày càng gia tăng, một cách có hiệu quả.
Lạm phát đang gia tăng trở lại và thâm thủng mậu dịch đang mở rộng làm trở ngại các cố gắng của các giới chức chính quyền nhằm thu hút đồng Mỹ kim dân chúng đang cất giữ trở lại dòng luân lưu tiền tệ và giảm thiểu sự thất thoát nguồn dự trữ ngoại tệ.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngày thứ Năm (February 11) phá giá đồng nội tệ 3,25% đồng thời áp mức tối đa đối với hối suất dành cho đồng Mỹ kim gởi tại ngân hàng. Đây là lần phá giá thứ 3 kể từ tháng 12 năm 2008, dẫn đến hối suất tham khảo hằng ngày của ngân hàng trung ương giảm hơn 11% trong hơn một năm.
Bui Kien Thanh, một cựu cố vấn cho chính phủ VN, nói rằng cả hai động thái đều không đáp ứng được nhu cầu bức thiết cho các thay đổi về chính sách mang tính rộng lớn.
“Dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước sẽ tiếp tục thu nhỏ và Ngân hàng nhà nước buộc phải có hành động nhằm bảo vệ giá trị hối đoái của đồng nội tệ,” ông Thanh nói.
“Sẽ không có sự chấm dứt đối với vòng xoáy tồi tệ này. Một phương cách mới và một chính sách tiền tệ mới là cần thiết nhằm thổi một luồng sinh khí mới vào nền kinh tế, thay cho các hành động mang tính đối phó và các luật lệ không phù hợp.”
Đồng nội tệ được kiểm soát trong một biên độ hối đoái, đã và đang chịu nhiều áp lực bị phá giá trong gần 2 năm qua khi nền kinh tế phát triển quá nóng và rồi sau đó giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Các chính sách trong quá khứ nhằm chận đứng sự tuột dốc giá trị của đồng bạc VN gần như không có hiệu quả. “
Hải ngọai hãy cứng rắn dồn sức CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với Mafia CSVN
Đã bao chục năm trường, mỗi năm Hải ngọai chúng ta đã chuyển về Việt Nam cho Gia đình trung bình USD.4-6 tỉ. CSVN không biết ơn mà vẫn luôn luôn coi chúng ta là thù địch, vẫn tàn nhẫn bóc lột đàn áp Dân chúng hay những người trong Gia đình của chúng ta. Đây là dịp mà chúng ta phải dặn bảo nhau, mở Phong trào Hải ngọai CẤM VẬN NGỌAI TỆ đối với đám nhóm đảng Mafia CSVN tàn bạo, cướp bóc.
Lạm phát bắt đầu tăng. Với lạm phát tăng và đồng bạc phá giá, Dân chúng sẽ đứng lên !
HÃY CẤM VẬN NGỌAI TỆ:
=> Tạm ngưng du lịch Việt Nam
=> Giảm gửi ngọai tệ về Việt Nam khi không cần thiết
=> Nếu vì cần thiết mà gửi ngọai tệ về cho Gia đình, thì dặn Gia đình đừng bán Ngọai tệ cho CSVN để lấy đồng nội tệ sẽ bị phá giá nhiều lần nữa.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 25.02.2010
| | | |
TIỀN TỆ VÀ NHỮNG THỊ TRƯỜNG LIÊN HỆ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.02.2010
Nội dung bài này mang tính cách giáo khoa: chúng tôi trình bầy những quan niệm về Tiền tệ và định vị trí, vai trò của nó trong mọi lãnh vực họat động Kinh tế. Ngân Hàng là trái tim, Tiền tệ là mạch máu cho sức khỏe Kinh tế.
Chúng ta cần những quan niệm giáo khoa rõ rệt để có chung một tiếng nói, một nhận định về những tranh chấp, thậm chí chiến tranh, giữa các đồng Tiền: đồng Đo-la Mỹ, đồng Euro, đồng Bảng Anh, đồng Yen Nhật, đồng Franc Thụy sĩ, đồng Yuan Trung quốc. Trong những Thế kỷ trước, đồng Florin Hòa Lan đã một thời nắm ưu thế; tiếp đến là đồng Bảng Anh lên kế vị; và từ Hội Nghị Tiền tệ Bretton Woods năm 1944, đồng Đo-la Mỹ tràn lan khắp Thế giới mà Staline gọi là “Impérialisme du Dollar” (Đế quốc Đo-la).
Trong suốt thời kỳ thống trị của Đo-la đến ngày nay, có nhiều những cuộc nổi dậy chống Đo-la. Aâu châu được tái thiết sau Thế Chiến II và phát triển Kinh tế, bán hàng hóa cho các cựu thuộc địa, thu tiền vào bằng Đo-la tích lũy tại Aâu châu thành khối Euro-Dollar. Các nước A-rập Trung đông bán dầu lửa và tích lũy Đo-la thành khối Petro-Dollar. Cuộc nổi dậy đầu tiên là từ TT.De GAULLE nhân danh Euro-Dollar khi Oâng muốn bắt tay với Nga. Cuộc nổi dậy thứ hai nhân danh Petro-Dollar từ những nước A-rập nhằm bênh đỡ cho Palestine.
Ngày nay, nhân cuộc Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh/Kinh tế 2007-90 bắt đầu từ Hoa kỳ, lan ra khắp Thế giới ở những nơi nào mang ảnh hưởng ưu thế của Đo-la, một số Quốc gia đặt lại vai trò thống trị của Đo-la. Được sự cổ võ của TT.Sarkozy và một vài Quốc gia trong khối G20, Trung quốc lên tiếng mạnh nhất chống lại Đo-la.
Thực vậy, Trung quốc tích lũy khối Đo-la khổng lồ, có thể gọi là Sino-Dollar. Là chủ nợ bằng Đo-la đối với Hoa-kỳ, nhưng cứ nganh ngánh mất ăn mất ngủ khi mà đồng Đo-la chuyển biến lên xuống. Đồng tiền liền với khúc ruột mà ! CNN ngày 17.02.2010 chạy hàng chữ trên Đài “China losing appetite for US debt”. Các báo Le Monde ngày hôm sau 18.02.2010, p.12; The Wall Street Journal 18.02.2010, p.32, cũng lên tiếng phụ họa về cảnh ăn không ngon, ngủ không yên này của Trung quốc. Trung quốc lên tiếng đòi hỏi lần lượt những vấn đề sau đây:
* Kiểm sóat chặt chẽ hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh mà đồng Đô-la giữ ưu thế
* Thay thế đồng Đo-la bằng một Đơn vị Tiền tệ chung nào đó trong khuôn khổ IMF
* Hiện nay, Trung quốc dùng Thương mại để bành trướng đồng YUAN xâm lăng ra nước ngòai (Xin đọc bài Quan Điểm đăng trong số VietTUDAN 436/25.02.2010).
Những vấn đề Tranh chấp, thậm chí Chiến tranh, về Tiền tệ trên đây khiến chúng tôi thấy cần viết những quan niệm giáo khoa về Tiền tệ nói chung để chúng ta có cùng một tiếng nói khi nhận định về các Tranh chấp.
Chúng tôi xin trình bầy lần lượt những điểm:
=> Phát minh và chuyển biến của Tiền tệ => Những Chế độ Tiền tệ và định Tỷ giá => Những Thị trường liên quan đến Tiền tệ => Cán cân Thương mại và đồng Tiền mạnh => Làm thế nào Tiền đẻ ra Tiền
Phát minh và chuyển biến của Tiền tệ
Không ai nhai nuốt đồng 100 Đo-la để khỏi đói, mà dùng đồng 100 Đô mua đồ ăn để ăn thì bụng mới không đói được. Như vậy đồng tiền chỉ là thứ yếu, là phương tiện để mua hàng hóa phục vụ cho những nhu cầu của con người. Hàng hóa thực của sản xuất Kinh tế là chính yếu, còn đồng tiền là phụ. Chính vì vậy, đồng tiền được định nghĩa là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises) hay “Phương tiện chuyên chở trao đổi hàng hóa” (Moyen de véhiculer les échanges des marchandises).
Xem những câu định nghĩa như vậy, thì chính việc phát triển trao đổi hàng hóa (Thương mại) đòi hỏi việc phát minh ra Tiền tệ và sự Chuyển biến của Tiền tệ cho phù hợp với đà phát triển Thương mại nội địa hay quốc tế. Phát minh và Chuyển biến Tiền tệ qua những giai đọan như sau:
1) Trao đổi hiện vật (Echange de Troc)
Trao đổi hiện vật, nghĩa là hàng hóa trao đổi lấy hàng hóa. Một người có dư 5 con gà, nhưng lại muốn có cái ghế để ngồi. Họ mang 5 con gà để đổi lấy cái ghế. Nhưng một người khác chỉ có dư 4 con gà, mà lại muốn cái ghế. Việc trao đổi gà lấy ghế trở thành bế tắc. Chẳng lẽ chặt cái ghế ra làm 5 phần và họ chỉ lấy 4 phần của cái ghế.
Cái bế tắc đầu tiên cho trao đổi hiện vật là việc phân chia hàng hóa thành những thành phần nhỏ. Chính cái bế tắc thương mại này đã đòi hỏi phải phát minh ra một phương tiện có thể phân chia ra càng nhỏ càng hay. “La DIVISIBILITE pousse le Commerce à inventer la Monnaie” (Tính cách khả phân đẩy Thương mại đến phát minh Tiền tệ).
2) Tiền-Hàng hóa (Monnaie-Marchandise)
Ý tưởng đầu tiên là chọn một lọai hàng hóa mang tính cách khả phân tốt nhất. Một số bộ lạc Phi châu đã chọn Răng Sư tử làm đơn vị trao đổi các hàng hóa khác. Tại Á châu, dân chúng chọn Đấu Gạo làm Đơn Vị trị giá việc trao đổi hàng hóa. Xem việc chọn lựa này, vì tính cách khả phân, Tiền tệ còn mang tính Khan hiếm (Rareté) và tính Phổ quát ( Universalité). Thực vậy, Răng Sư Tử không phải là dễ kiếm, do đó Tiền mới qúy. Nếu chọn những viên sỏi làm Tiền, thì ai cũng kiếm được. Cũng vậy, chọn Đấu Gạo làm Tiền trung gian Thương mại, đó là nhấn mạnh tính Phổ quát (Universalité) của hàng hóa lựa chọn. Ở Á châu, Gạo là phổ quát nhất, ai cũng chấp nhận.
Tóm lại, một đồng Tiền phải mang tính Khả phân (Divisibilité) để dễ dàng làm trung gian trao đổi; một đồng Tiền phải mang tính Khan hiếm (Rareté) để tự nó mang một giá trị; một đồng tiền phải mang tính Phổ quát (Universalité) nghĩa là mọi người cùng công nhận.
3) Tiền Kim lọai (Monnaie Métallique)
Hàng hóa mỗi ngày mỗi nhiều. Những tác nhân Kinh tế mỗi ngày mỗi giầu có thêm và người ta nghĩ đến Tiết kiệm, tích lũy hàng hóa cho tuổi già hay cho con cháu sau này. Tiền bạc trở thành một phương tiện tích lũy tài sản. Nếu chọn Tiền bạc bằng một hàng hóa nào đó, thì hàng hóa dễ trở thành hư hỏng, mất giá trị trong thời gian. Đây là tính cách thứ tư mà người ta đòi hỏi Tiền tệ phải có, đó là tính Kéo dài (Durabilité) trong thời gian. Không ai muốn tiết kiệm tiền bạc mà trong thời gian bị hư hỏng, mất giá. Tính cách Kéo dài (Durabilité) này đã thúc đẩy việc lựa chọn Kim lọai làm Tiền tệ. Đầu tiên là chọn Sắt, nhưng Sắt dễ bị rỉ. Người ta chọn Đồng khó bị rỉ hơn. Nhưng Đồng dễ kiếm, phạm vào tính Hiếm có (Rareté). Người ta chọn Bạc vừa khó bị hư hỏng vừa hiếm có hơn Đồng. Cuối cùng VÀNG được chọn lựa như Tiền tệ Kim lọai chót. Thực vậy, Tiền Vàng mang đủ 4 tính chất : Khả phân (Divisibilité) thành cân lượng thật nhỏ; Hiếm có (Rareté) nên tự nó có giá trị nội tại (Valeur en soi); Phổ quát (Universalité) vì cả Thế giới, ai cũng chấp nhận vàng; Kéo dài (Durabilité) vì vàng không bị rỉ.
Hiện nay, giữa các đồng Tiền, VÀNG vẫn là nơi ẩn náu (Refuge) khi các Tiền tệ bị giao động.
4) Tiền Giấy
Những bế tắc Thương mại đã thúc đẩy phát minh Tiền tệ. Ở thời kỳ Thương mại hiện vật (Commerce de Troc), tính cách bất khả phân hàng hóa khiến người ta phát minh ra Tiền tệ trung gian mang tính khả phân tối đa.
Ở thời kỳ phát triển Thương mại Quốc tế từ Trung Cổ Aâu châu, một bế tắc nữa khiến người ta phải phát minh ra Tiền Giấy. Thực vậy, Trung Cổ Aâu châu là thời kỳ phân chia đất đai cho các Lãnh chúa. Mỗi vùng nhỏ có một Lâu đài Lãnh chúa quy tụ dân chúng chung quanh thành những Thành phố. Mỗi vùng tổ chức những Chợ Phiên của Thành phố để trao đổi hàng hóa, tỉ dụ Chợ Phiên Bruxelles, Chợ Phiên Milano, Chợ Phiên Munich... Thương gia từ Thành phố Milano muốn mua hàng hóa ở Chợ Phiên Bruxelles. Mua hàng, phải trả Tiền. Nhưng nếu Tiền tệ là Kim lọai, Vàng chẳng hạn, thì phải chở Vàng từ Milano đến Bruxelles để trả. Chở Vàng từ Milano đi Bruxelles, vượt qua rặng núi Alpes, thì sợ ăn cướp, không có an ninh giữa một thời giặc giã của các Lãnh Chúa.
Cái bế tắc của thời kỳ phát triển Thương mại quốc tế này là An ninh (Sécurité) cho Tiền bạc khi mang Tiền đi xa để mua hàng. Việc phát minh qua những giai đọan như sau:
=> Chứng minh thư ký thác (Certificat de Dépôt)
Vàng không được chở đi, mà chỉ được ký thác tại một Nhà Ký Thác (Maison de Dépôt). Nhận và giữ vàng của Thương gia, Cơ sở Ký thác cho Thương gia một Tờ Giấy chứng minh số vàng ký thác. Thương gia từ Milano chỉ cần mang Tờ Giấy Chứng Minh Ký thác sang Bruxelles, đế trình Chứng Minh thư tại một Cơ sở Ký thác khác tại đây để đổi thành vàng mà mua hàng. Như vậy khi chỉ mang một Tờ Giấy Chứng Minh Thư Ký thác từ Milano sang Bruxelles, Thương gia có An ninh (Sécurité) hơn là chuyên chở qua rặng núi Alpes trùng điệp cả một lượng vàng nặng chĩu.
Chứng Minh Thư Ký Thác (Certificat de Dépôt) là hình thức đầu tiên của Tiền Giấy ngày nay. Những Cở Sở Ký Thác (Maison de Dépôt) trở thành những Ngân Hàng ngày nay.
Xin chú thích thêm rằng trên Tờ Chứng Minh Thư Ký thác, luôn luôn có hai Chữ Ký. Qúy vị lưu ý rằng trên các Tờ Giấy Bạc hiện nay vẫn giữ hai Chữ Ký. Các Giấy tờ Ngân Hàng đụng chạm đến Tiền bạc phải có hai Chữ Ký. Vấn đề đặt ra là làm thế nào Cơ Sở Ký Thác tại Bruxelles nhận ra Tờ Chứng Minh Thư Ký thác là thật hay giả. Ở thời kỳ này, vấn đề kiểm chứng (Vérification) bằng truyền thông chưa có. Việc kiểm chứng ở thời kỳ này đặt trên cơ sở liên hệ Gia đình với những bí mật giao hẹn trước với nhau trong Gia đình. Đây là điểm cắt nghĩa tại sao ngành Ngân Hàng được bành trướng phần lớn giữa những người Do-thái. Thực vậy, những liên hệ Gia đình Do-thái ở khắp Aâu châu và họ phát triển những Cơ sở quản trị Tiền tệ.
=> Tiền Giấy phát hành từ Ngân Hàng Trung Ương (Billet de Banque émis par la Banque Centrale)
Có hai biến cố dẫn đến việc phát hành Tiền Giấy duy nhất của Ngân Hàng Trung ương hay Ngân Hàng Quốc gia, Ngân Hàng Phát Hành (Banque Centrale, Banque Nationale, Banque d’Emission). Biến cố thứ nhất là các Lãnh chúa bị dẹp và thành lập những Quốc gia rộng lớn. Biến cố thứ hai là các Chứng Minh Ký Thác trở thành nhiều và phức tạp, hầu như chỉ dành cho những Thương gia chuyên biệt, trong khi dó đại da số Dân chúng cần phương tiện Tiền tệ mua bán.
Hai biến cố trên đây khiến các Quốc gia thành lập MỘT Ngân Hàng Trung ương để in ra MỘT lọai Chứng Minh Ký Thác, TIỀN GIẤY duy nhất cho Quốc gia, để dân chúng nhận biết và xử dụng làm Phương tiện trao đổi hàng hóa.
Ngân Hàng Trung ương hay Ngân Hàng Quốc gia được giao hai nhiệm vụ chính yếu:
* Phát hành Tiền tệ (Emission des Billets de Banque) * Điều hành khối tiền cho vào phát triển Kinh tế/ Thương mại cho phù hợp (Gestion adéquate de la Masse monétaire mise en circulation dans l’Economie et le Commerce).
Hai nhiệm vụ này được thực hiện theo đòi hỏi Kinh tế/Thương mại của Dân chúng có tính cách lâu dài, chứ không tùy thuộc những quyết định nhất thời mang mầu sác Chính trị của Nhà Nước cai trị. Ơû khía cạnh này, chúng ta có thể nói Quyền lực Tiền tệ mang tính cách độc lập với Quyền lực Chính trị (L’autorité monétaire est indépendante du pouvoir politique).
5) Phát hành Tiền tệ Tư nhân (Emission monétaire privée)
Theo như định nghĩa lúc ban đầu về Tiền tệ, đồng tiền được định nghĩa là “Phương tiện trung gian trao đổi hàng hóa” (Moyen intermédiaire des échanges des marchandises) hay “Phương tiện chuyên chở trao đổi hàng hóa” (Moyen de véhiculer les échanges des marchandises). Như vậy, tất cả mọi Phương tiện ngòai TIỀN MẶT (Tiền Giấy phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương) có thể được xử dụng để mua bán hàng hóa đều có thể được gọi là Tiền tệ.
Tính cách Phổ quát (Universalité) của tờ Giấy Bạc phát hành bởi Ngân Hàng Trung ương làm mất An ninh (Sécurité). Thực vậy, cầm một xấp Giấy Bạc 100 Đô ra phất phơ khoe khoang trước các Cô trong Bar, có thể bị giết khi ra khỏi Bar như chơi. Cái lý do là thằng ăn cướp, cô bán Bar hay mình có thể xử dụng những tờ Giấy Bạc 100 Đô như nhau. Chúng ta mất An ninh khi cầm tờ Giấy Bạc. Vì vậy, mọi người muốn Ký thác những tờ Giấy Bạc ấy tại Ngân Hàng tư để chỉ lấy những Chứng Minh Thư Ký thác (giống như Ký thác Vàng trước đây) để có những Carnet de Chèques, Credit Cards, Promissory Notes, Stanby Letter of Credit, Bank Guarantees... mà mua bán hàng hóa.
Đây là việc phát hành Tiền tệ của lãnh vực Tư nhân. Việc phát hành này không những chỉ dựa trên TIỀN MẶT hiện có và ký thác, mà còn bao trùm cả tiền bạc khả thể (Monnaie virtuelle) ước mong nhận được trong lai. Lãnh vực tương lai này đã tạo thành Kỹ Nghệ Tài chánh của giới nắm giữ Tiền tệ. Nhưng tương lai giống như bài hát “Que sera sera” bấp bênh. Giới phát hành Tiền tệ tương lai đã tạo nên những Khủng hỏang.
Những Chế độ Tiền tệ và định Tỷ giá
Đại thể, Tiền tệ đã trải qua những Chế độ (Régimes Monétaires) quy định mà mục đích là làm cho những người giữ Tiền có một sự chắc chắn nào đó về tài sản tiết kiệm của mình. Làm thế nào mà những người tiết kiệm dưới hình thức Tiền tệ có thể thấy tài sản của mình ít bị mất?
Chúng tôi trình bầy ba chế độ sau đây cho đến nay:
1) Chế độ BẢN VỊ VÀNG (Etalon-Or)
Mỗi quốc gia, hòan tòan độc lập, định giá Tiền tệ riêng của mình dựa trên Cân lượng Vàng tương đương cho Đơn vị Tiền. Tỉ dụ một Quan Thụy sĩ, CHF.1 = 0.020gr Or fin; một Đo-la Mỹ, USD.1 = 0.040gr Or fin.
Tất cả những Quốc gia định giá trị Tiền bạc của mình dựa trên cân lượng vàng thuộc về Chế độ Bản Vị Vàng.
Trong cùng một Chế độ như vậy, các nước mới có thể định Tỷ giá Tiền tệ giữa hai nước. Theo tỉ dụ trên đây, thì hối suất giữa đồng Đo-la Mỹ và Quan Thụy sĩ sẽ là:
Tỷ giá Đo-la Mỹ/Quan Thụy sĩ:
0.040 gr Or fin USD.1.- = ------------------- = CHF.2.- 0.020 gr Or fin
Trong Chế độ Bản Vị Vàng, Tỷ giá Tiền tệ mang tính cách khách quan và khó lòng thay đổi vì dựa trên cân lượng vàng không thay đổi trừ khi một quốc gia tự ý định lại cân lượng vàng cho đồng Tiền của mình. Trong Chế độ này, người ta cấm luôn Thị trường Vàng song hành với Tiền tệ. Người giữ Tiền bạc chắc chắn về giá trị đổng tiền bởi lẽ có sự hóan chuyển (Convertibilité) Tiền thành Vàng.
2) Chế độ BẢN VỊ-TIỀN TRUNG GIAN-VÀNG (Etalon-Devise-Or)
Chế độ trên đây kéo dài khá lâu. Nhưng Thế Chiến II đã buộc phải thay đổi Chế độ Tiền tệ. Thực vậy, Thế Chiến II đã làm các nước Aâu-châu mất hết Vàng để bảo đảm cho việc định giá trị Tiền bạc của mình. Chỉ có đồng Đo-la Mỹ và đồng Quan Thụy sĩ còn đủ vàng bảo chứng cho Tiền tệ của mình.
Những đồng Quan Pháp, Mark Đức, Lire Ý... hòan tòan mất giá.
Trước tình trạng này, Hoa kỳ kêu gọi Hội Nghị Bretton Woods về Tiền tệ năm 1944 để định lại giá trị về Tiền tệ. Hội Nghị quyết định ba điều:
1) Chế độ Tiền tệ vẫn lấy cân lượng Vàng làm gốc
2) Lấy một đồng Tiền trung gian còn Vàng bảo đảm giá trị. Đồng Đo-la Mỹ được chọn
3) Thiết lập Qũy Hỗ Trợ Tiền bạc, đó là IMF hiện nay
Theo quyết định của Hội Nghị, thì Tiền mỗi nước được định theo giá trị đồng Đo-la Mỹ để rồi qua đó mới có hóan chuyển sang cân lượng vàng.
Tỉ dụ một Quan Pháp được định giá trị là USD.20 cents; một Quan Thụy sĩ được định giá trị là USD.80 cents.
Từ đó, Tỷ giá giữa đồng Quan Pháp và đồng Quan Thụy sĩ được định như sau:
Tỷ giá Quan Thụy sĩ/ Quan Pháp:
USD.80 cents CHF.1.- = ----------------- = FF.4.- USD.20 cents
Như vậy, Tỷ giá Tiền tệ giữa các nước vẫn không bấp bênh vì định nghĩa đồng Đo-la vẫn dựa trên cân lượng vàng. Nhưng tính hóan chuyển gián tiếp sang vàng thay đổi nếu Hoa kỳ thay đổi định giá cân lượng vàng cho đồng Tiền của mình. Thế giới bắt đầu cảm thấy một sự lệ thuộc vào quyết định giá trị của đồng Đo-la. Nếu Hoa kỳ tự ý tái quyết định cân lượng vàng cho đồng Đo-la, thì Thế giới phải tuân theo khi muốn hóan chuyển Tiền của mình thành vàng.
Chính vì cảm thấy sự lệ thuộc này, mà Staline đã gọi đây là “Impérialisme du Dollar” (Đế quốc Đo-la), mà TT. De GAULLE đã phản đối nhân danh Euro-Dollar, mà các nước giữ Pétro-Dollar lên tiếng.
3) Chế độ BẢN VỊ KHẢ NĂNG MUA HÀNG (Régime du Pouvoir d’Achat)
Mặc dầu vàng vẫn được dùng dưới hình thức Lingot để bảo đảm Tiền tệ, nhưng Dân chúng xa vời với vấn đề định giá tương đương vàng cho Đơn vị Tiền tệ của mỗi nước. Điều thiết thân hơn hết của Dân chúng là tương đương hàng hóa mà họ có thể mua được với một Đơn vị Tiền tệ mà họ đang giữ.
Trên thực tế, Dân chúng chấp nhận một Chế độ Tiền tệ được dịnh nghĩa dựa trên Khả năng hóan chuyển sang hàng hóa mà họ xử dụng hàng ngay.
Tỉ dụ tại Mỹ, USD.1.- có thể mua được 600gr khoai tây và tại Thụy sĩ CHF.1.- có thể mua được 400gr khoai tây.
Tỷ giá giữa Đo-la Mỹ và Quan Thụy sĩ:
600gr khoai tây USD.1.- = -------------------- = CHF.1.50 400gr khoai tây
Đây là Tỷ giá thực tiễn nhất mà người Dân chấp nhận cho đời sống của họ. Nhưng Tỷ giá này lại không mang tính cách cố định như dựa trên so sánh cân lượng vàng hàm chứa trong định nghĩa Tiền tệ của mỗi nước. Tỷ giá dựa trên khả năng đổi lấy hàng hóa thay đổi không lường vì tình trạng sản xuất Kinh tế mỗi nước có những thay đổi theo mùa, theo năm. Khả năng phát triển Kinh tế đều đặn của một nước là nền tảng bảo đảm cho giá trị vững bền của đồng Tiền của nước đó.
Với Chế độ Bản Vị Khả năng Mua hàng (Régime du Pouvoir d’Achat) tình trạng Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế hiện nay đã làm cho các nước lo lắng vì giữ quá nhiều Dự trữ Tiền tệ bằng Đo-la. Trung quốc giữ khối Đo-la khổng lồ, ăn không ngon, ngủ không yên là phải.
Trên đây, chúng tôi lấy tỉ dụ một mặt hàng là khoai tây. Trong tính tóan tổng quát cho Quốc gia, người ta kể mọi mặt hàng tiêu thụ tính thành một Chỉ số Tổng quát được tóm gọn trong Công thức sau đây của FISHER:
M.V ----------- = P T
M : Khối Tiền tệ cho vào nền Kinh tế; V: Tốc độ lưu hành Tiền tệ; T: Sản xuất/ Thương mại hàng hóa trong một thời kỳ nhất định; P: Mức độ Tổng quát những Giá cả (Niveau Général des Prix). Chính dựa trên thay đổi của P mà người ta nói đến Lạm phát mà lý do có thể là tăng Khối Tiền lưu hành hay là giảm Khả năng Sản xuất/Thương mại mà những Cơ quan trách nhiệm điều hành Khối Tiền chưa có những biện pháp điều chỉnh kịp thời.
Cũng ở trong Chế độ Bản Vị Khả năng Mua hàng này mà một số Quốc gia, nhất là những Nhà Nước độc tài, khi gặp thiếu hụt Ngân sách, dễ dàng in Tiền mới cho vào Khối Tiền M để làm Lạm phát hòan tòan có tính cách Tiền tệ. Đây là một tội ác đối với Dân chúng đang tích giữ Tiền bạc có khả năng mua hàng thực sự. Đồng Tiền mới in ra chưa được chuyển qua hệ thống sản xuất Kinh tế để có tương đương hàng hóa. Nhà Nước độc tài tung đồng Tiền mới ra để tiêu dùng lẫn lộn với đồng Tiền cũ đã có khả năng tương đương hàng hóa. Đây là việc làm mất giá cho đồng Tiền cũ.
Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết: “L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy).
Những Thị trường liên quan đến Tiền tệ
Chúng tôi muốn phân biệt bốn Thị trường sau đây rất gần nhau, cùng khởi nguồn từ đồng Tiền: Thị trường Tiền tệ, Thị trường Tài chánh (Vốn), Thị trường Chứng khóan, Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng. Mỗi Thị trường nhằm thu Lợi nhuận từ những phương diện khác nhau.
=> Thị trường Tiền tệ
Nói đến Thị trường là nói đến hai phía Cung và Cầu. Thị trường Tiền tệ có phía Cung một đồng Tiền để bán và phía Cầu cùng đồng Tiền ấy để mua. Nếu phía Cung đồng Tiền nhiều hơn, thì đồng Tiền ấy giảm giá trị, nghĩa là dùng một đồng Tiền khác để mua, thì mua được lượng nhiều hơn (Valeur nominale). Cũng vậy, nếu trên Thị trường có nhiều người Cầu, thì đồng Tiền trở thành mắc giá và khi dùng đồng Tiền khác để mua, thì lượng mua được sẽ ít hơn. Đây là vấn đề chênh lệc Tỷ giá do Cung và Cầu.
Nếu Thị trường hòan tòan tự do thay đổi theo Cung, Cầu, thì lượng Tiền trao đổi sẽ làm cân bằng Tỷ giá. Nhưng nếu Tỷ giá có sự can thiệp cứng nhắc của một quyền lực ngọai tại, thì Thị trường Tiền tệ sẽ có hai giá: Giá chính thức bó buộc và Giá chợ đen lén lút. Đây là trường hợp Thị trường Tiền tệ tại Trung quốc và tại Việt Nam giữa đồng Đo-la và đồng Tiền của mỗi Quốc gia.
=> Thị trường Tài chánh (Vốn)
Nếu Thị trường Tiền tệ nhằm vào chênh lệc Tỷ giá, thì Thị trường Tài chánh nhằm vào Lãi suất. Lãi suất, cái Giá của Thị trường, tăng giảm là do Cung và Cầu Vốn. Phía Cầu Vốn là những Công ty làm việc trong lãnh vực Kinh tế thực. Phía Cung Vốn là những Ngân Hàng, những Tập thể Tài chánh. Các Công ty tìm vay Vốn với Giá rẻ, nghĩa là Lãi suất thấp. Trong khi ấy, những Ngân Hàng, những Tập đòan Tài chánh tìm nơi cho thuê Vốn với Lãi suất cao.
Trong thời Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế 2007/09, các Ngân Hàng Trung ương hạ Lãi suất chỉ đạo xuống thấp, nghĩa là làm cho Giá thuê vốn trở thành rẻ để những Công ty có thể thuê Vốn dễ dàng mà họat động khôi phục nền Kinh tế thực.
=> Thị trường Chứng khóan
Thị trường Chứng khóan cũng là Thị trường Tài chánh. Thị trường Tài chánh chính hiệu trên đây là sự va chạm giữa phía Công ty Cầu Vốn và phía có Tiền Cung Vốn. Nguồn lợi là Lãi suất.
Thị trường Chứng Khóan cũng là Thị trường Tài chánh, nhưng là nơi gặp gỡ các Thương gia mua bán những Giá trị các Công ty ghi tên trên Thị trường. Nguồn thu lợi chính yếu là chênh lệch lên xuống Giá trị các Công ty ghi trên Thị trường. Những người tham dự vào Thị trường Chứng khóan có khuynh hướng tác động đầu cơ để làm cho Giá cả Thị trường lên xuống mà lấy lợi.
Thị trường này cho những lợi nhuận cao và mau mắn. Đây là Thị trường vĩ đại quay vòng quanh Thế giới 24/24 giờ. Khủng hỏang khởi nguồn từ Subprime Mortgage Credits làm cho Thị trường Chứng khóan xẹp xuống đen tối, nhưng rồi trong một thời gian ngắn các Thị trường Chứng khóan sôi động lại vì số vốn tham dự vào Thị trường này khổng lồ để các Ngân Hàng và Tập đòan Tài chánh thi nhau thu lợi nhuận từ chênh lệc Giá trị các Công ty niêm yết.
=> Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng.
Có lẽ đây là Thị trường không được công khai phổ biến cho lắm, nhưng vẫn hiện diện như trợ lực cho Thị trường Tài chánh. Thực vậy, để có thể vay được Vốn, phải có thế chấp bảo đảm cho việc hòan vốn. Thế chấp thường được đòi hỏi là những Bank Guarantees, Standby Letter of Credit phát hành do những Ngân Hàng đáng tin cậy. Việc xếp hạng tin cậy giữa các Ngân Hàng khác nhau. Tỉ dụ nếu Bảo Lãnh của Bank of America có giá trị tin tưởng 95%, thì Bảo Lãnh phát hành bởi Banco Da Brazil chỉ mang tin tưởng được 60% chẳng hạn. Sự chênh lệc tin tưởng này lại làm phát sinh ra những Phát hành Tái Bảo Lãnh.
Những Công ty vay Vốn vào Thị trường Thương mại những Phát hành Ngân Hàng này để mua bán những Thế chấp làm Collateral mà vay Vốn.
Cán cân Thương mại và đồng Tiền mạnh
Trước hết chúng tôi cắt nghĩa ngay về một hiểu lầm rằng đồng Tiền mạnh là đồng Tiền với số nhỏ có thể đổi ra được một lượng lớn của một đồng Tiền khác. Tỉ dụ một Đo-la Mỹ đổi ra được 100 Yen Nhật, điều đó không có nghĩa là đồng Đo-la mạnh hơn Tiền Nhật hay đồng Yen Nhật yếu hơn Đo-la Mỹ. Sự yếu mạnh của một đồng Tiền được đo bằng sức chịu đựng của nó trước sóng gió thay đổi Tỷ giá giữa các Tiền tệ. Đó là tính Ổn định (Stabilité) của một đồng Tiền trong thời gian giữa những thay đổi của các đồng Tiền khác.
Những yếu tố nào làm cho đồng Tiền của một quốc gia mạnh ?
Đó là số thu ngọai tệ nhập vào một nước. Có hai nguồn để ngọai tệ nhập vào nước. Nguồn thứ nhất là Cán Cân Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ (Balance Commerciale des Marchandises et des Services). Nguồn thứ hai là Cán Cân chuyển Vốn nuớc ngòai vào (Balance des Transferts de Capitaux). Đồng Franc Thụy sĩ được gọi là mạnh mặc dầu Cán Cân Thương Mại của Thụy sĩ hầu như thua lỗ trừ trong thời gian hai Thế Chiến, nhưng sự thua lỗ ấy lại được bù lại rất dồi dào bởi số vốn ngọai tệ được chuyển vào Thụy sĩ.
Ngọai tệ nhập vào một quốc gia dồi dào sẽ ảnh hưởng đến Cung ngọai tệ và Cầu đồng Tiền của quốc gia. Khi số Cung ngọai tệ lên cao, thì đồng ngọai tệ giàm giá. Trong khi đó giới Kinh doanh quốc nội cần đổi ngọai tệ ra Tiền quốc gia để xử dụng. Cung ngọai tệ lên làm giảm giá ngọai tệ. Cầu đồng tiền quốc gia tăng làm tiền quốc gia mắc giá.
Trung quốc, do xuất cảng, thu vào nhiều Đo-la tất nhiên đồng Yuan phải trở thành mắc hơn. Nhưng Nhà Nước độc tài Trung Cộng đã cố tình giữ giá đồng Yuan hạ để nâng dỡ cho xuất cảng mà thôi.
Làm thế nào Tiền đẻ ra Tiền
Vớiõ 4 Thị trường liên hệ đến Tiền bạc như chúng tôi đã trình bầy trên đây, giới Ngân Hàng và Tài chánh có nhiều phương tiện để làm ăn thu Lợi nhuận mà chưa chắc đã cần phải qua lãnh vực họat động Kinh tế thực.
Giới Ngân Hàng và Tài chánh nắm giữ khối hiện Kim khổng lồ, đồng thời họ lại có khả năng phát hình tư nhân Tín dụng, tương lai Kim (Monnaie virtuelle) để đầu tư kiếm lời. Người ta nói đến sự tách rời ra của giới Ngân Hàng và Tài chánh để lập một KỸ NGHỆ TÀI CHÁNH riêng với những Sản phẩm Tài chánh đặc biệt để làm sinh lời. Sản phẩm Subprime Mortgage Credit là một trong những tỉ dụ.
Khi làm việc về Tài chánh, chúng tôi đã gặp những Khách hàng đặt câu hỏi: khi bỏ Tiền vào, Ngân Hàng chỉ cho lợi nhuận hàng năm tối đa 5%, tại sao Ngân Hàng xử dụng Tiền của chúng tôi để làm ăn thu và lợi nhuận 50% chẳng hạn ?
Lợi nhuận cao ! HYI :High Yield Investment ! Tiền đẻ ra Tiền !
Năm 2004, chúng tôi đã viết một tỉ dụ đơn giản bằng tiếng Anh để cắt nghĩa Lợi nhuận cao. Chúng tôi xin tóm tắt bằng tiếng Việt tỉ dụ ấy: TỈ DỤ MỘT ÔNG CHÀ GIÀ CHO VAY KIẾM LỜI Ở GÓC CHỢ BẾN THÀNH.
Oâng Chà Già có 100 đồng làm vốn để cho vay kiếm lời. Oâng ra đứng ở góc Chơ Bến Thành. Khách hàng xin vay của Oâng là những Bà buôn thúng bán mẹt, chồng chết vì chiến tranh, nên mua buôn bán lẻ rau cỏ tại mấy góc phố. Mỗi buổi sáng Oâng cho một Bà vay 100 đồng với điều kiện là chiều tối trả lại vốn và thêm Tiền lời là 0.50 xu. Đối với các Bà cần vốn mua hàng buôn bán độ nhật, thì giá thuê vốn 0.50 là quá rẻ.
Oâng Chà Già làm việc 5 ngày một Tuần. Như vậy mỗi Tuần Oâng thu vào được 2.5 đồng. Mỗi Tháng 4 Tuần, Oâng thu vào được 10 đồng Tiền lời. Oâng làm việc một Năm 10 tháng, còn để 2 tháng đi nghỉ hè. Như vậy một năm làm việc 10 tháng, ông thu Lợi nhuận vào là 100 đồng.
0.50 mỗi ngày x 5 ngày mỗi tuần x 4 tuần mỗi tháng x 10 tháng mỗi năm = 100 đồng Lợi nhuận trong một năm, nghĩa là Lợi nhuận 100% hàng năm cho số vốn đầu tư.
Đó là Lợi nhuận cao có thể thực hiện được. Đây không phài là điều mơ mộng hão huyền mà là sự tính tóan cụ thể mà ai cũng thấy. Nếu có lúc nào đó, chúng ta khẳng định có thể kiếm Lợi nhuận đầu tư là 100%, nhiều người cho rằng chúng ta nói khùng điên. Nhưng thực tế có thể làm được như tỉ dụ Oâng Chà Già.
Không có gì là bí ẩn để cắt nghĩa Lợi Nhuận cao. Lợi nhuận là việc thu vào cái kết quả sau một CHU TRÌNH KHAI THÁC (Cycle d’Exploitation). Một Chu Trình Khai Thác được định nghĩa là từ khi mua sắm nguyên vật liệu, rồi biến chế thành sản phẩm và chấm dứt ở việc bán sản phẩm để thu vào được số thặng dư đối với chi tiêu. Chu trình Khai Thác mang thời gian dài ngắn khác nhau tùy theo ngành nghiệp và sản phẩm. Tỉ dụ Chu trình Khai Thác nông nghiệp như trồng Cà Chua có thể kéo dài 2 tháng, từ khi mua cây con cho đến khi cây lớn ra trái và đem trái đi bán.
Nguyên tắc thu vào lợi nhuận cao và mau là phải rút ngắn CHU TRÌNH KHAI THÁC, hay nói cách khác là TĂNG TỐC ĐỘ QUAY của Chu Trình (Accélération de la Vitesse de Rotation). Chúng ta càng quay mau, thì lợi nhuận càng vào nhiều
Đối với Chu Trình Mua/Bán ở các Thị trường Tiền tệ, Thị trường Tài chánh và Chứng khóan, các Ngân Hàng/Tập đòan Tài Chánh có thể rút rất ngắn lại một Chu Trình thực hiện Thương vụ. Việc thu ngắn Chu trình Thương vụ Tài chánh mỗi ngày mỗi dễ dàng do phương tiện truyền thông điện tử mau chóng. Chỉ trong một tiếng đồng hồ, những Traders có thể hòan thành một Chu trình Thương vụ Tài chánh để thu vào Lợi nhuận.
Nếu Oâng Chà Già trên đây muốn tăng vận tốc Chu trình cho vay của Oâng, Oâng có thể cho vay một ngày hai lần cho hai Bà buôn thúng bán mẹ. Như vậy Lợi nhuận hàng năm của Oâng sẽ tăng gấp đôi mặc dầu Oâng chỉ thu vào có 0.50 xu mỗi lần cho vay.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.02.2010
| | | |
CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ:
Bài 02:
NGĂN CHẶN TỨC KHẮC TIẾN TRÌNH CSVN GIAO NƯỚC CHO TẦU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 18.02.2009
Như trong Bài Mở Đầu cho CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ chúng tôi đã cắt nghĩa, điều kiện để có thể bắt đầu phát triển Kinh tế Đất Nước là phải dứt bỏ CƠ CHẾ CSVN hiện hành, một cơ chế cấu kết giữa dộc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế.
Khi đã dứt bỏ được cái CƠ CHẾ hiện hành để có thể bắt đầu phát triển, chúng tôi muốn khai triển những điều kiện để việc phát triển Kinh tế được bền vững và lâu dài: Dân chủ hóa Kinh tế trong một Môi trường Chính trị—Luật pháp Xã hội phù hợp (Environnement Politico—Juridique Social adéquat).
Một nền Kinh tế phát triển bền vững và lâu dài là nền Kinh tế cho một Quốc gia Việt Nam Độc lập. Nước Việt Nam đang đi đến mất Chủ quyền, thậm chí đảng CSVN, vì tham lam tiền bạc cho mỗi cá nhân đảng viên, đang đưa Đất Nước đến chỗ bị Trung quốc xâm lăng chính Lãnh Thổ và Lãnh hải. Vì vậy, nếu dứt bỏ được CƠ CHẾ CSVN hiện hành để có điều kiện bắt đầu phát triển, mà Đất Nước chúng ta lại bị xâm lăng bởi Trung quốc, thì không thể nào có thể nói là phát triển Kinh tế bền vững và lâu dài cho Quê Hương mình được. Phải ngăn chặn tức khắc Tiến trình CSVN đang giao Nước cho Tầu xâm lăng vậy.
Từ tháng 9.2009, khi thấy một đàng chủ trương của Trung quốc là dùng tiền bạc để xâm lăng không những tại Việt Nam, mà còn các nước nghèo khác tại Phi Châu, Á Châu, Trung Á, một đàng Nhà Nước Việt Nam kiệt quệ về Ngân Sách nên đói ăn vụng túng làm liều đưa lãnh thổ Việt Nam dần dần dâng hiến cho xâm lăng Trung quốc, chúng tôi đã viết một bài tương quan Chủ Nợ—Con Nợ để cho thấy CSVN mất chủ quyền, không dám hé họng khi ngư dân VN bị Tầu hà hiếp ở Biển Đông chính trong vùng biển thuộc Việt Nam. Tệ hại hơn nữa, khi nhận nợ của Trung quốc đến ngập họng rồi và khi không trả nợ được, thì Trung quốc đòi bắt cả vợ và con gái, thì CSVN cũng phải giao cho Chệt dầy vò.
Thấy tình trạng mỗi ngày mỗi lệ thuộc Trung Cộng về tiền bạc như vậy, chúng tôi lại viết một bài thứ hai gần đây cho thấy rằng trong tương lai Tầu sẽ viện cớ Kinh tế trước Thế Giới để ngang nhiên mang quân đội vào Việt Nam để bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ và những người Tầu đã lập làng mạc và những Khu Thương Mại và Công Nghệ trên lãnh thổ Việt Nam.
Những phân tích và những lo ngại của chúng tôi trên đây không phải là không có bằng chứng. Thực vậy, tại Quốc nội, hai Tướng CS ĐỒNG SỸ NGUYÊN và NGUYỄN TRỌNG VĨNH đã viết rõ về nguy hại mất nước bởi lẽ CSVN đã cho Trung Quốc thuê dài hạn những khu đất đầu nguồn để Tầu mang người sang canh tác và sinh sống. Tại Hải ngọai, Oâng BÙI TÍN, một người cũng đã từ đảng CSVN, đã phân tích thêm tình trạng nguy hiểm mất nước này.
Nếu trước đây, vì quyền hành mà Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng viết Công Hàm nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông, Hỏang Sa và Trường Sa, thì ngày nay, cả đảng CSVN chỉ vì đồng tiền đút túi làm của riêng đã mang tài sản VN đi bán, mang Lãnh thổ VN giao cho Tầu, mời gọi tư bản nước ngòai vào VN để khai thác nhân lực, xuất cảng đàn bà con gái đi phục vụ tình dục. Tất cả chì vi tiền bạc muốn vơ vét đầy túi riêng.
Chúng tôi cho đăng lại những bài dưới đây để cho thấy CSVN đang thực hiện một tiến trình giao nước cho Tầu chỉ vì tiền bạc :
=> THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC (Nguyễn Phúc Liên)
=> BIỆN MINH CỦA TQ KHI ĐEM QUÂN TRÀN VÀO CHIẾM VN (Nguyễn Phúc Liên)
=> CSVN CHO TẦU THUÊ ĐẤT ĐAI (Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh)
=> HAI TƯỚNG CS CHỈ RA NGUY HIỂM (Bùi Tín)
THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
Cách đây chừng trên 20 năm, có phong trào các nước đã Kỹ nghệ hóa MUA NỢ lại các nước nghèo chưa mở mang ở Phi Châu và Nam Mỹ. Khi Chính quyền những nước nghèo có những món nợ chồng chất, họ tìm cách bán những món nợ ấy. Phải chăng việc các nước giầu mua nợ (nhận nợ dùm) là một hành động bác ái, thương người ?
Về tiền bạc, rất hiếm người hoặc không có ai dễ dàng trở thành mạnh thường quân mà không có hậu ý. Cái hậu ý ở đây là bắt con nợ phải nhường những nguồn lợi Kinh tế lớn gấp mấy lần giá trị của món nọ mà họ mua dùm.
Tôi xin kể ra đây một tỉ dụ cụ thể để dễ hiểu. Cách đây 20 năm, tôi làm Cố vấn Tài chánh cho Group BONGO tại Congo. Sang Brazaville, tôi chứng kiến một Hợp đồng Mua Nợ giữa Nhật và Congo. Chính phủ Congo không có tiền để trả nợ. Một Công ty lớn của Nhật mua lại món nợ ấy với điều kiện là Chính phủ Congo nhường cho Công ty Nhật cả một vùng rừng phía Bắc nước Congo để Nhật khai thác gỗ qúy. Đối với Chính phủ Congo, thì đây là việc họ làm với Nhật mà Dân chúng không biết gì cả. Có thể Chính phủ còn nói với Dân rằng đây là việc khai thác tài nguyên rừng mà người Nhật làm ích lợi cho xứ sở.
Việt Nam con nợ của Tầu
Tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe trong dân gian có những chuyện con nợ nghèo quá, phải gả chính con gái nhỏ để làm vợ cho chủ nợ.
CSVN, trong những năm gần đây, thiếu hụt Ngân sách trầm trọng. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới làm cho đầu tư nước ngòai thụt xuống 82%(Tài liệu:Bài viết của phóng viên Asia Sentinel Consulting). Xuất cảng hàng hóa giảm 60%. Ngay cả giữa Trung quốc và Việt Nam, cán cân thương mại cũng thua lỗ: Năm 2008, Việt Nam xuất cảng sang Trung quốc trị giá USD.4 tỉ, trong khi đó nhập cảng từ Trung quốc tới USD.15 tỉ.
Việt Nam muốn đi vay nợ từ những nước khác, nhưng trong hòan cảnh Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, các nước khác cũng gặp khó khăn, làm sao cho vay được. Trong hòan cảnh như vậy, chỉ còn đi làm đầy tớ cho Tầu, bán cả vợ con cho Tầu để nhận làm con nợ.
Tầu là chủ nợ cho Việt Nam
Chủ nợ thường có những lo lắng về trường hợp con nợ ăn qụyt. Ơû đọan trên, chúng tôi nói rằng nhiều nước, nhất là Tây phương, rất ngại ngùng cho Việt Nam vay nợ, một phần là vì cuộc Khủng hỏang hiện nay, nhưng một phần quan trọng nữa là sợ CSVN qụyt nợ. Làm trong lãnh vực Tài chánh, chúng tôi đã nghe một số Ngân hàng gia nói rằng họ có thể cho Phi châu vay, nhưng nói đến cho Việt Nam vay, thì họ rất lo ngại. Cái lý do là nếu Việt Nam ăn qụyt, thì họ khó kiện cáo về luật lệ đối với Việt Nam.
Ngược lại, Trung quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay nợ vì họ có những thuận lợi chắc chắn sau đây:
=> Trung quốc cho Việt Nam vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bàng hàng hóa và nhân công. Trung quốc đang cần xuất cảng hàng hóa, nhân công và thiết bị dư thừa.
=> Trung quốc bắt Việt Nam phải cho những nhượng địa để khái thác tài nguyên làm bảo chứng cho những món nợ mà họ cho vay. Trung quốc nắm phần chắc Việt Nam trả nợ trước bàng tài nguyên khi cho vay bằng hàng hóa mà họ muốn xuất cảng.
=> Trong trường hợp Việt Nam lật lọng muốn ăn qụyt nợ, thì Trung quốc có quân đội mạnh đã bao vây Biển và sát trên đất liền để tràn sang bắt phải trả nợ. Trung quốc không cần phải kiện cáo luật lệ gì với Việt Nam, mà dùng sức mạnh quân sự giải quyết.
Tương quan Chủ nợ—Con nợ
Không phải chỉ có tương quan hai CƠ CHẾ mà CSVN cần Tầu che chở, mà cái tương quan tệ hại nhất là giữa Con nợ mất hết độc lập và Chủ nợ hống hách chủ trương xâm lăng Việt Nam. Tương quan này cắt nghĩa: (i) Tại sao Việt Nam dành cho Tầu khai thác tài nguyên; (ii)Tại sao mất Biển Đông, Hòang Sa/Trường Sa mà không dám than; (iii)Tại sao dành những Dự án cho Tầu; (iv)Tại sao Ngư dân Việt Nam bị Tầu bắt mà không dám nói; (v)Tại sao biết khai thác Bôxit Tây nguyên có hại mà vẫn cúi đầu để cho Tâu làm; (vi)Tại nhân công Tầu tràn vào Việt Nam trong khi đó dân nghèo VN thất nghiệp; (vii)Tại sao cấm giới trẻ VN không được tỏ lòng yêu nước; (viii) Tại sao bắt những Blogers nói đụng đến Tầu; (ix) Tại sao cấm những Trí thức Việt Nam như IDS phải câm miệng ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
BIỆN MINH CỦA TQ KHI ĐEM QUÂN TRÀN VÀO CHIẾM VN Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 04.02.2010
Trong VietTUDAN số 432 tuần trước, chúng tôi đã viết hai bài có sự liên hệ với nhau. Với bài phân tích về những cuộc nổi dậy trước đây ở Dông Aâu, chúng tôi thấy rằng việc thành công hoặc thất bại của những cuộc nổi dậy tùy thuộc chính yếu vào thái độ đàn áp đến từ Moscou.
Bài học Đông Aâu ấy cho chúng ta đề phòng lệnh đàn áp đến từ Bắc Kinh hay chính Trung quốc cho quân đội và xe tăng vào Việt Nam đàn áp Dân Việt nổi dậy. Nếu Bắc Kinh chỉ ra lệnh cho quân đội hay công an Việt Nam dùng bạo lực đàn áp, thì chúng ta không ngại sợ cho lắm bởi lẽ trong quân đội hay công an có những người không đang tâm giết chính đồng bào ruột thịt của mình và có thể cùng nổi dậy với dân để chống lệnh Trung quốc. Cuộc nổi dậy năm 1980 tại Ba-Lan và cuộc xuống đường năm 1989 tại Bá Linh cho thấy điều đó. Erich Knonecker, đồ đệ trung thành của Staline, cũng đã không dám xử dụng quân đội Đông Đức để giết chính người Đức.
Nhưng điều chúng ta ngại sợ hơn cả là chính quân đội và xe tăng Trung quốc tràn vào lãnh thổ Việt Nam để giết người Việt Nam. Trong sự liên đới Đông Nam Á và Thế giới hiện nay, việc Trung quốc tự nhiên cho quân và xe tăng đổ bộ xâm chiếm lãnh thổ Việt không phải là điều dễ làm vì quốc tế kết án. Trung quốc phải tìm ra những cái cớ để biện minh trước những nước trong vùng và trước Thế giới về việc họ xua quân và xe tăng vào Việt Nam.
Việt Nam chắc chắn không mang quân đội và vũ khí sang tấn công lãnh thổ Trung quốc để Trung quốc lấy cớ tràn quân vào Việt Nam. Những cái cớ mà Trung quốc sẽ lấy ra, đó là để đòi NỢ Việt Nam, để bảo vệ sinh mạng NGƯỜI Trung quốc đang sống ở Việt Nam và để bảo tòan TÀI SẢN của Trung quốc đặt để ở lãnh thổ Việt Nam.
1) Đòi NỢ Việt Nam
Trung quốc cho Hoa kỳ vay nợ. Họ trở thành chủ nợ, nhưng đối với con nợ Hoa kỳ, chính chủ nợ Trung quốc lại ngại sợ bởi vì Hoa kỳ có một lực lượng quân đội mạnh có thể vận chuyển nhanh chóng khắp Thế giới. Trung quốc chưa bao giờ viễn chinh và có thể bị tiêu diệt dễ dàng nếu muốn tấn công Hoa kỳ để đòi nợ.
Trường hợp con nợ Việt Nam thì khác. Việt Nam ở gần kề và bị bao vây mọi phía bởi Trung quốc: phía Đông, Tầu đã giữ Biển Đông; phía Tây, Tầu tràn qua Lào và Cao Mên dễ dàng; phía Bắc, Tầu đứng cạnh biên giới sẵn sàng tràn xuống như họ đã làm trong Lịch sử. Trong tình trạng Kinh tế hiện nay, Trung quốc dư vốn cho Việt Nam vay và khi cho Việt Nam vay thì họ không sợ mất vốn. Nhà Nước Việt Nam thiếu hụt ngân qũy và nhờ Trung quốc trợ giúp Tài chánh. Ngân Hàng dành riêng cho người Tầu đã họat động từ 4 năm nay tại Việt Nam. Phần lớn những Dự án ở Việt Nam hiện nay là do vốn Tầu cho vay và dân chúng Việt Nam phải trả góp. Trả nợ không xong, thì Tầu tràn vào đòi nợ.
2) Bảo vệ sinh mạng NGƯỜI TẦU sinh sống tại Việt Nam
Trung quốc cho vay nợ để thực hiện Dự án. Mỗi Dự án là mỗi xuất cảng công nhân Trung quốc sang Việt Nam. Những công nhân này không phải chỉ lấy vợ chồng tại Việt Nam mà ở lại, mà chính họ tìm mọi cách ở lại Việt Việt Nam để lập nghiệp. Những công nhân này sẽ mang gia đình họ từ Trung quốc sang sinh sống tại Việt Nam. Họ sẽ thiết lập những làng, những khu thương mại, những khu kỹ nghệ riêng cho họ. Khi người Tầu lập những China Towns khắp Thế giới, thì việc tiến lên những khu riêng của họ tại Việt Nam, với thái độ sợ sệt của CSVN lúc này, là việc rất dễ dàng và mau chóng. Khi đã sinh sống thành làng, thành khu thương mại, kỹ nghệ rồi, thì khi có cuộc nổi dậy tại Việt Nam, Trung quốc dễ dàng nại ra lý do bảo vệ sinh mạng người của họ để cho quân đội vào bảo vệ.
3) Bảo tòan TÀI SẢN Trung quốc đặt ở Việt Nam
Trong tuần trước, chúng tôi đã viết bài về chương trình tư nhân hóa hay Trung quốc hóa những Công ty quốc doanh Việt Nam. Người Trung quốc trực tiếp hay qua trung gian những người Tầu sống tại Việt Nam mua đa số cổ phần trong những Công ty này để nắm trọn Sản xuất cũng như Thương mại tại Việt Nam. Việc Trung quốc hóa này nhắm chính yếu vào Thương mại. Thực vậy, khi mà những cơ sở nhập cảng nằm trong tay Trung quốc, thì việc nhập cảng hàng từ Trung quốc để phân phối cho 85 triệu người Việt trở thành tự động. Khi có nổi dậy, Trung quốc có thể lấy lý do bảo tòan tài sản của họ mà cho quân tràn vào.
Tóm lại, Trung quốc không tự dưng tràn quân vào Việt Nam để bị Thế giới kết án. Nhưng họ sẽ nêu ra những lý do bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ mà cho quân vào Việt Nam đàn áp dân chúng nổi dậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 04.02.2010
CSVN CHO TẦU THUÊ ĐẤT ĐAI CSVN cho người ngoại quốc thuê rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
Về việc các tỉnh cho người nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên vốn là người có 7 năm phụ trách Chương trình 327 mà mục tiêu là phủ xanh đồi núi trọc, bảo vệ rừng, và môi trường sinh thái; còn Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989). Hai nhà cách mạng lão thành gửi cho Bauxite Việt Nam bài viết sau đây, nêu rõ hiểm họa của việc chúng ta cho Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thuê trong thời hạn 50 năm hơn 264 nghìn ha rừng đầu nguồn; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Theo chỉ thị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Kết quả cho thấy 10 tỉnh [các tác giả chỉ liệt kê 9 tỉnh, tức sót một tỉnh – người biên tập] đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305,3534 nghìn ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 nghìn ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Cho Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn đầy hiểm họa. Họ đã thuê được thì họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá thì hồ thuỷ lợi sẽ không còn nguồn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ thiếu nước không còn tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp. Năm qua nhiều tỉnh miền Trung đã hứng chịu đủ, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao?
Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Nếu chúng ta không có biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những “làng Đài Loan”, “làng Hồng Kông”, “làng Trung Quốc”. Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và còn nguy hiểm cho quốc phòng.
Chúng tôi đồng ý với 5 đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Xin nói rõ 2 đề nghị đầu:
1. Đối với một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Những tỉnh chưa ký thì đình chỉ ngay; thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng để thực hiện. Thực tế đất rừng đã giao cho đồng bào sử dụng gần hết. Nếu ký cho nước ngoài thuê sẽ đụng đến môi trường, đụng đến quyền lợi đồng bào, nhất là đồng bào miền núi, đang thiếu đất, sẽ nảy sinh nhiều vấn đề rất phức tạp.
2. Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường xây dựng bộ phận chuyên trách. Trong vòng 1 năm, chính thức giao đất, khoán rừng cho từng hộ; cấp quyền sử dụng đất vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.
Từ đây, chúng tôi đề nghị mở rộng chương trình xóa đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp tái định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đất rừng đầu hộ của đồng bào miền núi còn trên 4 ha. Tuy không nhiều, nhưng vẫn gấp 3 lần ở đồng bằng; ở đây, thực hiện được đa canh, đa con. Đặc biệt kết hợp tốt trồng rừng phòng hộ với rừng kinh tế. Lùi về trước đã có mô hình tỉnh Tuyên Quang nhân dân ta tự trồng rừng, đảm bảo nguyên liệu cho nhà máy Bãi Bằng. Vậy bây giờ có điều kiện hơn, tại sao lại giành cho nước ngoài?
Đất đai là thứ nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của nhân dân, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng. Trước mắt đề nghị Chính phủ cho đình chỉ ngay việc cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn dài hạn với diện tích lớn, dù có phải bồi thường cũng được, để tránh thảm họa cho dân cho nước.
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
HAI TƯỚNG CS CHỈ RA HIỂM HỌA Bùi Tín Paris đêm 30 Tết Canh Dần (13-2-2010)
Ngày cuối năm âm lịch, mở mạng Bauxite-info, bên những bông hoa mai vàng và lời chúc Tết đẹp là một bài viết rất "nóng" của 2 tướng ở trong nước.
Đó là trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.
Bài viết được mạng Bauxite.info giới thiệu một cách trang trọng.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên vốn là phó tổng tham mưu trưởng, từ 1967 đến 1975 là Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn dọc đường "mòn" Hồ Chí Minh, là một binh đoàn tương đương 5 sư đoàn, ngang với 2 quân đoàn, có quân số 42 ngàn quân, gồm vận tải cơ giới, công binh, phòng không, thông tin, ra-đa, bộ binh, cao xạ, kho tàng, ống dẫn dầu, giao liên, thanh niên xung phong ... rải dài hơn 1 ngàn kilômét. Sau chiến tranh ông là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng giao thông vận tải, là uỷ viên bộ chính trị trung ương đảng trước khi về hưu năm 1988.
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh vốn là uỷ viên trung ương đảng, bí thư tỉnh uỷ Thanh hoá, là đại sứ VN tại Trung quốc suốt 15 năm, từ 1974 đến 1989 (trong cuộc chiến Trung-Việt) về hưu năm 1990.
Đặc điểm của 2 tướng này là uy tín lớn trong Quân đội nhân dân, có ảnh hưởng sâu rộng trong cựu chiến binh, tướng Đồng Sỹ Nguyên có 200 ngàn binh sỹ từng dưới quyền, vẫn còn quan hệ với nhau trong "hội " cựu binh Trường Sơn; tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nổi tiếng về tính bộc trực ngay thẳng, hiện là phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt nam, có hàng triệu hội viên rải khắp nước.
Cần nói thêm 2 tướng này năm 2009 vừa qua đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối, ngăn chặn chủ trương khai thác bôxít ở Tây Nguyên của bộ chính trị hiện tại, cũng cùng lên tiếng qua mạng Bauxite.info do nhà văn hoá Nguyễn Huệ Chi chủ trương, nay lại cùng chung bài viết đề ngày 22-1-2010, nhưng chỉ xuất hiện sáng ngày 12-2-2010 trên mạng Bauxite đang bị đánh phá dữ dội. Sự chậm trễ 20 ngày cho thấy bài báo đã bị các báo lớn nhất từ chối, tẩy chay do tệ độc quyền báo chí chà đạp Hiến pháp của bộ chính trị đương quyền.
Lại cũng cần thưa thêm với độc giả trong và ngoài nước rõ, 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh, từ năm 2004, cũng có lập trường chung tố cáo mạnh mẽ, công khai vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II và T4, vụ án đã được trung ương đảng khoá IX cử ra Ban Kiểm tra Liên ngành điều tra và kết luận, Ban này đã hoàn thành báo cáo, nhưng bộ chính trị do ông Mạnh cầm đầu đã ngang nhiên "khoanh lại" để ỉm đi một cách vô nguyên tắc, nhằm bảo vệ uy tín, che dấu trọng tội của 2 ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. 2 ông này đã được gần như toàn xã hội và đa số đảng viên nhận diện như là "bạn tốt" nhất, "đồng chí tốt" nhất của thế lực bành trướng Bắc Kinh.
Trong bài viết mới này, 2 ông tướng đã báo động khẩn cấp việc cấp uỷ đảng cùng chính quyền ở 10 tỉnh đã ký kết với 10 doanh nghiệp Trung quốc đóng tại Trung quốc, Hồng kông và Đài Loan, những thoả thuận cho phép họ thuê đất và rừng để kinh doanh trong một thời gian rất dài.
Danh sách các tỉnh đó là : Lạng sơn, Quảng ninh, Cao bằng, Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng nam, Bình định, Kon tum và Bình dương.
Diện tích cho thuê tổng cộng là 264.000 hec-ta rừng phần lớn ở đầu nguồn, các tỉnh biên giới (theo báo cáo kín của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) .
Các thoả thuận đều có giá trị trong thời gian 50 năm, và sẽ kéo dài hơn sau đó. Hai viên tướng chỉ rõ hiểm họa cực lớn cho đất nước, cho cuộc sống và an ninh của nước ta, cho nền quốc phòng của quốc gia. Tướng Đồng Sỹ Nguyên sinh năm 1923, nay 87 tuổi. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, 94 tuổi.
Hai viên tướng báo động : họ sẽ tha hồ chặt phá cây rừng từ đầu nguồn, hồ sẽ cạn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ chết, mội trường sẽ bị huỷ hoại.
Hai viên tướng kết luận : đây là một cuộc tự sát của quê hương đất nước.
2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh đề nghị với đảng, nhà nước và nhân dân : - với những thỏa thuận đã lỡ (!) ký rồi, hãy thuyết phục các công ty nước ngoài khoán cho đồng bào ta ở tại chỗ khai thác đất rừng, đề phòng họ sẽ đưa lao động dân nước họ vào lập thành những làng Trung hoa, làng Hồng kông, làng Đại hàn trên đất nước ta . - với những thoả thuận đang thương lượng thì đình ngay lại !
Cuối cùng 2 ông yêu cầu đảng và nhà nước thực hiện ngay và rộng khắp việc giao khoán đất rừng cho từng hộ đồng bào ta là dân địa phương tại chỗ.
Tiết lộ và ý kiến của 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh là hết sức khẩn cấp và nghiêm trọng.
Vì ông Đồng Sỹ Nguyên khi còn là Phó thủ tướng đã chịu trách nhiệm thực hiện Chương trình 327 của chính phủ là Chương trình Quốc gia Phủ xanh đồi trọc và Bảo vệ rừng.
Bài viết của 2 ông tướng này còn cực nóng vì phơi bày một loạt việc làm chui, khuất tất, ám muội, mang tính hại nước hại dân, có thể xếp vào tội phản quốc, do chính quyền và đảng uỷ các tỉnh, huyện thực hiện thông đồng với các công ty của thế lực bành trướng với các khoản đút lót, hối lộ béo bở, được một số quan chức trong chính phủ, một số bộ trưởng lớn nhất, có thể trong cả bộ chính trị đỡ đầu, yểm trợ để kiếm phần siêu lợi khổng lồ. Họ sẽ thâm thù 2 ông tướng.
Anh Nguyễn Huệ Chi linh cảm rõ điều ấy. Anh nghĩ họ có thể bóp cho mạng của anh nghẹt thở hẳn do tin tày trời mang bí mật quốc gia cực kỳ nhạy cảm này. Anh thề sẽ hiến cho sự thật, cho nhân dân đến gịot máu cuối cùng của anh, để mạng bauxite ngang nhiên sống khỏe.
Chính vì vậy mà ngày cuối năm 30 Tết tôi cặm cụi gõ bài này và gửi lời chúc chân thành nhất đến nhóm Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng cùng hơn 4.000 anh chị trí thức đã ký kiến nghị Bôxit, cũng như đông đảo bạn yêu nước, yêu tự do trong số gần 20 triệu độc giả quen thuộc của mạng này.
Bùi Tín Paris đêm 30 Tết Canh Dần (13-2-2010)
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 18.02.2010
| | | |
CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ:
Bài 01:
TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM TRONG TÒAN CẢNH NỔI DẬY ĐÒI CÔNG LÝ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 11.02.2009
Ngày 06.01.2010, CSVN phạm thánh đối với Công Giáo, không phải chỉ đối với Đồng Chiêm, mà còn đối với Giáo Hội Công Giáo VN, đối với Giáo Hội Công Giáo Hòan vũ và đối với tất cả các Giáo Hội Thiên Chúa Giáo Tin Lành, Chính Thống Giáo và Anh Giáo. Tất cả các Giáo Hội này lấy THÁNH GIÁ làm biểu tượng hữu hình cho ĐỨC TIN vào ơn cứu rỗi mà Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể nhận lấy tội trần gian trên Thánh Giá. Chính trên cây Thánh Giá, Philatô cho ghi INRI (Giêsu Nazaret, Vua Dân Do Thái), nhận Vương Quyền của Chúa Giêsu.
Từ ngày CSVN phá cây THÁNH GIÁ tại Đồng Chiêm cho đến nay, tôi không viết một bài bình luận nào, mà chi đăng tải những Thông Tin về việc phạm thánh này.
Tôi muốn nhìn Đồng Chiêm không như một vụ việc riêng lẻ, mà đặt nó trong TÒAN CẢNH chín mùi đổ vỡ của Cơ Chế CSVN hiện hành mà Lực Lượng Công Giáo VN giữ phần chủ động quan trọng.
Chúng tôi xin đề cập những khía cạnh sau đây:
=> Đối với Dân: Tòan cảnh Kinh tế, Xã Hội, Chính trị đưa đến sụp đổ Cơ Chế CSVN
=> Đối với ngọai bang: Để Trung quốc xâm lăng Kinh tế làm cớ cho xâm lăng Quân sự
=> Hình thành và lớn mạnh của Lực Lượng Công Giáo VN với Tinh thần Đồng Chiêm
Đối với Dân: Tòan cảnh Kinh tế, Xã Hội, Chính trị đưa đến sụp đổ Cơ Chế CSVN
Qua kỷ niệm sụp đổ của Bức tường Bá Linh năm 1989, chúng tôi có dịp ghi nhận những bài học cụ thể dẫn đến sụp đổ cả một đế quốc được coi như một bộ máy cai trị đàn áp khắt khe đối với Dân chúng.
Có nhiều bài học. Chúng tôi muốn nhắc lại trong đọan này bài học Kinh tế, Xã hội, Chính trị đã buộc lòng Mikhail GORBATCHEV phải đưa ra chủ trương GLASNOST và PERESTROIKA. Thực ra, những tha hóa và giao động Xã hội bắt nguồn từ những bất công Kinh tế và từ đó hệ thống Chính trị lung lay và sụp đổ cho dù bộ máy đàn áp được tăng cường với chiêu bài ổn định Xã hội.
Hãy nhìn tình trạng Kinh tế, Xã hội và Chính trị thời năm 1985, khi Mikhail GORBATCHEV lên nắm quyền.
Những tài liệu mà chúng tôi lấy để viết về tình trạng tại Nga năm 1985 là từ cuốn MIKHAIL S.GORBATCHEV do Tác giả David KINGS, xuất bản năm 1988 do Time Incorporated N.York, được dịch ra Pháp ngữ dưới tựa đề MIKHAIL GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME.
Sau khi Brejnev chết, cánh Lãnh tụ già nối nhau đứng đầu đảng. Vì già, Andropov cũng chỉ được 18 tháng thì chết. Một ông già khác Tchernenko cũng chỉ nắm quyền đảng được mấy tháng thì chết. Trong Bộ Chính trị, chỉ có Gorbatchev là còn sung sức, nhờ tuổi trẻ và nhờ không uống Vodka. Có những Lãnh tụ già phải nhờ vịn vào vai của Gorbatchev mới có thể đi tham dự đám táng nhau được.
Sau cái chết của Tchernenko, Đảng Cộng sản Nga thấy rằng không thể chọn các cụ già gần đất xa trời lên đứng đầu đảng để vừa tổ chức đăng quang quyền hành xong, đã phải nghĩ đến tổ chức đám táng. Các cụ quyết định chọn một người trẻ để đỡ phải lập bập đọc những điếu văn liên hồi. Mikhail GORBATCHEV được chọn lên nắm quyền từ năm 1985.
Khi lên nắm quyền, Gorbatchev đứng trước một tình trạng xã hội hòan tòan đồi tệ, một tình trạng Kinh tế của đế quốc vô sản hòan tòan thiếu thốn thực sự. Theo Lý thuyết của Mác-Lê, thì tình trạng vô sản này như một ĐỊNH MỆNH phải đứng lên làm Cách Mạng nữa.
Oâng Andrei GRETCHEV, cố vấn Chính trị của Gorbatchev đã phải tuyên bố rằng tình trạng suy thóai tận cùng Kinh tế, sự đồi trụy của xã hội và tình trạng ươn hèn của đảng viên đã buộc Gorbatchev phải phất cờ trắng xin hàng với Thế giới Tự do trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Hậu quả tàn khốc của vụ Chernobyl lan tràn. Chiến tranh tốn kém tại Afghanistan không thể chịu đựng được nữa. Nga không những không còn sức chạy đua binh bị, không còn phương tiện giữ 500'000 lính canh chừng chế độ tại những nước chư hầu Đông Aâu và không thể tài trợ để giữ những cơ sở Ngọai giao và nuôi những nhân viên vừa ngọai giao vừa gián điệp khắp Thế giới.
Giới công nhân trong guồng máy Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã lưu truyền câu nói:“Ils font semblant de nous payer, on fait semblant de travailler“ (Chúng (nhà nước) làm giống như trả tiền lương, người ta cũng làm giống như có làm việc), nghĩa là họ không trả tiền thì mình cũng không làm việc. David KINGS, trong cuốn sách trích dẫn trên đây, đã tả tình trạng bại họai của những công chức nhà nước như sau: Tất cả mọi người, từ ngưới gác cổng đến Bộ trưởng, đều phải ăn hối lộ nhỏ lớn. Ngay cả những Huy chương cũng đem ra đổi lấy một lượng xúc xích (saucisses) để ăn. (Même les décorations de guerre pouvaient s’échanger contre la quantité de saucisses (Ngay cả những Huy chương chiến chanh cũng có thể đem ra đổi lấy một số lượng xúc xích để ăn) (Sách đã trích dẫn MIKHAIL GORBATCHEV, trang 154)
Tình trạng thê thảm Kinh tế này càng đẩy mạnh mọi người vào say sưa Vodka, vào ma túy, vào ly dị, đĩ điếm. Một câu khuyên rằng nếu muốn kêu thợ đến sửa điện, thì đừng kêu họ đến lúc sau trưa vì họ có thể làm cháy nhà vì đã say khướt rượu từ buổi sáng rồi.
Sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, chính bản thân tôi đã sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến tận mắt cảnh nghèo khó Kinh tế của Thủ đô quyền lực độc tài này. Tôi đã đến và ăn Phở trong chính Đôm 5 cũ, Tòa nhà Viện Hàn Lâm Khoa học, ngày nay vì nghèo quá, những phòng được phá thủng để bán chạp phô, mở tiệm phở. Tôi đã thăm Đôm 5 mới, tại đây tôi đã được ăn thịt chó (chó Berger KGB) lần đầu tiên từ khi rời Việt Nam năm 1965. Tôi đã có một Huy chương Lénine mang số rất nhỏ 2530, nghĩa là gần kề với Lénine bằng cách đổi chác kiểu saucisses như trên. Việt Nam có 3 Huy chương Lénine: Hồ Chí Minh, Lê Duẫn và Nguyễn Phúc Liên. Số Huy chương của tôi nhỏ, như vậy chắc Huy chương của tôi cao hơn Hồ Chí Minh.
Tình trạng tồi tàn Kinh tế, bại họai xã hội, hòan tòan xười ra của cán bộ và tham nhũng đến những hớp Vodka là một ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ chế độ. Tình trạng giống như trái cây đã chín rữa và sắp tự động rơi xuống đất để thối ra. Nếu lấy dây cột treo nó vào cành, thì may ra nó chưa rụng ngay. Cuộc Cải Cách mà GORBATCHEV tuyên bố chỉ là tìm những sợi dây hy vọng cột lại phần nào cho trái cây chín rũa sắp rơi khỏi cành.
Cuộc Cải Cách của Gorbatchev được tóm tắt vào hai chữ GLASNOST và PERESTROIKA
GLASNOST có nghĩa là làm trong sáng, làm thông rõ. Ơû một tình trạng mà cả một hệ thống cán bộ đảng nghiện ngập, say rượu, ăn hối lộ bất cứ cái gì, rồi làm lỗi và bưng bít từ dưới lên trên, chính Gorbatchev cũng không biết đâu là sự thật để mà điều hành. Vậy, phải hô hào làm trong sáng trước tiên trong nội bộ đảng để mới có thể điều hành.
Đối với những cơ quan truyền thông, GLASNOST bao gồm những biện pháp làm nhẹ đi những kềm kẹp làm mất tự do ngôn luận, nhất là về nghệ thuật và thông tin xã hội.
Trong bài Diễn Văn chủ yếu của Gorbatchev ngày 25.06.1987, Gorbatchev đã nêu ra 5 nguyên tắc của PERESTROIKA như sau (Sách đã trích dẫn GORBATCHEV, trang 229):
1) Cho những người đứng đầu Công ty một số quyền độc lập: định hàng sản xuất, định giá bán và định lương thợ theo hiệu năng làm việc.
2) Chuyển việc chỉ huy trung ương tập quyền Kinh tế về những Cơ quan địa phương của đảng.
3) Nới rộng việc chương trình hóa, việc định giá và việc phân phối tiền tệ và tín dụng.
4) Áp dụng những nghiên cứu khoa học vào việc nâng cấp phẩm chất hàng hóa.
5) Chuyển phương pháp quản trị theo hành chánh sang phương pháp quản trị theo chỉ tiêu kinh tế; khai triển việc tự quản trị; nâng cấp thu nhập cá nhân; phân quyền rõ rệt giữa điều hành Chính trị và quản trị Kinh tế.
Tuyên bố 5 nguyên tắc như trên, việc Cải Cách PERESTROIKA là việc, một mặt bỏ dần hệ thống Kinh tế trung ương tập quyền và chỉ huy tòan diện đã làm tàn lụi Kinh tế Nga, một mặt tiến dần đến một nền Kinh tế tôn trọng sáng kiến cá nhân mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường luôn luôn chủ trương. Gorbatchev đã nhìn nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường mới có hy vọng giải quyết được tình trạng Kinh tế tàn lụi của Nga lúc bấy giờ.
PERESTROIKA là một chủ trương cải cách Kinh tế để mong cứu vãn nước Nga. Cũng trong tình trạng tàn lụi Kinh tế này, mà Nga không còn khả năng đảm nhận những chi tiêu cho đối ngọai đúng như lời mà có vấn Chính trị Andrei GRETCHEV đã tuyên bố. Oâng giương cờ hàng thua đối với Chiến tranh Lạnh, giảm thiểu vũ khí, giải ngũ 500'000 lính, thóat ra khỏi cuộc chiến tranh Afghanistan, để tự do cho những nước chư hầu Đông Aâu tự giải quyết nội bộ của mình. Những cuộc nổi dậy đấu tranh của các nước Đông Aâu xẩy ra ra và đi đến thành công nhanh chóng trong hòan cảnh này.
Nền Kinh tế Việt Nam cũng như Trung quốc lúc này chỉ là nền Kinh tế của nhóm đảng Mafia cướp bóc, chứ không phải là Kinh tế của quần chúng.
Nhóm đảng Mafia đưa ra những con số hào nhóang che đậy những họat động kinh tế bất công, tham nhũng, hối lộ mà chính nhóm đảng Mafia ấy biết rõ và đang tìm cách cất giấu tiền bạc riêng của mình phòng khi Kinh tế sụp đổ và mất quyền Chính trị.
Chúng tôi đã viết nhiều về tình trạng kinh tế bóc lột của nhóm đảng Mafia này. Có người nghĩ rằng vì chúng tôi chống CSVN, nên viết những điều tiêu cực. Vì vậy, để nói về tình trạng Kinh tế hiện nay tại Việt Nam, chúng tôi muốn mượn lời của chính một người của đảng CSVN, Luật sư TRẦN LÂM. Nhìn tình trạng ấy, Luật sư đã phải kết luận rằng sự thay đổi đã đến gần. Luật sư viết như sau:
“Khi mở cửa, khi đón đầu tư nước ngoài, ai cũng nghĩ rằng: ta sẽ học, ta sẽ làm, ta sẽ có tất cả như các nước, ta tiến bộ, ta thừa sức theo kịp thiên hạ…Lúc đầu ta bàn nhiều đến cái thiếu sót, cái thua thiệt, coi đó là học phí với sự an ủi thầm kín. Đến nay, cũng đã nhiều năm: hãng Sony ra đi, ta không thấy nói gì đến ngành điện tử, ta có bao nhiêu hãng ô tô mà nay không thấy cái gì gọi là ô tô Việt Nam…Hóa ra xét tiến bộ đầu tư nước ngoài lấy số tiền đầu tư để đánh giá, còn nền công nghiệp của ta là một việc khác. Kết quả: mất đất, mất môi trường, sức lao động bị bán rẻ. Trong khi ấy, đồng ruộng cần máy móc nông nghiệp, phân bón; học sinh cần máy tính, người lớn cần điện thoại di động…thì tất cả của nước ngoài.
Những cái cũ ta có: gạo, café, cao su, bao nhiêu năm nay không giải quyết được ổn thỏa việc thu mua, chế biến, tồn trữ cứ vẫn như xưa. Cái ta có ưu thế tuyệt đối thì cũng không ổn định.
Những cái có mới, không ít, có thể chia ra hai loại: loại làm ra vì mục đích chính trị, nhằm khoa trương, kèm theo câu “nhất Đông Nam Á” như đường Trường Sơn, đường dây 500KV, hay như điện nguyên tử đến nay chưa có số lượng nhân lực ban đầu…Có cái khác thì thấy ai có thì học theo như Hà Nội bên Sông Hồng và Hà Nội rộng gấp 4 lần…; Loại thứ hai là thiếu hiểu biết kỹ thuật, bỏ ngoài tai ý kiến của các nhà khoa học, tự cho “chính trị là thống soái”, rồi chống cả trời đất như việc quản lí đô thị: Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội: nạn ngập lụt người ta cảnh báo bao nhiêu năm, đã thấm đòn ở thành phố Hồ Chí Minh, đến nay lại xảy ra ở khu Mỹ Đình, nơi đỉnh cao của kiến trúc đô thị Việt Nam. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà không đi từ nông nghiệp, không công nghiệp hoá nông nghiệp, quy hoạch đô thị thì “Treo”, không có luật nhập cư, công nghiệp hoá, xuất khẩu lao động thì bỏ rơi đào tạo nghề…các việc này người ta làm ở Châu âu từ thời kỳ Napoléon – Cái “Đảng bao giờ cũng sáng suốt”, “Tập thể bao giờ cũng đúng” đi đâu mất rồi? Thế mà cứ bô bô “Năm này, năm kia ta sẽ hiện đại hóa, công nghiệp hóa!”
Còn một điều vô cùng nhức nhối: làm gì cũng nói sẽ vay vốn ODA, cứ vay rồi ai trả? Kinh tế thị trường mà không có vốn. Số nợ này là bao nhiêu? Ai biết?
Nếu chỉ có như trên thì đi một lẽ, nó lại có cái lẽ thứ hai, như rắn thêm chân :
Ở ta thì những người thân quen, con cháu người cầm quyền từ TW đến cấp tỉnh đều núp bóng cha anh để làm ăn. Dân chỉ rõ công ty này là của ai? Công ty kia là của ai? Rồi những người có quyền chức ủng hộ cái này,diệt cái kia vì hối lộ…nền sản xuất bị chết từ trong trứng.
Chưa hết, hiện nay Trung Quốc thâm nhập vào nền kinh tế Việt Nam, thâm nhập bằng cả quyền lực chính trị. Nếu như họ lại có trong tay các nhóm lợi ích hay là các nhóm lợi ích hai bên kết hợp với nhau thì có lẽ nền kinh tế Việt Nam đi đứt.
Việc phân tách kinh tế Việt Nam với các mô thức, chỉ số, công thức xin dành cho các kinh tế gia, chưa chắc các kinh tế gia đã làm được vì lẽ tình hình bị che dấu.
Thiếu nhìn xa trông rộng, không có quy hoạch, thiếu kiến thức, thiếu óc phân tích, không có các biện pháp phù hợp là một phía. Phía khác là nạn tham nhũng tràn lan, cùng với ý thức có quyền hành thì cứ làm, rồi che dấu, xuyên tạc, có thể là nguyên nhân của các nguyên nhân.“
Đối với ngọai bang: Để Trung quốc xâm lăng Kinh tế làm cớ cho xâm lăng Quân sự
Tòan cảnh nổi dậy tại Quốc nội: Dân đòi CÔNG BẰNG Kinh tế để phát triển Đất Nước bền vững và lâu dài.
Nhìn kỹ về những cuộc nổi dậy trước đây ở Đông Aâu từ 1953 đến 1989/91, chúng tôi thấy rằng việc thành công hoặc thất bại của những cuộc nổi dậy tùy thuộc chính yếu vào thái độ đàn áp đến từ Moscou.
Bài học Đông Aâu ấy cho chúng ta đề phòng lệnh đàn áp đến từ Bắc Kinh hay chính Trung quốc cho quân đội và xe tăng vào Việt Nam đàn áp Dân Việt nổi dậy. Nếu Bắc Kinh chỉ ra lệnh cho quân đội hay công an Việt Nam dùng bạo lực đàn áp, thì chúng ta không ngại sợ cho lắm bởi lẽ trong quân đội hay công an có những người không đang tâm giết chính đồng bào ruột thịt của mình và có thể cùng nổi dậy với dân để chống lệnh Trung quốc. Cuộc nổi dậy năm 1980 tại Ba-Lan và cuộc xuống đường năm 1989 tại Bá Linh cho thấy điều đó. Erich Konecker, đồ đệ trung thành của Staline, cũng đã không dám xử dụng quân đội Đông Đức để giết chính người Đức.
Nhưng điều chúng ta ngại sợ hơn cả là chính quân đội và xe tăng Trung quốc tràn vào lãnh thổ Việt Nam để giết người Việt Nam. Trong sự liên đới Đông Nam Á và Thế giới hiện nay, việc Trung quốc tự nhiên cho quân và xe tăng đổ bộ xâm chiếm lãnh thổ Việt không phải là điều dễ làm vì quốc tế kết án. Trung quốc phải tìm ra những cái cớ để biện minh trước những nước trong vùng và trước Thế giới về việc họ xua quân và xe tăng vào Việt Nam.
Việt Nam chắc chắn không mang quân đội và vũ khí sang tấn công lãnh thổ Trung quốc để Trung quốc lấy cớ tràn quân vào Việt Nam. Những cái cớ mà Trung quốc sẽ lấy ra, đó là để đòi NỢ Việt Nam, để bảo vệ sinh mạng NGƯỜI Trung quốc đang sống ở Việt Nam và để bảo tòan TÀI SẢN của Trung quốc đặt để ở lãnh thổ Việt Nam.
=> Đòi NỢ Việt Nam
Trung quốc cho Hoa kỳ vay nợ. Họ trở thành chủ nợ, nhưng đối với con nợ Hoa kỳ, chính chủ nợ Trung quốc lại ngại sợ bởi vì Hoa kỳ có một lực lượng quân đội mạnh có thể vận chuyển nhanh chóng khắp Thế giới. Trung quốc chưa bao giờ viễn chinh và có thể bị tiêu diệt dễ dàng nếu muốn tấn công Hoa kỳ để đòi nợ.
Trường hợp con nợ Việt Nam thì khác. Việt Nam ở gần kề và bị bao vây mọi phía bởi Trung quốc: phía Đông, Tầu đã giữ Biển Đông; phía Tây, Tầu tràn qua Lào và Cao Mên dễ dàng; phía Bắc, Tầu đứng cạnh biên giới sẵn sàng tràn xuống như họ đã làm trong Lịch sử. Trong tình trạng Kinh tế hiện nay, Trung quốc dư vốn cho Việt Nam vay và khi cho Việt Nam vay thì họ không sợ mất vốn. Nhà Nước Việt Nam thiếu hụt ngân qũy và nhờ Trung quốc trợ giúp Tài chánh. Ngân Hàng dành riêng cho người Tầu đã họat động từ 4 năm nay tại Việt Nam. Phần lớn những Dự án ở Việt Nam hiện nay là do vốn Tầu cho vay và dân chúng Việt Nam phải trả góp. Trả nợ không xong, thì Tầu tràn vào đòi nợ.
=> Bảo vệ sinh mạng NGƯỜI TẦU sinh sống tại Việt Nam
Trung quốc cho vay nợ để thực hiện Dự án. Mỗi Dự án là mỗi xuất cảng công nhân Trung quốc sang Việt Nam. Những công nhân này không phải chỉ lấy vợ chồng tại Việt Nam mà ở lại, mà chính họ tìm mọi cách ở lại Việt Việt Nam để lập nghiệp. Những công nhân này sẽ mang gia đình họ từ Trung quốc sang sinh sống tại Việt Nam. Họ sẽ thiết lập những làng, những khu thương mại, những khu kỹ nghệ riêng cho họ. Khi người Tầu lập những China Towns khắp Thế giới, thì việc tiến lên những khu riêng của họ tại Việt Nam, với thái độ sợ sệt của CSVN lúc này, là việc rất dễ dàng và mau chóng. Khi đã sinh sống thành làng, thành khu thương mại, kỹ nghệ rồi, thì khi có cuộc nổi dậy tại Việt Nam, Trung quốc dễ dàng nại ra lý do bảo vệ sinh mạng người của họ để cho quân đội vào bảo vệ.
=> Bảo tòan TÀI SẢN Trung quốc đặt ở Việt Nam
Chúng tôi đã viết bài về chương trình tư nhân hóa hay Trung quốc hóa những Công ty quốc doanh Việt Nam. Người Trung quốc trực tiếp hay qua trung gian những người Tầu sống tại Việt Nam mua đa số cổ phần trong những Công ty này để nắm trọn Sản xuất cũng như Thương mại tại Việt Nam. Việc Trung quốc hóa này nhắm chính yếu vào Thương mại. Thực vậy, khi mà những cơ sở nhập cảng nằm trong tay Trung quốc, thì việc nhập cảng hàng từ Trung quốc để phân phối cho 85 triệu người Việt trở thành tự động. Khi có nổi dậy, Trung quốc có thể lấy lý do bảo tòan tài sản của họ mà cho quân tràn vào.
Tóm lại, Trung quốc không tự dưng tràn quân vào Việt Nam để bị Thế giới kết án. Nhưng họ sẽ nêu ra những lý do bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ mà cho quân vào Việt Nam đàn áp dân chúng nổi dậy.
Hình thành và lớn mạnh của Lực Lượng Công Giáo VN với Tinh thần Đồng Chiêm
Khi mà tình trạng Kinh tế, Xã hội, Chính trị đã chín mùi cần phải thay đổi, thì một là do chính giới Lãnh đạo Nước hiện hành tự ý thức hay là do một Lực Lượng nhân dân nổi dậy buộc giới Lãnh đạo Chính trị phải thay đổi. Tại Việt Nam, đảng CSVN, lãnh đạo Chính trị và Kinh tế quốc gia, một mặt thì như bất lực trong việc quyết định thay đổi, một mặt thì tăng cường đàn áp những thiện ý thay đổi cho tốt hơn.
=> Bất lực trong việc quyết định thay đổi
Những lý do đưa đến bất lực quyết định thay đổi như sau:
* Cố thủ giữ lấy quyền hành mặc dầu ý thức tình trạng tụt dốc Kinh tế, bất công Xã hội và bếp bênh Chính trị;
* Cậy nhờ vào Trung quốc để che chở Chính trị và bây giờ quyền lực che chở của Trung cộng trở thành quá lớn đến chỗ Trung cộng nắm quyền cho phép thay đổi hay không. Những Cố vấn Trung cộng trở thành những người đặt để quyền hành lãnh đạo Việt Nam.
* Các lãnh đạo Chính trị đã đi quá sâu vào vơ vét Kinh tế cho chính mình hay cho họ hàng, thân nhân, nên nếu thay đổi thì lo sợ mất những tài sản riêng đã cướp bóc, ăn hối lộ, tham nhũng mà có.
=> Tăng cường đàn áp những thiện ý thay đổi
Trong tình trạng Kinh tế bóc lột, bất công Xã hội và độc tài Chính trị mà Lãnh đạo Nhà nước bất lực không thay đổi như vừa nói trên đây, thì dân phải lên tiếng bầy tỏ thiện ý thay đổi. Phản ứng của lãnh đạo Nhà Nước là tăng cường đàn áp dưới chiêu bài “ổn định xã hội“, “đòan kết dân tộc“, “chống lại công quyền“, “mưu mô lật đổ nhà nước“, “tay sai thế lực thù địch ngọai lai“.
Lực Lượng Công giáo đã hình thành và lớn mạnh song hành với những tăng cường đàn áp của nhà nước CSVN. Có thể nói rằng mỗi lần CSVN tăng đàn áp là mỗi lần Lực Lượng Công giáo được tăng cường về hiệp thông và ý chí.
An Truyền, với Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ, đã thắp lên ngọn lửa phản kháng đòi CÔNG LÝ. Ngọn lửa ấy lan ra sâu rộng trong giới Công giáo Hải ngọai.
Ngày nay, Lực Lượng Công giáo Quốc nội đã lớn mạnh qua những vụ đàn áp tại Tòa Khâm sứ, Xứ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý. Chính những xuyên tạc của Báo Đài CSVN đã quảng cáo và làm tầm ảnh hưởng của Lực Lượng Công giáo càng lan rộng. Có thể nói rằng Lực Lượng Công giáo đã đứng lên tòan diện tại các Giáo phận Miền Bắc Việt Nam.
Điều quan trọng ở đây là những vụ Tòa Khâm sứ, Xứ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý không còn mang tính cách riêng lẻ nữa mà đã đứng chung lại thành một khối mang những đặc tính chung sau đây:
* Sự can đảm không ngại sợ đàn áp ở mọi nơi giống nhau
* Sự hiệp thông hỗ trợ trở thành tự động và tức khắc khi có một nơi nào bị đàn áp
* Tính cách THƯỜNG XUYÊN phản kháng của cả một khối người
* Thông tin tại Quốc nội đến mọi nơi rất nhanh chóng nhờ dòng Chúa Cứu Thế
Với những đặc tính trên đây, khối Công giáo Quốc nội đã trở thành một LỰC LƯỢNG thực sự với đòan ngũ chặt chẽ, được điều hành bởi các Linh mục và các Nữ tu sống cùng Giáo dân tại hiện trường.
Chúng tôi nhấn mạnh đến tính các THƯỜNG XUYÊN đấu tranh. Mỗi Nhà Thờ, không phải chỉ là nơi cầu nguyện, mà là nơi gặp gỡ, trao đổi thông tin, góp thêm ý kiến và nung nấu ý chí. Về điểm này, các Nhà Thờ nên áp dụng bài học Tôn giáo từ Bức tường Bá Linh qua hai Nhà Thờ đã đóng góp hữu hiệu về sự sụp đổ của Bức tường Cộng sản này.
Hai Nhà Thờ đó là Nhà Thờ GETHSEMANI và Nhà Thờ ST.NICOLAS. Trong năm 1989, cả hai Nhà Thờ là nơi họp lại thường xuyên của những Tín hữu dấn thân trong tinh thần đấu tranh cho những giá trị mà Lương tâm đã được thấm nhuần.
Mở đầu ngày KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH SỤP ĐỔ, buổi sáng sớm 09.11.2009, Bà Thủ tướng Angela MERKEL cùng các quan khách đã đến Nhà Thờ GETHSEMANI để dự Lễ Nghi Tôn Giáo kỷ niệm. Việc khởi đầu Ngày Kỷ Niệm bằng một LỄ NGHI TÔN GIÁO chứng tỏ tầm quan trọng đóng góp của Nhà Thờ này vào sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh.
Nhà Thờ GETHSEMANI do Mục sư Bernd ALBANI chủ trì. Tín hữu đến đây để thường xuyên và định kỳ cầu nguyện cho Hòa Bình. Các buổi cầu nguyện luôn luôn được kết thúc bằng bài ca “DONNA NOBIS PACEM“ XIN CHO CHÚNG TÔI HÒA BÌNH. Gerhard SCHONE là một Ca sĩ rất được biết tới tại Đông Đức. Oâng là người đã thường xuyên đến hát tại Nhà Thờ GETHSEMANI trong những buổi họp cầu nguyện. Ngày nay, hỏi lại Oâng tại sao hồi ấy ông có dịp sang Tây Bá Linh mà ông vẫn ở lại. Oâng trả lời rằng hồi ấy tôi cảm thấy những người đến Nhà Thờ tụ họp đấu tranh cần tiếng hát của tôi để giữ vững tinh thần, nên tôi không ra đi trước được.
Nhà Thờ ST.NICOLAS do Mục sư Christian FUHRER chủ trì. Đến Nhà Thờ này, phần đông là giới trẻ mang tinh thần đấu tranh sôi động hơn. Thường xuyên đến Nhà Thờ này là Nhạc sĩ Matthias KREHER để chơi nhạc trong những cuộc hội họp. Theo Mục sư Christian FUHRER, thì tại Nhà Thờ này đã có những cuộc họp định kỳ mỗi tuần ngày Thứ Hai từ năm 1982 để cầu nguyện đấu tranh cho những giá trị tinh thần. Năm 1989, tháng 10, từ Nhà Thờ, giới Thanh niên đã căng Biểu Ngữ và tiến ra ngòai phạm vi Nhà Thờ để diễn hành. Công an đã can thiệp bằng cách giật và xé Biểu Ngữ. Hành động này của Công an đã được ghi hình và phổ biến trên Truyền Hình Tây Đức. Thế là cả Đông Đức và Tây Đức, dân chúng biết đến việc đàn áp bằng bạo động của Công an. Chính Nhà Nước đã làm tăng thêm Phong trào người dân đứng dậy, kéo càng đông đến Nhà Thờ.
Ngày nay, phỏng vấn những nhân viên STASI về hai Nhà Thờ, họ đều công nhận đã được lệnh kiểm sóat, lấy hình, thâu phim những nhóm đến hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS. Điều làm họ ngạc nhiên là họ hiểu Tín hữu biết rõ có việc kiểm sóat, thu hình của STASI, nhưng những người đến hai Nhà Thờ dường như không sợ hãi gì và đến Nhà Thờ như một nhu cầu để biết thông tin và truyền thông cho nhau tâm tình và ý chí đấu tranh.
=> Đồng Chiêm: CSVN vấp phạm ngu xuẩn làm Dân không còn sợ chết
Tại Tòa Khâm sứ, tại Xứ Thái Hà, CSVN có thể lấy ra vấn đề Đất đai để hạ thấp ý tưởng đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Tại Tam Tòa, CSVN cũng nại ra vấn đề di tích Chiến tranh. Nhưng tại Đồng Chiêm, không có vấn đề đất đai hay di tích chiến tranh mà CSVN đã bạo hành đánh đập Giáo dân, nhất là đàn bà.
Tại Đồng Chiêm, CSVN đã phạm một sai lầm rất lớn, đó là động chạm đến THÁNH GIÁ, biểu tượng hữu hình của ĐỨC TIN THIÊN CHÚA GIÁO. Thực vậy, trung tâm điểm của Đức Tin Thiên Chúa Giáo là cây Thánh Giá.
Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể và đã chịu chết trên cây THÁNH GIÁ để cứu Nhân lọai. Đó là trung tâm của Đức Tin vào sự Cứu Rỗi mà mọi người theo Thiên Chúa Giáo nhìn vào đó để hành đạo. Thập tự giá thời Đế quốc La Mã là một hình phạt cho những người bị kết án tử hình. Chúa Giêsu đã biến thập tự giá hình phạt mà ai cũng sợ hãi thời La Mã thành cây THÁNH GIÁ biểu tượng tình Thương yêu cứu rỗi Nhân Lọai. Cây THÁNH GIÁ được kính trọng bởi mọi Tín đồ Thiên Chúa Giáo: Công Giáo, Chính Thống Giáo, Tin Lành cũng như Anh Giáo.
Ngòai việc cây THÁNH GIÁ biểu tượng hữu hình cho Đức Tin, cây THÁNH GIÁ còn là phương tiện mà Chúa Giêsu thiết lập Vương quyền. Năm 1925, Đức Giáo Hòang PIO XI đã tuyên bố LỄ CHÚA GIÊSU VUA, Vương quyền trên THÁNH GIÁ. Thánh Bộ Phụng Tự đã trích Phúc Aâm Thánh Gioan (Jn 18, 33-37), theo đó Vương quyền của Ngài được tuyên xưng trong mùa Phục Sinh và kết thúc trên cây THÁNH GIÁ. Philato đã cho viết tấm bảng INRI (Giêsu Nazaret, Vua dân Do Thái) đóng trên cây THÁNH GIÁ.
Phạm đến cây THÁNH GIÁ là phạm vào sự thánh, vào ĐỨC TIN GIÁO DÂN, vào VƯƠNG QUYỀN CHÚA GIÊSU. Ngay thời Vua, Chúa cấm đạo, các Vua, Chúa cũng đã hiểu ý nghĩa phạm sự thánh này. Các Vua Chúa chỉ yêu cầu Tín hữu bước qua cây THÁNH GIÁ, là được tha chết. Giáo dân biết rằng bước qua cây THÁNH GIÁ là chối bỏ ĐỨC TIN.
Tại Dồng Chiêm, CSVN đập phá cây THÁNH GIÁ, tức là mạ lỵ chính ĐỨC TIN người Thiên Chúa Giáo. Biến cố Đồng Chiêm càng làm tăng LỰC LƯỢNG đấu tranh của khối Công Giáo đến chỗ không còn sợ tra tấn đánh đập, thậm chí không sợ chết để theo gương các Thánh Tử Đạo trong quá khứ.
CSVN leo thang những đàn áp, tăng những kết án tù tội và đập phá Thánh Giá Đồng Chiêm một cách mù quáng. Đây chỉ là phản ứng của những kẻ sợ sệt trước viễn tượng nổi dậy tòan diện của Dân để chấm dứt một CƠ CHẾ đầy BẤT CÔNG đã đến lúc chín mùi phải chấm dứt. Việc đập phá Thánh Giá Đồng Chiêm chứng tỏ sự sợ hãi đến mù quáng trước Lực Lượng càng ngày càng lớn mạnh của Công Giáo.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 11.02.2010
| | | |
Bài MỞ ĐẦU:
CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 11.02.2010
Chúng tôi đã viết một lọat bài về CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG THỂ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH khi phần tích cái cội rễ của suy thóai Kinh tế Việt Nam là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ lan tràn, tạo cướp bóc bất công về đời sống vật chất cho Dân. Tham Nhũng, Lãng Phí phát sinh và lan tràn chỉ vì đảng CSVN duy trì một CƠ CHẾ cho phép độc tài Chính trị—Luật pháp nắm độc quyền Kinh tế để tạo nên Kinh tế Mafia đảng và gia đình.
Sau lọat bài này, chúng tôi cho xuất bản cuốn sách vào đầu năm 2009 với nhan đề là “DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN”. Đòi hỏi dứt bỏ CƠ CHẾ hiện hành không phải là một đòi hỏi Chính trị, mà là một đòi hỏi Kinh tế để phát triển Đất nước. Đại đa số người Dân chỉ muốn phát triển Kinh tế để đới sống họ không phải nghèo khổ, đói ăn.
Đầu năm 2009, Một Báo Cáo của World Bank đã đưa ra nhận định về Kinh tế Việt Nam:
“Ngân hàng Thế giới đặt câu hỏi liệu Việt Nam sẽ đi theo số phận của Liên Xô cũ hoặc thành công như Mauritius, một quốc gia nhỏ bé đã cải tổ thắng lợi.
Nhà Nước VN luôn luôn tuyên truyền rằng tăng trưởng GDP hàng năm luôn ở mức cao, thậm chí trong thời điểm kinh tế khó khăn, luôn làm nức lòng người dân. Thế nhưng, tính toán mới đây của Ngân hàng Thế giới cho thấy Việt Nam sẽ phải mất hàng chục năm, thậm chí là cả trăm năm mới có thể đuổi kịp các nước láng giềng.
Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố đầu tháng này đưa ra những thống kê gây sốc cho những ai đang kỳ vọng lớn vào “con hổ Việt Nam”. Theo đó, Việt Nam có thể mất tới hàng chục năm mới đuổi kịp Indonesia và thậm chí trăm năm nữa mới bằng được Singapore về thu nhập trên đầu người.
WB còn đưa ra một cách tính toán nữa là tính bằng đồng đôla. Theo đó, tốc độ tăng trưởng thu nhập trên đầu người tính bằng đôla của các nước Việt Nam, Indonesia, Thái Lan và Singapore tương ứng là 12,5%, 6,4%, 4,9% và 6,0%. Nếu sử dụng các con số này thì thời gian để Việt Nam theo kịp các nước trên sẽ là 15 năm với Indonesia, 22 năm bằng Thái Lan và 63 năm thì ngang với Singapore.”
Trong Bài chót Kết luận cho lọat bài Chủ đề trên đây, cũng là nội dung của cuốn sách “DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN”, chúng tôi đã nêu lên việc DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ làm nền tẳng cho DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRI-LUẬT PHÁP. Nếu có Dân chủ hóa Kinh tế thực sự, thì việc Dân chủ hóa Chính trị-Luật pháp chỉ là một Hệ luận. Chúng tôi đã nhiều lần viết rằng đảng CSVN luôn luôn nói với Dân là họ chấp nhận nền Kinh tế Tự do Thị trường, rồi thêm cái đuôi “định hướng XHCN” để trên thực tế họ vẫn giữ chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy. Không thể nào có nền Kinh tế Tự do Thị trường thực sự trong một Môi trường Chính trị-Luật pháp độc tài. Nền Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã đã thất bại.
Chúng tôi đã đưa ra tỉ dụ của hai Quốc gia có nền Dân Chủ vững chắc nhất, đó là hai nước Hoa-kỳ và Thụy sĩ. Hai nước này bắt đầu xây dựng Thể chế Chính trị của họ bằng tôn trọng triệt để việc Tự do kiếm sống của mỗi Cá nhân. Khi những Cá nhân sống trong tương giao Xã hội, thì tinh thần tôn trọng cuộc sống vật chất (Kinh tế) cá nhân vẫn được triệt để chủ trương. Việc xây dựng hệ thống quản trị Xã hội (Chính trị) và Luật pháp cho mọi người vẫn phải lấy cá nhân làm trọng tâm.
Gương xây dựng nền DÂN CHỦ tại Hoa kỳ và Thụy sĩ bắt đầu bằng giải quyết CÁ NHÂN CHỦ những phương tiện kiếm sống cụ thể mỗi ngày cho chúng ta thấy rằng phải bắt đầu việc Dân chủ hóa Kinh tế thực sự (Démocratisation Economique). Từ đó Tiến trình Dân chủ hóa Chính trị (Démocratisation Polico-Juridique) đến như một Hệ luận.
Lọat Bài Chủ đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG THỂ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH đòi hỏi phải chấm dứt CƠ CHẾ cho Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế để Đất Nước mới có cơ hội phát triển. Lọat Bài Chủ để mà chúng tôi bắt đầu viết từ hôm nay 11.02.2010 “CHỦ ĐỀ: DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ” nhằm mục đích khai triển những điểm cần thiết để việc phát triển có sự bền vững và lâu dài. Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế bắt đầu bằng giải quyết những vấn đề cụ thể và chính yếu sau đây:
=> Tôn trọng quyền TƯ HỮU các phương tiện làm ăn, mà cụ thể là quyền Tư hữu Đất đai. Nhà Nước không được quyền dưới danh nghĩa quản lý để tước đọat đất đai, nhà cửa của dân chúng.
=> Tôn trọng quyền TỰ DO làm ăn của Dân chúng. Nếu đã tôn trọng TƯ HỮU thì phải tôn trọng TỰ DO xử dụng TƯ HỮU. Nếu không thì TƯ HỮU trở thành vô nghĩa.
=> Tôn trọng TƯ HỮU, tôn trọng TỰ DO xử dụng TƯ HỮU để kiếm sống của mỗi cá nhân, thì việc tạo Môi trường Chính trị—Luật pháp Xã hội cho phù hợp (Environnement Politico-Juridique Social adéquat) phải có tiếng nói quyết định của những cá nhân thành phần Xã hội.
Tiến trình DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ đưa đến DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRỊ—LUẬT PHÁP vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 11.02.2010
********************************************************************************************** | | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 20:
TRÁNH BIỆN MINH QUỐC TẾ CỦA TQ KHI ĐEM QUÂN TRÀN VÀO CHIẾM VN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 04.02.2009
Trong VietTUDAN số 432 tuần trước, chúng tôi đã viết hai bài có sự liên hệ với nhau. Với bài phân tích về những cuộc nổi dậy trước đây ở Dông Aâu, chúng tôi thấy rằng việc thành công hoặc thất bại của những cuộc nổi dậy tùy thuộc chính yếu vào thái độ đàn áp đến từ Moscou.
Bài học Đông Aâu ấy cho chúng ta đề phòng lệnh đàn áp đến từ Bắc Kinh hay chính Trung quốc cho quân đội và xe tăng vào Việt Nam đàn áp Dân Việt nổi dậy. Nếu Bắc Kinh chỉ ra lệnh cho quân đội hay công an Việt Nam dùng bạo lực đàn áp, thì chúng ta không ngại sợ cho lắm bởi lẽ trong quân đội hay công an có những người không đang tâm giết chính đồng bào ruột thịt của mình và có thể cùng nổi dậy với dân để chống lệnh Trung quốc. Cuộc nổi dậy năm 1980 tại Ba-Lan và cuộc xuống đường năm 1989 tại Bá Linh cho thấy điều đó. Erich Knonecker, đồ đệ trung thành của Staline, cũng đã không dám xử dụng quân đội Đông Đức để giết chính người Đức.
Nhưng điều chúng ta ngại sợ hơn cả là chính quân đội và xe tăng Trung quốc tràn vào lãnh thổ Việt Nam để giết người Việt Nam. Trong sự liên đới Đông Nam Á và Thế giới hiện nay, việc Trung quốc tự nhiên cho quân và xe tăng đổ bộ xâm chiếm lãnh thổ Việt không phải là điều dễ làm vì quốc tế kết án. Trung quốc phải tìm ra những cái cớ để biện minh trước những nước trong vùng và trước Thế giới về việc họ xua quân và xe tăng vào Việt Nam.
Việt Nam chắc chắn không mang quân đội và vũ khí sang tấn công lãnh thổ Trung quốc để Trung quốc lấy cớ tràn quân vào Việt Nam. Những cái cớ mà Trung quốc sẽ lấy ra, đó là để đòi NỢ Việt Nam, để bảo vệ sinh mạng NGƯỜI Trung quốc đang sống ở Việt Nam và để bảo tòan TÀI SẢN của Trung quốc đặt để ở lãnh thổ Việt Nam.
1) Đòi NỢ Việt Nam
Trung quốc cho Hoa kỳ vay nợ. Họ trở thành chủ nợ, nhưng đối với con nợ Hoa kỳ, chính chủ nợ Trung quốc lại ngại sợ bởi vì Hoa kỳ có một lực lượng quân đội mạnh có thể vận chuyển nhanh chóng khắp Thế giới. Trung quốc chưa bao giờ viễn chinh và có thể bị tiêu diệt dễ dàng nếu muốn tấn công Hoa kỳ để đòi nợ.
Trường hợp con nợ Việt Nam thì khác. Việt Nam ở gần kề và bị bao vây mọi phía bởi Trung quốc: phía Đông, Tầu đã giữ Biển Đông; phía Tây, Tầu tràn qua Lào và Cao Mên dễ dàng; phía Bắc, Tầu đứng cạnh biên giới sẵn sàng tràn xuống như họ đã làm trong Lịch sử. Trong tình trạng Kinh tế hiện nay, Trung quốc dư vốn cho Việt Nam vay và khi cho Việt Nam vay thì họ không sợ mất vốn. Nhà Nước Việt Nam thiếu hụt ngân qũy và nhờ Trung quốc trợ giúp Tài chánh. Ngân Hàng dành riêng cho người Tầu đã họat động từ 4 năm nay tại Việt Nam. Phần lớn những Dự án ở Việt Nam hiện nay là do vốn Tầu cho vay và dân chúng Việt Nam phải trả góp. Trả nợ không xong, thì Tầu tràn vào đòi nợ.
2) Bảo vệ sinh mạng NGƯỜI TẦU sinh sống tại Việt Nam
Trung quốc cho vay nợ để thực hiện Dự án. Mỗi Dự án là mỗi xuất cảng công nhân Trung quốc sang Việt Nam. Những công nhân này không phải chỉ lấy vợ chồng tại Việt Nam mà ở lại, mà chính họ tìm mọi cách ở lại Việt Việt Nam để lập nghiệp. Những công nhân này sẽ mang gia đình họ từ Trung quốc sang sinh sống tại Việt Nam. Họ sẽ thiết lập những làng, những khu thương mại, những khu kỹ nghệ riêng cho họ. Khi người Tầu lập những China Towns khắp Thế giới, thì việc tiến lên những khu riêng của họ tại Việt Nam, với thái độ sợ sệt của CSVN lúc này, là việc rất dễ dàng và mau chóng. Khi đã sinh sống thành làng, thành khu thương mại, kỹ nghệ rồi, thì khi có cuộc nổi dậy tại Việt Nam, Trung quốc dễ dàng nại ra lý do bảo vệ sinh mạng người của họ để cho quân đội vào bảo vệ.
3) Bảo tòan TÀI SẢN Trung quốc đặt ở Việt Nam
Trong tuần trước, chúng tôi đã viết bài về chương trình tư nhân hóa hay Trung quốc hóa những Công ty quốc doanh Việt Nam. Người Trung quốc trực tiếp hay qua trung gian những người Tầu sống tại Việt Nam mua đa số cổ phần trong những Công ty này để nắm trọn Sản xuất cũng như Thương mại tại Việt Nam. Việc Trung quốc hóa này nhắm chính yếu vào Thương mại. Thực vậy, khi mà những cơ sở nhập cảng nằm trong tay Trung quốc, thì việc nhập cảng hàng từ Trung quốc để phân phối cho 85 triệu người Việt trở thành tự động. Khi có nổi dậy, Trung quốc có thể lấy lý do bảo tòan tài sản của họ mà cho quân tràn vào.
Tóm lại, Trung quốc không tự dưng tràn quân vào Việt Nam để bị Thế giới kết án. Nhưng họ sẽ nêu ra những lý do bảo vệ quyền lợi Kinh tế của họ mà cho quân vào Việt Nam đàn áp dân chúng nổi dậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 04.02.2010
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 19:
TƯ NHÂN HÓA, GIA ĐÌNH HÓA HAY TRUNG QUỐC HÓA TÀI SẢN QUỐC GIA VN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 28.01.2010 UNICODE: http://VietTUDAN.net
Kinh tế Trung quốc và Kinh tế Việt Nam thóat thai từ Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy. Chủ trương Kinh tế này còn mang một khía cạnh nhân đạo, đó là Bao Cấp và đồng hưởng Xã hội. Để có thể thực hiện Chủ trương Kinh tế ấy, thì Nhà Nước tập trung quyền lực Chính trị độc tài về mình, đồng thời giữ luôn độc quyền phác họa những kế họach Kinh tế gồm Sản xuất và phân phối Tiêu thụ.
Kinh tế nhóm đảng Mafia: Một người làm quan, cả họ được nhờ
Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy và Bao cấp Xã hội đã thất bại vì tiền bạc chung bị thất thóat và bao cấp xã hội làm người ta lười biếng. Do đó, Trung quốc cũng như Việt Nam tuyên bố chuyển mình sang Chủ trương Kinh tế Tự và Thị trường. Nhưng Chủ trương Kinh tế Tự do và Thị trường THỰC SỰ đòi hỏi phải có một Môi trường Chính trị-Pháp lý phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat): Tư hữu những phương tiện sản xuất và tiêu thụ, Tự do tư doanh, Tự do thương lượng và ký kết giao kèo, Luật pháp bảo đảm những quyền sinh họat Kinh tế phải do những cá nhân đồng quyết định (Dân chủ).
Trung quốc và Việt Nam nói rằng chấp nhận Chủ trương Kinh tế Tự do và Thị trường cho mọi tác nhân Kinh tế, nhưng đã đặt hệ thống Kinh tế trong một Môi trường Chính trị-Luật pháp cũ của Chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy: độc đảng giữ trọn quyết định trên những phương tiện sản xuất, độc đảng nắm đất đai và tài nguyên quốc gia, độc đảng giữ trọn những sinh họat kinh tế/ thương mại qua những Công ty quốc doanh, Luật pháp liên quan đến sinh họat Kinh tế do độc đảng thiết lập và cá nhân phải tuân phục. Đảng đã thêm vào cái đuôi “định hướng XHCN“ để lấy cớ giữ trọn cái Mội trường Chính trị-Pháp lý bảo đảm cho độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế, đồng thời làm một việc bất nhân nữa là không nhận trách nhiệm bao cấp và đồng hưởng xã hội.
Đó chính là bóc lột của nhóm đảng Mafia mà kết quả là nhóm đảng Mafia trở thành giầu nứt khố và đại đa số dân chúng bị bóc lột đến nghèo kiết xác. Không có CÔNG LÝ ở một lọai Kinh tế như vậy, tất nhiên cũng không thể có HÒA BÌNH xã hội.
Sự phản kháng của đại đa số Dân chúng tại Trung quốc cũng như tại Việt Nam đang lên mạnh để đòi hỏi CÔNG LÝ và do đó HÒA BÌNH cho cá nhân và xã hội. Trước sự phản kháng lên mạnh này, nhóm đảng Mafia đã trở thành giầu có sau những chục năm bóc lột, cảm thấy rằng không thể ngồi yên thụ hưởng, nên dường như đang tìm cách cất giấu tiền bạc dưới một chiêu bài nào đó.
Việc chuyển tài sản ra nước ngòai để cất giấu là sự tất nhiên. Giới Ngân Hàng Thụ sĩ nói nhỏ với nhau rằng họ sẽ nhận được việc chuyển từ Trung quốc sang Thụy sĩ số tài sản tới USD.180 tỉ. Chúng tôi cũng đọc tin thấy rằng Việt Nam đang định “tư nhân hóa“ một số Công ty quốc doanh lớn. Đây cũng là chiêu bài để nhóm đảng Mafia cất giấu tài sản tại chính quốc nội.
Không phải chỉ nguyên chúng tôi nhận định về Kinh tế nhóm đảng Mafia Trung quốc và Việt Nam. Có nhiều người đã viết. Chúng tôi xin trích đăng một số tỉ dụ.
Nhà phân tích Bill Hayton nói về Kinh tế Mafia gia đình tại Việt Nam
Việt Nam sẽ đi về đâu? Chắc chắn là sẽ không bình yên. Báo Foreign Policy (foreignpolicy. com) hôm 21-1-2010 có bài viết nhan đề “Vietnam’s New Money” (Đồng Tiền Mới của VN) cho thấy một viễn ảnh u ám của kinh tế và xã hội VN, và dịch tóm tắt như sau.
Nhà phân tích Bill Hayton mở đầu bài viết bằng hình ảnh ngày 16-11-2008, kể về đám cưới của 2 doanh nhân tại khách sạn sang trọng Caravelle ở Sài Gòn: Chú rể là Nguyễn Bảo Hoàng, 36 tuổi, quản trị công ty đầu tư IDG Ventures Vietnam, và cô dân là Nguyễn Thanh Phượng, 27 tuổi, chủ tịch quỹ đầu tư VietCapital. Hai công ty của cô dâu chú rể kết hợp quản trị 150 triệu đô la các khoản đầu tư ở VN.
Cô Phượng là con gái Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng. Chú rể là Việt kiều công dân Mỹ, con của một gia đình chạy khỏi VN năm 1975 để trốn chế độ CS, bây giờ trở về để cưới con của một trong những người quyền lực nhất nước.
Đám cưới này biểu hiện cho thấy Đảng CSVN vẫn khống chế cả khu vực công lẫn tư. Nhiều hãng tư thực ra nguyên là hãng quốc doanh cũ (SOE) hay vẫn còn thuôc quyền nhà nước quản lý, và hầu hết vẫn điều hành bởi các đảng viên.
Hầu hết những người chỉ huy kinh tế tư doanh hiện này là do đảng chỉ định, hay gia đình họ, hay bạn bè của họ. Giới thượng lưu CSVN đang biến chủ nghĩa tư bản VN trở thành một kinh doanh gia đình. Và nếu phiên tòa xử 4 nhà dân chủ tuần này về tội lật đổ chính phủ có dấu hiệu nào, thì tình hình củng cố quyền lực đảng là diễn biến kinh sợ cho tương lai VN.
Có nhìều điển hình về mối quan hệ gia tộc và tiền bạc, quyền lực tại VN: một trong những người giàu nhất VN là Trương Gia Bình, chủ tịch công ty tin học lớn nhất VN, hãng FPT. Bình cùng là ngưòi duy nhất tại VN thường được nhắc với nhãn hiệu “cựu phò mã” bởi vì Bình từng kết hôn với con gaí cuả tướng Võ Nguyên Giáp.
Một thí dụ khác là Đinh Thị Hoa, người VN đầu tiên tốt nghiệp MBA, cao học kinh doanh, tại Đaị Học Harvard. Khi về VN, Hoa lập công ty có tên là Galaxy. Trông thì đúng là mô hình kinh tế tư doanh. Nhưng Galaxy là một trong nhiều công ty thuộc sở hữu của con cái các lãnh tụ đảng. Khi WB cấp học bổng cho Hoa, cha của Hoa là Thứ Trưởng Ngoaị Giao.
Việc kết hợp tài sản của cả nước vào tay các gia đình quyền thế tại VN đang bóp méo nền kinh tế này: kinh tế sẽ đi theo ý muốn của một số ít người, chứ không đi theo nhu cầu của đa số dân. Và mạng lưới chủ nghĩa xã hội bè cánh chia chác kinh tế đang trở thành một đe dọa cho ổn định tương lai VN. VN có cơ nguy gặp số phận của nhiều đứa con cưng trước kia của WB -- bùng nổ kinh tế, rồi sẽ sụp đổ.
Các hãng quốc doanh lớn nhất được hưởng nguồn tài trợ tiền không minh bạch cho các dự án tài chánh với rất ít hợp lý về kinh tế. Vào tháng 6-2008, tới 28 hãng quốc doanh xài 1.5 tỉ đô để thiết lập hay mua cổ phần trong các công ty quản lý tiền đầu tư, các hãng chứng khoán, các ngân hàng thương mại và các hãng bảo hiểm. Có 3/4 công ty tài chánh VN hiện sở hữu của các hãng quốc doanh lớn nhất (còn gọi là tổng công ty).
Với tiền dễ dàng xài như thế, nên mới xảy ra hiện tượng các hãng quốc doanh phải hối lộ khách hàng, cán bộ và thanh tra để nhắm mắt cho vi phạm luật. Câu hỏi là, vào thời khoảng khủng hoảng, Đảng CSVN có thể trừng phạt chính các đảng viên của họ không để đưa kinh tế đen naỳ trở lại vòng kiểm soát. Nhưng bao lâu nữa mới có thể làm thế?
Vụ kết án các nhà dân chủ tuần này có phaỉ là dấu hiệu cho thấy mạng lưới tham nhũng của đảng, của quyền lực và của đặc quyền hiện đã ra ngoaì vòng kiểm soát?
Tim JOHNSTON viết về tư nhân hóa các Tổng Công ty Việt Nam
Ngày 06.01.2010, từ Bangkok, Ký giả Tim JOHNSTON, dưới đề mục TƯ NHÂN HÓA (PRIVATISATION) đăng trên FINANCIAL TIMES trang 15, đã viết về việc Nguyễn Tấn Dũng sắp cho tư nhân hóa hai Tổng Công ty lớn của Nhà Nước, đó là PETROLIMEX và VIETNAM STEEL CORP.
Petrolimex, trước đây gọi là Vietnam National Petroleum Corp., chính yếu nhập cảng dầu lửa cho cả nước. Hiện Petrolimex có tất cả 6'000 trạm phân phối xăng dầu trên tòan quốc.
Vietnam Steel Corp. là Tổng Công ty sản xuất và cung ứng sắt thép cho Việt Nam.
Phải chăng đây là tiến trình tư nhân hóa Kinh tế hay chỉ vì những lý do sau đây:
=> Tổng Công ty Nhà Nước lãng phí, thua lỗ mà Ngân qũy Nhà Nước thiếu hụt không còn sức bù thêm tài chánh nữa.
=> Một chiêu bài để con cháu đảng giầu có mua lại Công ty nhà nước làm tư hữu và giấu tài sản. Đây có thể gọi là gia đình hóa, hay nhóm đảng hóa tài sản quốc gia.
=> Trung quốc có nhiều tiền muốn chuyển ra nước ngòai. Nếu Trung quốc mua lại đa số phần hùn Petrolimex, thì họ giữ quyền kiểm sóat xăng nhớt tại Việt Nam. Đây sẽ nằm trong chương trình xâm lăng Kinh tế vậy.
=> Cũng vậy, nếu Trung quốc mua đa số phần hùn trong Tổng Công ty Sắt Thép Việt Nam, họ có thể biến Tổng Công ty này thành một chi nhánh Sắt Thép của họ đã khá mạnh trên Thế giới.
Tác giả Tim Johnston nhận định rằng: “The appetite for investment in Vietnam is quite low!“ (Sự ham muốn đầu tư vào Việt Nam còn hòan tòan thấp). Bỏ vốn đầu tư vào một Tổng Công ty vẫn lệ thuộc ở một hệ thống Luật pháp độc tài, độc đảng, đó là liều lĩnh.
Chúng tôi cũng nghĩ rằng giới Việt kiều có thể về thăm Quê Hương, giúp vốn cho người nhà làm ăn nhỏ, nhưng chưa dám bỏ số vốn lớn để hùn vào Petrolimex hoặc Vietnam Steel Corp.
Đại đa số dân chúng thì nghèo khổ, làm sao có tiền hùn vốn mua Petrolimex hoặc Vietnam Steel Corp. Chỉ có nhóm đảng Mafia, đã cướp bóc được nhiều tiền, cánh nhóm đảng Mafia Trung quốc, có thể bỏ vốn mua để cất giấu tài sản.
Jamil ANDERLINI viết về những Công ty của con Thủ tướng ÔN GIA BẢO và con Chủ tịch HỒ CẨM ĐÀO
Một sự trùng hợp hy hữu. Cũng trong thời gian này, Tác giả Tim ANDERLINI từ Bắc Kinh, cũng dưới đề mục tài sản tư, viết đăng trên tờ FINANCIAL TIMES ngày hôm qua 27.01.2010, trang 17, một bài về những Công ty của con trai Thủ tướng Oâng Gia Bảo và của con trai Chủ tịch Hồ Cẩm Đào. Con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, con rể của Tướng Võ Nguyên Giáp, tại Việt Nam, nhờ quyền lực độc tài đảng, mà làm ăn giầu có, thì tại Trung quốc, con trai Thủ tướng Oân Gia Bảo và con trai Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, cũng dựa quyền thế sinh sát độc đóan của đảng mà làm ăn thâu tóm tài sản.
ÔN YUNSONG, cũng gọi là Winston ÔN, con trai của Thủ tướng Oâng Gia Bảo, có Công ty tư nhân về tài chánh NEW HORIZON có thể đầu tư tiền tỷ Đo-la. Chúng tôi xin dịch một đọan viết của Tác giả Jamil ANDERLINI:
“Một Tập đòan Tài chánh được thành lập bởi con trai của Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung quốc, đã cùng với một số nhà đầu tư nước ngòai sắp đầu tư số lượng USD.1 tỷ vào lục địa Trung quốc.“
“ÔN Yunsong, cũng được gọi là Winston ÔN, là con trai độc nhất của Thủ tướng Trung quốc, có Tập đòan Tài chánh NEW HORIZON với vốn lúc đầu USD.750 triệu và sắp tăng lên USD.1 tỷ trong những tuần tới.“
Về những bí mật làm việc của những con cái các Lãnh đạo của đảng Cộng sản, Tác giả Jamil ANDERLINI viết: “The children of China’s Leaders enjoy unparalelled access to decision-makers and are seen as essential facilitators by foreign businesses operating in the country. But while their names can help attract investors, any public perception in China that they are trading on their family’s name can be politically devastating and details of their activities are often regarded as state secrets. Internet searches for information on NEW HORIZON and Winston WEN were blocked in China yesterday.“ (Những con cái của các Lãnh đạo tại Trung quốc được hưởng liên hệ không sánh được về việc liên hệ trực tiếp với những người có quyền quyết định và được coi như là những người dàn xếp chính yếu bởi nhà kinh doanh nước ngòai làm việc trọng xứ Tầu. Nhưng trong khi tên của những con cái các Lãnh tụ này có thể quyến rũ những nhà đầu tư, thì bất cứ những sự biết đến của quần chúng rằng những người con này đang làm ăn dựa trên tên gia đình của họ có thể gây tàn phá về mặt chính trị, và những chi tiết họat động của họ thường được coi là những bí mật nhà nước. Những truy tìm tin tức bằng Internet về Tập đòan New Horizon và về Winston ÔN đã được ngăn chặn lại hôm qua tại Trung quốc) (FINANCIAL TIMES 27.01.2010, trang 17).
Về riêng con trai của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Tác giả Jamil ANDERLINI cũng viết như sau: “In similar situation in July last year, the Central Propaganda Department ordered all Chinese search engines to block searches related corruption probe in Namibia involving Nuctech, the airport scanner group controlled by Hu Haifeng, 38-year-old son of Hu Jintao, China’s president“. (Trong hòan cảnh giống như vậy vào tháng Bẩy năm ngóai, Bộ Tuyên truyền Trung ương đã ra lệnh xử dụng tất cả những phương tiện tìm kiếm đóng chặt những truy tìm bằng chứng tham nhũng ở Namibia liên hệ đến NUCTECH, Tập đòan Air Scanner dưới quyền kiểm sóat của Hồ Haifeng, con trai 38 tuổi của Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch Trung quốc) (FINANCIAL TIMES 27.01.2010, trang 17).
Kinh tế nhóm đảng Mafia Trung quốc và Việt Nam đang tìm cách giấu cất tài sản bằng tư nhân hóa hay gia đình hóa những Công ty quốc doanh vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 28.01.2010
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 18:
QUỐC TẾ ÁP LỰC LÊN TRUNG QUỐC VỀ TỶ GIÁ TIỀN TỆ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 21.01.2010 UNICODE: http://VietTUDAN.net
Trong suốt những năm phát triển Kinh tế, Trung quốc đã cố thủ giữ tỷ giá đồng Yuan thấp gắn liền với Đo-la, phương tiện thanh tóan thương mại Quốc tế. Trung quốc cố tình xử dụng quyền lực độc đóan Chính trị để giữ tỷ giá đồng Yuan thấp hơn bình thường trong mục đích hạ giá hàng hóa để cạnh tranh xuất cảng. Thời Tổng thống BUSH đã có nhiều những thảo luận và áp lực lên Trung quốc để nâng cao tỷ giá đồng Yuân tới mức độ bình thường, nhưng Trung quốc vẫn tìm cách ngụy biện mà không thực hiện.
Những đòi hỏi Quốc tế hiện nay
Trong bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 430 tuần trước, 14.01.2010, chúng tôi đã viết về việc Quốc tế trở nên bực tức đối với những gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc đến nỗi phải nghĩ đến những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures du Protectionnisme). Một trong những tức bực nhất của Quốc tế là vấn đề Trung quốc chai lỳ cố thủ xử dụng tỷ giá thấp của đồng Yuan.
Ngày 28.12.2009, từ Bắc Kinh, Geoff BYER đã đăng một bài trên tờ FINANCIAL TIMES với đầu đề CHINA DISMISSES CURRENCY PRESSURE (Trung quốc từ chối không kể đến áp lực tiền tệ). Tác giả thuật lại trong một bài phỏng vấn của Tân Hoa xã hôm qua, Oâng Gia Bảo đã nói rõ: “Chúng tôi sẽ không thỏa mãn cho những áp lực dưới bất cứ hình thức nào ép buộc chúng tôi phải nâng tỷ giá tiền tệ. Như tôi đã nói với một số bạn hữu ngọai quốc: một mặt các ông đòi hỏi chúng tôi tăng tỷ giá tiền tệ, một mặt các ông lại đưa ra mọi biện pháp Che chở Kinh tế (Protectionnisme)!“ (trang 14)
Cùng ngày 28.12.2009, trong tờ THE WALL STREET JOURNAL, hai Tác giả James T. AREDDY và Shen HONG cũng viết rằng Oân Gia Bảo cũng đã từ chối những công kích của ngọai quốc về chính sách tiền tệ của Trung quốc, áp lực chúng tôi phải nâng tỷ giá đồng Yuan (trang 3).
Đầu năm 2010, những Quốc gia chính trong khối ASEAN, vì lý do Trung quốc cố thủ giữ tỷ giá đồng Yuan hạ, nên yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010.
Ngày 06.01.2010, Tác giả Julie DESNE từ Thượng Hải, viết trên tờ FIGARO rõ ràng về áp lực của Hoa kỳ và Liên Aâu đối với Trung quốc, rằng: “Washington et Bruxelles n’ont de cesse de dénoncer un yuan sous-évalue qui maintient les exportations chinoises anormalement bon marché, aggravant les déficits américain et européen face à la Chine.“ (Hoa Thịnh Đốn và Bruxelles không ngừng tố cáo tỷ giá đồng Yuan cố ý giữ hạ để giữ những xuất cảng của Trung quốc với giá hàng thấp không bình thường, khiến những cán cân thương mại Mỹ và Liên Aâu thua lỗ đối với Trung quốc) (trang 24)
Nâng tỷ giá đồng Yuan lên bao nhiêu ? Oâng Zhang BIN, một trong những Kinh tế gia Trung quốc làm việc cho Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội (CASS) của Nhà Nước Trung quốc, đã công khai đề nghị rằng Bác Kinh nên nâng tỷ giá đồng Yuan lên 10% (FIGARO 06.01.2010, trang 24). Nhà Nước Trung quốc có nghe theo lời khuyến cáo này không, đó là chuyện khác.
Cắt nghĩa ảnh hưởng tỷ giá tiền tệ trên giá cả hàng hóa xuất cảng
Chúng tôi sẽ có dịp viết chi tiết và dài về “Chiến tranh Tiền tệ“ mà Trung quốc đã nêu ra nhân việc xuống giá của đồng Đo-la trong khi ấy Trung quốc cũng như một số Quốc gia đang phát triển giữ khối Đo-la Dự trữ lớn. Thống đốc Ngân Hàng Trung Quốc thậm chí công khai kêu gọi thay đồng Đo-la bằng một lọai tiền tệ khác.
Trong phạm vị bài QUAN ĐIỂM này, chúng tôi chỉ cắt nghĩa những liên hệ trực tiếp tỷ giá tiền tệ đến giá cả hàng xuất cảng.
=> Từ Hội Nghị Tiền tệ Thế giới tại Bretton Woods năm 1944, Hệ thống Tiền tệ được bảo đảm dựa trên trung gian đồng Đo-la bởi vì Aâu châu đã mất hết vàng trong Thế Chiến II khả dĩ bảo đảm cho giá trị đồng tiền mỗi nước, trong khi ấy chỉ còn Đo-la có vàng làm bảo chứng giá trị. Hội nghị Bretton Woods chấp nhận Régime Etalon-Devise ($)-Or. Đồng Đo-la trở thành phương tiện thanh tóan Thương mại tòan cầu và là qũy Dự trữ trong các Ngân Hàng. Như vậy, khi xuất cảng hàng hóa, các nhà xuất cảng mỗi nước đều yêu cầu người mua phải thanh tóan bằng đồng Đo-la.
=> Aâu châu được tái thiết và Kinh tế phát triển. Xuất cảng hàng hóa, các nước Aâu châu đòi trả tiền bằng Đo-la. Khối sản xuất Dầu lửa cũng đòi việc thanh tóan bằng Đo-la. Nhật bản, Đài Loan tiến mạnh và xuất cảng, cũng thu Đo-la vào. Nhưng mỗi nước Aâu châu, Trung đông và Viễn đông lại có tiền riêng của mỗi nước để làm phương tiện thương mại trong nội địa: đồng Bảng Anh, đồng Quan Pháp, đồng Mark Đức, đồng Yen... Vì vậy mà tỷ giá giữa đồng tiền mỗi nước và đồng Đo-la phải được thiết lập. Tỷ giá giữa hai đồng tiền của hai nước cũng được thiết lập qua trung gian đồng Đo-la. Tỉ dụ FF.1 (Franc Pháp) tương đương với USD.0.25 cents và DM.1 (Mark Đức) tương đương với USD.0.50 cents. Nhờ qua trung gian đồng Đo-la, người ta thiết lập tỷ giá giữa Mark Đức và Franc Pháp: DM.1 = (USD.0.50 cents/ USD.0.25 cents) = FF.2.
=> Khi mà Đồng Đo-la lan tràn trên Thế giới, thì lượng vàng làm căn bản định nghĩa bảo chứng Đo-la không được bảo đảm. Bỏ Régime Etalon-Devise-Or, hệ thống Tiền tệ chỉ được bảo đảm dựa trên Khả năng Kinh tế của mỗi nước trong hệ thống gọi là Régime du Pouvoir d’Achat của đồng tiền. Kinh tế Hoa kỳ vẫn giữ sức mạnh quán quân Thế giới và đồng Đo-la vẫn được chấp nhận như phương tiện thanh tóan Thương mại Thế giới. Khi đồng tiền không được bảo đảm theo định nghĩa dựa trên lượng vàng nữa, mà chỉ dựa trên sức mạnh Kinh tế, thì tỷ giá giữa mỗi đồng tiền đối với Đo- và tỷ giá giữa các đồng tiên quốc gia đối với nhau có những thay đổi tùy theo sức mạnh Kinh tế mỗi quốc gia.
=> Ở đọan trên, chúng tôi nói đến Khả năng Kinh tế quốc gia dựa trên đó một đồng tiền quốc gia được thẩm định giá trị và do đó tạo lý do thứ nhất cho sự thay đổi (Flexibilité) của tỷ giá giữa đồng tiền quốc gia và Đo-la và giữa các đồng tiền quốc gia với nhau. Trong đọan này, chúng tôi nói đến lý do thứ hai của sự thay đổi tỷ giá đối với một ngọai tệ (Đo-la) dựa trên CUNG và CẦU ở Thị trường Tiền tệ giữa đồng tiền quốc gia và ngọai tệ ở một nước. Tại một quốc gia, có việc nhập ngọai tệ do xuất cảng và việc xuất ngọai tệ do nhập cảng. Cụ thể là phương tiện thanh tóan xuất nhập cảng là đồng Đo-la. Như vậy có Thị trường trao đổi giữa đồng tiền quốc gia với ngọai tệ Đo-la do Xuất Nhập cảng làm thay đổi CUNG và CẦU đo-la và đồng tiền quốc gia trên Thị trường. Khi CUNG và CẦU thay đổi ở Thị trường Tiền tệ, thì tỷ giá giữa đồng tiền quốc gia và đồng Đo-la có có những bấp bênh thay đổi (Flexible et Flottant). Đây là lý do thứ hai làm thay đổi tỷ giá giữa ngọai tệ và tiền quốc gia.
=> Thị trường Tiền tệ mỗi quốc gia như nói trên đây tùy thuộc cán cân Thương mại mỗi nước, nghĩa là thặng dư Xuất-Nhập cảng hay thiếu hụt Xuất-Nhập cảng. Nói thặng dư Xuất-Nhập cảng nghĩa là Xuất cảng lớn hơn Nhập cảng và ngược lại thiếu hụt Xuất-Nhập cảng nghĩa là Nhập cảng cao hơn xuất cảng. Xuất cảng cao hơn Nhập cảng tức là quốc gia thu vào nhiều Đo-la (ngọai tệ chính thanh tóan Xuất-Nhập cảng). Nhập cảng cao hơn Xuất cảng tức là quốc gia cho ra ngòai nhiều Đo-la. Chi tiêu trong nước bằng tiền quốc gia. Vì vậy khi Xuất cảng nhiều và thu vào nhiều Đo-la, thì những nhà xuất cảng phải đổi Đo-la ra để chi tiêu trong nước, tức là phía CẦU đồng tiền quốc nội phải tăng. Khi tăng CẦU tiền quốc nội, thì giá trị tiền quốc nội trở thành mắc giá sánh với Đo-la. Tỷ giá giữa đồng tiền quốc nội sánh với Đo-la phải tăng. Nhưng nếu Nhập cảng nhiều hơn Xuất cảng, thì phía CẦU Đo-la tăng, vì vậy Đo-la mắc giá hơn tiền quốc nội.
=> Theo nguyên tắc CUNG và CẦU ở Thị trường Tiền tệ quốc nội trên đây, Trung quốc Xuất cảng nhiều hơn Nhập cảng, thì họ thu vào nhiều Đo-la hơn là chi tiêu Đo-la ra nước ngòai. Các nhà Xuất cảng phải đổi Đo-la ra đồng Yuan, tiền quốc gia, để chi tiêu trong nước. Phía CẦU đồng Yuan phải tăng, nghĩa là đồng Yuan phải lên giá sánh với Đo-la. Đó là tỷ giá tự nhiên giữa đồng Yuan và đồng Đo-la. Trong bao nhiêu năm Xuất cảng hàng hóa, Trung quốc thu vào số lượng lớn Đo-la và phải chi tiêu trong nước bằng đồng Yuan, tiền quốc gia. Những nhà Xuất cảng hàng Trung quốc tăng phía CẦU đồng Yuan để chi tiêu ở Trung quốc. Tỷ giá đồng Yuan phải lên cao. Đó là tỷ giá được gọi là tự nhiên theo luật CUNG và CẦU của đồng tiền quốc nội ở Thị trường Tiền tệ nếu có tự do.
=> Nhưng khuynh hướng tăng tỷ giá giữa đồng Yuan và Đo-la tại Trung quốc đã bị sự ngăn chặn bởi quyền lực Chính trị. Người ta gọi đây là sự can thiệp Nhà Nước độc đóan vào Luật CUNG và CẦU ở một Thị trường. Khi khuynh hướng tự nhiên là tỷ giá giữa đồng Yuan và đồng Đo-la phải cao hơn, thì Nhà Nước ấn định một tỷ giá thấp hơn. Đây là việc đặt “Giá trần nhà“ (Prix plafond) để ngăn chặn khuynh hướng tăng giá. Việc ngăn chặn với “giá trần nhà“ này luôn luôn tạo ra Chợ Đen và là nguồn gốc của sự ăn bẩn, hối lộ, đặc quyền.
=> Tại sao Nhà Nước Trung quốc làm công việc đặt “Giá trần nhà“ để ngăn chặn khuynh hướng tăng tỷ giá tự nhiên giữa dồng Yuan và đồng Đo-la ? Lý do là để làm hạ giá hàng hóa Trung quốc xuất cảng. Thực vậy, ở Thị trường Thương mại hàng hóa, phương tiện cạnh tranh chính yếu là giá cả hàng hóa. Mục đích của họat động Kinh tế là thu vào Lợi nhuận tối đa. Lợi nhuận là độ lớn giữa Giá bán và Giá thành. Ơû Thị trường cạnh tranh gay gắt, người ta rất khó tăng Giá bán, nhưng có thể hạ Giá thành để làm tăng độ lớn của Lợi nhuận. Kinh tế gia Paul SAMUELSON nói ra như một định luật:“Trên thị trường cạnh tranh dài hạn, Lợi nhuận có khuynh hướng triệt tiêu“. Nhưng có những Xí nghiệp vẫn sống vì thu được Lợi nhuận vì họ biết quản trị Giá thành thấp. Hàng hóa Trung quốc thuộc chính yếu những hàng hóa xử dụng thường ngày cho đại đa số quần chúng nghèo, không cần phẩm chất cao. Sản xuất những hàng hóa này không cần phải chi tiêu thiết bị Kỹ thuật đắt giá, mà chỉ xử dụng chính yếu Nhân lực. Trung quốc xử dụng độc đóan Chính trị để khai thác khối Nhân lực lớn với tiền lương rẻ mạt. Đồng thời, một cách hạ giá thành sản xuất nữa là tăng số lượng sản xuất, điều mà Trung quốc có thể làm.
=> Khi xử dụng quyền Chính trị Nhà Nước để giữ tỷ giá đồng Yuan hạ dối với Đo-la, đó là việc họ hạ thêm giá hàng xuất cảng để quyến rũ những nhà mua hàng từ nước ngòai có đựơc đồng Yuân hạ để mua hàng, chi tiêu tại Trung quốc. Đây cũng là việc hấp dẫn những Xí nghiệp Liên quốc gia (Multinationales) xử dụng vốn Đo-la, mua được đồng Yuan với giá rẻ để sản xuất hoặc xuất cảng ra nước ngòai bán thu vào Đo-la mắc giá. Mức độ Lợi nhuận tăng rộng từ giá hạ sản xuất tại Trung quốc với chi tiêu đồng Yuan rẻ, đến giá xuất cảng thương mại với giá Đo-la cao.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 21.01.2010
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 17:
GIAN GIẢO KINH TẾ TQ LÀM THẾ GIỚI BỰC TỨC VÀ CÓ BIỆN PHÁP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 14.01.2010 UNICODE: http://VietTUDAN.net
Những gian lận Kinh tế/ Thương mại của Trung quốc dần dần xuất hiện. Trong tình trạng phát triển Kinh tế bình thường hoặc hồ hởi, người ta dễ bỏ qua những gian lận ấy. Nhưng ngày nay, sau việc khó khăn phục hồi Kinh tế hậu Khủng hỏang, nhất là tình trạng thất nghiệp tăng mạnh khắp nơi, những gian lận ấy được phanh phui ra và những biện pháp chế tài gian lận sẽ được đặt ra và áp dụng.
Những gian lận Kinh tế/ Thương mại Trung quốc
Trong Hội Nghị Copenhague vừa qua, người ta thấy thái độ quá lì lợm của Trung quốc làm nguyên nhân chính cho bế tắc những đàm phán của Hội Nghị. Thái độ khăng khăng của Trung quốc gồm hai điểm: (i) thứ nhất là Trung quốc nhất định bám sát Ký kết Kyoto theo đó thì các nước đã kỹ nghệ hóa phải tài trợ cho những nước chưa phát triển để giảm thiểu thải khí độc trong đó có Trung quốc là nước được hưởng tài trợ này; (ii) thứ hai là Trung quốc nhất định không cho phép bất cứ những thanh tra, kiểm điểm nào đến từ nước ngòai hay một tổ chức nào gồm một số nước được trao trách nhiệm kiểm sóat, thanh tra thực hiện việc giảm thiểu khí độc.
Trung quốc nại ra vấn đề Chủ quyền Quốc gia để nhất định không nhượng bộ điểm thứ hai trên đây. Hoa kỳ, qua Ngọai trưởng Hilary CLINTON, đã nhấn mạnh đòi hỏi thanh tra này bởi lẽ Trung quốc đứng đầu trong việc thải khí độc, mà nếu không có kiểm điểm việc thực hiện, thì những cố gắng gỉam thiểu khí của các nước khác trở thành vô ích.
Thái độ cố thủ của Trung quốc đã cho các nước khác dự đóan một sự gian lận nào đó mà Trung quốc không muốn cho ai biết.
Thực ra sự nghi ngờ về lòng ngay thẳng của Trung quốc ở lãnh vực Kinh tế/ Thương mại đã có một số biểu lộ với chứng cớ từ đã một số năm nay. Hình ảnh về gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc mỗi ngày mỗi hiện ra rõ hơn qua những sự việc sau đây:
1) Thương hiệu MADE IN CHINA mỗi ngày mỗi giảm xuống qua những kiểm chứng có tính cách khoa học đối với một số những hàng hóa Trung quốc:
* Thực phẩm, sữa, bánh kẹo mang nhiều lượng mélanine có hại cho sức khỏe. Một số những thực phẩm được sản xuất thiếu những điều kiện vệ sinh đòi hỏi.
* Hàng nông nghiệp mang dấu vết tồn tại của những chất sát trùng hoặc những hóa chất nguy hại.
* Những đồ chơi cho trẻ con mang nước sơn có thể sinh bệnh, nhất là khi trẻ con cho vào miệng ngậm.
* Hàng công nghệ đẹp mã, với giá rẻ, nhưng chất liệu xử dụng không tốt và dễ hư hỏng trong một thời gian rất ngắn.
* Những thuốc giả đem bán tại những nước nghèo, nhất là tại Phi châu, không những không chữa được bệnh mà có thể gây thêm những bệnh khác.
* Một số những vật liệu xây cất cũng được sản xuất với chất liệu kém, khiến những công trình xây cất nhằm dài hạn bị hư hỏng trước hạn kỳ dự trù.
2) Những xí nghiệp, những nhà máy sản xuất nhằm sản xuất cấp thời để xuất cảng hàng hóa thâu tiền mau chóng. Việc tổ chức nhà máy đã không tôn trọng những những đòi hỏi thiết lập những phương tiện bảo vệ môi trường. Kỹ nghệ Trung quốc đã làm ô uế và phá họai môi trường mà dân chúng phải hứng chịu. Có lẽ đây là lý do mà Trung quốc cố thủ không cho một kiểm sóat, thanh tra nào từ nước ngòai để có thể tố giác những gian lận công nghệ hóa của đảng CSTQ, nhóm Mafia làm Kinh tế riêng cho nhóm.
3) Ai cũng biết việc xử dụng có tính cách bóc lột nhân lực tại Trung quốc. Nhân công bị khai thác không tương xứng với đồng lương. Một số những nhà luân lý, nhậy cảm về nhân quyền đã lên tiếng kêu gọi từ chối việc xử dụng hàng Trung quốc.
4) Trung quốc đã xử dụng vốn dự trữ để khai thác tài nguyên, nhất là nguyên vật liệu như quặng, khí đốt thiên nhiên, dầu lửa... từ nhưng nước nghèo, có thể qua những hối lộ cho những chính quyền những nước này:
* USD.25 tỉ cho vùng Trung Á. Tại vùng này, có những va chạm quyền lợi với Nga. Nga không dễ dàng gì mà để Trung quốc yên lành khai thác chính trong vùng đang mang nhiều liên hệ có tính cách lịch sử với Nga.
* USD.45 tỉ cho những nước nghèo Á dông. Thái độ nghi ngại của ASEAN là tất nhiên. Những nước Á châu như Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Việt Nam... đã quá am tường tính cách làm ăn của người Trung quốc.
* USD.42 tỉ cho một số nước Phi châu. Tại vùng này, Aâu châu đã lên tiếng gọi đây là chủ trương Tân thuộc địa của Trung quốc. Những nước Phi châu đã là cựu thuộc địa của Anh, Pháp, Bồ Đào Nha... Lục địa cổ Aâu châu cần nguyên vật liệu từ Phi châu. Cách đây chừng 25 năm, Mỹ đã có nhũng đụng độ với Pháp về quyền lợi dầu lửa tại vùng Vịnh Guinée. Mỹ cũng đành phải nhượng bộ với những cựu Thực dân Pháp lâu đời ở vùng này.
Việc khai thác nguyên vật liệu cũng đồng thời nằm trong chủ trương xuất cảng sang những vùng nghèo trên đây:
-> Những thiết bị cũ của Trung quốc
-> Những vật liệu xây cất sản xuất rẻ tiền từ Trung quốc
-> Khối nhân công rẻ tiền của Trung quốc. Hiện tại Phi châu có chừng trên 100'000 nhân công Trung quốc..
Trung quốc muốn trở thành chủ nợ cũng như họ đã là chủ nợ của CSVN để dễ dàng bắt ép con nợ phải nhận những nhượng quyền về Kinh tế/Thương mại. Những phản ứng của dân chúng Việt Nam về Beauxite cắt nghĩa những phản ứng sẽ xẩy ra ở những xứ nghèo con nợ khác.
5) Việc cố thủ xử dụng tỉ giá đồng Yuan thấp sánh với Mỹ-kim nhằm nâng đỡ xuất cảng đã từ lâu gây bực tức cho Mỹ, Liên Aâu và một số lớn những nước Á châu. Một trong những lý do chính đang gây bực tức tại các nước Á châu khiến những nước chính trong khối ASEAN yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010.
Báo Philippine Star trong tháng 12/2009 có bài cho rằng việc Trung Quốc duy trì tỉ giá đồng nhân dân tệ như hiện nay khiến hàng xuất khẩu của Asean chịu thiệt hại nặng.
Kinh tế gia Zhang BIN, làm việc cho Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội tại chính Trung quốc, đã lên tiếng khuyến cáo Trung quốc phải nâng tỉ giá đồng Yuan lên 10% sánh với Mỹ-kim.
6) Hoa kỳ đang có những nghi ngờ về liên hệ giữa Iran và Trung quốc khiến Trung quốc có thái độ lừng khừng đối với việc chế tài chương trình Nguyên tử của Iran. Trung quốc cần dầu lửa và có quyền Veto ở Liên Hiệp Quốc.
Sự gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc đã và sẽ tạo ra những phản ứng thất lợi cho chính Trung quốc. Không thể lừa người khác lâu dài được.
Chính sách Kinh tế Trung quốc làm tổn hại đến mọi Quốc gia
Đó là khẳng định của Ban Biên Tập Nhật Báo New York Times ngày 13 tháng 12 năm 2010
(http://www.nytimes. com/2010/ 01/12/opinion/ 12tue1.html) (Người dịch: Đoàn Hưng Quốc):
“Nền kinh tế của Trung Quốc rất thành công trong vòng 20 năm qua bằng cách mở cửa cho đầu tư từ nước ngoài và kềm giá đồng Quan (so với đồng Mỹ kim), họ đã phát triển vượt bực nhờ vào sức tiêu thụ của các nước phát triển.
Nhưng đồng thời chính sách này đã mang đến nhiều yếu kém cho nền kinh tế toàn cầu. Nếu Bắc Kinh tiếp tục đường lối nói trên thì nhiều nước sẽ phải dùng đến biện pháp duy nhất là bảo hộ mậu dịch nhằm ngăn chận hàng hoá giá rẻ giả tạo từ Trung Quốc. Cuộc chiến mậu dịch một khi xảy ra rất khó kiểm soát, sẽ ảnh hưởng đến xuất cảng của mọi quốc gia và chận đứng phát triển nơi nơi.
Hàng hoá Trung Quốc đổ ào ạt ra thế giới đã đè bẹp các nhà sản xuất tại các nước đang phát triển. Việc này nếu đã tệ hại khi nền kinh tế thế giới còn phồn thịnh thì lại càng nguy hiểm hơn trong giai đoạn suy thoái hiện tại. Trong nhiều quốc gia các gói kích cầu đã không đạt được tác dụng vì tiền của chính phủ đầu tư rơi một phần nhằm mua đồ giá rẻ từ Trung Quốc nên không tạo công tạo được công ăn việc làm trong nước.
Sau khi thả nổi đồng Quan tăng giá dần trong vòng ba năm, Bắc Kinh từ mùa hè năm 2008 đã siết đồng Nhân Dân Tuệ theo giá trị Mỹ Kim và trụt xuống so với Euro và tiền Yen, tạo áp lực nặng nề đến Âu Châu và Nhật Bản.
Chính sách “làm nghèo các nước lân bang” của Bắc Kinh khiến nền kinh tế thế giới khó phục hồi. Khi các gói kích cầu chấm dứt thì các nước sẽ phải dựa vào xuất cảng để phát triễn trong hoàn cảnh dân chúng trong nước cắt giảm chi tiêu, nhưng xuất cảng sẽ khó hơn nếu hàng hoá Trung Quốc tiếp tục đổ ồ ạt với giá rẻ mạt. Cán cân mậu dịch nghiên về Trung Quốc rõ rệt từ tháng 12-2009 sau khi sút giảm trong vòng 1 năm, và dự đoán sẽ nhảy vọt trong năm 2010.
Bắc Kinh có thể chọn lựa các chính sách lành mạnh hơn, chẳng hạn như dùng trử lượng ngoại tệ khổng lồ vào các chương trình xã hội: bảo hiểm sức khoẻ, giáo dục và lương bổng hưu trí nhằm nâng cao đời sống dân chúng.
Bắc Kinh chắc hẳn sẽ phải đối phó với biện pháp giới hạn mậu dịch nếu tiếp tục kềm giá đồng Quan. Chính quyền Obama đã phải nhượng bộ áp lực trong nước và tăng thuế lên vỏ xe hơi và ống sắt nhập cảng từ Trung Quốc. Quốc Hội Mỹ giờ này vẫn im lặng nhưng ngườì ta có thể cảm nhận tâm lý trả đủa tăng dần mọi nơi.
Ấn Độ đã nộp một chồng hồ sơ tố cáo các vi phạm mậu dịch tự do của Trung Quốc. Diễn Đàn Hợp Tác Mậu Dịch Á Châu – Thái Bình Dương mới đây kêu gọi “thả nổi giá biểu tiền tệ theo thị trường”, ý muốn ám chỉ chính sách siết giá đồng Quan của Bắc Kinh.
Một trận chiến mậu dịch với Trung Quốc sẽ tác hại không lường và ảnh hưởng lan rộng toàn cầu. Tự chế là cần thiết, nhưng chúng tôi (Ban Biên Tập Báo New York Times) e rằng không ai có thể chờ đợi lâu hơn nữa vào Bắc Kinh thay đổi chính sách của họ“.
Những biện pháp Che Chở Mậu Dịch
Tại cuộc Họp tại Luân Đôn của G20 đầu tháng tư 2009, vấn đề cấp bách cho G20 là Che Chở Kinh tế (Protectionism).
Chính những quốc gia thuộc G20 đã tự động lấy những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes). Tổng cộng đã đếm được 66 Biện Pháp. Đó là lời la hỏang của Oâng ZOELLICK, Chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), của Oâng STRAUSS, Tổng Giám đốc Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF/FMI), của Oâng LAMY, Tổng Giám đốc Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC).
Con Ma CHE CHỞ KINH TẾ (Spectre Protectionnisme/Spectre Protectionism) hiện ra nguyên hình, chứ không phải là bóng ma chập chờn. Đó là vấn đề mà G20 phải giải quyết thực sự. Nhưng vấn đề này không thể giải quyết được.
Những nước đến cuộc Họp thượng đỉnh sẽ cao giọng nêu ý chí triệt hạ Protectionism, nhưng thực tế mỗi nước đã tự động lấy những Biện Pháp Che Chở Kinh tế rồi. Vì vậy, về vấn đề này, những thành viên đến họp G20 chỉ nói xạo. Miệng nói lớn tiếng là Tự do Mậu Dịch, nhưng lại âm thầm làm Che Chở Kinh tế.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 14.01.2010
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 16:
THẾ GIỚI NHẬN RA NHỮNG GIAN GIẢO KINH TẾ/THƯƠNG MẠI CỦA TRUNG QUỐC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 07.01.2010 UNICODE: http://VietTUDAN.net
Trong Hội Nghị Copenhague vừa qua, người ta thấy thái độ quá lì lợm của Trung quốc làm nguyên nhân chính cho bế tắc những đàm phán của Hội Nghị. Thái độ khăng khăng của Trung quốc gồm hai điểm: (i) thứ nhất là Trung quốc nhất định bám sát Ký kết Kyoto theo đó thì các nước đã kỹ nghệ hóa phải tài trợ cho những nước chưa phát triển để giảm thiểu thải khí độc trong đó có Trung quốc là nước được hưởng tài trợ này; (ii) thứ hai là Trung quốc nhất định không cho phép bất cứ những thanh tra, kiểm điểm nào đến từ nước ngòai hay một tổ chức nào gồm một số nước được trao trách nhiệm kiểm sóat, thanh tra thực hiện việc giảm thiểu khí độc.
Trung quốc nại ra vấn đề Chủ quyền Quốc gia để nhất định không nhượng bộ điểm thứ hai trên đây. Hoa kỳ, qua Ngọai trưởng Hilary CLINTON, đã nhấn mạnh đòi hỏi thanh tra này bởi lẽ Trung quốc đứng đầu trong việc thải khí độc, mà nếu không có kiểm điểm việc thực hiện, thì những cố gắng gỉam thiểu khí của các nước khác trở thành vô ích.
Thái độ cố thủ của Trung quốc đã cho các nước khác dự đóan một sự gian lận nào đó mà Trung quốc không muốn cho ai biết.
Thực ra sự nghi ngờ về lòng ngay thẳng của Trung quốc ở lãnh vực Kinh tế/ Thương mại đã có một số biểu lộ với chứng cớ từ đã một số năm nay. Hình ảnh về gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc mỗi ngày mỗi hiện ra rõ hơn qua những sự việc sau đây:
1) Thương hiệu MADE IN CHINA mỗi ngày mỗi giảm xuống qua những kiểm chứng có tính cách khoa học đối với một số những hàng hóa Trung quốc:
* Thực phẩm, sữa, bánh kẹo mang nhiều lượng mélanine có hại cho sức khỏe. Một số những thực phẩm được sản xuất thiếu những điều kiện vệ sinh đòi hỏi.
* Hàng nông nghiệp mang dấu vết tồn tại của những chất sát trùng hoặc những hóa chất nguy hại.
* Những đồ chơi cho trẻ con mang nước sơn có thể sinh bệnh, nhất là khi trẻ con cho vào miệng ngậm.
* Hàng công nghệ đẹp mã, với giá rẻ, nhưng chất liệu xử dụng không tốt và dễ hư hỏng trong một thời gian rất ngắn.
* Những thuốc giả đem bán tại những nước nghèo, nhất là tại Phi châu, không những không chữa được bệnh mà có thể gây thêm những bệnh khác.
* Một số những vật liệu xây cất cũng được sản xuất với chất liệu kém, khiến những công trình xây cất nhằm dài hạn bị hư hỏng trước hạn kỳ dự trù.
2) Những xí nghiệp, những nhà máy sản xuất nhằm sản xuất cấp thời để xuất cảng hàng hóa thâu tiền mau chóng. Việc tổ chức nhà máy đã không tôn trọng những những đòi hỏi thiết lập những phương tiện bảo vệ môi trường. Kỹ nghệ Trung quốc đã làm ô uế và phá họai môi trường mà dân chúng phải hứng chịu. Có lẽ đây là lý do mà Trung quốc cố thủ không cho một kiểm sóat, thanh tra nào từ nước ngòai để có thể tố giác những gian lận công nghệ hóa của đảng CSTQ, nhóm Mafia làm Kinh tế riêng cho nhóm.
3) Ai cũng biết việc xử dụng có tính cách bóc lột nhân lực tại Trung quốc. Nhân công bị khai thác không tương xứng với đồng lương. Một số những nhà luân lý, nhậy cảm về nhân quyền đã lên tiếng kêu gọi từ chối việc xử dụng hàng Trung quốc.
4) Trung quốc đã xử dụng vốn dự trữ để khai thác tài nguyên, nhất là nguyên vật liệu như quặng, khí đốt thiên nhiên, dầu lửa... từ nhưng nước nghèo, có thể qua những hối lộ cho những chính quyền những nước này:
* USD.25 tỉ cho vùng Trung Á. Tại vùng này, có những va chạm quyền lợi với Nga. Nga không dễ dàng gì mà để Trung quốc yên lành khai thác chính trong vùng đang mang nhiều liên hệ có tính cách lịch sử với Nga.
* USD.45 tỉ cho những nước nghèo Á dông. Thái độ nghi ngại của ASEAN là tất nhiên. Những nước Á châu như Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Việt Nam... đã quá am tường tính cách làm ăn của người Trung quốc.
* USD.42 tỉ cho một số nước Phi châu. Tại vùng này, Aâu châu đã lên tiếng gọi đây là chủ trương Tân thuộc địa của Trung quốc. Những nước Phi châu đã là cựu thuộc địa của Anh, Pháp, Bồ Đào Nha... Lục địa cổ Aâu châu cần nguyên vật liệu từ Phi châu. Cách đây chừng 25 năm, Mỹ đã có nhũng đụng độ với Pháp về quyền lợi dầu lửa tại vùng Vịnh Guinée. Mỹ cũng đành phải nhượng bộ với những cựu Thực dân Pháp lâu đời ở vùng này.
Việc khai thác nguyên vật liệu cũng đồng thời nằm trong chủ trương xuất cảng sang những vùng nghèo trên đây:
-> Những thiết bị cũ của Trung quốc
-> Những vật liệu xây cất sản xuất rẻ tiền từ Trung quốc
-> Khối nhân công rẻ tiền của Trung quốc. Hiện tại Phi châu có chừng trên 100'000 nhân công Trung quốc..
Trung quốc muốn trở thành chủ nợ cũng như họ đã là chủ nợ của CSVN để dễ dàng bắt ép con nợ phải nhận những nhượng quyền về Kinh tế/Thương mại. Những phản ứng của dân chúng Việt Nam về Beauxite cắt nghĩa những phản ứng sẽ xẩy ra ở những xứ nghèo con nợ khác.
5) Việc cố thủ xử dụng tỉ giá đồng Yuan thấp sánh với Mỹ-kim nhằm nâng đỡ xuất cảng đã từ lâu gây bực tức cho Mỹ, Liên Aâu và một số lớn những nước Á châu. Một trong những lý do chính đang gây bực tức tại các nước Á châu khiến những nước chính trong khối ASEAN yêu cầu hõan lại việc áp dụng Tự do Mậu dịch giữa Trung quốc—Asean, theo ký kết nguyên tắc, bắt đầu được thi hành từ năm nay 2010.
Báo Philippine Star trong tháng 12/2009 có bài cho rằng việc Trung Quốc duy trì tỉ giá đồng nhân dân tệ như hiện nay khiến hàng xuất khẩu của Asean chịu thiệt hại nặng.
Kinh tế gia Zhang BIN, làm việc cho Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội tại chính Trung quốc, đã lên tiếng khuyến cáo Trung quốc phải nâng tỉ giá đồng Yuan lên 10% sánh với Mỹ-kim.
6) Hoa kỳ đang có những nghi ngờ về liên hệ giữa Iran và Trung quốc khiến Trung quốc có thái độ lừng khừng đối với việc chế tài chương trình Nguyên tử của Iran. Trung quốc cần dầu lửa và có quyền Veto ở Liên Hiệp Quốc.
Sự gian lận Kinh tế/Thương mại của Trung quốc đã và sẽ tạo ra những phản ứng thất lợi cho chính Trung quốc. Không thể lừa người khác lâu dài được. Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
NHÂN VỤ DB TRẦN THÁI VĂN TRANH CỬ, THỬ NHÌN QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH HẢI NGOẠI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 31.12.2009
Chúng tôi chưa được nghe chính DB TRẦN THÁI VĂN tuyên bố, nhưng khi vào Trang Nhà của Oâng TRẦN BÌNH NAM http://www.tranbinhnam.com/ , chúng tôi được đọc bài của Oâng NGUYỄN TẤN THỌ, Tổng Điều Hợp Ban Vận Động Tranh Cử cho DB Trần Thái Văn.
Khi Oâng TRẦN BÌNH NAM viết ngày 04.12.2009 một bài phân tích rất khách quan và với tấm lòng tha thiết rằng DB Trần Thái Văn nên ra ở một Đơn Vị tranh cử khác với DB Liên Bang Loretta SANCHEZ để tránh việc đối thủ với một Chiến hữu đồng minh nước ngoài đã lâu năm xả thân đấu tranh vì TỰ DO, DÂN CHỦ và NHÂN QUYỀN cho Quê Hương Việt Nam, chúng tôi cũng đã lên tiếng ngày 22.12.2009 với lời kêu gọi HOÀN TOÀN ỦNG HỘ DÂN BIỂU LORETTA SANCHEZ vì cuộc đấu tranh rất cam go tại Quốc nội ở thời điểm này.
Khi đọc bài của Oâng NGUYỄN TẤN THỌ phản biện lại bài của Oâng TRẦN BÌNH NAM, chúng tôi hiểu có sự khác biệt về Quan Điểm đấu tranh: (i) Đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam thoát ách độc tài, hay (ii) Đấu tranh cho thăng tiến địa vị cá nhân tại Hải ngoại. Một đàng nhằm chính yếu Quan điểm Đấu tranh thứ nhất (i), một đàng nhằm chính yếu ở Quan điểm Đấu tranh thứ hai (ii).
Chúng tôi không công kích Quan điểm Đấu tranh thứ hai (ii) nhằm thăng tiến địa vị cá nhân của DB TRẦN THÁI VĂN tại Hải ngoại mà Oâng NGUYỄN TẤN THỌ, Tổng Điều Hợp Ban Vận Động Tranh Cử cho DB Trần Thái Văn, đã trình bầy rất rõ trong bài viết của Oâng. Chúng tôi coi đây là tiếng nói chính thức đại diện cho DB Trần Thái Văn. Trong khi đó, chúng tôi đứng ở Quan điểm Đấu tranh thứ nhất (i) để phân tích và do đó chúng tôi hoàn toàn ủng hộ DB Loretta SANCHEZ, một chiến hữu đồng minh nước ngoài đã cùng đồng hành với chúng ta trong nhiều năm cho Quê Hương Việt Nam.
Chúng tôi phân tích những khía cạnh sau đây:
=> Oâng Nguyễn Tấn Thọ phản ánh Lập trường của DB Trần Thái Văn như thế nào ?
=> Có phải đây là Quan điểm Đấu tranh của đa số người Việt tỵ nạn ở Hải ngoại ?
=> Cái lỗi của DB Trần Thái Văn là ở chỗ nào ?
=> Trách nhiệm Nam Cali, Thủ đô người Việt Hải ngoại
Oâng Nguyễn Tấn Thọ phản ánh Lập trường của DB Trần Thái Văn như thế nào ?
Bài phản biện của Oâng Nguyễn Tấn Thọ, ngoài việc phản bác những phân tích của Oâng Trần Bình Nam, điều mà chúng tôi không muốn nhắc tới trong nội dung bài này, chúng tôi chỉ đưa ra những lý do để Oâng Nguyễn Tấn Thọ kêu gọi Người Việt hãy lấy số đông tại đơn vị 47 (Nam Cali) đánh bại Bà Loretta SANCHEZ:
1) Tăng cường uy thế của người Việt tại Quốc Hội Hoa kỳ
Oâng Nguyễn Tấn Thọ coi việc đấu tranh cho vị trí của những cá nhân người Việt ở Hoa kỳ là quan trọng bắt đầu từ lúc này hay cụ thể là lời tuyên bố để biện minh gượng gạo cho việc cá nhân DB Trần Thái Văn muốn lợi dụng số đông người Việt tại Nam Cali để thăng tiến địa vị của riêng Oâng tại xã hội Mỹ, chứ ý hướng đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam chỉ là thứ yếu đới DB Trần Thái Văn.
Oâng Nguyễn Tấn Thọ viết: “Đã đến lúc chúng ta phải gầy dựng nội lực, uy thế của cộng đồng bằng cách đưa được thêm nhiều tiếng nói trực tiếp - không vay mượn - của chính thành viên trong cộng đồng Việt vào Quốc Hội Hoa Kỳ.“
2) Những hoạt động của DB Trần Thái Văn
Oâng Nguyễn Tấn Thọ đã liệt kê ra những hoạt động của DB Trần Thái Văn điển hình như: (i) “Thời còn là sinh viên, Dân Biểu Văn đã lãnh đạo phong trào "Project Ngọc" dấn thân cứu người Việt tỵ nạn CS tại các trại Đông Nam Á“; (ii) “Năm 2000, trở thành nghị viên Thành Phố Garden Grove, Dân Biểu Văn đã mở đường, trợ giúp cho giới trẻ mạnh dạn bước vào dòng chính“; (iii) “Năm 2003, cùng với những luật sư trẻ khác, Dân Biểu Văn đã chủ xướng phong trào vinh danh cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tại Westminster và Garden Grove“; (iv) “Năm 2007, DB Văn đã tình nguyện đi Thái Lan 2 lần để can thiệp cho chiến sĩ Lý Tống“.
Xem như vậy, thì DB Trần Thái Văn chưa bao giờ có những đấu tranh trực tiếp liên hệ đến những vấn đề của Dân chúng tại Quốc nội như Dân Oan chẳng hạn, chưa bao giờ lên tiếng về Tự do Tôn giáo tại Việt Nam, chưa bao giờ đứng lên bênh đỡ cho những Chiến sĩ đấu tranh và bị đàn áp và bị kết án tại Việt Nam như trường hợp Lm NGUYỄN VĂN LÝ, Ls LÊ THỊ CÔNG NHÂN, Ls NGUYỄN VĂN ĐÀI…, các Nhà Dân vhủ bị bắt và bị đưa ra Tòa, nhất là chưa bao giờ về tại Quê Hương để trực diện đối choiï với ngụy quyền Việt Nam, thậm chí tại nước ngoài Oâng cũng chỉ quanh quẩn tại Tiểu Bang California chứ chưa đấu tranh tại những Tiểu Bang khác. (Trường hợp ra khỏi Hoa kỳ lại là sang Thái Lan cho vấn đề thứ yếu Lý Tống).
Trong khi ấy, Bà Loretta SANCHEZ đã can đảm, xả thân làm việc cho những vấn đề gai góc này tại chính Quê Hương VN mà dường như DB Trần Thái Văn muốn tránh né hoặc không đủ can đảm trực diện đối chọi với CSVN. Lãnh vực đấu tranh của DB Trần Thái Văn là tại nước ngoài, không có những nguy hiểm về an ninh và thuộc về những vấn đề thứ yếu chẳng hạn như vấn đề Lý Tống, trong khi ấy Lãnh vực đấu tranh của Bà Loretta SANCHEZ là chính trên lãnh thổ mà địch có toàn quyền độc đoán về an ninh và gồm những vấn đề đấu tranh hoàn toàn thiết yếu cho đời sống Dân chúng Quốc nội.
3) Hình ảnh người Mỹ gốc Nhật để khuyên và làm gương cho DB Trần Thái Văn
Oâng Nguyễn Tấn Thọ đưa ra gương của Oâng Norman MINETA, một người Mỹ gốc Nhật, như hình ảnh mà DB Trần Thái Văn phải cố gắng đấu tranh như vậy. Oâng Norman MINETA đã làm được gì cho nước Nhật của Oâng hay chỉ tạo được cho mình một địa vị cá nhân trên đất Mỹ. DB Trần Thái Văn theo hình ảnh ông Norman MINETA là đủ chứ không cần phải bận tâm đến những đau khổ mà Quê Hương Việt Nam đang phải chịu dưới độc tài CSVN hay sao ?
Oâng Nguyễn Tấn Thọ viết: “chúng ta hãy cùng nhau suy gẫm lời tâm sự, nhắn nhủ của ông Norman Mineta, một người Mỹ gốc Nhật Bản, cựu Dân Biểu Liên Bang, Bộ Trưởng Thương Mại thời Tổng Thống Clinton và Bộ Trưởng Giao Thông thời Tổng Thống George W. Bush, dành cho Dân Biểu Trần Thái Văn…“
4) Kêu gọi Người Việt Nam Cali lấy số đông hạ Bà Loretta SANCHEZ
Sau khi đưa ra lý do phải gây uy thế người Việt tại Quốc Hội Hoa kỳ và kể ra những hoạt động của DB Trần Thái Văn, Oâng Nguyễn Tấn Thọ, Tổng Điều Hợp Ban Vận Động Tranh Cử cho DB Trần Thái Văn, đã kêu gọi vùng Nam Cali, với số đông người Việt, hãy “lấy thịt đè người“ dồn phiếu cho DB Trần Thái Văn mà hạ bệ Bà Loretta SANCHEZ, nghĩa là hãy chọn quan điểm đấu tranh chính yếu cho khối người Việt Hải ngoại mà để quan điểm đấu tranh cho Quê Hương thành thứ yếu hoặc không cần biết tới.
Ong Nguyễn Tấn Thọ viết: “ Trong tinh thần ấy, chúng tôi tha thiết kêu gọi quý vị lãnh đạo trong cộng đồng, quý đồng hương và nhất là quý cử tri gốc Việt tại địa hạt 47, vì quyền lợi tối thượng của cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại Hoa Kỳ, xin hãy tích cực ủng hộ phương tiện và dồn phiếu cho Dân Biểu Trần Thái Văn trong cuộc bầu cử dân biểu liên bang năm 2010 sắp đến.“
Có phải đây là Quan điểm Đấu tranh của đa số người Việt tỵ nạn ở Hải ngoại ?
Khi chúng tôi viết bài HOÀN TOÀN ỦNG HỘ DB LORETTA SANCHEZ và phổ biến trên các Diễn Đàn Internet, thì phản ứng số đông từ các nơi, từ các Tiểu Bang khác của Hoa kỳ, từ Canada, Liên Aâu, Uùc châu… cho thấy rằng Quan điểm Đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam là quan trọng và do đó họ ủng hộ Bà Loretta SANCHEZ.
Trước hết, chúng tôi xin nói đến tâm tình của cá nhân chúng tôi đối với Quê Hương Việt Nam. Rời khỏi Việt Nam từ năm 1965, nghĩa là đã sống ở nước ngoài 45 năm rồi, chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng mình không còn nghĩ đến Việt Nam nữa và chỉ mong thăng tiến địa vị cá nhân tại nước ngoài, nơi mình cư ngụ. Cách đây 35 năm, sau năm 1975, Đài Truyền Hình Thụy sĩ phỏng vấn một nhóm người Việt tỵ nạn. Nghe giọng nói kiểu Chợ Lớn, chúng tôi hiểu rằng đây là nhóm người mang danh là Việt Nam nhưng gốc Tầu Chợ Lớn. Phóng viên hỏi xem cảm tưởng của họ thế nào khi sang đến Thụy sĩ. Họ trả lời liền rằng họ sung sướng lắm và cảm ơn rối rít Thụy sĩ. Chúngh tôi, người Việt chính hiệu, cảm thấy buồn về thái độ mừng rỡ rối rít này. Phóng viên lại hỏi tiếp xem họ còn mang tâm tình nào đối với Việt Nam. Họ cũng trả lời đơn giản rằng họ sang đến Thụy sĩ sung sướng rồi và lúc này họ đã quên Việt Nam. Thật là câu trả lời của những kẻ ăn cháo đái bát. Không một người Việt chính hiệu nào có quyền trả lời như vậy.
Nhập cuộc đấu tranh tại Hải ngoại, chúng tôi luôn đặt mục đích của đấu tranh là cho Dân tộc và Đất nước Việt Nam. Làm thế nào cho Dân tộc thoát khỏi ngụy quyền độc tài CSVN và làm thế nào cho Đất nước được phát triển. Chúng tôi chưa bao giờ đấu tranh nhằm tạo vị thế cho người Việt sống tại Hải ngoại, được thăng tiến tại xã hội nơi cư ngụ ở nước ngoài.
Chúng tôi nghĩ rằngnhững người Việt tỵ nạn tại những Tiểu Bang khác ở Hoa kỳ cũng chưa quên Việt Nam và chỉ dồn sức vào đấu tranh để vị trí của người Việt được thăng tiến trong xã hội Mỹ.
Chúng tôi cũng không nghĩ rằng những người Việt tỵ nạn tại Canada, Liên Aâu, Uùc châu đã vội quên không đấu tranh cho Quê Hương nữa mà chỉ dồn sức đấu tranh chiếm vị thế của mình tại nước mình cư ngụ.
Quan điểm đấu tranh mà Oâng Nguyễn Tấn Thọ và DB Trần Thái Văn kêu gọi làm lý do biện minh cho việc xử dụng số đông người Việt tại Nam Cali để thăng tiến địa vị cá nhân tại Mỹ không phải là Quan điểm đấu tranh chung của khối người Việt Hải ngoại. Khối người Việt tỵ nạn Hải ngoại luôn luôn nghĩ đến Quê Hương đau thương và đặt mục đích cố gắngh đấu tranh của họ là cho Quốc nội.
Cái lỗi của DB Trần Thái Văn là ở chỗ nào ?
Ở hai Đoạn trên, chúng tôi đã trình bầy hai Quan điểm Đấu tranh. Đâu là những điểm mà chúng ta không có quyền trách DB Trần Thái Văn và Oâng Nguyễn Tấn Thọ, và đâu là những điểm mà chúng ta có thể lên tiếng chê trách hai Ong ?
Chúng tôi không đứng ở phương diện cảm tính như nhớ ơn sự cố gắng đấu tranh của Bà Loretta SANCHEZ để phân tích vấn đề, mà chỉ đứng ở khía cạnh lợi ích khách quan của sự việc mà thẩm định. Trong bài phản biện của Oâng Nguyễn Tấn Thọ, Oâng đã dài dòng phản đối Oâng Trần Bình Nam về vấn đề nhớ ơn nhửng tận tâm đấu tranh cho Việt Nam của Bà Loretta để cố gắng gượng gạo biện minh cho việc đối đầu tranh cử của DB Trần Thái Văn ở cùng Đơn Vị 47 nhằm lợi dụng số đông người gốc Việt mà hất cẳng Bà Loretta SANCHEZ.
=> Những điểm mà chúng ta không có quyền trách DB Trần Thái Văn
Chúng ta không có quyền trách DB Trần Thái Văn và Oâng Nguyễn Tấn Thọ về việc chủ trương Đấu tranh chỉ nhằm thăng quan tiến chức tại Hoa kỳ, nơi hai Oâng đã trở thành công dân của xứ sở mới này. Các Oâng có quyền tự do đấu tranh cho vị trí xã hội của mình.
Mặc dầu hai Oâng đã là gốc Việt Nam, nhưng chúng ta không có quyền đòi buộc hai Oâng phải đấu tranh cứu vớt 85 triệu dân Việt Nam khỏi ách độc tài CSVN, Các Oâng có thể lạnh lùng nói với 85 triệu dân Quốc nội rằng “đời cua, cua máy; đời cáy, cáy đào“, nghĩa là dân Quốc nội hãy ráng mà đấu tranh chính mình để sống, còn hai Oâng đã thoát ra sống sung sướng ở Mỹ rồi nên không ai có quyền đòi buộc hai Oâng phải đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam nữa,
Thậm chí hai Oâng có thể công khai nói với những phóng viên phỏng vấn như trường hợp phóng viên Đài truyền hình Thụy sĩ phỏng vấn nhóm mang Quốc tịch Việt Nam mà nói giọng chệt Chợ Lớn như chúng tôi đã kể ra trong Đoạn trên đây, rằng hai Oâng hiện nay đang sống sdung sướng an toàn tại xứ Mỹ, nên đã quên hẳn những đau khổ tại Việt Nam rồi và không còn nghĩ đến xứ đó nữa, và do đó không còn phải bận tâm thương xót cái dân xứ ấy nữa. Đới với lời tuyên bố như vậy của hai Oâng, chúng ta cũng không có quyền trách móc gì cho thái độ “qua sông đấm cò vào sóng“ của DB Trần Thái Văn và của Oâng Tổng Điều Hợp Ban Vận Động Tranh Cử Nguyễn Tấn Thọ.
=> Những điểm mà chúng ta chê trách DB Trần Thái Văn
Chúng tôi chê trách hai Oâng Trần Thái Văn và Nguyễn Tấn Thọ về hai điểm, đó là: (i) Cố tình đánh lừa dư luận để lợi dụng số đông người gốc Việt mà hạ bệ đối thủ là Bà Loretta SANCHEZ; (ii) Chủ trương hạ bệ người đang tận tình đấu tranh chống CSVN tại Quê Hương Việt Nam.
(i) Cố tình đánh lừa dư luận để lợi dụng số đông người gốc Việt mà hạ bệ đối thủ
Đọc bài phản biện của Oâng Nguyễn Tấn Thọ, chúng tôi thấy rằng Oâng cố tình giấu cái đầu, nhưng lại để hở cái đuôi ra cho người ta thấy. Oâng sợ cái quá khứ tận tình đấu tranh của Bà Loretta SANCHEZ, nên đã gượng gạo nêu những ý chí đấu tranh của DB Trần Thái Văn ra; Oâng sợ cái Quan điểm Đấu tranh cho Quốc nội mà hầu hết khối người Việt tỵ nạn còn chủ trương, nên cố tình nêu chủ trương củng cố địa vị người Việt, nhất là giới trẻ, tại xứ người để lấy phiếu của giới trẻ và giới làm ăn tại Nam Cali.
Khối người Việt tỵ nạn khắp nơi, từ các Tiểu Bang Hoa kỳ đến các nước khác như Canada, Aâu châu, Uùc châu, đều công nhận rằng Bà Loretta SANCHEZ đã tận tình đấu tranh trong nhiều năm trường cho Quê Hương Việt Nam. Chính Bà đã xả thân, không quản ngại hiểm nguy, về tận Việt Nam nhiều lần để trực diện đấu tranh với CSVN độc tài. Chính vì ngại sợ cái quá khứ tận tình đấu tranh ấy, nên Oâng Nguyễn Tấn Thọ đã cố tình viết giảm thiểu những hiệu quả của Bà Loretta SANCHEZ cho những vấn đề đấu tranh quan trọng, đồng thời cố moi móc đưa ra ca tụng những đấu tranh của DB Trần Thái Văn tại Tiểu Bang California cho những vấn đề ít liên hệ trực tiếp đến Quê Hương Việt Nam, thậm chí ca tụng cả việc DB Trần Thái Văn sang Thái Lan 2 lần cho vấn đề nhỏ của Oâng Lý Tống.
Không thể so sánh hai bình diện đấu tranh của hai người được, nhưng Oâng Nguyễn Tấn Thọ đã cố tình hoặc không ngay thẳng giảm thiểu Bà Loretta SANCHEZ về những đấu tranh quan trọng cho Quốc nội, đồng thời ca tụng tâng cao những đấu tranh của DB Trần Thái Văn về những điểm thuộc California không trực tiếp quan trọng cho Quê Hương Việt Nam.
Oâng Nguyễn Tấn Thọ cũng ráng làm cân bằng phần nào cho sự chênh lệc giữa hai người bằng cách đưa ra ý chí đấu tranh của DB Trần Thái Văn trong tương lai nếu Oâng được vào Quốcv Hội Hoa kỳ. Cái ý chí đấu tranh trong tương lai của DB Trần Thái Văn không thể đem ra làm cân bằng với cái đã thực hiện đấu tranh trong quá khứ của Bà Loretta SANCHEZ được. Cái ý chí của DB Trần Thái Văn cũng còn phải chịu điều kiện, nghĩa là nếu Oâng được bầu vào Quốc Hội. Chúng ta tin ở quá khứ thực hiện hay tin ở ý chí tương lai với điều kiện ?
Trong bài viết ngày 22.12.2009, chúng tôi đã nhấn mạnh rằng ngay cả trong tương lai đấu tranh của hai người:
* Tại Quốc Hội Hoa kỳ, tiếng nói đấu tranh cho Việt Nam của Bà Loretta SANCHEZ, một người không phải gốc Việt Nam, dễ được các Dân Biểu khác ủng hộ hơn là tiếng nói của DB Trần Thái Văn, gốc tỵ nạn Cộng sản từ Việt Nam;
* Cũng vậy, tại Việt Nam, Cộng sản ngại sợ việc lên tiếng đấu tranh của Bà Loretta SANCHEZ, đồng minh chiến đấu thuộc nước ngoài, hơn là việc lên tiếng của DB Trần Thái Văn mà CSVN sẽ cắt nghĩa đây là thái độ “quá khích“ chống Cộng của một người Việt Nam tỵ nạn.
* Điều quan trọng hơn cả là vấn đề về tại Việt Nam để trực diện đối đầu với độc tài CSVN. Bà Loretta SANCHEZ, người nước ngoài, không ngại sợ về vấn đề an ninh. Nhưng DB Trần Thái Văn, gốc Việt Nam, mang trong mình những yếu tố ngại sợ về an ninh trước những mưu kế ác độc của CSVN. Những yếu tố thiếu an ninh này cũng có thể là nguồn lo lắng cho chính những thánh phần Gia đình của DB Trần Thái Văn khi những thành phần này về thăm Quê Hương. Những yếu tố thiếu an ninh sẽ làm giảm ý chí đấu tranh của DB Trần Thái Văn vì Oâng và Gia đìnnh Oâng lệ thuộc vào việc về thăm Quê Hương Việt Nam. Người ta thường nói rằng muốn có Lập trường chống CSVN mạnh mẽ và dứt khoát thì phải quyết định không trở về Việt thăm Quê Hương khi CSVN còn nắm quyền.
Cũng trong bài phản biện viết ngày 22.12.2009, Oâng Nguyễn Tấn Thọ đã cố tình đánh lạc hướng đấu tranh của khối người gốc Việt tại Nam Cali, nhất là giới trẻ và giới kinh doanh tại chỗ. Oâng Nguyễn Tấn Thọ và Dân Biểu Trần Thái Văn biết rõ rệt rằng đại đa số khối người Việt tỵ nạn trên nước Mỹ và khắp 5 châu vẫn còn coi Quan Điểm đấu tranh cho Quê Hương Việt Nam là quan trọng chính yếu. Các Oâng cũng biết rõ rằnng 85 triệu người dân Quốc nội mong khối người Việt tỵ nạn chưa quên Đất Nước và đấu tranh chính yếu cho Quê Hương, chứ không phải chỉ ngày đêm tìm kiếm cách thế củng cố địa vị cá nhân và tiền bạc tại xứ người. Biết rõ như vậy, nhưng hai Oâng vì tham vọng địa vị cá nhân, đã cố tình ngụy biện đặt nhẹ vấn đề đấu tranh cho Quê Hương và chỉ hoàn toàn nhấn mạnh đến việc củng cố địa vị và tiền tại xứ người. Hai người đã chuyển hướng Quan điểm Đấu tranh. Họ nhằm vào số phiếu của giới trẻ và giới kinh doanh mang nhiều quyền lợi sống tại xứ người.
Vì cố tình lấy phiếu của giới trẻ và giới kinh doanh, Oâng Nguyễn Tấn Thọ đã ngụy biện chuyển hướng đấu tranh nhằm công danh tại Hải ngoại. Việc ngụy biện chuyển hướng này tạo một trọng tội đối với giới trẻ và giới kinh doanh, đó là làm cho họ quên Đất Nước và Dân tộc 85 triêu người Việt Nam, làm cho họ chỉ nghĩ đến địa vị và làm ăn tại nước ngoài, làm cho giới trẻ và giới kinh doanh giảm hẳng Lập trường chống độc tài CSVN, thậm chí khuyến khích họ về hợp tác với CSVN. Về phương diện này, có thể nói là Oâng Nguyễn Tấn Thọ và DB Trần Thái Văn hữu ý hay vô tình, ví quá ham địa vị cá nhân, mà đổi hướng đấu tranh giống như kế hoạch của Nghị Quyết 36.
(ii) Chủ trương hạ bệ người đang tận tình đấu tranh chống CSVN tại Quê Hương Việt Nam.
Khối người Việt tỵ nạn tại khắp 5 Châu hướng chính yếu cuộc đấu tranh vào việc giải phóng Quê Hương khỏi tay ngụy quyền độc tài CSVN. Với chủ trương đấu tranh như vậy, khối người Việt tỵ nạn có những đồng minh nước ngoài đồng hành đấu tranh với mình cùng trong một chủ trương.
Về mặt chủ trương, DB Trần Thái Văn và Oâng Nguyễn Tần Thọ đã chuyển hướng đấu tranh, cố tình tuyên truyền để người Việt Hải ngoại quên dần cuộc đấu tranh cho Đất Nước. Đây là cái lỗi cố tình phản bội lại Chủ trương đấu tranh của cà Khối người Việt tỵ nạn.
Về mặt thực tiễn trên đường đấu tranh, Khối người Việt tỵ nạn và 85 triệu Dân Quốc nội phải có nhiệm vụ bảo vệ tất cả những ai là đồng minh chiến hữu trong mục đích đấu tranh của mình. Hạ bệ Bà Loretta SANCHEZ, tức là hạ bệ một đồng minh nước ngoài đã tận tình đồng hành với những người chống CSVN. Khối người Việt tỵ nạn chống Cộng có bổn phận bảo vệ Bà Loretta SANCHEZ, một đồng minh chiến hữu cùng đồng hành. Oâng Nguyễn Tấn Thọ và Ban Vận Động Tranh Cử đã phạm một lỗi lầm là đã đưa DB Trần Thái Văn ra cùng một Đơn Vị 47 nhằm triệt hạ Bà Loretta SANCHEZ, một người chống CSVN triệt để và là chiến hữu tận tình cùng đồng hành với chúng ta.
Đây là cái lỗi lầm hiển nhiên là có dụng mưu hạ sát một chiến hữu cùng đồng hành đấu tranh. Đây là tội phản bội chiến hữu.
Trách nhiệm Nam Cali, Thủ đô người Việt Hải ngoại
Những người Việt tỵ nạn khắp Thế giới đều coi Nam Cali với Little SAIGON là Thủ Đô của người Việt Hải ngoại. Dân chúng Quốc nội 85 triệu và chúng tôi, những người Việt ở xa Thủ đô tỵ nạn ấy, trông ngóng quyết định của khối người Việt tại Thủ đô. Họ có theo lời nguỵ biện của DB Trần Thái Văn và Oâng Nguyễn Tấn Thọ, vì tham vọng thăng quan tiến chức cá nhân, mà quyết định bằng lá phiếu:
=> Coi nhẹ hay quên đi mục đích đấu tranh chống độc tài CSVN để giải phóng Quê Hương, để chỉ chú tâm đấu tranh củng cố địa vị và tiền tài tại xứ người.
=> Làm cho giới trẻ và giới kinh doanh quên đi bổn phận và trách nhiệm đối với Quê Hương VN đau khổ, thậm chí còn hợp tác với CSVN theo chủ trương của Nghị Quyết 36.
=> Làm công việc phản bội lại những chiến hữu đồng minh nước ngoài cùng đồng hành trong công cuộc giải phóng Quê Hương.
Khối người Việt tỵ nạn Hải ngoại và 85 triệu Dân Quốc nội nhìn vào quyết định của người Việt ở tại Nam Cali, Thủ đô người Việt Hải ngoại.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 15:
NHẬP SIÊU TĂNG DÙ NGÂN SÁCH THIẾU HỤT, QUYẾT ĐỊNH DỰ ÁN DÙ VỠ NỢ NGUY NGẬP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 24.12.2009
Bài ngắn gọn này đi liền với bài CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH: MỘT BỘ MÁY THAM NHŨNG MỌI CẤP mà chúng tôi đăng lại liền dưới đây.
Trong khi cán cân thương mại mất cân bằng, ngân sách thiếu hụt trầm trọng mà những Tổng Công ty Nhà Nước cứ tăng ào ào nhập siêu. Cũng vậy, thẩm định Quốc tế xếp Việt Nam vào nước có nguy cơ vỡ nợ lớn, thế mà những Dự án Công nghệ và Xây cất cứ được quyết định liên tục và dễ dàng.
Giới Chuyên gia Kinh tế tại Việt Nam đồng thanh lên tiếng rằng 75% dân chúng sống về nông nghiệp, ngư nghiệp lại không được vốn đầu tư của Nhà Nước để ý tới. Nhà Nước giữ quyền chính yếu xuất cảng gạo mà không lưu ý đầu tư để nông dân mất mát khỏang 30% những thu họach mùa màng. Đồng thời những Tổng Công ty vật tư Nông Nghiệp lại giữ “quotas” quan trọng và nhập cảng phân đạm. Nhà Nước cũng không dự trù những Ngân khỏan để hỗ trợ giá cả nông sản khiến nông dân dễ bị ém giá gạo mỗi khi được mùa. Tệ hơn nữa, người ta còn thấy tại các tỉnh, đất đai trồng cấy của nông dân còn bị trưng dụng để làm khu chế xuất cho ngọai quốc thuê hay làm những sân golf, khu giải trí ăn chơi phục vụ khách nước ngòai.
Lý do nào làm động lực cho những tình trạng vừa kể ra trên đây ?
Lý do chính yếu để cắt nghĩa là những Công ty, Tổng Công ty Nhà Nước chỉ lưu ý đến những sinh họat Kinh tế mà họ có thể làm THAM NHŨNG dễ dàng và mau chóng được. Thực vậy:
=> Đối với ngành Nông nghiệp và Ngư nghiệp, những người giữ quyền của Nhà Nước khó lòng ăn tham nhũng đối với nông dân và ngư dân, nên những Dự án đầu tư vào Nông nghiệp và Ngư nghiệp ít được để ý tới. Trừ trường hợp nhập cảng phân đạm, thì những Tổng Công ty Nhà Nước dành giữ lấy quotas để mua với giá cao và được những Công ty bán phân đạm nước ngòai trích ra một phần trên giá cao ấy thưởng công cho người mua. Chính tôi còn giữ hồ sơ về tham nhũng của Tổng giám đốc Khánh của Tổng Công ty Vật tư Nông nghiệp tại Hà Nội khi ông ăn cánh với Công ty SINGA UNIVERSAL Singapore để tăng giá mua phân đạm Urea N.46%.
=> Khi mua hàng từ nước ngòai, thì đây là dịp có thể tham nhũng. Chính vì vậy dù Việt Nam thiếu Ngân sách, mất cân bằng trầm trọng về cán cân mậu dịch, mà nhập siêu vẫn tăng đều đều. Phải có nhập siêu, thì mới có dịp tham nhũng. Tôi thường nhắc lại câu nói của Phạm Văn Đồng:”Những gì nước khác không làm được, thì nước ta làm được”. Về Kinh tế tại các nước khác, người bán muốn bán giá cao và người mua nài nỉ giá thấp. Nhưng đối với Việt Nam, người mua làm ngược lại, đó là người mua lại muốn mua giá cao.
=> Tại Việt Nam, những Dự án từ trung ương đến các tỉnh được đưa ra ào ào. Có những người chỉ biết số vốn tiếng Anh, cũng có thể làm nghề viết Dự án kiếm ăn được. Trong thời gian làm Đại diện cho một Tập đòan Tài chánh Hoa kỳ, trụ sở tại Zurich, tôi đã nhận được không biết bao nhiêu Dự án. Có cả Dự án nuôi đà điểu tại Đồng bằng Sông Cửu Long để lấy thịt. Người viết Dự án có lẽ tưởng đà điểu giống như con vịt, nên cho nó xuống đồng bằng sông Cửu Long để lội nước hoặc lội bùn lầy. Có Dự án nuôi hươu lấy sừng tại Nghệ An. Có Dự án nuôi Kangourou do một Kiều bào ở Uùc mách nước cho tỉnh Bình Tuy. Phải có Dự án và dùng sự quen thân trong đảng để quyết định. Không có Dự án, thì làm thế nào ăn bẩn được. Một lần, tôi đã nói với Tiến sĩ Phùng Khắc Kế, hồi ấy là Giám đốc Tín dụng tại Ngân Hàng Nhà Nước, rằng nếu Ngân Hàng Nhà Nước cứ làm tái Bảo Lãnh cho các Ngân Hàng khác, thì Ngân Hàng Nhà Nước sẽ vỡ nợ. Oâng nói:”Người Chủ Dự án đến chỉ thẳng vào mặt tôi và nói rằng ông ta đã là đồng đội đánh trận sống chế cùng với bố của tôi”. Nhà Nước biết sẽ có cắt xén tham nhũng, nhưng Nhà Nước chấp nhận Dự án để thưởng công bằng tham nhũng. Tham nhũng trở thành một chủ trương của Nhà Nước CSVN.
=> Ngày nay, những Dự án lại được dâng cho Trung Cộng. Trung Cộng chủ trương mua những Dự án để xuất cảng thiết bị cũ, vật liêu xây dựng và nhân công của họ sang Việt Nam cũng như các nước khác, nhất là những nước Phi châu. Họ cho đồng tiền hối lộ đi trước để mua Dự án.
Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành, với độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế, là một Cơ Chế cho phép THAM NHŨNG. Những đảng viên lấy vốn của Nhà Nước gọi là để làm Kinh tế, nhưng trước tiên là nghĩ kế cắt xén vốn đó cho túi riêng của mình . Không thể phát triển Kinh tế thực sự với Cơ chế này được.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 14:
CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH: MỘT BỘ MÁY THAM NHŨNG MỌI CẤP
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 17.12.2009
Chúng tôi luôn luôn viết rằng diệt THAM NHŨNG không phải là đi tìm diệt cá nhân, nhưng là lọai trừ những hòan cảnh để cái mầm tham nhũng sẵn có ở trong mỗi người có cơ hội phát triển. Chúng tôi ví tham nhũng là một trứng trùng nằm sẵn trong mỗi người. Ở trong hòan cảnh không thuận lợi thì trứng không nở ra và lớn lên. Nhưng khi gặp hòan cảnh thuận tiện, thì nó nở thành trùng và lớn lên. Vì vậy, diệt THAM NHŨNG là lọai bỏ cái môi trường thuận lợi để trứng sinh ra trùng và lớn lên được.
Hiện nay, ai cũng than phiền rằng THAM NHŨNG nhan nhản, nghĩa là trứng trùng tham nhũng đã nở thành con và lớn lên, sinh thêm con cái từng đàn nhung nhúc. Chính vì vậy mà Nguyễn Tấn Dũng mới hô hào diệt tham nhũng. Cách diệt tham nhũng là đi bắt từng con trùng trong khi ấy để yên lành cái hòan cảnh, cái khỏang đất tốt để trùng ẩn tránh, để trứng tham nhũng vẫn sinh ra thêm trùng và lớn lên.
Tham nhũng đầy đàn
Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.”
Phóng viên Hải Châu, ngày thứ Tư 16.12.2009, đã tả những nguy hiểm của người tố cáo tham nhũng như những trường hợp sau đây:
=> Người tố cáo tham nhũng thường phải chấp nhận cuộc đối đầu không cân sức với kẻ tham nhũng và các thế lực chìm, nổi - nhận định của Phó chánh văn phòng Ban chỉ đạo TƯ phòng chống tham nhũng Lê Mạnh Luân.
=> “Tôi là người trực tiếp tố cáo vụ việc tiêu cực nhưng thấy quá đơn độc". Đó là lời bộc bạch của ông Lê Phước Cẩm (xã Quế Trung, huyện Quế Sơn, Quảng Nam) tại hội nghị biểu dương 29 cá nhân ở các ngành, địa phương trong cả nước có thành tích phòng chống tham nhũng do Ban chỉ đạo TƯ phòng chống tham nhũng tổ chức ngày 15/12 tại Đà Nẵng.
=> Ông Cẩm kể, từ khi ông lên tiếng tố cáo vụ phá rừng Khe Diên, không đêm nào ông ngủ yên. "Trùm phá rừng Sáu Ngọc và bọn tiêu cực, tham nhũng dọa giết tôi cùng người thân, trong khi gia đình tôi nghèo, vợ đau cột sống, con bị chất độc da cam nằm một chỗ. Tôi được biết từ ngày 14/12, vụ án được xét xử sơ thẩm lại lần 2. Tôi mong muốn tòa án làm rõ ai cho chủ trương, ai phá rừng, ai tiếp tay, tại sao chính quyền biết mà vẫn làm ngơ”.
=> Theo ông Lê Mạnh Luân, Phó chánh văn phòng Ban chỉ đạo, thực tế cho thấy, người tham nhũng thường có chức vụ, quyền hạn, có vị thế xã hội cao, quan hệ xã hội rộng rãi, có tiềm lực vật chất và có nhiều thủ đoạn từ né tránh, đánh chìm sự việc đến tổ chức lực lượng chống trả tinh vi, quyết liệt và các thủ đoạn chạy tội, chạy án. Đặc biệt, hình thức trả thù của những kẻ tham nhũng cũng rất tinh vi, không phải chỉ trước mắt mà còn lâu dài.
Không thể diệt Tham nhũng bằng bắt từng con trùng
Khi trứng trùng Tham nhũng gặp đất tốt nở thành con và lớn lên sinh thêm con cháu đầy đàn, thì việc chống tham nhũng không còn là việc đi bới tìm từng con trùng nữa. Người đi bới trùng có thể bị đàn trùng quá đông xúm vào cắn chết. Ngay tại các Phòng chống Tham nhũng, những người điều hành có thể chính là những con trùng tham nhũng rồi. Ai dám tin tưởng mà hợp tác với họ để tìm trùng tham nhũng.
Đám trùng tham nhũng đông nhung nhúc ! Làm thế nào bắt từng con được.
Vị Giáo sư người Nhật đã tả rất đúng khi so sánh Cơ chế CSVN là một cái bộ máy gồm bánh xe lớn, bánh xe nhỏ, đinh ốc lớn, đinh ốc nhỏ chằng chịt. Bánh xe, Đinh ốc lớn nhỏ đều phải có dầu nhớt, thì Bộ máy mới có thể chạy được. Chúng tôi thì ví cái Cơ chế CSVN này là một cái vườn phì nhiêu làm điều kiện cho trứng trùng tham nhũng nở thành con, lớn lên và sinh con cháu đầy đàn. Có thể ví cái Cơ chế CSVN như một đống phân để trứng ruồi mới có thể nở thành giòi, thành ruồi... rồi đẻ trứng thêm.
Diệt tham nhũng ở đây không còn là đi sửa từng bánh xe, đinh ốc lớn nhỏ của cái máy, cũng không không phải là đi bắt từng con trùng ở cái vườn quá tốt cho chúng sinh thêm, cũng không phải là đi nhặt ra giết từng con giòi của đống phân.
Diệt Tham nhũng là thiêu hủy cả cái Máy, là đốt cái Vườn làm cơ hội sinh đầy trùng, là hốt đống Phân là chỗ sinh đầy giòi
Cái Cơ chế CSVN đã tạo một vùng đất tốt để làm hòan cảnh sinh nở ra đầy tràn trùng tham nhũng. Không thể bắt từng con, không thể chỉ đi tìm những cá nhân tham nhũng, mà phải phá hủy cái vùng đất làm hòan cảnh cho cá nhân trở thành trùng tham nhũng. Không có cách nào hơn.
Một Thánh nhân, dù có tu luyện diệt dục lâu năm, mà chưa trở thành họan quan, thì cái mầm dục vẫn nằm trong bụng vị Thánh nhân ấy. Nếu nhốt chung Thánh nhân trong một phòng tối tăm với một mỹ nữ khỏa thân, thì cái mầm dục có thể được hòan cảnh mà lớn lên đến lúc Thánh nhân cầm không được. Một cá nhân để ngồi cạnh đống vàng. Cá nhân đó lại có tòan quyền dộc tài bịt miệng mọi người, thì cá nhân ấy có hòan cảnh nhặt những thỏi vàng bỏ vào túi mình làm của riêng.
Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành là cái Máy mà những bánh xe, đinh ốc lớn nhỏ đều cần dầu nhớt hàng ngày để khỏi bị cháy. Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành là cái Khu Vườn tốt đã làm hòan cảnh sinh đầy trùng tham nhũng. Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành là bãi Phân mà giòi tham nhũng đang lúc nhúc đục khóet.
Đúng vậy, Cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành chủ trương cho ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm trọn ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Đó là định nghĩa đích thực của Cơ Chế. ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ cho phép người tham nhũng bịt miệng, nhốt tù tất cả những ai dám đi chỉ điểm những con trùng tham nhũng sinh ra từ Cơ Chế. ĐỘC QUYỀN KINH KẾ là cho phép những người nắm độc tài Chính trị giữ đống Vàng của Quốc gia.
Nắm giữ hai quyền như vậy, thì làm thế nào không có tham nhũng phát sinh được. Nhặt đi từng tên tham nhũng mà Cơ Chế hiện hành vẫn nằm đó, thì trứng trùng tham nhũng vẫn nở thành con, rồi sinh ra từng đàn tham nhũng nữa.
Phải tận diệt cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành đã tạo điều kiện phát sinh tham nhũng từ trên xuống dưới lúc này và nếu CƠ CHẾ vẫn tồn tại thì Kinh tế Việt Nam sẽ khó lòng phát triển vì bầy trùng tham nhũng vẫn tiếp tục nẩy sinh để gậm nhấm ruỗng nền Kinh tế.
Đây không phải là đòi hỏi Chính trị mà là đòi hỏi cho phát triển Kinh tế Việt Nam.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 17.12.2009
| | | |
BỨC TƯỜNG BÁ LINH: HAI BÀI HỌC ĐÚNG CHO VIỆT NAM LÚC NÀY
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 10.12.2009
Cách đây 20 năm, chúng tôi đã ghi lại Thông Tin từ các Đài Truyền Hình về việc sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Liên Xô và những nước Đông Aâu. Tổng cộng gồm 22 cuốn phim video, mỗi cuốn dài 3 tiếng đồng hồ. Chúng tôi còn nhớ rằng cuốn phim về sụp đổ của Roumanie và cái chết của Ceausescu được tôi ghi thêm cắt nghĩa bằng tiếng Việt và được chuyển về cho một Đại học ở Việt Nam. Nếu cách đây 20 năm, tôi chỉ nhìn hình ảnh những biến cố xẩy ra mà không có những tìm hiểu vào chiều sâu hơn, thì ngày nay qua những tóm tắt, bình luận của các Đài Truyền Hình và qua chính những trả lời của GORBATCHEV, tôi có dịp suy nghĩ về những bài học có thể rút ra từ những biến cố của việc sụp đổ cả một chế độ Cộng sản. Tôi muốn ghi lại những bài học ấy mong giúp ích cho cuộc đấu tranh hiện nay tại Quê Hương Việt Nam.
Chúng tôi thấy hai Bài học sau đây rất đúng cho Việt Nam ở thời điểm này:
=> Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO
Thái độ tích cực yểm trợ của Giáo Hòang Gioan-Phalô II cho CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT tại Ba Lan được coi là yếu tố tiên phong gián tiếp cho tranh đấu đánh sập Bức tường Bá Linh. Hai Nhà Thờ tại Đông Bá Linh là nơi quy tụ cầu nguyện đấu tranh trực tiếp cho sụp đổ Bức tường năm 1989.
Tại Việt Nam lúc này, cao trào đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH đã đứng lên mạnh tại Hà Nội (Tòa Khâm sứ và Xứ Thái Hà), tại Vinh (Tam Tòa). CSVN đang sợ hãi sự lớn mạnh này.
=> Bài học 2: TỪ TÌNH TRẠNG KINH TẾ KIỆT QUỆ ĐẾN THA HÓA XÃ HỘI
Tình trạng Kinh tế tồi tệ đưa đến Tha hóa Xã hội tại Nga vào những năm 1985 khi GORBATCHEV lên nắm quyền đã đến lúc chín mùi, là một định mệnh cho sụp đổ của Chế độ Cộng sản. Tuyên bố GLASNOST và PERESTROIKA của GORBATCHEV như cải cách mong níu lại hình thức một chế độ đã đưa đến hậu quả Kinh tế tồi tệ và Xã hội tha hóa cực điểm cũng không thể tránh được sụp đổ đến như một định mệnh. Nga không còn đủ sức can thiệp vào những nổi dậy của các nước Đông Aâu nữa và đây là chìa khóa cho sụp đổ Bức tường Bá Linh cũng như các nước Đông Aâu chỉ trong vòng hơn một năm.
Tại Việt Nam, trong thời điểm này, Luật sư TRẦN LÂM, , nguyên Thẩm phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm, đã viết một bài dài dưới đầu đề “SỰ THAY ĐỔI ĐÃ ĐẾN GẦN“, tả ra tình trạng yếu kém Kinh tế, tệ nạn tha hóa Xã hội để Luật sư dám nói rằng sự thay đổi đã đến gần. Một Gíao sư người Nhật nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam đã nói rằng: “Các bạn tưởng tượng toàn bộ bây giờ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng, hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy.” Tình trạng tham nhũng lan tràn này ở Việt Nam giống như ở thời kỳ Gorbatchev phải than rằng tham nhũng của công chức đến chỗ nhận một ly rượu Vodka.
Bài học 1: BÀI HỌC TÔN GIÁO Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 12.11.2009
Đức Tin Tôn Giáo, nơi tụ họp cầu nguyện và sự cứng rắn của Giáo quyền thực sự đã góp phần rất lớn trong việc làm sụp đổ Cộng sản trong những năm 1989-91. Những đóng góp này hòan tòan thuộc phạm vi bổn phận Công dân trước những độc ác tội lỗi đang chồng chất lên xã hội, cho những người sống quanh mình và cho chính bản thân mình. Đây là vấn đề tự vệ cho mình và hợp tác với những người đồng cảnh ngộ để tự vệ tập thể cho có hiệu lực hơn. Đây không phải là việc làm Chính trị mà là quyền tự vệ cho cuộc sống.
Cuộc đấu tranh của Công đòan ĐÒAN KẾT Ba-Lan
Hai khách mời quan trọng hơn cả trong Lễ kỷ niệm 20 năm Bức tường Bá Linh là GORBATCHEV và WALESA, luôn luôn cùng đi bên cạnh với Bà MERKEL. Oâng Lech WALESA được coi là tiên phong đóng góp làm sụp đổ chế độ Cộng sản. Chính vì vậy cuộc Lễ Kỷ Niệm đã dành cho Oâng vinh dự đẩy Domino đầu tiên làm sụp đổ Bức tường tượng trưng bằng 1'000 chiếc Dominos. Oâng và Công đòan ĐÒAN KẾT mang một Đức Tin Công giáo vững mạnh luôn được cổ võ công khai bởi chính Đức Giáo Hòang Gioan-Phaolô II. Khi thăm Ba Lan và gặp gỡ WALESA cũng như Công Đòan, Đức Giáo Hòang thẳng thắn khuyên mọi người:“Các con đừng sợ và hãy can đảm tiến tới“. Tờ LE MONDE thứ Ba 10.11.2009 đã bình luận:“Jean-Paul II, une participation active et heroique à la lutte“ (Gioan-Phaolô II, một sự tham dự tích cực và anh hùng cho cuộc đấu tranh). Ngày 22.01.2002, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, qua 26 Giám Mục Việt Nam trước mặt Ngài tại Vatican, đã gửi cũng những lời cổ võ “đừng sợ hãi nữa“, “hãy can đảm đứng lên tiến ra khơi“ đến tất cả các Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và tòan Giáo dân Việt Nam. Đây là lời cổ võ chính đáng cho sự thiện. Nếu lúc này, vì những mưu mô xảo quyệt trao đổi ngọai giao trần thế của CSVN, mà Đức Giáo Hòang đương kim hay một Hồng Y nào ở Vatican tìm cách làm nhụt chí đấu tranh của Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ và Giáo dân Việt Nam, thì đó là việc làm giảm Đức Tin Tôn Giáo và đánh lạc hướng Lương tâm của Tín hữu, nếu không muốn kết luận rằng đây là việc chủ mưu tòng phạm với quân Pharisiêu CSVN nhằm tiếp tục gây tội ác không những cho Giáo dân VN nói riêng mà còn cả cho Dân tộc VN nói chung.
Tinh thần Tôn Giáo nơi GORBATCHEV
Trong thời gian học Đại học Luật tại Mạc Tư Khoa, Gorbatchev luôn luôn chơi thân với một người bạn đến học từ Prague, tên là MLYNAR, cùng học Luật. Vợ của người bạn này là bạn gái cùng phòng với RAISSA. Chính vì mối quan hệ này mà RAISSA trở thành vợ của GORBATCHEV. Khi học xong tại Mạc Tư Khoa, MLYNAR trở về Prague và vào được Bộ Chính trị. Nhưng sau này Oâng theo Phong trào Mùa Xuân Prague và bị mất chức. MLYNAR đã viết về tinh thần Tôn giáo (Chính thống giáo) của Gia đình Gorbatchev. Oâng nội và cha của Gorbatchev âm thầm sùng đạo, mặc dầu cũng là những người theo STALINE. Thời Staline rất khắt khe và nguy hiểm về Tôn giáo. Nhưng theo tiết lộ của Gorbatchev cho bạn của mình, thì Gia đình đã dấu Hình Đức Mẹ ở đàng sau hình của Staline để lén lút cầu nguyện. Tinh thần Tôn giáo của Gia đình đã ảnh hưởng lên tinh thần của Gorbatchev. (Tài liệu: MIKHAIL S.GORBATCHEV by David Kings, Xuất bản Time Incorporated N.York 1988).
Hai Nhà Thờ tại Bá Linh: Nơi tụ họp thường xuyên đấu tranh
Hai Nhà Thờ đó là Nhà Thờ GETHSEMANI và Nhà Thờ ST.NICOLAS. Trong năm 1989, cả hai Nhà Thờ là nơi họp lại thường xuyên của những Tín hữu dấn thân trong tinh thần đấu tranh cho những giá trị mà Lương tâm đã được thấm nhuần.
Mở đầu ngày KỶ NIỆM 20 NĂM BỨC TƯỜNG BÁ LINH SỤP ĐỔ, buổi sáng sớm 09.11.2009, Bà Thủ tướng Angela MERKEL cùng các quan khách đã đến Nhà Thờ GETHSEMANI để dự Lễ Nghi Tôn Giáo kỷ niệm. Việc khởi đầu Ngày Kỷ Niệm bằng một LỄ NGHI TÔN GIÁO chứng tỏ tầm quan trọng đóng góp của Nhà Thờ này vào sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh.
Nhà Thờ GETHSEMANI do Mục sư Bernd ALBANI chủ trì. Tín hữu đến đây để thường xuyên và định kỳ cầu nguyện cho Hòa Bình. Các buổi cầu nguyện luôn luôn được kết thúc bằng bài ca “DONNA NOBIS PACEM“ XIN CHO CHÚNG TÔI HÒA BÌNH. Gerhard SCHONE là một Ca sĩ rất được biết tới tại Đông Đức. Oâng là người đã thường xuyên đến hát tại Nhà Thờ GETHSEMANI trong những buổi họp cầu nguyện. Ngày nay, hỏi lại Oâng tại sao hồi ấy ông có dịp sang Tây Bá Linh mà ông vẫn ở lại. Oâng trả lời rằng hồi ấy tôi cảm thấy những người đến Nhà Thờ tụ họp đấu tranh cần tiếng hát của tôi để giữ vững tinh thần, nên tôi không ra đi trước được.
Nhà Thờ ST.NICOLAS do Mục sư Christian FUHRER chủ trì. Đến Nhà Thờ này, phần đông là giới trẻ mang tinh thần đấu tranh sôi động hơn. Thường xuyên đến Nhà Thờ này là Nhạc sĩ Matthias KREHER để chơi nhạc trong những cuộc hội họp. Theo Mục sư Christian FUHRER, thì tại Nhà Thờ này đã có những cuộc họp định kỳ mỗi tuần ngày Thứ Hai từ năm 1982 để cầu nguyện đấu tranh cho những giá trị tinh thần. Năm 1989, tháng 10, từ Nhà Thờ, giới Thanh niên đã căng Biểu Ngữ và tiến ra ngòai phạm vi Nhà Thờ để diễn hành. Công an đã can thiệp bằng cách giật và xé Biểu Ngữ. Hành động này của Công an đã được ghi hình và phổ biến trên Truyền Hình Tây Đức. Thế là cả Đông Đức và Tây Đức, dân chúng biết đến việc đàn áp bằng bạo động của Công an. Chính Nhà Nước đã làm tăng thêm Phong trào người dân đứng dậy, kéo càng đông đến Nhà Thờ.
Ngày nay, phỏng vấn những nhân viên STASI về hai Nhà Thờ, họ đều công nhận đã được lệnh kiểm sóat, lấy hình, thâu phim những nhóm đến hai Nhà Thờ GETHSEMANI và ST.NICOLAS. Điều làm họ ngạc nhiên là họ hiểu Tín hữu biết rõ có việc kiểm sóat, thu hình của STASI, nhưng những người đến hai Nhà Thờ dường như không sợ hãi gì và đến Nhà Thờ như một nhu cầu để biết thông tin và truyền thông cho nhau tâm tình và ý chí đấu tranh.
Tại Việt Nam ngày nay, chúng ta nghĩ đến những cuộc tụ họp cầu nguyện tại Khuôn viên Tòa Khâm sứ, tại Thái Hà, tại Tam Tòa. Những Tín hữu đến cầu nguyện bị đe dọa, bị thâu hình, bị đàn áp bằng võ lực thực sự của Công an. Nhưng Tín hữu đã không sợ hãi, kéo đến mỗi ngày mỗi đông. Phong trào Hiệp Thông cầu nguyện mỗi ngày mỗi lan rộng. Đây là những cuộc tụ họp đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH rất chính đáng. Hồng Y Quốc Vụ Khanh từ Vatican đã một lần can thiệp và bị quân Pharisiêu CSVN phản bội. Đây là một việc can thiệp lỗi lầm. Quân Pharisiêu CSVN còn đang muốn gian giảo tìm cách trao đổi ngọai giao trần thế với Vatican để nhằm phá đổ ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM cho sự thiện của Công giáo Việt Nam. Vatican không thể để mình bị lừa gạt nữa.
Bài học 2: TỪ TÌNH TRẠNG KINH TẾ KIỆT QUỆ ĐẾN THA HÓA XÃ HỘI Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 19.11.2009
Khi nói lý do KINH TẾ là ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ Cộng sản Nga, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hai khía cạnh:
* Một số những bài viết nói đến lý do dân chúng đấu tranh cho Tự do, Dân chủ như là yếu tố chính làm sụp đổ chế độ Cộng sản Nga và Đông Aâu. Đối với quan điểm của chúng tôi, cái nhìn đưa về tình trạng KINH TẾ tồi tệ, một thất bại của chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy, là lý do căn bản đạp đổ Cộng sản.
* Việc sụp đổ Cộng sản là một ĐỊNH MỆNH, nghĩa là đây không phải là ý chí cải cách của chính cá nhân GORBATCHEV. Nó là Định Mệnh phải xẩy ra, cho dù chính Gorbatchev muốn cản cũng không được.
Tình trạng Kinh tế tồi tàn của Nga Khi GORBATCHEV lên nắm quyền
Những tài liệu mà chúng tôi lấy để viết bài học này là từ cuốn MIKHAIL S.GORBATCHEV do Tác giả David KINGS, xuất bản năm 1988 do Time Incorporated N.York, được dịch ra Pháp ngữ dưới tựa đề MIKHAIL GORBATCHEV, BIOGRAPHIE INTIME.
Gorbatchev sinh ngày 02 tháng 3 năm 1931 tại làng nhỏ Privolnoie thuộc vùng Stavropol, một vùng nông nghiệp phía Nam Liên xô. Học hành thời nhỏ không có gì xuất sắc, nhưng nhờ tận tâm họat động trong đòan Thanh niên Cộng sản, nên ông được khen thưởng và được giới thiệu lên Mạc Tư Khoa học Đại học. Oâng muốn học ngành Kỷ thuật Vật lý, nhưng vì yếu môn Tóan, nên buộc phải được chỉ định học Đại học Luật. Đây là Đại học ít Sinh viên nhất vì Luật pháp dưới thời Staline không có ý nghĩa gì. Xong Đại học Luật, Oâng trở về tỉnh và trở thành Bí thư đảng của tỉnh. Sau 20 năm chỉ ở tỉnh đồng quê canh nông này, tên ông được lưu ý đến và được gọi về Thủ đô Mạc Tư Khoa. Việc thăng tiến tới chức vụ lớn nhất trong đảng Cộng sản Nga cũng không phải là do công lao của ông, mà chỉ là sự run rủi ngẫu nhiên của thời thế mà chính ông không chủ động. Thực vậy, thuộc Tỉnh ông, có những suối nước nóng, nơi mà các Lãnh tụ già yếu, mang phong thấp đau mình nhức xương của đảng đến vùng đó tắm chữa bệnh. Từ đó, những Lãnh tụ già yếu này biết đến tên ông và sau này nhớ lại sự chăm sóc chữa bệnh của ông mà gọi ông về Mạc Tư Khoa.
Sau khi Brejnev chết, cánh Lãnh tụ già nối nhau đứng đầu đảng. Vì già, Andropov cũng chỉ được 18 tháng thì chết. Một ông già khác Tchernenko cũng chỉ nắm quyền đảng được mấy tháng thì chết. Trong Bộ Chính trị, chỉ có Gorbatchev là còn sung sức, nhờ tuổi trẻ và nhờ không uống Vodka. Có những Lãnh tụ già phải nhờ vịn vào vai của Gorbatchev mới có thể đi tham dự đám táng nhau được.
Sau cái chết của Tchernenko, Đảng Cộng sản Nga thấy rằng không thể chọn các cụ già gần đất xa trời lên đứng đầu đảng để vừa tổ chức đăng quang quyền hành xong, đã phải nghĩ đến tổ chức đám táng. Các cụ quyết định chọn một người trẻ để đỡ phải lập bập đọc những điếu văn liên hồi. Mikhail GORBATCHEV được chọn lên nắm quyền từ năm 1985.
Khi lên nắm quyền, Gorbatchev đứng trước một tình trạng xã hội hòan tòan đồi tệ, một tình trạng Kinh tế của đế quốc vô sản hòan tòan thiếu thốn thực sự. Theo Lý thuyết của Mác-Lê, thì tình trạng vô sản này như một ĐỊNH MỆNH phải đứng lên làm Cách Mạng nữa.
Oâng Andrei GRETCHEV, cố vấn Chính trị của Gorbatchev đã phải tuyên bố rằng tình trạng suy thóai tận cùng Kinh tế, sự đồi trụy của xã hội và tình trạng ươn hèn của đảng viên đã buộc Gorbatchev phải phất cờ trắng xin hàng với Thế giới Tự do trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Hậu quả tàn khốc của vụ Chernobyl lan tràn. Chiến tranh tốn kém tại Afghanistan không thể chịu đựng được nữa. Nga không những không còn sức chạy đua binh bị, không còn phương tiện giữ 500'000 lính canh chừng chế độ tại những nước chư hầu Đông Aâu và không thể tài trợ để giữ những cơ sở Ngọai giao và nuôi những nhân viên vừa ngọai giao vừa gián điệp khắp Thế giới.
Giới công nhân trong guồng máy Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã lưu truyền câu nói:“Ils font semblant de nous payer, on fait semblant de travailler“ (Chúng (nhà nước) làm giống như trả tiền lương, người ta cũng làm giống như có làm việc), nghĩa là họ không trả tiền thì mình cũng không làm việc. David KINGS, trong cuốn sách trích dẫn trên đây, đã tả tình trạng bại họai của những công chức nhà nước như sau: Tất cả mọi người, từ ngưới gác cổng đến Bộ trưởng, đều phải ăn hối lộ nhỏ lớn. Ngay cả những Huy chương cũng đem ra đổi lấy một lượng xúc xích (saucisses) để ăn. (Même les décorations de guerre pouvaient s’échanger contre la quantité de saucisses (Ngay cả những Huy chương chiến chanh cũng có thể đem ra đổi lấy một số lượng xúc xích để ăn) (Sách đã trích dẫn MIKHAIL GORBATCHEV, trang 154)
Tình trạng thê thảm Kinh tế này cảng đẩy mạnh mọi người vào say sưa Vodka, vào ma túy, vào ly dị, đĩ điếm. Một câu khuyên rằng nếu muốn kêu thợ đến sửa điện, thì đừng kêu họ đến lúc sau trưa vì họ có thể làm cháy nhà vì đã say khướt rượu từ buổi sáng rồi.
Sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, chính bản thân tôi đã sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến tận mắt cảnh nghèo khó Kinh tế của Thủ đô quyền lực độc tài này. Tôi đã đến và ăn Phở trong chính Đôm 5 cũ, Tòa nhà Viện Hàn Lâm Khoa học, ngày nay vì nghèo quá, những phòng được phá thủng để bán chạp phô, mở tiệm phở. Tôi đã thăm Đôm 5 mới, tại đây tôi đã được ăn thịt chó (chó Berger KGB) lần đầu tiên từ khi rời Việt Nam năm 1965. Tôi đã có một Huy chương Lénine mang số rất nhỏ 2530, nghĩa là gần kề với Lénine bằng cách đổi chác kiểu saucisses như trên. Việt Nam có 3 Huy chương Lénine: Hồ Chí Minh, Lê Duẫn và Nguyễn Phúc Liên. Số Huy chương của tôi nhỏ, như vậy chắc Huy chương của tôi cao hơn Hồ Chí Minh.
Tình trạng tồi tàn Kinh tế, bại họai xã hội, hòan tòan xười ra của cán bộ và tham nhũng đến những hớp Vodka là một ĐỊNH MỆNH làm sụp đổ chế độ. Tình trạng giống như trái cây đã chín rữa và sắp tự động rơi xuống đất để thối ra. Nếu lấy dây cột treo nó vào cành, thì may ra nó chưa rụng ngay. Cuộc Cải Cách mà GORBATCHEV tuyên bố chỉ là tìm những sợi dây hy vọng cột lại phần nào cho trái cây chín rũa sắp rơi khỏi cành.
Tuyên bố Cải Cách của GORBATCHEV
Cuộc Cải Cách của Gorbatchev được tóm tắt vào hai chữ GLASNOST và PERESTROIKA
GLASNOST có nghĩa là làm trong sáng, làm thông rõ. Ơû một tình trạng mà cả một hệ thống cán bộ đảng nghiện ngập, say rượu, ăn hối lộ bất cứ cái gì, rồi làm lỗi và bưng bít từ dưới lên trên, chính Gorbatchev cũng không biết đâu là sự thật để mà điều hành. Vậy, phải hô hào làm trong sáng trước tiên trong nội bộ đảng để mới có thể điều hành.
Đối với những cơ quan truyền thông, GLASNOST bao gồm những biện pháp làm nhẹ đi những kềm kẹp làm mất tự do ngôn luận, nhất là về nghệ thuật và thông tin xã hội.
Trong bài Diễn Văn chủ yếu của Gorbatchev ngày 25.06.1987, Gorbatchev đã nêu ra 5 nguyên tắc của PERESTROIKA như sau (Sách đã trích dẫn GORBATCHEV, trang 229):
1) Cho những người đứng đầu Công ty một số quyền độc lập: định hàng sản xuất, định giá bán và định lương thợ theo hiệu năng làm việc.
2) Chuyển việc chỉ huy trung ương tập quyền Kinh tế về những Cơ quan địa phương của đảng.
3) Nới rộng việc chương trình hóa, việc định giá và việc phân phối tiền tệ và tín dụng.
4) Áp dụng những nghiên cứu khoa học vào việc nâng cấp phẩm chất hàng hóa.
5) Chuyển phương pháp quản trị theo hành chánh sang phương pháp quản trị theo chỉ tiêu kinh tế; khai triển việc tự quản trị; nâng cấp thu nhập cá nhân; phân quyền rõ rệt giữa điều hành Chính trị và quản trị Kinh tế.
Tuyên bố 5 nguyên tắc như trên, việc Cải Cách PERESTROIKA là việc, một mặt bỏ dần hệ thống Kinh tế trung ương tập quyền và chỉ huy tòan diện đã làm tàn lụi Kinh tế Nga, một mặt tiến dần đến một nền Kinh tế tôn trọng sáng kiến cá nhân mà nền Kinh tế Tự do và Thị trường luôn luôn chủ trương. Gorbatchev đã nhìn nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường mới có hy vọng giải quyết được tình trạng Kinh tế tàn lụi của Nga lúc bấy giờ.
PERESTROIKA là một chủ trương cải cách Kinh tế để mong cứu vãn nước Nga. Cũng trong tình trạng tàn lụi Kinh tế này, mà Nga không còn khả năng đảm nhận những chi tiêu cho đối ngọai đúng như lời mà có vấn Chính trị Andrei GRETCHEV đã tuyên bố. Oâng giương cờ hàng thua đối với Chiến tranh Lạnh, giảm thiểu vũ khí, giải ngũ 500'000 lính, thóat ra khỏi cuộc chiến tranh Afghanistan, để tự do cho những nước chư hầu Đông Aâu tự giải quyết nội bộ của mình. Những cuộc nổi dậy đấu tranh của các nước Đông Aâu xẩy ra ra và đi đến thành công nhanh chóng trong hòan cảnh này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 10.12.2009
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 13:
HỢP SỨC ĐẤU TRANH: DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN & CHỐNG TẦU XÂM LĂNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 03.12.2009
Lực lượng Quốc nội đang đứng lên. Hải ngọai hợp sức hỗ trợ cho Lực lượng Quốc nội. Cuộc đấu tranh của Quốc nội và sự hỗ trợ từ Hải ngọai nhằm dứt bỏ Cơ Chế CSVN tham nhũng để phát triển Đất Nước và chống lại việc xâm lăng của Trung quốc từ việc họ chiếm Đất, Biển của Tổ Tiên đến việc ho cho tràn lan hàng hóa giết chết Kinh tế của Quê Hương.
Nhìn vấn đề đấu tranh hiện nay như vậy, ngày 26.10.2009, chúng tôi đã đề nghị một QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH để cùng thảo luận; và ngày 28.11.2009, chúng tôi, nhân danh Phong trào Việt TỰ-DÂN, ra bản TUYÊN NGÔN HỢP TÁC ĐẤU TRANH, nhân cuộc Họp Kỷ Niệm 9 năm PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000 tổ chức tại Toronto, Canada.
MỘT QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH
Tham Luận cho cuộc họp mở rộng ngày 28-29/11/2009 của Phong Trào Hiến Chương 2000: Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 26.10.2009 Bài này đi từ nhận định tình hình xã hội tại VN dưới quyền cai trị của độc đảng CSVN để đi tới dự phóng một quan điểm đấu tranh.
Nhận định Tình hình Từ khi đảng CSVN đặt ách thống trị trên tòan lãnh thổ Việt Nam 1975, tình hình đấu tranh đã chuyển biến rất nhiều từ những năm đầu sánh với ngày naỵ Cho đến ngày sụp đổ của Đế quốc Cộng sản Nga và Đông Âu Cuộc đấu tranh đặt nặng ở phía người Việt Hải ngọai, trong khi ấy tại Quốc nội, Dân chúng sống trong sợ sệt dưới quyền cai trị hòan tòan khắt khe và đàn áp của đảng CSVN. Cuộc đấu tranh của người Việt Hải ngọai đặt chính yếu vào giải pháp quân sự nhằm giải phóng Quê Hương. Có những xâm nhập từ ngòai vào, nhưng dân chúng Việt Nam vẫn đang bàng hòang về cuộc chiến mới đây, nhất là đang sống dưới cùm kẹp khát máu của CSVN, nên những xâm nhập này không đủ sức dấy động một cuộc nổi dậy của quần chúng. Giai đọan CSVN buộc lòng phải mở cửa và "đổi mới" Khi Cộng sản Nga và Đông Aâu sụp đổ, đảng và Nhà Nước CSVN hòan tòan ở trong thế bí về ngân sách vì không còn sự giúp đỡ của Nga và Đông Aâu nữạ Dân chúng đã phải ăn bo bo trước đây, bây giờ rơi vào tình trạng đói ăn thực sư.. Biết rằng phá hàng rào tre khép kín Chế độ là nguy hiểm, nhưng đảng và Nhà Nước CSVN bắt buộc phải mở cửa chơi với phía Thế giới Tự do vì bí miếng ăn. Người ngọai quốc và Việt kiều có thể vào Việt Nam và giao tiếp với dân chúng quốc nộị Qua những giao tiếp này, người quốc nội biết đến ý chí đấu tranh của khối người Việt tỵ nạn. Cũng trong thời kỳ này, việc đấu tranh, vẫn chính yếu từ Hải ngọai, nhưng chuyển hướng sang đấu tranh cho ý thức Chính trị, Nhân quyền, hơn là giải pháp quân sự như thời gian trước đâỵ Cuộc đấu tranh của Lm.NGUYỄN VĂN LÝ: một ngọn lửa công khai đốt lên Những giao tiếp với nước ngòai và với Việt kiều cho dân quốc nội biết đến ý chí đấu tranh tại Hải ngọai, nhưng giới biết tin vẫn còn dè dặt chưa lên tiếng. Chính trong tình hình dè dặt này mà cuộc đấu tranh của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ được coi là tiên phong thắp lên NGỌN LỬA đấu tranh . Cuộc đấu tranh của Linh mục tuy bị đàn áp, nhưng việc làm này đã mang lại hiệu quả tác động tâm lý, nói lên ý nghĩa phải can đảm đứng lên từ quốc nội thì mới hy vọng thay đổi được Cơ Chế đàn áp của CSVN. Điều quan trọng ở đây là phải đặt tầm quyết định ở LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI tự giải phóng mình. Ý chí đấu tranh giải phóng Quê Hương của Hải ngọai trở thành ý chí HỖ TRỢ cho Quốc Nộị Tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường để sửa sọan vào WTO hội nhập với Thế giới Cách đây 7 năm, đảng và Nhà Nước CSVN đồng lọat tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Họ thêm cái đuôi "định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa". Thực ra, một là để chữa thẹn, hai là một cái vỏ bọc cho một CƠ CHẾ vẫn giữ độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Với Cơ Chế này việc tuyên bố chấp nhận Kinh tế Tự do và Thị trường là tréo cẳng ngỗng. Nhờ sự giúp đỡ của Hoa kỳ, Việt Nam đã vào được WTỌ Khi giúp đỡ như vậy, TT.BUSH đồng thời cũng mong mỏi một Tiến Trình Dân Chủ hóa Việt Nam. Cuộc đấu tranh tại Quốc nội cũng như Hải ngọai khởi sắc lên như trông đợi ở áp lực của Hoa kỳ và Tây phương. Tại Quốc nội một Phong trào gọi là những Nhà Dân chủ đã công khai ra mặt. Tại Hải ngọai, một số nhóm Chính trị, nào thành lập những Chính phủ lưu vong, nào là hé cho thấy chủ trương Hòa Giải Hòa Hợp. Họ có lẽ hy vọng vào áp lực của Hoa kỳ để được về Việt Nam cùng với CSVN thực hiện Tiến Trình Dân Chủ Hóạ Nếu có hứa với TT.BUSH để được ra khỏi danh sách Những Nước Bị Quan Tâm Đặc Biệt vì vi phạm Tự do Tôn giáo, rồi vào WTO, vào Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, thì ngày nay CSVN đã phản bội lại lời hứa Tiến Trình Dân chủ hóạ Sa lầy với Trung Cộng và việc đứng lên mạnh mẽ tại Quốc nội "Đi với Mỹ thì mất đảng; Đi với Tầu thì mất nước", đó là câu mà dân Hà Nội thường nói với nhaụ CSVN không muốn mất đảng, thà là mất nước. Đảng và Nhà Nước CSVN ngày nay đã hòan tòan chọn lựa đi với Trung Cộng để mất nước. CSVN đã thẳng tay đàn áp các Phong trào Dân Chủ, đàn áp tất cả những ai động chạm đến cuộc xâm lăng Lãnh Thổ, Lãnh Hải và Kinh tế của Trung Cô.ng. Chính những cuộc đàn áp không chính đáng này đã tạo lên làn sóng phản kháng từ mọi giới tại Việt Nam: 1) Dân Oan mất Nhà, Đất đã công khai kéo về Sài Gòn và Hà Nộị Cuộc đàn áp mà không giải quyết cho có Công lý càng làm tăng thên uất ức sẵn sàng bùng nổ nơi Dân Oan. 2) Công nhân đã làm những cuộc đình công. Ngày nay hậu quả của Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới và việc nhân công Trung quốc ồ ạt vào VN càng làm công nhân VN thất nghiệp. Nguồn phản kháng này mỗi ngày một nhen nhúm, đe dọa nổ lớn. 3) Những vụ Tòa Khâm sứ Hà Nội, Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý làm hàng Giám mục, Linh mục, Tu sĩ và Giáo dân Công giáo đòan kết quyết tâm đấu tranh cho CÔNG LÝ. 4) Việc Trung Cộng cấm đóan Ngư dân miền Trung đánh cá trong vùng Biển VN, rồi đánh đập, cướp bóc Ngư dân lánh nạn bão số 9 vừa qua đang tạo phẫn nộ từ dân chúng đối với Nhà Nước CSVN hèn yếụ 5) Vụ Bôxít Tây Nguyên đã dấy động lên phong trào phản đối công khai của giới Trí thức và ngay cả phía quân độị 6) Từ vụ Bôxit đến hàng hóa Trung quốc tràn ngập Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã công khai kêu gọi tòan dân cứu nguy Đất Nước, không xài hàng Trung quốc. 7) Trước nạn xâm lăng Kinh tế của Trung quốc, giới chuyên gia Kinh tế VN đã công khai lên tiếng phản đối và kêu gọi cứu nguy Đất Nước. Vietnamnet ngày 15.06.2009 đã viết: "Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, "quét" sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các doanh nghiệp VN đang "thua trắng bụng". Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới doanh nghiệp và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc." 8) Theo lệnh của Trung quốc, qua Tùy viên Thương mại Hồ Tỏa Cẩm, Nguyễn Tấn Dũng ra Quyết Định 97 ngày 24.07.2009 cấm đóan giới Trí thức phản biện đụng chạm đến Tầụ Tổ chức IDS tự giải tán vì lý do Quyết Định bịt miệng nàỵ 9) Một cuộc Thảo Luận công khai được tổ chức ngày 22.09.2009 gồm những Giáo sư Đại học về Kinh tế đã nói lên tính cách tréo cẳng ngỗng của mô hình Kinh tế Tự do Thị trường "định hướng XHCN", nghĩa là một CƠ CHẾ vẫn chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Giáo sư Tiến sĩ TRẦN NGỌC HIÊN phát biểu: "Sự phát triển của nhà nước pháp quyền và chế độ dân chủ trở thành mắt xích chủ yếu giữa kinh tế thị trường với thể chế chính tri.. Về mặt chính trị, sự phát triển kinh tế thị trường trở thành bước ngoặc kết thúc các chế độ chuyên chế và hình thành chế độ dân chủ. "Không thể coi là đã hình thành nền kinh tế thị trường khi nhà nước chưa ra khỏi tình trạng quan liêu, tham nhũng phổ biến. Không thể coi là đã có nhà nước pháp quyền khi trong xã hội còn thiếu dân chủ và tính tự phát của người dân còn phổ biến". Câu nói cho thấy rằng nền Kinh tế Tự do Thị trường thực sự phải dẫn đến DÂN CHỦ. Tình hình qua 9 điểm kể ra trên đây cho thấy rằng Quốc Nội đang đứng lên dắu tranh, từ giới đại đa số là Dân nghèo, đến giới Trí thức và Lực lượng các Tôn giáọ Cuộc đấu tranh của Lực Lượng Quốc nội mỗi ngày mỗi tăng. Đảng và Nhà Nước CSVN càng đàn áp bao nhiêu, thì càng đi vào chỗ bí vì dựa vào lý do bất chính và càng làm cho dân chúng phẫn nộ vì biết rõ đây là hành động cả vú lấp miệng em mà thôị
Một Quan Điểm Đấu Tranh để tham luận Trong khí thế đấu tranh đang lên mạnh của tòan dân gồm mọi giới, chúng tôi xin mạn phép đưa ra một quan điểm đấu tranh gồm những điểm sau đây: 1) Mục đích tối hậu đi tới của đấu tranh: DỨT BỎ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Mục đích này hòan tòan mang tính cách Kinh tế. Chúng ta nhằm vào việc phát triển Kinh tế Đất Nước. Nhân danh việc phát triển này, chúng ta không thể để việc độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Cái CƠ CHẾ chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế là nguồn gốc những tham nhũng, hối lộ, bất công. Không thể phát triển Kinh tế chỉ cho một nhóm ngườị Thực vậy, chính CƠ CHẾ này đang tạo Kinh tế Mafia: nhóm người tham nhũng hối lộ giầu nứt khố và dân lam lũ làm ăn nghèo kiết xác. Chúng ta lấy lý do dấu tranh là Kinh tế, đó là xây dựng và không phải là phạm điều 88 mà CSVN cố ngụy biện gán cho những ai không đồng ý với những cướp bóc của ho.. Chính sự phát triển Kinh tế Tự do này đặt nền tảng để những tác nhân Kinh tế (mọi người) thiết lập ra nguyên tắc DÂN CHỦ trước hết để giải quyết những tranh chấp quyền lợi, sau đó cùng nhau chấp nhận hệ thống Pháp Luật cho cuộc sống chung đụng xã hội cho CÔNG BẰNG. DÂN CHỦ là nguyên tắc hệ quả của việc phát triển Kinh tế Tự dọ Nhắc hai chữ Dân chủ, CSVN ngụy biện nói chúng ta phạm điều 88. Chúng ta chỉ nói Phát triển Kinh tế Tự dọ 2) Những điểm cụ thể đấu tranh Chúng ta phải đấu tranh với một Nhà Nước độc tài và ngụy biện, xử dụng vũ lực và nhà tù để đàn áp. Vì vậy, trước khi đấu tranh, chúng ta phải nghĩ đến chống đỡ cho điểm mình đấu tranh. Chúng tôi nêu ra những điểm đấu tranh sau đây: a. Đấu tranh đòi CÔNG LÝ Khi đòi CÔNG LÝ, chúng ta được sự ủng hộ của khối Dân Oan và Lực lượng các Tôn giáọ Dân Oan và Tôn giáo đang đòi Công lý. b. Đấu tranh bênh vực nghề nghiệp cho Công nhân và Ngư dân Công nhân mỗi ngày mỗi mất việc vì nhân công Trung quốc tràn vàọ Ngư dân mất nơi đánh cá do Tầu chiếm Biển và Hải đảọ c. Đấu tranh chống khai thác Bôxit Tây Nguyên và việc Tầu xâm lăng Hòang/Trường Sa Đây là việc dấy động giới Trẻ Sinh viên Học sinh và giới Trí thức, cũng như nhiều giới khác, nghĩ đến Tiền đồ Đất Nước. d. Đấu tranh chống xâm lăng Kinh tế Trung quốc Hàng Trung quốc, nhất là hàng độc, lan tràn Việt Nam và giết Kinh tế Việt Nam. Những Dự án rơi vào tay Trung quốc. Mỗi Dự án hàm ngụ việc xuất cảng thiết bị và công nhân Tầu sang Việt Nam. Mỗi Dự án là việc nhận nợ mà Thế hệ tương lai phải oằn lưng trả nơ.. Dây là khía cạnh dấy động tòan dân, đặc biệt giới doanh nhân. e. Triệt để chống Tham nhũng, Lãng phí Đây không phải là cá nhân, mà chính là CƠ CHẾ làm phát sinh và nuôi dưỡng vi trùng Tham nhũng, Lãng phí ăn ruỗng đời sống Kinh tế của tòan dân. Chống Tham nhũng, Lãng phí là chống chính cái CƠ CHẾ hiện hành vậỵ CSVN không thể nói việc chống tham nhũng là phạm điều 88. f. Đấu tranh cho Tự do phản biện xây dựng Kinh tế Nếu CSVN ngụy biện cấm phản biện đối với khía cạnh Chính trị, thì chúng ta tối thiểu đòi Tự do phản biện để XÂY DỰNG KINH TẾ, phát triển Đất nước. Chúng tôi ao ước rằng những điểm ĐỀ NGHỊ ĐẤU TRANH trên đây trở thành PHONG TRÀO, nghĩa là các Nhóm đấu tranh CÙNG NHAU nói lên MỘT tiếng nói cho ma.nh.
TUYÊN NGÔN HỢP TÁC ĐẤU TRANH
PHONG TRÀO TỰ-DÂN 22 Rue du Prieure, CH-1202 GENEVA, Switzerland. Tel. : 0041 22 731 82 66. E-Mail : viettudan@yahoo.com
TỰ-DÂN, thành lập từ 1964, gồm những thành phần Thanh niên, Sinh viên, Học sinh đấu tranh cho nền TỰ DO, DÂN CHỦ tại Miền Nam Việt Nam, chống lại chủ nghĩa độc tài Cộng sản Miền Bắc. Sau 1975, những thành viên TỰ-DÂN di tản ra nước ngòai đã hợp lại với nhau , cùng giữ vững lập trường đấu tranh cũ, dưới danh xưng Việt TỰ-DÂN. Kể từ năm 2001, Việt TỰ-DÂN đã tích cực tái nhập cuộc đấu tranh ở Hải ngọai nhằm hỗ trợ cho Lực Lượng đấu tranh chính yếu đang nổi dậy tại Quốc nội. Nhận thấy các Phong trào đấu tranh tại Hải ngọai cần có chung một tiếng nói, đi chung một đường lối mới tạo được sức mạnh triệt để, giúp cho cuộc nổi dậy tại Quốc nội sớm thành công, PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000 đã đứng ra kêu gọi và chính thức mời Việt TỰ-DÂN tham gia cuộc họp mở rộng của Phong Trào Hiến Chương 2000, ngày 28-29.11.2009 tại Toronto, Canada, nhằm vạch ra những phương thức hành động cụ thể, nhân dịp kỷ niệm 9 năm ra mắt Phong Trào. Sau khi tham khảo nội bộ, Việt TỰ-DÂN nhận lời tham dự và long trọng tuyên bố cùng hợp tác đấu tranh song song với Phong Trào Hiến Chương 2000, như sau :
1) Mục đích chung tối hậu của việc hợp tác là hỗ trợ Lực Lượng nổi dậy tại Quốc nội nhằm dứt bỏ Cơ Chế Cộng sản Việt Nam hiện hành để Dân tộc cùng chung bảo vệ Tổ Quốc, chống ngọai xâm và phát triển Kinh tế trong Công lý và Hòa Bình.
2) Những lãnh vực đấu tranh cụ thể như sau:
a. Hỗ trợ các Lực lượng Dân Oan vàTôn giáo đang bị Cơ chế CSVN tham nhũng cướp bóc đất đai, nhà cửa một cách bất chính. Hỗ trợ khối Công nhân bị bóc lột dã man sức lao động, hiện đang bị triệt để khai thác hay bán đứng cho nước ngòai mà không được họp thành Nghiệp đòan để bảo vệ quyền lợi của mình.
b. Đối với những phần Lãnh thổ và Lãnh hải của Tổ Quốc đã bị CSVN dâng cúng cho Trung Cộng để được che chở mà bám lấy quyền hành Chính trị độc tài của họ, chúng ta cùng hợp tác một lòng với tòan dân, đấu tranh để dành lại và bảo tòan Đất, Biển của Tổ Quốc.
c. Chống lại việc để cho hàng hóa của Trung Cộng tràn sang Việt Nam, và chống lại việc để cho Trung Cộng khai thác tài nguyên của Đất Nước. Với hai sự kiện trên, CSVN đang tiếp tay cho Trung Cộng làm cuộc xâm lăng Kinh tế trên Tổ Quốc Việt Nam. Trên căn bản độc lập về phương diện tổ chức, Việt TỰ-DÂN công khai khẳng định cùng hợp tác đấu tranh với PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG 2000, ở mục đích tối hậu và ở những lãnh vực cụ thể nêu ra trên đây.
Làm tại GENEVA, Thụy sĩ, ngày 28 tháng 11 năm 2009
Đại diện Việt TỰ-DÂN Ký tên NGUYỄN PHÚC LIÊN
Khi Đất Nước lâm nguy trước cảnh xâm lăng hiện nay do CSVN rước giặc vào Nhà, phải có một Hội Nghị DIÊN HỒNG để đồng tâm cứu nước. Nếu chưa có được một Hội Nghị DIÊN HỒNG của tòan dân, thì chúng ta hãy bắt đầu bằng hai, bằng ba... người tìm gặp đến nhau để cấu kết khởi sự ở những lãnh vực đấu tranh cụ thể nhất để tiến lên.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 12:
NGƯỜI NGHÈO: NẠN NHÂN BẤT ĐẮC DĨ CỦA HÀNG ĐỘC TQ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 26.11.2009
Đối với những hàng độc hại Trung quốc, những nước giầu đã có những Biện pháp ngăn chặn. Trong Mậu dịch Quốc tế, mặc dầu đối với những Quốc gia đã gia nhập WTO, những nước muốn ngăn chặn có thể dùng những Biện pháp Không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để chế tài. Biện pháp Vệ sinh được nại ra để kiểm sóat những đồ ăn, đồ chơi cho trẻ em và những hàng may mặc nguy hại cho thân thể. Những Biện pháp kiểm sóat ngăn chặn này đang được thi hành ở Thị trường Hoa kỳ và Liên Aâu cũng như tại một số nước giầu Á châu.
Đồng tiền đi trước, hàng độc đến sau tại những nước nghèo Á châu và Phi châu
Đối với những nước nghèo Á châu, nhất là Phi châu, không phải là những Chính quyền không biết đến phân biệt hàng độc hại và những hàng khác của Trung Cộng. Nhưng Chính quyền những nước này dễ bị đồng tiền hối lộ đi trước để làm ngơ việc nhập nội những hàng độc hại từ Trung quốc. Không phải chỉ nguyên những lọai hàng đề cập đến trên đây, mà ngay cả những dược phẩm trực tiếp làm hại sức khỏe cũng được làm ngơ cho nhập vào. Nhận tiền hối lộ, cho nhập hàng độc vào, dân nghèo xử dụng và bệnh tật thì ráng chịu. Thực vậy, những người ăn hối lộ, có tiền mua dùng những hàng khác.
Lấy một tỉ dụ được đăng trên báo Le Nouvel Observateur: “Nhân vật trọng tâm của mạng lưới mà Jean Luc phát hiện, tên Wajee Abu Odeh, một người Jordanie, đến ở Trung Quốc, chính xác hơn là ở Thẩm Quyến. Ở Cận Đông, mạng lưới của nhân vật này cung cấp thuốc giả cho từ Jordanie, Ai Cập đến Syrie v.v...Tại Ai Cập chẳng hạn, họ cung cấp đến 50 % thuốc chữa trị ung thư. Không kể các loại thuốc giả chết người này tràn lan ở những khu vực ngoại ô nghèo, những vùng nông thôn, mà qua nhiều môi giới, nó cũng đã đến một số nhà thuốc tây, hay bệnh viện có uy tín ở thủ đô.“
Tại Việt Nam, Hàng độc lan tràn, CSVN sợ Tầu và không có biện pháp
Những chuyên viên Kinh tế, Thương mại đã báo động về việc lan tràn hàng độc và phế thải từ Trung quốc. Nhưng Nhà Nước, không phải chỉ nguyên “Đồng tiền đi trước, hàng độc theo sau”, mà còn vì lệ thuộc Chính trị để cố thủ giữ quyền hành, đã không có những Biện pháp ngăn chặn nào. Dân chết, miễn là đảng ăn hối lộ có tiền, mua hàng tốt để dùng là được rồi.
Lê Khả Phiêu biết rõ ngay cả rau cỏ cũng mang chất độc hại, nên đã bỏ tiền 25’000 đô-la để làm khu vườn riêng trồng rau ăn tránh chất độc. Khu vườn này được chính Lê Khả Phiêu giới thiệu cho báo chí đến thăm nhà của mình.
Dân nghèo: nạn nhân bất đắc dĩ
Không phải là người nghèo không biết phân biệt hàng độc hại và hàng tốt, không độc hại, nhưng cái khó bó cái khôn. Điều đau đớn là họ ý thức đó là hàng độc hại mà vẫn phải dùng. Tôi xin kể ra hai tỉ dụ:
Tỉ dụ 1: Có Việt kiều về Việt Nam, đi ăn ở hàng quán và kể rằng họ rất ngượng ngùng khi thấy người ăn mày ngồi chờ họ vất cục xương xuống đất để nhặt lấy gặm hoặc chờ xin bát nước cặn còn thừa để húp. Người ăn mày đó đói quá, đành phải làm vậy, chứ không phải là không biết.
Tỉ dụ 2: Sau năm Bức tường Bá Linh sụp đổ, tôi sang Mạc Tư Khoa. Một thương gia Nga muốn nhờ tôi môi giới để mua những đồ hộp đã hết hạn cho rẻ. Tôi nói rằng khi hết hạn, đồ hộp có thể độc hại. Oâng trả lời tôi liền: “Oâng không biết dạ dầy Cộng sản hay sao. Nếu có đau bụng, chỉ cần một ly Vodka là xong !”
Dân nghèo Phi châu cũng như Á châu ý thức về sự độc hại của hàng Trung quốc. Những Phong trào kêu gọi bài trừ hàng Trung quốc. Nhưng vì nghèo quá, không có tiền, đành nhắm mắt xử dụng hàng độc từ Trung quốc bán rẻ mạt. Khi dạ dầy rỗng, thì đồ ăn có thiếu vệ sinh, vẫn phải ăn cho đỡ đói.
Cuộc Họp tại Copenhague bàn về khí độc mang hậu quả tàn phá thiên nhiên. Tại sao không nói đến hàng độc hại Trung quốc đang tràn lan để phá họai chính sức khỏe của thân xác con người ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 11:
HỢP TÁC KINH TẾ VỚI KẺ CƯỚP LÀ TÒNG PHẠM VỚI VI PHẠM NHÂN QUYỀN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 19.11.2009
Chúng tôi thấy một số Truyền thông ca tụng TT.Obama đã nói về Tự do Internet với Sinh viên ở Thượng Hải, rồi đã yêu cầu đối thọai giữa Trung Cộng và Đức ĐẠT LAI LẠT MA Tây Tạng. Những lời nói của TT.Obama chỉ nhắc lại những từ chương mà trong nhiều chục năm trường nhiều người đã viết với tất cả tâm hồn để rồi có những người phải ngồi tù vì đã kêu gọi những điều mà TT.Obama đọc sách của họ để nói ra. Chẳng có gì phải ca tụng khi thấy rằng có lẽ chính Hồ Cẩm Đào cho phép Obama nói cho thêm mầu mè mà che đậy cho những việc vi phạm nhân quyền tầy đình của Trung Cộng. Thực vậy, báo chí quốc tế đã nhắc lại rằng những điều Obama nói với sinh viên Thượng Hải đã không được phổ biến trên Truyền Hình Trung quốc mà chỉ hạn hẹp ở trong một phòng nhỏ. Báo chí cũng nói rằng tại sao Obama đã nhát đảm, sợ sệt Hồ Cẩm Đào trước đó khi Obama từ chối không gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Mỹ vì sợ bóng sợ gió Trung quốc. Dân chúng Trung quốc trông đợi ở Obama những biện pháp đòi bạo quyền Trung quốc tôn trọng nhân quyền, chứ không phải chỉ nhắc lại suông những từ chương về nhân quyền mà nhiều đã viết.
Chính vì vậy, những nhà đấu tranh cho Trung quốc có Tự do, Dân chủ, đã thất vọng đối với chuyến đi này của TT.Barack Obama.
Nhắc lại ít điều từ chương rồi, TT.Barack Obama lại xả láng ca tụng sự hợp tác Kinh tế giữa Trung quốc và Hoa kỳ như G2 lãnh đạo giải quyết việc cứu nguy và phát triển Kinh tế Thế giới. Chính việc tuyên bố hợp tác này chứng tỏ Obama đã, một là quá hạn hẹp nhân quyền ở vài cái râu ria vẽ vời, hai là không hiểu cái nhân quyền trọng yếu với khối dân chúng nằm ở chỗ nào, ba là chính mình muối lương tâm tòng phạm với kẻ cướp để bóc lột đời sống của đại đa số dân chúng, nhất là dân chúng nghèo khổ bần cùng.
Làm Kinh tế, hay nói nôm na là kiếm ra đồng tiền, cũng phải có cái luân lý của nó. Mọi người đều tranh đấu làm Kinh tế, nghĩa là kiếm ra đồng tiền để tối thiểu nuôi thân xác mình sống. Vì mọi người cùng làm Kinh tế, nên phải có những nguyên tắc phải tôn trọng trong việc phân chia quyền lợi cho công bằng. Không thể kiếm đồng tiền bằng bóp cổ họng người khác để cướp lấy tiền bạc.
Quyền sống thân xác cá nhân là điều hệ trọng nhất của Nhân quyền
Hãy hỏi một người trong đại đa số quần chúng phải ngày đêm làm lụng kiếm bữa cơm bữa cháo để sống. Hãy hỏi họ xem giữa quyền tự do vào Internet để đọc tin tức thỏa mãn tinh thần và quyền lựa chọn một phương tiện làm ăn để có miếng cơm cho dạ dầy đỡ đói, họ sẽ dành việc ưu tiên chọn gì ? Chắc chắn họ sẽ nói ưu tiên chọn lựa là phương tiện kiếm sống, còn Internet thì hạ hồi phân giải. Hãy hỏi một công nhân xem quyền tự do họp lại với nhau để cùng có một tiếng nói cho mạnh bảo vệ đồng lương tương xứng với sức lao động cung cấp là ưu tiên hay quyền tự do họp lại để thảo luận văn hóa, chính trị, xã hội là ưu tiên. Công nhân sẽ chọn việc bảo vệ đồng lương tương xứng là điều ưu tiên. Hãy hỏi những nghệ sĩ, những người chơi thể thao... cố gắng trở thành anh hùng của Lý tưởng Xã Hội Chủ nghĩa với những Huy chương đeo đầy ngực là quan trọng hay đánh giá bằng tiền bạc việc cố gắng để cho tiền họ sống là quan trọng hơn. Họ sẽ chọn lấy tiền bạc trước đã. Hãy hỏi chính những Lãnh tụ Cộng sản xem danh dự quyền lực là quan trọng hay qua việc nắm quyền để có dịp thâu được nhiều tiền bạc là quan trọng.
Tóm lại, đối với quần chúng ở những Quốc gia nghèo, cái quyền làm Kinh tế nuôi sống thân xác là NHÂN QUYỀN ưu tiên nhất.
Hai nền Kinh tế khác nhau giữa Hoa kỳ và Trung Cộng
Nền Kinh tế Hoa kỳ đặt trọng tâm vào việc cá nhân kiếm sống cho mình, lấy tư hữu làm nền tảng xây dựng tự do kinh doanh Kinh tế. Cá nhân có quyền tự do thụ hưởng những kết quả kinh doanh của mình. Khi những cá nhân trách nhiệm kiếm sống, thì chính họ quyết định với nhau những Luật lệ phân định và bảo vệ quyền lợi làm ăn cho công bằng. Nhà Nước đứng bảo đảm việc thi hành đứng đắn những Luật lệ làm ăn do chính những tác nhân Kinh tế đã đồng thuận. Đó là một nền Kinh tế Tư doanh và Tự do Cạnh tranh. Đây là nền Kinh tế quần chúng tôn trọng trước tiên quyền kiếm sống của từng cá nhân.
Nền Kinh tế mà Trung quốc đang thực hiện là nền Kinh tế của riêng một nhóm đảng. Đảng Cộng sản Trung quốc có quyền độc tài Chính trị và nắm trọn độc quyền làm Kinh tế qua hệ thống những Công ty quốc doanh nắm những chủ chốt sinh họat Kinh tế. Đây là hệ thống Kinh tế Mafia. Người ta nói Trung quốc thu và tích lũy được một số vốn lớn, nghĩa là giầu có, nhưng đã không nói rõ rằng số vốn lớn này nằm trong tay quyết định chi dùng của nhóm đảng Mafia Cộng sản Trung quốc, chứ không được phân phối cho những quyết định xử dụng của những cá nhân thuộc đại đa số nhân dân. Đảng Mafia Cộng sản Trung quốc có số vốn lớn trong khi ấy đại đa số quần chúng Trung quốc nghèo khổ. Đảng Mafia Cộng sản Trung quốc, trong những năm trường, đã bóc lột, bán rẻ sức lao động của quần chúng để làm giầu cho nhóm đảng mình. Một số những Công ty Liên quốc gia nước ngòai đã tòng phạm với chủ trương bóc lộc lao động này để khai thác nhân công rẻ.
Nếu nền Kinh tế Hoa kỳ tôn trọng nhân quyền ưu tiên, nghĩa là quyền tự do kiếm sống cá nhân, thì nền Kinh tế Mafia Trung Cộng là nền Kinh tế bóc lột quyền kiếm sống cá nhân để làm giầu cho một nhóm người.
Hợp tác Kinh tế Hoa kỳ và Trung quốc có tôn trọng Nhân quyền hay không ?
Hai Chủ trương làm Kinh tế Hoa kỳ và Trung Cộng khác biệt nhau từ bản chất về phương diện tôn trọng Nhân quyền mà quyền cá nhân kiếm sống là ưu tiên. TT.Barack Obama nói tại Trung quốc trong chuyến Á du vừa rồi, chỉ là nói tới một số điểm vẽ vời râu ria về nhân quyền, mà không đề cập chính yếu đến một hệ thống tước đọat chính quyền tự do kiếm sống, một điểm ưu tiên của nhân quyền cho đại đa số quần chúng. TT.Barack Obama lớn tiếng kêu gọi việc hợp tác giữa Trung quốc (nhóm Mafia CSTQ) và Hoa kỳ trong những quyết định Kinh tế ảnh hưởng tới Thế giới. Việc hợp tác này là việc cổ võ tòng phạm với nhóm đảng Mafia trong việc đề bẹp quyền kiếm sống của cá nhân tự do. Hợp tác để nhóm đảng Mafia CSTQ tiếp tục bóc lột dân chúng nữa, đó là việc tôn trọng nhân quyền hay là việc tòng phạm vi phạm nhân quyền mà TT.Barack Obama đã lớn tiếng ca tụng việc làm tội lỗi này ?
Nếu TT.Barack Obama nghĩ rộng hơn nữa về chủ trương của nhóm Mafia CSTQ đang tìm mọi cách xử dụng hối lộ tiền bạc để thực hiện chính sách Tân Thuộc địa tại những nước nghèo Á châu và Phi châu, thì việc hợp tác của Hoa kỳ còn là việc tiếp tay phổ biến tội ác Kinh tế của Trung Cộng khắp Thế giới.
Nói chính đến hậu quả của việc hợp tác Kinh tế trên nước Mỹ. Việc tự do mậu dịch với hàng rẻ tiền Trung quốc tràn lan tại Hoa kỳ sẽ làm một số xí nghiệp nhỏ tại Mỹ đóng cửavà làm tăng thất nghiệp cho chính người Mỹ.
Việc hợp tác với kẻ cướp để bóc lột là việc tòng phạm với tội ác. Hãy nói NHÂN QUYỀN ở điểm thiết yếu này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 19.11.2009
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 10:
TRUNG QUỐC CHIẾM THUỘC ĐỊA BẰNG KHÍ GIỚI LỢI HẠI NHẤT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 12.11.2009
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới 2007-08 đang đẩy Trung quốc đến việc cấp bách mở rộng thuộc địa để giải quyết những bế tắc nội bộ của mình.
Thực vậy:
=> Nền sản xuất Kinh tế Trung quốc được khai triển chủ yếu cho xuất cảng những hàng hóa thường dùng phục vụ cho những nước đã kỹ nghệ hóa như Hoa kỳ và Liên Aâu;
=> Tổ chức sản xuất dựa chính yếu trên khai thác nhân lực rẻ từ khối dân khổng lồ. Vì chủ yếu sản xuất những hàng hóa thường dùng, nên không cần đầu tư vào những máy móc kỹ thuật cao cấp. Lúc đầu, chỉ cần những thiết bị máy móc “second hand” mua lại từ những nước đã kỹ nghệ hóa;
=> Cuộc Khủng hỏang Tài chánh 2007-08 làm giảm tiêu thụ tại Liên Aâu và Hoa kỳ. Vì vậy việc đặt mua hàng Trung quốc giảm xuống tới 40%.
=> Liên Aâu và Hoa kỳ phải mở những Chương trình Kích cầu để cứu Kinh tế của họ. Tất nhiên những Chương trình Kích cầu này đẩy Mậu dịch quốc tế đến những biện pháp Che chở Kinh tế (Economic Protectionism/ Protectionnisme Economique) mà chính Trung quốc luôn luôn sợ hãi và nêu ra trong những cuộc Họp G20. Do đó, cho dù mức tiêu thụ tại Liên Aâu và Hoa kỳ có hồi phục phần nào, thì những Biện pháp Che chở Kinh tế vẫn phải kéo dài khi mà những Chương trình Kích cầu còn tiếp tục.
Hậu quả trực tiếp của tổ chức sản xuất Kinh tế Trung quốc ở tình trạng thiếu đặt mua hàng trên đây là:
1) Hàng hóa đã sản xuất bị ứ đọng 2) Hàng lọat Công ty bị đóng cửa 3) Khối nhân công du mục thất nghiệp 4) Kinh tế đang đẩy đến căng thẳng xã hội và rất dễ đến xáo động chính trị
Dành USD.25 tỉ cho Bành trướng thuộc địa Kinh tế Á-châu
Từ tháng 4, 2009, Trung Quốc xử dụng USD.25 tỉ cho chủ trương xâm lăng Kinh tế các nước nghèo Á châu
Bản Tin: Theo Tân Hoa xã, Trung Quốc đang chuẩn bị thành lập quỹ hợp tác đầu tư 10 tỷ USD với ASEAN và cho các nước khu vực này vay 15 tỷ USD, trong bối cảnh khu vực đang nỗ lực đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì ngày 14-4 cho biết, quỹ đầu tư trên sẽ thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng nối Trung Quốc với 10 nước thành viên ASEAN, trong khi các khoản cho vay sẽ có thời hạn từ 3 đến 5 năm.
Tuyên bố cũng cho biết Trung Quốc dự định viện trợ cho Campuchia, Lào và Myanmar 39,5 triệu USD và tặng 300.000 tấn gạo cho quỹ dự trữ gạo khẩn cấp Đông Á để tăng cường an ninh lương thực.
Theo ông Dương Khiết Trì, những đề nghị này nhằm phản ánh quyết tâm và trách nhiệm của Chính phủ Trung Quốc trong việc thúc đẩy sự hợp tác với ASEAN.
Dành USD.41 tỉ cho Bành trướng thuộc địa Kinh tế Phi châu
Tờ FINANCIAL TIMES thứ Hai 09.11.2009, trang 6, viết:
“Wen Jiabao, China’s premier, has pledged $10bn in new low-cost loans to Africaover the next three year and defended Beijing’s engagement on the continent against accusations that is a “plundering” the region’s oil and minerals”
“Yesterday’s loan pledge for Africa was double of $5bn made in 2006, and came during talks at which Chinese and African delegates said their ties went beyond China’s acquisition of raw materials”
“There have been allegations for a long time that China has come to Africa to plunder its resources and practise neo-colonialism”
(Oân Gia Bảo, Thủ tướng Trung quốc, đã hứa $10 tỉ thêm để cho Phi châu vay với giá hạ trong 3 năm tới và biện hộ việc Bắc Kinh quan hệ với Châu này chống lại những cáo buộc rằng đó là việc “cướp bóc” dầu lửa và khóang sản trong vùng.)
(Lời hứa hôm qua cho Phi châu gấp đôi số $5 tỉ thực hiện năm 2006, và nói trong cuộc thảo luận mà những phái đòan Trung quốc và Phi châu khẳng định những liên hệ của họ nằm ngòai phạm vi mua những tài nguyên thô của Trung quốc)
(Đã có những dư luận lâu rồi cho rằng Trung quốc đã tới Phi châu đê cướp bóc những tài nguyên và thực hành chủ trương thực dân mới)
Tờ THE WALL STREET JOURNAL thứ Hai 09.11.2009, trang 10, còn cho biết thêm:
“Chinese investment in Africa reached $26 billion by the end of 2008” (Đầu tư Trung quốc vào Phi châu đã tới USD.26 tỉ tính đến cuối cuối năm 2008)
Tiền bạc và Hối lộ: Khí giới lợi hại nhất mà Tầu quen xử dụng
Nếu trước đây, Aâu châu đi khắp thiên hạ để chiếm thuộc địa, họ xử dụng súng ống, tầu bè để uy hiếp những dân bản xứ, để chiếm đất đai và khai thác tài nguyên đem về mẫu quốc, thì ngày nay Trung quốc xử dụng khí giới tiền bạc không phải là để uy hiếp, mà làm cho dân bản xứ, những chính quyền địa phương mê hoặc khóai tỉ để dâng những tài nguyên cho Trung quốc thực dân. Khí giới chỉ có thể giết được thân xác, làm cho dân thuộc địa khiếp sợ. Nhưng Tiền bạc Hối lộ có thể giết được tinh thần, làm cho các chính quyền mất luân thường đạo lý, phản bội lại chính quyền lợi quốc gia. Đây là thứ khí giới êm ái dịu dàng mà chính những người trách nhiệm bảo vệ quyền lợi quốc gia phải qùy xuống chịu chết cả tâm hồn để dâng cho kẻ xâm lăng những gì mà đất nước có.
Ngòai việc khai thác tài nguyên từ thuộc địa, Trung quốc còn giải quyết những bế tắc của mình như chúng tôi đã nói về hòan cảnh Kinh tế của Trung quốc ở đọan đầu bài này. Dưới hình thức cho vay, Trung quốc xuất cảng sang những nước nghèo hàng hóa tồn đọng của mình tương đương với món tiền cho vay, đồng thời xuất cảng nhân công đang thất nghiệp tại Trung quốc. Tất nhiên, cho vay, nghĩa là con nợ phải hòan trả. Khi không hòan trả nợ được (hầu hết như vậy), thì chủ nợ lại bắt con nợ phải nhượng tài nguyên gấp nhiều lần số đã vay để chủ nợ khai thác mang về.
Giáo sư Kinh tế NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 12.11.2009
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 09:
ĐỪNG ĐỂ HÀNG VN BỊ COI LÀ HÀNG ĐỘC HẠI PHẾ THẢI CỦA TQ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva,05.11.2009
Từ khi cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế bắt đầu, các nước, nhất là Trung quốc và Nga luôn luôn lo sợ về tình trạng Ce Chở Mậu Dịch (Protectionnisme/Protectionism) lớn mạnh. Ngỏ lời đầu tiên trong WEF Davos 2008 (World Economic Forum Davos), Thủ tướng Nga và Thủ tướng Trung quốc nhấn mạnh đến những nguy cơ Che Chở Mậu Dịch này.
Suốt trong ba cuộc Họp của G20, tình trạng căng thẳng vẫn là vấn đề Che Chơ Mậu Dịch. Trước cuộc Họp G20 tại Pittburgh, Hoa kỳ tăng thuế nhập cảng lốp xe đến từ Trung quốc. Trung quốc phản ứng ngay bằng việc bù trừ về việc nhập gà từ Mỹ. Đồng thời Trung quốc đòi buộc chứng chỉ về trùng cúm heo đến từ Liên Aâu và Mỹ.
Tin tức mới về biện pháp kiểm sóat Đối với hàng Việt Nam
Vào năm 2010, hàng thủy sản Việt Nam nhập vào Châu Âu sẽ phải tuân thủ quy định IUU, yêu cầu chứng nhận là sản phẩm được đánh bắt và khai thác hợp pháp. Cùng lúc, hàng may mặc Việt Nam vào Mỹ (và một số sản phẩm khác) cũng phải đạt chuẩn mực do đạo luật CPSIA quy định. Các rào cản kỹ thuật này đang khiến giới xuất khẩu Việt Nam lo ngại.
Trong tuần qua, một công văn của Ủy ban Châu Âu được báo chí tiết lộ cho biết là định chế này sẽ đề nghị Liên Hiệp Châu Âu kéo dài thêm 15 tháng thời hạn áp thuế chống phá giá lên giày da nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc. Áp dụng từ năm 2006, mức thuế đối với sản phẩm Việt Nam là 10%.
Việc áp đặt thuế chống phá giá này là một trong những khó khăn mà ngành xuất khẩu Việt Nam đang gặp phải trong bối cảnh các nước nhập khẩu hàng hoá ngày càng dựng thêm các rào cản để bảo vệ nền sản xuất nội địa. Vấn đề lại càng hệ trọng đối với Việt Nam khi mà các chướng ngại vật này lại được các thị trường chủ yếu của hàng Việt dựng lên, như tại Châu Âu hay Hoa Kỳ.
Quy định của Châu Âu về nguồn gốc hợp pháp của thủy sản
Tại Châu Âu chẳng hạn, trong lúc mặt hàng giày da dự trù sẽ tiếp tục bị áp thuế chống phá giá, thì kể từ tháng giêng năm 2010, đến lượt thủy sản bắt đầu gặp khó khăn về mặt thủ tục khi nhập vào thị trường Liên Hiệp Châu Âu. Vào lúc ấy, Châu Âu bắt đầu áp dụng những quy định gọi tắt là IUU (Illegal, Unreported and Unregulated Fishing) nhằm chống các hoạt động khai thác và đánh bắt thủy sản trái phép trên toàn thế giới.
Cá tra và cá ba sa xuất khẩu phải lọc đi toàn bộ phần mỡ. Theo các quy định này, thì tất cả các lô hải sản từ Việt Nam xuất qua châu Âu đều phải được chứng nhận về tính hợp pháp, có tên tàu đánh bắt, vùng biển khai thác vân vân, những vấn đề khó đáp ứng do phương thức đánh cá còn cá thể, manh múm và thủ công của ngư dân Việt Nam.
Chuẩn mực mới về an toàn do Hoa Kỳ áp dụng
Khó khăn cũng có thể đến từ Mỹ, thị trường quan trọng nhất của ngành xuất khẩu Việt Nam. Trên nguyên tắc, kể từ tháng 2/2010, chính quyền Mỹ sẽ áp dụng đạo luật có tên là Consumer Product Safety Improvment Act (CPSIA), tạm dịch là Luật Cải thiện An Toàn Sản phẩm Tiêu dùng. Theo đó luật này, các mặt hàng nhập vào thị trường Hoa Kỳ phải hội đủ các tiêu chuẩn an toàn nghiêm ngặt.
Báo Tuổi Trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh vào thứ hai tuần trước đã nêu bật một ví dụ liên quan đến hàng may mặc, theo đó nhà sản xuất phải cung cấp nhiều loại giấy tờ như giấy kiểm tra về tính an toàn của vải khi bị cháy, kèm theo hàm lượng chì trên vải chẳng hạn. Đạo luật CPSIA đang khiến giới xuất khẩu Việt Nam lo ngại vì đã đặt ra nhiều loại tiêu chuẩn cao về chất lượng và tính an toàn, buộc giới sản xuất tại Việt Nam phải cố gắng rất nhiều mới thỏa mãn được.
Cùng trong WTO/OMC, nhưng có thể áp dụng Những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires)
Giá biểu chính thức trong Tổ chức Mậu dịch quốc tế có những Giá biểu độc lập của mỗi nước (Tarifs douaniers autonomes) và Giá biểu quan thuế ký kết (Tarifs douaniers contractuels). Nhưng mỗi nước có thể nại ra những lý do để áp dụng những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires). Những biện pháp này có thể là:
=> Hạn chế về Lượng nhập cảng (Mesure de contingentement)
=> Hạn chế về Ngọai tệ (Mesure de Change)
=> Biện pháp Hành chánh (Mesure administrative) Tạo ra những chậm trễ hành chánh cho nhập cảng
=> Biện pháp Kỹ thuật (Mesure Technique) Đòi hỏi những thỏa mãn Kỹ thuật
=> Biện pháp Vệ sinh (Mesure d’Hygiène) Đây là Biện pháp mà các nước dễ lấy ra nhất để hạn chế nhập cảng. Mỗi nước đặt ra những điều kiện Vệ sinh để bảo vệ Dân tiêu dùng của họ. Khi nói đến vấn đề Vệ sinh bảo vệ sức khỏe cho Dân, thì những nước khác khó lòng chống lại. Hiện nay, những hàng đồ chơi cho trẻ con đang được đề cập đến nhiều nhất từ những hàng Trung quốc. Thực phẩm đến từ Trung quốc, Thuốc sản xuất từ Tầu, cũng phải được kiểm sóat gắt gao về vệ sinh.
Cách đây hai tuần, khi đề cập đến câu hỏi của Đài RFI xem có cách nào chống hàng Trung quốc đang lan tràn ở Việt Nam, chúng tôi đã đề nghị những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires), nhưng đã phải thất vọng nói rằng:”CSVN sợ hãi Tầu, làm sao có thể cứng rắn áp dụng những Biện pháp này !”
Hoa kỳ và Liên Aâu ngăn cản hàng Trung quốc và Việt Nam cùng một lúc
Những nhà chuyên môn Quan Thuế rất tinh ý về sự liên hệ giữa Việt Nam và Trung quốc. Hai nước có những điểm giống hệt nhau:
=> Cùng một Cơ Chế chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế
=> Bộ máy hành chánh đầy tham nhũng, bưng bít
=> Chỉ có thông tin một chiều của Nhà nước. Cấm cản mọi thông tin, báo chí có thể phanh phui sự thật.
=> Đàn áp tất cả những ai dám động chạm đến những sai trái, xậm xụi, tham nhũng của độc đảng Cộng sản.
=> Luật pháp do Nhà Nước tùy nghi xét định
Những khắng khít che đậy cho nhau giữa hai nước là công khai.
Chính vì vậy, nếu muốn ngăn cản hàng Trung quốc, mà thả lỏng Việt Nam, thì không thể có hiệu quả mong muốn, bởi vì Việt Nam sẽ gian giảo biến những hàng độc hại của Trung quốc thành “Made in Vietnam” để xuất cảng cho Trung quốc.
Hoa kỳ và Liên Aâu tuyên bố kiểm sóat chặt chẽ hàng hóa Trung quốc và Việt Nam cùng một lúc:
=> Lần thứ nhất năm năm 2006về hàng bằng da đến từ Trung quốc và Việt Nam
=> Lần này mới được tuyên bố cũng cho Trung quốc và Việt Nam về thực phẩm
Những cơ quan chuyên môn về Quan Thuế rất hiểu những quan hệ gian giảo giữa hai nước. Những hàng phế thải, mang độc chất của Trung quốc, khi bị cấm trực tiếp xuất cảng, đang tràn ngập vào Việt Nam. Những hàng này không những diệt Kinh tế Việt Nam, mà còn làm hại sức khỏe những thế hệ sau này. Đây là một cách diệt chủng.
Trước đây, khi Trung quốc chưa vào WTO/OMC (Tổ chức Mậu dịch Thế giới), giới Quan Thuế phải rất vất vả kiểm sóat nguồn gốc hàng hóa của Trung quốc. Hồi ấy, Hồng Kông vẫn thuộc Anh quốc và có quyền xuất cảng hàng hóa sang Thị trường Chung Aâu châu. Vì vậy, một số hàng hóa sản xuất ở Trung quốc, tại những khu vực quanh Hồng Kông, đã gian lận đề là “Made in HongKong”.
Giới Quan Thuế hiểu rằng ngày nay, với những liên hệ không kiểm sóat nổi, những hàng bị cấm xuất cảng trực tiếp từ Trung quốc, có thể được chuyển qua Việt Nam và đề là “Made in Vietnam”. Những gian thương hay ngay cả Nhà Nước Việt Nam, vì lợi lộc mà quên tương lai thiệt hại cho Dân tộc, có thể chấp nhận làm công việc gian lận này cho Trung quốc. Thương hiệu “Made in China” đang xuống dốc trầm trọng. Việt Nam chấp nhận làm công việc gian lận sẽ kéo theo sự xuống dốc của Thương hiệu “Made in Vietnam”. Việc phá Thương hiệu này sẽ tạo thiệt hai lâu dài.
Khi Quốc tế kiểm sóat hàng hóa xuất cảng của Trung quốc và Việt Nam cùng một lúc, đó là họ đã hiểu sự gian lận này của hai nước cấu kết với nhau như Anh Em hay như Thầy Tớ.
Giáo sư Kinh tế NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 05.11.2009
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 08:
HÀNG ĐỘC TRUNG QUỐC GIẾT THƯƠNG HIỆU “MADE IN VIETNAM”
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 29.10.2009
Từ khi cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế bắt đầu, các nước, nhất là Trung quốc và Nga luôn luôn lo sợ về tình trạng Ce Chở Mậu Dịch (Protectionnisme/Protectionism) lớn mạnh. Ngỏ lời đầu tiên trong WEF Davos 2008 (World Economic Forum Davos), Thủ tướng Nga và Thủ tướng Trung quốc nhấn mạnh đến những nguy cơ Che Chở Mậu Dịch này.
Suốt trong ba cuộc Họp của G20, tình trạng căng thẳng vẫn là vấn đề Che Chơ Mậu Dịch. Trước cuộc Họp G20 tại Pittburgh, Hoa kỳ tăng thuế nhập cảng lốp xe đến từ Trung quốc. Trung quốc phản ứng ngay bằng việc bù trừ về việc nhập gà từ Mỹ. Đồng thời Trung quốc đòi buộc chứng chỉ về trùng cúm heo đến từ Liên Aâu và Mỹ.
Tin tức mới về biện pháp kiểm sóat Đối với hàng Việt Nam
Vào năm 2010, hàng thủy sản Việt Nam nhập vào Châu Âu sẽ phải tuân thủ quy định IUU, yêu cầu chứng nhận là sản phẩm được đánh bắt và khai thác hợp pháp. Cùng lúc, hàng may mặc Việt Nam vào Mỹ (và một số sản phẩm khác) cũng phải đạt chuẩn mực do đạo luật CPSIA quy định. Các rào cản kỹ thuật này đang khiến giới xuất khẩu Việt Nam lo ngại.
Trong tuần qua, một công văn của Ủy ban Châu Âu được báo chí tiết lộ cho biết là định chế này sẽ đề nghị Liên Hiệp Châu Âu kéo dài thêm 15 tháng thời hạn áp thuế chống phá giá lên giày da nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc. Áp dụng từ năm 2006, mức thuế đối với sản phẩm Việt Nam là 10%.
Việc áp đặt thuế chống phá giá này là một trong những khó khăn mà ngành xuất khẩu Việt Nam đang gặp phải trong bối cảnh các nước nhập khẩu hàng hoá ngày càng dựng thêm các rào cản để bảo vệ nền sản xuất nội địa. Vấn đề lại càng hệ trọng đối với Việt Nam khi mà các chướng ngại vật này lại được các thị trường chủ yếu của hàng Việt dựng lên, như tại Châu Âu hay Hoa Kỳ.
Quy định của Châu Âu về nguồn gốc hợp pháp của thủy sản
Tại Châu Âu chẳng hạn, trong lúc mặt hàng giày da dự trù sẽ tiếp tục bị áp thuế chống phá giá, thì kể từ tháng giêng năm 2010, đến lượt thủy sản bắt đầu gặp khó khăn về mặt thủ tục khi nhập vào thị trường Liên Hiệp Châu Âu. Vào lúc ấy, Châu Âu bắt đầu áp dụng những quy định gọi tắt là IUU (Illegal, Unreported and Unregulated Fishing) nhằm chống các hoạt động khai thác và đánh bắt thủy sản trái phép trên toàn thế giới.
Cá tra và cá ba sa xuất khẩu phải lọc đi toàn bộ phần mỡ. Theo các quy định này, thì tất cả các lô hải sản từ Việt Nam xuất qua châu Âu đều phải được chứng nhận về tính hợp pháp, có tên tàu đánh bắt, vùng biển khai thác vân vân, những vấn đề khó đáp ứng do phương thức đánh cá còn cá thể, manh múm và thủ công của ngư dân Việt Nam.
Chuẩn mực mới về an toàn do Hoa Kỳ áp dụng
Khó khăn cũng có thể đến từ Mỹ, thị trường quan trọng nhất của ngành xuất khẩu Việt Nam. Trên nguyên tắc, kể từ tháng 2/2010, chính quyền Mỹ sẽ áp dụng đạo luật có tên là Consumer Product Safety Improvment Act (CPSIA), tạm dịch là Luật Cải thiện An Toàn Sản phẩm Tiêu dùng. Theo đó luật này, các mặt hàng nhập vào thị trường Hoa Kỳ phải hội đủ các tiêu chuẩn an toàn nghiêm ngặt.
Báo Tuổi Trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh vào thứ hai tuần trước đã nêu bật một ví dụ liên quan đến hàng may mặc, theo đó nhà sản xuất phải cung cấp nhiều loại giấy tờ như giấy kiểm tra về tính an toàn của vải khi bị cháy, kèm theo hàm lượng chì trên vải chẳng hạn. Đạo luật CPSIA đang khiến giới xuất khẩu Việt Nam lo ngại vì đã đặt ra nhiều loại tiêu chuẩn cao về chất lượng và tính an toàn, buộc giới sản xuất tại Việt Nam phải cố gắng rất nhiều mới thỏa mãn được.
Cùng trong WTO/OMC, nhưng có thể áp dụng Những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires)
Giá biểu chính thức trong Tổ chức Mậu dịch quốc tế có những Giá biểu độc lập của mỗi nước (Tarifs douaniers autonomes) và Giá biểu quan thuế ký kết (Tarifs douaniers contractuels). Nhưng mỗi nước có thể nại ra những lý do để áp dụng những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires). Những biện pháp này có thể là:
=> Hạn chế về Lượng nhập cảng (Mesure de contingentement)
=> Hạn chế về Ngọai tệ (Mesure de Change)
=> Biện pháp Hành chánh (Mesure administrative) Tạo ra những chậm trễ hành chánh cho nhập cảng
=> Biện pháp Kỹ thuật (Mesure Technique) Đòi hỏi những thỏa mãn Kỹ thuật
=> Biện pháp Vệ sinh (Mesure d’Hygiène) Đây là Biện pháp mà các nước dễ lấy ra nhất để hạn chế nhập cảng. Mỗi nước đặt ra những điều kiện Vệ sinh để bảo vệ Dân tiêu dùng của họ. Khi nói đến vấn đề Vệ sinh bảo vệ sức khỏe cho Dân, thì những nước khác khó lòng chống lại. Hiện nay, những hàng đồ chơi cho trẻ con đang được đề cập đến nhiều nhất từ những hàng Trung quốc. Thực phẩm đến từ Trung quốc, Thuốc sản xuất từ Tầu, cũng phải được kiểm sóat gắt gao về vệ sinh.
Cách đây hai tuần, khi đề cập đến câu hỏi của Đài RFI xem có cách nào chống hàng Trung quốc đang lan tràn ở Việt Nam, chúng tôi đã đề nghị những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires), nhưng đã phải thất vọng nói rằng:”CSVN sợ hãi Tầu, làm sao có thể cứng rắn áp dụng những Biện pháp này !”
Hoa kỳ và Liên Aâu ngăn cản hàng Trung quốc và Việt Nam cùng một lúc
Những nhà chuyên môn Quan Thuế rất tinh ý về sự liên hệ giữa Việt Nam và Trung quốc. Hai nước có những điểm giống hệt nhau:
=> Cùng một Cơ Chế chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế
=> Bộ máy hành chánh đầy tham nhũng, bưng bít
=> Chỉ có thông tin một chiều của Nhà nước. Cấm cản mọi thông tin, báo chí có thể phanh phui sự thật.
=> Đàn áp tất cả những ai dám động chạm đến những sai trái, xậm xụi, tham nhũng của độc đảng Cộng sản.
=> Luật pháp do Nhà Nước tùy nghi xét định
Những khắng khít che đậy cho nhau giữa hai nước là công khai.
Chính vì vậy, nếu muốn ngăn cản hàng Trung quốc, mà thả lỏng Việt Nam, thì không thể có hiệu quả mong muốn, bởi vì Việt Nam sẽ gian giảo biến những hàng độc hại của Trung quốc thành “Made in Vietnam” để xuất cảng cho Trung quốc.
Hoa kỳ và Liên Aâu tuyên bố kiểm sóat chặt chẽ hàng hóa Trung quốc và Việt Nam cùng một lúc:
=> Lần thứ nhất năm năm 2006về hàng bằng da đến từ Trung quốc và Việt Nam
=> Lần này mới được tuyên bố cũng cho Trung quốc và Việt Nam về thực phẩm
Những cơ quan chuyên môn về Quan Thuế rất hiểu những quan hệ gian giảo giữa hai nước. Những hàng phế thải, mang độc chất của Trung quốc, khi bị cấm trực tiếp xuất cảng, đang tràn ngập vào Việt Nam. Những hàng này không những diệt Kinh tế Việt Nam, mà còn làm hại sức khỏe những thế hệ sau này. Đây là một cách diệt chủng.
Trước đây, khi Trung quốc chưa vào WTO/OMC (Tổ chức Mậu dịch Thế giới), giới Quan Thuế phải rất vất vả kiểm sóat nguồn gốc hàng hóa của Trung quốc. Hồi ấy, Hồng Kông vẫn thuộc Anh quốc và có quyền xuất cảng hàng hóa sang Thị trường Chung Aâu châu. Vì vậy, một số hàng hóa sản xuất ở Trung quốc, tại những khu vực quanh Hồng Kông, đã gian lận đề là “Made in HongKong”.
Giới Quan Thuế hiểu rằng ngày nay, với những liên hệ không kiểm sóat nổi, những hàng bị cấm xuất cảng trực tiếp từ Trung quốc, có thể được chuyển qua Việt Nam và đề là “Made in Vietnam”. Những gian thương hay ngay cả Nhà Nước Việt Nam, vì lợi lộc mà quên tương lai thiệt hại cho Dân tộc, có thể chấp nhận làm công việc gian lận này cho Trung quốc. Thương hiệu “Made in China” đang xuống dốc trầm trọng. Việt Nam chấp nhận làm công việc gian lận sẽ kéo theo sự xuống dốc của Thương hiệu “Made in Vietnam”. Việc phá Thương hiệu này sẽ tạo thiệt hai lâu dài.
Khi Quốc tế kiểm sóat hàng hóa xuất cảng của Trung quốc và Việt Nam cùng một lúc, đó là họ đã hiểu sự gian lận này của hai nước cấu kết với nhau như Anh Em hay như Thầy Tớ.
Giáo sư Kinh tế NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 29.10.2009
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 07:
HÀNG TRUNG QUỐC “MADE IN VIETNAM”
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 22.10.2009
Từ khi cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế bắt đầu, các nước, nhất là Trung quốc và Nga luôn luôn lo sợ về tình trạng Ce Chở Mậu Dịch (Protectionnisme/Protectionism) lớn mạnh. Ngỏ lời đầu tiên trong WEF Davos 2008 (World Economic Forum Davos), Thủ tướng Nga và Thủ tướng Trung quốc nhấn mạnh đến những nguy cơ Che Chở Mậu Dịch này.
Suốt trong ba cuộc Họp của G20, tình trạng căng thẳng vẫn là vấn đề Che Chơ Mậu Dịch. Trước cuộc Họp G20 tại Pittburgh, Hoa kỳ tăng thuế nhập cảng lốp xe đến từ Trung quốc. Trung quốc phản ứng ngay bằng việc bù trừ về việc nhập gà từ Mỹ. Đồng thời Trung quốc đòi buộc chứng chỉ về trùng cúm heo đến từ Liên Aâu và Mỹ.
Tin tức mới về biện pháp kiểm sóat Đối với hàng Việt Nam
Vào năm 2010, hàng thủy sản Việt Nam nhập vào Châu Âu sẽ phải tuân thủ quy định IUU, yêu cầu chứng nhận là sản phẩm được đánh bắt và khai thác hợp pháp. Cùng lúc, hàng may mặc Việt Nam vào Mỹ (và một số sản phẩm khác) cũng phải đạt chuẩn mực do đạo luật CPSIA quy định. Các rào cản kỹ thuật này đang khiến giới xuất khẩu Việt Nam lo ngại.
Trong tuần qua, một công văn của Ủy ban Châu Âu được báo chí tiết lộ cho biết là định chế này sẽ đề nghị Liên Hiệp Châu Âu kéo dài thêm 15 tháng thời hạn áp thuế chống phá giá lên giày da nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc. Áp dụng từ năm 2006, mức thuế đối với sản phẩm Việt Nam là 10%.
Việc áp đặt thuế chống phá giá này là một trong những khó khăn mà ngành xuất khẩu Việt Nam đang gặp phải trong bối cảnh các nước nhập khẩu hàng hoá ngày càng dựng thêm các rào cản để bảo vệ nền sản xuất nội địa. Vấn đề lại càng hệ trọng đối với Việt Nam khi mà các chướng ngại vật này lại được các thị trường chủ yếu của hàng Việt dựng lên, như tại Châu Âu hay Hoa Kỳ.
Quy định của Châu Âu về nguồn gốc hợp pháp của thủy sản
Tại Châu Âu chẳng hạn, trong lúc mặt hàng giày da dự trù sẽ tiếp tục bị áp thuế chống phá giá, thì kể từ tháng giêng năm 2010, đến lượt thủy sản bắt đầu gặp khó khăn về mặt thủ tục khi nhập vào thị trường Liên Hiệp Châu Âu. Vào lúc ấy, Châu Âu bắt đầu áp dụng những quy định gọi tắt là IUU (Illegal, Unreported and Unregulated Fishing) nhằm chống các hoạt động khai thác và đánh bắt thủy sản trái phép trên toàn thế giới.
Cá tra và cá ba sa xuất khẩu phải lọc đi toàn bộ phần mỡ.
Theo các quy định này, thì tất cả các lô hải sản từ Việt Nam xuất qua châu Âu đều phải được chứng nhận về tính hợp pháp, có tên tàu đánh bắt, vùng biển khai thác vân vân, những vấn đề khó đáp ứng do phương thức đánh cá còn cá thể, manh múm và thủ công của ngư dân Việt Nam.
Chuẩn mực mới về an toàn do Hoa Kỳ áp dụng
Khó khăn cũng có thể đến từ Mỹ, thị trường quan trọng nhất của ngành xuất khẩu Việt Nam. Trên nguyên tắc, kể từ tháng 2/2010, chính quyền Mỹ sẽ áp dụng đạo luật có tên là Consumer Product Safety Improvment Act (CPSIA), tạm dịch là Luật Cải thiện An Toàn Sản phẩm Tiêu dùng. Theo đó luật này, các mặt hàng nhập vào thị trường Hoa Kỳ phải hội đủ các tiêu chuẩn an toàn nghiêm ngặt.
Báo Tuổi Trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh vào thứ hai tuần trước đã nêu bật một ví dụ liên quan đến hàng may mặc, theo đó nhà sản xuất phải cung cấp nhiều loại giấy tờ như giấy kiểm tra về tính an toàn của vải khi bị cháy, kèm theo hàm lượng chì trên vải chẳng hạn. Đạo luật CPSIA đang khiến giới xuất khẩu Việt Nam lo ngại vì đã đặt ra nhiều loại tiêu chuẩn cao về chất lượng và tính an toàn, buộc giới sản xuất tại Việt Nam phải cố gắng rất nhiều mới thỏa mãn được.
Cùng trong WTO/OMC, nhưng có thể áp dụng Những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires)
Giá biểu chính thức trong Tổ chức Mậu dịch quốc tế có những Giá biểu độc lập của mỗi nước (Tarifs douaniers autonomes) và Giá biểu quan thuế ký kết (Tarifs douaniers contractuels). Nhưng mỗi nước có thể nại ra những lý do để áp dụng những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires). Những biện pháp này có thể là:
=> Hạn chế về Lượng nhập cảng (Mesure de contingentement)
=> Hạn chế về Ngọai tệ (Mesure de Change)
=> Biện pháp Hành chánh (Mesure administrative)
Tạo ra những chậm trễ hành chánh cho nhập cảng
=> Biện pháp Kỹ thuật (Mesure Technique)
Đòi hỏi những thỏa mãn Kỹ thuật
=> Biện pháp Vệ sinh (Mesure d’Hygiène)
Đây là Biện pháp mà các nước dễ lấy ra nhất để hạn chế nhập cảng. Mỗi nước đặt ra những điều kiện Vệ sinh để bảo vệ Dân tiêu dùng của họ. Khi nói đến vấn đề Vệ sinh bảo vệ sức khỏe cho Dân, thì những nước khác khó lòng chống lại. Hiện nay, những hàng đồ chơi cho trẻ con đang được đề cập đến nhiều nhất từ những hàng Trung quốc. Thực phẩm đến từ Trung quốc, Thuốc sản xuất từ Tầu, cũng phải được kiểm sóat gắt gao về vệ sinh.
Cách đây hai tuần, khi đề cập đến câu hỏi của Đài RFI xem có cách nào chống hàng Trung quốc đang lan tràn ở Việt Nam, chúng tôi đã đề nghị những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires), nhưng đã phải thất vọng nói rằng:”CSVN sợ hãi Tầu, làm sao có thể cứng rắn áp dụng những Biện pháp này !”
Hoa kỳ và Liên Aâu ngăn cản hàng Trung quốc và Việt Nam cùng một lúc
Những nhà chuyên môn Quan Thuế rất tinh ý về sự liên hệ giữa Việt Nam và Trung quốc. Hai nước có những điểm giống hệt nhau:
=> Cùng một Cơ Chế chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế
=> Bộ máy hành chánh đầy tham nhũng, bưng bít
=> Chỉ có thông tin một chiều của Nhà nước. Cấm cản mọi thông tin, báo chí có thể phanh phui sự thật.
=> Đàn áp tất cả những ai dám động chạm đến những sai trái, xậm xụi, tham nhũng của độc đảng Cộng sản.
=> Luật pháp do Nhà Nước tùy nghi xét định
Những khắng khít che đậy cho nhau giữa hai nước là công khai.
Chính vì vậy, nếu muốn ngăn cản hàng Trung quốc, mà thả lỏng Việt Nam, thì không thể có hiệu quả mong muốn, bởi vì Việt Nam sẽ gian giảo biến những hàng độc hại của Trung quốc thành “Made in Vietnam” để xuất cảng cho Trung quốc.
Hoa kỳ và Liên Aâu tuyên bố kiểm sóat chặt chẽ hàng hóa Trung quốc và Việt Nam cùng một lúc:
=> Lần thứ nhất năm năm 2006về hàng bằng da đến từ Trung quốc và Việt Nam
=> Lần này mới được tuyên bố cũng cho Trung quốc và Việt Nam về thực phẩm
Những cơ quan chuyên môn về Quan Thuế rất hiểu những quan hệ gian giảo giữa hai nước. Những hàng phế thải, mang độc chất của Trung quốc, khi bị cấm trực tiếp xuất cảng, đang tràn ngập vào Việt Nam. Những hàng này không những diệt Kinh tế Việt Nam, mà còn làm hại sức khỏe những thế hệ sau này. Đây là một cách diệt chủng.
Trước đây, khi Trung quốc chưa vào WTO/OMC (Tổ chức Mậu dịch Thế giới), giới Quan Thuế phải rất vất vả kiểm sóat nguồn gốc hàng hóa của Trung quốc. Hồi ấy, Hồng Kông vẫn thuộc Anh quốc và có quyền xuất cảng hàng hóa sang Thị trường Chung Aâu châu. Vì vậy, một số hàng hóa sản xuất ở Trung quốc, tại những khu vực quanh Hồng Kông, đã gian lận đề là “Made in HongKong”.
Giới Quan Thuế hiểu rằng ngày nay, với những liên hệ không kiểm sóat nổi, những hàng bị cấm xuất cảng trực tiếp từ Trung quốc, có thể được chuyển qua Việt Nam và đề là “Made in Vietnam”. Những gian thương hay ngay cả Nhà Nước Việt Nam, vì lợi lộc mà quên tương lai thiệt hại cho Dân tộc, có thể chấp nhận làm công việc gian lận này cho Trung quốc. Thương hiệu “Made in China” đang xuống dốc trầm trọng. Việt Nam chấp nhận làm công việc gian lận sẽ kéo theo sự xuống dốc của Thương hiệu “Made in Vietnam”. Việc phá Thương hiệu này sẽ tạo thiệt hai lâu dài.
Khi Quốc tế kiểm sóat hàng hóa xuất cảng của Trung quốc và Việt Nam cùng một lúc, đó là họ đã hiểu sự gian lận này của hai nước cấu kết với nhau như Anh Em hay như Thầy Tớ.
Giáo sư Kinh tế NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 22.10.2009
HUẤN DỤ CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN-PHAOLÔ II CHO HÀNG GIÁM MỤC VN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 22.10.2009
Ngày 22.01.2002, các hãng Thông Tấn ZENIT cũng như FIDES từ Vatican đã loan tin về Huấn Dụ của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, người đã đã sống và đã hiểu những mưu mô qủy quyệt của Cộng sản, trong dịp gặp trực tiếp giữa Ngài và hàng Giám Mục Việt Nam gồm 26 Vị Giám Mục tới Vatican. Đức Thánh Cha trả lời từng điểm cho một THỈNH NGUYỆN THƯ đồng ký bởi 158 Linh mục và 24'601 Giáo dân nhân cuộc đấu tranh của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ. Ngài khuyên giải mọi người hãy can đảm đấu tranh về từng điểm một như sau:
1) Mẹ Giáo Hội VN có 6 triệu người con chưa được hưởng những quyền thiết cần cho Tự do Tôn Giáo.
Đức Thánh Cha tỏ sự vui mừng khi nghe Mẹ Giáo Hội VN có 6 triệu người con, đó là chưa kể những người cùng dòng máu Việt đang tản mác khắp nơi trên 70 nước. Đức Thánh Cha đã nghe trực tiếp lời khẳng định của Đức Cha NGUYỄN VĂN HÒA :“Giáo Hội VN hiện nay không được hưởng những quyền tự do thiết cần.“ Đức Thánh Cha mủi lòng và thương 6 triệu người con. Ngài đã nguyện xin trao phó Mẹ Việt Nam với 6 triệu người con ấy trong cánh tay can thiệp của Đức Mẹ LA VANG.
2) Giáo Hội không phải bị ràng buộc vào bất cứ một hệ thống Chính trị nào.
Trích dẫn Công Đồng Vatican II, Đức Thánh Cha đã tái khẳng định nguyên tắc căn bản rằng Giáo Hội, vì nhu cầu tôn giáo chính đáng riêng của mình, không thể pha trộn lẫn lộn với với bất cứ một tập thể chính trị nào dù bằng sự viện lẽ bất cứ lý do nào đi chăng nữa.
3) Sự thiện rất qúy báu của Tự do Tôn Giáo
Đức Thánh Cha đi vào chi tiết hơn và hòan tòan ca ngợi rằng điều tốt đẹp vô cùng qúy giá là quyền Tự do Tôn giáo. Quyền Tự do Tôn giáo này được đặc biệt quan tâm tới bởi Công Đồng Vatican II, bởi những Tuyên Ngôn và bởi những Khế Ước quốc tế, không phải chỉ cho những cá nhân mà đồng thời phải cho những Tập Thể Tôn Giáo. Đối với những cá nhân, quyền Tự do Tôn giáo này bảo đảm quyền tuyên xưng Đức Tin và quyền Hành Đạo. Đối với những Tập Thể Tôn Giáo, quyền Tự do Tôn Giáo hàm ngụ việc bảo đảm những quyền căn bản như quyền điều hành tự trị, quyền cử hành việc thờ phụng công cộng mà không bị hạn chế, quyền dậy dỗ công khai lòng tin và quyền làm chứng đức tin bằng lời nói hay bằng bản viết, quyền khai triển sức mạnh đơn thuần của học thuyết xã hội của Tập Thể, quyền cổ võ những sáng kiến trong những lãnh vực giáo dục, văn hóa, bác ái và xã hội.
4) Đức Giáo Hòang cầu nguyện và cổ võ cho lòng can đảm
Đức Giáo Hòang đã kêu gọi tất cả Cộng Đồng Công Giáo VN hãy “TIẾN RA KHƠI“ với một sức mạnh mới. “RA KHƠI“ ở đây theo ý nghĩa của Huấn Dụ là phải can đảm dứt bỏ cảnh ao tù hiện hành để cương quyết tìm một hướng đi mới không bị kềm chế, nhưng thóang đạt, thênh thang như biển khơi cho Giáo Hội. Ngài tha thiết nhờ cậy các Giám mục Việt Nam một điều:“Khi anh em (các Giám mục) trở lại Quê Hương trọng qúy của anh em, thì hãy nói cho các Linh mục, các Tu sĩ Nam, Nữ, cho những người dẫn dậy Giáo lý, cho tất cả Giáo dân và đặc biệt cho những người Trẻ rằng Tôi đang cầu nguyện cho họ và đang cổ võ họ hãy CAN ĐẢM thắng vượt những trở ngại, hãy lấy gương các Thánh và các Vị Tử Đạo đã tiên phong trước họ trên đường ĐỨC TIN và máu của những Vị ấy đang hiện diện như hạt giống của một ĐỜI SỐNG MỚI cho tòan thể qúy Quê Hương của Anh em.“
Theo tinh thần Huấn Dụ từng điểm này của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, người đã sống thực và kinh nghiệm những xảo quyệt của Cộng sản trong xứ của Ngài là Ba-Lan, Giáo dân chúng ta dâng những Ý CHỈ CẦU NGUYỆN nhân dịp Nguyễn Minh Triết, Cộng sản Việt Nam, sang Vatican gặp Đức Giáo Hòang Benedicto XVI hiện hành:
=> Giáo dân, Linh mục, Tu sĩ Nam, Nữ và Giám mục Việt Nam đã chứng tỏ tinh thần “RA KHƠI“ trong thời gian mới đây ở những vụ Tòa Khâm sứ, Thái Hà, Tam Tòa... theo Huấn Dụ của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II. Xin Đức Thánh Cha Benedicto XVI tăng lời cầu nguyện để Giáo Hội Việt Nam giữ vững tinh thần “RA KHƠI“ ấy.
=> Nguyễn Minh Triết có thể đánh lừa đổi chác Ngọai giao để nhờ Vatican can thiệp nhằm vi phạm vào tính cách tự trị của tổ chức Giáo Hội VN, tỉ dụ như đề nghị thuyên chuyển Đức Tổng Giám mục NGÔ QUANG KIỆT khỏi Hà Nội. Xin Đức Thánh Cha Benedicto XVI cương quyết nhắc lại cho Nguyễn Minh Triết cái quyền căn bản điều hành tự trị của Tập Thể Tôn Giáo mà Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã nhấn mạnh theo tinh thần Công Đồng Vatican II, theo những Tuyên Ngôn và những Khế Ước Quốc tế.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 06:
TÒAN DÂN CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TẦU NHƯNG NHÀ NƯỚC CSVN PHẢN BỘI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 15.10.2009
Vấn đề Biên giới, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, cách đây 5 năm, đã tạo ra những phản ứng, nhưng phần lớn là từ Hải ngọai. Quốc nội thời ấy vẫn còn bị bưng bít. Nhưng việc Hòang/Trường Sa đã gây chống đối trong giới trẻ tại Quốc nội. Từ vụ Bôxit Tây Nguyên, giới Trí thức quốc nội đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ.
Thái độ cố chấp đảng CSVN đối với vụ Bôxit Tây Nguyên trước phản ứng của Dân chúng, của Công Giáo và Phật Giáo, rồi thái độ yếu hèn của Nhà Nước CSVN đối với những vụ cướp bóc, bắt ngư phủ VN càng làm lan rộng sự phản ứng chống đối của Quốc nội.
Việc chống hàng hóa Trung quốc lan tràn ở Việt Nam được khởi xướng từ Tuần Tọa đàm trực tuyến tổ chức bời Vietnamnet vào trung tuần tháng 6/2009. Các Chuyên gia Kinh tế đồng lọat lên tiếng về nạn xâm lăng Kinh tế của Trung quốc. Việc lên tiếng này gặp phải thái độ trịch thượng từ một Tùy Viên Thương mại của Sứ quán Trung quốc tại Hà Nội, Hồ Tỏa Cẩm. Nhà Nước VN yếu hèn và ngoan ngõan theo chỉ thị trịch thượng của Hồ Tỏa Cẩm, đã ra Quyết Định 24.07.2009 cấm những phản biện liên hệ đến Trung quốc. Tổ chức IDS của những Chuyên gia Kinh tế giải tán.
Việc hống hách, ức chế của Trung quốc và việc ngoan ngõan yếu hèn của Nhà Nước CSVN theo quan thầy Trung quốc không những không làm yên tiếng được giới Trí thức Chuyên gia Quốc nội, mà còn gây phẫn nộ lan rộng tới Quần chúng đối với việc xâm lăng Kinh tế của Trung quốc nhằm diệt Kinh tế Việt Nam.
LỜI KÊU GỌI BÀI TRỪ HÀNG TRUNG QUỐC của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là tiếng kêu gọi Tòan Dân hợp sức cứu nguy Đất Nước trước cuộc xâm lăng Kinh tế của Trung quốc. Đại Hội Phật Giáo VNTN Hải ngọai triệt để ủng hộ LỜI KÊU GỌI của HT.THÍCH QUẢNG ĐỘ.
Khi mà Trung quốc làm cuộc xâm lăng Kinh tế, nghĩa là hàng hóa tồn đọng của Trung quốc tràn vào Việt Nam, nghĩa là Lao động thất nghiệp tại Trung quốc tràn qua biên giới Việt để chiếm những công ăn việc làm của Dân chúng VN đang bị thất nghiệp do cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế 2007/2008, thì việc đứng lên phản đối cuộc xâm lăng Kinh tế sẽ lan tràn tới đại đa số dân nghèo nông dân và công nhân.
Tuần vừa rồi Đài Phát thanh RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn tôi về Lời Kêu Gọi của HT. THÍCH QUẢNG ĐỘ, tôi đã trả lời hòan tòan ủng hộ lời kêu gọi cứu nguy Đất Nước này. Không ai có thể chống lại Lời Kêu Gọi cứu nguy Đất Nước trước một cuộc xâm lăng có hệ thống và liên hệ đến tòan diện đời sống của Dân chúng Việt Nam.
Cuộc xâm lăng này đã được các Chuyên gia Kinh tế nói lên như một tiếng kêu gọi thống thiết:
(TuanVietNam)- “Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, “quét” sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các DN ta đang “thua trắng bụng”. Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới DN và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc.“
Đài RFI hỏi tôi làm thế nào để ngăn chặn cuộc xâm lăng Kinh tế nguy hiểm này khi mà Việt Nam và Trung quốc cùng ở trong WTO/OMC (Tổ chức Mậu dịch Thế giới). Tôi đã trả lời hai điểm sau đây:
1) Dù cùng ở trong WTO/OMC, nhưng quyền tự vệ là quyền tối thượng khi mà một cá nhân hay một Tập thể thấy mình yếu sức cần phải tự vệ để sinh tồn. Mỗi Quốc gia, khi có lý do chính đáng, có quyền đưa ra những Luật quan thuế của riêng mình (Droits Douaniers autonomes)
2) Ngòai những Giá biểu Quan thuế được ký kết (Tarifs Douaniers contractuels) trong WTO/OMC mà mình phải tôn trọng, mỗi Quốc gia có thể xử dụng những Biện pháp không giá biểu (Mesures non-tarifaires) khi có những lý do như Vệ sinh, Kỹ thuật...
Xử dụng hai cách trên đây, mình có thể ngăn chặn việc nhập hàng hóa Trung quốc. Nhưng để xử dụng những biện pháp này, phải có bàn tay cứng rắn của Nhà Nước.
Điều tệ hại hơn cả là chính Nhà Nước CSVN đã tự khóa tay mình lại hoặc hèn hạ dâng hai cánh tay cho Trung quốc điều khiển rồi.
Vấn đề là phải chặt những cánh tay hèn hạ đê tiện CSVN đi để cứu nguy Kinh tế đất nước.
Giáo sư Kinh tế NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 05:
PHONG TRÀO TÒAN DÂN TẨY CHAY HÀNG HÓA TRUNG QUỐC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 08.10.2009
Nhân LỜI KÊU GỌI KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC của HT. THÍCH QUẢNG ĐỘ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, chúng tôi chuyển đến qúy vị Tập Tài Liệu gồm một số bài mà chúng tôi đã viết về vấn đề này từ năm 2006 cho đến nay.
Lời Kêu gọi của HT.THÍCH QUẢNG ĐỘ
Chúng tôi nhiệt liệt ủng hộ Lời kêu gọi của HT. THÍCH QUẢNG ĐỘ. Đây không phải là Lãnh vực tranh chấp Kinh tế, mà là Bổn phận phải lên tiếng thuộc Lãnh vực cứu nguy Dân tộc khỏi cuộc Xâm lăng Kinh tế của Trung quốc do Nhà Nước CSVN tiếp tay. Lời kêu gọi không dùng hàng hóa Trung quốc nhằm vào cái ngọn và mang tính cách tức thời. Lời kêu gọi nhằm vào khơi động tinh thần Dân tộc của quần chúng.
Cuộc Xâm Lăng Kinh tế TQ đã mọc rễ
Việc chiếm Hòang Sa và Trường Sa không phải chỉ nguyên việc xâm chiếm mấy hòn đảo, mà chính yếu là việc cưỡng chiếm những tài nguyên như Dầu lửa tại ngòai khơi Việt Nam, đồng thời chiếm giữ nguồn Thủy sản, mạch sống của những Tỉnh ven Biển Đông. Chương trình mà Trung quốc đang nhằm vào đất liền VN, đó là những tài nguyên khóang sản, tỉ dụ Bôxit Tây Nguyên.
Từ cạnh tranh hàng hóa đến diệt Công nghệ sản xuất
Khi nhập WTO/OMC, CSVN mơ mộng đi hốt bạc, mà không nghĩ rằng những nước ngòai, nhất là Trung quốc, vào chính nhà mình để hốt bạc và giết chết Công nghệ. Thực vậy CSVN đã không biết người, biết mình. Vào WTO, tức là vào đấu trường. Khi nhập đấu trường mà mình còn yếu ớt thì chỉ để cho người ta đánh rục xuống không thương tiếc. Năm 2006, chúng tôi đã viết những bài về đấu trường WTO/OMC để cảnh cáo cho CSVN về sự yếu ớt.
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới bùng nổ
Việt Nam đã yếu nghèo, một mặt không hốt được bạc trên đấu trường WTO, một mặt tại sân nhà bị nước ngòai, nhất là Trung quốc hốt bạc đem ra, lại còn mắc thêm cái eo nữa, đó là cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới. Cuộc Khủng hỏang khiến vốn đầu tư nước ngòai giảm xuống tới 82% và việc đặt mua hàng Việt Nam giảm xuống 60%. Cán cân Mậu dịch hòan tòan thất lợi, nhất là đối với Trung quốc.
Những tồn đọng Trung quốc tràn sang Việt Nam.
Kinh tế Trung quốc làm việc chính yếu cho xuất cảng. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới cũng mang đến những tai hại cho Trung quốc giống như Việt Nam. Hàng hóa sản xuất bị tồn đọng, những cơ sở sản xuất lạc hậu thêm. Khi không xuất cảng sang Hoa-kỳ và Liên Aâu được, thì những hàng hóa tồn đọng của Trung quốc hướng về những nước nghèo Á-châu. Trung quốc đã dành ra ngân qũy USD.25 tỉ để lo liệu việc đẩy những hàng tồn đọng sang các nước nghèo Á châu. Việt Nam là nước mà Trung quốc nhằm hơn cả vì là đầy tớ chính trị cho TQ.
Việt Nam trở thành con nợ hèn hạ của Trung quốc
Trong tình cảnh thiếu thốn, nghèo khổ, lại thêm bụng tham nhũng cá nhân được Cơ Chế che chở, CSVN sẵn sàng nhận làm con nợ đê hèn cho Trung quốc. Dân tộc Việt Nam sẽ phải è lưng làm việc để trả trường kỳ những món nợ mà CSVN nhận với Trung quốc lúc này. Trung quốc cho Việt Nam vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bằng hàng hóa, thiết bị phế thải từ những nhà máy cũ, nhân công thất nghiệp đầy tràn tại Trung quốc. Qua những Dự án, Trung quốc đẩy vật dụng tồn đọng, những nhà máy cũ, những nhân công Trung quốc sang Việt Nam. Tất cả những vật dụng, nhà máy cũ và nhân công ấy được tính ra bằng tiền để Việt Nam nhận nợ mà Dân tộc phải hòan trả dài hạn sau này.
Chuyên gia Kinh tế VN lên tiếng và bị khóa miệng
Trước cảnh xâm lăng Kinh tế có hệ thống như trên, những Chuyên gia Kinh tế Việt Nam đã lên tiếng qua cuộc Họp Trực Tuyến của Vietnamnet và qua Tổ chức IDS. Nhưng CSVN đã do Tầu ra lệnh (Hồ Sở Câm) khóa miệng những tiếng nói chính đáng cho quyền lợi Kinh tế của Dân tộc Việt Nam. Nhà Nước CSVN đã quá yếu hèn không những chấp nhận cuộc xâm lăng Kinh tế, mà còn bắt bớ, đe dọa tất cả những ai nói đụng đến Tầu.
Cuộc xâm lăng Kinh tế của Trung quốc đã mọc rễ sâu. Không những tức thời chúng ta bài trừ hàng hóa Trung quốc như Lời Kêu Gọi của Hòa Thượng THÍCH QUẢNG ĐỘ, mà còn phải nỗ lực đào những cái rễ xâm lăng đã ăn sâu trên Đất nước Việt Nam.
Về vấn đề này, chúng tôi đã trình bầy tỉ mỉ trong ba cuốn sách mới xuất bản:
=> Nguyễn Phúc Liên: DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN (216 trang) Xuất Bản DAY&NIGHT, Ventura, California, USA 2009
=> Nguyễn Phúc Liên: TÀI CHÁNH/KINH TẾ THẾ GIỚI: KHỦNG HỎANG 2007/08 & HẬU QUẢ CHO VN (425 trang) Xuất Bản DAY&NIGHT, Ventura, California, USA 2009
=> Nguyễn Phúc Liên: VIỆT NAM HỘI NHẬP WTO: ĐIỀU KIỆN TẠO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH (300 trang) Xuất Bản DAY&NIGHT, Ventura, California, USA 2009
Trích ra từ 3 cuốn sách trên, chúng tôi đã thu gọn lại, cùng với những bài viết của Trí thức, Chuyên gia Kinh tế quốc nội thành một Tập Tài Liệu cho thấy rõ việc xâm lăng Kinh tế của Trung quốc đã lan tràn và mọc rễ ở Việt Nam.
NỘI DUNG TẬP TÀI LIỆU:
(01) HT.THÍCH QUẢNG ĐỘ KÊU GỌI KHÔNG DÙNG HÀNG TQ – tr.3 (02) CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC – trang 6 (03) WHO: HÀNG TQ & NƯỚC NGÒAI DIỆT KINH TẾ VN TẠI NHÀ – tr.8 (04) KHỦNG HỎANG TC/ KT VÀ SỰ LỚN MẠNH CHE CHỞ MẬU DỊCH – tr.17 (05) TA VỀ TA TẮM AO TA:G17 Á-CHÂU: HỌP THƯỢNG ĐỈNH – trang 34 (06) KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TQ: TỪNG NGÀN XÍ NGHIỆP DẸP TIỆM – tr.38 (07) TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM: KINH TẾ TỤT DỐC RÕ RỆT – tr.47 (08) TRUNG QUỐC: Ý ĐỒ THỐNG TRỊ KINH TẾ Á CHÂU – tr.54 (09) CSVN CÚI ĐẦU RƯỚC LẤY NHỮNG PHẾ THẢI KINH TẾ TỪ TQ – tr.57 (10) CHUYÊN GIA KT QUỐC NỘI TUYÊN CHIẾN VỚI HÀNG TQ – tr.63 (11) HÀNG TRUNG QUỐC GIẾT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM –tr.68 (12) QUỐC NỘI ĐƯƠNG ĐẦU VỚI TỔNG TẤN CÔNG HÀNG TQ – tr.73 (13) WTO & HÀNG TRUNG QUỐC: MỒ CHÔN KINH TẾ VIỆT NAM ? – tr.77 (14) TỪ CÔNG NGHỆ HÓA ĐẾN PHÂN PHỐI HÀNG TRUNG QUỐC – tr.88 (15) TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT-TRUNG ĐỂ XÂM LĂNG -- 90 (16) THEO LỆNH TQ CSVN KIỂM SÓAT CHẶT CHẼ PHÍA VN – tr.96 (17) CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TQ (GỒM 5 BÀI QUAN ĐIỂM) – tr.98 (18) VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN IDS ĐÓNG CỬA – tr.111 (19) TUYÊN BỐ CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN IDS – tr.114 (20) BÁN HÀNG VÀ MUA HÀNG VÌ YÊU NƯỚC – tr.119 (21) TƯ DOANH BẮT ĐẦU NGHĨ ĐẾN TIỀN ĐỒ ĐẤT NƯỚC – tr.120 (22) THÁI ĐỘ YẾU ĐUỐI CỦA CSVN LÀM TQ HỐNG HÁCH XÂM LĂNG –tr.122 (23) CSVN BỊT MIỆNG NHỮNG AI CHỈ TRÍCH TRUNG QUỐC – tr.129 (24) GIỚI ĐẠI HỌC QUỐC NỘI: MUÔN CẠNH TRANH, PHẢI PHÁT TRIỂN – tr.132 (25) MUỐN PHÁT TRIỂN: DỨT BỎ CƠ CHẾ NUÔI DƯỠNG THAM NHŨNG –tr.135
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 08.10.2009
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 04:
TRUNG QUOC XỬ DỤNG VŨ KHÍ MẠNH NHẤT ĐỂ XÂM LĂNG VIỆT NAM
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 01.10.2009
Trong cuộc tranh đấu người với người, VŨ KHÍ là phương tiện được xử dụng để thắng địch, để giết đối phương. Câu tục ngữ Việt Nam sau đây cho thấy việc xử dụng vũ khí :”Lấy lửa thử vàng; lấy vàng thử đàn bà; lấy đàn bà thử đàn ông !”
Con người có hai phần: THÂN XÁC và TÂM LINH. Có những vũ khí chỉ giết được thân xác, nhưng không giết được tâm linh. Có những vũ khí nhằm giết tâm linh và bắt thân xác phải phục tùng.
Câu tục ngữ trên đây cũng nói về hai bình diện. Khi nói lấy lửa thử vàng, đó là nói hòan tòan về thể chất (Physique). Nhưng khi nói lấy vàng thử đàn bà và lấy đàn bà thử đàn ông là nói về bình diện tâm linh (Esprit). Nếu đọc thêm câu tục ngữ nữa:”Có tiền mua tiên cũng được”, thì đối với đàn ông ham đàn bà đẹp (tiên), thì vàng trở thành khí giới chính để thử họ bởi vì họ dùng vàng mua đàn bà mà họ ham. Vì vậy câu tục ngữ ở đầu bài có thể thu gọn lại: “Lấy lửa thử vàng; Lấy vàng thử cả đàn bà và đàn ông !”
Chạy đua vũ khí giết thân xác
Lịch sử Chiến tranh là Lịch sử sáng chế Vũ khí nhằm chính yếu giết thân xác. Từ thanh kiếm đến cái chùy, đó là vũ khí giết thân xác. Súng ống bắn từ xa. Trái nổ ra từng mảnh. Bom cháy. Bom nguyên tử. Thậm chí bom vi trùng, bom hóa chất.
Thế giới chạy đua sản xuất những vũ khí đó là nhằm giết thân xác con người chứ không nhằm giết tâm linh con người.
Vũ khí giết tâm linh
Thứ vũ khí giết tâm linh con người chưa hẳn là gươm giáo, súng ống, bom nguyên tử hay chất hóa học. Vũ khí ấy được câu tục ngữ Việt Nam nói tới: “Lấy lửa thử vàng; LẤY VÀNG THỬ CẢ ĐÀN BÀ VÀ ĐÀN ÔNG !”. Vàng có nghĩa là Tiền bạc. Lấy tiền bạc làm vũ khí thì có thể giết được TÂM LINH và từ đó khắc phục luôn cả THÂN XÁC.
Trong Lịch sử Thiên Chúa Giáo, ngay lúc sinh thời, Chúa Giêsu, Vị sáng lập, đã cho thấy cái vũ khí nguy hại nhất này có khả năng giết TÂM LINH. Thực vậy, Giuda, một Môn đệ của Chúa Giêsu, chỉ vì 30 đồng bạc, mà Tâm Linh của ông bị giết để trở thành kẻ phản bội lại Thầy mình, đưa đối phương đến bắt chính Chúa Giêsu nộp cho đối phương kết án chết trên Thập tự giá. Vũ khí Tiền bạc được xử dụng để giết Tâm Linh vậy.
Trong Thế giới hiện đại, người ta thường nói đến Mafia xử dụng vũ khí Tiền bạc. Người ta cũng nói tới những nhóm Tài phiệt Do Thái xử dụng Tiền bạc để ảnh hưởng lên những quyết định của những Chính quyền đầy quyền lực.
Người Tầu thiện nghệ về Vũ khí Tiền bạc
Người Việt Nam đều biết trước đây, những gian thương Chợ Lớn đã dùng vũ khí tiền bạc để khuynh đảo Chính quyền. Chúng ta biết Pháp Trường Cát của Nguyễn Cao Kỳ. Gian thương Tạ-Vinh bị kết án tử hình và bị đưa ra xử tại Pháp Trường Cát, nhưng vũ khí Tiền bạc đã giết Tâm Linh kẻ kết án hắn. Người ta xử tử một người khác để tên Tạ-Vinh trốn ra khỏi Việt Nam và sống phây phây.
Trung quốc hiện nay bỏ ra 25 tỉ đo-la làm vũ khí giết tâm linh để xâm lăng Kinh tế những nước nghèo Á-châu.
Tại Việt Nam, vũ khí Tiền bạc đã và đang giết Tâm linh những Lãnh đạo CSVN cho tận đến Tỉnh, Quận. Khi Tâm linh Lãnh đạo đảng CSVN bị vũ khí Tiền bạc giết rồi, thì thân xác họ chỉ còn là cái xác không hồn, cắm đầu làm theo những mệnh lệnh của Tầu chủ trương xâm lăng Việt Nam.
Vũ khí Tiền bạc là mạnh nhất vì nó có thể giết được Tâm Linh. Đó cũng là vũ khí thần diệu và nguy hiểm nhất vì những lẽ sau đây:
=> Chính những người được vũ khí nhằm vào để giết lại còn ao ước nhận được vũ khí Tiền bạc để Tâm Linh mình tự sát.
=> Đối phương thường giao vũ khí ấy cho Vợ để giết Chồng
=> Đối phương cũng thường nhờ người trong Gia đình, trong Họ hàng xử dụng vũ khí ấy để giết Trưởng tộc, nhất là khi người này có những Chức vụ quan trọng công cộng. Một người làm sang, cả họ được nhờ vũ khí này để tự sát Tâm Linh.
(Trong bài sau, chúng tôi sẽ phân tích đạo quân được Tầu xử dụng vủ khí này để xâm lăng Việt Nam là những ai, trong những trường hợp nào)
Tội bán nước, Trời không tha và Đất không dung. Nhưng khi Tâm linh của đám CSVN đã bị vũ khí Tiền bạc giết chết, thì chúng còn biết đâu là cái tội tầy đình ấy. Chúng chỉ còn cắm đầu mang thân xác làm bồi Tầu để phản bội lại Dân Tộc.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 01.10.2009
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 03:
THÂN PHẬN CON NỢ VIỆT NAM TRƯỚC CHỦ NỢ TRUNG QUỐC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 24.09.2009
Cách đây chừng trên 20 năm, có phong trào các nước đã Kỹ nghệ hóa MUA NỢ lại các nước nghèo chưa mở mang ở Phi Châu và Nam Mỹ. Khi Chính quyền những nước nghèo có những món nợ chồng chất, họ tìm cách bán những món nợ ấy. Phải chăng việc các nước giầu mua nợ (nhận nợ dùm) là một hành động bác ái, thương người ?
Về tiền bạc, rất hiếm người hoặc không có ai dễ dàng trở thành mạnh thường quân mà không có hậu ý. Cái hậu ý ở đây là bắt con nợ phải nhường những nguồn lợi Kinh tế lớn gấp mấy lần giá trị của món nọ mà họ mua dùm.
Tôi xin kể ra đây một tỉ dụ cụ thể để dễ hiểu. Cách đây 20 năm, tôi làm Cố vấn Tài chánh cho Group BONGO tại Congo. Sang Brazaville, tôi chứng kiến một Hợp đồng Mua Nợ giữa Nhật và Congo. Chính phủ Congo không có tiền để trả nợ. Một Công ty lớn của Nhật mua lại món nợ ấy với điều kiện là Chính phủ Congo nhường cho Công ty Nhật cả một vùng rừng phía Bắc nước Congo để Nhật khai thác gỗ qúy. Đối với Chính phủ Congo, thì đây là việc họ làm với Nhật mà Dân chúng không biết gì cả. Có thể Chính phủ còn nói với Dân rằng đây là việc khai thác tài nguyên rừng mà người Nhật làm ích lợi cho xứ sở.
Việt Nam con nợ của Tầu
Tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe trong dân gian có những chuyện con nợ nghèo quá, phải gả chính con gái nhỏ để làm vợ cho chủ nợ.
CSVN, trong những năm gần đây, thiếu hụt Ngân sách trầm trọng. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới làm cho đầu tư nước ngòai thụt xuống 82%(Tài liệu:Bài viết của phóng viên Asia Sentinel Consulting). Xuất cảng hàng hóa giảm 60%. Ngay cả giữa Trung quốc và Việt Nam, cán cân thương mại cũng thua lỗ: Năm 2008, Việt Nam xuất cảng sang Trung quốc trị giá USD.4 tỉ, trong khi đó nhập cảng từ Trung quốc tới USD.15 tỉ.
Việt Nam muốn đi vay nợ từ những nước khác, nhưng trong hòan cảnh Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, các nước khác cũng gặp khó khăn, làm sao cho vay được. Trong hòan cảnh như vậy, chỉ còn đi làm đầy tớ cho Tầu, bán cả vợ con cho Tầu để nhận làm con nợ.
Tầu là chủ nợ cho Việt Nam
Chủ nợ thường có những lo lắng về trường hợp con nợ ăn qụyt. Ơû đọan trên, chúng tôi nói rằng nhiều nước, nhất là Tây phương, rất ngại ngùng cho Việt Nam vay nợ, một phần là vì cuộc Khủng hỏang hiện nay, nhưng một phần quan trọng nữa là sợ CSVN qụyt nợ. Làm trong lãnh vực Tài chánh, chúng tôi đã nghe một số Ngân hàng gia nói rằng họ có thể cho Phi châu vay, nhưng nói đến cho Việt Nam vay, thì họ rất lo ngại. Cái lý do là nếu Việt Nam ăn qụyt, thì họ khó kiện cáo về luật lệ đối với Việt Nam.
Ngược lại, Trung quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay nợ vì họ có những thuận lợi chắc chắn sau đây:
=> Trung quốc cho Việt Nam vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bàng hàng hóa và nhân công. Trung quốc đang cần xuất cảng hàng hóa, nhân công và thiết bị dư thừa.
=> Trung quốc bắt Việt Nam phải cho những nhượng địa để khái thác tài nguyên làm bảo chứng cho những món nợ mà họ cho vay. Trung quốc nắm phần chắc Việt Nam trả nợ trước bàng tài nguyên khi cho vay bằng hàng hóa mà họ muốn xuất cảng.
=> Trong trường hợp Việt Nam lật lọng muốn ăn qụyt nợ, thì Trung quốc có quân đội mạnh đã bao vây Biển và sát trên đất liền để tràn sang bắt phải trả nợ. Trung quốc không cần phải kiện cáo luật lệ gì với Việt Nam, mà dùng sức mạnh quân sự giải quyết.
Tương quan Chủ nợ—Con nợ
Không phải chỉ có tương quan hai CƠ CHẾ mà CSVN cần Tầu che chở, mà cái tương quan tệ hại nhất là giữa Con nợ mất hết độc lập và Chủ nợ hống hách chủ trương xâm lăng Việt Nam. Tương quan này cắt nghĩa:
(i) Tại sao Việt Nam dành cho Tầu khai thác tài nguyên;
(ii) Tại sao mất Biển Đông, Hòang Sa/Trường Sa mà không dám than;
(iii) Tại sao dành những Dự án cho Tầu;
(iv) Tại sao Ngư dân Việt Nam bị Tầu bắt mà không dám nói;
(v) Tại sao biết khai thác Bôxit Tây nguyên có hại mà vẫn cúi đầu để cho
Tâu làm;
(vi) Tại sao nhân công Tầu tràn vào Việt Nam trong khi đó dân nghèo VN thất nghiệp;
(vii) Tại sao cấm giới trẻ VN không được tỏ lòng yêu nước;
(viii) Tại sao bắt những Blogers nói đụng đến Tầu;
(ix) Tại sao cấm những Trí thức Việt Nam như IDS phải câm miệng ?
Tất cả chỉ vì tính đê hèn, vô liêm xỉ, mất hết sĩ diện của con nợ CSVN trước chủ nợ Tầu luôn tìm mọi cách xâm lăng Việt Nam.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
NHỮNG NHẬN ĐỊNH THEO DÒNG THỜI SỰ:
TRIẾT SANG VATICAN, GIÁO DÂN HẢI NGỌAI CÓ TIẾNG NÓI NÀO ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE Web : http://VietTUDAN.net Geneva, 24.09.2009
Trước sự việc Nguyễn Minh Triết sang Vatican gặp Đức Giáo Hòang và có thể tiện dịp mời Đức Giáo Hòang sang thăm viếng Việt Nam trong tương lai gần, chúng tôi chưa muốn phân tích để đưa ra một Lập trường, chọn một Thái độ với bài viết rất vắn gọn này. Chúng tôi chỉ muốn nêu ra những câu hỏi giữa những Tín hữu Công giáo Việt Nam đang sống tại hải ngọai để cùng nhau suy nghĩ.
1) Nguyễn Tấn Dũng hay Nguyễn Minh Triết đi đến nước nào trên Thế giới này, nhất là Uc-châu, Au châu và Mỹ châu, đều có những đồng hương Việt Nam tụ họp cầm Cờ Vàng phản đối chúng về những tội ác đã qua và về chủ trương cai trị bằng đàn áp vũ lực hiện nay của CSVN tại Việt Nam. Vậy Nguyễn Minh Triết sắp đến Vatican gặp Đức Giáo Hòang, Tín hữu Công giáo sẽ phản ứng bằng hành động như thế nào ?
2) Từ vụ Tòa Khâm sứ, Thái Hà, Tam Tòa và Loan Lý mới đây, CSVN thực sự đã xử dụng Lực lượng đàn áp Công an để đánh đập Giáo dân, thậm chí cả Linh mục. Với Đức Tin vững mạnh và Lương Tâm thấm nhuần Giáo Huấn Phúc Am cho Công lý, Giáo Dân tự động đòan kết với nhau, can đảm đòi hỏi CÔNG LÝ để có HÒA BÌNH xã hội. Ngày nay, Nguyễn Minh Triết, người trách nhiệm tối cao của chủ trương xử dưng võ lực Công an đánh đập Giáo dân tại Quê Hương, vậy chúng ta, Giáo dân tại Hải ngọai sẽ HIỆP THÔNG CỤ THỂ thế nào với Giáo dân quốc nội khi chính chúng ta đối mặt trực tiếp với Nguyễn Minh Triết tại chính Giáo đô Vatican ?
3) Tinh thần Giáo dân quốc nội đang lên cao. Họ không còn sợ hãi nữa. Cuộc đấu tranh của Giáo dân quốc nội không chỉ hạn hẹp ở những quyền lợi của Giáo Hội Công giáo, mà là cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH của cả Dân tộc đã phải chịu bất công, đàn áp đã bao chục năm trường. Những người không Công giáo hy vọng ở cuộc đấu tranh can đảm của người Công giáo. Phải chăng Nguyễn Minh Triết đến Vatican, nhử mồi Ngọai giao để mong dùng ảnh hưởng của Dức Giáo Hòang mà dẹp Phong trào Giáo dân quốc nội hay không ?
Giáo dân Quốc nội, từ ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM vững chắc, đã can đảm tự động đứng lên đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH, không những cho Công giáo, mà cho cả DÂN TỘC. Giáo quyền Việt Nam và Vatican đã chứng kiến lòng quyết liệt của Giáo dân Quốc nội. Giáo dân Công giáo Hải ngoại cũng phải lên tiếng và hành động HIỆP THÔNG với Giáo dân Quốc nội trong cùng một ĐỨC TIN và cùng một LƯƠNG TÂM thấm nhuần Giáo Huấn Phúc Âm. Giáo quyền Việt Nam hay Vatican, ngay cả Đức Giáo Hoàng, không được quyền đổi chác Ngoại giao Thế quyền, nhất là với quân Pharisiêu CSVN, để ĐÈ BẸP việc đứng lên can đảm của Giáo dân Quốc nội phát xuất từ ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM mình.
Lời Chúa trong Phúc Âm cảnh cáo :
« Khốn cho các người ! Các người rảo khắp đất liền và biển cả để rủ cho một người theo đạo; nhưng khi họ theo rồi, các ngươi lại làm cho họ xuống hỏa ngục gấp đôi các ngươi ».(Mt. 23, 15)
Hình phạt mà Chúa Giêsu nói cho Giáo quyền làm hại ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM Tín hữu như sau:
“Những ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ nó mà xô cho chìm xuống đáy biển còn hơn.” (Mt. 18, 6).
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.09.2009
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 02:
G20 HỌP TUẦN TỚI: CĂNG THẲNG MẬU DỊCH LÀM TQ CÀNG XÌ XÂM LĂNG SANG VIỆT NAM
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 17.09.2009
Dưới Chủ đề xâm lăng Kinh tế Trung quốc, chúng tôi đã viết Bài 01 cho thấy rằng cuộc xâm lăng Kinh tế của Trung quốc sang các nước nghèo Á-châu và nhất là Việt Nam là một chủ trương bó buộc cho Trung quốc. Thực vậy, sau thất bại của cuộc Họp G20 tại Luân Đôn, Trung quốc trở về Á-châu họp G17 để đề nghị những Chương trình nhằm bành trướng xâm lăng Kinh tế tại những nước nghèo trong vùng. Kinh tế Trung quốc làm việc cho xuất cảng. Khi Tây phương gỉam mua hàng từ Trung quốc xuống 60%, thì buộc lòng Trung quốc phải tìm cách cho hàng dư thừa tràn sang các nước nghèo Á-châu.
Từ Hội Nghị DAVOS, rồi qua Hại cuộc Họp G20 tại Washington và Luân Đôn, Trung quốc luôn xoay quanh Chủ đề phải tránh việc Che Chở Mậu Dịch Quốc tế (Protectionism/ Protectionnisme), mặc dầu mục đích của những cuộc Họp G20 này đã được nêu ra trước là nhằm hợp tác giải quyết cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới.
Trước đây, khi OBAMA tuyên bố “Buy America”, thì Trung quốc đã la hỏang. Tiếp theo đó, khi SARKOZY nói về hãng Renault và chi nhánh nhà máy tại Tiệp, thì Tiệp đã công kích ý nghĩ Che chở Kinh tế của SARKOZY.
Tuần vừa rồi, đêm thứ Sáu ngày 11.09.2009, nghĩa là trước cuộc Họp G20 tại Pittsburgh tuần tới ngày 24-25.09.2009, Hoa kỳ tuyên bố Giá biểu quan thuế nhập cảng Lốp Xe từ Trung quốc tăng lên 35%. Tất nhiên quyết định này của Hoa kỳ là một tiếng sét về Che Chở Mậu dịch và tất nhiên càng đẩy Trung quốc vào chủ trương bó buộc xâm lăng mậu dịch sang các nước mà Trung quốc có thể.
Hai cuộc Họp G20 trước đây
Như chúng tôi đã nói ở trên, những cuộc Họp G20 trước đây tại Washington và Luân Đôn có mục đích là sự hợp tác Quốc tế để tìm cách giải quyết Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới.
G20 tại Washington ngày 15.11.2008
SARKOZY là người chạy ngược xuôi từ Á-châu sang Nam Mỹ để vận động những nước lớn bắt đầu phát triển Kinh tế làm áp lực để Hoa kỳ chấp nhận chủ trương của Oâng là can thiệp cứng rắn của Nhà Nước vào lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh. Nhưng Oâng đã gặp thái độ hững hờ của một số nước chính yếu trong G8. BUSH cứng rắn chủ trương Kinh tế Tự do và Thị trường mà Tư nhân là chủ động. MERKEL và BROWN cũng hững hờ đối với những kêu gọi hăng hái của SARKOZY. Trong khi ấy điều quan trọng hơn cả đối với Trung quốc là việc Che Chở Mậu Dịch đang tăng lên mạnh. Nhất nữa, Trung quốc không muốn ai đặt luật lệ nhòm ngó vào Ngân Hàng của mình. Cuộc Họp gặp nhau, uống cà-phê của Mỹ rồi mỗi nước về nhà mình lo những chuyện riêng rối bời của nước mình.
Báo giới quốc tế phê bình SARKOZY. Họ gọi đây là mộ sự "tham vọng " riêng tư muốn làm lãnh tụ của SARKOZY. Ký giả George PARKER từ Luân Đôn viết dưới đầu đề EUROPE TO PRESS US ON REFORMS, viết :"Sarkozy in call for "AMBITIOUS" action. Nicolas Sarkozy, French President, wants the meeting in Washington to agree "ambitious, operational decisions". (FINANCIAL TIMES, Monday November 10, 2008, page 3).
G20 tại Luân Đôn ngày 02.04.2009
G20 họp tại Luân Đôn ngày 02.04.2009, thay vì ngày 01.04, Cá Tháng Tư, để tránh việc người ta phê bình là nói xạo. Cuộc họp muốn xây dựng một “International Fiancial Structure“. SARKOZY và ÔN GIA BẢO còn muốn đặt lại vị trí của đồng Đo-la. Hai nước này hô hào tăng cường vai trò của IMF/FMI (Qũy Tiền Tệ Quốc Tế) cho Tổ chức này có thế lực tạo một thứ Tiền tệ chung.
Các nước tham dự hăng hái hứa đóng góp cho IMF/FMI con số USD.1'100 tỉ và đi tới con số USD.5'000 tỉ. Nhưng đó chỉ là gật đầu nguyên tắc cho một tương lai, nhưng thực tế đóng góp chưa có. Mỗi nước còn đang phải tìm những món tiền chắt bóp cho chính nước mình.
Báo chí phân tích về những con số hứa hẹn này như sau.
Ngày 03.04.2009, liền buổi sáng hôm sau bế mạc cuộc Họp, Tờ THE WALL STREET JOURNAL, trên trang nhất, viết lời bình luận tóm tắt như sau:“LONDON—Leaders of the Group of 20 nations Thursday announced a host of measures they said should help lift the global economy but deferred many of trickiest decisions or forwarded them to international institutions.“ (LUÂN ĐÔN – Những Lãnh tụ của Nhóm gồm 20 quốc gia đã tuyên bố hôm thứ Năm một mớ những biện pháp mà họ nói là có thể giúp đỡ nâng đỡ Kinh tế tòan cầu nhưng họ đã hõan lại nhiều những quyết định cụ thể gai góc nhất hoặc nhường việc ấy cho những tổ chức quốc tế.)
Tờ FINANCIAL TIMES, sáng sớm 03.04.2009, đăng tít lớn trên trang nhất G20 LEADERS HAIL SUMMIT SUCCESS viết bởi ba ký giả George PARKER, Chis GILES và Edward LUCE từ Luân đôn, nhưng trong nội dung, ba Ký giả đã nhận xét về con số USD.1'100 tỉ được coi là đại chiến thắng của cuộc Họp như sau: “Close inspection showed that much of the $1,100bn pledged included reannouncements and half-done deals.“ (Quan sát kỹ và gần vào cho thấy rằng USD.1'100 tỉ được hứa hẹn bao gồm những tuyên bố lập lại và những chương trình đã qua mới xong nửa vời). Con số USD.5'000 tỉ chỉ là sự ước lượng tương lai về Khích dộng Thuế khóa (Fiscal Stimulus) xa xôi với thực tế mà Hoa kỳ và IMF tìm kiếm . Nó là con số ảo hiện nay. Chris GILES cắt nghĩa: “FISCAL STIMULUS (New commitments : $.0 ): Gordon Brown claimed the largest fiscal stimulus in history, but there no new announcements. The $5,000bn figure is simply the IMF’s estimate of the rise in the G20’s government deficit as a share of national income between 2007 and 2010.“ (page 4) (FISCAL STIMULUS (Những cam kết mới: USD.0) : Gordon Brown đã yêu cầu một chương trình Fiscal Stimulus lớn nhất lịch sử, nhưng đã không có những cam kết mới nào của một ai. Con số USD.5'000 tỉ chỉ là con số ước lượng của IMF về việc tăng thâm thủng Ngân Sách các quốc gia trong G20 như một phần chia từ thu nhập quốc gia giữa những năm 2007 và 2010.)
Cười nói gật đầu hứa hẹn cho vui, nhưng trong lòng mỗi nước đến, nhằm xuất cảng hàng sang Mỹ và Liên Aâu, luôn luôn lo lắng trong suốt cuộc họp về chính lời tuyên bố của IMF/FMI và World Bank về tình trạng tăng cường hiện hành của 66 biện pháp Che Chở Mậu Dịch. Chính những quốc gia thuộc G20 đã tự động lấy những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes). Tổng cộng đã đếm được 66 Biện Pháp. Đó là lời la hỏang của Oâng ZOELLICK, Chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), của Oâng STRAUSS, Tổng Giám đốc Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF/FMI), của Oâng LAMY, Tổng Giám đốc Mậu Dịch Thế Giới (WTO/OMC). Con Ma CHE CHỞ KINH TẾ (Spectre Protectionnisme/Spectre Protectionism) hiện ra nguyên hình, chứ không phải là bóng ma chập chờn. Đó là vấn đề mà G20 phải giải quyết thực sự. Nhưng vấn đề này không thể giải quyết được.
G20 họp lần thứ ba tại Pittsburgh ngày 24-25.09.2009 Chủ đề: Căn Thẳng Hoa-kỳ và Trung-quốc
Như chúng tôi đã nêu ra ở đầu bài này, đêm 11.09.2009, Hoa kỳ tuyên bố rõ rệt tăng thuế nhập cảng Lốp Xe từ Trung quốc lên 35%. Biện pháp tăng thuế nhập cảng này tất nhiên làm cho Trung quốc mất hồn vía, không thể nghĩ đến những hợp tác thảo luận trong cuộc Họp G20 tuần tới.
Tờ THE WALL STREET JOURNAL ngày hôm qua 16.09.2009 đăng hai bài lớn về biện pháp Che Chở Mâu Dịch này và tiên đóan những căng thẳng trong cuộc Họp G20 tuần tới.
Bài thứ nhất viết bởi Ký giả Andrew BATSON từ Bắc Kinh với đầu để: “TIRE SQUABBLE CLOUDS G20 MEETING—US, China Tensions to dominate talks in Pittburgh“ (TRANH CÃI LỐP XE CHE MỜ CUỘC HỌP G2 – Căng thẳng Hoa-kỳ, Trung quốc chiếm chính yếu thảo luận tại Pittsburg.) Theo Ký giả Andrew BATSON, Hoa kỳ đưa ra vấn đề Lốp Xe từ Trung quốc, thì Trung quốc sẽ thảo luận về Phụ tùng Xe Hơi và Thịt gà nhập cảng từ Hoa kỳ. Oâng HE YA FEI, Thứ trưởng Ngọai giao Trung quốc, nói sẽ nhắc lại cho Hoa kỳ rằng trong hai cuộc Họp G20 trước đây, các nước đã hứa không đưa ra những biện pháp Che Chở Kinh tế mới (“The G20 leaders should affirm their commitment to impose no new protectionist measures“, p.24). Bộ Trưởng Thương Mại Trung quốc cũng báo trước rằng vấn đề tranh cãi về Lốp Xe sẽ được đưa ra trong khuôn khổ Luật pháp quốc tế của WTO.
Cùng ngày hôm qua 16.09.2009, Tờ THE WALL STREET JOURNAL còn đăng một bài nữa với đầu đề “A PROTECTIONIST PRESIDENT“. Theo bài báo, thì từ Herbert HOOVER, OBAMA là First protectionist President. Bài báo cũng cho thấy rằng, theo chân Hoa kỳ, SARKOZY cũng vừa tuyên bố những biện pháp Che Chở Mậu dịch mới.
Khi viết về Lý thuyết Che Chở Mậu Dịch, chúng tôi đã nói rằng việc Tự vệ là quyền của mỗi cá nhân và của mỗi nước khi mà cá nhân hay nước đó có những đe dọa. Khi một quốc gia đang Chi tiêu Tiền từ Dân chúng để Kích thích Kinh tế Quốc gia, thì không thể lấy Tiền đóng góp của Dân để kích thích Kinh tế cho nước khác. Dầu sao, ngòai những Giá biểu Quan thuế ký kết trong phạm vi WTO, các nước cũng có thể dùng những biện pháp Không Giá Biểu (Mesures Non-Tarifaires).
Bí Quốc Tế, Trung quốc càng xì xâm lăng sang Việt Nam
Đây là điều quan tâm chính yếu của chúng tôi. Khi viết về Tài chánh/Kinh tế Hoa kỳ và Liên Aâu là chúng tôi muốn nhìn xem tầm ảnh hưởng của nó như thế nào trên Kinh tế Trung quốc, để từ đó nhìn tầm xâm lăng của Kinh tế Trung quốc sang Việt Nam. Về điểm này, chúng tôi đã viết dài trong Bài 01 tuần trước để thấy rằng Chủ trương xâm lăng Kinh tế Trung quốc sang các nước nghèo Á-châu, nhất là Việt Nam, là một bó buộc của Tầu.
Nếu càng ngày, những biện pháp Che Chở Mậu Dịch từ Hoa kỳ và Liên Aâu càng tăng, thì Kinh tế Tầu phục vụ cho xuất cảng càng đi vào chỗ bí buộc phải tìm mọi cách xì ra. CSVN cúi đầu hứng chịu những phế thải xì ra từ quan thầy Trung quốc, thì Tầu Chệt dại gì mà không bừa bãi xì ra bất cứ cái gì.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài 01:
TRUNG QUỐC BUỘC PHẢI LÀM CUỘC XÂM LĂNG KINH TẾ TẠI Á-CHÂU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 10.09.2009
Lo sợ tốc độ tăng nhanh của những Biện pháp Che Chở Kinh tế (Mesures protectionnistes) mà World Bank đã báo động, nhất là từ các nước Tây phương, Trung Cộng tìm về Á châu. Họ xử dụng tiền để mua Thị trường Á châu nhằm giải quyết xuất cảng. Tình trạng ứ đọng hàng hóa tại Trung quốc và nhất là tình trạng thất nghiệp tập thể khiến Trung cộng phải mở cuộc xâm lăng Kinh tế tại Á châu.
Cuộc Họp Thượng Đỉnh G17 Á châu, vì tình hình cuối tuần vừa rồi tại Bangkok, nên đình hõan. Tuy nhiên thâm ý của Trung cộng vẫn được thực hiện.
Bản tin sau đây từ Tân Hoa Xã cho thấy Trung công bắt đầu thực hiện cuộc xâm lăng Kinh tế: xuất cảng hàng chế biến, xuất càng thiết bị và xuất cảng nhân công sang các nước nghèo Á châu, đặc biệt là Việt Nam.
Trung Quốc xử dụng USD.25 tỉ để xâm lăng Kinh tế các nước nghèo Á châu
Bản Tin: Theo Tân Hoa xã, Trung Quốc đang chuẩn bị thành lập quỹ hợp tác đầu tư 10 tỷ USD với ASEAN và cho các nước khu vực này vay 15 tỷ USD, trong bối cảnh khu vực đang nỗ lực đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì ngày 14-4 cho biết, quỹ đầu tư trên sẽ thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng nối Trung Quốc với 10 nước thành viên ASEAN, trong khi các khoản cho vay sẽ có thời hạn từ 3 đến 5 năm.
Tuyên bố cũng cho biết Trung Quốc dự định viện trợ cho Campuchia, Lào và Myanmar 39,5 triệu USD và tặng 300.000 tấn gạo cho quỹ dự trữ gạo khẩn cấp Đông Á để tăng cường an ninh lương thực.
Theo ông Dương Khiết Trì, những đề nghị này nhằm phản ánh quyết tâm và trách nhiệm của Chính phủ Trung Quốc trong việc thúc đẩy sự hợp tác với ASEAN.
Khủng hỏang Kinh tế tòan cầu Vì quá thổi phồng sản xuất, bắt ép tiêu thụ
Nền Kinh tế Trung Cộng cho đến nay chính yếu là sản xuất những hàng tiêu thụ thông dụng và những linh kiện xuất cảng sang Tây phương Hoa kỳ và Liên Aâu để thu tiền về mau chóng. Kinh tế lệ thuộc vào xuất cảng.
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế tòan cầu hiện nay bắt nguồn từ Tây phương. Nó không hẳn là chỉ vì sự ung thối của Mortgage Subprime Credits của Hoa kỳ, mà nguyên do tổng quát là những quốc gia giầu G8 đã xử dụng Tài chánh ảo của tương lai để tăng sản xuất những hàng cao cấp, xa xỉ phẩm theo cấp số nhân đã từ 10 năm nay. Những linh kiện cho những hàng cao cấp này và những hàng tiêu thụ hàng ngày lại được tổ chức chính yếu ở Trung quốc do nhân công rẻ, để hạ giá thành mà kiếm lợi nhuận cho mau. Rồi mở rộng phong trào Tòan cầu hóa để chiếm Thị trường bán những sản ấy đến tận cùng Thế giới. Họ xử dụng Marketing theo định nghĩa của KOTLER “Marketing, c’est l’atelier de fabrication des clients“(Marketing, chính là cơ xường sản xuất khách mua hàng) để người tiêu thụ nhắm mắt chi tiêu như robots.
Bộ máy Kinh tế sản xuất cấp số nhân, tòan cầu hóa để chiếm thị trường, bắt ép người tiêu thụ chi tiêu không theo nhu cầu thực mà theo quảng cáo Marketing. Thổi chi tiêu phồng lên như quả bóng, thì sức chịu đựng thổi phồng đến lúc nổ toanh ra tạo cuộc Khủng hỏang hiện nay. Những con robots tiêu thụ trở lại làm người với suy nghĩ về sức hạn hẹp tài chánh tiêu thụ của mình.
Tây phương giảm tiêu thụ, tức là giảm phía CẦU. Cái hậu quả là cắt đi những đặt mua hàng tại những nước sản xuất.
Trung quốc là nạn nhân trực tiếp của Khủng hỏang giảm phía CÂU của Tây phương. Muốn cứu vớt Kinh tế Trung quốc, chính yếu sản xuất cho tiêu thụ, thì phải làm thế nào để tái lập mức độ tiêu thụ của Tây phương. Sau thời gian dài tiêu thụ xả láng, người dân Tây phương bỏ thái độ nhắm mắt tiêu thụ như robots, mà trở lại thành người suy nghĩ tiêu thụ đúng theo nhu cầu (besoins nécessaires). Dân chúng Hoa kỳ và Liên Aâu bắt đầu tăng tiết kiệm. Các xí nghiệp Tây phương giảm đầu tư với Tài chánh ảo, tăng cường thủ thế Tài chánh thực cho tương lai mà cuộc Khủng hỏang hiện nay không cho biết bao giờ Kinh tế mới được vực lại.
Trung quốc sợ hãi nhất là khuynh hướng Che Chở Kinh tế (Protectionism) đang lớn mạnh để cắt giảm hơn nữa việc xuất cảng của họ.
Từ bế tắc xuất cảng sang Tây phương, Trung Cộng quay về ăn hiếp Á châu
Trong tình trạng bế tắc này đối với Tây phương, Trung quốc nghĩ đến việc Kích Cầu Kinh tế Á châu. Cuộc Họp Thượng Đỉnh 17 quốc gia Á châu (G17 Á châu) dịp cuối tuần này có mục đích vực lại Kinh tế Á châu gồm gần 3 tỉ dân tiêu thụ. Trung cộng cũng như Nhật sẵn sàng giúp đỡ các nước nghèo Á châu khôi phục tiêu thụ.
Nhiều người có thể nghĩ đây là một thiện chí của Trung quốc cũng như Nhật. Nhưng qua cái “thiện chí“ này, người ta nhìn thấy cái mặt trái tính tóan gồm:
=> Trung quốc có một kho hàng đã sản xuất nhằm bán cho Thị trường Tây phương, nhưng nay bị ứ đọng. => Các Xí nghiệp sản xuất Trung quốc hoặc là bị đóng cửa ngưng họat động, hoặc là chỉ họat động 1/3 khả năng. => Số thất nghiệp trở thành tập thể và dễ trở thành cuộc nổi dậy bạo động chống đối nhà cầm quyền.
Vực lại tiêu thụ cho những nước nghéo Á châu có nghĩa là tìm cách bán kho hàng ứ đọng và làm cho các Xí nghiệp Trung quốc tăng họat động. Trung quốc cũng nhằm xuất cảng ngay những Xí nghiệp sang các nước nghèo bằng xuất cảng vốn, thiết bị và ngay cả nhân công thất nghiệp.
Các nước nghèo đang cố gắng tạo nền Kinh tế sản xuất những hàng tiêu dùng hàng ngày cho dân chúng nội địa, thì nếu chấp nhận sự tràn lan xuất cảng hàng hóa cùng lọai của Trung quốc với những xí nghiệp và nhân công Trung quốc đi kèm, thì nền Kỹ nghệ bản xứ của những nước nghèo sẽ bị Trung quốc giết chết.
Việt Nam hiện nay đang chịu cái thảm cảnh này trước các nước nghèo khác. Thực vậy, vì muốn lệ thuộc vào Chính trị của Trung cộng để giữ lấy quyền hành cai trị, nên đảng CSVN đã chấp nhận những điều kiện tính tóan Kinh tế của Trung cộng. Những Dự án Việt Nam bị Trung cộng mua bằng cách chi tiền tham nhũng cho quan chức. Dự án nằm trong tay rồi, Trung quốc xuất cảng thiết bị và nhân công sang Việt Nam. Hàng hóa Trung quốc ứ đọng tràn vào Việt Nam. Những Xí nghiệp Việt Nam không thể sống sót cạnh tranh lại được. Công nhân Trung quốc tràn vào, dân Việt Nam thất nghiệp càng tăng.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC :
Bài MỞ ĐẦU:
TIẾNG KÊU CẤP BÁCH CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 03.09.2009
Chúng tôi đã phổ biến rộng rãi trên Diễn Đàn về cuộc xâm lăng Kinh tế của Trung quốc đối với Việt Nam. Trong số báo này, chúng tôi cũng đăng lại rất nhiều bài nói lên sự thật về cuộc xâm lăng Kinh tế. Tương lai Kinh tế Việt Nam thực đen tối. Đây không phải là nhận xét của riêng chúng tôi, mà chính la LỜI KÊU CỨU CẤP BÁCH của một số Chuyên gia Kinh tế tại Quốc nội họp Trực tuyến do TUANVIETNAM tổ chức.
TUÂN VIỆT NAM từ Quốc Nội đễ viết như sau : (TUANVIETNAM)-“Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng TQ đổ bộ vào VN, “quét” sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Con số nhập siêu hơn 11 tỷ USD năm qua đủ cho thấy các DN ta đang “thua trắng bụng”. Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới DN và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc.”
Tin của Đài BBC ngày 1.08.2009 về Lao động Trung quốc tràn vào Việt Nam đã đập vào mắt chúng tôi mà chúng tôi coi như TIẾNG CÒI BÁO ĐỘNG đến từ chính phía Nhà Nước VN. Tôi xin đăng lại đây như lời Kết Luận sống động về mối nguy ngập của Kinh tế Việt Nam:
“BBC: Trên ba vạn rưởi lao động TQ ở VN http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2009/07/090731_ chinese_labourer s.shtml
“35.000 người là số thống kê chưa đầy đủ. Báo trong nước trích nguồn từ Bộ Công an cho hay hiện có trên 35.000 lao động người Trung Quốc làm việc tại Việt Nam.
Báo Tuổi Trẻ dẫn lời thiếu tướng Đặng Thái Giáp, cục trưởng Cục Công tác chính trị, Tổng cục Xây dựng lực lượng thuộc Bộ Công an nói số lao động này tập trung ở "ở một số địa bàn trọng điểm như TP Hồ Chí Minh, Tây Nguyên và miền Trung".
Gần đây dư luận và báo chí trong nước bắt đầu nói nhiều tới hiện tượng lao động phổ thông ồ ạt vào Việt Nam, với con số được ước tính có thể lên tới hàng vạn.
Tuy nhiên đây là lần đầu tiên cơ quan an ninh chính thức xác nhận con số lớn lao động Trung Quốc.
Một lý do đông lao động Trung Quốc được nói là nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất... về tay nhà thầu Trung Quốc. Các công ty này mang công nhân của họ vào Việt Nam, mỗi công trình có thể lên tới hàng nghìn người.
Thiếu tướng Đặng Thái Giáp cũng được trích lời nói "tình hình lao động TQ, nhất là số lao động phổ thông, tự phát nhập cảnh vào VN với nhiều lý do khác nhau như du lịch, thăm thân... rồi tìm cách gia hạn để cư trú trái phép, làm ăn lâu dài tại VN có xu hướng ngày càng gia tăng và khá phức tạp'.
Ông Giáp cũng thừa nhận con số trên chỉ là thống kê chính thức từ các doanh nghiệp được quản lý theo dõi "còn trên thực tế vẫn có một số lao động chui chưa thể thống kê hết".
Công tác quản lý lao động nước ngoài tại các địa phương bị nhận xét là còn "buông lỏng và thiếu hiệu quả".
Đã có nhiều trường hợp lao động TQ xô xát, ẩu đả với người Việt ở địa phương.
Chủ trương đưa người lao động ra các nước ngoài đã được Trung Quốc thực hiện một vài năm nay như một biện pháp giúp giải quyết công ăn việc làm và kích cầu kinh tế.
Trong riêng năm 2007, có tới 750.000 công nhân Trung Quốc đã theo các dự án của Trung Quốc.
Tình trạng thất nghiệp đang đe dọa xã hội Trung Quốc, với ước tính mười triệu người mất việc vì kinh tế khó khăn.
Tuy nhiên Việt Nam cũng đang đối diện nạn thất nghiệp gia tăng, một báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội ước tính có tới 400.000 người mất việc trong năm nay.”
Xâm lăng Kinh tế từ Trung quốc là một là việc cấp bách. Nhà Nước chỉ than lên, nhưng không dám có những biện pháp vì quá lệ thuộc vào quyền hành mà Trung quốc là quan thầy che chở.
Nhưng tiếng kêu cứu của những Chuyên gia Kinh tế qua cuộc Họp trực tuyến TUANVIETNAM đáng cho chúng ta lưu ý nhập cuộc: “Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới DN và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc.” Chúng tôi quyết định nhập cuộc với các Chuyên gia Kinh tế Việt Nam qua ĐỐI THỌAI để tìm những biện pháp cấp bách chống lại cuộc xâm lăng Kinh tế Trung quốc. ĐỐI THỌAI không có nghĩa Hòa Hợp bởi vì chúng tôi chưa tin ở sự độc lập của những Chuyên gia Kinh tế làm việc dưới một CƠ CHẾ độc tài Chính trị tìm mọi cách để hù dọa. Tuy vậy, có những nguyên tắc khách quan Kinh tế làm mẫu số chung ĐỐI THỌAI.
Chúng tôi không đứng ngòai cuộc, mà là NHẬP CUỘC vì tương lai Kinh tế Việt Nam. Nhập cuộc đầu tiên của chúng tôi là ĐỐI THỌAI về tương lai Kinh tế Việt Nam dưới CƠ CHẾ CSVN hiện hành đầy Tham Nhũng. Mà việc lan tràn Tham Những này là do chính CƠ CHẾ ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ NĂM ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Đã từ lâu, khi viết những bài QUAN ĐIỂM cho Tuần Báo VietTUDAN để phân tích tại sao phải DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN Kinh tế bền vững và từ đó mới có sức mạnh khả dĩ chống lại ngọai xâm Kinh tế, đồng thời mới đủ khả năng Hội nhập Kinh tế Thế giới giữa những cạnh tranh gay gắt. Cũng đã từ lâu, chúng tôi lên tiếng đề nghi cuộc ĐỐI THỌAI VỀ KINH TẾ VỚI PHÍA CHUYÊN GIA CSVN. Chúng tôi không muốn đối thọai về Chính Trị vì đám bán nước Bộ Chính Trị đảng CSVN lì lợm, cối chầy, mặt dầy mày dạn, không xứng đáng cho chúng tôi ĐỐI THỌAI.
Ước mong cuộc ĐỐI THỌAI sẽ vạch trần sự thật về một CƠ CHẾ làm phát sinh và chủ trương bao che THAM NHŨNG khiến Kinh tế Việt Nam biến thành Kinh tế Mafia làm giầu cho một số người và khiến đại đa số dân chúng (75%) phải đói nghèo. Chính cái CƠ CHẾ Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế này đã và đang tăng cường rước Kinh tế Trung quốc vào thống trị Kinh tế Việt Nam dài hạn.
Sách của chúng tôi làm căn bản để đối thoại:
1) NGUYỄN PHÚC LIÊN: “DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN ĐỂ PHÁT TRIỂN“ (216 trang) Nhà Xuất Bản DAY & NIGHT, Ventura, California, USA, 2009
2) NGUYỄN PHÚC LIÊN: “TÀI CHÁNH/KINH TẾ THẾ GIỚI:” “KHỦNG HOẢNG 2007/2008 & HẬU QUẢ CHO VIỆT NAM“ (425 trang) Nhà Xuất Bản DAY & NIGHT, Ventura, California, USA, 2009
3) NGUYỄN PHÚC LIÊN: “VIỆT NAM HỘI NHẬP WTO:” “ĐIỀU KIỆN TẠO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH“ (300 trang) Nhà Xuất Bản DAY & NIGHT, Ventura, California, USA, 2009
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx | |
CHỦ ĐỀ: KHÁNG CHIẾN “ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC”
Bài 07:
TỔ KHÁNG CHIẾN THỨ HAI TỪ NGƯ DÂN MIỀN TRUNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://viettudan.net Geneva, 02.07.2009
Chúng tôi chọn chủ đề Kháng chiến không phải là viết cuội cho vui chuyện bởi vì để có thể làm Kháng chiến, người kháng chiến phải ở trong điều kiện cuối cùng của cuộc sống không lối thóat tự mình hoặc do một sức mạnh bắt ép đến sinh tử.
Hãy tự cứu mình, đừng ỷ nại
Tôi luôn luôn viết rằng Dân chúng Quốc nội hãy tự đứng lên để giải cứu mình khỏi cái ách bóc lột của Cơ Chế CSVN hiện nay. Xin đừng tin vào Đồng Bào Hải ngọai mang Cách Mạng về giải phóng Quê Hương, mang Tự do, Dân chủ đến cho mình. Xin đừng tin ở Thế lực Ngọai quốc đấu tranh mang Nhân quyền đến cho mình vì họ thường bán Nhân quyền để thủ lợi Kinh tế cho họ. Người Việt Hải ngọai đang sống trong Tự do với cuộc sống vật chất tạm đầy đủ. Muốn có như vậy, họ đã đổ xương máu, bất chấp đến nguy hiểm tính mạng để đạt lấy. Họ không thể làm một cuộc hy sinh thứ hai để dâng những thứ đó cho Quốc nội. Chính Dân chúng Quốc nội phải tự đứng lên, trả với giá máu, với nguy hiểm chết chóc để đấu tranh dành lấy Tự do, Nhân quyền và có miếng ngô khoai lót dạ. Không thể ngồi chờ sung rụng. Đời cua, cua máy, đời cáy cáy đào, đó là điều tự nhiên, không ai có thể đòi hỏi và trách móc ai. Nếu người Quốc nội không tự ngửng đầu lên đấu tranh cam go, thì tự mình nhận số phận của đàn khỉ để cho CSVN bóc lột, sai khiến nữa trong tương lai dài.
Tổ Kháng chiến đầu tiên từ Quân đội CSVN
Ngày 11.06.2009, chúng tôi đã phân tích rằng Tổ Kháng chiến đầu tiên là từ Quân đội CSVN. Lý do thứ nhất là những người phản đối Boxit Tây Nguyên thuộc Quân Đội, nhìn thấy việc an ninh Quốc gia. Đây là lý do công khai để Võ Nguyên Giáp và Đồng Sĩ Chuyên lên tiếng. Nhưng cón một lý do khá quan trọng nữa, đó là trâu buộc ghét trâu ăn về tiền bạc. Thực vây, nếu chúng ta nhìn đàng sau Dự án là cả khối Lợi-lộc tiền bạc cho cá nhân mà Trung quốc đã đấm miệng những Lãnh đạo đảng. Việc cho Tầu khai thác Bauxite Tây Nguyên không phải chỉ mới quyết định, mà nó đã được xậm xụi dàn xếp trước đây trong sự nhú nhí có ý dấu diếm ngay đối với một số đảng viên cao cấp. Nếu việc khai thác Bauxite Tây Nguyên thực sự là chính đáng và hữu lý, thì không có gì phải nhú nhí dấu diếm như vậy. Những người quyết định càng nhú nhí dấu diếm hơn nữa khi mà Lợi-lộc tiền bạc cá nhân được dàn xếp tránh né sự ghen tương.
Chúng tôi muốn đặt câu hỏi ở đây như sau:
* VÕ NGUYÊN GIÁP, được coi là người Công thần khai Chế độ, viết 3 lá thư phản đối Tầu khai thác Bauxite Tây Nguyên. Nếu đảng CSVN vẫn tiếp tục để Tầu khai thác, thì sẽ phải có phản ứng như thế nào trước việc cố chấp mất lý trí của đảng?
* ĐỒNG SĨ NGUYÊN, cựu Thứ trưởng Quốc phòng, cũng công khai phản đối việc Tầu khai thác Bauxite Tây Nguyên. Nếu đảng cố chấp tiếp tục cho khai thác, thì ý kiến đúng đắn của Oâng bị coi rẻ như bùn hay không ?
Đây là hai người cao cấp bậc nhất trong Quân đội CSVN. Nếu hai người nhìn thấy đàng sau sự cố chấp phi lý của Lãnh đạo đảng còn có những cái Lợi-lộc tiền bạc cá nhân, thì hai người cũng đành câm họng chịu nhục hay sao ? Nếu hai người không vì danh dự của đảng hoặc của chính mình mà hành động phản đối tiếp, thì tối thiểu cũng vì cái động lực ghen tương Lợi-lộc cá nhân mà tiếp tục tìm cách chống lại.
Tổ Kháng chiến thứ hai từ Ngư Dân Miền Trung
Động đến nồi cơm của nhau, thì chỉ có một ăn một thua, nhất là khi người bị cướp miếng ăn đang mang dạ dầy rỗng tuếch. Hãy nhìn những thảm cảnh sau đây để thấy rằng Ngư Dân Miền Trung ở đường cùng, buộc phải làm Kháng chiến:
=> Trung Quốc cấm đánh cá trên chính vùng Biển Việt Nam. Thuyền của Ngư Dân cắm neo tại bờ. Không ra khơi đánh cá được, thì đời sống gia đình nheo nhóc.
=> Khi đói quá, phải liều mạng ra khơi, thì bị tầu tuần tiễu Trung quốc bắt, đòi phải nộp tiền mới thả ra. Hiện nay Trung quốc còn giữ 12 Ngư Phủ vì nghèo quá không có tiền nộp để cứu mạng.
=> Nhà Nước Việt Nam, vì đã bán thân mình cho Tầu, nên chỉ dám van xin yếu ớt. Nhà Nước không có một hành động nào bảo vệ những Ngư dân làm ăn kiếm cơm chính thức trong phạm vi Biển của mình.
Ký giả ĐỖ HIẾU, Đài RFA, đã viết như sau: “Chánh quyền sở tại cũng chỉ thị cho các địa phương khuyến cáo ngư dân bắt cá ngoài khơi quanh vùng biển Hoàng Sa - Trường Sa, thành lập tổ, đội tàu thuyền “tự quản” (KHÁNG CHIẾN) để tương trợ nhau khi cần.“
Cuộc Kháng chiến của Ngư Dân do Nhà Nước đê hèn trao cho Ngư Dân trách nhiệm vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: KHÁNG CHIẾN “ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC”
Bài 06:
LÀM THẾ NÀO CHỐNG LẠI CUỘC XÂM LĂNG KINH TẾ TẦU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://VietTUDAN.net Geneva, 25.06.2009
Chúng tôi phổ biến dưới đây, trong phần THÔNG TIN/ THỜI SỰ, những tiếng nói của các Chuyên gia Kinh tế từ Quốc nội, làm việc cho chính Cơ chế CSVN hiện hành. Đây không còn là những nhận định từ Hải ngọai mà CSVN thường gán cho là « tuyên truyền từ thế lực thù địch ». Tình trạng xâm lăng Kinh tế từ Trung quốc được chính Quốc nội than lên như tình trạng hết sức nguy ngập cho Kinh tế Việt Nam.
Chúng ta chưa bao giờ được làm chủ Kinh tế.
Thực vậy, Dân chúng Việt Nam chưa bao giờ được làm chủ Kinh tế của mình :
=> Thời Pháp thuộc, Kinh tế nằm trong tay người Pháp và những người mang quốc tịch Pháp, được Pháp ưu đãi, dành cho những quyền lợi Kinh tế, Thương mại.
=> Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Kinh tế bị thao túng bởi những người Hoa (Chợ Lớn). Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM đã cố gắng hạn định nghề nghiệp đối với những người Hoa không vào quốc tịch Việt Nam.
=> Thời Đệ Nhị Cộng Hòa, những cố gắng của Chính quyền đổ dồn vào nỗ lực chống cuộc xâm lăng đẫm máu từ Miền Bắc. Tại Miền Bắc, CSVN nhận viện trợ về Kinh tế, về võ khí từ Liên xô, Trung cộng để thực hiện cuộc bành trướng Chủ thuyết Cộng sản Quốc tế vào Miền Nam.
=> Sau 1975, Việt Nam quá nghèo khổ, chính dân chúng của vựa lúa Cửu Long phải nhai bo-bo, Nhà Nước chỉ còn mong vào viện trợ Kinh tế của Khối Cộng sản. Nhưng từ khi Khối Cộng sản tan rã, thì Nhà Nước quá kiệt quệ, buộc phải Mở Cửa và Đổi Mới. Nhưng Kinh tế lại chỉ nằm trong tay đảng, chứ không phải là Kinh tế của Dân chúng. Đảng nắm Kinh tế để vơ vét cho túi riêng.
=> Ngày nay, để cố thủ nắm lấy quyền hành độc đóan của đảng, Nhà Nước CSVN cúi đầu nhục nhã rước Tầu vào xâm lăng Kinh tế. Nhà Nước chỉ chú trọng đến khai thác mọi tài nguyên của Đất Nước để bán thô cho nước ngòai, nhất là Trung quốc. Khai thác Boxit Tây Nguyên do Trung quốc trách nhiệm là tỉ dụ điển hình. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế càng đẩy mạnh việc lan tràn hàng hóa Trung quốc vào Việt Nam để giết chết những ngành nghiệp sản xuất công nghệ của Quê Hương. Người ta mua hàng hóa của Trung quốc để bán lại cho Dân, chứ các Công ty Nhà Nước không nghĩ đến tự mình sản xuất.
Làm thế nào để cứu nguy Kinh tế Việt Nam trước xâm lăng ?
Kinh tế Việt Nam đang đi vào nguy ngập, lụn bại lâu dài trước cuộc xâm lăng được chủ trương bởi Trung quốc. Các Chuyên gia Kinh tế và các Doanh nhân tại Quốc nội đang đặt ra câu hỏi này một cách cấp thiết.
Trước đây, khi Việt Nam hồ hởi vào WTO/OMC, chúng tôi đã viết một lọat bài về Tự do Mậu dịch Quốc tế trong đó chúng tôi phân tích những cái lợi cho Việt Nam thì ít, nhưng những cái hại thì quá nhiều, nhất là ở sát cạnh một nước khổng lồ Trung quốc mà đảng CSVN phải quy phục như bậc thầy để che chở cho quyền hành Chính trị.
Tuy hội nhập WTO/OMC với Giá biểu Giao kèo Quan thuế (Tarifs douaniers internationaux contractés) phải chấp nhận, nhưng những nước còn yếu kém về Kinh tế có thể xử dụng những Biện pháp không Giá biểu (Mesures non-tarifaires) để có thể thực hiện Che chở Mậu dịch trá hình (Protectionnisme commercial déguisé) mà không bị những nước mạnh xử dụng những Biện pháp trừng phạt (Mesures de représailles). Nhưng thật là tai hại cho Việt Nam, Nhà Nước CSVN không những không xử dụng những Biện pháp không giá biểu để Che chở Kinh tế, mà còn rước ngay chính địch thủ vào phá họai Kinh tế.
Trong hòan cảnh như vậy, chúng tôi đưa ra một số điểm sau đây để trả lời phần nào cho câu hỏi :
=> Đẩy mạnh việc tư nhân hóa Kinh tế để tăng hiệu năng Xí nghiệp
=> Dứt bỏ Cơ chế CSVN hiện hành cho phép độc tài Chính trị nắm trọn độc quyền Kinh tế.
=> Một Nhà Nước không lệ thuộc Chính trị Trung quốc để có thể áp dụng những Biện pháp không giá biểu. Quyền Che chở những Kỹ nghệ đang phát sinh (Protectionnisme des Industries naissantes) là Quyền Tự vệ tự nhiên
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: KHÁNG CHIẾN “ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC” Bài 05:
KINH TẾ VIỆT NAM LÂM NGUY: AI RƯỚC HÀNG HÓA TẦU VÀO ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://VietTUDAN.net Geneva, 18.06.2009
Hôm nay, 18.06.2009, Đài RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn tôi về Kinh tế Việt Nam lâm nguy trước Tsumani hàng Trung quốc tràn vào. Việc lâm nguy này không phải là tôi ngồi tại Geneva nói ra, mà chính Kinh tế gia PHẠM CHI LAN, từ Thủ đô Hà nội đã phải kêu to lên trong cuộc họp bàn tròn ngày 16.06.2009 do Tuần Việt Nam tổ chức thảo luận trực tuyến. Chúng tôi đăng lại những bài la hỏang này trong số báo hôm nay.
Kinh tế gia PHẠM CHI LAN nhìn thấy hàng Trung quốc tràn vào như cơn lũ mà không có ai cản lại: “Quả thực tôi lo lắng cơn lũ này chưa đến đỉnh điểm, mà còn có thể tệ hại hơn nữa bởi vì chúng ta vẫn chưa làm được gì nhiều để ngăn chặn. Tôi nói vui với các doanh nghiệp là bây giờ biên mậu đã diễn ra ở tận thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải biên mậu ở Lào Cai, Lạng Sơn nữa. Thực tế, người ta đã vào tận thành phố Hồ Chí Minh để làm rồi, gần như tất cả các giao dịch diễn ra ngay tại đó. Chỉ cần nhấc một cú điện thoại lên thôi là hàng hóa đâu vào đó. Không khó để bắt gặp từng đoàn xe mang biển số của một quốc gia láng giềng có thể vào đất Việt Nam đàng hoàng, thậm chí người nước họ cũng ra vào làm việc ở đây tự do. Nếu chúng ta vẫn dễ dãi như vậy thì cơn lũ hàng giá rẻ, chất lượng thấp còn tiếp tục dấn tới. Tôi vừa từ Lục Ngạn (Bắc Giang) về. Tôi đã chứng kiến một đoàn 65 thương gia Trung Quốc đang ở đó, tại những cứ điểm để thu mua vải quả, và họ là người quyết định giá cả.“ Nhân cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới, tôi đã viết một lọat bài riêng biệt về chủ trương xâm lăng Kinh tế của Trung quốc đối với những nước Á châu. Trung quốc đã bỏ ra USD.25 tỉ để chủ trương làm cuộc xâm lăng này.
Kinh tế gia PHẠM CHI LAN, Tiến sĩ NGUYỄN MINH PHONG và Nhà báo NGUYỄN QUANG THIỀU đều kết luận rằng hàng Trung quốc đang đè bẹp hàng Việt Nam “trên sân nhà“ và kêu gọi “Tuyên chiến với cuộc tấn công của hàng Trung quốc“.
Cùng trong cuộc thào luận trực tuyến bàn tròn này, một Doanh Nhân, Oâng THÂN ĐỨC VIỆT, còn khẳng định rằng hàng Việt Nam thua hàng Trung quốc trên “sân nước ngòai nữa“, Oâng nói:
“ Xuất khẩu hàng hóa sang 3 thị trường lớn trên thế giới là Mỹ, EU và Nhật Bản, chúng tôi đều vấp phải sự cạnh tranh rất lớn từ hàng hóa của TQ với tư cách là đối thủ cạnh tranh.
Xét trên góc độ hàng xuất khẩu của TQ vào VN thì chúng ta thường đánh giá là hàng hóa chất lượng thấp, nhưng khi xuất khẩu sang các nước khác thì phải đánh giá lại. Ở TQ có một lợi thế mà DN VN không có, đó là tính chuyên môn hóa rất cao, tính hiệp hội cũng rất cao.
Tôi từng sang Hàng Châu TQ, tại đó, có tới 4.000 DN dệt, mỗi DN chỉ chuyên môn vào một chủng loại vải nào đó. Với cách làm như vậy, tập đoàn dệt may ở VN chúng tôi có muốn đầu tư cũng không thể nào cạnh tranh nổi về giá cũng như về chất lượng.“
Hàng Trung quốc đang đổ xuống Việt Nam như nước lũ mà không có ai cản lại, thậm chí còn theo giặc khơi cho nguồn nước lũ ấy tràn vào mạnh hơn. Họ là những ai đang rước hàng hóa Tầu vào diệt Kinh tế Việt Nam?
Họ là CSVN Bán Đất và Biển VN cho Tầu để giữ Quyền-hành và thu Lợi-lộc
Trong ba chữ kép Lý-tưởng, Quyền-hành, Lợi-lộc, tôi chú trọng hơn cả vào chữ Lợi-lộc, nhất là vật chất, vì Lợi-lộc động lực chính yếu cho những tính tóan đấu tranh, cho những hận thù hay cho những cấu kết. Quyền-hành là giai đọan chuyển tiếp, là phương tiện để có được Lợi-lộc. Người ta thường dùng chữ Quyền Lợi trong đó cái Lợi là chính và cái Quyền được hiểu rất nhẹ đi đến nỗi hai chữ Quyền Lợi chỉ có ý nói những gì mình được hưởng. Lý-tưởng chưa hẳn là động lực chính đấu tranh trong thâm tâm mỗi người, nhưng được luôn luôn nhắc ra ở cửa miệng như một bình phong đẹp đẽ, cao thượng để che đậy cho nhựng tính tóan thực sự về chiếm đọat hay chia chác Quyền-hành để từ đó mà thu góm được nhiều Lợi-lộc cho mình.
Ở trên, chúng tôi đã nói rằng Quyền-hành chỉ là giai đọan, là phương tiện để đạt được Lợi-lộc cá nhân. Việc đảng CSVN phủ phục dâng Đất, Biển và Kinh tế Việt Nam cho Tầu là nhằm chính yếu vào sự che chở của Tầu cho Quyền-hành độc tài của đảng. Giữ được Quyền-hành, thì mới giữ được CƠ CHẾ hiện hành tràn đầy tham nhũng, lãng phí.
Dân gian hiểu tận ruột CSVN và truyền tụng: “Theo Tàu mất nước, theo Mỹ mất Đảng". Khẩu lệnh "thiên đình": "Trung với Đảng" (chứ không phải "Trung với Nước " như lời Hồ Chí Minh ). Có nghĩa là thà mất Nước chứ quyết không để mất Đảng ! Mất đảng thì làm sao giữ được Quyền-hành độc tài mà cướp dựt Lợi-lộc riêng !
Đành rằng, trong cuộc sống, Lợi-lộc là động lực chính yếu cho những sinh họat, đấu tranh. Cái mục đích này được công khai nêu ra trong phạm vi Kinh tế. Chúng tôi cũng không phủ nhận rằng trong phạm vị đấu tranh Chính trị tại những Quốc gia có nền Dân chủ, động lực Lợi-lộc cũng vẫn là chính yếu. Tuy nhiên sự khác biệt nằm ở những điểm sau đây:
=> Ở Thể Chế Tự do, Dân chủ, có Dân kiểm sóat và quyết định chế tài Quyền-hành, có Tự do Ngôn Luận để Truyền Thông tìm hiểu, nói lên sự thật, vì vậy lòng tham Lợi-lộc có cản lực ngăn chặn để không đi tới chỗ bất chính.
=> Ở Cơ Chế CSVN độc tài, người Dân không có quyền kiểm sóat và quyết định chế tài Quyền-hành, Truyền Thông không có Tự do Ngôn luận, nghĩa là không có cản lực, nên người nắm Quyền-hành tha hồ thu góm Lợi-lộc. Cái Cơ Chế độc tài Quyền-hành Chính trị nắm lấy độc quyền Kinh tế cho phép tràn lan tham nhũng và cướp bóc Lợi-lộc cho kẻ nắm Quyền-hành. Phải dứt bỏ cái Cơ Chế CSVN thì Việt Nam mới có thể phát triển vậy.
Họ là những kẻ dựa hơi Quyền-hành mà thu Lợi-lộc bất chấp người khác
Ở phần trên, chúng tôi nhấn mạnh đến việc bán Đất, Biển cho Tầu để được che chở về Quyền-hành và việc xử dụng trực tiếp Quyền-hành mà cướp dựt Lợi-lộc. Ở phần này, chúng tôi nói chính yếu đến việc bán đứng Kinh tế Việt Nam cho Tầu và những người dựa hơi Quyền-hành để thu Lợi-lộc bất chấp người khác. Khi nói bất chấp người khác, chúng tôi muốn nói rằng khi người dựa hơi Quyền-hành để thu Lợi-lộc, thì việc này đồng thời gay tai hại cho những người khác. Tỉ dụ khi nhập những hàng phế thải, tồn đọng của Trung quốc vào Việt Nam để thu Lợi-lộc, thì đó là phá họai nền sản xuất Kinh tế nước mình. Cũng vậy, những hàng Trung quốc nhiễm độc, được xóa nhãn hiệu và tái xuất cảng từ Việt Nam, đó là điều tại hại làm mất giá trị Thương Hiệu Việt Nam trong lâu dài.
Khi Trung quốc che chở cho Quyền-hành của đảng CSVN, thì họ chắc chắn cũng đòi đảng CSVN phải dành cho họ những Lợi-lộc. Trung quốc nhằm vào việc bành trướng, xâm lăng Kinh tế hơn là Chính trị. Thực ra Quốc tế Cộng sản không còn là Lý tưởng của Trung cộng nữa mà là bành trướng và xâm lăng Kinh tế.
Chúng tôi muốn hạn định về ba lớp người đang dựa hơi Quyền-hành để thu Lợi-lộc bất chấp thiệt hại cho người khác và cho cả Quê Hương Việt Nam, đó là:
=> Lớp con ông cháu cha của đảng du học trước đây tại Trung quốc, nhất là Bắc kinh. Trong số những người này, có người lập gia đình với người Tầu. Một mặt họ dựa hơi Quyền-hành cha ông tại Việt Nam, một mặt họ liên hệ với thế lực quan thầy Trung quốc. Họ là những người bầy vẽ ra những Dự án để bán rẻ cho Trung quốc. Họ có thể lập Công ty Liên doanh với người Trung quốc để lấy những Dự án của Việt Nam. Dân phải đóng thuế trong trường kỳ để trả cho việc thực hiện những Dự án này. Họ cũng chính là những con buôn nhập những hàng phế thải, tồn kho của Trung quốc vào Việt Nam để giết chết Kinh tế.
=> Lớp con ông cháu cha của đảng du học trước đây tại Liên xô và những nước chư hầu Đông Aâu. Sau khi bức tường Bá Linh đổ xuống, chúng tôi có dịp sang Nga và Đông Aâu. Chúng tôi biết những việc môi giới của họ để mua những nhà máy phế thải mang về Việt Nam bán với giá cao cho những Dự án. Tỉ dụ Dự án Nhà Máy Lọc Dầu Dung Quất đã dùng dằng kéo dài vì chính những người môi giới với Nga. Những người du học này, một số trở về nắm quyền Kinh tế, một số ở lại Nga và Đông Aâu, tất nhiên họ quen biết nhau và môi giới chia Lợi-lộc từ những Dự án. Hiện nay, những Dự án mua Tầu ngầm, Máy bay, Khí giới từ Nga... cũng không qua khỏi sự môi giới chia Lợi-lộc của lớp người này.
=> Lớp người Việt gốc Hoa trước đây: một số Thương gia cũng dễ lợi dụng liên hệ giữa Việt Nam và Trung quốc lúc này để thủ Lợi. Một mặt họ còn những quan hệ với người Việt gốc Hoa tại Việt Nam; một mặt họ lấy gốc Hoa ra để được nâng đỡ Quyền-hành và Tài-chánh từ Trung quốc. Đó là những người sẽ mang hàng hóa Trung quốc vào Việt Nam để xâm lăng. Họ nhìn cái Lợi-lộc tiền bạc, chứ không mang sự nhớ ơn thời mà họ đã sinh sống, bán chim cút tại Việt Nam. Họ là những kẻ có thuận lợi dẫn giặc Kinh tế Trung quốc vào Việt Nam xâm lăng: (i) họ gốc Hoa dễ liên hệ lấy vốn từ Trung quốc; (ii) họ đã sống ở Việt Nam và biết tiếng Việt dù nói với giọng Tầu Chợ Lớn; (iii)Lãnh đạo CSVN dễ nhận hối lộ từ người Hoa hơn từ người Việt.
Đài Phát thanh RFI đặt ra cho tôi câu hỏi chót: Làm thế nào chống đỡ lại ?
Tôi đã trả lời rằng việc đầu tiên là phải DỨT BỎ cái CƠ CHẾ hiện hành cho phép độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế bởi vì cái CƠ CHẾ như vậy làm phát sinh và nuôi dưỡng THAM NHŨNG đứng trước miếng mỡ ngon USD.25 tỉ của Tầu. Dứt bỏ hẳn cơ chế này rồi, thì mới có sự hợp tác giữa TƯ DOANH Việt Nam quốc nội với khối người Việt Hải ngọai để ngăn chặn cơn lũ hàng Tầu vào Việt Nam, đồng thời làm đầu cầu để xuất cảng hàng Việt Nam ra nước ngòai.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: KHÁNG CHIẾN “ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC” Bài 04:
TỔ KHÁNG CHIẾN ĐẦU TIÊN LÀ TỪ QUÂN ĐỘI CSVN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://VietTUDAN.net Geneva, 11.06.2009
Trong ba chữ kép Lý-tưởng, Quyền-hành, Lợi-lộc, tôi chú trọng hơn cả vào chữ Lợi-lộc, nhất là vật chất, vì Lợi-lộc động lực chính yếu cho những tính tóan đấu tranh, cho những hận thù hay cho những cấu kết. Quyền-hành là giai đọan chuyển tiếp, là phương tiện để có được Lợi-lộc. Người ta thường dùng chữ Quyền Lợi trong đó cái Lợi là chính và cái Quyền được hiểu rất nhẹ đi đến nỗi hai chữ Quyền Lợi chỉ có ý nói những gì mình được hưởng. Lý-tưởng chưa hẳn là động lực chính đấu tranh trong thâm tâm mỗi người, nhưng được luôn luôn nhắc ra ở cửa miệng như một bình phong đẹp đẽ, cao thượng để che đậy cho nhựng tính tóan thực sự về chiếm đọat hay chia chác Quyền-hành để từ đó mà thu góm được nhiều Lợi-lộc cho mình.
Khi viết lọat bài về Chủ đề: KHÁNG CHIẾN “ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC”, nhất là kêu gọi sự thành hình của những Cơ sở Kháng chiến, tôi cũng dựa trên vấn đề Lợi-lộc mà phân tích. Tôi có những thông tin cho thấy rằng Tổ Kháng Chiến đầu tiên sẽ là từ Quân đội CSVN.
Chúng tôi nhìn vấn đề này dưới những khía cạnh sau đây:
=> Không ai tin vào Lý-tưởng của đảng CSVN nữa => Bán Đấ và Biển VN cho Tầu để giữ Quyền-hành và thu Lợi-lộc => Những kẻ dựa hơi Quyền-hành mà thu Lợi-lộc bất chấp người khác => Quân đội thu ít Lợi-lộc hơn những Cán bộ và Lãnh đạo Chính trị
Không ai tin vào Lý-tưởng của đảng CSVN nữa
Cộng sản lúc ban đầu nêu Ý thức hệ đấu tranh cho một Xã hội công bằng mà trong đó người nghèo phải hợp nhau lại đấu tranh lọai bỏ tình trạng vong thân Kinh tế. Đảng Cộng sản có quyền độc tài lãnh đạo cuộc đấu tranh này. Ý thức hệ một Xã hội công bằng trở thành một Lý tưởng .
Nhưng khi người nghèo thấy rằng họ rơi vào tình trạng vong thân Kinh tế còn bi đát hơn trước, thì chính họ phải đứng lên dành lại những Lợi-lộc Kinh tế mà đảng Cộng sản đang tước đọat của họ.
Từ ngày Thế giới Cộng sản Nga và Đông Aâu sụp đổ, CSVN vẫn bám lấy cái Lý tưởng bị phản bội ấy như một chiêu bài tiếp tục bóc lột sức lao động của dân nghèo, khai thác tài nguyên quốc gia cho đảng và túi riêng đảng viên, ăn hớt những giúp đỡ nước ngòai nhằm vào dân nghèo.
Có một lần, khi hồi âm độc giả trên Diễn Đàn, tôi đã phân biệt hai chữ CƠ CHẾ (Mécanisme) và THỂ CHẾ (Régime). Thể chế có Ý thức hệ đi kèm để theo đó mà tổ chức cơ cấu quản trị (Régime avec Idéologie comme base). Khi mà Ý thức hệ đã mất, không còn Lý tưởng nữa, thì Thể chế mất nền tảng hướng dẫn, mà chỉ trở thành một Cơ Chế quản trị mà những người điều hành xử dụng Cơ Chế cho Lợi-lộc riêng của mình. Đó là tình trạng hiện nay của Cơ Chế CSVN tràn đầy tham nhũng, lãng phí.
Bán Đất và Biển VN cho Tầu để giữ Quyền-hành và thu Lợi-lộc
Ngay ở đọan mở đầu, chúng tôi đã nói rằng Quyền-hành chỉ là giai đọan, là phương tiện để đạt được Lợi-lộc cá nhân. Việc đảng CSVN phủ phục dâng Đất, Biển và Kinh tế Việt Nam cho Tầu là nhằm chính yếu vào sự che chở của Tầu cho Quyền-hành độc tài của đảng. Giữ được Quyền-hành, thì mới giữ được CƠ CHẾ hiện hành tràn đầy tham nhũng, lãng phí.
Dân gian hiểu tận ruột CSVN và truyền tụng: “Theo Tàu mất nước, theo Mỹ mất Đảng". Khẩu lệnh "thiên đình": "Trung với Đảng" (chứ không phải "Trung với Nước " như lời Hồ Chí Minh ). Có nghĩa là thà mất Nước chứ quyết không để mất Đảng ! Mất đảng thì làm sao giữ được Quyền-hành độc tài mà cướp dựt Lợi-lộc riêng !
Đành rằng, trong cuộc sống, Lợi-lộc là động lực chính yếu cho những sinh họat, đấu tranh. Cái mục đích này được công khai nêu ra trong phạm vi Kinh tế. Chúng tôi cũng không phủ nhận rằng trong phạm vị đấu tranh Chính trị tại những Quốc gia có nền Dân chủ, động lực Lợi-lộc cũng vẫn là chính yếu. Tuy nhiên sự khác biệt nằm ở những điểm sau đây:
=> Ở Thể Chế Tự do, Dân chủ, có Dân kiểm sóat và quyết định chế tài Quyền-hành, có Tự do Ngôn Luận để Truyền Thông tìm hiểu, nói lên sự thật, vì vậy lòng tham Lợi-lộc có cản lực ngăn chặn để không đi tới chỗ bất chính.
=> Ở Cơ Chế CSVN độc tài, người Dân không có quyền kiểm sóat và quyết định chế tài Quyền-hành, Truyền Thông không có Tự do Ngôn luận, nghĩa là không có cản lực, nên người nắm Quyền-hành tha hồ thu góm Lợi-lộc. Cái Cơ Chế độc tài Quyền-hành Chính trị nắm lấy độc quyền Kinh tế cho phép tràn lan tham nhũng và cướp bóc Lợi-lộc cho kẻ nắm Quyền-hành. Phải dứt bỏ cái Cơ Chế CSVN thì Việt Nam mới có thể phát triển vậy.
Những kẻ dựa hơi Quyền-hành mà thu Lợi-lộc bất chấp người khác
Ở phần trên, chúng tôi nhấn mạnh đến việc bán Đất, Biển cho Tầu để được che chở về Quyền-hành và việc xử dụng trực tiếp Quyền-hành mà cướp dựt Lợi-lộc. Ở phần này, chúng tôi nói chính yếu đến việc bán đứng Kinh tế Việt Nam cho Tầu và những người dựa hơi Quyền-hành để thu Lợi-lộc bất chấp người khác. Khi nói bất chấp người khác, chúng tôi muốn nói rằng khi người dựa hơi Quyền-hành để thu Lợi-lộc, thì việc này đồng thời gay tai hại cho những người khác. Tỉ dụ khi nhập những hàng phế thải, tồn đọng của Trung quốc vào Việt Nam để thu Lợi-lộc, thì đó là phá họai nền sản xuất Kinh tế nước mình. Cũng vậy, những hàng Trung quốc nhiễm độc, được xóa nhãn hiệu và tái xuất cảng từ Việt Nam, đó là điều tại hại làm mất giá trị Thương Hiệu Việt Nam trong lâu dài.
Khi Trung quốc che chở cho Quyền-hành của đảng CSVN, thì họ chắc chắn cũng đòi đảng CSVN phải dành cho họ những Lợi-lộc. Trung quốc nhằm vào việc bành trướng, xâm lăng Kinh tế hơn là Chính trị. Thực ra Quốc tế Cộng sản không còn là Lý tưởng của Trung cộng nữa mà là bành trướng và xâm lăng Kinh tế.
Chúng tôi muốn hạn định về ba lớp người đang dựa hơi Quyền-hành để thu Lợi-lộc bất chấp thiệt hại cho người khác và cho cả Quê Hương Việt Nam, đó là:
=> Lớp con ông cháu cha của đảng du học trước đây tại Trung quốc, nhất là Bắc kinh. Trong số những người này, có người lập gia đình với người Tầu. Một mặt họ dựa hơi Quyền-hành cha ông tại Việt Nam, một mặt họ liên hệ với thế lực quan thầy Trung quốc. Họ là những người bầy vẽ ra những Dự án để bán rẻ cho Trung quốc. Họ có thể lập Công ty Liên doanh với người Trung quốc để lấy những Dự án của Việt Nam. Dân phải đóng thuế trong trường kỳ để trả cho việc thực hiện những Dự án này. Họ cũng chính là những con buôn nhập những hàng phế thải, tồn kho của Trung quốc vào Việt Nam để giết chết Kinh tế.
=> Lớp con ông cháu cha của đảng du học trước đây tại Liên xô và những nước chư hầu Đông Aâu. Sau khi bức tường Bá Linh đổ xuống, chúng tôi có dịp sang Nga và Đông Aâu. Chúng tôi biết những việc môi giới của họ để mua những nhà máy phế thải mang về Việt Nam bán với giá cao cho những Dự án. Tỉ dụ Dự án Nhà Máy Lọc Dầu Dung Quất đã dùng dằng kéo dài vì chính những người môi giới với Nga. Những người du học này, một số trở về nắm quyền Kinh tế, một số ở lại Nga và Đông Aâu, tất nhiên họ quen biết nhau và môi giới chia Lợi-lộc từ những Dự án. Hiện nay, những Dự án mua Tầu ngầm, Máy bay, Khí giới từ Nga... cũng không qua khỏi sự môi giới chia Lợi-lộc của lớp người này.
=> Lớp người Việt gốc Hoa trước đây: một số Thương gia cũng dễ lợi dụng liên hệ giữa Việt Nam và Trung quốc lúc này để thủ Lợi. Một mặt họ còn những quan hệ với người Việt gốc Hoa tại Việt Nam; một mặt họ lấy gốc Hoa ra để được nâng đỡ Quyền-hành và Tài-chánh từ Trung quốc. Đó là những người sẽ mang hàng hóa Trung quốc vào Việt Nam để xâm lăng. Họ nhìn cái Lợi-lộc tiền bạc, chứ không mang sự nhớ ơn thời mà họ đã sinh sống, bán chim cút tại Việt Nam. Họ là những kẻ có thuận lợi dẫn giặc Kinh tế Trung quốc vào Việt Nam xâm lăng: (i) họ gốc Hoa dễ liên hệ lấy vốn từ Trung quốc; (ii) họ đã sống ở Việt Nam và biết tiếng Việt dù nói với giọng Tầu Chợ Lớn; (iii)Lãnh đạo CSVN dễ nhận hối lộ từ người Hoa hơn từ người Việt.
Quân đội thu ít Lợi-lộc hơn những Cán bộ và Lãnh đạo Chính trị
Từ đầu bài đến giờ, chúng tôi phân tích cái động lực chính yếu cho đấu tranh, đó là cái Lợi-lộc. Chúng tôi muốn nhìn sự tranh chấp Lợi-lộc trong đảng liên hệ đến khai thác Bauxite Tây Nguyên để nhận định thông tin về Tổ Kháng chiến phát sinh từ phía Quân đội CSVN. Bauxit Tây Nguyên là một cái nguyên do gần để nghĩ đến Kháng chiến. Nếu người ta dễ đưa ra những Lý tưởng để bọc cho đẹp cái động lực thâm sâu là Lợi-lộc, tại sao trong trường hợp Bauxite Tây Nguyên gây tai hại cho Đất Nước không phải là lý do rất chính đáng được nêu ra để làm Kháng chiến, mặc dầu cái động lực vẫn là sự ghen tị Lợi-lộc chính trong đảng.
Trong bài gần đây nhất mà chúng tôi đăng trong số này, các Oâng NGUYỄN HUỆ CHI, PHẠM TÒAN, NGUYỄN THẾ HÙNG đã đưa ra 3 trường hợp cho Kịch bản Bauxite Tây Nguyên:
=> Trường hợp 1: LÝ TRÍ THẮNG: Cái lý trí này từ Dân chúng đưa ra và mang tính cách thuyết phục. Nếu Quốc hội còn Lý trí, thì sẽ đấu tranh để ngưng việc Khai thác Bauxite Tây Nguyên.
=> Trường hợp 2: LÝ TRÍ THUA: Nghĩ là đảng CSVN cùng với những Nghị gật của đảng trong Quốc Hội phủ nhận Lý trí từ Dân chúng để độc đóan cho Trung quốc khai thác Bauxite Tây Nguyên.
=> Trường hợp 3: CÒ CƯA KÉO CƯA: Đây là trường hợp muốn hạ nhiệt cao trào phản đối để rồi vẫn ngầm thực hiện việc khai thác.
Nhìn ba Trường hợp, chúng ta thấy việc để Tầu khai thác Bauxite Tây Nguyên sớm muộn gì cũng xẩy ra. Việc này hầu chắc phải xẩy ra, nếu chúng ta nhìn đàng sau Dự án là cả khối Lợi-lộc tiền bạc cho cá nhân mà Trung quốc đã đấm miệng những Lãnh đạo đảng. Việc cho Tầu khai thác Bauxite Tây Nguyên không phải chỉ mới quyết định, mà nó đã được xậm xụi dàn xếp trước đây trong sự nhú nhí có ý dấu diếm ngay đối với một số đảng viên cao cấp. Nếu việc khai thác Bauxite Tây Nguyên thực sự là chính đáng và hữu lý, thì không có gì phải nhú nhí dấu diếm như vậy. Những người quyết định càng nhú nhí dấu diếm hơn nữa khi mà Lợi-lộc tiền bạc cá nhân được dàn xếp tránh né sự ghen tương.
Chúng tôi muốn đặt câu hỏi ở đây như sau:
* VÕ NGUYÊN GIÁP, được coi là người Công thần khai Chế độ, viết 3 lá thư phản đối Tầu khai thác Bauxite Tây Nguyên. Nếu đảng CSVN vẫn tiếp tục để Tầu khai thác, thì sẽ phải có phản ứng như thế nào trước việc cố chấp mất lý trí của đảng?
* ĐỒNG SĨ NGUYÊN, cựu Thứ trưởng Quốc phòng, cũng công khai phản đối việc Tầu khai thác Bauxite Tây Nguyên. Nếu đảng cố chấp tiếp tục cho khai thác, thì ý kiến đúng đắn của Oâng bị coi rẻ như bùn hay không ?
Đây là hai người cao cấp bậc nhất trong Quân đội CSVN. Nếu hai người nhìn thấy đàng sau sự cố chấp phi lý của Lãnh đạo đảng còn có những cái Lợi-lộc tiền bạc cá nhân, thì hai người cũng đành câm họng chịu nhục hay sao ? Nếu hai người không vì danh dự của đảng hoặc tối thiểu của chính mình mà hành động phản đối tiếp, thì tối thiểu cũng vì cái động lực ghen tương Lợi-lộc cá nhân mà tiếp tục tìm cách chống lại.
Ở thời đầu của những năm Đổi mới, những Chỉ huy trong Quân đội được thưởng công bằng đặt vào vị trí Giám đốc, Tổng Giám đốc, Chủ dự án để có dịp ăn hối lộ. Chính ĐỖ MƯỜI đã nói rằng trả lương rẻ, nên tham nhũng được coi là tiền lương. Đó là việc thưởng công những người Chỉ huy trong Quân đội. Còn binh lính CSVN thì sao ? Phải công nhận những cán bộ Chính trị các cấp, những Công an dù ở cấp thấp nhất có quyền trị dân, thì có dịp ăn hối lộ, làm tham nhũng. Còn những binh lính CSVN, không trực tiếp trị dân, thì họ khó có dịp làm tham nhũng, ăn hối lộ.
Những phân tích trên đây cho thấy rằng chính cái Lợi-lộc cá nhân sẽ là ngườn tạo ghen ghét giữa phía Quân đội và phía Chính trị nắm quyền quyết định. Việc khai thác Bauxite Tây Nguyên là một cái dịp để phía Quân đội, nhất là binh lính bộc lộ sự ghen ghét qua hành động là KHÁNG CHIẾN.
Trâu buộc ghét trâu ăn. Trâu buộc là những binh lính, cấp chỉ huy nhỏ trong quân đội CSVN. Trâu ăn là tòan thể những kẻ có quyền trực tiếp trị dân, từ tên Công an Phường lên tới Uûy Ban Nhân dân Quận, Tỉnh, đến Lãnh đạo Trung ương. Có sẵn súng đạn, chất nổ..., sự ghen ghét này về Lợi-lộc là sức đẩy binh lính sang KHÁNG CHIẾN ngầm vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: KHÁNG CHIẾN “ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC”
Bài 03:
KHÁNG CHIẾN ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG BUỘC PHẢI XẨY RA
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://VietTUDAN.net Geneva, 04.06.2009
Cách đây 9 năm, trước cảnh đấu tranh lẻ loi của Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ, tôi viết cổ võ việc phản ứng mạnh phải có từ Tôn Giáo tại Quê Hương. Một số người phê bình tôi rằng: “Đừng xúi trẻ ăn cứt gà“. Tôi phản ứng lại bằng câu nói: “CSVN để cứt gà trước mặt và bắt mình phải ăn“, chứ không ai xúi ai cả.
Cũng trong suốt 8 năm trường dưới hai khóa của Tổng Thống BUSH, một Phong trào đấu tranh chủ trương Tiến Trình Dân Chủ Hóa VN trong thái độ Bất Bạo Động, hy vọng nước ngòai, nhất là Mỹ, sẽ đưa họ từ ngọai quốc về để cùng với CSVN thực hiện Tiến Trình Dân Chủ Hóa dù dưới sự lừa bịp của Cộng sản.
Chúng tôi không tin tưởng vào Tiến Trình Dân Chủ Hóa như vậy và luôn luôn kêu gọi chính Lực Lượng Quần Chúng Quốc nội phải làm đột biến dứt khóat lọai trừ cái Cơ Chế CSVN tham nhũng và phản quốc để mới có thể phát triển Đất Nước về mọi mặt. Cuộc đột biến lọai trừ CSVN không thể bằng bất bạo động, mà phải BẠO ĐỘNG TỰ VỆ trước sự đàn áp bằng võ lực của Công an CSVN. Không thể ngồi mơ mộng cái Lý Tất Thắng của Sự Thật, của Công Đạo, bởi vì CSVN đã mất Lý Trí mà chỉ còn sức mạnh bắp thịt đàn áp.
CSVN tham nhũng và phản quốc đã bán Hòang/Trường Sa, đã rước chệt vào Tây Nguyên, đã cúi đầu câm nín trước việc Tầu đuổi ngư dân đánh cá trong vùng Biển Việt Nam, đã bán nhiều Dự án cho Tầu để dân nai lưng đóng thuế trả nợ, đã nhục nhã chỉ kêu án 5, 6 năm cho hai tên Tầu sát nhân giết chết một Kỹ sư trẻ Việt Nam...
Đã đến lúc phải tổ chức KHÁNG CHIẾN ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG VÀ DIỆT CSVN PHẢN QUỐC. Nếu ai nói rằng đó là “Xúi trẻ ăn cứt gà“, thì tôi trả lời liền rằng: * CSVN đã để đầy những bãi cứt gà trên Quê Hương * Chúng bắt dân chúng phải ăn * Dân chúng quốc nội đã đứng dậy và đòi CSVN phải tự tay hốt những bãi cứt gà đó đi. * CSVN chai lỳ và ngoan cố không chịu làm, thì việc KHÁNG CHIẾN bằng bạo động tất phải xẩy ra.
Chúng tôi viết bài QUAN ĐIỂM này dưới những khía cạnh sau đây: => Tiên đóan Phong trào KHÁNG CHIẾN từ dư luận Quốc nội => Cơ hội ngàn vàng để bắt đầu Tổ chức KHÁNG CHIẾN => Đừng tạo hy vọng hão từ nước ngòai để làm giảm ý chí KHÁNG CHIẾN quốc nội
Tiên đóan Phong trào KHÁNG CHIẾN từ dư luận Quốc nội
Không phải là chúng tôi viết để xúi quốc nội làm Kháng Chiến, nhưng chính Quốc nội đã tiên đóan một cuộc KHÁNG CHIẾN bạo động sẽ phải đến do sự cố chấp của CSVN bán nước hay do việc Trung quốc buộc Bộ Chính trị đảng CSVN phải tuân phục thi hành như quan Thái Thú của Tầu.
* Võ Nguyên Giáp và một số Sĩ quan CSVN như nguyên Thứ trưởng Quốc Phòng Đồng Sĩ Nguyên phản đối việc khai thác Bôxit Tây Nguyên dưới tay của Tầu. Việc phản đối này nhấn mạnh về khía cạnh an ninh quốc gia. Nếu Bộ Chính trị đảng CSVN vẫn tiếp tục rước Tầu xâm lăng vào Tây Nguyên, thì Võ Nguyên Giáp và số Sĩ quan theo Oâng không lẽ mất hẳn nhuệ khí và ngồi yên nhục nhã ăn bãi cứt gà do Nguyễn Tấn Dũng đại diện đám Thái thú đặt ra trước mặt.
* Giáo sư NGUYỄN HUỆ CHI, Đại diện cho những trăm Trí thức quốc nội ký Bản Phản đối Boxit Tây Nguyên, đã báo trước: “Chúng tôi vẫn lắng nghe bởi vì chúng tôi là người dân, nhưng một khi người đứng đầu tỏ ra không tiếp nhận được cái tình cảm yêu nước tích luỹ từ hàng nghìn năm của dân tộc thì chính là các anh đối đầu với một vấn nạn rất lớn.” Vấn nạn rất lớn ở đây: (i) một là tổ chức quần chúng nổi dậy đối diện với cường quyền; (ii) hai là nếu cường quyền đàn áp mạnh, thì tình cảm yêu nước tích lũy sẽ đưa đến KHÁNG CHIẾN.
* Bác sĩ NGUYỄN ĐAN QUẾ cũng tuyên bố:”Nếu không ngưng ngay việc khai thác bauxite Tây Nguyên, việc tất yếu có thể xẩy ra, là các sắc dân thiểu số ở Tây Nguyên và toàn dân tộc sẽ chứng tỏ cho Bộ chính trị biết rằng sự độc hại của bauxite sẽ tiêu diệt độc tài trước khi trở thành đại họa cho toàn dân.” Việc quần chúng nổi dậy hay KHÁNG CHIẾN diệt độc tài là tất yếu nếu CSVN vẫn tiếp tục gây đại họa cho tòan dân.
* Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG viết một bài dài về tình trạng chung để Tầu xâm lăng, đặc biệt Bôxit Tây Nguyên, đã kết luận: “Không phải chỉ thế hệ trẻ cần thức tỉnh. Hỡi các bạn già chúng ta, dù sức tàn lực kiệt, hãy cứ vẫn phải mang tinh thần dũng sỹ mà soi xét, mà suy ngẫm và sẵn sàng hành động. Sự tưởng tượng kỳ quái kia mong sao chỉ là hoang tưởng. Nhưng, không thể không đề phòng, không thể không sẵn sàng, bởi thực tế trước mắt đã cho ta thấy chỉ riêng chuyện bôxit thôi mà ta đã phải đặt vấn đề " Bôxit, hay vận mệnh đất nước ". Đây là một câu kết luận kêu gọi thế hệ trẻ cũng như thế hệ già phải đề phòng, sẵn sàng hành động vì đây là vận mệnh Đất Nước. Hành động ở đây là gì, nếu không phải là tòan dân nổi dậy trực diện hay tổ chứng KHÁNG CHIẾN chống giặc Tầu xâm lăng, cứu nguy đất nước trước vận mệnh mất nước.
* Lời kêu gọi ngày 29.03.2009 của Hòa Thượng THÍCH QUẢNG ĐỘ chủ yếu là ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG, cứu nguy Đất Nước. Đó là Mục đích tối thượng và trường kỳ. Đảng CSVN không thể độc đóan quyết định, mà phải để cho Dân quyết định về vận mạng của mình. Biểu tình tại gia hay bất tuân dân sự chỉ là một sự cảnh cáo giai đọan. Nếu trước việc cảnh cáo này mà Bộ Chính trị vẫn tiếp tục rước Tầu vào Nhà, thì trong Mục đích tối thượng và trường kỳ cứu nguy Đất Nước, lời kêu gọi sẽ là: (i) một là dân nổi dậy trực diện; (ii) hai là tổ chức KHÁNG CHIẾN đấu tranh đến cùng để ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC.
* Với Thư Mục Vụ ngày 31.05.2009, Hồng Y PHẠM MINH MẪN đã lên tiếng Hiệp Thông Công Giáo vào công cuốc tranh đấu chung trước những nguy cơ cho Đất Nước. Ngài viết: “Trong những sự kiện như vụ việc Vedan và khai thác bôxít ở Tây Nguyên, đã có nhiều tiếng nói được gióng lên trên báo chí và các phương tiện truyền thông khác. Đây là dấu chỉ lành mạnh của một xã hội dân chủ, trong đó người dân ý thức trách nhiệm tham gia vào tiến trình quyết định về những vấn đề liên quan đến đời sống của họ và của đất nước. Là người công giáo, chúng ta ý thức rằng việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh là trách nhiệm gắn liền với niềm tin kitô giáo của mình.” Người Công Giáo hội nhập vào cuộc đấu tranh để dành lấy những quyết định dân chủ liên quan đến vận mệnh của mình. Hồng Y PHẠM MINH MẪN không còn tránh né hai chữ “Chính trị” nữa mà CSVN thường gán ghép cho những ai đấu tranh cho quyền sống của mình. Cuộc đấu tranh ngày hôm nay là cuộc đấu tranh cho quyền sống từng người nói riêng và cho việc cứu nguy Đất Nước nói chung. Với việc dấn thân chính đáng này, người Công giáo cũng đứng chung với tòan dân trong cuộc đấu tranh trường kỳ nếu CSVN vẫn cố chấp độc đóan rước Tầu vào nhà xâm lăng. Đó là cùng đứng chung hành động: (i) một là dân nổi dậy trực diện; (ii) hai là tổ chức KHÁNG CHIẾN đấu tranh đến cùng để ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC.
Cơ hội ngàn vàng để bắt đầu Tổ chức KHÁNG CHIẾN
Nhìn tinh thần trên đây của Quốc nội dự phòng một cuộc đấu tranh trường kỳ cứu nguy Đất Nước, chúng ta thấy đây là cơ hội ngàn vàng để chúng ta bắt đầu tổ chức KHÁNG CHIẾN ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC. Kinh nghiệm những chục năm trường cho chúng ta thấy rằng CSVN sẽ cố thủ giữ lấy quyền hành của đảng và vì vậy phải cúi đầu nhận lệnh của Tầu, tự coi mình là Thái Thú để được che chở cho quyền hành. Vì vậy việc bắt đầu Tổ chức KHÁNG CHIẾN trường kỳ là điều không thể tránh. Hãy nghe dân truyền tụng: "Theo Tàu mất nước, theo Mỹ mất Đảng ". Khẩu lệnh " thiên đình": "Trung với Đảng " (chứ không phải " Trung với Nước " như lời Hồ chủ tịch ). Có nghĩa là thà mất Nước chứ quyết không để mất Đảng !”
Nhìn lại 30.04.1975, phần lớn những thành phần đấu tranh cốt cán cho một Thể chế Dân chủ thực sự đã hỗn lọan không sửa sọan đặt một cơ cấu Kháng Chiến trường kỳ. Chính một số thành phần của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cũng đã bị Cộng sản Bắc Việt lọai ra khỏi vòng chiến vì chính Cộng sản Bắc Việt nghi ngại một sự cấu kết giữa những thành phần của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cùng với một số thành phần Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để tạo thành một Lực Lượng võ trang Kháng chiến trường kỳ.
Khi ra nước ngòai rồi, những thành phần ấy mới kêu gọi Kháng chiến võ trang từ Hải ngọai trở về Quê Hương. Đây là công việc khó khăn bởi vì CSVN đã kiểm sóat tòan lãnh thổ với mạng lưới Công an tăng cường xiết chặt.
Chúng tôi gọi lúc này là cơ hội ngàn vàng để Tổ chức Kháng Chiến tại Quốc nội vì những lý do sau đây:
=> Mục đích Kháng chiến có danh chính ngôn thuận. Mục đích đó là ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG. Không một người con Mẹ Aâu Cơ nào được quyền phản đối lại Mục đích ấy, trừ những tên phản quốc trực tiếp hay gián tiếp. Không những đây là có danh chính ngôn thuận mà còn là bổn phận và trách nhiệm của mọi người Việt Nam
=> Cuộc Kháng Chiến gặp đúng trường hợp Nhân Hòa, nghĩa là tòan dân đang lên tiếng chống Tầu xâm lăng và thù óan kẻ bán nước như chúng tôi đã trình bầy ở đọan trên đây. Tình trạng tham nhũng lan tràn. Cơ chế tạo ra lớp giầu tột bực và lớp nghèo kiết xác. CSVN, từ thời Hồ Chính Minh, Phạm Văn Đồng đã công khai ký nhượng Biển Việt Nam cho Tầu. CSVN ngày nay đã nhục nhã rước Tầu vào Tây Nguyên, cho Tầu chiếm Hòang Sa/Trường Sa, dâng những Dự án cho Tầu để quân xâm lăng mang lao động vào chiếm công ăn việc làm của dân chúng. Tất cả những việc này là cụ thể, đập vào mắt dân chúng. Nếu trước đây một số năm, nói đến Kháng chiến, có thể có một số người hờ hững vì đã trải qua những cuộc chiến tranh và vì phải vật lộn với cuộc sống. Nhưng ngày nay, Cao Trào Quần Chúng đang nổi dậy đấu tranh, chúng ta có điều kiện Nhân Hòa để Tổ chức Kháng chiến.
Đừng tạo hy vọng hão từ nước ngòai để làm giảm ý chí KHÁNG CHIẾN quốc nội
Khi chúng tôi chọn Chủ đề KHÁNG CHIẾN “ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC”, có một ít người từ Hải ngọai viết như nhắc lại câu “Đừng xúi trẻ ăn cứt gà”. Chúng tôi đã viết nhắc cho họ rằng Lực Lượng tại Quốc nội mới là Chủ lực đấu tranh, còn Hải ngọai chỉ có thể làm công việc Trợ Lực mà thôi. Thực vậy, vận mệnh của Đất Nước lúc này không phải là cuộc đấu tranh QUỐC—CỘNG giữa hai Ý thức hệ, mà là cuộc đấu tranh cứu Nước khỏi cuộc xâm lăng và diệt kẻ phản quốc đã rước ngọai xâm vào Nhà. Đây là cuộc đấu tranh giữa Tòan Dân bảo vệ Quê Hương và Tầu xâm lăng do CSVN rước vào. Chính Tòan Dân Việt Nam tại Quốc nội phải tự đứng lên tranh đấu chứ không ai xúi họ cả.
Điều cần phải tránh là “quậy” ở nước ngòai, coi như mình là Lực Lượng chính yếu nhờ nước ngòai, nhất là Mỹ, cứu nguy Đất Nước. Việc làm này có thể đưa ra một hy vọng hão mà hậu quả có thể làm giảm sức đấu tranh của Lực Lượng chủ lực tại Quê Hương.
Thế Giới đang sống trong cơn Khủng hỏa Tài chánh/Kinh tế. Họ không tha thiết đấu tranh cho mình đâu. Họ đang gỡ rối với thất nghiệp tại nước họ, chứ không chuốc lấy việc cứu dân nghèo Việt Nam. Người Việt (quốc nội) hãy tự tin và chỉ tin ở sức lực đấu tranh của chính mình để giải quyết những vấn đề hiện tại và tương lai của Đất Nước mình.
Nếu thời TT.BUSH, có những quan tâm can thiệp đối với một số vấn đề tại Việt Nam, thì thời OBAMA này, chúng ta không hy vọng những can thiệp bênh đỡ cho Việt Nam. OBAMA, trước hết đã không có gì liên hệ với quá khứ Việt Nam, nay phải đứng trước những vấn đề rất khó khăn: (i) mang tù Khủng bố về chính lãnh thổ Mỹ; (ii) bất đồng giữa tân Thủ tướng Do Thái và Obama; (iii) ngòi nguyên tử của Iran; (iv) Bắc Hàn thử hỏa tiễn và nguyên tử bất chấp Thế giới; (v) Taliban tăng cường phá họai sang Pakistan; (vi) giải quyết Irak để rút quân đội về; (vii) chiến tranh Afghanistan trở thành sôi động; (viii) hai vùng nguy hiểm chiến tranh ở Trung Đông và Viễn Đông (Biển Đông); (ix) Nga tăng cường sản xuất vũ khí để ngư ông thủ lợi; (x) General Motors bắt đầu tiến trình phá sản và để thiệt hại gần 100’000 người thất nghiệp và trên 500’000 thợ đã về hưu; (xi) Bộ trưởng Ngân Khố Mỹ Geithner phải sang tận Bắc Kinh nịnh Tầu khẳng định an tòan đồng Dollar... Nhật báo TRIBUNE DE GENEVE, ngày 02.06.2009, trước những vấn đề này, đã viết: “Obama risque gros, très gros” (Obama gặp nguy hiểm lớn, rất lớn).
Viết đọan này, chúng tôi muốn nói lên rằng từ nước ngòai, chúng ta nên bỏ quan niệm cũ đã nhiều năm nay, coi rằng chính người Việt Hải ngọai là Chủ lực và có thể vận động nước ngòai, nhất là Mỹ, can thiệp vào Việt Nam để mang cho dân Tự do và Dân chủ. Quan niệm như vậy để đưa lên những hy vọng mà hậu quả có thể làm cho người Quốc nội ỷ nại ngồi chờ mà không tự mình đứng lên làm chủ động đấu tranh.
Chúng ta ở Hải ngọai chỉ là trợ lực và dồn sức vào việc yểm trợ ý chí đấu tranh của Quốc nội là ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: CƠ SỞ KHÁNG CHIẾN “ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC”
Bài 02:
ĐÁNH PHẢI NGHĨ ĐẾN ĐỠ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://VietTUDAN.net Geneva, 28.05.2009
Trong mấy ngày gần đây, bàn về việc đấu tranh trước tình hình Việt Nam hiện nay, chúng tôi có dịp lập lại Lập trường và Mục đích đấu thanh dứt khóat của chúng tôi rất vắn gọn như sau:
1) ĐUỔI GIẶC TẦU XÂM LĂNG VÀ DIỆT CSVN PHẢN QUỐC 2) PHẢI DỨT KHÓAT VỨT BỎ CÁI CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH. Đây là một đòi hỏi tiên quyết để có thể MỞ MANG DÂN TỘC và PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC.
Một số người đặt ra vấn đề xem chọn Mục đích nào trước, Mục đích nào sau, nghĩa là ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG trước hay VỨT BỎ CÁI CƠ CHẾ CSVN trước.
Nếu chọn Mục đích số 2) trước như ưu tiên, chúng ta có thể quên Mục đích số 1) đang ở lúc cấp bách nhất vì Tầu đã vào Nhà rồi. Vì vậy, chúng tôi chọn Mục đích số 1) làm ưu tiên vì giặc đến Nhà rồi, đồng thời trong Mục đích số 1, có hàm ngụ Mục đích số 2). Như vậy, chọn Mục đích số 1) làm ưu tiên, chúng ta có thể dùng một gậy mà đánh hai thằng cùng một lúc.
Điều quan trọng mà chúng tôi lựa chọn ở đây còn nằm ỡ nguyên tắc đấu tranh trước một Thế lực mạnh là khi ĐÁNH, mình phải nghĩ đến ĐỠ trước. Nếu không đề phòng điều này, thì khi phía có Thế lực phản công lại, chúng ta dễ trở thành hỗn lọan trong việc chống đỡ. Đó cũng là nguyên tắc khi chế độc dược, thì phải có bài thuốc chữa độc dược.
Chúng tôi viết những khía cạnh sau đây:
=> Nghĩ đề phòng trước khi tấn công => Đuổi Tầu Xâm Lăng => Giá trị vận động của Mục đích Đuổi Tầu xâm lăng => Kháng Chiến chống Xâm lăng là quyền TỰ VỆ chính đáng
Nghĩ đề phòng trước khi tấn công
Quyết định tấn công, nhất là tấn công kẻ có sức lực mạnh hơn mình lại thêm đầu óc ngụy biện để phản công lại, chúng ta phải nghĩ sửa sọan những cái lý đề phòng trước. Cụ thể là CSVN, chúng có võ lực đàn áp mạnh, đồng thời lưu manh trắng trợn ngụy biện để lấy cái lý đàn áp việc đấu tranh chống lại chúng. Chúng luôn luôn dùng những chiêu bài tổng quát như “Chia rẽ Dân tộc”, “Phá họai Đòan Kết”, “Làm mất trật tự”, “Chống lại Nhà Nước”, “Giựt dây bởi Thế lực thù địch”, “Gián điệp cho Thế lực ngọai lai”... Từ những chiêu bài tổng quát ấy, chúng tìm tòi những Điều Luật để bắt bớ và kết án tù những người tranh đấu.
Làm thế nào khi đấu tranh, chúng ta tìm cách không để cho đám ngụy biện CSVN xử dụng những chiêu bài trên đây để bắt bớ, kết án tù chúng ta ? Chúng tôi xin đưa ra một số tỉ dụ cụ thể vừa qua tại Việt Nam.
=> Khi Dân Oan công khai biểu tình, một số những người Trí thức đấu tranh cho Dân chủ đã gọi đây là Phong trào Dân Oan đấu tranh cho Tự do Dân chủ, hoặc đấu tranh tổng quát cho Nhân quyền. Chúng tôi đã lên tiếng công khai nói rằng đừng làm cho Phong trào Dân Oan mang mầu sắc Chính trị như chống lại Độc tài CSVN để CSVN có thể dùng những chiêu bài liệt kê ở trên mà đàn áp. Chúng tôi đã nhấn mạnh rằng Dân Oan chỉ nhằm một Mục đích cụ thể và duy nhất là quyền DẠ DẦY (Stomach Right), đòi lại miếng cơm mà CSVN cướp mất. Đây là quyền tối thiểu mà súc vật cũng phải có. Đứng ở cương vị như vậy, thì CSVN không thể nói là Dân Oan “chia rẽ Dân tộc”, “gián điệp cho thế lực ngọai lai” vân vân. Tuy chúng tôi đã khẩn khỏan yêu cầu một số Nhóm trí thức Chính trị, nhưng có những Nhóm vẫn nói rằng Dân Oan đấu tranh trong lý tưởng Dân chủ của mình. Dường như muốn mượn đầu Dân Oan nấu cháo để CSVN có thể đàn áp thêm Dân Oan.
=> Khi Giáo dân Hà nội và Thái Hà cầu nguyện đấu tranh cho khu đất Tòa Khâm sứ và Giáo xứ Thái Hà, một số Nhóm Chính trị cũng nhẩy khựng la rầm lên là Công giáo vùng dậy đấu tranh cho Tự do, Dân chủ, Nhân quyền tổng quát và trừu tượng. Hô hào như vậy có thể làm cho CSVN ngụy biện đưa ra những chiêu bài tổng quát như “chia rẽ Dân tộc”, “Phá sự Đòan Kết”... để đàn áp cuộc đấu tranh. Chúng tôi đã viết nhiều bài xin những Nhóm họat đầu Chính trị đừng làm cớ cho CSVN ngụy biện gian ác. Cuộc đấu tranh bất bạo động của Giáo dân Hà nội và Thái hà mang Mục đích cụ thể đòi lại hai miếng đất và trong ý nghĩa không mang mầu sắc Chính trị mà chỉ trong phạm vi Công bằng Xã hội, đòi thực thi CÔNG LÝ để có HÒA BÌNH Xã hội. Đặt Mục đích như vậy, tức là đề phòng không cho CSVN ngụy biện gian ác để đàn áp.
Đuổi Tầu Xâm Lăng
Cao Trào Quần Chúng lên tiếng đấu tranh và hạn định trong Mục đích duy nhất là ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG. Quần chúng chọn cho mình Mục đích đuổi Tầu xâm lăng, thì Hồ Chính Minh sống lại cũng phải câm cái họng không dám ngụy biện về “Chia rẽ Dân tộc”, “Phá họai Đòan Kết”, “Làm mất trật tự”, “Chống lại Nhà Nước”, “Giựt dây bởi Thế lực thù địch”, “Gián điệp cho Thế lực ngọai lai”... Với việc chống Tầu xâm lăng, ngược lại, Cao Trào Quần Chúng hô hào “Đòan Kết Dân Tộc”, nhất trí tỏ lòng Yêu Tổ Quốc, bảo vệ vẹn tòan Lãnh Thổ và Lãnh Hải, không những cho Mồ Mả Tổ Tiên, mà còn cho cuộc sống Dân Việt hiện nay, nhất là Con Cháu sau này.
Với Mục đích như vậy, không ai có thể phản đối được, trừ kẻ phản quốc bán nước rước Tầu vào Nhà Quê Hương Việt Nam. Nguyên cái Mục đích đấu tranh này, không những chúng ta đề phòng cho chính cuộc đấu tranh, thậm chí bạo động Kháng chiến, tránh khỏi những ngụy biện của Nhà Nước, mà còn khóa miệng CSVN lại bởi vì nếu chúng lên tiếng phản đó, thì đó là một việc chấp nhận công khai về tội bán nước của mình.
Đặt Mục đích đấu tranh là ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG, chúng ta rút ra Hệ luận trực tiếp là phải DIỆT CSVN BÁN NƯỚC. Thực vậy, không thể khi cố gắng hy sinh chống Tầu vào Nhà, chúng ta lại để kẻ bán nước ngồi chễm chệ yên lành trong Nhà chúng ta. Khi đánh Tầu, phải đánh thằng Việt gian bán nước.
Chỉ cần một cái gậy ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG, chúng ta quất hai thằng một lúc: thằng Tầu xâm lăng và thằng CSVN rước ngọai bang vào Nhà xâm lăng.
Chúng tôi muốn đặt trường hợp chỉ đặt Mục đích DIỆT CSVN như ưu tiên. Mục đích này có thể làm cho CSVN ngụy biện để buộc tội và đàn áp Cao Trào Quân Chúng. Khi chỉ nêu Mục đích của Cao Trào là DIỆT CSVN như một số Nhóm trí thức Chính trị (hay tay sai Chính trị) đang lớn tiếng tranh luận lúc này, thì CSVN có thể ngụy biện xử dụng những chiêu bài như “Chia rẽ Dân tộc”, “Phá họai Đòan Kết”, “Làm mất trật tự”, “Chống lại Nhà Nước”, “Giựt dây bởi Thế lực thù địch”, “Gián điệp cho Thế lực ngọai lai”...
Nếu lấy Mục đích ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG làm ưu tiên, chúng ta hòan tòan có được tính cách đề phòng, còn lấy Mục đích DIỆT CSVN làm ưu tiên, chúng ta mất tính cách đề phòng vì CSVN thấy kẽ hở mà dùng độc quyền thông tin Báo Đài để tuyên truyền chống lại Cao Trào đấu tranh.
Chúng tôi nghi ngờ rằng một số Nhóm trí thức Chính trị có thể bị CSVN giựt dây để chỉ hô hào Mục đích thứ hai làm ưu tiên khiến CSVN thấy kẽ hở mà phản công lại Quần Chúng.
Khi Hòa Thượng THÍCH QUẢNG ĐỘ kêu gọi đấu tranh với Mục ĐÍCH ĐUỔI TẦU CỨU NGUY ĐẤT NƯỚC, chúng tôi lên tiếng ủng hộ và cổ võ liền. Không ai có thể phản đối được Mục đích này mà Ngài đưa ra, trừ CSVN bán nước. Nếu có ai tự xưng chống Cộng, mà phản đối Mục đích này, thì một là họ tòng phạm với CSVN về tội phản quốc, hai là họ là tay sai CSVN nhằm làm giảm sức lực Cao Trào Chống Tầu đang lên mạnh, ba là họ muốn dâng cho CSVN chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để nhằm hớp được mẩu bánh rơi rụng.
Giá trị vận động của Mục đích Đuổi Tầu xâm lăng
Đối với những người làm Chính trị, cái động lực thúc đẩy lòng hăng hái là quyền hành và cái lợi vật chất từ quyền hành chiếm được, nghĩa là cái động lực nằm ở sự chinh phục. Nhưng đối với Quần Chúng, cái động lực thú đẩy nổi dậy hành động, không phải ở sự chinh phục mà hệ trọng ở sự mất mát cụ thể. Một người Sinh viên trẻ, khi nói đến đấu tranh diệt CSVN để được Dân chủ trừu tượng, họ có thể lơ là và vì nghĩ rằng khi có đa nguyên đa đảng để gọi là Dân chủ, thì những người làm Chính trị được hưởng trước tiên và có thể chính họ còn phải tiếp tục đấu tranh nữa để mới có Dân chủ gọi là thực sự. Nhưng nếu nói với Sinh viên phải diệt Cơ Chế CSVN tham nhũng để công ăn việc làm không phải chỉ dành riêng cho lớp con ông cháu cha của đảng viên CSVN, và như vậy để chính họ có cơ hội có công ăn việc làm tốt theo sự cố gắng, thì người Sinh viên ấy dễ đứng lên hăng hái đấu tranh. Phải đụng đến cái gì thiết thân nhất và cụ thể nhất của từng cá nhân.
Mục đích ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG hiện nay là có giá trị vận động Cao Trào Quần Chúng nhất. Mục đích này là CỤ THỂ bởi vì trước mắt, mọi người thấy Tầu nằm chình ình trên Tây Nguyên, Tầu chiếm Hòang Sa/ Trương Sa, Tầu chiếm thềm Lục địa làm Ngư dân thiếu cách sinh sống, Tầu bỏ tiền đút lót tham nhũng mua rẻ những Dự án Việt Nam nhằm xuất cảng lao động và thiết bị, Tầu dồn những hàng hóa phế thải hay tồn đọng sang Việt Nam để giết chết Sản xuất Kinh tế Việt Nam.
Xâm lăng của Tầu không phải chỉ có Bôxit mà là tòan diện trên Quê Huơng Việt năm, nhất là nền Kinh tế đang nhen nhún. Đây là vấn đề MẤT MÁT thiết thân. Cái hậu quả của Xâm lăng ảnh hưởng lên tòan diện đời sống, mà cụ thể là:
=> Tàn phá Tây Nguyên mang hậu quả môi sinh cho Dân sống tại chính vùng này. Hậu quả bùn đỏ xuống những tỉnh kế cận Miền Nam Tây Nguyên. Cây rừng Tây Nguyên bị tàn phá ảnh hưởng đến Lũ Lụt cho những tỉnh Miền Trung.
=> Chiếm Hòang Sa/ Trường Sa đầy tài nguyên nằm trong vùng. Nhân số Thế giới mỗi ngày mỗi tăng. Đất khai thác, nhất là Nông nghiệp mỗi ngày mỗi thu hẹp lại. Mặt trái đất mỏng manh, việc khai thác khó đến chiều sâu. Tương lai khai thác của Thế giới là Biển cả (Exploitation maritime) có nguồn dự trữ tài nguyên và nguồn nuôi dưỡng phong phú vì Biển cả có chiều sâu chứ không mong manh như Đất liền. Chiếm Hòang Sa/Trường Sa và thềm Lục địa Việt Nam là chiếm cả tài nguyên và nguồn sống cho Dân từ Biển cả.
=> Điều cụ thể không những đập vào mắt Dân chúng lao động, mà còn cho những Tư doanh Việt Nam. Dự án bị Tầu dùng tham nhũng để mua. Hàng hóa tồn đọng và phế thải chuyển sang Việt Nam. Lao động Tầu sang chiếm công ăn việc làm.
Nếu lòng yêu nước đã có từ ngàn năm chống giặc Tầu, đã in vào tiềm thức con cháu Mẹ Aâu Cơ, làm cho Mục đích ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG có giá trị vận động đấu tranh trường kỳ, thì những vấn đề MẤT MÁT THIẾT THÂN rất cụ thể cho từng người dân như vừa nêu trên mang giá trị vận động Quần Chúng phải hành động mạnh CẤP THỜI chứ không để Tầu mọc rẽ mới tìm cách bứng.
Kháng Chiến chống Xâm lăng là quyền TỰ VỆ chính đáng
Trên 30 năm rồi, chúng ta nói đến những Phong trào, Mặt Trận Kháng chiến chống CSVN. Những Phong trào, Mặt Trận ấy đã bị guồng máy độc đóan tuyên truyền ngụy biện đối với Dân chúng, đối với nước ngài, như là những tranh chấp quyền hành Chính trị, không là sự đấu tranh cụ thể thiết thân cho Quần Chúng. Đó là khía cạnh làm cho CSVN có thể dùng võ lực đàn áp mà ngọai quốc chỉ nói sơ qua rồi lại yên và dân chúng quốc nội cũng chỉ biết vậy vì đang phải vật lộn với cuộc sống kiếm ăn vất vả.
Ngày nay, chúng tôi hô hào KHÁNG CHIẾN, nhưng đây là KHÁNG CHIẾN CHỐNG TẦU XÂM LĂNG rất cụ thể và thiết thân cho đời sống Dân chúng.
Cuộc KHÁNG CHIẾN này không phải là việc tranh chấp Chính trị mà CSVN vẫn ngụy biện tuyên truyền. Cuộc KHÁNG CHIẾN này thuộc về quyền TỰ VỆ của tất cả mọi sinh vật, từ cỏ cây đến súc vật. Cây bị khía vỏ cũng biết đùn nhựa ra để chống đỡ. Con ong khi tổ bị phá, cũng biết cùng nhau chống kẻ phá tổ. Con sư tử đái để giữ vùng đất của mình và khi thấy sư tử khác xâm phạm, nó chiến đấu đến cùng. Ai phản đối cuộc KHÁNG CHIẾN CHỐNG TẦU XÂM LĂNG này, tức là tự nhận mình kém súc vật, phủ nhận cái quyền tự nhiên TỰ VỆ của mình cho cuộc sống.
Đảng CSVN, trước cuộc KHÁNG CHIẾN CHỐNG TẦU XÂM LĂNG không thể dùng những ngụy biện để bắt tội. Đối với cuộc Kháng Chiến Chống Tầu Xâm Lăng, trước hết kẻ đã trực tiếp rước giặc vào Nhà không được quyền phản đối vì chính họ là tội phạm rõ rệt rồi. Còn những kẻ không trực tiếp bán nước nhưng vẫn níu kéo lấy quyền hành đứng trước hai việc không thể làm được: (i) Nếu phản đối lại Kháng Chiến, nghĩa là họ tuyên bố phản quốc và sẽ bị dân lọai trừ; (ii) Nếu dùng võ lực để đàn áp Kháng Chiến và bảo vệ cho Tầu xâm lăng, thì họ càng bị dân chúng phỉ nhổ và tiêu diệt. Dân không đóng thuế cho Công an đi làm công việc bảo vệ an ninh cho Tầu và đàn áp lại chính người trả tiền thuế thuê họ làm công an.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: CƠ SỞ KHÁNG CHIẾN “ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC”
Bài 01:
TỪ CAO TRÀO QUẦN CHÚNG, CHỌN RA NHỮNG HẠT NHÂN NỒNG CỐT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://VietTUDAN.net Geneva, 21.05.2009
Trong Bài MỞ ĐẦU, chúng tôi đã phân tích sự lớn mạnh của CAO TRÀO QUẦN CHÚNG đang nổi dậy tại Quê Hương. Cao Trào bắt đầu từ Dân Oan mất Nhà Đất, từ Giáo Oan như Tòa Khâm sứ cũ, xứ Thái Hà mất đất đai của Tôn giáo. Nay Cao Trào dâng lên như sóng trào và lan ra mọi giới khi người Dân nhìn thấy Đất đai và Biển cả của Tổ Tiên bị Tầu xâm lăng. Đó là những gì cụ thể mà nhà nước CSVN không thể ngụy biện chối cãi như họ đã từng lừa đảo dân chúng trong những chục năm trường.
Quần Chúng nổi dậy là để đấu tranh đòi lại Nhà Đất bị cướp dựt (đòi Công lý) và bảo tòan Lãnh Thổ và Lãnh Hải của Tổ Tiên (đuổi Tầu xâm lăng).
Với Bài thứ nhất trong lọat Bài chủ đề này, chúng tôi chỉ đề cập đến những điểm tổng quát như sau:
=> Mục đích của Cao Trào Quần Chúng hòan tòan chính đáng => Từ Cao Trào, chọn ra những hạt nhân của Tổ chức Kháng chiến thường xuyên.
Mục đích của Cao Trào Quần Chúng hòan tòan chính đáng
Một Phong trào tranh đấu muốn có sự đòan kết, hợp nhất, cần phải đặt ra MỤC ĐÍCH cụ thể, đơn giản, và thiết thân đối với người tranh đấu.
Thực vậy, một số Phong trào gồm những đảng phái Chính trị, những Đòan thể Dân sự... lúc đầu hăng hái ngồi chung lại, nhưng rồi sau đó lại xẹp xuống, chia rẽ nhau, thậm chí đi đến cảnh cấu xé nhau mà dù nhiều bài kêu gọi đòan kết cũng không thể tạo được sự hợp nhất. Cái lý do chia rẽ, cấu xé nhau, đó là chỉ đặt Mục đích quá tổng quát, trừu tượng để rồi mỗi đảng phái, mỗi đòan thể còn mang mục đích riêng lẻ của mình tạo sự nghi ngờ giữa các thành phần cấu tạo Phong trào. Không thể kêu gọi đòan kết khi chưa có sự thống nhất về MỤC ĐÍCH. Nhưng khi mang cùng MỤC ĐÍCH cùng thiết thân cho mọi thành phần, thì không cần kêu gọi đòan kết, việc HỢP NHẤT tự động đến.
Đối với CAO TRÀO QUẦN CHÚNG hiện nay, cái MỤC ĐÍCH duy nhất đấu tranh là ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG. Đây là cái MỤC ĐÍCH mà không một người Việt nào có thể phủ nhận dù người đó thuộc giới Nam hay Nữ, thuộc tuổi tác nào, thuộc sắc tộc nào, thuộc tôn giáo nào, thuộc đảng phái Chính trị nào đi nữa. Chỉ có những kẻ phản quốc, làm tay sai cho Tầu xâm lăng, mới tìm cách phủ nhận MỤC ĐÍCH của Cao Trào Quần Chúng hiện nay mà thôi.
Mục đích ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG là CỤ THỂ vì mọi người dân Việt thấy rõ rệt Tầu chiếm Tây Nguyên, chiếm Hòang Sa và Trường Sa, chiếm thềm Lục địa. Mục đích này không phải là hai chữ Dân Chủ trừu tượng để CSVN còn lẻo mép chống chế, để ngay những đảng phái Quốc gia còn hiểu mỗi người một cách khác nhau. Mục đích này cũng không phải là Tự do Tôn giáo để những Giáo Hội quốc doanh còn đi giải độc cho Thế giới là Việt Nam có Tự do Tôn giáo. Mục đích này cũng không phải là hai chữ Nhân Quyền trừu tượng để ngay cả Hoa kỳ cũng vì Tiền bạc mà hy sinh cảnh Dân chúng Trung quốc, Việt Nam bị bóc lột sức lao động. Với Mục đích CỤ THỂ đuổi Tầu xâm lăng, thì không ai cắt nghĩa khác đuợc, trừ kẻ phản quốc.
Mục đích ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG là ĐƠN GIẢN. Thực vậy, không cần phải dài dòng viết lách cắt nghĩa, thì dân chúng mộc mạc nhất cũng hiểu. Đuổi Tầu khỏi Tây Nguyên, Hòang Sa và Trương Sa, chỉ đơn giản có thế thôi, không có gì phức tạp khó hiểu.
Mục đích ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG là THIẾT THÂN. Vấn đề thiết thân là căn bản tạo sức mạnh và đòan kết đấu tranh. Việc Tầu khai thác Bôxit Tây Nguyên là việc thiết thân cho mọi người liên hệ đến vùng này. Người ta thiết thân để sống, trước hết là thân xác, thì tự động tìm đến cấu kết với nhau và xả thân cùng nhau đấu tranh cho quyền lợi thiết thân của mình. Những Dân tộc thiểu số Tây Nguyên mất mát trong việc sinh sống, thì tự động tìm đến những người Kinh tại các Tỉnh ven Tây Nguyên bị đe dọa trầm trọng do hậu quả khai thác Bôxit Tây Nguyên. Những ngư phủ Miền Trung bị Tầu cấm đánh cá trong chính vùng biển thuộc Việt Nam, thì tự động tìm đến đòan kết với nhau mà đấu tranh dành lại thêm lục địa.
Trong khi ấy, một số Nhóm Chính trị tại Hải ngọai, vì Boxít Tây Nguyên không động chạm thiết thân trực tiếp đến đời sống lập nghiệp yên lành tại nước ngòai, nên có thể còn thờ ơ, cãi cọ về phương pháp đấu tranh trong Mục đích ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG khỏi Tây Nguyên.
Khi chúng tôi viết bài GIẶC ĐẾN NHÀ..., AI CŨNG PHẢI ĐÁNH VÀ ĐÁNH CÁCH NÀO CŨNG ĐƯỢC là chúng tôi nghĩ đến vấn đề THIẾT THÂN của những người sống trong một cái NHÀ, cùng bị thiệt hại trực tiếp đến bản thân mình.
Trong bài vừa nhắc đến trên đây, chúng tôi đặt ra hai vấn đề: (i) AI CŨNG PHẢI ĐÁNH, nghĩa là chấp nhận mọi người cùng đánh Tầu; (ii) ĐÁNH CÁCH NÀO CŨNG ĐƯỢC, nghĩa là chấp nhận mọi phương pháp đuổi Tầu.
Đối với vấn đề thứ nhất, AI CŨNG PHẢI ĐÁNH, điều này không những có nghĩa chúng ta chấp nhận mọi người đánh Tầu mà chúng ta còn đòi buộc mọi người sống trong Nhà PHẢI có bổn phận và trách nhiệm đuổi kẻ xâm lăng. Khi một số người hay một số Nhóm Chính trị ngồi chung để đấu tranh về Chính trị, chúng ta có thể xét Lý Lịch của người này hay quá khứ của Nhóm kia theo khuynh hướng khác nhau về Chính trị. Nhưng với Mục đích đuổi ngọai xâm vào Nhà, thì ai cộng tác vào việc đánh kẻ xâm lăng, đều được hoan nghênh. Chính vì vậy mà khi giặc đến nhà, ai cũng phải đánh, không phân biệt Chính trị, Tôn giáo, Sắc tộc... Trong ít ngày gần đây, chúng tôi ngạc nhiên thấy có người muốn lọai trừ ra khỏi việc ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG ngay cả Hòa Thượng THÍCH QUẢNG ĐỘ, Luật sư ĐỖ THÁI NHIÊN hay chính chúng tôi. Chúng tôi thấy người đó như muốn độc quyền chống Tầu. Thái độ này có thể làm người khác nghĩ rằng họ muốn chia rẽ sự Đòan Kết chống ngọai xâm. Đây là điều mà CSVN phản quốc ao ước: phân tán Cao Trào Quần Chúng chống lại quan thầy Tầu mà CSVN phản quốc rước vào Nhà Việt Nam. Tôi nhớ lại thời Sinh viên tại Thụy sĩ: có Sinh viên chống Cộng triệt để, có Sinh viên ủng hộ đám phản chiến..., nhưng nếu bất cứ một Sinh viên Việt Nam nào bị thằng Thụy sĩ đánh, thì chúng tôi xúm lại đánh thằng Thụy sĩ trước khi hạch họe việc ủng hộ phản chiến của Sinh viên kia. Tôi cũng thường nói rằng:”Nếu qủy Satan chỉ đường cho tôi lên Thiên đàng, thì tôi lắng nghe theo nó, nhưng vẫn cảnh giác rằng nó là qủy Satan”. Nếu Satan cùng đánh Tầu, chúng ta chấp nhận, nhưng mình vẫn âm thầm phải tự cảnh giác rằng nó là Satan.
Về vấn đề thứ hai, ĐÁNH CÁCH NÀO CŨNG ĐƯỢC, tính cách cấp bách đuổi Tầu xâm lăng, chấm dứt việc khai thác Bôxit Tây Nguyên, không cho phép chúng ta chần chờ để Tầu mọc rễ. Những nạn nhân trực tiếp của Boxit Tây Nguyên vì cấp bách, không có thời giờ biện luận lý thuyết về bạo động hay bất bạo động, mà vớ được phương tiện nào, đuổi Tầu với phương tiện nấy. Phương tiện nào cũng xài hết, miễn là đóng góp vào Mục đích ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG khỏi Tây Nguyên. Phản đối tại gia, phản đối ngòai đường phố, cầu nguyện để phản đối, viết lách để rủa Tầu, dùng mắt lườm khinh bỉ quân xâm lăng, tỏ thái độ phản kháng không thèm trả lời một câu như PHẠM NGŨ LÃO... tất cả đều chấp nhận, đều đóng góp vào Mục đích ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG. Chúng ta đặt Mục đích đầu tiên là ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG, còn DIỆT CSVN PHẢN QUỐC là hệ luận trực tiếp và tất yếu. Thực vậy, khi đuổi Tầu khỏi Nhà, thì tất nhiên phải diệt đám phản quốc rước Tầu vào Nhà. Chúng ta dùng một gậy đánh hai thằng: thằng kẻ cướp vào nhà và thằng rước kẻ cướp vào nhà.
Khi CAO TRÀO QUẦN CHÚNG chỉ tuyên bố là ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG thì Mục đích ấy hàm ngụ việc diệt luôn kẻ phản quốc mang Tầu vào xâm lăng. Với Mục đích nêu rõ ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG, CSVN không thể tố cáo gì được Quần Chúng bởi vì nếu chúng kết tội việc đuổi Tầu xâm lăng, thì chính CSVN thú nhận tội phản quốc của mình. CSVN cũng không thể ngụy biện như thường lệ là tố cáo việc phá họai Đòan Kết Dân Tộc bởi vì Dân Tộc đang đòan kết cùng nhau đuổi tầu xâm lăng. Chính những kẻ chống lại việc đuổi Tầu mới là những kẻ phải xử tội với tội danh phá họai Đòan Kết Dân Tộc. CSVN cũng không thể ngụy biện tội danh chống lại Nhà Nước vì Quần Chúng chỉ tuyên bố Mục đích ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG, nhưng nếu ai chống lại việc đuổi Tầu, ngay cả Nhà Nước, thì người đó và Nhà Nước là phản quốc và bị Quần Chúng lọai trừ. Mục đích ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG là hòan tòan chính đáng và bao gồm việc diệt trừ phản quốc.
Mặt khác, nếu chúng ta chỉ hô hào nguyên việc lọai trừ CSVN, thì Nhà Nước CSVN có thể ngụy biện tố cáo những tội danh như chống lại Nhà Nước, phá họai Đòan Kết Dân Tộc.
Đặt Mục đích ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC như hệ luận trực tiếp, thì Hồ Chí Minh sống lại cũng phải câm họng, không ngụy biện tố cáo được gì cả.
Từ Cao Trào, chọn ra những hạt nhân của Tổ chức Kháng chiến thường xuyên.
Một Cao Trào Quần Chúng đấu tranh dâng cao, cần phải có những hạt nhân kiên cường để giữ vững tính cách thường xuyên của Cao Trào. Giặc Tầu và những kẻ phản quốc đang giữ quyền hành và có phương tiện, sẽ tìm cách làm hạ cường độ đang dâng lên hoặc tìm mọi phương tiện phân tán Cao Trào. Bởi vì đây là Quần Chúng, nên tinh thần của Quần Chúng có thể uyển chuyển khi cao khi thấp.
Chúng tôi đã viết về những biện pháp mà Tầu và CSVN phản quốc đang tìm cách làm giảm cường độ đấu tranh của Quần Chúng.
Thực vậy, từ câu nói của Nguyễn Tấn Dũng “Boxit Tây Nguyên là Chủ trương lớn của đảng” như để khinh thường ý kiến của người dân, Cao Trào phản đối của Quần Chúng lên mạnh. CSVN tìm cách hạ xuống bằng cách hứa thanh tra vấn đề môi trường, rà xét kỹ lợi ích Kinh tế, đưa ra thảo luận tại Quốc Hội vân vân. Tầu và CSVN phản quốc cũng xử dụng yếu tố thời gian để sức mạnh của Cao Trào có thể giảm xuống. Dầu sao Boxit Tây Nguyễn đã là quà triều cống cho Tầu và vẫn được tiếp tục. Cuộc đấu tranh của Quần chúng phải kéo dài.
Trong tình thế như vậy, Cao Trào Quần Chúng cần phải nghĩ đến một TỔ CHỨC để giữ vững cường độ đấu tranh và bảo đảm tính cách trường kỳ. Một Tổ Chức công khai là điều rất khó khăn dưới một cơ chế độc tài nắm trọn quyền lực vu khống, đàn áp. Chính vì vậy mà chúng tôi nghĩ đến những Tổ Kháng Chiến mang tính cách kín đáo.
Từ Cao Trào Quần Chúng, chúng ta âm thầm chọn ra những thành phần cốt cán mà chúng tôi gọi là những hạt nhân. Thực vậy, kinh nghiệm cho thấy rằng một Phong trào Quần Chúng vẫn tồn tại và sống động khi Phong trào ấy có được một số thành phần hạt nhân nồng cốt, kiên trì. Một Đòan thể, khi mới kêu gọi lập ra, mọi người ồ ạt hứng khởi. Nhưng sau một thời gian, không phải là tất cả mọi người làm việc để Đòan thể ấy sống, mà chỉ còn một số ít người nồng cốt, có thể là ẩn danh, vẫn làm cho Đòan thể ấy sống. Có những Oâng, Bà Chủ tịch của một Hội đòan thường than rằng bây giờ chỉ có tôi và gia đình nai lưng ra làm việc. Nhưng Hội đòan vẫn giữ những sinh họat thường xuyên nhờ sự cố gắng bền bỉ làm việc của Oâng/ Bà Chủ tịch và gia đình.
Khi Cao Trào Quần Chúng đang lên mạnh, chính là lúc xem xét và tìm tòi ra những hạt nhân nồng cốt cho Cao Trào. Không cần số đông người, mà chỉ cần một sốt ít (rất ít) những hạt nhân nồng cốt và kiên trì, nhất là những người sẽ phải chịu những hậu quả thiết thân nhất cho đời sống của họ.
Trong Bài MỞ ĐẦU, chúng tôi nhắc đến một số Tổ Kháng Chiến làm tỉ dụ gợi ý. Về việc đặt những Cơ sở, tổ chức những Tổ kháng chiến, chúng tôi không dám múa rìu qua mắt thợ đối với những Vị đã từng sống với Chiến tranh, hiện còn tại Quốc nội hay cư ngụ tại Hải ngoại. Những Vị ấy đã từng vào sinh ra tử, sống tại những nguy hiểm, chắc chắn sẽ đóng góp ý kiến hữu hiệu nhất cho công cuộc Tổ chức Kháng chiến chống lại giặc Tầu này. Trong Bài MỞ ĐẦU, chúng tôi nhắc tới việc Kháng chiến tại Quốc nội cũng như Hải ngoại:
Tại Quốc nội:
Chúng ta hãy để cho nhân sự tại Quốc nội làm những Tổ kháng chiến tại chỗ. Họ sống tại chỗ và rành thổ địa hơn những người từ đã định cư ở nước ngoài trở về. Giới trẻ sống tại ngoại quốc lâu, thì chưa quen thổ địa. Các bậc lớn tuổi, tuy trước đây có nhiều kinh nghiệm và quen thổ địa, nhưng đã yếu sức. Hãy để cho Quốc nội tổ chức Kháng chiến chống Tầu tại chỗ. Đây cũng là vấn đề thiết thân trực tiếp tới đời sống họ, nên họ quyết tâm và hy sinh nhiều hơn những người từ Hải ngoại đáp máy bay xuống Phi trường, lớ ngớ để Công an bắt và làm phiền hà đến sự can thiệp của các Sứ quán nước ngoài. Có người nghĩ đến cái danh anh hùng kháng chiến đáp Máy Bay về, để rồi được nước ngoài can thiệp trở ra ngoại quốc và được đón chào ca tụng, Kháng chiến thực phải nằm tại Quốc nội và do người Quốc nội đảm trách, làm việc trong sự hy sinh sống chết tại Quê Hương.
Trong Bài MỞ ĐẦU, chúng tôi đưa ra một ít Tổ Kháng chiến làm tỉ dụ, trong đó có hai Tổ mà chúng tôi coi là quan trọng hơn cả:
=> Tổ Kháng chiến tạo BẤT ỔN tại nơi Khai thác Bôxit
Tổ này nhằm tạo bất an ninh cho những nhân viên và lao động Tầu làm việc cho những Công ty Trung quốc khai thác tài nguyên nước ta. Những đồng bào thiểu số sống tại Tây nguyên là nhân sự phù hợp nhất cho những Tổ Kháng chiến tạo BẤT ỔN này. Họ biết đường rừng và khi đã vào rừng tranh, bụi rậm rồi, thì Công an CSVN cũng chưa chắc dám vào tìm họ.
=> Tổ Kháng chiến gây BẤT AN việc chuyên chở Boxit
Dân chúng một số Tỉnh Miền Trung đã từng bị thiên tai Bão, Lụt đến từ Biển. Nay Tây Nguyên bị tàn phá, họ lại phải chịu thêm nước Lũ kéo xuống nữa. Boxit Tây Nguyên sẽ gây hậu quả thiết thân trực tiếp đến đời sống họ. Dân Miền Trung cực khổ này đã cung cấp bao nhiêu anh hùng Kháng chiến trong Lịch sử. Tạo những Tổ Kháng chiến gây BẤT AN cho Tầu là cái nghề và rất thiết thân đối với họ.
Về phương tiện tạo BẤT ỔN, gây BẤT AN, xin cũng để cho Quốc nội xoay xở tại chỗ, nhiều khi với chính Quân đội CSVN mà họ đã từng cùng nhau sống chiến tranh trước đây.
Tại Hải ngoại:
Không có Tầu xâm lăng nằm tại Hải ngoại để chúng ta Kháng chiến chống họ. Nhưng những tên CSVN phản quốc, bán nước có dịp chạm trán với chúng ta. Tội bán nước là tội Trời không tha và Đất không dung. Tội đó đáng phải chịu bản án chu di tam tộc. Chúng ta không có quyền chu di tam tộc về thân xác. Nhưng con cháu những tên bán nước đang sống giữa chúng ta và còn tiêu xài hả hê những tiền bạc ăn cướp từ chính dân nghèo Việt Nam. Chúng ta hãy làm chu di tam tộc về TINH THẦN đối với con cháu những tên CSVN bán nước, phản quốc này.
Tóm lại, chúng tôi đứng ở cương vị tổng quát để nêu lên rằng Cao Trào Quần Chúng đã dâng lên cao. Đây là một điều rất qúy hóa. Từ Cao Trào qúy hóa này, chúng ta chọn lọc ra những hạt nhân nồng cốt, kiên trì để làm linh hồn cho sự tiếp tục của Cao Trào. Những hạt nhân nồng cốt trở thành những Tổ Kháng chiến để Tầu và CSVN phản quốc, dù có dùng quyền lực, sức mạnh, cũng phải trường kỳ gặp những bất ổn. Cột Đồng Trụ cao vững của Mã Viện cũng không chịu nổi những viên đá nhỏ ném vào mà địch coi thường.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 21.05.2009
| | | |
CHỦ ĐỀ: CƠ SỞ KHÁNG CHIẾN “ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC”
Bài MỞ ĐẦU:
THƯỢNG BẤT CHÍNH, HẠ BẤT TUÂN VÀ TÁC LỌAN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://VietTUDAN.net Geneva, 14.05.2009
Chúng tôi đã viết một bài với đầu đề CÔ ĐỌNG VÀO VIỆC CHỐNG BÔ XÍT VÀ ĐẶT CƠ SỞ KHÁNG CHIẾN nhằm kéo sự chú ý đấu tranh vào vấn đề chính yếu và cấp bách ở hiện tình Việt Nam lúc này. Đây không phải là lời kêu gọi mang tính cách Phong trào đấu tranh nhất thời, mà là bước đi phải đến từ những biến chuyển của tình hình Quê Hương.
Ngày 08.05.2009, tham dự cuộc Biểu Tình trước Liên Hiệp Quốc tại Geneva chống lại Bản Báo Cáo về Nhân Quyền của CSVN nói láo với Quốc tế, chúng tôi có dịp gặp lại một số bạn cũ đã từng đấu tranh cách đây hơn 30 năm ngay sau biến cố 30/4/75. Trao đổi với nhau về tình hình Quê Hương, chúng tôi cũng nhận thấy rằng thái độ chai lỳ cố thủ giữ lấy quyền hành độc tài của đảng CSVN, bị sai khiến bởi Trung Cộng, buộc Dân Chúng phải nổi dậy làm ĐỘT BIẾN đối diện với Nhà Nước CSVN, nhất là đối diện với xâm lăng của Tầu đã thực sự chiếm Lãnh Thổ và Lãnh Hải Việt Nam do đảng CSVN dẫn giặc vào Nhà.
Tình hình diễn ra như vậy buộc lòng phải sửa sọan KHÁNG CHIẾN, đặt những CƠ SỞ KHÁNG CHIẾN CHỐNG TẦU XÂM LĂNG, DIỆT CSVN PHẢN QUỐC.
Viết về vấn đề này, có thể có những Nhóm sẽ công kích chúng tôi vì họ thường tuyên bố Đối Thọai, Hòa Hợp Hòa Giải và Bất Bạo Động. Có thể có những Bạn Trẻ cho rằng Lớp Già quá khích, nhớ lại quá khứ mà đấu tranh hơn là hướng về tương lai xây dựng. Thực ra đây là bước đi của tình hình đẩy đến một cuộc đấu tranh như vậy mà chúng tôi chỉ là người trình bầy bước đi đó mà thôi.
Bước đi được tóm tắt trong câu Tục ngữ Dân chúng rất thông dụng: “THƯỢNG BẤT CHÍNH, HẠ BẤT TUÂN“ và tiếp theo: “THƯỢNG BẤT CHÍNH, HẠ TÁC LỌAN“. Bất tuân, có thể còn bất bạo động, nhưng khi đã Tác lọan, thì phải có Bạo Dộng.
Dàn bài để nói rất rõ rệt như sau của Bài MỞ ĐẦU cho Chủ đề này:
=> Thượng Bất Chính ở những điểm nào ? => Hạ đã bắt đầu Phong trào Bất Tuân => Hạ sửa sọan cho Phong trào Tác Lọan
Thượng Bất Chính ở những điểm nào ?
Cá nhân chúng tôi rất ít viết về quá khứ tội ác của CSVN , có lẽ bởi vì chúng tôi đã rời Việt Nam từ năm 1965, nên không biết kỹ về những tội ác của CSVN như chính những vị đã là nạn nhân trực triếp. Vì vậy khi viết về quá khứ tội ác của CSVN, chúng tôi chỉ như múa rìu qua mắt thợ mà thôi. Chính vì vậy, khi viết về những Bất Chính của CSVN trong phần phân tích này, chúng tôi viết vì lợi ích cho Quê Hương Việt Nam trong tương lai mà thôi. Các Bạn Trẻ không thể nói là tôi già quá khích đấu tranh vì quá khứ, nhất nữa tôi chưa bao giờ được làm quan trong các Chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi viết đấu tranh vì tương lai Việt Nam. Sau đây là những bất chính quan trọng mà nếu CSVN vẫn khăng khăng tiếp tục những bất chính ấy, thì Dân Tộc không thể đòan kết và Đất Nước không thể phát triển:
1) Bất chính thứ nhất: CƠ CHẾ DỘC TÀI CHÍNH TRỊ NẮM ĐỘC QUYỀN KINH TẾ
Đây là cái bất chính đối với tòan dân bị đảng CSVN cai trị. Ơû thời Cộng sản thuần túy, hệ thống Kinh tế là tập quyền và hòan tòan chỉ huy. Nhà Nước làm Kinh tế và bao cấp cho Dân. Nhưng ở cái Cơ Chế hiện hành, Nhà Nước tuyên bố Kinh tế Tự do Thị trường định hướng XHCH, nghĩa là Nhà Nước vẫn độc tài Chính trị và nắm luôn độc quyền Kinh tế để thu lợi cho đảng và đảng viên mà không cần phải bao cấp cho Dân chúng nữa. Đó là khía cạnh vô lương của bóc lột Kinh tế tệ hại hơn là thời kỳ Kinh tế Chỉ huy và Tập quyền thời Cộng sản thuần túy. Hãy cụ thể nói ra Cơ Chế hiện hành vô lương ở những điểm nào: * Nắm giữ tòan quyền quyết định trên tài nguyên Quốc gia gồm mặt đất bằng và nguồn khóang sản dưới đất. Cái quyền này cho phép đảng CSVN từ trên xuống dưới ăn tham nhũng để phân phối đất đai mặt bằng và bán tài nguyên khóang sản cho nước ngòai. Dân Oan là nạn nhân đặc biệt của bất chính này. Bauxite Tây Nguyên thuộc bất chính này. * Đảng CSVN được tòan quyền phân phối Ngân sách cho các Dự án. Đây là nguồn tham những cho con ông cháu cha của đảng và cho đảng viên các Tỉnh. Đảng viên các cấp trở thành giầu có với việc lợi dụng quyết định Dự án chi tiêu Ngân qũy Quốc gia. * Những Dự án cho nước ngòai đầu tư với giá thầu rẻ, điều kiện dễ dãi cũng là nguồn ăn tham nhũng làm giầu cho đảng viên hay những thân thuộc của đảng. * Những Dự án do vốn nước ngòai mà Nhà Nước nhận nợ: mỗi Dự án đều có tham nhũng là việc bất chính cho thế hệ tương lai. * Nhà Nước nắm Nhân lực Việt Nam để bán rẻ cho tài phiệt nước ngòai đến để tổ chức sản xuất với lương rẻ mà nhân công không được quyền có Nghiệp Đòan Độc Lập để đấu tranh. * Nhà Nước cho đảng viên nắm những Tổng Công ty, Công ty quốc doanh để tiêu tiền chùa quốc gia gây Lãng phí, nắm quyền trên giới Tư doanh để có tham nhũng như mua Quotas chẳng hạn.
Xin qúy Độc giả vào Website dưới đây để đọc 12 Bài Chủ đề và 10 Bài Phụ Bản của Chủ đề: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH: DUT BO CO CHE CSVN : http://VietTUDAN.net/11658/42806.html
2) Bất chính thứ hai: ĐỔI TÀI NGUYÊN QUỐC GIA CHO TẦU XÂM LĂNG ĐỂ GIỮ QUYỀN LỰC
Vụ Bauxite Tây Nguyên là một điển hình. Cho Tầu khai thác tài nguyên Quốc gia bất chấp môi trường tại chỗ, bất chấp hậu quả tàn phá cho Miền Trung và Miền Nam, bất chấp an ninh Quốc phòng, không phải chỉ nguyên về trả giá để mua quyền lực cai trị mà còn có tiền thưởng cho cá nhân hoặc cho đảng từ kẻ xâm lăng. Đảng CSVN không những làm bất chính đối với Dân chúng hiện giờ mà còn đối với Thế hệ tương lai và Tổ tiên đã đổ máu dành tài nguyên đất nước cho con cháu. Việc để Tầu đưa nhân công tràn đầy Tây Nguyên là điều bất chính đối với Nhân lực Việt Nam đang thất nghiệp nghèo đói. Tờ FINANCIAL TIMES, ngày 06.05.2009 viết về chuyến đi Trung quốc của Nguyễn Tấn Dũng như sau:“ He recently spent a week touring China. He brought with him gifts of Vietnamese bauxite, the main raw material for aluminium”. (Oâng mới sang Tầu ở đó trong một tuần. Oâng đã mang theo mình quà tặng Bauxite Việt Nam, nguyên liệu thô để chế tạo nhôm). Theo Financial Times, thì đây là vật triều cống Thiên Hòang Tầu ! Việc triều cống này không phải chỉ nguyên cho chức vụ của Nguyễn Tấn Dũng mà còn là mua sự che chở của Thiên Hòang Tầu để bảo vệ quyền đè nén Dân chúng con cháu Mẹ Aâu Cơ. Đây là điều bất chính tầy đình phạm đến cả DÂN TỘC VIỆT NAM. Tội bất chính này đáng bị chu di tam tộc.
3) Bất chính thứ ba: BÁN LÃNH THỔ, LÃNH HẢI CỦA TỔ TIÊN CHO KẺ THÙ TRUYỀN KIẾP
Bốn ngàn năm Văn Hiến Việt Nam hay bốn ngàn năm Tổ tiên ta luôn luôn lo lắng giặc Tầu xâm lăng. Đã nhiều trăm năm, đã một ngàn năm sống trong đô hộ của giặc Tầu. Tổ Tiên ta từ TRƯNG, TRIỆU, NGÔ QUYỀN, LÝ THƯỜNG KIỆT, TRẦN HƯNG ĐẠO, LÊ LỢI, QUANG TRUNG đã huy động con cháu Mẹ ÂU CƠ nhất định giữ vững bờ cõi. Lời Vua TRẦN NHÂN TÔN còn in sâu trong mỗi học sinh Việt:“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Tàu Hán. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:"Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.“ (Trần Nhân Tôn)
Việc ký kết Biên Giới với Trung quốc không bao giờ được công bố minh bạch cho tòan Dân. Phạm Văn Đồng đã cúi đầu chấp nhận thu hẹp thềm lục địa về Biển Đông. Hòang Sa và Trường Sa nay bị Tầu xâm chiếm mà đảng CSVN còn cấm bầy tỏ lòng yêu nước, bảo vệ vẹn tòan Lãnh Thổ và Lãnh Hải. Tội bán nước, thì Trời không dung và Đất không tha.
4) Bất chính thứ tư: CÚI ĐẦU CHẤP NHẬN CHO TẦU GIẾT CHẾT TƯƠNG LAI KINH TẾ VN
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới hiện nay đang làm cho Trung quốc càng đẩy mạnh cuộc xâm lăng Kinh tế Á châu để gỡ cái bí lối tụt dốc xuất cảng sang Thị trường Hoa Kỳ và Liên Aâu. Chúng tôi đã viết dài về việc Trung quốc bỏ ra USD.25 tỉ để xâm lăng Kinh tế các nước nghèo Á châu. Chúng tôi cũng đã viết về việc hàng phế thải, tồn đọng của Trung quốc tràn xuống Việt Nam, đồng thời Trung quốc lấy những Dự án của Việt Nam để xuất cảng thiết bị và nhân công. Ngay ngày hôm qua 13.05.2009, Nhật báo FINANCIAL TIMES viết:“Chinese exports fell 23 per cent in April compared with the same month last year“(p.12) (Những xuất cảng của Trung quốc rơi xuống 23% sánh với củng tháng năm ngóai). Nhật báo THE WALL STREET JOURNAL, ngày 13.05.2009, cũng tuyên bố như vậy:“Chinese exports continue to slide. China’s exports fell 22.6%from a year earlier.“(p.8) (Những xuất cảng Trung quốc tiếp tục trượt xuống. Xuất cảng của Tầu rơi xuống 22.6% sánh với năm ngóai). Không xuất cảng được, hàng sẽ rót xuống Việt Nam mà đảng CSVN cúi đầu nhận.
Hạ đã bắt đầu Phong trào Bất Tuân
Những bất chính trên đây mà chúng tôi vừa nêu ra, đó là những bất chính mà đảng CSVN đang làm, chứ không phải là những tôi ác thuộc quá khứ. Những bất chính này sẽ tiếp tục cho tương lai Việt Nam. Cơ Chế độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế làm cho Tham nhũ, Lãng phí tràn lan. Nếu Cơ Chế ấy còn tồn tại, thì không thể nào phát triển được Đất Nước bởi lẽ con trùng Tham nhũng lan tràn làm cho đảng càng ngày càn giầu mà dân càng ngày càng nghèo đói. Khi mà người dân 75% nghèo đói, thì họ có muốn tuân theo cũng không còn sức tuân theo phục vụ được một Nhà Nước tiếp tục ăn cướp cơm của họ.
Dân Oan bị cướp nhà đất bất chính đã mở đầu bất tuân tập thể từ những nhóm kéo về Sài gòn và Hà nội để biểu tình đòi phải giải quyết bất công. Nhà Nước đàn áp và giải tán họ, bắt ép họ trỡ về địa phương. Nhưng sự lừa dối của Nhà Nước vẫn tiếp tục và họ đã bất tuân trở lại Sài gòn và Hà nội. Phong trào bất tuân của Dân Oan vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.
Vụ bất tuân điển hình nhất là chống lại cướp đất tại Thái Hà. Sự bất tuân của Giáo dân Hà Nội và Thái Hà vẫn nằm trong lòng mỗi người.
Mặc dầu bị đàn áp, giới trẻ vẫn giữ lòng bất tuân Nhà Nước CSCV bán Hòang Sa và Trường Sa cho Tầu.
Vụ việc dâng Tây Nguyên cho Tầu khai thác bô xít đang gây sự bất tuân rộng lớn. Giới Trí thức, Khoa học bầy tỏ sự bất tuân của mình qua hai Lá thứ gửi đảng và Nhà Nước CSVN.
Hòa Thượng THÍCH QUẢNG ĐỘ, nhân danh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã công khai kêu gọi đấu tranh “BẤT TUÂN DÂN SỰ“. Lời kêu gọi của Hòa Thượng chỉ là một sự biểu lộ cho kẻ Thượng (CSVN) biết rằng họ làm việc bất chính và Hạ (Dân chúng) ïbất tuân những điều bất chính.
Việc biểu lộ sự bất tuân này là một cảnh cáo cho kẻ bất chính. Đây là việc đấu tranh bằng thái độ, bằng cảnh cáo. Thực vậy, ngay cuộc sống hàng ngày, tỉ dụ dậy học một em nhỏ. Khi Thầy giáo phạt em một cách bất chính, em không phản ứng ra mặt vì sợ thầy làm bất chính nữa, nhưng em mang tinh thần không phục và tìm cách bất tuân.
Hạ sửa sọan cho Phong trào Tác Lọan
Từ sự bất tuân cảnh cáo hay còn e ngại quyền lực đàn áp, đến tác lọan bạo động công khai không xa, nếu Thượng vẫn cố chấp tiếp tục bất chính. Ở trên đây, chúng tôi đưa ra tỉ dụ một em bé đối với Thầy giáo. Trong lãnh vực này, tại Hoa kỳ, Đức, Thụy Điển, chúng ta đã có nhiều trường hợp Học sinh, Sinh viên đem súng bắn Giáo sư tại các trường. Một trong những lý do chính đó là khi Thượng tiếp tục làm bất chính khiến sự bất tuân trở thành hành động bạo lực chống lại quyền Thượng đè nén.
Tại Việt Nam, Dân Oan một số địa phương đã bị ức quá mà bầy tỏ bạo động công khai. Hình ảnh một bà Mẹ dân oan tụt quần để xỉ vả, đó là hành động bạo động bất chấp. Tại vùng Hậu giang, dân oan đã dùng xăng phun lữa đánh lại Công an đến đàn áp, bắt trói ngay trưởng Công an. Tại Đồng Nai, dân oan đã lật đốt xe Công an đến đàn áp. Tại Miền Bắc, dân oan đã biểu tình phá hủy những xe ủi đất đến san bằng đất tư của họ.
Khối BẤT TUÂN mỗi ngày mỗi lan rộng:
=> Công Giáo mang lòng bất tuân qua vụ việc Tòa Khâm Sứ và Giáo xứ Thái Hà
=> Phật Giáo kêu gọi bất tuân dân sự vì Bô xít Tây Nguyên tác hại
=> Khối dân Thiểu số Tây Nguyên trực tiếp bị hâu quả Bô xít chắc chắn bất tuân
=> Khối dân các Tỉnh Miền Trung và Miền Nam sẽ bị hậu quả lụt lội và bùn đỏ cũng sẽ bất tuân việc cho Tầu khai thác Bô xít Tây Nguyên
=> Báo giới đã bắt đầu bất tuân vì Hòang Sa, Trường Sa và Bô xít Tây Nguyên
=> Giới Trí thức, Khoa học đã lên tiếng mạnh bất tuân
=> Ngay trong đảng, Võ Nguyên Giáp đã bất tuân. Uûy Ban Nhân Dân Tỉnh Đà Nẵng đã công khai chỉ định ông Đặng Công Ngữ, Giám đốc Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng làm chủ tịch huyện đảo Hòang Sa. Đây là hành động bất tuân.
Việc bất tuân khi Thượng bất chính, đó là cảnh cáo. Nhưng Bộ Chính Trị, với sức ép của Tầu, dường như tìm cách tránh né việc cảnh cáo này. Nếu Thượng cố chấp không nghe lời cảnh cáo mà tiếp tục làm bất chính nữa, thì tình trạng BẤT TUÂN sẽ chuyển thành TÁC LỌAN. Chính việc dự phòng TÁC LỌAN này, mà chúng tôi thấy phải sửa sọan những Cơ sở (Tổ) cho một Phong trào Kháng chiến “CHỐNG TẦU XÂM LĂNG, DIỆT CSVN PHẢN QUỐC“ để khi Thượng (CSVN) vẫn bất chính và Hạ (Dân) TÁC LỌAN xẩy ra (tất yếu xẩy ra), chúng ta đã có Cơ sở đấu tranh được Dân chúng mọi giới ủng hộ. Trong bài kêu gọi CÔ ĐỌNG VÀO VIỆC CHỐNG BÔ XÍT VÀ ĐẶT CƠ SỞ KHÁNG CHIẾN, chúng tôi đã đề nghị tóm lược:
Tại Quốc nội:
1) Tổ Thông tin, Phổ biến những tai hại Bô xít Tây Nguyên: Tiếp tục thông tin, phổ biến những nguy hại khai thác Bô xít
2) Tổ đánh phá những lao động Tầu chệt ra khỏi Khu vực Khai thác: Khi những lao động Tầu chệt ra khỏi khu Khai thác, họ không có an ninh
3) Tổ đánh phá việc chuyên chở Alumium từ nơi Khai thác đến cảng: Con đường chuyên chở tài nguyên Việt Nam ra nước ngòai bất an
4) Tổ đe dọa những tên trực tiếp phản quốc bán Bô xít: Làm thế nào những tên này đi đâu cũng bị xỉ vả và bất ổn
Tại Hải ngọai:
Người Việt tỵ nạn ở tại trên 70 Quốc gia trên Thế giới. Đây là một đòan quân hòan tòan bao vây những con cháu của những tên phàn quốc bán nước cho Tầu. Để hỗ trợ cho CHỦ LỰC tại Quê Hương, tại sao chúng ta không tổ chức thành Phong trào MẠ LỴ, PHỈ NHỔ những con cháu của những tên phán quốc bán nước đang sống giữa chúng ta và đang tiêu xài xương máu của những người nghèo, tại nước ngòai. Đó là cách HỖ TRỢ cụ thể cho Quốc nội vậy.
Khi Phóng viên MẶC LÂM, đài RFA, phỏng vấn, Giáo sư NGUYỄN HUỆ CHI đã báo trước việc TÁC LỌAN này: “Chúng tôi vẫn lắng nghe bởi vì chúng tôi là người dân, nhưng một khi người đứng đầu tỏ ra không tiếp nhận được cái tình cảm yêu nước tích luỹ từ hàng nghìn năm của dân tộc thì chính là các anh đối đầu với một vấn nạn rất lớn.”
Bác sĩ NGUYỄN ĐAN QUẾ cũng tuyên bố:” Nếu không ngưng ngay việc khai thác bauxite Tây Nguyên, việc tất yếu có thể xẩy ra, là các sắc dân thiểu số ở Tây Nguyên và toàn dân tộc sẽ chứng tỏ cho Bộ chính trị biết rằng sự độc hại của bauxite sẽ tiêu diệt độc tài trước khi trở thành đại họa cho toàn dân.”
Bắt đầu ĐẶT CƠ SỞ cho KHÁNG CHIẾN “ĐUỔI TẦU XÂM LĂNG & DIỆT CSVN PHẢN QUỐC” là tiên liệu vậy !
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | ****************************************************************************************************** | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN : Bài 15:
THƯỢNG BẤT CHÍNH, HẠ BẤT TUÂN VÀ TÁC LỌAN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://VietTUDAN.net Geneva, 14.05.2009
Tuần vừa rồi, chúng tôi viết bài QUAN ĐIỂM của VietTUDAN số 402/07.05.2009 với đầu đề CÔ ĐỌNG VÀO VIỆC CHỐNG BÔ XÍT VÀ ĐẶT CƠ SỞ KHÁNG CHIẾN. Đây không phải là lời kêu gọi mang tính cách Phong trào đấu tranh nhất thời, mà là bước đi phải đến từ những biến chuyển của tình hình Quê Hương.
Ngày 08.05.2009, tham dự cuộc Biểu Tình trước Liên Hiệp Quốc tại Geneva chống lại Bản Báo Cáo về Nhân Quyền của CSVN nói láo với Quốc tế, chúng tôi có dịp gặp lại một số bạn cũ đã từng đấu tranh cách đây hơn 30 năm ngay sau biến cố 30/4/75. Trao đổi với nhau về tình hình Quê Hương, chúng tôi cũng nhận thấy rằng thái độ chai lỳ cố thủ giữ lấy quyền hành độc tài của đảng CSVN, bị sai khiến bởi Trung Cộng, buộc Dân Chúng phải nổi dậy làm ĐỘT BIẾN đối diện với Nhà Nước CSVN, nhất là đối diện với xâm lăng của Tầu đã thực sự chiếm Lãnh Thổ và Lãnh Hải Việt Nam do đảng CSVN dẫn giặc vào Nhà.
Tình hình diễn ra như vậy buộc lòng phải sửa sọan KHÁNG CHIẾN, đặt những CƠ SỞ KHÁNG CHIẾN CHỐNG TẦU XÂM LĂNG, DIỆT CSVN PHẢN QUỐC.
Viết về vấn đề này, có thể có những Nhóm sẽ công kích chúng tôi vì họ thường tuyên bố Đối Thọai, Hòa Hợp Hòa Giải và Bất Bạo Động. Có thể có những Bạn Trẻ cho rằng Lớp Già quá khích, nhớ lại quá khứ mà đấu tranh hơn là hướng về tương lai xây dựng. Thực ra đây là bước đi của tình hình đẩy đến một cuộc đấu tranh như vậy mà chúng tôi chỉ là người trình bầy bước đi đó mà thôi.
Bước đi được tóm tắt trong câu Tục ngữ Dân chúng rất thông dụng: “THƯỢNG BẤT CHÍNH, HẠ BẤT TUÂN“ và tiếp theo: “THƯỢNG BẤT CHÍNH, HẠ TÁC LỌAN“. Bất tuân, có thể còn bất bạo động, nhưng khi đã Tác lọan, thì phải có Bạo Dộng.
Dàn bài để nói rất rõ rệt như sau: => Thượng Bất Chính ở những điểm nào ? => Hạ đã bắt đầu Phong trào Bất Tuân => Hạ sửa sọan cho Phong trào Tác Lọan
Thượng Bất Chính ở những điểm nào ?
Cá nhân chúng tôi rất ít viết về quá khứ tội ác của CSVN , có lẽ bởi vì chúng tôi đã rời Việt Nam từ năm 1965, nên không biết kỹ về những tội ác của CSVN như chính những vị đã là nạn nhân trực triếp. Vì vậy khi viết về quá khứ tội ác của CSVN, chúng tôi chỉ như múa rìu qua mắt thợ mà thôi. Chính vì vậy, khi viết về những Bất Chính của CSVN trong phần phân tích này, chúng tôi viết vì lợi ích cho Quê Hương Việt Nam trong tương lai mà thôi. Các Bạn Trẻ không thể nói là tôi già quá khích đấu tranh vì quá khứ, nhất nữa tôi chưa bao giờ được làm quan trong các Chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi viết đấu tranh vì tương lai Việt Nam. Sau đây là những bất chính quan trọng mà nếu CSVN vẫn khăng khăng tiếp tục những bất chính ấy, thì Dân Tộc không thể đòan kết và Đất Nước không thể phát triển:
1) Bất chính thứ nhất: CƠ CHẾ DỘC TÀI CHÍNH TRỊ NẮM ĐỘC QUYỀN KINH TẾ
Đây là cái bất chính đối với tòan dân bị đảng CSVN cai trị. Ơû thời Cộng sản thuần túy, hệ thống Kinh tế là tập quyền và hòan tòan chỉ huy. Nhà Nước làm Kinh tế và bao cấp cho Dân. Nhưng ở cái Cơ Chế hiện hành, Nhà Nước tuyên bố Kinh tế Tự do Thị trường định hướng XHCH, nghĩa là Nhà Nước vẫn độc tài Chính trị và nắm luôn độc quyền Kinh tế để thu lợi cho đảng và đảng viên mà không cần phải bao cấp cho Dân chúng nữa. Đó là khía cạnh vô lương của bóc lột Kinh tế tệ hại hơn là thời kỳ Kinh tế Chỉ huy và Tập quyền thời Cộng sản thuần túy. Hãy cụ thể nói ra Cơ Chế hiện hành vô lương ở những điểm nào:
* Nắm giữ tòan quyền quyết định trên tài nguyên Quốc gia gồm mặt đất bằng và nguồn khóang sản dưới đất. Cái quyền này cho phép đảng CSVN từ trên xuống dưới ăn tham nhũng để phân phối đất đai mặt bằng và bán tài nguyên khóang sản cho nước ngòai. Dân Oan là nạn nhân đặc biệt của bất chính này. Bauxite Tây Nguyên thuộc bất chính này.
* Đảng CSVN được tòan quyền phân phối Ngân sách cho các Dự án. Đây là nguồn tham những cho con ông cháu cha của đảng và cho đảng viên các Tỉnh. Đảng viên các cấp trở thành giầu có với việc lợi dụng quyết định Dự án chi tiêu Ngân qũy Quốc gia.
* Những Dự án cho nước ngòai đầu tư với giá thầu rẻ, điều kiện dễ dãi cũng là nguồn ăn tham nhũng làm giầu cho đảng viên hay những thân thuộc của đảng.
* Những Dự án do vốn nước ngòai mà Nhà Nước nhận nợ: mỗi Dự án đều có tham nhũng là việc bất chính cho thế hệ tương lai.
* Nhà Nước nắm Nhân lực Việt Nam để bán rẻ cho tài phiệt nước ngòai đến để tổ chức sản xuất với lương rẻ mà nhân công không được quyền có Nghiệp Đòan Độc Lập để đấu tranh.
* Nhà Nước cho đảng viên nắm những Tổng Công ty, Công ty quốc doanh để tiêu tiền chùa quốc gia gây Lãng phí, nắm quyền trên giới Tư doanh để có tham nhũng như mua Quotas chẳng hạn.
2) Bất chính thứ hai: ĐỔI TÀI NGUYÊN QUỐC GIA CHO TẦU XÂM LĂNG ĐỂ GIỮ QUYỀN LỰC
Vụ Bauxite Tây Nguyên là một điển hình. Cho Tầu khai thác tài nguyên Quốc gia bất chấp môi trường tại chỗ, bất chấp hậu quả tàn phá cho Miền Trung và Miền Nam, bất chấp an ninh Quốc phòng, không phải chỉ nguyên về trả giá để mua quyền lực cai trị mà còn có tiền thưởng cho cá nhân hoặc cho đảng từ kẻ xâm lăng. Đảng CSVN không những làm bất chính đối với Dân chúng hiện giờ mà còn đối với Thế hệ tương lai và Tổ tiên đã đổ máu dành tài nguyên đất nước cho con cháu. Việc để Tầu đưa nhân công tràn đầy Tây Nguyên là điều bất chính đối với Nhân lực Việt Nam đang thất nghiệp nghèo đói. Tờ FINANCIAL TIMES, ngày 06.05.2009 viết về chuyến đi Trung quốc của Nguyễn Tấn Dũng như sau:“ He recently spent a week touring China. He brought with him gifts of Vietnamese bauxite, the main raw material for aluminium”. (Oâng mới sang Tầu ở đó trong một tuần. Oâng đã mang theo mình quà tặng Bauxite Việt Nam, nguyên liệu thô để chế tạo nhôm). Theo Financial Times, thì đây là vật triều cống Thiên Hòang Tầu ! Việc triều cống này không phải chỉ nguyên cho chức vụ của Nguyễn Tấn Dũng mà còn là mua sự che chở của Thiên Hòang Tầu để bảo vệ quyền đè nén Dân chúng con cháu Mẹ Aâu Cơ. Đây là điều bất chính tầy đình phạm đến cả DÂN TỘC VIỆT NAM. Tội bất chính này đáng bị chu di tam tộc.
3) Bất chính thứ ba: BÁN LÃNH THỔ, LÃNH HẢI CỦA TỔ TIÊN CHO KẺ THÙ TRUYỀN KIẾP
Bốn ngàn năm Văn Hiến Việt Nam hay bốn ngàn năm Tổ tiên ta luôn luôn lo lắng giặc Tầu xâm lăng. Đã nhiều trăm năm, đã một ngàn năm sống trong đô hộ của giặc Tầu. Tổ Tiên ta từ TRƯNG, TRIỆU, NGÔ QUYỀN, LÝ THƯỜNG KIỆT, TRẦN HƯNG ĐẠO, LÊ LỢI, QUANG TRUNG đã huy động con cháu Mẹ ÂU CƠ nhất định giữ vững bờ cõi. Lời Vua TRẦN NHÂN TÔN còn in sâu trong mỗi học sinh Việt:“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Tàu Hán. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:"Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.“ (Trần Nhân Tôn)
Việc ký kết Biên Giới với Trung quốc không bao giờ được công bố minh bạch cho tòan Dân. Phạm Văn Đồng đã cúi đầu chấp nhận thu hẹp thềm lục địa về Biển Đông. Hòang Sa và Trường Sa nay bị Tầu xâm chiếm mà đảng CSVN còn cấm bầy tỏ lòng yêu nước, bảo vệ vẹn tòan Lãnh Thổ và Lãnh Hải. Tội bán nước, thì Trời không dung và Đất không tha.
4) Bất chính thứ tư: CÚI ĐẦU CHẤP NHẬN CHO TẦU GIẾT CHẾT TƯƠNG LAI KINH TẾ VN
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới hiện nay đang làm cho Trung quốc càng đẩy mạnh cuộc xâm lăng Kinh tế Á châu để gỡ cái bí lối tụt dốc xuất cảng sang Thị trường Hoa Kỳ và Liên Aâu. Chúng tôi đã viết dài về việc Trung quốc bỏ ra USD.25 tỉ để xâm lăng Kinh tế các nước nghèo Á châu. Chúng tôi cũng đã viết về việc hàng phế thải, tồn đọng của Trung quốc tràn xuống Việt Nam, đồng thời Trung quốc lấy những Dự án của Việt Nam để xuất cảng thiết bị và nhân công. Ngay ngày hôm qua 13.05.2009, Nhật báo FINANCIAL TIMES viết:“Chinese exports fell 23 per cent in April compared with the same month last year“(p.12) (Những xuất cảng của Trung quốc rơi xuống 23% sánh với củng tháng năm ngóai). Nhật báo THE WALL STREET JOURNAL, ngày 13.05.2009, cũng tuyên bố như vậy:“Chinese exports continue to slide. China’s exports fell 22.6%from a year earlier.“(p.8) (Những xuất cảng Trung quốc tiếp tục trượt xuống. Xuất cảng của Tầu rơi xuống 22.6% sánh với năm ngóai). Không xuất cảng được, hàng sẽ rót xuống Việt Nam mà đảng CSVN cúi đầu nhận.
Hạ đã bắt đầu Phong trào Bất Tuân
Những bất chính trên đây mà chúng tôi vừa nêu ra, đó là những bất chính mà đảng CSVN đang làm, chứ không phải là những tôi ác thuộc quá khứ. Những bất chính này sẽ tiếp tục cho tương lai Việt Nam. Cơ Chế độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế làm cho Tham nhũ, Lãng phí tràn lan. Nếu Cơ Chế ấy còn tồn tại, thì không thể nào phát triển được Đất Nước bởi lẽ con trùng Tham nhũng lan tràn làm cho đảng càng ngày càn giầu mà dân càng ngày càng nghèo đói. Khi mà người dân 75% nghèo đói, thì họ có muốn tuân theo cũng không còn sức tuân theo phục vụ được một Nhà Nước tiếp tục ăn cướp cơm của họ.
Dân Oan bị cướp nhà đất bất chính đã mở đầu bất tuân tập thể từ những nhóm kéo về Sài gòn và Hà nội để biểu tình đòi phải giải quyết bất công. Nhà Nước đàn áp và giải tán họ, bắt ép họ trỡ về địa phương. Nhưng sự lừa dối của Nhà Nước vẫn tiếp tục và họ đã bất tuân trở lại Sài gòn và Hà nội. Phong trào bất tuân của Dân Oan vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.
Vụ bất tuân điển hình nhất là chống lại cướp đất tại Thái Hà. Sự bất tuân của Giáo dân Hà Nội và Thái Hà vẫn nằm trong lòng mỗi người.
Mặc dầu bị đàn áp, giới trẻ vẫn giữ lòng bất tuân Nhà Nước CSCV bán Hòang Sa và Trường Sa cho Tầu.
Vụ việc dâng Tây Nguyên cho Tầu khai thác bô xít đang gây sự bất tuân rộng lớn. Giới Trí thức, Khoa học bầy tỏ sự bất tuân của mình qua hai Lá thứ gửi đảng và Nhà Nước CSVN.
Hòa Thượng THÍCH QUẢNG ĐỘ, nhân danh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã công khai kêu gọi đấu tranh “BẤT TUÂN DÂN SỰ“. Lời kêu gọi của Hòa Thượng chỉ là một sự biểu lộ cho kẻ Thượng (CSVN) biết rằng họ làm việc bất chính và Hạ (Dân chúng) ïbất tuân những điều bất chính.
Việc biểu lộ sự bất tuân này là một cảnh cáo cho kẻ bất chính. Đây là việc đấu tranh bằng thái độ, bằng cảnh cáo. Thực vậy, ngay cuộc sống hàng ngày, tỉ dụ dậy học một em nhỏ. Khi Thầy giáo phạt em một cách bất chính, em không phản ứng ra mặt vì sợ thầy làm bất chính nữa, nhưng em mang tinh thần không phục và tìm cách bất tuân.
Hạ sửa sọan cho Phong trào Tác Lọan
Từ sự bất tuân cảnh cáo hay còn e ngại quyền lực đàn áp, đến tác lọan bạo động công khai không xa, nếu Thượng vẫn cố chấp tiếp tục bất chính. Ở trên đây, chúng tôi đưa ra tỉ dụ một em bé đối với Thầy giáo. Trong lãnh vực này, tại Hoa kỳ, Đức, Thụy Điển, chúng ta đã có nhiều trường hợp Học sinh, Sinh viên đem súng bắn Giáo sư tại các trường. Một trong những lý do chính đó là khi Thượng tiếp tục làm bất chính khiến sự bất tuân trở thành hành động bạo lực chống lại quyền Thượng đè nén.
Tại Việt Nam, Dân Oan một số địa phương đã bị ức quá mà bầy tỏ bạo động công khai. Hình ảnh một bà Mẹ dân oan tụt quần để xỉ vả, đó là hành động bạo động bất chấp. Tại vùng Hậu giang, dân oan đã dùng xăng phun lữa đánh lại Công an đến đàn áp, bắt trói ngay trưởng Công an. Tại Đồng Nai, dân oan đã lật đốt xe Công an đến đàn áp. Tại Miền Bắc, dân oan đã biểu tình phá hủy những xe ủi đất đến san bằng đất tư của họ.
Khối BẤT TUÂN mỗi ngày mỗi lan rộng: => Công Giáo mang lòng bất tuân qua vụ việc Tòa Khâm Sứ và Giáo xứ Thái Hà => Phật Giáo kêu gọi bất tuân dân sự vì Bô xít Tây Nguyên tác hại => Khối dân Thiểu số Tây Nguyên trực tiếp bị hâu quả Bô xít chắc chắn bất tuân => Khối dân các Tỉnh Miền Trung và Miền Nam sẽ bị hậu quả lụt lội và bùn đỏ cũng sẽ bất tuân việc cho Tầu khai thác Bô xít Tây Nguyên => Báo giới đã bắt đầu bất tuân vì Hòang Sa, Trường Sa và Bô xít Tây Nguyên => Giới Trí thức, Khoa học đã lên tiếng mạnh bất tuân => Ngay trong đảng, Võ Nguyên Giáp đã bất tuân. Uûy Ban Nhân Dân Tỉnh Đà Nẵng đã công khai chỉ định ông Đặng Công Ngữ, Giám đốc Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng làm chủ tịch huyện đảo Hòang Sa. Đây là hành động bất tuân.
Việc bất tuân khi Thượng bất chính, đó là cảnh cáo. Nhưng Bộ Chính Trị, với sức ép của Tầu, dường như tìm cách tránh né việc cảnh cáo này. Nếu Thượng cố chấp không nghe lời cảnh cáo mà tiếp tục làm bất chính nữa, thì tình trạng BẤT TUÂN sẽ chuyển thành TÁC LỌAN. Chính việc dự phòng TÁC LỌAN này, mà chúng tôi thấy phải sửa sọan những Cơ sở (Tổ) cho một Phong trào Kháng chiến “CHỐNG TẦU XÂM LĂNG, DIỆT CSVN PHẢN QUỐC“ để khi Thượng (CSVN) vẫn bất chính và Hạ (Dân) TÁC LỌAN xẩy ra (tất yếu xẩy ra), chúng ta đã có Cơ sở đấu tranh được Dân chúng mọi giới ủng hộ. Trong bài QUAN ĐIỂN tuần trước, chúng tôi đã đề nghị tóm lược: Tại Quốc nội:
1) Tổ Thông tin, Phổ biến những tai hại Bô xít Tây Nguyên Tiếp tục thông tin, phổ biến những nguy hại khai thác Bô xít 2) Tổ đánh phá những lao động Tầu chệt ra khỏi Khu vực Khai thác Khi những lao động Tầu chệt ra khỏi khu Khai thác, họ không có an ninh 3) Tổ đánh phá việc chuyên chở Alumium từ nơi Khai thác đến cảng. Con đường chuyên chở tài nguyên Việt Nam ra nước ngòai bất an 4) Tổ đe dọa những tên trực tiếp phản quốc bán Bô xít Làm thế nào những tên này đi đâu cũng bị xỉ vả và bất ổn
Tại Hải ngọai:
Người Việt tỵ nạn ở tại trên 70 Quốc gia trên Thế giới. Đây là một đòan quân hòan tòan bao vây những con cháu của những tên phàn quốc bán nước cho Tầu. Để hỗ trợ cho CHỦ LỰC tại Quê Hương, tại sao chúng ta không tổ chức thành Phong trào MẠ LỴ, PHỈ NHỔ những con cháu của những tên phán quốc bán nước đang sống giữa chúng ta và đang tiêu xài xương máu của những người nghèo, tại nước ngòai. Đó là cách HỖ TRỢ cụ thể cho Quốc nội vậy.
Khi Phóng viên MẶC LÂM, đài RFA, phỏng vấn, Giáo sư NGUYỄN HUỆ CHI đã báo trước việc TÁC LỌAN này:“ Chúng tôi vẫn lắng nghe bởi vì chúng tôi là người dân, nhưng một khi người đứng đầu tỏ ra không tiếp nhận được cái tình cảm yêu nước tích luỹ từ hàng nghìn năm của dân tộc thì chính là các anh đối đầu với một vấn nạn rất lớn.” Bác sĩ NGUYỄN ĐAN QUẾ cũng tuyên bố:” Nếu không ngưng ngay việc khai thác bauxite Tây Nguyên, việc tất yếu có thể xẩy ra, là các sắc dân thiểu số ở Tây Nguyên và toàn dân tộc sẽ chứng tỏ cho Bộ chính trị biết rằng sự độc hại của bauxite sẽ tiêu diệt độc tài trước khi trở thành đại họa cho toàn dân.”
Đặt CƠ SỞ cho Phong trào Kháng chiến là tiên liệu vậy !
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN : Bài 14:
CÔ ĐỌNG VÀO VIỆC CHỐNG BÔ XIT VÀ ĐẶT CƠ SỞ KHÁNG CHIẾN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://VietTUDAN.net Geneva, 07.05.2009
Đọc những ý kiến trên các Diễn Đàn trong tuần này, chúng tôi thấy những vấn đề mang tính cách Thời sự như: (i) Bản báo cáo láo về Nhân quyền của Việt Nam, (ii) những ý kiến đấu tranh còn tản mạn đối với việc cấp thiết Giặc Tầu đã vào Nhà, (iii) đi tìm một Minh chủ làm Tổng thống.
Viết bài CÔ ĐỌNG VÀO VIỆC CHỐNG BÔ XÍT VÀ ĐẶT CƠ SỞ KHÁNG CHIẾN như QUAN ĐIỂM về sự cấp thiết đấu tranh, chúng tôi muốn gián tiếp góp ý cho những gì đọc trên các Diễn Đàn trong tuần vừa rồi, đồng thời kêu gọi việc hợp sức cấp thiết chống Xâm lăng Trung quốc lúc này và nghĩ đến đặt cơ sở kháng chiến trong tương lai. Chúng tôi viết những khía cạnh sau đây:
=> Quốc nội là chủ lực nổi dậy chấm dứt Cơ Chế CSVN hiện hành => Phải nhất trí đòi hỏi chấm dứt ngay việc Tầu khai thác Bô xít Tây Nguyên => Đặt cơ sở Kháng chiến chống Tầu xâm lăng cho tương lai
Quốc nội là chủ lực nổi dậy chấm dứt Cơ Chế CSVN hiện hành
Mục đích đấu tranh của Dân tộc VN là phải chấm dứt cái CƠ CHẾ CSVN Tham nhũng và Bán nước hiện hành để mới có thể phát triển Đất Nước. Cái CHỦ LỰC nổi dậy để chấm dứt Cơ Chế phải là đồng bào tại Quốc nội, nhất là quần chúng lao động nghèo đói, vì cái quyền Dạ Dầy (Nhân quyền cụ thể và tối hệ trọng), mà cực chẳng đã phải đứng lên, dù phải bạo động, để đập tan cái Cơ Chế hiện hành này. Chúng tôi nói Quốc nội là CHỦ LỰC, có nghĩa là Hải ngọai chỉ là phụ thuộc, trợ lực cho Quốc nội. Không có trường hợp mang Cách Mạng bằng Võ lực hay bằng Võ miệng về giải phóng Quê Hương cho Dân tộc. Nếu Quốc nội tin tưởng vào Võ lực hay Võ miệng từ Khối người Việt Hải ngọai nhập cảng Cách Mạng giải phóng Quê Hương, mà không chính mình đứng lên đập vỡ Cơ Chế CSVN hiện hành, thì dân Quốc nội sẽ vẫn chịu ách thống trị của CSVN. Nếu Hải ngọai khua chiêng đánh trống để Quốc nội hy vọng đến nỗi nằm mơ giữa ban ngày về một cuộc Cách Mạng nhập cảng từ người Việt Hải ngọai, thì chính người Việt Hải ngọai đang làm công việc đưa thuốc phiện về cho Quốc nội để ru ngủ tinh thần tự đấu tranh mà nằm yên mơ mộng, và lúc ấy Hải ngọai mang tội với dân chúng quốc nội. Có thể nói đây là việc làm tòng phạm với tội đồ dân tộc CSVN vì chính CSVN đang muốn dân chúng yên lặng như đàn trừu cho chúng dắt đi đâu thì dắt.
Tuần này, Liên Hiệp Quốc phải nghe Bản Báo Láo về Nhân quyền ở Việt Nam. Bản nói láo này cho chúng ta một bài học rằng những ý niệm trừu tượng về những Giá trị luân lý, nhân bản rất dễ bị những Trí thức mang lưỡi rắn cắt nghĩa để lạm dụng theo ý mình. Về Nhân quyền, từ lâu, chúng tôi chỉ giữ lại hai cái quyền cụ thể và thiết yếu nhất, ngay cả nơi con vật, để dồn sức đấu tranh cho hai quyền ấy. Đó là QUYỀN DẠ DẦY và QUYỀN ĐƯỢC NÓI. Con chó khi đói, nó phải kiếm ăn no cho dạ dầy để sống (QUYỀN DẠ DẦY). Cũng vậy, con chó bị đánh đập đau đớn quá, nó cũng được kêu lên ăng ẳng để cho biết là nó đau (QUYỀN ĐƯỢC NÓI). Con người không có hai quyền đó, thì không bằng con chó. Phong trào Nhân quyền, muốn đấu tranh đi sát với quần chúng, phải trước tiên đặt nặng hai cái quyền này, thì mới mong quần chúng theo mình.
Giặc Tầu đã vào Nhà Việt Nam rồi ! Đây là vấn đề cấp bách mà mọi người hãy tạm gạt bỏ những đố kỵ, những khác biệt tiểu tiết về quan niệm... để cùng nhau dồn tòan lực vào việc đuổi đám Tầu phù ra khỏi Tây Nguyên. Chúng ngồi cả bầy xì xồ ngộ, nị... trên Tây Nguyên. Hãy dồn sức đuổi chúng ra khỏi Nhà Việt Nam và sau đó mình mới đem những tiểu tiết khác biệt quan niệm ra bàn cãi cả ngày cả đêm... cũng được. Việc cấp bách là phải đuổi Tầu ra đã và đập bể đầu tụi phản quốc dẫn đám Tầu phù vào Nhà của Tổ Tiên.
Ý kiến thứ ba trên các Diễn Đàn là đi tìm Minh chủ lãnh đạo cuộc đấu tranh. Một số người đề nghị ra như Bà Kỹ sư DƯƠNG NGUYỆT ÁNH làm Minh chủ, thậm chí làm Tổng Thống cho nước Việt Nam. Về cá nhân Bà Kỹ sư DƯƠNG NGUYỆT ÁNH, chúng tôi, trong Phong trào Thanh niên, Sinh viên Aâu châu chống CSVN liền những năm sau 1975, đã có dịp gặp và nghe những bài ca chống Cộng của Cô DƯƠNG NGUYỆT ÁNH và Anh VIỆT DZŨNG trong những cuộc họp đấu tranh. Tôi rất mến Cô DƯƠNG NGUYỆT ÁNH và Anh VIỆT DZŨNG. Dường như tôi còn giữ một cuốn băng nhựa ghi lại những bài ca đấu tranh ấy. Tôi cảm phục tinh thần đấu tranh cũng như tư cách và lời nói trình bầy vấn đề mạch lạc, dứt khóat của Bà DƯƠNG NGUYỆT ÁNH. Tuy nhiên vấn đề Minh chủ và Tổng Thống cho người Việt hải ngọai và Quốc nội có những phức tạp cần được phân tích, đắn đo kỹ lưỡng. Thực vậy, từ trước đến giờ, tôi vẫn không bao giờ chấp nhận một hình thức Chính phủ lưu vong, lưu bị lang thang trong những xa lông ở ngọai quốc bởi vì, như trên tôi đã trình bầy, CHỦ LỰC lật đổ Cơ chế CSVN phải từ Quốc nội, chứ không phải từ Hải ngọai, nhất là từ những Chính phủ xa lông lưu vong lưu bị ở nước ngòai. Không phải chỉ nguyên Bà DƯƠNG NGUYỆT ÁNH, mà nếu lúc này “Chủ tịch Nước tự xưng“ NGUYỄN KHÁNH thực sự về Quốc nội, nằm tại Rừng Lá, đánh du kích thọc lên Tây Nguyên giết đám Tầu phù, thì tôi xin cúi đầu phục Oâng làm Minh chủ của tôi. Tôi qúy trọng Bà DƯƠNG NGUYỆT ÁNH và tôi xin đề nghị với những vị đang cổ võ về việc này rằng chúng ta hãy thúc đẩy để Bà đứng ra làm Minh chủ tập trung sức lực đấu tranh của Giới Trẻ và Trung Niên tại Hải ngọai trong nhiệm vụ HỖ TRỢ cho CHỦ LỰC nằm tại Quốc nội. Bà có tài trí, tư cách và vị thế để làm Minh chủ trong ý hướng đòan kết Giới Trẻ và Trung Niên Hải ngọai trong việc HỖ TRỢ cho CHỦ LỰC Quốc nội. Đó là khi Bà còn ở nước ngòai. Còn khi Bà thực sự hồi hương đấu tranh cùng với CHỦ LỰC Quốc nội, thì việc chọn Bà làm Minh chủ và Tổng Thống cho nội, ngọai, lúc ấy mới nên đặt ra với sự cảm phục của Dân quốc nội đã có kinh nghiệm cùng Bà đấu tranh gian khổ trên chính Quê Hương.
Phải nhất trí đòi hỏi chấm dứt ngay việc Tầu khai thác Bô xít Tây Nguyên
Khi chúng tôi chỉ đặt ra việc khai thác Bô xít Tây Nguyên, đó là vì vấn đề này đang đập vào mắt mọi người. Tuy nhiên còn có những việc xâm lăng khác đang được thi hành và còn mang tầm ảnh hưởng rộng lớn hơn vấn đề Tây Nguyên. Đó là những vấn cấp bách “Giặc Tầu đã vào Nhà Việt Nam diệt Kinh tế... cần phải được chấm dứt ngay, nếu trì hõan thì hậu họa kéo dài khôn lường.
Bô xít Tây Nguyên: việc đang đập vào mắt
Trong 30 năm nay, chúng tôi dậy học một Cours cho lớp vỡ lòng Kinh tế: ETAT GENERAL DE LA PRODUCTION MONDIALE (Tình trạng tổng quát về Sản xuất Thế giới). Trong Cours này, có một Chương nói về Khai thác mặt Trái Đất (Exploitation de la Surface de la Terre) trong đó có Nông Nghiệp và một Chương nói về Khai thác dưới mặt Trái Đất (Exploitation du Sous-Sol: Extractions Minìeres) trong đó có Đào tìm năng lượng đốt cháy (Combustibles minéraux) và hầm mỏ quặng cứng (Minérais métalliques) . Câu mà mọi tác giả cũng như tôi đều hỏi: “Cái khác biệt chính yếu giữa Nông nghiệp và Khai thác hầm mỏ là gì ?“ (Quelle est la différence fondamentale entre l’Agriculture et l’Extraction Minìere?). Câu trả lời rõ rệt và giáo điều là:“Nông nghiệp có thể tái làm phì nhiêu Trái Đất, nhưng Khai thác hầm mỏ đào cạn kiệt Trái Đất“ (L’ Agriculture peut REFERTILISER la Terre, mais l’Extraction Minìere EPUISE la Terre).
Năm 1966, Nhóm Trí thức chuyên viên Khoa học họp tại Rome và cho ra cuốn sách với nhan đề LA LIMITE A LA CROISSANCE trong đó Nhóm này báo động rằng việc dùng những chất liệu từ hầm mỏ tăng theo cấp số nhân (Croissance exponentielle), trong khi đó dung lượng hầm mỏ có giời hạn (Le contenu des Minérais a sa limite). Tỉ dụ, số lượng xăng do xe hơi đốt mỗi ngày tăng lên theo cấp số nhân, trong khi đó các giếng dầu lữa cạn dần theo giới hạn.
Khi tôi làm Cố vấn Tài chánh cho Groupe BONGO tại Brazaville Phi châu, tôi có dịp quan sát tận mắt thấy một số Công ty Nhật mua lại nợ của Chính quyền Congo bằng cách đòi nhượng những khu Rừng có gỗ qúy. Các Công ty này dùng cưa máy cắt những cây rừng để tìm gỗ qúy. Hãy ngẫm nghĩ khi hạ một cây cổ thụ phải từng 100 năm mới mọc được như vậy, trong khi đó lưỡi cưa hạ nó xuống trong vòng 5-10 phút. Muốn trồng lại được cây cổ thụ ấy, phải mất 100 năm nữa. Không cần phải nói đến hậu quả của việc đốn cây, đào đất, mà chỉ nghĩ đến một cây cần phải có 100 năm mới lớn lên được, nay chỉ cần 5-10 phút để tàn sát nó, đó cũng đủ để phải thương tâm cho cuộc sống cây cỏ mà chính chúng ta cần những cây đó để sống.
Hãy nghĩ đến cánh rừng trùng điệp Tây Nguyên xanh tốt, không phải là chỉ mới 100 năm, mà có thể đã như vậy từ 1000 năm hay hơn nữa. Nay bị CSVN bán cho Tầu để tàn phá cánh rừng trùng điệp ấy và đào xới khai thác hầm mỏ.
Con người sống với Thiên Nhiên đã có trước từng triêu năm, chứ không phải con người tàn phá Thiên Nhiên để phục vụ cho mình nhất thời. Thiên Nhiên đã tự điều chỉnh để tồn tại trong những triệu năm, con người tàn phá Thiên Nhiên để chịu hậu quả mà không biết điều chỉnh theo hướng nào.
Ý thức như vậy, nên từ khi khám phá ra Chất Liệu Nhựa (Matìeres Plastiques), thế giới Tây phương đã dùng Chất Liệu Nhựa hóan phục (Matìeres Plastiques recyclables) để thay thế cho đồ gỗ, khóang sản... Các đồ dùng từ Xây cất, Nhà Bếp, Quần áo, Trang sức, Vú Ngực đàn bà, Tóc giả, Quần áo đã được thay thế bằng Chất Liệu Nhựa tới 80%. Khuynh hướng này làm giảm việc đào xới Thiên Nhiên, Đốn Cây rừng...
Trở lại Tây Nguyên, Cơ chế CSVN chỉ là làn sóng lăn tăn trên mặt nước trường tồn, là cơn gió thỏang sánh với rừng cây xanh tốt đã bao chục thế kỷ của Tây Nguyên.
Không thể để một quyết định nhất thời làm vinh danh cho một nhóm Chính trị vô lương tàn phá gia sản Thiên Nhiên trường tồn mà Tổ Tiên ta để lại.
Tàn phá Kinh tế: vấn đề rộng lớn hơn Tây Nguyên
Chúng tôi đã viết tối thiểu 3 Bài về thâm ý thống trị Kinh tế của Trung quốc đối với những nước nghèo Á đông, đặc biệt Việt Nam. Đây là vấn đề phải chống lại cấp bách, nhất là từ cuộc Khủng hỏang Tài chách/ Kinh tế đang làm cho Trung quốc bí lối. Vì đã phân tích dài trong những Bài đã viết, nên chúng tôi chỉ tóm gọn những điểm sau đây: => Không phải chỉ có bầy Tầu Chệt xì xộ ngộ nị ngồi ở Tây Nguyên, mà Trung quốc còn thầu những Dự án khác để lao động Trung quốc sang khắp các Miền Việt Nam. Thiếu đàn bà tại Trung quốc, những lao công này sẽ tìm cách lấy vợ Việt Nam và lan tràn.
=> Những hàng ứ đọng từ Trung quốc tràn sang Việt Nam. Những hàng này sẽ giết chết công nghệ do người Việt Nam hùn vốn sản xuất.
=> Những Nhà Máy cũ phế thải sẽ được chuyển qua Việt Nam. Tỉ dụ cụ thể là Nhà Máy phân đạm Hà Bắc. Trung quốc phế thải, nhưng sẽ tính giá để Việt Nam nhận nợ.
Việc đấu tranh chống lại xâm lăng Trung quốc lúc này là hòan tòan cấp bách. Xin mọi người mang dòng máu Mẹ Aâu Cơ hãy để một bên những tiểu tiết tranh cãi để cùng nhau chống lại giặc Tầu và đập bể đầu tụi CSVN bán nước.
Từ Thanh Hóa ra Hà Nội và từ Hà Nội vào Miền Nam, chúng tôi đã được chở lên Hố Nai cây số 15. Sống ít tháng, chúng tôi được chuyển lên B’lao (Bảo Lộc) và định cư tại xứ Tân Hóa (Thanh Hóa mới). Đất đỏ vùng Bảo Lộc rất tốt, trồng cây gì cũng xanh tươi. Mẹ tôi và chúng tôi con xúm nhau trồng được ít luống khoai lang, thì ban đêm bị lợn rừng về ăn. Tiểu Chủng viện Thánh Giuse được thành lập tại Tân Thanh (Thanh Hóa mới), Bảo Lộc. Tôi đi tu từ 1956 tại Tiểu Chủng viện ở giữa rừng tranh với vắt rừng này. Chủng sinh mỗi ngày đi trồng tưới su-su để sống. Cây gì cũng mọc và xanh tốt. Kỷ niệm rừng xanh, đất đỏ Bào Lộc làm lòng mình đau đớn khi nghĩ đám tham nhũng CSVN bán cho Tầu để tàn phá.
Gặp Tầu xâm lăng ở đâu là đánh đó, không cần phải dài dòng biện luận lý thuyết. Chúng ta đánh quân Tầu xâm lăng là BỔN PHẬN và TRÁCH NHIỆM. Phải đánh liền đừng để chúng mọc rễ. Một bà cụ già, thấy giặc Tầu vào nhà, không cần phải tìm Minh chủ để chỉ dậy cách đánh. Bà có sẵn chiếc váy đụp, cầm chụp lên đầu thằng Chệt xâm lăng cho nó ngộp thở, gào đứa cháu mang hòn đá đập vào đầu cho nó chóang váng té vật ra, rồi kêu hàng xóm đến nện cho đứa xâm lăng nhừ tử.
Ai nói bà thiếu trí thức, thiếu lý luận, không tuân theo phương pháp bất bạo động để THÁO GỠ ĐỘC TÀI như đài Chân Trời Mới trí thức rêu rao, bà không thèm nghe. Nghe làm gì cho mất giờ vì giặc đang xi xô ngộ nị. Bà tả nị chệt xâm lăng cho rồi ! Chống Tầu xâm lăng bằng bất cứ phương tiện nào và bất cứ lúc nào. Hãy đánh Tầu xâm lăng như “Thiết như tha, nhưng thác, như ma, như cuốc kêu mùa hè, như mài son, như đánh giặc“ thì mới theo được tinh thần của Tổ Tiên đã cùng nhau diệt Cột Đồng Trụ, đã giữ được Nước Việt cho đến ngày nay cho con cháu.
Đặt cơ sở Kháng chiến chống Tầu xâm lăng cho tương lai
Trách nhiệm Quản trị một Xí Nghiệp là Dự phòng (Diriger une entreprise, c’est Prévoir). Nếu không dự phòng, cứ để sự việc xẩy ra, thì lúc đó tán lọan đào thải.
Tôi không hề viết những bài về câu hỏi tại sao có ngày 30 tháng Tư năm 19975 để rồi cấp lãnh đạo tán lọan, thậm chí có người cuốn gói ra đi mặc kệ số phận dân chúng, binh sĩ ra sao thì ra. Một số ý kiến kết án Mỹ phản bội, bỏ rơi Việt Nam. Tôi thường mỉm cười nói rằng việc quan trọng là mình chết. Chính lẽ mình phải đề phòng để tự mình sống hơn là ngồi chết trước khi chỉ chửi Mỹ một câu là đồ phản bội. Mỹ có thể trả lời rằng việc sống chết chính yếu là việc của các anh, bây giờ chúng tôi chán bỏ ra đi để sống, còn anh chết thi kệ thây anh. Chửi Mỹ cho thỏa lòng, nhưng mình chết.
Điều quan trọng là mình sống mà không cần mất giờ đổ lỗi cho ai. Trước hết hãy nhìn cái lỗi của mình. Mình có kêu gào đổ lỗi, nhưng mình chết, đó là vấn đề quan trọng.
Chúng ta đang gặp trường hợp Dân Tộc Việt Nam sống chết với Tầu xâm lăng do quân CSVN phản quốc rước giặc vào Nhà.
Trong phần trên, chúng tôi đã trình bầy là phải CẤP THIẾT đánh giặc Tầu và quân CSVN phản quốc để mình sống. Quần chúng, từ dân chúng, tới giới trẻ, Sinh viên và Tôn giáo ý thức được sự sống còn này và đang cấp thiết đứng lên. Nhưng quân phản quốc CSVN vẫn cầm quyền và vì đã ăn hối lộ tiền bạc, nên không còn nghĩ đến Đất Nước nữa, vẫn nhì nhằng để Tầu khai thác Bô xít, diệt Kinh tế Việt Nam.
Một số những nhà quan sát đang nghĩ rằng tụi CSVN bán nước và Tầu xâm lăng vẫn tìm cách thoa dịp để tiếp tục việc khai thác Bô xít chiếm cứ Tây Nguyên và biến Việt Nam thành một tỉnh tiêu thụ những phế thải của Trung quốc.
Chúng ta phải dự phòng trường hợp này, nghĩa là phải giả thiết rằng CSVN phản quốc và Tầu chệt sẽ tiếp tục xâm lăng để cuộc đấu tranh bảo tòan Lãnh Thổ và Lạnh Hải tiếp tục cố hiệu quả.
Ngày 30.04.1975, Lãnh đạo Việt Nam hỗn lọan để rồi ra nước ngòai. Sau đó mới kêu gọi Kháng chiến để hồi hương giải phóng Đất Nước. Những Lãnh đạo ấy khi thấy TT.NIXON gặp Mao Trạch Đông, khi thấy KISSINGER thì thọt với Bắc Kinh, tại sao không giả thiết một cuộc phản bội để mà ĐỀ PHÒNG, thiết lập những cơ sở Kháng chiến. Tại sao PHẮC CHÁNH HY giữ được Nam Hàn?
Chúng tôi không muốn dài dòng về vấn đề trên đây để có thể tạo ra những tranh luận mất hòa khí và không cần thiết cho việc cấp bách đánh Tầu xâm lăng và tụi CSVN bán nước lúc này. Chúng tôi chỉ nhấn mạnh rằng phải DỰ PHÒNG đặt những cơ sở Kháng chiến để khi Tầu chệt xâm lăng và tụi CSVN phản quốc cố chấp tiếp tục Bô xít Tây Nguyên, thì Tổ chức Kháng chiến của chúng ta đã nằm tại chỗ, tại Quốc nội để họat động. Đừng để khi thấy chúng cố chấp tiếp tục xâm lăng, thì chúng ta tán lọan mới đi kêu gọi tổ chức Kháng chiến. Hiện nay, lòng Dân đang ủng hộ việc chống xâm lăng cùng với tụi bán nước. Chúng ta cơ hội tốt tại chỗ để tổ chức những cơ sở ẩn danh để Kháng chiến sau này.
Trong sự ủng hộ của quần chúng, chúng ta tổ chức những cán bộ nồng cốt cho những cơ sở Kháng chiến. Không cần đông người cho những cơ sở Kháng chiến, mà cần những người nồng cốt trung kiên. Đây cũng chính là ý tưởng của Lénine khi ông còn lưu lạc tại Geneva lúc thanh niên.
Chúng tôi nghĩ đến những Cơ sở (Tổ) sau đây làm tỉ dụ:
Tại Quốc nội:
1) Tổ Thông tin, Phổ biến những tai hại Bô xít Tây Nguyên Tiếp tục thông tin, phổ biến những nguy hại khai thác Bô xít 2) Tổ đánh phá những lao động Tầu chệt ra khỏi Khu vực Khai thác Khi những lao động Tầu chệt ra khỏi khu Khai thác, họ không có an ninh 3) Tổ đánh phá việc chuyên chở Alumium từ nơi Khai thác đến cảng. Con đường chuyên chở tài nguyên Việt Nam ra nước ngòai bất an 4) Tổ đe dọa những tên trực tiếp phản quốc bán Bô xít Làm thế nào những tên này đi đâu cũng bị xỉ vả và bất ổn
Xin lưu ý xử dụng người dân chính trong những vùng liên hệ, nhất là dân thiểu số Tây Nguyên.
Tại Hải ngọai:
Người Việt tỵ nạn ở tại trên 70 Quốc gia trên Thế giới. Đây là một đòan quân hòan tòan bao vây những con cháu của những tên phàn quốc bán nước cho Tầu. Để hỗ trợ cho CHỦ LỰC tại Quê Hương, tại sao chúng ta không tổ chức thành Phong trào MẠ LỴ, PHỈ NHỔ những con cháu của những tên phán quốc bán nước đang sống giữa chúng ta và đang tiêu xài xương máu của những người nghèo, tại nước ngòai. Đó là cách HỖ TRỢ cụ thể cho Quốc nội vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN : Bài 13:
THẾ BÍ KINH TẾ TRUNG QUỐC XÌ SANG CÁC NƯỚC NGHÈO Á CHÂU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://VietTUDAN.net Geneva, 30.04.2009
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế 2008 có sức tràn lan nhanh chóng như Tsumani, nhưng hậu quả của Khủng hỏang phải có thời gian lâu mới phục hồi. Tại sao hậu quả lại tràn lan mau chóng và sự phục hồi lại cần thời gian lâu mới có thể làm được ? Câu trả lời của chúng tôi sẽ được trình bầy trong những Đọan phân tích dưới đây.
Nếu một số dấu chỉ gần đây của Kinh tế Mỹ, cường quốc Kinh tế đã châm ngòi cho Khủng hỏang, cho thấy ít điểm lạc quan, thì những nước chịu ảnh hưởng như Liên Aâu, nhất là Nhật và Trung quốc vẫn ở trong tình trạng lo lắng đường hầm khá đen tối. Nhật và Trung quốc ít tin ở phía Tây phương có thể cứu mình nhanh chóng vì chính Tây phương còn lớn tiếng kêu gọi Trung quốc và Nhật hỗ trợ trấn an Khủng hỏang và vì thấy rằng những Biện Pháp Che Chở Kinh tế (Mesures Protectionnistes) mỗi ngày mỗi lớn mạnh từ Tây phương theo lời cảnh cáo đồng lọat của World Bank, IMF/FMI và WTO/OMC.
Trong cái thế bí Kinh tế ở đường hầm như vậy, Trung quốc và Nhật đang tìm giải pháp tại Á chấu với khối người trên 3 tỉ. Người ta đã quan sát thấy cái thế đi này của Trung quốc và Nhật. Hai nước này là chính yếu trong việc cho ra đời Qũy Dự Trữ Ngọai Hối Á Châu USD.120 tỉ. Cuộc Họp Thượng Đỉnh G17 Á-châu đã được chính thức triệu tập vào cuối tuần 10-12.04.2009 tại Thái Lan. Nhưng chẳng may, những cuộc Biểu tình tại Bangkok đã làm cuộc Họp không thành. Chắc chắn trong cuộc Họp thượng đỉnh này, Nhật và Trung quốc sẽ nhấn mạnh vào “Hội nhập Kính tế Á châu“ mà mặt trái của nó đã được phân tích. Gần đây nhất, tin cho biết rằng Thủ tướng Nhật sẽ sang thăm viếng Bắc Kinh. Có lẽ hai nước sẽ bàn và chia phần việc xâm lăng Kinh tế Á châu.
Chúng tôi phân tích điều tóm tắt trên đây dưới những khía cạnh:
=> Liên đới Kỹ thuật sản xuất hiện đại => Cái không may của Trung quốc => Bí quá thì phải xì => Việt Nam nhục nhã hứng cái xì rác rưởi của Trung quốc
Liên đới Kỹ thuật sản xuất hiện đại
Tôi nói khía cạnh này là để trả lời cho câu hỏi đầu tiên trong phần nhập đề, đó là Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế lan rộng mau chóng như Tsumani, trong khi đó hậu quả Khủng hỏang phải có thời gian dài để phục hồi.
Việc tổ chức sản xuất Kinh tế hiện đại không mang tính cách liên hệ Chính trị, Xã hội, mà dựa trên Kỹ thuật để tìm mối lợi tối đa. Dù có bất đồng quan điểm Chính trị hay Nhân quyền đối với Trung quốc đi nữa, nhưng những Công ty Mỹ, Pháp, Đức... vẫn tổ chức sản xuất tại Trung quốc vì thu được mối lợi tối đa cho họ. Trung quốc có thù Nhật theo câu nói của Bruce LEE về việc cho chó Nhật vào Sở Thú, nhưng không phải Tầu, thì Trung quốc vẫn nhận sản xuất linh kiện rẻ cho các hãng Điện tử của Nhật.
Thời trước đây vào những năm 1930 chẳng hạn, mỗi Công ty sản xuất tối đa những linh kiện cấu thành món hàng cuối cùng của mình. Nhưng ngày nay, các Công ty sản xuất làm việc trong hệ thống Liên đới Sản xuất Linh kiện. Linh kiện là những bộ phận riêng lẻ để cấu tạo thành món hàng cuối cùng mang nhãn hiệu của Công ty. Tỉ dụ chiếc máy điện tử Toshiba của Nhật, nhưng một số những bộ phận cấu thành (linh kiện) lại được sản xuất tại Trung quốc, Việt Nam hay Mã Lai. Hệ thống Liên Đới Sản xuất Linh kiện được gọi theo tiếng Tây là “Système de Sous-Traitance des Pìeces détachées“. Một món hàng cuối cùng để bán cho người tiêu thụ được chia thành những bộ phận nhỏ (linh kiện). Những bộ phận này giao cho một Công ty chuyên môn sản xuất. Hệ thống Liên đới Sản xuất Linh kiện như vậy cho phép nền Kinh tế hai cái lợi rõ rệt:
* Công ty chuyên môn sản xuất một Linh kiện có thời giờ kiện tòan Linh kiện (Spécialisation et Perfectionnement de la Pìece détachée).
* Khi chuyên môn sản xuất một Linh kiện, thì Công ty trước hết đỡ tốn kém trang bị máy móc sản xuất (Installation des équipements), sau đó họ có thể tăng lượng sản xuất để làm giảm chi tiêu ban đầu cho những máy móc trang bị (Minimisation des Couts fixes d’Installation initiale).
Nếu lợi dụng được giá nhân công rẻ, thì giá thành linh kiện lại còn giảm xuống hơn nữa.
Mặc dầu vẫn biết rằng Trung cộng đàn áp Nhân quyền và không thích gì thể chế Chính trị của Trung quốc, nhưng những Công ty vẫn giao cho Trung cộng sản xuất trong hệ thống Liên Đới Sản Xuất Linh kiện nhằm giảm giá thành và bán món hàng cuối cùng tại Tây phương với giá cao để thu lợi tối đa. Nhật là một nước sản xuất High Tech, nhưng linh kiện lại giao cho Trung quốc.
Tổng thể trên Thế giới, nhất là cho các nước Tây phương tiêu thụ, Nhật và Trung quốc là hai trung tâm sản xuất Á châu rất quan trọng trong một hệ thống Liên Đới Sản xuất (Système de Sous-Traitance de Production).
Chính cái hệ thống Liên Đới Sản xuất này mà khi Thế giới, nhất là Tây phương, giảm phía CẦU hàng hóa tiêu thụ, thì hậu quả Khủng hỏang Kinh tế lan sang Trung quốc và Nhật ngay tức khắc. Việc lan tràn Khủng hỏang như Tsumani là do sự Liên Đới Sản xuất này. Việc phục hồi Kinh tế của hai trung tâm sản xuất Nhật và Trung quốc phải có thời gian dài vì nó tùy thuộc vào việc tăng phía CẦU của Thế giới, nhất là của Tây phương, vềï hàng hóa cuối cùng sẵng sàng để tiêu thụ (Produits finis prêts à la consommation).
Cái không may của Trung quốc
Trong phần phân tích trên đây về hệ thống Liên Đới Sản xuất, chúng tôi nói đến Nhật và Trung quốc. Nhưng từ phần này, với sự hạn hẹp của bài báo và với sự quan hệ thời điểm với Việt Nam, nên chúng tôi tạm để một bên phần phân tích về Nhật, mà chỉ nói đến trường hợp Trung quốc. Ở phần mở bài, chúng tôi nói rằng có một số dấu chỉ cho thấy phần lạc quan về phía Cầu từ Hoa kỳ. Đây là niềm hớn hở cho Trung quốc hơn ai khác. Nhưng sự hớn hở ấy không lâu bởi vì báo THE WALL STREET JOURNAL ngày hôm nay, thứ Năm 30.04.2009, đăng ở trang nhất một bài với đầu đề là US ECONOMY SINKS AGAIN (Kinh tế Hoa kỳ lại chìm xuống). Báo giới Aâu châu mang hy vọng, nhưng đã phải đăng tải :“Le déclin de 6.1% de l’économie américaine !“(Sự xuống giốc 6.1% của Kinh tế Mỹ“ (Nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ), thứ Năm, ngày 30.04.2009, trang 17).
Hàng hóa của Nhật thuộc High Tech và có tính cách cạnh tranh với chính hàng hóa sản xuất tại Tây phương khi có phục hồi Kinh tế. Nhưng hàng hóa Trung quốc thuộc lọai Low Tech, việc phục hồi Kinh tế Trung quốc không dễ dàng.
Thực vậy, Trung quốc là một trung tâm sản xuất, nhưng việc sản xuất qui tụ vào những hàng hóa sau đây:
=> Linh kiện phục vụ cho những hàng tiêu thụ giữ bản quyền tại Tây phương hoặc Nhật. Khi hàng chính Tây phương và Nhật giảm phía cầu tiêu thụ, thì những Công ty Liên quốc gia (Multinationales) giảm hẳn việc đặt mua hoặc sản xuất linh kiện từ Trung quốc.
=> Những hàng hóa Low Tech phục vụ tiêu thụ thông dụng hàng ngày như chổi quét nhà, rổ rá để bánh mì, dù che tắm biển vân vân... Những hàng hóa này bị cắt đi dễ dàng.
=> Hàng may dệt: vải vóc, chăn mền, quần áo rẻ tiền, dầy dép thường nhật vân vân. Khi bị khủng hỏang, người ta có thể dùng lại đồ cũ.
=> Đồ chơi cho trẻ em. Khi khủng hỏang khó khăn, người ta có thể bắt trẻ em chơi lại đồ cũ chất đầy ắp trong kho.
=> Thuốc men và đồ ăn động chạm đến sức khỏe. Những chế biến mang chất độc của Trung quốc đã làm Thương Hiệu của Trung quốc về những hàng này giảm hẳn xuống. Khi heo ở Việt Nam bị chết, người ta hỏi tại sao không chích thuốc đề phòng? Câu trả lời của nông dân rằng đã chích thuốc, mà heo vẫn chết. Hỏi thuốc nào và từ đâu. Họ trả lời đó là thuốc từ Trung quốc. Vậy thì heo càng chết mau hơn ! Một số nước nghèo Phi châu đã bắt đầu sợ thuốc Trung quốc !
Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế của Tây phương thực sự đã cắt việc mua hàng thường dùng hoặc linh kiện từ Trung quốc xuống 70%.
Họat động Kinh tế tập trung vào một chế độ độc tài với tất cả những quy họach bền vững của đảng, nhưng Kinh tế tùy thuộc vào phía CẦU theo hướng phân tích của KEYNES, một yếu tố tùy thuộc người khác nhất là những người có tự do quyết định tiêu thụ. Nếu ở thời kỳ hòan tòan Cộng sản mà Nhà Nước có tòan quyền quy họach cả TIÊU THỤ, thì Trung cộng có thể không bị nạn như ngày nay. Nhưng quy họach sản xuất tập trung của Trung cộng đã gặp phải quyền TỰ DO TIÊU THỤ của Tây phương. Cái không may hay cái không ngờ ngu dốt của độc tài sản xuất Trung cộng là ở chỗ đó.
Bí quá thì phải xì
Trong phần này, chúng tôi phân tích CÁI BÍ Kinh tế Trung cộng ở chỗ nào và CÁI XÌ của Trung cộng ra đâu.
Tình trạng CÁI BÍ của Kinh tế Trung cộng như sau:
=> Ngay từ World Economic Forum Davos 2009 (WEF Davos), Trung quốc đã bầy tỏ sự lo lắng về Che Chở Kinh tế (Protectionnisme/Protectionism) và kêu gọi hãy chống lại việc Che Chở Kinh tế này. Khi Obama tuyên bố “Buy America) và Sarkozy không muốn hãng Renault chuyển nhà máy sang Cộng Hòa Tcheque, thì Trung quốc thấy cái mầm Che Chở Kinh tế sắp mọc thành cây.
=> Sự lo lắng từ thời WEF 2009 đã trở thành sự thật. World Bank, rồi IMF/FMI và WTO/OMC xác nhận một sự thật phũ phàng về Che Chở Kinh tế hiện ra: 66 Biện Pháp Che Chở Kinh tế (Mesures Protectionnistes) đã có thực từ những nước Tây phương. Con ma Che Chở Kinh tế hiện ra nguyên hình và trở thành ông Ngáo ộp hù dọa cho xuất cảng của Trung cộng. Ngay cả Aán Độ, với 1,1 tỉ dân, đã công khai cấm nhập cảng đồ chơi từ Trung quốc.
=> Trong cuộc Họp ASEM Bắc Kinh và trong cuộc Họp G20 Luân Đôn, Trung quốc nhận thấy phía Tây Phương yếu kém về Kích cầu Kinh tế bởi vì mỗi nước lo riêng cho số phận của mình mà nước nào cũng có Ngân Sách thiếu hụt. Cuộc Họp G20 tại Luân Đôn như là cứu tinh, nhưng nói đến sự đóng góp cho IMF số tiền USD.1000 tỉ để giài quyết Kinh tế, thì nước nào cũng hứa suông. Obama thì tuyên bố đầy những chương trình lớn chuyện giống như một sinh viên mới xuất thân Đại học, bầy đủ thứ Flow Charts vẽ vời rất đẹp. Sarkozy thì choi choi khoa tay múa chân như anh hùng Thế giới, nhưng không dám quay về nước Pháp để giải quyết những vấn đề căn bản của nước mình mà ông là Tổng thống.
=> Trên đây là những cái bí cho Trung quốc từ những nước ngòai. Tại Lục địa Trung quốc, không thể phủ nhận những cái bí sau đây mà báo chí nước ngòai nói ra, dù Trung cộng bưng bít:
* Những phản kháng của dân nghèo lên tới 80'000 lần mỗi năm
* Nhân công du mục thất nghiệp tập thể phải về đồng quê. Ngành xây cất hầu như thải nhân công đến 90%.
* Điều quan trọng là sinh viên ra trường thất nghiệp. Quan trọng vì việc nổi dậy từ phía sinh viên, thì tình trạng căng thẳng xã hội trở thành nguy hiểm cho chế độ. Tờ THE WALL STREET JOURNAL hôm qua, thứ Tư 29.04.2009, đăng bài của Ian JOHNSON, từ Nanjing, dài trên hai trang đẫy (pp.20-21), với đầu đề CHINA FACES GLUT OF GRADUATES (Trung quốc đối diện với sự tràn đầy những người có bằng cấp). Tờ báo nói mỗi năm có 6.1 triệu sinh viên ra trường mà gặp cảnh thất nghiệp lan tràn tập thể. Tờ báo viết “Up to one-third of last year’s 5.6 million university graduates are still looking for work, and this year will see another 6.1 million hit the labor market.“ (p.20) (Đến một phần ba của 5.6 triệu sinh viên ra trường vẫn còn phải đi kiếm việc, và năm nay sẽ còn thấy 6.1 triệu nữa đang phải vật lộn với thị trường nhận lực.)
* Về tình trạng đầu tư trực tiếp từ nước ngòai, đà xuống dốc vẫn tiếp tục. Trong báo THE WALL STREET JOURNAL, ngày 16.04.2009, Aaron BACK và Victoria RUAN, dưới đầu đề INVESTMENT IN CHINA SLOWS (Đầu tư vào Trung quốc chậm lại), viết như sau:“BEIJING—Foreign investments in China continued to fall in March, new figures indicate, as many companies cut back expansion plans during the global downturn. Foreign direct investment in China dropped 9.5% in March from year earlier“ (p.25) (BẮC KINH—Những đầu tư nước ngòai vào Trung quốc tiếp tục tụt xuống vào tháng Ba như những con số cho thấy, vì nhiều Công ty cắt bỏ những chương trình mở rộng trong thời đi xuống tổng quát. Đầu tư trực tiếp nước ngòai vào Trung quốc tụt xuống 9.5% vào tháng Ba sánh với năm trước.).
* Không có đầu tư mới, và không họat động vì xuất cảng giảm mạnh, các Công ty gặp tình trạng tự động thua lỗ và máy móc thiết bị mỗi ngày mỗi mất hiệu lực hiện đại. Thực vậy, trước đây, Trung quốc đã trang bị nhà máy bằng những thiết bị “second hand“ mua và sửa lại từ Aâu châu. Bây giờ thiếu đầu tư đổi mới, những nhà máy càng ngày càng trở thành cũ kỹ, mất hiệu lực cạnh tranh hiện đại. Cách đây chừng hai chục năm, chính chúng tôi đã biết một cơ xưởng lớn tại Zurich Thụy sĩ chỉ chuyên sửa chữa lại máy second hand để bán cho Trung quốc. Một tỉ dụ điển hình là máy móc và phương pháp khai thác Bauxite tại Tây Nguyên là phương pháp ướt đã lỗi thời.
Với những CÁI BÍ trên đây, Trung cộng buộc lòng phải tìm cách làm những CÁI XÌ điều bí ra ngòai. Trước hết, tại nội địa, các Công ty không thể tiêu thụ hết những hàng hóa ứ đọng vì tụt dốc xuất cảng và vì khối dân khổng lồ của Trung quốc thiếu khả năng mua hàng (pouvoir d’achat). Các Công ty không thể phát không hàng hóa cho dân chúng vì họ bị thua lỗ, nhất là không bao giờ họ có thể làm cho giá hàng tăng lên, yếu tố kích thích sản xuất. Trong khi ấy, vì tình trạng giảm CẦU của Tây phương, họ không thể nào XÌ kho hàng ứ đọng sang Mỹ hay Liên Aâu.
Việc giải quyết những CÁI BÍ của Trung quốc là tìm cách XÌ những CÁI BÍ ấy sang các nước nghèo Á châu, nhất là các nước thuộc khối ASEAN. Người ta gọi đây là tham vọng bành trướng Kinh tế Trung quốc ra các nước Á châu, hay đúng hơn phải gọi đây là Trung quốc tìm cách XÌ những rác rưởi trên đầu các nước nghèo Á châu khi mà Trung quốc chứa đầy dẫy những CÁI BÍ của mình.
Trung quốc đã phải bỏ ra USD.25 tỉ, USD.10 tỉ dưới dạng giúp đỡ kích cầu Kinh tế và USD.15 tỉ dưới dạng cho vay để có thể mua chuộc những nước nghèo Á châu chấp nhận những CÁI BÍ mà Trung quốc XÌ ra. Thực vậy, Trung quốc có thể dùng tiền hối lộ để những lãnh đạo các quốc gia nghèo chấp nhận những gì sa thải ra từ Trung quốc:
* Việc trước hết, Trung quốc xuất cảng những hàng hóa ứ đọng sang các nước nghèo lân cận. Những lãnh đạo tham nhũng chấp nhận cho những hàng hóa này vào nước mình, mặc dầu biết đây là phạm vào cái tội giết chết nền Kinh tế của chính nước mình. Trung quốc được phép mở thêm những khu thương mại China Towns tại những nước nghèo.
* Việc thứ hai là Trung quốc đấu thầu để dành lấy những Dự án tại các nước nghèo. Những Dự án này giúp Trung quốc thải những nhà máy cũ, bán thêm thiết bị cho những nước đã cho Trung quốc trúng thầu.
* Việc thứ ba là giải quyết nạn thất nghiệp tập thể tại Trung quốc. Giống như Dự án khai thác Bauxite Tây Nguyên, Trung quốc sẽ xuất cảng lao công sang các nước nghèo với những Dự án đã trúng thầu vì đút lót hối lộ. Nhân công tại những nước nghèo đang cần việc làm, nhưng những lãnh đạo đã ăn hối lộ không cần biết đến dân chúng của mình, mà chấp nhận cho công nhân Trung quốc tự do vào chiếm việc.
* Việc thứ tư là giải quyết lớp sinh viên thất nghiệp mỗi năm tăng lên trung bình 6 triệu. Ngày nay, Trung quốc nói là xuất cảng lao công, nhưng trong tương lai, họ phải xuất cảng chuyên viên, trí thức từ những Đại học. Họ cho ra ngòai làm việc để giải quyết căng thẳng xã hội từ giới trẻ trí thức thất nghiệp có thể nguy hiểm cho chính chế độ.
Việt Nam nhục nhã hứng cái xì rác rưởi của Trung quốc
Có bốn cái lý do để cắt nghĩa những Lãnh đạo Việt Nam nhục nhã cúi đầu hứng chịu những rác rưởi mà Trung quốc XÌ xuống:
1) Lãnh đạo đảng CSVN, vì quá cố thủ bám lấy quyền hành độc tài Chính trị, mà phải cúi đầu chấp nhận sự sai bảo của Trung quốc để nước này bảo trợ cho quyền hành Chính trị của mình. Tỉ dụ điển hình: cúi đầu chấp nhận mất Biên giới, Hòang Sa, Trường Sa, Biển Đông mà không dám hé họng nói điều gì. Thậm chí còn theo lệnh của Tầu đàn áp lòng yêu nước của người Việt Nam.
2) Trung quốc không những bao che cho quyền lực mà còn dùng tiền để thỏa mãn tham nhũng để có được tất cả những dễ dàng việc tràn lan hàng ứ đọng của Trung quốc xuống Việt Nam. Việt Nam trở thành một tỉnh tiêu thụ hàng hóa của Tầu. Nghĩ đến việc người Việt tỵ nạn gửi tiền về cho thân nhân để tiêu thụ những rác rưởi mà Tầu thải xuống, thật là đau lòng.
3) Mỗi dự án của Việt Nam đều có “gói quà Đo-la“ kèm theo. Trung quốc bỏ ra USD.10 tỉ để trích ra làm quà. Nhận quà và cúi đầu dâng Dự án, đó là nối giáo cho giặc để giặc xuất cảng nhân công và thiết bị sang Việt Nam. Những nhà máy cũ của Tầu sẽ được chuyển sang Việt Nam.
4) Liên hệ với các Lãnh đạo đảng là những con cháu hay bạn bè trước đây du học tại Trung quốc. Du học tại Bắc Kinh, có những người đã lập gia đình với người Tầu, hoặc vợ hoặc chồng. Chính những người này làm môi giới, hoặc liên doanh buôn bán hàng hóa Tầu hoặc lấy Dự án cho Trung quốc.
Thâm ý xa thải rác rưởi Kinh tế Trung quốc cho những nước nghèo Á châu, nếu có những trở ngại tại Phi-luật-tân, Nam Dương... chẳng hạn, thì nó rất dễ dàng thực hiện cho Việt Nam bởi vì Lãnh đạo đảng CSVN đã trở thành đầy tờ bán ngay Lãnh Thổ và Lãnh Hải của Tổ Tiên cho Trung quốc rồi.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN :
Bài 12:
TẠI SAO PHẢI CHẤM DỨT CÁI CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://VietTUDAN.net 23.04.2009
Hoàng Sa, Trường Sa, Xác định Thềm Lục địa Biển Đông, Bauxite Tây Nguyên, Xí nghiệp, Hàng Hóa và Công nhân Tầu tràn vào Việt Nam !
Đó là những sự việc có thật, cụ thể và cấp bách mà tòan dân phải đứng dậy giải quyết ngay bằng hành động bởi vì đảng cầm quyền duy nhất đã rước voi về dầy mồ.
GIẶC ĐẾN NHÀ... và ĐÃ VÀO NHÀ..., chúng tôi đã viết ba bài:
=> TÔN GIÁO HIỆP THÔNG CỨU NGUY ĐẤT NƯỚC => AI CŨNG PHẢI ĐÁNH VÀ ĐÁNH KIỂU NÀO CŨNG ĐƯỢC => CHẤM DỨT CƠ CHẾ THAM NHŨNG VÀ BÁN NƯỚC
Hôm nay, chúng tôi viết bài thứ tư với đầu đề TẠI SAO PHẢI DỨT KHÓAT CHẤM DỨT CÁI CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH ? Chúng tôi viết đầu đề này vì có những Nhóm Chính trị vẫn nói rằng đâu cũng có tham nhũng và muốn chủ trương đứng chung với CSVN để cùng chống xâm lăng Trung quốc, Chúng tôi viết bài này để cho thấy rằng Tham LỢI của cải không phải là cá nhân và cơ hội, rằng việc bán nước không phải là cầu cái danh vinh quang mà cũng là vì cái LỢI của cải. Những cái LỢI từ Tham nhũng và từ Bán nước thuộc về CƠ CHẾ mà đảng CSVN chủ trương.
Chúng tôi cắt nghĩa QUAN ĐIỂM trên ở những khía cạnh sau đây:
* Tham nhũng thuộc CƠ CHẾ thường xuyên chứ không từ cá nhân và cơ hội * Bán nước cầu LỢI của cải chứ không phải cầu vinh cái danh * Tiến trình Dân chủ hóa phải bắt đầu bằng Dân chủ hóa cái LỢI Kinh tế
Tham nhũng thuộc CƠ CHẾ thường xuyên chứ không từ cá nhân và cơ hội
Cái LỢI TIỀN CỦA tóm tắt bản chất thường xuyên của CƠ CHẾ Tham nhũng và Bán nước của CSVN.
Chúng tôi đồng ý với lời nói rằng Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ tiền của ở đâu cũng có, nhưng tại một số nước, Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ... tràn lan thành quốc nạn, và tại những nước khác, nạn này có thể được kềm chế, trừng phạt.
Cái mầm Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ nằm trong mỗi cá nhân, không phân biệt chủng tộc. Nhưng tại mỗi nước, cái mầm ấy nảy chồi, lớn lên và lan tràn tùy theo cái mầm gặp được đất tốt, có được hoàn cảnh thuận tiện hay không. Tại Việt Nam, cái mầm đã nẩy chồi, thành cây và sinh thêm con cái để trở thành QUỐC NẠN Tham nhũng, Lãng phí và Hối lộ, bời lẽ cái CƠ CHẾ hiện hành mà đảng CSVN chủ trương tạo ra một vùng đất tốt, một hoàn cảnh, một sự che chở để cái mầm ấy tha hồ nẩy sinh và bành trướng.
Vậy việc diệt trừ THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ kông phải là diệt cá nhân bẩm sinh mang cái mầm, nhưng là diệt cái CƠ CHẾ đã làm hoàn cảnh, điều kiện tốt cho cái mầm ấy nẩy chồi và bành trướng thành quốc nạn.
Cái CƠ CHẾ hiện nay là ĐỘC TÀI QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ nắm trọn ĐỘC QUYỀN KINH TẾ vào trong một người, một đảng. Phải diệt cái CƠ CHẾ cho phép hai cái độc quyền này cấu kết với nhau. Chúng tôi thường đưa ra hình ảnh về việc ĐÁNH ĐĨ giữa độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế để cái trứng của quái thai THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ sinh ra và được che chở nuôi dưỡng lớn lên.
Thực tế mà nói, việc diệt Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ hay làm cho cá nhân ngại sợ trong việc ăn hối lộ, tham nhũng và lãng phí tùy thuộc hai điều kiện sau đây:
=> Loại bỏ cái CƠ CHẾ làm dịp phát sinh tham nhũng, lãng phí, hối lộ. Chúng tôi đã viết rằng một Thánh nhân nhốt chung phòng với cô gái đẹp nơi âm u kín đáo, dễ sinh lòng dục. Đừng thuyết lý đạo đức cho Thánh nhân, mà hãy đừng cho Thánh nhân ở chung phòng âm u với cô gái để có dịp sinh lòng dục. Chính bản thân tôi, nếu tôi có toàn quyền sinh sát và ngồi bên cạnh đống vàng, thì tôi dễ dàng muốn biển thủ mấy thòi vàng nhét vào túi riêng. Phải bỏ hẳn cái CƠ CHẾ cho phép người có quyền lực sinh sát nắm thêm độc quyền cho tham nhũng lan tràn. Phải dứt bỏ nó đi.
=> Những kẻ làm tham nhũng, lãng phí, hối lộ thường ngó trước nhìn sau, xem có ai biết đến việc tồi tàn của mình hay không. Họ không sợ lương tâm của họ, nhưng sợ sự nhòm ngó của người khác khiến họ mất vị trí quyền lực để làm việc tồi tàn. Phải để tự do báo chí phanh phui ra tham nhũng, lãng phí và hối lộ. Ở trên, chúng tôi nói rằng cho Thánh nhân ở chung với cô gái đẹp trong PHÒNG KÍN ĐÁO ÂM U, nghĩa là ở nơi mà người ngoài kông trông thấy được. Thực vậy, nếu Thánh nhân ở chung với cô gái tại nơi thoáng đạt mà người khác có thể trông thấy, thì cái mầm dục của Thánh nhân cũng phải co vòi vì sợ người khác biết tới. Báo chí được tự do phanh phui, thì việc tham nhũng, lãng phí và hối lộ cũng giảm hẳn xuống vì sợ người khác, mặc dù không sợ đén lương tâm.
Tóm lại, Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ lan tràn ở Việt Nam và trở thành quốc nạn. Diệt trừ quốc nạn này không phải là diệt cá nhân bởi lẽ cái mầm tham nhũng, lãng phí, hối lộ nằm tại mỗi người. Diệt trừ quốc nạn này là phải phế bỏ CƠ CHẾ hiện hành cho phép quyền lực Chính trị nắm lấy độc quyền Kinh tế và để Báo Chí tự do phanh phui tham nhũng, lãng phí, hối lộ làm cho những tham quan lớn bé phải lo sợ cho dù chính họ không biết sợ lương tâm mình.
Bán nước cầu LỢI của cải chứ không phải cầu vinh cái danh
Cái LỢI tiền của của từng đảng viên cũng là động lực chính yếu đẩy đảng CSVN tới chỗ BÁN NƯỚC cho Tầu.
Người ta thường nói câu Bán nước cầu Vinh. Nhưng cái Vinh của CSVN là ở chỗ nào ? Dân chúng Việt Nam phỉ nhổ vào việc mờ ám ký kết Biên Giới với Trung quốc, thế mà CSVN vẫn chai mặt không dám công bố những Ký kết Biên giới. Dân chúng nhìn cái nhục của đảng CSVN câm họng trước việc Trung quốc chiếm Hòang Sa, Trường Sa. Dân chúng Việt Nam xác nhận cái nhục của CSVN muối mặt đưa công nhân Tầu phù vào ngồi từng đàn ở Tây Nguyên. Hàng hóa Tầu tràn lan giết Kinh tế Việt Nam làm dân chúng thất nghiệp, nghèo khổ mà CSVN vẫn câm họng chịu đựng lệnh của Trung quốc.
Cái Vinh ở đâu ? Đó là những cái Nhục mà kẻ bán nước vẫn cúi gầm mặt chịu đựng. Như vậy việc CSVN bán nước không phải là cầu Vinh. Vậy chúng cầu cái gì khi mà Dân chúng gọi đảng CSVN với cái tên Bán nước, Phản quốc ?
Câu trả lời là CSVN cầu cái LỢI tiền của khi nhục nhã cam chịu cái nhục Bán nước.
Thực vậy, Bán nước cho Tầu để Tầu bảo trợ cho đảng CSVN vẫn giữ quyền lực Chính trị độc tài ở Việt Nam. Nhưng giữ quyền lực Chính trị không phải với mục đích truyền giảng Chủ nghĩa Cộng sản, Lý thuyết vô sản của Mác-Lê. Đó không phải là mục đích tối hậu của việc bán nước cho Tầu để bảo trợ cho quyền Chính trị độc tài. Cái mục đích tối hậu là quyền lực Chính trị độc tài này nắm lấy ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để mà tha hồ thu được cái LỢI TIỀN CỦA cho từng cá nhân đảng viên.
Tóm lại, bán nuớc cho Tầu cũng là do cái động lực LỢI tiền của để Trung quốc che chở cho cái CƠ CHẾ độc tài Chính trị nắm lấy độc quyền Kinh tế, để mỗi đảng viên có thể và được bao che trong việc Tham nhũng, Lãng phí, ăn Hối lộ.
Kết luận của hai phần phân tích trên đây là phải DỨT BỎ CƠ CHẾ hiện hành làm lan tràn THAM NHŨNG và phạm tội BÁN NƯỚC do cái động lực LỢI TIỀN CỦA.
Tiến trình Dân chủ hóa phải bắt đầu bằng Dân chủ hóa cái LỢI Kinh tế
Đất nước lâm nguy ! Mọi người Dân Việt phải cứu nguy Đất Nước. Việc cứu nguy Đất nước cấp bách mà ai cũng đồng ý là ngưng ngay Bauxite Tây Nguyên, Tuyên bố về Thềm Lục địa Biển Đông cho Liên Hiệp quốc.
Nói về việc xây dựng Đất Nước có tính cách lâu dài, có những Nhóm Chính trị đưa ra Tiến trình Dân chủ hóa với 5 điểm hoặc 9 bước tuần tự mà không nhấn mạnh đến việc Dứt Bỏ CƠ CHẾ hiện hành. Chúng tôi đưa ra một tỉ dụ về lời kêu gọi thường xuyên của Radio CHÂN TRỜI MỚI. Chúng tôi không có ý công kích mà chỉ đưa ra một trường hợp để phân tích về việc xây dựng dài hạn qua một Tiến trình Dân chủ hóa. Lời kêu gọi như sau:
RADIO CHÂN TRỜI MỚI - Phát thanh tại Việt Nam mỗi ngày từ 20g30 đến 21g trên làn sóng điện trung bình 1503 kí lô chu kỳ (tức AM 1503 Khz): Đối Đầu Bất Bạo Động để tháo gỡ độc tài Xây Dựng Xã Hội Dân Sự để đặt nền dân chủ Vận Động Toàn Dân để canh tân đất nước
Ba chủ trương kêu gọi trên đây không động chạm tới việc dứt bỏ CƠ CHẾ CSVN THAM NHŨNG & BÁN NƯỚC, căn nguyên chính yếu của suy thóai Đất Nước. “Đối Đầu Bất Bạo Động để tháo gỡ độc tài”, nhưng CƠ CHẾ hiện hành vẫn nằm đó và luôn lẻo mép nói họ cho Tự do. “Xây Dựng Xã Hội Dân Sự để đặt nền dân chủ “, nhưng CƠ CHẾ hiện hành luôn lẻo mép là họ đang xây dựng Xã hội Dân sự và thực hiện Dân chủ. “Vận Động Toàn Dân để canh tân đất nước”, nhưng CƠ CHẾ luôn luôn nói là họ dang canh tân Đất Nước.
Ba khẩu hiệu trên để thực hiện mang tính cách quá trống trải, trừu tượng, có thể bị CSVN trường kỳ lẻo mép tranh luận trong khi ấy chúng vẫn làm Tham nhũng, Bán nước để thủ LỢI tiền bạc. Tệ nạn căn bản hiện hành rất cụ thể là cái LỢI tiền của của CSVN thuộc về Kinh tế. Vì vậy QUAN ĐIỂM của chúng tôi là đi thẳng vào vấn đề cái LỢI kinh tế mà CƠ CHẾ đã và cố thủ chủ trương. Tiến trình Dân chủ hóa phải đi từ DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ bắt đầu là phế bỏ độc quyền Kinh tế của đảng.
Thực vậy, tại Việt Nam, một số Tiến trình Dân Chủ Hóa đã được đặt ra, nhưng từ phía những người làm Chính trị dựa trên những phạm trù Ý thức hệ về Dân chủ xa với đời sống cụ thể tìm sống của Dân chúng. Người ta nhìn thấy một cuộc đấu tranh về những xung khắc quan niệm Ý thức hệ về Dân chủ hơn là việc thực hiện cụ thể những nguyên tắc dân chủ giải quyết cuộc sống làm ăn mỗi ngày của Dân chúng. Chính vì vậy, những Tiến trình Dân chủ hóa không được đại đa số quần chúng nghèo khổ quan tâm cho lắm. Có thể nói rằng khối dân nghèo khổ 75% dân chúng đang quan tâm giải quyết vấn đề đất đai, vấn đề công bằng lao động... hơn là vấn đề Quốc Hội tượng trưng cho Dân chủ như thế nào.
Tiến trình Dân chủ hóa Chính trị hãy bắt đầu bằng những bước cụ thể Dân chủ hóa Kinh tế, điều mà đại đa số quần chúng quan tâm, thiết thân. Dân chủ có nghĩa là Dân làm chủ, nhưng Dân chúng tha thiết đến câu hỏi: làm Chủ, nhưng làm chủ cái gì. Cái gì đó chính là miếng đất nhỏ bé mà họ phải cong lưng cầy cấy ngô khoai kiếm sống. Nếu những nhà Dân chủ trí thức mải mê thuyết trình về quan niệm Dân chủ của Thế giới Tự do như thế nào và Ý thức hệ Dân chủ của Cộng sản ra sao, thì người nông dân nhìn cụ thể dân chủ ở việc họ có được làm chủ chính miếng đất thừa kế từ chính ông cha họ để lại hay không. Hãy giải quyết cụ thể cho họ và sau đó mới thuyết giải những quan niệm trừu tượng.
Gương xây dựng nền DÂN CHỦ tại Hoa kỳ và Thụy sĩ bắt đầu bằng giải quyết CÁ NHÂN CHỦ những phương tiện kiếm sống cụ thể mỗi ngày cho chúng ta thấy rằng phải bắt đầu việc Dân chủ hóa Kinh tế thực sự (Démocratisation Economique). Từ đó Tiến trình Dân chủ hóa Chính trị (Démocratisation Politique) đến như một Hệ luận. Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế bắt đầu bằng giải quyết những vấn đề cụ thể sau đây:
=> Tôn trọng quyền TƯ HỮU các phương tiện làm ăn, mà cụ thể là quyền Tư hữu Đất đai. Nhà Nước không được quyền dưới danh nghĩa quản lý để tước đọat đất đai, nhà cửa của dân chúng. => Tôn trọng quyền TỰ DO làm ăn của Dân chúng. Việc tôn trọng này không cho phép Nhà Nước dùng độc tài Chính trị nắm trọn độc quyền Kinh tế
Hai công việc trên nhằm DỨT BỎ ngay cái CƠ CHẾ chủ trương ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Cơ Chế ấy đang là nguyên nhân chính yếu để đảng CSVN phạm hai tội: Tham nhũng lan tràn và Bán nước cầu lợi tiền của.
Nếu giải quyết xong những vấn đề trên đây, chúng ta đã làm công việc Dân chủ hóa Kinh tế (Démocratisation Economique) làm nền tảng tiến đến Dân chủ hóa Chính trị (Démocratisatin Politique) vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN :
Bài 11:
CAO TRÀO QUẦN CHÚNG ĐANG ĐỨNG LÊN CHẤM DỨT CƠ CHẾ CSVN THAM NHŨNG VÀ BÁN NƯỚC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://VietTUDAN.net 16.04.2009
Gọi là CAO TRÀO QUẦN CHÚNG khi có một số đông người cùng mang một mục đích đấu tranh càng cụ thể, càng đơn giản thì càng hay. Khi mang cùng một mục đích, thì dù đông người, sự đòan kết tự động mà có. Chúng ta đã nghe nhiều những bài hô hào đòan kết của nhiều những Nhóm Chính trị có những mục đích riêng cho Nhóm. Những lời kêu gọi ấy không có hiệu lực mang lại đòan kết. Khi nào mang cùng mục đích, thì không cần phải dài dòng hô hào biện bạch, thì người người tìm đến bắt tay nhau cùng đấu tranh.
Cao Trào Quần Chúng đang thực sự đứng lên tại Việt Nam
Chúng tôi kể Cao Trào Quần Chúng bắt đầu tại Việt Nam khi mà Dân Oan Miền Nam kéo về Sài Gòn và Dân Oan Miền Bắc kéo về Hà Nội với cùng một mục đích cụ thể là đòi Nhà Nước CSVN trả lại Nhà Đất đã bị tước đọat bất công. Mặc dầu bị Công an dùng vũ lực đánh đập, giải tán, đưa về địa phương, nhưng khi mà Nhà Đất của họ vẫn không được giải quyết, thì Cao Trào Dân Oan vẫn còn và âm ỉ sửa sọan bùng nổ. Bị đánh đập, nhưng đói quá, thì Dân Oan phải nghĩ đến phản công. Trong gần 6 tháng nay, Dân Oan nghèo khổ, cộng thêm với lạm phát, rồi thất nghiệp vì khủng hỏang kinh tế, Dân Oan một số đông địa phương đã dùng BẠO ĐỘNG chống lại vũ lực của Công an. Đây là việc tự động phải có thái độ đó, chứ không ai xúi giục cả.
Giữa lúc Cao Trào Dân Oan lớn mạnh, thì vì việc chiếm đất oan ức, mà Giáo dân Hà nội, nhất là Thái Hà đã không còn sợ hãi nữa, mà cùng nhau họp lại đòi Công lý. Việc đứng lên anh dũng này đã được sự hiệp thông chặt chẽ và mau mắn của Giáo dân Công giáo từ Bắc, Trung, Nam. Nhà Nước cũng lại dùng vũ lực và đã giải quyết vá víu theo ý độc đóan của mình. Nhưng sự oan ức vẫn nằm trong lòng Giáo dân. Chỉ cần một ngọn lửa, một biến cố, lòng oan ức ức sẽ bùng lên và trở thành động quần chúng.
Vấn đề Trường Sa, Hòang Sa tạo một sự oan ức nữa. Cái oan ức này không phải chỉ cho riêng Dân Oan hay cho Giáo dân Công giáo, mà cho tòan thể Dân Tộc. Nó đến từ lòng YÊU NƯỚC mà CSVN đã lại cố tình dùng bạo lực để đàn áp lòng yêu nước ấy. Dân Tộc mang trong lòng một sự oan ức chung: YÊU NƯỚC mà bị bịt miệng, cản ngăn, đánh đập. Nếu Hòang Sa, Trường Sa ở ngòai biển khơi, thì vụ Bauxite Tây Nguyên gần kề, cụ thể. Cái nỗi uất ức càng tăn cao khi mọi giới nhìn thấy hình ảnh công nhân Tầu phù ngồi nhan nhản trên chính lãnh thổ của mình, cướp việc làm của mình và sẽ là họan nạn xâm lăng sau này. Cao Trào Quần Chúng đứng lên mở rộng ra đến các giới: => Giới Trí thức của đảng => Giới Quân nhân thuộc đảng => Giới Báo chí của đảng => Giới Sinh viên mà tỉ dụ là phản ứng của Sinh viên Trường Đại học Sư phạm.
Giữa Cao Trào Quần Chúng uất ức chung ấy, Hòa Thượng THÍCH QUẢNG ĐỘ, dưới danh nghĩa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đã công khai lên tiếng phản đối và kêu gọi hành động BẤT TUÂN DÂN SỰ.
Giải quyết Dứt khóat với Cơ Chế tội phạm gây bất công uất ức
CAO TRÀO QUẦN CHÚNG tự dộng đứng lên và lớn mạnh, không phải là do sự xách động từ một Tổ chức đấu tranh Chính trị bên ngòai, mà chính là Quần Chúng tự lấy quyết định khi phải chạm trán với bạo lực Nhà Nước đàn áp. Có thể nói chính bạo lực Nhà Nước đã nuôi cho lớn mạnh Cao Trào Quần Chúng này. Một đặc điểm nữa là Cao Trào hết tin vào hứa hẹn lẻo mép của Nhà Nước. Nhà Nuớc CSVN không thể dùng mưu lược thương lượng lẻo mép để trấn an Cao Trào nữa bởi vì không phải là quá tam ba bận, mà đã quá nhiều chục lần rồi, nên Cao Trào mất hết tin tưởng vào Cơ Chế hiện hành.
Đường đi lên của Cao Trào Quần Chúng là phải HỦY BỎ DỨT ĐIỂM cái Cơ Chế hiện hành đã đánh lừa Dân chúng về những tội sau đây:
=> Tội phạm bất công: Dưới chiêu bài Quy Họach, CSVN đã cướp Nhà Đất của Dân đem bán, làm giầu cho túi riêng.
=> Tội phạm bán nước: Bán Đất và Biển cho Trung quốc để giữ quyền lực, tiếp tục tham nhũng nữa.
=> Tội phạm tham nhũng: Cơ Chế nắm trọng quyền Chính trị độc tài và quyền Kinh tế để làm tham nhũng, vơ vét của cải. Kinh tế không thể nào phát triển được khiến dân chúng phải cùng cực.
Việc DỨT BỎ CƠ CHẾ là đích điểm đi tới cùng của CAO TRÀO QUẦN CHÚNG.
Những kẻ tay sai thời cơ
CSVN, vì quá khứ đã lẻo mép đánh lừa Dân quá nhiêu, nên không thể trực tiếp lẻo mép tiếp tục với Dân nữa. Không trực tiếp vì Dân đã hết tin, nhưng CSVN có thể xử dụng những kẻ tay sai chính trong hàng ngũ của Dân chúng để tìm cách hạ sức mạnh đi tới của Cao Trào, hay đội lốt cùng Dân đấu tranh để chấp nhận những giải pháp giai đọan. Giải pháp giai đọan để CSVN có thời giờ cứu vớt những điều sau đây:
=> CSVN có thời giờ tản đi những tài sản ăn cướp được. Việc này họ đã đề phòng và tản tài sản đi nhiều rồi.
=> CSVN cùng với đám tay sai đội lốt lãnh đạo Cao Trào để chia quyền lực để Cao Trào tạm yên mà phản công lại.
Những tay sai thời cơ này có nhiều. Chúng từ chính những Tôn Giáo mà chúng tôi gọi là Ngợm Giáo Gian quốc doanh với câu định nghĩa: “Người không phải là người để người ta kính, Vật không phải là vật để người ta ăn thịt, Đó là NGỢM. Chúng đã hòanh hành và tạo chia rẽ trong chính mỗi Tôn Giáo.
Chúng cũng đến từ một số Nhóm Chính trị. Những tên Chính trị thời cơ này, theo lệnh của CSVN, có thể đội lốt đấu tranh, nhưng luôn luôn đưa ra những giải pháp nữa vời. Chúng hô hào bất bạo động như mang nhân nghĩa. Nhưng đó chỉ là kế làm giảm cường độ tự phát đấu tranh của Cao Trào đang lên như chúng tôi đã trình bầy ở trên đây. Chúng kêu gọi Hòa Giải Hòa Hợp để nhằm chia chút quyền với CSVN trong lúc Cơ Chế hiện hành đang ở thế bí trước Cao Trào Quấn Chúng. Những tên bồi Cộng sản này giúp cho CSVN thi hành một bước lùi hai bước tiến cố hữu.
Vấn đề Lãnh Thổ, Lãnh Hải, Bauxite Tây Nguyên, không thể để giải quyết giai đọan, thương lượng. Không thể để người Tầu vào đặt xong cơ sở tại Tây Nguyên rồi mới giải quyết. Lúc ấy, Hải quân Trung Cộng ở Biển Động sẽ can thiệp bênh đỡ người của họ và quyền lợi khai thác tại Tây Nguyên.
Những kẻ tay sai thời cơ này, dù từ Tôn Giáo hay từ một số Nhóm Chính trị, đều đích thực là những kẻ tòng phạm với tội ác của Cơ Chế hiện hành. Phải DỨT KHÓAT DẸP BỎ CƠ CHẾ CSVN THAM NHŨNG VÀ BÁN NƯỚC, chứ không có Hòa Giải Hòa Hợp để CSVN vẫn ngồi đó tàn phá Quê Hương nữa.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN :
Bài 10:
GIẶC ĐẾN NHÀ... : AI CŨNG PHẢI ĐÁNH VÀ ĐÁNH KIỂU NÀO CŨNG ĐƯỢC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://VietTUDAN.net 09.04.2009
Ngày 31.03.2009, Hòa Thượng THÍCH QUẢNG ĐỘ, nhân danh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, quyết định kêu gọi đấu tranh cứu nguy Đất Nước, thì ngày 02.04.2009 (tránh ngày 01.04), chúng tôi đã lên tiếng ngay ca ngợi quyết định cấp bách này. Không những ca ngợi, mà chúng tôi, dù chỉ là một Giáo dân Công Giáo bé nhỏ, cũng lấy can đảm kêu gọi lên Giáo quyền Công Giáo VN hãy HIỆP THÔNG TÔN GIÁO CỨU NGUY ĐẤT NƯỚC. Đất Nước LÂM NGUY, việc tham dự PHONG TRÀO cứu nguy Đất Nước là BỔN PHẬN và TRÁCH NHIỆM của mọi người VIỆT, không phân biệt Nam, Nữ, Già, Trẻ, không nại ra Sắc Tộc Kinh Thượng mà trốn tránh, không lấy cớ khác biệt Tôn Giáo mà trùm chăn yên thân, không dương màu sắc Chính trị phe nhóm mà chuồn lùi.
Hãy nhìn cái MỤC ĐÍCH lời kêu gọi của Hòa Thượng THÍCH QUẢNG ĐỘ mà mọi người Việt cùng nhau cứu nguy Đất Nước. Cái MỤC ĐÍCH ấy không phải của riêng Hòa Thượng THÍCH QUẢNG ĐỘ, mà là của mọi người Việt. Mục đích là duy nhất, thì không ai có thể lấy những lý do thứ yếu mà làm phân tán PHONG TRÀO, trừ những kẻ phản quốc như CSVN hiện nay.
Từ ngày LỜI KÊU GỌI của Hòa Thượng được phát động, chúng tôi thấy trên các Diễn Đàn có những lời bàn chi tiết thứ yếu có thể làm phương hại đến PHONG TRÀO CỨU NGUY ĐẤT NƯỚC. Nếu những lời bàn ấy được tung ra bởi những kẻ phản quốc CSVN, thì chúng tôi không nói đến làm gì. Nhưng những lời bàn này đến từ những người Việt yêu Đất Nước VIỆT NAM của mình, vẫn mang lòng bảo vệ vẹn tòan Lãnh Thổ và Lãnh Hải của Tiền Nhân. Những lời bàn thứ yếu ấy như là: bạo động hay bất bạo động, ai có quyền ưu tiên hay không có quyền cứu nguy Đất Nước... Những lời bàn thứ yếu này có thể làm lỏng lẻo ra quyết tâm của mọi người là nhìn MỤC ĐÍCH CỨU NGUY ĐẤT NƯỚC mà tiến tới.
Chúng tôi xin nói tới ba khía cạnh sau đây như đầu bài Quan Điểm này nêu ra: => Giặc đến nhà... => Ai cũng phải đánh => Đánh kiểu nào cũng được
Giặc đến nhà...
Nhắc đến “Giặc đến nhà...”, không người Việt nào không đọc tiếp khẩu hiệu “Đàn bà phải đánh”. Khẩu hiệu ấy đã được in sâu trong tiềm thức của chúng ta suốt dòng Lịch sử Tổ Tiên dựng nước và cứu nước. Giặc đã đến nhà thực sự rồi. Chúng đang ngồi từng đàn trên Tây Nguyên, xi xô những tiếng Nị, Ngộ... Đây là cấp bách, phải đánh liền và mọi người phải nhào vô đánh, chứ không được thong thả biện luận dài dòng: anh là Trí thức, tôi là Nông dân, chị là Đàn bà, tôi là Đàn Oâng, cậu là con nít, tôi là người lớn, ông là Phật giáo, tôi là Công giáo... Cãi cọ phân biệt mà không đánh liền, thì giặc cứ tiếp tục đến nhà mình đông thêm. Giặc sẽ vui mừng thấy mình cãi cọ những điều không đâu mà không đánh, để chúng kéo đến nhà mình đông thêm nữa. Trước hết đánh đã, đuổi giặc khỏi nhà rồi, sau đó muốn cãi cọ nhau thì cãi. Chúng ta ở trong tình trạng cấp bách sống còn, phải tiền trảm hậu thuyết bởi vì nếu cứ ngồi mà thuyết trước, thì giặc trảm mình. Mình chết rồi, thì hết lời thuyết lý.
Ai cũng phải đánh
Mọi người Việt mang họ ĐINH, NGÔ, LÝ, TRẦN, LÊ, NGUYỄN, PHẠM, PHAN... đều phải đứng lên giữ Nhà VIỆT NAM. Giặc là những người mang tên họ Tầu Vị Yểu, Tam Xại, Xì Dầu, Sâm Bửu Lượng... được đám phản quốc như Mạnh Lénine, Triết Staline, Dũng Khrouchev... rước về đặt trong nhà chúng ta.
Đánh giặc, giữ nhà Việt Nam là BỔN PHẬN và TRÁCH NHIỆM của mọi người Việt. Mỗi người phải tự thấy cái Bổn Phận bảo vệ Nhà Tổ Tiên và Bổn Phận dành lại Lãnh Thổ và Lãnh Hải cho Con Cháu Việt sau này. Không những tự cảm thấy Bổn Phận, mà còn mang Trách Nhiệm đối với Oâng Cha và đối với Nòi Giống Việt sau này sẽ trừng phạt chúng ta.
Nói rằng Hòa Thượng THÍCH QUẢNG ĐỘ, Hồng Y PHẠM MINH MẪN không được đánh vì một lý do nào đó của quá khứ, đó là nói sai. Hai Vị này hòan tòan có Bổn Phận và Trách Nhiệm đánh giặc để cứu nguy Đất Nước vì hai Vị đồng mang dòng máu Lạc Hồng do một Mẹ Aâu Cơ sinh ra. Tôi là người Công giáo, tin vào Thiên Chúa và ngưỡng vọng Nước Trời, nhưng tôi là người được sinh ra và được dưỡng dục cụ thể ở trần gian, tại Đất Nước Việt Nam, thì tôi có Bổn Phận và Trách Nhiệm đối với Nhà Việt Nam ở trần thế này.
Đánh kiểu nào cũng được
Giặc đã vào nhà, ngồi chồm hổm ở Tây Nguyên rồi, thế mà có người còn muốn cãi cọ về phương pháp đánh giặc như bạo động hay bất bạo động, ngồi tại gia phản đối hay xuống đường phố lên tiếng.
Nông dân, Công nhân mang Dạ Dầy đói, họ đã đứng lên làm Bạo Động. Không thể đến khuyên họ hãy học theo Gandhi bất bạo động. Bụng họ đói mà thấy CSVN đến chộp lấy miếng cơm của họ, thì họ bạo động dành lấy cơm ăn trước đã. Đói quá, họ không có giờ nghiên cứu Gandhi bất bạo động ra sao. Nếu nhìn kỹ, thì bất bạo động của Gandhi mà không có cái khả thể bạo động của khối dân Aán độ đứng đàng sau, thì người Anh không sợ. Người Anh trả lại Độc Lập vì thấy cái Bạo Động khả thể (Force potentielle) của Dân Aán độ. Họ sợ cảnh tức nước vỡ bờ. Gandhi ngồi bình lặng như mặt nước của ly nước đầy gần tràn ra. Nếu người Anh không nhường, mà thêm vào mặt nước ấy một giọt thôi, thì nuớc sẽ tràn ra chảy lênh láng bạo động. Họ không ngại mặt nước bình lặng, nhưng sợ hãi nước có thể tràn ra.
Giặc ngọai xâm đã đến nhà Việt Nam rồi, nếu chỉ ngồi bất bạo động, dâng hết kiến nghị này đến tuyên ngôn kia rất trí thức, nhưng nếu giặc không thấy cái sức mạnh bạo động có thể tràn ra, thì giặc không sợ hãi và làm tới.
Giặc đến nhà ăn cướp rồi, đó là việc cấp bách, phải nhào vô đánh và đánh bằng bất cứ phương tiện nào. Đánh giặc lúc cấp bách, thì mọi cách đánh đều chấp nhận (Tous les moyens sont bons en cas d’urgence). Anh nông dân, sẵn cái liềm, thì dùng liềm mà cứa cổ giặc. Bác công nhân cầm sẵn cái búa, thì nhào vô dùng búa đập bể đầu giặc. Bà cụ già có sẵn cái váy đụp, thì lấy váy trùm đầu giặc cho ngột ngạt để đứa cháu nhỏ đang cầm sẵn hòn đá đập vào trán giặc. Đánh kiểu nào cũng được, miễn là đuổi giặc khỏi nhà Việt Nam.
Xin đừng biện luận quá dài dòng trong lúc cấp bách. Hòa Thượng THÍCH QUẢNG ĐỘ hô hào BẤT TUÂN DÂN SỰ tại gia, đó là một phương pháp chống giặc, cứ để ngài kêu gọi. Tổng Giám Mục NGÔ QUANG KIỆT kêu gọi Giáo dân Công giáo đến Nhà Thờ cầu nguyện, thì đó là phương pháp của ngài, cứ để ngài làm. Đảng Dân Chủ Nhân Dân rải truyền đơn để gây động lòng yêu nước chống giặc, đó là một phương pháp của họ, cứ khuyến khích họ làm. Anh em Sinh viên lấy can đảm xuống đường biểu tình, thì đó là phương pháp của các anh em, cứ để họ làm.
Tóm lại Hòa Thượng THÍCH QUẢNG ĐỘ kêu gọi đấu tranh với MỤC ĐÍCH đuổi xâm lăng. MỤC ĐÍCH ấy là DUY NHẤT cho mọi người mang dòng máu Mẹ Aâu Cơ. Mỗi người tùy nghi phương tiện riêng của mình mà đánh giặc đạt MỤC ĐÍCH chung.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN : Bài 09:
DÂN NGHÈO BẠO ĐỘNG DÀNH LẠI QUYỀN SỐNG, TÔN GIÁO NHẬP CUỘC CỨU NGUY ĐẤT NƯỚC
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: http://VietTUDAN.net 02.04.2009
Đứng trước nguy cơ mất Biển và Đất mà Tổ Tiên đã hy sinh máu xương để lại cho chúng ta, thì không người Việt Nam nào có quyền nại ra những lý do Tôn giáo, Sắc tộc Thượng Kinh, quan điểm Chính trị… mà không cùng nhau một lòng bảo vệ vẹn tòan cho Lãnh Hải và Lãnh Thổ. Giặc đến nhà, đàn bà, trẻ con… cũng phải đánh. Lịch sử Việt Nam đã cho thấy sức quật khởi chống Bắc phương xâm lăng như thế nào, từ TRƯNG, TRIỆU nữ giới đến các Nam Anh Hùng trải qua các Triều Đại. Những nhà Sư tu trì đơn độc cũng đã tạm cởi áo Cà Sa, mặc Chiến Bào, bỏ Chùa tĩnh mịch, ra trận địa chống xâm lăng.
Giặc đã đến nhà rồi: => Trung quốc đã ngang nhiên chiếm Hòang Sa và Trường Sa, đặt phòng vệ quân sự tại những nơi này, đặt cơ quan hành chánh để quản trị. Vùng Biển Đông chạy dài Lãnh thổ Việt Nam bị hạn hẹp lại. => Trung quốc đã cho dân của họ vào Tây Nguyên dưới chiêu bài khai thác bô-xít. Nhiều chuyên gia đã phân tích những cái hại lâu dài và tàn phá của việc khai thác này về phương diện kinh tế, môi trường. Biển mang bão tố, ngập lụt thường xuyên vào các vùng duyên hải, bây giờ từ đất liền Tây Nguyên, những tai biến từ đồi núi tràn xuống. Chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là Trung quốc cho dân của họ vào lòng đất Dân tộc để chiếm cứ, sẽ lập những thành phố Trung quốc khắp vùng Tây Nguyên, sẽ mở những Chợ Lớn 1, Chợ Lớn 2, Chợ Lớn 3, Chợ Lớn 4… dọc theo chiều dài của vùng đất mà trước đây được gọi là Hòang Triều Cương Thổ. Khi họ đã mọc rễ ở vùng này rồi, thì nước mẹ Trung quốc của họ sẽ luôn luôn đe dọa Việt Nam và mang quân đội vào vùng này với cái cớ là để bảo vệ anh ninh cho dân của họ và cho quyền lợi Kinh tế, Thương mại của họ đã được xây dựng tại vùng Tây Nguyên. Chúng tôi ca ngợi sự quyết định khởi công CHỐNG NGỌAI XÂM, BẢO TÒAN LÃNH HẢI VÀ LÃNH THỔ mà GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT khởi xướng ngày 29.03.2009, kêu gọi Dân Chúng thực hiện MỘT THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA. Đây không phải là hành động Chính Trị, mà là một sự biểu lộ lòng YÊU NƯỚC, một thái độ cảnh cáo những ai rước voi về day mồ, một hành động BẢO VỆ VẸN TÒAN LÃNH THỔ VÀ LÃNH HẢI. Bất cứ Tôn Giáo nào, trước việc xâm lăng thực sự của ngọai xâm, nhất là Trung quốc truyền thống xâm chiếm Việt Nam, phải có BỔN PHẬN VÀ TRÁCH NHIỆM đứng lên, chung lòng với TÒAN DÂN bảo vệ Quê Hương. Là người Công Giáo, chúng tôi muốn lên tiếng kêu gọi GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM hãy cùng HIỆP THÔNG với các Tôn Giáo khác, cụ thể là với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, trong việc bảo vệ vẹn tòan Lãnh Hải và Lãnh Thổ. Lời kêu gọi Dân chúng của Sa Môn THÍCH QUẢNG ĐỘ, nhân danh GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT, phải được phổ biến sâu rộng trong đại đa số dân chúng, trong cũng như ngòai nước. Dưới chế độ kềm kẹp Thông tin của Nhà Nước, chúng tôi e ngại rằng Lời kêu gọi này sẽ bị ngăn cản phổ biến. Tuy nhiên qua phong trào Hiệp Thông với Thái Hà vừa rồi, chúng tôi biết rằng việc phổ biến Thông tin nội bộ của người Công Giáo rất nhanh chóng. Giáo Hội Công Giáo có Giáo dân đến Nhà Thờ mỗi tuần. Đó là địa điểm Thông tin mà Nhà Nước không tài nào kềm kẹp được. Chúng tôi kêu gọi sự HIỆP THÔNG phổ biến Lời Kêu Gọi cứu nguy Đất Nước mà Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vừa khởi xướng. Các Giáo Hội TIN LÀNH VIỆT NAM cũng có phương tiện Thông tin như vậy vì Tín đồ đến Nhóm Cầu Nguyện mỗi tuần. Các Giáo Hội TIN LÀNH phát triển rất mạnh tại vùng Tây Nguyên, vì vậy việc HIỆP THÔNG càng là diều phải quan tâm đặc biệt.
Giáo hội PHẬT GIÁO VN THỐNG NHẤT đã khởi xướng Phong trào cứu nguy Đất Nước. Việc HIỆP THÔNG đẩy mạnh Phong trào từ CÔNG GIÁO, TIN LÀNH và các Tôn Giáo khác là một BỔN PHẬN VÀ TRÁCH NHIỆM Lịch sử vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN : Bài 08:
ĐỐI VỚI TRÂU BÒ, PHẢI LẤY ROI MÀ QUẤT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: Web: http://VietTUDAN.net/ Geneva, 26.03.2009
Dân Tây Tạng ít người, các Nhà Sư Tây Tạng hiền hòa, đã chịu sự đàn áp cay nghiệt của người Hán trong bao chục năm trường. Họ đã bất bạo động và kiên nhẫn cầu mong đối thọai trong tình người để tìm giải quyết HỮU LÝ cho tình trạng bị xâm chiếm, thống trị Kinh tế và Hán hóa người của họ. Biết mình ít người, vốn tính hiền hòa, nhưng ngày nay họ buộc lòng phải đứng lên BẠO ĐỘNG vì tình trạng bi đát diệt chủng của họ và vì lòng kiên nhẫn bất bạo động có hạn trước những kẻ mang tai trâu, lì lợm, bất chấp ngay sự HỮU LÝ của lương tri Thế giới. Đối với một con trâu lì lợm như vậy, buộc lòng phải cầm roi mà quất.
Cộng sản Việt Nam đã lì lợm, mặt dầy mày dạn, không còn lương tri, tàn nhẫn đàn áp chính dân tộc của mình trong suốt bao năm trường. Dân chúng đã kiên nhẫn, đã kêu than, đã cắt nghĩa những điều HỮU LÝ, nhưng chúng vẫn mang tai trâu không nghe. Dân chúng quá nghèo đói do việc cướp bóc của chúng. Quyết định cuối cùng là phải dùng BẠO ĐỘNG, sức mạnh, cầm roi mà quất cho chúng, thì mới có giải quyết HỮU LÝ cho Quê Hương.
Sự thất bại của Đối thọai với con Trâu
Chúng tôi không cần phải biện luận dài cho mất giờ đối với một số Nhóm Chính trị, một số Lãnh đạo Tôn giáo vẫn lải nhải hết Kiến Nghị này đến Tuyên Ngôn kia, trích dẫn hết Công ước này đến Khế ước Quốc tế kia, nào là về Đòan Kết Dân Tộc, Đối Thọai Nòi giống, Hòa Giải Hòa Hợp vân vân. Bao chục năm trường rồi, một số Nhóm Chính trị hay Lãnh đạo Tôn Giáo ấy không thấy mình bị thất bại hay sao vì CSVN là Trâu Bò có nghe những tiếng nói bất bạo động trí thức của các Vị đâu.
Chỉ còn một cách là hãy hợp với Dân chúng nghèo khổ làm BẠO ĐỘNG, tổ chức lực lượng BẠO ĐỘNG dùm cho Dân nghèo, cầm roi mà quất cho mấy con Trâu CSVN.
Nếu các vị không hợp tác tổ chức BẠO ĐỘNG cùng với Dân nghèo, thì xin các vị câm họng lại, đừng nay ra Kiến Nghị, mai phóng lên Tuyên Ngôn về Đối Thọai, Hòa Hợp Hòa Giải. Nếu các vị tiếp tục, thì đó việc tòng phạm với CSVN vì việc làm của các vị làm người nghèo có thể mang hy vọng hão mà quên đi rằng phải BẠO ĐỘNG “Đối THỌI” vào đám trâu bò CSVN mới được.
Lật đổ độc tài, phải có Sức mạnh BẠO ĐỘNG đập chúng.
Dân Irak cảm ơn Tổng Thống BUSH. Nếu hiện nay dân chúng Mỹ ta thán TT.BUSH và Obama, dù không còn tranh cử nữa, vẫn rêu rao tố cáo TT.BUSH, thì Dân chúng Irak phải cảm ơn TT.BUSH đã lật đổ cho họ một người độc tài khát máu. Không có quyết định cứng rắn dùng võ lực của TT.BUSH (Bạo Động), thì Saddam Hussein độc tài vẫn ngồi đó. Oâng Joseph KAMOO, người gốc Irak lưu đầy tại Thụy sĩ, là Phó Giám đốc trong Công ty của chúng tôi. Oâng đã vô cùng cảm động và biết ơn TT.BUSH đã dùng sức mạnh lật đổ Saddam Hussein cho dân chúng Irak được nhờ.
Nếu hồi trước đây, TT.BUSH quyết định nện cho nhà độc tài Bắc Hàn, thì Dân chúng Bắc Hàn phải nhớ ơn và đất nước Hàn quốc thống nhất.
Tôi thường mua báo hàng ngày tại một quán Báo. Oâng chủ của quán Báo này là ngưới Iran, bị lưu đầy từ thời Hòang đế Iran bị lật đổ. Oâng rất chê trách Obama đã đọc một bài như nhún nhường đối thọai cùng với quyền lực độc tài hiện nay tại Iran. Oâng nói rằng Dân chúng Iran 80% tin tưởng ở sức mạnh quân sự Mỹ và ao ước Mỹ áp lực sức mạnh để lật đổ chế độc độc tài hiện nay. Nhưng qua bài nói của Obama, dân chúng Iran thất vọng. Oâng tự hỏi phải chăng Obama tòng phạm với quyền lực độc tài để tiếp tục đè nén dân chúng Iran nữa hay sao.
Dưới thời TT.BUSH, mặc dù không ai nghĩ đến việc Mỹ tái can thiệp quân sự vào Việt Nam, nhưng chúng ta có chút áp lực Mỹ để nâng đỡ những cuộc đấu tranh. Bây giờ, với Obama, chúng ta hết hy vọng vào sự áp lực từ sức mạnh Mỹ. Chúng ta chỉ tin vào sức mạnh của chính mình. Dân chúng nghèo bắt đầu BẠO ĐỘNG. Phải hòan toàn hợp tác với sức mạnh BẠO ĐỘNG của Dân chúng nghèo đói này để đập vào đầu đám trâu bò CSVN. Đó là con đường duy nhất lật đổ ĐỘC TÀI.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN : Bài 07:
BẠO ĐỘNG CỦA DÂN NGHÈO LÀ MỘT BỘT PHÁT Ở ĐƯỜNG CÙNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế UNICODE: Web: http://VietTUDAN.net/ Geneva, 19.03.2009
Với bài QUAN ĐIỂM tuần vừa rồi, 12.03.2009, chúng tôi kêu gọi việc cùng với Dân Nghèo tổ chức BẠO ĐỘNG. Kêu gọi như vậy, chúng tôi nhằm vào tầng lớp Trí thức hãy dấn thân đấu tranh cụ thể, chứ không phải chỉ đánh võ miệng với những Ý niệm Dân chủ, Nhân quyền trừu tượng.
Kêu gọi như vậy, chúng tôi nhận được lời công kích của một độc giả (trí thức ?) rằng chúng tôi đã xúi dại Dân Nghèo. Bài QUAN ĐIỂM tuần này xin đề cập đến những khía cạnh sau đây để gián tiếp trả lời cho độc giả trí thức (?) ấy:
=> Chính Dân Nghèo tự quyết định làm BẠO ĐỘNG => BẠO ĐỘNG phải xẩy ra như một ĐỊNH MỆNH chấm dứt CƠ CHẾ bóc lột => Tiếng Dân Nghèo kêu gọi hay mạ lỵ Trí thức chuồn lùi
Chính Dân Nghèo tự quyết định làm BẠO ĐỘNG
Dân Oan nghèo khổ bị CƠ CHẾ tham nhũng tước đọat đất đai đã bao chục năm nay. Mất đất đai như vậy, một số Dân Oan đã làm đơn khiếu nại với tính cách cá nhân. Nhưng CƠ CHẾ đã bao che cho tham nhũng bất công, không giải quyết gì cho họ. Cùng hòan cảnh bị tước đọat đất đai bất công, những cá nhân họp nhau thành Phong trào kéo về thành thị, về Sài Gòn, về Hà Nội từ đầu năm 2007. Họ cùng nhau nằm la liệt bên lề đường hòan tòan với thái độ bất bạo động. CƠ CHẾ tham nhũng CSVN vẫn không giải quyết gì, mà còn dùng võ lực Công an đánh đập Phong trào Dân Nghèo này, hốt họ lên xe chở về địa phương. Vẫn không có giải quyết vì CSVN che chở cho nhau và giữ cho mình những gì đã tước đọat được.
Tình trạng lạm phát xẩy ra. Vật giá tăng vọt. Dân Nghèo trở thành khổ cực ngay về miếng ăn do vật giá tăng vọt.
Tiếp liền giai đọan lạm phát là cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế ở tầm vóc Thế giới. Kinh tế Việt Nam tụt dốc. Dân thất nghiệp !
Với hòan cảnh càng ngày càng khổ cực như vậy, Dân Nghèo không thể ngồi bất bạo động để kẻ cướp tiếp tục làm bất công và dùng bạo lực đàn áp họ nữa. Họ ở đưởng cùng và tự động đứng lên làm BẠO ĐỘNG đòi lại quyền sống cho từng cá nhân. Từ mấy tháng nay, Phong trào Dân Nghèo BẠO ĐỘNG đã tự động xẩy ra tại nhiều nơi, từ Bắc, Trung tới Nam. Điều quan trọng là Dân Nghèo bắt đầu ý thức rằng họ có sức mạnh có thể đối chọi với bất cứ quyền lực bất công nào.
BẠO ĐỘNG phải xẩy ra như một ĐỊNH MỆNH chấm dứt CƠ CHẾ bóc lột
BẠO ĐỘNG của Dân Nghèo xẩy ra như một ĐỊNH MỆNH Lịch sử phát sinh từ một CƠ CHẾ bóc lột quyền sống người dân đến tận DẠ DẦY.
Thực vậy, CƠ CHẾ Vua Chúa sống trên xương máu của Dân chúng Pháp đã làm phát sinh BẠO ĐỘNG của Dân Nghèo chủ lực cuộc Cách Mạng Pháp 1789. Cái sức mạnh làm đổ Vua Chúa thống trị không phải từ những bài diễn thuyết của tầng lớp Trí thức như DANTON chẳng hạn. Cái sức mạnh lật đổ vua chúa đã do chính vua chúa làm phát sinh và tích lũy trong lòng Dân Nghèo. Một tiếng thanh la của một cô gái đã làm sức mạnh tích lũy nơi Dân Nghèo bùng lên quét sạch vua chúa Pháp năm 1789.
Karl MARX cũng đã báo trước cái định mệnh sức mạnh Vô sản lật đổ CƠ CHẾ Nga Hòang năm 1917.
Nhưng rồi sau 1917, CƠ CHẾ Cộng sản tiếp tục khai thác giới nghèo để phục vụ cho Ý thức hệ Chính trị độc tài của mình. Dạ Dầy của dân chúng Nga và các nước Đông Aâu rỗng tuếch. Cách đây 20 năm, cái sức mạnh dân nghèo đã vứt bỏ được CƠ CHẾ Cộng s3n Nga và Đông Aâu.
Dân chúng Việt Nam nghèo khổ và đang cùng cực với cuộc Khủng hỏang Kinh tế hiện nay. Vì sự cố chấp của CƠ CHẾ tham nhũng CSVN hiện nay, Dân Nghèo không thể ngồi bất bạo động được nữa. Họ đã quyết định tỏ sức mạnh của mình ra bằng BẠO ĐỘNG. Đây là một ĐỊNH MỆNH phải đến để quét sạch CƠ CHẾ tham nhũng CSVN.
Tiếng Dân Nghèo kêu gọi hay mạ lỵ Trí thức chuồn lùi
Tuần vừa rồi, chúng tôi viết lên tiếng dân nghèo kêu gọi qua những BẠO ĐỘNG từ mấy tháng nay. Không phải là chúng tôi viết kêu gọi Dân Nghèo làm BẠO ĐỘNG, mà chính BẠO ĐỘNG của Dân Nghèo kêu gọi Trí thức, Lãnh đạo Tôn Giáo hãy giúp họ Tổ chức, Phối hợp sức mạnh BẠO ĐỘNG chính đáng của họ. Sức mạnh lật đổ CƠ CHẾ CSVN hiện hành nằm ở Dân Nghèo, chứ không nằm ở Trí thức, Lãnh đạo Tôn giáo. Trí thức, Lãnh đạo Tôn giáo có khả năng Tổ chức, Phối hợp sức mạnh BẠO ĐỘNG của Dân Nghèo cho có quy củ. Họ không cần Trí thức cầm gậy múa võ. Họ cũng không cần Giám mục sắn tay áo lên ra đường đấm đá. Người Nông dân bị mất đất có bàn tay gân guốc đủ để bóp cổ Nông Đức Mạnh lè lưỡi ra và nhả miếng ăn đang ngậm đầy trong mồm hắn. Dân Nghèo có đầy đủ sức mạnh và họ chỉ cần Trí thức, Lãnh đạo Tôn giáo nhập cuộc giúp họ Tổ chức, Phối hợp sức mạnh BẠO ĐỘNG chính đang của họ. Chúng tôi gọi là bạo động CHÍNH ĐÁNG bởi vì chính CƠ CHẾ tham nhũng hiện hành đã đẩy Dân Nghèo đến đường cùng buộc lòng phải BẠO ĐỘNG để cứu quyền sống cá nhân và phát triển Kinh tế, Xã hội đang tụt dốc, suy thóai.
Từ đầu năm 2007, khi Phong trào Dân Oan kéo về Sài gòn, Hà nội, chúng tôi cũng đã kêu gọi Trí thức, những Nhà đấu tranh Dân chủ hãy nhập cuộc cùng với Dân Oan, nhưng hầu hết những Trí thức Dân chủ lánh xa. Thậm chí có những nhà Dân chủ , nhất là từ nước ngòai còn muốn mượn đầu Dân Oan nấu cháo, nghĩa là họ tuyên bố Dân Oan về Sài gòn, Hà nội là thuộc Phong trào Dân chủ mà họ đang kêu gọi.
Lần này, Dân Nghèo làm BẠO ĐỘNG vì tha thiết đến quyền DẠ DẦY cụ thể, chứ không phải vì Ý niệm trừu tượng Dân chủ, Nhân quyền. Dân Nghèo kêu gọi sự hợp tác của Trí thức, Lãnh đạo Tôn giáo trong việc Tổ chức, Phối hợp.
Chúng tôi hiểu rằng trong lần Dân Oan kêu gọi trước đây, một số lớn Trí thức Chính trị, những nhà Dân chủ, nhất là từ Hải ngọai, đang mong chờ ảnh hưởng từ TT.BUSH có thể giúp mình nhẩy bàn độc Chính trị dưới chiêu bài Đối thọai bất bạo động, Hòa Hợp Hòa Giải.
Lần này Dân Nghèo làm BẠO ĐỘNG và kêu gọi nữa. Chiêu bài Đối thọai bất bạo động, Hòa Giải Hòa Hợp đương nhiên trở thành tòng phạm với CSVN và là kẻ thù của khối Dân Nghèo đang BẠO ĐỘNG nổi dậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN :
Bài 06:
HÃY CÙNG DÂN NGHÈO TỔ CHỨC BẠO ĐỘNG DÀNH LẠI DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 12.03.2009
CƠ CHẾ CSVN hiện nay là một cơ chế ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Cái cơ chế ấy tạo hố sâu giầu nghèo và làm đại đa số dân chúng cùng cực trong tình trạng Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới.
Dân chúng nghèo đã bắt đầu làm BẠO ĐỘNG và dành lấy quyền sinh sống cá nhân của mình, bước đầu căn bản của Tiến trình DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ. Con đường đấu tranh của Dân chúng là đúng bởi vì nó cụ thể, gọn gàng và thực tế.
Trong khi ấy, tầng lớp Trí thức, Lãnh đạo Tôn giáo, trong cũng như ngòai nước còn thảo luận, tranh cãi, lợi dụng những ý niệm trừu tượng về DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN tổng quát mà đại đa số Dân chúng không hiểu rõ mục đích để làm gì, kết quả đi đến đâu. Những Trí thức, Lãnh đạo Tôn giáo này còn luôn luôn chỉ thị cho Dân chúng là phải Bất Bạo Động, nghĩa là là ngồi yên lậy van tụi côn đồ CSVN mang dùi cui, dẫn chó đến.. khủng bố đồng bào bằng võ lực.
Từ ngày Tiền Giang nổi sóng, Dân Oan kéo về Sài Gòn, chúng tôi bừng tỉnh và chân nhận rằng con đường diệt Độc tài Chính trị phải qua Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế liên hệ trực tiếp đến quyền DẠ DẦY cụ thể của người Dân. Việc đấu tranh phải cần BẠO ĐỘNG vì đây là dành lại miếng ăn đã bị kẻ cướp ngậm trong mồm rồi. Không thể ngồi yên van xin mà kẻ cướp nhả ra miếng ăn. Phải dùng bàn tay gân guốc của nông dân, bóp cổ họng chúng, thì kẻ cướp mới lè lưỡi, há họng nhả miếng ăn ra.
Chúng tôi bàn những khía cạnh dưới đây:
=> Thế nào là DÂN CHỦ => Ý niệm trừu tượng Dân chủ khó mang đến DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRỊ => Dân chủ hóa Kinh tế tự động dẫn đến DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRỊ.
Thế nào là DÂN CHỦ
Để viết thế nào là DÂN CHỦ, chúng tôi định làm theo một số những bài học lý thuyết là trước hết đi tìm xem những Triết gia như Platon, Aristote định nghĩa về Dân chủ như thế nào.
Trong lúc viết bài này, tôi đang mở nhạc Việt Nam để nghe. Tư nhiên tôi thấy rằng tại sao phải đi tìm nơi những quốc gia khác như Hy Lạp, mà khôg tìm trực tiếp Dân tộc mình từ trước đến giờ đã hiểu về DÂN CHỦ như thế nào. Như vậy cũng đủ cho CSVN hiểu thế nào là Dân chủ, nhất nữa đó là từ chính Dân tộc mình. Chúng tôi đưa ra những tỉ dụ sau đây từ chính Dân tộc về Dân chủ:
1) Mã Viện dựng Cột Đồng Trụ và thề tận diệt Dân tộc Việt ít người, nếu Cây Cột ấy bị đổ. Vua Việt Nam tất nhiên biết rằng nếu ra lệnh kêu Dân kéo cây cột ấy xuống, thì Mã Viện biết và sẽ đem quân tàn sát Dân Việt. Nhà Vua thông minh và đã dành cho Dân chúng quyền quyết định hạ Cột Đồng Trụ ấy. Mỗi người dân đi qua, chỉ cần ném vào đó một viên sỏi. Đó là việc tòan Dân tham dự vào việc diệt Cột Đồng Trụ. Sức mạnh của Cá nhân chủ và Dân chủ đã đóng góp triệt hạ Cột Đồng Trụ mà Mã Viện không làm gì được. Tại sao ngày nay, đảng CSVN đã đàn áp sức mạnh Cá nhân chủ và Dân chủ của tòan Dân muốn lên tiếng nói về Hòang Sa và Trường Sa? Tại sao diệt sức mạnh quần chúng ?
2) Dân quê Việt Nam mộc mạc, trong một chế độ Quân chủ Vua Chúa, đã vẫn công khai tuyên bố: “LUẬT VUA THUA LỆ LÀNG”. Vua Chúa đâu dám nói như vậy là phản đối Quyền Lực Cai Trị, gây rối trật tự công cộng đối với Chính quyền. Ngay người Dân quê Việt Nam đã biết rằng họ có một cái quyền mà chính quyền độc tài Quân chủ Vua Chúa cũng phải tôn trọng. Đó là quyền DÂN CHỦ của Dân quê đó.
3) Không người Việt Nam nào không học bài học ngàn đời: Nhà Vua triệu tập HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG để lấy quyết định tối cao của tòan Dân trong việc chiến đấu sống chết đối với Tầu xâm lăng. Không ai có thể nói rằng đây không phải là tinh thần DÂN CHỦ mà quyền lực Vua Chúa Cai Trị và tòan thể Dân chúng đều biết rõ mà không cần phải Platon, Aristote đời xưa hay Mác-Lênin của Cộng sản định nghĩa. Cả Vua và Dân Việt Nam đã từ lâu hiểu thế nào là DÂN CHỦ và hiểu phải có sức mạnh của DÂN CHỦ thì mới quy tụ được mọi người trong những hòan cảnh sống chết quan trọng.
Ba tỉ dụ trên đây cũng đủ cho thấy rằng người Dân Việt Nam đã từ lâu biết thế nào là DÂN CHỦ. Những ai nói rằng Dân Việt Nam chưa ý thức được Dân chủ là gì, thì đó là điều ngụy biện để không cho Dân chúng quyền DÂN CHỦ mà thôi.
Thế nào là DÂN CHỦ ? Chúng tôi phân biệt tóm tắt như sau:
=> Quyền CÁ NHÂN CHỦ
Đây là cái quyền trước tiên và căn bản để có thể nói đến Nguyên tắc DÂN CHỦ. Khi đến tuổi trưởng thành, mỗi cá nhân có tòan quyền sống cuộc đời của mình, ngay cả quyền quyết định chấm dứt cuộc sống. Không Tòa án nào kết án trách nhiệm cho một người tự tử. Mỗi người có suy tư và họ trách nhiệm những suy tư của mình. Mỗi người phải nuôi sống thân xác và họ có quyền tư hữu những phương tiện riêng kiếm sống mà người khác phải tôn trọng. Họ làm chủ (CÁ NHÂN CHỦ) những suy tư và những phương tiện kiếm sống nuôi thân xác.
=> Nguyên tắc DÂN CHỦ
Nếu CÁ NHÂN CHỦ là một cái Quyền tự nhiên gắn liền với con người sống đối với những suy tư và những phương tiện làm ăn nuôi sống thân xác mình, thì DÂN CHỦ chỉ là một Nguyên tắc để giải quyết những va chạm giữa các quyền CÁ NHÂN CHỦ khi những Cá nhân quyết định chung sống trong một Tổ chức Xã hội. Khi nói DÂN CHỦ, thì điều đó có nghĩa là một tập đòan cá nhân quyết định sống chung và có một Tổ chức điều hành mà Nguyên tắc giải quyết trong điều hành là DÂN CHỦ, tôn trọng đa số những quyết định của CÁ NHÂN CHỦ.
Ý niệm trừu tượng Dân chủ khó mang đến DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRỊ
Hãy nghĩ lại Lịch sử những Tiến trình Dân chủ hóa Chính trị tại những Thuộc địa mới dành Độc Lập. Sau Thế Chiến thứ II, Phong trào dành lại Độc Lập nổi dậy thành công tại các Châu: Phi châu, Á châu, Trung Đông, Nam Mỹ.
Những Lãnh tụ dành Độc Lập phần lớn được huấn luyện và học từ Mẫu quốc. Họ là những thành phần Trí thức. Luôn luôn tại những nước mới dành lại Độc Lập, một Chính quyền Dân sự được thiết lập. Những nhà Trí thức hồi hương từ Mẫu quốc nhận lãnh những chức vụ Bộ trưởng trong Chính quyền Dân sự. Những Giáo sư Đại học cũng đã từng học học hỏi thành danh tại Mẫu quốc ở những Đại học lớn.
Họ mang về những Ý niệm trừu tượng đã học được tại những Đại học lừng danh như Sorbonne cho Phi châu và Á châu. Họ truyền giảng những Ý niệm Dân chủ cho lớp trẻ tại Đại học ở những xứ mới dành Độc Lập.
Sau Chính quyền Dân sự chất đầy những Ý niệm Dân chủ trừu tượng này, một Phong trào khác đến lật đổ Chính quyền Dân sự. Nền Chính trị quốc gia bị thay đổi: một Chính quyền Quân đội độc tài thay thế Chính quyền Dân sự gồm những Trí thức với đầy hiểu biết về những Ý niệm Dân chủ.
Lý do để Chính quyền Quân sự thay thế Chính quyền Dân sự là những cuộc nổi dậy từ giới Sinh viên Đại học đã được giảng dậy những Ý niệm Dân chủ. Thực vậy, khi mà những Chính quyền Dân sự bất lực vì thiếu phương tiện Kinh tế phù hợp, không thể thỏa mãn được những đòi hỏi Dân chủ mà giới trẻ đã được hấp thụ, thì giới trẻ đứng lên tố cáo Chính quyền Dân sự là độc tài. Từ đó Quân đội làm Đảo Chánh nắm lấy quyền.
Bài học Lịch sử về sự chuyển biến này, đó là một Tiến trình Dân chủ chỉ trong Ý niệm trừu tượng, mà không có đời sống cụ thể hỗ trợ xây dựng, thì những Ý niệm dễ bị lợi dụng cắt nghĩa làm phương tiện chống lại chính Ý niệm Dân chủ. Ý niệm trừu tượng Dân chủ có thể trở thánh con dao hai lưỡi.
Nhìn lại Phong trào đấu tranh Dân chủ trong những năm gần đây tại Việt Nam. Phong trào đã đứng lên từ lòng một chế độ độc tài. Một sự can đảm đáng kính phục. Phong trào đã được trợ lực bởi chính lòng mong ước của TT.BUSH. Nhưng kết quả rất nhỏ nhoi.
TT.BUSH đã ra đi. Với Obama ngày nay, chúng tôi nghĩ rằng Phong trào sẽ không có sự hỗ trợ tinh thần như thời TT.BUSH, nghĩa là cái Tiến trình Dân chủ hóa bắt đầu bằng Ý niệm trừu tượng trí thức sẽ khó lòng mang đến kết quả cụ thể là lọai trừ được cơ chế độc tài độc đảng CSVN.
Dân chủ hóa Kinh tế tự động dẫn đến DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRỊ.
Như chúng tôi đã cắt nghĩa về nguyên tắc DÂN CHỦ trong phần đầu, một Thể chế tôn trọng thực sự nguyên tắc Dân chủ khi mà Chính quyền thấy cái thực quyền ấy đến từ mỗi cá nhân, từ đại đa số dân chúng. Dân chủ không phải là sự nhào nặn Ý niệm trừu tượng đến từ đầu óc của những người cầm quyền. Dân chủ là một nguyên tắc giải quyết cụ thể những khúc mắc xã hội do chính người dân đòi hỏi những người cai trị phải tôn trọng.
Với sự phân biệt như trên, chúng ta thấy cái hướng đi, cái tiến trình đi đến một Nguyên tắc DÂN CHỦ mà một Tập thể, cả cá nhân thành phần và cơ quan điều hành phải tôn trọng, cần đi từ nguồn CÁ NHÂN CHỦ để tiến tới Nguyên tắc DÂN CHỦ. Nói như vậy, chúng ta thấy rõ rằng Nguyên tắc DÂN CHỦ không phải là sự ban phát từ Tổ chức điều hành xuống cho Cá nhân thành phần của Tập thể. Tỉ dụ, đảng CSVN hiện nay đang áp dụng Nguyên tắc sống chung xã hội bằng quyết định độc đóan của đảng lên Tập thể. Nguyên tắc DÂN CHỦ không phải là sự nới rộng, ban phát từ đảng CSVN xuống cho Dân, mà chính là Nguyên tắc giải quyết Xã hội mà những CÁ NHÂN CHỦ đòi hỏi đảng CSVN cai trị phải tôn trọng để điều hành công việc của Tập thể.
Những đảng phái, những Chính trị gia dễ có khuynh hướng nói rằng họ mang đến cho Dân chúng những phạm trù DÂN CHỦ như một ân huệ. Đây là mặc cảm từ thời kỳ Quân chủ độc tài mà những người làm Chính trị hiện nay coi như họ mang DÂN CHỦ đến cho dân như một cuộc giải phóng. Chính vì thế mà họ dễ dàng cấu trúc trong ý tưởng thiệt đẹp những phạm trù DÂN CHỦ xa thực tế để rồi họ phê phán rằng dân chúng chưa có ý thức hoặc họ xử dụng những phạm trù trừu tượng xa thực tế để nắm quyền lợi dụng dân chúng.
Tiến trình cụ thể đi tới DÂN CHỦ phải bắt ngườn từ CÁ NHÂN CHỦ để rút ra những Nguyên tắc giải quyết thực tiễn cuộc sống chung nhất là về quyền làm ăn sinh sống cho thân xác. Nói như vậy, chúng tôi muốn đưa đến một tiến trình đi từ những tư hữu phương tiện làm ăn và những nguyên tắc giải quyết va chạm kinh tế dựa trên quyền lợi cá nhân.
Chúng tôi muốn lấy tỉ dụ của hai Quốc gia có nền DÂN CHỦ cao vào bậc nhất trên Thế giới, đó là Hoa kỳ và Thụy sĩ. Cả hai Quốc gia này có một tiến trình xây dựng nền DÂN CHỦ khá giống nhau và mang những đặc tính sau đây:
=> Tổ chức điều hành của hai Quốc gia đặt nặng trên Phân quyền: quyền của Bang và quyền của Liên Bang. Cả hai nước theo hệ thống Liên Bang, nghĩa là quyền điều hành trực tiếp đời sống dân chúng được dào về phía các Bang. Phía Cá Nhân Chủ được các Bang chia nhau săn sóc cho dân chúng.
=> Lịch sử Nền DÂN CHỦ của hai nước được khởi công xây dựng dựa trên thực tế của cuộc sống kiếm ăn mỗi ngày của dân chúng, nghĩa là từ lãnh vực Kinh tế chứ không từ những phạm trù Dân chủ trừu tượng áp đặt lên cuộc sống cụ thể làm ăn của dân chúng. Thực vậy, Hoa kỳ được gọi là hiệp chủng quốc, nghĩa là gồm đủ mọi thứ dân tụ họp lại trên một mảnh đất mà ưu tư chính yếu là tìm sống về Kinh tế; nước Thụy sĩ từ nguyên thủy cũng có thể gọi là hiệp chủng quốc gồm những người từ mọi nơi lên vùng đồi núi tìm sống. Só dân lúc này của Thụy sĩ là 7 triệu, được phân chia ra 24 Bang để chính mỗi Bang điều hành trực tiếp Cá nhân chủ.
=> Kiến tạo nền DÂN CHỦ từ cuộc sống Kinh tế thực tiễn, chứ không từ những phạm trù Ý thức hệ trừu tượng, hai quốc gia Hoa kỳ và Thụy sĩ đạt được một nền DÂN CHỦ có thể nói là cao và vững chắc nhất Thế giới hiện nay.
Tóm lại việc xây dựng nền DÂN CHỦ tại hai nước cho chúng ta bài học: (i) khởi công xây dựng từ cuộc sống làm ăn cụ thể của Dân chúng, nghĩa là giải quyết chính yếu những vấn đề Kinh tế chung đụng; (ii) phân quyền điều hành Cá nhân chủ trực tiếp với Dân chúng.
Tiến trình Dân chủ hóa Chính trị hãy bắt đầu bằng những bước cụ thể Dân chủ hóa Kinh tế, điều mà đại đa số quần chúng quan tâm, thiết thân. Dân chủ có nghĩa là Dân làm chủ, nhưng Dân chúng tha thiết đén câu hỏi: làm Chủ, nhưng làm chủ cái gì. Cái gì đó chính là miếng đất nhỏ bé mà họ phải cong lưng cầy cấy ngô khoai kiếm sống. Nếu những nhà Dân chủ trí thức mải mê thuyết trình về quan niệm Dân chủ của Thế giới Tự do như thế nào và Ý thức hệ Dân chủ của Cộng sản ra sao, thì người nông dân nhìn cụ thể dân chủ ở việc họ có được làm chủ chính miếng đất thừa kế từ chính ông cha họ để lại hay không. Hãy giải quyết cụ thể cho họ và sau đó mới thuyết giải những quan niệm trừu tượng.
Gương xây dựng nền DÂN CHỦ tại Hoa kỳ và Thụy sĩ bắt đầu bằng giải quyết CÁ NHÂN CHỦ những phương tiện kiếm sống cụ thể mỗi ngày cho chúng ta thấy rằng phải bắt đầu việc Dân chủ hóa Kinh tế thực sự (Démocratisation Economique). Từ đó Tiến trình Dân chủ hóa Chính trị (Démocratisation Politique) đến như một Hệ luận. Hiện nay cho Việt Nam, Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế bắt đầu bằng giải quyết những vấn đề cụ thể sau đây:
=> Tôn trọng quyền TƯ HỮU các phương tiện làm ăn, mà cụ thể là quyền Tư hữu Đất đai. Nhà Nước không được quyền dưới danh nghĩa quản lý để tước đọat đất đai, nhà cửa của dân chúng.
=> Tôn trọng quyền TỰ DO làm ăn của Dân chúng. Việc tôn trọng này không cho phép Nhà Nước dùng độc tài Chính trị nắm trọn độc quyền Kinh tế
Nếu giải quyết xong những vấn đề trên đây, chúng ta đã làm công việc Dân chủ hóa Kinh tế (Démocratisation Economique) làm nền tảng tiến đến Dân chủ hóa Chính trị (Démocratisatin Politique) vậy.
Khi nói đến Dân chủ hóa Kinh tế, tức là nói đến tranh dành miếng ăn thực sự. Những nhà Trí thức, nếu coi Tiến trình Dân chủ hóa chỉ là sự đối chọi những Ý niệm trừu tượng, thì họ có thể giữ cái thế bất bạo động, xử dụng đối thọai, viết những Tuyên ngôn, Kiến nghị. Nhưng đối với dân chúng đói nghèo, Tiến trình Dân chủ hóa chính trị bắt đầu bằng Dân chủ hóa Kinh tế, thì đó là cuộc tranh dành miếng ăn đối với kẻ chủ trương cướp của, thái độ đấu tranh của dân nghèo không thể chỉ đứng ở vị trí bất bạo động, than vãn, xin xỏ, dâng kiến nghị. Thái độ đấu tranh là phải BẠO ĐỘNG khi cần.
Việc Dân Nghèo đứng lên BẠO ĐỘNG lúc này là đi đúng con đường vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN :
Bài 05:
VIỆT NAM: ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Geneva, 24.02.2009
Chúng tôi theo rõi cuộc Đại Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế bắt đầu từ năm 2007 và đang diễn ra mạnh lúc này. Có những nước mang hậu quả trầm trọng của cuộc Khủng hỏang, có những nước chịu hảnh hưởng nhẹ hơn.
Kinh tế Việt Nam tụt dốc không phải chỉ nguyên từ ảnh hưởng chung của cuộc Đại khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới, mà còn từ những lý nội tại của nước mình dưới quyền quyết định độc tài của đảng CSVN. Chủ đích của chúng tôi không phải nhìn việc tụt dốc Kinh tế như chấp nhận một sự đau thương không thể tránh từ hậu quả chung Thế giới, nhưng là tìm cách đòi hỏi những ĐIỀU KIỆN để nhằm khắc phục họan nạn để từ đó phát triển BỀN VỮNG Kinh tế của Quê Hương Việt Nam.
Nhằm chủ đích viết bài này như vậy, chúng tôi xin đề cập đến những khía cạnh sau đây:
=> Kinh tế không lấy quyền sống làm mục đích
=> Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới và hậu quả lên Kinh tế Việt Nam
=> Điều kiện tiên quyết cho việc Khôi phục và Phát triển bền vững Kinh tế Việt Nam
Kinh tế không lấy quyền sống làm mục đích
Nên nhắc lại sự thất bại của chế độ Cộng sản trong lãnh vực Kinh tế. Ngòai việc chủ trương nền Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy gồm truất hữu và bỏ tự do cá nhân làm Kinh tế khiến những tác nhân Kinh tế không còn kích thích làm việc, nền Kinh tế của Cộng sản còn coi Kinh tế là để phục vụ cho Chế độ Chính trị của mình, tức là những tác nhân Kinh tế làm việc không phải là cho quyền sống của mình, mà phục vụ cho quyền sống của một Chế độ Chính trị. Những quyết định Kinh tế là do quyền lực Chính trị định đọat.
Kinh tế Cộng sản đã thất bại tòan diện để bụng đói của người Dân đòi hỏi chấm dứt Chế độ Cộng sản tại Nga và những nước Đông Âu. Xin nhắc lại rằng chính cái quyền Dạ Dầy của người Dân của những nước này đã là động lực chính đòi buộc chấm dứt Chế độ Cộng sản, chứ không phải là những ý niệm trừu tương Dân chủ, Nhân quyền.
Tại Việt Nam, chế độ Cộng sản không ra ngòai luật chung thất bại Kinh tế tòan diện. Dân chúng nghèo đói. Một quốc gia sản xuất gạo, tôm cá sông và biển, mà Dân phải ăn bo bo. Đó là cái hậu quả của một thể chế xử dụng sức lao động kiếm cơm của người dân để phục vụ cho mục đích Chính trị của đảng CSVN. Chính chế độ đã phải kêu gào van xin Thế giới “Cứu đó, Giảm nghèo !” Những đồng bằng Việt Nam cung cấp dư thừa luau gạo vẫn còn đó. Những sông chằng chịt, biển dài 1600 cây số là nguồn dồi dào cung cấp thức ăn. Tại sao Dân nghèo đói? Đó chỉ là vì không cho Dân tự do làm Kinh tế để phục vụ cho chính cái Dạ Dầy của họ, mà là để phục vụ cho độc tài đảng trị theo ý thức hệ rỗng tuếch Mác-Lê đã bị ném vào sọt rác.
Vì tình trạng đói nghèo của Dân chúng, thất bại của Kinh tế Cộng sản, mà chế độ buộc lòng phải MỞ CỬA, ĐỔI MỚI.
Qua những lời tuyên bố của các Lãnh đạo đảng CSVN, thì việc đổi mới là chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường và thêm cái đuôi là định hướng XHCN. Trên thực tế, nền Kinh tế Việt Nam vẫn bị xử dụng vào mục đích phục vụ cho quyền lực Chính trị độc đảng CSVN và tệ hơn nữa là phục vụ cho túi tham cá nhân của tầng lớp nắm quyền Chính trị. Đảng CSVN vẫn chủ trương một CƠ CHẾ cho quyền độc tài Chính trị nắm trọn độc quyền Kinh tế. Khía cạnh Tự do và Thị trường trong cái CƠ CHẾ này là việc chuyển Kinh tế của Trung ương Tập quyền sang Kinh tế của những đảng viên và những liên hệ gia đình với đảng. Nếu nền Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy hòan tòan để phục vụ Chính trị đảng, thì nền Kinh tế mở cửa và đổi mới Tự do và Thị trường không những để phục vụ Chính trị đảng mà còn để phục vụ cá nhân những đảng viên.
Nếu phải so sánh, chúng ta thấy nền Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy còn mang tính cách nhân đạo hơn nền Kinh tế mệnh danh Tự do và Thị trường định hướng XHCN dưới CƠ CHẾ hiện hành. Thực vậy, nền Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy còn nhận trách nhiệm BAO CẤP dân chúng, nhưng nền Kinh tế mệnh danh Tự do và Thị trường dưới CƠ CHẾ hiện hành một đàng phủ nhận BAO CẤP, một đàng lợi dụng nguồn lực kinh tế quốc gia phục vụ quyền lực đảng và cho sự giầu có vơ vét cá nhân của đảng viên. Đời sống dân chúng luôn luôn bị bỏ rơi.
Trước khi xẩy ra cuộc Đại Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới, CƠ CHẾ hiện hành đã khai thác những nguồn lực kinh tế quốc gia như:
=> Cấu kết với tài phiệt nước ngòai để khai thác triệt để sức lao động của dân Việt Nam nhằm sản xuất những hàng hóa để xuất cảng. Đây không phải là việc phát triển Kinh tế mà là việc bán rẻ sức lao động Việt Nam cho tài phiệt nước ngòai.
=> Tài nguyên thiên nhiên của quốc gia bị khai thác và bán thô cho nước ngòai.
=> Bán mặt bằng cho nước ngòai, thậm chí tịch thu những đất đai nông nghiệp để nhường cho tài phiệt nước ngòai khai thác.
=> Cho những Tập đòan Kinh tế Nhà Nước thực hiện những Dự án to lớn nhằm làm vẻ vang chế độ. Những Tập đòan này tham nhũng, ăn hối lộ và chi tiêu lãng phí ngân qũy.
=> Kinh tế VN có ưu thế tự nhiên và lịch sử là nông nghiệp và ngư nghiệp. Nhưng CƠ CHẾ hiện hành đã bỏ ra một bên vì lý do rất đơn giản là việc phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp không cho phép đảng và những cá nhân đảng viên ăn tham nhũng mau chóng làm giầu cho mình.
Những họat động gọi là Kinh tế trên đây không phải là việc phát triển Kinh tế Đất nước phục vụ cho đời sống dân chúng, mà là nhằm ăn xổi ở thì cho đảng và cho túi tham của cá nhân thuộc đảng.
Nền Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy đã thất bại và nền Kinh tế gọi là Tự do và Thị trường định hướng XHCN dưới CƠ CHẾ hiện hành không thể nào gọi là vĩ mô phát triển bền vững được. CƠ CHẾ hiện hành chỉ tạo cái hố sâu Giầu-Nghèo trong Xã hội Việt Nam. Một thiểu số thuộc đảng và liên hệ đã trở thành rất giầu có. Đại đa số Dân chúng trở thành nghèo khổ cùng cực.
Cái chứng cớ hiển nhiên của việc không có vĩ mô và không bền vững là sự tụt dốc hiện nay khi va chạm với Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Thế giới lúc này.
Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới và hậu quả lên Kinh tế Việt Nam
Chính nền Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng ăn xổi ở thì cũng đang chịu hậu quả khốc liệt của Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới, huống chi là Kinh tế Việt được xây dựng èo ọt với tham nhũng lan tràn phát sinh và được nuôi dưỡng bởi CƠ CHẾ.
Nói về tình trạng tụt dốc Kinh tế hiện nay, thì chúng ta thấy nhan nhản những thông tin từ báo chí trong nước về: đình công, đóng cửa công ty, chủ công ty nước ngòai bỏ trốn qụyt long, thất nghiệp tăng vọt, lao động du mục trở về miền quê với hai bàn tay trắng…
Chúng tôi chỉ xin trích ra đây những nhận xét của World Bank:
“World Bank khuyến cáo Việt Nam phải cải tổ
Ngân hàng Thế giới tức World Bank nói người Việt Nam còn thua về thu nhập cá nhân tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.
Báo cáo 'Vietnam Development Report 2009' ra 4-5/12 tại Hà Nội đánh giá các lĩnh vực kinh tế, cơ cấu vốn, mô hình phát triển của Việt Nam trong hơn 10 năm qua và nói nước này vẫn "cạnh tranh kém". Báo cáo Phát triển Việt Nam 2009 cho biết hầu hết các tiêu chí cạnh tranh trong kinh doanh của Việt Nam đều dưới trung bình, không vượt quá năm điểm.
Nhưng dù có chịu tác động bên ngoài, tương lai Việt Nam những năm tới tùy thuộc hoàn toàn vào "các quyết định về chính sách kinh tế".
Không cải thiện gì
Báo cáo trích ý kiến của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nói ba năm qua gần như không có cải thiện trong việc thực hiện năm tiêu chí: vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng.
Ngân hàng Thế giới tin rằng Cải cách hành chính công nếu thành công sẽ giúp Việt Nam tiết kiệm được từ 800 triệu đến 1.3 tỉ USD. Tương lai Việt Nam những năm tới tuỳ thuộc vào các quyết định về chính sách kinh tế
World Bank
Giới cấp viện cũng thừa nhận rằng việc đánh giá tác dụng của viện trợ nước ngoài cho Việt Nam là "khó khăn", nhất là trong các dự án cụ thể.
Điều không thuận lợi cho Việt Nam, tính từ cuối 2008, là thế giới bên ngoài đang ngày càng trở nên "khó đoán trước" (uncertain).
Không chỉ Ngân hàng Thế giới mà giới chuyên gia gần đây cũng cho rằng lạm phát cao, xuất khẩu giảm và các vụ tham nhũng, thất thoát đầu tư khiến bức tranh kinh tế Việt Nam tới đây tụt dốc. Với thu nhập bình quân đầu người năm 2007, Việt Nam còn thua xa Indonesia (1918 USD) Thái Lan (3850 USD), và Singapore (35163 USD).
Lấy chỉ số tăng thu nhập trung bình căn cứ vào giá mua hàng từ 2001-2007 so với con số tương tương ứng của ba nước này, thời gian để Việt Nam đuổi kịp các họ đó là hơn nửa thế kỷ đến một thế kỷ rưỡi.
Ngân hàng Thế giới đặt câu hỏi liệu Việt Nam sẽ đi theo số phận của Liên Xô cũ hoặc thành công như Mauritius, một quốc gia nhỏ bé đã cải tổ thắng lợi. Việt Nam mất 51 năm mới theo kịp Indonesia
Tăng trưởng GDP hàng năm luôn ở mức cao, thậm chí trong thời điểm kinh tế khó khăn, luôn làm nức lòng người dân. Thế nhưng, tính toán mới đây của Ngân hàng Thế giới cho thấy Việt Nam sẽ phải mất hàng chục năm, thậm chí là cả trăm năm mới có thể đuổi kịp các nước láng giềng.
Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố đầu tháng này đưa ra những thống kê gây sốc cho những ai đang kỳ vọng lớn vào “con hổ Việt Nam”. Theo đó, Việt Nam có thể mất tới 51 năm mới đuổi kịp Indonesia và thậm chí 158 năm nữa mới bằng được Singapore về thu nhập trên đầu người.
Mặc dù đã mào đầu rằng công việc dự báo xu hướng tăng trưởng lâu dài là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn ngay cả với các nhà kinh tế giỏi, nhưng WB cũng đưa ra những căn cứ rõ ràng để chứng minh cho phán đoán của mình.
WB còn đưa ra một cách tính toán nữa là tính bằng đồng đôla. Theo đó, tốc độ tăng trưởng thu nhập trên đầu người tính bằng đôla của các nước Việt Nam, Indonesia, Thái Lan và Singapore tương ứng là 12,5%, 6,4%, 4,9% và 6,0%. Nếu sử dụng các con số này thì thời gian để Việt Nam theo kịp các nước trên sẽ là 15 năm với Indonesia, 22 năm bằng Thái Lan và 63 năm thì ngang với Singapore.
Chúng tôi cũng trích dẫn ra đây nhận định của hai Kinh tế gia sống tại Việt Nam.
Bà Phạm Chi Lan, Cố vấn Kinh tế mà chúng tôi gọi là nịnh thần Kinh tế cho chế độ, cũng phải than lên:
“Tình trạng mất việc làm, thất nghiệp gia tăng là mối lo hàng đầu của mọi quốc gia trong bối cảnh suy thoái, khủng hoảng kinh tế.
Trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu và khó khăn kinh tế trong nước, các ngành dùng nhiều lao động ở nước ta đều bị chấn động, buộc phải thu hẹp sản xuất, kinh doanh, cắt giảm việc làm. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài cũng không thể thực hiện các cam kết của họ ở Việt Nam, thậm chí có những nhà đầu tư đã lặng lẽ đóng cửa nhà máy ra đi.
Rõ ràng giảm việc làm là điều khó tránh khỏi, trong khi nhu cầu tạo việc làm cho hàng triệu người đến tuổi lao động và tạo việc làm mới cho những người cần chuyển đổi việc làm vẫn là nhu cầu thường xuyên ở nước ta, và hoàn toàn không dễ giải quyết trong thời buổi khó khăn này.
Nếu Bà Phạm Chi Lan, nịnh thần Kinh tế cho chế độ, không dám đụng chạm đến cái CƠ CHẾ hiện hành phát sinh và nuôi dưỡng Tham nhũng, lý do quan trọng của tụt dốc Kinh tế, thì Oâng Bùi Kiến Thành, Cố vấn Kinh tế độc lập, thẳng thắn nêu ra lý do cốt lõi THAM NHŨNG của CƠ CHẾ:
“Oâng Bùi Kiến Thành cho rằng quản lý nhà nước thế nào cho thông thoáng, tạo điều kiện, tạo môi trường hoạt động bình đẳng.
Ông kết luận vấn đề then chốt là kinh tế càng khó bao nhiêu thì nhà nước càng phải tránh vấn để tham nhũng, bởi vì:
“Vấn đề tham nhũng được nêu ra nhiều lần trước quốc hội mà giải quyết không xong. Tham nhũng là từ nơi có quyền lực, mà quyền lực nằm trong tay ai? Đó là hoàn toàn trong phạm vi nhà cầm quyền phải giải quyết để đưa nền kinh tế tiến lên, tránh nguy cho thất nghiệp và nguy cơ mất an ninh xã hội.”
Điều kiện tiên quyết cho việc Khôi phục và Phát triển bền vững Kinh tế Việt Nam
Nhật báo LE MONDE, ngày 24.02.2009, đăng bài với tựa đề FACE A LA CRISE, L’ASIE CHERCHE SA PROPRE VOIE (ĐỐI DIỆN VỚI KHỦNG HỎANG, Á CHÂU TÌM CON ĐƯỜNG RIÊNG CỦA MÌNH), tuyên bố tóm tắt hai điều:
=> Le modèle de croissance fondé sur l’exportation s’effondre (Mẫu phát triển dựa trên xuất cảng sụp đổ)
=> Orientation des investissements et de la production vers les consommateurs de la région (Chuyển hướng đầu tư và sản xuất cho những người tiêu thụ trong vùng).
Trung quốc, khi tuyển bố trong tháng 11.2008 Chương trình kích cầu USD.530 tỉ, đã ý thức về việc tạo khả năng tiêu thụ nội địa vì thấy rằng Kinh tế của mình tùy thuộc việc đặt mua hàng từ Hoa kỳ và Liên Aâu. Kinh tế tụt dốc, xí nghiệp đóng cửa và thất nghiệp lan tràn vì thiếu đặt mua hàng từ hai khối tiêu thụ lớn này.
Việt Nam, để có thể ngăn chặn tụt dốc Kinh tế hiện nay và để phát triển, cũng cần phải:
1) Bỏ những Tập đòan Kinh tế Nhà Nước, tập trung quyền lực Kinh tế dưới quyền quyết định của độc đảng Chính trị CSVN.
2) Cho tư nhân quyền Tự do Kinh tế thực sự, nghĩa là không chịu sự quyết định trực tiếp hay gián tiếp của độc tài Chính trị.
3) Chú trọng đặc biệt đến Nông nghiệp, Ngư nghiệp, lãnh vực của đại đa số quần chúng và thuộc khả năng phong phú tự nhiên của Đất nước. Đây là phương diện tạo khả năng tiêu thụ của đại đa số dân chúng và là đà xây dựng cho công nghệ tương lai.
Thực hiện những hướng đi trên đây, điều kiện tiên quyết tất nhiên là phải dứt bỏ cái CƠ CHẾ hiện hành. Đó là cái CƠ CHÊ chủ trương ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm trọng ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Đây là cái CƠ CHẾ làm phát sinh và nuôi dưỡng lan tràn THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ.
Đảng CSVN cố thủ giữ lấy CƠ CHẾ ấy vì muốn độc quyền cai trị và muốn thâu tóm Kinh tế phục vụ cho đảng mình và những cá nhân thuộc đảng.
Mặc dầu chai lì bấu víu lấy quyền hành, nhưng đến một lúc, dân chúng đói nghèo quá, họ sẽ bạo động phá tan cái CƠ CHẾ tội lỗi này. Những cuộc bạo động chống lại lực lượng công an đàn áp đã bắt đầu tại Hưng Yên, Long Xuyên và Đồng Nai gần đây nhất.
Dân càng nghèo, càng đói, thì sức bạo động nổi dậy càng mạnh để đạp đổ CƠ CHẾ hiện hành. Đó là định mệnh của tất cả những cuộc Cách Mạng.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN :
Bài 04:
200 TRÍ THỨC HỒI HƯƠNG HỢP TÁC: LỌAI TRÍ THỨC NÀO ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 26.02.2009
Cách đây một tháng, một qúy Vị, dựa trên báo chí từ Quê Hương, đã loan tin trên Diễn Đàn rằng CSVN hồ hởi tuyên truyền rằng có chừng 200 Trí thức từ Hải ngọai về Việt Nam để hợp tác với CƠ CHẾ tham nhũng CSVN hiện giờ.
Đọc tin đó, tôi tự nhiên hỏi mình: => 200 trí thức thuộc lọai người nào ? => Họ hợp tác với CSVN như thế nào ?
200 trí thức thuộc lọai người nào ?
Theo sự tôi thường thấy, thì ngay những người được gửi ra nước ngòai tu nghiệp, họ cũng tìm cách này hay cách khác ở lại nước ngòai để làm việc. Thậm chí ngay cả một số con cái của thành phần Ngọai giao CSVN cũng tìm cách ở lại ngọai quốc.
Tôi cũng biết thực tế những người gọi là Trí thức trở về nhà làm việc gồm những thành phần sau đây:
=> Trí thức giả hiệu đánh lừa: Cách đây 6 năm, một Giám đốc Công ty từ Việt Nam sang Thụy sĩ. Nhân tiện gặp tôi, ông cho xem một danh thiếp (Carte de Visite) in mầu, chữ nổi tại Thụy sĩ rất đẹp. Oâng hỏi tôi xem có biết người trên danh thiếp không vì người này lấy địa chỉ tại GENEVA, Thụy sĩ. Trên danh thiếp, người này đề Nghề nghiệp: Ingénieur de Transport. Tôi biết tên người này. Tôi biết anh ta vượt biên từ vùng Mũi Né và trước đây làm cho Chợ COOP, chuyên đi lượm xe đẩy mua hàng mà khách để rải rác đây đó. Thu gọn những xe vào một chỗ và đẩy đến cửa chính của Super Market COOP. Anh đề nghề nghiệp là Ingénieur de Transport (Kỹ sư Chuyên chở) cũng có phần đúng vì xe đẩy mua hàng cũng dùng để chuyên chở.
=> Trí thức thất nghiệp tại nước ngòai: Một ít người cũng có học hành, biết nói tiếng Tây, tiếng Dức chẳng hạn. Nhưng vì lý do nào đó như sức khỏe, tuổi tác vân vân... chưa tìm được việc làm. Họ xoay ra nghề môi giới mua hàng hóa hay buôn bán gì đó với Việt Nam. Họ có thể về Việt Nam một số tháng, ỡ lại và liên lạc môi giới. Nếu gặp được cô nào, họ có thể đi về thường xuyên hơn. Có một người từ Uùc châu, đã có gia đình vợ con bên Úc. Nhưng ông nói với gia đình là có business ở Việt Nam, nên về thường xuyên để điều hành. Oâng viết thư cho tôi, cho điện thọai của Văn Phòng tại Sài Gòn. Một lần, đúng nửa đêm bên nhà, tôi gọi điện thọai về Văn Phòng ông ta. Có tiếng con gái nói: “Anh ơi, có người nước ngòai gọi về !”. Khi ông cầm điện thọai, tôi hỏi ông:”Sao Văn Phòng của Oâng bận việc lắm hay sao, mà phải giữ Thư ký ở lại làm việc suốt đêm !”
=> Trí thức về hưu tại nước ngòai: Có những trí thức thực sự, đã làm việc tại nước ngòai, nay đã về hưu. Con cái đã lớn và có nghề nghiệp. Một số người về Việt Nam, làm chút công việc gì đó. Một số mà tôi biết, trước đây cũng đã làm việc chống CSVN tại bên này. Về Việt Nam lúc hồi hưu, họ cũng ngại ngùng khi gặp nói chuyện với tôi. Mặc dầu tôi không bình phẩm gì, nhưng họ có vẻ ngượng ngùng, tìm cách này hay cách khác để bào chữa cho khéo. Có lần tôi nói tọac móng heo ra rằng tôi không phẩm bình gì, nhưng xin ông ta đừng tìm những lý do để nói dối che đậy sự thực.
Họ hợp tác với CSVN như thế nào ?
Nếu họ là những trí thức giả hiệu về Việt Nam đánh lừa, là những trí thức thất nghiệp về Việt Nam tạm bợ làm ăn may rủi, là những trí thức lừa gia đình bên này vì gái tại Quê Hương, thì tôi khỏi biện luận và để cho CSVN tung hô tuyên truyền rằng họ có 200 hoặc 3000 trí thức hồi hương hợp tác.
Còn nếu họ là những trí thức thực và đã về hưu tại nước ngòai, thì tôi chỉ xin họ ba điều: => Đừng buôn lời, công kích phía chống CSVN tại Hải ngọai để lấy lòng chế độ => Đừng bịa những lý do không đúng với lòng mình để bào chữa => Nhất là đừng nhân danh những danh từ như Hòa Giài Hòa Hợp, Đối Thọai, Đòan Kết Dân Tộc, không muốn động chạm đến Chính trị... để biện minh cho mình.
Hãy ý thức rằng tất cả mọi hợp tác nào mà không thẳng thắn đòi hỏi việc DỨT BỎ CƠ CHẾ THAM NHŨNG CSVN đều là TÒNG PHẠM với tội cướp bóc của CSVN đối với Dân Nghèo khổ tại Quê Hương.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN :
Bài 03:
HỢP TÁC VỚI CƠ CHẾ CSVN: NHỮNG MỨC ĐỘ PHÁT BIỂU
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 19.02.2009
Dưới Chủ đề ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN, chúng tôi đã viết được hai Bài.
Với Bài thứ nhất, chúng tôi gọi những Cố vấn, những Giáo sư Kinh tế... biết rõ những nguyên tắc Kinh tế khách quan, mà vì một lý do cá nhân nào đó, vẫn cố chấp đồng ý với cái CƠ CHẾ CSVN tràn đầy Tham nhũng tàn phá Kinh tế Việt Nam và do đó để 75% Dân chúng bị bóc lột nghèo đói. CƠ CHẾ tham nhũng CSVN là tội phạm đối với Dân tộc. Đồng ý với CƠ CHẾ ấy, tức là tòng phạm tội lỗi với CSVN.
Với Bài thứ hai, chúng tôi nêu danh một Cố vấn Kinh tế cho CSVN, Bà PHẠM CHI LAN, mà chúng tôi kết luận rằng Bà là một nịnh thần, tất nhiên là một tòng phạm.
Chúng tôi sẽ tiếp tục viết về những Cố vấn khác, những người có liên hệ với Kinh tế CSVN, ngay cả những Chuyên viên làm việc cho những Tổ chức Quốc tế liên hệ đến Kinh tế CSVN. Chúng tôi thẳng thắn thẩm định là nịnh thần và tòng phạm nếu nhận thấy như vậy. Chúng tôi rất độc lập để thẩm định. Cái độc lập của chúng tôi là có phương tiện sống cho thân xác: ngày ngày đủ tiền mua rau cỏ vỗ bụng rau bình bịch. Chúng tôi cũng không làm việc cho những Tổ chức quốc tế để vì đó mà phải uốn lưỡi nói theo Chính trị của Tổ chức ấy. Chúng tôi cũng đã già, chẳng còn tham vọng đấu tranh Chính trị để kiếm vị trí tại Quê Hương. Chúng tôi cũng đã quyết định chỉ về thăm Việt Nam mà chúng tôi hằng ao ước, nhưng chỉ khi nào cái CƠ CHẾ tội phạm CSVN biến mất.
Đó là sự độc lập của chúng tôi khi thẩm định ngững người tòng phạm với tội ác CSVN.
Để có thể thẩm định, cần có những tiêu chuẩn liệt kê trước để khi thẩm định thì đồng đều khi trong Lọat Bài này muốn viết về nhiều người. Tỉ dụ khi chấm những Bài Thi, Khảo, mình cũng phải đặt Bản Định sẵn những Tiêu chuẩn (Barèmes) để khi thẩm định không có những thiên vị vì hòan cảnh hay vì chính xung động của con người mình ở một lúc thay đổi thời tiết hay bị vợ la mắng.
Chúng tôi xin liệt kê ra đây những Mức độ (Barèmes) mà những người nói về CƠ CHẾ THAM NHŨNG CSVN:
1) Khen những biện pháp chữa trị của CSVN
2) Coi những suy sụp Kinh tế hiện nay tại Việt Nam như hậu quả của tình hình Khủng hỏang chung, chứ không phải từ những lý do từ CSVN.
3) Đề nghị ra những biện pháp mà dân chúng phải làm theo hướng dẫn của đảng và nhà nước CSVN
4) Kêu gọi sự hợp tác của mọi từng lớp để cứu nguy Kinh tế
5) Nói tổ quát về lý do tham nhũng, lãng phí như là một trong những lý do gây khó khăn Kinh tế.
6) Kêu gọi chống tham nhũng, lãng phí để phục hồi và phát triển Kinh tế.
7) Chỉ đúng cái căn nguyên đích thực là CƠ CHẾ phát sinh tham nhũng, lãng phí làm suy thóai Kinh tế do tham nhũng, nhưng chỉ kêu gọi CSVN cải cách.
8) Khẳng định với những nguyên tắc hiển nhiên Kinh tế rằng cái CƠ CHẾ chủ trương việc cấu kết ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ đã, đang và còn tiếp tục tàn phá Kinh tế Việt Nam.
9) Phải THÚC ĐẨY việc DỨT KHÓAT lọai bỏ cái CƠ CHẾ độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế này để cứu vãn và phát triển Kinh tế Đất nước.
Đối với chúng tôi, khi nói về Kinh tế dưới chế độ hiện hành CSVN, chúng tôi khẳng định rõ rệt ở mức độ 8) và 9) trên đây. Thực vậy, với 12 Bài viết về những nguyên tắc Kinh tế thuộc Chủ đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH, chúng tôi đưa đến Kết luận ở mức độ thứ 8) trên đây. Với những Bài đang tiếp tục viết thuộc Chủ đề ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN, chúng tôi khai triển mức độ thứ 9).
Qua những mức độ nói về Kinh tế CSVN liệt kê trên đây, chúng tôi thẩm định những cố vấn Kinh tế, những giáo sư Kinh tế nào, thực tình là cố vấn, thực tình giảng dậy những nguyên tắc Kinh tế.
Có những doanh nhân từ nước ngòai về Việt Nam làm ăn, chúng tôi cũng muốn biết thái độ của họ như thế nào đối với CSVN khi họ biện minh cho việc làm ăn chung với CSVN. Có những người hoặc Nhóm chủ trương Đối thọai, Hòa Hợp Hòa Giải với CSVN, chúng tôi muốn nhìn xem họ Đối thọai hoặc Hòa Hợp Hòa Giải ở mức độ nào hay là chỉ xử dụng những chiêu bài ấy để tăng cường cho một CƠ CHẾ đã, đang và sẽ tàn phát Kinh tế Đất Nước.
Những Mức độ Phát biểu liệt kê trên đây cũng cho phép chúng tôi thẩm định ngay những người làm Văn hóa, Xã hội hoặc Tôn giáo đứng trước một CƠ CHẾ làm phát sinh và tràn lan Tham nhũng.
Cũng dựa theo những Mức độ này, chúng tôi nhìn những Chính quyền nước ngòai, một mặt thì hô hào Nhân quyền, một mặt thì hợp tác với một CƠ CHẾ thù địch của phát triển Kinh tế Việt Nam khiến đại đa số Dân chúng không còn ngay cái Quyền DẠ DẦY nữa.
Viết theo chiều hướng ấy để tạo một Phong trào nổi dậy. Trước hết, việc vạch rõ danh tánh những kẻ nịnh thần, tòn phạm với CSVN, nhiều khi đang nằm chính hàng ngũ chúng ta, trá hình ngon ngọt để phá họai chính chúng ta.
Dầu sao Phong trào nổi dậy của dân nghèo đã bắt đầu. Chỉ cần thông tin phụ lực và đẩy mạnh thêm. Bài MỞ ĐẦU này là Kết Luận của Lọat bài Chủ đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH gồm 12 Bài phân tích về Nguyên tắc phải DỨT BỎ một CƠ CHẾ THAM NHŨNG. Chủ đề cho những Lọat Bài sẽ viết nhằm Mục đích thúc đẩy mạnh việc CHẤM DỨT CƠ CHÊ THAM NHŨNG, nghĩa là khi thấy Nguyên tắc, chúng ta phải cùng nhau làm thành Phong trào THỰC HÀNH việc DỨT BỎ như Nguyên tắc đã mà chúng ta chấp nhận.
Xin qúy Độc giả vào Website dưới đây để đọc 12 Bài Chủ đề và 10 Bài Phụ Bản của Chủ đề: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
DUT BO CO CHE CSVN : http://VietTUDAN.net/11658/42806.html
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN : Bài 02:
CỐ VẤN KINH TẾ NỊNH THẦN: TRƯỜNG HỢP BÀ PHẠM CHI LAN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 12.02.2009
Trong lọat Bài Chủ đề này, chúng tôi đã viết bài thứ 1 tuần vừa rồi để nói tổng quát rằng những người, trong đó có một số trí thức hay tôn giáo, dù biết CƠ CHẾ THAM NHŨNG CSVN đang tàn phá Kinh tế Việt Nam và do đó làm Dân chúng nghèo khổ, nhưng họ vẫn yên lặng hợp tác hoặc nói theo chiều CSVN. Chúng tôi gọi những người này là tòng phạm với tội ác CSVN để tàn phá Kinh tế Quê Hương.
Đã đến lúc phải nói thẳng tọac ra đối với những người này để mong họ bớt thái độ nịnh thần hặc may ra họ còn chút lương tâm trước đau khổ của Dân Tộc mà nói lên sự thật tội lỗi của CSVN.
Chúng tôi đã viết những luận chứng về Kinh tế làm nguyên tắc thúc đẩy việc DỨT BỎ CƠ CHẾ THAM NHŨNG CSVN. Vì vậy, chúng tôi bắt đầu bằng những chuyên viên Kinh tế Cố vấn cho CSVN hoặc những Giáo sư Kinh tế đang giảng dậy Kinh tế tại quê nhà. Đây không phải việc tranh cãi Ý thức hệ trừu tượng, mà là sự chấp nhận những nguyên tắc Kinh tế mà chính những vị này đã hấp thụ trước đây tại những trường Kinh tế. Vấn đề là họ có đủ can đảm để nói lên sự thật cho Dân nghèo Việt Nam đỡ khổ hay không, hay họ vì chút mẩu bánh rơi rụng của CSVN mà trở thành những nịnh thần.
Việt Nam đang bị tác động mạnh bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu Thanh Trúc, phóng viên RFA, 2009-02-07
Phóng viên THANH TRÚC giới thiệu hai chuyên viên Kinh tế đang ở Việt Nam như sau:
Việt Nam đang bị tác động mạnh bởi hiện tình khủng hoảng kinh tế tài chánh toàn cầu chứ không còn đứng bên ngoài như lần khủng hoảng tài chánh khu vực năm 1997 nữa
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu khiến các ngành gia công hàng xuất khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Đó là quan điểm của hai chuyên gia trong nước, bà Phạm Chi Lan, cựu phó chủ tịch Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam, thành viên ban cố vấn thời cựu thủ tướng Phan Văn Khải, nay là chuyên gia kinh tế độc lập, và ông Bùi Kiến Thành, từng làm việc nhiều năm trong lãnh vực tài chính ở nước ngoài, nay là tư vấn cao cấp cho các tập đoàn kinh doanh ở Hà Nội. Bài do Thanh Trúc thực hiện.
Sau phần giới thiệu này, Phóng viên THANH TRÚC viết về những lời phát biểu của Oâng BÙI KIẾN THÀNH và Bà PHẠM CHI LAN nói về những khó khăn, tụt dốc Kinh tế VN hiện nay và về những biện pháp cứu nguy.
Những mức độ phát biểu về Kinh tế CSVN
Phát biểu về những vấn đề này, có những mức độ sau đây:
1) Khen những biện pháp chữa trị của CSVN
2) Coi những suy sụp Kinh tế hiện nay tại Việt Nam như hậu quả của tình hình Khủng hỏang chung, chứ không phải từ những lý do từ CSVN.
3) Đề nghị ra những biện pháp mà dân chúng phải làm theo hướng dẫn của đảng và nhà nước CSVN
4) Kêu gọi sự hợp tác của mọi từng lớp để cứu nguy Kinh tế
5) Nói tổ quát về lý do tham nhũng, lãng phí như là một trong những lý do gây khó khăn Kinh tế.
6) Kêu gọi chống tham nhũng, lãng phí để phục hồi và phát triển Kinh tế.
7) Chỉ đúng cái căn nguyên đích thực là CƠ CHẾ phát sinh tham nhũng, lãng phí làm suy thóai Kinh tế do tham nhũng, nhưng chỉ kêu gọi CSVN cải cách.
8) Khẳng định với những nguyên tắc hiển nhiên Kinh tế rằng cái CƠ CHẾ chủ trương việc cấu kết ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ đã, đang và còn tiếp tục tàn phá Kinh tế Việt Nam.
9) Phải THÚC ĐẨY việc DỨT KHÓAT lọai bỏ cái CƠ CHẾ độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế này để cứu vãn và phát triển Kinh tế Đất nước.
Đối với chúng tôi, khi nói về Kinh tế dưới chế độ hiện hành CSVN, chúng tôi khẳng định rõ rệt ở mức độ 8) và 9) trên đây. Thực vậy, với 12 Bài viết về những nguyên tắc Kinh tế thuộc Chủ đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH, chúng tôi đưa đến Kết luận ở mức độ thứ 8) trên đây. Với những Bài đang tiếp tục viết thuộc Chủ đề ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN, chúng tôi khai triển mức độ thứ 9).
Qua những mức độ nói về Kinh tế CSVN liệt kê trên đây, chúng tôi thẩm định những cố vấn Kinh tế, những giáo sư Kinh tế nào, thực tình là cố vấn, thực tình giảng dậy những nguyên tắc Kinh tế.
Về trường hợp của Oâng BÙI KIẾN THÀNH và Bà PHẠM CHI LAN mà Phóng viên THANH TRÚC trưng dẫn những ý kiến, chúng tôi cũng áp dụng những mức độ liệt kê để nghĩ về hai người như thế nào.
Trích dẫn ý kiến của Oâng BÙI KIẾN THÀNH, Phóng viên THANH TRÚC viết:
Vấn đề thứ hai, ông cho rằng quản lý nhà nước thế nào cho thông thoáng, tạo điều kiện, tạo môi trường hoạt động bình đẳng.
Ông kết luận vấn đề then chốt là kinh tế càng khó bao nhiêu thì nhà nước càng phải tránh vấn để tham nhũng, bởi vì:
“Vấn đề tham nhũng được nêu ra nhiều lần trước quốc hội mà giải quyết không xong. Tham nhũng là từ nơi có quyền lực, mà quyền lực nằm trong tay ai? Đó là hoàn toàn trong phạm vi nhà cầm quyền phải giải quyết để đưa nền kinh tế tiến lên, tránh nguy cho thất nghiệp và nguy cơ mất an ninh xã hội.”
Qua những phát biểu trên đây, chúng tôi có thể nói rằng Oâng BÙI KIẾN THÀNH đã đề cập về CSVN ở mức thứ 8): những người nắm quyền lực (Chính trị) làm Tham nhũng. Tuy vậy, Oâng chưa chỉ đích danh đó là cái CƠ CHẾ, cũng chưa nói đến mức thứ 9) là phải DỨT BỎ cái CƠ CHẾ ấy để mong cứu nguy và phát triển Kinh tế thực sự.
Trường hợp của Bà PHẠM CHI LAN
Không phải chỉ có Phóng viên THANH TRÚC trích đăng lại những lời phát biểu của Bà PHẠM CHI LAN trong bài của Phóng viên, mà chúng tôi còn đọc được một bài dưới đầu đề “Kinh tế VN 2009: Ưu tiên và giải pháp then chốt/ PHẠM CHI LAN, 09/02/2009 08:24 (GMT)” (đăng trong số báo VietTUDAN tuần này, dưới đây)
Về tình hình Kinh tế hiện nay, Bà viết như sau:
Trong năm 2009, những vấn đề cần quan tâm hàng đầu đối với nền kinh tế Việt Nam chính là: (1) tình trạng mất việc làm, thất nghiệp gia tăng, thu nhập của người dân giảm sút; (2) sự suy giảm, thậm chí đình trệ sản xuất kinh doanh của một số ngành, trong đó có các ngành xuất khẩu; (3) khả năng khắc phục những yếu kém của nền kinh tế, thực hiện hiệu quả các giải pháp chống suy thoái và dự báo tình hình kinh tế trong nước, kinh tế thế giới để điều chỉnh, điều hành tốt nền kinh tế nước nhà.
Sau khi nói dài về điểm (1) và (2), Bà viết về điểm (3) như sau:
Do vậy, vấn đề thứ ba, cốt lõi hơn của nền kinh tế Việt Nam cần được quan tâm trong năm 2009 chính là khả năng khắc phục những yếu kém của nền kinh tế và thực hiện hiệu quả các giải pháp chống suy thoái đã được đề ra.
Các nghị quyết của Trung ương Đảng, của Bộ Chính trị, của Chính phủ đều đã đề cập đến vấn đề này, đã nhìn nhận thẳng thắn những yếu kém, phân tích rõ những nguyên nhân và đề ra các giải pháp đúng đắn để khắc phục. Bài viết đầy tâm huyết của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào ngày đầu năm 2009 đã phân tích thấu đáo và thuyết phục về những chủ trương lớn của Chính phủ và các giải pháp chống suy thoái.
Nhiều viện nghiên cứu và chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước cũng đã trình bầy sâu sắc về các vấn đề từ vĩ mô như chất lượng tăng trưởng, cấu trúc kinh tế và mô hình phát triển của nền kinh tế Việt Nam, đến những câu chuyện của từng ngành, của các doanh nghiệp, các dự án đầu tư. Một số nhóm giải pháp cũng như những giải pháp cụ thể cần thiết trong các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế được Chính phủ liên tục đưa ra và chỉ đạo thực hiện trong năm 2008 đã mang lại những kết quả tích cực trong việc chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.
Vấn đề bây giờ là khẩn trương hành động, là tổ chức thực hiện một cách hiệu quả những gì Đảng và Nhà nước đã đề ra, những gì đa số chúng ta đều thấy cần làm, nhằm đưa nền kinh tế ra khỏi khó khăn và đi vào một quỹ đạo phát triển mới hiệu quả và bền vững hơn.
Với đọan viết trên đây, Bà PHẠM CHI LAN không những không đi tìm căn nguyên đích thực của suy thóai Kinh tế nằm tại cái CƠ CHẾ chủ trương cho độc tài Chính trị nắm dộc quyền Kinh tế, mà Bà còn ca ngợi đảng và nhà nước CSVN, rồi kêu gọi giới làm Kinh tế hãy theo chỉ thị của đảng và nhà nước. Bà chỉ nhận định về Kinh tế CSVN ỡ mức độ 1), 2), 3) và 4) theo những mức độ mà chúng tôi đã liệt kê ra ở phần trên đây.
Trong bài viết, Bà không bao giờ dám nhắc tới hai chữ Tham nhũng và tất nhiên Bà không bao giờ dám động chạm đến cái nguồn làm phát sinh và nuôi dưỡng Tham nhũng. Đó là cái CƠ CHẾ CSVN hiện hành. Bà đưa ra những biện pháp chữa trị, nhưng chỉ như thoa bóp ngòai da hay cạo gió với dầu cù là cho một căn bệnh nội tạng trầm trọng.
Phóng viên THANH TRÚC gọi bà là Chuyên viên Kinh tế và từng làm Cố vấn cho PHAN VĂN KHẢI về Kinh tế, nhưng theo những mức độ nói về Kinh tế CSVN như trên đã liệt kê, tôi chỉ coi Bà như một Chuyên viên Kinh tế biết những nguyên tắc khách quan Kinh tế mà không có can đảm nói lên vì quyền lợi riêng tư của Bà (có thể là Tham nhũng). Bà là một nịnh thần, chứ không phải là cố vấn đích thực vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN : Bài 01:
TÒNG PHẠM VỚI CSVN: CHỈ VÁ VÍU MÀ KHÔNG DỨT BỎ CƠ CHẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 05.02.2009
Từ ngày mà chúng tôi gọi là Tiền Giang Nổi Sóng, Dân Oan kéo về Sài Gòn trước Trụ sở Quốc Hội II để đòi Nhà, Đất, thì chúng tôi ý thức ngay được rằng việc giải thể chế độ CSVN hiện hành phải qua quyền DẠ DẦY cụ thể của đại đa số Dân chúng nghèo quốc nội, chứ không từ những tranh chấp Ý thức hệ thuộc giới Trí thức cấu trúc những phạm trù trừu tượng về Dân chủ, Nhân quyền hay ý nghĩa Tự do Tôn giáo.
Nói đến quyền DẠ DẦY cụ thể là nói đến việc dành dựt Kinh tế trong cuộc sống nuôi thân xác mình (chưa hẳn là nuôi tinh thần). Phải có sự CÔNG BẰNG trong việc phân chia phương tiện cụ thể sống thân xác.
Ý thức như vậy, nên chúng tôi viết tìm hiểu cuộc Khủng hỏang Tài chánh Á châu 1997 và những hậu quả Xã Hội, Chính trị. Chúng tôi tìm hiểu những lý do mà Nhà Nước CSVN, một mặt, không giải quyết cho Dân Oan khiếu kiện, mặt khác, còn xử dụng bạo lực công an để đàn áp thậm tệ những Dân Oan này.
Sau khi CSVN hồ hởi ca tụng hội nhập Kinh tế APEC, WTO, thì tiếp đến là việc Lạm phát, Vật giá tăng vọt khiến Dân nghèo phải điêu đứng. Không còn hồ hởi nữa vì nhìn thấy viễn tượng một cuộc ĐỘT BIẾN Dân nghèo đưa đến giải thể chế độ, nên CSVN cuống cuồng vá víu những biện pháp cứu chữa Lạm phát, thậm chí còn sang Mỹ hỏi toa thuốc từ Greenspan.
Muốn chữa trị cơn bệnh, thì trước tiên phải tìm ra cho đúng CĂN BỆNH. Không thể chữa bệnh nội tạng bằng thoa bóp dầu Cù là và cạo gió sơ sơ với dầu nóng. Chúng tôi tìm hiểu xem cái CĂN BỆNH nội tạng của việc Lạm phát đặc biệt của Việt Nam và thấy chính là do vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ và HỐI LỘ. Con vi trùng này được một CƠ CHẾ làm đất tốt để sinh ra, lớn lên và lan tràn. Cái đất tốt ấy đúng là cái CƠ CHẾ chủ trương ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ.
Họa vô đơn chí ! Cơn Lạm phát đặc biệt đã làm Dân khổ, thì tiếp theo là cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới lan tràn.
Chúng tôi viết Lọat bài Chủ đề: PHẢI VỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH. Kết luận là phải làm như vậy mới có thể chữa được bệnh Kinh tế đang làm Dân đã nghèo càng nghèo thêm, đồng thời cũng tạo điều kiện mới để tòan dân nỗ lực phát triển Kinh tế đất nước. PHẢI VỨT BỎ, đó là NGUYÊN TẮC, nghĩa là tìm đúng CĂN BỆNH phải chữa trị ra sao. Biết nguyên tắc, nhưng phải THỰC HÀNH DỨT KHÓAT việc chữa trị. Đó là lý do để chúng tôi viết Chủ đề ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN được khai triển bằng nhiều Lọat Bài:
(i) LỌAT BÀI 1: Chất vấn những Cố vấn Kinh tế cho chế độ, những Giáo sư Kinh tế dậy học ở Việt Nam về việc họ biết sự thật về Kinh tế mà hèn không dám nói lên.
(ii) LỌAT BÀI 2: Vạch mặt những Trí thức hồi hưu hoặc thất nghiệp tại ngọai quốc, nay trở về Việt Nam hưởng thụ và mang ý tưởng ủng hộ CSVN để hợp tác giết dân chúng.
(iii) LỌAT BÀI 3: Phỉ nhổ những con ông cháu cha của đảng đang lấy tiền tham nhũng để sống sung sướng tại nước ngòai.
(iv) LỌAT BÀI 4: Giải thích cho lớp tuổi trẻ Việt Nam rằng những con ông cháu cha của đảng đang phây phây tiêu tiền bạc tại ngọai quốc để lớp thanh niên tại quốc nội sống không biết tương lai ra sao.
(v) LỌAT BÀI 5: Viết cho dân nghèo biết rằng sự nghèo khổ của họ là do sự cướp bóc bất công của đảng CSVN đến nỗi mỗi khi họ than lên là bị công an dùng sức mạnh đàn áp.
(vi) LỌAT BÀI 6: Làm thế nào để dân chúng cùng cực thấy rằng đã đến lúc tức nước vỡ bờ phải đứng lên, dù bằng bạo lực. Hiện giờ dân nghèo không còn sợ bạo lực công an nữa và đã đứng lên đập lại tụi công an và đám côn đồ xã hội đen do CSVN thuê mướn.
Trong những Lọat Bài này, chúng tôi không nói đến những người trực tiếp giữ quyền lực Chính trị hiện hành vì chúng tôi biết sự lì lợm của họ, mặt dầy mày dạn cố thủ giữ lấy CƠ CHẾ bệnh tật hiện hành. Việc lì lợm này phải để cho Lực Lượng Dân Nghèo đứng lên làm ĐỘT BIẾN quét sạch đám mặt dầy mày dạn ấy.
Chúng tôi chỉ viết để thúc đẩy những người đang tiếp sức cho CSVN như những nịnh thần vì miếng cơm mà CSVN thẩy xuống, hãy vì tương lai phát triển Kinh tế Đất Nước mà can đảm đừng phạm tội TÒNG PHẠM với CƠ CHẾ CSVN nữa.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế | | | |
CHỦ ĐỀ: ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN :
Bài MỞ ĐẦU:
DÂN CHÚNG ĐÓI KHỔ, KHÔNG THỂ ĐỂ CƠ CHẾ TỒN TẠI NỮA
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 29.01.2009
Chúng tôi viết bài MỞ ĐẦU đúng ngày DAVOS ECONOMIC FORUM khai mạc, 28.01.2009, với 40 Nguyên thủ quốc gia và 2500 Chuyên viên cáp cao Kinh tế Thế giới, từ cấp Bộ trưởng đến các Giáo sư Đại học, tới họp tại núi tuyết DAVOS Thụy sĩ mà chủ đề là KHỦNG HỎANG TÀI CHÁNH/KINH TẾ Thế giới. Họ muốn tìm những biện pháp để cứu tình trạng Khủng hỏang và để có thể phát triển cho những năm sắp tới.
Chúng tôi đã viết 10 Bài về Chủ đề Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế Á-châu 1997, rồi 12 Bài về Chủ đề : PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH.
Với 12 Bài về Chủ đề này kèm theo 10 Bài Phụ Bản, chúng tôi đã đưa ra ra những chứng minh rằng phải DỨT BỎ CƠ CHẾ hiện hành tại Việt Nam chủ trương việc độc tài Chính trị nắm giữ độc quyền Kinh tế. Chính cái CƠ CHẾ này đẻ ra THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ làm quốc nạn cho thụt lùi Kinh tế và phá họai sự cố gắng làm ăn cũa tòan dân Việt Nam. Kế luận là phải chấm dứt cái CƠ CHẾ đó.
Cái Kết luận ấy là nguyên tắc hòan tòan hữu lý. Nhưng những người lãnh đạo Chính trị đảng CSVN, một là ngu muội, hai là cố chấp giữ lấy quyền hành, ba là vô nhân đạo coi dân chúng như phương tiện phục vụ cho tham vọng bất chính của mình, nên vẫn giữ mặt dầy mày dạn không động đậy thay đổi gì cả.
Lọat bài sẽ viết dưới Chủ đề mà chúng tôi sẽ khai triển từ bài MỞ ĐẦU này là ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN.
LỰC LƯỢNG dứt bỏ CƠ CHẾ tham nhũng CSVN hiện hành nằm tại Việt Nam. Đó là LỰC LƯỢNG DÂN NGHÈO với DẠ DẦY không có ngô khoai để nuôi sống thân xác. Họ sẽ nổi dậy với bạo động đập đầu những tên thuộc đảng CSVN đã THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, ĂN HỐI LỘ khiến họ bị lầm tham với DẠ DẦY rỗng tuếch.
Chúng tôi viết lọat Bài Chủ đề này trong mục đích để LỰC LƯỢNG ĐÓI NGHÈO ấy đẩy mạnh và gấp rút hành động DỨT BỎ CƠ CHẾ THAM NHŨNG CSVN hiện nay để cứu Kinh tế Việt Nam và để DẠ DẦY của họ có ngô khoai nuôi sống thân xác.
Chúng tôi viết bài MỞ ĐẦU này dưới những khía cạnh sau đây:
(1) Biện pháp thực tiễn chấm dứt CƠ CHẾ (2) Từ làm chủ Kinh tế đến làm chủ Quản trị đất nước (3) Phong trào đẩy mạnh việc chấm dứt CƠ CHẾ (4) Chú thích: Những Mức độ phát biểu về Kinh tế CSVN
Về hai khía cạnh (1) và (2) trên đây, chúng tôi đã viết dài để cắt nghĩa ở hai Bài 11 và 12 trong Chủ đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH. Chúng tôi đăng lại hai bài ấy kèm liền dưới đây để độc giả thấy chi tiết. Với 12 Bài dưới Chủ đề này vừa viết xong, chúng tôi tóm tắt ý tưởng như sau:
* Tham nhũng, Lãng phí, ăn Hối lộ tàn phá Kinh tế Việt Nam * CƠ CHẾ CSVN hiện hành đẻ ra và làm lan tràn Tham nhũng, Lãng phí và Hối lộ * Vậy phải chấm dứt CƠ CHẾ CSVN để Kinh tế Việt Nam khỏi bị tàn phá
Đây là Tam Đọan Luận mà chính Karl Marx phài chấp nhận.
Trong suốt 12 Bài trước đây, chúng tôi đã đưa ra từ Lý thuyết đến Thực tiển về việc phải DỨT BỎ CƠ CHẾ THAM NHŨNG CSVN chỉ vì sự phát triển Kinh tế. Đó là hòan tòan trong lý luận Kinh tế, chứ không đụng chạm gì đến Chính trị để CSVN lẻo mép và bố láo vu khống chúng tôi là làm Chính trị.
Biện pháp thực tiễn chấm dứt CƠ CHẾ
Chù đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH đưa ra Kết luận thực tiễn sau đây về việc khởi đầu tiến tới lành mạnh hóa việc Phát triển Kinh tế Đất Nước:
1) Thiết lập HỘI ĐỒNG QUỐC GIA THANH TRA KINH TẾ Hội đồng này mang tính cách độc lập không do Nhà Nước CSVN chỉ định. Hội Đồng gồm có những Đại diện Dân Oan mỗi Tỉnh, Đại diện Tôn Giáo, Đại diện một số Đảng phái. Hội Đồng có Trụ sở làm việc tại Việt Nam về những vấn đề Kinh tế.
2) Thành lập NHỮNG ỦY BAN CHUYÊN MÔN THANH TRA Những Uûy Ban chuyên môn này do Hội Đồng Quốc Gia Thanh Tra mời gọi những Chuyên viên trong nước cũng như ngoài nước. Những Uûy Ban Chuyên môn sau đây là cần thiết:
a. Uûy Ban Liên hệ Đầu Tư Quốc tế b. Uûy Ban Thẩm Định Đầu Tư Nhà Nước c. Uûy Ban Kiểm toán những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước d. Uûy Ban Thanh tra Xuất-Nhập cảng e. Uûy Ban Hỗ trợ Tư Doanh e. Uûy Ban Cố vấn Nông thôn
3) Thành lập tờ THÔNG TIN KINH TẾ
Tờ THÔNG TIN KINH TẾ này do HỘI ĐỒNG QUỐC GIA THANH TRA KINH TẾ chịu trách nhiệm. Tờ THÔNG TIN độc lập với Nhà Nước và chỉ nói về Kinh tế, Tài chánh.
4) Thành lập NGÂN QUỸ ĐỘC LẬP cho Hội Đồng Quốc Gia Thanh Tra Kinh tế.
Để bảo đảm tính cách độc lập của Hội Đồng Quốc Gia Thanh Tra Kinh tế, Hội Đồng có quyền kêu gọi Ngân Quỹ từ những nhà hảo tâm trong nước cũng như ngoài nước. Việc này có thề làm được vì một số Tư doanh quốc nội ủng hộ, người Việt tại Hải ngoại sẵn sàng đóng góp và một số Chính phủ nước ngoài trợ lực cho cải thiện Kinh tế Việt Nam.
Đề nghị như trên, có thể một số độc giả nói rằng tôi mơ mộng đối với CSVN. Tôi không nghĩ đó là mơ mộng, nhưng đó là Ý CHÍ khi mình thấy những đề nghị này là hữu lý tối thiểu. Thực vậy, chúng tôi chỉ đề nghị tối thiểu và với Ý CHÍ, mình phải tìm mọi cách để thực hiện. Tôi cũng nghĩ rằng một số lớn độc giả nghĩ tôi đề nghị điều không tưởng. Nhưng tôi tin ở điều hữu lý tối thiểu ấy và lấy Ý CHÍ thực hiện từng bước nhỏ, dù là lần mò thực hiện như con kiến.
Từ làm chủ Kinh tế đến làm chủ Quản trị đất nước
Những Nhà Dân Chủ trong nước đưa ra những Phạm trù trừu tượng để đòi CSVN thực hiện Dân Chù hóa. Dân chúng nghèo khổ đang quan tâm về DẠ DẦY, nên thờ ơ với những Phạm trù trừu tượng xa với bụng họ đang đói.
Chúng tôi đề nghị một con đường Dân chủ hóa thực tiễn với đời sống cần miếng ngô khoai của Dân chúng. Đó là hãy Dân chủ hóa Kinh tế. Khi Dân làm chủ Kinh tế, thì lúc ấy việc làm Chủ Chính trị tự động phải tới. Vì vậy mà trong Bài 12 dưới Chủ đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH, chúng tôi đề nghị hai biện pháp chấm dứt CƠ CHẾ vỏn vẹn như sau:
=> Tôn trọng quyền TƯ HỮU các phương tiện làm ăn, mà cụ thể là quyền Tư hữu Đất đai. Nhà Nước không được quyền dưới danh nghĩa quản lý để tước đọat đất đai, nhà cửa của dân chúng.
=> Tôn trọng quyền TỰ DO làm ăn của Dân chúng. Việc tôn trọng này không cho phép Nhà Nước dùng độc tài Chính trị nắm trọn độc quyền Kinh tế
CSVN tìm đủ mọi cách để không cho hai điểm trên đây. Thực sự đây là quyền làm ăn để nuôi thân xác. Đây không phải là Chính trị mà là QUYỀN SỐNG của mổi cá nhân. Chỉ cho hai quyền sống ấy, thì đã đủ cho Dân chúng nghèo khổ muốn kiếm ngô khoai nuôi thân xác mình. Còn ai làm Chính trị với CSVN, thì đó là việc khác. Tuy nhiên, khi có hai quyền căn bản trên đây, nghĩa là có quyền Dân chủ (CÁ NHÂN CHỦ) Kinh tế, thì tự động Dân chúng không tha việc Độc tài Quản trị (Chính trị) cấu kết với Độc quyền Kinh tế để bóp chết quyền làm ăn của mỗi Cá nhân. Họ tự nhiên đòi quyền lực Chính trị phải điều hành việc Nước cho phù hợp với ý nguyện của mọi người (đa số). Việc Dân chủ hóa Chính trị tự nhiên phải đến. Chính vì vậy mà chúng tôi đã viết trong Bài 12 dưới đây rằng DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ dẫn đến DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRỊ. Người Dân chỉ quan tâm đến DẠ DẦY (Kinh tế), chứ không quan tâm đến Ý thức hệ Chính trị. Tranh đấu cụ thể cho quyền DẠ DẦY (Kinh tế) thì Dân dễ hiểu và ủng hộ. Cứ nói Phạm trù Ý thức hệ Dân chủ (Chính trị) thì Dân, một là ít hiểu, hai là vì bụng đói quá nên không để ý. Hãy thực tiễn cho đúng với Dân bởi vì không có Dân 75% dân số, thì những nhà Dân chủ Trí thức Phạm trù Triết học trong nước sẽ bị công an CSVN xơi tái. Tại ngọai quốc này, những đảng phái ký tên hô hào những Phạm trù Dân chủ, Nhân quyền trừu tượng, nhiều khi chỉ vì mục đích nêu tên cho biết sự hiện hữu của một đảng phái hay nhóm này nhóm khia. Thực chất như thế nào, Dân chúng quốc nội đâu có biết. Chỉ Dân chúng quốc nội mới quyết định hữu hiệu đấu tranh của họ. Chúng ta chỉ là yểm trợ, mong đẩy mạnh cuộc đấu tranh của Dân chúng nghèo khổ quốc nội (không phải là Trí thức Dân chủ Phạm trù trừu tượng)
Phong trào đẩy mạnh việc chấm dứt CƠ CHẾ
Khi nói là Phong trào, chúng tôi có ý nói là số đông người đồng hô hào một đường hướng. Chúng tôi ở Thụy sĩ nhỏ bé, nên không dám có tham vọng hô hào một Phong trào khi nghĩ đến những Vị có nhiều thành tích đấu tranh đang sống tại Hoa kỳ, một nước lớn với tầm ảnh hưởng bao trùm.
Thực ra, tôi đã hết lòng tin tưởng ở Tổng Thống BUSH vì tin ở lòng thành thực của Oâng cho DÂN CHỦ. Nhưng Tổng Thống BUSH đã hết nhiệm kỳ. Còn OBAMA với nhóm Clinton, thì tôi ít tin tưởng vì họ sẽ ít nghĩ đến can thiệp cho Dân chủ tại Việt Nam. Vì vậy, mỗi lần thấy Obama nói trên đài CNN, là tôi đổi sang đài truyền hình khác, thà để xem phim diễu còn hơn.
Nói như vậy, tôi muốn nhấn mạnh rằng việc ở Việt Nam là do chính người Việt Nam giải quyết với nhau. Điều đó là hữu lý. Việc của mình mà cứ trông ngóng người khác làm dùm, thì thật là ỷ nại.
Giải quyết DỨT BỎ CƠ CHẾ THAM NHŨNG CSVN là do chính người Việt Nam tại quốc nội phải thanh tóan đảng CSVN. Người Việt tại nước ngòai không thể mang Cách mạng về giải phóng Quê Hương được, mà phải chính đồng bào quốc nội trách nhiệm giải quyết. Đó là hữu lý. Đó là cuộc sống của chính đồng bào quốc nội. Nếu họ không trách nhiệm và can đảm giải quyết, thì họ ráng cúi đầu tiếp tục bị CSVN đè nén, bóc lột và đánh đập.
Chúng ta tại nước ngòai chỉ giữ vai trò yểm trợ. Chúng ta tìm mọi cách để ĐẨY MẠNH VIỆC CHẤM DỨT CƠ CHẾ mà chủ lực phải là Dân chúng nghèo khổ 75% Dân số tại quốc nội. Với quan điểm như vậy, chúng tôi sẽ viết NHỮNG LỌAT BÀI khai triển những phạm vi sau đây liên quan trực tiếp đến việc tòan Dân nỗ lực chung sức ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN để phát triển Kinh tế Đất Nước
(i) LỌAT BÀI 1:
Chất vấn những Cố vấn Kinh tế cho chế độ, những Giáo sư Kinh tế dậy học ở Việt Nam về việc họ biết sự thật về Kinh tế mà hèn không dám nói lên.
(ii) LỌAT BÀI 2:
Vạch mặt những Trí thức hồi hưu hoặc thất nghiệp tại ngọai quốc, nay trở về Việt Nam hưởng thụ và mang ý tưởng ủng hộ CSVN để hợp tác giết dân chúng.
(iii) LỌAT BÀI 3: Phỉ nhổ những con ông cháu cha của đảng đang lấy tiền tham nhũng để sống sung sướng tại nước ngòai.
(iv) LỌAT BÀI 4:
Giải thích cho lớp tuổi trẻ Việt Nam rằng những con ông cháu cha của đảng đang phây phây tiêu tiền bạc tại ngọai quốc để lớp thanh niên tại quốc nội sống không biết tương lai ra sao.
(v) LỌAT BÀI 5:
Viết cho dân nghèo biết rằng sự nghèo khổ của họ là do sự cướp bóc bất công của đảng CSVN đến nỗi mỗi khi họ than lên là bị công an dùng sức mạnh đàn áp.
(vi) LỌAT BÀI 6:
Làm thế nào để dân chúng cùng cực thấy rằng đã đến lúc tức nước vỡ bờ phải đứng lên, dù bằng bạo lực. Hiện giờ dân nghèo không còn sợ bạo lực công an nữa và đã đứng lên đập lại tụi công an và đám côn đồ xã hội đe do CSVN thuê mướn.
Chú thích: Những Mức độ phát biểu về Kinh tế CSVN
Viết những Lọat Bài trên đây, chúng tôi sẽ phải gặp những Phát biểu của những người liên hệ đến Kinh tế CSVN. Khi Phát biểu về những vấn đề này, có những mức độ sau đây mà chúng tôi muốn Liệt kê để độc giả cũng như chúng tôi dễ thẩm định về một nhân vật phát biểu:
1) Khen những biện pháp chữa trị của CSVN
2) Coi những suy sụp Kinh tế hiện nay tại Việt Nam như hậu quả của tình hình Khủng hỏang chung, chứ không phải từ những lý do từ CSVN.
3) Đề nghị ra những biện pháp mà dân chúng phải làm theo hướng dẫn của đảng và nhà nước CSVN
4) Kêu gọi sự hợp tác của mọi từng lớp để cứu nguy Kinh tế
5) Nói tổ quát về lý do tham nhũng, lãng phí như là một trong những lý do gây khó khăn Kinh tế.
6) Kêu gọi chống tham nhũng, lãng phí để phục hồi và phát triển Kinh tế.
7) Chỉ đúng cái căn nguyên đích thực là CƠ CHẾ phát sinh tham nhũng, lãng phí làm suy thóai Kinh tế do tham nhũng, nhưng chỉ kêu gọi CSVN cải cách.
8) Khẳng định với những nguyên tắc hiển nhiên Kinh tế rằng cái CƠ CHẾ chủ trương việc cấu kết ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm ĐỘC QUYỀN KINH TẾ đã, đang và còn tiếp tục tàn phá Kinh tế Việt Nam.
9) Phải THÚC ĐẨY việc DỨT KHÓAT lọai bỏ cái CƠ CHẾ độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế này để cứu vãn và phát triển Kinh tế Đất nước.
Đối với chúng tôi, khi nói về Kinh tế dưới chế độ hiện hành CSVN, chúng tôi khẳng định rõ rệt ở mức độ 8) và 9) trên đây. Thực vậy, với 12 Bài viết về những nguyên tắc Kinh tế thuộc Chủ đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH, chúng tôi đưa đến Kết luận ở mức độ thứ 8) trên đây. Với những Bài đang tiếp tục viết thuộc Chủ đề ĐẨY MẠNH VIỆC DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN, chúng tôi khai triển mức độ thứ 9).
Qua những mức độ nói về Kinh tế CSVN liệt kê trên đây, chúng tôi thẩm định những cố vấn Kinh tế, những giáo sư Kinh tế nào, thực tình là cố vấn, thực tình giảng dậy những nguyên tắc Kinh tế. Có những doanh nhân từ nước ngòai về Việt Nam làm ăn, chúng tôi cũng muốn biết thái độ của họ như thế nào đối với CSVN khi họ biện minh cho việc làm ăn chung với CSVN. Có những người hoặc Nhóm chủ trương Đối thọai, Hòa Hợp Hòa Giải với CSVN, chúng tôi muốn nhìn xem họ Đối thọai hoặc Hòa Hợp Hòa Giải ở mức độ nào hay là chỉ xử dụng những chiêu bài ấy để tăng cường cho một CƠ CHẾ đã, đang và sẽ tàn phát Kinh tế Đất Nước. Những Mức độ Phát biểu liệt kê trên đây cũng cho phép chúng tôi thẩm định ngay những người làm Văn hóa, Xã hội hoặc Tôn giáo đứng trước một CƠ CHẾ làm phát sinh và tràn lan Tham nhũng. Cũng dựa theo những Mức độ này, chúng tôi nhìn những Chính quyền nước ngòai, một mặt thì hô hào Nhân quyền, một mặt thì hợp tác với một CƠ CHẾ thù địch của phát triển Kinh tế Việt Nam khiến đại đa số Dân chúng không còn ngay cái Quyền DẠ DẦY nữa.
Viết theo chiều hướng ấy để tạo một Phong trào nổi dậy. Dầu sao Phong trào nổi dậy của dân nghèo đã bắt đầu. Chỉ cần thông tin phụ lực và đẩy mạnh thêm. Bài MỞ ĐẦU này là Kết Luận của Lọat bài Chủ đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH gồm 12 Bài phân tích về Nguyên tắc phải DỨT BỎ một CƠ CHẾ THAM NHŨNG. Chủ đề cho những Lọat Bài sẽ viết nhằm Mục đích thúc đẩy mạnh việc CHẤM DỨT CƠ CHÊ THAM NHŨNG, nghĩa là khi thấy Nguyên tắc, chúng ta phải cùng nhau làm thành Phong trào THỰC HÀNH việc DỨT BỎ như Nguyên tắc đã mà chúng ta chấp nhận.
Xin qúy Độc giả vào Website dưới đây để đọc 12 Bài Chủ đề và 10 Bài Phụ Bản của Chủ đề: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
DUT BO CO CHE CSVN : http://VietTUDAN.net/11658/42806.html
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH: Bài 12
DÂN CHỦ HÓA KINH TẾ DẪN ĐẾN DÂN CHỦ HÓA CHÍNH TRỊ
DÉMOCRATISATION ECONOMIQUE => DEMOCRATISATION POLITIQUE
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 22.01.2009
Đây là bài QUAN ĐIỂN chót cho Chủ đề: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH. Cơ chế hiện hành là độc tài Chính trị nắm trọn độc quyền Kinh tế. Cơ chế như vậy là đất tốt làm phát sinh và tràn lan quốc nạn THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ. Quốc nạn này đang làm thụt lùi Kinh tế và sẽ còn là ngăn cản cho mọi cố gắng của Dân tộc, dù chịu khó làm ăn đến đâu, cũng không thể phát triển được Kinh tế Đất Nước. Điều quan trọng không phải là đi tìm diệt những Cá nhân Tham nhũng, Lãng phí, ăn Hối lộ, nhưng là phải DỨT BỎ CÁI CƠ CHẾ làm đất tốt cho quốc nạn ấy phát sinh và tràn lan. Cải cách CƠ CHẾ chỉ là tìm cách giữ lại quyền hành mà căn bản tội ác vẫn được duy trì. Đó chỉ là vá chiếc VÁY ĐỤP bằng những mảnh vải mầu mè lừa đảo.
Việc DỨT BỎ CƠ CHẾ hiện hành có nghĩa là: * Không còn ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ, nghĩa là phải có DÂN CHỦ từ đa số * Không cho ĐỘC QUYỀN KINH TẾ, nghĩa là phải tôn trọng tư hữu và tư doanh * Không cho quyền ĐÁNH ĐĨ TRỰC TIẾP giữa hai quyền lực trên
Chúng tôi hiểu rằng CƠ CHẾ hiện hành đang được đảng CSVN mặt dầy mày dạn, cố thủ giữ lấy quyền hành, xử dụng bạo lực đẩ đàn áp nguyện vọng chính đáng của tòan Dân. Tôi hiểu hòan cảnh ấy, nhưng tôi tin tưởng với kinh nghiệm Lịch sữ rằng khi Dân chúng, giữ Nguyên tắc DÂN CHỦ, trước khi DẠ DẦY của mình rống tuếch chờ chết, thì họ sẽ không còn sợ bạo lực đàn áp nữa và sẽ trở thành hòan tòan BẠO ĐỘNG đập tan quyền lực đã làm cho họ đang ngoi ngóp chết vì đói.
Cái tiến trình này đang đi tới như một ĐỊNH MỆNH CỦA QUYỀN DẠ DẦY ( La Destinée du Droit de l’Estomac/ The Destiny of Stomach Right). Khi ĐỊNH MỆNH đi tới, thì nó cứ lù lù đi tới mà không biết có bạo lực nào bên cạnh. Nó đang đi tới và càng tiến mau với những Khủng Hỏang Kinh tế/ Tài chánh hiện nay.
ĐỊNH MỆNH ấy đang tiến tới DÂN CHỦ HÓA. Nhưng Tiến Trình Dân Chủ Hóa trong Xã hội đang bị đàn áp bởi CƠ CHẾ CSVN hiện nay và có những khó khăn từng chặng, nên chúng tôi muốn giới hạn những gì thực tiễn dễ đi để mau chóng làm Dân tộc Việt Nam phục hồi và phát triển Kinh tế để tối thiểu DẠ DẦY của lớp Dân chúng cùng cực có miếng ngô khoai thực sự sống chứ không phải chỉ có Ý thức hệ Mác-Lê định hướng XHCN làm đau dạ dầy.
Chúng tôi đề cập đến những khía cạnh sau đây: => Thế nào là DÂN CHỦ => Tỉ dụ thiết lập DÂN CHỦ tại một số Quốc gia => Từ Dân chủ hóa Kinh tế đến Dân chủ hóa Chính trị
Thế nào là DÂN CHỦ
Trong mấy ngày nay, để viết thế nào là DÂN CHỦ, chúng tôi định làm theo một số những bài học lý thuyết là trước hết đi tìm xem những Triết gia như Platon, Aristote định nghĩa về Dân chủ như thế nào.
Trong lúc viết bài này, tôi đang mở nhạc Việt Nam để nghe. Tư nhiên tôi thấy rằng tại sao phải đi tìm nơi những quốc gia khác như Hy Lạp, mà khôg tìm trực tiếp Dân tộc mình từ trước đến giờ đã hiểu về DÂN CHỦ như thế nào. Như vậy cũng đủ cho CSVN hiểu thế nào là Dân chủ, nhất nữa đó là từ chính Dân tộc mình. Chúng tôi đưa ra những tỉ dụ sau đây từ chính Dân tộc về Dân chủ:
1) Mã Viện dựng Cột Đồng Trụ và thề tận diệt Dân tộc Việt ít người, nếu Cây Cột ấy bị đổ. Vua Việt Nam tất nhiên biết rằng nếu ra lệnh kêu Dân kéo cây cột ấy xuống, thì Mã Viện biết và sẽ đem quân tàn sát Dân Việt. Nhà Vua thông minh và đã dành cho Dân chúng quyền quyết định hạ Cột Đồng Trụ ấy. Mỗi người dân đi qua, chỉ cần ném vào đó một viên sỏi. Đó là việc tòan Dân tham dự vào việc diệt Cột Đồng Trụ. Sức mạnh của Cá nhân chủ và Dân chủ đã đóng góp triệt hạ Cột Đồng Trụ mà Mã Viện không làm gì được. Tại sao ngày nay, đảng CSVN đã đàn áp sức mạnh Cá nhân chủ và Dân chủ của tòan Dân muốn lên tiếng nói về Hòang Sa và Trường Sa? Tại sao diệt sức mạnh quần chúng ?
2) Dân quê Việt Nam mộc mạc, trong một chế độ Quân chủ Vua Chúa, đã vẫn công khai tuyên bố: “LUẬT VUA THUA LỆ LÀNG”. Vua Chúa đâu dám nói như vậy là phản đối Quyền Lực Cai Trị, gây rối trật tự công cộng đối với Chính quyền. Ngay người Dân quê Việt Nam đã biết rằng họ có một cái quyền mà chính quyền độc tài Quân chủ Vua Chúa cũng phải tôn trọng. Đó là quyền DÂN CHỦ của Dân quê đó.
3) Không người Việt Nam nào không học bài học ngàn đời: Nhà Vua triệu tập HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG để lấy quyết định tối cao của tòan Dân trong việc chiến đấu sống chết đối với Tầu xâm lăng. Không ai có thể nói rằng đây không phải là tinh thần DÂN CHỦ mà quyền lực Vua Chúa Cai Trị và tòan thể Dân chúng đều biết rõ mà không cần phải Platon, Aristote đời xưa hay Mác-Lênin của Cộng sản định nghĩa. Cả Vua và Dân Việt Nam đã từ lâu hiểu thế nào là DÂN CHỦ và hiểu phải có sức mạnh của DÂN CHỦ thì mới quy tụ được mọi người trong những hòan cảnh sống chết quan trọng.
Ba tỉ dụ trên đây cũng đủ cho thấy rằng người Dân Việt Nam đã từ lâu biết thế nào là DÂN CHỦ. Những ai nói rằng Dân Việt Nam chưa ý thức được Dân chủ là gì, thì đó là điều ngụy biện để không cho Dân chúng quyền DÂN CHỦ mà thôi.
Thế nào là DÂN CHỦ ? Chúng tôi phân biệt tóm tắt như sau:
=> Quyền CÁ NHÂN CHỦ
Đây là cái quyền trước tiên và căn bản để có thể nói đến Nguyên tắc DÂN CHỦ. Khi đến tuổi trưởng thành, mỗi cá nhân có tòan quyền sống cuộc đời của mình, ngay cả quyền quyết định chấm dứt cuộc sống. Không Tòa án nào kết án trách nhiệm cho một người tự tử. Mỗi người có suy tư và họ trách nhiệm những suy tư của mình. Mỗi người phải nuôi sống thân xác và họ có quyền tư hữu những phương tiện riêng kiếm sống mà người khác phải tôn trọng. Họ làm chủ (CÁ NHÂN CHỦ) những suy tư và những phương tiện kiếm sống nuôi thân xác.
=> Nguyên tắc DÂN CHỦ
Nếu CÁ NHÂN CHỦ là một cái Quyền tự nhiên gắn liền với con người sống đối với những suy tư và những phương tiện làm ăn nuôi sống thân xác mình, thì DÂN CHỦ chỉ là một Nguyên tắc để giải quyết những va chạm giữa các quyền CÁ NHÂN CHỦ khi những Cá nhân quyết định chung sống trong một Tổ chức Xã hội. Khi nói DÂN CHỦ, thì điều đó có nghĩa là một tập đòan cá nhân quyết định sống chung và có một Tổ chức điều hành mà Nguyên tắc giải quyết trong điều hành là DÂN CHỦ, tôn trọng đa số những quyết định của CÁ NHÂN CHỦ.
Tỉ dụ thiết lập DÂN CHỦ tại một số Quốc gia
Với sự phân biệt như trên, chúng ta thấy cái hướng đi, cái tiến trình đi đến một Nguyên tắc DÂN CHỦ mà một Tập thể, cả cá nhân thành phần và cơ quan điều hành phải tôn trọng, cần đi từ nguồn CÁ NHÂN CHỦ để tiến tới Nguyên tắc DÂN CHỦ. Nói như vậy, chúng ta thấy rõ rằng Nguyên tắc DÂN CHỦ không phải là sự ban phát từ Tổ chức điều hành ban phát xuống cho Cá nhân thành phần của Tập thể. Tỉ dụ, đảng CSVN hiện nay đang áp dụng Nguyên tắc sống chung xã hội bằng quyết định độc đóan của đảng lên Tập thể. Nguyên tắc DÂN CHỦ không phải là sự nới rộng, ban phát từ đảng CSVN xuống cho Dân, mà chính là Nguyên tắc giải quyết Xã hội mà những CÁ NHÂN CHỦ đòi hỏi đảng CSVN cai trị phải tôn trọng để điều hành công việc của Tập thể.
Những đảng phái, những Chính trị gia dễ có khuynh hướng nói rằng họ mang đến cho Dân chúng những phạm trù DÂN CHỦ như một ân huệ. Đây là mặc cảm từ thời kỳ Quân chủ độc tài mà những người làm Chính trị hiện nay coi như họ mang DÂN CHỦ đến cho dân như một cuộc giải phóng. Chính vì thế mà họ dễ dàng cấu trúc trong ý tưởng thiệt đẹp những phạm trù DÂN CHỦ xa thực tế để rồi họ phê phán rằng dân chúng chưa có ý thức hoặc họ xử dụng những phạm trù trừu tượng xa thực tế để nắm quyền lợi dụng dân chúng.
Tiến trình cụ thể đi tới DÂN CHỦ phải bắt ngườn từ CÁ NHÂN CHỦ để rút ra những Nguyên tắc giải quyết thực tiễn cuộc sống chung nhất là về quyền làm ăn sinh sống cho thân xác. Nói như vậy, chúng tôi muốn đưa đến một tiến trình đi từ những tư hữu phương tiện làm ăn và những nguyên tắc giải quyết va chạm kinh tế dựa trên quyền lợi cá nhân.
Chúng tôi muốn lấy tỉ dụ của hai Quốc gia có nền DÂN CHỦ cao vào bậc nhất trên Thế giới, đó là Hoa kỳ và Thụy sĩ. Cả hai Quốc gia này có một tiến trình xây dựng nền DÂN CHỦ khá giống nhau và mang những đặc tính sau đây:
=> Tổ chức điều hành của hai Quốc gia đặt nặng trên Phân quyền: quyền của Bang và quyền của Liên Bang. Cả hai nước theo hệ thống Liên Bang, nghĩa là quyền điều hành trực tiếp đời sống dân chúng được dào về phía các Bang. Phía Cá Nhân Chủ được các Bang chia nhau săn sóc cho dân chúng.
=> Lịch sử Nền DÂN CHỦ của hai nước được khởi công xây dựng dựa trên thực tế của cuộc sống kiếm ăn mỗi ngày của dân chúng, nghĩa là từ lãnh vực Kinh tế chứ không từ những phạm trù Dân chủ trừu tượng áp đặt lên cuộc sống cụ thể làm ăn của dân chúng. Thực vậy, Hoa kỳ được gọi là hiệp chủng quốc, nghĩa là gồm đủ mọi thứ dân tụ họp lại trên một mảnh đất mà ưu tư chính yếu là tìm sống về Kinh tế; nước Thụy sĩ từ nguyên thủy cũng có thể gọi là hiệp chủng quốc gồm những người từ mọi nơi lên vùng đồi núi tìm sống. Só dân lúc này của Thụy sĩ là 7 triệu, được phân chia ra 24 Bang để chính mỗi Bang điều hành trực tiếp Cá nhân chủ.
=> Kiến tạo nền DÂN CHỦ từ cuộc sống Kinh tế thực tiễn, chứ không từ những phạm trù Ý thức hệ trừu tượng, hai quốc gia Hoa kỳ và Thụy sĩ đạt được một nền DÂN CHỦ có thể nói là cao và vững chắc nhất Thế giới hiện nay.
Tóm lại việc xây dựng nền DÂN CHỦ tại hai nước cho chúng ta bài học: (i) khởi công xây dựng từ cuộc sống làm ăn cụ thể của Dân chúng, nghĩa là giải quyết chính yếu những vấn đề Kinh tế chung đụng; (ii) phân quyền điều hành Cá nhân chủ trực tiếp với Dân chúng.
Từ Dân chủ hóa Kinh tế đến Dân chủ hóa Chính trị
Tại Việt Nam, một số Tiến trình Dân Chủ Hóa đã được đặt ra, nhưng dường như từ phía những người làm Chính trị dựa trên những phạm trù Ý thức hệ về Dân chủ xa với đời sống cụ thể tìm sóng của Dân chúng. Người ta nhìn thấy một cuộc đấu tranh về những xung khắc quan niệm Ý thức hệ về Dân chủ hơn là việc thực hiện cụ thể những nguyên tắc dân chủ giải quyết cuộc sống làm ăn mỗi ngày của Dân chúng. Chính vì vậy, những Tiến trình Dân chủ hóa không được đại đa số quần chúng nghèo khổ quan tâm cho lắm. Có thể nói rằng khối dân nghèo khổ 75% dân chúng đang quan tâm giải quyết vấn đề đất đai, vấn đề công bằng lao động... hơn là vấn đề Quốc Hội tượng trưng cho Dân chủ như thế nào.
Tiến trình Dân chủ hóa Chính trị hãy bắt đầu bằng những bước cụ thể Dân chủ hóa Kinh tế, điều mà đại đa số quần chúng quan tâm, thiết thân. Dân chủ có nghĩa là Dân làm chủ, nhưng Dân chúng tha thiết đén câu hỏi: làm Chủ, nhưng làm chủ cái gì. Cái gì đó chính là miếng đất nhỏ bé mà họ phải cong lưng cầy cấy ngô khoai kiếm sống. Nếu những nhà Dân chủ trí thức mải mê thuyết trình về quan niệm Dân chủ của Thế giới Tự do như thế nào và Ý thức hệ Dân chủ của Cộng sản ra sao, thì người nông dân nhìn cụ thể dân chủ ở việc họ có được làm chủ chính miếng đất thừa kế từ chính ông cha họ để lại hay không. Hãy giải quyết cụ thể cho họ và sau đó mới thuyết giải những quan niệm trừu tượng.
Gương xây dựng nền DÂN CHỦ tại Hoa kỳ và Thụy sĩ bắt đầu bằng giải quyết CÁ NHÂN CHỦ những phương tiện kiếm sống cụ thể mỗi ngày cho chúng ta thấy rằng phải bắt đầu việc Dân chủ hóa Kinh tế thực sự (Démocratisation Economique). Từ đó Tiến trình Dân chủ hóa Chính trị (Démocratisation Politique) đến như một Hệ luận. Hiện nay, Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế bắt đầu bằng giải quyết những vấn đề cụ thể sau đây:
=> Tôn trọng quyền TƯ HỮU các phương tiện làm ăn, mà cụ thể là quyền Tư hữu Đất đai. Nhà Nước không được quyền dưới danh nghĩa quản lý để tước đọat đất đai, nhà cửa của dân chúng.
=> Tôn trọng quyền TỰ DO làm ăn của Dân chúng. Việc tôn trọng này không cho phép Nhà Nước dùng độc tài Chính trị nắm trọn độc quyền Kinh tế
Nếu giải quyết xong những vấn đề trên đây, chúng ta đã làm công việc Dân chủ hóa Kinh tế (Démocratisation Economique) làm nền tảng tiến đến Dân chủ hóa Chính trị (Démocratisatin Politique) vậy.
Giáo sư Tiến sĩ GUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH: Bài 11 :
YÊU CẦU NHỮNG BIỆN PHÁP CỤ THỂ TIẾN ĐẾN DỨT BỎ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 08.01.2009
Trườc tiên xin mọi người, nhất là CSVN nói trắng làm đen, đừng hiểu rằng loạt bài Chủ đề này là loạt bài chống Cộng. Chúng tôi không thèm viết để chống Cộng nữa bởi vì Ý thức hệ Cộng sản còn đâu mà chống. Xin cũng đừng hiểu rằng đây là những bài viết về Chính trị. Chúng tôi viết hoàn toàn trong phạm vi Kinh tế. Những điều kiện khách quan cho phát triển Kinh tế Đất Nước Việt Nam đòi buộc phải DỨT BỎ cái CƠ CHẾ hiện hành mà CSVN đang chủ trương. Chúng tôi nhấn mạnh đến việc DỨT BỎ chứ không phải là CẢI CÁCH như kiểu vá váy đụp. Cải cách chỉ là vá víu sơn phết bên ngoài mang tính mỵ dân mà nồng cố bên trong là một cái CƠ CHẾ không những không làm cho Kinh tế phát triển mà còn làm cho Kinh tế thất thoát, tụt lùi do THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ phát sinh và lan tràn từ CƠ CHẾ ấy.
Bài QUAN ĐIỂM của Tuần báo VietTUDAN hôm nay 08.01.2009, bài thứ 11 của Chủ đề, được coi là hệ luận của những bài phân tích hoàn toàn trong lãnh vực Kinh tế trước đây. Bài viết mong đưa ra biện pháp cụ thể như bước khởi đầu nhằm TIẾN TỚI dứt bỏ CƠ CHẾ hiện hành.
Chúng tôi đề cập đến những khía cạnh sau đây: => Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ đang là quốc nạn => Một Cơ chế phát sinh và bành trướng quốc nạn => Đề nghị biện pháp cụ thể khởi đầu đi đến chấm dứt Cơ chế
Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ đang là quốc nạn
Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ xoay quanh đồng tiền nhận hay cho một cách lén lút không chính đáng. Chúng tôi theo Tự Điển của LÊ VĂN ĐỨC và LÊ NGỌC TRỤ (ấn bản Nhà sách KHAI TRÍ, Sài Gòn 1970) để đưa ra định nghĩa cho ba chữ này. THAM NHŨNG hay Tham ô là tham lam dơ dáy, tham quá không còn biết xấu hổ phải quấy chi cả. LÃNG PHÍ là tiêu xài lãng, hoang phí, vung phí, xài tiền không đúng chỗ mà không biết tiếc. HỐI LỘ là lo lót, đút nhét, dâng của cải cách kín đáo cho kẻ có quyền để nhờ cậy che chở hay ban ân huệ. Những chữ này liên hệ trực tiếp đến tiền bạc và quyền hành, điều mà chúng tôi sẽ phân tích về cái CƠ CHẾ hiện hành về quyền lực Chính trị và Kinh tế trong đoạn sau.
Những tệ nạn Kinh tế, Xã hội hiện nay ở Việt Nam đều co THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ làm động lực bên trong. Hãy lấy một số sự việc làm tỉ dụ:
=> Mặc dầu ý thức hệ Cộng sản đã lu mờ, nhưng có những người gia nhập đảng CSVN. Những người gia nhập này không phải vì Ý thức hệ hay tinh thần Cách Mạng vô sản nữa, mà chính vì muốn có quyền hành để dễ bề vơ vét tham nhũng, lãng phí và ăn hối lộ.
=> Những chống đối, thậm chí hạ bệ nhau trong đảng CSVN ở cấp Lãnh đạo cao, cũng là vì kéo bè cánh chia phần tham nhũng, làm lãng phí và nuốt hối lộ.
=> Phong trào Dân Oan nổi dậy khiếu kiện tận đến Trung ương mà Trung ương cứ lần tránh vòng vo không giải quyết, cũng là vì tham nhũng, lãng phí, ăn hối lộ một lũ từ Trung ương đảng đến địa phương.
=> Vụ việc Tòa Khâm sứ và Thái Hà khiến Nhà Nước xử dụng những biện pháp giải quyết không xứng đáng, xử dụng báo đài để mạ lỵ hoặc bóp méo luật pháp cũng có nguyên nhân là tham nhũng, nhận hối lộ mà không lãnh đạo cao cấp nào dám nói ra cho rõ ràng.
=> Tình trạng sinh hoạt Kinh tế tụt dốc của những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước cũng là do tham nhũng, lãng phí, hối lộ trong sinh hoạt Kinh tế.
=> Một số nước, trong chương trình ODA, ngưng cấp vốn, cũng là tại lý do tham nhũng, lãng phí, ăn hối lộ của phía hữu quyền Việt Nam. Đây là việc làm thiệt hại cho phát triển Kinh tế đất nước.
=> Thể diện Quốc gia bị mất cũng là tại những vụ hối lộ, tham nhũng, ăn cắp, lãng phí... của những nhân viên nhà nước. Vụ tổ chức ăn cắp bị bắt tại Nhật, vụ sừng tê giác tại Nam phi, vụ chuyển tiền lậu tại Uùc, tại Bá Linh chẳng hạn.
THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ lan tràn trong giới cầm quyền và đang là QUỐC NẠN cho tụt dốc Kinh tế, tạo hố sâu giầu nghèo giữa giữa một thiểu số cầm quyền và đại đa số dân chúng. Những kẻ cầm quyền thuộc đảng CSVN. Mỗi khi đảng này ca tụng số đảng viên đông, là đại đa số dân chúng càng cay đắng vì những đảng viên này mang quốc nạn đến cho mọi người.
Một Cơ chế phát sinh và bành trướng quốc nạn
Cái mầm THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ nằm sẵn ở trong mỗi cá nhân dù cá nhân ấy thuộc chủng tộc nào. Thay vì nói Nhân Chi Sơ Tính Bản Thiện, có thể nói rằng Nhân Chi Sơ Tính THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ khi biết đến Đồng Tiền hai chữ son khuyên ngược. Vì cái mầm nằm sẵn từ bẩm sinh trong mỗi cá nhân, nên chúng ta không nói được diệt cái mầm Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ một cách đơn giản bằng kêu gọi tinh thần của mỗi cá nhân được. Thực vậy, Diệt tham nhũng không phài là việc kêu gọi tinh thần Cách Mạng, hay nêu cao Đạo Đức mà diệt được.
Cái mầm Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ nằm trong mỗi cá nhân, không phân biệt chủng tộc. Nhưng tại mỗi nước, cái mầm ấy nảy chồi, lớn lên và lan tràn tùy theo cái mầm gặp được đất tốt, có được hoàn cảnh thuận tiện hay không. Tại Việt Nam, cái mầm ấy đã nẩy chồi, thành cây và sinh thêm con cái để trở thành QUỐC NẠN Tham nhũng, Lãng phí và Hối lộ, bời lẽ cái CƠ CHẾ hiện hành mà đảng CSVN chủ trương tạo ra một vùng đất tốt, một hoàn cảnh, một sự che chở để cái mầm ấy tha hồ nầy sinh và bành trướng.
Vậy việc diệt trừ THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ kông phải là diệt cá nhân bẩm sinh mang cái mầm, nhưng là diệt cái CƠ CHẾ đã làm hoàn cảnh, điều kiện tốt cho cái mầm ấy nẩy chồi và bành trướng thành quốc nạn.
Cái CƠ CHẾ hiện nay là ĐỘC TÀI QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ nắm trọn ĐỘC QUYỀN KINH TẾ vào trong một người, một đảng. Phải diệt cái CƠ CHẾ cho phép hai cái độc quyền này cấu kết với nhau. Chúng tôi thường đưa ra hình ảnh về việc ĐÁNH ĐĨ giữa độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế để cái trứng của quái thai THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ sinh ra và được che chở nuôi dưỡng lớn lên.
Thực tế mà nói, việc diệt Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ hay làm cho cá nhân ngại sợ trong việc ăn hối lộ, tham nhũng và lãng phí tùy thuộc hai điều kiện sau đây:
=> Loại bỏ cái CƠ CHẾ làm dịp phát sinh tham nhũng, lãng phí, hối lộ. Chúng tôi đã viết rằng một Thánh nhân nhốt chung phòng với cô gái đẹp nơi âm u kín đáo, dễ sinh lòng dục. Đừng thuyết lý đạo đức cho Thánh nhân, mà hãy đừng cho Thánh nhân ở chung phòng âm u với cô gái để có dịp sinh lòng dục. Chính bản thân tôi, nếu tôi có toàn quyền sinh sát và ngồi bên cạnh đống vàng, thì tôi dễ dàng muốn biển thủ mấy thòi vàng nhét vào túi riêng. Phải bỏ hẳn cái CƠ CHẾ cho phép người có quyền lực sinh sát nắm thêm độc quyền cho tham nhũng lan tràn. Phải dứt bỏ nó đi.
=> Những kẻ làm tham nhũng, lãng phí, hối lộ thường ngó trước nhìn sau, xem có ai biết đến việc tồi tàn của mình hay không. Họ không sợ lương tâm của họ, nhưng sợ sự nhòm ngó của người khác khiến họ mất vị trí quyền lực để làm việc tồi tàn. Phải để tự do báo chí phanh phui ra tham nhũng, lãng phí và hối lộ. Ở trên, chúng tôi nói rằng cho Thánh nhân ở chung với cô gái đẹp trong PHÒNG KÍN ĐÁO ÂM U, nghĩa là ở nơi mà người ngoài kông trông thấy được. Thực vậy, nếu Thánh nhân ở chung với cô gái tại nơi thoáng đạt mà người khác có thể trông thấy, thì cái mầm dục của Thánh nhân cũng phải co vòi vì sợ người khác biết tới. Báo chí được tự do phanh phui, thì việc tham nhũng, lãng phí và hối lộ cũng giảm hẳn xuống vì sợ người khác, mặc dù không sợ đén lương tâm.
Tóm lại, Tham nhũng, Lãng phí, Hối lộ lan tràn ở Việt Nam và trở thành quốc nạn. Diệt trừ quốc nạn này không phải là diệt cá nhân bởi lẽ cái mầm tham nhũng, lãng phí, hối lộ nằm tại mỗi người. Diệt trừ quốc nạn này là phải phế bỏ CƠ CHẾ hiện hành cho phép quyền lực Chính trị nắm lấy độc quyền Kinh tế và để Báo Chí tự do phanh phui tham nhũng, lãng phí, hối lộ làm cho những tham quan lớn bé phải lo sợ cho dù chính họ kông biết sợ lương tâm mình.
Đề nghị biện pháp cụ thể khởi đầu đi đến chấm dứt Cơ chế
Đích điểm chủa chúng ta là đi tới DỨT BỎ cái CƠ CHẾ hiện hành làm cho Đất Nước không phát triển Kinh tế dù Nhà Nước có tuyên bố huênh hoang là Vĩ mô hay Vỗ mu đến đâu đi nữa. Đây là khẳng định khách quan, không mang mầu sắc Chính trị, chống Cộng hay chống Kẹo gì cả. Đây chỉ là vì tương lai phát triển Kinh tế của đất nước để đa số dân chúng thoát cảnh nghèo khổ.
Chúng tôi không có tham vọng đưa ra một Tiến trình gồm tuần tự những điểm đi đến đích điểm như vừa nói trên. Chúng tôi chỉ muốn thực tiễn và cụ thể đề nghị điểm khởi đầu. Chúng tôi rất thích câu tục ngữ đầy kinh nghiệm của dân chúng: Đầu Xuôi Đuôi Lọt. Chúng tôi cũng ý thức rằng cái đảng CSVN này cối chấy, mặt dầy mày dạn, muối mặt xử dụng bạo lực tàn ác để cố thủ giữ lấy CƠ CHẾ hiện hành đã nuôi dưỡng lớn lên và tràn lan cái quái thai THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, HỐI LỘ. Chúng lại đã tổ chức được một số người từ Tôn giáo luồn trôn, một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc như chó đói, để ủng hộ chúng. Thậm chí có những Kinh tế gia làm Cố vấn mà trở thành nịnh thần vì tư lợi, dấu lẹm đi những nguyên tắc Kinh tế khách quan mà họ đã học được. Những Cố vấn nịnh thần Kinh tế này chỉ nói đến CẢI CÁCH mà không nói đến DỨT BỎ CƠ CHẾ.
Nhưng chúng tôi vẫn đưa ra biện pháp cụ thể khởi đầu vì nhìn thấy cái hy vọng thực hiện để rồi đầu xuôi đuôi lọt. Chúng tôi hy vọng thực hiện cái Khởi Điểm này vì những lý do sau đây:
=> Từ ngày Tiền Giang Nổi Sóng với Dân Oan kéo về Trụ sở Quốc Hội 2 Sài Gòn, chúng tôi thấy niềm hy vọng một cuộc ĐỘT BIẾN của dân nghèo. Chúng tôi ít tin vào Trí thức làm đột biến. ĐỘT BIẾN phải từ dân nghèo cùng cực đi từ quyền DẠ DẦY. Khi mà đói ăn, thay vì chết đói, thì phải đứng lên trước khi chết vì dạ dầy đói veo. Kinh nghiệm Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Vô sản 1917 và Cách Mạng dứt bỏ Cộng sản Nga và Đông Aâu 1989 đều cho thấy quyền lực độc tài nào đi chăng nữa cũng không thể chống lại người đói sắp chết. Từ ngày đó đến giờ, chúng tôi chỉ khai triển đề tài quyền DẠ DẦY này (Stomach Right) của Dân nghèo thay vì Nhân quyền (Human Rights) của những nhà Trí thức Chính trị cuội.
=> Phong trào Dân Oan đòi Nhà Đất mỗi ngày mỗi lan rộng và quyết liệt mặc dầu CSVN đã tàn nhẫn dùng bạo lực Công an đàn áp. Phong trào này đang lớn mạnh tại những địa phương, nhất là tại Miền Bắc. Xin độc giả đọc thông thin đăng tải nhiều trong số báo này như tại Hải Dương, Hưng Yên, Kiên Giang...
=> Một điều làm chúng tôi vui mừng là dân chúng không còn sợ sệt trước bạo lực Công an, Cảnh sát nữa. Họ sẵn sàng dùng sức mạnh để tự vệ, nghĩa là tấn công lại Công an để tự vệ. Đây là quyền chính đáng. Hãy đọc tin dân chúng Kiến giang dùng lửa xăng tấn công lại Công an đàn áp, bắt luôn cả chó của Công an. Rất tiếc dân chúng đã khoan hồng cho con chó mà không làm giồi chó, nấu nồi rựa mận với củ chuối để cho CSVN biết tay.
=> Tinh thần đấu tranh chống lại Bất Công, đòi Công Lý của Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT, của Giáo dân Hà Nội, của Xứ Thái Hà vẫn kiên trì đi lên. Giáo dân Thái Hà đã cương quyết đưa CSVN ra trước Pháp Luật.
=> Dân chúng các Giáo xứ từ Miền Trung vào Miền Nam cùng Hiệp thông đòi Công Lý, chống lại Bất Công, nghĩa là những hành động Tham nhũng của quyền lực.
Chúng tôi đề nghị bước đầu cụ thể trong hy vọng đà tiến của Phong trào Dân Oan, Giáo Oan bắt buộc CSVN phải chấp nhận.
Đề nghị bước đầu cụ thể này cũng không có gì mới lạ vì:
* Trước đây, nhóm nghiên cứu về Kinh tế thuộc Đại học Haward cho Việt Nam cũng đã đề nghị tương tự: phải có Ban Cố vấn độc lập cho Kinh tế / Tài chánh bên cạnh Nhà Nước Việt Nam.
* Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) cũng mới cảnh cáo rằng Việt Nam phải thay đổi CƠ CHẾ. Nếu không sẽï bị tụt lùi Kinh tế * Một số những Kinh tế gia quốc tế cũng đòi điều kiện thay đổi CƠ CHẾ tại Việt Nam vì nhu cầu phát triển Kinh tế.
Theo tinh thần của những ý kiến trên đây và với cao trào đấu tranh của đại đa số dân chúng trong nước cho quyền DẠ DẦY, cho CÔNG LÝ, chúng tôi đề nghị bước đầu cho tiến trình đi đến dứt bỏ CƠ CHẾ hiện hành như sau:
1) Thiết lập HỘI ĐỒNG QUỐC GIA THANH TRA KINH TẾ
Hội đồng này mang tính cách độc lập không do Nhà Nước CSVN chỉ định. Hội Đồng gồm có những Đại diện Dân Oan mỗi Tỉnh, Đại diện Tôn Giáo, Đại diện một số Đảng phái. Hội Đồng có Trụ sở làm việc tại Việt Nam về những vấn đề Kinh tế.
2) Thành lập NHỮNG ỦY BAN CHUYÊN MÔN THANH TRA
Những Uûy Ban chuyên môn này do Hội Đồng Quốc Gia Thanh Tra mời gọi những Chuyên viên trong nước cũng như ngoài nước. Những Uûy Ban Chuyên môn sau đây là cần thiết: a. Uûy Ban Liên hệ Đầu Tư Quốc tế b. Uûy Ban Thẩm Định Đầu Tư Nhà Nước c. Uûy Ban Kiểm toán những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước d. Uûy Ban Thanh tra Xuất-Nhập cảng e. Uûy Ban Hỗ trợ Tư Doanh e. Uûy Ban Cố vấn Nông thôn
3) Thành lập tờ THÔNG TIN KINH TẾ
Tờ THÔNG TIN KINH TẾ này do HỘI ĐỒNG QUỐC GIA THANH TRA KINH TẾ chịu trách nhiệm. Tờ THÔNG TIN độc lập với Nhà Nước và chỉ nói về Kinh tế, Tài chánh.
4) Thành lập NGÂN QUỸ ĐỘC LẬP cho Hội Đồng Quốc Gia Thanh Tra Kinh tế.
Để bảo đảm tính cách độc lập của Hội Đồng Quốc Gia Thanh Tra Kinh tế, Hội Đồng có quyền kêu gọi Ngân Quỹ từ những nhà hảo tâm trong nước cũng như ngoài nước. Việc này có thề làm được vì một số Tư doanh quốc nội ủng hộ, người Việt tại Hải ngoại sẵn sàng đóng góp và một số Chính phủ nước ngoài trợ lực cho cải thiện Kinh tế Việt Nam.
Chúng tôi chờ đón những đóng góp ý kiến từ độc giả cho đề nghị thô thiển trên đây.
Giáo sư Tiến sĩ GUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH: Bài 10:
CHÍNH TRỊ VÀ LUẬT PHÁP CHỈ LÀ MÔI TRƯỜNG CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 01.01.2009
Chính trị, Luật pháp tự nó không phải là hoạt động Kinh tế, nghĩa là làm ra tiền, tạo ra sự giầu có. Nó chỉ là điều kiện để những hoạt động Kinh tế thực hiện. Chúng tôi đề cập đề tài này dưới những khía cạnh sau đây:
=> Ba môi trường phát triển Kinh tế (Trois environnements économiques) => Môi trường Chính trị-Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquats) => Môi trường Chính trị_Luật pháp Việt Nam tréo cẳng ngỗng
Ba môi trường phát triển Kinh tế (Trois environnements économiques)
Sự phát triển Kinh tế quốc gia chịu ảnh hưởng từ ba điều kiện (conditions), hay nói nhẹ nhàng hơn nằm trong ba môi trường (environnements): (i) Môi trường Địa lý tự nhiện (Environnement géographique naturel); (ii) Môi trường Nhân số (Environnement démographique); (iii) Môi trường Chính trị-Luật pháp (Environnement Politico-Juridique). Ba Môi trường này tạo bước khởi đầu của nền Kinh tế và định hướng phát triển của nền Kinh tế ấy.
=> Môi trường Địa lý tự nhiện (Environnement géographique naturel)
Môi trường Địa lý tự nhiên cung cấp cho nền Kinh tế những tài nguyên để khai thác. Những đồng bằng hướng Kinh tế về Nông nghiệp. Không ai khuếch trương Ngư nghiệp tại những nước gồm sa mạc, cát nóng, nhưng những nước này khai thác Dầu lửa và phát triển những Kỹ nghệ liên quan đến dầu lửa.
=> Môi trường Nhân số (Environnement démographique)
Nhân số là yếu tố tiêu thụ cũng như sản xuất. Nguồn nhân lực sản xuất đến từ nhân số: tuồi tác hoạt động, tính tình làm việc, giáo dục căn bản, huấn luyện nghề nghiệp... Có những dân tộc mang nhiều tinh thần kỷ luật, khéo léo về tay chân, hấp thụ mau chóng nghề nghiệp. Nhân lực có khả năng tự nhiên bẩm sinh ( capacité innée), nhưng cũng có khả năng hấp thụ từ huấn luyện (capacité acquise par formation). Tất cả cung cấp cho nền Kinh tế điều kiện để khởi công và phát triển.
=> Môi trường Chính trị-Luật pháp (Environnement Politico-Juridique)
Xin độc giả đừng hiểu đây là Chính trị Kinh tế, Chính trị Thương mại (Politiques Economique, Commerciale), nghĩa là những biện pháp làm kinh tế hay thương mại. Chính trị ở đây được hiểu theo nguyên nghĩa Chính trị của nó, nghĩa là lựa chọn một ý thức hệ, một đường lối quản trị quốc gia theo ý thức hệ lựa chọn. Luật pháp ghép liền với Chính trị được hiều như những Luật lệ quy định hoạt động Kinh tế theo Chính trị đã được lựa chọn cho quốc gia. Môi trường Chính trị-Luật pháp (Environnement Politico-Juridique) được hiểu theo ý nghĩa này làm điều kiện ảnh hưởng đến những hoạt động Kinh tế.
Môi trường Chính trị-Luật pháp phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat)
Trong phần này, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến tính cách phù hợp về Luật pháp giữa một Ý thức hệ Chính trị lựa chọn và một hệ thống Kinh tế chấp nhận. Chúng tôi đưa ra đây hai tỉ dụ về tính cách phù hợp ấy:
1) Tỉ dụ thứ nhất: Ý thứ hệ Cộng sản và Hệ thống Kinh tế Tập quyền Chỉ huy
Ý thức hệ Chính trị Cộng sản là quyền lực tập trung vào một đảng duy nhất quản trị quốc gia. Ý thức hệ ấy chủ trương Công hữu, nghĩa là phủ nhận quyền Tư hữu Kinh tế về cả Tiêu thụ lẫn những phương tiện Sản xuất. Có sự phù hợp nhất quán giữa chế độ qủan trị Chính trị độc tài và hệ thống Kinh tế Chỉ huy tập quyền, nghĩa là Luật pháp đươc đưa ra cho phù hợp giữa Chính trị độc tài và việc Chỉ huy Kinh tế độc quyền của Nhà Nước. Thực vậy, hai tiếng CÔNG HỮU có nghĩa là tất cả những phương tiện sản xuất đều thuộc quyền quản lý của Nhà Nước. Tư nhân không có Tự do cá nhân để xử dụng những phương tiện sản xuất. Tổ chức sản xuất Kinh tế phải do Nhà Nước chỉ huy hoạch định. Kết quả của việc sản xuất cũng thuộc về Công hữu, nghĩa là cá nhân không có quyền tự do tiêu thụ. Nhà Nước hoạch định và chỉ huy luôn cả việc tiêu thụ của cá nhân. Một hệ thống tập trung chỉ huy sản xuất và tiêu thụ như vậy hoàn toàn phù hợp với Ý thức hệ Chính trị Cộng sản thâu tóm tất cả tư hữu vào CÔNG HỮU. Cá nhân chỉ còn là công cụ sản xuất của Nhà Nước. Nhà Nước phải BAO CẤP cho tiêu thụ cá nhân là hệ luận tất yếu. Tính cách phù hợp của Mội trường Chính trị-Luật pháp là hoàn toàn (Environnement Politico-Juridique est parfaitement adéquat).
2) Tỉ dụ thứ hai: Ý thứ hệ Dân chủ và Hệ thống Kinh tế Tự do do và Thị trường
Ý thức hệ Dân chủ có nghĩa là quyền quản trị quốc gia đến từ người dân trong đó những quyết định cá nhân được tôn trọng. Khi tôn trọng cá nhân thì phải chấp nhận Chính trị đa đảng. Về mặt Kinh tế, quyền TƯ HỮU phải được tôn trọng. Khi tôn trọng quyền tư hữu, thì chính cá nhân có quyền tự do xử dụng những phương tiện sản xuất Kinh tế và chính cá nhân tư hữu những sản phẩm làm ra. Điều này có nghĩa là cá nhân có quyền tự do tiêu thụ sản phẩm của mình theo ý mình. Chấp nhận đa đảng là việc phải có từ việc lựa chọn Ý thức hệ Chính trị Dân chủ. Luật pháp bảo đảm cho tự do cá nhân Kinh doanh đến từ việc tôn trọng quyền TƯ HỮU những phương tiện sản xuất và những sản phẩm từ sản xuất dùng cho tiêu thụ cá nhân. Những Luật pháp Kinh tế làm ra mang tính cách phù hợp hoàn toàn giữa Ý thức hệ Chính trị Dân chủ và quyền Tư hữu Kinh tế (Environnement Politico-Juridique est parfaitement adéquat)
Ở đây, chúng tôi không đưa ra những phán đoán về giá trị của từng Ý thức hệ Chính trị và hệ thống Kinh tế được khai triển trong từng Ý thức hệ Chính trị. Chúng tôi chỉ nêu ra tính cách nhất quán phù hợp giữa Kinh tế và Chính trị trong việc lựa chọn Ý thức hệ và hệ thống Kinh tế.
Chúng ta gọi là CƠ CHẾ một hệ thống Luật pháp toàn bộ điều hành phù hợp từ Ý thức hệ lựa chọn cho đến quyền sinh hoạt Kinh tế. Hai tỉ dụ trên đây cho thấy tính cách phù hợp toàn diện của hai lãnh vực Kinh tế và Chính trị trong một CƠ CHẾ gồm Luật pháp điều hành.
Việc thẩm định giá trị một CƠ CHẾ không nằm ở tính cách phù hợp, mà nằm ở cái kết quả của hệ thống Kinh tế. Thực vậy, dù có sự phù hợp hoàn toàn giữa hệ thống tập trung chỉ huy Kinh tế và lựa chọn Ý thức hệ Chính trị Cộng sản trong một CƠ CHẾ điều hành chung, nhưng kết quả của sinh hoạt Kinh tế tại Nga và các nước Đông Aâu đã khiến những nước này phải từ bỏ CƠ CHẾ mang đến hậu quả đói nghèo cho dân chúng. Việc bao cấp là hệ luận trực tiếp của CƠ CHẾ Nhà Nước nắm toàn quyền về Chính trị và Kinh tế. Nhưng kết quả là Nhà Nước thất bại không thể bao cấp cho dân chúng trong việc tiêu thụ để thỏa mãn những nhu cầu thiết cần bảo đảm cho việc nuôi sống thân xác, thì cái CƠ CHẾ quản trị ấy, dù có nhất quán đến đâu, cũng phải vứt bỏ đi. Nó nhất quán trong Lý luận, nhưng mang đến hậu quả thực tế xấu cho dân chúng.
Môi trường Chính trị_Luật pháp Việt Nam tréo cẳng ngỗng
Chúng tôi vừa giải thích ở phần trên rằng cái CƠ CHẾ bao gồm Luật pháp quản trị Chính trị và Kinh tế tại Nga và các nước Đông Aâu hoàn toàn mang tính cách phù hợp giữa Ý thức hệ Chính trị và hệ thống Kinh tế tập trung Chỉ huy, nhưng những nước này đã phải vứt bỏ cái CƠ CHẾ đó đi vì hậu quả kinh tế của CƠ CHẾ là đói nghèo.
Việt Nam cũng chịu cùng hậu quả kinh tế của CƠ CHẾ như vậy, nhưng đã không can đảm vứt bỏ CƠ CHẾ. Nói cụ thể hơn, đảng CSVN đã cố thủ nắm lấy cho đảng quyền cai trị độc đoán cho đảng mình và tìm cách vá víu hệ thống Kinh tế mà chính họ đã chứng kiến hậu quả tồi tàn cho dân chúng. Chúng ta thấy những việc vá víu như sau về mặt Kinh tế: => Vào những năm 1995, dưới chiêu bài ĐỔI MỚI, MỞ CỬA, đảng CSVN nới rộng cho sinh hoạt Kinh tế tư doanh và đón nhận phía Kinh tế tư bản Tây phương. => Vào những năm 2004, tình trạng đói nghèo của dân chúng vẫn tiếp tục, đảng và Nhà nước đồng tuyên bố chấp nhận hệ thống Kinh tế tự do và thị trường. => Hai năm sau, đảng và Nhà nước tăng cường hoạt động nhằm HỘI NHẬP với nền Kinh tế bên ngoài: tổ chức APEC, vào WTO.
ĐỔI MỚI, MỞ CỬA, CHẤP NHẬN HỆ THỐNG KINH TẾ TỰ DO THỊ TRƯỜNG, HỘI NHẬP APEC VÀ WTO, nhưng đảng CSVN vẫn khư khư giữ lấy Ý thức hệ Cộng sản được trá hình nhẹ đi là Định Hướng XHCN, với quyền lực Chính trị độc đảng và độc tài. Hội nhập APEC, WTO và tuyên bố chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, thì phải thay đổi Ý thức hệ Chính trị cho có tính cách phù hợp để có một CƠ CHẾ quản trị nhất quán. Đây là việc tréo cẳng ngỗng của CƠ CHẾ điều hành cho phù hợp. Nền Kinh tế Tự do và Thị trường cạnh tranh đòi buộc phải tôn trọng TƯ HỮU, phải có TỰ DO cá nhân trong việc làm ăn. Điều này trái ngược với chủ trương cai trị Chính trị độc đảng và độc tài. Thực tế Việt Nam vẫn nằm trong độc quyền Kinh tế của đảng Cộng sản độc tài, qua hệ thống những Tập đoàn Kinh tế do đảng và Nhà Nước nắm giữ.
Tuyên bố là theo Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng CƠ CHẾ quản trị chủ trương độc tài Chính trị nắm trọn lấy độc quyền Kinh tế. Các Tổ chức quốc tế làm việc ở Việt Nam đều than rằng Việt Nam chậm trễ trong việc thiết lập Luật pháp cho rõ ràng từ lãnh vực Hành chánh tới phạm vi sinh hoạt Kinh tế. Đây không phải là việc chậm trễ, mà chính là tình trạng tréo cẳng ngỗng giữa chủ trương nắm lấy Ý thức hệ Cộng sản với quyền lực Chính trị độc tài độc đảng trong việc bắt buộc phải chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trườg để mong tránh hậu quả tàn tệ đói nghèo mà Nga và Đông Aâu đã gặp.
Giáo sư Tiến sĩ GUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ Bản 10:
ĂN CƯỚP TRẮNG TRỢN CỦA CƠ CHẾ ĐỘC TÀI: KÍCH CẦU BẰNG LẠM PHÁT TIỀN TỆ?
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 18.12.2008
Đầu tháng 12 này, nhà nước Việt Nam tuyên bố KHÍCH CẦU 1 tỉ Mỹ Kim. Và 10 ngày sau, nhà nước tuyên bố con số KHÍCH CẦU tăng lên 6 tỉ Mỹ Kim. KHÍCH CẦU (không phải là KÍCH CẦU) có nghĩa là kích thích phía tiêu thụ.
Việc tăng từ 1 tỉ lên 6 tỉ chỉ trong vòng 10 ngày chứng tỏ rằng chương trình Khích Cầu không được hoạch định Vỉ Mô. Quyết định tăng lên 6 tỉ một cách mau chóng như vậy mang tính cách trò đùa hay mỵ dân hơn là vĩ mô.
Chúng tôi chỉ muốn đặt hai câu hỏi: (i) số tiền 6 tỉ đo-la tiêu dùng vào những chương trình như thế nào; (ii) số tiền này moi từ đâu ra mà có.
Số tiền 6 tỉ đo-la tiêu dùng vào những chương trình như thế nào
Phải có chương trình tiêu dùng rõ rệt, mới có thể thiết lập được ngân sách. Tính toán số tiền này dựa trên thực hiện nào cụ thể. Một ngân sách không có chương trình hoạch định cụ thể, nếu không nó sẽ đi lang thang, trôi dạt lông bông bông, không biết đâu là bến bờ để đâu. Bông lông như vậy, nó dễ trôi dạt vào túi riêng tham nhũng, lãng phí. Trong một CƠ CHẾ mà độc tài Chính trị ôm chặt lấy độc quyền Kinh tế của đảng CSVN, thì số tiền của Quốc gia sẽ chạy lòng vòng trong đảng CSVN.
Số tiền này moi từ đâu ra mà có.
Cán cân mậu dịch thiếu hụ. Quyết định mỵ dân giảm thuế. Xuất khẩu thiếu 40% số đặt mua hàng. Việt Nam thu lợi bằng bán dầu thô, trong khi ấy dầu thô xuống giá còn có 37 đo-la/Baril. Mùa gạo cũa dân bị dèm giá. Thị trường Chứng khoán thiếu người đầu tư. Xí nghiệp đóng cửa. Dân thất nghiệp tăng lên mau chóng. Vốn đầu tư nước ngoài ngưng giải ngân. Nhật ngưng chương trình ODA và các nước khác nhìn gương đó.
Vậy Nhà Nước moi tiền đâu mà ra được 6 tỉ Mỹ kim? Chẳng lẽ những Lãnh đạo đảng tham nhũng kéo tiền gửi nước ngoài về để cho vào ngân quỹ chung. Một số đầu đảng tham nhũng gửi tiền ra nước ngoài đang phải lo lắng mất tiền vì cuộc Khủng hoảng Ngân Hàng/ Tài chánh.
Nghĩ đến điều này, tôi tin rằng Nhà Nước Việt Nam đang dự định làm một cuộc LẠM PHÁT TIỀN TỆ, nghĩa là in tiền mới ra mà không có giá trị Kinh tế bảo chứng. Tung khối tiền đó vào dân chúng để tráo trở ăn cướp giá trị tiền thực mà dân chúng đã đổ mồ hơi sức lực ra để kiếm được. Đây là việc ăn cướp trắng trợn. Lạm phát tiền tệ sẽ làm mất giá đồng tiền Việt Nam.
Việc lạm phát tiền tệ này đã xẩy ra tại Phi châu, nhất là Nam Mỹ trong những thập niên 1980. Đây là mội tội đáng phải tử hình.
Xin quý độc giả đọc thêm hai bài (đăng trong phần KINH TẾ/TÀI CHÁNH về việc Lạm Phát Tiền Tệ của một Nhà Nước độc tài.
Chúng tôi xin nhắc lại đây lời của Giáo sư Florin AFTALION, người đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:
”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2)
(... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)
Giáo sư Tiến sĩ GUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | . | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bai 09:
THỊ TRƯỜNG LÀ YẾU TỐ ĐIỀU HỢP CỦA NỀN KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 18.12.2008
Thời gian này là lúc hữu ích nhất để viết về vấn đề này. Những người chủ trương một nền Kinh tế tự do và tư nhân lấy Thị trường làm yếu tố điều hợp. Nhưng nhân việc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế hiện giờ, một số những người theo Xã hội Chủ nghĩa lại lên giọng đòi sự can thiệp trực tiếp của quyền lực Chính trị vào Kinh tế. Nhân việc Nhà Nước Liên Bang Thụy sĩ quyết định Chương trình Cứu giúp hai Ngân Hàng UBS và CREDIT SUISSE, Đài Truyền Hình TRS1 đưa ra hai hình ảnh: ông Chủ tịch đảng Xả Hội đòi sự can thiệp gắt gao của Nhà Nước vào hai Ngân Hàng, nhưng Oâng Tổng Thống COUCHEPIN ngồi đối diện đã trả lời rằng Nhà Nước không thể ra lệnh cho Ngân Hàng UBS hay CREDIT SUISSE phải cho Công ty này hay Công ty kia vay vốn hoặc ra lệnh cho hai Ngân Hàng phải đầu tư vào Trung quốc. Đây là việc quyết định của Ngân Hàng trong ngành nghiệp chuyên môn của họ.
Không phải trong dịp Khủng hoảng này, giữa sự va chạm những khuynh hướng Chính trị mà vấn đề Thị trường Cạnh tranh Tư nhân và Tự do mới được thường xuyên đề cập tới, mà chính trong thời gian Khủng hoảng, phía Tiêu thụ và phía Sản xuất, cả hai mới thấy cái giá trị của việc Điều Hợp Kinh tế của Thị trường Cạnh tranh. Thực vậy, trong hoàn cảnh khan hiếm tiền bạc, thì người tiêu thụ cũng như sản xuất mới căn cơ tính toán từng đồng bỏ ra theo chỉ tiêu giá cả hàng hóa quyết định ở Thị trường cạnh tranh.
Chúng tôi đề cập đến những khía cạnh sau đây: => Thị trường Cạnh tranh tự do là gì => Quyết định dân chủ và tự do của Thị trường => Những can thiệp che chở giai đoạn của Nhà Nước => Giá cạnh tranh của Thị trường là Chỉ tiêu điều hợp
Thị trường Cạnh tranh là gì
Mỗi người sống có những Nhu Cầu cần được thỏa mản, từ nhu cầu nuối sống thân xác, đến những nhu cầu thỏa mãn tình cảm, phát triển trí tuệ, bảo vệ sức khỏe, dự phòng tương lai hoạc cho những tham vọng không hữu lý... Để có thể thỏa mãn những như cầu, cần phải có những sản phẩm hoặc tự mình làm ra hoặc từ những người khác. Nhu cầu càng đa dạng bao nhiêu, thì số lượng những sản phẩm càng được nhân lên bấy nhiêu. Chúng ta đương nhiên sống ở trong một nền Kinh tế với trao đổi sản phẩm nhằm thoả mãn mọi nhu cầu đa dạng.
Phía có những Nhu cầu cần được thỏa mãn, gọi là phía CẦU (Côté de Demande). Phía sản xuất những sản phẩm nhằm thỏa mãn những Nhu cầu, gọi là phía CUNG (Côté d’Offre).
THỊ TRƯỜNG (Marché) được định nghĩa như là một NƠI, hữu hình hay vô hình, gặp gỡ giữa phía CẦU và phía CUNG để hai bên quyết định một cái GIÁ thỏa thuận trao đổi hàng hóa giữa hai phía. Hữu hình như CHỢ ở đầu làng. Vô hình như Thị trường Chứng khoán.
Trong nội bộ của mỗi phía, phải có sự Cạnh tranh để có thể đạt được những ưu thế cho mình, đồng thời mang đến cái lợi chung cho nền Kinh tế bao trùm cả hai phía. Việc cạnh tranh là điều tối quan hệ cho tất cả mọi sinh hoạt nếu muốn hiệu quả riêng hay chung mỗi ngày mỗi gặt hái được cao hơn. Điều kiện để có Cạnh tranh là mỗi tác nhân Kinh tế phải có quyền Tự do quyết định làm việc. Xin lấy một vài tỉ dụ để giải thích ttính cách tự do cạnh tranh của Thị trường.
Trong thời Pháp đô hộ ở Đông Dương, Thị trường Cao su và Lốp xe không có cạnh tranh tự do. Nước Pháp dành độc quyền cho Hãng MICHELIN mua mủ Cao su tại Đông Dương. MICHELIN sản xuất Lớp xe tại Pháp, rồi lại độc quyền bán Lốp xe hiệu Michelin ở Đông Dương. Vì việc thiếu cạnh tranh này, mà giá mua mủ Cao su rất hạ, đồng thời giá bán lốp xe lại cao. Đây là sự can thiệp của quyền lực Chính trị vào để dành cho MICHELIN độc quyền ở Thị trường Cao su và Thị trường Lốp xe. Giá mua mủ Cao su và Giá bán Lốp là những giá độc quyền chứ không phải những giá có cạnh tranh khả dĩ làm yếu tố điều hợp cho Kinh tế.
Cũng vậy, nếu sản phẩm Điện thoại Lưu động không có sự cạnh tranh của nhiều hãng sản xuất, thì khó lòng có giá cả mỗi ngày mỗi hạ xuống và phẩm chất Điện thoại mỗi ngày mỗi tăng.
Quyết định dân chủ và tự do của Thị trường
Theo định nghĩa như trên, Thị trường là nơi thể hiện tính cách Dân chủ và Tự do của những tác nhân Kinh tế. Mỗi cá nhân, mỗi Tập thể, mỗi Xí nghiệp tham dự Thị trường đều có quyền tự quyết định về Tiêu thụ hoặc sản xuất của mình và nhất là tự do mặc cả về GIÁ trao đổi trên Thị trường. Trong chủ trương nền Kinh tế Tự do và Thị trường, Nhà Nước cũng chỉ được coi như một tác nhân Kinh tế như mọi cá nhân, mọi Tập thể, mọi Xí nghiệp. Nhà Nước có những nhu cầu tiêu thụ hoặc có những sản phẩm của mình. Khi tới Thị trường để trao đổi, thì Nhà Nước cũng phải theo tính cách cạnh tranh tự do thuộc lãnh vực Kinh tế. Theo tinh thần ấy, thì Nhà Nước mới có những căn cơ chi tiêu và những dịch vụ của Nhà nước mới mỗi ngày kiện toàn theo cạnh tranh. Lấy một vài tỉ dụ. Tại Hoa kỳ, ở một số Khu xóm, nếu nhân viên an ninh của Nhà Nước không giữ được trật tự tương xứng với tiền thuế mà dân đóng cho việc an ninh, thì Khu xóm có thể thuê riêng nhân viên an ninh tư nhân và xin giảm tiền thuế đóng cho việc này. Cũng vậy, tại Thụy sĩ, về dịch vụ chứng thực giấy tờ, nếu cơ quan công quyền làm việc chậm trễ và lấy giá cao, có thể có dịch vụ tư nhân chứng thực giấy tờ mang cùng hiệu lực mà giá cả lại thấp hơn và mau chóng hơn.
Khi nói đến Dân Chủ và Tự Do, người ta có khuynh hướng hiểu rằng đây là những vấn đề Chính trị, về những tranh chấp giữa người cai trị và dân chúng. Phải hiểu Dân chủ và Tự do thuộc lãnh vực Kinh tế. Gọi là Thị trường cạnh tranh, thì điều kiện quyết định tự do và dân chủ không thề nào không có được. Chúng tôi sẽ có dịp bàn riêng về điểm này trong bài thứ 12 với đầu đề “Dân chủ hóa Kinh tế dẫn đến Dân chủ hóa Chính trị (Démocratisation Economique Démocratisation Politique)“. Khi cchấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà không cho dân chủ và tự do ở Thị trường cạnh tranh, đó là tréo cẳng ngỗng vậy.
Những can thiệp che chở giai đoạn của Nhà Nước
Trong bài thứ 07 thuộc loạt bài Chủ đề này, chúng tôi đã viết về những hậu quả của việc Can thiệp trực tiếp của Nhà Nước đối với giá cả tại Thị trường cạnh tranh. Chúng tôi xin nhắc lại rằng Chủ trương nền Kinh tế Tự do và Thị trường coi quyền lực Chính trị là trung lập, là cảnh sát giữ trật tự (Etat gendarme et neutre). Thực vậy khi mà Môi trường Chính trị—Luật pháp (Environnement Politico-Juridique) được thiết lập cho nền Kinh tế, thí quyền lực Chính trị phải đứng trung lập giữa các Tập đoàn Kinh tế cạnh tranh và canh chừng trật tự cho việc tự do cạnh tranh không vi phạm Luật pháp Kinh tế đã được thiết lập.
Trong trạng thái bình thường của đời sống Kinh tế, Nhà Nước có thể tham dự, nhưng như một tác nhân Kinh tế mà chúng tôi đã giải thích trong đoạn trên đây. Tuy nhiên trong những trường hợp đặc biệt như có biến động Kinh tế như Khủng hoảng hiện nay, thì Nhà Nước có thể can thiệp nhưng trong phạm vi che chở, trợ lực những tác nhân Kinh tế tư nhân, chứ không làm Kinh tế cạnh tranh kiếm lợi nhuận cho Nhà Nước. Có sự khác biệt quan trọng giữa hai ý nghĩa can thiệp này. Thực vậy, khi Nhà Nước can thiệp LÀM KINH TẾ, thì Nhà Nước dễ lợi dụng quyền lực để lấn át các tác nhân Kinh tế tư nhân, làm mất tính cách cạnh tranh dân chủ và tự do của Thị trường. Việc can thiệp của Nhà Nước trong những trường hợp bất thường như Khủng hoảng Kinh tế, phải được hạn hẹp ở phạm vi che chở cho các tác nhân kinh tế tư nhân khỏi bị vỡ nợ hoặc nâng đỡ những tác nhân này có đủ sức cạnh tranh. Nhà Nước không thay thế tư nhân để làm Kinh tế kiếm lợi nhuận riêng cho Nhà Nước. Về phương diện này, CƠ CHẾ hiện hành ở Việt Nam không những vi phạm chủ trương nền Kinh tế Tự do và Thị trường, mà còn hoàn toàn cho phép Độc tài Chính trị cấu kết với Độc quyền Kinh tế. Một CƠ CHẾ như vậy, tất nhiên phá bỏ trọn vẹn tính cách cạnh tranh dân chủ và tự do của Thị trường vậy.
Giá cạnh tranh của Thị trường là Chỉ tiêu điều hợp
Trên các Thị trường trao đổi sản phẩm Kinh tế, thì chỉ có chừng 10% thuộc lảnh vực nhu yếu phẩm gọi là tối thiểu cuộc sống (Minimum vital), còn 90% thuộc những sản phẩm có cũng được, mà không có cũng không sao. Trong số 10% tối thiểu cuộc sống, thì 5% cũng có thể thay đổi, tỉ dụ nếu không có gạo trắng thơm, thì ăn gạo đỏ (ré hoa) cũng sống mà còn chữa bệnh phong thấp. Trong số 90% hàng hóa, thì 50% thuộc xa xỉ phẩm hoặc để thỏa mãn nhu cầu snobisme. Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến 90% trao đổi Kinh tế: thỏa mãn tiêu thụ và sản xuất hàng hóa.
Giá cả trên các Thị trường thuộc 90% trao đổi tượng trưng cho những điểm sau đây: => Quyết định đi từ từng cá nhân (tự do) và đúc kết thành nhóm, phong trào (dân chủ). Tì dụ về phía CẦU, giới trè muốn thay đổi Điện thoại sang Iphone; về phía CUNG, các hãng sản xuất tràn lan Iphone. => Hai phía CẦU và CUNG thỏa thuận một cái GIÁ để trao đổi. Việc quyết định giá trao đổi này củng là tự do và dân chủ.
Chính cái giá của Thị trường làm CHỈ TIÊU quyết định mua hay bán. Nếu với cái giá Thị trường như vậy, người tiêu thụ còn có quyền tự do quyết định mua hay không tùy theo túi tiền mà họ có. Cũng vậy, với cái giá cái giá thỏa thuận ở Thị trường, một Xí nghiệp sản xuất phải tính xem có thể xuất với giá thành dưới giá Thị trường hay không để kiếm lời. Họ có toàn quyền ngưng sản xuất nếu không đủ khả năng.
Cái GIÁ của THỊ TRƯỜNG cạnh tranh mang giá trị của một CHỈ TIÊU đề người tiêu thụ và Xí nghiệp sản xuất quyết định trong TỰ DO ngưng hay tiếp tục hành động Kinh tế của mình. Cái giá của Thị trường có quyền lực hướng dẫn hơn là quyền lực Chính trị hay Luân lý, Tôn giáo... Hãy để cho cái Giá của Thị trường cạnh tranh điều hợp Kinh tế.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ Bản 09:
CẤU KẾT GIỮA CHÍNH TRỊ VÀ KINH TẾ ĐẺ RA QUÁI THAI THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 11.12.2008
Chúng tôi muốn tiếp tục viết Bài thứ 9 thuộc Chủ đề: DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH. Nhưng vì những sự việc xẩy ra trong tuần này mà chúng tôi phải viết về THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, quái thai do việc đánh đĩ giữa độc tài Chính trị và dộc quyền Kinh tế cho phép bởi Điều 4 Hiến Pháp:
=> Nhật Bản nói vỗ vào mặt Nhà Nước Việt Nam rằng họ ngưng viện trợ ODA vì THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ.
=> Người ta viện trợ theo dạng ODA là cho Dân Việt Nam để phát triển Đất Nước. Nhưng đảng CSVN đã cắt xén cho vào túi riêng từng đứa. Đây là hành động phá hoại Tài sản chung.
=> Trong khi ấy ngày 08.12.2008, CSVN đã tiêu tốn tiền bạc chung để tổ chức Phiên Tòa kết án 8 Giáo dân đã phá bức tường trị giá có 3’500’000 Đồng VN do chính CSVN cho dựng lên trên miếng đất có chủ cũng chỉ vì tụi CSVN muốn chiếm miếng đất để chia lô bán bỏ vào túi riêng. Đây cũng là nguyên do của quái thai THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ của đảng côn đồ CSVN.
=> Thông tin Kinh tế từ Việt Nam cho thấy rằng hàng hoá Trung quốc, nhất là những hàng nhiễm độc không bán được với Thương hiệu Made in China sẽ tràn vào Việt Nam để giết chết Kinh tế Việt Nam và giết luôn Thương hiệu Made in Viet Nam. Việc lan tràn này cũng lại là do THAM NHŨNG cho phép.
Chính vì những việc gần nhất như trên mà chúng tôi muốn viết Phụ Bản 9 này về THAM NHŨNG.
Tham nhũng không phải là cá nhân
Ở đâu cũng có tham nhũng bởi vì trong lòng mỗi người khi có dịp ngồi bên đống vàng thì cũng muốn biển thủ một thỏi bỏ vào túi riêng mình. Vì mầm tham nhũng nằm ở trong lòng mỗi người, nên tôi ít tin ai nói rằng mình hoàn toàn trong sạch từ trong tư tưởng đối với vấn đề của chung. Trước vấn đề tiền bạc, tôi ít tin tưởng vào sự trong sạch cá nhân. Tôi xin kể ít tỉ dụ sau đây. Có một Mục sư tại Thụy sĩ than vãn thiếu thốn, phải giúp đỡ gia đình ở Việt Nam. Oâng than nghèo và lậy van xin hộc bổng cho con cái học Đại học tại Thụy sĩ. Trong khi đó, Oâng chuyển tiền về Việt Nam để mua đất và xây nhà rất đẹp để về hưu dưỡng. Đối với Tổng Liên Hội Tin Lành Miền Nam, tôi hiểu tại sao họ phải cúi đầu vâng nghe CSVN. Một số Mục sự tìm cách gả con cái ra nước ngoài, nhất là Hoa kỳ. Thâm chí có Mục sư còn nói với tôi: “Hoa kỳ và Tây phương thiếu lòng đạo đức, nên có lẽ đây là việc Chúa gửi Mục sư Việt Nam ra nước ngoài để truyền giảng”. Tôi chỉ mỉm cười và biết kiểu chữa lỗi bẩn thỉu này.
Tóm lại mầm tham nhũng nằm trong mỗi cá nhân. Tôi cũng có mầm tham nhũng ấy. Vấn đề diệt tham nhũng không phải là diệt cái mầm nằm trong mỗi người, nhưng là phải có một CƠ CHẾ khả dĩ không tạo dịp cho cái mầm THUNG NHŨNG lộ diện hoành hành và khi đã hoành hành thì CƠ CHẾ ấy có thể chế tài được.
CƠ CHẾ cấu kết giữa Độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế
Chúng tôi đã viết về Chủ đề này với nhiều bài, nên chỉ muốn tóm tắt trực tiếp vào vấn đề. Cái CƠ CHẾ hiện hành tại Việt Nam cho phép hay chủ trương quyền lực độc tài Chính trị của đảng CSVN nắm trọn độc quyền Kinh tế đất nước qua hệ thống các Tập đoàn Kinh tế do đảng nắm giữ với vốn là tài nguyên Quốc gia hay viện trợ từ nước ngoài. Khi người nắm quyền Chính trị quyết định, xử dụng bạo lực Công an đàn áp, ngồi bên cạnh đống vàng chung là Kinh tế, thì cái mầm THAM NHŨNG trong cá nhân nổi dậy hoành hành mà không có lực lượng nào làm cho cái mầm ấy thụt vòi được. Nếu có ai đụng tới, thì nhà tù sẵn đó để bắt tù tội. Trường hợp PMU là điển hình khi hai Nhà Báo dám đụng tới.
Việc cấu kết giữa độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế là một CƠ CHẾ bao che bởi Điều 4 Hiến Pháp làm cái mầm THAM NHŨNG cá nhân trong mỗi đảng viên trổi dậy và được che chở giữa những người đồng đảng.
Vấn đề là phải DIỆT cái CƠ CHẾ đó như chúng tôi đặt làm Chủ đề cho loạt bài này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ Bản 08:
TỪ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ LAN SANG KHỦNG HOẢNG XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 04.12.2008
Từ trên 2 năm nay, chúng tôi đã viết nhiều và đi theo con đường lật đổ chế độ bóc lột của đảng CSVN qua ngả DẠ DẦY.
Khi Tiền Giang dậy sóng với Phong trào DÂN OAN công khai tụ họp đòi quyền sống, chúng tôi nhìn qua đó mầm mống tiến đến lật đổ chế độ độc tài hiện hành. Những cuộc Cách Mạng lớn trong Lịch sử cũng phải có lực lượng dân nghèo, đói ăn nổi dậy, để đánh tan cường quyền bóc lột.
Việt Nam và Trung quốc được xếp vào những nước bắt đầu phát triển về Kinh tế. Bà Francoise NICOLAS nghiên cứu về cuộc Khủng Hoảng Tài chánh Á châu năm 1997 mà những nước bị ảnh hưởng nhất thời ấy cũng được coi là những nước đang trên đà phát triển. Cuộc Khủng Hoảng 1997 dẫn đến suy thoái mạnh Kinh tế như tại Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương. Nước bị suy thoái nặng hơn cả là Nam Dương. Việc suy thoái Kinh tế dẫn đến Căng thảng Xã Hội, Xáo trộn Xã Hội và tạo bếp bênh Chính trị. Bà đã phân tích cụ thể việc ra đi của chế độ dộc tài SUHARTO tại Nam Dương trong suốt 32 năm.
Theo dõi việc phân tích cuộc Khủng Hoảng Tài chánh 1997, tôi muốn nhìn xem tình trạng phát triển bấp bênh Kinh tế tại Việt Nam có những triệu chứng dẫn đến một cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế hay không.
Đầu năm 2007, tình trạng vật giá tại Việt Nam, nhất là những hàng nhu yếu phẩm, tăng vọt bất thường khiến Dân nghèo không đủ khả năng tiêu thụ những nhu yếu phẩm cho cuộc sống thân xác mình. Dân nghèo càng nhìn thấy rõ hố sâu cách biệt giầu nghèo. Chúng tôi luôn luôn nhớ lời tuyên bố của Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố với báo Financial Times:“Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói).
Cuộc Khủng Hoảng Tài chánh/Kinh tế Thế giới 2007-08 diễn tiến theo ba giai đoạn:
=> Khủng hoảng vật giá tăng vọt cho nhu yếu phẩm. Tôi gọi đây là cuộc Khủng hoảng khả năng tiêu thụ của giới nghèo.
=> Khủng Tín dụng Subprime Địa ốc (Mortgage Subprime Credit) bắt nguồn cho Khủng hoảng Ngân Hàng của giới Tài chánh. Tôi gọi đây là Khủng hoảng của giới giầu.
=> Khủng hoảng Ngân Hàng/Tài chánh lan sang Khủng hoảng Kinh tế hạn định vào Kỹ nghệ sản xuất những hàng dành cho tiêu thụ ăn chơi (Produits de luxe et de plaisir). Đây là việc sản xuất quá nhiều (Surproduction).
Đối với tôi, điều quan tâm hơn cả trong việc theo rõi cuộc Khủng Hoảng Tài chánh/Kinh tế Thế giới hiện nay là ở chỗ xem hậu quả của nó như thế nào cho Kinh tế Việt Nam và cho Trung quốc mà chế độ hiện hành VN coi như gương mẫu. Ngay khi quan sát những hậu quả này, tôi đặc biệt lưu ý xem việc Khủng hoảng Kinh tế của hai nước lan sang Khủng hoảng đời sống Xã hội ra sao để từ đó Dân nghèo buộc lòng đứng lên lật đổ chế độ đã bóc lột đến tận DẠ DẦY của đại đa số dân chúng.
Giới Lãnh đạo của hai đảng Cộng sản Trung quốc và Việt Nam không quan tâm nhiều cho lắm về sự tụt giốc Kinh tế của hai nước bởi lẽ họ đã thâu góp dư tiền bạc để vẫn sống sung sướng mặc cho dân nghèo đau khổ. Điều mà họ sợ sệt nhất đó là cuộc Khủng hoảng mang đến xáo trộn Xã hội đến mức Dân nghèo chịu không được phải đứng lên hạ bệ họ khỏi quyền hành.
Điều mà họ sợ đã bắt đầu diễn ra tại hai nước, nghĩa là Khủng hoảng Kinh tế đang lan sang Khủng hoảng Xã hội và rồi Chính trị.
Khủng hoảng Xã hội bắt đầu tại Việt Nam
Xí nghiệp Việt Nam làm việc cho xuất cảng ở những hàng nhẹ và linh kiện. Khủng hoảng Tài chánh làm cho Việt Nam thiếu vốn nước ngoài trong khi ấy vốn trong nước hầu như không có. Khủng hoảng Kinh tế Thế giới làm giảm hẳn việc đặt mua hàng Việt Nam từ nước ngoài. Các Xí nghiệp đóng cửa. Nhân công từ thôn quê lên tỉnh làm việc bị thất nghiệp, phải trở về nông thôn trong tình trạng thiếu đầu tư, mở mang.
Chúng tôi trích bản tin sau đây làm tỉ dụ:
“Công nhân thất nghiệp trở về nông thôn. RFA-12-01-2008
Tình trạng khủng hoảng kinh tế ở VN đang làm cho giới lao động ngoại tỉnh trở về nông thôn.
Bà Nguyễn Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa Học Lao Động, được Vietnam Net trích thuật, tiên đóan rằng bước sang năm 2009 số nhân công bị mất việc làm ở thành phố rất lớn, nhất là những lao động tự do.
Vẫn theo tin này, TS Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, nhận định rằng nông dân VN đuối sức sau một năm đầy biến động, làm ăn thua lỗ, chi phí đầu vào cao, nhưng đầu ra của nông sản hết sức bấp bênh. TS Đặng Kim Sơn cho rằng số người nghèo ở VN đang gia tăng.”
Kinh tế càng tụt dốc, tì tình trạng xáo trộn Xã hội càng tăng thêm.
Khủng hoảng Xã hội đang diễn ra tại Trung quốc
Ngày 29.11.2008, Chủ tịch nước Trung quốc HU JINTAO đã phải công nhận hậu quả Khủng hoảng Kinh tế Thế giới hiện nay đang gây thiệt hại nặng cho Trung quốc. Oâng nói:”Certains indicateurs economiques montrent un déclin accéléré” (Những dấu chỉ kinh tế cho thấy một cuợc suy thoái tăng tốc độ.” (LE MONDE, Thư Năm 04.12.2008, trang 14).
Dưới tựa đề CHINA FEARS ITS RESTIVE MIGRANT POPULATION AS JOBS VANISH IN THE CITIES, Tác giả Shai OSTER (in China) đã viết một bài dài hai trang về tình trạng thất nhgiệp và trở về nông thôn của giới công nhân lang thang, đăng trên THE WALL STREET JOURNAL Europe, Thư Tư 03.12.2008, pp.16-17. Số Restive Migrant Population (Dân lang thang bị giao động) lên tới con số 130 triêu): “Mr.FAN is among hundreds of thousands of China’s 130 million migrant workers—known as the “floating population”—being cast out of urban jobs in factories and at construction sites” (Oâng FAN là trong số hàng trăm ngàn của khối 130 triệu nhân công lang thang của Trung quốc—được gọi là “dân chúng nổi trôi”—mất việc tại các xưởng và các vùng xây cất). Tác giả Shai OSTER tiếp:”Fast-rising unemployment has led to an unusual series of strikes and protests” (Việc tăng thất nghiệp nhanh chóng này dẫn đến những loạt đình công và phản đối bất thường).
(Trong phạm vi bài này, chúng tôi không đi vào những chi tiết về số lượng đình công, phản đối tại từng vùng. Chúng tôi sẽ viết một bài riêng về tình trạng xáo trộn xã hội và những phản đối đang diễn ra tại Trung quốc).
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ Bản 07:
NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 27.11.2008
Từ khi OBAMA được bầu làm Tổng Thống Hoa Kỳ 04.11.2008 cho đến cuối tuần vừa rồi 21.11.2008, tình trạng các Thị trường Chứng khoán tụt dốc mạnh. Nhưng điều lo ngại hơn cả là từ Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh, cuộc khủng hoảng lan sang Lãnh vực Kinh tế, nhất là các ngành sản xuất Xe hơi, Máy móc Điện tử và Truyền thông, từ Nhật qua Liên Aâu và Hoa kỳ. Số thất nghiệp trong Lãnh vực này tăng lên mau chóng. Người ta cũng quan sát thấy hiện tượng tụt giá (Déflation) đe dọa.
Trước viễn tượng cấp bách ấy, Thứ Hai 24.11.2008, OBAMA họp báo tại Chicago tuyên bố Chương trình Phát dộng Kinh tế (Plan de RELANCE ECONOMIQUE) lên tới USD.800 tỉ và Thứ Tư 26.11.2008, tại Bruxelles, José Manuel BORROSO, Uûy Ban Liên Aâu, cũng tuyên bố Chương trình Phát động Kinh tế (Plan de RELANCE ECONOMIQUE) tổng cộng là Euro.200 tỉ.
Căn bản cho những Chương trình Phát động Kinh tế này dựa trên Lý thuyết của John Maynard KEYNES, Nhà Toán học và Kinh tế gia Anh, nghiên cứu những biện pháp khôi phục Kinh tế sau cuộc Đại khủng hoảng 1929-30.
Chúng tôi đề cập đến những khía cạnh sau đây:
=> Những đặc tính của Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế 2007/08 => Căn bản Lý thuyết của John Maynard KEYNES => Nhận định về những Chương trình Phát động Kinh tế => Mấy quan sát về Kinh tế Việt Nam
Những ý tưởng của Bài Phụ Bản 07 này đã được tóm tắt nói qua Đài Phát Thanh RFI (Radio France Internationale) truyền thanh về Việt Nam.
Những đặc tính của Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế 2007/08
Những Ngân Hàng gia, Kinh tế gia và các Nhà Nước dường như chỉ chú trọng đến cuộc Khủng hoảng Tài chánh khởi nguồn từ Tín dụng Subprime Địa ốc (Mortgage Subprime Credits). Nhưng nếu xét những phát triển Kinh tế nhiều năm trước, người ta phải lưu ý đến những lý do ngoài vấn đề Tín dụng Subprime Địa ốc.
Một số những tác nhân Kinh tế và Nhà Nước thường ca tụng chủ trương Toàn Cầu hóa Tài chánh/Kinh tế (Mondialisation Financìere et Economique). Riêng chúng tôi, chủ trương Toàn Cầu hóa Tài chánh/ Kinh tế không phải là hoàn toàn được ca tụng bởi vì có những khía cạnh nguy hiểm của nó. Thực vậy, nhìn thấy McDONALD’s lan tràn, chúng tôi đã có lần nói rằng tôi thích ngồi lề đường ăn đĩa xôi nấu bắp, chứ không phải lúc nào cũng Big Mac, Hamburger King, Hamburger Queen...
Không phải Tự do Mậu dịch (Libre Echange) giữa các Nước luôn luôn là tốt. Có những Nước, cần phải có sự Che chở cho Kỹ nghệ đang phát triển (Protectionnisme des Industries naissantes). Những nước đã mạnh về Kinh tế như G8 chẳng hạn, thì họ chủ trương Tự do Mậu dịch, Toàn Cầu hóa vì họ có sức mạnh thắng trong mậu dịch.
Tổng thể, chúng ta thấy chủ trương Tòa Cầu Hóa mang đến hai hậu quả sau đây:
* Về Hàng hóa của Lãnh vực Kinh tế thực: Toàn Cầu hóa có nghĩa là mở toang biên giới để những nước mạnh Kinh tế tha hồ chiếm Thị trường mới để phân phối tự do Hàng hóa của họ đến mọi nơi, tận những nước nghèo khổ.
* Về Tiền bạc của Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh: Toàn Cầu Hóa có nghĩa là Tập Trung Tiền bạc về những nước giầu từ những nước nghèo mua Hàng hóa do chủ trương Tòa Cầu hóa Hàng hóa đến tận nông thôn mỗi nước nghèo.
Tóm lại Toàn Cầu hóa Mậu dịch có nghĩa là phát tán Hàng hóa từ những nước giầu đến mọi nơi để bán và Tập trung Tiền bạc về những Ngân Hàng của những nước giầu. Tôi thường viết công thức sau đây:
TOÀN CẦU HOÁ HÀNG HÓA = TẬP TRUNG HÓA TIỀN BẠC (Mondialisation des marchandises = Centralisation Monétaire)
Khi Tiền bạc của Thế giới tập trung về những Ngân Hàng của những nước giầu rồi, thì những Ngân Hàng này lại dùng Tiền thu được để cho những Công ty tại những nước giầu vay để sản xuất thêm Hàng hóa phát tán ra những nước nghèo theo chủ trương Toàn Cầu Hóa. Những Ngân Hàng lớn rất khó cho những nước nghèo vay mặc dầu số tiền tập trung về Ngân Hàng lại đến từ việc bán Hàng hóa tại những nước nghèo.
Phát triển Kinh tế Thế giới trong nhiều năm trước cuộc Khủng hoảng hiện nay được ghi nhận với những đặc tính sau đây:
* Giảm sút việc sản xuất những Nhu Yếu Phẩm cho 80% nhân số nghèo Thế giới. 80% nhân số Thế giới cần Thực phẩm để nuối thân xác. Việc sản xuất Thực phẩm (Produits alimentaires) giảm sút hẳn.
* Những nước giầu và đã kỹ nghệ hóa lại tăng gấp bội việc sản xuất những Hàng hóa cho việc ăn chơi thỏa thích, xa xỉ phẩm (Produits de plaisir, de luxe). Tỉ dụ Xe hơi sang trọng, Máy móc về nhạc, Truyền hình, Điện thoại lưu động... Những người tiêu thụ thuộc vào thiểu số 20% nhân số Thế giới cho những hàng hóa này.
* Những nước nghèo, chính lẽ phải chú trọng vào việc phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp để sản xuất Thực phẩm cho 90% dân số, thì lại chú trọng vào việc sản xuất những Hàng hóa ăn chơi, xa xỉ phẩm nhằm phục vụ cho dân tiêu thụ tại những nước giầu.
Chính vì vậy mà cuộc Khủng hỏang hiện nay 2007/08 phải kể đến 3 giai đoạn đã diễn ra như sau:
1) Khủng hoảng Thực phẩm Trước khi Tín dụng Subprime Địa ốc (Mortgage Subprime Credits) tạo nguồn cho xuất hiện Khủng hoảng Tài chánh, thì xẩy ra cuộc Khủng hoảng Thực phẩm Thế giới. Vất giá Thực phẩm tăng vọt. 90% dân nghèo Thế giới không đủ khả năng mua thực phẩm mà sống qua ngày. Đây là hậu quả của một nền Kinh tế Thế giới giảm sản xuất Thực phẩm, trong khi đó nhân số dân nghèo tăng lên . Phía CẦU của Thực phẩm tăng lên, trong khi đó phía CUNG của Thực phẩm giảm xuống. Giá cả thực phẩm của Thị trường tăng vọt. Đó là luật CUNG, CẦU của Kinh tế.
Để đối phó với cuộc Khủng hoảng Thực phẩm này, 163 nước đã họp lại tại Roma để tìm cách giải quyết hay cứu vớt. Nhưng Thế giới, nhất là những nước giầu có khả năng, không có một Chương trình Bailout nào hay một Chương trình Phát động Kinh tế Thực phẩm nào. Đa số 80% dân nghèo Thế giới khổ sở vì vật giá tăng vọt đến nỗi không đủ đồ ăn. Họ khổ sở hơn nhiều sánh với những người thất nghiệp từ Ngân Hàng hay từ những hãng sản xuất Xe hơi tại những nước giầu. Hàng trăm, hàng ngàn tỉ Đo-la, Euro đang được các Nhà Nước, các Quốc Hội quyết định bỏ ra để cứu vớt ngân hàng, phát động sản xuất những hàng hóa xa xỉ phẩm, giúp đỡ những ngưới thất nghiệp từ Lãnh vực xa xỉ phẩm này.
2) Khủng hoảng Tài chánh
Chủ trương Toàn Cầu Hóa = Tập Trung Hóa Tiền bạc/Tài chánh vào những Ngân Hàng lớn Thế giới. Những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh xử dụng Khối tiền tập trung để làm một Kỹ nghệ biến chế ra những Sản phẩm Tài chánh (Produits financiers) để buôn bán kiếm Lợi nhuận khổng lồ với nhau ở những Thị trường Chứng khóan. Một trong những sản phẩm này mang chất độc (Mortgage SUBPRIME Credit = Mortgage TOXIC Credit) bắt đầu làm hại Lãnh vực Tài chánh từ tháng 7/2007 và bùng nổ ngày 15.09.2008 tàn phá Wall Street. Từ Wall Street, Tsumani Tài chánh lan ra khắp Thế giới. Tất cả mọi nước đều phải bỏ ra những tiền tỉ để cứu mạng các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh. Hoa kỳ ngoài việc cứu vớt FANNIE MAE, FREDDIE MAC và AIG với USD.300 tỉ, còn phải dành ra Plan Bailout Paulson USD.700 tỉ để mua những sản phẩm Tài chánh ung thối của Lãnh vực Ngân Hàng.
3) Khủng hoảng Kinh tế
Nếu Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh có phần ổn định, thì Lãnh vực Kinh tế thực lại bắt đầu mắc bệnh. Người ta nhận thấy rằng cơn bệnh khủng hoảng tập trung vào những Hàng xa xỉ phẩm, ăn chơi. Lãnh vực này đã tăng Hàng hóa xa xỉ phẩm theo cấp số nhân. Việc sản xuất đủ loại Xe hơi, đủ loại Máy móc âm thanh và hình ảnh, đủ loại điện thoại di động... để thúc đẩy dân chúng xử dụng như phong trào, đôi lúc cuồng loạn.
Vì việc sản xuất trong Lãnh vực xa xỉ phầm tăng lên theo cấp số nhân, nên hậu quả sẽ là: CUNG nhiều hơn CẦU. Đây là tình trạng đang làm khởi đầu hiện tượng tụt giá những hàng xa xỉ phẩm (Déflation). Sản xuất quá nhiều, bán không hết, hàng ứ đọng, thì giá phải xuống, xí nghiệp bị đe dọa.
Tình trạng đang đưa đến việc Nhà Nước phải bỏ ra từng trăm, ngàn tỉ Đo-la, Euro nữa để làm những Chương trình Phát động Kinh tế (Plan de Relance Economique). Đài Phát Thanh RFI (Radio France Internationale) hỏi tôi xem có lạc quan trước tình trạng Khủng hoảng Kinh tế này hay không. Tôi trả lời là tôi lạc quan vì coi đây là một cuộc làm xẹp bớt cái bong bóng mà Lãnh vực hàng xa xỉ phẩm đã cố tình thổi phồng lên quá lớn. Phải cho xẹp xuống cho đúng mức.
Căn bản Lý thuyết của John Maynard KEYNES
Những Chương trình Phát động Kinh tế, từ Chương trình ĐỘC LẬP NĂNG LỰC DẦU LỬA của McCAIN, đến Chương trình TẠO KHẢ NĂNG TIÊU THỤ NỘI ĐỊA USD.586 tỉ của Trung quốc, Chương trình USD.800 tỉ của Hoa kỳ (OBAMA), Chương trình EURO.200 tỉ của Liên Aâu (MORROSO) có nền tảng Lý thuyết của John Maynard KEYNES.
Tác giả Claire GUELAUD, dưới đầu đề UNE POLITIQUE ECONOMIQUE KEYNESIENNE đã nói về Chương trình mang tính cách dài hạn và tổng quát:”...Aller au-delà ou s’orienter vers une intervention plus globale et une relance budgétaire de type keynésien ? (... Vượt quá mức (hiện hành) hay hướng về một sự can thiệp tổng quát hơn và một sự phát động ngân sách theo kiểu Keynes hay không ?) (LE MONDE, Mercredi 26.11.2008, page 2).
John Maynard KEYNES, Nhà Toán học và Kinh tế Anh, đã nghiên cứu Cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30 và những biện pháp khôi phục.
Cũng bắt đầu từ Lãnh vực Tài chánh, cuộc Đại Khủng Hoảng Kinh tế 1929-30 xẩy ra mau chóng và toàn diện mà lý do chính là tình trạng Sản xuất quá mức Hàng hóa (Surproduction) thời ấy khi mà Khả năng Tiêu thụ/ Khả năng Thu nhập của quần chúng giảm xuống.
Các nhà Kinh tế đã chứng nhận hiện tượng Tụt dốc Giá cả (Spirale déflationiste) mà không biết đâu là mức cuối cùng. Cái chu trình tụt giá như sau:
Thu nhập quần chúng yếu đi (Revenu diminue) trong khi ấy Sản xuất Hàng hóa quá nhiều (Surproduction des Produits). Như vậy CUNG lớn hơn CẦU mà hậu quả trực tiếp là Giá cả Hàng hóa giảm xuống (Prix de vente diminue). Bán Hàng hóa với giá hạ, Lợi nhuận yếu hoặc thua lỗ, nên các Công ty sản xuất buộc phải thải Thợ ( Chomage augmente). Thất nghiệp tăng có nghĩa là Thu nhập quần chúng càng yếu đi. Chu trình quay lại từ đầu làm cho việc tụt dốc giá cả càng tụt dốc thêm (Spirale déflationiste).
Các biện pháp khôi phục Kinh tế là phải làm thế nào để tăng Khả năng tiêu thụ/Khả năng thu nhập của quần chúng để phía CẦU tăng lên. Như vậy mới có thể làm ngưng việc tụt dốc giá cả (Stoper la spirale déflationiste).
Biện pháp thứ nhất là giúp đỡ trực tiếp cho dân chúng dưới hình thức Trợ Lực Xã Hội (Aide Sociale), kiểu Welfare còn tồn đọng đến ngày nay.
Cũng lưu ý tìm kiếm những biện pháp, nhà Toán học/Kinh tế gia KEYNES không chủ trương việc Giúp đỡ Xã Hội trực tiếp, mà phải kiếm việc cho quần chúng làm và trả lương, như vậy làm giảm thất nghiệp và làm tăng khả năng thu nhập tiêu thụ.
KEYNES chủ trương những Chương trình xây dựng Hạ tầng cơ sở lớn mà Nhà Nước bỏ vốn đầu tư vào (Grands Travaux Publics). Hoa kỳ đã áp dụng biện pháp của KEYNES bằng những Chương trình xây cất hệ thống Đường Sá, xây cất những Tòa nhà Hành chánh lớn, xây dựng những Đập Nước... Những người thất nghiệp được xử dụng trong những chương trình này và họ có lương, tăng khả năng tiêu thụ. Phía CẦU tăng và chận đứng việc tụt dốc giá cả (Stoper la spirale déflationiste). Giá cả bắt đầu xoay chiều lên, các Công ty có lợi nhuận và lại thuê Thợ làm việc. Kinh tế phục hồi.
Vì là nhà Toán học, nên KEYNES đã nhìn ảnh hưởng của việc đầu tư vào những Chương trình Xây dựng lớn (Grands Travaux) có tầm ảnh hưởng theo cấp số nhân, nghĩa là đầu tư một đồng, thì có thể tạo việc tăng thu nhập của quần chúng đến 4, 5 lần hơn theo công thức:
0 1 2 3 4 n 1 K = c + c + c + c + c + ....... c = ---------- 1 - c
c : phần dành ra từ thu nhập của dân chúng dùng vào việc tiêu thụ hàng hóa. Tỉ dụ khi thu vào 1 đồng, dân chúng dành ra 0,75 xu để mua hàng hóa (c = 0.75).
K : được gọi là Số Nhân Đầu Tư của KEYNES (Multiplicateur keynésien).
Vậy, nếu Nhà Nước bỏ ra 2'000 đồng để đầu tư, thì việc tăng thu nhập cho Kinh tế sẽ là:
1 1 2'000 x K = 2’000 x ---------- = 2'000 x ------------- = 2'000 x 4 = 8'000.- 1 - c 1 – 0.75
Ba điểm của biện pháp áp dụng Số Nhân Đầu Tư của KEYNES dược nhấn mạnh như sau:
=> Mức độ (c) mà nhân công xử dụng đồng lương thu được vào việc tiêu thụ là yếu tố tạo những ảnh hưởng nội tại của nền Kinh tế (Effets endogènes) từng đợt để có thể đạt hiệu quả cuối cùng nhân lên.
=> Việc tiêu thụ phải được thực hiện trong lòng của nền Kinh tế, chứ không được thất thoát ra ngoài. Tỉ dụ tại nước Đức, nếu nhân công được xử dụng lại là những người từ Đông Aâu, những người này mang lương về nước họ để chi tiêu, thì sẽ giảm hẳng hiệu quả Kinh tế cho nước Đức.
=> Tài trợ cho những Chương trình đầu tư là xử dụng Vay nợ của Nhà nước theo Chính sách Tài chánh Déficit Budgétaire. Chính sách này là việc chuyển nợ từ đời Cha sang đời Con bởi vì chính đời Con được hưởng những hiệu quả của việc đầu tư vào Hạ tầng Cơ sở Kinh tế.
Nhận định về những Chương trình Phát động Kinh tế
Chương trình Bailout Paulson USD.700 tỉ nhằm cứu Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh chứ không nhằm trực tiếp vào việc phát động Lãnh vực Kinh tế. Chính sách giảm Lãi suất Chỉ đạo của FED, CEB và các Ngân Hàng Trung ương từng Quốc gia nhằm gián tiếp hỗ trợ các Công ty về giá vay vốn.
Chúng tôi chỉ muốn nhắc ra đây những CHƯƠNG TRÌNH PHÁT ĐỘNG KINH TẾ có ảnh hưởng trực tiếp đến Lãnh vực Kinh tế thực.
1) Chương trình ĐỘC LẬP NĂNG LƯỢNG DẦU LỬA của McCAIN.
Chương trình này mang tầm ảnh hưởng tổng quát và dài hạn cho nền Kinh tế Hoa kỳ dựa trên Lý thuyết của J.M.KEYNES và trên những kinh nghiệm đã được áp dụng có hiệu quả tại Hoa kỳ sau cuộc Đại Khủng hoảng 1929-30.
Cuộc Khủng hoảng hiện nay, bắt đầu tư Ngân Hàng/Tài chánh. Lãnh vực Kinh tế thực cũng bắt đầu thải Thợ. Một số Hàng hóa ứ đọng, nhất là Lãnh vực Xe Hơi, Máy Móc Điện tử, Truyền Thông (Mobile Phones chẳng hạn). Người ta có thể nói là những Hàng hóa của Lãnh vực này nhiều quá (Surproduction) mà quần chúng thiếu hụt Khả năng tiêu thụ/ Giảm thu nhập. Phía CẦU thấp hơn phía CUNG, nên Hàng hóa ứ đọng và phải xuống giá.
Chương trình Kinh tế của McCAIN là đầu tư vào việc tạo ĐỘC LẬP NĂNG LỰC DẦU HỎA gồm việc đầu tư vào Khai thác Dầu từ Alaska, đặt ống dẫn dầu (Oleoduc/Pipe Line), đóng những Tankers chuyên chở Dầu... Tất cả những Công trình Xây dựng lớn này (Grands Travaux) là biện pháp để chống Khủng hoảng, xử dụng khối thất nghiệp, làm tăng Khả năng tiêu thụ của quần chúng và khôi phục Kinh tế.
Nếu Lãnh vực Xe Hơi, ngành Điện tử, Truyền Thông... vì ứ đọng hàng hóa mà phải thải Thợ, thì những người thất nghiệp này được xử dụng ngay vào Chương trình Kinh tế của McCAIN. Chương trình làm tăng Khả năng tiêu thụ của quần chúng và sẽ mua những Hàng hóa bị ứ đọng để khôi phục những Xí nghiệp liên hệ.
Hoa kỳ có khả năng Bailout giới Ngân Hàng/Tài chánh đến USD.700 tỉ. Tại sao, trước tình trạng Khủng hoảng lan sang Lãnh vực Kinh tế, Hoa kỳ không bỏ ra USD.200 tỉ để đầu tư vào những công trình xây dựng lớn, tỉ dụ như chương trình ĐỘC LẬP NĂNG LỰC DẦU HỎA của McCAIN.
Nếu đầu tư vào chương trình USD.200 tỉ, thì số tăng thu nhập/khả năng tiêu thụ của quần chúng được tính theo KEYNES như sau:
USD.200 tỉ x K = USD.200 tỉ x 4 = USD.800 tỉ.
2) Chương trình TẠO KHẢ NĂNG TIÊU THỤ NỘI ĐỊA của Trung quốc
Nền Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng, nghĩa là lệ thuộc vào mức tiêu thụ nước ngoài, nhất là Hoa kỳ, Liên Aâu... Cuộc khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế làm giảm khả năng tiêu thụ của những Quốc gia này, nghĩa những nước này giảm mua hàng Trung quốc.
Trung quốc buộc lòng phải kích thích tiêu thụ nội địa nếu muốn đà phá triển sản xuất giữ được mức độ cân bằng bù trừ nào đó. Hai tác giả Aaron BACK và J.R.WU, trong The Wall Street Journal, ngày 13.11.2008, trang 24, còn nhận xét một điều đáng lo ngại cho Trung quốc là chính việc tiêu thụ nội địa đang giảm xuống:”China’s retail sales growth SLOWED in October.” (Độ tăng bán lẻ của Trung quốc đã hạ xuống trong tháng 10). Cùng nhận xét như vậy, Tác giả Andrew BATSON, trong The Wall Street Journal ngày 12.11.2008, trang 17, đã trích dẫn Thống kê của Nhà Nước: “The consumer index rose 4% in October from a year earlier, compared with 4.6% in September and well down from February’s peak of 8.7%” (Chỉ số tiêu dùng đã tăng 4% trong tháng 10 tính từ đầu năm trước, sánh với 4.6% trong tháng 9 và giảm xuống nhiều sánh với độ cao nhất của tháng 2.). Như vậy việc nâng đỡ tiêu thụ nội địa không phải chỉ là bù trừ việc giàm mua hàng từ nước ngoài, mà còn chống lại chính việc đang giảm việc tiêu thụ từ chính trong nội địa Trung quốc.
Đảng và Nhà Nước Trung quốc vừa quyết định dành ra USD.586 tỉ. Đây là Chương trình mang tính cách dài hạn, trong khi ấy vấn đề xuống dốc Kinh tế nằm trong cấp thời và ngắn hạn phải giải quyết. Thực vậy, chương trình USD 586 tỉ đặt trọng tâm vào xây dựng hạ tầng cơ sở Kinh tế như đường sá, cầu cống, ống dẫn dầu...
Nhận định về hiệu lực của Chương trình này, dưới hàng chữ lớn CRITICS OF GOVERNMENT’S INFRASTRUCTURE SPREE WORRY EFFORT WILL END UP BEING WASTE OF MONEY, Oâng Andrew BATSON viết ngày hôm qua 12.11.2008 trong THE WALL STREET JOURNAL như sau:
“This road boom is taking place in a poor, largely rural country where only about 10% of the population have their driver’s licenses... New roads and buildings are going unused and will end up being waste of money. In the poorest areas, some highways are often empty but for crops farmers spread out on them to dry in the sun.” ( Cuộc bùng dậy xây đường sá này xẩy ra ở một xứ nghèo nàn, chính yếu là dồng quê nơi mà chỉ vào khoảng 10% dân số có bằng lái xe... Những con đường mới và cao ốc sẽ không được xử dụng và sẽ kết thúc bằng tiêu phí tiền bạc. Ở những vùng nghèo khổ nhất, nhiều xa lộ thường vắng xe trống rỗng trừ trường hợp những người dân quê xử dụng để phơi nắng cho khô sản phẩm nông nghiệp dưới ánh mặt trời.)
Thực sự thì việc xây dựng hệ thống đường sá đã được hoạch định từ những chục năm trước và chương trình muốn chấm dứt mãi tới năm 2020. Đây là việc chi tiêu mang tính dài hạn, trong khi ấy Trung quốc cần phải có biện pháp cấp thời để khả năng tiêu thụ nội địa bù trừ cho việc cắt giảm đặt mua hàng hiện nay từ nước ngoài. Số tiền USD.586 tỉ là dự chi cho toàn Chương trình bao trùm một thời gian dài. Người ta dự đoán rằng nếu chương trình được khởi công lại, thì Trung quốc cũng chỉ tiêu cho hạ tầng cơ sở khoảng 1/5 tổng số tiền đã tuyên bố.
3) Chương trình PHÁT ĐỘNG KINH TẾ HOA KỲ USD.800 tỉ (OBAMA)
Thứ Hai 24.11.2008, trong cuộc Họp Báo tại Chicago, OBAMA tuyên bố Chương trình Phát động Kinh tế USD.800 tỉ. Chương trình nhằm tạo 2.5 triêu công ăn việc làm. Chương trình được tuyên bố, nhưng OBAM từ chối không đi vào chi tiết ở giai đoạn này.
Báo LE MONDE Mercredi 26.11.2008, trang 12, viết: “Il était attendu sur son “plan de relance”, mais refusé d’en préciser les détails à ce stade” (Người ta đợi Oâng nói về “chương trình phát động”, nhưng Oâng đã từ chối không nói rõ về những chi tiết ở giai đoạn này.”
Chúng ta phải đợi tới ngày Oâng nhận chức 20.01.2009. Tuy nhiên, dự định thực hiện tổng quát đã được tiết lộ:”L’idée est d’investir dans les grands chantiers d’infrastructures: écoles et hopitaux publics, routes, ponts et surtout développement d’énergies alternatives.” ( Ý tưởng là đầu tư vào những công trình xây cất lớn Hạ tầng cơ sở: trường học và những bệnh viện công, đường sá, cầu cống và nhất là việc khai triển những khả năng năng lực thay thế.” (LE MONDE Mercredi 26.11.2008, page 12)
Nếu so sánh hai Chương trình McCAIN và OBAMA, chúng ta thấy Chương trình của McCAIN quy tụ vào một công trình rõ rệt hơn, nhất là hướng công trình toàn diện vào những hậu quả Kinh tế. Năng lượng là yếu tố cốt lõi động cơ của nền Kinh tế. Tong khi đó, Chương trình của OBAMA thiên về lãnh vực Xã hội, nghĩa là không quy tụ mũi dùi chính yếu về lãnh vực kinh tế. Những lãnh vực như đường sá và cầu cống, thì Hoa kỳ đã được mở mang, nên việc tiêu dùng vốn không mấy cần thiết.
4) Chương trình PHÁT ĐỘNG KINH TẾ LIÊN ÂU Euro.200 tỉ
Gọi là Chương trình PHÁT ĐỘNG KINH TẾ LIÊN ÂU thì không đúng, mà phải gọi là Phong trào Phát Động Kinh tế các Nước trong Liên Au mới đúng bởi vì các Nước trong Liên Aâu mang những nhược điểm sau đây để không thể có một Chương trình duy nhất:
* Liên Aâu chưa phải là một Liên Bang * Các nước trong khối Liên Aâu nghĩ về mình trước tiên, nhất là về vấn đề tiền bạc. * Các nước trong khối Liên Aâu chưa có sự đồng nhất * Tình hình phát triển Kinh tế của mỗi nước cũng khác nhau * Khả năng tài chánh của mỗi nước cũng khác nhau.
Trong con số Euro.200 tỉ nêu ra, chỉ có Euro.30 tỉ là từ quỹ chung của Liên Aâu. Chương trình thực hiện Phát động Kinh tế của mỗi nước cũng không đồng nhất. Tỉ dụ nước Anh xử dụng phương pháp giảm Thuế TVA 17% để kích thích các Công ty có vốn đầu tư. Nước Đức có khả năng bỏ vốn ra hơn, nhưng khi bỏ vốn ra, họ muốn cứu Kỹ nghệ xe hơi của họ, chứ không cứu hãng Renault... Cũng vậy, nước Ý cứu Fiat của họ chứ không muốn cứu hãng VW của Đức. Ngoài ra, trong số 27 nước trong khối Liên Aâu, thì phần lớn đang nghèo, mới thoát ra khỏi chế độ Cộng sản.
Một điểm quan trọng nữa mà ngay mỗi nước như Pháp, Đức... cũng khó thực hiện những công trình xây dựng hạ tầng cơ sở theo Lý thuyết của KEYNES vì nhân công làm việc trong các công trình lại đến từ những nước khác, nhất là từ Đông Aâu. Họ lãnh lương và đưa về nước họ, nên hiệu quả đầu tư không đạt được theo Số Nhân Cấp Số của KEYNES.
Mấy quan sát về Kinh tế Việt Nam
Đây là khía cạnh phụ thêm mà Đài Phát Thanh RFI (Radio France Internationale) yêu cầu chúng tôi phát biểu để phát thanh về Việt Nam. Chúng tôi xin tóm tắt trả lời vắn gọn như sau:
=> CSVN thường rêu ra những chương trình công nghệ hóa. Nhưng thực ra 2/3 những Công ty Việt Nam làm việc thuê cho những Công ty nước ngoài về ngành may mặc, đồ chơi, những linh kiện thô sơ để những công ty nước ngoài mang về xứ họ hoặc bán cho Thị trường Hoa kỳ hay Liên Aâu. Một số những công ty nhỏ từ Đài Loan, Hong Kong... mở xưởng sản xuất những hàng loại thông thường để cung cấp cho Thị trường các nước khác, nhất là Tây phương. Tình trạng sản xuất ở Việt Nam sẽ dẹp tiệm như vùng Quảng Đông hiện nay.
=> Vì ăn xổi ở thì theo chương trình gọi là công nghệ hóa, Việt Nam đã thiếu hẳn đầu tư trong lãnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp, nền tảng của Kinh tế bền vững của Việt Nam.
Kết quả: Hoa kỳ, Liên Aâu giảm tiêu thụ, thì người ta giảm mua hàng, các công ty làm thuê cho nước ngoài sẽ đóng của, trong khi ây việc phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp Việt Nam đã bị quá chậm đối với Thái Lan.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 08:
NĂNG SUẤT CAO (PRODUCTIVITE ELEVEE) CỦA NỀN KINH TẾ TƯ DOANH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 20.11.2008
Chúng tôi viết bài này đúng trong lúc các nước họp bàn nhiều về những biện pháp mà Nhà Nước có thể can thiệp vào nền Kinh tế Tư bản Tư doanh đang gặp cơn Khủng hoảng Tài chánh và có những triệu chứng lan sang Lãnh vực Kinh tế thực.
Trước cuộc Họp Thượng đỉnh G20 tại Hoa Thịnh Đốn ngày 15.11.2008, TT.Pháp SARKOZY hô hào vận động theo khuynh hướng Xã hội cho một sự can thiệp mạnh của một Tổ chức Hoàn cầu nhằm Kiểm soát và Điều hợp hê thống Ngân Hàng/ Tài chánh Thế giới. Tham vọng này đã bị phản đối mạnh bởi Hoa kỳ và Gia Nã Đại.
Bản Thông Cáo chung của cuộc Họp G20 kết luận: “Nous devons poser les fondations d’une réforme qui nous aidera à garantir qu’une crise mondiale comme celle-ci ne se reproduira pas” (Chúng ta phải đặt những nền tảng của một cuộc cải cách để giúp chúng ta bảo đảm rằng một cuộc khủng hoảng như cuộc khủng hoảng này sẽ không xẩy ra nữa) (Journal LE TEMPS Suisse Lundi 17.11.2008, p. 3). Nhưng cũng trong số Báo này, ý kiến của TT.BUSH khẳng định như sau: “Cette crise n’est pas l’échec de l’économie de marché, et la réponse n’est pas de réinventer le système” (Cuộc khủng hoảng này không phải là sự thất bại của Kinh tế Thị trường, và câu trả lời không phải là đi phát minh một hệ thống mới).
Tờ báo còn tường thuật rằng: “La semaine dernìere, en prévision de la rencontre, George BUSH avait ardemment défendu les vertus du capitalisme et du libre marché” (Tuần vừa rồi, như để sửa soạn cho cuộc Họp, George BUSH đã chống đỡ mạnh mẽ cho những lợi điểm của nền Kinh tế Tư bản và cho Thị trường tự do) (Journal LE TEMPS Suisse Lundi 17.11.2008, p. 3).
Ngay cả Trung quốc, một nước chủ trương Chỉ huy Tập quyền Kinh tế, cũng không biết một sự kiểm soát và điều hành Kinh tế hoàn cầu theo kiểu nào. Oâng Jin LIQUN, Chủ tịch Tập đoàn China Investment Corp.’s, đã tuyên bố: “China doesn’t have the answers on how to create a proper global regulatory regime” (Trung quốc không có những câu trả lời về việc làm thế nào để sáng tạo ra một chế độ điều hành tổng quát đúng đắn) (THE WALL STREET JOURNAL, Tuesday November 18, 2008, p.22)
Trong hai bài 06 và 07 liền trước đây, chúng tôi đã phân tích về sự yếu kém năng suất của những Công ty quốc doanh và về những biến chứng thua thiệt khi có sự nhúng tay của quyền lực chính trị vào Kinh tế. Bài số 08 này nói về NĂNG SUẤT CAO (PRODUCTIVITE ELEVEE) CỦA NỀN KINH TẾ TƯ DOANH trong tinh thần mà Hoa kỳ và Gia Nã Đại bảo vệ trong cuộc họp G20 tại Hoa Thịnh Đốn ngày 15.11.2008.
Những khía cạnh sau đây được đề cập:
=> Mấy tỉ dụ dẫn nhập => Thưởng công và Chế tài Nhân lực => Cập nhật hóa những phát minh => Quản trị Chi tiêu theo chiều hạ giá thành
Mấy tỉ dụ dẫn nhập
Ở cái thời Kinh tế Chỉ huy toàn diện tại Liên xô, người ta thấy nông dân làm việc trong các Kolkhoz và Soukhoz không gạt hái được nhựng hiệu năng như các Chương trình Ngũ niên hoạch định. Nhà nước Công sản tìm đủ mọi cách để có thể làm tăng năng suất của nông dân. Nhà nước nêu những khẩu hiệu như “Anh hùng lao động”, tặng huy chương để kích thích nông dân làm việc. Nhưng năng suất vẫn kém bởi vì huy chương không đủ sức kích thích để nông dân làm việc ngày đêm. Nhà nước lại dùng biện pháp kiểm soát do những cán bộ nông nghiệp, nhưng nông dân vẫn tìm được cách để trốn việc. Cuối cùng, Nhà nước cấp cho nông dân mấy sào ruộng riêng và con bò cái. Tự nhiên ruộng riêng có rau cỏ mọc tươi tốt trong khi ấy ruộng nhà nước thì cây cối khô cằn. Con bò riêng thì béo tốt, mang bọng sữa lớn. Nông dân làm việc đêm ngày cho ruộng riêng, chăm nuôi kỹ càng con bò cái của riêng mình.
Người ta thường kể rằng con gái Nga có thân người rất đẹp, nhưng thiếu nụ cười, mặt chằm dằm vô duyên. Họ làm việc trong các Hợp Tác Xã của Nhà nước, thì cần gì phải cười để dụ khách hàng đến mua. Con gái làm việc trong các Tiệm của Kinh tế tự do và tư nhân, thì phải luôn luôn cười duyên để chiều khách hàng và được thưởng công.
Thưởng công và Chế tài Nhân lực
Hai tỉ dụ cho thấy rằng khi làm việc cho mình và kết quả của những cố gắng thì mình được hưởng, lúc đó mới có sự cố gắng tăng năng suất.
Trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường, điều căn bàn là Tư hữu. Khi làm việc, ai cũng mong chiếm tư hữu cho mình. Tư hữu để bảo đảm cuộc sống cho chính mình khi còn sức làm việc hay khi về già; tư hữu để bảo đảm cho con cháu. Đó là động lực chính yếu để tăng năng suất.
Khi một công nhân làm việc, tăng năng suất tốt, thì tăng lương, đó là sự thưởng công, khuyến khích tăng thêm năng suất. Cái huy chương “Anh hùng lao động” không đủ sức hấp dẫn để làm tăng năng suất. Điều làm cho một người chơi tennis cố gắng tập luyện, không phải là cái cúp, mà nhìn qua cái cúp ấy, anh ta lãnh được bao nhiêu tiền làm tư sản.
Cũng vậy, đứng về mặt tiêu cực, thì cũng chính cái tư hữu chế tài những ai kém năng suất làm việc. Ai làm việc kém năng suất, thì giảm lương hoạc sa thải, nghĩa là mất lương.
Đến đây, tôi nhớ đến một tỉ dụ bản thân. Khi là sinh viên, tôi thường đi làm việc trong các Tiệm ăn để kiếm tiền. Một buổi đêm, tôi phải lau chùi bếp đến một giờ sáng. Oâng chủ đến ôm lấy tôi và nói rằng ông thương tôi lắm. Làm việc thêm giờ và đang mệt, tôi bực mình nói với Oâng rằng tôi đến đây làm việc không phải vì ông thương tôi hay không mà chỉ vì đồng lương không hơn không kém. Oâng trả thêm lương, thì tôi làm việc đến 2, 3 giờ sáng cũng được mà không biết mệt, không cằn nhằn gì cả.
Cập nhật hóa những phát minh
Lịch sử phát triển Kinh tế là Lịch sử áp dụng những khám phá khoa học vào Lãnh vực sản xuất Kinh tế. Đây là vấn đề xử dụng Chất Xám làm tăng hiệu năng của bắp thịt nhân lực. Kỹ nghệ hóa sản xuất có nghĩa là xử dụng những máy móc vào tiến trình sản xuất để làm tăng hẳn lượng sản xuất.
Cuộc Cách Mạng Kinh tế của Anh quốc là do áp dụng khám phá khoa học về Máy Hơi nước vào tiến trình sản xuất, vào phương tiện phân phối hàng hóa. Kinh tế Anh quốc đứng hàng đầu Thế giới hồi ấy là do sự áp dụng này.
Ngày nay tốc độ chu kỳ dịch vụ tăng thần tốc là do việc áp dụng khám phá về điện tử vào các xí nghiệp. Hãy so sánh thời xử dụng Telex, Fax và E-Mail hiện nay.
Trong mọi lãnh vực hoạt động Kinh tế, tỉ dụ ngay nông nghiệp chẳng hạn, người ta tìm đủ mọi cách để cơ giới hóa.
Những Công ty lớn trên Thế giới sống còn là do sự mau chóng áp dụng những khám phá Khoa học vào Tiến trình sản xuất của mình. Chỉ cần chậm áp dụng những khám phá khoa học, thì đã bị những Công ty khác lấn át trong cạnh tranh để mình có thể đi đến phá sản.
Quan sát những nước trên Thế giới, người ta thấy rõ rệt rằng những Quốc gia chủ trương nền Kinh tế tư bản và thị trường tự do là những nước có đà áp dụng những khám phá khoa học vào Tiến trình sản xuất Kinh tế mau mắn nhất: Hoa kỳ, Nhật, Nam Hàn, Đức, Pháp...
Quản trị Chi tiêu theo chiều hạ giá thành
Paul SAMUELSON khi nói về lợi nhuận trong nền Kinh tế cạnh tranh thị trường đã đưa ra như một Định lý:”Trong dài hạn, Lợi nhuận tiến đến chiều hướng triệt tiêu”, nghĩa là: Lợi Nhuận = Giá Bán - Giá Thành = 0
Thực vậy, ở Thị trường cạnh tranh, rất khó lòng tăng giá bán để có Lợi nhuận cao. Vì vậy việc quan trọng là phải quản trị Giá Thành, phải căn cơ Chi Tiêu để hạ Giá Thành xuống thấp để làm tăng Lợi nhuận.
Những Công ty quốc doanh không có sự cố gắng căn cơ quản trị này bởi vì họ chi tiêu tiền của Nhà Nước, “tiền chùa”, nên không những không có sự thương xót mà còn tiêu xài lãng phí hoặc cát xén bỏ vào túi riêng mình nữa. Trong nền Kinh tế tư doanh, chi tiêu là chi tiêu tư hữu của mình, nên tất nhiên không thể không căn cơ.
Nếu nói Lợi nhuận là mức đo tổng quát hiệu năng Kinh tế của một Công ty, thì chính những Công ty tư doanh mới có hiệu năng cao được.
Đứng về mặt lợi ích xã hội cho quần chúng tiêu thụ, thì việc quản trị giá thành theo chiều hướng giảm xuống là một hiệu năng quan trọng cho một nền Kinh tế. Sự thua kém năng suất, hiệu năng của nền Kinh tế tập quyền chỉ huy đối với nền Kinh tế tư bản thị trường tự do là ở phương diện này.
Nói rằng nền Kinh tế Tập quyền Chỉ huy không có Khủng hoảng bởi vì họ có phát triển đâu mà có khủng hoảng. Còn nói rằng Kinh tế Tự do Thị trường có khủng hoảng bởi vì họ đã tiến triển lên mức độ cao, nên khi giảm sút xuống một chút, thì gọi đó là khủng hoảng.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH: Phụ Bản 06:
KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRUNG QUỐC: TỪNG NGÀN XÍ NGHIỆP DẸP TIỆM (Phần II)
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 13.11.2008
Vì tính cách khẩn trương của Khủng hoảng Kinh tế tại Trung quốc và Việt Nam, hậu quả của Khủng hoảng Tài chánh Thế giới, nên chúng tôi viết Phụ Bản này cho hợp thời. Nội dung của Phụ Bản này đã được tóm tắt phát thanh về Việt Nam qua RFI (Radio France Internationale).
Phụ Bản 05 (Phần I) lần trước nói tổ quát về những ảnh hưởng của cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế Thế giới lên Kinh tế Trung quốc và Việt Nam. Phụ Bản 06 này (Phần II) đi vào những Lãnh vực Kinh tế rõ rệt của Trung quốc đang bị thụt lùi trầm trọng.
Tờ THE WALL STREET JOURNAL Europe, hôm qua Thư Tư 12.11.2008, dưới đầu đề SIGNS OF AN ECONOMIC SLOWDOWN ARE ALSO SPREADING IN CHINA, viết như sau: “Signs of a slowdown in China are spreading, with weak economic data for October illustrating why the government hurried to announce its massive stimulus plan. New data announced Tuesday shows slowing imports, weakening home prices and a drop in export orders, all pointing to a sharp decline in activity that will take time to reverse” (By Andrew BATSON in Beijing and Norihiko SHIROUZU in Guangzhou, China, page 16) (Những dấu chỉ của một cuộc xuống dốc tại Trung quốc đang lan tràn, với những dữ kiện của kinh tế yếu kém cho tháng 10 chứng tỏ lý do tại sao Nhà Nước đã phải vội vã tuyên bố một chương trình kích thích khổng lồ. Những dữ kiện mới được tuyên bố hôm Thứ Ba chứng tỏ những nhập cảng đang tuột dốc, những giá cả tiêu thụ nội địa đang yếu nhược đi và một sự rơi giảm hẳn những đặt mua hàng cho xuất cảng, tất cả đang chứng tỏ rõ rệt một sự giảm sút sâu đậm trong hoạt động mà phải có thời gian mới có thể lấy lại.)
Câu nhận định trên đây của hai Tác giả sống tại Trung quốc tóm tắt tổng quát tình trạng tụt dốc Kinh tế của Trung quốc.
Chúng tôi muốn đi vào chi tiết của những Lãnh vực hoạt động rõ rệt sau đây:
=> Thương hiệu “Made in China” mất hẳn giá trị => Tụt hẳn giá Địa ốc => Đóng cửa các Xí nghiệp => Chương trình kích thích nội địa => Thất nghiệp và lo sợ xáo trộn xã hội
Thương hiệu “Made in China” mất hẳn giá trị
Thương hiệu của một Quốc gia là sự thẩm định đầu tiên và TỔNG QUÁT của người tiêu thụ về phương diện giá cả và về phẩm chất của hàng hóa. Từ đó, người tiêu thụ mới đi thẩm định từng món hàng trước khi quyết định số lượng mua. Khi nhìn Thương hiệu: Made in USA, Made in France, Made in Germany, Made in Switzerland, Made in Japan, Made in Singapore, Made in China..., mỗi người tiêu thụ nghĩ về giá cả và phẩm chất của hàng hóa do tên một nước tạo ra trong đầu óc của khách hàng.
Khi hàng Trung quốc bắt đầu tràn lan trên Thế giới, nhất là sau khi nhập WTO, Thương hiệu Made in China làm cho người tiêu thụ nghĩ liền đến giá cả hạ. Trong thời gian đầu cách đây chừng 50 năm, Thương hiệu Made in Japan cũng cho khách hàng nghĩ ngay đến giá hạ. Nhưng ngày nay, Thương hiệu Made in Japan tạo trước tiên cho khách hàng không phải là giá hạ nữa mà là có kỹ thuật cao, đáng được tin tưởng.
Từ Thương hiệu Made in China cho ý tưởng đầu tiên là giá thấp, Trung quốc phải tiến dần đến kiện toàn kỹ thuật để khách hàng tin tưởng và phẩm chất như Nhật đã đạt được. Nhưng ngược lại, Thương hiệu Made in China hiện nay đã mất hẳn giá trị vì những việc làm sau đây của chính Trung quốc:
=> Đồ ăn cho súc vật: chó ăn té đùng ra chết tại Hoa kỳ => Đồ chơi cho trẻ con có những chất sơn mang chất độc tạo bệnh tật => Chất Mélanine trong sữa bột tạo bệnh thận cho chính trẻ em tại Trung quốc => Những kẹo bánh cũng có pha quá mức của chất Mélanine => Chất Mélanine này cũng được xử dụng trong việc chế những đồ dùng bằng nhựa như chén bát, đũa nhựa, đồ dùng nhà bếp => Một số những quần áo, chăn mền từ Trung quốc cũng bị khám phá ra là có chất làm hại da của người xử dụng => Siêu thị CARREFOUR của Pháp đã phải thường tiền chữa bệnh cho những khách hàng mua ghế xa-long từ Trung quốc. Ngồi, nằm nhiều trên những xa-long ấy, sẽ bị bệnh ngứa, nổi sần lằn da. => Ý quốc mới tịch thu một số lượng lớn dầy dép bằng da được sản xuất từ Trung quốc. Da có chất nhuộm làm ung thư chân. => Một điều rất quan trọng là Trung quốc giữ quán quân về việc làm đồ giả mà vẫn đề là sản xuất tại những nước nguồn gốc của hàng hóa đó: tỉ dụ Đồng hồ giả sản xuất từ Trung quốc, nhưng vẫn đề là Made in Switzerland; những ví da của phụ nữ sản xuất từ Trung quốc, nhưng vẫn đề là Mande in Italy... Thuốc men chữa bệnh sản xuất từ Trung quốc, đã lan tràn sang các nước nghèo, nhất là Phi châu. Điểm này đã tạo cho khách hàng hiểu những đồ Trung quốc là giả mạo và không thể tin tưởng.
Thương hiệu Made in China đã tuột dốc đến nỗi có nhiều những tiệm phân phối phải dấu cất hàng hóa hay tìm cách đề trại đi. Thương hiệu Made in China đã trở thành một sự xấu hổ vậy. Một số Công ty Đức, trước đây sản xuất tại Trung quốc, nay đưa việc sản xuất về Đức để nhờ Thương hiệu Made in Germany. Họ xử dụng nhân công từ những nước Đông Aâu để có giá rẻ. Như vậy một đàng lợi dụng được Thương hiệu Made in Germany, một đàng tránh hẳn Thương hiệu Made in China đã mất hẳn giá trị.
Tụt hẳn giá Địa ốc
Trong suốt 8 năm vừa rồi, người ta ca ngợi “boom housing construction” tại Trung quốc. Những cao ốc được mọc lên như nấm tại các thành phố ven biển, nhất là tại Thượng Hải. Thời gian này cũng trùng với thời gian xây cất các cơ sở, khách sạn cho Thế Vận Hội Bắc Kinh. Tất cả những xây cất nhà cửa này mang khía cạnh phô trương sự thành công của đảng Cộng sản Trung quốc.
Dân chúng từ các vùng quê trong nội địa kéo về các thành phố ven biển. “Anywhere from 15 million to 20 million people move to Chinese cities each year” (Từ mọi nơi, từ 15 tới 20 triệu người kéo về các thành thị Trung quốc mỗi năm) (Andrew BATSON, Beijing, THE WALL STREET JOURNAL, 24.10.2008, page 9). Nhưng theo Andrew BATSON, thì việc xây cao ốc không phải là cho dân chúng từ các vùng quê kéo về vì những người này chưa đủ khả năng mua nhà.
Nếu cuộc Khủng hoảng Tài chánh tại Hoa kỳ bắt đầu bằng vỡ lở Tín dụng (Mortgage Subprime Credits), thì cuộc Khủng hoảng địa ốc hiện nay tại Trung quốc đến từ sự chi tiêu quá đáng để phục vụ cho Chính trị. Việc chi tiêu quá đáng này, sau những xây cất cơ sở Thế Vận Hội, gặp đúng lúc bùng nổ Khủng hoảng Tài chánh Thế giới, khiến tình trạng ứ đọng Địa ốc trở thành trầm trọng.
Dưới đầu đề BEIJING MOVES TO STIMULATE HOME-BUYING đăng trong THE WALL STREET JOURNAL Europe, 24.10.2008, Andreww WATSON đã viết:
“Sales of new housing in China have plummeted in recent months as buyers get spooked by deteriorating economy and weakening prices. With economic growth also slowing more than expected, officials have moved from truying to rein in prices to encouraging buyers. This week, they announced tax breaks, smaller down-payment requirements and lower loan rates for first time home buyers.”
“More than 80 million people are employed directly in the construction industry, so a prolonged downturn also threatens to lead to more unemployment and social unrest.”
(Việc bán những nhà mới tại Trung quốc đã tụt xuống trong những tháng gần đây khi những người mua hoảng sợ vì kinh tế giảm hẳn xuống và giá cả yếu hẳn đi. Với độ tăng trưởng kinh tế yếu kém hơn như mong đợi, phía nhà nước can thiệu vào bằng cách giữ giá cả để cổ võ những người mua. Tuần này, phía nhà nước đã tuyên bố những việc giảm thuế, đòi tiền cọc nhỏ hơn và cho tín dụng với lãi suất hạ cho những người mua nhà đầu tiên.
(Hơn 80 triệu người được xử dụng trực tiếp trong kỹ nghệ xây cất, vì vậy một sự yếu kém kinh tế kéo dài đe dọa dẫn đến thất nghiệp nhiều hơn và xáo động xã hội.”
Oâng William XIN, Tài chánh trưởng của China Housing & Land Development Inc., đã tuyên bố:”Now everybody believes the price will go down. And the developpers don’t want to sell at a lower price. Nobody wants to sell, and nobody wants to buy” (The Wall Steet Journal, 24.10.2008, page 9) (Bây giờ mọi người tin là giá sẽ xuống. Va những người xây cất không muốn bán với giá hạ. Không ai muốn bán, và không ai muốn mua.”
Cũng theo Andrew BATSON, kỹ nghệ xây cất liên hệ đến những sản xuất khác: “Housing sales have plummeted. That, in turn, is affecting imports of pivotal raw materials like iron ore, used to make steel.” (Norihiko SHIROUZOU, The Wall Street Journal, 12.11.2008, page 16) (Việc bán nhà cửa chìm sâu xuống. Điều này đang ảnh hưởng tới việc nhập cảng những vật dụng thô như quạng sắt để chế thép). Những tỉ dụ đình trệ về những sản xuất liên hệ đến Địa ốc: giá xi măng, giá sắt thép hạ tới gần 50%; những đồ trang bị nhà cửa cũng đình trệ như máy lạnh giảm mua tới 21%.
Đóng cửa các Xí nghiệp
Trong đoạn đầu chúng tôi đã viết về Thương hiệu Made in China và những lý do đang tàn phá những hàng Trung quốc, nhất là về vải vóc, chăn màn, đồ chơi trẻ con, giầy dép... nghĩa là những hàng nhẹ nhằm xuất cảng. Gặp thời Khủng hoảng Tài chánh, Kinh tế tại những Quốc gia tiêu thụ lớn như Hoa kỳ và Liên Aâu, những đặt hàng từ những Quốc gia này giảm hẳn xuống, tất nhiên những Công ty nhỏ và trung bình của Trung quốc quy tụ chung quanh vùng Quảng Đông làm việc cho Lãnh vực này đang đi đến phá sản.
Nhật báo LE MONDE số 19844 ngày Thứ Năm hôm nay 13.11.2008, dưới đầu đề EN CHINE, DES MILLIERS D’ENTREPRISES FERMENT DANS LA REGION DE CANTON (Tại Trung quốc, hàng ngàn xí nghiệp đóng cửa trong vùng Quảng Đông), đã viết như sau:
“Le vaisseau amiral de l’économie chinoise navigue par gros temps, secoue par la tempete de la crise financiere: la province de Guangdong qui, voici trente ans, fut la figure de proue de l’extraordinaire décollage de la Chine et y symbolisa plus tard la réussite, est aujourd’hui l’une des régions les plus touchées de la République populaire. “On pourrait dire que c’est ici que tout a commencé et que c’est ici que tout pourrait finir”” (page 15) (Đô đốc kỳ hạm đang thảnh thơi lướt sóng, bị chao động bời cơn bão khủng hoảng tài chánh: tỉnh Quảng Đông, ba mươi năm trước đây, đã là bộ mặt dẫn đầu của cuộc cất cánh lạ lùng của Trung quốc và đã là biểu tương của sự thành công sau đó, ngày nay trở thành một trong những vùng bị thiệt hại nhất của nước Cộng hòa Nhân dân. “Người ta có thể nói rằng chính từ nơi này mà mọi sự đã bắt đầu và rằng cũng chính từ nơi này mà mọi sự sẽ chấm dứt.””).
Vùng Quảng Đông chiếm 1/3 những xuất cảng của Trung quốc, đứng hàng thứ 8 cho thu nhập thuế và chiếm 25% những đầu tư nước ngoài. Sự sụp đổ Kinh tế của Quảng Đông trở thành trầm trọng cho Kinh tế Trung quốc.
Bruno PHILIP, tác giả bài báo trên đây, viết tiếp:
“Depuis fin 2007, la machine à produire du miracle s’est grippée et le krach de septembre a amplifíe la tendance. Entre Janvier et Juillet, plus de 3’000 PME de l’industrie de jouet, la plupart des sous-traitants, ont fermé boutique... Les experts remarquent que 95% d’entre elles ne reviendront pas en Chine continentale.” (Từ cuối năm 2007, bộ máy sản xuất phép lạ kinh tế bị bệnh rút co lại và cuộc khủng hoảng tháng Chín đã làm tăng thêm hướng xuống ấy. Trong giữa tháng Giêng và tháng Bẩy, hơn 3’000 Xí nghiệp nhỏ và trung bình về kỹ nghệ đồ chơi, phần lớn làm cho những Công ty khác, đã dẹp tiệm... “Những chuyên viên cho biết rắng 95% trong số những Xí nghiệp này sẽ không trở lại Trung quốc lục địa nữa”.)
Chính việc đóng cửa nhiều ngàn Xí nghiệp như vậy mà Chính phủ Trung quốc mới họp tuần này để tìm giải pháp nâng đỡ các Xí nghiệp khác đang hấp hối.
Tờ FINANCIAL TIMES Thứ Năm 13.11.2008 viết :”China, worried by slowing growth and widespread reports of FACTORY CLOSURES, is to step up support for manufacturers”. Chính phủ không thể không có biện pháp năng đỡ xuất cảng nhằm cứu những xí nghiệp còn đang bị đe dọa đóng cử này.
Chương trình kích thích nội địa
Nền Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng, nghĩa là lệ thuộc vào mức tiêu thụ nước ngoài, nhất là Hoa kỳ, Liên Aâu... Cuộc khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế làm giảm khả năng tiêu thụ của những Quốc gia này, nghĩa những nước này giảm mua hàng Trung quốc.
Trung quốc buộc lòng phải kích thích tiêu thụ nội địa nếu muốn đà phá triển sản xuất giữ được mức độ cân bằng bù trừ nào đó. Hai tác giả Aaron BACK và J.R.WU, trong The Wall Street Journal, ngày 13.11.2008, trang 24, còn nhận xét một điều đáng lo ngại cho Trung quốc là chính việc tiêu thụ nội địa đang giảm xuống:”China’s retail sales growth SLOWED in October.” (Độ tăng bán lẻ của Trung quốc đã hạ xuống trong tháng 10). Cùng nhận xét như vậy, Tác giả Andrew BATSON, trong The Wall Street Journal ngày 12.11.2008, trang 17, đã trích dẫn Thống kê của Nhà Nước: “The consumer index rose 4% in October from a year earlier, compared with 4.6% in September and well down from February’s peak of 8.7%” (Chỉ số tiêu dùng đã tăng 4% trong tháng 10 tính từ đầu năm trước, sánh với 4.6% trong tháng 9 và giảm xuống nhiều sánh với độ cao nhất của tháng 2.). Như vậy việc nâng đỡ tiêu thụ nội địa không phải chỉ là bù trừ việc giàm mua hàng từ nước ngoài, mà còn chống lại chính việc đang giảm việc tiêu thụ từ chính trong nội địa Trung quốc.
Đảng và Nhà Nước Trung quốc vừa quyết định dành ra USD.586 tỉ. Đây là Chương trình mang tính cách dài hạn, trong khi ấy vấn đề xuống dốc Kinh tế nằm trong cấp thời và ngắn hạn phải giải quyết. Thực vậy, chương trình USD 586 tỉ đặt trọng tâm vào xây dựng hạ tầng cơ sở Kinh tế như đường sá, cầu cống, ống dẫn dầu...
Nhận định về hiệu lực của Chương trình này, dưới hàng chữ lớn CRITICS OF GOVERNMENT’S INFRASTRUCTURE SPREE WORRY EFFORT WILL END UP BEING WASTE OF MONEY, Oâng Andrew BATSON viết ngày hôm qua 12.11.2008 trong THE WALL STREET JOURNAL như sau:
“This road boom is taking place in a poor, largely rural country where only about 10% of the population have their driver’s licenses... New roads and buildings are going unused and will end up being waste of money. In the poorest areas, some highways are often empty but for crops farmers spread out on them to dry in the sun.” ( Cuộc bùng dậy xây đường sá này xẩy ra ở một xứ nghèo nàn, chính yếu là dồng quê nơi mà chỉ vào khoảng 10% dân số có bằng lái xe... Những con đường mới và cao ốc sẽ không được xử dụng và sẽ kết thúc bằng tiêu phí tiền bạc. Ở những vùng nghèo khổ nhất, nhiều xa lộ thường vắng xe trống rỗng trừ trường hợp những người dân quê xử dụng để phơi nắng cho khô sản phẩm nông nghiệp dưới ánh mặt trời.)
Thực sự thì việc xây dựng hệ thống đường sá đã được hoạch định từ những chục năm trước và chương trình muốn chấm dứt mãi tới năm 2020. Đây là việc chi tiêu mang tính dài hạn, trong khi ấy Trung quốc cần phải có biện pháp cấp thời để khả năng tiêu thụ nội địa bù trừ cho việc cắt giảm đặt mua hàng hiện nay từ nước ngoài. Số tiền USD.586 tỉ là dự chi cho toàn Chương trình bao trùm một thời gian dài. Người ta dự đoán rằng nếu chương trình được khởi công lại, thì Trung quốc cũng chỉ tiêu cho hạ tầng cơ sở khoảng 1/5 tổng số tiền đã tuyên bố.
Thất nghiệp và lo sợ xáo trộn xã hội
Chỉ tính cụ thể 80 triệu người được xử dụng trong ngành Xây cất Nhà cửa đang trong tình trạng bị đe dọa sa thải, cộng với số nhân công dùng trong 3’000 xí nghiệp đã bị đóng cửa tại vùng Quảng Đông, Nhà nước Trung quốc phải đứng trước nạn thất nghiệp mới nhất lên tới con số chứng 100 triêu người. Những người này phần lớn đến từ những vùng quê thuộc nội địa. Việc đẩy họ về nguyên quán có thể gây những xáo trộn xã hội.
Trong LE MONDE số ra ngày 13.11.2008, trang 15, Ký giả Bruno PHILIP đã viết như sau: “Les conséquences de la crise se font déjà sentir sur l’emploi. Selon le site www.Sina.com, des miliers d’ouvriers migrants sont en train de quitter le delta de la rivìere des Perles et rentrent dans leurs campagnes, faute de travail. Des responsables de la gare de Canton ont indiqué que 130’000 voyageurs quittent chaque jour la métropole en train.” (Những hậu quả của khủng hoảng đã cảm thấy đối với việc làm. Theo diễn đàn www.Sina.com , từng ngàn thợ di dân đang bỏ châu thổ của con sông Ngọc và trở về thôn quê của họ vì thiếu việc làm. Những người trách nhiệm của nhà ga xe lửa Quảng Đông cho biết rằng mỗi ngày có 130’000 người bỏ nơi thành thị này bằng xe lửa.)
Tác giả Alain FAUJAS, trong LE MONDE ngày 11.11.2008, trang 13, đã nhận định về tình trạng xáo động xã hội liên quan đến Chính trị như sau: “MANIFESTATIONS POPULAIRES—Le taux de croissance inquìete Pékin qui voit se multiplier les manifestations populaires contre l’inflation et les fermetures d’entreprises dans le sud de la Chine. On prête au gouvernement l’intention de maintenir coute que coute la croissance au-dessus de 7%, niveau jugé indispensable pour la stabilité politique du pays. (NHỮNG BIỂU TÌNH DÂN CHÚNG—Độ tăng trưởng kinh tế làm cho Bắc Kinh lo lắng vì nhìn thấy những cuộc biểu tình dân chúng đang được nhân lên chống lại lạm phát và việc đóng cửa những xí nghiệp thuộc miền Nam Trung quốc. Người ta nói rằng Nhà nước phải cố thủ giữ bằng bất cứ giá nào độ tăng trưởng bên trên 7%, mức độ được coi là cần thiết để giữ yên ổn Chính trị cho đất nước.)
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 07:
TẤT CẢ MỌI CAN THIỆP NHÀ NƯỚC LÀM PHÁT SINH ĐẦU CƠ, CHỢ ĐEN VÀ CHI PHÍ TỐN KÉM
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 23.10.2008
Trong ít tuần nay, nhân cuộc khủng hoảng Tài chánh, các Chính quyền bỏ vốn ra để cứu vớt Lãnh vực Ngân Hàng/Tài chánh. Có hai khuynh hướng thuộc giới Chính trị khi Nhà Nước bỏ ra những số tiền khổng lồ:
1) Chính trị khuynh hướng xã hội thì muốn sự can thiệp trực tiếp và lâu dài của Nhà Nước vào Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh. 2) Chính trị khuynh hướng tự do thì muốn những Chương trình cứu vớt chỉ là trợ lực giai đoạn cho Lãnh vực Ngân Hàng/ Tài chánh trong lúc ốm bệnh, rồi sau đó Nhà Nước rút về vị trí của mình.
Dù là với khuynh hướng xã hội đi nữa, thì quyền lực của Nhà Nước cũng chỉ hạn định ở món tiền của mình bỏ vào, nghĩa là những quyền quyết định Tài chánh/ Kinh tế vẫn được đo lường bằng sức mạnh đồng vốn bỏ vào. Điều này khác với những quyết định hoàn toàn có tính cách Chính trị ở Việt Nam với thể chế độc tài độc đảng.
Can thiệp nắm mạch máu Kinh tế sản xuất tại Việt Nam
Trong hai ngày 17-18.10.2008, tại cuộc Hội thảo được tổ chức tại Đại học PRINCETON Hoa kỳ, vấn đề Tài chánh và Ngân Hàng tại Việt Nam trở thành đề tài chính. Diễn giả chính của buổi hội thảo, tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn, Phó Hiệu Trưởng Trường Đại Học Kinh Tế, thuộc Đại Học Quốc Gia Hà Nội, nhận định, rằng “thị trường tài chánh Việt Nam đặt nền tảng trên hệ thống ngân hàng,” phát triển nhanh, nhưng phần vốn Nhà Nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn.
Ông nói: “Hệ thống ngân hàng Việt Nam cung cấp hơn 20% vốn cho toàn bộ lượng đầu tư xã hội trong nền kinh tế Việt Nam. Số lượng ngân hàng hoạt động tăng rất nhanh, từ 9 đơn vị trong năm 1991, tăng lên đến con số 80 trong năm 2008.”
Mặc dầu phát triển nhanh, tính chất của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn mang tính quốc doanh, vì tỷ lệ ngân hàng có vốn nhà nước hoặc do nhà nước làm chủ, vẫn chiếm đa số.
Cho đến nay, mặc dầu Nhà Nước Việt Nam chỉ làm chủ 6 ngân hàng, nhưng số vốn thuộc Nhà Nước trong toàn bộ hệ thống lại chiếm đến hơn 67%.
Nếu tính trong khu vực ngân hàng cổ phần, thì phần lớn trong số 34 ngân hàng loại này đều do Nhà Nước thành lập hoặc cung cấp vốn.
Tham gia đóng góp ý kiến tại buổi hội thảo, tiến sĩ Regina M. Abrami, giáo sư môn Khoa Học Chính Trị, Khoa Quản Trị Kinh Doanh thuộc đại học Harvard, nói rằng vai trò của Nhà Nước trong thị trường VN không được phân định rõ ràng.
Câu hỏi đặt ra, là Nhà Nước đóng vai trò giám sát hay vai trò cổ đông góp vốn? Từ câu hỏi này, người ta đặt lại vấn đề của tính minh bạch. Ví dụ cụ thể là Tổng Công Ty Đầu Tư Vốn Nhà Nước, SCIC. Trong khi SCIC có nhiệm vụ mua lại càng nhiều càng tốt các công ty quốc doanh, thì trong một nghĩa nào đó, Tổng Công Ty này đóng cả hai vai trò, vừa là người giám sát, vừa là người góp vốn.
Hiện nay, SCIC có trong danh mục của mình hơn 900 công ty con, thuộc Nhà Nước, và khoảng 200 tỷ đồng tài sản.
Giáo sư Abrami, một chuyên gia về Việt Nam và Trung Quốc, nhận xét, rằng: “Trong khi Việt Nam thúc đẩy tính minh bạch cùng quá trình giám sát các cơ chế tài chánh, thì Nhà Nước đã thực hiện nhiều cách thức làm phát sinh sự phức tạp.”
Theo thông tin mà tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn cho biết, thì hệ thống ngân hàng, vai trò “cột sống” của thị trường tài chánh Việt Nam, “phát triển nhanh” trong “môi trường thiếu tính cạnh tranh.”
Tổng quát những nhận định này cho thấy rằng Kinh tế VN định hướng XHCN có thể nói là nằm trong tay Nhà Nước. Mà Nhà Nước ở đây là đảng CSVN độc tài. Hệ thống Ngân Hàng/Tài chánh, mạch máu của Kinh tế có thể gọi là hệ thống Ngân Hàng/Tài chánh Mafia nhóm đảng, liên hệ gia đình của những người nắm quyền đảng. Tỉ dụ con gái của Nguyễn Tấn Dũng nắm một số vốn đầu tư khá lớn do Nhà Nước cung cấp.
Theo phân tích của Bà Frnacoise NICOLAS về cuộc Khủng hoảng Tài chánh Á châu năm 1997, thì một hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh như vậy là nguồn của Khủng hoảng.
Can thiệp trực tiếp Nhà Nước Vào Xuất Nhập cảng
Những Tổng Công ty Nhà Nước giữ những độc quyền Xuất Nhập cảng hoặc giữ những Quotas ưu đãi về những hàng hóa tiêu thụ lớn. Tình trạng này phát sinh ra việc nhường bán Quotas từ những Tổng Công ty Nhà Nước có đặc quyền. Đây là lý do làm mất sự sinh động và hiệu lực thương mại của Thị trường. Hã lấy hai tỉ dụ: Xuất cảng Gạo và Nhập cảng Dầu Lửa mà Dân chúng Việt Nam đang bị thiệt thòi hiện nay.
Những Tổng Công ty Nhà Nước có những đặc quyền lấy Gạo xuất cảng. Chúng tôi đã có dịp nói chuyện với Tổng Công ty TIGIFOOD Tiền Giang và được biết rằng Nhà Nước không có những Quỹ điều hợp Lúa Gạo tương xứng cho Nông dân, thiếu điều kiện Silo dự trữ khiến cho Thị trường dễ bị ếm giá cho đầu cơ. Hiện nay, nông dân được mùa, nhưng vấn đề là không bán được.
Ngày 19.10.2008, TS LÊ VĂN BẢNH - viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL tóm tắt tình hình ứ đọng lúa gạo như sau: “Lúa gạo đang tồn đọng trong thời gian dài và chưa biết khi nào giải phóng hết đang làm hàng triệu nông dân ĐBSCL điêu đứng. Trong chuyện này ngoài "lỗi" của giống lúa IR 50404 còn có trách nhiệm của DN xuất khẩu lúa gạo, của Nhà nước và cả người nông dân trồng lúa.“ Chúng tôi đã có dịp quan sát Thị trường tiêu thụ gạo ở Phi châu như Brazaville, Bénin, Lagos và thấy vắng bóng Gạo của Việt Nam, mặc dầu những xứ này chuộng ăn gạo của Việt Nam với 25% broken vì giá hạ thuộc tầm mua của họ.
Việc Nhập Cảng Dầu Lửa cũng nằm trong tay Nhà Nước. Hiện nay Giá Dầu Thế giới xuống mạnh, nhưng Nhà Nước độc quyền cũng không điều chỉnh giá xuống cho Dân.
Tóm lại khi Nhà Nước nắm độc quyền hay giữ Quotas, thì vấn đề Xuất Nhập cảng không có cạnh tranh và lưu hành sinh động.
Can thiệp trực tiếp Nhà Nước Về Giá cả Thị trường tiêu thụ hàng ngàyï
Khuynh hướng của một Nhà Nước Xã hội dễ can thiệp trực tiếp vào giá cả tiêu thụ hàng ngay của Thị trường nhân danh bào vệ người nghèo. Nhà Nước dễ ấn định Giá trần và Giá sàn cho hàng hóa, nhất là những hàng hóa tiêu thụ đại chúng.
=> Đinh Giá trần (Prix plafond)
Khi giá một nhu yếu phẩm có đà tăng lên, nghĩa là phía Cầu tăng lên hơn phía Cung, Nhà Nước can thiệp trực tiếp vào Thị trường bằng cách định một Giá trần, nghĩa là giá bán không được tăng lên trên Giá trần đã do Nhà Nước ấn định. Nhà Nước lấy lý do là mình phải bênh đỡ cho người nghèo. Hâu quả của việc can thiệp này ra sao ? * Chính Nhà Nước đã tạo ra một tình trạng Cầu luôn luôn lớn hơn Cung và nhữ vậy trên Thị trường tiêu thụ, giá cả luôn luôn ở trong tình trạng phải cao hơn Giá trần. * Tình trạng này khiến cho con buôn tìm cách đầu cơ làm cho Cung càng khan hiếm hơn để họ bán chợ đen với giá cao hơn nữa. * Để có thể kiểm soát được đầu cơ và bán chợ đen của con buôn, Nhà Nước buộc lòng phải chi tiêu tốn kém cho hệ thống kiểm soát. Việc chi tiêu tốn kém xã hội này lại lấy từ tiền thuế của Dân. Nếu con cháu đảng làm đầu cơ, thì ai dám kiểm soát.
Như vậy vấn đề đặt ra là việc Nhà Nước định Giá trần có ích lợi cho Dân không hay lại làm cho Dân vẩn sống trong tình trạng tăng giá do đầu cơ và chợ đen, rồi phải đóng thuế chi tiêu xã hội cho hệ thống kiểm soát.
Trong thời YELSIN tại Nga, vì giữ Giá trần mà Moscou khan hiếm thịt, dân chúng nối đuôi đợi hàng dài trước cửa tiệm. YELSIN đã quyết định thả lòng giá. Giá thịt lên vọt, nhưng dần dần lại xuống và còn xuống thấp hơn Giá trần (Prix plafond) mà Nhà Nước đã định trước đây vì lượng Cung tràn vào Thị trường.
=> Giá sàn (Prix plancher)
Đây là trường hợp giá cả của mặt hàng tụt xuống vì lý do ếm giá của phía mua chẳng hạn. Nhà Nước can thiệp vào để định giá sàn, nghĩa là không cho giá xuống thấp hơn với mục đích trợ lực cho phía Cung, nghĩa là cho phía sản xuất tiếp tục hoạt động. Nếu giá tiếp tục mang khuynh hướng xuống và để bảo vệ phía sản xuất Cung, Nhà Nước lại cũng phải lấy tiền thuế của Dân để bù trừ cho những thua lỗ của những Công ty sản xuất. Nếu đây là những Công ty quốc doanh, thì Nhà Nước phải trường kỳ hỗ trợ (Subventions) để những Công ty này khỏi chết.
Trong cả hai trường hợp Giá trần và Giá sàn, chính người Dân đóng thuế phải chịu cho những Chi tiêu xã hội. Vì vậy, không thể nói được rằng việc can thiệp trực tiếp của Nhà Nước là để bênh đỡ cho người nghèo.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 06:
SỰ YẾU KÉM NĂNG SUẤT (FAIBLE PRODUCTIVITE) CỦA NHỮNG CÔNG TY QUỐC DOANH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 16.10.2008
Đơn vị tạo phát triển Kinh tế Quốc gia đồng thời tạo công ăn việc làm cho nhân lực là những Công ty, nhỏ hay lớn. Tại Việt Nam, những Tập đoàn Kinh tế lớn nằm trong tay Nhà Nước. Một số những Công ty nhỏ hay trung bình có nằm trong tay tư doanh đi nữa, thì cũng bị ràng buộc rất nhiều vào những Tập đoàn Kinh tế Nhà nước nắm những đặc quyền khai thác hay xuất nhập cảng.
Bài QUAN ĐIỂM này muốn cho thấy sự yếu kém Năng suất (Faible Productivité) của những Công ty quốc doanh, nhất là lại ở dưới quyền lực độc tài của Nhà Nước. Khi mà 80% hoạt động Kinh tế nằm trong hệ thống quốc doanh dưới quyền quyết định độc tài của Chính trị, thì sự yếu kém Năng suất còn trở thành trầm trọng hơn nữa. Hội nhập vào Thế giới Kinh tế cạnh tranh với Năng suất yếu kém, Việt Nam khó lòng theo kịp đà phát triển Kinh tế chung.
Bài được trình bầy với những điểm sau đây: => Công ty tư bản và Năng suất => Năng suất theo phương tiện sản xuất => Năng suất theo lợi nhuận kinh tế
Công ty tư bản và Năng suất
Một Công ty tư bản được định nghĩa như sau: “Công ty là một tổ chức, tự lập về tài chánh, giới thiệu những sản phẩm kinh tế ở thị trường cạnh tranh tiêu thụ để bán, nhằm thu vào lợi nhuận tối đa“ (L’entreprise est une organisation, financìerement autonome, qui présente au marché concurrentiel de consommation des biens économiques en vue d’obtenir du bénéfice maximal).
Từ định nghĩa này, chúng ta rút ra những đặc tính căn bản sau đây của một Công ty tư bản:
=> Một TỔ CHỨC (Organisation)
Một tập hợp nhiều người chưa hẳn đã được gọi là có tổ chức. Thực vậy để có thể gọi là một tổ chức, phải tuần tự hội đủ những việc làm: * Xác định rõ Mục đích dài hạn và ngắn hạn để đạt tới (Fixer Objectifs a atteindre) * Phân công làm việc (Diviser des travaux) * Điều hợp những công tác (Coordonner des travaux). * Kiểm soát những thực hiện qui chiếu với mục đích (Controler des exécutions par rapport aux objectifs)
Chính những mục đích Kinh tế độc lập của Công ty hướng dẫn những quyết định về tổ chức chứ không phải những mệnh lệnh ngoại tại, nhất là từ chính trị.
=> Tự lập về Tài chánh ( Autonomie financìere)
Muốn có độc lập thì phải có tự lập về tài chánh. Nếu Công ty phải hoàn toàn lệ thuộc vào tài chánh ngân hàng, thì không thể có độc lập để quyết định về những mục đích và ngay cả trong việc tổ chức nhân sự trong Công ty. Nếu tài chánh là do Nhà Nước cung cấp, thì Công ty phải theo quyết định của Chính trị Nhà Nước. Một Công ty tư bản luôn luôn dành ra mỗi năm một số vốn trích từ tiền lời để tạo cho mình sự tự lập về Tài chánh.
=> Làm việc cho Thị trường Cạnh tranh Tiêu thụ (Marché concurrentiel de consommation)
Công ty sản xuất hàng hóa không phải là để cất kỹ hàng trong kho, mà là mang ra Thị trường để bán. Đây là một Thị trường cạnh tranh, nghĩa là có nhiều những Công ty khác cũng mang hàng tới và khách hàng tiêu thụ có toàn quyền lựa chọn hàng hóa.
=> Những Sản phẩm kinh tế (Biens économiques)
Công ty không thể sản xuất bất cứ cái gì, mà là sản xuất những hàng kinh tế. Gọi là một sản phẩm kinh tế, phải có những điều kiện sau đây: * Tính cách hữu dụng (Utilité): Món hàng nhằm một sự hữu dụng nào trong việc thỏa mạn những nhu cầu của con người (Besoins humains)
* Tính cách hiếm hoi (Rareté): Làm thế nào hàng của mình khác với hàng của các Công ty khác. Tính cách hiếm hoi này làm cho món hàng có giá trị nội tại (Valeur en soi) * Tính cách trao đổi (Echangeabilité): Món hàng nhằm thị hiếu để có người muốn mua. Đây là giá trị trao đổi (Valeur d’échange)
=> Lợi nhuận tối đa (Bénéfice maximal)
Tất cả những đặc tính trên đây mà Công ty phải tổ chức sản xuất cho hữu hiệu, phải có tự lập về tài chánh để phát triển mọi khả năng kinh tế, phải học hỏi về Thị trường để có thể cạnh tranh, phải chi tiêu căn cơ, đều nhằm vào mục đích tối hậu là thu vào được LỢI NHUẬN TỐI ĐA.
Một số nhà đạo đức, luân lý, tôn giáo hay xã hội chủ nghĩa công kích khía cạnh này của Công ty tư bản. Nhưng những nhà Kinh tế tư bản nói rằng họ phải kiếm Lợi nhuận tối đa trước đã, rồi sau đó mới có tiền, có phương tiện vật chất để thực hiện mục đích đạo đức, luân lý, tôn giáo hay giúp xã hội. Phải thu vào Lợi nhuận tối đa để cho Công ty sống, để bào đảm công ăn việc làm cho nhân lực tham dự vào tổ chức.
Chúng tôi trình bầy những đặc tính trên đây của một Công ty tư bản tư doanh để xét xem Công ty quốc doanh có thể thực hiện được những điều kiện đặt ra cho một Công ty tư bản tư doanh hay không.
Năng suất (Productivité) là chỉ số đo lường tính cách Hữu Hiệu (Efficacité) của việc xử dụng một phương tiện sản xuất trong một đơn vị thời gian nhất định hay đo lường về hiệu quả tổng quát của Chi tiêu cũng trong một thời gian nhất định. Yếu tố thời gian rất quan trọng trong việc tính Năng suất. Tỉ dụ công nhân A sản xuất được 5 đơn vị hàng; nhân công B cũng sản xuất được 5 đơn vị hàng. Người ta không thể nói được nhân công A hữu hiệu hơn nhân công B. Nhưng nếu biết thời gian sản xuất của mỗi nhân công, tỉ dụ nhân công A chỉ cần một ngày còn nhân công B phải mất 3 ngày, thì lúc đó chúng ta mới có thể nói rằng Năng suất của nhân công A lớn hơn năng suất của nhân công B.
Cũng vậy nếu cùng một số vốn xử dụng là 1'000 đồng, ông A và ông B cùng mang lại lợi nhuận là 100 đồng, người ta không biết ông A hữu hiệu hơn ông B hay không. Nhưng nếu biết rằng ông A kiếm lợi nhuận 100 đồng trong 1 tuần, còn ông B phải mất một tháng, thì lúc ấy người ta mới nói rằng Năng xuất xử dụng vốn của ông A lớn hơn Năng suất xử dụng vốn của ông B.
Chúng tôi sẽ xét về Năng suất của Công ty quốc doanh dưới hai lãnh vực: (i) Lãnh vục sản xuất từ những phương tiện làm việc mà Công ty xử dụng ; (ii) Lãnh vực thu Lợi nhuận từ những hoạt động của Công ty.
Năng suất theo phương tiện sản xuất
Các nhà Kinh tế thường tóm tắt những phương tiện sản xuất qua công thức dưới đây:
Q = f ( K, L, t)
Q: Lượng sản phẩm làm ra tùy thuộc vào việc xử dụng hai phương tiện K và L
K: Số vốn xử dụng (Capital). Số vốn này không được hiểu chỉ là tiền mặt, nhưng là tất cả những phương tiện xử dụng ngoài nhân lực, như máy móc, đồ dùng...
L: Nhân lực xử dụng (Force de travail/ Labour). Nhân lực này có thể là bắp thịt, có thể là đầu óc.
t: Kỹ thuật hội nhập vào phương tiện máy móc, đồ dùng hay vào nhân lực bằng kinh nghiệm, huấn luyện...
Một số người muốn thêm phương tiện đất đai (T), nhưng ngày nay phương tiện này coi như thứ yếu.
Như chúng tôi đã cắt nghĩa ở phần trên, khi tính Năng suất, phải có yếu tố thời gian cho việc xử dụng mỗi phương tiện sản xuất.
Nếu lấy tổng lượng hàng sản xuất chia cho mỗi phương tiện, chúng ta chỉ được sản lượng trung bình cho mỗi đầu người hay mỗi đơn vị vốn xử dụng, nhưng đó chưa phải là Năng suất. Năng suất được tính theo:
Q ------------------ = Năng suất xử dụng vốn K x thời gian
Q ------------------- = Năng suất nhân lực L x thời gian
Các nhà Kinh tế đã so sánh Năng suất xử dụng nhân lực và Năng suất xử dụng vốn giữa hai hệ thống Kinh tế: Kinh tế Trung ương Tập quyền/Chỉ huy và Kinh tế Tự do/Thị trường. Ơû hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền/Chỉ huy, Năng suất của mọi phương tiện xử dụng sản xuất đều thấp kém đối hệ thống Kinh tế tư doanh Tự do/Thị trường bởi những lý do chính yếu như sau:
=> Đối với nhân lực:
* Thiếu yếu tố kích thích làm việc. Trong những Công ty Nhà Nước, nhân lực làm việc không có sự tự động cố gắng, mà làm theo lệnh, theo kiểm soát. Từ đó nhân lực dễ đi đến tình trạng lẻn lút hối lộ để tránh né công việc. Trong những chế độ độc tài chỉ huy Kinh tế, thay vì lợi nhuận là yếu tố kích thích, Nhà Nước thường áp dụng những bằng Khen Thưởng. Nhưng đây không phải là yếu tố kích thích thực tiễn cho những nhân công cần tiền bạc để sống. Hệ thống Kinh tế tư nhân Tự do/Thị trường lấy tiền bạc để kích thích thì thực tế hơn. Một người chơi Thể thao như Tennis chẳng hạn. Khi họ thắng thì muốn lãnh bao nhiêu tiền cho riêng họ, chứ không cần chỉ với tấm bằng Khen Thưởng suông. * Trong trường hợp thiếu trách nhiện thi hành công việc, chế độ Công ty quốc doanh xử dụng khiển trách, phạt kỷ luật, nhưng chế độ tư doanh xử dụng đơn giản là đuổi việc để chế tài. Đuổi việc cũng là xử dụng trừng phạt bằng đồng tiền mà nhân công đang muốn có. * Ở những Công ty Nhà Nước, nhất là trong chế độ độc tài, nhân lực làm việc theo chỉ thị vì ngại sợ kỷ luật trừng phạt nếu sáng kiến cá nhân có những va chạm với cấp trên trong tổ chức. Trong hệ thống Kinh tế tư nhân Tự do/Thị trường, nhân lực được khuyến khích có những sáng kiến cá nhân để kiện toàn công việc cho mau chóng. Đây là phương diện làm cho Năng suất nhân lực mỗi ngày mỗi tăng.
=> Đối với Vốn xử dựng:
Chúng tôi xin nhắc lại câu nói trong Kinh tế tư nhân Tự do/Thị trường:“Kiếm tiền đã khó, mà tiêu tiền còn khó hơn“ (Gagner de l’argent est difficile, mais le Dépenser est encore plus difficile). Việc chi tiêu tiền khó hơn vì trong việc chi tiêu đã phải tính toán căn cơ để một đồng tiền tiêu ra, phải kiếm vào lợi nhuận cao hơn., nghĩa là việc tiêu tiền đã hàm ngụ việc kiếm tiền rồi theo tinh thần Kinh tế Tự do/Thị trường. Tiêu tiền theo Kinh tế không phải là quảng tiền qua cửa sổ. Mọi người đều thích tiêu tiền của người khác. Đối với một Công ty tư doanh, Vốn là tư hữu của Công ty, vì vậy mà việc xử dụng phải chắt bóp căn cơ, nhất là phải ước tính lợi nhuận thu vào, trong khi ấy, đối với một Công ty Nhà Nước, Vốn là do Nhà Nước cung cấp, nên dễ chi tiêu như tiền chùa. Nhiều trường hợp, các người trách nhiệm Công ty quốc doanh còn tìm đủ mọi lý do không thuộc lãnh vực làm ăn kinh tế để tiêu tiền chùa từ Nhà Nước. Đây là tình trạng Lãng phí mà mọi người đều công nhận tại những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước Việt Nam.
Chi tiêu không căn cơ, hoang phí làm cho Năng suất xử dụng vốn thấp kém.
Năng suất theo lợi nhuận kinh tế
Ở phần trên, chúng tôi phân tích Năng suất tách rời ra từng phương tiện sản xuất được xử dụng trong chính nội bộ của Công ty. Trong phần này, chúng tôi phân tích Năng suất theo Lợi nhuận, nghĩa là tổng số Chi cho mọi phương tiện sản xuất phải được so sánh với tổng số Thu tại Thị trường trao đổi hàng hóa với bên ngoài để từ đó dành ra phần Lợi nhuận hay thua Lỗ.
Mức Lợi nhuận (hay thua Lỗ ) được tóm trong công thức định nghĩa Kế toán như sau:
MB = CAN - CT
MB : Mức độ Lợi nhuận thô CAN = Q x Pv : Tổng số Thu thô từ lượng hàng bán nhân với giá bán ở Thị trường CT = Q x Cm : Tổng số Chi nhân với lượng hàng sản xuất và bán được.
Mục đích tối hâu của Công ty là tối đa hóa Mức độ Lợi nhuận (Maximiser la Marge Bénéficiaire MB). Muốn cho MB càng rộng, thì phải quản trị hai phía cùng một lúc: (i) một mặt tìm Thị trường có giá bán cao để bán hàng hóa; (ii) mặt khác phải giảm thiểu tối đa Chi tiêu (Minimiser le Cout total CT). Ở một Thị trường tự do cạnh tranh, giá bán thường cố định do sự cạnh tranh, rất khó quản trị dù bằng những chiến thuật Marketing tinh xảo. Chính vì vậy mà việc quản trị Chi tiêu (Gestion des Charges) trở thành quan trọng cho các Công ty. Ơû cùng một Thị trường Tiêu thụ, nhưng Mức độ Lợi nhuận của các Công ty khác nhau là do sự quản trị Chi tiêu khác nhau của từng Công ty. Chú thích liền ở đây rằng những Tập đoàn Kinh tế liên quốc (Multinationales) đến làm việc ở Việt Nam hay Trung quốc là áp dụng việc quản trị Chi tiêu, lợi dụng nhân công rẻ mạt ở những nước này với sự độc đoán bắt ép nhân công từ Chính quyền độc tài để có hàng hóa rẻ đem bán ở những Thị trường với giá bán cao như Hoa kỳ và Liên Aâu.
MB -------------------- : Năng suất xử dụng vốn Chi(nhân lực và những phương tiện khác) CT x thời gian
Như phần trên, chúng tôi đã trình bầy rằng Năng suất xử dụng nhân lực và Năng suất xử dụng Vốn cho những phương tiện khác tại những Công ty Nhà Nước đều yếu kém, thì câu kết luận rất rõ rệt là Năng suất Lợi nhuận đối với Chi tiêu tổng quát tất nhiên yếu kém tại những Công ty Nhà Nước sánh với những Công ty tư doanh Tự do/Thị trường.
Để kết luận tổng quát theo Chủ đề, PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH. Cơ chế hiện hành là việc chủ trương độc tài Chính trị nắm chặt ấy độc quyền Kinh tế cho đảng CSVN thông qua những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước. Đòi hỏi dứt bỏ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH là một đòi hỏi thuần túy Kinh tế nhằm tăng mọi Năng suất trong việc phát triển Kinh tế Quốc gia vững chắc và lâu dài vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ Bản 04:
CẢNH CÁO TỘI HÌNH CSVN: ĐỪNG LÀM LẠM PHÁT TIỀN TỆ ĂN CƯỚP NỮA
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 09.10.2008
Trên bất cứ tờ giấy bạc nào của Thụy sĩ, đều đề rõ rệt câu sau đây:”Les Billets de Banque sont protégés par le Droit Pénal” (Những giấy bạc Ngân Hàng được che chở bởi Hình Luật). Nếu Nhà Nước bắt được ai in bạc giả, người đó bị xử theo Hình Luật tới án tử hình.
Chính theo tinh thần này mà chúng tôi viết lời Cảnh Cáo Nhà nước CSVN. Dân có quyền đòi hỏi xử án Nhà Nước nếu Nhà Nước tự động in giấy bạc mới không có bảo chứng Kinh tế để pha trộn với giấy bạc đã được bảo chứng bằng sức làm việc của người Dân.
Chúng tôi đã viết bài về Lạm phát Tiền tệ in kèm dưới đây. Trong tình hình Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện giờ và trong tình trạng thiếu vốn của Kinh tế Việt Nam lúc này, Nhà Nước có thể tự động quyết định in thêm giấy bạc chưa được bảo chứng để xử dụng, pha trộn với giấy bạc đã mang giá trị tiêu dùng (Billets portant du Pouvoir d’Achat). Giấy bạc mới in ra, chưa qua hệ thống bảo đảm Kinh tế, chỉ là mảnh giấy không có giá trị mua bán (Sans Pouvoir d’Achat). Việc tung những giấy bạc này vào khối tiền đang lưu hành là hành động ăn cướp mồ hôi nước mắt Dân.
Chúng tôi viết lời Cảnh Cáo vì thấy rằng hoàn cảnh đang đẩy Nhà Nước Việt Nam độc tài vào con đường ăn cướp, bất công này với phương tiện phát hành Tiền tệ từ quyết định Chính trị độc đoán nằm trong tay mình. Những ý do như sau:
1) Trong tình trạng Lạm phát, Nhà Nước coi như khối Tiền lưu hành quá nhiều, nên muốn thâu và thắt chặt khối tiền về. Khối tiền lưu hành trước đây quá lớn theo nhận định của Nhà Nước, nhưng sự tăng phồng đó, một phần là do số ngoại tệ, nhưng một phần cũng là do Nhà Nước đã làm Lạm phát Tiền tệ do việc in giấy bạc chưa bảo chứng tung ra.
2) Nhà Nước quyết định tăng Lãi suất lên cao quá độ. Việc đánh lên Lãi suất như vậy có hai hậu quả: (i) Nhà Nước muốn dụ Dân tăng Tiết kiệm để gửi Tiền vào Ngân Hàng; (ii) Nhưng việc tăng Lãi suất cao như vậy lại làm cho Thị trường thiếu vốn vì giá thuê vốn lên quá cao. Phương diện thứ hai này đang tàn phá các Doanh Nghiệp (trừ doanh nghiệp Nhà Nước lấy vốn chùa do Nhà Nước cung cấp). Các doanh nghiệp thiếu vốn và đang đi đến phá sản. Đây là tình trạng mà chính Nhà Nước công nhận.
3) Cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay mang đến cho Việt Nam hai hậu quả:
a) Vì Khủng hoảng, Hoa kỳ và Liên Aâu cũng như những nước Á châu sẽ giảm tiêu thụ, giảm mua hàng từ Việt Nam. Xin lưu ý rằng hoạt động Kinh tế của Việt Nam là nhằm xuất cảng (70%) ra nước ngoài, nhất là Hoa kỳ và Liên Aâu. Vì vậy hoạt động của những Xí nghiệp sản xuất sẽ giàm hẳn xuống.
b) Việc phát triển Kinh tế Việt Nam dựa chính yếu trên vốn đầu tư nước ngoài. Cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới đang làm khan hiếm vốn tại chính nước ngoài: Hoa kỳ, Liên Aâu hay những nước trong vùng. Như vậy việc khan hiếm vốn nội địa do quá tăng Lãi suất cộng thêm với việc khan hiếm vốn nước ngoài do Khủng hoảng Tài chánh sẽ làm cho Kinh tế Việt Nam hoàn toàn thiếu vốn.
Chúng tôi trích ra đây lời nhận xét của Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence. Si les exportations chinoises reviennent à une croissance à un chiffre, le produit intérieur brut pourrait perdre deux points de croissance... Les autorités craignent des troubles sociaux. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề... Nếu những xuất cảng của Trung quốc trở về độ tăng có một con số, thì sản xuất nội địa sẽ mất độ tăng... Chính quyền đang lo sợ những xáo trộn xã hội”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)
Oâng còn nói thêm rằng những xáo trộn xã hội này gồm việc phải thải nhân công đã bỏ nội địa xa xôi về các thành phố ven biển làm việc. Bây giờ đẩy họ về nội địa nghèo khó không phải là dễ dàng.
Nhận xét này rất giống cho tình trạng ở Việt Nam. Vốn nước ngoài đã đổ vào Việt Nam làm việc. Kinh tế Việt Nam làm việc 70% cho xuất cảng ra nước ngoài. Cuộc khủng hoảng Tài chánh hiện nay làm cho Việt Nam thiếu vốn và làm giảm xuất cảng hàng ra nước ngoài. Các Xí nghiệp phá sản vì thiếu vốn và thiếu khách đặt mua hàng. Nhân công từ các vùng quê kéo về thành thị để làm việc trong các xí nghiệp. Bây giờ sa thải họ và phải đẩy họ trở lại những vùng quê nghèo nàn. Việc xáo trộn xã hội không thể tránh được.
Tình trạng thiếu vốn nước ngoài, khan hiếm (mắc mỏ) vốn nội địa và giảm sút đặt mua hàng của nước ngoài sẽ đưa đến phá sản những xí nghiệp. Kinh tế suy thoái sẽ đưa đến tình trạng thiếu hụt số thu cho Nhà Nước. Cộng thêm vào đó, lại có tình trạng mất cân bằng cán cân thương mại do nhập siêu quá nhiều. Đồng thời Nhà Nước đang phải gánh vác số chi khổng lồ cho những lãng phí từ các Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước chỉ đợi sự cung cấp vốn từ Nhà Nước.
Ngân sách của Nhà Nước tất nhiên thiếu hụt. Nhà Nước bị đẩy đến tình trạng phải tìm đủ mọi cách để có đủ Ngân sách chi tiêu. Nhà Nước trong những năm trường đã mang những món nợ lớn đối với nước ngoài, nên việc vay mượn thêm không phải là dễ dàng.
Với tình trạng như vậy, Nhà Nước độc tài nghĩ đến việc phát hành Tiền tệ mới để tiêu dùng. Đây là việc Lạm phát Tiền tệ mà chúng tôi đã viết dài đính kèm dưới đây.
Chúng tôi xin nhắc lại đây lời của Giáo sư Florin AFTALION, người đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2) (... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)
Chúng tôi viết bài Cảnh Cáo Nhà Nước CSVN vì thấy tình trạng chung Kinh tế và Tài chánh đang đẩy CSVN độc tài đến việc phạm cái TỘI LỖI Lạm phát Tiền tệ này. Tội này phải được xử theo Hình Luật.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 05:
LẠM PHÁT TIỀN TỆ (INFLATION MONETAIRE) CỦA MỘT NHÀ NƯỚC ĐỘC TÀI
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 02.10.2008
Vào tháng 10 năm ngoái 2007, khi viết về những triệu chứng Lạm phát trong những nước bắt đầu phát triển, trong đó có Việt Nam, chúng tôi đã dựa trên những bài viết của những Nhà Kinh tế chuyên nghiệp, những Giáo sư Kinh tế như Alain FAUJAS, Florin AFTALION đăng trong nhật báo LE MONDE số 19523, thứ Tư, ngày 31.10.2007 với những đầu đề như: (1) L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm Phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển); (2) L’INFLATION DETRUIT UNE ECONOMIE, MEME SI LES POLITIQUES PEUVENT L’APPRECIER (Lạm Phát phá hủy một nền Kinh tế, ngay cả khi Chính trị có thể chuộng nó); (3) LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh hoạn vì vật giá tăng).
Kinh tế gia Alain FAUJAS đã khẳng định như sau:”Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois ou vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit de plein fouet des prix arbitraires” (LE MONDE, Mercredi 31.10.2007, page 13) (Khi có xâm lấn chính trị (các đảng Cộng sản Trung quốc hay Việt Nam) vào thương mại, tài chánh và kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng tay những giá cả độc đoán).
Giáo sư Florin AFTALION đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2) (... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)
Sau khi viết xong loạt bài này, thì đầu năm 2008, tình hình Lạm phát bùng nổ ở Việt Nam với mức cao đặc biệt. Vật giá tăng vọt và Dân nghèo khổ cực. Nhà nước ồn ào đưa ra những biện pháp chống Lạm phát. Thế rồi sau hồi ồn ào với những biện pháp để mỵ dân, Dân nghèo vẫn tiếp tục sống trong khổ cực vì vật giá, nhưng Nhà nước yên tiếng không và người ta không biết kết quả của những biện pháp chống Lạm phát ra sao.
Cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế tại Việt Nam bùng nổ từ đầu năm 2008. Rồi ngày nay, cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế đang diễn ra trầm trọng từ Hoa kỳ, Liên Aâu và toàn Thế giới, chắc chắn mang ảnh hưởng tàn phá thêm đến Tài chánh/Kinh tế Việt Nam.
Bài QUAN ĐIỂM thứ 5 trong loạt bài Chủ đề này chỉ hạn hẹp vào Lạm phát ở phương diện Tiền tệ. Chúng tôi bàn tới những khía cạnh sau đây:
=> Tình trạng Lạm phát là như thế nào
=> Lý thuyết về Tương quan Tiền tệ và Đời sống Kinh tế thực
=> Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) ở Việt Nam
=> Lạm phát Tiền tệ được che chở ở một Nhà Nước dộc tài nắm Độc quyền Kinh tế
Tình trạng Lạm phát là như thế nào
Tình trạng Lạm phát có thể được định nghĩa theo những góc nhìn khác nhau. Giáo sư Joseph DEISS là cựu Bộ trưởng Kinh tế và cựu Tổng Thống Thụy sĩ. Chúng tôi đưa ra những định nghĩa của Gs Joseph DEISS vì cũng là đồng nghiệp của chúng tôi (Trích trong cuốn ANALYSE ECONOMIQUE DE LA SUISSE, Collection Vie et Economie, Edition Fragnìeres Suisse 1982).
Đứng về Thị trường tiêu thụ thực của Sản phẩm, thì “L’inflation est une situation de déséquilibre: il y a inadaptation entre l’offre et la demande de biens et de services“ (Lạm phát là tình trạng mất thăng bằng: một việc không cân xứng giữa cung và cầu cũa hàng hóa và dịch vụ).
Đứng về liên quan đến Tiền tệ, thì “L’inflation est un processus de hausse des prix. La monnaie se déprécie par rapport aux marchandises et elle perd une partie de son pouvoir d’achat. (Lạm phát là một tiến trình tăng giá cả. Tiền tự mất giá so với hàng hóa et đồng tiền mất một phần khả năng mua bán hàng của nó.)
Như đầu đề của Bài đã hạn định, chúng tôi chỉ quan tâm đến câu định nghĩa thứ hai về Lạm phát trong tương quan giữa Tiền tệ và Hàng hóa Kinh tế thực. Chính mối tương quan này mà chúng ta phải tìm hiểu Lạm phát Tiền tệ đã dự phần vào Lạm phát tổng quát ở Việt Nam như thế nào.
Chúng tôi muốn lấy một tỉ dụ nôm na cho dễ hiểu tình trạng Lạm phát liên quan đến Tiền tệ. Người Công nhân lĩnh lương được 150'000 đồng. Anh dành ra 40'000 đồng để mỗi sáng đi ăn phở. Đầu năm, giá tô phở là 2'000 đồng. Như vậy là anh có thể ăn được 20 tô phở. Phở là hàng hóa thực của Kinh tế. Đến giữa năm, giá mỗi tô phở là 4'000 đồng. Lương của anh vẫn giữ nguyên 150'000 đồng/ tháng và anh vẫn chỉ có thể dành ra 40'000 đồng để ăn phở Như vậy lúc này, anh chỉ có thể mua được có 10 tô phở. Nếu việc sản xuất phở giảm lượng đi, thì đó là Lạm phát của đời sống Kinh tế thực. Nhưng nếu việc sản xuất lượng phở vẫn như cũ, thì việc Lạm phát này có hai lý do: một là người bán phở tăng giá vì tình trạng Kinh tế chung hoặc là do đầu cơ; hai là số Tiền 40'000 đồng anh đang cầm đã mất giá, nghĩa là không còn khả năng mua phở như đầu năm.
Chính ở khía cạnh mất giá đồng tiền này mà chúng tôi đi tìm những lý do cho Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire). Cái việc mất giá đồng tiền này không phải là do anh làm. Vậy thì do ai ?
Lý thuyết về Tương quan Tiền tệ và Đời sống Kinh tế thực
Có hai giai đoạn đưa ra những Lý thuyết cắt nhgĩa tương quan giữa đồng Tiền (tờ giấy 1'000 đồng chẳng hạn) và Đời sống Kinh tế với hàng hóa thực (tô phở chẳng hạn). Không ai nhai tờ giấy 1'000 đồng để bụng khỏi đói. Nhưng ăn tô phở thì bụng hết đói. Việc hết đói là đời sống kinh tế thực, trong khi ấy tờ giấy 1'000 đồng chỉ là phương tiện mua tô phở. Vì vậy, người ta phân biệt ra hai Lãnh vực: Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực và Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh. Hai Lãnh vực có những liên hệ như thế nào ?
=> Lý thuyết Định Lượng Tiền bạc (Théorie Quantitative de la Monnaie)
Đây là Lý thuyết đơn giản và tiên khởi cắt nghĩa tương quan giữa Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh và Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực. Lý thuyết được đưa ra đầu tiên ở Thế kỷ XVIII bởi David HUME và Richard CANTILLON. Theo hai tác giả này, thì nếu tăng gấp đôi lượng tiền cho một cộng đồng Kinh tế, thì tức khắc vật giá sẽ tăng lên gấp đôi. Nhưng phải đợi đến cuối Thế kỷ XIX và đầu Thế kỷ XX, thì Irving FISHER mới đưa ra Công thức sau đây:
M.V -------- = P T
M : Lượng Tiền thả ra cho cộng đồng Kinh tế; V : Tốc độ lựong Tiền lưu hành; T: Những sản phẩm thực Kinh tế lưu hành trong Cộng đồng; P: Mức tổng quát giá cả.
Cứ theo Công thức của FISHER, thì nếu lượng tiền lưu hành (M.V) không thay đổi, mà Lượng hàng hóa lưu hành (T) sút kém, thì Vật giá tổng quát (P) tăng lên. Đây là Lạm phát thực. Nhưng nếu mức sản xuất và lưu hành hàng hóa giữ nguyên, mà vì lý do nào đó Lượng Tiền lưu hành tăng lên, thì Vật giá tổng quát (P) cũng tăng lên. Đây là Lạm phát về phía Tiền tệ. Việc tăng Lượng Tiền có thể do việc tung ra cộng đồng một số Tiền mới in, hoặc do việc tăng tốc độ lưu hành Tiền tệ (V). Tỉ dụ bình thường Công nhân lĩnh lương tháng. Nhưng nếu áp dụng việc trả Lương tuần (như bên Mỹ), thì tốc độ lưu hành Tiền sẽ được nhân tăng lên.
=> Lý thuyết Hội nhập Tiền tệ (Théorie de l’Intégration Monétaire)
Từ J.M.KEYNES, nhất là Milton FRIEDMAN, trường phái Chicago, thì Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh không đứng ngoài Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực như khách bàng quan. Phải có một sự Hội nhập Tiền tế, Tài chánhä vào Lãnh vực Đời sống Kinh tế để lượng tiền mới mang một giá trị mua bán. Chu trình Hội nhập như sau:
Đồng Tiền mới in ra từ Ngân Hàng Phát Hành (Trung ương) chưa mang giá trị mua bán. Đó chỉ là một mảnh giấy không hơn không kém. Đồng Tiền ấy phải qua hệ thống sản xuất dưới dạng trả lương cho Công nhân chẳng hạn. Công nhân nhận được đồng Tiền. Đây là đồng Tiền bắt đầu có giá trị mua bán. Khi hàng hóa sản xuất thực được đưa ra Chợ, Công nhân mang đồng Tiền đến mua hàng hóa, thì có sự tương đương của đồng Tiền với Hàng hóa. Khi có sự tương đương như vậy, thì đây là đồng Tiền thực, có giá trị mua bán.
Chính đời sờng sản xuất Kinh tế thực đã mang lại cho tờ giấy Tiền lúc ban đầu có một giá trị (Pouvoir d’Achat).
Bây giờ nếu vì một lý do nào đó, Ngân Hàng Phát Hành in ra một lượng Tiền mới tinh mà không cho lượng tiền mới ấy vào Chu trình Hội nhập, thì lượng Tiền mới này củng chỉ là mớ giấy chưa có giá trị mua bán (Pouvoir d’Achat). Nếu Nhà Nước đem số Tiền mới in này thả đại vào Lượng Tiền đang lưu hành, thì đó là hành động lưu manh đánh lận con đen pha lộn Tiền thực (đã Hội nhập) và Tiền chưa có khà năng Kinh tế (chưa Hội nhập). Đây là hành động ăn ướp giá trị Tiền thực của Công nhân... Khối Tiền đã Hội nhập cộng chung với Khối Tiền chưa Hội nhập làm cho Vật giá tăng lên, nghĩa là Tiền mất giá. Đây là hành động ăn cướp Tiền tệ phải xử tử hình theo Luật Tiền tệ.
Một Nhà Nước tự động tăng lượng Tiền mới chưa Hội nhập Kinh tế là Nhà Nước đáng phải chịu tội tử hình này.
Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) ở Việt Nam
Theo những lý luận trên đây, nhất là việc Hội nhập Tiền tệ, chúng ta xem đâu là cái phần Lạm phát Tiền tệ làm cho tình trạng Lạm phát ở Việt Nam trở thành trầm trọng. Cái phần này làm cho đồng Tiền Việt Nam mất giá. Trước khi nói đến tình trạng Lạm phát Tiền tệ ở Việt Nam, chúng tôi đưa ra những tỉ dụ lạm phát có tính cách Lịch sử.
Xin nhắc lại lời khẳng định của Giáo sư Florin AFTALION về những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:
”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2)
(... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)
Vào những thập niên 1980, tình trạng Lạm phát Tiền tệ lan tràn tại Phi Châu và Nam Mỹ. Lạm phát Tiền tệ ở Ba Tây lên tới mức 1000% vào thập niên 1980.
Tỉ dụ một Sĩ quan cấp Tá từ trong rừng tại Phi châu, dẫn quân về Thủ đô làm Đảo chánh (Cách Mạng). Trong tình trạng chiến tranh dành quyền hành, nền Kinh tế thực không tăng mà còn tụt dốc, nghĩa là số lượng hàng hóa(T) giảm hẳn. Nhưng Oâng Tá ấy lên làm Nguyên Thủ Quốc gia, bây giờ phải nuôi quân sĩ và nuôi công chức. Làm thế nào để trả lương hàng tháng. Oâng đến Ngân Hàng Phát Hành và yêu cầu Thống Đốc in cho 10 tỉ đơn vị tiền hiện hành. Oâng Thống Đốc thấy đây là trái nguyên tắc phát hành Tiền tệ. Nhưng Oâng Tá Nguyên Thủ Quốc kề súng lục vào màng tai Thống Đốc. Thế là 10 tỉ tiền mới được in ra để Oâng Tá trả ương lính và công chức. Tỉ dụ khối Tiền đã hội nhập (M.V) và có giá trị mua bán hiện giờ là 5 tỉ và lượng hàng hóa sản xuất và lưu hành (T) là 20'000'000 đơn vị. Vật giá tổng quát (P) được tính hiện hành với khối tiền đã hội nhập kinh tế như sau:
M.V 5'000'000'000 đơn vị tiền --------- = P = ---------------------------------- = Giá = 250 T 20'000'000 đơn vi hàng
Nhưng vì tình trạng chiến tranh, Đảo Chánh, Cách Mạng, nên số lượng hàng sản xuất và lưu hành giảm xuống chỉ còn 10'000'000 đơn vị. Đồng thời Oâng Tá thả trực tiếp (không Hội nhập Kinh tế) số tiền mới in 10 tỉ vào cộng đồng Kinh tế qua ngả trả lương trực tiếp cho lính và công chức. Giá tổng quát của Thị trường sẽ lạm phát như sau:
M.V 15'000'000'000 đơn vị tiền --------- = P = ---------------------------------- = Giá = 1’500 T 10'000'000 đơn vi hàng
Lạm phát tổng quát tăng 500%. Nếu không tăng lượng tiền mới in ra và nếu chỉ có giảm lượng hàng, thì lạm phát chỉ tăng 200%. Như vậy trong 500% Lạm phát tổng quát, Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) là 300%. Cái Lạm phát 200% là do yếm kém Kinh tế.
Qua tỉ dụ tính toán trên đây, chúng ta có thể nói rằng tình trạng Lạm phát ở Việt Nam đặc biệt cao hơn các Quốc gia trong vùng mặc dầu cùng ở trong hoàn cảnh Kinh tế chung như nhau. Việc lạm phát cao trội đặc biệt này ở Việt Nam đến từ hai phía:
* Về sản xuất Kinh tế thực sự: yếu kém từ những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước chỉ lo tham nhũng, lãng phí mà không lo tăng năng suất hoạt động trong ngành nghiệp. Các Tập đoàn này làm những việc bên lề như dùng vốn chơi chứng khoán chẳng hạn.
* Về phía Tiền tệ: đó là sự phát hành không Hội nhập Kinh tế những phương tiện Tiền tệ:
=> Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam theo lệnh của quyền lực Chính trị độc tài, cho in Tiền mới ra (chưa Hội nhập Kinh tế) để thả vào Lượng Tiền thực đã Hội nhập. Đây là việc làm cướp bóc Tiền thực của người dân đã kiếm được qua Hội nhập Kinh tế (Tiền lương). Hành động này là hành động ăn cướp đáng tội tử hình. Nếu chúng ta lưu ý đến những vụ đổi Tiền ở Việt Nam, thì đây cũng là dịp để ăn cướp Tiền thực có giá trị mua bán hàng hóa.
=> Hệ thống Ngân Hàng Thương mại không phát hành Tiền công khai (Billets de Banque) như Ngân Hàng Nhà Nước, nhưng lại phát hành Tiền Tín dụng (Monnaies Scripturales) như Credit Cards, Cheques, Letter of Credit, Promissory Notes, Bank Guarantees, Standby Letter of Credit. Đây là những phương tiện mua bán giống như Tiền tệ. Khi các Ngân Hàng Thương Mại phát hành bừa bãi Tiền tệ tương lai (Virtual Money) chưa có hiện thực để tiêu dùng cho hàng hóa hiện tại như vậy, thì đó là nguồn làm tăng Khối Tiền đang lưu hành và do đó làm Lạm phát Tiền tệ. Việc phát hành này còn tệ hơn nữa khi mà những Ngân Hàng Thương mại lại thiếu phần tiền cọc tối thiểu bảo chứng. Tôi xin kể ra tỉ dụ cụ thể: cách đây 5 năm, tôi nhận được một tờ Bảo Lãnh Ngân Hàng (Bank Guarantee) phát hành bởi Ngân Hàng Hàng Hải Việt Nam. Tờ Bảo Lãnh trị giá tiền mặt (Face Value) là USD.300'000'000.-, trong khi đó tôi biết vốn của Ngân Hàng này chưa tới USD.10'000'000.- Tờ Bảo Lãnh được chuyển qua Texas cho một Công ty Mỹ gốc Việt, rồi chuyển qua California. Từ California, tờ Bảo Lãnh được chuyển về Tân Đề Li cho một Công ty Tài chánh Aán độ. Công ty này chuyển sang Geneva cho tôi để nhờ tôi lo liệu đầu tư vào Chương Trình Lợi Nhuận Cao. Việc phát hành này làm tăng Khối Tiền và tất nhiên đưa đến Lạm phát Tiền tệ, nếu chúng ta xử dụng mua bán trong Lãnh vực Kinh tế thực sự.
Lạm phát Tiền tệ được toàn quyền áp dụng trong CƠ CHẾ Chính trị độc tài nắm Độc quyền Kinh tế
Như trong phần trên, chúng ta đã thấy việc Lạm phát Tiền tệ do quyết định dộc đoán của một Oâng Tá nắm quyền là hành động ăn cướp Tiền bạc của giới làm Kinh tế lương thiện, nhất của giới lao động bán sức lực mình đổi lấy đồng Tiền thực.
Việc cướp bóc qua Lạm phát Tiền tệ như vậy rất khó thấy cho Dân chúng. Làm thế nào Dân cầm Tiền đã Hội nhập Kinh tế phân biệt được với đồng Tiền mới in ra trái phép do Nhà Nước tung ra. Việc này khó thấy ngay trong một Thề chế có Dân chủ, cho Tự do Báo chí.
Nếu trong một CƠ CHẾ do Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế, lại không cho Tự do Báo Chí, thì làm thế nào mà Dân chúng nhìn thấy những cuộc ăn cướp khổng lồ qua Lạm phát Tiền tệ. Không thể tin lời hứa CSVN không làm Lạm phát Tiền tệ.
Lãnh vực Tiền tệ là Lãnh vực không thể làm việc với lòng tin tưởng. Trai gái yêu nhau, thề nguyền chung sống như hình với bóng, thậm chí thề hứa chết cho nhau. Nhưng khi cưới nhau, thì phải ký giấy Tiền anh, anh tiêu và Tiền em, em tiêu (Séparation des biens) không còn tin nhau nữa.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ bản 2:
US$ 700 TỈ CỨU VỚT WALL STREET CỦA CHÍNH QUYỀN BUSH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html 25.09.2008
Chính lẽ chúng tôi tuần tự viết bài QUAN ĐIỂM số 5 trong VietTUDAN số 369 cho có sự liên tục với đầu đề LẠM PHÁT TIỀN TỆ (INFLATION MONETAIRE) CỦA MỘT NHÀ NƯỚC ĐỘC TÀI. Tiền tệ và hệ thống Ngân Hàng, Tài chánh gắn liên với nhau. Nhưng, vì biến cố Khủng hoảng Tài chánh đang xẩy ra tại Hoa kỳ với tầm ảnh hưởng Thế giới đang diễn ra trầm trọng từ THỨ HAI ĐEN 15.09.2008. Cuộc Khủng hoảng liên hệ đến Tiền tệ và Tài chánh thuộc lãnh vực các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh đầu tư, nên chúng tôi viết Phụ bản 1 này vừa có tính cách thời sự, vừa liên hệ đến đầu đề của bài QUAN ĐIỂM số 5 mà chúng tôi sẽ viết tiếp cho VietTUDAN số tuần 25.09.2008.
Vì tầm quan trọng của PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ mang tầm quan trọng đặc biệt, nên tuần này chúng tôi phải viết Phụ bản 2 cho vấn đề này.
Ngày 18.09.2008, chúng tôi đã viết về BA NGÀY PHÁ SẢN Ở WALL STREET. Ngày cuối, Thứ TƯ 17.09.2008, chúng tôi viết với lạc quan sau khi Chính quyền Mỹ bỏ thêm ra 85 tỉ đo la để cứu AIG (American International Group). Oâng Marco ANNUNZIATA, Trưởng Bộ phận Phân tích Tài chánh của UNICREDIT đã cho ý kiến: ’L’accélération de la consolidation du secteur financier américain prend des allures certes dramatiques, mais nous arrivons au stade final de la crise’ (Journal LE TEMPS, Suisse, 18.09.2008, p.2) (Việc tiến hành nhập lại của lãnh vực tài chánh Mỹ thực mang những bước đi bi thảm, nhưng chúng ta đi tới chặng cuối cùng của khủng hoảng).
Nhưng nguy hiểm Khủng hoảng Tài chánh vẩn tiếp tục và người ta thấy triệu chứng lan sang Lãnh vực Phát triển Kinh tế quốc gia, tạo ra Khủng hoảng Kinh tế kiểu 1929-30, thất nghiệp...
Chính quyền BUSH, trước viễn tượng Khủng hoảng Ngân Hàng, Tài chánh lan sang Kinh tế, tạo thất nghiệp, đã tuyên bố ngày Thứ NĂM 18.09.2008 một Chương trình Cứu vớt với US$ 700 tỉ. Trước đó, Chính quyền Mỹ đã bỏ ra tổng cộng là 600 tỉ rồi, bây giờ PLAN BAILOUT thêm 700 tỉ nữa.
Con số 700 tỉ phải quyết định mau chóng vì tình hình Khủng hoảng cấp bách. Để có thể quyết định một món tiền lớn như vậy, Quốc Hội Mỹ và Chính quyền phải làm việc đêm ngày trong những lo lắng đợi kết quả của toàn Thế giới.
Cái lỗi của các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh
Các nhà Kinh tế phân biệt hai lãnh vực: (i) Lãnh vực Ngân Hàng và Tài chánh liên hệ trực tiếp với quản trị Tiền bạc, vốn; (ii) Lãnh vực Kinh tế điều hành sản xuất và Thương mại. Cuộc Khủng hoảng 1929-30 bắt đầu từ Lãnh vực Kinh tế với việc sản xuất quá nhiều do xử dụng những khám phá Khoa học và hệ thống sản xuất dây chuyền lan tràn.
Người ta gọi rằng Lãnh vực Kinh tế cho ra những sản phẩm thực để tiêu thụ thỏa mãn những nhu cầu thực, trong khi đó Lãnh vực Ngân Hàng và Tài chánh cho ra những sản phẩm riêng của mình liên hệ đến Tín dụng Tiền bạc. Câu nói: người ta không nhai đồng 100 đo la để dạ dầy no, mà phải ăn bánh thịt mới no được. Những sản phẩm Kinh tế là đời sống thực.
Nhưng phía Ngân Hàng và Tài chánh đưa ra những sản phẩm tài chánh (Produits financiers) xa với đời sống thực và trao đổi buôn bán trong Lãnh vực riêng của họ để làm giầu. Việc làm giầu trong lãnh vực Tài chánh, Ngân Hàng rất nhanh chóng với lợi nhuận khổng lồ. Lợi nhuận thu vào cao và mau chóng là do tốc độ vận hành mau chóng một chu kỳ thương vụ (Vitesse accélérée de Rotation d’un Cycle d’exploitation).
Trong những năm gần đây, giới Ngân Hàng và Tài chánh đã thu vào những Lợi nhuận khổng lồ qua việc đầu cơ những sản phẩm Tài chánh. Cuộc Khủng hoảng Tài chánh lần này là do Kỹ nghệ những sản phẩm Tài chánh được thực hiện qua những tốc độ vận hành điện tử. Đồng thời Toàn cầu hóa Sản phẩm Kinh tế ra cùng Thế giới, tận những nước nghèo cũng là việc Tập trung Tiền bạc, Tài chánh vào những nước lớn. Chính Oâng GREENSPAN đã phải than lên rằng việc Tòan cầu hóa sản phẩm Kinh tế và việc Tập trung Tài chánh về những Ngân Hàng lớn đã tạo cảnh đói nghèo cho bao nhiêu triệu người tại những nước kém mở mang.
Đối với cuộc Khủng hoảng Ngân Hàng và Tài chánh này một khuynh hướng rộng lớn là công kích phía Ngân Hàng, Tài chánh với những sản phẩm riêng của họ được trao đổi để kiếm lợi nhuận cao chính trong Lãnh vực của họ. Trong cuộc Hop Khoáng Đại của Liên Hiệp Quốc vửa qua, những bài công kích phía Tài chánh đến từ phía Nam Mỹ, Phi châu và ngay cả từ Pháp (Tổng Thống Nicocals SARKOZY)
Quan sát thái độ của Chính quyền Mỹ, người ta cũng thấy quan điểm rất cứng rắn của Tổng Thống BUSH. Trong bài viết về ngày Thứ TƯ 17.09.2008, chúng tôi đã cắt nghĩa tại sao Chính quyền Mỹ để cho Ngân Hàng LEHMAN BROTHERS đã 158 tuổi mà phải phá sản. Tổng Thống BUSH ngay trong bài nói đêm 24.09.2008 hôm qua cũng vẫn nhắc lại rằng Oâng chũ trương nền Kinh tế Tự do, nên nếu Khủng hoảng Tài chánh là do cái lỗi của Ngân Hàng, thì cứ để họ chết theo luật đào thải. Không thể lấy tiền cuả dân đóng thuế để cứu vớt những Ngân Hàng đã thu nhiều lợi nhuận giầu có trong những năm trường.
Tuy vậy PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ được đưa ra chỉ vì sợ rằng cuộc Khủng hoảng Tài chánh này đang có triệu chứng lan sang Lãnh vực Kinh tế, tạo những thất nghiệp, thiệt hại cho những quỹ bảo đảm tuổi già.
Phản ứng Chứng khoán đối với PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ
Sau khi tuyên bố ngày Thứ NĂM 18.09.2008, các giá chứng khoán ngày thứ SÁU 19.09.2008 khắp nơi tăng lên. Tuy nhiên việc tăng này chỉ cầm chừng vì những công kích từ Hội Nghị Khóang Đại của Liên Hiệp Quốc.
Giới đầu tư còn có sự sợ hãi không hiểu Chương trình 700 tỉ đo la có được Quốc Hội Mỹ chấp nhận hay không. Đồng thời vì Chương trình được đề nghị cấp bách, nên Chính quyền BUSH cũng chưa kịp đưa ra những chi tiết, đồng những nhà đầu tư cũng phải có thời gian tìm hiểu hướng Cứu Vớt như thế nào.
Cuối tuần qua đi, Thứ HAI 22.09.2008, các giá chứng khoán lại thụt xuống và những nhà đầu tư chờ đợi phản ứng của phía Nghị sĩ Quốc Hội.
Phản ứng của Nghị sĩ đối với PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ
Oâng Ben BERNANKE, Chủ tịch FED, và Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, phải điều trần trước đại điện các Khối trong Quốc Hội. Oâng Ben BERNANKE nhấn mạnh đến vấn đề thiếu vốn của Thị trường có thể đưa đến đình trệ Kinh tế. Oâng trình bầy đây không phải là việc cho vay để cứu các Ngân Hàng, mà là việc mua những sản phẩm yếu kém của phía Tài chánh.
Các Nghị sĩ, cả phía Dân chủ và Cộng hòa đưa ra những chất vấn sau đây:
=> Không thể để một Chi phiếu trắng (Cheque blanc) trong tay một Ngân Hàng gia chuyên nghiệp như Oâng Henry PAULSON Jr. mà chưa biết những chương trình cụ thể; => Các Nghị sĩ nhất thiết yêu cầu rằng Plan Bailout US$ 700 không thể để những mất mát mà dân chúng đóng thuế phải chịu đựng. => Cần phải có những Luật vững chắc bảo đảm cho việc xử dụng US$ 700 tỉ và phải có những điều kiện kiểm soát những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh.
Việc trao đổi làm việc giữa Chính quyền BUSH và các Nghị sĩ tiếp tục. Với việc trao đổi nghi ngại hai bên như vậy, giới đầu tư chưa thể quyết định, nên giá chứng khoán cầm chừng.
Ngày Thứ BA 23.09.2008, người ta vẫn chưa biết PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ có được chấp thuận hay không.
Ngày Thứ TƯ 24.09.2008, người ta ghi nhận một số triệu chứng có tính cách tích cực theo hướng cổ võ cho Chương trình Cứu Vớt 700 tỉ:
=> Nhà Tỉ phú BUFFETT bỏ ra đầu tư cho GOLDMAN SACHS một lượng vốn lớn 5 tỉ đo la. Đây là điểm lạc quan cho Thị trường => Vốn của một số Ngân Hàng lớn của Nhật nhằm đầu tư vào các Ngân Hàng Mỹ => Khối vốn A-Rập từ Dubai không trực tiếp vào thẳng Mỹ, nhưng qua ngả Anh (BARCLAYS) nhằm mua những Ngân Hàng Mỹ.
Đây là khía cạnh tích cực cho Thị trường Wall Street. Đứng về phương diện này, các Nghị sĩ có thể nghĩ rằng phải tìm các ngăn chặn việc xâm chiếm những Ngân Hàng Mỹ bằng vốn nước ngoài, nhất là vốn từ Trung đông.
Thượng Nghị sĩ McCAIN cắt ngang cuộc Tranh cử Tổng thống để trờ về Washington vì Plan Bailout US$ 700 Ti. Chính Tổng thống BUSH cũng mời Oâng OBAMA cùng về Washington để thảo luận về Chương trình 700 tỉ. Từ London, Thủ tướng Anh cũng sang Washington vì Plan Bailout 700 tỉ đo la này.
Đêm Thứ TƯ 24.09.2008, Tổng thống BUSH ngỏ lời với Quốc Dân Hoa kỳ về tầm quan trọng của PLAN BAILOUT US$ 700 TỈ. Tổng thống nhấn mạnh đến những điểm sau đây:
=> Oâng khẳng định lại rằng chính Oâng luôn luôn chủ trương nền Kinh tế Tự do. Các Ngân Hàng sống chết theo luật đào thải. => Tuy nhiên Oâng bầy tỏ sự lo lắng cuộc Khủng hoảng này lan sang Khung hoảng Kinh tế với những nguy hiểm, tình trạng thất nghiệp xẩy ra. Đó là lý do chính để phải đưa ra Chương trình Cứu Vớt 700 tỉ do-la.
Cũng trong ngày hôm nay, Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố cũng cắt nghĩa thêm cho sáng tỏ về tính cách Thương mại của 700 tỉ đo-la:
=> Mua lại những sản phẩm tài chánh xấu đang ở giá thấp hiện hành => Mua với giá cao hơn gia hiện hành một chút. Như vậy làm cho giá thị trường theo chiều hướng tăng lên => Khi tăng lên rồi, có thể bán, như vây thu lại tiền mà không thiệt hại gì cho dân chúng đóng thuế.
Tình hình chiều nay hồi 18H00 (Giờ Thụy sĩ) Thứ NĂM 25.09.2008
Khi viết đến đây, tôi thấy trên Đài CNN thông tin với hình của một số Nghị sĩ:
=> Nghị sĩ Chris DODD, Dân chủ: ủng hộ Chương trình => Nghị sĩ Robert BENNET, Cộng Hòa: ủng hộ Chương trình => Dân Biểu Barney FRANK, Dân chủ: ủng hộ Chương trình
Tin của Truyền Hình Thụy sĩ TSR1 loan như sau:
06:16 25.09.2008: Plan Paulson: démocrates et républicains se sont mis d'accord Les démocrates et les républicains du Congrès américain sont d'accord sur les bases du plan de sauvetage financier présenté par l'administration Bush, a déclaré l'un des responsables démocrates. Ce dossier porte sur 700 milliards de dollars.
06:16 giờ/ 25.09.2008 (Chương trình Paulson: dân chủ và cộng hòa cùng nhau đồng ý Một trong những người Trách nhiệm của phía Dân chủ tuyên bố rằng phía Dân chủ và phía Cộng hòa của Quốc Hội Mỹ đồng ý trên những căn bản của Chương trình cứu vớt tài chánh đề nghị bởi Chính quyền Bush. Hồ sơ này gồm 700 tỉ đo la.)
Chúng tôi vừa vào Đài Truyền Hình CNBC và nhận thấy những Chĩ sớ quan trong của Wall Street mang màu xanh mũi tên đang lên.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Phụ bản 1:
BIẾN ĐỘNG TÀI CHÁNH HOA KỲ VÀ QUAN ĐIỂM CỦA NHÀ NƯỚC MỸ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Chính lẽ chúng tôi tuần tự viết bài QUAN ĐIỂM số 5 trong VietTUDAN số 369 cho có sự liên tục với đầu đề LẠM PHÁT TIỀN TỆ (INFLATION MONETAIRE) CỦA MỘT NHÀ NƯỚC ĐỘC TÀI. Tiền tệ và hệ thống Ngân Hàng, Tài chánh gắn liên với nhau. Nhưng, vì biến cố Khủng hoảng Tài chánh đang xẩy ra tại Hoa kỳ với tầm ảnh hưởng Thế giới đang diễn ra trầm trọng từ THỨ HAI ĐEN 15.09.2008. Cuộc Khủng hoảng liên hệ đến Tiền tệ và Tài chánh thuộc lãnh vực các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh đầu tư, nên chúng tôi viết Phụ bản 1 này vừa có tính cách thời sự, vừa liên hệ đến đầu đề của bài QUAN ĐIỂM số 5 mà chúng tôi sẽ viết tiếp cho VietTUDAN số tuần thới.
Chúng tôi quan tâm theo rõi cuộc Khủng hoảng Tài chánh tại Hoa kỳ và tầm ảnh hưởng của nó qua Aâu châu và Á đông. Khi mà Thị trường Tài chánh Thế giới giao động như vậy, thì ảnh hưởng của nó tất nhiên không thể tránh được ở Việt Nam, nơi mà hệ thống Ngân Hàng và việc phát triển Kinh tế đang bị vi trùng Tham nhũng Lãng phí hoành hành do sự cấu kết giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế trong tay một nhóm người. Việt Nam thiếu vốn nội địa, nghĩa là lệ thuộc vào vốn nước ngoài. Phát triển Kinh tế Việt Nam cũng lệ thuộc Thị trường ngoại quốc. Khi mà có khủng hoảng Tài chánh Thế giới, thì tầm ảnh hưởng chắc chắn sẽ phải xẩy ra ở Việt Nam. Tầm ảnh hưởng ấy trở thành tai hại hơn nữa khi chính vấn đề vốn và kinh tế của mình đang trong cơn bệnh hoạn như ngày nay. Đó là mục đích tìm hiểu quan trọng khi chúng tôi theo rõi những biến chuyển Khủng hoảng của Thị trường Tài chánh hoàn cầu.
Bài này ghi lại những biến động chung quanh Wall Street từ THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 cho đến hết ngày THỨ TƯ 17.09.2008 hôm qua. Tất nhiên tại New York, trong những tuần trước và liền sát với THỨ HAI ĐEN, những cuộc Hội Họp liên tục giữa các Thủ lãnh Ngân Hàng và Tài chánh, rồi với Đại diện Ngân khố Nhà nước diễn ra. Xin độc giả đọc thêm những bài về Tín dụng Subprime Địa ốc (Mortgage Subprime Credit) mà chúng tôi đã viết từ năm ngoái và đầu năm nay đăng lại trong số báo này. Chính Tín dụng Subprime (Toxic) Địa ốc này là nguyên nhân gây mất mát của những Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh, rồi tạo biến động tất nhiên ở Wall Street và các Thị trường chứng khoán trên khắp Thế giới.
THỨ TƯ 17.09.2008:
ĐỂ LEHMAN BROTHERS CHẾT NHƯNG CỨU AIG (AMERICAN INTERNATIONAL GROUP)
Trước quan điểm được tuyên bố bởi Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, trong những ngày trước về quan điểm cứng rắn của Nhà Nước Liên Bang Mỹ đối với số phận những Ngân Hàng, và việc nhất định từ chối hỗ trợ FED để BARCLAYS có thể mua LEHMAN BROTHERS, khắp Thế giới chờ mong tin về số phận của Tập đoàn Bảo Hiểm khổng lồ AIG (American International Group). Cả Thế giới trông tin vì lãnh vực hoạt động của AIG bao trùm rộng lớn mọi nơi trên Thế giới.
Quan điểm của Nhà Nước Liên Bang Mỹ về các Ngân Hàng và Tập đoàn Tài chánh
Từ năm ngoái đến giờ, những thua lỗ và những biến động xẩy ra ở nơi những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh và tại những Thị trường Chứng khoán. Người ta cũng quan sát thấy rằng những Ngân Hàng và những Tập đoàn Tài chánh thua lỗ nhiều và có thể đi đến phá sản là vì họ đã nhúng tay vào lãnh vực Tín dụng Subprime Địa ốc với tất cả những rủi ro (Risks) của Business. Trong những năm trường, những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh này đã thu vào những lợi nhuận rất cao. Thực vậy, muốn ăn lớn thì phải có rủi ro. Họ đã vào hang cọp để bắt cọp con.
Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, đã từng điều hành Ngân Hàng GOLMAN SACHS, nên hiểu rõ những cái nguy hiểm (risks) thuộc lãnh vực này. Quan điểm của Nhà Nước Liên Bang Mỷ, qua lời khẳng định của Henry PAULSON Jr. là đã quyết định chơi với nguy hiểm để có lợi nhuận cao, thì phải chịu cái hậu quả của nguy hiểm, dù đó là phá sản. Nói đơn giản: được ăn thua chịu.
Về phương diện phát triển Kinh tế quốc gia, trong lãnh vực Sản xuất, Thương Mại, Việc làm cho Nhân lực, người ta ít thấy những xáo trộn xong hành với lãnh vực Tài chánh. Nền Kinh tế có chút đình trệ, nhưng không có những biến động lớn đưa đến Khủng hoảng như những năm 1929-30.
Có thể nói rằng thái độ của Nhà Nước Liên Bang là:
=> Nhà Nước để cho phía các Tổ chức Ngân Hàng, Tài chánh chơi với nguy hiểm tự đào thải
=> Nhà Nước canh chừng và bảo vệ nền Kinh tế phát triển đều đặn, tránh những biến động mạnh.
=> Không thể lấy tiền của Dân đóng thuế để cứu những Ngân Hàng, những Tập đoàn Tài chánh tư nhân chơi với rủi ro để kiếm lợi nhuận cao bỏ túi riêng. Khi họ có lợi nhuận cao, họ có chia cho Dân đâu. Vậy khi họ gặp phá sản, tại sao lấy tiền của Dân ra cứu họ.
Ngân Hàng LEHMAN BROTHERS với 158 tuổi đã bị để cho chết trong quan điểm trên của Nhà Nước.
Nhà Nước Liên Bang vào phút chót cứu AIG (American International Group) với 85 tỉ
AIG là một Tổ chức Bảo Hiểm có tầm hoạt động rộng lớn khắp Thế giới. AIG xử dụng 116'000 nhân viên và có 74 triệu khách hàng bảo hiểm ở trên 130 quốc gia. Nhửng khách hàng ấy không hẳn chỉ là những cá nhân, nhưng gồm những Tập thể, những Ngân Hàng hay những Quốc gia. Với trị giá tài sản 180 tỉ đo-la, AIG là một trong 5 Tập đoàn Kinh tế tư nhân lớn nhất của Hoa kỳ. Lãnh vực hoạt động của AIG liên hệ đến hệ thống Tài chánh Thế giới và nhất là về những bảo hiểm nhân mạng, cuộc sống và tuổi về hưu của nhiều triệu dân chúng. AIG còn bào hiểm rộng lớn cho những Quốc gia về những Obligations. Tuy nhiên lãnh vực rủi ro của AIG là đã đụng chạm đến Tín dụng Subprime địa ốc. Một lảnh vực nữa mang rủi ro lớn là AIG đã đưa ra sản phẩm CDS-CREDIT DEFAULT SWAP, một Hợp đồng Bảo Đảm Rủi ro cho những món nợ. Số lượng Bảo Đảm này năm 2004 là 6’396 tỉ đo-la và cuối năm 2007 lên vọt tới số lượng 57'894 tỉ đo-la.
Trong suốt những ngày vừa rồi, chính Oâng Henry PAULSON Jr. đã hết lòng dàn xếp với giới Ngân Hàng tư nhân, ngay cả thúc đẩy những Ngân Hàng Trung ương Aâu châu trợ lực để cứu AIG.
Cuới cùng Tổng thống Bush, Chủ tịch Ngân Hàng Trung ương Hoa kỳ (FED) và Bộ trưởng Ngân khố Mỹ phải quyết định bỏ ra 85 tỉ đo la để cứu AIG vì nếu AIG phá sản thì hậu quả bao trùm Thế giới.
Nhà Nước Liên Bang Mỹ, sau khi cứu AIG, còn phải cứu ai nữa không khi mà quan điểm của Nhà Nước quyết theo như chủ trương vừa trình bầy ở đoạn trên ? Oâng Marco ANNUNZIATA, Trưởng Bộ phận Phân tích Tài chánh của UNICREDT đã cho ý kiến: ’L’accélération de la consolidation du secteur financier américain prend des allures certes dramatiques, mais nous arrivons au stade final de la crise’ (Journal LE TEMPS, Suisse, 18.09.2008, p.2) (Việc tiến hành nhập lại của lãnh vực tài chánh Mỹ thực mang những bước đi bi thảm, nhưng chúng ta đi tới chặng cuối cùng).
Một số người có khuynh hướng Xã Hội Chủ Nghỉa, qua việc Nhà Nước Liên Bang cứu FANNIE MAE, FREDDIE MAC, BEAR STEARNS và AIG, đã vội miệng công kích rằng đó là một việc can thiệp của Chính trị Nhà Nước vào lãnh vực Kinh tế tư nhân trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
Xin nhớ rằng đây là việc tư nhân yêu cầu Nhà Nước cứu giúp mình khi hoạn nạn, chứ không phải Nhà Nước tìm đến để can thiệp xen lấn. Cũng nói ngay rằng Nhà Nước Liên Bang Mỹ là một Nhà Nước Dân chủ chứ không phải là Nhà Nước độc tài.
Một Bình luận gia trên Đài Truyền hình TR1, ngày 14.09.2008 đã nói một câu có ý khen ngợi tính cách rộng lượng của Nhà Nước Mỹ trong việc trợ lực này: “Quand il y a des Profits, on désire de les privatiser; mais quand il y a des Pertes, on demande de les nationaliser“. (Khi có nhiều Lợi nhuận, thì người ta muốn tư nhân hóa; những khi có những Mất mát, thì người ta yêu cầu quốc hữu hóa).
Tình trạng mất mát của các Ngân Hàng vì vào lãnh vực rủi ro Tín dụng Subprime Địa ốc
Có những Ngân Hàng, Tập đoàn Tài chánh không muốn công bố vì muốn giữ thế giá hoặc chỉ mất chừng mấy trăm triệu hay bên dưới 4 hay 5 tỉ đo la. Tính cho đến hôm nay, việc mất mát vì Mortgage Subprime (Toxic) Credit được một số Ngân Hàng tuyên bố như sau:
* CITIGROUP (Mỹ) : mất 55.1 tỉ đo la * MERRILL LYNCH (Mỹ) : mất 52.2 tỉ đo la * UBS (Thụy sĩ) : mất 44.2 tỉ đo la * HSBC (Anh) : mất 27.4 tỉ đo la * WACHOVIA (Mỹ) : mất 22.7 tỉ đo la * BANK OF AMERICA (Mỹ) : mất 21.2 tỉ đo la * WASHINGTON MUTUAL (Mỹ) : mất 14.8 tỉ đo la * MORGAN STANLEY (Mỹ) : mất 14.4 tỉ đo la * IKB (Đức) : mất 14.4 tỉ đo la * JP MORGAN CHASE (Mỹ) : mất 14.3 tỉ đo la
(Theo nguồn của BLOOMBERG)
THỨ BA 16.09.2008
KHỦNG HOẢNG CREDIT CARDS ? (CREDIT CARDS CRISIS?)
Thiết lập Quỹ Chống Phá Sản (Anti-Bankruptcy Funds/ Fonds Anti-Faillite)
Đây là một ý tưởng theo mẫu của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF/ FMI) được thiết lập năm 1944. Thời kỳ này, Tiền tệ của các nước còn trong hệ thống bảo chứng bằng Vàng (Regime Etalon-Or). Nhưng Thế Chiến Thứ Hai đã làm cho các nước Aâu châu mất hết Vàng, vì thế Tiền Aâu châu đã mất hết giá vì không còn bảo chứng. Hoa kỳ đã triệu tập Hội Nghị Thế Giới về Tiền tệ tại Bretton-Woods năm 1944 để quyết định việc bảo chứng bằng đồng Dollar vì chỉ có Hoa kỳ mới còn Vàng. Tiền tệ chuyển sang hệ thống bảo chứng bằng đồng tiền mạnh Dollar (Regime Etalon-Devise-Or/ Regime Etalon-Dollar-Or). Hội Nghị cũng quyết định thành lập Quỹ Tiền Tệ Quốc tế với mục đích hỗ trợ những nước thành viên có biến động yếu kém đi về Tiền tệ.
Cũng theo mẫu và mục đích tiên khời của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế, ngày Chúa Nhật 14.09.2009, mười Ngân Hàng lớn Hoa kỳ và ngoại quốc đã quyết định thành lập QUỸ CHỐNG PHÁ SẢN (Anti-Bankruptcy Funds/ Fonds Anti-Faillite) mà mục đích là để hỗ trợ giữa các Ngân Hàng thành viên khi đứng bên bờ phá sản. 10 Ngân Hàng lớn đó là: BANK OF AMERICA (Mỹ), BARCLAYS (Anh), CITIGROUP (Mỹ), CREDIT SUISSE (Thụy sĩ), DEUTSCHE BANK (Đức), GOLDMAN SACHS (Mỹ), JP MORGAN CHASE (Mỹ), MERRYLL LYNCH (Mỹ), MORGAN STANLEY (Mỹ) và UBS (Thụy sĩ). Mỗi Ngân Hàng đóng vào Quỹ đó 7 tỉ đo-la.
Có lẽ cũng nhờ Quỹ này mà Bank Of America mua lại Merrill Lynch vì cùng là thành viên.
Vấn đề AIG (American International Group) Vẫn còn sôi bỏng
AIG là Tập đoàn Bảo Hiểm lớn nhất của Mỹ. Những mất mát lớn mới đây của Tam cá nguyệt 2 của Tập đoàn được ghi nhận như sau: * Bảo Hiểm Tổng Quát (General Insurance) : mất 827 triệu đo-la * Bảo Hiểm Sinh mạng và Dịch vụ Hưu trí (Life Insurance & Retirement Services): mất 2.4 tỉ đo-la. * Quản trị Tài sản (Asset Management): mất 314 triệu đo-la * Những Dịch vụ Tài chánh (Financial Services): mất 5.9 tỉ đo-la
Với những mất mát mới đây, AIG ở trong tình trạng giao động gay gắt. Trị giá của AIG tại Thị trường Chứng khoán Wall Street tụt dốc: 60% mất giá trong ngày thứ HAI và 19% thêm nữa trong ngày thứ BA. Việc phá sản của AIG không những làm giao động mạnh hệ thống Tài chánh của Hoa kỳ, mà còn cả cho Aâu châu và Á châu nữa. Phải cứu AIG bằng mọi giá.
Mạc dầu đã được hứa 50 tỉ đo-la hỗ trợ từ FED, nhưng AIG cần tới con số tối thiểu 70 tỉ đo-la. FED đã kêu gọi những Ngân Hàng còn mạnh như Goldman Sachs, JP Morgan Chase hỗ trợ. Đồng thời FED cũng kêu gọi sự tiếp sức từ những Ngân Hàng Trung ương của Aâu châu. Thống đốc Tiểu bang New York cũng cho biết có thể hỗ trợ 20 tỉ đo-la. Oâng Hank GREENBERG, cựu Chủ tịch AIG, trong một Thư đăng trong Financial Times, cũng nhấn mạnh rằng nếu hệ thống Ngân Hàng tư nhân không đủ cứu AIG, thì nhất thiết FED phải tăng cường thêm.
Quan điểm của FED trong cơn Khủng hoảng Tài chánh
Quan điểm của FED, qua những tuyên bố của Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố, và của Oâng Tim GEITHNER, Chủ tịch của FED New York, trong những cuộc Hội họp cứu nguy các Tập đoàn Tài chánh, gồm những điểm sau đây: => Đây là việc Khủng hoảng về Tài chánh liên hệ thiết yếu đến những Tập đoàn quá đi sâu vào những Nghiệp vụ Thương mại, nhất là vào lãnh vực Tín dụng Subprime Địa ốc. Vì vậy, nếu có một số Tập đoàn phải chết đi, thì đó cũng là việc họ đã chấp nhận trước đây những rủi ro (Risks). Do đó không thể bắt quỹ đóng góp của những người trả thuế đến cứu vớt những rùi ro nghề nghiệp của tư nhân. => Việc khủng hoảng Tài chánh này chưa mang đến hậu quả là Khủng hoảng Kinh tế Hoa kỳ. Cái lỡi phá sản là hoạt động thương mại của các Ngân Hàng ở Thị trường Tài chánh. Việc chết đi của một số Ngân Hàng có thể làm sạch sẽ hơn Thị trường Tài chánh. => Chính vì vậy mà FED nhất định giữ Lãi suất 2%. Việc thay đổi Lãi suất có thể gây thiệt hại cho những Tập đoàn sản xuất Kinh tế.
Từ Khủng hoảng Tín dụng Subprime Địa ốc Đến Khủng hoảng Tín dụng Tiêu dùng (Credit Cards Crisis)
Giới Tài chánh không muốn dùng chữ Subprime Credit nữa mà gọi thẳng là Toxic Credit (Tín dụng nhiễm độc). Người ta đang lo ngại từ Khủng hoảng Tín dụng Toxic Địa ốc, có thể các Ngân Hàng sẽ phải chịu một cơn lốc thứ hai là Thẻ Tín dụng Tiêu dùng (Credit Cards Crisis).
Thục vậy, người ta dễ lạm dụng Thẻ Credit để Tiêu dùng trở thành một món nợ không thể hoàn lại. Tại Hoa kỳ, chỉ cần mang theo người Credit Card và Drive License là đủ mua bán mọi nơi. Việc mua bán qua Internet cũng xử dụng Credit Cards và lan rộng ngoài phạm vi Hoa kỳ.
Giới quan tâm đến cuộc Khủng hoảng Credit Cards đã ước tính Toxic Credit cho Thẻ Tiêu dùng có thể lên tới con số rất lớn. Mỗi Gia đình tại Mỹ trung bình xử dụng tới 6 Credit Cards. Mỗi Credit Card mang nợ trung bình là 10'000 đo-la. Giới Ngân Hàng tính tổng cộng tại Hoa kỳ số tiền Toxic Credits cho những Cards này lên tới 1'000 tỉ đo-la.
Ý kiến riêng: Tốt hơn hết là khi mấy Oâng ra ngoài buổi tối, nên để Credit Cards ở nhà cho các bà xã giữ. Chỉ lên bỏ vào túi tiền mặt chừng 20 đo-la. Uống bia hết tiền mặt thì về nhà. Còn nếu có sẵn Credit Cards trong túi, thì khi hơi men bốc lên rồi, mà ngồi cạnh nữ giới với ánh đèn mầu, thì dễ dàng mang Credit Cards ra trả cho lên mặt anh hùng !.
THỨ HAI ĐEN 15.09.2008: BIẾN ĐỘNG TÀI CHÁNH TẠI WALL STREET
THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 cho Wall Street. Mà Wall Street giao động, thì tầm ảnh hưởng lan rộng ra Thế Giới. Hệ thống Ngân Hàng và Tài chánh Thế giới bị bệnh. Những Ngân Hàng mất tiền, thậm chí phá sản. Cái nguyên do của tình trạng bệnh tật này là Khủng hoảng Tín dụng Địa ốc của Hoa kỳ (Mortgage Subprime Credit Crisis)
Ngày 13.12.2007, chúng tôi đã viết về Tín dụng Subprime Địa ốc là gì nhân việc Ngân Hàng UBS của Thụy sĩ tuyên bố mất 11 tỉ đo la.
Ngày 24.01.2008, chúng tôi đã viết về Khủng hoảng Thị trường Chứng khoán từ Mỹ, Aâu, Á cũng do nguyên nhân Tín dụng Subprime Địa ốc.
Chúng tôi đăng lại hai bài này để hiểu cái nguyên nhân Tín dụng Subprime Địa ốc là gì nhân THỨ HAI ĐEN 15.09.2008 hôm qua.
Từ tuần trước, Ngân Hàng Trung ương Hoa kỳ FED đã đứng ra trách nhiệm cứu và kiểm soát hai Đại Tập đoàn Tài chánh Địa ốc của Mỹ FANNIE MAE và FREDDIE MAC với 200 tỉ đo la. FED cũng cứu AIG, American International Group, một Tập đoàn Bào Hiểm lớn nhất của Mỹ, với 50 tỉ đo-la. FED cũng trợ lực 30 tỉ đo la để JP MORGAN CHASE mua BEAR STEARNS vào tháng 3 vừa rồi. Nhắc lại rằng JP MORGAN CHASE là sự nhập lại của JP MORGAN và CHASE MANHATTAN vào cuối năm 2000.
Lần này đến lượt MERRILL LYNCH và LEHMAN BROTHERS. Suốt cuối tuần vừa rồi, Những Đại diện Ngân Hàng lớn họp liên hồi để cứu hai Tập đoàn này. Đây là hai Tập đoàn đầu tư nhiều trong lãnh vực Subprime Địa ốc Hoa kỳ. Đối với hai Tập đoàn này, FED không muốn cứu nữa. Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân khố, và Oâng Tim GEITHNER, Chủ tịch của FED New York, cũng đến họp về trường hợp của Merrill Lynch và Lehman Brothers. Nhưng hai Oâng yêu cầu phải tìm giải pháp Kỹ nghệ chứ FED không thể xử dụng tiền Dân đóng thuế để cứu hai Tập đoàn tư nhân này.
BANK OF AMERICA quyết định mua MERRILL LYNCH. Nhưng còn LEHMAN BROTHERS ? Một số Ngân Hàng như BARCLAY’S, BANK OF AMERICA cũng có ý định xét mua LEHMAN BROTHERS, nhưng muốn FED trợ lực chịu những nguy hiểm. Oâng Henry PAULSON Jr., Bộ trưởng Ngân Khố, nhất quyết từ chối.
Thứ Hai 15.09.2008, LEHMAN BROTHERS tuyên bố phá sản. Wall Street giao động, nhất là giá các Ngân Hàng và các Tập đoàn Tài chánh. Tập đoàn LEHMAN BROTHERS được thành lập từ năm 1850 và được 158 tuổi. Số nhân viên làm việc lên tới 15'000 người.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
(Xin đọc những bài về MORTGAGE SUBPRIME CREDIT đăng lại trong số này)
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 04:
THAM NHŨNG LÃNG PHÍ LÀ HẬU QUẢ CỦA VIỆC ĐÁNH ĐĨ GIỮA ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ & ĐỘC QUYỀN KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Trong loạt 12 Bài Chủ để : PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH, chúng tôi đã viết và phổ biến 3 Bài: Bài thứ nhất về hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường với việc tôn trọng TƯ HỮU và nguyên tắc không can thiệp trực tiếp Chính trị vào Kinh tế; Bài thứ hai về hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền/Chỉ huy với chủ trương CÔNG HỮU và lấy Chính trị khống chế toàn diện Kinh tế; Bài thứ ba về việc tréo cẳng ngỗng của Kinh tế Việt Nam hiện hành ĐỊNH HƯỚNG XHCN.
Bắt đầu từ Bài thứ tư này, chúng tôi đi vào những chi tiết của Kinh tế vá váy đụp định hướng XHCN mang đến Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh. Chúng tôi bắt đầu bằng con vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ phát sinh do CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế của đảng CSVN.
Bài được trình bầy dưới những khía cạnh sau đây:
=> Tham nhũng Lãng phí là thói tật trong mọi xã hội => CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế => Dứt khoát diệt CƠ CHẾ đánh đĩ giữa hai Độc quyền Chính trị và Kinh tế
Tham nhũng Lãng phí là thói tật trong mọi xã hội
Mỗi lần nói đến Tham nhũng Lãng phí, thì một số người muốn bênh đỡ CSVN, đã bào chữa rằng Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội chứ không phải chỉ nguyên ở Việt Nam hiện nay.
Chúng tôi không phủ nhận câu nói ấy. Thực vậy, cái thói tật của con người là lười biếng. Tôi vẫn khẳng định tôi là con người lười biếng, thích ngồi mát mà ăn được bát vàng. Nếu không làm việc, mà vẫn được trả lương để sống, thì tôi chấp nhận liền. Vì muốn thân xác mình sống, được thỏa mãn những nhu cầu, thì phải nai lưng ra làm việc. Làm việc vất và đổ mồ hôi là bản án cho mỗi cá nhân sinh ra và muốn sống. Đấu tranh Kinh tế là cuộc đấu tranh gay gắt nhất vì mọi người sống buộc lòng phải đấu tranh.
Trong cuộc đấu tranh gay gắt này, con người mang bản tính lười biếng, dễ tính toán đủ mọi cách để có thể ngồi mát ăn bát vàng, thậm chí giết người khác để cướp lấy của. Tham nhũng Lãng phí là thói tật gần như bản tính của con người mang cái nọc lười biếng và khi có dịp ngồi cạnh đống vàng. Chúng tôi không phủ nhận là Tham nhũng Lãng phí xẩy ra ở mọi xã hội mà mỗi người phải tranh chấp kiếm sống. Nhưng cái khác biệt là ở những xã hội khác nhau có những CƠ CHẾ đề phòng bản tính Tham nhũng Lãng phí và có những CƠ CHẾ cho phép phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí.
Ví Tham nhũng Lảng phí là những con Giòi do Ruồi Nhặng đẻ ra. Hễ có Ruồi Nhặng là có Giòi. Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, đó là bản tính. Đâu cũng có Ruồi Nhặng. Vấn đề ở đây không phải là cấm bản tính Ruồi Nhặng đẻ ra Giòi, mà là làm vệ sinh để Ruồi Nhặng khó lòng có chỗ đẻ ra Giòi. Nếu cứ để đống cứt chình ình ra đó mà không hốt đi, thì Ruồi Nhặng tha hồ đậu trên đống cứt mà đẻ ra Giòi.
Cũng vậy, đống cứt để chình ình là CƠ CHẾ cho phép bản tính lười biếng, ngồi mát ăn bát vàng tha hồ đẻ ra và lan tràn Giòi Tham nhũng Lãng phí. Thậm chí không những không muốn hốt đống cứt CƠ CHẾ, mà còn tìm mọi cách để bao che cho Giòi Bọ.
Tóm tắt của đoạn này là điều quan trọng không phải cái tính Tham nhũng Lãng phí nằm ở mỗi người trong bất cứ một xã hội nào, nhưng là ở chỗ xã hội đã chọn một CƠ CHẾ để Tham nhũng Lảng phí phát sinh mạnh lan tràn và được bao che cho một nhóm người.
CƠ CHẾ Đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế
Ba tiếng quan trọng ở đây là ĐỘC TÀI Chính trị, ĐỘC QUYỀN Kinh tế và việc ĐÁNH ĐĨ giữa hai lãnh vực này.
Xử dụng tiếng ĐÁNH ĐĨ không phải là chúng tôi có ý nói tục để mạ lỵ một CƠ CHẾ, nhưng vì tiếng đó diễn tả xác thực tình trạng cấu kết trong bóng tối, không minh bạch và mang tính nhập nhoèn giấu diếm không lương thiện giữa hai lãnh vực. Tiếng ĐÁNH ĐĨ cho thấy một sự giả hình, lươn lẹo cấu kết bất chính.
Thực vậy, nhìn về lãnh vực Kinh tế, CSVN nói là chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do/Thị trường, nhưng lại dùng những Tập đoàn Kinh tế, những Tổng Công ty thuộc Nhà Nước (đảng CSVN) để nắm Độc quyền Kinh tế dưới chiêu bài chỉ đạo Kinh tế. Những Tập đoàn, Tổng Công ty này lại được quyết định về điều hành theo liên hệ nhóm đảng và thân thuộc gia đình. Nhà Nước một đàng nói cho đẹp về phương diện Chỉ đạo Kinh tế mạnh, nhưng một đàng lại xậm xụi nắm giữ những Tập đoàn, những Tổng Công ty theo liên hệ gia đình và nhóm đảng. Giả hình, che đậy nắm quyền lợi cho gia đình và nhóm đảng, đó là việc đánh đĩ, việc điếm đàng vậy.
Nhìn sang lãnh vực Chính trị và Luật pháp, đảng CSVN cũng nhập nhoèn nói một đàng làm một nẻo. CSVN tạo cơ quan Lập pháp (Quốc Hội) dưới danh nghĩa Dân chủ, nhưng theo việc ngụy tạo độc đoán của đảng mình. Luật pháp được đặt ra cho phép đủ thứ Tự do, nhưng lại thực hành độc đoán và xử dụng sức mạnh để đàn áp những than vãn khiếu nại. Đó là việc đánh đĩ, điếm đàng.
Một CƠ CHẾ cho phép Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế là cơ hội làm phát sinh Tham nhũng Lãng phí. Nếu Chính trị còn ĐỘC TÀI và Kinh tế còn ĐỘC QUYỀN trong tay một đảng duy nhất, thì Tham nhũng Lãng phí tha hồ lan tràn không cản được. Thực vậy, như chúng tôi đã trình bầy trong đoạn đầu của bài này, Tham nhũng Lãng phí thuộc bản tính của con người và có ở mọi xã hội, nhưng Tham nhũng Lãng phí phát sinh và lan tràn mạnh ở một xã hội khi mà xã hội ấy cho phép một CƠ CHẾ thuận lợi. Việc cho phép ĐỘC TÀI Chính trị được ĐỘC QUYỀN Kinh tế tạo CƠ CHẾ thuận lợi cho phát sinh và lan tràn Tham nhũng Lãng phí. Càng dễ dãi cho việc lan tràn Tham nhũng Lãng phí hơn nữa khi mà việc cấu kết giữa hai lãnh vực được che đậy nhập nhoèn không sáng sủa như việc ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG.
CƠ CHẾ đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế đã được CSVN thực hiện trong suốt những chục năm trường và đã được sơn phết bằng những chiêu bài giả dối như Mở cửa, Đổi mới, theo Kinh tế Tự do/ Thị trường, Hội nhập Kinh tế toàn cầu... Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay là hậu quả của Tham nhũng Lãng phí lan tràn từ một CƠ CHẾ mà họ đã thực hành. Chữa Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh là phải chữa tận nguồn, trị đúng bệnh, tức là đánh thẳng vào cái CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ ấy.
Dứt khoát diệt CƠ CHẾ đánh đĩ giữa hai Độc quyền Chính trị và Kinh tế
Khi Dân Oan đòi Công lý, CSVN giải quyết không được và dùng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Trật tự ở đây có nghĩa là cúi đầu chấp nhận cái CƠ CHẾ như đống cứt để Ruồi Nhặng đẻ đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí lan tràn đến thôn quê. Khi Giáo dân Thái Hà cầu nguyện cho Công lý, thì CSVN cũng không thể giải quyết và đã xử dụng võ lực đàn áp nhân danh Trật Tự. Không giải quyết cho Thái Hà theo Luật pháp được bởi vì cái CƠ CHẾ đã đẻ ra Tham nhũng Lãng phí trên giải đất ấy.
Khi Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh xẩy ra, Nguyễn Tấn Dũng hô to khẩu hiệu diệt trừ Tham nhũng Lãng phí. Đó chỉ là khẩu hiệu mỵ dân. Đã bao lần đảng CSVN hô hào diệt trừ Tham nhũng Lãng phí bằng kêu gọi đảng viên hãy nêu cao tinh thần Cách Mạng. Thực ra tinh thần Cách Mạng đã chết nghẻo từ lâu rồi mà chỉ còn tính lười biếng và lòng mong mỏi ngồi mát ăn bát vàng. Đó là bản tính của con người, nhất nữa con người ấy lại có quyền độc tài ngồi cạnh đống vàng.
Không bao giờ Lãnh đạo đảng CSVN, mặc dầu biết rõ căn bệnh, dám nói rằng phải giải quyết đất đai cho Dân Oan, cho Thái Hà, cho tình trạng Lạm phát, cho Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh bằng vứt bỏ CƠ CHẾ, bằng hốt đống cứt hiện hành của đảng để Ruồi Nhặng đừng đẻ Giòi lan tràn.
Một số những Cố vấn Kinh tế cho CƠ CHẾ hiện hành, mặc dầu biết rõ căn bệnh, nhưng vì tư lợi nên trở thành nịnh thần và khi có chút can đảm vì lương tâm áy náy, thì chỉ dám nói đến CẢI CÁCH (Reform), nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ, đống cứt, chỉ nắn bóp chút ít. Một số Chính khứa muốn nhẩy bàn độc, đã hô hào Hòa Giài Hòa Hợp, mong liếm hớp mẩu bánh thừa quẳng xuống do CSVN, nghĩa là vẫn duy trì CƠ CHẾ hiện hành, bãi cứt có đầy Giòi, để ngửi chung. Một số Lãnh đạo Tôn giáo như Hồng y Mẫn chẳng hạn, hô hào ĐỐI THOẠI để phát triển bền vững, nghĩa là tiếp tục bãi cứt đã đầy Giòi này.
Tôi cảm phục hai Bài viết trong tuần này của Oâng NGUYỄN TRUNG (Nhà Kinh tế) phân tích khúc chiết về sự tai hại của những Tập Đoàn Kinh tế và những Tổng Công ty quốc doanh CSVN, nghĩa là phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế của Nhà Nước CSVN. Trong bài viết thứ nhất, Oâng đề cập đến sự hiện hữu của một số Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh tại những nước Tây phương. Tôi đồng ý về mô hình này trong ý hướng từ từ tư nhân hóa (Privatisation), tuy nhiên tôi xin Oâng chú thích rằng tại những nước Tây phương, có Chính trị Dân chủ, có Tự do Báo Chí , có Luật pháp minh bạch chứ không phải Luật pháp ĐÁNH ĐĨ, ĐIẾM ĐÀNG như trong chế độc ĐỘC TÀI độc đảng Chính trị ở Việt Nam. Đó là sự khác biệt quan trọng. Oâng NGUYỄN TRUNG kết luận khi phân tích về ĐỘC QUYỀN Kinh tế qua hệ thống Tập Đoàn Kinh tế quốc doanh với ý hướng thúc đẩy thay đổi:’ Có phải làm như thế không? Có làm được không? Nhưng trước đó là câu hỏi: Có dám không?’
Tôi xin trả lời rằng CSVN không dám hốt bãi cứt CƠ CHẾ. Chính khối Dân nghèo 75% Dân số Việt Nam sẽ đứng lên gùm cổ CSVN phải dứt bỏ CƠ CHẾ, nghĩa là buộc họ phải hốt bãi cứt đầy Giòi Tham nhũng Lãng phí.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 03:
KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN CHỈ LÀ BỊP BỢM VÔ LƯƠNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Bài QUAN ĐIỂM thứ 3 này trong loạt 12 Bài dưới Chủ đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH viết về đời sống Kinh tế mà CSVN gọi là Kinh tế Vĩ Mô dưới danh xưng KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCH. Chúng tôi đã lục soát xem trong Lịch sử Kinh tế có những mẫu nào giống như ở Việt Nam hay không, nhưng đã không kiếm được.
Hai hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường và Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy có sự cấu trúc Lý luận riêng, nhưng Kinh tế Tự do và Thị trường định hướng XHCH của Việt Nam không thể gọi là hệ thống với nền tảng Lý luận, mà chỉ là một sự vá víu loang lổ để CSVN thủ lợi riêng.
Chúng tôi thường ví việc vá víu này như việc CSVN đi vá VÁY ĐỤP của những bà nhà quê Miền Bắc thời nghèo khó Pháp thuộc. Marx-Lénine vẽ mẫu và may cho XHCH một chiếc VÁY lý tưởng bắt Dân mặc. Dân mặc không được vì chiếc váy không hợp, còn dầy vò thắt bụng dân đến đau đớn. Váy đã cũ kỹ không mặc được nữa. Dân Nga và Đông Aâu cởi phăng nó ra vất đi để tự mình đi kiếm may váy mới.
Tại Việt Nam, Cộng sản vẫn bắt Dân mặc chiếc váy cũ kỹ và rách ấy. Dân buộc phải mặc mà không được la lên. Nếu la lên than vãn thì Công an đế phang cho mấy dùi cui điện. Nhưng chính CSVN thấy đến chỗ cùng rồi bởi vì thấy dân mặc váy cũ rách nát để lòi cả “cụ h...“ ra ngoài, nên đảng phải Mở Cửa để mong kiếm đo-la của Đế quốc Tư bản Mỹ, kẻ thù của Marx-Lénine-Staline. Cách đây 4 năm, từ Phan Văn Khải đến Nông Đức Mạnh đồng loạt tuyên bố chấp nhận hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường cốt kiếm những miếng vải GIN mới toanh của Mỹ hoặc những nước Tự do khác để về vá chiếc váy nâu sồng bị rách để lòi cả “cụ h...“ ra ngoài. Nhưng vì chiếc váy được vẽ mẫu bởi Marx-Lénine và còn đeo tòng teng nhãn hiệu Xã Hội Chủ Nghĩa, nên CSVN đã gọi chiếc VÁY ĐỤP ấy là Kinh tế Tự do Thị trường Định hướng XHCN.
Chúng tôi phân tích bài này dưới hình ảnh chiếc VÁY ĐỤP nâu sồng rách nát được vá bằng những miếng vải Tự do lòe loẹt còn mang nhãn hiệu XHCN.
Bài được trình bầy dưới những khía cạnh sau đây:
=> Nhắc lại Lý Luận nền tảng của hai hệ thống Kinh tế Tự do và Kinh tế Chỉ huy => Kinh tế Việt Nam: lấy vải Mỹ để gian lận vá Váy đụp XHCH => Dân phải can đảm xe bỏ chiếc váy đụp chứ đừng vá thêm nữa
Nhắc lại Lý Luận nền tảng của hai hệ thống Kinh tế Tự do và Kinh tế Chỉ huy
Chúng tôi nhắc lại vắn tắt những Lý Luận nền tảng của hai hệ thống Kinh tế Tự do và Kinh tế Chĩ huy để độc giả dễ hiểu nơi chiếc VÁY ĐỤP đâu là miếng vải đã mục nát và đâu là miếng vải vá loang lổ còn mới toanh.
Hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường lập luận dựa trên việc kiếm sống tự nhiên nuôi thân xác của tất cả mọi loài vật. Con người chỉ là một loài vật có thêm bộ óc thông minh để biến báo những phương thức kiếm sống cho hữu hiệu. Thân xác của loài vật hay của con người là TƯ HỮU đầu tiên và tự nhiên. Thân xác của tôi là của tôi, xin đừng động đến mà tôi đập cho bỏ mẹ bây giờ. Không có Tòa án nào xử người tự tử, nghĩa là người có quyền hủy hoại TƯ HỮU là thân xác của họ. Để kiếm sống—làm kinh tế—mỡi người có quyền TƯ HỮU những phương tiện làm ăn kiếm sống. Người nông dân có cái cuốc, ngư phủ có cái lưới. Cuốc và lưới là TƯ HỮU của họ và họ có quyền TỰ DO xử dụng trong việc kiếm sống. Chiếm TƯ HỮU nghĩa là cấm TỰ DO làm ăn. Tôn trọng TƯ HỮU, thì phải tôn trọng TỰ DO làm kinh tế kiếm sống, nếu không TƯ HỮU trở thành vô nghĩa. Đó là nền tảng xây dựng hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường.
Lý luận của hệ thống Kinh tế Chỉ huy là phế bỏ TƯ HỮU. Tất cả là của chung, nghĩa là CÔNG HỮU. Mà nếu là CÔNG HỮU, thì cá nhân không được TỰ DO xử dụng CÔNG HỮU nữa. Từ những phương tiện sản xuất đến những sản phẩm để tiêu thụ đều là CÔNG HỬU. Theo nguyên tắc CÔNG HỬU thuộc mọi người, thuộc toàn dân. Nhưng mọi người và toàn dân đông quá, nên phải có một nhóm người hạn hẹp để giữ và điều hành CÔNG HỮU. Đảng Cộng sản tự nhận là nhóm người đứng ra điều hành CÔNG HỮU ấy. Vì vậy trong hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy, không có quyền TỰ DO cá nhân quyết định làm ăn và tiêu thụ, mà phải theo những Kế hoạch (Plans) làm ăn và phân phối tiêu thụ của một nhóm người (Đảng Cộng sản). Việc BAO CẤP tiêu thụ chỉ là hệ luận tự nhiên của CÔNG HỮU, của việc mất quyền TỰ DO cá nhân kiếm sống. Xin chú thích ở đây rằng nếu hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyề và Chỉ huy mà không có BAO CẤP, thì đó là việc vô lương tâm vậy.
Hai hệ thống Kinh tế có những Lý luận của mình. Vậy việc vá VÁY ĐỤP KINH TẾ của Việt Nam nhặt nhạnh những gì từ hai hệ thống, nhất nữa không còn BAO CẤP ?
Kinh tế Việt Nam: lấy vải Mỹ để gian lận vá Váy đụp XHCH
Hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy đã thất bại mà chúng tôi đã trình bầy những lý do trong Bài thứ 2 của loạt bài Chủ đề này. Cũng trong Bài thứ 2, chúng tôi trình bầy những nét Lịch sử về việc hình thành lý luận của Marx. Phải trở lại đầu Thế kỷ XVI, với Thomas MOORE (1477-1553), chủ trương Cité d’Utopie. Thomas MOORE là người rất sùng Đạo Thiên Chúa và bị ảnh hưởng rất nhiều về Tổ chức Kinh tế của các Dòng Tu Công Giáo của thời Trung Cổ Aâu-châu: Phương tiện sản xuất là của chung, Tiêu thụ tùy theo nhu cầu của mỗi Thầy tu, Làm việc theo hoạch định (Plans) của Thầy Quản Lý, Đời sống có trật tự và có sự đồng đều giữa các Thầy dòng. Marx bị ảnh hưởng Tổ chức Kinh tế của Dòng Tu Trung Cổ qua việc trình bầy có hệ thống lý luận của Thomas MOORE.
Người ta nói rằng hệ thống Kinh tế mà Marx chủ trướng quá lý tưởng mà Lénine đã không thực hiện được. Thực vậy, mẫu Tổ chức Kinh tế của Dòng Tu thời Trung cổ Aâu châu phải đặt trên lòng TIN TÔN GIÁO: mỗi Thầy tu phải khấn hứa sự khó nghèo, phải độc thân, phải vâng lời bề trên, Phải cố gắng làm việc vì Thiên Chúa vô hình nhìn rõ sự lười biếng và nếu vi phạm những gì đã khấn hứa thì Thiên Chúa sẽ có hình phạt đời sau. Mẫu mực Tổ chức Kinh tế như vậy áp dụng cho Cộng Đồng Dòng Tu, nhưng trong Xã Hội ở Thế kỷ XX này, những đảng viên Công sản và những Công dân lại ham Tiền bạc, sống có gia đình hoặc ham sắc dục, muốn ngồi mát ăn bát vàng, rồi trở thành vô thần do chính Marx-Lénine chủ trương, không có đời sau để thưởng phạt..., vì vậy mà Tổ chức Kinh tế theo Dòng Tu Trung Cổ trở thành quá lý tưởng không thực hiện nổi. Chú thích ngay rằng nếu các đảng viên Cộng sản giữ đúng cuộc sống của các Thầy tu thời Trung cổ, thì tôi có thể chấp nhận hệ thống Kinh tế Trung ường Tập quyền và Chỉ huy để tha hồ lười biếng, nằm phơi rốn mà vẫn có BAO CẤP để sống. Tôi sẵn sàng nằm lười chảy chì mà ngày hai bữa vỗ bụng rau bình bịch cũng được. Hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy đã thất bại vì Marx-Lénine đã không thể nào có Dân chúng và các đảng viên Thế kỷ XX giống các Thầy tu thời Trung cổ. Hệ thống trở thành quá lý tưởng đến nỡi không thể nào thực hiện được, đã trở thành không tưởng (Utopique).
Hệ thống Kinh tế không tưởng đã thất bại và đã làm cho Thế giới Cộng sản Nga và Đông âu sụp đổ. Nga và Đông Aâu đã can đảm vứt bỏ cái VÁY hư hỏng theo mẩu của Marx-Lénine để nhất quyết chọn lựa hệ thống tự nhiên của Kinh tế Tự do và Thị trường. Nhưng Việt Nam vẫn bấu víu lấy cái VÁY kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa mục nát ấy, mà chỉ đi tìm những miếng vải của Kinh tế Tự do và Thị trường để gian lận vá víu loang lổ.
Chúng tôi đi tìm lý do của việc vá váy đụp như thế nào:
=> Lý do thứ nhất: Không giữ nổi Bao Cấp cho dân, nên đành Mở Cửa và chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường.
Thất bại của Kinh tế Chỉ huy không thể nào cho phép Nhà Nước giữ được việc Bao Cấp cho dân. CSVN đành phải Mở Cửa để cứu đói và chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường để mỗi người đi kiếm sống cho mình. Nhưng nếu hoàn toàn tuân theo nền tảng của hệ thống Kinh tế này, thì dân phải có TƯ HỮU và có TỰ DO cá nhân làm ăn. Nhưng nếu có TƯ HỮU và có TỰ DO, thì chính cái CÁ NHÂN TƯ HỮU và TỰ DO này phải đi đến nguyên tắc DÂN CHỦ để giải quyết những tranh chấp những quyền lợi cá nhân khi làm ăn chung đụng.
=> Lý do thứ hai: Lo sợ sự lớn mạnh của Kinh tế tư nhân dẫn đến thể chế phù hợp với nguyên tắc Dân chủ.
Theo học thuyết Marx-Lénine, CSVN không thể không biết quan điểm lý luận của Karl MARX về chủ trương Hạ Tầng Cơ Sở Kinh tế là chính yếu. Trong PREFACE A LA CRITIQUE DE L’ECONOMIE POLITIQUE, Karl MARX viết: “Les rapports de procuction correspondent à un degré de développement des forces productives matérielles, cet ensemble forme la structure économique sur laquelle s’érige la superstructure juridique et politique qui détermine certaines conditions sociales.“ (Những tương quan sản xuất tương ứng với mức độ phát triển những lực lượng sản xuất vật chất, toàn bộ này tạo hệ thống kinh tế mà trên đó được xây dựng thượng tầng kiến thiết luật pháp và chính trị để định một số những điều kiện xã hội).
Với quan điểm này, thì khi Tư doanh giữ vững những quan hệ làm ăn theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, thì buộc lòng họ phải đòi hỏi thượng tầng kiến thiết Chính trị và Luật pháp cho phù hợp, nghĩa là không được độc tài mà phải tôn trọng nguyên tắc Dân chủ mới giải quyết được quyền lợi Kinh tế cá nhân tự do.
Quan điểm của Marx phù hợp với Biện chứng cuộc sống của dân quê Việt Nam thường nói:“Nhất sĩ (Chính trị) nhì nông (Kinh tế), hết gạo chạy rông, thì nhất nông (Kinh tế) nhì sĩ (Chính trị)“. Có lần tôi đã nói với một đảng viên cao cấp CSVN rằng Hà Nội cứ việc cố thủ lấy độc quyền Chính trị (Thủ đô Chính trị), nhưng hãy để cho Sài gòn tự do làm Kinh tế (Thủ đô Kinh tế), thì có ngày Thủ đô Chính trị Hà Nội phải xách bị vào quỳ gối ăn xin và lệ thuộc vào Thủ đô Kinh tế Sài gòn bởi vì lúc ấy là nhất nông nhì sĩ rồi. Hãy nhớ tại Aâu châu hàng Quý tộc đả phải bán tước hiệu quý tộc cho những người làm ăn (bourgeois) để có gì đỡ đói.
=> Lý do thứ ba: Giữ lấy nhãn hiệu XHCN (Xã Hội Chủ Nghĩa)
Đói quá, phải Mở Cửa và phải đắng cay tuyên bố theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường mà CSVN đã chửi bới thậm tệ bao thế hệ là bóc lột, khai thác và còn đấu tố giết hại bao nhiêu người. Mà nếu cho TƯ HỮU, nghĩa là không còn CÔNG HỮU, thì làm thế nào đảng CSVN còn có lý do giữ lại Điều 4 Hiến Pháp. Chính vì vậy mà cần phải tìm cách giữ lại những tiếng Xã Hội Chủ Nghĩa để có cớ giữ Điều 4. Nhưng chẳng lẽ gọi nền Kinh tế là KINH TẾ TỰ DO VÀ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, thì thối tha ngược ngạo chịu không nổi bởi vì nền tảng lý luận của hai nền Kinh tế trái ngược nhau. Vì vậy mà Bộ Chính Trị mới thêm hai chữ ĐỊNH HƯỚNG như trò hề.
ĐỊNH HƯỚNG có nghĩa là sau này lại trở về với Xã Hội Chủ Nghĩa. Cho cá nhân bỏ TƯ HỮU ra làm Kinh tế theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Sau khi tư nhân làm ăn thịnh vượng, có nhiều TƯ HỮU rồi, thì Nhà Nước lại truất hữu, biến TƯ HỮU làm CÔNG HỮU theo Xã Hội Chủ Nghĩa. Hai chữ ĐỊNH HƯỚNG XHCN có nghĩa như vậy. Sao mà ngu thế: bảo tư nhân làm ăn rồi sau đó tước đoạt tư hữu, thì bố đứa nào dám cố gắng bỏ tài sản ra làm ăn cho CSVN ăn cướp sau này theo ĐỊNH HƯỚNG XHCN.
=> Lý do thứ tư: Phải nhập nhoèn gian lận ngược ngạo
CSVN cố thủ giữ lấy độc tài Chính trị, nhưng lại sợ chính quan điểm của Marx về Infrastructure économique (Hạ tầng cơ sở kinh tế) sẽ quyết định Superstructure Politique et Juridique (Thượng tầng kiến thiết Chính trị và Luật pháp), nghĩa là CSVN sẽ mất quyền độc tài. Nhưng vì đói ăn do hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy, nên đành phải chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nguồn đưa đến lật đổ độc tài của Superstructure Politique et Juridique.
CSVN sống trong lo lắng, nên đành phải nhập nhoèn gian lận vá víu (vá VÁY ĐỤP) để biện minh cối chầy về lý thuyết. Hai chữ ĐỊNH HƯỚNG và chắp nối che đậy việc nhập nhoèn gian lận trái ngược về Chính trị và Kinh tế. Tiếng Tây gọi là Les Magouilles politiques et économiques contradictoires :
* Nhà Nước kêu gọi Tư nhân bỏ vốn làm ăn theo Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng lại dành những ưu tiên làm ăn miếng ngon cho con cháu đảng hoặc những ai đút lót tiền tham nhũng. Đây là việc vi phạm tự do của Thị trường.
* Nhà Nước dùng Tiền bạc của chung để lập hệ thống Tổng Công ty, Công ty quốc doanh với những đặc quyền Kinh tế, Thương mại mà những Tư doanh phải chịu lụy những đặc quyền quốc doanh này mới có thể làm ăn. Hệ thống đặc quyền này buộc phải có bởi lẽ những lãnh đạo Chính trị, ngoài liên hệ gia đình, còn phải lệ thuộc giới làm ăn của đảng vì giới này lại có quyền chế tài về chính trị theo hệ thống đảng.
* Tư nhân kinh doanh phải chịu hệ thống hành chánh rất nặng nề và chậm chạp. Đây là tệ nạn mà CSVN không thể nào cải thiện. Đảng CSVN thu nhiều đảng viên. Đảng phải bầy vẽ ra hệ thống hành chánh phức tạp để có chỗ làm việc cho đảng viên, nếu không thì họ bỏ đảng. Hệ thống hành chánh là nguồn của chậm trễ kinh tế và nguồn của ăn bẩn, đút lót tiền bạc
* Tài nguyên quốc gia bị khai thác, bán tháo trong đặc quyền của những người liên hệ của đảng: con cháu đảng viên cao cấp, trung ương và địa phương...
* Nhân lực Việt Nam, Lao động do Nhà Nước quyết định để bán cho tư bản ngoại lai làm ăn tại chỗ hoặc xuất cảng. Một hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường phải có những Nghiệp đoàn Lao động hay những Nghiệp đoàn chuyên nghiệp độc lập để bảo vệ tư hữu hiển nhiên nhất là nhân lực và chất xám.
* Nguồn vốn đầu tư nước ngoài được hướng dẫn cho hệ thống liên doanh với những Công ty quốc doanh liên hệ với đảng.
* Những dự án xây dựng hạ tầng cơ sở được quyết định bừa bãi theo tiêu chuẩn liên hệ Chính trị, thậm chí được coi như việc thưởng công cho những đảng viên đã có công với đảng.
* Nhà Nước, từ Trung ương đến Địa phương nắm giữ quyền trưng dụng và cấp phát Đất đai dưới những chiêu bài như Khu chế xuất, Công nghệ hóa...
* Tài chánh, Tiền tệ, Ngân Hàng nằm trong tay đảng. Những lạm phát tiền tệ là do sự quyết định độc đoán của Chính trị đảng. Người dân không thấy, nhưng chịu hậu quả về lạm phát tiền tệ này.
Dầu tuyên bố long trọng là theo hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng Chính trị độc tài đã can thiệp trực tiếp vào sinh hoạt Kinh tế.
Dân phải can đảm xé bỏ chiếc váy đụp chứ đừng vá thêm nữa
CSVN cố thủ giữ lấy chiếc váy đụp và tìm cách gian lận vá víu chiếc váy ấy để bắt dân mặc với hai chủ đích:
=> Giữ lại quyền Chính trị độc tài độc đảng theo Điều 4 của Hiến Pháp
=> Gian lận nắm lấy Kinh tế cho đảng và cho con cháu của đảng.
Nhà Nước luôn luôn kêu gọi TRẬT TỰ dưới chiêu bài Phát triển Kinh tế bền vững và vĩ mô. Nhân danh hai chữ TRẬT TỰ, Nhà Nước cho quyền mình được đàn áp tất cả những ai lên tiếng than vãn những nhập nhoèn gian lận vá víu để đảng duy trì hai chủ đích nêu trên đây. Theo quan điểm của Marx, một Hạ tầng cơ sở Kinh tế gồm những nhập nhoèn gian lận như vậy không thể nào cho phát sinh một Thượng tầng kiến thiết Chính trị và Luật pháp sáng sủa công minh được.
Dân phải dứt khoát vứt bỏ chiếc váy đụp ấy để từ đó mới có thể phát triển bền vững được.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 02:
THẤT BẠI CỦA HỆ THỐNG KINH TẾ TRUNG ƯƠNG TẬP QUYỀN VÀ CHỈ HUY
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Bài QUAN ĐIỂM thứ nhất trong loạt bài Chủ đề này trình bầy hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường mà TƯ HỮU được tôn trọng cho mỗi cá nhân và nguyên tắc KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP Chính trị vào Kinh tế được triệt để đòi hỏi. Bài QUAN ĐIỂM thứ hai này trình bầy hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy mà những người chủ trương phế bỏ TƯ HỮU cá nhân và cho phép Chính trị (thậm chí độc tài) nắm trọn mọi sinh hoạt Kinh tế.
Hai chủ trương của hai hệt thống Kinh tế đối chọi hẳn nhau. Kiểm nhận hậu quả của hai hệ thống, người ta xác nhận sự phát triển của hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường và sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy.
Bài QUAN ĐIỂM thứ hai này được trình bầy qua những khía cạnh sau đây:
=> Vài nét lịch sử của chủ trương Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy. => Thế giới Cộng sản thực hiện hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy => Những lý do thất bại của Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy => Trở lại chủ trương hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường
Vài nét lịch sử của chủ trương Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy
TƯ HỮU trong hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường được coi là một sự tự nhiên dựa trên quyền tìm sống tối sơ của từng cá nhân và nguyên tắc Không Can Thiệp Chính trị, được các Lý thuyết gia đòi hỏi như điều kiện phát triển TỰ DO xử dụng TƯ HỮU làm phương tiện kiếm sống. Nếu việc xây dựng lý thuyết cho hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường mang tính cách khai triển tự nhiên, thì việc cấu trúc chủ trương Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy đã được thuyết lý dựa trên những quan niệm mang tính cách triết học.
Các lý thuyết gia của chủ trương này đã chạy ngược lên mãi thời Triết gia PLATON. Thực vậy, trong những cuốn “La République“, “Les Lois“, Platon đã nói đến “La Cité Communiste“ trong đó những người trách nhiệm làm Luật không được có gia đình và do đó không cần tư hữu cho con cháu.
Thời Trung Cổ Aâu châu, phía Thiên Chúa Giáo đã khai triển những Dòng Tu được coi là những Cộng đồng Cộng sản về Kinh tế.
Nhưng phải đợi đến đầu Thế kỷ thứ XVI, với Thomas MOORE (1477-1553), thì lý thuyết về một Chủ thuyết Xã Hội Kinh tế mới được phát triển có hệ thống. Thomas MOORE là người tôn sùng đạo Thiên Chúa. Được Vua HENRI VIII Anh quốc trọng dụng, nhưng vì cương trực phản đối lại Vua về vấn đề rắc rối vợ con, nên Oâng đã bị hành quyết. Năm 1516, cuốn sách Utopie ra đời và ông chủ trương Nhà Nước Utopie (Etat d’Utopie). Bắt đầu từ Thế kỷ XVI, Xã hội Tây phương có những xáo trộn về mọi phương diện: Tôn giáo, Tư duy, Nghệ thuật, Kinh tế, Xã hội... Oâng tìm kiếm một Thể chế có trật tự mà mẫu Cộng đồng trật tự nhất là các Dòng Tu. Giáo sư Sử học Kinh tế Jean-Marie VALARCHE đã viết: “Il (Thomas MOORE) prévoit un dirigisme absolu de l’Etat“ (Oâng (Thomas MOORE) dự trù một chủ thuyết Chỉ huy tuyệt đối của Nhà Nước).
Chúng tôi nhắc đến tác giả này vì muốn lấy ra những điểm mà Karl MARX đã chịu ảnh hưởng: ảnh hưởng của một Dòng Tu làm việc theo chỉ thị của người đứng đầu, cộng chung những sản phẩm, tiêu thụ theo nhu cầu từng người, chỉ có hệ thống phân phối giữa cung và cầu mà không có thương mại.
Từ đây, bắt đầu những cấu trúc Xã Hội Chủ Nghĩa qua những tác giả khác cho đến thời Karl MARX.
Karl Heinrich MARX sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 vùng Rhénanie, Đức, trong một gia đình gốc Do thái. Cha là Luật sư, nên Marx học Luật, sau chuyển sang Triết học theo HEGEL. Oâng chỉ làm quen và suy tư về những vấn đề Xã Hội, Kinh tế, Đấu tranh khi phải di chuyển sống ở nhiều nơi và viết báo. Sống ở một thời đại hậu bán Thế kỷ XIX có nhiều những cực đoan: Kỹ nghệ hóa vượt mức, Giới Tư sản nắm quyền hành, Cách xa Giới Chủ và Giới Thợ, Tình trạng thất nghiệp và đói nghèo, Cách Mạng 1848, những Ý tưởng Quốc gia cực đoan phát sinh. Trong sự hỗn loạn của những cực đoan ấy, Oâng lưu ý khai triển những vấn đề sau đây:
=> Chủ thuyết Duy vật Lịch sử. Với Chủ thuyết này, Oâng nhấn mạnh đến sự vong thân tôn giáo để kết luận rằng:“Tôn giáo là cái bông ghê tởm mọc trên đống phân tư bản. Bởi vậy nếu hốt đống phân đi, thì hoa cũng tàn...“ Cũng trong Chủ thuyết này, tương quan Xã hội được chính yếu nhấn mạnh vào hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến thiết. Hạ tầng cơ sở gồm những tương quan sản xuất vật chất, thượng tầng kiến thiết gồm những phương diện Luật pháp, Chính trị quy định Xã hội.
=> Giai cấp Xã hội và Đấu tranh Giai cấp. Cái nguyên nhân tạo ra những Giai cấp Xã hội là sự đấu tranh chiếm hữu. Oâng nhìn thấy hiện tượng vô sản hóa Giai cấp Thợ thuyền. Xã hội phân chia ra hai Giai cấp chính: Giai cấp chiếm hữu và nắm quyền, Gai cấp Thợ thuyền bị khai thác và bị bóc lột. Oâng thuyết giải về tính cách Vong thân Lao động, nghĩa là một mặt đối với chính mình, người Lao động sản xuất, nhưng bị tước đoạt sản phẩm; mặt khác đối với tương giao xã hội trước người khác, người lao động biến thành cái máy làm theo quyết định của chủ bóc lột chứ không có sáng kiến tự mình.
=> Ảnh hưởng bởi Lý thuyết của David RICARDO về Giá trị sản phẩm được đo lường bằng chính Giá trị Lao động hàm ngụ trong sản phẩm. Tư sản cũng chỉ là sự tích lũy Giá trị sản phẩm từ Giá trị Lao động. Oâng chủ trương Đấu tranh Giai cấp và hệ luận là Giai cấp Lao động phải dành lấy quyền làm chủ sản phẩm của mình. Cần một cuộc nổi dậy Cách Mạng dù bằng bạo động và Giai cấp Vô sản phải nắm trọn quyền hành độc tài tổ chức Xã hội.
Thế giới Cộng sản thực hiện hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy
Nếu Karl MARX cấu trúc hệ thống mang đậm tính cách lý luận do ảnh hưởng Triết học và Lý tưởng xã hội đậm hình thức tổ chức Cộng đồng Dòng Tu theo kiểu Thomas MOORE, thì LENINE, một người Chính trị, đã lấy những ý tưởng của MARX để đấu tranh chiếm quyền hành và tổ chức cai trị xã hội.
LENINE sinh năm 1870 vùng Simbirsk, giữa Oural và Moscou. Người anh cả của Oâng thuộc một tổ chức Khủng bố, đã muốn ám sát Nga Hoàng, nhưng bị bại lộ và người anh này đã bị treo cổ. Lúc ấy Lénine mới có 17 tuổi và đã bị đi lưu đầy và sống lần lượt tại Anh, Thụy sĩ và Pháp. Năm 1905, sau khi Nga bại trận đối với Nhật, nhóm của Lénine đã phát động nổi dậy, nhưng thất bại.
Năm 1917, Nga lại thất trận đối với Đức. Nhờ tài hùng biện của Lénine và tài chiến thuật của TROTSKY, cuộc CÁCH MẠNG VÔ SẢN tháng 10 đã thành công. LENINE trở thành Nguyên Thủ Quốc gia cho đến năm 1924, năm Oâng chết.
Tổ chức cai trị Xã hội được tiếp tục và trở thành khuôn khổ độc đoán dưới thời STALINE.
Xã hội Cộng sản được tổ chức thực hiện những chủ trương của MARX:
=> Cuộc đấu tranh đẫm máu thanh trừng Giai cấp tiếp tục khắt khe và vô nhân đạo dưới thời Staline. Giai cấp Tôn giáo, Trí thức và Tư bản bị tiêu diệt.
=> Truất hữu toàn vẹn những tư hữu. Tất cả trở thành CÔNG HỮU;
=> Giai cấp VÔ SẢN nắm quyền độc tài, mà đại diện Giai cấp này là Đảng Cộng sản duy nhất, nghĩa là quyền hành cai trị Xã hội và quản trị CÔNG HỮU thuộc về Đảng Cộng sản lãnh đạo Giai cấp vô sản.
=> Vì những phương tiện sản xuất là CÔNG HỮU, nên chỉ có Nhà Nước (Đảng Cộng sản) có quyền điều hành để sản xuất Kinh tế. Không còn Kinh tế tư nhân nữa mà chỉ còn Kinh tế do Nhà Nước hoạch định qua những Kế Hoạch (Ngũ niên);
=> Thực hiện một Xã hội bình đảng, không giai cấp, nên cá nhân được bao cấp tiêu thụ theo nhu cầu; => Một cuộc Cải Cách Ruộng Đất được thực hiện. Không còn tư hữu đất đai. Những đất nông nghiệp được chia ra làm hai loại canh tác: Kolkhoz và Soukhoz. Dù canh tác thuộc loại nào chăng nữa, nông dân trở thành những Công nhân (Ouvriers agricoles)
=> Thương mại không những không được coi là sản xuất giá trị, mà còn bị coi là ăn bám sản xuất, nên bị bỏ đi. Thay vào đó, Nhà Nước tổ chức những Hợp tác xã để phân phối hàng hóa giữa sản xuất và tiêu thụ.
=> Dưới thời Staline, Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản được phát động để mang Cách Mạng Vô sản đến những nước khác. Theo đúng chủ trương đấu tranh giai cấp bằng bạo động của Karl Marx, Nga cung cấp vũ khí để làm bất ổn tại những Quốc gia khác để tạo cơ hội chiếm quyền hành.
Những lý do thất bại của Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy
Năm 1989, Liên Xô và những nước chư hầu Cộng sản Đông Aâu lần lượt sụp đổ mà lý do chính yếu là đời sống Dân chúng quá đói nghèo, nghĩa là sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy. Thực vậy, sau khi bức tượng Bá Linh, tượng trưng phân cách giữa hai hệ thống Kinh tế, bị hạ xuống, chúng tôi đã có dịp sang Mạc Tư Khoa và chứng kiến thực sự cảnh nghèo khổ của chính dân Thủ đô của Khối Cộng sản. Nga phải mua những hộp đồ ăn đã hết hạn của những nước Tây phương. Ngôi Nhà Hàn Lâm Viện cho những Sinh viên ưu tú trống rỗng. Những Sinh viên Việt Nam sang du học đã phá tường của những phòng của Hàn Lâm Viện để mở quán chạp phô, mở quán phở, thậm chí mở quán bán thị chó. Tôi còn giữ những hình ảnh chụp cảnh làm ăn nghèo khổ này.
Hãy thử tìm hiểu những lý do thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy này.
=> Nỗ lực sản xuất Kinh tế không nhằm về phát triển Kinh tế, mà nhằm củng cố cho Đảng Cộng sản và Chính trị của Đảng. Khả năng phát triển Kinh tế Quốc gia đã bị tiêu dùng cho mục đích Chính trị. Trong suốt những năm sản xuất, Liên xô sản xuất vũ khí nhiều hơn việc sản xuất những hàng thường dùng của người lao động. Lấy một vài tỉ dụ hiện giờ : Trung Cộng tiêu tốn gần 50 tỉ Mỹ Kim cho sự vẻ vang Chế độ Chính trị của mình, hơn là phục vụ đời sống thực của Dân chúng; một số những xây cất ở Việt Nam cũng nhằm phục vụ cho Đảng và thể chế Chính trị, chứ không nhằm mục đích Kinh tế cho người Dân nghèo.
=> Khi Nhà Nước nắm giữ những chi tiêu và điều hành những Tập đoàn sản xuất công, thì việc chi tiêu chắc chắn không được căn cơ cho có hiệu lực. Câu nói “Chi tiêu tiền chùa“ hay “Cha chung không ai khóc“ cho thấy thực trạng lãng phí ắt phải xẩy ra, đó là chưa kể đến chủ tâm cắt xén của chung làm của riêng. Đây là một điều tự nhiên. Câu ngạn ngữ Kinh tế tư bản:“Làm ra tiền đã khó, nhưng chi tiêu tiền bạc còn khó hơn“. Đối với Kinh tế tư bản, khi chi tiêu, đã phải tính mình thu vào bao nhiêu lợi nhuận, nghĩa là tính cuyện làm sinh lời Kinh tế thực sự trước khi bỏ một đồng ra tiêu. Chỉ có tiền tư hữu riêng của mỗi người, thì người đó mới căn cớ tính toán để chi tiêu cho đúng.
=> Nói về việc tiêu thụ, người lao động cũng dễ lười biếng khi thấy rằng mình cố gắng làm việc mà chỉ được hưởng đồng đều như người không chịu khó làm việc. Chính việc tư hữu những sản phẩm làm ra và được tiêu thụ là động lực kích thích sự chịu khó làm việc. Người ta nói rằng con gái Nga đẹp, nhưng thiếu nụ cười, bởi vì nụ cười của người con gái trong Kinh tế tự do có tư hữu được thưởng công, trong khi đó người con gái của Kinh tế chỉ huy có cười cả ngày cũng chỉ lĩnh được phần tiêu thụ đồng đều như người không cười. Vậy thì cười làm gì để trại quai hàm.
=> Về sản xuất tại những Soukhoz, Kolkhoz, chính hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy cũng đã phải sửa sai. Hiệu năng nông nghiệp của Soukhoz và Kolkhoz thấp xuống, Nhà Nước đã phải cấp cho mỗi Gia đình một khoảng đất tư để trồng trọt riêng cho Gia đình. Thửa đất tư có rau cỏ mọc tươi tốt, nhưng thửa ruộng công thì cây cỏ dễ khô héo. Cũng vậy con bò tư thì to béo và nhiều sữa, nhưng con bò nhà nước thì gầy còm, chỉ nhỏ giọt sữa.
=> Một tình trạng làm nản cố gắng sản xuất nữa, đó là những người cố gắng sản xuất, sản phẩm không những chỉ được bao cấp đồng đều mà còn bị chính cán bộ đảng không chân lấm tay bùn, có quyền chia cho mình phần lớn hơn để tiêu xài phung phí. Giảm cố gắng vì thấy người ngồi mát ăn bát vàng tham nhũng, hối lộ.
=> Những sinh hoạt Kinh tế quốc gia Cung, Cầu được hoạch định bằng những Kế Hoạch Ngũ Niên không được chính xác vì những người làm Kế hoạch thiên về Chính trị hơn là chuyên môn Kinh tế và vì sự phù hợp giữa Cung và Cầu có tính cách sinh động cập nhật ngắn hạn chứ không cứng nhắc dài hạn.
Trở lại chủ trương hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường
Sự sụp đổ của Liên xô va các nước Cộng sản Đông Aâu vì lý do Dân chúng quá nghèo khổ là chứng minh hùng hồn cho sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền và Chỉ huy. Sụp đổ rồi, những nước này chọn hệ thống Kinh tế nào ?
Việc họ quay về hệ thống Kinh tế tự do và thị trường chứng thực một lần nữa cái uy thế phát triển Kinh tế của hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường trong việc giải quyết đời sống dân chúng. Hai điều quan trọng làm nền tảng cho hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường là quyền TƯ HỮU và CHÍNH TRỊ KHÔNG ĐƯỢC CAN THIỆP TRỰC TIẾP vào sinh hoạt Kinh tế. Đó là nền tảng phát triển Kinh tế thực sự và lâu bền.
Chúng tôi xin trích lại chính quan điểm của Karl MARX về chủ trương Hạ Tầng Cơ Sở Kinh tế là chính yếu. Trong PREFACE A LA CRITIQUE DE L’ECONOMIE POLITIQUE, Karl MARX viết: “Les rapports de procuction correspondent à un degré de développement des forces productives matérielles, cet ensemble forme la structure économique sur laquelle s’érige la superstructure juridique et politique qui détermine certaines conditions sociales.“ (Những tương quan sản xuất tương ứng với mức độ phát triển những lực lượng sản xuất vật chất, toàn bộ này tạo hệ thống kinh tế mà trên đó được xây dựng thượng tầng kiến thiết luật pháp và chính trị để định một số những điều kiện xã hội).
Câu nói của Marx phù hợp với hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường quan niệm rằng Chính trị chỉ được coi như Môi trường Chính trị-Luật pháp cho phù hợp (Environnement Politico-Juridique adéquat) với sinh hoạt Kinh tế. Như vậy, khi chọn hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, thì không thể lấy độc đoán Chính trị để trấn át, bó buộc Hạ Tầng cơ sở Kinh tế phải tuân theo được.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài 01:
NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Đây là bài QUAN ĐIỂM thứ nhất trong loạt bài Chủ đề PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH chủ trương việc đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế. Hiện nay, đảng CSVN, trước những Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh do việc đánh đĩ ấy tích luỹ đã hàng chục năm mà sinh ra, chỉ sơn phết qua loa hòng mỵ dân nhưng thực chất vẫn ngoan cố duy trì CƠ CHẾ ĐÁNH ĐĨ xưa. Một số nhà Kinh tế cố vấn cho CSVN thừa biết những hậu quả của việc đánh đĩ này, nhưng vì quyền lợi riêng tư hoặc sợ sệt, đã tránh né không dám nói ra sự thật, thậm chí còn trở thành nịnh thần thay vì làm cố vấn.
Trước sự ngoan cố của CSVN và trước việc nịnh thần của một số những Kinh tế gia được gọi là cố vấn, chúng tôi muốn viết loạt bài này về Kinh tế gửi đến cho Dân nghèo, những người phải chịu hậu quả trực tiếp của việc đánh đĩ bất chính. Vì viết nhằm gửi đến Dân nghèo, Nông dân và Công nhân, nên chúng tôi xử dụng cách diễn tả bình dân, lấy những tỉ dụ cụ thể để Dân nghèo hiểu về Kinh tế. Chúng tôi cần Dân nghèo hiểu rõ về những hậu quả Kinh tế mà họ đang gánh chịu do việc đánh đĩ này bởi vì trước sự ngoan cố của CSVN và trước sự nịnh thần của những Trí thức cố vấn Kinh tế cho chế độ, chỉ có LỰC LƯỢNG DÂN NGHÈO mới có thể làm đột biến vứt bỏ hẳn CƠ CHẾ chứ không trì hoãn lẻo mép cải cách, thoa bóp cơ chế mà tiếp tục đánh lừa nữa.
Bài QUAN ĐIỂM thứ nhất này mang đầu đề NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ được trình bầy qua những điểm sau đây:
=> Can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp của Chính trị => Tìm cách nuôi sống thân xác cá nhân: nền tảng xây dựng Kinh tế tự do => Nguyên tắc đòi hỏi bởi những ông tổ xây dựng nền Kinh tế Tự do và Thị trường => Không thể làm tréo cẳng ngỗng
Can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp của Chính trị
Với nền Kinh tế Tự do và Thị trường, Chính trị chỉ được coi là một Môi trường cho sự phát triển Kinh tế. Người làm Kinh tế nhìn thấy Môi trường thuận lợi mà quyết định cho sự làm ăn. Cái Môi trường Chính trị cũng giống những môi trường khác như Thiên nhiên, Khí hậu, Tập quán, Phong tục... Tỉ dụ: cách đây trên 10 năm, Tập đoàn CIBA-GEIZY của Thụy sĩ muốn trồng cây sản xuất thuốc tại Việt Nam. Loại cây đó có nguồn từ Ba-Tây và hợp với đất của những đồn điền cao xu ở vùng đất đỏ Miền Nam. Khi tôi đề nghị với Việt Nam, thì nhà nước CSVN nhất định yêu cầu phải trồng cây đó tại Miền Bắc vì muốn tập trung Kinh tế về Miền Bắc. CIBA-GEIZY đã bỏ cuộc. Khí hậu, đất đai là một môi trường thiên nhiên để người làm Kinh tế quyết định làm ăn.
Nền Kinh tế Tự do và Thị trường coi Chính trị-Luật pháp chỉ là Môi trường (Environnement Politico-Juridique). Vì vậy, không thể lấy Chính trị để quyết định cho những sinh hoạt Kinh tế. Yếu tố quyết định cho Kinh tế là Lợi nhuận tối đa, trong khi đó Chính trị nhằm chiếm đoạt và bảo vệ Quyền lực Cai trị.
Việc can thiệp của Quyền lực Chính trị vào quyết định đời sống Kinh tế của Tư nhân là điều phải tránh. Quyền lực Chính trị hãy giữ đúng chức năng của mình là tạo một Môi trường Chính tri-Luật pháp cho PHÙ HỢP (Environnement Politico-Juridique ADEQUAT) với một hệ thống Kinh tế mà Dân lựa chọn, nhằm nâng đỡ sự phát triển Kinh tế Tự do và Độc lập, chứ không nhằm bắt Kinh tế phải phục vụ cho Chính trị, nhất là Chính trị độc tài.
Một số nhà Kinh tế phân biệt việc can thiệp TRỰC TIẾP và việc can thiệp GIÁN TIẾP. Sự phân biệt này được đặt ra vì trào lưu lớn mạnh trước đây của ý tưởng Xã hội tại những nước Tây phương. Đối với những nhà Kinh tế Tự do và Thị trường chính thống thì bất cứ sự can thiệp nào của Chính trị cũng đều mang đến những tốn kém xã hội. Nhưng trước trào lưu lớn lên của ý tưởng Xã hội, những nhà Kinh tế ấy có thể chấp nhận cho Nhà Nước đưa ra những Chỉ đạo Kinh tế tổng quát (Directives économiques générales). Đứng về mặt Kinh tế tổng thể (Macroéconomie), thì những nhà Kinh tế chính thống coi Nhà Nước cũng giống như những tác nhân Kinh tế khác (Un des Agents (Acteurs) économiques), nghĩa là có những ảnh hưởng trên Cung và Cầu ở Thị trường. Nhà Nước có những Thu nhập và có những Chi tiêu như mọi tác nhân Kinh tế khác. Việc ảnh hưởng lên Kinh tế qua Cung và Cầu của Thị trường được coi như là việc can thiệp GIÁN TIẾP. Nhà Nước có thể ảnh hưởng vào Kinh tế qua những biện pháp thuế khóa hoặc qua những chi tiêu xây dựng.
Tóm lại, việc can thiệp TRỰC TIẾP của Chính trị vào Kinh tế là tối kỵ trong hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Tuy nhiên nền Kinh tế cũng cho phép Chính trị đưa ra những Chỉ đạo Kinh tế tổng quát (Directives économiques générales) và cho phép việc can thiệp GIÁN TIẾP như vừa trình bầy trên đây.
Tìm cách nuôi sống thân xác cá nhân: nền tảng xây dựng Kinh tế tự do
Tại sao những sinh hoạt Kinh tế thuộc hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường lại chủ trương cấm cản việc can thiệp TRỰC TIẾP của Chính trị vào Kinh tế như trên đã trình bầy ? Phần này và phần tiếp nối sau đây trả lời cho câu hỏi vừa nêu ra.
Mọi sinh vật, thú vật, con người, khi chào đời, thì việc trước tiên là phải ăn uống để bảo tồn thân xác mình và lớn lên. Không có ăn uống thì thân xác đó chết. Thú vật cũng như con người phải tự kiếm ăn cho chính mình. Đây là bắt đầu của nguyên tắc kiếm sống tự do và cá nhân. Cá nhân mang thân xác riêng và có trách nhiệm với thân xác ấy nếu muốn sống. Khi mới sinh ra, chưa có khả năng tự kiếm sống, thì có cha mẹ bao cấp. Con vật mới sinh ra chưa mở mắt, trẻ con mới chào đời đã phải mang bản năng tìm ra cái vú của mẹ để bú mà sống. Nhưng cha mẹ không thể bao cấp cho cuộc sống như vậy suốt đời của mình vì chính cha mẹ cũng già yếu đi không còn đủ khả năng làm việc để bao cấp. Ngoài cha mẹ ra, nói rằng Xã hội (người khác) có thể bao cấp nuôi sống thân xác mình suốt đời, đó là điều không tưởng. Mỗi con vật, mỗi người phải lo tự làm ăn kiếm sống với mồ hôi nhễ nhãi cá nhân mới mong nuôi sống thân xác mình, nhất là khi về già, bệnh tật.
Việc mỗi cá nhân tìm cách nuôi sống thân xác riêng của mình là nền tảng cho hệ thống sinh hoạt Kinh tế TỰ DO. Việc kiếm sống cá nhân đòi hỏi phải có PHƯƠNG TIỆN làm ăn. Ở đây, chúng ta đặt ra vấn đề TƯ HỮU những phương tiện kiếm sống. Mỗi con vật, tùy thức ăn phù hợp cho thân xác, mà biến hóa, tạo ra những phương tiện kiếm ăn riêng của mình. Đây là tư hữu tự nhiên. Con chim hút nhụy hoa, cần có mỏ dài. Con sư tử dạng chân ra đái để báo hiệu vùng đất săn thuộc tư hữu của mình. Người nông dân có tư hữu cái liềm để cắt cỏ; anh ngư phủ có tư hữu tấm lưới để bắt cá. Không thể tước đoạt những tư hữu PHƯƠNG TIỆN kiếm sống cá nhân.
TƯ HỮU là nền tảng phát sinh hệ thống Kinh tế Tự do. Thực vậy, TƯ HỮU là điều tự nhiên. Mà khi những phương tiện kiếm sống thuộc TƯ HỮU, thì hệ luận trực tiếp là phải có TỰ DO xử dụng phương tiện, nếu không tư hữu không còn ý nghĩa.
Mỗi cá nhân tự kiếm sống nuôi thân xác mình là điều tự nhiên và bó buộc. Phương tiện kiếm sống là tư hữu, cách thế kiếm sống là do cá nhân quyết định trong một Môi trường sống chung (Environnement Politico-Juridique) đòi hỏi phải có TỰ DO SINH HOẠT KINH TẾ cho mỗi cá nhân. Nguyên tắc TỰ DO SINH HOẠT KINH TẾ là một điều tự nhiên, chứ không đến từ một cấu trúc lý thuyết, từ một ý thức hệ nào. Một ý thức hệ, cấu trúc từ suy tư của đầu óc, để bó buộc sự tự nhiên từ bản năng thân xác, đó là một điều không thể chấp nhận.
Khi Quyền lực Chính trị, nhất là quyền độc tài của một nhóm người, nhân danh một ý thức hệ, can thiệp TRỰC TIẾP vào tư hữu và vào quyết định kiếm sống cá nhân, đó là điều không thể chấp nhận. Dùng quyền lực Chính trị độc tài, dành độc quyền quản trị Kinh kế dù trực tiếp hay gián tiếp qua những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước, mà không bao cấp cho cuộc sống thân xác cá nhân, đó là việc vi phạm vào bản năng tự nhiên kiếm sống của từng người. Một CƠ CHẾ như vậy đối với Kinh tế là một CƠ CHẾ VÔ LƯƠNG. Chúng tôi nói VÔ LƯƠNG bởi vì nếu cơ chế còn bao cấp, thì còn có lương tâm.
Nguyên tắc đòi hỏi bởi những ông tổ xây dựng nền Kinh tế Tự do và Thị trường
Từ nền tảng cá nhân buộc phải kiếm sống cho thân xác mình, từ bản năng tự nhiên TƯ HỮU phương tiện kiếm sống, từ hệ luận trực tiếp là TỰ DO xử sụng phương tiện và từ tính cách ĐỘC LẬP quyết định sinh hoạt Kinh tế của mỗi cá nhân, những ông tổ Lý thuyết gia đã xây dựng hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Nguyên tắc được các ông Tổ đó nhấn mạnh thiết yếu là KHÔNG ĐƯỢC CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ. Cái nguyên tắc thiết yếu này nhằm:
=> Bảo vệ sự TỰ DO và tính cách ĐỘC LẬP của cá nhân trong sinh hoạt Kinh tế kiếm sống cho chính thân xác của từng người (chứ không phải của ý niệm xã hội)
=> Phát huy sáng kiến kiếm sống cá nhân và đẩy mạnh hiệu năng sinh hoạt kinh tế
=> Tạo sự phát triển Kinh tế chung qua Thị trường Tự do trao đổi với sự cạnh tranh hiệu năng của những cá nhân tham dự Thị trường.
Từ nguyên tắc này, những Lý thuyết gia xây dựng hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường đã đồng nhất về vị trí của Nhà Nước chỉ là Trung Lập hay Cảnh Sát (Etat Neutre ou Etat Gendarme).
Qua những Thế hệ, những Lý thuyết gia sau đây giữ vững Nguyên tắc không cho Chính trị can thiệp TRỰC TIẾP vào Kinh tế:
1) Thế hệ những Nhà Kinh tế Cổ điển Anh (les Classiques Anglais). Đây cũng là những Ông Tổ sáng lập nền Kinh tế Tự do và Thị trường: Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL (Thế kỷ 17)
2) Thế hệ những Nhà Kinh tế Tân Cổ điển (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20):Alfred MARSHALL, PARETTO, WALRAS
3) Nhà Toán học và Kinh tế gia lừng danh KEYNES sau cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-1930. Ông tổ của Economie du Marche lấy phía Cầu (Demande) hướng dẫn phía Cung (Offre).
4) Thế hệ học trò của KEYNES, hậu Keynes (Post-keynesiens): Paul SAMUELSON (Giải Nobel Kinh tế 1970), FRIEDMANN. Đây là nhưng Giáo sư Kinh tế và Cố vấn cho Hoa kỳ. Họ dậy tại Trường Kinh tế Harvard.
Không thể làm tréo cẳng ngỗng
Cuộc Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh hiện nay tại Việt Nam chỉ là hậu quả của việc làm tréo cẳng ngỗng của đảng CSVN: (i) một đàng vì hậu quả Chính trị, Kinh tế Việt Nam trở thành quá đói nghèo, nên CSVN buộc lòng phải đổi mới, mở cửa, chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường; (ii) mặt khác CSVN vì cố thủ giữ quyền hành độc đoán và độc đảng, nên không dám để cho dân chúng tự do làm kinh tế, nghĩa là chủ trương đem Chính trị can thiệp trực tiếp vào Kinh tế. Cái tréo cẳng ngỗng là ở chỗ đó: chấp nhận một hệ thống Kinh tế mà lại vi phạm cái nguyên tắc nền tảng của chính hệ thống Kinh tế mà mình chấp nhận.
Nếu đám Lãnh đạo Chính trị đảng CSVN có ngu muội mà làm tréo cẳng ngỗng như vậy, thì tối thiểu những Tiến sĩ, Thạc sĩ được mời làm Cố vấn Kinh tế cho chế độ cũng phải biết rõ tính cách tréo cẳng ngỗng này. Chúng tôi không tin những Tiến sĩ, Thạc sĩ này không biết NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP TRỰC TIẾP CHÍNH TRỊ VÀO KINH TẾ bởi lẽ nếu họ không biết thì ngay từ năm thứ nhất của Phân khoa Kinh tế, họ đã bị trượt rồi. Chúng tôi rất buồn để nói ra việc biết mà tránh né để trở thành nịnh thần cho chế độ vì quyền lợi cá nhân. Nhưng chúng tôi còn buồn hơn nhiều khi nhìn 75% dân chúng Việt Nam nghèo khổ đang phải chịu hoạn nạn vì việc tréo cẳng ngỗng này.
Nhưng đã có những vị can đảm nói lên việc tréo cẳng ngỗng cách đây một thập niên, tỉ dụ nhà Toán học PHAN ĐÌNH DIỆU. Oâng đã thẳng thắn lý luận rằng “nếu không mở rộng thêm tự do chính trị và tư hữu hoá, thì những cuộc biểu tình của nông dân và các khó khăn kinh tế khác có thể sẽ gia tăng gấp bội“. Lý luận vào thời điểm 1997 mang tính cách tiên tri cho ngày nay đã khiến Oâng bị khai trừ khỏi đảng CSVN.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
| | | |
CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:
Bài MỞ ĐẦU:
CHO THUỐC CHỮA TRỊ ĐÚNG CĂN BỆNH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Liên quan đến Khủng Hoảng Kinh tế/Tài chánh, chúng tôi đã viết hai loạt bài Chủ đề sau đây:
=> Chủ đề: Sụp đổ Chế độ từ Khủng Hoảng Tài chánh
Viết từ 01.11.2007 gồm 12 Bài liên tiếp dựa vào những dữ kiện của cuộc Khủng Hoảng Tài chánh Á châu 1997 và vào những triệu chứng bấp bênh của phát triển Kinh tế tại những nước bắt đầu phát triển trong đó có Việt Nam.
=> Chủ đề: Dân diệt trừ căn bệnh Khủng Hoảng KT/TC
Viết từ 10.04.2008 gồm 10 Bài liên tiếp nhằm mục đích tìm căn nguyên của bệnh Khủng Hoảng KT/TC đã được công khai tuyên bố vào cuối tháng Hai, đầu tháng Ba năm 2008
Đây là loạt Bài Chủ đề thứ ba:
=> Chủ đề: Phải Dứt bỏ chứ không chỉ Cải cách CƠ CHẾ hiện hành
Viết từ ngày hôm nay, 24.07.2008. Căn bệnh chính yếu cho tình trạng Lạm phát, Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế hiện nay là CƠ CHẾ cho phép gắn liền Độc tài Chính trị với Độc quyền Kinh tế. Tìm ra căn bệnh chính yếu như vậy, chúng tôi chủ trương DỨT BỎ cái CƠ CHẾ ấy, chứ không thể chỉ CẢI CÁCH. Nếu chỉ cải cách, có nghĩa là vẫn giữ những điểm chính của CƠ CHẾ, thì con vi trùng tạo ra Khủng hoảng vẫn nằm đó và trong tương lai, bệnh Khủng hoảng lại tái diễn cũng như trong từng chục năm nay, con vi trùng đã làm bùng nổ Khủng Hoảng ngày nay.
PHÍA NHÀ NƯỚC CSVN TUYÊN TRUYỀN ĐỂ AN DÂN HAY CHỈ TÌM THUỐC THOA BÓP NGOÀI DA.
Nguyễn Tấn Dũng đã hốt hoảng trước những xuất hiện Khủng hoảng: Lạm phát vượt mức, Ngân Hàng nguy cơ phá sản, Nhập siêu làm thiếu hụt cán cân Thương Mại, Thị trường Chứng Khoán tụt dốc không phanh, Các Công ty Quốc doanh thua lỗ nặng mà Nhà Nước phải gồng mình bỏ công quỹ ra để cứu vớt.
Nguyễn Tấn Dũng, các trách nhiệm Bộ Sở, một số những chuyên viên Kinh tế của chế độ đã cố tình đổ lỗi cuộc Khủng Hoảng cho tình trạng chung của Thế Giới, nhất là của Hoa kỳ. Nhưng những chuyên viên Kinh tế/ Tài chánh Quốc tế thuộc World Bank, IMF, Ngân Hàng Phát Triển Á châu, Poor’s & Mood... đã cảnh báo Việt Nam rằng có những lý do chính thuộc riêng của Việt Nam.
Những biện pháp chữa chạy đã được nêu ra. Thậm chí Nguyễn Tấn Dũng còn đi hỏi chính Oâng Allen GREENPAN.
Việc đi tìm thuốc chữa này mang yếu tố tuyên truyền để an Dân hoặc chỉ là thoa bóp ngoài da mong cho êm phần nào con bệnh. Họ không thực tình chữa trị cái căn nguyên đích thực của bệnh bởi vì CSVN vẫn muốn duy trì cái CƠ CHẾ Độc tài Chính trị nắm lấy Độc quyền Kinh tế. Một số những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế cố vấn cho Nhà Nước, cũng vì địa vị và nồi cơm, đã trở thành nịnh thần, chứ không có can đảm nói lên sự thực của căn bệnh, mặc dầu họ biết rõ. Họ chỉ nằm ở phạm vi Cải Cách CƠ CHẾ mà thôi, nếu ai can đảm đề nghị.
KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VN: PHẢI CHỮA ĐÚNG CĂN BỆNH Ký giả ĐỖ HIẾU của Đài Á châu Tự do đã hai lần đặt câu hỏi cho chúng tôi về phương diện này. Lần đầu tiên Ký giả hỏi xem những biện pháp hiện nay của Nhà Nước có thể chữa trị được Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh hay không. Tôi đã trả lời rằng không thể chữa được nếu vẫn giữ CƠ CHẾ hiện nay.
Lần thứ hai, Thứ Tư 16.07.2008, Ký giả ĐỖ HIẾU gọi qua Điện thoại Di động, phỏng vấn chúng tôi với một câu hỏi duy nhất: "KINH TẾ VIỆT NAM BỊ BỆNH, PHẢI CHỮA TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?" Chúng tôi trả lời không cần phải suy nghĩ nhiều vì đây là sự xác tín của chúng tôi rồi.
Khi qua Hoa kỳ, Nguyễn Tấn Dũng đã xin gặp Ông Allen GREENSPAN, cựu Thống Đốc Ngân Hàng Trung ương Mỹ, về những biện pháp chữa trị lạm phát. Thực ra việc gặp hỏi này chỉ là tuyên truyền. Nguyễn Tấn Dũng cũng như mọi người đều biết căn nguyên của Bệnh và biết phải chữa trị như thế nào, nhưng lẩn tránh không nói ra sự thực mà thôi. Nguyễn Tấn Dũng cũng vừa tuyên bố quyết định mời gọi những chuyên gia Kinh tế/Tài chánh nước ngoài cố vấn cho những vấn đề Kinh tế/Tài chánh VN, ngay cả cho các Công ty quốc doanh. Diễn Đàn VnEXPRESS tuần này viết lên đầu đề lớn: "Kinh tế VN như người ốm cần kê đúng đơn thuốc".
Trong khung cảnh nhà cầm quyền Việt Nam đi tìm danh y chữa bệnh như tuyên truyền, chúng tôi đã trả lời câu hỏi của Ký giả ĐỖ HIẾU một cách vắn gọn với hình ảnh bình dân cho dễ hiểu như sau:
Muốn chữa bệnh, phải nói đúng căn bệnh là gì. Nếu không thì cho toa thuốc trật lấc. Ai cũng biết cái căn bệnh đích thực, nhưng ngại nói toạc móng heo ra cái căn bệnh ấy vì ngại sợ con bệnh (CSVN) mắc cỡ cho bệnh. Riêng tôi, tôi xin nói toặc móng heo ra rằng đó là bệnh TIÊM LA CÙ ĐINH do việc đánh đĩ giữa ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Hai thứ đó cộng chung, đánh đĩ với nhau "thiếu vệ sinh" mà nảy sinh ra trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, bệnh Tiêm La Cù Đinh. Đây không phải là ngứa ngáy ngoài da, chỉ cần thoa dầu cù là. Cái bệnh Tiêm La Cù Đinh này đã ăn ngầm từ hàng chục năm nay, bây giờ chịu không nổi, nên phát hiện. Nếu chỉ thoa dầu cù là như để dịu ngứa ngáy mà không dứt điểm chữa trị, thì bệnh Tiêm La Cù Đinh vẫn tiếp tục ăn ruỗng thân xác Kinh tế/Tài chánh Việt Nam trong tương lai nữa.
Căn bệnh này thuộc CƠ CHẾ, đó là cho phép ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ đánh đĩ "thiếu vệ sinh" với ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Tham nhũng, Lãng phí ở đây không phải là từ luân lý cá nhân, nhưng thuộc vào CƠ CHẾ cho phép đánh đĩ giữa hai quyền lực.
Ông Allen GREENSPAN biết cái căn bệnh CƠ CHẾ đánh đĩ này, nhưng tế nhị không nói huỵch toẹt ra vì sợ CSVN xấu hổ. Những cố vấn Kinh tế/Tài chánh ở Việt Nam cũng biết rõ rệt cái căn bệnh CƠ CHẾ này, nhưng trước cường quyền và nghĩ đến nồi cơm, nên tránh né không nói huỵch toẹt ra, dễ trở nịnh thần thay vì là cố vấn.
Biết đích thực căn bệnh Tiêm La Cù Đinh như vậy, thì Toa Thuốc đầu tiên để chữa trị là phải TÁCH RỜI hai lãnh vực ra, đừng để chúng ăn nằm đánh đĩ "thiếu vệ sinh" với nhau. Dứt điểm không thể để ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ ngủ chung với ĐỘC QUYỀN KINH TẾ.
Việc tách rời này là Toa Thuốc cơ bản tiên khởi. Sau khi tách rời rồi, chúng ta mới thêm những thứ thuốc phục sức cho Kinh tế lành mạnh và Chính trị lành mạnh.
Tôi đã đưa ra hai tỉ dụ: 1) Một Thánh nhân từ trời xuống, nếu nhốt chung phòng tối tăm với mỹ nhân, thì Thánh nhân và Mỹ nhân trước sau cũng tò tò sán lại thiếu vệ sinh, thiếu ngay thẳng.
2) Chính tôi, Nguyễn Phúc Liên, nếu ngồi bên cạnh đống vàng, cũng dễ tìm cách lượm ít thỏi vàng bỏ túi riêng mình, nhất nữa khi ngồi bên đống vàng mà tôi lại có toàn quyền chính tri. Tôi biển thủ vàng bỏ vào túi riêng. Nếu ai mở miệng phản đối, thì tôi dùng toàn quyền chính trị để khoá miệng hoặc bỏ tù người đó. Việc biển thủ này không phải là vấn đề luân lý của Nguyễn Phúc Liên, mà là cái CƠ CHẾ cho Nguyễn Phúc Liên có hai quyền lực cùng một lúc.
Sự xác tín về căn nguyên chính yếu cho căn bệnh không phải là xác tín có tính cách cá nhân. Đây là sự xác tín đi từ một NGUYÊN TẮC của hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường đã được luôn luôn đòi hỏi bởi những Thế hệ Kinh tế gia lừng danh: 1) Thế hệ những Nhà Kinh tế Cổ điển Anh (les Classiques Anglais). Đây cũng là những Ông Tổ sáng lập nền Kinh tế Tự do và Thị trường: Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL (Thế kỷ 17)
2) Thế hệ những Nhà Kinh tế Tân Cổ điển (cuối Thế kỷ 19-đdầu Thế kỷ 20):Alfred MARSHALL, PARETTO, WALRAS
3) Nhà Toán học và Kinh tế gia lừng danh KEYNES sau cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-1930. Ông tổ của Economie du Marche lấy phía Cầu (Demande) hướng dẫn phía Cung (Offre).
4) Thế hệ học trò của KEYNES, hậu Keynes (Post-keynesiens): Paul SAMUELSON (Giải Nobel Kinh tế 1970), FRIEDMANN. Đây là nhưng Giáo sư Kinh tế và Cố vấn cho Hoa kỳ. Họ dậy tại Trường Kinh tế Harvard.
Thế mà những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế Cố vấn cho Việt Nam không nhắc gì đến căn bệnh ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm lấy ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Họ có phải là Cố vấn để nói lên sự thật hay không, hay chỉ là những Nịnh thần. Việc nịnh thần này mang hậu quả đến 75% dân số Việt Nam phải đau khổ vì Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh.
Nếu những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế này không biết đến nguyên tắc mà các Thế hệ Kinh tế gia lừng danh luôn luôn chủ trương, thì những những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế Cố vấn này bị rớt Đại học Kinh tế ngay từ năm Thứ Nhất của của Phân khoa Kinh tế.
KHAI TRIỂN CHỦ ĐỀ
Chúng tôi lần lượt khai triển Chủ đề với những Bài sau đây:
Bài 01: Nguyên tắc không can thiệp trực tiếp Chính trị vào Kinh tế Bài 02: Sự thất bại của hệ thống Kinh tế Trung ương Tập quyền Chỉ huy và Bao cấp Bài 03: Kinh tế Tự do và Thị trường định hướng XHCN chỉ là bịp bợm vô lương Bài 04: Tham nhũng Lãng phí là hậu quả của việc đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế. Bài 05: Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) của một Nhà Nước độc tài Bài 06: Sự yếu kém Năng suất (Faible Productivité) của những Công ty Quốc doanh Bài 07: Tất cả mọi can thiệp Nhà Nước (interventions Etatiques) làm phát sinh Đầu cơ, Chợ đen và Chi phí tốn kém Xã hội Bài 08: Năng suất cao (Productivité élevée) của nền Kinh tế Tư doanh Bài 09: Thị trường là Yếu tố Điều Hợp của nền Kinh tế (Marché, Facteur régularisateur de l’Economie) Bài 10: Chính trị và Luật pháp chỉ là Môi trường cho Phát triển Kinh tế (Environnement Politico-Juridique adéquat) Bài 11: Yêu cầu những Biện pháp cụ thể tiến đến Dứt bỏ CƠ CHẾ hiện hành Bài 12: Dân chủ hóa Kinh tế dẫn đến Dân chủ hóa Chính trị (Démocratisation Economique ==> Démocratisation Politique)
Cái căn bản lý luận liên tục của 12 bài này là như sau:
1) Chúng tôi trình bầy đầu tiên cái NGUYÊN TẮC tách rời quyền lực Chính trị ra khỏi lãnh vực hoạt động Kinh tế trong một hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Nguyên tắc này đã được đặt ra bởi những Nhà Kinh tế quốc tế thuộc nhiều thế hệ trước đây. Những lý do đòi hỏi việc tách rời này là: một đàng tránh cho quyền lực Chính trị (nhất là độc tài) lạm dụng Kinh tế để thủ lợi; một đàng tư doanh mới thiết thân đến tiền bạc của mình (không phải tiền chùa) để căn cơ chi tiêu, đồng thời đêm ngày cố gắng đạt được lợi nhuận tối đa.
2) Tiếp đến, chúng tôi lấy tỉ dụ sự thất bại toàn diện của hệ thống Kinh tế Tập quyền Chỉ huy của Khối Cộng sản. Sự thất bại này đã đưa đến sụp đổ Khối Cộng sản Nga và Đông Aâu. Một số nước, vì tình trạng đói nghèo của Dân chúng, buộc phải hội nhập hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, tuy nhiên vẫn còn bấu víu lấy Chính trị độc tài Cộng sản, nên phải thêm cái đuôi tuyên truyền định hướng XHCN để làm cuộc đánh đĩ giữa ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Cuộc Khủng Hoảng Kinh tế hiện nay tại Việt Nam là hậu quả của việc đánh đĩ này, nghĩa là họ không tôn trọng NGUYÊN TẮC tách rời hai lạnh vực mà các Kinh tế gia quốc tế đã đòi hỏi.
3) Từ NGUYÊN TẮC tách rời hai lãnh vực và từ nhưng tỉ dụ việc vi phạm nguyên tắc với hậu quả tàn phá Kinh tế, chúng tôi đi vào cắt nghĩa những chi tiết về năng suất sản suất, về quản trị tài chánh, tiền tệ dẫn đến Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh mà cụ thể là Kinh tế VN hiện nay.
4) Từ những căn bản lý luận và nhận định thực tế trên đây, cái hệ luận trực tiếp rút ra là PHẢI DỨT KHOÁT TÁCH RỜI ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ RA KHỎI ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Khủng hoảng Kinh tế hiện nay tại Việt Nam là do việc gắn liền hai quyền lực này tích lũy đã nhiều chục năm. Nếu không dứt khoát tách rời hai lãnh vực, mà chỉ đưa ra những biện pháp tuyên truyền mỵ dân, thì nền Kinh tế vẫn bệnh hoạn trong tương lai.
5) Chúng tôi thêm bài cuối cùng về tương quan giữa nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự với nguyên tắc DÂN CHỦ cho Chính trị. Nhìn tỉ dụ Hoa kỳ và Thụy sĩ, hai quốc gia có nền Chính trị Dân chủ cao. Dân chúng hai quốc gia này khởi đầu bằng việc tìm tòi kiếm sống cho cá nhân. Ý thức Kinh tế cá nhân phát triển trước ý thức Chính trị tập thể. Tổ chức Chính trị và Luật pháp (Environnement Politico-Juridique adequat) chỉ là bảo đảm cho sự phát triển Kinh tế cá nhân. Dân chủ Kinh tế đưa đến Dân chủ Chính trị.
ĐỀ NGHỊ ĐỐI THOẠI KINH TẾ VỚI NHỮNG CHUYÊN GIA KINH TẾ NHÀ NƯỚC CSVN
Theo rõi những phát biểu nhận định của những Chuyên viên Kinh tế về cuộc Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay tại Việt Nam, chúng tôi có những cái nhìn như sau:
1) Những Chuyên gia Kinh tế hiện nay, cả trong nước lẫn ngoài nước, đều được học hỏi trong hệ thống của nền Kinh tế Tự do và Thị trường. Những Chuyên gia ấy không thể không biết những NGUYÊN TẮC căn bản nền tảng cho nền Kinh tế. Đây là cái mẫu số chung để việc đối thoại đi đến chấp nhận những gì phải thực hiện hữu ích cho việc Phát triển Kinh tế Việt Nam. Sự khác biệt trong khi phát biểu chỉ là do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của Chính trị mà thôi. Chúng ta không đối thoại Chính trị với CSVN vì họ nhất thiết chủ trương độc tài, nhưng chúng ta đối thoại Kinh tế với những Chuyên gia Kinh tế dựa trên những NGUYÊN TẮC Kinh tế có tính cách Khoa học.
2) Một số những Chuyên gia Kinh tế hiện góp ý cho Nhà Nước CSVN như Tiến sĩ NGUYỄN QUANG A, Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH... chắc chắn biết sự thật của căn bệnh Khủng Hoảng hiện nay, nhưng vì hoàn cảnh ở Việt Nam, nên chưa nói hết sự thực.
3) Những Chuyên gia hoặc Bình luận gia viết về cuộc Khủng Hoảng như Oâng NGÔ NHÂN DỤNG, Oâng LÝ ĐẠI NGUYÊN, Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG, Kinh tế gia NGUYỄN XUÂN NGHĨA... không ngần ngại đi thẳng vào căn nguyên thực của bệnh Khủng Hoảng. Chúng tôi xin mạo muội liên lạc với những Chuyên gia hoặc Bình luận gia đã thẳng thắn nói sự thật thuộc CƠ CHẾ hiện hành với chủ trương phải hủy bỏ CƠ CHẾ để chữa trị dứt điểm và lâu dài cho bệnh Khủng hoảng của Kinh tế Việt Nam. Việc liên lạc này nhằm hai mục đích:
=> Tiến tới một ỦY BAN TƯ VẤN KINH TẾ ĐỘC LẬP không bị ảnh hưởng Chính trị, mà chỉ vì những những nguyên tắc thuần túy Kinh để yêu cầu những biện pháp thi hành.
=> Sẵn sàng ĐỐI THOẠI với những Chuyên gia Kinh tế Cố vấn cho Nhà Nước CSVN. Mẫu số chung đã có. Cuộc đối thoại nhằm cổ võ những Chuyên gia thoát ra tầm ảnh hưởng của Chính trị để nói lên sự thật nhân danh sự Phát triển Kinh tế bền vững cho Quê Hương Việt Nam.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
Chú thích 01 cho Bài MỞ ĐẦU:
DÂN NGHÈO BUỘC LÒNG PHẢI ĐỨNG LÊN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Tuần vừa rồi, khi viết Bài MỞ ĐẦU giới thiệu cho loạt Bài CHỦ ĐỀ, chúng tôi nhận được một số những ý kiến xây dựng: Oâng CU DAI LONG và Oâng TRAN TU. Đây là những ý kiến mà khi bắt đầu viết những bài trong Chu đề, chúng tôi phải lưu tâm nghĩ đến. Oâng CU DAI LONG góp nhiều ý kiến căn bản trong việc chấm dứt CƠ CHẾ CSVN hiện nay, đặc biệt Oâng lưu ý đến PNB; Oâng TRAN TU lưu ý chúng tôi về ý chí chấm dứt CHẾ ĐỘ CSVN đã có từ lâu rồi.
Chúng tôi xin đăng lại đây những hồi âm vắn gọn đã gửi đến hai Oâng. Việc hồi âm vắn gọn này được coi như chú thích cho Bài MỞ ĐẦU, làm sáng tỏ thêm sự xác tín của chúng tôi vào việc chấm dứt CƠ CHẾ đến như một ĐỊNH MỆNH từ cuộc Khủng Hoảng Kinh tế/Tài chánh đang diễn ra tại Việt Nam.
=> Trọng kính Ông CU DAI LONG (cudailong@yahoo.com)
Tôi xin ghi nhận ý kiến của Ông và chân thành cảm ơn Ông.
Tôi không tin lực lượng nước ngoài có thể lật lại CƠ CHẾ hiện nay. Tôi chỉ tin ở LỰC LƯỢNG DÂN NGHÈO QUỐC NỘI đứng lên đòi miếng ăn cho dạ dầy (Quyền DẠ DẦY, Stomach Right) của chính họ. Tôi cũng ít tin vào lực lượng Trí thức Dân chủ trừu tươ.ng.
Khi Ông nói đến PNB, thì đó cũng là ý kiến của tôi. Dân Nghèo không đấu tranh cho PNB được phân phối hữu lý đến nỗi họ phải chịu đói khổ, mà họ không đứng lên đòi hỏi, thì CSVN vẫn đè đầu bóp họng họ, thì họ ráng mà chịu nhục và đoi. Chúng ta ở nước ngoài cũng khó lòng trợ lực.
Trọng kính Ông, Nguyễn Phúc Liên
=> Trọng kính Ông TU TRAN (trantu60@yahoo.com ),
Tôi rời Việt Nam năm 1965, rồi học, dậy học và về hưu tại Thụy sĩ này.
Từ năm 1975, tôi tham dự, hoạt động với những Phong trào nhằm lật đổ CSVN. Tôi có ít nhận định sau đây:
1) Từ nước ngoài, không thể mang Cách Mạng về giải phóng Quê Hương bằng quân sự; 2) Đã có những Phong trào thành lập Chính phủ lưu vong lưu bị cho đẹp ở những xa lông; 3) Đã có những vận động các Chính phủ nước ngoài để mong họ lật đổ dùm CSVN, nhưng than ôi, họ hứa cho đẹp, nhưng họ tính toán quyền lợi Kinh tế, Quốc phòng cho nước họ. 4) Tôi chỉ tin tưởng ở LỰC LƯỢNG QUỐC NỘI lật đổ CSVN để cứu lấy chính mình. Tuy nhiên, tôi ít tin ở Phong trào Trí thức Dân chủ, Nhân quyền trừu tưựng. Tôi chỉ tin và xác tín vào khả năng của một lực lượng duy nhất, đó là LỰC LƯỢNG DÂN NGHÈO, gồm 75% dân số, đứng lên lật đổ CSVN để có miếng ăn cho chính bụng đói của mình: quyền DẠ DẦY (Stmach Right) chứ không phãi Nhân quyền trừu tươ.ng.
Cuộc Khủng Hoảng Kinh tế hiện nay chính là lúc Lực Lượng Dân Nghèo đứng lên. Nếu họ không đứng lên đòi miếng ăn cho chính mình, thì chúng ta khó lòng trợ lực họ.
Trọng kính Ông, Nguyễn Phúc Liên
Điều mà chúng tôi nhắc lại trong hai hồi âm trên đây, đó là việc DÂN NGHÈO đứng lên đấu tranh cho chính DẠ DẦY rỗng của họ. Chính họ phải thiết thân đến họ trước những người khác. Nếu không, họ vẫn chịu cảnh CSVN khai thác bóc lột họ mà họ không nên than vãn kêu gọi sự bố thí, thương hại của người khác.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
Chú thích 02 cho Bài MỞ ĐẦU:
ĐỐI THOẠI KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Trong bài MỞ ĐẦU, chúng tôi đề nghị ĐỐI THOẠI KINH TẾ để tìm ra những điểm hữu ích cho việc phát triển Kinh tế Việt Nam trong bền vững và đồng đều mà Dân Nghèo đang trông đợi. Chúng tôi không ĐỐI THOẠI CHÍNH TRỊ với CSVN vì đây là bọn cối chầy, mặt dầy mày dạn đã bao chục năm rồi. Chúng chỉ tìm đối thọi, vu khống chính trị, chứ không bao giờ có thiện chí đối thoại. ĐỐI THOẠI KINH TẾ có thể làm được vì những Nhà Kinh tế, dù thuộc đảng CSVN, nhưng vẩn phải biết những nguyên tắc căn bản làm nền tảng cho một hệ thống Kinh tế. Khi đã lựa chọn một hệ thống, thì phải chấp nhận những nguyên tắc ấy chứ không thể cối chầy được.
CĂN BẢN LÝ LUẬN CỦA 12 BÀI CHỦ ĐỀ
Chính lẽ hôm nay, chúng tôi bắt đầu viết Bài 01 trong loạt 12 bài. Nhưng có hai lý do để chúng tôi chưa bắt đầu: lý do thứ nhất là tính cách liên tục của lý luận tiếp nối của 12 bài mà chúng tôi không muốn có sự dán đoạn lâu; lý do thứ hai làtrong tháng Tám mùa hè này, chúng tôi ngưng 2 tuần sau số báo này để đi vắng xa không thể viết, nên có sự dán đoạn.
Cái căn bản lý luận liên tục của 12 bài này là như sau:
1) Chúng tôi trình bầy đầu tiên cái NGUYÊN TẮC tách rời quyền lực Chính trị ra khỏi lãnh vực hoạt động Kinh tế trong một hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường. Nguyên tắc này đã được đặt ra bởi những Nhà Kinh tế quốc tế thuộc nhiều thế hệ trước đây. Những lý do đòi hỏi việc tách rời này là: một đàng tránh cho quyền lực Chính trị (nhất là độc tài) lạm dụng Kinh tế để thủ lợi; một đàng tư doanh mới thiết thân đến tiền bạc của mình (không phải tiền chùa) để căn cơ chi tiêu, đồng thời đêm ngày cố gắng đạt được lợi nhuận tối đa.
2) Tiếp đến, chúng tôi lấy tỉ dụ sự thất bại toàn diện của hệ thống Kinh tế Tập quyền Chỉ huy của Khối Cộng sản. Sự thất bại này đã đưa đến sụp đổ Khối Cộng sản Nga và Đông Aâu. Một số nước, vì tình trạng đói nghèo của Dân chúng, buộc phải hội nhập hệ thống Kinh tế Tự do và Thị trường, tuy nhiên vẫn còn bấu víu lấy Chính trị độc tài Cộng sản, nên phải thêm cái đuôi tuyên truyền định hướng XHCN để làm cuộc đánh đĩ giữa ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Cuộc Khủng Hoảng Kinh tế hiện nay tại Việt Nam là hậu quả của việc đánh đĩ này, nghĩa là họ không tôn trọng NGUYÊN TẮC tách rời hai lạnh vực mà các Kinh tế gia quốc tế đã đòi hỏi.
3) Từ NGUYÊN TẮC tách rời hai lãnh vực và từ nhưng tỉ dụ việc vi phạm nguyên tắc với hậu quả tàn phá Kinh tế, chúng tôi đi vào cắt nghĩa những chi tiết về năng suất sản suất, về quản trị tài chánh, tiền tệ dẫn đến Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh mà cụ thể là Kinh tế VN hiện nay.
4) Từ những căn bản lý luận và nhận định thực tế trên đây, cái hệ luận trực tiếp rút ra là PHẢI DỨT KHOÁT TÁCH RỜI ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ RA KHỎI ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Khủng hoảng Kinh tế hiện nay tại Việt Nam là do việc gắn liền hai quyền lực này tích lũy đã nhiều chục năm. Nếu không dứt khoát tách rời hai lãnh vực, mà chỉ đưa ra những biện pháp tuyên truyền mỵ dân, thì nền Kinh tế vẫn bệnh hoạn trong tương lai.
5) Chúng tôi thêm bài cuối cùng về tương quan giữa nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự với nguyên tắc DÂN CHỦ cho Chính trị. Nhìn tỉ dụ Hoa kỳ và Thụy sĩ, hai quốc gia có nền Chính trị Dân chủ cao. Dân chúng hai quốc gia này khởi đầu bằng việc tìm tòi kiếm sống cho cá nhân. Ý thức Kinh tế cá nhân phát triển trước ý thức Chính trị tập thể. Tổ chức Chính trị và Luật pháp (Environnement Politico-Juridique adequat) chỉ là bảo đảm cho sự phát triển Kinh tế cá nhân. Dân chủ Kinh tế đưa đến Dân chủ Chính trị.
ĐỐI THOẠI KINH TẾ: TỈ DỤ VỚI TS LÊ ĐĂNG DOANH
Chúng tôi sẵn sàng đối thoại về Kinh tế dựa trên căn bản lý luận của loạt bài Chủ đề vửa tóm lược trên đây. Thành thực mà nói, NGUYÊN TẮC tách rời hai Lãnh vực Kinh tế, Chính trị mang tính cách hiển nhiên. Việc đối thoại như mang tính cách cùng nhau nói lên một sự thực.
Chúng tôi đọc lời phát biểu của Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH trả lời cho Phóng viên NAM NGUYÊN của đài Á châu Tự do. Tiến sĩ nói giới tư doanh Việt Nam sẽ phá sản từng loạt, nhưng lại thêm rằng đây là sự tàn phá sáng tạo (creative destruction) theo Kinh tế gia Hoa kỳ gốc Aùo Joseph Alois SCHUMPETER. Sự tàn phá sáng tạo này là tại Hoa kỳ chứ không thể áp dụng cho Việt Nam, nơi mà ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ nắm chặt lấy ĐỘC QUYỀN KINH TẾ, đè bẹp sáng tạo TƯ DOANH, thì làm thế nào mà có ’creative destruction’. Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH phải yêu cầu CSVN đừng trói buộc Kinh tế Tư doanh nữa.
Chúng tôi rất mong đối thoại với Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH về điểm này.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC IÊN, Kinh tế
| | | |
| ===============================================================
| |
CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:
Bài 11:
HỐT ĐỐNG PHÂN CƠ CHẾ CSVN ĐỂ GIÒI BỌ THAM NHŨNG LÃNG PHÍ HẾT CHỖ SỐNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Nhân chuyến thăm Hoa Kỳ từ 23/6-26/6, tờ báo kinh tế hàng đầu Wall Street Journal đã có bài nói về kinh tế Việt Nam. Trong bài này, chúng tôi lưu ý đến những điểm được báo nhắc ra như sau:
1) Nguyễn Tấn Dũng long trọng xác nhận rằng phải cải tổ các tập đoàn nhà nước, vốn là nguyên nhân chính gây nên sự thay đổi bất ngờ, đưa Việt Nam từ chỗ một nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á đi vào khủng hoảng vì lạm phát: “ Tái tổ chức và cải tổ các doanh nghiệp nhà nước là một trong các nhiệm vụ hàng đầu để củng cố nền kinh tế"
2) Ông Dũng từng tuyên bố là một trong những chính sách phát triển trọng yếu của Việt Nam là củng cố các doanh nghiệp thuộc nhà nước “để họ trở thành trụ cột của nền kinh tế”. Những người từng cố vấn cho ông Dũng nói rằng chính sách đó chịu ảnh hưởng từ Hàn Quốc, nơi các tập đoàn chaebol mở rộng khắp quốc gia này.
Nguyễn Tấn Dũng và những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế cố vấn đã dựa trên kinh nghiệm của Nam Hàn để dồn vốn cho các Tổng Công ty, Công ty nhà nước. Đây rõ rệt là độc quyền Kinh tế. Rồi cũng chính Nguyễn Tấn Dũng và các Tiến sĩ, Thạc sĩ cố vấn lại xác nhận cuộc Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay là do các Tổng Công ty và Công ty quốc doanh. Cái khác biệt của Nam Hàn và Việt Nam là ở chỗ này: Nam Hàn không có ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ (tối thiểu có Tự do Báo chí), trong khi ấy Việt Nam lấy kinh nghiệm Nam Hàn về ĐỘC QUYỀN KINH TẾ nhà nước cộng chung (đánh đĩ) với ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ, nên giòi bọ THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ thả cửa sinh ra. Nếu còn cái CƠ CHẾ cộng chung ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ với ĐỘC QUYỀN KINH TẾ nhà nước, thì Nguyễn Tấn Dũng không thể nào cải tổ được các Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước bởi vì đống phân CƠ CHẾ còn đó, thì giòi bọ THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ vẫn sinh ra. Phải HỐT ĐỐNG PHÂN CƠ CHẾ vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:
Bài 10:
LỰC LƯỢNG DÂN NGHÈO: ĐỊNH MỆNH TỰ GIẢI THỂ CƠ CHẾ CSVN
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Bài QUAN ĐIỂM tuần trước, VietTUDAN số 359/12.06.2008, kêu gọi việc hợp sức với Lực Lượng Dân Nghèo đứng lên lật đổ CƠ CHẾ CSVN để cứu chữa cho Khủng hoảng Kinh tế hiện hành và xây dựng phát triển bền vững cho tương lai. Với bài QUAN ĐIỂM tuần này, chúng tôi nhìn Lực Lượng Dân Nghèo như một định mệnh nội tại tự hủy diệt CƠ CHẾ CSVN.
Việc tự giải thể của CƠ CHẾ Cộng sản xẩy ra như Định mệnh
Chúng tôi lược tóm lý do chính yếu của việc tự giải thể của những chế độ Cộng sản Liên xô, các nước Đông Aâu và thử nhìn con đường đang dẫn đến việc tự giải thể của chế độ Cộng sản Việt-Nam.
=> Chúng tôi gọi là tự giải thể có nghĩa rằng từ trong lòng chế độ, gồm Đảng, Nhà Nước và khối Dân đang bị khống chế, phát sinh một động lực nổ bùng ra phá tan chế độ (Implosion). Thực vậy, không có hiện tượng một lực lượng ngoại tại đối diện đánh vào để dẹp chế độ. Chúng ta chỉ ghi nhận hai trường hợp mà lực lượng ngoại tại đập tan Cộng sản khi mà những người này đang ở giai đoạn tiến đến chiếm chính quyền để thiết lập chính thức chế độ chuyên chế của họ, nghĩa là ở lúc mà Cộng sảng chưa chiếm trọn quyền hành. Đó là trường hợp của Nam Dương và của Chí Lợi. Soekarno tại Nam Dương đã thẳng tay trừng trị Cộng sản khi cái đầu của nó mới đập vỡ vỏ trứng và định chui ra hoành hành. Pinochet tại Chí Lợi đã cứng rắn diệt Allende và đồng bọn khi đám này muốn đặt chế độ Cộng sản tại nước này. Ngoài hai trường hợp ấy, các chế độ Cộng sản khi đã được thiết lập, dù coi là vững chắc, sau một thời gian đã dần dần đi đến tự giải thể vì cái Định mệnh Chính trị—Kinh tế (Fatalité Politico-Economique).
=> Cái động lực cơ bản đưa đến việc tự giải thể, đó là việc không thể giải quyết vấn đề Kinh tế cho Dân hoặc Dân hết tin vào Kinh tế Nhà Nước mà phải tự động quyết định tìm kiếm miếng ăn. Động lực ấy là cái quyền Dạ dầy (Stomach Right) của Dân. Người ta sống không phải chỉ nguyên vì cơm gạo, nhưng không có cơm gạo, thì người ta chết và hết sống để nghĩ đến những quyền khác. Cộng sản đã dùng Kinh tế để phục vụ Chính trị đảng phái hoặc đổ vào túi riêng, nên dân đói và chết. Bụng đói và trước khi chết, thì Dân khùng lên, đạp tan những cùm kẹp chính trị của Đảng.
Trung Cộng và Việt Cộng nhìn rõ cái tàn nhẫn của Định mệnh Chính trị—Kinh tế ấy, buộc lòng phải đổi mới, mở cửa, nhưng vẫn muốn giữ những từ như ’’định hướng XHCN’’,’’đang quá độ tiến lên XHCN’’... Đó là những xảo ngữ. Hai nước này phải tìm giải quyết quyền Dạ dầy ở con đường Kinh tế Tự do và Thị trường. Không tìm con đường này, cái Định mệnh Chính trị—Kinh tế cũ sẽ đập tan chế độ của họ tức khắc như ở Nga và Đông Aâu. Nhưng với chủ trương độc tài Chính trị, họ nắm luôn độc quyền Kinh tế. Việc thâu tóm hai cái quyền này trong tay tất nhiên làm phát sinh THAM NHŨNG và LÃNG PHÍ. Kinh tế Tự do và Thị trường như một giải quyết, nhưng đã trở thành một cơ hội để đảng thủ lợi, để những cá nhân thuộc đảng vơ vét. Đó là nền Kinh tế Mafia gia đình, phe nhóm. Cái CƠ CHẾ đã không giải quyết được Kinh tế cho Dân. Lực Lượng DÂN NGHÈO trong chế độ Cộng sản hay trá hình “định hướng XHCN“ tự phát sinh trong lòng CƠ CHẾ và cuộc đấu tranh xẩy ra dành quyền sống là một Định Mệnh tự giải thể của chính CƠ CHẾ. Tóm tắt lại một cách đơn giản: Dân bị cùm kẹp trong chế độ Cộng sản hay trá hình định hướng XHCN, trước khi chết đói, thì bùng dậy đập tan chế độ. Đó là Định mệnh Chính trị--Kinh tê (Fatalité Politico-Economique).
Tỉ dụ tự giải thể vĩ đại của Cộng sản Liên Xô và Đông Âu Lý do chính yếu của việc tự giải thể này là vấn đề quyền dạ dầy (stomach right). Thực vậy, cuộc ’’Cách Mạng vô sản Cộng sản’’ chỉ lả việc dùng một lời hứa’’Thiên đàng Cộng sản’’ để lừa Dân đang lầm than vào cuộc đấu tranh giai cấp giết người tàn bạo mà mục đích là chiếm độc quyền quyền thống trị cho nhóm Hội kín ăn cướp quyền hành cho mình của Lénine. Mục đích của nhóm này là Chính trị. Nhưng ngưỡng vọng của Dân chúng lầm than là cái quyền dạ dầy, nghĩa là bụng không đói. Ý thức hệ Cộng sản đưa đến đích điểm là’’Thiên đàng Trần thế’’. Nhưng Dân chúng chờ hoài và cảm thấy rằng Thiên đàng ấy chỉ là lời hứa ảo tưởng (Promesse utopique), trong khi ấy dạ dầy mỗi người Dân cần phải có gì cho vào. Không thực hiện được lời hứa đối với Dân, thì chế độ Cộng sản dùng những chiêu bài tinh thần như ’’Aønh hùng sản xuất! Chiến sĩ lao động! Mẹ Cách Mạng! ...’’. Nhưng khi bụng đói, thì những chiêu bài ấy không đủ sức đẩy Dân tuân theo chỉ thị Chính trị của Đảng Cộng sản. Đảng không dùng chiêu bài cổ võ tinh thần nữa, mà dùng đến sức mạnh để khủng bố bắt ép Dân phải làm theo mình. Hệ thống khủng bố Công an của Cộng sản trở thành phương pháp thống trị. Nhưng bụng Dân vẫn đói, đói đến gần chết! Khi đói gần chết, thì Dân hết sợ đám khủng bố Công an. Đàng nào cũng chết, nên Dân nổi dậy. Yù thức hệ Cộng sản chết, những Chế độ Cộng sản Liên xô và Đông Aâu tự giải thế vì lý do bụng đói của Nhân dân.
Tại Việt Nam: Cuộc đấu tranh của Lực Lượng Dân Nghèo đã bắt đầu
Thực vậy, THAM NHŨNG và LÃNG PHÍ tạo những bất công Kinh tế đã từng những chục năm nay. Dân Nghèo đã đứng lên từ năm ngoái.
=> Tiền Giang nổi sóng: Dân Nghèo Tiền Giang mất nhà đất đã kéo về Trụ sở Quốc Hội II Sài gòn được coi là đột biến đấu tranh đầu tiên có tính cách tập thể. Mặc dầu bị đàn áp, nhưng cuộc đấu tranh tiếp tục và lan rộng ra Hà Nội và các Tỉnh. Cũng từ năm ngoái, các cuộc Đình Công của công nhân thường xuyên xẩy ra
=> Từ đầu năm nay 2008, vật giá tăng vọt, tình trạng Lạm phát trầm trọng, Dân chúng nghèo trở thành nạn nhân của Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế. Trong tình trạng khốn cùng do Lạm phát và Khủng hỏa Kinh tế/ Tài chánh, Dân nghèo công khai xỉ vả Nhà Nước. Công Nhân đình công mặc dầu có Nghị định cấm đình công.
=> Một thái độ rất quan trọng của Dân chúng được ghi nhận trong thời gian cách đây hai tuần, đó là Dân chúng hết tin vào những Lệnh và những biện pháp Kinh tế của CSVN. Dân chúng tự động lấy quyết định về Kinh tế. Những biện pháp Kinh tế mà Nhà Nước đưa ra, một là không đi vào việc chữa trị chính căn bệnh, hai là Dân chúng không còn tin tưởng nữa. Hãy lấy tỉ dụ sau đây.
Tình trạng Kinh tế Việt Nam lâm vào Khủng Hoảng: * Lạm phát lên gần 30% * Thị trường Chứng khoán tụt dốc không phanh * Một số lớn Ngân Hàng lo lắng nguy cơ phá sản * Đồng tiền Việt Nam mất giá không ngừng: một Mỹ kim, từ 16'000 đồng VN nay đã lên tới 21'000 đồng, nghĩa là mất giá trên 31% trong khoảng thời gian rất ngắn. * Các con buôn, nhất là quốc doanh, đục nước béo cò, đầu cơ không kiểm soát được. Nhà Nước đưa ra những Chỉ thị chống đỡ. Một số những chỉ thị này không thể áp dụng được ở Việt Nam. Thực vậy, một số Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế/Tài chánh mới học ở những nước tiền tiến trở về, đem áp dụng những nguyên tắc Kinh tế/Tài chánh của những nước tiền tiến cho Việt Nam. Nhưng khốn thay, nước Việt Nam không phải là Mỹ, là Pháp, là Anh, là Úc..., nơi mà họ đã học những nguyên tắc Kinh tế/Tài chánh đó. Nền Kinh tế ở Việt Nam lạc loài trong một thể chế Chính trị cũng lạc loài luôn.
Tỉ dụ, Ngân Hàng Nhà Nước tăng lãi suất lên 12%, rồi mấy ngày sau lên tới 14%. Theo nguyên tắc, thì tăng lãi xuất để mong những người tiết kiệm mang tiền vào gửi Ngân Hàng. Nhưng Ngân Hàng VN phải ở dưới chế độ độc tài, tăng bớt lãi suất là do Chính trị quyết định. Nay tăng mai bớt, làm sao tin được. Thậm chí Ngân Hàng có thể được lệnh giữ lại tiền mà người tiết kiệm đã gửi vào Ngân Hàng.
Phản ứng của Dân chúng sau đây chứng tỏ việc hết tin tưởng vào Nhà Nước, ngay cả những nguyên tắc Kinh tế do Nhà Nước đề ra: * Thay vì mang tiền gửi Ngân Hàng, họ đến Ngân Hàng để rút tiền ra; * Rút tiền ra để mua Vàng và mua Dola cho vững chắc.
Dân không tin đồng tiền có hình Hồ Chí Minh nữa. Mà khi hình Hồ rẻ như bùn, như giấy lộn, thì Dân sẽ vất CSVN vào thùng rác luôn. CSVN chỉ thị Kinh tế/Tài chánh đi hướng này, thì Dân chúng lẳng lặng đi hướng khác cho chắc chắn.
Chống lại Định Mệnh tự hủy diệt CƠ CHẾ là một trọng tội
CSVN chủ trương một CƠ CHẾ đã làm phát sinh Khủng hoảng do Tham nhũng, Lãng phí và đã tạo ra Lực Lượng Nghèo Đói chính trong lòng CƠ CHẾ. Hiện nay, nếu cố chấp mà không hủy bỏ CƠ CHẾ tội lỗi ấy, đó là một trọng tội đối với Xã hội hiện nay và đối với tương lai phát triển Kinh tế Việt Nam.
Chúng tôi muốn nói thêm đến những chủ trương giúp CSVN duy trì hay kéo dài trọng tội này:
* Đám giáo gian quốc doanh do đặc ân đặc lợi mà ca tụng CƠ CHẾ đã cho Tự do Tôn giáo. Việc nịnh thần này góp phần vào duy trì cái CƠ CHẾ làm cho Dân nghèo khổ.
* Những Cố vấn Kinh tế/ Tài chánh, cũng vì miếng ăn, địa vị mà không có can đảm nói lên nguyên do thật của Khủng hoảng mà chỉ tìm những biện pháp nhất thời cho Nhà Nước cũng như Dân hy vọng. Đó cũng là hành động cấu kết duy trì trọng tội của CSVN.
* Những người đấu tranh Chính trị thời cơ, cũng vì những miếng bánh rơi rụng, chủ trương Hòa Giải Hòa Hợp để đứng chung với một CƠ CHẾ tội lỗi. Đó cũng là hợp tác với trọng tội đối với Dân nghèo và tương lai phát triển Đất Nước.
Con đường của Định Mệnh là phải vứt bỏ cái CƠ CHẾ hiện hành. Không thể đi khác được. Khi Ký giả ĐỖ HIẾU đài Á Châu Tự Do hỏi tôi xem có chữa được tình trạng Khủng hoảng hiện nay hay không. Tôi khẳng định rằng không thể vá víu mà chữa được bởi lẽ CƠ CHẾ vẫn nằm đó. Việc nổi dậy của Dân Nghèo được coi như Định Mệnh. Mà Định Mệnh thì cứ lù lù tiền tới trừ trường hợp CƠ CHẾ tự hủy diệt. Vá víu cưỡng Định Mệnh chỉ kéo dài thêm đau khổ cho mọi người và cho chính mình. Bệnh Ung Thư như một định mệnh, không thể thoa bóp dầu cù là, mà phải cắt bỏ đi bộ phận bị bệnh. Dùng thuốc an thần chỉ làm dịu cơn đau. Cái chết vẫn lù lù tiến tới như Định Mệnh của bệnh.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:
Bài 09:
DỒN TOÀN LỰC CÙNG VỚI DÂN NGHÈO PHẾ BỎ CƠ CHẾ PHÁT SINH THAM NHŨNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Trong hai bài trước, chúng tôi đã đặt câu hỏi: ai sẽ phế bỏ cái CƠ CHẾ đã đẻ ra bầy vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ gây Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh làm cho Dân nghèo khốn cực ? Câu trả lời của chúng tôi là đảng CSVN sẽ không làm chuyện này với thành tâm, mà chúng chỉ tìm mọi mưu kế an Dân bằng những mánh lới che đậy. Chúng tôi cũng không tin nước ngoài sẽ làm dùm việc phế bỏ này bởi vì chính chuyện của chúng ta mà chúng ta không tận lực lo lắng, thì ai thèm đến giúp chúng ta. Chỉ có một Lực Lượng duy nhất đứng lên tiễu trừ cái CƠ CHẾ đã đẻ ra bầy THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, đó là LỰC LƯỢNG DÂN NGHÈO, nạn nhân đói ăn của bầy vi trùng của CƠ CHẾ.
Lực Lượng Dân Nghèo
Lực Lượng này chính yếu gồm Nông Dân và Công Nhân, chiếm 75% dân số. Có người hỏi: Lực Lượng này có đủ can đảm đứng lên hay không ? Trong cuộc phỏng vấn của Đài Á Châu Tự Do, do Ký giả ĐỖ HIẾU, tôi đã trả lời rằng ở đây không nói đến lòng CAN ĐẢM, mà phải nói đến cái DẠ DẦY ĐÓI. Lực Lượng này không nói đến Nhân Quyền trừu tượng nữa mà chỉ sờ thấy cụ thể cái Quyền DẠ DẦY (Stmach Right), không còn cái bụng rau bình bịch. Một người cha thấy đàn con đói ăn nheo nhóc, thì cầm dao con chó xuống đường đấu tranh cho miếng ngô khoai của con mình. Hình ảnh một Bà Mẹ Dân Oan đòi nhà đất mà kẻ tham nhũng không trả lời, nên Bà không ngần ngại tuột quần ra để xỉa xói chửi cả Chính phủ. Nghe Nguyễn Tấn Dũng lai nhải nói hoài về Kinh tế VĨ MÔ, mà vật giá vẫn mỗi ngày mỗi tăng cao vọt, một Công Nhân đã chửi tục: Kinh tế VĨ MÔ là Kinh tế VỖ MU làm cho Dân khốn khổ. Đây là hình ảnh xác thực nhất cho nền Kinh tế độc quyền Nhà Nước. Bầy THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ lấy tiền của công, không chịu làm Kinh tế, mà chỉ tối ngày sòng bạc, tửu lầu, mua gái để VỖ MU khiến Khủng hoảng Kinh tế. Nguyễn Tấn Dũng nói thẳng là Kinh tế CSVN VỖ MU thì đúng hơn, chứ đừng lải nhải VĨ MÔ nữa. Cuộc đấu tranh của Lực Lượng Dân Nghèo khổ cực này có ba lý do:
=> Bụng mình đói veo
=> Nhìn bầy tham nhũng lãng phí ăn tiêu đàng điếm trên xương máu của mình.
=> Lý do thứ ba là sự bó buộc phải liều chết đấu tranh: LÒNG CAN ĐẢM BẤT ĐẮC DĨ. Thực vậy, nếu không đấu tranh, thì mình bị chết đói.
Hãy dồn lực cùng với Dân Nghèo đấu tranh
Ở thời điểm này, không nên lải nhải những điều xa vời nữa, mà mọi người phải dồn lực hợp với Lực Lượng Dân Nghèo để đứng lên diệt trừ CƠ CHẾ CSVN hiện hành.
=> Những điều xa vời
Dân Nghèo chỉ quan tâm đến bụng đói, thì xin những nhà Trí thức Dân chủ đừng mất nhiều thời giờ vào việc bàn cãi trừu tượng về Nhân Quyền/ Dân chủ bởi vì CSVN mặt dầy mầy dạn không nghe và chính Dân Nghèo, vì đói bụng quá, cũng không còn tâm trí nào mà để ý đến những quan niệm trừu tượng không làm cho bụng họ no.
Tệ hơn nữa là một số Chính khách thời cơ, muốn đề nghị chiêu bài Hòa Giải Hòa Hợp để mong nhẩy bàn độc. Cái chiêu bài này không những là không thể nào có được với bầy côn đồ CSVN, mà tệ hơn nữa là CSVN chúng sẽ xử dụng chiêu bài như giây thung trói buộc Dân chúng nữa. Chúng dùng chiêu bài để sơn phết cho cái CƠ CHẾ hiện hành mà chúng không muốn phế bỏ. Có Chính khách cơ hội chối đay đảy là mình không phải là Cộng sản, là chống Cộng, nhưng lại dâng cho CSVN sợi dây thung Hòa Giải Hòa Hợp để chúng tiếp tục trói Dân, để kéo dài thêm CƠ CHẾ hiện hành. Nếu chối mình không phải là Cộng sản, mà nhải nhải Hòa Hợp Hòa Giải, thì đó là ĐẦY TỚ CỘNG SẢN, phản lại những khốn cực mà Dân Nghèo đang phải chịu.
=> Dồn lực hợp nhất cụ thể với Dân Nghèo
Đây là một lời kêu gọi. Kêu gọi từ những Trí thức, những nhà Tôn giáo, những người Công an, những thành phần trong quân đội, hãy hợp nhất với Dân Nghèo khốn cùng. Họ đấu tranh không phải để chiếm quyền hành, mà chỉ vì cái bụng đói và việc họ buộc lòng phải đứng lên chỉ vì ở thế đường cùng trước khi bị chết đói. Lực Lượng Dân Nghèo có mục đích cụ thể, rõ rệt. Họ có sức mạnh tối thiểu do LÒNG CAN ĐẢM BẤT ĐẮC DĨ. Lực Lượng Dân Nghèo đấu tranh cần ở chúng ta hai điều:
* Tổ chức Lực lượng ô hợp cho có lớp lang. Đưa ra những chiến thuật đấu tranh cho hữu hiệu. Điều hợp ăn khớp những đợt đấu tranh.
* Tạo dự luận quốc tế để phòng bị cho Lực Lượng Dân Nghèo tránh những cuộc đàn áp tàn nhẫn. Về điểm này, chúng tôi đã trả lời Ký giả ĐỖ HIẾU rằng: (1) Việt Nam đã mở cửa và lệ thuộc vào quốc tế chứ không đóng khung như Bắc Hàn, Cuba hay Miến Điện; (2) Việc đàn áp có lẽ không xẩy ra từ phía Công an và Quân đội Việt Nam vì chính Gia đình của họ cũng nghèo đói. Điều ngại sợ, đó là có bàn tay lông lá của Trung Cộng qua đám đầy tớ trong đảng CSVN.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:
Bài 08:
PHẢI DỨT BỎ CHIẾC VÁY ĐỤP CƠ CHẾ CŨ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Bài thứ 8 này tiếp nối chính yếu ý tưởng của Bài thứ 7 tuần vừa rồi. Để thực sự chữa trị được Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh, phải dứt bỏ CƠ CHẾ, chứ không phải là cá nhân.
Trong suốt những Bài QUAN ĐIỂM viết cho đến nay, chúng tôi đi tìm cái nguyên nhân cốt lõi cho Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay của Việt Nam. Cùng hợp với việc phân tích của Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG, chúng tôi thấy rằng con Vi trùng chính yếu gây ra Khủng hoảng là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Đàn Vi trùng này, con lớn, con bé, bò lổm ngổm ăn hại Kinh tế Việt Nam đã nhiều năm qua để kết quả là Kinh tế bệnh hoạn.
Chống tham nhũng không phải là đi bắt hết từng con Vi trùng ấy vì những lý do sau đây:
=> Vi trùng Tham Nhũng Lãng Phí nhiều quá bắt không xuể
=> Có những con Vi trùng quá lớn, nếu đụng đến nó, có thể mình bị hại. Tỉ dụ hai Nhà báo vừa bị Vi trùng phản công.
Đối với chúng tôi, việc chống tham nhũng lãng phí không phải là đi bắt từng con Vi trùng, mà phải phải tẩy sạch cái môi trường, cái điều kiện đẻ ra những con vi trùng ấy. Chúng tôi muốn nói đến chống THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ là chống cái CƠ CHẾ làm phát sinh Vi trùng.
Những phát biểu trong buổi trực tuyến chiều 9/5/2008 09/05/2008 22:46 (GMT + 7) http://www.tuanvietnam.net//vn/tructuyenvoitop/3710/index.aspx
Những người phát biểu trong buổi trực tuyến này chú tâm đến lãnh vực Kinh tế quốc doanh.
Ts. Nguyễn Quang A nêu rõ: “... chúng ta đang đứng trước khó khăn lớn, thể hiện ở vài con số: lạm phát, thâm hụt ngân sách liên tục ở mức cao trong nhiều năm. Nhập siêu liên tục ở mức cao và ngày càng tăng. Xu hướng đó dài cả chục năm, xuất phát từ nguyên nhân sâu xa bên trong. Chúng ta xem những con số đó là điều bình thường mà không nhìn nhận như là dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm để lưu tâm. Đến bây giờ, mọi thứ bục ra. Trong đó, nguyên nhân chủ quan rất quan trọng, thể hiện qua lạm phát. Lạm phát kì này là hệ quả của tình hình rất lâu dài nằm trong cơ cấu kinh tế, hệ thống điều hành của chúng ta.“
Ông Nguyễn Trung đúc rút: " Đi vào kinh tế thị trường nhưng cả bộ máy về kiến thức và kinh nghiệm trong kinh tế thị trường nói chung còn yếu. Chính vì lẽ đó, Chính phủ nên có cơ chế, biện pháp khuyến khích những tiếng nói của các chuyên gia am hiểu và có nhiều trăn trở với tình hình. Chuyên gia trong bộ máy nhà nước có nói, nhưng họ khó nói khách quan, độc lập, nhiều khi chiều theo ý mặt này, mặt khác. Rất quan trọng cần tiếng nói của chuyên gia độc lập, không trong bộ máy, không kiềm tỏa bởi vị trí, các chuyên gia trong và ngoài nước, người Việt và người nước ngoài. Làm sao để những người đó mạnh dạn góp ý.“
Theo ông Nguyễn Trung, trong chuyện lạm phát "không có bài thuốc tiên nào cả, chung quy 2 việc: tiết kiệm và tăng hiệu quả đầu tư hơn nữa. Tham gia kinh tế thị trường, chúng ta chưa có kinh nghiệm. Bây giờ Thủ tướng, Chính phủ cũng khó ra lệnh cho DNNN chưa nói cả nền kinh tế. Do đó, cần các công cụ thị trường.“
Ông Trần Đức Nguyên đặc biệt nhấn mạnh “ việc nhà nước cần rốt ráo cải cách mạnh khu vực kinh tế nhà nước. Đây là giải pháp vừa trước mắt, vừa cơ bản lâu dài. Phân tích toàn bộ khó khăn đang phải đối phó, chủ yếu do tác động từ thành phần của các tập đoàn lớn, với những hoạt động trong các lĩnh vực nhạy cảm: chứng khoán, bất động sản... Tác động tiêu cực của tập đoàn kinh tế nhà nước rất rõ.
"Đến lúc phải nhìn thẳng vào sự thật như vậy, không thể nói chung chung", ông Trung nhấn mạnh.
Ông gợi ý, trước mắt phải làm là hãy công khai minh bạch về hoạt động của họ. Phải kiểm toán và công bố kiểm toán hằng năm. Hiện có muốn góp ý kiến cũng khó vì không nắm được họ làm như thế nào.
Ông Trần Đức Nguyên dẫn chứng: "Tôi lấy làm lạ, năm 2006, kiểm toán công bố tỷ lệ lãi trên vốn của Vinashin là 0,42%. Làm sao nuốt nổi 750 triệu USD tiền trái phiếu Chính phủ bán ra nước ngoài, trong khi khoản vay này đã phải chịu lãi suất chính thức đã là 7,5%. Năm sau lại nói Vinashin lãi trên 10%. Hiện nay, bức tranh kinh tế nhà nước rất tù mù, nên biện pháp khó chấn chỉnh. Tất cả các tập đoàn đều có vấn đề, nhưng không ai nắm thực tế họ hoạt động như thế nào. Cần chấn chỉnh nhưng chấn chỉnh như thế nào cần nghiên cứu.
Ông Nguyễn Trung cho rằng:“thông tin có thể chưa đủ, nhưng khá nhiều trên báo chí như chuyện ngành than mỗi năm xuất khẩu lậu 10 triệu tấn than, ngành điện để xảy ra thiếu điện, phải cắt điện liên tục trong khi lại có khoản vốn khá lớn đầu tư ngành khác. Không phải tôi dồn mọi vốn liếng, dành cho anh nguồn lực để anh thích làm gì thì làm".
Theo ông Nguyễn Trung, tình hình hiện nay "đòi hỏi cải cách thể chế, hệ thống quản lý, cơ chế quản lý quốc gia đi trước một bước cải cách kinh tế. Cải cách thể chế có đi trước mới hỗ trợ cho phát triển quốc gia".
Ts. Nguyễn Quang A khẳng định: “Muốn phát triển nữa, chắc chắn phải có cải cách về thể chế“.
Để đổi mới, Ts. Quang A phân tích: “đổi mới thể chế phải xuất phát từ nhận định lại vai trò đúng của nhà nước là gì. Nhà nước chỉ làm những việc nhà nước phải làm, kiên quyết không làm những việc không phải là của mình. Việc này phải luật hóa thành thể chế. Hiện nay nhà nước đang ôm vào mình quá nhiều việc“.
Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ ăn ruỗng lãnh vực Kinh tế quốc doanh
Những phát biểu trên đây quy tội rõ rệt vào lãnh vực Kinh tế quốc doanh. Vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ không phải là những cá nhân, mà chính là cái THỂ CHẾ, cái CƠ CHẾ mà đảng CSVN đã chủ trương để từ đó phát sinh ra đàn Vi trùng lúc nhúc con lớn con bé. Thực vậy, cái THỂ CHẾ đó chủ trương:
=> ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ: chỉ một mình đảng CSVN cai trị Quốc gia. Không ai có thể phát biểu ý kiến khả dĩ góp phần xây dựng. Nếu có người phát biểu khác với đảng, thì đảng dùng sức mạnh đàn áp, bắt tù tội.
=> ĐỘC QUYỀN KINH TẾ: mặc dù tuyên bố theo Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong thực tế, quyền lực Kinh tế nằm trọn trong tay những Công ty quốc doanh điều hành bởi những người thuộc về đảng CSVN.
Hai quyền lực độc đoán này nằm trong tay một người, một đảng. Một Môi trường, một CƠ CHẾ như vậy, thì không thể nào không có THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Hai quyền lực chung đụng này, nhú nhí, đi đêm ĐÁNH ĐĨ với nhau mà lòi ra bầy Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Thực vậy, một người ngồi bên cạnh đống vàng, mà lại có quyền sinh sát, thì vơ đống vàng làm của riêng. Nếu chỉ có quyền Chính trị không mà không có đống vàng bên cạnh, thì không vơ vét được gì. Còn nếu ngồi bên cạnh đống vàng mà không có độc tài Chính trị sinh sát trong tay, thì nếu chốp vàng làm của riêng, sẽ bị người khác đập bể đầu. Phải có hai thứ quyền trong tay, thì mới có thể THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ.
Cái Môi trường, cái THỂ CHẾ, cái CƠ CHẾ từ trước đến nay là để QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ độc tài và QUYỀN LỰC KINH TẾ độc quyền ngủ chung ở một phòng tối u ám, bí mật để hai thứ đánh đĩ với nhau mà lòi ra bầy Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ.
Vậy việc thay đổi CƠ CHẾ, thay đổi THỂ CHẾ mà những người tham dự buổi trực tuyến 9/5/2008 phát biểu có nghĩa là trước tiên phải tách rời hai quyền lực ra, đừng để chúng mập mờ ngủ chung trong một phòng u ám. Cứ để hai quyền lực nằm trong tay đảng CSVN, thì thế nào chúng cũng đánh đĩ với nhau mà đẻ ra Vi trùng Tham nhũng, Lãng phí phá hoại Kinh tế Việt Nam lâu dài. Tiến sĩ Nguyễn Quang A cũng cùng chủ trương như vậy: “đổi mới thể chế phải xuất phát từ nhận định lại vai trò đúng của nhà nước là gì. Nhà nước chỉ làm những việc nhà nước phải làm, kiên quyết không làm những việc không phải là của mình. Việc này phải luật hóa thành thể chế. Hiện nay nhà nước đang ôm vào mình quá nhiều việc“.
Chúng tôi xin dứt khoát về việc thay đổi CƠ CHẾ, THỂ CHẾ như sau:
=> Tách hẳn quyền lực Chính trị ra khỏi quyền lực Kinh tế. Đây là nguyên tắc Kinh tế Tự do và Thị trường mà những Kinh tế gia Cổ điển Anh quốc như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL... đã nhấn mạnh. Nhà Nước chỉ là “Etat Gendarme neutre”. Nhà Nước có thể ảnh hưởng đến những sinh hoạt Kinh tế, nhưng dưới phương diện Cung, Cầu như mọi người. Nhà Nước có thể có những Chương trình chỉ đạo, nhưng không được quyền dùng quyền lực Chính trị để bắt Lãnh vực Kinh tế tư nhân phải nhất thiết theo.
=> Khi tách rời quyền lực Chính trị ra rồi, thì quyền lực này cũng không được độc tài bởi lẽ trên thực tế, quyền lực Chính trị mà độc tài, thì trước sau gì nó cũng tìm đến Kinh tế mà xâm lấn, mà đánh đĩ. Thực vậy, kẻ độc tài mà thấy tiền bạc, thì ắt nẩy sinh lòng tham sân si. Đây là vấn đề tránh hậu họa trong thực tế.
=> Lãnh vực Kinh tế phải để trong tay tư nhân. Việc giải quyết những vấn đề Kinh tế phải theo nguyên tắc Kinh tế, chứ không theo mệnh lệnh Chính trị hay ảnh hưởng Tôn giáo hay Chủng tộc. Quyền tư hữu những phương tiện sản xuất phải được tôn trọng, bảo đảm bởi Pháp Luật được quyết định bởi chính những Tư-hữu-chủ hay Cá nhân chủ Tư hữu. Chính khía cạnh này mà chúng tôi thường khẳng định rằng một nền DÂN CHỦ thực sự được lớn lên qua ngả Kinh tế. Một thứ Dân chủ chỉ được cấu trúc theo khuôn mẫu những hệ thống suy tư dễ trở thành những phương tiện áp đặt trên đới sống thực của đại đa số quần chúng để một thiểu số làm Chính trị lợi dụng khai thác cho quyền lực.
Ai có thể làm công việc thay đổi CƠ CHẾ, thay đổi THỂ CHẾ ? Chắc chắn không phải là đảng CSVN bởi vì chính đảng này đang cần cơ chế cũ làm môi trường cho bầy Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG Phí sống. Chỉ có đại đa số Dân chúng đang là nạn nhân của CƠ CHẾ này mới có thể lật hẳn lại CƠ CHẾ. Chúng tôi nói lật hẳn CƠ CHẾ bởi lẽ nếu còn để dây dưa, thì từ cái Môi trường dây dưa này, những con Vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ lại có cơ hội tái sinh, đẻ thêm con cháu. Đây là vấn đề tương lai Kinh tế bền vững và lâu dài.
Từ thất bại Kinh tế Cộng sản đến chiếc váy đụp Kinh tế định hướng XHCH
Một số những Nhà Kinh tế tại Việt Nam nói đến cải cách Cơ Chế để chữa trị cuộc Khủng hoảng Kinh tế hiện nay. Người lên tiếng mạnh hơn cả là Tiến sĩ NGUYỄN QUANG A, tuy nhiên Tiến sĩ như vẫn còn ngại sợ quyền lực độc tài Chính trị, nên chỉ dám dùng những chữ CẢI CÁCH. Tiến sĩ còn nhắc đến việc ổn định Chính trị làm điều kiện phát triển, nhưng Tiến sĩ không định nghĩa ổn định Chính trị là như thế nào. Thực vậy, ổn định Chính trị không phải là đàn áp, bịt miệng, đe dọa, bỏ tù... khiến không còn ai dám động đậy phản ứng. Oån định Chính trị không phải đến từ một quyền lực độc đoán áp đặt mà phải đến từ sự hài hòa của lòng Dân. Chính trị Việt Nam dưới chế độ CSVN luôn luôn ở trong tình trạng bất ổn.
Quan điểm của chúng tôi không chỉ nằm ở việc CẢI CÁCH Cơ Cấu hiện hành, mà là phải dứt khoát vứt bỏ cái CƠ CẤU CSVN hiện nay mà chúng tôi luôn luôn gọi đó là chiếc VÁY ĐỤP chứa đầy rận, rệp, những bầy vi trùng THAM NHŨNG hút máu Kinh tế Việt Nam. Thực vậy, CẢI CÁCH có nghĩa là vẫn giữ chiếc VÁY ĐỤP, mà chỉ tìm cách vá thêm vải để rận, rệp, vi trùng ẩn náu mà hút máu nữa.
Khi quyền lực độc tài Chính trị gắn liền với độc đoán Kinh tế, thì đã có một Lịch sử thất bại. Cộng sản đã chủ trương nắm trọn Kinh tế bằng chủ trương một nền Kinh tế Chỉ huy Tập quyền (Economie dirigiste centralisée). Sự sụp đổ của Thế giới Cộng sản là vì việc thất bại Kinh tế ấy. Nga và các nước Đông Aâu đã biết vứt bỏ chiếc váy đó đi. Nhưng Việt Nam vẫn giữ lại và tìm cách vá chiếc váy đụp lên đụp xuống.
Việt Nam muốn vá bằng Đổi Mới, Mở Cửa..., tuyên bố chấp nhận nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng vẫn còn thêm những chữ “định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”, tức là vẫn giữ chiếc váy đụp cũ kỹ của Cộng sản. Những chữ định hướng XHCN cho phép CSVN vẫn chủ trương độc đảng (Điều 4 Hiến Pháp) để độc tài Chính trị đánh đĩ với độc quyền Kinh tế. Đó là cái điểm cốt lõi của CƠ CẤU cần phải dứt khoát vứt bỏ.
Nói Cải Cách Cơ Cấu mà không động chạm đến việc đánh đĩ giữa hai quyền lực này, thì việc cải cách chỉ là sơn phết lừa đảo. Cũng vậy, những chính khách cơ hội nói đến Hòa Giải Hòa Hợp, mà không đòi hỏi dứt khoát loại trừ cái việc đánh đĩ kia của đảng CSVN, thì đó chỉ là giúp cho CSVN trói buộc Dân bằng sợi dây thung co giãn mà thôi.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:
Bài 07:
THAM NHŨNG GÂY KHỦNG HOẢNG KHÔNG PHẢI LÀ CÁ NHÂN MÀ LÀ CƠ CHẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Trong suốt 6 Bài QUAN ĐIỂM viết cho đến nay, chúng tôi đi tìm cái nguyên nhân cốt lõi cho Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay của Việt Nam. Cùng hợp với việc phân tích của Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG, chúng tôi thấy rằng con Vi trùng chính yếu gây ra Khủng hoảng là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Đàn Vi trùng này, con lớn, con bé, bò lổm ngổm ăn hại Kinh tế Việt Nam đã nhiều năm qua để kết quả là Kinh tế bệnh hoạn.
Chống tham nhũng không phải là đi bắt hết từng con Vi trùng ấy vì những lý do sau đây:
=> Vi trùng Tham Nhũng Lãng Phí nhiều quá bắt không xuể => Có những con Vi trùng quá lớn, nếu đụng đến nó, có thể mình bị hại. Tỉ dụ hai Nhà báo vừa bị Vi trùng phản công.
Đối với chúng tôi, việc chống tham nhũng lãng phí không phải là đi bắt từng con Vi trùng, mà phải phải tẩy sạch cái môi trường, cái điều kiện đẻ ra những con vi trùng ấy. Chúng tôi muốn nói đến chống THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ là chống cái CƠ CHẾ làm phát sinh Vi trùng.
Những phát biểu trong buổi trực tuyến chiều 9/5/2008 09/05/2008 22:46 (GMT + 7) http://www.tuanvietnam.net//vn/tructuyenvoitop/3710/index.aspx
Những người phát biểu trong buổi trực tuyến này chú tâm đến lãnh vực Kinh tế quốc doanh.
Ts. Nguyễn Quang A nêu rõ: “... chúng ta đang đứng trước khó khăn lớn, thể hiện ở vài con số: lạm phát, thâm hụt ngân sách liên tục ở mức cao trong nhiều năm. Nhập siêu liên tục ở mức cao và ngày càng tăng. Xu hướng đó dài cả chục năm, xuất phát từ nguyên nhân sâu xa bên trong. Chúng ta xem những con số đó là điều bình thường mà không nhìn nhận như là dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm để lưu tâm. Đến bây giờ, mọi thứ bục ra. Trong đó, nguyên nhân chủ quan rất quan trọng, thể hiện qua lạm phát. Lạm phát kì này là hệ quả của tình hình rất lâu dài nằm trong cơ cấu kinh tế, hệ thống điều hành của chúng ta.“
Ông Nguyễn Trung đúc rút: " Đi vào kinh tế thị trường nhưng cả bộ máy về kiến thức và kinh nghiệm trong kinh tế thị trường nói chung còn yếu. Chính vì lẽ đó, Chính phủ nên có cơ chế, biện pháp khuyến khích những tiếng nói của các chuyên gia am hiểu và có nhiều trăn trở với tình hình. Chuyên gia trong bộ máy nhà nước có nói, nhưng họ khó nói khách quan, độc lập, nhiều khi chiều theo ý mặt này, mặt khác. Rất quan trọng cần tiếng nói của chuyên gia độc lập, không trong bộ máy, không kiềm tỏa bởi vị trí, các chuyên gia trong và ngoài nước, người Việt và người nước ngoài. Làm sao để những người đó mạnh dạn góp ý.“
Theo ông Nguyễn Trung, trong chuyện lạm phát "không có bài thuốc tiên nào cả, chung quy 2 việc: tiết kiệm và tăng hiệu quả đầu tư hơn nữa. Tham gia kinh tế thị trường, chúng ta chưa có kinh nghiệm. Bây giờ Thủ tướng, Chính phủ cũng khó ra lệnh cho DNNN chưa nói cả nền kinh tế. Do đó, cần các công cụ thị trường.“
Ông Trần Đức Nguyên đặc biệt nhấn mạnh “ việc nhà nước cần rốt ráo cải cách mạnh khu vực kinh tế nhà nước. Đây là giải pháp vừa trước mắt, vừa cơ bản lâu dài. Phân tích toàn bộ khó khăn đang phải đối phó, chủ yếu do tác động từ thành phần của các tập đoàn lớn, với những hoạt động trong các lĩnh vực nhạy cảm: chứng khoán, bất động sản... Tác động tiêu cực của tập đoàn kinh tế nhà nước rất rõ.
"Đến lúc phải nhìn thẳng vào sự thật như vậy, không thể nói chung chung", ông Trung nhấn mạnh.
Ông gợi ý, trước mắt phải làm là hãy công khai minh bạch về hoạt động của họ. Phải kiểm toán và công bố kiểm toán hằng năm. Hiện có muốn góp ý kiến cũng khó vì không nắm được họ làm như thế nào.
Ông Trần Đức Nguyên dẫn chứng: "Tôi lấy làm lạ, năm 2006, kiểm toán công bố tỷ lệ lãi trên vốn của Vinashin là 0,42%. Làm sao nuốt nổi 750 triệu USD tiền trái phiếu Chính phủ bán ra nước ngoài, trong khi khoản vay này đã phải chịu lãi suất chính thức đã là 7,5%. Năm sau lại nói Vinashin lãi trên 10%. Hiện nay, bức tranh kinh tế nhà nước rất tù mù, nên biện pháp khó chấn chỉnh. Tất cả các tập đoàn đều có vấn đề, nhưng không ai nắm thực tế họ hoạt động như thế nào. Cần chấn chỉnh nhưng chấn chỉnh như thế nào cần nghiên cứu.
Ông Nguyễn Trung cho rằng:“thông tin có thể chưa đủ, nhưng khá nhiều trên báo chí như chuyện ngành than mỗi năm xuất khẩu lậu 10 triệu tấn than, ngành điện để xảy ra thiếu điện, phải cắt điện liên tục trong khi lại có khoản vốn khá lớn đầu tư ngành khác. Không phải tôi dồn mọi vốn liếng, dành cho anh nguồn lực để anh thích làm gì thì làm".
Theo ông Nguyễn Trung, tình hình hiện nay "đòi hỏi cải cách thể chế, hệ thống quản lý, cơ chế quản lý quốc gia đi trước một bước cải cách kinh tế. Cải cách thể chế có đi trước mới hỗ trợ cho phát triển quốc gia".
Ts. Nguyễn Quang A khẳng định: “Muốn phát triển nữa, chắc chắn phải có cải cách về thể chế“.
Để đổi mới, Ts. Quang A phân tích: “đổi mới thể chế phải xuất phát từ nhận định lại vai trò đúng của nhà nước là gì. Nhà nước chỉ làm những việc nhà nước phải làm, kiên quyết không làm những việc không phải là của mình. Việc này phải luật hóa thành thể chế. Hiện nay nhà nước đang ôm vào mình quá nhiều việc“.
Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ ăn ruỗng lãnh vực Kinh tế quốc doanh
Những phát biểu trên đây quy tội rõ rệt vào lãnh vực Kinh tế quốc doanh. Vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ không phải là những cá nhân, mà chính là cái THỂ CHẾ, cái CƠ CHẾ mà đảng CSVN đã chủ trương để từ đó phát sinh ra đàn Vi trùng lúc nhúc con lớn con bé. Thực vậy, cái THỂ CHẾ đó chủ trương:
=> ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ: chỉ một mình đảng CSVN cai trị Quốc gia. Không ai có thể phát biểu ý kiến khả dĩ góp phần xây dựng. Nếu có người phát biểu khác với đảng, thì đảng dùng sức mạnh đàn áp, bắt tù tội.
=> ĐỘC QUYỀN KINH TẾ: mặc dù tuyên bố theo Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong thực tế, quyền lực Kinh tế nằm trọn trong tay những Công ty quốc doanh điều hành bởi những người thuộc về đảng CSVN.
Hai quyền lực độc đoán này nằm trong tay một người, một đảng. Một Môi trường, một CƠ CHẾ như vậy, thì không thể nào không có THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Hai quyền lực chung đụng này, nhú nhí, đi đêm ĐÁNH ĐĨ với nhau mà lòi ra bầy Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Thực vậy, một người ngồi bên cạnh đống vàng, mà lại có quyền sinh sát, thì vơ đống vàng làm của riêng. Nếu chỉ có quyền Chính trị không mà không có đống vàng bên cạnh, thì không vơ vét được gì. Còn nếu ngồi bên cạnh đống vàng mà không có độc tài Chính trị sinh sát trong tay, thì nếu chốp vàng làm của riêng, sẽ bị người khác đập bể đầu. Phải có hai thứ quyền trong tay, thì mới có thể THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ.
Cái Môi trường, cái THỂ CHẾ, cái CƠ CHẾ từ trước đến nay là để QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ độc tài và QUYỀN LỰC KINH TẾ độc quyền ngủ chung ở một phòng tối u ám, bí mật để hai thứ đánh đĩ với nhau mà lòi ra bầy Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ.
Vậy việc thay đổi CƠ CHẾ, thay đổi THỂ CHẾ mà những người tham dự buổi trực tuyến 9/5/2008 phát biểu có nghĩa là trước tiên phải tách rời hai quyền lực ra, đừng để chúng mập mờ ngủ chung trong một phòng u ám. Cứ để hai quyền lực nằm trong tay đảng CSVN, thì thế nào chúng cũng đánh đĩ với nhau mà đẻ ra Vi trùng Tham nhũng, Lãng phí phá hoại Kinh tế Việt Nam lâu dài. Tiến sĩ Nguyễn Quang A cũng cùng chủ trương như vậy: “đổi mới thể chế phải xuất phát từ nhận định lại vai trò đúng của nhà nước là gì. Nhà nước chỉ làm những việc nhà nước phải làm, kiên quyết không làm những việc không phải là của mình. Việc này phải luật hóa thành thể chế. Hiện nay nhà nước đang ôm vào mình quá nhiều việc“.
Chúng tôi xin dứt khoát về việc thay đổi CƠ CHẾ, THỂ CHẾ như sau:
=> Tách hẳn quyền lực Chính trị ra khỏi quyền lực Kinh tế. Đây là nguyên tắc Kinh tế Tự do và Thị trường mà những Kinh tế gia Cổ điển Anh quốc như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL... đã nhấn mạnh. Nhà Nước chỉ là “Etat Gendarme neutre”. Nhà Nước có thể ảnh hưởng đến những sinh hoạt Kinh tế, nhưng dưới phương diện Cung, Cầu như mọi người. Nhà Nước có thể có những Chương trình chỉ đạo, nhưng không được quyền dùng quyền lực Chính trị để bắt Lãnh vực Kinh tế tư nhân phải nhất thiết theo.
=> Khi tách rời quyền lực Chính trị ra rồi, thì quyền lực này cũng không được độc tài bởi lẽ trên thực tế, quyền lực Chính trị mà độc tài, thì trước sau gì nó cũng tìm đến Kinh tế mà xâm lấn, mà đánh đĩ. Thực vậy, kẻ độc tài mà thấy tiền bạc, thì ắt nẩy sinh lòng tham sân si. Đây là vấn đề tránh hậu họa trong thực tế.
=> Lãnh vực Kinh tế phải để trong tay tư nhân. Việc giải quyết những vấn đề Kinh tế phải theo nguyên tắc Kinh tế, chứ không theo mệnh lệnh Chính trị hay ảnh hưởng Tôn giáo hay Chủng tộc. Quyền tư hữu những phương tiện sản xuất phải được tôn trọng, bảo đảm bởi Pháp Luật được quyết định bởi chính những Tư-hữu-chủ hay Cá nhân chủ Tư hữu. Chính khía cạnh này mà chúng tôi thường khẳng định rằng một nền DÂN CHỦ thực sự được lớn lên qua ngả Kinh tế. Một thứ Dân chủ chỉ được cấu trúc theo khuôn mẫu những hệ thống suy tư dễ trở thành những phương tiện áp đặt trên đới sống thực của đại đa số quần chúng để một thiểu số làm Chính trị lợi dụng khai thác cho quyền lực.
Ai có thể làm công việc thay đổi CƠ CHẾ, thay đổi THỂ CHẾ ?
Chắc chắn không phải là đảng CSVN bởi vì chính đảng này đang cần cơ chế cũ làm môi trường cho bầy Vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG Phí sống. Vì vậy việc Hòa Hợp Hòa Giải với bầy vi trùng này chỉ là ảo tưởng. Chỉ có đại đa số Dân chúng đang là nạn nhân của CƠ CHẾ này mới có thể lật hẳn lại CƠ CHẾ. Chúng tôi nói lật hẳn CƠ CHẾ bởi lẽ nếu còn để dây dưa, thì từ cái Môi trường dây dưa này, những con Vi trùng THAM NHŨNG LÃNG PHÍ lại có cơ hội tái sinh, đẻ thêm con cháu. Đây là vấn đề tương lai Kinh tế bền vững và lâu dài.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:
Bài 06:
BÀ MẸ DÂN OAN TỤT QUẦN CHỬI QUÁI THAI CSVN THAM NHŨNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
Dân Oan không còn nhà để che mưa nắng, không còn mảnh đất nhỏ để trồng rau cỏ mà ăn. Bị CSVN côn đồ ăn cướp hết, tất nhiên dân nghèo phải nổi xùng. Qua những năm từng làm đơn khiếu kiện mà không có giải quyết, thậm chí không được trả lời, tất nhiên dân nghèo phải xùng và xỉa xói mắng chửi đám côn đồ quái thai tham nhũng.
Những hình ảnh xỉ vả mắng chửi quái thai tham nhũng
Không cần phải biện luận dài dòng nữa, mà Dân Oan hoàn toàn có lý để mắng chửi đám côn đồ CSVN. Xin quý độc giả vào những Diễn Đàn sau đây để thấy hình ảnh Dân Oan hết còn nể nang đám côn đồ:
http://www.youtube.com/watch?v=Er0nlp5lXXk http://www.vietnamexodus.org/vne/
Xem hình ảnh, nghe những lời mắng chửi kẻ người mang chức tước, tự coi mình là kẻ sang, có quyền thế, tôi nhớ đến câu tục ngữ:”Miệng kẻ sang có gang có thép, Đồ kẻ khó vừa lọ vừa lem”. Tục ngữ ví cái mồm của kẻ có quyền thế giống như cái “đồ” của đàn bà nhà quê nghèo khó vừa lọ lem chứ không được xịt nước bông. Ví như vậy là hạ nhục những kẻ dùng mồm, cậy có công an hung dữ đàn áp, mà quát tháo bất công ra điều gang thép.
=> Dân Oan mắng chửi đòi giải tán Ban Chỉ Đạo Trung ương Chống Tham nhũng mà Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu. Đây là điều xỉ vả, hạ nhục công khai đứa đứng đầu đám côn đồ ăn cướp. Thủ tướng phải biết nhục !
=> Dân Oan biểu tình, mắng chửi cả Quốc Hội là bù nhìn. Những Nghị gật không biết nhục hay sao !
=> Một bà mẹ Dân Oan, giữa công chúng và trước Trụ sở của Nhà Nước, đạ tụt quần xuống để khinh bỉ cả đám côn đồ CSVN quái thai tham nhũng đã ăn cướp nhà đất của bà và còn nhận thêm tham nhũng với nhau để che đậy cho nhau.
Thực đây là những xỉ nhục cho cả đám côn đồ cướp bóc và cho cả dòng họ con cái cháu chắt của đám quái thai tham nhũng. Chúng ngày đêm tửu lầu ăn chơi, dùng tiền cướp dựt được để tụt quần đàn bà con gái, rồi cho con cái ra nước ngoài giữ tiền bạc ăn cướp được.
Sự nhục nhã của bầy luồn trôn đám quái thai tham nhũng
Bầy luồn trôn đám quái thai gồm cả một số Lãnh đạo Tôn giáo, gồm lũ chính khách nhăm nhe nhẩy bàn độc, gồm tụi luồn cúi làm ăn bất nhân với kẻ cướp.
Đám giáo gian quốc doanh hãy xem hình ảnh bà mẹ Dân Oan tụt quần hạ nhục quan thầy của mình mà mình từng theo hùa nịnh bợ, ca tụng như kẻ sang có gang có thép, ngày đêm có công an dùng vũ lực hộ tống. Không còn nghĩ đến những giá trị Tôn giáo nữa, mà chỉ đi ca tụng, nịnh bợ đám quái thai tham nhũng, coi chúng như quan thầy. Không biết nhục hay sao.
Lũ chính khách nhăm nhe nhẩy bàn độc. Chiêu bài hòa giải hòa hợp chỉ là việc che đậy cho lòng hám danh. Không thể có hòa giải hòa hợp vì chính CSVN không muốn hòa giải hòa hợp với chính Dân. Lũ chính khác này chỉ có thể là chính khách gật, vâng dạ theo CSVN để mong kiếm chút danh hão. Đám côn đồ CSVN không bao giờ để cho lũ chính khách này có thực quyền. Ngược lại, chiêu bài hòa giải hòa hợp chỉ là sợi dây thung mà lũ chính khách gật dâng cho CSVN để chúng trói buộc Dân co dãn và lâu dài hơn. Hãy để cho côn đồ CSVN tiếp tục trói buộc Dân bằng dây thép để đến ngày già néo đứt dây. Ngày đó sắp tới. Việc dâng dây thung hòa giải hòa hợp để CSVN trói buộc Dân co giãn và lâu dài hơn là một tội lỗi mà lũ chính khách này đang phạm đối với Dân. Hòa giải hòa hợp là một sự phản bội của lũ chính khách hòa giải hòa hợp vậy.
Có những tên làm ăn, vì miếng ăn tủi nhục bất chính do CSVN thẩy xuống, mà đám làm ăn này phải qụy lụy gian dối, cúi đầu luồn trôn những quái thai tham nhũng lãng phí. Chúng cũng xứng đáng để bà mẹ Dân Oan chụp váy đụp lên đầu.
Bà mẹ Dân Oan tụt quần để xỉ và đám quái thai CSVN tham nhũng và cả dòng họ con cháu của chúng tiêu xài tiền trên xương máu của Dân nghèo. Con cháu của đám quái thai đang sống sang trọng hoang phí tại nước ngoài. Và việc tụt quần của bà mẹ Dân Oan tất nhiên xỉ vả luôn nhũng kẻ đang luồn trôn quái thai: những ngợm giáo gian quốc doanh, lũ chính khách nhăm nhe nhẩy bàn độc với chiêu bài hòa giải hòa hợp, bầy làm ăn theo đóm ăn tàn vô lương tâm.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:
Bài 05:
CHỐNG THAM NHŨNG LÀ TRÒ HỀ, PHẢI DIỆT QUYỀN LỰC ĐÁNH ĐĨ ĐẺ RA THAM NHŨNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG khi viết về tình trạng Kinh tế hiện nay, đã nhấn mạnh đến việc đi tìm cái NGUYÊN NHÂN của các nguyên nhân Lạm phát để mà chữa. Gần nửa năm nay, tôi viết về vấn đề Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh. Khủng hoảng thực sự đã đang diễn ra tại Việt Nam kể từ ngày 28.02.2008. Nhà Nước CSVN chỉ loay hoay thoa bóp ngoài da mà không dám can đảm chữa trị vào chính căn bệnh nội thương từ chế độ: Tham nhũng và Lãng phí. Tuần vừa rồi, Dân Oan tại Hà Nội đã thẳng thắn hô lớn lên rằng phải giải tán Ban Chỉ Đạo chống Tham nhũng mà Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu.
Trò hề chống Tham nhũng
Những nhận xét trên đây cho thấy rằng việc hô hào chống Tham nhũng chỉ là trò mỵ dân che đậy cho một tình trạng thối nát đã lâu đời mà chính CSVN sợ hãi không dám nói ra.
Đầu tuần này, quyền lực CSVN đã bắt hai Nhà Báo can đảm phanh phui ra vụ Tham nhũng PMU 18. Linh mục CHÂN TÍN đã không ngần ngại tuyên bố rằng việc chống Tham nhũng của CSVN chỉ là một TRÒ HỀ.
Linh mục viết:” Vào thời điểm vụ PMU 18 nổ ra, hai nhà báo nói trên đã tham gia tích cực đưa tin về vụ án này. Hai anh đã “thường trực 24/24 tại mọi nơi từ nhà riêng đối tượng tình nghi đến trực chiến tại cổng Cơ quan điều tra C14, mở mọi mối quan hệ từ các nguồn tin,“ chỉ với một mong muốn: Vụ án sẽ được làm đến cùng, những kẻ sâu mọt tham nhũng tiền thuế của dân sẽ bị trừng trị nghiêm khắc” (TN 13.05.2008). Lẽ ra Nhà Nước phải mạnh tay để loại trừ tham nhũng, coi như quốc nạn của chế độ CSVN, thì nay Đảng và Nhà Nước lại tiếp tay cho bọn tham nhũng hàng đầu, bằng cách bắt giam hai nhà báo được nhiều uy tín trong công cuộc chống tham nhũng.“
Linh mục kết luận:” Với việc bắt giam hai nhà báo hàng đầu trong việc đấu tranh chống tham nhũng, Nhà Nước chứng tỏ việc chống tham nhũng chỉ là một trò hề. Những người có chức có quyền sống trên xương máu của người dân muốn dẹp hẳn phong trào này, biến phong trào này thành một thứ trang trí cho chế độ, chứ không muốn dẹp quốc nạn.“
Cái trò hề là ở chỗ: Nhà Nước hô hào chống Tham nhũng để mỵ dân, nhưng khi Dân chống Tham nhũng thực sự, thì CSVN lại sợ Dân khui ra cả đảng vì đứa nào cũng tham nhũng. Dân oan có lý để la hò giải tán Ban Chỉ Đạo Chống Tham nhũng vì Ban này là trò tếu, trò hề và trò đểu tại vì chính Ban chống Tham nhũng lại không muốn cho người ta chống Tham nhũng.
Tham nhũng là những bãi phân lộ diện, phải diệt con trùng ỉa ra bãi phân mới được
Riêng phần tôi, tôi không quan tâm nhiều đến việc chống tham nhũng hay không chống tham nhũng. Khi Nhà Nước CSVN hô hào chống tham nhũng hay dùng biện pháp diệt những người dám chống tham nhũng, tôi coi là thứ yếu, là tếu là trò hề, là đểu cán. Điều mà tôi quan tâm chính yếu là phải diệt cái nguyên nhân tham nhũng.
Tôi coi tham nhũng, lãng phí là những bãi phân, khi thì vùi kín đi được, khi thì để lộ ra để người ta thấy mà chống. Bãi phân được dấu kín hay sơ hở để lộ ra không phải tự nhiên mà có những bãi phấn ấy. Phải có người ỉa ra thì mới có bãi phân. Điều quan trọng đối với tôi không phải là những bãi phân, mà chính là người ỉa ra những bãi phân đó. Muốn diệt Tham nhũng và Lãng phí, không phải là đi hốt những bãi phân để lộ ra, mà phải diệt chính những tên ỉa ra những bãi phân ấy.
Trong bài QUAN ĐIỂM tuần trước, chúng tôi đã viết về những điều kiện sinh ra Tham nhũng, Lãng phí như sau:
=> Điều kiện ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ. Thực vậy, nếu không có độc tài chính trị, mà đi Lãng phí, ăn bẩn Tham nhũng, thì người ta vặn cổ đi cho chết yểu rồi. Phải có độc tài chính trị, xử dụng Công an để dưới chiêu bài ổn định chính trị mà bóp họng người khác.
=> Điều kiện ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Tham nhũng và Lãng phí thuộc về Tiền bạc, của cải, Kinh tế. Dành độc quyền Kinh tế thì mới vơ vét được nhiều tiền bạc.
=> Điều kiện ĐÁNH ĐĨ giữa ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để đẻ ra con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Tôi chủ ý dùng chữ đánh đĩ, chứ không phải tôi nói tục. Không thể dùng chữ giao cấu, mà phải dùng chữ đánh đĩ vì hai người đánh đĩ với nhau để đẻ ra quái thai THAM NHŨNG, LÃNG LÃNG, còn tìm cách lừa đảo nhau nữa. Nếu độc tài Chính trị mà sống độc thân, thọ thọ bất thân với Kinh tế, thì không thể sinh ra Tham nhũng, Lãng phí. Cũng vậy, nếu Độc quyền Kinh tế không có hoặc không được Độc tài Chính trị bảo trợ, thì làm sao làm Tham nhũng, Lãng phí bởi vì đụng đến tiền bạc người khác, họ vặn cổ đi. Phải có việc đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế thì mới đẻ ra quái thai THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ vậy.
Trong ba điều kiện trên đây, tôi đặc biệt lưu ý đến việc ĐÁNH ĐĨ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế. Chính việc đánh đĩ này mới đẻ ra Tham nhũng, Lãng phí. Phải tách rời hai phương diện ra, không cho chúng chung đụng để ĐÁNH ĐĨ mà đẻ ra quái thai Tham nhũng, Lãng phí.
Hốt những bãi phân tham nhũng, lãng phí, đó chỉ là nhất thời, giai đoạn. Nhưng trong trường kỳ, những người ỉa ra những bãi phân vẫn còn đó, thì chúng tiếp tục ỉa ra những bãi phân để phải hô hào đi hốt nữa. Cũng vậy, nếu diệt những quái thai tham nhũng, lãng phí, mà không diệt tận gốc việc ĐÁNH ĐĨ giữa độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế, thì quái thai lớn bé còn nhung nhúc lòi ra do việc ĐÁNH ĐĨ này.
Tỉ dụ thay Kết luận: Bắt sâu dâu
Nhà ai nuôi tằm lấy tơ, thì thường có vườn dâu để lấy lá cho tằm ăn. Trong ruột cây dâu, có thể có con sâu dài tới gần bằng ngón tay út. Bắt được con sâu ấy, đem nướng mà ăn, thì thật thơm ngon. Người ta cũng bắt sâu dâu để ngâm rượu uống cho bổ.
Nhưng làm sao biết được cây dâu nào có con sâu trong cả một vườn dâu chừng mấy ngàn cây?
Con sâu dâu sống trong cây dâu, chứ không bò ra ngoài để mình bắt. Nó đào trong ruột cây dâu thành một đường mương để ăn hết nhựa dâu từ gốc ăn lên. Muốn biết cây dâu nào có con sâu, thì xem những bãi phân mà nó đùn ra ngoài rơi xuống gốc cây dâu. Xem những bãi phân đùn ra ngoài, thì biết ở trong có con sâu và con sâu này lớn cỡ nào.
Nếu chỉ hốt những bãi phân đùn ra, thì cứ phải hốt hoài, nghĩa là sâu vẫn tiếp tục ăn nhựa cây dâu để ỉa ra những bãi phân. Để chấm dứt việc sâu ăn nhựa cây dâu cho đến tàn héo và để đỡ mệt công hốt phân dâu, thì phải bắt chính con sâu nằm trong lòng cây dâu ấy.
Thường buổi sáng, sâu dâu theo đường mương trong lõi cây từ gốc và mò lên cao. Vì vây sáng sớm, ra cây dâu có phân, dùng dao thật sắc, chém gần gốc dâu cho đứt cây dâu. Sâu chưa kịp chạy xuống gốc để núp. Lúc ấy chẻ thân cây dâu ra, thì bắt được sâu.
Gốc dâu còn lại mà không còn con sâu nữa, có thể mọc lên những cây dâu con không có sâu và tươi tốt. Phải diệt hẳn con sâu thì mới cứu được cây dâu để sinh ra cây nhỏ vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:
Bài 04:
DŨNG & QUỐC HỘI CỐ TÌNH NÉ TRÁNH CĂN BỆNH NỘI TẠNG KINH TẾ/TÀI CHÁNH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Ngày 28.02.2008, Nhà Nước CSVN đành phải nói ra rằng Kinh tế/Tài chánh Việt Nam đang bị nóng lạnh, sổ mũi nhức đầu và tìm cách để chữa trị. Đầu tiên, Nguyễn Tấn Dũng, tại Việt Nam cũng như tại Luân Đôn, đã tìm cách đổ lỗi cho cuộc Khủng hoảng Tín dụng Địa ốc Hoa kỳ và việc tăng giá dầu lửa. Một số Tiến sĩ Kinh tế quốc doanh phụ họa theo trong chiều hướng đổ lỗi ấy.
Họp Bộ Tài Chánh, Ngân Hàng Nhà Nước VN, rồi Nội các để tìm cách chữa trị. Dũng viết ra đơn thuốc gồm 8 vị thuốc. Các Tiến sĩ quốc doanh rồi Báo Đài bồi bút ca tụng như thuốc tiên, chứ không thuộc lại thuốc tễ bằng cơm khô của mấy chú chệt.
Nếu chỉ nóng lạnh, sổ mũi nhức đầu, thì dùng dầu cù là thoa bóp hoặc cạo gió thì cũng bớt đi. Già lắm đau bụng ỉa chảy do đồ thừa Trung cộng thải xuống, thì thậm chí hái lá thúi địt (lá mơ) tráng trứng ăn cũng cầm được.
Nhưng bệnh càng gia tăng và trầm trọng hơn. Một số Kinh tế gia như Roger Mitton..., nhất là Quỹ Tiền Tệ Quốc tế và Ngân Hàng Thế Giới đã cảnh cáo rằng đây không phải là sổ mũi nhức đầu thường, hoặc chỉ ỉa chảy do đồ thừa Trung cộng, mà là căn bệnh trong nội tạng của Kinh tế Việt Nam.
Ngày 06.05.2008, Dũng gặp gỡ Quốc Hội và đọc bài diễn văn đồng thời phải nghe một số những chất vấn của Dân Biểu Quốc Hội (dù là nghị gật). Dũng không còn hung hăng khoác lác đổ lỗi bệnh cho Hoa kỳ và giá xăng nữa. Bài diễn văn và những chất vấn đi vào chiều sâu hơn của cơn bệnh.
NHỮNG PHÁT HIỆN CỦA CƠN BỆNH
Dũng và Quốc Hội đành phải nói ra những phát hiện trầm trọng của cơn bệnh.
Trong bài diễn văn, Dũng đành phải đề cập đến những điểm sau đây:
=> “... hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng, đặc biệt trong kiểm tra, giám sát hoạt động các ngân hàng thương mại còn kém hiệu quả, để các ngân hàng cho vay kinh doanh chứng khoán và bất động sản, sử dụng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn...“
=> “... chi đầu tư từ khu vực nhà nước vẫn còn lớn nhưng hiệu quả thấp. ...tỷ lệ bội chi ngân sách ở mức 5% đã được giữ liên tục trong nhiều năm trong khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn nhưng chưa đặt ra kế hoạch phấn đấu giảm dần bội chi..“
=> “... vai trò nhà nước trong quản lý thị trường (trong đó có thị trường chứng khoán, bất động sản) còn yếu kém...”
Về thuốc chữa, ông nói:
=> “Yêu cầu khẩn thiết nhất là thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ chặt chẽ hiệu quả theo hướng tiết kiệm chi, đặc biệt chi thường xuyên và kiểm soát đầu tư công, giảm dần bội chi ngân sách.“
Các Đại biểu Quốc Hội nêu nhận xét:
=> Bà Phạm Thị Loan: “Chính phủ đã nhận ra nhiều thiếu sót, những yếu kém của nền kinh tế, tuy nhiên, các giải pháp đưa ra mới chỉ dừng lại ở trạng thái xử lý tình huống và giải quyết những vấn đề khó khăn trước mắt chứ chưa triệt để, lâu dài.... QH phải bàn thật sâu vấn đề các tập đoàn kinh tế đã bỏ một lượng vốn lớn của Nhà nước vào bất động sản và chứng khoán, trong khi đó không phải là chức năng của họ. Chính phủ phải kiểm tra xem họ mua vào mấy "chấm", nay không còn "chấm" nào thì lỗ bao nhiêu, ai chịu"
=> Oâng Nguyễn Ngọc Đào: “Thị trường chứng khoán là một thất bại thảm hại, lỗi quản lý thuộc về ai? Báo cáo Chính phủ nêu các khó khăn khách quan như thị trường thế giới, thiên tai... Nhưng chả lẽ cứ lấy lý do mãi như thế?... Chính phủ phải làm rõ nguyên nhân chủ yếu khiến lạm phát là gì, trách nhiệm các bộ, ngành, thậm chí của cá nhân các Bộ trưởng ra sao, không thể cứ thỏa hiệp thế này mãi"
=> Oâng Trần Du Lịch: “Đề nghị CP chấm dứt bảo lãnh tín dụng, bao cấp cho tập đoàn nhà nước. Chẳng hạn riêng Vinashin đã được bao cấp vay 750 triệu đôla vốn trái phiếu"
=> Bà Trần Thị Quốc Khánh: “Nhiều tập đoàn đã được Nhà nước ưu đãi quá nhiều, Chính phủ đã nhận ra nhưng chỉ nói "kiểm soát chặt chẽ" việc đầu tư không đúng ngành nghề. Tại sao không nghiêm cấm luôn để từ nay họ không còn dám đem tiền của dân làm những việc theo ý muốn của một nhóm người?
=> Oâng Nguyễn Duy Hữu: “... trong đợt sốt gạo "ảo" vừa qua, một đại lý bán gạo "khoe" mỗi ngày kiếm được 400 triệu đồng tiền lãi, người buôn bán lẻ chí ít cũng thu được 50 triệu. Chính phủ phải có tiếng nói mạnh mẽ, đánh giá tổng thể về tất cả chương trình nhà nước về nông nghiệp - nông dân - nông thôn. Giá gạo tăng có thể xem như một tiếng sét, để Chính phủ có thể thức tỉnh trong thái độ đối xử với nông dân"
Tất cả những lời nói ra trên đây của Dũng cũng như của một số Dân biểu Quốc Hội mới chỉ là nhận xét về sự phát hiện của cơn bệnh Lạm phát, Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay. Nhưng đàng sau những phát hiện bề nổi ấy, phải có một thứ vi trùng sinh ra những phát hiện của cơn bệnh. Cả Dũng và Dân biểu tránh né không dám nói rõ ra tên con vi trùng đã và đang hoành hành để phát hiện ra bề nổi của cơn bệnh. Họ tránh né nói ra tên như sợ phạm húy vậy hoặc chính từng người trong họ đang mang con vi trùng ấy nên không dám nói ra vì sợ hổ thẹn.
TÊN CON VI TRÙNG ẤY LÀ THAM NHŨNG VÀ LÃNG PHÍ
Thực vậy, xin độc giả lấy bất cứ câu nói nào trên đây diễn tả phát hiện của cơn bệnh, thì đều thấy đàng sau câu nói ấy, con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ ngồi chồm hổm một đống. Tỉ dụ, khi Dũng nói: “... chi đầu tư từ khu vực nhà nước vẫn còn lớn nhưng hiệu quả thấp. ...tỷ lệ bội chi ngân sách ở mức 5% đã được giữ liên tục trong nhiều năm“. Nhà Nước chi nhiều mà hiệu quả thấp, rồi bội chi 5% từng năm đã nhiều năm rồi, thì đó là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ chứ gì. Cũng vậy, khi Bà Trần Thị Quốc Khánh nói: “Nhiều tập đoàn đã được Nhà nước ưu đãi quá nhiều, Chính phủ đã nhận ra nhưng chỉ nói "kiểm soát chặt chẽ" việc đầu tư không đúng ngành nghề. Tại sao không nghiêm cấm luôn để từ nay họ không còn dám đem tiền của dân làm những việc theo ý muốn của một nhóm người?" Con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ nằm chình ình trong sự phát hiện cơn bệnh như vậy.
Con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ được sinh ra trong điều kiện nào ?
=> Điều kiện ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ. Thực vậy, nếu không có độc tài chính trị, mà đi Lãng phí, ăn bẩn Tham nhũng, thì người ta vặn cổ đi cho chết yểu rồi. Phải có độc tài chính trị, xử dụng Công an để dưới chiêu bài ổn định chính trị mà bóp họng người khác.
=> Điều kiện ĐỘC QUYỀN KINH TẾ. Tham nhũng và Lãng phí thuộc về Tiền bạc, của cải, Kinh tế. Dành độc quyền Kinh tế thì mới vơ vét được nhiều tiền bạc.
=> Điều kiện ĐÁNH ĐĨ giữa ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ và ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để đẻ ra con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Tôi chủ ý dùng chữ đánh đĩ, chứ không phải tôi nói tục. Không thể dùng chữ giao cấu, mà phải dùng chữ đánh đĩ vì hai người đánh đĩ với nhau để đẻ ra quái thai THAM NHŨNG, LÃNG LÃNG, còn tìm cách lừa đảo nhau nữa. Nếu độc tài Chính trị mà sống độc thân, thọ thọ bất thân với Kinh tế, thì không thể sinh ra Tham nhũng, Lãng phí. Cũng vậy, nếu Độc quyền Kinh tế không có hoặc không được Độc tài Chính trị bảo trợ, thì làm sao làm Tham nhũng, Lãng phí bởi vì đụng đến tiền bạc người khác, họ vặn cổ đi. Phải có việc đánh đĩ giữa Độc tài Chính trị và Độc quyền Kinh tế thì mới đẻ ra quái thai THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ vậy.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:
Bài 03:
DÂN OAN CHỈ RÕ CHO CSVN BIẾT ĐÂU LÀ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Xin quý độc giả hãy vào Web: http://www.vietnamexodus.org/vne/ để nghe tiếng nói của Dân Oan xỉa xói thẳng vào đảng CSVN và chế độ về tình trạng bệnh hoạn, khủng hoảng KT/TC hiện nay là do con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ được sinh ra từ việc đánh đĩ giữa độc tài Chính trị và độc đoán nắm quyền Kinh tế cho đảng. Tôi nói xỉa xói, đó là còn nhẹ, nhưng nếu độc giả xem hình ảnh những Bà Mẹ Dân Oan la thét, chửi thẳng nhân viên trung ương Phòng chống tham nhũng là những người ăn khí huyết của các Bà, rồi đồng thanh hô to rằng phải giải tán Ban Chỉ Đạo Trung ương Phòng Chống Tham Nhũng mà Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu, thì mới thấy sự uất ức của Dân Oan. Các Bà nói toặc móng heo ra, chửi bới, la hò, không nể nang gì nữa.
NHỮNG TIẾN SĨ KINH TẾ NGU MUỘI HAY HÈN NHÁT
Những Bà Mẹ Dân Oan này không cần phải học đến Cử Nhân, Tiến sĩ Kinh tế từ Đại Học Kinh tế Hà Nội, từ Uùc, Pháp, Mỹ. Các Bà đến từ những vùng quê hẻo lánh, nhưng các Bà thông suốt rằng cái căn bệnh Khủng hoảng Kinh tế, làm cho người nghèo càng nghèo đến cùng cực, đó là Tham nhũng và Lãng phí mà chế độ hiện hành đã đánh đĩ để đẻ ra.
Từ ngày 28.2.2008, cuộc Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh chính thức diễn ra. Những Tiến sĩ Kinh tế được Nhà Nước nhóm họp để tìm những nguyên nhân, để kiếm thuốc chữa trị. Nhưng không Tiến sĩ nào tìm ra và nói cho chế độ biết rõ cái căn bệnh như Bà Mẹ Dân Oan đã nói thẳng ra.
=> Những dự án được viết ra giống như in Ronéo từ Trung ương tới các Tỉnh. Nhà Nước CSVN lấy công quỹ hoặc qua lạm phát tiền tệ để thực hiện dự án.
=> Việc nhập siêu đang làm mất thăng bằng cán cân Thương mại quốc gia
=> Nhân danh công nghệ hoá bừa bãi, Trung ương và các Tỉnh thi nhau trưng dụng đất đai, ngay cả những ruộng vườn trồng lúa, trông cây ăn trái.
Qua những dự án, qua việc nhập siêu, qua trưng dụng đất đai, thì những đảng viên, nhất là cao cấp, mới có cơ hội cắt xén của chung vào túi riêng của mình. Tại sao những Tiến sĩ, Cử Nhân Kinh tế không nhìn thấy rằng đầu óc những đảng viên được chấp thuận dự án, được phép nhập siêu, được trưng dụng đất đai, ngày đêm nghĩ đến việc ăn bẩn được bao nhiêu cho riêng mình, nghĩa là cái con vi trùng THAM NHŨNG nằm trong tim đen của mỗi đảng viên vừa nắm quyền độc tài Chính trị vừa dành độc đoán Kinh tế ?
Nếu những Tiến sĩ, Cử nhân Kinh tế ấy không nhìn thấy cái căn bệnh của Lạm phát, của Khủng hoảng Kinh tế Tài chánh, đó là ngu dốt. Nhưng nếu không ngu, đã nhìn thấy tỏ tường mà không dám nói thẳng ra, đó là hèn nhát, sợ mất miếng cơm chính cho bản thân mình.
NHỮNG BÀ MẸ DÂN OAN THÔNG MINH VÀ CAN ĐẢM
Như chúng tôi đã nói ở phần đầu, các Bà Mẹ Dân Oan không cần phải đi Tây, đi Tầu, đi Mỹ gì cả để học lấy những bằng cấp cho cao. Các Bà chỉ ngồi ở nhà quê trồng ngô khoai, mà các Bà đã nhìn thấy rõ cái căn nguyên gây Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế Tài chánh. Đó là con vi trùng Tham nhũng, Lãng phí đang gây bệnh tật cho Dân tộc, cho chính thân xác các Bà. Những Cử nhân, Tiến sĩ Kinh tế, nếu ngu muội, thì hãy lắng nghe bài học của các Bà Mẹ Dân Oan dậy cho.
Còn nếu không ngu muội, thì hãy nhìn gương các Bà dám nói lên sự thật. Qua việc đồng thanh cất lên tiếng nói, yêu cầu giải tán Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng, các Bà muốn trị thẳng vào cái con trùng đang làm cho Đất Nước thiệt hại, cho Dân tộc đau khổ. Các Bà cắt nghĩa đơn giản và vào thẳng vấn đề:
=> Phòng Chống Tham nhũng không phải là chỉ bất lực không giải quyết được sự bất công, mà lại còn nhận tham nhũng của những kẻ đã tham nhũng để cúi gầm mặt câm như hến, để tham nhũng càng chồng chất.
=> Vậy thì hãy giải tán ngay Ban Chỉ Đạo cái Phòng Chống Tham nhũng này mà chính Nguyễn Tấn Dũng nắm đầu.
Xin nhắc lại cái con vi trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ là quái vật do dự giao cấu điếm đàng giữa độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế. Phải tách rời quyền Chính trị ra khỏi quyền Kinh tế để chúng đừng đánh đĩ với nhau mà sinh ra quái vật THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Các Cử nhân, Tiến sĩ Kinh tế cố vấn hãy can đảm như những Bà Mẹ Dân Oan mà nói thẳng với chế độ cái việc giao cấu điếm đàng giữa độc tài Chính trị và việc nắm quyền độc đoán Kinh tế.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:
Bài 02:
CSVN CHỮA KHỦNG HOẢNG KT/TC NGOÀI DA MÀ KHÔNG CHỮA NỘI THƯƠNG
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Trong bài MỞ ĐẦU cho loạt bài Chủ đề này, cùng với Nhận định khúc chiết của Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG, chúng tôi đã nói rằng cái căn nguyên của nguyên nhân Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh đặc biệt cao hơn hết của Việt Nam là ở con Vi Trùng sinh ra từ Độc tài Chính trị độc đảng nắm trọn nền Kinh tế Việt Nam.
Những biện pháp đưa ra để chữa trị Lạm phát, Khủng hoảng Kinh tế/Tài chánh hiện nay của Nhà Nước chỉ là chữa trị ngoài gia như thoa dầu cù là để mỵ dân hoặc để chứng tỏ mình có chạy chữa thuốc thang. Ngay cả những Tiến sĩ, Thạc sĩ Kinh tế của chế độ nhận định về những thang thuốc của Nhà nước độc tài CSVN, nhưng họ không dám chỉ đích danh con Vi trùng vì vẫn phải giữ nồi cơm riêng của họ. Chỉ trừ Tiến sĩ Lê Đăng Doanh có những đề nghị có phần can đảm, nhưng Tiến sĩ vẫn phải dè chừng với chế độ côn đồ CSVN có thể làm khó dễ Oâng. Tuy vậy, qua những nhận định mang yếu tố lệ thuộc vào chế độ mà không dám nói sự thật, chúng tôi đã nhận thấy những điểm sau đây:
=> Qua phát biểu của Mặt Trận Tổ Quốc, chúng tôi thấy rằng Nhà Nước không thèm quan tâm đến đời sống của đại đa số Dân nghèo Việt Nam với khả năng nổi dậy vì quyền Dạ Dầy mà quét sạch Chính quyền dù là độc tài khát máu.
=> Qua 7 điểm tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng, người ta thấy rằng Nhà Nước khẳng định có những Dự án hỗn loạn để tiêu xài Ngân quỹ Quốc gia từ nhiều năm nay. Đó là nguyên nhân của Lạm phát và Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh.
=> Việc nhập siêu làm mất cân bằng cán cân thương mại là nguồn ăn bẩn của đảng CSVN. Nhập siêu tăng vọt tới 17 tỉ đo-la rồi.
Những điểm chính yếu trên mà Nhà Nước CSVN muốn chữa trị chỉ là ngoài da như thoa dầu cù là hay cạo gió. Cái điểm căn bản để chữa trị, đó là con vi trùng của căn bệnh, đó là việc ĐỘC ĐẢNG, ĐỘC QUYỀN CHÍNH TRỊ và TOÀN QUYỀN NẮM GIỮ KINH TẾ. Những độc quyền đó đánh đĩ với nhau để lòi ra con Vi Trùng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ ăn ruỗng nền Kinh tề Việt Nam đã bao năm trường để có tình trạng Lạm phát và Khủng hoảng ngày nay.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | | CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC:
Bài 01:
NỔI DẬY VÌ ĐÓI/ EMEUTES DE LA FAIM
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Những ý tưởng chính của bài viết này đã được Đài Phát Thanh Pháp Quốc tế (Radio France Internationale) ghi âm lúc 11g ngày 16.04.2008 để phát thanh về Việt Nam như vấn đề Thời sự có liên quan đến tình hình lạm phát.
Xin nhắc lại câu mà Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám Đốc FAO của Liên Hiệp Quốc. đã tuyên bố với Financial Times năm ngoái vào tháng 10 nhân hiện tượng vật giá lương thực bắt đầu tăng:“Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói) (LE MONDE, 31.10.2007).
Từ khủng hoảng Tín dụng Sub-Prime Địa ốc Hoa kỳ, cuộc Khủng hoảng Tài chánh lan rộng ra Thế giới. Tình trạng suy thoái Kinh tế tổng quát đang diễn ra cho Thế giới. Lạm phát (Inflation), Khủng hoảng Tài chánh (Crise Financìere), Suy thoái Kinh tế (Récession Economique) làm mất Khả năng Tiêu thụ. Giới nghèo với đồng lương cố định trở thành khốn cùng khi vật giá tăng vọt, nhất là thực phẩm.
Chúng tôi xin đề cập những điểm sau đây: => Dân nghèo nổi dậy/ Emeutes de la faim => Lý do chung của việc tăng giá thực phẩm => Lý do vật giá tại Việt Nam tăng cao hơn những nước khác
Dân nghèo nổi dậy/ Emeutes de la faim
Đây là vấn đề thời sự đã đánh động Thế giới trong tuần vừa qua. Vì vật giá thực phẩm tăng vọt, dân Haiti đã nổi dậy biểu tình và có đến trên 10 người thiệt mạng. Những cuộc nổi dậy cũng đã xẩy ra tại Cameroun, Ai Cập, Nam Dương và Phi Luật Tân. Tình trạng nổi dậy của Dân Oan, Dân nghèo và Đình công tại Việt Nam đã từ nhiều năm nay, nhất là năm ngoái. Nhưng tại Việt Nam, Quốc tế ít nghe tới vì Nhà Nước CSVN đã đàn áp khắt khe và có hệ thống. Cũng lưu ý rằng cuộc nổi dậy tại Tây Nguyên ở vào thời điểm cách đây mấy hôm.
Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF/FMI) đã báo động Thế giới về việc nổi dậy này. Tổ chức Lương Thực Thế giới FAO của Liên Hiệp Quốc đã tường trình khả năng Dân nổi dậy tại 37 nước nghèo, trong đó có Việt Nam và Trung quốc. “Les émeutes de la faim commencent (Những cuộc nổi dậy vì đói bắt đầu)“. Đó là lời tuyên bố của một số Truyền Thông quốc tế. Đây không phải là những cuộc nổi dậy mang mầu sắc Chính trị, mà hoàn toàn vì nghèo đói. Tuy nhiên hậu quả của nó có thể làm thay đổi những thể chế Chính trị.
Hoa kỳ đã bỏ ra 200 triệu đo-la để khẩn cứu Phi châu. Một Tường Trình quy tụ ý kiến của 400 nhà Khoa học Xã hội sẽ được trình bầy tại UNESCO tuần này với mục đích đề nghị một Chính sách thay đổi phân phối lương thực Thế giới.
Lý do chung của việc tăng giá thực phẩm
RFI (Radio France Internationale) phỏng vấn chúng tôi về những lý do chính cho việc tăng giá thực phẩm. Chúng tôi phân tích những lý do chung này dưới bốn phương diện sau đây:
=> Phương diện cấu tạo giá thành hàng hóa
Ở phương diện này, chúng ta phải nói đến việc tăng giá dầu lửa như một nhiên liệu. Thực vậy, ít nhiều, ở thời đại này, nông nghiệp, ngư nghiệp được cơ giới hóa cho sản xuất. Khi nói cơ giới hóa (máy nổ), thì phải nói đến xử dụng năng lực dầu lửa (énergie pétrolìere).
Dầu lửa không phải chỉ cung cấp năng lực, mà còn cung cấp những sản phẩm được rút ra để xử dụng như vật liệu chất nhựa (plastique), những hóa chất căn bản. Tỉ dụ phân đạm Urea 46% N được sản xuất từ dầu lửa. Những dây thừng, lưới bằng dây nhựa cũng từ dầu lửa.
Việc chuyên chở thực phẩm để phân phối trên Thế giới cũng xử dụng năng lực dầu lửa.
Như vậy, khi giá dầu lửa tăng, thì tất cả những yếu tố xử dụng trên sẽ cấu thành giá thành của hàng hóa, của thực phẩm.
=> Phương diện giảm lượng cung thực phẩm
Một đàng giá thành thực phẩm tăng như trên đã nói, một đàng số lượng CUNG thực phẩm cho Thị trường giảm, thì đó càng làm cho lạm phát cao. Ba lý do chính sau đây cho thấy việc CUNG thực phẩm giảm đi:
* Những nhà nghiên cứu về việc hâm nóng khí hậu trái đất đều nhận định rằng việc hâm nóng này đã làm cho thu hoạch nông nghiệp giảm xuống.
* Để phản ứng lại việc tăng giá dầu lửa, những cố gắng sản xuất dầu chạy máy được khai triển từ thực vật, hột bắp chẳng hạn. Những nhà máy được thiết lập đển biến chế bio-carburant cho xe hơi. Những nhà máy này đã xử dụng tới 1/3 sản lượng hột bắp của Hoa kỳ.
* Tại những nước nghèo, tỉ dụ 37 nước mà FAO đã kể ra, các Chính phủ đã chủ trương công nghệ hóa một cách hỗn loạn và quên khía cạnh phát triển nông thôn để bảo đảm lương thực cho dân chúng. Việc công nghệ hóa hỗn loạn này nhằm phục vụ cho xuất cảng sang những nước giầu. Có hai hậu quả: (i) tình trạng chiếm đất trồng trọt cho khu công nghệ; (ii) nông dân bỏ nông nghiệp để trở thành thợ thuyền, một tình trạng exode rural làm nông nghiệp yếu kém đi.
=> Phương diện lạm phát tiền tệ
Hai phương diện trên đây cho thấy lý do thực của vật giá tăng, nghĩa là tăng giá thành và giảm số lượng cung ở Thị trường.
Tại những nước nghèo, với tham vọng công nghệ hóa bừa bãi của quyền lực Chính trị, việc lạm phát xẩy ra một phần khá quan trọng từ việc mất giá đồng tiền. Tỉ dụ điển hình là vào thập niên 80 tại các nước Nam Mỹ.
Trong Hệ thống Tiền tệ lấy vàng làm bảo chứng (Etalon-Or) hoặc lấy một Ngoại tệ mạnh làm căn bản (Etalon-Devise-Or), thì đồng tiền của những quốc gia nhỏ có điểm tựa để xoay quanh. Nhưng từ khi đồng tiền được định trên Khả năng Tiêu thụ (Pouvoir d’Achat), thì đồng tiền tùy thuộc vào tình trạng sản xuất và việc quản trị đứng đắn của khối tiền lưu hành hay không. Vật giá chỉ còn là một sự tương đương giữa con số của đồng tiền và hàng hóa:
MV ---- = P (MV= Khối lượng tiền lưu hành; T= sản lượng hàng hóa; P=Chỉ số giá) T
Nếu tăng khối lượng tiền lưu hành mà không tăng sản lượng hàng hóa, thì đồng tiền mất giá. Cũng vậy, nếu khối lượng tiền lưu hành giữ nguyên mà khả năng kinh tế cung cấp sản lượng hàng hóa yếu đi, thì đồng tiền cũng mất giá.
Ở những nước nghèo, kém mở mang, các Chính quyền, nhất là những Chính quyền độc tài, dễ xâm phạm vào lãnh vực tiền tệ làm tăng khối lượng lưu hành tiền tệ. Thực vậy, làm tăng khả năng sản xuất Kinh tế thì khó, nhưng làm tăng khối lượng lưu hành tiền tệ thì dễ, nên Nhà nước thường lấy phương tiện này để cung cấp cho chi tiêu bất chính.
Những người lĩnh lương cố định bị thiệt thòi bởi vì họ phải mua hàng hóa với đồng tiền đã mất giá, nghĩa là họ nhận được tương đương hàng hóa ít hơn. Đây là lạm phát tiền tệ.
Giáo sư Florin AFTALION đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài: ”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2)
=> Phương diện đầu cơ tích trữ
Trong thời kỳ giao động của giá cả, nhất là theo chiều hướng lạm phát, không thể nào không có tình trạng đầu cơ trích trữ đễ làm tăng thêm giá cả.
Ở những nước nghèo, việc làm Kinh tế, Thương mại là do thân cận, đặc quyền đặc lợi, Luật pháp làm ăn không được nghiêm minh sáng sủa, thì việc đầu cơ tích trữ hầu như không thể tránh được. Tại những nước này, các Chính quyền dễ độc đoán và mang hai cái tật khiến giới đầu cơ dễ hoành hành:
* Một đàng muốn mỵ dân để bảo vệ quyền hành, nên thường đặt những giá trần nhà (prix plafond) như để bảo vệ dân nghèo. Nhưng thực ra, tất cả những can thiệp của nhà nước (interventions etatiques) để đặt giá trần nhà đều mang đến hậu quả là kéo dài tình trạng chợ đen bởi vì cung luôn luôn yếu hơn cầu và do đó kéo dài tình trạng đầu cơ tích trữ, kéo dài tình trạng lạm phát.
* Mặt khác Nhà Nước phải tốn kém tăng cường kiểm soát mà việc kiểm soát này rất dễ bị tham nhũng hoành hành. Cuối cùng dân tiêu thụ phải chịu chi tiêu kiểm soát và phải trả tiền tham nhũng thay cho kẻ đầu cơ tích trữ.
Lý do vật giá tại Việt Nam tăng cao hơn những nước khác
RFI (Radio France Internationale) hỏi đặc biệt chúng tôi về những lý do tại sao giá thực phẩm ở Việt Nam tăng cao nhiều hơn những nước khác, nhất là những nước chung quanh Việt Nam. RFI cũng hỏi tại sao Việt Nam là nước sản xuất gạo, mà giá gạo lại tăng lên cao như hiện nay.
Nhà nước Việt Nam luôn luôn dấu diếm việc vật giá tại Việt Nam tăng cao hơn các nước khác. Nếu phải bàn đến lạm phát, thì Nhà Nước cũng chỉ nói đến lý do chung là giá dầu lửa tăng hoặc đưa ra lý do thiên tai tại Việt Nam. Thực ra, chỉ có mùa rét vừa rồi tại Miền Bắc là lý do thiên tai có thể thông cảm, nhưng một số lý do khác đang làm yếu kém Kinh tế Việt Nam là những lý do thuộc phát triển công nghệ bừa bãi của chế độ.
Trong bài Mở Đầu cho Loạt bài Chủ để: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC, chúng tôi đã nêu ra một con vi trùng nguy hiểm đã gậm nhấm Kinh tế Việt Nam không phải là gần đây, mà đã từng chục năm để dẫn đến tình trạng Lạm phát, Khủng hoảng đặc biệt. Con vi trùng ấy là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ của độc đảng, của thể chế độc tài về Chính trị và nắm trọn quyền can thiệp vào Kinh tế.
=> Những lý do hiện giờ đang làm yếu kém Kinh tế Việt Nam
Ba lý do hiện hành đang và sẽ gây yếu kém cho Kinh tế Việt Nam và do đó tăng lạm phát và khủng hoảng thêm:
* Nạn rét đầu năm 2008 phá hoại nông thôn Miền Bắc: trâu bò chết tới 180'000 con. Gia súc cũng thiệt hại nặng. Cây trồng bị chết cóng. Mùa màng chậm trễ và thiệt hại. Đây là lý do hoàn toàn thiên tai.
* Hai trận lũ lụt Miền Trung làm dân nghèo thêm và làm thiệt hại mùa màng. Việc chịu cảnh lũ lụt này phần lớn là do yếu tố nhân sự: khai thác quá đáng cây rừng tại vùng Cao Nguyên Trung phần để không còn khả năng chận nước.
* Hiện nay, tôm cá tại đồng bằng Sông Cửu Long bị chết từng loạt. Đây là hậu quả của việc thải chất độc từ tình trạng công nghệ hóa bừa bãi.
=> Con vi trùng Tham nhũng, Lãng phí hoành hành
Con vi trùng này là hậu quả của độc đảng, của thể chế Chính trị độc tài, của việc nắm trọn quyền Kinh tế. Những sinh hoạt Kinh tế, nếu có phát triển, thì kết quả cũng nằm vào túi một nhóm người: đảng, con cháu đảng, thân cận đảng. Đó là nền Kinh tế bóc lột Nhân lực và Tài nguyên Việt Nam. Ngày nào còn độc đảng, độc tài Chính trị và độc đoán nắm quyền Kinh tế, thì con vi trùng Tham nhũng, Lãng phí tự động nẩy sinh và làm thiệt hại sự phát triển Kinh tế.
Chúng ta có thể kể ra những tác hại của con vi trùng ấy ở những việc sau đây:
* Những dự án bừa bãi. Cách đây nhiều năm, chúng tôi đã có dịp thảo luận về những dự án ở Việt Nam. Những quan chức, những người có công đánh nhau... thi nhau đưa dự án để lấy tiền Nhà Nước thi công dự án. Đối với mỗi dự án, các quan chức chủ dự án có thể cắt xén một phần vào túi riêng cho mình. Đảng làm ngơ và coi đây là việc thưởng công đã đánh trận
* Năng suất kém của những Công ty Nhà nước (đảng). Thực vậy, Công ty Nhà Nước không cần cạnh tranh, do đó năng suất kém. Có thua lỗ, thì đã có vốn Nhà Nước bù vào. Mới ngày hôm nay, khi nói về Hậu quả từ các dự án công, Oâng Mặc Lâm đã hỏi Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: “Thưa Tiến Sĩ, gần đây ông có đưa ra đề nghị là nên giảm những dự án công không hiệu quả vì những dự án này đã góp phần vào cơn sốt lạm phát hiện nay. Xin ông vui lòng cho biết thêm chi tiết về vấn đề này“. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh trả lời:“Từ trước đến nay thì nhà nước Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng trong việc đầu tư. Tỷ trọng đầu tư của nhà nước khoảng 50% tổng đầu tư của nguồn vốn xã hội và so với lại tổng mức đầu tư của Việt Nam là khoảng 40% GDP thì nguồn vốn đầu tư của nhà nước chiếm khoảng một nửa, tức là khoảng dộ 20-21% GDP, trong đó thì có phần vốn ngân sách và có nguồn vốn ODA, và cũng có nguồn vốn bán trái phiếu chính phủ ở trong nước và ngoài nước.... Hiện nay kinh tế quốc doanh chiếm 38% GDP , nhưng sử dụng tới 50% số vốn đầu tư của ngân sách và 70% tín dụng, nhưng chỉ tạo ra được độ 8 tới 9% công ăn việc làm mà thôi.“
* Năng suất đã kém, các Công ty Nhà Nước còn lãng phí. Oâng Cư Hòa Vần, Phó Chủ tịch MTTQ, đặt vấn đề: Có phải lãng phí tràn lan ở các địa phương chính là một trong những yếu tố gây lạm phát? Oâng nói:"Có những tỉnh còn nghèo, thu ngân sách chưa đến 100 tỷ đồng nhưng làm hội trường mất đến 200 tỷ. Đường vành đai chỗ nhà tôi ở làm 20 năm rồi, qua 3 nhiệm kỳ Thủ tướng rồi vẫn chưa xong, gây lãng phí vô cùng....Miền núi rất nghèo nhưng nghe nói có chủ tịch, bí thư có ghế trị giá 20 triệu đồng. Một số lãnh đạo khi về hưu có "cơ sở" hết ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, mua xe riêng không kém sang trọng so với xe công thời đương chức. Có phải tất cả những điều này khiến lạm phát không?"
* Nhập siêu tăng vùn vụt tới 17 tỉ đo-la làm mất thăng bằng cán cân thương mại. Nếu nhập siêu với tiền Nhà Nước, thì dễ tăng giá lên mà mua để giữ số tiền cắt xén tại nước ngoài. Các quan chức VN làm ngược nguyên tắc Kinh tế: ”Muốn mua hàng với giá cao, chứ không chịu mua giá thấp !”
* Tình trạng lạm phát tiền tệ do Chính trị Nhà Nước chủ trương đã làm mất giá đồng tiền Việt Nam. Một bản phúc trình cho thấy rằng tổng kết tăng trưởng từ năm 2004 đến nay chỉ khoảng 30%, nhưng lạm phát tiền tệ lên tới 200%. Lạm phát tiền tệ đã quá mạnh. Việc lạm phát này là do Nhà Nước bao thầu các Dự án bằng phát hành Tiền tương lai (Monnaie virtuelle) và in Tiền mới ra để chi tiêu.
* Việt Nam không thể thiếu gạo, nhưng Nhà Nước xuất cảng để thu tiền không phải là để phát triển nông nghiệp, nhưng là cho vào những dự án công nghệ bừa bãi để các quan chức dễ bề cắt xén và lãng phí.
* Sau cùng, tình trạng đầu cơ tích trữ, tự tăng giá sản phẩm của các Công ty quốc doanh không thể tránh để bù đắp vào những thua lỗ do thiếu năng suất của mình và do lãng phí chi tiêu quá đáng.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
|
| | |
CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC: Bài Mở Đầu:
CON VI TRÙNG CĂN BỆNH LẠM PHÁT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
CHỦ ĐỀ: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC
Chúng tôi đã viết loạt 15 Bài dưới Chủ đề: SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH dựa trên những nhận định của Bà Francoise NICOLAS về cuộc Khủng Hoảng Tài chánh Á châu năm 1997 và dựa vào những khẳng định của những Nhà Kinh tế như Alain FAUJAS, Florin AFTALION về những Nước bắt đầu phát triển đăng trong nhật báo LE MONDE số 19523, thứ Tư, ngày 31.10.2007 với những đầu đề như: (1) L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm Phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển); (2) L’INFLATION DETRUIT UNE ECONOMIE, MEME SI LES POLITIQUES PEUVENT L’APPRECIER (Lạm Phát phá hủy một nền Kinh tế, ngay cả khi Chính trị có thể chuộng nó); (3) LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh hoạn vì vật giá tăng).
Lúc này, kể từ ngày 28.02.2008, Lạm Phát, Khủng Hoảng Kinh tế/Tài chánh thực sự đang diễn ra trầm trọng tại Việt Nam. Nhà Nước CSVN đã đưa ra rất nhiều những liều thuốc để mong chữa trị căn bệnh Lạm Phát đang gây Khủng Hoảng Kinh tế Tài chánh. Đối với chúng tôi, Nhà Nước độc tài, độc đảng CSVN, nắm trọn cả Chính trị lẫn Kinh tế không thể nào chữa trị căn bệnh Lạm phát và Khủng hoảng này bởi lẽ con Vi Trùng của Căn bệnh nằm chính trong chủ trương độc tài độc đảng nắm trọn Chính trị và Kinh tế.
Chỉ có người DÂN, đại đa số quần chúng, khi bị đẩy đến đói nghèo, thì nổi dậy diệt thẳng vào con Vi trùng của Căn bệnh, mới có thể chữa trị tận gốc Lạm Phát, Khủng Hoảng mà thôi. Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố với báo Financial Times:“Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói) (LE MONDE, 31.10.2007).
Loạt bài Chủ đề này tiếp tục loạt 15 bài Chủ đề vừa viết xong về Khủng Hoảng.
CON VI TRÙNG CHÍNH CỦA CĂN BỆNH
Ngày 02.04.2008, đúng 5g30 sáng, vào các Diễn Đàn để tìm đọc những bài về Dân Oan, về Lạm phát tại Việt Nam, tôi gặp được bài của Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG với đầu đề: LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM: THỬ TÌM NGUYÊN NHÂN. Đọc xong bài, tôi rất đắc ý về việc Tiến sĩ đã nói đúng cái Nguyên Nhân của những Nguyên Nhân Lạm phát, nghĩa là chẩn mạch đúng cái Căn Bệnh của Lạm phát hiện giờ ở Việt Nam.
Thấy số điện thoại của Tiến sĩ ở cuối bài, tôi cầm điện thoại gọi liền về Tiến sĩ tại Hà Nội và may mắn gặp đúng Tiến sĩ. Tôi đã thực tình bầy tỏ sự ca ngợi của tôi đối với bài này. Và tôi tiếp rằng trong những tháng gần đây, tôi theo rõi những biện pháp chữa trị lạm phát mà Nhà Nước CSVN đưa ra, nhưng những thuốc chữa trị chỉ như dầu nóng thoa bóp bề ngoài. Thoa chỗ này, thì chỗ khác lại bùng lên.
Thực vậy bệnh Lạm phát, Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế ở Việt Nam là thứ bệnh đã âm ỉ từ lâu, chứ không phải là chỉ nóng lạnh, nhức đầu sổ mũi sơ sơ có tính cách nhất thời. Bệnh này trầm trọng, không thể chỉ cạo gió ngoài da, rồi thoa chút dầu cù là hiệu Con Cọp mà khỏi được.
Con vi trùng của căn bệnh đã ăn ruỗng thân xác từ nhiều năm nay. Nền Kinh tế Việt Nam chứa con vi trùng này mà đảng CSVN cố tình sơn phết che đậy tình trạng bệnh hoạn trước Dân chúng và Quốc tế. Nhưng ngày 28.02.2008, tình trạng Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế không còn có thể bưng bít được nữa.
CON VI TRÙNG ẤY LÀ CHỦ TRƯƠNG “ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”. Những chữ này được xử dụng để: (i) đảng CSVN vẫn giữ độc tài, độc đảng Chính trị; (ii) qua hệ thống Công ty quốc doanh, quyền lực Chính trị nắm trọn đời sống Kinh tế. Quyền lực độc tài Chính trị đánh đĩ với lòng tham giữ trọn Kinh tế đẻ ra CON VI TRÙNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Con vi trùng này ăn ruỗng nền Kinh tế Quốc gia.
Phải trị dứt con vi trùng này đã tác hại cho Việt Nam, không thể để độc tài Chính trị đánh đĩ nữa với lòng tham Kinh tế để tránh việc sinh ra thêm đàn vi trùng lúc nhúc.
NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG NGUYÊN NHÂN
Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG, tại Hà Nội, sau khi đã trích dẫn, tóm lược những nguyên nhân gần đang làm lộ diện Lạm Phát, Khủng Hoảng Kinh tế/ Tài chánh hiện nay, đã phân tích, tìm kiếm cái NGUYÊN NHÂN cũa những Nguyên Nhân. Tôi xin trích ra đây phần thứ hai này của bài viết:
“Câu hỏi đặt ra là, tại sao với nguồn nhân lực dồi dào, với thiên nhiên ưu đãi nhiều hơn so với nhiều nước khác, lại tiếp nhận được nguồn đầu tư rất lớn mà tổng lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chỉ đạt được quá thấp như vậy ?
Do cơ chế ?
Những năm gần đây người ta đã dám vô tư đổ lỗi cho cơ chế. - Nhưng, cái gì tạo ra cơ chế ? - Cơ chế chính là hiện thân của chế độ chính trị. - Ai ngoan cố duy trì mãi chế độ chính trị lạc hậu lỗi thời ? - Lãnh đạo đảng CSVN và nhà nước CHXHCN Việt Nam
Dựa trên 6 tiêu chí: tính hiệu năng của chính phủ, chất lượng chính sách và hoạt động điều tiết, thượng tôn pháp luật, tham nhũng, tiếng nói và trách nhiệm giải trình, ổn định chính trị để đánh giá chất lượng quản trị quốc gia của chính phủ, Ngân hàng Thế giới gần đây đã tiến hành một công trình khảo sát đối với 212 nước và vùng lãnh thổ. Kết quả cho thấy, ngoại trừ tiêu chí " ổn định chính trị ", tất cả 5 tiêu chí kia Việt Nam đều bị xếp dưới các nước Đông Á và Đông Nam Á. Chỉ trên Indonexia một số mặt.
Nói chung các nhà khoa học, các chính khách quốc tế đều thừa nhận Việt Nam là một dân tộc thông minh, tài hoa, cần mẫn, nhưng tại sao chất lượng quản trị quốc gia của Việt Nam kém xa, không phải các nước tiên tiến mà, các nước Đông Nam Á ? ... Nét đặc sắc của nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam là do Nhà nước đã đổ những khoản đầu tư bất hợp lý vào các tập đoàn kinh tế, xí nghiệp quốc doanh … khổng lồ đến mức … bại hoại cả nền kinh tế.
Kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng tỏ rõ nhiều ưu thế vượt trội. Trong năm 2005 tỷ lệ vốn / lao động của các doanh nghiệp nhà nước cao gấp 3 lần so với các doanh nghiệp dân doanh, nhưng doanh số trung bình do một công nhân tạo ra ở DNNN lại chỉ đạt cỡ 44% so với khu vưc dân doanh. Tỷ trọng sản xuất công nghiệp của khu vực nhà nước liên tục sụt giảm so với khu vực dân doanh và FDI.. Khu vực nhà nước hầu như không tạo thêm được việc làm mới. Bên cạnh dó, trừ một số ngoại lệ, các DNNN hầu như không xuất khẩu các sản phẩm chế tạo. Đến nay, kinh tế ngoài quốc doanh đang tạo ra 90% việc làm trong khu vực công nghiệp và gần 70% sản lượng công nghiệp.
Vậy mà, tài sản nhà nước của nhân dân vẫn cứ được đổ vô tội vạ vào các DNNN kém hiệu năng để không chỉ gây nên những khoản nợ không trả được đến hàng trăm nghìn tỷ đồng mà còn tạo điều kiện để họ chi thả cửa, rất hào phóng cho những dự án nhảm nhí. Nhờ tham nhũng bôi trơn, hàng loạt dự án hoành tráng được rầm rộ thông qua từ xã lên huyện, qua tỉnh đến trung ương ngay cả khi chưa đủ hồ sơ kỹ thuật. Nói chung có lập hội đồng chuẩn định đấy, nhưng tất cả đều được phù phép thành các hội đồng chuột.
Ai không sững sờ khi đọc những dòng này trên báo Lao Động số ra ngày 20 tháng 3 năm 2008 :
" Xã Long Hậu ( huyện Cần Giuộc ) từng biết đến như là xã có số dự án sân golf cao kỷ lục trong cả nước ( có thể cả thế giới, với 5 dự án ). Cũng chính xã này đang lăm le qua mặt khu đô thị Phú Mỹ Hưng với 2 dự án khu đô thị sinh thái có tổng diện tích gần 800ha ( có 1 dự án trải rộng trên 2 xã Long Hậu và Phước Lại ). Hai DA này cùng với 5 DA sân golf chiếm gần hết diện tích đất nông nghiệp trong xã. Nằm cạnh dự án sân golf xã Mỹ Phú - huyện Thủ Thừa là dự án khu đô thị sinh thái rộng 300ha.
Cách đó mấy cây số, tại xã Mỹ An ( cũng huyện Thủ Thừa ) là DA khu ĐTST khác cũng rộng gần 300ha. Ở một huyện nông nghiệp khác là Cần Đước cũng có 2 DA khu ĐTST rộng tổng cộng gần 300ha. Huyện vùng sâu Đồng Tháp Mười là Vĩnh Hưng cũng không thua chị kém em với DA khu ĐTST rộng trên 200ha. Nhưng đáng kể nhất là DA khu ĐTST trải dài trên 2 xã vùng sâu là Thạnh Lợi (huyện Bến Lức ) và Bình Hoà Nam ( huyện Đức Huệ ) với tổng diện tích gần 2.600ha...
Cho đến thời điểm hiện nay, tỉnh Long An đã có hơn 10 DA khu ĐTST hoặc có ĐTST với tổng diện tích hơn 5.500ha. Ngoài ra còn có hàng loạt các DA khu đô thị " không sinh thái "cũng đang được triển khai. Lạ lùng là các DA khu ĐTST ở Long An hầu như không nằm cạnh các khu, cụm công nghiệp, mà nằm ở vùng nông thôn xa xôi".
Hỗn mang chi sơ như vậy chẳng qua chỉ vì "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Muốn khỏi chệch hướng XHCN thi quốc doanh sống chết cũng phải là chủ đạo, phải tập trung dân chủ, Đảng phải, không chỉ lãnh đạo mà còn chỉ đạo toàn diện. Đảng chỉ đạo Nhà nước muốn ưu ái ai thì nấy được, muốn cho ai cái gì thì cho.
Đảng nhúng tay thao túng cả thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán lập ra phải là để huy động vốn tiết kiệm vào đầu tư nhưng ở Việt Nam, đảng CSVN lại dùng nó để vỗ béo các nhà tư bản đỏ của Đảng. Người ta ra lệnh cho Ngân hàng Nhà nước đổ tiền ra cho bọn này vay dể chơi chứng khoán. Thị trường chứng khoán bị biến thành nơi rửa tiền nhằm đầu cơ trục lợi ngắn hạn. Vốn thực sự được huy động phục vụ sản xuất chẳng được là bao. Thắng ở chứng khoán, bọn chúng đổ xô đầu cơ bất động sản. Khi thị trường chứng khoán lung lay, Chính phủ liền ra Chỉ thị 319, lệnh cho các quan tài chính và ngân hàng phải bơm tiền để giữ cho thị trường này không bị sập. Thực chất là để cứu bọn phệ đỏ không bị sút cân.
Người ta cho rằng ở Việt Nam đang hình thành "chủ nghĩa tư bản thân hữu". Ở đây bố làm chính trị để giành đỉnh cao quyền lực, từ đấy tạo điều kiện cho con cái làm kinh tế. Quyền lực lãnh đạo của bố đem lại cho con cái những hợp đồng vô giá, những mối quan hệ maphia để chúng phất lên dễ dàng và nhanh chóng. Chẳng mấy chốc, bọn "phượng hoàng đỏ" này đã có thể nắm hết những ngành kinh tế quan trọng của đất nước.
Học giả Trần Đông Chấn vạch ra cái cơ chế maphia ở Việt Nam như sau : "Họ không hình thành nên những phe nhóm riêng rẽ cụ thể nào cả, mà len lỏi có mặt ở tất cả mọi nơi, từ cơ quan đảng đến nhà nuớc, chính phủ đến quốc hội, trung ương đến địa phương, cơ quan hành chính đến các doanh nghiệp. Cũng không có một thỏa thuận liên minh nào được cam kết nhưng bọn họ phối hợp hành động rất ăn ý và đồng bộ nhờ có một mục tiêu chung là trục lợi. Họ không thể hiện chính kiến riêng và luôn hoan nghênh tất cả các nghị quyết của đảng, chỉ thị của chính phủ, dự luật của quốc hội và các quyết định của chính quyền địa phương cho dù là chúng mang tính bảo thủ hay cấp tiến …. Nhưng điều tồi tệ và nguy hại nhất ở đây chính là những kẻ cơ hội này đang được các thế lực nước ngoài hỗ trợ và nuôi dưỡng vì quan hệ cộng sinh và vì những kế hoạch dài hơn ".
Để làm lóa mắt dân chúng, người ta đã quýết định tăng cung tiền nhắm tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao một cách biểu kiến. Nhưng khối lượng cung tiền lớn được sử dụng làm gì. "Một nguyên nhân chính là do tốc độ tăng chi tiêu của nhà nước. Tổng chi tiêu của nhà nước năm 2006 là 321 nghìn tỷ đồng, tăng 221,8 nghìn tỷ đồng ( hay 45% ) so với năm 2004. Như vậy tốc độ tăng chi tiêu hàng năm của nhà nước trong giai đoạn 2004 – 2006 là 20,3% / năm. . Cũng trong giai đoạn này thu ngân sách tăng chủ yếu không phải từ nguồn thu nội địa mà là từ dầu mỏ, tiền vay nợ và viện trợ nước ngoài. Thu nội địa năm 2004 chỉ đạt 119 ngàn tỷ, và năm 2006 là 190 ngàn tỷ, tăng có 71 ngàn tỷ. Trong khi đó chi tiêu của nhà nước tăng 131 ngàn tỷ, từ 190 lên 321 ngàn tỷ, tức là gần gấp đôi mức tăng thu nội địa. Khi chi tiêu của nhà nước tăng hơn nhiều so với các nguồn thu ngoài dầu mỏ ( ngay cả khi nguồn thu tăng này đến từ dầu mỏ hay viện trợ ) thì những khoản chi tiêu này sẽ làm tăng tổng cầu. Thế nhưng nếu các khoản chi tiêu này lại không được sử dụng một cách hiệu quả, chỉ đóng góp được chút đỉnh cho sản lượng ( tức là không làm cho tổng cung tăng một cách tương ứng ) thì tất yếu dẫn tới lạm phát ".
Muốn vỗ béo bọn tư bản đỏ của Đảng, muốn các quan chức của Đảng sống phè phỡn thì kinh tế phải lạm phát. Lạm phát thì dân chúng thêm điêu đứng (như đã dẫn ra một phần ở trên). Nhưng, bọn họ vẫn tiếp tục sung sướng !
Thế đấy, đắng cay và chua chát là ở chỗ người ta đã đổ cả núi xương, sông máu của nhân dân Việt Nam ra mà giành lấy quyền lực. Để rồi, lại sử dụng quyền lực đó để bòn rút da thịt, mồ hôi nước mắt của nhân dân. Có hơn gì bọn ngoại xâm, bọn tư sản mại bản, bọn địa chủ cường hào ác bá….! Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang (Hà Nội tháng 3 năm 2008)
KHAI TRIỂN CHỦ ĐỀ
Với Chủ đề: DÂN DIỆT TRỪ CĂN BỆNH KHỦNG HOẢNG KT/TC, chúng tôi sẽ lần lượt viết một loạt bài QUAN ĐIỂM. Những bài được xếp theo ba Tiểu đề sau đây:
=> Tiểu đề 1:
Đi từ nền Kinh tế Chỉ huy Tập trung, nền Kinh tế của Thế Giới Cộng sản toàn trị đã thất bại hoàn toàn. Con Vi trùng Tham nhũng/Lãng phí sống ở những bãi sa mạc kinh tế, ở những vùng đất cằn cỗi. Con Vi trùng nằm thở thoi thóp, không có gì để mà ăn tham nhũng, mà lãng phí. Việt Nam buộc phải Đổi mới, Mở cửa, rồi ngày nay Hội nhập để cho những dòng nước Kinh tế từ ngoài chảy vào b&atild
|
|